Tôi muốn cất lên dôi lời vì Tự nhiên, vì Tự do tuyệt đối và sự Hoang dã, đối lập với một nền tự do và văn hóa thuần túy mang tính dân sự — để nhìn nhận con người như một cư dân, hoặc một phần máu thịt của Tự nhiên, hơn là một thành viên của xã hội. Tôi muốn đưa ra một tuyên bố cực đoan, nếu như nhờ thế mà nó trở nên đanh thép, bởi vì đã có đủ những kẻ bênh vực cho nền văn minh ngoài kia: vị mục sư, ban quản lý trường học, và tất cả các vị sẽ lo liệu việc đó.
Trong suốt cuộc đời mình, tôi mới chỉ gặp một hoặc hai người thấu hiểu nghệ thuật Đi bộ, nghĩa là nghệ thuật đi dạo thực sự — những người có thiên bẩm, có thể nói vậy, đối với việc thong dong dạo bước. Từ này có một nguồn gốc thật đẹp, bắt nguồn từ “những kẻ lang thang vô công rỗi nghề đi khắp vùng thôn quê vào thời Trung cổ, ngẩng cao đầu xin bố thí với vỏ bọc đi à la Sainte Terre,” tới Đất Thánh, cho đến khi lũ trẻ phải thốt lên, “Kìa một kẻ đi Sainte-Terrer,” một Saunterer, một người hành hương về Đất Thánh. Những kẻ trong các chuyến đi dạo của mình chẳng bao giờ thực sự đến Đất Thánh như chúng vẫn hay khoác lác, kỳ thực chỉ là những kẻ lười biếng và lang thang vô tích sự; nhưng những ai thực sự đến đó mới chính là những kẻ thong dong theo nghĩa tốt đẹp nhất, đúng như ý tôi muốn nói. Dẫu vậy, một số người lại cho rằng từ này xuất phát từ cụm sans terre, nghĩa là không đất đai, không nhà cửa; do đó, theo nghĩa tích cực, nó sẽ có nghĩa là không có một mái ấm cố định nào, nhưng ở đâu cũng như ở nhà. Bởi đó chính là bí quyết của những chuyến thong dong thành công. Kẻ cứ ngồi ì một chỗ trong nhà suốt ngày hóa ra lại có thể là kẻ lang thang lớn nhất trong tất cả; thế nhưng người thong dong theo nghĩa tốt đẹp ấy lại chẳng hề lang thang hơn con sông uốn lượn ngoài kia, kẻ vẫn luôn chăm chỉ tìm kiếm con đường ngắn nhất để ra đến biển. Dẫu vậy, tôi vẫn thích cách giải thích thứ nhất hơn, bởi quả thực đó là nguồn gốc hợp lý nhất. Vì mỗi cuộc đi bộ vốn là một dạng chiến dịch thập tự chinh, do một vị Phí-trơ Ẩn sĩ bên trong mỗi chúng ta phát động, để bước ra và tái chiếm miền Đất Thánh này từ tay những kẻ ngoại đạo.
Sự thật là, dẫu có là những người đi bộ đi chăng nữa, chúng ta ngày nay cũng chỉ là những kẻ thập tự chinh nhát gan, những người chẳng hề dấn thân vào những cuộc mười mươi bền bỉ hay vô tận. Những cuộc viễn chinh của chúng ta chỉ là những chuyến tham quan, để rồi đến chiều tối lại quay về bên mái ấm quen thuộc nơi chúng ta khởi hành. Một nửa chặng đường đi bộ thực chất chỉ là quay gót bước trở lui. Đến với cả những cuộc đi bộ ngắn nhất, lẽ ra chúng ta nên bước đi với tinh thần của một cuộc phiêu lưu bất diệt, không bao giờ trở về — sẵn sàng gửi lại những trái tim đã được ướp xác như những di vật về vương quốc tiêu điều của mình. Nếu bạn đã sẵn sàng rời xa cha mẹ, anh chị em, vợ con và bạn bè để không bao giờ gặp lại họ nữa — nếu bạn đã trả sạch nờ nần, lập di chúc, giải quyết mọi công chuyện và trở thành một con người tự do; vậy thì bạn đã sẵn sàng cho một chuyến đi bộ.
Trở lại với trải nghiệm của chính bản thân tôi, người bạn đồng hành của tôi và tôi — bởi thỉnh thoảng tôi cũng có bạn đồng hành — rất lấy làm thích thú khi tưởng tượng mình là những hiệp sĩ thuộc một hội đoàn mới, hay đúng hơn là một hội đoàn cổ xưa — không phải Kỵ sĩ giáp sắt hay Quý tộc cưỡi ngựa, không phải Ritter hay Kỵ mã, mà là những Người Đi Bộ, một tầng lớp thậm chí còn cổ xưa và đáng tôn kính hơn, tôi tin là vậy. Tinh thần hiệp nghĩa và anh hùng từng thuộc về những kẻ cưỡi ngựa giờ đây dường như đang ngự trị, hoặc có lẽ đã lắng đọng lại, ở Người Đi Bộ — không phải một Hiệp sĩ thông thường, mà là một Lãng tử Đi bộ. Anh ta giống như một đẳng thực thứ tư, đứng ngoài Giáo hội, Nhà nước và Quần chúng.
Chúng tôi cảm thấy rằng ở quanh đây, gần như chỉ có mỗi mình chúng tôi thực hành nghệ thuật cao quý này; dẫu cho, nói thật lòng, ít ra là theo những gì họ tự khoe khoang, hầu hết những người đồng hương của tôi cũng rất muốn được đi bộ như tôi, nhưng họ không thể. Chẳng khối tài sản nào có thể mua được sự thảnh thơi, tự do và độc lập vốn là thứ vốn liếng quý giá nhất trong nghề này. Nó chỉ đến từ ân huệ của Thượng đế. Cần phải có một sự ban ơn trực tiếp từ Thiên đường thì mới có thể trở thành một người đi bộ. Bạn phải được sinh ra trong gia đình của những Người Đi Bộ. Ambulator nascitur, non fit. Quả thật, một số người đồng hương của tôi có thể nhớ lại và đã miêu tả cho tôi nghe vài chuyến đi bộ mà họ từng thực hiện từ mười năm trước, trong đó họ vô cùng may mắn khi bị lạc mất nửa tiếng đồng hồ trong rừng; thế nhưng tôi thừa hiểu rằng kể từ dạo ấy, họ vẫn luôn tự giam mình trên những con đường cái quan, mặc cho họ có hay khoác lác ra sao về việc thuộc về tầng lớp ưu tuyển này. Chắc hẳn họ đã từng phấn khích trong chốc lát, tựa như sự hồi tưởng về một kiếp sống tiền kiếp nào đó, khi mà dẫu sao họ cũng từng là những người sống trong rừng sâu và những kẻ ngoài vòng pháp luật.
