◎Thượng đế nổi giận rồi
●Tín nhiệm Nhân dân tệ nằm ở đâu?
Đối với phàm phu tục tử, tiền quả thực là một thứ vô cùng hấp dẫn, nó là một loại hồi báo cho lao động xã hội của con người, thể hiện giá trị và địa vị xã hội của mỗi người. Mỗi khi đến kỳ phát lương, tầng lớp làm công nhìn những con số trên xấp tiền trong túi lương của mình, cảm xúc trong lòng là mãnh liệt nhất cũng phong phú nhất không gì bằng. Đến ngày này, trong văn phòng luôn truyền ra một số lời lẽ bất thường, có phàn nàn, có phẫn uẫn, có thù hận. Nhớ lại những năm tháng Chiến tranh Vệ quốc của Liên Xô, mọi người đều hưởng thụ phương thức phân phối theo chủ nghĩa cộng sản thời chiến. Mọi người dốc hết sức lực chiến đấu và làm việc vì sự tồn vong của Tổ quốc và dân tộc, nhưng những gì nhận được mỗi ngày chỉ là một ít thực phẩm và quần áo đủ để duy trì sự sống, sự phân phối và hưởng thụ cá nhân đạt được sự bình đẳng tuyệt đối nhất của xã hội. Gia đình không có tích lũy, xã hội do đó cũng không thể tồn tại sự chênh lệch giàu nghèo. Việc phân phối lợi ích vật chất chỉ vì để con người được sống, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Trong khoảnh khắc sinh tử ngàn cân treo sợi tóc, vì một bộ quần áo, một miếng bánh mỳ mà đổ máu, mà phấn đấu. Đã có khái niệm tiền lương, giấc mơ phân phối xã hội tuyệt đối công bằng sẽ chỉ là một ảo ảnh. Bản thân tiền lương chính là một thủ đoạn để xã hội tuân theo một phương thức phân phối nào đó nhằm đạt đến mức độ phân phối tương đối đồng đều trong khả năng có thể. Trong xã hội thực tế, sự không đồng đều là tuyệt đối, đồng đều chỉ là tương đối.
Ngày mùng 4 hàng tháng là ngày đời sống của cán bộ cơ quan thành phố Bắc Kinh thảnh thơi nhất. Không biết từ năm nào tháng nào bắt đầu, ngày này đã trở thành ngày phát lương của các đơn vị cơ quan. Tiểu Trương phân về làm việc tại một viện nghiên cứu nào đó từ sau khi tốt nghiệp đại học tính đến nay đã được ba năm, cha mẹ đều ở quê, hơn nữa hoàn cảnh kinh tế gia đình không được lý tưởng cho lắm. Do đó, vào khoảng thời gian Tết Nguyên đán hàng năm, Tiểu Trương đều gửi về nhà một khoản tiền mặt nhỏ. Một là để báo đáp công ơn dưỡng dục của cha mẹ, hai là có thể giúp giải quyết học phí cho hai người em trai, cũng coi như chia sẻ khó khăn với cha mẹ. Ngày mùng 5 hàng tháng trở thành ngày Tiểu Trương đến trạm tiết kiệm gửi tiền, hầu như đã thành thói quen. Mặc dù tiền lương hàng tháng của nhân viên trẻ tuổi này cũng chỉ có hai, ba trăm đồng, nhưng cậu ta vẫn cắn răng, trích ra một trăm đồng trong đó để bồi đắp thêm một chút nhỏ vào sổ tiết kiệm của mình.
Lại là một ngày mùng 5, Tiểu Trương ôm khư khư một tờ giấy bạc mệnh giá một trăm đồng đến một ngân hàng tiết kiệm đối diện viện nghiên cứu. Trạm tiết kiệm nhỏ bé chật ních người, có người đến rút tiền và người đến gửi tiền, nhưng người đến gửi tiền hình như lúc nào cũng có vẻ nhiều hơn người rút tiền một chút. Lúc đó mặc dù đúng vào tuần lễ đầu tiên nước ta vừa phát hành Nhân dân tệ bộ thứ tư, nhưng mọi người vẫn cảm thấy gửi tiền lấy lãi có giá trị hơn là mua sắm để giữ giá trị. Do đó mọi người cố gắng hết sức đưa số tiền tạm thời dư dả vào tủ sắt của ngân hàng. Thế là, vào ngày thứ hai sau khi phát hành lương, nghiệp vụ tiền gửi của ngân hàng đặc biệt bận rộn, điều này hoàn toàn có thể tưởng tượng được.
