Ngay tại cửa bếp, Daniel Byrne đang ngồi trên chiếc xe trượt tuyết, phía sau là một con ngựa xám xương xẩu cứ cào tuyết dưới chân và bồn chồn lắc cái đầu dài từ bên này sang bên kia.
Ethan bước vào bếp và thấy vợ mình đang đứng cạnh lò sưởi. Đầu bà quấn một chiếc khăn choàng, và bà đang đọc một cuốn sách tựa đề “Bệnh thận và cách chữa trị” mà anh vừa phải tốn thêm tiền cước bưu điện để gửi đến cách đó chỉ vài ngày.
Zeena không nhúc nhích cũng chẳng ngước lên khi anh bước vào, và một lát sau anh cất tiếng hỏi: “Mattie đâu rồi?”
Không rời mắt khỏi trang sách, bà đáp: “Chắc con nhỏ đang dọn cái rương của nó xuống.”
Máu dồn cả lên mặt Ethan. “Dọn rương xuống ư—một mình sao?”
“Jotham Powell đang ở dưới bãi đốn củi, còn Dan’l Byrne thì bảo lão không dám bỏ con ngựa đó đâu,” bà trả lời.
Chẳng đợi nghe hết câu, chồng bà đã rời khỏi phòng bếp và lao vót lên cầu thang. Cửa phòng Mattie đang đóng, và anh khựng lại một nhịp ở chiếu nghỉ. “Matt,” anh gọi giọng trầm trầm; nhưng không có tiếng trả lời, và anh đặt tay lên nắm đấm cửa.
Anh chưa bao giờ bước vào phòng cô ngoại trừ một lần vào đầu mùa hè, khi anh lên đó để trám chỗ dột ở mái hiên, nhưng anh nhớ rõ từng chi tiết trong phòng: chiếc chăn bông đỏ trắng trên chiếc giường nhỏ, chiếc gối cắm kim xinh xắn trên tủ ngăn kéo, và bên trên là bức ảnh phóng to của mẹ cô trong chiếc khung mạ đồng xỉn màu, với một bó cỏ nhuộm khô cài phía sau. Giờ thì tất cả những thứ đó và mọi dấu vết hiện diện của cô đều đã biến mất, và căn phòng trông trống trải, lạnh lẽo chẳng khác gì ngày Zeena dẫn cô vào đây trong ngày đầu cô đến. Giữa sàn nhà là chiếc rương của cô, và ngồi trên rương chính là cô trong bộ đồ đi lễ Chủ Nhật, quay lưng về phía cửa và úp mặt vào hai bàn tay. Cô không nghe thấy tiếng Ethan gọi vì đang nức nở, và cô cũng chẳng nghe thấy tiếng bước chân anh cho đến khi anh đứng sát phía sau, đặt hai tay lên đôi vai cô.
“Matt—ôi, đừng thế—ôi, Matt!”
Cô giật mình đứng phắt dậy, ngước gương mặt đẫm nước mắt nhìn anh. “Ethan—em cứ ngỡ là mình chẳng bao giờ được gặp lại anh nữa!”
Anh ôm chầm lấy cô, siết chặt vào lòng, rồi dùng bàn tay run rẩy gạt những lọn tóc trên trán cô sang một bên.
“Không gặp lại anh ư? Em nói gì thế?”
Cô nức nở thốt lên: “Jotham bảo anh dặn hắn là không phải đợi bữa tối cho anh, và em cứ đinh ninh là—”
“Em tưởng anh định chuồn thẳng đấy phỏng?” anh lạnh lùng nói hộ cô phần còn lại.
Cô nép chặt vào người anh không đáp, còn anh đặt môi lên mái tóc cô—mái tóc mềm mại nhưng vẫn có độ đàn hồi như một số loài rêu mọc trên các sườn đồi ấm áp, phảng phất hương thơm mộc mạc của mùn cưa mới dưới ánh mặt trời.
Vọng qua cánh cửa, họ nghe thấy tiếng Zeena gọi từ dưới nhà vọng lên: “Dan’l Byrne bảo anh mau chân lên nếu muốn lão chở cái rương ấy đi đấy.”
Họ rời khỏi vòng tay nhau với gương mặt tái mét. Những lời phản kháng chực trào trên môi Ethan rồi cũng lịm tắt. Mattie tìm chiếc khăn tay lau khô mắt; rồi cô cúi người xuống, nắm lấy một quai rương.
Ethan đẩy cô ra. “Để đấy cho anh, Matt,” anh ra lệnh.
Cô đáp: “Phải có hai người mới lách nó qua ngã rẽ được chứ”; và chịu thua trước lý lẽ ấy, anh nắm lấy quai bên kia, cùng nhau họ xách chiếc rương nặng nhọc ra tới chiếu nghỉ.
“Giờ thì buông ra được rồi,” anh lặp lại; đoạn anh vác chiếc rương lên vai, khiêng xuống cầu thang và băng qua hành lang để ra nhà bếp. Zeena, người đã quay lại ghế ngồi cạnh lò sưởi, không hề ngước đầu khỏi cuốn sách khi anh đi ngang qua. Mattie đi theo anh ra cửa và phụ anh nhấc chiếc rương lên thùng sau xe trượt. Khi rương đã đặt vào chỗ, họ đứng cạnh nhau trên bậc cửa, dõi theo chiếc xe trượt của Daniel Byrne lướt đi khuất dạng sau con ngựa đang bứt rứt không yên.
Ethan có cảm giác trái tim mình đang bị siết chặt bởi những sợi dây mà một bàn tay vô hình cứ thắt lại theo từng nhịp tích tắc của chiếc đồng hồ. Hai lần anh mở miệng định nói với Mattie mà chẳng thốt nên hơi. Cuối cùng, khi cô quay người định bước vào nhà, anh đưa tay giữ cô lại.
“Anh sẽ đánh xe đưa em đi, Matt,” anh thì thầm.
Cô thì thầm đáp lại: “Em nghĩ Zeena muốn em đi cùng Jotham cơ.”
“Anh sẽ đánh xe đưa em đi,” anh lặp lại; và cô bước vào nhà bếp mà không đáp lời.
Trong bữa trưa, Ethan chẳng tài nào nuốt nổi. Nếu anh ngước mắt lên thì thể nào cũng bắt gặp gương mặt hốc hác của Zeena, và khóe môi mím chặt của bà dường như đang cong lên thành một nụ cười đầy ẩn ý. Bà ăn rất ngon miệng, tuyên bố rằng thời tiết ôn hòa khiến bà thấy khỏe hơn hẳn, và còn giục Jotham Powell ăn thêm một suất đậu nữa — người mà bình thường bà chẳng mảy quan tâm đến nhu cầu ăn uống ra sao.
Khi bữa ăn kết thúc, Mattie lại cặm cụi với công việc quen thuộc là dọn bàn và rửa bát đĩa. Zeena, sau khi cho mèo ăn, đã quay lại chiếc ghế bập bênh cạnh lò sưởi, còn Jotham Powell, kẻ lúc nào cũng là người lán lại cuối cùng, miễn cưỡng đẩy ghế lùi ra và lầm lũi tiến về phía cửa.
Ngưỡng cửa vừa qua, hắn quay lại hỏi Ethan: “Mấy giờ tôi đánh xe đến đón Mattie đây?”
Ethan đang đứng gần cửa sổ, vừa vô thức nhồi tẩu thuốc vừa dõi theo bóng Mattie đi lại bận rộn. Anh đáp: “Cậu không cần qua đâu; tôi tự đánh xe đưa cô ấy đi.”
Anh thấy gò má đang quay đi của Mattie ửng đỏ lên, và cái đầu của Zeena ngẩng phắt lên.