“Khi chàng tới chốn rừng xanh,
Giữa ban mai ngập tràn tươi vui,
Chàng nghe tiếng hót vang lừng
Của bầy chim ca hát muôn nơi.”
“Cách đây đã lâu lắm rồi, Robin thốt lên,
Lần cuối ta đặt chân đến đây;
Lòng ta bỗng thấy nao nao muốn bắn
Mấy chú hươu vàng ẩn hiện trong cây.”
Tôi nghĩ rằng mình không thể duy trì được sức khỏe và tinh thần nếu mỗi ngày không dành ít nhất bốn tiếng — và thường thì còn nhiều hơn thế — để thong dong lang thang qua những cánh rừng, băng qua các ngọn đồi và đồng cỏ, hoàn toàn tự do khỏi mọi vướng bận trần tục. Các vị hoàn toàn có thể nói rằng, xin mua lấy suy nghĩ của tôi với giá một xu, hay thậm chí một nghìn bảng Anh. Khi thỉnh thoảng được nhắc nhở rằng những người thợ thủ công và chủ cửa hiệu cứ ngồi lì trong tiệm của họ không chỉ suốt cả buổi sáng mà còn cả buổi chiều, hết người này đến người khác ngồi bắt chéo chân — tựa như đôi chân sinh ra là để ngồi chứ không phải để đứng hay đi lại — tôi nghĩ rằng họ thực sự xứng đáng được ngợi khen vì đã không cùng nhau tự sát từ lâu lắm rồi.
Bản thân tôi, người không thể ở yên trong phòng dù chỉ một ngày mà không bị gỉ sét tâm hồn, và có những khi lén lút bước ra ngoài đi dạo vào giờ thứ mười một, tức là lúc bốn giờ chiều, khi đã quá muộn để cứu vãn cả ngày, khi bóng đêm bắt đầu hòa quyện vào ánh ban mai, từng cảm thấy như thể mình vừa phạm phải một tội lỗi nào đó cần phải chuộc lại — tôi thú thực là mình vô cùng kinh ngạc trước sức chịu đựng, chưa nói đến sự vô cảm về mặt đạo đức, của những người hàng xóm quanh tôi, những kẻ tự giam mình trong các cửa hiệu và văn phòng suốt cả ngày qua nhiều tuần, nhiều tháng, vâng, thậm chí ngót nghét cả năm trời. Tôi chẳng tài nào hiểu nổi họ được làm bằng thứ chất liệu gì — giờ này đang ngồi đó lúc ba giờ chiều, cứ như thể bây giờ đang là ba giờ sáng vậy. Bonaparte có thể ca ngợi lòng dũng cảm lúc ba giờ sáng, nhưng điều đó chẳng thấm tháp gì so với lòng dũng cảm có thể ngồi xuống một cách vui vẻ vào giờ này buổi chiều, đối diện với chính bản thân mình — kẻ mà bạn đã nhẵn mặt suốt cả buổi sáng — để rồi cùng nhau đày đọa đến kiệt quệ một đồn trú mà bạn gắn bó bằng những mối dây liên kết đồng cảm sâu sắc đến thế. Tôi tự hỏi tại sao vào tầm giờ này, hoặc giả từ bốn đến năm giờ chiều, khi đã quá muộn cho các tờ báo buổi sáng mà lại quá sớm cho báo buổi chiều, người ta lại không nghe thấy một tiếng nổ lớn nào vang lên dọc khắp các con phố, thổi bay cả một quân đoàn những ý niệm cổ lỗ sĩ, những thứ sở thích kỳ quặc và quanh quẩn xó bếp ra bốn phương trời để hóng mát — và cứ thế, cái ác tự chữa lành cho chính nó.
Phụ nữ, những người thậm chí còn bị giam cầm trong nhà nhiều hơn cả đàn ông, chịu đựng điều đó bằng cách nào thì tôi không tài nào biết được; nhưng tôi có căn cứ để nghi ngờ rằng hầu hết bọn họ chẳng hề chịu đựng nổi chút nào. Khi vào một buổi chiều hè sớm, chúng tôi rũ sạch bụi bặm của làng xóm khỏi tà áo, rảo bước thật nhanh qua những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc thuần túy kiểu Doric hay Gothic, nơi tỏa ra một bầu không khí tĩnh mịch đến lạ lùng, người bạn đồng hành của tôi liền thì thầm rằng có lẽ vào những giờ này, tất cả cư dân bên trong đó đều đã lên giường đi ngủ. Chính lúc ấy, tôi mới thấu hiểu vẻ đẹp và sự vinh quang của kiến trúc, thứ vốn chẳng bao giờ chịu đi ngủ, mà cứ đứng sừng sững mãi ở đó, kiên nhẫn canh gác cho những kẻ đang say ngủ.
Chắc chắn rằng tính khí, và hơn hết thảy là tuổi tác, có ảnh hưởng rất lớn đến điều này. Khi một người già đi, khả năng ngồi yên một chỗ và theo đuổi các công việc trong nhà của họ cũng tăng lên. Họ dần mang thói quen của buổi hoàng hôn khi tuổi già kề cận, cho đến tận lúc cuối cùng, họ chỉ xuất hiện ngay trước khi mặt trời lặn và thu vén tất cả những quãng đường đi bộ cần thiết chỉ trong vòng nửa tiếng.
Thế nhưng, việc đi bộ mà tôi đang nhắc đến chẳng có điểm nào giống với cái gọi là tập thể dục — như cách người bệnh uống thuốc vào những giờ nhất định, hay như việc vung vẩy tạ tay hay ghế tựa; mà bản thân nó chính là sứ mệnh và cuộc phiêu lưu của cả ngày. Nếu bạn muốn rèn luyện cơ thể, hãy đi tìm những mạch nguồn của sự sống. Thật nực cười khi nghĩ đến cảnh một người đứng vung tạ tay cốt để giữ gìn sức khỏe, trong khi những mạch nguồn ấy đang sủi bọt ở những đồng cỏ xa xôi mà anh ta chẳng thèm hoài công tìm kiếm!
