Đi Tìm Nhân Dạng

Lượt đọc: 22 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN BỐN
I. MARCO DI DIO VÀ VỢ HẮN DIAMANTE ĐÃ TỪNG LÀ GÌ ĐỐI VỚI TÔI

❊ ❊ ❊

Tôi nói “đã từng”; nhưng cũng có thể họ vẫn còn trên cõi đời này. Ở đâu? Có thể vẫn ở đây và ngày mai tôi có thể nhìn thấy họ. Nhưng đây là đâu? Tôi chẳng còn thế giới nào cho riêng mình. Tôi chẳng thể biết gì về họ, về nơi mà họ vờ như đang ở. Tôi chỉ biết chắc chuyện họ đang đi qua phố, nếu ngày mai tôi gặp họ trên phố. Tôi có thể hỏi hắn:

“Cậu là Marco di Dio?”

Và hắn sẽ đáp:

“Vâng. Marco di Dio.”

“Và cậu đương tản bộ trên con phố này?”

“Vâng. Trên con phố này.”

“Và đây là Diamante vợ cậu?”

“Vâng. Diamante vợ tôi.”

“Và con phố này mang tên này?”

“Tên này. Và trên ấy là bao ngôi nhà, bao ngã rẽ, bao cột đèn, vân vân.”

Cứ như một cuốn ngữ pháp của Orlendorf[1].

Tuy nhiên, khi ấy đối với tôi, cũng như bây giờ đối với các ngài, những thứ này là đủ để thiết lập hiện thực về Marco di Dio, về vợ hắn Diamante và con phố nơi tôi vẫn có thể gặp họ, như khi ấy tôi gặp họ. Khi nào? Ôi, cũng chẳng hẳn là nhiều năm về trước. Thời gian và không gian mới chuẩn xác làm sao! Trên phố, năm năm trước.

Cả một khoảng thời gian vĩnh cửu đè nặng tôi, chẳng đơn giản là năm năm này, mà thậm chí chỉ sau một phút giây. Còn thế giới khi ấy tôi sống, giờ đây tôi tưởng nó đã xa hơn ngôi sao xa nhất trên trời.

Tôi thấy Marco di Dio và vợ hắn Diamante chừng như hai kẻ thảm hại. Ấy thế nhưng sự thảm hại, một mặt vẻ như đã thuyết phục họ rằng giờ đây chẳng ích gì phải rửa mặt mỗi sáng, chắc chắn mặt khác lại thuyết phục họ đừng bỏ lỡ bất cứ chiêu trò nào, chẳng phải chí ít để kiếm chút đỉnh chống đói mỗi ngày, mà để sau một đêm bỗng chốc trở thành triệu phú: trờ-iệu-phờ-ú như cách hắn nói, đánh vần từng chữ một với đôi mắt mở to nham hiểm.

Nghe vậy tôi cười, và tất thảy mọi người đều cười giống tôi khi thấy hắn nói vậy. Giờ tôi mới hoảng hốt khi cân nhắc việc tôi chỉ có thể cười hắn bởi vẫn chưa tới lúc tôi phải nghi ngờ cái sự vững chãi và thần kỳ hết đỗi mà người ta gọi là quy luật của trải nghiệm. Chính bởi vậy tôi mới có thể cho chuyện trở thành triệu phú sau một đêm là một giấc mộng ngông cuồng. Nhưng nếu sợi chỉ hết đỗi mỏng manh như đã được minh chứng, ý tôi muốn nói về quy luật của trải nghiệm, nếu nó đã đứt đoạn trong tôi? Nếu thay vào đó, giấc mơ ngông cuồng này chỉ lặp đi lặp lại hai hay ba lần cũng đã tạo nên quy luật đối với tôi? Vậy lúc ấy ngay cả tôi cũng sẽ chẳng thể nào hoài nghi chuyện trở thành triệu phú sau một đêm. Những kẻ lưu giữ quy luật tuyệt vời của trải nghiệm sẽ chẳng thể tưởng tượng ra những thứ có thể là thật hay dường như là thật đối với những kẻ sống ngoài mọi thứ luật lệ, chính như cái tên đó.

Hắn tin mình là nhà sáng chế.

Và thưa các ngài, một ngày đẹp trời, nhà sáng chế tỉnh giấc, sáng chế ra một thứ, và kìa: hắn trở thành triệu phú!

Hẵng còn nhiều người nhớ về hắn như một tên man di vừa tới từ vùng quê Richieri. Họ nhớ hắn được một trong những nghệ nhân có tiếng nhất vùng chúng tôi, nay đã mất, đón về xưởng; và chẳng mấy chốc hắn đã học được muôn vàn kỹ nghệ đẽo đá hoa cương. Chỉ có điều, một ngày nọ, ông thầy lấy hắn làm mẫu cho một cụm tác phẩm của ông. Ông trưng bày cụm tượng bằng thạch cao nọ ở một triển lãm nghệ thuật, rồi chúng trở nên nổi tiếng dưới cái tên Satyr và cậu bé.[2]

Ông nghệ nhân đã có thể thổi hồn mỹ mãn vào đất sét một hình hài không tưởng, không hẳn thanh khiết nhưng đẹp đẽ vô ngần, và có thể tự hào vì nó, nhận lời tán dương vì nó.

Nhưng điều tai hại nằm trong đất sét.

Ông thầy chẳng ngờ cậu học trò nọ của ông có thể dấy lên cảm hứng phải tự thân thổi hồn ra cái hình hài không tưởng kia, từ đám đất sét đã vĩnh viễn thành hình một cách đáng ca tụng. Bằng một hành động nhất thời và chẳng đáng ca tụng, bí bách trong hơi nóng hầm hập của một chiều hè, hắn đổ mồ hôi mà đẽo đục vào đá hoa cương cụm tác phẩm đó.

Cậu bé thật chẳng có cái vẻ ngoan ngoãn tươi cười như cậu bé giả trong đất sét biểu lộ. Hắn kêu cứu; mọi người nhận ra; và Marco di Dio bị bắt quả tang giữa một hành động của con thú bất giác nổi lên trong hắn vào giây phút nóng hầm hập đó.

Nào, ta hãy công bằng: con thú, đúng, một con thú ghê tởm hết đỗi ẩn giấu trong hành động ấy. Nhưng xét đến cả những hành động khác đã được mọi người thực tâm làm chứng, lẽ nào Marco di Dio chẳng phải chàng trai trẻ tuổi tốt bụng mà ông thầy hắn tuyên bố vẫn luôn nhận ra ở người thợ điêu khắc của ông?

Tôi biết mình đã xúc phạm đạo đức của các ngài với câu hỏi này. Thực tế, các ngài có thể đáp rằng nếu Marco di Dio có thể dấy lên cảm hứng nọ, vậy chừng ấy là dấu hiệu rõ ràng hắn chẳng phải là chàng trai trẻ tuổi tốt bụng mà ông thầy hắn vẫn bảo. Trong khi đó, tôi có thể chỉ cho các ngài thấy, những cảm hứng tương tự (thậm chí còn đáng tởm hơn) vẫn trải đầy cuộc đời các vị thánh. Các vị thánh gán chúng cho quỷ dữ, và có Chúa cứu giúp, họ có thể chiến thắng chúng. Cũng như sự kiềm chế mà các ngài vẫn quen áp đặt lên bản thân thường kìm hãm những cảm hứng nọ nảy sinh trong các ngài, hay kìm hãm tên trộm hoặc tên sát nhân bất giác nhảy bổ ra khỏi các ngài. Bí bách trong hơi nóng hầm hập của một chiều hè chẳng thể làm tan chảy lớp vỏ của tính liêm khiết thường trực trong các ngài, cũng như chẳng thể bất chợt đánh thức con thú nguyên sơ trong các ngài. Các ngài có thể kết tội hắn.

Nhưng nếu giờ tôi bắt đầu kể với các ngài về Julius Caesar, về những vinh quang đế vương của ông đã khiến lòng các ngài ngập tràn ngưỡng mộ?

“Tầm thường!” Các ngài cảm thán. “Khi ấy, Julius Caesar chẳng còn là mình. Ta ngưỡng mộ khi Julius Caesar thực sự là mình.”

Tuyệt vời hết đỗi. Ông ấy. Nhưng các ngài thấy chưa? Nếu Julius Caesar là mình chỉ ở nơi mà các ngài ngưỡng mộ ông, vậy khi ông ấy không còn ở đó, thì ông ấy ở đâu? Ông ấy là ai? Chẳng ai cả? Một kẻ bất kỳ? Và là ai?

Ta phải hỏi tới Calpurnia vợ ông, hoặc Nicomedes vua xứ Bithynia[3].

Nói dông nói dài, rốt cục các ngài cũng suy tới cả điều này: rằng Julius Caesar, một người duy nhất, ông ấy chẳng tồn tại. Một Julius Caesar có tồn tại, vâng, kẻ là ông trong phần lớn cuộc đời mình. Và chẳng còn nghi ngờ gì, kẻ này sở hữu một giá trị vô song, lớn hơn những kẻ khác; thế nhưng chẳng lớn hơn hiện thực, xin các ngài hãy tin, bởi chẳng kém thực tế so với Julius Caesar Đại đế là cái tên giả tạo phiền nhiễu, râu ria nhẵn nhụi, áo quần xộc xệch và phụ nghĩa đối với người vợ Calpurnia hết đỗi; hay cái tên vô cùng dâm đãng của Nicomedes vua xứ Bithynia.