“Tôi muốn anh ở nhà chiều nay cơ, Ethan,” vợ anh nói. “Jotham có thể chở Mattie đi được mà.”
Mattie ném cho anh một cái nhìn khẩn khoản, nhưng anh cộc lốc lặp lại: “Tôi tự đánh xe đưa cô ấy đi.”
Zeena vẫn giữ nguyên điềm đạm ấy mà tiếp lời: “Tôi muốn anh ở nhà sửa lại cái lò sưởi trong phòng Mattie trước khi con nhỏ giúp việc mới đến. Nó bị tắc khói suốt gần tháng nay rồi còn gì.”
Giọng Ethan bỗng cao lên đầy phẫn nộ. “Nếu nó đã đủ tốt cho Mattie thì chắc chắn cũng đủ tốt cho một đứa ở mướn.”
“Con nhỏ sắp tới bảo nó quen sống ở ngôi nhà có lò sưởi trung tâm rồi,” Zeena vẫn kiên trì với giọng điệu đều đều, nhạt nhẽo ấy.
“Thế thì sao nó không ở lì luôn ở đấy đi cho rảnh,” anh hậm hực đáp trả; rồi quay sang Mattie, anh lạnh lùng bảo: “Ba giờ em phải chuẩn bị sẵn sàng đấy, Matt nhé; anh có việc phải qua Corbury.”
Jotham Powell đã rảo bước ra chuồng ngựa, và Ethan sải bước đuổi theo sau với ngọn lửa giận đang bùng bừng trong lòng. Những mạch máu ở thái dương anh đập thình thịch và trước mắt anh như phủ một màn sương mù. Anh làm việc của mình mà chẳng hề ý thức được sức mạnh nào đang sai khiến, hay đôi tay và đôi chân nào đang thực hiện những mệnh lệnh ấy. Phải đến khi anh dắt con ngựa tía ra và lắp càng xe trượt vào hai bên sườn nó, anh mới sực tỉnh nhận thức lại việc mình đang làm. Khi luồn dây cương qua đầu con ngựa và quấn dây kéo quanh càng xe, anh chợt nhớ lại ngày mình cũng chuẩn bị y hệt thế để đón người họ hàng của vợ ở The Flats. Tính ra cũng chỉ hơn một năm trước, cũng vào một buổi chiều dịu dàng hệt thế này, với bầu không khí đượm đà “hương vị” mùa xuân. Con ngựa tía quay cặp mắt to tròn có viền xung quanh về phía anh, âu yếm cọ mõm vào lòng bàn tay anh theo đúng cách ấy; và từng chút một, tất cả những ngày tháng ở giữa bỗng ùa về đứng trước mặt anh....
Anh quăng tấm da gấu lên xe trượt, trèo lên ghế ngồi và đánh xe thẳng đến trước nhà. Khi bước vào bếp, căn phòng trống hoác, nhưng chiếc túi xách và khăn choàng của Mattie đã được đặt sẵn gọn gàng cạnh cửa. Anh đi đến chân cầu thang và lắng tai nghe. Không có âm thanh nào từ trên lầu vọng xuống, nhưng lát sau anh thoáng nghe tiếng ai đó đang di chuyển trong phòng làm việc cũ của mình, và khi đẩy cánh cửa ra, anh thấy Mattie trong chiếc mũ và áo khoác đang đứng quay lưng về phía anh gần chiếc bàn.
Cô giật mình khi anh đến gần, quay phắt lại và hỏi: “Đến giờ rồi sao?”
“Em đang làm gì ở đây thế, Matt?” anh hỏi cô.
Cô ngước nhìn anh đầy e ấp. “Em chỉ muốn nhìn quanh một chút thôi—chẳng có gì đâu,” cô đáp với một nụ cười lấp lửng.
Họ quay lại nhà bếp mà không nói lời nào, Ethan cầm lấy túi xách và khăn choàng của cô.
“Zeena đâu rồi em?” anh hỏi.
“Chị ấy lên lầu ngay sau bữa trưa. Chị ấy bảo lại bị những cơn đau nhói hành hạ và không muốn bị làm phiền.”
“Chị ấy không chào em một câu à?”
“Không. Chị ấy chỉ nói có thế thôi.”
Ethan chậm rãi nhìn quanh căn phòng bếp, rùng mình tự nhủ rằng chỉ vài tiếng nữa thôi anh sẽ phải quay lại đây một mình. Rồi cảm giác phi thực tế ấy lại một lần nữa ập đến, khiến anh không sao tin nổi rằng Mattie đang đứng trước mặt mình lần cuối cùng.
“Đi thôi em,” anh nói với vẻ gần như vui vẻ, mở cửa và đặt chiếc túi của cô lên xe trượt. Anh nhanh nhẹn nhảy lên ghế, cúi người quấn tấm thảm quanh người cô khi cô rụt rè luồn vào chỗ ngồi bên cạnh anh. “Nào, đi thôi con,” anh vừa nói vừa vẩy dây cương, giục con ngựa tía thong thả cất bước chạy xuống dốc.
“Mình còn khối thời gian để đi dạo một chuyến cho thỏa thích đấy, Matt ạ!” anh kêu lên, luồn tay tìm bàn tay cô dưới lớp lông thú và xiết chặt trong tay mình. Gò má anh nóng bừng và đầu óc quay cuồng, cứ như thể anh vừa tạt vào quán rượu ở Starkfield vào một ngày giá buốt để nốc một ly rượu mạnh.
Đến cổng, thay vì rẽ về hướng Starkfield, anh giật cương cho con ngựa tía rẽ phải, hướng lên con đường Bettsbridge. Mattie ngồi lặng thinh, không hề tỏ chút ngạc nhiên nào; nhưng một lát sau, cô cất lời: “Anh định đi đường vòng qua hồ Shadow Pond đấy phỏng?”
Anh cười lớn và đáp: “Anh biết thế nào em cũng đoán ra mà!”
Cô rúc sâu hơn vào tấm da gấu, khiến khi anh nghiêng đầu nhìn qua tay áo khoác, anh chỉ còn bắt gặp chóp mũi cô và một lọn tóc nâu bồng bềnh trong gió. Họ chầm chậm lái xe lên con đường giữa những cánh đồng lấp lánh dưới ánh mặt trời nhợt nhạt, rồi rẽ phải vào một lối nhỏ viền đầy cây vân sam và thông rụng lá. Phía trước họ, tận đằng xa, một dãy đồi loang lổ những vạt rừng đen thẫm trải dài uốn lượn với những đường cong trắng muốt nổi bật trên nền trời. Con đường mòn dẫn vào một khu rừng thông với những thân cây ửng đỏ trong ánh nắng chiều và những chiếc bóng màu xanh nhạt trải dài trên nền tuyết. Khi họ vừa bước vào, cơn gió bỗng lặng đi và một sự tĩnh mịch ấm áp dường như rủ xuống từ những tán cây cùng với những chiếc kim thông rơi. Tại đây, lớp tuyết tinh khiết đến mức những dấu chân li ti của các loài thú rừng để lại những họa tiết tinh xảo như ren, và những quả thông màu xanh phớt vương trên mặt tuyết trông giống như những món đồ đồng trang trí.
Ethan cứ thế lặng lẽ lái xe cho đến khi tới một khoảng rừng thưa, nơi những gốc thông mọc thưa thớt hơn; anh bèn dừng xe và đỡ Mattie xuống. Họ bước đi giữa những thân cây ngào ngạt hương thơm, lớp tuyết kêu lạo xạo giòn giã dưới chân, cho đến khi tới một hồ nước nhỏ với những sườn đồi dốc đứng phủ đầy cây cối. Mặt hồ đóng băng phản chiếu từ bờ bên kia một ngọn đồi đơn độc vươn lên đón ánh mặt trời phía tây, hắt xuống chiếc bóng hình chóp dài tạo nên cái tên của hồ nước. Đó là một chốn ẩn dật kín đáo, đượm cùng một nỗi u sầu lặng câm mà Ethan đang mang trong tim.