Hơn thế nữa, bạn phải bước đi giống như loài lạc đà, được cho là loài động vật duy nhất nhai lại cỏ trong lúc đang di chuyển. Khi một du khách nọ đề nghị người hầu của Wordsworth cho xem phòng làm việc của ông chủ, cô ấy đã đáp rằng: “Đây là thư viện của ông ấy, nhưng phòng làm việc của ông ấy ở ngoài trời cơ.”
Sống phần lớn ở ngoài trời, dưới ánh nắng và ngọn gió, chắc chắn sẽ tạo ra một sự xù xì nhất định trong tính cách — sẽ khiến một lớp da dày hơn mọc lên che phủ một số phẩm chất tinh tế hơn trong bản chất chúng ta, giống như trên khuôn mặt và bàn tay, hoặc giống như lao động chân tay nặng nhọc cướp đi sự nhạy cảm nơi đầu ngón tay. Ngược lại, việc cứ mãi ở trong nhà có thể mang lại sự mềm mại và láng mịn, chưa muốn nói là sự mỏng manh của làn da, đi kèm với độ nhạy cảm gia tăng đối với một số ấn tượng nhất định. Có lẽ chúng ta sẽ dễ tiếp thu hơn trước một số ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ và đạo đức của mình, nếu ánh mặt trời chiếu rọi và cơn gió thổi vào chúng ta ít đi một chút; và chắc chắn việc cân đối tỷ lệ da dày và da mỏng sao cho đúng là một vấn đề vô cùng tế nhị. Thế nhưng tôi ngẫm rằng đó chỉ là lớp biểu bì rồi sẽ sớm bong tróc đi nhanh chóng — rằng phương thuốc tự nhiên nằm ở tỷ lệ giữa đêm và ngày, giữa mùa đông và mùa hạ, giữa tư duy và trải nghiệm. Khi ấy, sẽ có thêm biết bao không khí và ánh nắng trong những suy nghĩ của chúng ta. Lòng bàn tay chai sạn của người lao động quen thuộc với những thớ mô tinh tế hơn của lòng tự trọng và chủ nghĩa anh hùng — thứ chạm khắc làm rung động trái tim — hơn là những ngón tay rảnh rỗi, rũ rượi của sự lười biếng. Đó chỉ là thứ tình cảm ủy mị của kẻ nằm lì trên giường suốt cả ngày và tự cho mình là thanh tao, cách xa hoàn toàn khỏi nắng gió và vết chai sạn của trải nghiệm.
Khi đi bộ, chúng ta tự nhiên hướng về những cánh đồng và khu rừng: điều gì sẽ xảy ra với chúng ta nếu chúng ta chỉ đi dạo trong một khu vườn hay một con phố đi bộ? Ngay cả một số giáo phái triết học cũng từng cảm thấy sự cần thiết phải mang cả khu rừng đến với mình, một khi họ không chịu bước chân vào rừng. “Họ trồng những lùm cây và lối đi bằng cây phong,” nơi họ thực hiện những cuộc tản bộ ngoài trời subdiales ambulationes trong những hàng hiên mở rộng đón gió trời. Tất nhiên, sẽ chẳng có ích gì nếu chúng ta hướng bước chân về phía rừng rậm, trong khi tâm trí lại không hề bước đến đó. Tôi cảm thấy hoảng hốt mỗi khi nhận ra mình đã đi bộ trọn một dặm sâu vào trong rừng bằng thể xác, mà tâm hồn lại chẳng hề đặt chân đến nơi. Trong chuyến đi dạo buổi chiều, tôi rất muốn quên đi mọi công việc ban buổi sáng và những nghĩa vụ với xã hội. Thế nhưng đôi khi sự việc xảy ra là tôi không tài nào rũ bỏ nổi hình bóng của ngôi làng. Suy nghĩ về một công việc nào đó cứ vẩn vơ trong đầu, và tôi chẳng còn ở nơi thân xác mình đang đứng nữa — tôi mất hết cả trí khôn. Trong những chuyến đi dạo, tôi rất muốn tìm lại sự tỉnh táo của mình. Tôi có bận tâm gì trong rừng đâu, nếu tâm trí tôi cứ bận nghĩ đến những thứ ngoài rừng? Tôi đâm ra nghi ngờ chính mình, và không khỏi rùng mình khi thấy bản thân vướng bận sâu đến thế vào cả những việc được gọi là việc thiện — bởi điều đó thỉnh thoảng vẫn có thể xảy ra.
Khu vực xung quanh tôi có vô số lối đi bộ tuyệt đẹp; và dẫu cho suốt bao nhiêu năm nay, tôi gần như đi bộ mỗi ngày, thỉnh thoảng kéo dài liên tục trong mấy ngày liền, tôi vẫn chưa hề khám phá hết chúng. Một khung cảnh hoàn toàn mới lạ là một niềm hạnh phúc lớn lao, và tôi vẫn có thể tìm thấy điều đó vào bất kỳ buổi chiều nào. Chỉ cần đi bộ hai hoặc ba tiếng là có thể đưa tôi đến một vùng đất xa lạ chẳng kém gì những nơi kỳ thú nhất mà tôi từng mong đợi được thấy. Đỉnh điểm là một ngôi nhà trang trại đơn độc mà trước đó tôi chưa từng thấy đôi khi cũng tuyệt vời không kém gì vương quốc của vị vua xứ Dahomey. Thực ra, người ta có thể khám phá ra một sự hòa hợp nhất định giữa tiềm năng của cảnh quan trong một vòng bán kính mười dặm, hay giới hạn của một chuyến đi dạo buổi chiều, với khoảng thời gian bảy mươi năm của đời người. Nơi đó sẽ chẳng bao giờ trở nên quá đỗi quen thuộc đối với bạn.
Ngày nay, hầu như tất cả những cái gọi là cải tiến của con người, chẳng hạn như việc xây nhà, chặt phá rừng và đốn hạ tất cả những thân cây lớn, đơn giản là làm biến dạng cảnh quan, khiến nó ngày càng trở nên tẻ nhạt và rẻ tiền. Thật tuyệt vời nếu một dân tộc bắt đầu bằng việc đốt cháy những hàng rào và để cho khu rừng được đứng yên nguyên vẹn! Tôi từng nhìn thấy những hàng rào bị thiêu rụi một nửa, với phần đầu chìm khuất giữa đồng cỏ mênh mông, và một kẻ keo kiệt mưu mô nào đó đang cùng một tên trắc địa đi đo đạc các mốc giới, trong khi thiên nhiên kỳ vĩ đang diễn ra xung quanh hắn ta và hắn chẳng thèm nhìn thấy những vị thiên sứ đang dập dìu qua lại, mà chỉ mải tìm kiếm một cái lỗ cắm cọc cũ kỹ nằm giữa chốn thiên đường. Tôi nhìn lại lần nữa, và thấy hắn đang đứng giữa một vũng lầy Stygian u ám, xung quanh vây quanh bởi lũ quỷ sứ, và hắn đã tìm thấy các mốc giới của mình không một chút nghi ngờ, chính là ba hòn đá nhỏ đánh dấu nơi một chiếc cọc từng được đóng xuống; và khi nhìn kỹ hơn, tôi nhận ra rằng Hoàng tử của Bóng tối chính là kẻ trắc địa của hắn.