Khi Tiểu Trương cầm lấy túi lương của mình, tâm trạng lúc đó quả thực rất khó diễn tả bằng lời – tổng số lượng không hề tăng lên. Bên nằm bên trong không phải là mấy chục tờ tiền giấy mà chỉ là mấy tờ giấy lớn. Bình thường, đếm mấy chục tờ hình “công nông binh” đó, trong lòng cảm thấy có chút thư thái, phảng phất như mình vẫn là một tầng lớp làm công có chút thu nhập nhỏ, nhưng bây giờ, đối mặt với chỉ mấy tờ tiền giấy, phảng phất như những ngày tháng của tháng này khó khăn sắp đi đến tận cùng. Mặc dù đây chỉ là một loại tác dụng tâm lý, chỉ là một ý niệm tự chuốc lấy phiền muộn, nhưng phải nói rằng việc mọi người sinh ra một số suy nghĩ kỳ quái đại loại như thế trong đáy lòng là có thể thông cảm được, không thể phủ nhận, hàm lượng vàng của những tờ tiền trong tay đã kém xa trước kia. Nhân dân tệ từ lúc đó, đã thừa nhận một cách rõ mành mành sự thật mất giá.
Hình như chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, các ngân hàng đều được trang bị một loại máy móc mới – máy kiểm tiền, người dân vừa mới nghe nói đến thứ này, trong lòng liền cảm thấy khó chịu – ngày thường, mở miệng ngậm miệng đều nói “khách hàng là thượng đế”, lần này thì hay rồi, “thượng đế” đùng một cái cũng phải chịu đựng sự đối xử thiếu tin tưởng này, thêm vào sự tuyên truyền bảo thủ, người dân hiểu biết quá ít về thứ mới mẻ này, cho nên trong khoảng thời gian vừa đưa vào sử dụng đó, giữa nhân viên bán hàng và khách hàng không ít lần xảy ra ma sát.
Tiểu Trương đưa một tờ giấy bạc mệnh giá một trăm đồng cùng một cuốn sổ tiết kiệm không kỳ hạn qua quầy giao dịch cho nhân viên. Cô nhân viên giao dịch cầm tờ tiền của cậu ta nhào nặn trong tay một hồi, hình như vẫn chưa đủ, tiện tay nhét tờ tiền vào máy kiểm tiền.
Dưới ánh mắt soi mói của bao nhiêu người, Tiểu Trương như ngồi trên đống lửa. Lòng tự trọng của thanh niên tức thì cảm thấy giống như bị người ta lăng nhục, cậu ta không thể chịu đựng thêm sự đối xử bất công trước mắt nữa, lao thẳng vào nhân viên giao dịch mà hét lớn lên: “Các người muốn làm gì? Không tin tưởng người ta, hả.”
Nhân viên giao dịch gặp nhiều rồi, cho nên cũng không thèm để ý đến cậu ta.
Tiểu Trương thấy không có ai để ý đến mình, ngọn lửa giận trong lòng “vụt” một cái bốc thẳng lên đầu, giọng nói cũng lớn hơn: “Chẳng lẽ Nhân dân tệ lại còn có tiền giả hay sao?”
Mấy vị các bà cụ có mặt ở đó cũng “kêu oan thay” cho chàng trai. Tiếng cãi vã đã thu hút không ít người đi đường trên mặt phố, vây trạm tiết kiệm nhỏ bé thành ba vòng trong ba vòng ngoài. Bảo vệ của trạm tiết kiệm thấy đám đông vây quanh ngày càng đông, sợ xảy ra chuyện, lập tức ấn chuông báo động.
Mấy phút sau, một lượng lớn cảnh sát vũ trang đầy đủ đã đến nơi. Nhanh chóng bao vây trạm tiết kiệm như thùng sắt. Một mặt tìm hiểu tình hình; một mặt giải tán đám đông. Vâị phút sau, cảnh sát đã hiểu rõ nguyên nhân sự việc, nhanh chóng rút lui khỏi hiện trường.