Anh đưa mắt nhìn dọc theo bãi sỏi nhỏ cho đến khi dừng lại ở một thân cây ngổn ngang nửa chìm nửa nổi dưới lớp tuyết.
“Đấy chính là chỗ chúng mình ngồi trong buổi dã ngoại đấy,” anh nhắc cô nhớ lại.
Cuộc vui mà anh nhắc đến là một trong số ít những dịp họ cùng nhau tham gia: một buổi “dã ngoại nhà thờ” vào một buổi chiều dài đằng đẵng của mùa hè năm trước, từng lấp đầy chốn hoang vắng này bằng những tiếng cười vui nhộn. Mattie từng nài nỉ anh đi cùng nhưng anh đã từ chối. Thế rồi, khi hoàng hôn buông xuống, lúc anh từ trên núi đi xuống sau khi đốn củi, anh bị mấy kẻ vui chơi tụ tập lôi kéo vào nhóm người bên hồ, nơi Mattie đang vây quanh bởi những thanh niên hay đùa cợt, rạng rỡ như một quả mâm xôi dưới vành mũ rộng vành, đang pha cà phê trên ngọn lửa trại của người Di-gan. Anh nhớ lại cảm giác ngượng ngùng khi đến gần cô trong bộ quần áo thô kệch, rồi gương mặt bừng sáng của cô, và cách cô phá vỡ vòng vây để chạy đến bên anh với chiếc cốc trên tay. Họ đã ngồi vài phút trên thân cây đổ bên hồ, rồi cô làm rơi chiếc huy chương vàng và bắt mấy chàng trai đi tìm; chính Ethan là người đã phát hiện ra nó trong lớp rêu.... Chỉ có thế thôi; nhưng toàn bộ mối tương tác của họ toàn được dệt nên từ những khoảnh khắc chớp nhoáng không thành lời như thế, khi họ tưởng chừng như vô tình bắt gặp hạnh phúc hệt như khi tình cờ trông thấy một chú bướm giữa khu rừng mùa đông băng giá....
“Chính ngay chỗ này là nơi anh tìm thấy chiếc huy chương của em,” anh nói, khẽ khều mũi giày vào một bụi việt quất dày đặc.
“Em chưa từng thấy ai có đôi mắt tinh tường đến thế!” cô đáp.
Cô ngồi xuống thân cây dưới ánh nắng ấm áp và anh ngồi xuống bên cạnh cô.
“Trông em xinh như tranh vẽ trong chiếc mũ hồng dạo ấy,” anh nói.
Cô mỉm cười thích thú. “Ôi, em đoán là nhờ chiếc mũ đấy chứ!” cô đáp lại.
Chưa bao giờ họ thổ lộ tình cảm của mình một cách công khai đến thế, và Ethan, trong khoảnh khắc ấy, ảo tưởng rằng mình là một người đàn ông tự do đang tán tỉnh người thiếu nữ mà anh định cưới làm vợ. Anh ngắm mái tóc cô và khao khát được chạm vào nó lần nữa, được nói cho cô nghe rằng nó mang hương thơm của núi rừng; nhưng anh chưa từng học cách thốt ra những lời như vậy.
Bỗng cô đứng phắt dậy và nói: “Chúng mình không thể ở đây lâu hơn nữa đâu.”
Anh ngẩn ngơ nhìn cô, vẫn chưa hoàn toàn tỉnh mộng. “Thời gian còn khối mà,” anh đáp.
Họ đứng đối mặt nhau như thể ánh mắt của mỗi người đang cố gắng thu trọn và khắc ghi hình ảnh của đối phương vào tâm trí. Có những điều anh phải nói với cô trước khi chia tay, nhưng anh không thể thốt lên ở chốn kỷ niệm mùa hè ấy, thế rồi anh quay người, lặng lẽ bước theo cô ra xe trượt. Khi họ đánh xe rời đi, mặt trời đã khuất sau ngọn đồi và những thân thông chuyển từ sắc đỏ sang màu xám xịt.
Theo con đường vòng vèo giữa những cánh đồng, họ quay trở lại con đường Starkfield. Dưới bầu trời rộng lớn, ánh sáng vẫn còn trong trẻo, với vệt phản chiếu đỏ lạnh trên những ngọn đồi phía đông. Những lùm cây ẩn mình dưới lớp tuyết dường như chụm lại thành từng cụm xù lông, giống như những chú chim rúc đầu dưới cánh; và bầu trời khi nhạt dần lại càng dâng cao hơn, khiến mặt đất càng thêm cô quạnh.
Khi họ rẽ vào đường Starkfield, Ethan cất tiếng hỏi: “Matt, em định thế nào đây?”
Cô không đáp ngay, nhưng hồi lâu sau mới cất lời: “Em sẽ tìm một chân làm việc trong cửa hàng.”
“Em thừa biết mình không làm được đâu. Bầu không khí ngột ngạt và việc phải đứng cả ngày trước kia suýt cướp đi sinh mạng của em rồi đấy.”
“Em khỏe hơn rất nhiều so với trước khi đến Starkfield rồi.”
“Và giờ thì em lại định vứt bỏ tất cả những điều tốt đẹp mà nơi này mang lại cho em sao!”
Dường như chẳng có câu trả lời nào cho câu hỏi ấy, và họ lại tiếp tục lặng lẽ lái xe một lúc lâu. Cứ qua mỗi thước đường, lại có một góc nhỏ nơi họ từng đứng, từng cùng nhau cười đùa hay lặng im bên nhau, bỗng chồm lên níu lấy Ethan và kéo anh chùng xuống.
“Chẳng lẽ không có ai trong số họ hàng bên bố em giúp được gì sao?”
“Chẳng có ai mà em muốn ngửa tay xin giúp cả.”
Anh hạ thấp giọng: “Em biết là không có việc gì trên đời này mà anh không thể làm vì em nếu anh có khả năng.”
“Em biết là có chứ.”
“Nhưng anh lại không thể—”
Cô im lặng, nhưng anh cảm nhận được bờ vai đang dựa vào vai mình khẽ run lên.
“Ôi, Matt,” anh thốt lên nghẹn ngào, “nếu lúc này anh có thể đi cùng em thì anh đã làm rồi—”
Cô quay về phía anh, rút một mẩu giấy từ ngực áo ra. “Ethan—em tìm thấy cái này,” cô ấp úng. Ngay trong ánh sáng nhập nhoạng, anh nhận ra đó chính là bức thư gửi vợ mà anh đã viết dang dở từ tối hôm trước nhưng quên mất chưa hủy đi. Vượt qua nỗi bàng hoàng là một cảm giác sung sướng dữ dội dâng trào trong lòng. “Matt—” anh kêu lên; “nếu anh có thể đi, em có đi cùng không?”
“Ôi, Ethan, Ethan—nói làm gì nữa chứ?” Với một động tác bất thần, cô xé nát bức thư thành trăm mảnh rồi tung cho chúng bay phấp phới vào lớp tuyết.
“Nói cho anh nghe đi, Matt! Nói cho anh biết đi!” anh nài nỉ.
Cô im lặng trong giây lát; rồi cô cất lời, giọng nhỏ đến mức anh phải cúi sát đầu mới nghe rõ: “Đã có lúc em từng nghĩ đến điều đó, vào những đêm mùa hè trăng sáng vằng vặc. Em chẳng thể nào chợp mắt nổi.”
Trái tim anh chao đảo vì sự ngọt ngào ấy. “Lâu thế cơ à?”