Tôi có thể dễ dàng đi bộ mười, mười lăm, hai mươi, hay bất kỳ số dặm nào tùy ý, khởi hành từ ngay ngưỡng cửa nhà mình, mà không phải đi qua bất kỳ ngôi nhà nào, không phải băng qua một con đường nào trừ những lối đi của loài cáo và con chồn mink: đầu tiên dọc theo dòng sông, rồi đến con lạch, sau đó qua đồng cỏ và mép rừng. Có những ô vuông rộng cả dặm vuông ở vùng lân cận của tôi hoàn toàn không có bóng người sinh sống. Từ trên đỉnh của nhiều ngọn đồi, tôi có thể nhìn thấy nền văn minh và chốn ở của con người từ đằng xa. Những người nông dân và công trình của họ hầu như chẳng nổi bật hơn lũ chuột đất và những cái hang của chúng. Con người cùng những bận tâm của họ, giáo hội và nhà nước cùng trường học, thương mại và buôn bán, công nghệ và nông nghiệp, thậm chí cả chính trị — thứ đáng sợ nhất trong tất cả — tôi lấy làm vui mừng khi thấy chúng chiếm một khoảng không gian nhỏ bé nhường nào trong khung cảnh thiên nhiên. Chính trị chẳng qua chỉ là một mảnh đất chật hẹp, và con đường cái quan hẹp hũ ngoài kia vẫn đang dẫn đến đó. Thỉnh thoảng tôi cũng chỉ đường cho khách du lịch đến đó. Nếu bạn muốn dấn thân vào thế giới chính trị, hãy đi theo con đường lớn ấy — hãy đi theo gã thương lái trên chợ, để bụi cuốn vào mắt bạn, và nó sẽ dẫn thẳng bạn tới đó; bởi vì thế giới ấy cũng chỉ có vị trí của riêng nó, chứ không hề chiếm lĩnh toàn bộ không gian. Tôi bước ra khỏi chốn đó hệt như bước từ một thửa ruộng đậu ra rìa rừng, và nó liền bị bỏ quên. Chỉ trong nửa giờ đồng hồ, tôi có thể đi bộ đến một góc nào đó trên bề mặt trái đất mà ở đó con người không hề đặt chân tới từ năm này qua năm khác, và do đó, chính trị hoàn toàn không tồn tại ở nơi ấy, bởi chúng chẳng khác nào làn khói xì gà của một người qua đường.
Ngôi làng là nơi hội tụ của các ngả đường, một dạng mở rộng của con đường cái quan, giống như một hồ nước phình ra từ dòng sông. Nó là cơ thể mà các con đường chính là chân tay — một chốn ngã ba hay ngã tư tấp nập, là lối qua lại và quán trọ quen thuộc của những lữ khách. Từ này bắt nguồn từ tiếng Latinh villa, kết hợp cùng via, nghĩa là con đường, hoặc cổ xưa hơn là ved và vella, được Varro bắt nguồn từ động từ veho, nghĩa là chuyên chở, bởi vì villa chính là nơi người ta chuyên chở hàng hóa đến và đi. Những kẻ kiếm sống bằng nghề chở hàng thuê được gọi là vellaturam facere. Cũng từ đó mà ra đời từ vilis trong tiếng Latinh và từ vile trong tiếng Anh của chúng ta; và cả từ villain nữa. Điều này gợi ý về loại suy đồi mà những kẻ sống ở làng xã dễ mắc phải. Họ bị bào mòn bởi những dòng người qua lại dọc ngang qua họ, dẫu cho bản thân họ chẳng hề bước chân đi đâu.
Có kẻ hoàn toàn không bao giờ đi bộ; kẻ khác thì chỉ đi trên những con đường cái quan; một số ít lại chọn cách băng qua những thửa đất trống. Những con đường được làm ra dành cho ngựa và những kẻ bận mải mưu sinh. So ra thì tôi không đi lại nhiều trên những con đường ấy, bởi vì tôi chẳng hề vội vã đến bất kỳ quán trọ, tiệm tạp hóa, chuồng ngựa thuê hay bến bãi nào mà chúng dẫn tới. Tôi là một con tuấn mã cừ khôi trên đường trường, nhưng không vì thế mà chọn làm một gã rong ruổi đường nhựa theo sở thích. Người họa sĩ phong cảnh thường dùng hình bóng con người để làm nổi bật một con đường. Hắn sẽ chẳng đời nào dùng hình bóng của tôi cho mục đích đó. Tôi bước ra với thiên nhiên — thứ thiên nhiên mà các nhà tiên tri và thi sĩ thuở xưa như Menu, Moses, Homer, Chaucer từng bước qua. Các vị có thể gọi nó là châu Mỹ, nhưng đó không phải là châu Mỹ: chẳng có Americus Vespucius, hay Columbus, hay bất kỳ ai khác là kẻ phát hiện ra nó. Có một phần sự thật vẹn nguyên hơn về nó ẩn chứa trong thần thoại hơn là trong bất kỳ cuốn lịch sử gọi là lịch sử châu Mỹ nào mà tôi từng được thấy.
Dẫu vậy, vẫn có một vài con đường cổ xưa mà người ta có thể cất bước đi qua với nhiều điều thu hoạch, tựa như thể chúng vẫn dẫn đến một nơi nào đó dẫu cho nay đã gần như bị bỏ hoang. Đó là Con đường Marlborough Cổ, nơi giờ đây có lẽ chẳng còn dẫn tới Marlborough nữa, trừ phi nơi mà nó đưa tôi đến chính là Marlborough. Tôi càng mạnh dạn nhắc đến nó ở đây, bởi tôi đoán rằng ở bất kỳ thị trấn nào cũng có lấy một hoặc hai con đường như thế.
CON ĐƯỜNG MARLBOROUGH CỔ.