Đây chỉ là một hiểu lầm. Khi tiền giấy mệnh giá lớn phiên bản mới được phát hành, máy kiểm tiền đồng thời cũng được trang bị đến các quầy tài chính. Không cần giới thiệu, người dân đoán cũng biết thiết bị mới bổ sung ở các quầy tài chính dùng để làm gì. Thế nhưng, khi người dân vừa ôm khuy khư những tờ tiền mới tinh đầy màu sắc trong ngực, đùng một cái lại phải chịu sự đối xử thiếu tin tưởng này, trong lòng quả thực cảm thấy rất khó chịu. Chẳng lẽ ngân hàng lại nghi ngờ đối với số tiền do chính mình vừa mới phát hành vẫn còn tỏa ra hương thơm mùi mực in hay sao? Làm như vậy chẳng phải là thể hiện ngân hàng tự vả vào mặt mình hay sao? Tín nhiệm Nhân dân tệ nằm ở đâu? Trong đầu người dân không kìm được mà sinh ra một loạt nghi vấn. Nghi vấn này nên nói là bình thường. Khi phát hành tiền mới, chính phủ sẽđại lực (dốc sức) tuyên truyền tiền giấy phiên bản mới, nhưng tại sao lại không giới thiệu cả máy kiểm tiền cho người dân chứ? Sự xuất hiện của máy kiểm tiền, trên thực tế, chính phủ đã thừa nhận sự tồn tại của tiền giả, nhưng tại sao lại không thông báo rộng rãi chứ? Lại khiến cho công dân tuân thủ pháp luật thường xuyên phải chịu sự đối xử thiếu tin tưởng này, dẫn đến việc giữa ngân hàng và khách hàng xuất hiện một số hiểu lầm không nên có.
Kết quả kiểm tra của máy kiểm tiền, tờ tiền của Tiểu Trương tuyệt đối không có sơ hở. Nhân viên ngân hàng sau sự việc không hề giải thích, càng không tuyên truyền, lạnh lùng làm xong thủ tục lệ thường, đem con số tiền gửi của Tiểu Trương đăng ký lên sổ tiết kiệm, đem cuốn sổ tiết kiệm lạnh lùng đưa cho Tiểu Trương.
Tiểu Trương nén chặt ngọn lửa vô danh, thật sự muốn tìm người trút giận, nhưng quả thực không tìm được đối thủ thích hợp.
Cuối cùng, Tiểu Trương đau buồn rời khỏi trạm tiết kiệm, từ đó cậu ta không bao giờ đem tiền đến trạm tiết kiệm này để gửi rút nữa.
Vào thời điểm đó, nếu nói hàng hóa trên thị trường có đồ giả, mọi người tin tưởng một trăm phần trăm. Mặc dù lúc đó vẫn chưa tổ chức các hoạt động như “Hành trình chất lượng vạn dặm toàn quốc”, nhưng mọi người đối với sản phẩm giả mạo kém chất lượng đã căm thù đến tận xương tủy, đang rầm rộ tự phát triển khai các hoạt động thảo phạt. Nhưng nếu nói Nhân dân tệ có giả, đại đa số công dân đặc biệt là tầng lớp trung niên và thanh niên rất khó tin tưởng vào sự thật này. Trong tâm trí họ, Nhân dân tệ giống như chế độ xã hội không dung cho sự nghi ngờ. Kể từ thời thơ ấu của họ, Nhân dân tệ và cờ đỏ năm sao hầu như giống hệt nhau trong lòng họ là một vùng đất linh thiêng không thể xâm phạm. Thêm vào đó, nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu kéo dài, khiến cho con người đối với tiền bạc chỉ có thể tồn tại một loại khát khao thần kỳ, không thể xuất hiện dù chỉ là một thoáng nghi ngờ. Lâu dần, Nhân dân tệ cũng giống như chế độ xã hội khắc sâu vào trong tâm trí con người, khó mà phai mờ. Rất ít người nghĩ đến, Nhân dân tệ cũng là một loại hàng hóa đặc biệt, nó cũng giống như thuốc lá, rượu, dược liệu, cũng sẽ bị những kẻ phi pháp xâm hại, làm giả.
Vô số người lương thiện từ đó mà bị xâm hại bởi tiền giả.
◎Sự thành kính bị báng bổ
●Là nghĩa khí giang hồ? Hay là lừa đảo giang hồ
Trưa ngày 28 tháng 5 năm 1989, nông dân Lục mưu ở huyện Mông Tự, tỉnh Vân Nam dắt một con trâu nước vào thành để bán. Trên đường vào thành, tình cờ gặp hai kẻ buôn trâu. Mấy kẻ buôn trâu vừa nhìn thấy con trâu nước béo tốt khỏe mạnh đó, mừng rỡ hớn hở, lập tức đề nghị mua lại với giá cao. Lục mưu nghe nói mua với giá cao, trong lòng vui mừng khôn xiết. Hai bên sau một hồi mặc cả ngã giá, cuối cùng đã giao dịch với giá 1450 đồng. Lục mưu ôm xấp tiền lớn trong ngực, vui hớn hở trở về nhà. Lúc này, tiền mặt để lợp lại nhà trong năm nay cuối cùng cũng có chỗ giải quyết, tối hôm đó Lục mưu vui mừng đến mức thức trắng đêm không ngủ. Ngày hôm sau, Lục mưu vội vã chạy đến xã tín dụng. Khi đưa số tiền bán trâu vào quầy giao dịch, nhân viên giao dịch phát hiện trong đó có 24 tờ tiền Nhân dân tệ mệnh giá 50 đồng là tiền giả. Qua giám định của cơ quan liên quan, những tờ tiền này đều được làm giả bằng máy photocopy màu nhập khẩu.