Đây mới là điều phiền toái, luôn luôn như vậy, thưa các ngài: rằng tất cả những kẻ ấy đều được gọi bằng cái tên Julius Caesar, và rằng trong duy nhất một thân thể nam giới nọ, biết bao kẻ phải chung sống, và trong đó thậm chí có cả một phụ nữ. Muốn trở thành nữ giới hay chẳng thể nào tìm cách trở thành nữ giới trong thân thể nam giới, ả ta, bất cứ nơi đâu và khi nào có thể, ả phản lại tạo hóa mà trở thành mình, dâm đãng hết mức và thậm chí không chỉ một lần.

Tên Satyr trong Marco di Dio tội nghiệp đã nhảy bổ ra ngoài, thế nhưng chỉ một lần duy nhất và khi bị cụm hình tượng của ông thầy hắn khơi gợi. Bị bắt quả tang trong hành động ngẫu hứng nọ, hắn mãi mãi bị kết tội. Hắn chẳng tìm thấy ai đoái hoài đến hắn. Ra tù, hắn vắt óc mà tạo ra những kế hoạch kỳ dị nhất để vực mình khỏi nỗi thảm hại nhục nhã mà hắn đã rơi xuống, trong vòng tay của một người phụ nữ đã tới với hắn vào một ngày đẹp trời. Chẳng ai biết cô nàng làm thế nào và từ đâu mà đến.

Cả chục năm trở lại đây, hắn bảo mình sẽ khởi hành tới Anh vào tuần tới. Nhưng đối với hắn, mười năm thực sự đã trôi qua hay chăng? Mười năm đã trôi qua với những ai nghe hắn nói vậy. Hắn vẫn luôn quyết định khởi hành tới Anh vào tuần tới. Và hắn học tiếng Anh. Hay chí ít, đã nhiều năm hắn kẹp dưới nách một cuốn ngữ pháp tiếng Anh, mở ra và gập ngược luôn luôn tại một điểm. Nhờ vậy, hai trang sách ấy mở ra, dưới sự ma sát của cánh tay hắn và cái áo khoác bẩn thỉu, giờ đây đã chẳng còn đọc được chữ nào, trong khi những trang kế tiếp vẫn giữ nguyên vẻ sạch sẽ đến không tưởng. Nhưng kiến thức từ đầu cho tới chỗ bẩn thì hắn vẫn giữ. Và rồi lúc này lúc kia, đương khi tản bộ trên đường, hắn bất giác nhíu mày mà hỏi vợ một câu nào đó, như thể để kiểm tra sự sẵn sàng và trình độ của cô nàng:

“Is Jane a happy child?”[4]

Còn cô vợ cũng sẵn sàng và nghiêm túc đáp:

“Yes. Jane is a happy child.”[5]

Bởi cả cô vợ cũng sẽ cùng hắn khởi hành tới Anh vào tuần tới.

Bất ngờ làm sao, phiền muộn làm sao, cái người phụ nữ kỳ cục này, làm thế nào mà hắn đã quyến rũ được cô nàng, khiến cô nàng sống như một con chó cái tận tụy trong giấc mơ ngông cuồng, trở thành triệu phú sau một đêm với một phát minh, ví như “hầm chứa phân không mùi cho những khu nhà không có nước”. Các ngài cười? Sự nghiêm túc của họ trở thành sửng cồ vì vậy; ý tôi là vì mọi người đều cười vào ý tưởng đó. Thậm chí họ còn trở nên hung dữ. Và họ càng hung dữ hơn nữa mỗi khi tràng cười trước sự nghiêm túc ấy tăng tiến.

Giờ đây, họ đã đạt đến cảnh giới, rằng nếu có ai đó ngưng bước và lắng nghe kế hoạch của họ mà chẳng bật cười, thay vì hài lòng, họ sẽ mặt sưng mày sỉa, ánh mắt không chỉ hàm ẩn vẻ hoài nghi mà còn thù ghét. Bởi sự nhạo báng của người khác giờ đây đã trở thành bầu không khí mà giấc mơ của họ hít thở. Không còn bị nhạo báng, họ sợ sẽ chết ngạt.

Chừng ấy khiến tôi hiểu thấu cớ sao đối với họ, kẻ thù tồi tệ nhất là bố tôi.

Thực chất, bố tôi không chỉ coi mỗi tôi là thứ đồ chơi mà tôi đã kể trước đó. Với hầu bao chẳng bao giờ vơi, ông vẫn thường thích thú nở cái nụ cười nọ của riêng ông mà trợ lực cho những ảo mộng ngớ ngẩn của những kẻ như Marco di Dio, khi họ vẫn thường tới chỗ ông mà khóc thương nỗi bất hạnh chẳng có đủ điều kiện để hiện thực hóa những kế hoạch của họ, giấc mơ của họ: tựu trung là tiền bạc!

“Bao nhiêu?” Bố tôi hỏi.

Ôi, ít thôi. Bởi luôn luôn chỉ cần ít thôi cũng đủ để họ trở nên giàu có: trờ-iệu-phờ-ú. Thế rồi bố tôi đưa cho họ.

“Nhưng gì kia! Cậu đã bảo chỉ cần ít thế thôi mà…”

“Phải rồi. Tôi đã không tính toán kỹ. Nhưng giờ đây, cần…”

“Bao nhiêu?”

“Ồ, ít thôi!”

Và bố tôi đưa, ông đã đưa. Nhưng rồi, đến một thời điểm nào đó, ông không đưa nữa. Khi ấy, chính những kẻ đó, rõ rành rành họ chẳng mấy cảm tạ việc ông đã chẳng để họ hưởng thụ một cách ngớ ngẩn cho tới tận cùng để rồi vỡ mộng. Tuyệt vời hơn, thay vào đó họ tàn nhẫn đổ vấy cho ông vì những ảo mộng vỡ tan. Và chẳng ai giận dữ hơn, họ trả thù và gọi bố tôi là tên cho vay nặng lãi.

Kẻ giận dữ hơn hết là tên Marco di Dio này. Giờ đây khi bố tôi đã mất, hắn hướng lòng căm hận bạo liệt sang tôi, âu cũng không phải vô duyên vô cớ. Không phải vô duyên vô cớ, bởi ngay cả tôi vẫn tiếp tục gia ơn cho hắn, hầu như trong vô thức. Tôi để hắn ngụ ở một ngôi nhà xập xệ trong sản nghiệp của mình, và cả Firbo lẫn Quantorzo đều chẳng bao giờ đòi hắn tiền trọ. Giờ đây, chính ngôi nhà xập xệ này đã cho tôi phương tiện để tiến hành thử nghiệm đầu tiên với hắn.

II. ĐÓ LÀ TẤT CẢ

Tất cả, bởi chỉ cần dịch chuyển chút chút ham muốn được tái tạo mình theo một cách khác đối với một trong trăm ngàn hiện thực mà tôi sống, thể như một trò chơi, để tất thảy những hiện thực khác trong tôi biến đổi theo trăm ngàn cách khác nhau.

Và trò chơi này, nếu các ngài ngẫm kỹ, nó đương nhiên sẽ tạo ra sự điên loạn trong tôi. Hay nói đúng hơn, là nỗi khiếp sợ: ý thức về sự điên loạn, tươi mới và trong vắt, thưa các ngài, tươi mới và trong vắt như một sáng tháng Tư, sáng rõ tới từng chi tiết như một tấm gương.

Bởi khi tiến hành thử nghiệm đầu tiên, tôi đã duyên dáng đặt lý trí của bản thân ra khỏi con người mình, thể như rút chiếc khăn mùi xoa khỏi túi. Tôi muốn thực hiện một hành động chẳng thể là của tôi, mà của cái bóng của tôi sống trong hiện thực của một kẻ khác, một hiện thực vững chãi và thực tế tới mức tôi có thể ngả mũ cúi chào nó. Nếu vì một nhu cầu đáng nguyền rủa nào đó mà tôi chưa được gặp và cúi chào nó bằng xương bằng thịt, tôi không hẳn thấy nó trong tôi, mà trong chính thân thể tôi. Thân thể tôi vốn dĩ chẳng có danh phận, nhưng nó có thể là của tôi và là của tôi khi nó tái tạo hình ảnh tôi đối với tôi, và nó cũng có thể và là thân thể của cái bóng nọ, của trăm ngàn cái bóng nọ đương tái tạo hình ảnh tôi theo trăm ngàn cách thức sống động và khác biệt đối với trăm ngàn người khác.

Thực chất, chẳng phải tôi đương tới chỗ ngài Vitangelo Moscarda để chơi hắn một vố đau hay sao? Ôi! Thưa các ngài, vâng, một vố đau (xin các ngài thứ cho tất cả những cái nháy mắt này; nhưng tôi cần nháy mắt, cần nháy mắt thế này, bởi khi không thể biết ở phút giây này, bản thân mình hiện lên thế nào trong mắt các ngài, tôi cũng có thể đoán định được với những cái nháy mắt). Một vố đau, hay nói cách khác, tôi sẽ khiến hắn thực hiện một hành động hoàn toàn trái ngược và bất nhất với con người hắn: một hành động bất thình lình phá tan logic hiện thực của hắn, đồng thời xóa sổ hắn trong mắt của Marco di Dio cũng như của bao người khác?

Trong khi ấy, thảm hại thay, tôi chẳng hiểu rằng kết cục của một hành động tương tự chẳng thể nào giống như những gì tôi tưởng tượng: chẳng thể cho tôi hiện thân sau đó mà chất vấn tất cả mọi người:

“Giờ các ngài đã thấy chưa, rằng tôi đâu phải tên cho vay nặng lãi mà các ngài vẫn thấy trong tôi?”