Nơi người ta từng đào mìn tìm vàng,
Nhưng chẳng bao giờ thấy bóng dáng;
Nơi thỉnh thoảng gã Martial Miles
Lẻ loi bước đi từng hàng,
Cùng Elijah Wood,
Kẻ tôi e chẳng mang ý tốt:
Chẳng còn ai khác,
Ngoại trừ Elisha Dugan —
Hỡi con người của chốn hoang dã,
Của gà gô và thỏ rừng,
Kẻ chẳng vướng bận điều chi
Ngoài việc giăng bẫy khắp chốn,
Kẻ sống cảnh đơn độc một mình,
Đến tận xương tủy cạn khô;
Và nơi cuộc sống ngọt ngào nhất
Cũng là lúc ngấu nghiến không ngừng.
Khi mùa xuân khơi dậy dòng máu trong tôi
Bằng bản năng thèm thuồng những chuyến đi,
Tôi có thể tìm thấy đủ sỏi đá ê chề
Trên Con đường Marlborough Cổ.
Chẳng một ai thèm tu sửa,
Bởi chẳng mấy ai qua lại nơi này;
Đó là một con đường đang sống,
Như lời các tín đồ thường hay.
Chẳng có mấy người
Đặt chân bước tới nơi đây,
Ngoài những vị khách ghé thăm
Của gã Ailen tên Quin.
Nó là cái gì, nó là cái gì
Nếu không phải là một hướng đi chốn ấy,
Cùng một chút hy vọng mong manh
Về việc đi đến một nơi nào đó?
Những tấm biển chỉ đường bằng đá to lớn,
Nhưng bóng lữ khách thì hoàn toàn không;
Những ngôi mộ chiêu hồn của các thị trấn
Được khắc tên trên đỉnh chóp oai phong.
Thật đáng công đến tận nơi chiêm ngưỡng
Nơi mà bạn có thể đặt chân đến đó.
Chẳng biết vị vua nào
Đã làm nên điều đó,
Tôi vẫn mãi hoài nghi tự hỏi;
Được dựng lên ra sao, vào lúc nào,
Bởi những vị hội đồng nào,
Gourgas hay Lee,
Clark hay Darby?
Đó là một nỗ lực lớn lao
Để trường tồn mãi cùng năm tháng;
Những phiến đá trống trơn không chữ,
Nơi một lữ khách có thể cất tiếng thở than,
Và chỉ trong một câu văn
Khắc trọn vẹn những điều người đời biết rõ
Để kẻ khác có thể đọc lên
Trong cơn khốn cùng tột độ.
Tôi biết một hoặc hai câu thơ
Có thể dùng vừa vặn,
Thứ văn chương có thể đứng vững
Khắp mọi miền đất nước,
Mãnh lực khiến một người có thể nhớ hoài
Cho đến tận tháng Chạp năm sau,
Và đọc lại khi mùa xuân tới,
Sau những ngày băng tuyết tan mau.
Nếu với trí tưởng tượng buông lơi
Bạn bước ra khỏi tổ ấm của mình,
Bạn có thể đi vòng quanh thế giới
Trên Con đường Marlborough Cổ.
Hiện tại, ở vùng lân cận này, phần đất đai tuyệt vời nhất vẫn chưa thuộc về sở hữu tư nhân; cảnh quan vẫn chưa bị đóng dấu chủ quyền, và người đi bộ được hưởng sự tự do tương đối. Nhưng rất có thể ngày đó sẽ đến, khi mà nó bị chia cắt thành những cái gọi là khu vui chơi giải trí, nơi mà một số ít người chỉ có thể tận hưởng niềm vui chật hẹp và độc quyền — khi những hàng rào mọc lên ngày một nhiều, những cạm bẫy bắt người và các cỗ máy khác được phát minh ra để ép con người phải đi trong khuôn viên đường công cộng, và việc đi dạo trên bề mặt trái đất của Thượng đế sẽ bị khép tội là xâm phạm phần đất tư của một quý ông nào đó. Tận hưởng một thứ gì đó một cách độc quyền thường cũng đồng nghĩa với việc tự tước đi khả năng tận hưởng trọn vẹn chân chính của nó. Vậy thì, hãy tận dụng thật tốt những cơ hội của chúng ta, trước khi những ngày tháng tồi tệ ấy kéo đến.
Điều gì khiến cho đôi khi việc quyết định chúng ta sẽ đi bộ đi đâu lại trở nên khó khăn đến thế? Tôi tin rằng có một thứ từ tính tinh tế ẩn chứa trong Tự nhiên, nếu chúng ta vô thức nương theo nó, nó sẽ dẫn dắt chúng ta đi đúng hướng. Việc chúng ta đi theo hướng nào không hề là chuyện vô tình hay vô nghĩa. Luôn có một con đường đúng đắn; nhưng chúng ta lại rất dễ vì sự lơ đễnh và ngu ngốc mà bước nhầm vào con đường sai lầm. Chúng ta hằng mong muốn thực hiện chuyến đi dạo ấy — chưa từng được ai thực hiện trước đó — qua thế giới thực tại này, một chuyến đi hoàn toàn mang tính biểu tượng cho con đường mà chúng ta yêu thích được dấn thân trong thế giới nội tâm và lý tưởng; và đôi khi, chắc chắn rằng chúng ta thấy khó khăn trong việc chọn lựa hướng đi, bởi vì nó vẫn chưa hiện hữu một cách rõ ràng trong tâm trí ta.