Một phụ nữ nông thôn ở vùng núi khu vực Lâu Đãi, tỉnh Hồ Nam cực khổ nuôi lớn hai con heo con, đang chuẩn bị tìm một cơ hội tốt để bán heo béo ra ngoài, đổi lấy ít tiền về, tích lũy lại để dành cho con trai cưới vợ. Một buổi hoàng hôn nọ, nhà cô ta có hai người đàn ông lạ mặt đến, nói là chuyên đến thu mua heo thịt. Người phụ nữ đó thấy là cơ quan thu mua phục vụ tận nơi, trong lòng thích mê đi, không màng hỏi nhiều, liền đồng ý mối làm ăn này. Người đến cũng biểu hiện ra vẻ rất phóng khoáng, không dùng giọng điệu thương lượng, liền đồng ý ngay mức giá mà người phụ nữ đó đưa ra. Người thu mua không nói hai lời, từ trong túi quần lấy ra 10 tờ tiền Nhân dân tệ mệnh giá 50 đồng giao cho người phụ nữ đó. Hai bên đều vô cùng hài lòng mà thực hiện xong việc làm ăn này – mỗi người được thứ mình muốn, mỗi người lấy thứ mình cần. Mọi người đều hài lòng ra về. Ngày hôm sau, người phụ nữ nông thôn vui vẻ đến xã tín dụng địa phương, khi nhân viên tín dụng nói cho cô ta biết những tờ tiền này đều là tiền giả, người phụ nữ đó ngất xỉu ngay tại chỗ, bất tỉnh nhân sự. May mà có người kịp thời đưa cô ta vào bệnh viện, mới may mắn cứu sống được.
Tết Nguyên đán năm 1991, đối với những người nông dân ở hương Vạn Điền, thành phố Cù Châu, tỉnh Chiết Giang mà nói là một ngày vui buồn lẫn lộn. Những gia đình nông phu vất vả một năm cuối cùng cũng đón chào một năm mới tràn ngập niềm vui thu hoạch, nhà nhà ngũ cốc đầy bồ, đặc biệt là gặp phải một năm quả quýt được mùa hiếm có. Vẫn là từ mùa thu năm ngoái, khắp núi khắp đồi của hương Vạn Điền treo đầy những quả quýt vàng óng ánh, những người nông dân bị ngâm chìm trong niềm vui thu hoạch cuối cùng cũng trút hết được cơn tức nghẹn ngào trong lòng suốt một năm qua, nhìn những thứ quả vàng óng ánh này, người làm ruộng còn chưa thu hoạch đã bắt đầu tính toán sắp xếp sau khi thu hoạch rồi. Nhà họ Trương lên kế hoạch lợp lại nhà ngói thành nhà lầu hai tầng. Nhà họ Lý đã định đoạt với nhà thông gia chuẩn bị vào dịp Tết Nguyên đán năm tới sẽ rước con dâu vào cửa... Các hộ gia đình đều đã có sẵn một cuốn sổ gia vụ, chỉ chờ những quả quýt vàng óng ánh đó đổi thành những tờ tiền giấy xanh rờn. Thế nhưng, trời có gió mây thất thường, người có họa phúc sớm chiều. Người làm ruộng vừa chuẩn bị hái quýt đem về nhà, chính quyền cấp trên lại bất ngờ phát ra tin tức khiến các chủ vườn quýt ngẩn ngơ chết lặng: Năm nay chính phủ không còn thu mua thống nhất bao tiêu quýt nữa. Điều này có nghĩa là quýt của các hộ gia đình chỉ có thể tự tìm đường tiêu thụ.
Thông tin này đối với những người nông dân từ trước đến nay chỉ biết giao thiệp với bùn đất mà nói không chỉ là một sự chấn động phẫn nộ, chế độ thu mua thống nhất bao tiêu các sản phẩm phụ nông nghiệp mấy chục năm qua đã cách ly giữa nông dân Trung Quốc và thị trường thành một hàng rào dày đặc. Đặc biệt là cơn ác mộng cắt đuôi chủ nghĩa tư bản vẫn khó mà xua đuổi khỏi lòng những người nông dân Trung Quốc. Thị trường đối với nông dân Trung Quốc vẫn là một đề tài mới mẻ. Đặc biệt là khi thể chế kinh tế thị trường vẫn chưa được thiết lập ở Trung Quốc, để nông dân tự mình bước một bước nhảy vọt vào đại dương kinh tế thị trường, quả thực có khó khăn rất lớn. Huống chi lại là những người dân bình thường thật thà chất phác bán mặt cho đất bán lưng cho trời này.