Cô đáp, như thể thời điểm ấy đã được khắc ghi từ lâu trong trí nhớ: “Lần đầu tiên là ở hồ Shadow Pond.”
“Có phải vì thế mà em đưa cốc cà phê cho anh trước những người khác không?”
“Em không biết nữa. Em thế à? Em đã giận khủng khiếp khi anh không chịu đi dã ngoại cùng em; rồi khi thấy anh đi xuống đường, em cứ nghĩ biết đâu anh cố tình về nhà theo lối đó; và điều đó làm em vui lắm.”
Họ lại chìm vào im lặng. Họ đã đến đoạn đường đổ dốc xuống thung lũng cạnh cối xay của Ethan, và khi họ đi xuống, bóng tối cũng theo đó sà xuống theo, buông rủ như một chiếc khăn voan đen từ những cành thiết sam nặng trĩu.
“Anh bị trói tay trói chân rồi, Matt ạ. Chẳng có việc gì anh làm được cả,” anh lại cất lời.
“Thỉnh thoảng anh phải viết thư cho em đấy nhé, Ethan.”
“Ôi, viết thư thì tích sự gì chứ? Anh muốn đưa tay ra chạm vào em. Anh muốn được chăm sóc và lo lắng cho em. Anh muốn có mặt lúc em ốm đau hay những khi em cô đơn.”
“Anh đừng lo, em sẽ xoay xở được mà.”
“Ý em là em không cần anh nữa chứ gì? Chắc là em sẽ lấy chồng cho mà xem!”
“Ôi, Ethan!” cô thét lên.
“Anh không hiểu sao em cứ làm anh có cảm giác này, Matt ạ. Anh thà thấy em chết đi còn hơn là để điều đó xảy ra!”
“Ôi, em ước gì mình chết quách đi, ước gì được chết!” cô nức nở.
Tiếng khóc của cô đã đánh thức anh khỏi cơn giận dữ tăm tối, và anh cảm thấy xấu hổ.
“Đừng nói những điều đó nữa em,” anh thì thầm.
“Sao lại không được nói khi đó là sự thật chứ? Phút nào trong ngày em cũng ước ao như thế.”
“Matt! Em thôi đi! Đừng nói thế nữa.”
“Chưa từng có ai đối xử tốt với em ngoài anh ra.”
“Cũng đừng nói thế nốt, khi mà anh chẳng thể nhấc nổi một ngón tay vì em!”
“Vâng; nhưng dù sao thì đó vẫn là sự thật.”
Họ đã lên tới đỉnh đồi School House Hill và Starkfield hiện ra dưới tầm mắt trong chập choạng hoàng hôn. Một chiếc xe ngựa trượt từ dưới làng đi lên vượt qua họ với tiếng chuông reo vui tai, và họ thẳng người lại, hướng mắt nhìn về phía trước với gương mặt đờ đẫn. Dọc theo con phố chính, những ánh đèn đã bắt đầu thắp sáng từ các mặt tiền nhà và bóng dáng vài người lác đác rẽ vào các cổng ra vào. Ethan khẽ vung roi giục con ngựa tía lê bước thảm hại.
Khi họ đến gần cuối làng, tiếng trẻ con nô đùa vọng lại, và họ trông thấy một đám đông lũ trẻ kéo theo xe trượt đang tản ra khắp bãi đất trống trước nhà thờ.
“Chắc đây là buổi trượt tuyết cuối cùng của tụi nhỏ trong vài ngày tới rồi,” Ethan nói, ngước nhìn bầu trời dịu nhẹ.
Mattie im lặng, và anh nói tiếp: “Lẽ ra tối qua chúng mình đã được đi trượt rồi.”
Cô vẫn không đáp và, thúc đẩy bởi một nỗi khao khát mơ hồ muốn giúp cả anh và cô vượt qua giờ phút cuối cùng đầy đau khổ này, anh huyên thuyên nói tiếp: “Lạ thật đấy, cả mùa đông vừa rồi chúng mình chỉ đi trượt đúng một lần duy nhất ấy nhỉ?”
Cô đáp: “Có mấy khi em xuống được đến làng đâu.”
“Đúng thế nhỉ,” anh nói.
Họ đã lên tới đỉnh con đường Corbury, và giữa ánh sáng trắng mờ ảo của nhà thờ cùng bức màn đen của hàng cây vân sam nhà Varnum, sườn đồi trải dài bên dưới họ mà không một bóng xe trượt nào. Một sự bốc đồng bất chợt thúc giục Ethan thốt lên: “Em có muốn anh chở em trượt xuống đó bây giờ không?”
Cô bật cười gượng gạo. “Ôi dào, thời gian đâu mà đi!”
“Khối thời gian ấy chứ. Đi nào!” Mong muốn duy nhất của anh lúc này là kéo dài khoảnh khắc phải quay đầu con ngựa tía hướng về The Flats.
“Nhưng còn con nhỏ giúp việc,” cô ngập ngừng. “Con bé sẽ đợi ở ga mất.”
“Mặc kệ nó chờ đi. Kiểu gì cậu chẳng phải đợi nếu nó không tới. Đi nào!”
Giọng điệu ra lệnh của anh dường như khiến cô chùn bước, và khi anh vừa nhảy xuống xe trượt, cô để anh đỡ mình xuống, chỉ lẩm bẩm với vẻ ngượng ngùng mơ hồ: “Nhưng quanh đây làm gì có chiếc xe trượt nào đâu.”
“Có chứ! Ngay đằng kia dưới hàng vân sam kìa.” Anh quăng tấm da gấu lên lưng con ngựa tía đang ngoan ngoãn đứng bên vệ đường với cái đầu rủ xuống trầm ngâm. Rồi anh nắm lấy tay Mattie, kéo cô đi theo mình về phía chiếc xe trượt.
Cô vâng lời ngồi xuống và anh ngồi vào vị trí phía sau, sát đến mức mái tóc cô khẽ chạm vào mặt anh. “Ổn cả chứ, Matt?” anh gọi lớn, cứ như thể khoảng cách giữa họ rộng cả con đường.
Cô quay đầu lại đáp: “Tối thui à. Anh có chắc là nhìn rõ đường không đấy?”
Anh cười khẩy đầy kiêu ngạo: “Anh nhắm mắt cũng trượt xuống được con dốc này ấy chứ!” và cô cười theo anh, như thể cô rất thích sự liều lĩnh đó của anh. Dù vậy, anh vẫn ngồi im một lát, nheo mắt nhìn xuống sườn đồi dài dằng dặc, bởi đây là thời điểm hoang mang nhất trong ngày, thời điểm mà chút ánh sáng cuối cùng từ bầu trời cao hòa lẫn với màn đêm đang dâng lên tạo thành một lớp sương mờ che khuất cột mốc và làm sai lệch khoảng cách.
“Đi thôi!” anh thét lên.
Chiếc xe trượt lao vút đi với một cú chồm, và họ bay qua màn đêm chập choạng, tốc độ và sự mượt mà tăng dần theo quãng đường, cùng với khoảng không đen ngòm mở ra dưới chân và tiếng gió rít qua bên tai nghe như tiếng đàn phong cầm. Mattie ngồi bất động, nhưng khi họ đến khúc cua dưới chân đồi, nơi cây du lớn chìa ra một cái chỏm nguy hiểm, anh có cảm giác cô khẽ nép sát vào anh hơn một chút.
“Đừng sợ, Matt!” anh hân hoan hét lên khi họ vượt qua khúc cua an toàn và lao xuống sườn dốc thứ hai; và khi họ chạm tới vùng đất bằng phẳng bên dưới, tốc độ xe trượt bắt đầu chậm lại, anh nghe thấy cô phát ra một tiếng cười khúc khích đầy thích thú.