Khi tôi bước ra khỏi nhà để đi dạo, lòng vẫn còn hoang mang chưa biết sẽ rẽ bước về đâu, và phó mặc cho bản năng quyết định thay mình, tôi nhận ra — dù có vẻ kỳ lạ và bất chợt đến thế nào đi nữa — rằng cuối cùng tôi vẫn không tài nào tránh khỏi việc hướng về phía tây nam, nhắm tới một khu rừng, đồng cỏ, đồng hoang bỏ hoang hoặc một ngọn đồi cụ thể nào đó theo hướng ấy. Cây kim la bàn của tôi chuyển động rất chậm — có lệch đi vài độ, và quả thực không phải lúc nào cũng chỉ chính xác hướng tây nam, và nó có đầy đủ lý do chính đáng cho sự lệch lạc đó — nhưng nó luôn dừng lại ở khoảng giữa hướng tây và tây-tây-nam. Tương lai nằm về hướng đó đối với tôi, và trái đất dường như tràn đầy nhựa sống và giàu có hơn ở phía bên ấy. Đường ranh giới vây quanh những chuyến đi dạo của tôi sẽ không phải là một vòng tròn, mà là một đường parabol, hoặc đúng hơn là giống như một trong những quỹ đạo sao chổi vốn được cho là những đường cong không quay trở lại, trong trường hợp này mở rộng về phía tây, nơi ngôi nhà của tôi đóng vai trò như vị trí của mặt trời. Đôi khi tôi cứ xoay người chần chừ hết vòng này đến vòng khác suốt một phần tư tiếng đồng hồ, cho đến khi tôi quyết định, dường như là lần thứ một nghìn, rằng mình sẽ đi bộ về phía tây nam hoặc phía tây. Đi về hướng đông, tôi chỉ đi do bị ép buộc; nhưng đi về hướng tây, tôi cất bước tự do. Chẳng có công danh sự nghiệp nào dẫn dụ tôi về hướng đó. Thật khó cho tôi để tin rằng mình sẽ tìm thấy những khung cảnh tuyệt mỹ hay sự hoang dã và tự do đầy đủ ở phía sau đường chân trời phía đông. Tôi chẳng hề cảm thấy phấn khích trước viễn cảnh đi dạo về hướng ấy; thế nhưng tôi tin rằng khu rừng mà tôi nhìn thấy ở chân trời phía tây cứ trải dài bất tận về phía mặt trời lặn, và chẳng có thị trấn hay thành phố nào ở đó đủ tầm vóc để làm phiền đến tôi. Dù tôi có sống ở đâu đi chăng nữa, phía bên này là thành phố, phía bên kia là chốn hoang vu, và tôi cứ mãi rời xa thành phố ngày một nhiều hơn để rút lui vào chốn hoang dã. Tôi sẽ không đặt nặng vấn đề này đến thế, nếu tôi không tin rằng một điều gì đó tương tự chính là xu hướng chủ đạo của những người đồng bào tôi. Tôi phải bước về phía Oregon, chứ không phải về phía châu أوروبا (châu Âu). Và đó chính là hướng mà quốc gia đang dịch chuyển, và tôi có thể nói rằng nhân loại tiến hóa từ đông sang tây. Chỉ trong vài năm gần đây, chúng ta đã chứng kiến hiện tượng di cư hướng về phía đông nam trong quá trình định cư ở Úc; thế nhưng điều này tác động đến chúng ta như một bước lùi, và nếu đánh giá từ đặc điểm đạo đức và thể chất của thế hệ người Úc đầu tiên, thì đây vẫn chưa phải là một thử nghiệm thành công. Những người Tatar ở phương đông nghĩ rằng chẳng có gì ở phía tây vượt ra ngoài Tây Tạng. “Thế giới kết thúc ở đó,” họ nói; “vượt qua biên giới đó chỉ là một vùng biển vô tận.” Nơi họ sống là một cõi Đông thuần túy, không hề lai tạp.
Chúng ta đi về phía đông để hiện thực hóa lịch sử và nghiên cứu các tác phẩm nghệ thuật lẫn văn học, lần giấu lại những bước chân của nhân loại; chúng ta đi về phía tây tựa như bước vào tương lai, với tinh thần dấn thân và phiêu lưu. Đại Tây Dương là một dòng sông Vong mệnh Lethe, vượt qua nó là lúc chúng ta có cơ hội để quên đi Cựu thế giới cùng các thể chế của nó. Nếu lần này chúng ta không thành công, có lẽ vẫn còn một cơ hội nữa dành cho nhân loại trước khi nó đặt chân lên bờ sông Styx; và cơ hội đó nằm ở dòng sông Vong mệnh của Thái Bình Dương, nơi rộng gấp ba lần.
Tôi không biết điều này mang ý nghĩa lớn lao đến mức nào, hay mức độ biểu hiện cho sự độc lạ của một cá nhân khi đồng điệu trong từng bước đi nhỏ nhặt nhất của mình với chuyển động chung của cả nhân loại; thế nhưng tôi biết rằng có một thứ gì đó tương tự như bản năng di cư ở loài chim và động vật bốn chân — mà trong một số trường hợp được ghi nhận là từng ảnh hưởng đến loài sóc, thôi thúc chúng thực hiện một cuộc di chuyển kỳ bí và toàn diện, trong đó người ta thấy chúng, theo lời một số người, vượt qua cả những con sông rộng lớn nhất, mỗi con bám trên một mảnh dăm gỗ riêng với chiếc đuôi dựng lên làm buồm, và bắc cầu qua những con dòng nhỏ hơn bằng xác của đồng loại — rằng một thứ cuồng nhiệt tương tự vốn ảnh hưởng đến gia súc vào mùa xuân, và được quy cho một loài giun trong đuôi của chúng — đang tác động đến cả các quốc gia lẫn cá nhân, hoặc diễn ra theo chu kỳ năm này qua năm khác, hoặc bùng phát từng hồi. Không một đàn ngỗng trời nào kêu cạc cạc bay qua thị trấn của chúng ta mà không ít nhiều làm lung lay giá trị bất động sản ở đây, và nếu tôi là một nhà môi giới, có lẽ tôi sẽ phải tính đến sự xáo trộn đó.
“Khi lòng người rộn ràng đi trẩy hội,
Và đoàn hành hương tìm kiếm những phương trời xa.”
Mỗi buổi hoàng hôn mà tôi chứng kiến đều khơi gợi trong tôi niềm khao khát được đến một miền Tây xa xôi và đẹp đẽ hệt như chốn mà mặt trời đang lặn xuống. Ngài dường như di cư về hướng tây mỗi ngày, và cám dỗ chúng ta bước theo. Ngài chính là Tiên phong Vĩ đại của Phương Tây mà muôn dân đang dõi theo bước chân. Chúng ta mơ màng suốt cả đêm về những dãy núi ẩn hiện nơi đường chân trời, dẫu cho chúng có thể chỉ là những đám mây mù, nơi vừa được rọi sáng bởi những tia nắng cuối cùng của ngài. Hòn đảo Atlantis, cùng những hòn đảo và khu vườn của các nàng Hesperides, một dạng thiên đường hạ giới, dường như chính là Miền Tây Vĩ đại của người xưa, được bao bọc trong màn sương huyền bí và thơ ca. Đã mấy ai không từng nhìn thấy trong trí tưởng tượng của mình, khi ngắm nhìn bầu trời buổi hoàng hôn, những khu vườn của các nàng Hesperides, và cội nguồn của tất cả những câu chuyện thần thoại ấy?
Columbus cảm nhận được xu hướng hướng tây mạnh mẽ hơn bất kỳ ai trước đó. Ông đã vâng theo tiếng gọi ấy, và tìm ra một Tân Thế giới cho Castile và Leon. Lũ đông đúc con người vào thời buổi ấy đã đánh hơi thấy những đồng cỏ tươi tốt từ tận đằng xa.