Những chủ vườn quýt vừa mới chìm đắm trong niềm vui được mùa bất ngờ trên mặt tràn ngập nỗi buồn lo. Ở vùng kinh tế kém phát triển này, thông tin không linh hoạt, muốn tiêu thụ thành phẩm hàng trăm hàng ngàn tấn quýt thì khó khăn biết bao nhiêu. Sự lo lắng của chủ vườn quýt là có lý do của nó, muốn để những người làm ruộng vừa mới đặt cuốc xuống đi cầm đòn cân, tự nhiên cần phải có một quá trình thích ứng dần dần. Đối với những người mù tịt về thị trường mà nói, tất yếu sẽ sinh ra sự sợ hãi đối với thị trường. Chủ vườn quýt hương Vạn Điền mặc dù đã dùng hết mọi tuyệt chiêu, nhưng cũng không thể biến đống quýt chất cao như núi đó thành tiền giấy. Thoáng cái đã đến Tết, các hộ gia đình vẫn còn tồn kho một lượng lớn, tận mắt chứng kiến thành quả một năm sắp sửa đổ sông đổ bể trong tay mình, các chủ vườn quýt vô cùng lo âu.
Một ngày trước Tết Nguyên đán, hai thương nhân thu mua từ nơi khác đến đã mang phúc âm đến cho người dân Vạn Điền. Thương nhân thu mua vừa đến hương Vạn Điền, liền khoác lác: Có bao nhiêu quýt thu mua bấy nhiêu, ai đến cũng nhận. Người Vạn Điền cảm thấy phúc từ trên trời rơi xuống, không kịp suy nghĩ nhiều, các hộ gia đình lần lượt tranh nhau dâng hiến toàn bộ lượng hàng tồn kho của nhà mình. Thương nhân thu mua rất trọng nghĩa khí, toàn bộ đều mua với giá cao. Ngày hôm nay, người Vạn Điền lại một lần nữa chìm đắm trong niềm vui. Khi màn đêm buông xuống gần hoàng hôn, thương nhân thu mua dùng hai chiếc xe tải thuê chở đi 10 tấn quýt đã thu mua, chở đầy hàng rời đi.
Người Vạn Điền nhìn những tờ tiền xanh rờn mà mừng quýnh lên. Buổi tối ngày hôm đó, người Vạn Điền vui mừng đến mức gần như thức trắng đêm không ngủ. Sáng sớm tinh mơ ngày hôm sau, Vương Tuyết Vân và những chủ vườn quýt khác hớn hở đến xã tín dụng để gửi tiền, nào ngờ nhân viên tiết kiệm sau khi đưa tiền qua máy kiểm tiền kiểm tra xong, từ bên kia quầy, lạnh lùng ném ra một câu “Tiền là giả.” Câu nói này giống như một tiếng sét đánh ngang tai, làm cho Vương Tuyết Vân và những người khác chết lặng đứng ngây ra một lúc lâu.
Tin tức xui xẻo truyền đến hương Vạn Điền, hương Vạn Điền liền biến thành chảo dầu rắc hạt muối vào, nổ tung lên. May mà chính quyền địa phương và cơ quan công an kịp thời nắm bắt tình hình, nhanh chóng thực hiện các biện pháp, mới phòng ngừa được cuộc bạo loạn này của các chủ vườn quýt. Cơ quan công an ngày đêm chiến đấu, nhanh chóng phá án, thu hồi toàn bộ tang vật, tránh được tổn thất cho các chủ vườn quýt.
●Tiền giấy sao lại trơn tuột thế này nhỉ?
Khoảng thời gian Tết Nguyên đán năm 1993, vở kịch lớn bi hài diễn ra tại nhà nông dân Lý Liên Hỉ ở thôn Oa Phòng, huyện Tân Dân, tỉnh Liêu Ninh, cho đến nay vẫn khiến bà con lối xóm nhắc lại mãi với vẻ thích thú.