Thay vào đó, kết cục của hành động ấy lại như vậy: tất thảy mọi người hẳn sẽ rúng động mà cảm thán:

“Ơ kìa! Mọi người biết chưa? Tên Moscarda cho vay nặng lãi phát điên rồi!”

Bởi tên Moscarda cho vay nặng lãi có thể phát điên, nhưng người ta không thể bất thình lình hủy diệt hắn bằng một hành động trái ngược và bất nhất với con người hắn. Hắn chẳng phải là một cái bóng để đem ra tiêu khiển và tiện tay tóm lấy, tên Moscarda cho vay nặng lãi ấy: hắn là một quý ông và người ta phải đối xử với hắn với lòng tôn trọng xứng đáng; hắn cao một mét sáu mươi tám, tóc đỏ như bố hắn, người sáng lập ra ngân hàng; hắn có đôi lông mày hình dấu mũ, vâng, và cái mũi vẹo về bên phải cũng y như tên Gengè ngu ngốc của Dida vợ tôi. Tựu trung, hắn là một quý ông mà, xin Chúa cứu rỗi, có nguy cơ sẽ kéo tuột vào trại thương điên cùng hắn tất cả những tên Moscarda khác, là tôi đối với người khác, và hỡi Chúa, ngay cả tên Gengè vô hại của Dida vợ tôi; và, nếu các ngài cho phép, cả tôi, kẻ đã lấy hắn ra mà tiêu khiển với một nụ cười lâng lâng.

Tôi có nguy cơ, hay nói đúng hơn, tất cả chúng tôi đều có nguy cơ phải vào trại thương điên, như các ngài sẽ thấy, với lần thử nghiệm đầu tiên này. Nhưng như vậy còn chưa đủ. Tôi còn phải đánh liều tính mạng, để sau rốt, tôi (một người, chẳng ai cả và trăm ngàn người) có thể tiếp tục và tìm ra con đường của sự mạnh khỏe.

Nhưng khoan đừng vội.

III. KHẾ ƯỚC

Trước nhất, tôi tới văn phòng Chưởng khế Stampa, đường Crocefisso, số 24. Bởi (à, đây tuyền là những dữ liệu vô cùng chính xác) vào ngày… năm…, dưới vương triều mà Vittorio Emanuele III trị vì nhờ ân điển của Chúa và giữ ngôi Hoàng đế Italia theo ước nguyện của toàn dân, tại thành phố Richieri đáng kính, ở đường Crocefisso, số nhà 24, tọa lạc văn phòng khế ước hoàng gia của Chưởng khế - Hiệp sĩ Stampa Elpidio, 52 hay 53 tuổi.

“Lão ấy vẫn ở đó chứ? Ở số 24? Các ngài đều biết lão Chưởng khế Stampa chứ?”

Ôi, vậy ta có thể yên trí không có nhầm lẫn gì. Lão Chưởng khế Stampa nọ, kẻ mà tất cả mọi người đều biết. Được chưa? Nhưng khi bước vào trong văn phòng, tôi đương trong một trạng thái tinh thần mà các ngài chẳng thể tưởng được. Làm sao mà các ngài tưởng được, xin thứ lỗi, nếu các ngài vẫn thấy chừng ấy là một việc tự nhiên nhất trần đời, việc bước vào văn phòng một Chưởng khế để thảo một văn tự bất kỳ, và khi các ngài bảo tất cả đều biết lão Chưởng khế Stampa này?

Tôi đương kể với các ngài rằng hôm ấy tôi tới đó để tiến hành cuộc thử nghiệm đầu tiên. Và rốt cục, các ngài cũng muốn tiến hành thử nghiệm này một lần xuyên suốt cùng tôi, phải vậy hay chăng? Ý tôi muốn nói rằng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu trò đùa kinh hồn táng đởm ẩn giấu trong nét tự nhiên bình lặng của những mối quan hệ thường nhật, những mối quan hệ mà các ngài thấy chừng như bình dị và dân dã nhất, cũng như trong lớp vỏ lặng lẽ của thứ mà ta gọi là hiện thực của vạn vật? Trò đùa, hỡi Chúa thiêng liêng, mà vì nó các ngài bực tức và gào lên mỗi năm phút với người bạn đương đứng cạnh các ngài:

“Gì cơ! Nhưng cậu không thấy thứ này hay sao? Cậu mù ư?”

Thứ này thì không, cậu ta không nhìn thấy, bởi cậu ta nhìn thấy một thứ khác, trong khi các ngài tin hẳn là cậu ta phải nhìn thấy thứ của các ngài, như các ngài nhận định. Cậu ta nhìn thứ đó theo cách mà cậu ta nhận định, và vậy thì đối với cậu ta, chính các ngài mới là kẻ mù dở.

Đây chính là trò đùa mà tôi đương kể với các ngài; và cách mà tôi đã tìm hiểu nó.

Bấy giờ tôi bước vào văn phòng nọ, lòng đầy ắp những dòng tâm tư và cân nhắc đã nung nấu dài lâu đến vậy. Tôi thấy chúng sôi sùng sục trong mình, một mớ hỗn độn; trong khi tôi phải gìn giữ bản thân ở một trạng thái tập trung sáng suốt, hầu như lạnh lùng cứng nhắc. Các ngài cứ nghĩ xem tôi đã muốn bật ra tràng cười dữ dội đến thế nào khi trông thấy lão ấy nghiêm nghiêm nghị nghị trước mặt, ôi cái lão già bé nhỏ tội nghiệp, lão Chưởng khế Stampa nọ. Lão chẳng hề mảy may nghi ngờ rằng đối với bản thân tôi, có thể tôi chẳng phải kẻ mà lão thấy trong tôi, và lão hoàn toàn tin tưởng rằng đối với tôi, lão chính là kẻ vẫn thắt chiếc cà vạt đen bé xíu mỗi ngày trước gương mà ngắm nghía, với mọi thứ của lão xung quanh.

Giờ các ngài đã hiểu chưa? Tôi muốn nháy mắt, nháy mắt với lão, để ám thị lão một cách tinh quái “Để ý phía dưới! Để ý phía dưới kìa!”. Tôi cũng muốn, hỡi Chúa, bất thình lình thè lưỡi ra, bỗng dưng nhăn mặt mà xì mũi để khiến lão giật mình. Cái hình ảnh ấy của tôi mà lão sẽ tin là thực, tôi trưng ra cũng chỉ để tiêu khiển chứ chẳng có ác ý. Nhưng tôi phải nghiêm túc nhỉ? Nghiêm túc, nào, nghiêm túc. Tôi phải tiến hành thử nghiệm.

“À, ngài Chưởng khế, tôi đây. Nhưng xin thứ lỗi, ngài luôn đắm chìm trong sự tĩnh mịch này sao?”

Lão quay phắt lại mà nhìn tôi chằm chằm. Lão nói: “Tĩnh mịch? Ở đâu?”

Quả thực là giây phút ấy, trên đường Crocefisso có cả hàng người và xe qua lại liền hồi.

“Phải rồi; không phải trên đường, chắc chắn vậy. Nhưng ở đây chất cả đống giấy tờ này, ngài Chưởng khế, đằng sau lớp kính mờ bụi trên những tủ sách này. Ngài chẳng nghe thấy gì sao?”

Đan xen giữa rúng động và ngỡ ngàng, lão tiếp tục chằm chằm nhìn tôi. Rồi lão lắng tai nghe:

“Tôi có nghe thấy gì đâu?”

“Tiếng cọt kẹt kìa! Ôi, xin lỗi, là đôi chân, đôi chân của con hoàng yến kia; xin lỗi xin lỗi. Đôi chân của nó có móng, và chúng cạ vào thanh kẽm trong lồng…”

“Vâng. Hẳn rồi. Nhưng ngài nói vậy là sao?”

“Ô, không có gì. Nhưng thanh kẽm đó không làm ngài khó chịu hay sao, hở ngài Chưởng khế?”

“Thanh kẽm? Ai để ý chứ? Tôi chẳng biết…”

“Đó, thanh kẽm, ngài nghĩ mà xem! Trong một cái lồng, dưới đôi chân mỏng manh của một con hoàng yến, trong văn phòng của một Chưởng khế… Tôi cược rằng nó chẳng biết hót, con hoàng yến này.”

“Không thưa ngài, nó chẳng hót.”

Lão Chưởng khế bắt đầu nhìn tôi theo một cách nhất định, ánh nhìn ấy khiến tôi tự nhủ rằng sẽ là cẩn trọng nếu tôi dừng chuyện con hoàng yến ở đây để tránh không gây tổn hại đến thử nghiệm. Ít nhất là trong thời gian đầu, và đặc biệt là ở đó, trước mặt lão Chưởng khế, để thử nghiệm này có thể thành công thì không có nghi ngờ nào về lý trí của tôi được phép dấy lên. Tôi hỏi ngài Chưởng khế xem liệu lão có biết một ngôi nhà cụ thể, nằm ở đường này, số này, tài sản thuộc sở hữu của một quý ông Moscarda Vitangelo nào đó, con trai của Francesco Antonio Moscarda quá cố…

“Chẳng phải ngài hay sao?”