Họ nhảy xuống và bắt đầu đi bộ lên dốc. Ethan một tay kéo xe trượt, tay kia luồn qua khuỷu tay Mattie.
“Em có sợ anh tông phải cây du không?” anh hỏi với nụ cười ngây thơ.
“Em đã bảo là ở cạnh anh thì chẳng bao giờ em phải sợ gì cả,” cô đáp.
Sự hưng phấn kỳ lạ trong tâm trạng đã khơi gợi lại một trong những cơn kiêu ngạo hiếm hoi của anh. “Đoạn đường ấy hiểm lắm đấy nhé. Chỉ chệch đi một ly là chúng mình chẳng bao giờ ngoi lên được nữa đâu. Nhưng anh đo khoảng cách chuẩn xác đến từng sợi tóc—lúc nào cũng thế.”
Cô thì thầm: “Lúc nào em cũng bảo mắt anh là chuẩn nhất ấy....”
Sự tĩnh mịch sâu thẳm bao trùm lấy bóng tối không một bóng sao, và họ tựa vào nhau bước đi không nói năng gì; nhưng qua mỗi bước chân leo dốc, Ethan lại tự nhủ: “Đây là lần cuối cùng chúng mình được bước đi cùng nhau rồi.”
Họ chậm rãi leo lên đỉnh đồi. Khi đi ngang qua nhà thờ, anh cúi đầu hỏi cô: “Em có mệt không?” và cô thở gấp đáp: “Thật là tuyệt!”
Dùng một lực siết nhẹ ở cánh tay, anh dìu cô hướng về phía hàng cây vân sam Na Uy. “Chắc chiếc xe trượt này là của Ned Hale rồi. Kiểu gì anh cũng phải trả lại chỗ cũ thôi.” Anh kéo xe trượt đến tận cổng nhà Varnum và dựng nó vào hàng rào. Khi vừa đứng thẳng người lên, anh bất ngờ cảm thấy Mattie đang áp sát vào mình giữa bóng tối râm mát.
“Có phải đây là chỗ Ned và Ruth từng hôn nhau không?” cô thở hổn hển thì thầm, rồi vòng tay ôm lấy cổ anh. Đôi môi cô quờ quạng tìm kiếm môi anh, lướt qua gương mặt anh, và anh ôm chặt lấy cô trong niềm hạnh phúc bất ngờ tột độ.
“Tạm biệt, tạm biệt,” cô ấp úng, rồi lại hôn anh lần nữa.
“Ôi, Matt, anh không thể để em đi!” tiếng kêu quen thuộc ấy lại thốt lên từ đáy lòng anh.
Cô dứt khỏi vòng tay anh và anh nghe thấy tiếng cô nức nở. “Ôi, em cũng chẳng thể đi được!” cô oà khóc.
“Matt! Chúng mình phải làm sao đây? Phải làm thế nào bây giờ?”
Họ nắm chặt lấy tay nhau như những đứa trẻ, và thân hình cô rung lên bần bật bởi những tiếng nức nở tuyệt vọng.
Giữa không gian tĩnh lặng, họ nghe tiếng đồng hồ nhà thờ điểm năm giờ.
“Ôi, Ethan, đến giờ rồi!” cô thét lên.
Anh kéo cô trở lại lòng mình. “Giờ nào chứ? Em không nghĩ là anh sẽ để em đi lúc này đấy chứ?”
“Nếu lỡ chuyến tàu thì em biết đi đâu?”
“Thế em định đi đâu nếu bắt kịp chuyến tàu?”
Cô đứng lặng thinh, đôi tay buông thõng lạnh ngắt trong tay anh.
“Cả hai đứa mình đi đâu mà không có người kia thì còn ý nghĩa gì nữa chứ?” anh nói.
Cô vẫn đứng im bất động, như thể không nghe thấy lời anh nói. Rồi cô giật phăng tay khỏi tay anh, quàng tay qua cổ anh, và áp gò mặt đẫm lệ vào má anh. “Ethan! Ethan! Anh đưa em trượt xuống lần nữa đi!”
“Xuống đâu cơ?”
“Xuống dốc ấy. Đi ngay bây giờ đi anh,” cô thở hổn hển. “Để chúng mình chẳng bao giờ phải lên đây nữa.”
“Matt! Em đang nói linh tinh gì thế hả?”
Cô áp sát môi vào tai anh thì thầm: “Đâm thẳng vào cây du lớn ấy. Anh bảo anh làm được mà. Để chúng mình mãi mãi không bao giờ phải rời xa nhau nữa.”
“Sao cơ, em đang nói cái quái gì thế hả? Em điên mất rồi!”
“Em không điên; nhưng em sẽ phát điên mất nếu phải rời xa anh.”
“Ôi, Matt, Matt—” anh rên rỉ.
Cô siết chặt vòng tay quanh cổ anh. Gương mặt cô áp sát vào mặt anh.
“Ethan, em biết đi đâu nếu bỏ anh cơ chứ? Em có biết cách tự xoay xở một mình đâu. Chính anh vừa nói thế còn gì. Ngoài anh ra chẳng có ai đối xử tốt với em cả. Rồi sẽ có con nhỏ lạ hoắc đó bước vào nhà... và nó sẽ ngủ trên chiếc giường của em, nơi hằng đêm em từng nằm và lắng nghe tiếng anh bước lên cầu thang....”
Những lời đó tựa như những mảnh thịt bị xé toạc ra từ trái tim anh. Đi kèm với chúng là hình ảnh đáng ghét về ngôi nhà mà anh sắp sửa quay về—về những bậc cầu thang mà anh sẽ phải bước lên mỗi tối, về người phụ nữ sẽ chờ đợi anh ở đó. Và sự ngọt ngào trong lời thú nhận của Mattie, niềm kinh ngạc cuồng dại khi cuối cùng anh nhận ra tất cả những gì xảy ra với anh cũng đã xảy ra với cô, khiến viễn cảnh kia càng trở nên gớm ghiếc hơn, cuộc sống kia càng trở nên không tài nào chịu nổi để mà quay về....
Những lời nài nỉ của cô vẫn cứ thốt lên đứt quãng giữa những tiếng nức nở, nhưng anh chẳng còn nghe thấy cô đang nói gì nữa. Chiếc mũ của cô đã tuột ra sau và anh đang vuốt ve mái tóc cô. Anh muốn cảm nhận cho bằng hết sự mượt mà ấy trong lòng bàn tay, để nó có thể ngủ yên ở đó như một hạt giống qua mùa đông. Có một khoảnh khắc anh tìm lại được đôi môi cô, và họ tưởng như đang ở bên nhau cạnh hồ nước dưới ánh nắng tháng Tám rực rỡ. Nhưng má anh chạm vào má cô, lạnh ngắt và đẫm lệ, và anh nhìn thấy con đường dẫn tới The Flats trong đêm tối cùng tiếng còi tàu hỏa hú lên phía đằng xa.
Những tán vân sam bao bọc lấy họ trong màn đêm đen kịch và sự tĩnh lặng. Họ có lẽ chẳng khác nào đang nằm trong cỗ quan tài dưới lòng đất. Anh th,ự tự nhủ: “Có lẽ cảm giác cũng sẽ thế này thôi...” rồi lại tự nhủ: “Sau lần này thì ta sẽ chẳng còn cảm thấy gì nữa....”
Bỗng anh nghe tiếng con ngựa tía cất tiếng hí vang vọng bên kia đường, và thầm nghĩ: “Nó đang tự hỏi sao mãi mà chưa được ăn tối đấy phỏng....”
“Đi thôi!” Mattie thì thầm, kéo tay anh.