Sáng ngày 8 tháng 1, nhà Lý Liên Hỉ có một vị khách không mời mà đến. Người đến tự xưng là Lý Sơn, nhà ở khu Đại Đông, thành phố Thẩm Dương. Người làm ruộng vùng Đông Bắc chất phác đôn hậu thấy đồng hương đến thăm, rất vui mừng. Đang lúc Tết Nguyên đán đến gần, tự nhiên không thể thiếu những màn cạn chén nâng ly, hô hào ầm ĩ. Mấy chén rượu lớn trôi xuống bụng, trên mặt của chủ nhà và khách đều dần lộ ra vẻ ngà ngà say. Hộp thoại cũng vô thức được mở ra.
Lý Sơn nheo đôi mắt nhỏ đỏ hoe vì say nói với Lý Liên Hỉ: “Đại ca, tôi tìm đến tận cửa lần này, là muốn làm một trận làm ăn với anh, không biết có nể mặt hay không.”
Lý Liên Hỉ cũng có chút choáng váng, nghe nói là việc làm ăn tìm đến tận cửa, con ngươi trong mắt liền phóng to lên. “Hiền đệ, làm ăn gì thế? Cậu nói thử xem.”
“Làm phiền anh thu mua hộ tôi 30 nghìn cân ngô, mỗi cân gửi anh 5 xu tiền thù lao.”
Lý Liên Hỉ lập tức tính toán trong đầu. Mỗi cân 5 xu, 30 nghìn cân chính là 1500 đồng, tương đương với thu nhập làm ruộng cả một năm. Lý Liên Hỉ không kìm được mừng quýnh lên: “Huynh đệ, mối làm ăn này tôi làm với cậu chắc chắn rồi. Cạn chén!”
Lại mấy chén trôi xuống bụng, cuối cùng là quét sạch sành sanh. Lý Sơn ăn uống no say xong thì rời đi.
Hai ngày sau, một thanh niên mang bao tải đến cho Lý Liên Hỉ.
Lại qua hai ngày nữa, đúng vào lúc hoàng hôn, vẫn là người thanh niên đưa bao tải hôm trước dẫn tới 3 chiếc xe tải, chở toàn bộ 30 nghìn cân ngô mà Lý Liên Hỉ thu mua hộ đi mất. Lúc sắp đi, dưới ánh đèn mờ ảo, giao cho Lý Liên Hỉ 12.625 đồng Nhân dân tệ.
Ngày hôm sau, mấy hộ dân bán lương thực lớn hân hoan đến nhà Lý Liên Hỉ để nhận tiền bán lương thực. Lý Liên Hỉ vừa nói cười với các hộ bán lương thực, vừa đếm tiền giấy. Đếm mãi đếm mãi, tay Lý Liên Hỉ cảm thấy tiền giấy có chút không đúng: “Tiền giấy sao lại trơn tuột thế này nhỉ?” Lại nhìn kỹ lại, Lý Liên Hỉ bỗng giật mình thon thót: Số seri trên những tờ tiền lớn 50 đồng này sao lại giống hệt nhau thế này? Bà con lối xóm có mặt lập tức vây lại, cẩn thận kiểm tra, số tiền 12.625 đồng Nhân dân tệ này, ngoài 5 tờ là tiền thật ra, 252 tờ còn lại toàn bộ đều là tiền giả.
Lý Liên Hỉ vội vã chạy đến công an báo án. Đội cảnh sát hình sự Cục công an huyện Tân Dân lập tức triển khai điều tra.
20 ngày sau, các cảnh sát hình sự đã bắt giữ đồng bọn của tội phạm là Thư Thiệu Hữu, Trương Tử Bân tại thôn trước trấn Thự Tự Bảo, huyện Liêu Trung. Ngày 12 tháng 2, bắt giam quy án tên Thư Thiệu Phú – kẻ dùng tiền giả lừa đảo, tự xưng là Lý Sơn. Từ trên người tên tội phạm họ Thư lại lục soát ra 1400 đồng tiền giả mệnh giá 50 đồng.
Theo lời khai của tội phạm: Tiền giả được buôn lậu mua từ Quảng Đông về.
◎Tiền giả là thứ gì?
●Thị trường tài chính khói lửa mịt mù
Trong cuộc sống thực tế, tiền Nhân dân tệ giả quả thực đã tồn tại xung quanh chúng ta. Dựa vào tài liệu do cơ quan công an cung cấp chứng minh: Trên toàn quốc 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu tự trị đều đã phát hiện tiền giả. Ngay cả vùng Tây Tạng hẻo lánh vào tháng 1 năm 1991 lần đầu tiên phát hiện tiền giả, cơ quan công an đã liên tiếp phá liền 3 vụ án tiền giả, thu giữ hơn vạn đồng Nhân dân tệ giả. Cho đến nay, hàng năm ở Tây Tạng đều sẽ xuất hiện các vụ án tiền giả.