“Và giờ đây mặt trời đã trải dài trên những ngọn đồi,
Và giờ đây đã chìm vào vùng vịnh phía tây;
Cuối cùng chàng vươn mình, vén chiếc áo choàng xanh thẫm;
Ngày mai ta đến những cánh rừng tươi và đồng cỏ mới.”
Nơi nào trên quả địa cầu này có thể tìm thấy một vùng diện tích tương đương với phần đất do phần lớn các Bang của chúng ta chiếm giữ, vừa màu mỡ, phong phú và đa dạng về sản vật, lại vừa thích hợp cho người châu Âu sinh sống đến thế? Michaux, người chỉ mới biết một phần trong số đó, nói rằng “các loài cây lớn ở Bắc Mỹ phong phú hơn rất nhiều so với ở châu Âu; tại Hợp chủng quốc có hơn một trăm bốn mươi loài có chiều cao vượt quá ba mươi feet, trong khi ở Pháp chỉ có ba mươi loài đạt đến kích thước này.” Những nhà thực vật học đời sau càng lúc càng củng cố thêm quan sát của ông. Humboldt đã đến châu Mỹ để hiện thực hóa những giấc mơ thời trẻ về một hệ thực vật nhiệt đới, và ông đã chiêm ngưỡng nó ở mức độ hoàn hảo nhất trong những khu rừng nguyên sinh của lưu vực sông Amazon, chốn hoang dã khổng lồ nhất trên trái đất mà ông đã miêu tả bằng một ngòi bút đầy hùng biện. Nhà địa lý học Guyot, bản thân là một người châu Âu, còn đi xa hơn nữa — xa hơn mức tôi sẵn sàng bước theo; thế nhưng không phải khi ông phát biểu rằng: “Giống như thực vật được tạo ra cho động vật, giống như thế giới thực vật được tạo ra cho thế giới động vật, châu Mỹ được sinh ra dành cho con người của Cựu thế giới... Con người của Cựu thế giới bắt đầu cuộc hành trình của mình. Rời khỏi những cao nguyên châu Á, hắn di chuyển từ trạm dừng này sang trạm dừng khác hướng về phía châu Âu. Mỗi bước chân của hắn đều được đánh dấu bằng một nền văn minh mới vượt trội hơn nền văn minh trước đó, với một khả năng phát triển mạnh mẽ hơn. Khi đến Đại Tây Dương, hắn dừng chân trên bờ biển của đại dương vô danh này, nơi mà giới hạn của nó hắn không hề biết, và quay đầu nhìn lại những dấu chân của chính mình trong chốc lát.” Khi hắn đã khai thác cạn kiệt mảnh đất màu mỡ của châu Âu và lấy lại sức mạnh, “khi ấy sự nghiệp phiêu lưu hướng về phía tây lại tái diễn hệt như thuở hồng hoang.” Lời của Guyot là vậy.
Từ xung lực hướng tây này khi va phải bức tường chắn của Đại Tây Dương đã khai sinh ra thương mại và tinh thần doanh thương của thời đại hiện đại. Michaux con, trong chuyến Du hành phía Tây dãy Alleghanies vào năm 1802, kể rằng câu hỏi thường gặp ở miền Tây mới định cư là: “‘Anh đến từ phần nào của thế giới vậy?’ Cứ như thể những vùng đất mênh mông và màu mỡ này tự nhiên trở thành nơi hội tụ và quê hương chung của tất cả cư dân trên địa cầu.”
Mượn một từ tiếng Latinh đã lỗi thời, tôi có thể nói rằng: Ex oriente lux; ex occidente FRUX. Từ phương Đông là ánh sáng; từ phương Tây là hoa trái.
Ngài Francis Head, một nhà thám hiểm người Anh kiêm Toàn quyền Canada, cho chúng tôi biết rằng “ở cả hai bán cầu bắc và nam của Tân Thế giới, Tự nhiên không chỉ phác thảo các tác phẩm của mình trên một quy mô lớn hơn, mà còn tô điểm toàn bộ bức tranh bằng những gam màu rực rỡ và đắt giá hơn nhiều so với những gì bà từng dùng để phác họa và làm đẹp Cựu thế giới... Bầu trời của châu Mỹ dường như cao vô tận, bầu trời xanh ngắt hơn, không khí trong lành hơn, cái lạnh buốt giá hơn, mặt trăng trông lớn hơn, các vì sao rực rỡ hơn, tiếng sấm đanh hơn, tia chớp lóe sáng hơn, gió thổi mạnh hơn, mưa trút nặng hạt hơn, núi non cao hơn, sông ngòi dài hơn, rừng rậm vĩ đại hơn, những đồng cỏ mênh mông hơn.” Nhận định này ít ra cũng đủ để đối trọng lại bản miêu tả của Buffon về phần thế giới này cùng những sản vật của nó.
Linnæus từng nói từ lâu lắm rồi, “Nescio quæ facies læta, glabra plantis Americanis” (Tôi chẳng hiểu vì sao lại có nét tươi vui và mượt mà trong diện mạo của thực vật châu Mỹ); và tôi nghĩ rằng ở đất nước này không có, hoặc tối đa là có rất ít, Africanæ bestiæ, những loài thú châu Phi như cách người La Mã từng gọi, và rằng về mặt này, nó cũng vô cùng thích hợp cho con người sinh sống. Người ta kể rằng cách trung tâm thành phố Singapore ở Đông Ấn chưa đầy ba dặm, một số cư dân vẫn bị hổ bắt đi mỗi năm; thế nhưng lữ khách có thể nằm ngủ trong rừng vào ban đêm ở hầu hết mọi nơi tại Bắc Mỹ mà chẳng cần phải sợ hãi các loài mãnh thú.