Sự quyết liệt u ám của cô đã kiềm chế anh: cô dường như chính là hiện thân của định mệnh. Anh kéo chiếc xe trượt ra, nheo mắt chớp chớp như một con cú đêm khi bước từ bóng râm của hàng vân sam ra ánh sáng mờ ảo của bãi trống. Sườn đồi bên dưới vắng tanh vắng ngắt. Cả Starkfield đang bận ăn tối, và chẳng có lấy một bóng người qua lại trên bãi đất trống trước nhà thờ. Bầu trời nặng trĩu những đám mây báo hiệu thời tiết sắp chuyển mùa, thấp lè tè hệt như trước cơn giông mùa hè. Anh căng mắt nhìn qua màn sương mờ, và cảm thấy đôi mắt mình kém tinh anh hơn, chẳng còn lanh lợi như thường ngày nữa.
Anh ngồi lên chiếc xe trượt và Mattie lập tức chồm lên ngồi phía trước anh. Chiếc mũ của cô đã rơi vào tuyết và môi anh vùi trong mái tóc cô. Anh duỗi thẳng chân, cắm gót giày xuống mặt đường để giữ xe trượt không bị trôi về phía trước, rồi ngửa đầu cô ra sau giữa hai bàn tay mình. Nhưng rồi bất chợt anh đứng phắt dậy.
“Đứng lên đi em,” anh ra lệnh.
Đó là mệnh lệnh mà cô luôn tuân rẩy vâng theo, nhưng cô co ro người lại trên chỗ ngồi, kịch liệt lặp lại: “Không, không, không!”
“Đứng lên!”
“Tại sao chứ?”
“Anh muốn ngồi phía trước.”
“Không, không! Làm sao mà lái khi ngồi đằng trước được chứ?”
“Anh không cần lái. Mình cứ theo vết trượt cũ mà đi.”
Họ thì thầm nghẹn ngào, cứ như thể màn đêm đang lắng nghe từng tiếng.
“Đứng dậy đi em! Đứng lên nào!” anh giục giã; nhưng cô vẫn khăng khăng lặp lại: “Sao anh cứ muốn ngồi đằng trước thế?”
“Bởi vì anh—bởi vì anh muốn cảm giác được em ôm lấy,” anh ấp úng, và kéo cô đứng dậy.
Câu trả lời dường như làm cô thỏa mãn, hoặc cũng có thể cô đã khuất phục trước uy lực trong giọng nói của anh. Anh cúi xuống, dò dẫm trong bóng tối tìm rãnh trượt nhẵn bóng do những người trượt trước để lại, và cẩn thận đặt hai thanh trượt vào đúng đường ray ấy. Cô đứng chờ trong lúc anh khoanh chân ngồi vào vị trí phía trước xe trượt; rồi cô nhanh chóng rúc người sát phía sau lưng anh và vòng tay ôm chặt lấy anh. Hơi thở phả vào gáy khiến anh lại run lên bần bật, và anh suýt chồm dậy khỏi chỗ ngồi. Nhưng trong chớp mắt anh chợt nhớ đến phương án còn lại. Cô nói đúng: thế này vẫn còn hơn là chia tay. Anh ngả người ra sau và kéo môi cô áp sát vào môi mình....
Ngay lúc họ bắt đầu lao đi, anh lại nghe tiếng con ngựa tía hí lên, và tiếng gọi thiết tha quen thuộc ấy cùng tất cả những hình ảnh hỗn độn mà nó mang theo đã đồng hành cùng anh suốt chặng đường đầu tiên của con dốc. Lưng chừng dốc có một khúc hẫng đột ngột, rồi lại vút lên, và sau đó là một cú lao dốc dài đê mê khác. Khi họ cất cánh cho cú lao này, anh có cảm giác họ thực sự đang bay, bay vút lên tận bầu trời mây mù, với Starkfield chìm khuất vô tận bên dưới, thu nhỏ lại như một hạt bụi trong không gian.... Rồi cây du lớn bỗng vọt lên trước mắt, chực chờ sẵn họ ở khúc cua của con đường, và anh nghiến răng thét lên: “Mình tông tới đó được; anh biết chắc là mình làm được mà—”
Khi họ lao về phía cái cây, Mattie siết chặt tay hơn, và dòng máu của cô như đang chảy trong huyết quản anh. Một hai lần chiếc xe trượt chao đảo dưới chân họ. Anh nghiêng người giữ cho xe hướng thẳng về phía cây du, lặp đi lặp lại trong đầu: “Anh biết chắc là mình tông tới đó được”; và những câu nói ngắn ngủn cô từng thốt lên cứ vang vọng trong đầu anh, nhảy múa trước mặt trong không trung. Cái cây lớn ngày càng phình to và áp sát, và khi họ lao sầm vào nó, anh nghĩ thầm: “Nó đang đợi chúng mình đấy: nó hình như biết rõ lắm.” Nhưng bỗng nhiên, gương mặt của vợ anh với những đường nét méo mó dị thường chen ngang giữa anh và đích đến, và anh theo bản năng đưa tay gạt phắt nó đi. Chiếc xe trượt chao đảo theo, nhưng anh đã kịp nắn chỉnh lại hướng, giữ cho nó đi thẳng, và lao sầm vào khối đen kịch đang nhô ra. Có một khoảnh khắc cuối cùng khi không khí xé rách qua người anh như hàng triệu sợi dây thép bén ngót; rồi đến cây du....
Bầu trời vẫn dày đặc mây mù, nhưng khi ngước thẳng lên, anh nhìn thấy một ngôi sao đơn độc, và lơ mơ tính toán xem đó là sao Thiên Lang, hay là—hay là—Sự cố gắng ấy khiến anh mệt mỏi rã rời, và anh khép mi mắt nặng trĩu lại, thầm nghĩ mình sẽ ngủ một giấc.... Sự tĩnh mịch sâu thẳm đến mức anh nghe thấy tiếng một con thú nhỏ đang kêu chít chít ở đâu đó gần đó dưới lớp tuyết. Nó phát ra tiếng kêu hoảng hốt nho nhỏ giống như một con chuột đồng, và anh bâng khuâng tự hỏi không biết nó có bị thương không. Rồi anh hiểu ra rằng chắc chắn nó đang đau đớn: nỗi đau đớn khủng khiếp đến mức anh có cảm giác một cách kỳ lạ rằng chính mình cũng đang cảm nhận được nó đang lan truyền khắp cơ thể. Anh vô ích cố gắng lật người về phía phát ra âm thanh, và duỗi cánh tay trái ra trên lớp tuyết. Và giờ đây, anh có cảm giác như mình đang cảm nhận nhiều hơn là nghe thấy tiếng kêu ấy; nó dường như nằm ngay dưới lòng bàn tay anh, nơi đang đặt lên một vật gì đó mềm mại và có độ đàn hồi. Ý nghĩ về sự đau đớn của con vật khiến anh không sao chịu nổi và anh giãy giụa cố gượng dậy, nhưng không tài nào nhúc nhích được bởi vì một tảng đá, hoặc một khối gì đó khổng lồ, dường như đang đè nặng lên người anh. Thế nhưng anh vẫn tiếp tục dò dẫm một cách thận trọng bằng bàn tay trái, thầm nghĩ có thể tóm được sinh vật nhỏ bé ấy để giúp nó; và ngay khoảnh khắc đó, anh nhận ra vật mềm mại mà mình vừa chạm vào chính là mái tóc của Mattie và bàn tay anh đang đặt trên mặt cô.
Anh lê người quỳ dậy, sức nặng khủng đè nặng trên người dịch chuyển theo từng cử động của anh, và bàn tay anh cứ quơ đi quơ lại trên khuôn mặt cô, và anh cảm nhận được tiếng kêu chít chít ấy phát ra từ đôi môi cô....