Vậy, “tiền giả” rốt cuộc là một thứ gì? Trước đó, chi bằng chúng ta làm rõ tiền thật rốt cuộc là một thứ gì?
Trăm năm nay, con người xuất phát từ sự trải nghiệm và ngộ tính của mỗi người, lần lượt đưa ra những giải thích đối với chữ “tiền”. Mặc dù văn nhân mặc khách vắt óc tìm từ, hoặc khen hoặc chê, nhưng cho đến nay, vẫn không có câu thơ tuyệt cú nào được lưu truyền hậu thế.
“Tiền là vật ngoài thân.”
Đây là một sự siêu thoát mà các văn nhân nhã sĩ thể hiện ra.
“Tiền là con rùa.”
Đây là lời trêu chọc của kẻ chơi đời phóng túng.
“Tiền là vật tốt.”
Đây là sự khát khao tiền bạc của dân thường bách tính.
“Tiền là tất cả.”
Đây là tín điều của những kẻ sùng bái đồng tiền.
Trong bộ phim truyền hình “Chuyện biên tập viên”, sự giải thích của nhân vật Dư Đắc Lợi trong phim đối với tiền bạc không thể gọi là không tinh tế: “Tiền không phải vạn năng, nhưng không có tiền thì vạn vạn không thể.” Tiền giấy quả thực là thứ khiến người ta đáng ghét đáng giận, đáng yêu đáng mừng. Chính vì thế, trong biển sách mênh mông của Trung Quốc, cũng không có định nghĩa chính xác đối với tiền.
“Từ hải” giải thích: “Tiền, vốn là tên nông cụ, thời cổ đại có thể dùng để giao dịch, cho nên sớm nhất từng mô phỏng hình vỏ sò để đúc thành tiền tệ. Sau này là tên gọi chung của tất cả các loại tiền tệ.” Từ đây có thể thấy, tiền vốn dĩ chỉ là một loại ký hiệu, một loại tượng trưng. Chỉ khi nó được coi là một loại hàng hóa đặc biệt mà bước vào lĩnh vực lưu thông, tác dụng của tiền mới có thể được thể hiện ra. Nghĩa là chức năng lớn nhất của tiền tệ chính là lưu thông, các chức năng khác xếp thứ yếu. Tiền lúc này đã bước vào thị trường thì không còn là một loại ký hiệu trên ý niệm nữa, mà là một thứ có thần thông quảng đại. Ai cũng không thể rời xa nó.
Đơn vị tiền tệ lưu hành phổ biến hiện nay của nước ta là Nhân dân tệ. Nó là một loại tiền giấy, là ký hiệu tiền tệ đại diện cho một giá trị nhất định. Phát huy tác dụng vật giá ngang giá chung trong lưu thông. Nó không có quy định về hàm lượng vàng, không phải là ký hiệu của vàng. Nó lấy số lượng lớn hàng hóa đưa vào thị trường làm bảo đảm. Năm 1947 chính phủ nước ta khi phát hành bộ Nhân dân tệ thứ nhất đã tuyên bố long trọng với toàn thế giới rằng: “Thứ nước ta dùng làm bảo đảm tiền tệ không phải là vàng bạc, mà là lương thực, vải vã cùng với các vật chất quan trọng khác cần thiết cho sản xuất và sinh hoạt đáng tin cậy hơn vàng bạc rất nhiều.” Cho nên mới nói “chiếm hữu tiền bạc nhiều hay ít liền đại diện cho lượng tài sản xã hội sở hữu nhiều hay ít, liền đại diện cho sự chiếm hữu địa vị kinh tế xã hội cao hay thấp.” Trong xã hội hiện đại, lượng chiếm hữu tiền bạc liên quan chặt chẽ với địa vị, vinh dự, sự hưởng thụ v.v., bổ sung cho nhau.
Xã hội đương đại chính là một loại xã hội như vậy.
Trong khu vực nông thôn rộng lớn của nước ta cho đến một số thị trấn nhỏ, vẫn còn bảo lưu một phong tục tập quán cổ xưa: Khi có người qua đời, hậu thế đều vì người chết mà làm một lượng lớn tiền giấy bằng giấy trắng, và rải nó dọc theo con đường đi đến nghĩa trang. Tất nhiên loại tiền giấy này không phải là loại do ngân hàng phát hành. Nó chỉ đơn thuần là một loại “tiền giấy” mang ý nghĩa tượng trưng, là một phương thức gửi gắm nỗi niềm đau buồn. Hậu thế đều dùng việc này với hy vọng người chết sau khi xuống âm gian có thể sở hữu một lượng lớn tài sản tiền bạc mà hưởng thụ phú quý lớn. Loại “tiền âm phủ” tự chế này phần lớn các nơi gọi là minh tiền. Phương thức đau buồn đặc biệt này của con người bắt nguồn từ sự hiểu biết của con người đối với tiền bạc.