“Hẳn rồi, vâng. Là tôi…”

Đáng tiếc thay, khung cảnh mới tuyệt vời làm sao, trong văn phòng Chưởng khế, giữa tất thảy đống giấy tờ vàng ố trên những tủ sách cũ kỹ bụi bặm nọ, trao đổi như vậy về một ngôi nhà thuộc sở hữu của một tên Moscarda Vitangelo nào đó, thể như đã cách xa hàng thế kỷ… Và còn tuyệt vời hơn nữa, vâng, khi tôi ở đó; hiện hữu và giao ước trong văn phòng khế ước nọ, nhưng ai biết được lão nghĩ văn phòng của lão như thế nào và ở đâu, chính ngài Chưởng khế đó. Mùi hương mà lão ngửi thấy từ đó khác biệt so với thứ mùi mà tôi cảm nhận. Và ai biết được rằng trong thế giới của ngài Chưởng khế, ngôi nhà mà tôi đương kể với lão bằng một giọng nói xa xăm trông thế nào và nằm ở đâu. Còn tôi, tôi, trong thế giới của ngài Chưởng khế, ai biết được trông tôi kỳ khôi đến cỡ nào…

Hỡi ôi, lịch sử mang cho ta biết bao vui sướng, thưa các ngài! Chẳng gì dễ chịu hơn lịch sử. Mọi thứ trong cuộc đời đều thay đổi liên hồi trước mắt người; chẳng có gì cố định; và các ngài bồn chồn chẳng yên mà mong muốn được biết những tình huống sẽ kết thúc thế nào, được nhìn thấy những sự việc níu giữ các ngài trong bao đau đớn và rúng động sẽ diễn ra thế nào! Ngược lại, tất cả đã kết thúc, tất cả đã diễn ra trong lịch sử: dù cho những sự việc có đau thương và những tình huống có đáng buồn biết mấy, chúng vẫn ở đó, ngăn nắp, chí ít là cố định trong ba mươi hay bốn mươi trang sách: chúng nằm đó. Chúng sẽ mãi mãi chẳng thay đổi cho tới khi một ý chí chỉ trích xấu xa nổi hứng tồi tệ nhằm tung hê hết thảy những công trình lý tưởng nọ, hay chính những yếu tố đã tương hỗ giữ cho nhau khăng khít tới vậy, còn các ngài sung sướng mà chiêm ngưỡng từng hệ quả tuân lệnh nguyên nhân của nó mà nối tiếp nhau diễn ra với logic hoàn hảo, từng sự kiện xảy tới chính xác và nhất quán trong mọi chi tiết, cùng với Công tước Nevers, mà vào ngày này, năm này, vân vân và vân vân.

Chẳng muốn làm hỏng chuyện, tôi phải đưa mình trở lại hiện thực ngưng đọng, nhất thời và rắm rối của ngài Chưởng khế Stampa.

“Tôi, hẳn rồi,” tôi vội bảo lão. “Là tôi, ngài Chưởng khế. Và ngôi nhà, ngài chẳng có khó khăn gì để thừa nhận nó là của tôi, phải vậy không? Cũng như toàn thể di sản của bố tôi, Franesco Antonio Moscarda quá cố. Ngôi nhà này hiện chưa được cho thuê, ngài Chưởng khế. Ôi, nó bé thôi, ngài biết không… Năm hay sáu phòng, hai tầng thấp - nói như vậy phải không? - Đẹp tuyệt, hai tầng thấp… Tựu trung là nó chưa được cho thuê, ngài Chưởng khế ạ. Và tôi có thể sử dụng nó như ý tôi muốn. Vậy giờ ngài…”

Đến đoạn này tôi cúi xuống và thấp giọng, vẻ nghiêm nghị hết đỗi, tôi thổ lộ cho lão Chưởng khế cái lệnh mà tôi định thảo và rằng ở đây, bây giờ, tôi không thể nhắc tới, bởi - tôi bảo lão:

“Chuyện này chỉ có tôi và ngài được biết thôi, ngài Chưởng khế. Đây là một bí mật nghề nghiệp, mong ngài giữ cho tới chừng nào tôi muốn. Ngài đã rõ chưa?”

Lão đã rõ. Nhưng ngài Chưởng khế báo với tôi rằng để thảo cái lệnh nọ, lão cần một số dữ kiện và tài liệu mà tôi phải đi lấy ở ngân hàng, chỗ Quantorzo. Tôi thấy phiền hà; thế nhưng tôi vẫn đứng dậy. Khi tôi di chuyển, một ham muốn đáng nguyền rủa dấy lên trong tôi hòng hỏi ngài Chưởng khế:

“Tôi đi bằng cách nào? Xin thứ lỗi: ngài hãy cho tôi biết chí ít rằng ngài nhìn thấy tôi đi bằng cách nào.”

Tôi khó nhọc kiềm chế. Nhưng tôi không thể không ngoảnh mặt lại về phía lão khi mở tấm cửa kính, và bảo lão với một nụ cười cảm thông:

“Hẳn rồi, bằng đôi chân mình, cảm ơn ngài!”

“Ngài nói gì cơ?” Ngài Chưởng khế ngỡ ngàng hỏi.

“Ô, không có gì đâu, tôi bảo là sẽ tự đi bằng đôi chân của mình, ngài Chưởng khế ạ. Nhưng ngài có biết rằng tôi đã một lần thấy một con ngựa cất tiếng cười hay chưa? Vâng thưa ngài, trong lúc nó bước đi. Giờ ngài sẽ đi quan sát mõm một con ngựa để được thấy nó cười, và rồi quay lại đây và bảo tôi rằng nó đã chẳng cười. Nhưng sao lại là cái mõm! Lũ ngựa đâu cười bằng mõm! Ngài có biết chúng cười bằng gì không, hở ngài Chưởng khế? Bằng mông. Tôi khẳng định với ngài rằng con ngựa vừa đi vừa cười bằng mông, vâng, lúc này lúc khác khi nó nhìn thấy một vài sự vật nhất định hoặc những thứ vút ngang qua đầu nó. Nếu ngài muốn thấy ngựa cười, hãy nhìn mông nó và ngài sẽ thành công!”

Tôi hiểu rằng nói với lão chừng ấy chẳng liên quan gì. Tôi hiểu rõ. Nhưng nếu tôi một lần nữa đặt mình vào trạng thái tinh thần mà tôi cảm nhận khi ấy, khi tôi bị đôi mắt người khác nắm giữ, tôi tưởng như mình bị kìm kẹp trong một vòng cương tỏa tồi tệ mà nghĩ rằng tất cả những đôi mắt nọ đều tạo cho tôi một hình ảnh chắc chắn không phải cái mà tôi biết, mà một hình ảnh khác mà tôi chẳng thể biết cũng như chẳng thể nào ngăn chặn. Ngoài kể về chúng, tôi bỗng muốn thực hiện, thực hiện những trò điên loạn, như lăn lộn ra giữa đường hay nhảy nhót múa may, khi thì nháy mắt, khi thì lè lưỡi và làm mặt thộn ở đó… Nhưng thay vì thế, tôi bước đi trên đường, tôi, nghiêm túc như vậy, nghiêm túc như vậy. Và cả các ngài, hay ho làm sao, các ngài cũng bước đi nghiêm túc như vậy…

IV. ĐẠI LỘ

Vậy đã đến lúc tôi phải tới ngân hàng để lấy những giấy tờ nhà đất mà lão Chưởng khế cần.

Những giấy tờ ấy thuộc về tôi, chẳng có nghi ngờ gì, bởi ngôi nhà ấy là của tôi, và tôi có thể tùy nghi sử dụng. Nhưng nếu các ngài ngẫm kỹ thì đống giấy tờ đó, dù cho chúng là của tôi, tôi cũng chẳng thể nào có được chúng nếu không trộm đi hay điên cuồng dữ dội mà giật lấy chúng khỏi tay của một kẻ mà trong mắt mọi người, hắn mới là chủ sở hữu đích thực: ý tôi muốn nói tới quý ngài cho vay nặng lãi Vitangelo Moscarda.

Đối với tôi, chuyện này là hiển nhiên, bởi tôi thấy rõ hắn ở bên ngoài, sống động trong những người khác chứ chẳng phải trong tôi, chính quý ngài cho vay nặng lãi Vitangelo Moscarda đó. Nhưng với những người chẳng thấy tôi là ai khác ngoài tên cho vay nặng lãi nọ, vậy thì đối với những kẻ đó, tôi, đằng kia phía ngân hàng, tôi sẽ tới mà cướp đi những giấy tờ nọ của chính mình hay điên cuồng giật chúng khỏi tay mình.

Tôi có thể bảo rằng đó chẳng phải là mình? Hay tôi là một kẻ khác? Chẳng có cách nào lý giải một hành động hiện lên trái ngược và bất nhất với con người tôi trong mắt người khác.

Tôi tiếp tục bước đi, như các ngài thấy, với ý thức vẹn nguyên trên đại lộ của sự điên loạn, và cũng chính là con đường của hiện thực con người tôi. Giờ đây, con đường ấy đã rộng mở sáng rõ phía trước, với tất cả những hình ảnh về tôi, sống động, phản chiếu và tiến bước cùng tôi.

Nhưng tôi điên bởi tôi có cái ý thức sáng rõ và phản chiếu này. Các ngài, khi bước trên cùng một con đường mà chẳng muốn nhận ra cái ý thức đó trong bản thân, các ngài thông thái, và các ngài thét lên to thật to với người sánh bước cạnh các ngài:

“Tôi đã làm chuyện này ư? Tôi như thế này ư? Cậu mù rồi! Cậu điên rồi!”

V. CHẾ NGỰ

Trong khi đó, vụ trộm là bất khả, chí ít là trước mắt. Tôi chẳng biết đống giấy tờ đó ở đâu. Đến cái tên thấp cổ bé họng nhất trong đám thủ hạ của Quantorzo hoặc của Firbo cũng có nhiều quyền hành ở ngân hàng hơn tôi. Những lần tôi đặt chân vào đó khi được mời tới ký tá, đám nhân viên thậm chí chẳng thèm ngẩng mặt khỏi đống sổ sách. Nếu có kẻ nào nhìn tôi, thì rõ rành rành rằng bằng ánh mắt, hắn tỏ cho tôi thấy hắn chẳng coi tôi ra gì.