Anh áp sát mặt mình vào mặt cô, với tai kề sát miệng cô, và trong bóng tối anh thấy đôi mắt cô mở to và nghe cô gọi tên mình.
“Ôi, Matt, anh cứ ngỡ chúng mình tông tới nơi rồi chứ,” anh rên rỉ; và đằng xa tận đỉnh đồi, anh nghe tiếng con ngựa tía hí lên, và thầm nghĩ: “Lẽ ra mình phải đi lấy thức ăn cho nó mới phải....”
TIẾNG VO VE CỦA SỰ CẰN NHẰN vụt tắt khi tôi bước vào căn bếp nhà Frome, và trong số hai người phụ nữ đang ngồi đó, tôi không thể phân biệt được ai là người vừa cất tiếng.
Một trong số họ, khi thấy tôi xuất hiện, liền nhổm cái thân hình cao gầy xương xẩu dậy khỏi ghế, không phải để chào đón tôi—vì cô ta chỉ liếc nhìn tôi một cái đầy ngạc nhiên chớp nhoáng—mà chỉ để bắt tay chuẩn bị bữa ăn vốn đã bị trì hoãn do vắng mặt Frome. Khoác trên vai cô ta là chiếc áo choàng bằng vải calico luộm thuộm, những lọn tóc xám thưa thớt được vén gọn khỏi trán cao và cố định phía sau bằng một chiếc lược gãy. Cô ta sở hữu cặp mắt đục ngầu vô hồn chẳng để lộ hay phản chiếu điều gì, và đôi môi mỏng dính cùng một sắc màu tái mét như gương mặt.
Người phụ nữ còn lại nhỏ người hơn và mảnh khảnh hơn nhiều. Cô ta ngồi co ro trên chiếc ghế bành gần lò sưởi, và khi tôi bước vào, cô ta nhanh chóng quay đầu về phía tôi mà không hề có chút cử động đồng bộ nào của cơ thể. Mái tóc cô ta xám ngoét hệt như người phụ nữ kia, gương mặt cũng bợt bạt và nhăn nheo, nhưng mang sắc thái hổ phách, với những vết thâm quầng sạm đen làm sống mũi thêm nhọn hoắt và hõm thái dương sâu thẳm. Dưới lớp váy rộng thùng thình, cơ thể cô ta giữ nguyên vẻ bất động mềm oặt, và đôi mắt tối màu mang ánh nhìn sắc lạnh tựa phù thủy mà đôi khi bệnh cột sống gây ra.
Ngay cả đối với vùng đất đó, căn bếp trông cũng thật nghèo nàn, xập xệ. Ngoại trừ chiếc ghế của người phụ nữ mắt tối màu trông như một di vật xa xỉ lấm lem được mua từ một phiên đấu giá ở vùng quê, đồ đạc trong nhà đều là loại thô kệch nhất. Ba chiếc đĩa sứ sứt mẻ và một chiếc bình sữa sứt vòi được đặt trên chiếc bàn nhầy mỡ chằng chịt vết dao khứa, và dăm ba chiếc ghế đệm rơm cùng một chiếc tủ đựng bát đĩa bằng gỗ thông chưa sơn dựng thưa thớt sát những bức tường trát vữa.
“Chà, ở đây lạnh quá nhỉ! Lò sưởi chắc sắp tàn hẳn rồi,” Frome vừa nói vừa ngó nghiêng ái ngại khi bước theo sau tôi vào nhà.
Người phụ nữ cao gầy, người vừa đi về phía chiếc tủ đựng bát đĩa, phớt lờ không thèm đếm xỉa; nhưng người kia, từ góc ngồi có đệm của mình, cất tiếng cằn nhằn đáp lời bằng chất giọng cao và mảnh. “Nó vừa mới được nhóm lên lúc nãy chứ mấy. Zeena ngủ thiếp đi và ngủ say tít mù chẳng biết bao lâu, còn tôi thì cứ ngỡ mình cứng đờ người ra mất trước khi kịp đánh thức chị ta dậy để chăm chút cho cái lò.”
Lúc đó tôi mới nhận ra chính cô ta là người đã cất tiếng nói khi chúng tôi vừa bước vào.
Người bạn đồng hành của cô ta, kẻ vừa quay lại bàn mang theo phần thừa của chiếc bánh nhân thịt nguội đặt trong một chiếc đĩa nướng móp méo, đặt gánh nặng chẳng mấy hấp dẫn ấy xuống mà hình như chẳng buồn nghe thấy lời cáo buộc nhằm vào mình.
Frome ngập ngừng đứng trước mặt cô ta khi cô ta tiến lại; rồi anh nhìn sang tôi và nói: “Đây là vợ tôi, bà Frome.” Sau một thoáng ngập ngừng, anh nói tiếp, quay người về phía bóng hình trên chiếc ghế bành: “Còn đây là cô Mattie Silver....”
Bà Hale, với tâm hồn đôn hậu, từng tưởng tượng tôi bị lạc ở vùng The Flats và chôn vùi dưới đống tuyết; và sự mãn nguyện của bà khi thấy tôi trở về an toàn vào sáng hôm sau lớn đến mức tôi cảm thấy hiểm nguy mình vừa trải qua đã giúp tôi ghi thêm nhiều điểm cộng trong mắt bà.
Sự kinh ngạc của bà, và của cả cụ bà Varnum lớn tuổi, thật vô bờ bến khi biết rằng cỗ xe ngựa già của Ethan Frome đã chở tôi đi và về Corbury Junction giữa trận bão tuyết tồi tệ nhất mùa đông; và sự ngạc nhiên ấy càng nhân lên gấp bội khi nghe tin chính chủ nhân đã giữ tôi lại ngủ qua đêm.
Ẩn sau những lời cảm thán đầy kinh ngạc của họ, tôi cảm nhận được một sự tò mò thầm kín muốn biết tôi đã thu nhận được những ấn tượng gì sau một đêm ở nhà Frome, và tôi đoán rằng cách tốt nhất để phá vỡ sự dè dặt của họ là để họ tự dò dẫm thâm nhập vào sự dè dặt của tôi. Do đó, tôi chỉ nói bằng một điệu bộ tỉnh bơ rằng tôi đã được tiếp đón vô cùng nồng hậu, và Frome đã chuẩn bị cho tôi một chiếc giường ở căn phòng dưới tầng trệt—nơi vào những ngày tươi đẹp hơn có lẽ từng được bài trí như một phòng làm việc hoặc phòng đọc sách.
“Thôi nào,” bà Hale trầm ngâm, “trong trận bão thế chắc ông ấy nghĩ mình chẳng thể làm gì khác ngoài việc giữ chân ông lại—nhưng tôi đoán đối với Ethan thì chuyện đó khó khăn lắm đấy. Tôi dám cá là ông là người lạ duy nhất đặt chân vào ngôi nhà đó trong suốt hơn hai mươi năm qua rồi đấy. Ông ấy kiêu hãnh đến mức thậm chí chẳng thích những người bạn lâu năm nhất đến thăm; và tôi cũng chẳng biết còn ai dám đến nữa không, ngoại trừ tôi và vị bác sĩ....”
“Bà vẫn đến đó chứ, thưa bà Hale?” tôi mạo muội hỏi.
“Hồi mới cưới, tôi hay sang đó lắm; nhưng chẳng bao lâu sau tôi bắt đầu nghĩ rằng việc thấy chúng tôi chỉ làm hai người họ cảm thấy tồi tệ hơn mà thôi. Rồi chuyện nọ xọ chuyện kia, lại thêm những nỗi truân chuyên của riêng tôi.... Nhưng thường thì tôi vẫn cố gắng đánh xe ghé qua đó vào dịp năm mới, và một lần vào mùa hè. Chỉ có điều tôi luôn cố chọn ngày nào Ethan đi vắng đâu đó. Nhìn hai người phụ nữ ngồi lủi thủi ở đó thôi đã đủ tệ lắm rồi—nhưng gương mặt của Ethan, mỗi khi ông ấy nhìn quanh căn phòng trống huơ trống hoác ấy, cứa nát cả cõi lòng tôi.... Ông thấy đấy, tôi có thể nhớ lại và hình dung rõ cảnh đó vào thời của mẹ ông ấy, trước khi những biến cố giáng xuống gia đình họ.”