Loại minh tiền đó xét theo một ý nghĩa nào đó cũng là một loại “tiền giả”. Ở một số nơi, đặc biệt là ở những vùng nông thôn có kinh tế cực kỳ phát triển, đã xuất hiện một số xưởng chuyên làm minh tiền, sản phẩm của họ thoạt nhìn lại đặc biệt giống với tiền Nhân dân tệ thật. Cho nên sản phẩm của họ đặc biệt được mọi người chào đón, đường tiêu thụ khá tốt. Ở vùng Quan Trung, ngày mồng 1 tháng 10 âm lịch, nhà nhà tưởng niệm tiên nhân, có từ lâu đời, nối thành thói quen. Hàng năm hễ đến thời điểm này, con cháu đều chuẩn bị một số lễ vật, trước phần mộ của tổ tiên, đốt mấy tờ tiền âm phủ giấy vàng hoặc áo giấy âm phủ đại loại như vậy, chặn một tờ giấy vàng lên đỉnh mộ, cử hành một nghi lễ tế tự đơn giản, để bày tỏ tình cảm tưởng nhớ đối với người đã khuất. Những năm gần đây, nghi lễ tế tự tưởng nhớ tổ tiên này càng ngày càng phức tạp. Riêng đồ cúng âm phủ đã muôn hình vạn trạng. Chưa nói đến “giấy vàng đốt” và “tem lương thực cõi âm”, chỉ riêng “giấy vàng đốt” thôi đã có bảy tám loại, màu đen, màu trắng, màu sắc, một mặt, hai mặt, mệnh giá lớn, mệnh giá nhỏ, loại dài, loại ngắn, cái gì cần có đều có đủ. Có “tiền giấy thông hành âm phủ” hạng sang do “Ngân hàng kinh đô cõi âm” phát hành mang mệnh giá “mười ức đồng”; có “tem lương thực cõi âm” mệnh giá 100 cân. Người sản xuất và buôn bán đồ cúng âm phủ phần lớn là phụ nữ trung niên và cao tuổi ở nông thôn. Mà người mua phần lớn là thị dân thành phố.
Hiện tượng đồ cúng âm phủ xuất hiện tràn lan trên đường phố hiện nay, rất đáng để nghiên cứu. Ở đây ngoài việc hậu thế gửi gắm tình cảm tưởng nhớ ra, có phải còn biểu hiện ra một số tâm lý khác nữa hay không? Đương nhiên việc đốt “đồ cúng âm phủ” ở Quan Trung tuy có sự đồng công khúc diệu với việc đốt tiền thật ở vùng Giang Chiết, nhưng dù sao vẫn hợp lý hợp pháp hơn một chút.
Từ xưa đến nay, thế giới lớn lao này vẫn luôn có sự ồn ào và tranh đấu “Thiên hạ hí hí, giai vi lợi lai. Thiên hạ nhương nhương, giai vi lợi vãng”. Thế là liền có đèn xanh rượu đỏ, có hào phú giàu sụ quấn quanh người, có kẻ lang thang nghèo túng tay trắng không có gì. “Tiền bạc” giống như một cây gậy thần kỳ, đạo diễn ra đủ mọi vị chua ngọt đắng cay, hợp tan ly biệt của muôn loài chúng sinh. Chính là dưới cây gậy có pháp lực vô biên này đã sinh ra những dị hình dị dạng đủ mọi thể loại. Chế tạo tiền giả chính là thuộc về một trong số đó. Tiền giả là sản phẩm giả mạo do tập đoàn tội phạm hoặc kẻ phạm tội vì mưu đồ lợi ích phi pháp, mô phỏng tiền tệ do nhà nước quy định pháp định để chế tạo ra. Nó vi phạm pháp luật của nhà nước, xâm hại đến tín nhiệm của chính bản thân tiền tệ nhà nước. Do nó giống với tiền thật, nên có tính lừa gạt rất cao.
Tiền thật và tiền giả giống như Tề Thiên Đại Thánh thật giả giống nhau, từ cổ đại trực tiếp đấu tranh đến hiện đại, khiến cho thị trường tài chính của nhân loại khói lửa mịt mù, còi báo động liên hồi.