Ấy vậy mà ở đó, tất cả bọn họ vẫn đương miệt mài làm việc vì tôi, để với lòng hăng say lao động mà khẳng định thêm nữa ý niệm của cả vùng về tôi, rằng tôi là một tên cho vay nặng lãi. Rồi chẳng có kẻ nào mảy may nghĩ rằng đối với sự tận tâm của họ, tôi chẳng những không cảm thấy biết ơn hay sẵn lòng thỏa mãn họ bằng những lời ngợi ca, mà thay vào đó tôi cảm thấy bị xúc phạm.

Ôi cái cảnh xập xệ cứng nhắc và nhàm chán trong ngân hàng này! Toàn bộ những vách ngăn kính chạy dọc theo ba gian phòng lớn liền kề, những vách ngăn bằng kính lạnh toát, với năm quầy màu vàng ở mỗi phòng, màu vàng của đường gờ và khung gỗ của những ô cửa to bản; chỗ này chỗ kia một vài vết mực bẩn; chỗ này chỗ kia một mảnh giấy dán vào kẽ nứt của một ô cửa. Sàn nhà được làm bằng gạch đất nung cũ kĩ, lối đi giữa đã mòn dọc một đường theo ba phòng và trước mỗi quầy. Một hành lang buồn tẻ, với những tấm kính của các vách ngăn bên này và của hai khung cửa sổ lớn bên nọ trong mỗi gian phòng, bụi mờ. Rồi hàng hàng những con số trên tường được viết bằng bút mực hay bút chì, trên những chiếc bàn bẩn thỉu vì mực rớt, nằm giữa khung cửa sổ này và khung cửa sổ nọ, bên dưới khung tranh bong tróc của một vài bức bích họa vô danh được treo ở đó, đen sạm, phình lên và bụi bẩn đôi chỗ. Còn một thứ mùi bí bách cũ kĩ choán khắp mọi nơi, trộn lẫn với mùi hăng của giấy trong đống sổ sách và một mùi khô khan bốc lên từ lò sưởi dưới tầng trệt. Và nỗi buồn man mác đầy tuyệt vọng của những chiếc ghế cổ kính ít ỏi quanh những chiếc bàn nhỏ mà chẳng ai ngồi. Người ta đã tách chúng ra và bỏ mặc chúng ở đó, lạc lõng. Chính nơi ấy, đối với những chiếc ghế vô dụng tội nghiệp nọ, bị bỏ mặc, chắc hẳn phải là một sự xúc phạm và một cực hình.

Đã bao lần khi bước vào, tôi phải để ý:

“Nhưng tại sao lại là những chiếc ghế này? Hình phạt của chúng là gì khi phải ở đây, nơi chẳng ai cần đến?”

Tôi kìm lòng, không hẳn bởi tôi kịp nhận ra ở một nơi như nơi đó, lòng thương cảm đối với những chiếc ghế sẽ khiến tất cả ngỡ ngàng và có khả năng trông như một trò cợt nhả: tôi kìm lòng, khi thay vào đó tôi nhận ra bản thân sẽ trở nên lố bịch thế nào khi để tâm tới một điều chắc hẳn là kỳ dị đối với những kẻ đã biết tôi chẳng mấy để tâm đến những sự vụ làm ăn.

Ngày hôm đó, khi bước vào, tôi thấy đám nhân viên đương tụ tập trong gian phòng lớn trong cùng. Chốc chốc họ lại bật cười rũ rượi khi chứng kiến cuộc đấu khẩu giữa Stefano Firbo và một người tên là Turolla, kẻ mà mọi người chế giễu cũng vì cách hắn ăn vận.

Cái tên Turolla tội nghiệp đó vẫn bảo rằng đối với bản thân hắn lùn tịt là vậy, một chiếc áo khoác dài sẽ khiến hắn nom còn lùn hơn nữa. Và hắn nói đúng. Nhưng trong khi đó hắn chẳng nhận ra, tướng người đầm và bệ vệ, với bộ ria mép bự chảng nhà binh, nom hắn kỳ khôi thế nào trong chiếc áo ngắn cũn cỡn chẳng thể che nổi bàn tọa rắn chắc của hắn.

Bấy giờ hắn đứng kia mà rơm rớm, đau đớn, bối rối, nhức nhối trước tràng cười của những người đồng nghiệp. Hắn giơ cánh tay ngắn ngủn của mình lên mà nói với Firbo:

“Ôi Chúa ơi, xem cách ngài nói kìa!”

Firbo đứng cao hơn hẳn và gào vào mặt hắn, nắm lấy cánh tay nọ mà lắc hắn điên cuồng:

“Ông thì biết gì? Biết gì? Ông thậm chí còn chẳng quen hắn; vậy mà ông cứ tưởng tượng vậy thôi!”

Tôi được biết rằng chuyện xoay quanh một kẻ đã tới ngân hàng để vay nợ. Hắn ta được chính Turolla giới thiệu và bảo đảm rằng hắn biết rõ kẻ này là một người tốt, trong khi Firbo tuyên bố điều ngược lại. Tôi thấy lòng quặn thắt vì một nguồn cơn nổi loạn.

Chẳng ai biết được sự tra tấn bí mật trong tâm hồn tôi, và chẳng ai luận được nguyên cớ. Mọi người hầu như im bặt khi tôi kéo giật hai hay ba tay nhân viên ra đằng sau:

“Còn anh?” Tôi thét lên với Firbo. “Anh thì biết gì? Anh dựa vào đâu mà áp chế người khác như vậy?”

Firbo ngỡ ngàng quay lại mà nhìn tôi. Hắn hầu như chẳng thể tin vào mắt mình khi thấy tôi đằng sau, và hắn thét:

“Anh điên sao?”

Tôi quyết định, chẳng hiểu tại sao, phải ném vào mặt hắn một câu trả lời nanh nọc khiến tất cả như hóa đá:

“Đúng vậy; cũng như vợ anh, kẻ mà anh tán thành việc nhốt vào trại thương điên đấy!”

Tôi trông hắn trắng bệch và kích động:

“Anh nói gì? Tôi tán thành?”

Tôi nhún vai. Khó chịu trước nỗi bồn chồn của tất cả mọi người và đồng thời, bỗng chợt con người tôi như mụ mị đi vì nhận thức được sự can thiệp của tôi thực không thích hợp, tôi thấp giọng đáp lại hắn để chấm dứt vấn đề:

“Đúng vậy, anh biết rõ mà.”

Cứ như thể sau khi thốt ra những lời ấy, ngay lập tức tôi đã hóa đá, tôi chẳng biết nữa. Tôi chẳng thể nghe thấy những gì mà Firbo rít lên qua kẽ răng với mình trước khi bừng bừng bỏ đi. Tôi chỉ biết tôi đương cười khi Quantorzo bỗng chợt xuất hiện giữa giây phút hỗn loạn và kéo tôi vào văn phòng điều hành nhỏ. Tôi cười để tỏ rằng chẳng cần cục cằn như vậy nữa và mọi chuyện đã kết thúc rồi, dù cho lúc ấy tôi cảm nhận rõ trong mình, rằng trong khoảnh khắc ấy, bất chấp nụ cười trên môi, tôi có thể giết chết ai đó, âu cũng vì vẻ nghiêm trọng và kích động của Quantorzo khiến tôi bực bội muôn vàn. Trong văn phòng điều hành, tôi bắt đầu quan sát xung quanh, choáng váng vì nỗi mụ mị bỗng chợt xâm chiếm đã chẳng thể ngăn tôi nhận thức rõ ràng và chính xác những sự vật. Cảm xúc ấy mãnh liệt tới mức khiến tôi muốn bật cười, và giữa tràng khiển trách nảy lửa của Quantorzo, tôi cố tình để thứ cảm xúc ấy tuôn trào qua những câu hỏi tò mò ngây ngô về vật này vật kia trong phòng. Và trong khi đó, tôi chẳng biết, hầu như trong vô thức tôi nghĩ tới Stefano Firbo. Từ ngày bé, áo của hắn đã phải may rộng lưng và tuy rằng cái bướu chẳng lộ ra, toàn bộ phần thân trên của hắn đều là của một thằng gù: à vâng, trên đôi cẳng mỏng manh và dài ngoẵng như chim của hắn. Thế nhưng trông hắn lịch lãm; vâng vâng: một thằng gù giả tạo lịch lãm; hắn đã làm được điều đó.

Và xuôi theo dòng suy nghĩ, tôi thấy bỗng chợt như rõ ràng rằng hắn phải tận dụng trí thông minh dị thường của bản thân để trả thù tất cả những kẻ mà, từ ngày bé, họ không phải mặc áo rộng lưng như hắn.

Tôi nhắc lại, tôi nghĩ về những điều này cứ như thể là một kẻ khác trong tôi đã nghĩ về chúng, kẻ bỗng chợt đã trở nên lạnh lùng và lơ đãng một cách kỳ lạ. Tôi chẳng dựng lên nét lạnh lùng ấy để tự vệ nếu cần thiết, mà bởi tôi muốn đóng một vai diễn. Đằng sau vai diễn ấy tôi vẫn phải giấu kín những thứ nằm trong sự thật đáng sợ kia mà tôi vẫn luôn luôn phát hiện ra nhiều thêm nữa, một sự thật đã hiện rõ trong tôi:

“Đúng rồi! Tất cả đều ở đây,” tôi nghĩ, “trong sự chế ngự này. Từng người đều muốn áp đặt lên kẻ khác cái thế giới mà hắn ta có bên trong, cứ như thể thế giới ấy nằm ở bên ngoài, tất cả đều phải nhìn nó theo cách của hắn, và những kẻ khác chẳng thể nào tồn tại trong đó nếu chẳng phải như những gì hắn thấy.”