Cụ bà Varnum lúc này đã lên lầu đi ngủ, và con gái cụ cùng tôi ngồi lại một mình sau bữa tối trong sự tĩnh mịch khắc khổ của căn phòng khách trải thảm lông ngựa. Bà Hale liếc nhìn tôi dò xét, như thể đang cố dò xem những phỏng đoán của tôi đã chạm đến đâu; và tôi đoán rằng nếu bà giữ im lặng đến tận bây giờ thì đó là vì bà đã mòn mỏi chờ đợi qua suốt bao nhiêu năm trời một ai đó có thể nhìn thấy những gì mà chỉ một mình bà từng chứng kiến.
Tôi kiên nhẫn chờ đợi để niềm tin của bà dành cho mình thêm vững vàng trước khi cất lời: “Vâng, cảnh tượng cả ba người họ cứ lủi thủi bên nhau thế thật là quá bi đát.”
Bà nhíu đôi mày hiền từ lại trong nỗi đau đớn. “Mọi chuyện khủng khiếp ngay từ phút ban đầu. Tôi có mặt ở nhà lúc họ được khiêng về—họ đặt Mattie Silver vào căn phòng mà ông đang ở đấy. Cô ấy và tôi là bạn rất thân, và cô ấy đáng lẽ đã làm phù dâu cho tôi vào mùa xuân năm đó.... Khi cô ấy tỉnh lại, tôi đã lên phòng ở lại chăm sóc suốt đêm. Họ cho cô ấy uống thuốc an thần, và mãi đến gần sáng cô ấy mới lơ mơ nhận thức được, rồi thình lình cô ấy tỉnh táo lại hệt như lúc thường, trừng đôi mắt to tròn nhìn thẳng vào tôi và nói.... Ổi, chẳng hiểu sao tôi lại đi kể hết những chuyện này với ông nhỉ,” bà Hale nghẹn ngào dừng lời.
Bà tháo kính ra, lau đi lớp hơi nước mờ đục rồi run rẩy đeo lại lên sống mũi. “Hôm sau thiên hạ đồn đại rằng,” bà kể tiếp, “Zeena Frome đã tống cổ Mattie đi trong vội vã vì có người giúp việc mới sắp đến, và người dân ở đây chẳng bao giờ hiểu đúng sự thật rằng tối hôm đó cô và Ethan đang làm gì trên đường trượt tuyết, trong khi đáng lẽ họ phải đang trên đường tới The Flats để kịp chuyến tàu.... Bản thân tôi chưa bao giờ biết Zeena nghĩ gì—và tận bây giờ tôi cũng chẳng rõ. Chẳng ai thấu được tâm can của Zeena cả. Dù sao đi nữa, khi nghe tin về tai nạn, bà ấy lập tức quay về và ở lại chăm sóc Ethan ở nhà mục sư, nơi họ đã đưa anh ấy đến. Và ngay khi các bác sĩ thông báo Mattie có thể di chuyển được, Zeena liền cho người đón cô ấy về trang trại.”
“Và cô ấy cứ ở đó cho đến tận bây giờ ư?”
Bà Hale đáp một cách đơn giản: “Chẳng còn nơi nào khác cho cô ấy đi cả”; và trái tim tôi thắt lại khi nghĩ đến những sự kìm kẹp khắc nghiệt của cảnh nghèo hèn.
“Vâng, cô ấy cứ ở đó mãi,” bà Hale tiếp lời, “và Zeena đã chăm lo cho cô ấy, chăm lo cho Ethan, tốt nhất có thể. Đúng là một phép màu, xét trên tình trạng ốm yếu của bà ấy—nhưng dường như bà ấy lại được ban cho sức mạnh đúng vào lúc cần thiết nhất. Không phải là bà ấy từ bỏ việc chạy chữa thuốc thang đâu, bà ấy vẫn liên tục đau ốm suốt; nhưng bà ấy đã được ban cho sức mạnh để chăm sóc hai con người ấy trong hơn hai mươi năm trời, trong khi trước khi tai nạn xảy ra, bà ấy cứ nghĩ đến bản thân mình còn lo không xong.”
Bà Hale ngưng lời một lát, còn tôi vẫn chìm đắm trong hình ảnh mà những lời kể của bà gợi lên. “Thật kinh khủng cho tất cả bọn họ,” tôi lẩm bẩm.
“Vâng: quá đỗi bi đát. Và chẳng ai trong số họ là những con người dễ chịu cả. Mattie thì có, trước vụ tai nạn; tôi chưa từng thấy ai có bản tính ngọt ngào đến thế. Nhưng cô ấy đã phải chịu đựng quá nhiều—lúc nào tôi cũng nói thế khi mọi người phàn nàn về việc cô ấy trở nên cay độc. Còn Zeena, bà ấy vốn dĩ luôn đồng bóng. Không phải là bà ấy không nhẫn nhịn Mattie một cách tuyệt vời đâu—chính mắt tôi đã thấy điều đó. Nhưng đôi khi cả hai người họ lao vào cãi vã, và lúc đó gương mặt của Ethan sẽ làm vỡ nát trái tim ông... Khi chứng kiến cảnh đó, tôi nghĩ chính anh ấy mới là kẻ chịu đựng nhiều nhất... dẫu sao thì không phải Zeena, bởi vì bà ấy bận bù đầu chẳng có thời gian mà suy nghĩ.... Thật đáng tiếc làm sao,” bà Hale thở dài kết luận, “khi tất cả bọn họ lại bị giam hãm ở cái xó bếp ấy. Vào mùa hè, những ngày trời đẹp, họ chuyển Mattie ra phòng khách, hoặc ra khoảng sân trước cửa, và điều đó khiến mọi chuyện dễ thở hơn... nhưng vào mùa đông thì phải bận tâm đến chuyện củi lửa; và trên nhà Frome thì chẳng có nổi một xu dính túi đâu.”
Bà Hale trút một hơi thở dài, như thể ký ức của bà vừa được trút bỏ gánh nặng đè nén bấy lâu, và bà chẳng còn gì để nói nữa; nhưng bỗng nhiên một thôi thúc thổ lộ toàn bộ trào dâng trong lòng bà.
Bà lại tháo kính ra, ngả người về phía tôi qua chiếc khăn trải bàn thêu hạt cườm, và hạ thấp giọng kể tiếp: “Có một hôm, khoảng một tuần sau vụ tai nạn, khi tất cả mọi người đều nghĩ Mattie không thể sống nổi. Chà, tôi phải nói rằng thật tiếc vì cô ấy đã sống. Tôi đã từng nói thẳng điều đó với vị mục sư một lần, và ông ấy đã sốc trước lời tôi nói. Chỉ có điều ông ấy không có mặt cùng tôi vào buổi sáng hôm cô ấy tỉnh lại.... Và tôi dám chắc, nếu cô ấy chết đi, thì Ethan có lẽ đã có thể sống tiếp; còn với hoàn cảnh của họ bây giờ, tôi chẳng thấy có mấy sự khác biệt giữa nhà Frome ở trang trại và nhà Frome dưới nghĩa trang kia; chỉ có điều dưới đó mọi người đều yên nghỉ, và những người phụ nữ thì buộc phải ngậm miệng lại mà thôi.”