Những gương mặt ngu ngốc của tất cả đám nhân viên kia quay trở về hiện hữu trước mắt tôi, và tôi tiếp tục dòng tâm tưởng:

“Nhưng đúng vậy! Đúng vậy! Cái hiện thực mà phần lớn loài người đã kiến tạo trong mình là gì cơ chứ? Thảm hại, yếu ớt, lỏng lẻo. Và những kẻ áp chế, đó, họ hưởng lợi từ nó! Hay đúng hơn, họ lừa phỉnh bản thân rằng mình có thể hưởng lợi từ nó, khi họ áp chế người khác phải chịu đựng hoặc chấp nhận ý nghĩa và giá trị mà họ tạo cho bản thân, cho người khác, cho sự vật sự việc, để khiến tất cả nhìn thấy và cảm nhận, suy nghĩ và nói chuyện theo cách của họ.”

Tôi đứng dậy; tôi lại gần cửa sổ với tâm thái nhẹ nhàng hết đỗi; thế rồi tôi quay lại chỗ Quantorzo. Bị chặn họng đúng lúc cao trào của bài diễn thuyết, hắn đứng đó giương mắt nhìn tôi. Thế rồi, tiếp tục với dòng tâm tư đang giày vò, tôi bảo:

“Hỡi ôi! Hỡi ôi! Họ đang lừa phỉnh bản thân mình!”

“Ai đang lừa phỉnh bản thân mình?”

“Những kẻ muốn chế ngự! Quý ngài Firbo là một ví dụ! Họ tự lừa phỉnh bản thân mình bởi rốt cục thì thật sự, bạn thân mến, họ chẳng thể áp đặt gì khác ngoài ngôn từ. Ngôn từ, anh hiểu chưa? Ngôn từ mà mỗi người hiểu và lặp lại theo cách của người đó. Ôi, họ thản nhiên tạo ra những thứ gọi là ý kiến số đông! Và thực rắc rối cho kẻ nào vào một ngày đẹp trời thấy mình sục sôi trước một trong những ngôn từ mà tất cả đều lặp lại. Ví như: tên cho vay nặng lãi! Ví như: thằng điên! Nhưng anh thử nói xem: làm thế nào người ta có thể yên lòng khi nghĩ tới một kẻ lao tâm khổ tứ để thuyết phục người khác rằng anh giống như những gì mà kẻ đó thấy, rồi định hình anh trong tâm trí người khác thể theo đánh giá của kẻ đó về anh và ngăn trở người khác nhìn anh và đánh giá anh khác đi?

Tôi chỉ mới thoáng thấy nét ngỡ ngàng của Quantorzo thì đã thấy Stefano Firbo tới trước mặt. Từ đôi mắt hắn tôi đã tức khắc nhận ra, chỉ trong một đôi phút, rằng hắn đã trở thành kẻ thù của tôi. Và khi ấy, chính tôi cũng trở nên thù địch; thù địch, bởi hắn không hiểu rằng, dù cho ngôn từ của tôi có sống sượng, thì thứ xúc cảm trào dâng thoáng trước đó trong tôi đã chẳng nhằm hắn trực diện; thậm chí tới mức tôi sẵn sàng xin hắn thứ lỗi vì những ngôn từ ấy. Như một kẻ say, tôi còn làm hơn thế nữa. Hắn tới mặt đối mặt với tôi vẻ rúng động và hằm hè, rồi hắn bảo:

“Anh phải giải thích cho tôi những gì mà anh nói về vợ tôi ngay!”

Tôi quỳ xuống.

“Được thôi! Nhìn này!” Tôi thét. “Đây!”

Đoạn tôi đập đầu xuống sàn nhà.

Tức thì tôi khiếp hãi trước hành động của mình, hay đúng hơn, trước việc hắn cùng với Quantorzo có thể nghĩ rằng tôi quỳ xuống vì hắn. Tôi nhìn hắn mà cười, rồi rầm, rầm, đầu tôi đập xuống đất hai lần nữa.

“Mày, chứ chẳng phải tao, mày đã hiểu chưa? Trước mặt vợ mày ấy, mày đã hiểu chưa? Mày phải khúm núm thế này! Còn tao, và hắn, và tất cả mọi người đều phải làm thế này trước những người điên như vậy!”

Tôi sục sôi mà đứng dậy. Hai tên kia sợ hãi nhìn vào mắt nhau. Tên này hỏi tên nọ:

“Hắn nói gì vậy?”

“Những ngôn từ mới lạ!” Tôi gào lên. “Chúng mày muốn nghe không? Đi đi, đi đến chỗ đó, nơi mà chúng mày đã nhốt họ: đi đi, đi mà nghe họ nói! Chúng mày nhốt họ bởi chúng mày phải làm thế!”

Tôi tóm lấy cổ áo Firbo mà vừa cười vừa lay hắn:

“Mày hiểu chưa, Stefano? Mày đừng tưởng tao chỉ đối xử như vậy với riêng mình mày! Mày thấy bị xúc phạm. Đừng, bạn thân mến! Vợ mày nói gì về mày? Rằng mày là một tên phóng đãng, trộm cướp, một tên làm giả, một kẻ đội lốt, và rằng mày chẳng biết làm gì ngoài nói dối! Điều đó không chính xác. Chẳng ai có thể tin được. Nhưng nàng nói điều đó trước khi mày nhốt nàng lại, nhỉ? Và tất cả chúng tao đều khiếp sợ mà nghe nàng nói. Tao muốn biết lý do!”

Firbo thoáng nhìn tôi. Hắn quay sang Quantorzo như để hỏi ý kiến, hệt một tên thiểu năng trí tuệ, và hắn nói:

“Ôi tuyệt vời chưa! Nhưng chính bởi chẳng ai có thể tin được điều đó!”

“Ôi không, bạn thân mến!” Tôi gào vào mặt hắn. “Nhìn thật kỹ vào mắt tao đây!”

“Ý mày là gì?”

“Nhìn vào mắt tao đây!” Tôi lặp lại. “Tao đâu có bảo điều đó là chính xác! Yên tâm đi.”

Hắn tái mặt mà gắng gượng nhìn tôi.

“Mày có thấy không?” Khi ấy tôi thét lên. “Mày thấy không? Chính mày! Giờ đây chính mày cũng có nét sợ hãi trong ánh mắt!”

“Nhưng bởi tao trông mày như hóa điên vậy!” Hắn bực bội gào vào mặt tôi.

Tôi phá lên cười, và tôi cười một tràng dài, thật dài mà chẳng thể kìm hãm khi nhận ra nỗi lo sợ, bối rối của cả hai tên trước tràng cười của tôi.

Bỗng chợt tôi im bặt. Giờ đến lượt tôi trở nên kinh sợ trước ánh nhìn của hai người họ. Việc tôi làm, điều tôi nói chắc chắn chẳng có nguyên cớ cũng như nghĩa lý gì đối với họ. Để bắt đầu lại câu chuyện, tôi đột ngột nói:

“Tựu trung là hôm nay tôi tới đây, để hỏi hai anh về một kẻ tên là Marco di Dio. Tôi muốn biết làm thế nào mà hắn ta đã không trả tiền thuê nhà suốt hàng năm trời, và cho tới giờ vẫn chưa phát lệnh đuổi hắn đi.”

Tôi thực chẳng ngờ trước câu hỏi này, hai người họ lại rơi vào trạng thái hỗn loạn hơn. Họ nhìn nhau như để tìm kiếm trong ánh mắt của người còn lại một chiếc bệ mà trên ấy họ có thể đặt vững cái ấn tượng họ có về tôi, hay nói đúng hơn, về một sinh vật bí hiểm mà họ vô tình và bất chợt khám phá ra trong con người tôi.

“Mày nói gì? Mày luyên thuyên chuyện gì vậy?” Quantorzo hỏi.

“Hai anh vẫn không hiểu sao? Marco di Dio. Hắn có trả tiền thuê nhà hay không?”

Hai người họ tiếp tục há hốc mồm nhìn nhau. Một lần nữa tôi bật cười; thế rồi bỗng nhiên tôi trở nên nghiêm nghị và nói cứ như thể với một kẻ khác trước mặt, một kẻ thoạt tiên đã hiện lên trước hai người họ:

“Từ khi nào mày lại bận tâm tới mấy chuyện này?”

Ngỡ ngàng hơn bao giờ hết, gần như hoảng hốt, họ ngước mắt nhìn tôi để tìm trong tôi kẻ đã thở ra những lời lẽ mà họ đã nghĩ và chuẩn bị nói với tôi. Hỡi ôi! Tôi đã nói những lời ấy hay sao?

“Đúng vậy,” tôi nghiêm nghị đáp. “Mày biết rõ bố của mày đã mặc kệ hắn ở đó hàng năm trời mà chẳng màng tới, tên Marco di Dio này. Cớ sao bây giờ mày lại nghĩ đến chuyện đó?”

Tôi đặt một tay lên vai Quantorzo và nói tiếp với một khí chất khác, không kém phần nghiêm nghị, nhưng đè nén dưới một nét mệt mỏi đau thương.

“Tôi cảnh báo anh, bạn thân mến, rằng tôi không phải là bố tôi.”

Rồi tôi quay qua Firbo và đặt tay còn lại lên vai hắn:

“Tôi muốn anh làm lệnh ngay. Đuổi hắn ra khỏi nhà ngay lập tức. Tôi là ông chủ, và tôi ra lệnh như vậy. Rồi tôi muốn có danh sách các ngôi nhà của tôi cùng giấy tờ nhà đất của từng căn. Chúng ở đâu?”

Những ngôn từ mạch lạc. Những câu hỏi chính xác. Marco di Dio. Đuổi khỏi nhà. Danh sách các ngôi nhà. Giấy tờ. Tuy vậy, họ vẫn không hiểu. Hai người họ nhìn tôi như hai kẻ mất hồn. Và tôi phải lặp lại thêm nhiều lần điều tôi muốn và bắt họ dẫn tôi tới chỗ tủ đựng những giấy tờ của ngôi nhà mà lão Chưởng khế Stampa cần. Khi đã ở trong căn phòng nhỏ chứa cái tủ nọ, tôi nắm lấy tay Firbo và Quantorzo, hai kẻ đã dắt tôi tới đây như hai người máy, và tôi đuổi họ ra ngoài rồi sập cửa sau lưng họ.

Tôi dám chắc sau cánh cửa ấy, họ còn lưu lại một hồi mà nhìn vào mắt nhau ngây dại, rồi kẻ này bảo kẻ nọ:

“Chắc hắn điên rồi!”

VI. VỤ TRỘM

Ngay khi được một mình, cái tủ nọ lập tức chiếm trọn tôi, thể như một cơn ác mộng. Như một thực thể sống, tôi cảm nhận được sự hiện diện đồ sộ của người lưu trữ già cả vẹn nguyên của cả đống giấy tờ chồng chất, trong khi nó cũ kỹ, nặng nề, mục ruỗng là vậy.

Tôi nhìn nó, rồi tức thì tôi quan sát xung quanh với đôi mắt rầu rĩ.

Cửa sổ; một chiếc ghế nhồi rơm cũ kỹ; một chiếc bàn nhỏ thậm chí còn cũ hơn, trống trải, đen đúa và phủ đầy bụi; chẳng còn gì khác trong ấy.

Ánh sáng ảm đạm xuyên qua lớp kính phủ đầy nấm mốc và bụi bặm. Lớp kính ấy chỉ để ta nhìn thấy những chấn song cửa và vài viên ngói đỏ của một mái nhà nhìn từ ô cửa xuống.

Những viên ngói của mái nhà đó, lớp gỗ véc ni của cánh cửa sổ, lớp kính nọ dù cho nó có bẩn thỉu tới đâu: tất thảy đều là sự tĩnh lặng vô định của những vật vô hồn.

Bất chợt tôi nghĩ tới đôi bàn tay đeo đầy nhẫn của bố tôi đã giơ lên mà rút giấy tờ từ giá tủ. Tôi nhìn đôi bàn tay như bằng sáp ấy, trắng ởn, to béo, với tất cả những chiếc nhẫn và những sợi lông đỏ trên mu ngón tay. Và tôi nhìn đôi mắt như bằng kính của ông, xanh thiên thanh và hiểm ác, chăm chăm chú chú tìm tòi trong tập giấy tờ tài liệu.

Khi ấy, để xóa đi bóng ma đôi bàn tay nọ, lòng tràn đầy sợ hãi, đôi mắt tôi nhìn thấy hình khối thân thể của bản thân vận toàn đồ đen hiện ra và đứng đó bất động. Tôi cảm thấy hơi thở gấp gáp của thân thể đã bước vào trong đó hòng ăn trộm; và cái cảnh đôi tay mình đương mở cánh cửa tủ khiến tôi lạnh sống lưng. Tôi nghiến răng; tôi nhún vai; tôi giận dữ nghĩ rằng:

“Giữa hàng đống giấy tờ thế này, đâu mới là thứ mình cần?”

Rồi để làm được một thứ gì đó ngay lập tức, tôi bắt đầu lôi từng đống từng đống những tập tài liệu xuống và ném lên bàn. Được một hồi tay tôi đau nhức, và tôi chẳng biết nên cười hay nên khóc. Tự mình trộm đồ của mình há chẳng nực cười hay sao?

Tôi quay trở lại quan sát xung quanh, bởi tức thì trong thâm tâm, tôi chẳng còn cảm thấy tin tưởng bản thân mình. Tôi chuẩn bị thực hiện một hành động. Nhưng đó là tôi ư? Một lần nữa ý niệm đó chiếm trọn tôi, rằng đó là tất cả những kẻ lạ mặt chẳng thể tách rời khỏi con người tôi, đã bước vào trong ấy cùng tôi, và rằng tôi đương sửa soạn thực hiện vụ trộm với đôi bàn tay chẳng phải của mình.

Tôi nhìn đôi bàn tay ấy.

Đúng: chúng là đôi bàn tay mà tôi vẫn nhận ra. Nhưng có phải chúng chỉ thuộc về riêng mình tôi?

Tôi lập tức giấu tay ra đằng sau lưng; và rồi, như thể làm vậy chẳng đủ, tôi nhắm mắt.

Trong bóng tối, tôi cảm nhận được một ý chí xa rời khỏi những sự nhất quán tuyệt đối; tôi hoảng hồn tới mức suýt thì ngất đi. Tôi dựa một tay vào bàn theo bản năng. Tôi mở mắt:

“Nhưng đúng vậy! Đúng vậy!” Tôi nói. “Chẳng có tẹo logic nào! Chẳng có tẹo logic nào cả! Chính vậy!”

Và tôi tập trung tìm kiếm trong đống giấy tờ kia.

Tôi tìm trong bao lâu? Tôi chẳng biết. Tôi chỉ biết rằng tới một thời điểm, nỗi giận dữ thuyên giảm, và một nguồn cơn mỏi mệt đến tuyệt vọng chiếm lấy tôi. Tôi ngồi xuống chiếc ghế đặt trước cái bàn mà giờ đây đã bộn bề những giấy tờ chất đống, và trên đùi tôi đè nặng một chồng giấy tờ khác. Tôi gục đầu mình xuống đó và ao ước, thực sự ao ước được chết đi, nếu như nỗi tuyệt vọng đã thâm nhập vào trong tôi có thể ngăn trở tôi hoàn thành cái sứ mệnh vô tiền khoáng hậu nọ.

Tôi nhớ rằng ở đó, đầu gục trên đống giấy, mắt nhắm nghiền có lẽ để ngăn dòng lệ, tôi nghe thấy từ nơi đâu xa vô tận, trong làn gió đã nổi lên ở phía ngoài, tiếng cục tác nhọc nhằn của một con gà đẻ trứng. Tiếng cục tác ấy gợi tôi nhớ vùng đồng quê nhà mình, nơi tôi đã chẳng quay trở lại kể từ ngày bé. Thế nhưng gần đó, thi thoảng tiếng cánh cửa sổ kẽo kẹt trước gió làm tôi khó chịu. Tôi giật nảy mình khi có hai tiếng gõ cửa bất ngờ. Tôi thét lên giận dữ:

“Đừng làm phiền tôi!”

Rồi ngay lập tức tôi tiếp tục điên cuồng tìm kiếm.

Khi rốt cục đã tìm ra tập tài liệu chứa những giấy tờ của ngôi nhà, tôi cảm thấy như được giải phóng. Tôi nhảy cẫng lên phấn khích. Nhưng ngay sau đó, tôi quay ra quan sát cửa. Sự thay đổi mới tức thì làm sao, từ phấn khích sang nghi ngờ, rằng tôi bị nhìn thấy - và tôi rùng mình. Kẻ trộm! Tôi đã trộm. Tôi đã thực sự trộm. Tôi đi ra tì lưng vào cánh cửa; tôi cởi cúc áo gi lê; tôi phanh cúc ngực áo sơ mi và nhét vào trong ấy tập tài liệu dày cộp.

Một con gián chân đi không vững bò ra từ một lỗ dưới chân tủ, trực chỉ hướng cửa sổ. Tôi lập tức nhao tới giẫm nát nó.

Mặt nhăn nhúm vì bực bội, tôi xếp bừa những tập tài liệu khác vào trong tủ, rồi rời khỏi căn phòng nhỏ.

May mắn thay, Quantorzo, Firbo và tất cả đám nhân viên khác đã rời khỏi; chỉ còn đó ông bảo vệ già, mà ông thì chẳng thể nghi ngờ gì cả.

Tuy vậy, tôi vẫn cảm thấy cần phải nói với ông điều gì đó:

“Bác quét sàn trong kia đi: tôi vừa giẫm chết một con gián.”

Rồi tôi chạy tới đường Crocefisso, tới văn phòng Chưởng khế Stampa.

VII. BÙNG NỔ

Tôi vẫn còn nghe thấy tiếng nước chảy từ cái máng chỗ cột đèn chưa được thắp sáng, đằng trước ngôi nhà lụp xụp của Marco di Dio, trong con hẻm tối xầm trước khi hoàng hôn. Tôi thấy đứng đó dọc theo bờ tường để trú mưa là đám người tụ tập chứng kiến cảnh cưỡng chế và một đám khác, tay cầm ô, đương dừng lại tò mò quan sát đám đông kia và những vật dụng tồi tàn bị ném ra trước cổng giữa trời mưa. Hòa vào cảnh tượng đó là tiếng thét của nàng Diamante đầu bù tóc rối. Thi thoảng cô nàng lại ra đằng cửa sổ mà văng những câu chửi rủa kỳ lạ của mình, những từ ngữ được đón nhận bằng tiếng huýt sáo và những âm thanh tục tĩu của mấy thằng vô lại chân không mang giày. Chẳng màng tới mưa, bọn chúng nhảy múa xung quanh đống đồ đạc tồi tàn và té nước vũng lên khắp những kẻ hiếu kỳ nhất, để rồi nhận lại những tiếng chửi rủa. Còn những lời bàn tán:

“Còn tởm hơn ông bố! Giữa trời mưa, quý ông quý bà của tôi ơi! Hắn còn chẳng chịu đợi cho đến ngày mai!”

“Nhẫn tâm như vậy với một thằng điên tội nghiệp!”

“Đồ cho vay nặng lãi! Đồ cho vay nặng lãi!”

Tôi đã cố tình có mặt ở đó, đến cảnh cưỡng chế, với một tay ủy viên và hai viên cảnh sát hộ tống.

“Đồ cho vay nặng lãi! Đồ cho vay nặng lãi!”

Tôi cười. Vâng, cũng có thể tôi đã tái mặt đi chút. Nhưng trong người tôi vẫn còn thứ dục cảm khiến bụng dạ tôi sôi lên, cuống họng tôi buồn buồn và còn khiến tôi nuốt nước miếng. Chỉ có điều, thi thoảng tôi cảm thấy cần phải dán mắt mình vào một thứ gì đó, và tôi quan sát cái khung cửa của ngôi nhà lụp xụp đó một cách biếng nhác lơ đễnh, cốt để tách rời tâm trí mình khỏi cảnh tượng kia. Tôi chắc rằng chẳng kẻ nào, trong một khoảnh khắc như lúc ấy, có thể nghĩ tới chuyện ngước mắt mà thích thú khẳng định rằng đó là một khung cửa đáng buồn. Nó chẳng màng tới những tiếng động ngoài đường phố: mình phủ lớp thạch cao xám xịt bong tróc, đây đó thủng lỗ chỗ. Không như tôi, nó chẳng cảm thấy cần phải đỏ mặt trước một cái bồn tiểu cũ bị ném ra giữa đường, trên một chiếc tủ đầu giường, như một tội ác chống lại phép lịch sự, cùng các thứ vật dụng khác của ngôi nhà lụp xụp giờ đương nằm trơ ra nơi đó trước con mắt của bàn dân thiên hạ.

Nhưng cái thú tách biệt khỏi đám đông này xém chút nữa đã khiến tôi trả giá đắt. Sau màn cưỡng chế, Marco di Dio cùng với vợ hắn Diamante bước ra khỏi ngôi nhà xập xệ và phát hiện ra tôi trong con hẻm giữa tay ủy viên và hai viên cảnh sát. Hắn chẳng thể kiềm mình, và khi tôi đang chăm chú quan sát cái khung cửa, hắn nhằm tôi mà phi cái vồ đẽo đá cũ. Chắc hẳn cú ném ấy đã lấy mạng tôi, nếu như tay ủy viên nọ không kịp thời kéo tôi về phía hắn. Giữa những tiếng gào thét và hỗn loạn, hai viên cảnh sát lao ra phía trước để bắt lấy tên thảm hại đã nổi khùng khi thấy tôi. Thế nhưng đám đông ngày một lớn đã bảo vệ hắn và đương quay ngược lại phía tôi. Khi ấy, một tên loắt choắt vận đồ đen, nom thảm hại nhưng quyết liệt, một gã thanh niên của văn phòng Chưởng khế Stampa, hắn lao lên trên chiếc bàn giữa những đồ vật bị ném ra giữa con hẻm. Hắn nhảy cẫng lên mà hoa chân múa tay, rồi hắn bắt đầu thét:

“Trật tự! Trật tự! Hãy nghe đây! Tôi đến nhân danh ngài Chưởng khế Stampa! Các người hãy nghe đây! Marco di Dio! Marco di Dio đâu rồi? Tôi nhân danh ngài Chưởng khế Stampa để thông báo với hắn rằng có một món quà từ thiện dành cho hắn! Tên cho vay nặng lãi Moscarda này…”

Tôi chẳng thể diễn tả thành lời, toàn thân đương run lên trong khoảnh khắc chờ đợi một phép màu: màn lột xác thoát tục của tôi trong một phút giây trước con mắt của tất cả mọi người. Nhưng bất chợt, cảm xúc rúng động của tôi như vỡ ra thành ngàn mảnh và toàn bộ sự tồn tại của tôi như thể bị văng đi và phân tán đây đó trong sự bùng nổ của những tiếng huýt sao chói tai vô cùng, trộn lẫn giữa những tiếng thét nhộn nhạo và những lời lẽ xúc phạm của cả đám người đó nhắm về phía tôi. Họ chẳng thể hiểu tại sao phần từ thiện lại là của tôi, sau khi chứng kiến cảnh cưỡng chế đầy nhẫn tâm và dữ dội.

“Chết đi! Giết hắn đi!” Đám đông thét gào. “Đồ cho vay nặng lãi! Đồ cho vay nặng lãi!”

Theo bản năng, tôi giơ một tay ra hiệu mọi người chờ đợi; nhưng trông tôi như đang tỏ vẻ khẩn cầu và lập tức tôi hạ tay xuống. Trong khi đó, gã thanh niên của văn phòng Chưởng khế đứng trên bàn đương hoa chân múa tay khẩn cầu sự im lặng. Hắn tiếp tục gào:

“Không! Không! Mọi người hãy nghe đây! Chính hắn, chính hắn là chủ món từ thiện này, ở chỗ ngài Chưởng khế Stampa! Món từ thiện là một ngôi nhà dành cho Marco di Dio!”

Nghe vậy, cả đám đông đứng ngây như phỗng. Nhưng tôi cảm thấy hầu như xa xăm, thất vọng, tổn thương. Tuy vậy, sự im lặng của đám đông hấp dẫn tôi. Cứ như thể có ai đó châm lửa vào một đống đồ gỗ. Thoạt tiên người ta chẳng nhìn thấy hay nghe thấy gì, thế rồi đây một búi, kia một chùm lửa lan ra, bùng lên, và rốt cục cả đống đồ kêu lách tách cùng ngọn lửa cuộn lên trong khói:

“Hắn?” “Một ngôi nhà?” “Sao lại thế?” “Nhà gì?” “Trật tự!” “Hắn nói gì?” Những câu hỏi này và những câu khác tương tự bắt đầu lan truyền trong đám đông. Giọng bàn tán bắt đầu huyên náo, tiếng ngày càng lớn và hỗn loạn, trong khi gã thanh niên của lão Chưởng khế khẳng định:

“Vâng, vâng, một ngôi nhà! Nhà của hắn ở số 15 đường Santi. Và chưa hết! Còn có một phần từ thiện mười ngàn lire để xây một nhà xưởng và sắm sửa dụng cụ phòng thí nghiệm!”

Tôi chẳng thể thấy những gì tiếp diễn. Tôi bị tước đi quyền chiêm ngưỡng, bởi giây phút ấy tôi buộc phải chạy đi nơi khác. Nhưng tôi biết chỉ thoáng chốc sau đó tôi sẽ được chiêm ngưỡng những gì, nếu tôi ở lại.

Tôi lẩn mình trong ngưỡng cửa của ngôi nhà ở đường Santi, chờ đợi Marco di Dio tới chiếm lấy quyền sở hữu. Ánh sáng cầu thang vừa hay chạm tới ngưỡng cửa ấy. Kéo theo cả đám đông trước đó, hắn mở cửa chính với chiếc chìa khóa do lão Chưởng khế trao, và khi hắn nhận ra tôi đương nép vào tường như một bóng ma, thoạt tiên hắn ngỡ ngàng lùi lại. Đôi mắt kinh hãi của hắn ném về phía tôi một ánh nhìn mà tôi vĩnh viễn chẳng thể nào quên. Thế rồi, với cái giọng khàn khàn của dã thú, chừng như một sự kết hợp giữa tiếng nấc và tiếng cười, hắn nhảy bổ vào người tôi, điên cuồng. Hắn bắt đầu vừa gào lên vừa đập người tôi vào tường, chẳng rõ để kích thích tôi hay để giết tôi:

“Đồ điên! Đồ điên! Đồ điên!”

Chừng ấy cũng chính là tiếng thét gào của đám đông đứng ngoài đó trước cửa:

“Đồ điên! Đồ điên! Đồ điên!”

Âu cũng bởi tôi muốn chứng minh rằng ngay cả đối với người khác, tôi cũng có thể chẳng phải là kẻ mà mọi người vẫn tưởng.

❀ ❀ ❀

[1] Khả năng ám chỉ Heinrich Gottfried Ollendorff (1803-1865), tác giả cuốn Nouvelle methode pour apprendre, a lire, a ecrire et a parler une langue en six mois, appliquee au Latin (tạm dịch: Phương thức mới để học, đọc, viết và nói một ngôn ngữ trong sáu tháng, áp dụng cho tiếng La-tinh), trong đó chứa đựng rất ít ngữ pháp mà chỉ chú trọng đến những phương thức bản năng, dựa vào thực hành thay vì lý thuyết.

[2] Satyr: một loài nửa người nửa ngựa trong thần thoại Hy Lạp, đại diện cho sự phóng khoáng, dâm dục, sinh sản.

[3] Nicomedes IV xứ Bithynia: trị vì xứ Bithynia từ 94 TCN tới 74 TCN, bị đồn là người tình đồng tính của Caesar khi ông tới đây làm sứ giả.

[4] (tiếng Anh) Jane có phải là một đứa trẻ hạnh phúc?

[5] (tiếng Anh) Vâng. Jane là một đứa trẻ hạnh phúc.

Trần Dương Hiệp (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.