Đó là những minh chứng đầy khích lệ. Nếu mặt trăng ở đây trông lớn hơn ở châu Âu, thì có lẽ mặt trời cũng trông lớn hơn vậy. Nếu bầu trời châu Mỹ có vẻ cao vô tận và các vì sao rực rỡ hơn, tôi tin rằng những sự thật ấy chính là biểu tượng cho độ cao mà triết học, thi ca và tôn giáo của cư dân nơi đây có thể vươn tới vào một ngày nào đó. Rất có thể, cuối cùng thì bầu trời vô hình cũng sẽ xuất hiện cao hơn đối với tâm thức người Mỹ, và những điềm báo thắp sáng các vì sao cũng rực rỡ bấy nhiêu. Bởi tôi tin rằng khí hậu có khả năng tác động phản hồi lên con người như thế — giống như có một cái gì đó trong không khí miền núi nuôi dưỡng tâm hồn và truyền cảm hứng. Liệu con người có đạt đến sự hoàn thiện lớn hơn cả về mặt trí tuệ lẫn thể chất dưới những ảnh hưởng này hay không? Hay việc có bao nhiêu ngày u ám trong đời chẳng có gì quan trọng? Tôi tin rằng chúng ta sẽ giàu trí tưởng tượng hơn, rằng những suy nghĩ của chúng ta sẽ trong trẻo, tươi mới và mang đậm chất thơ hơn, giống như bầu trời của chúng ta — rằng sự hiểu biết sẽ bao quát và rộng lớn hơn, giống như những đồng cỏ của chúng ta — rằng trí tuệ nói chung sẽ ở một tầm vóc vĩ đại hơn, giống như sấm chớp, sông ngòi, núi non và rừng rậm của chúng ta — và trái tim chúng ta thậm chí sẽ tương xứng về độ rộng lớn, chiều sâu và sự vĩ đại với những vùng biển nội địa của chúng ta. Rất có thể du khách sẽ nhìn thấy một điều gì đó, anh ta chẳng biết là gì, mang nét læta và glabra, sự tươi vui và thanh thản, ngay trên khuôn mặt của chúng ta. Bằng không thì thế giới tiếp tục tiến bước nhằm mục đích gì, và tại sao châu Mỹ lại được phát hiện ra?
Với những người Mỹ, tôi hầu như không cần phải nhắc lại —
“Hướng về phương Tây, ngôi sao đế quốc bước đi.”
Là một người yêu nước chân chính, tôi sẽ cảm thấy xấu hổ nếu nghĩ rằng Adam ở chốn thiên đường xét cho cùng lại có vị trí thuận lợi hơn so với những người khai hoang vùng rừng núi ở đất nước này.
Tình cảm của chúng tôi ở Massachusetts không chỉ bó hẹp trong vùng New England; dẫu cho chúng tôi có thể xa cách với miền Nam, chúng tôi vẫn đồng điệu với miền Tây. Đó chính là quê hương của những người con thứ, giống như người Scandinavia từng vươn ra biển để nhận phần di sản của mình. Đã quá muộn để đi nghiên cứu tiếng Hebrew; việc thấu hiểu ngay cả tiếng lóng của ngày hôm nay còn quan trọng hơn nhiều.
Cách đây vài tháng, tôi đã đi xem một bức tranh toàn cảnh về dòng sông Rhine. Nó giống như một giấc mơ của thời Trung cổ. Tôi trôi dạt dọc theo dòng sông lịch sử ấy bằng một thứ vượt xa cả trí tưởng tượng, lướt qua những cây cầu do người La Mã xây dựng và được trùng tu bởi các anh hùng đời sau, lướt qua những thành phố và lâu đài mà từng cái tên vang lên đều ngọt ngào như âm nhạc bên tai tôi, và mỗi nơi lại gắn liền với một truyền thuyết. Nào là Ehrenbreitstein, Rolandseck và Coblentz, những cái tên mà tôi chỉ biết đến qua sách sử. Chúng là những phế tích gợi cho tôi nhiều hứng thú nhất. Dường như tỏa lên từ làn nước, từ những sườn đồi và thung lũng phủ đầy dây leo ấy là một thứ âm nhạc trầm lắng tựa như tiếng lòng của những chiến sĩ thập tự chinh đang lên đường đến Đất Thánh. Tôi trôi đi dưới một câu thần chú mê hoặc, hệt như thể mình vừa được dịch chuyển về một thời đại anh hùng, và đang hít thở bầu không khí hiệp nghĩa.
Chẳng bao lâu sau, tôi đi xem một bức tranh toàn cảnh về dòng sông Mississippi, và khi tôi xuôi dòng ngược lên con sông dưới ánh sáng của thực tại hôm nay, ngắm nhìn những chiếc tàu thủy đang nạp củi, đếm những thành phố đang vươn mình mọc lên, ngắm nhìn những phế tích còn mới nguyên của Nauvoo, chứng kiến người da đỏ đang di chuyển về phía tây băng qua dòng nước, và — cũng như trước kia tôi từng ngắm nhìn sông Moselle — giờ đây tôi nhìn lên sông Ohio và sông Missouri, lắng nghe những truyền thuyết về Dubuque và vách đá Wenona — lòng vẫn mải nghĩ về tương lai nhiều hơn là quá khứ hay hiện tại — tôi nhận ra rằng đây là một dòng sông Rhine mang một sắc thái khác; rằng nền móng của những lâu đài vẫn còn phải chờ được đặt xuống, và những cây cầu nổi tiếng vẫn chưa được bắc qua sông; và tôi cảm thấy rằng đây chính là thời đại anh hùng thực sự, dẫu cho chúng ta không hề hay biết, bởi vì người anh hùng thường là những con người bình dị và vô danh nhất.
Miền Tây mà tôi đang nhắc đến chẳng qua chỉ là một tên gọi khác của Sự Hoang dã; và điều mà tôi vẫn luôn chuẩn bị nói từ nãy đến giờ chính là, nằm trong Sự Hoang dã là sự bảo tồn của Cõi Thế. Mỗi cái cây đều vươn những thớ sợi của mình ra để tìm kiếm Sự Hoang dã. Các thành phố lùng sục mua lấy nó bằng bất cứ giá nào. Con người cày bới và giương buồm ra khơi vì nó. Từ rừng sâu và chốn hoang vu xuất hiện những vị thuốc bổ và vỏ cây giúp củng cố tinh thần nhân loại. Tổ tiên của chúng ta vốn là những kẻ dã man. Câu chuyện Romulus và Remus được bú mớm bởi một con sói không phải là một giai thoại vô nghĩa. Những người sáng lập ra mọi quốc gia vươn lên đỉnh cao đều rút tỉa nguồn dinh dưỡng và sức mạnh từ một cội nguồn hoang dã tương tự. Chính vì những đứa con của Đế chế đã không được bú mớm bởi loài sói nên họ đã bị chinh phục và thay thế bởi những đứa con của các khu rừng phương bắc — những kẻ đã được bú mớm như thế.
Tôi đặt niềm tin vào khu rừng, vào đồng cỏ, và vào màn đêm nơi hạt bắp nảy mầm. Chúng ta cần một sự hòa quyện của lá thông hemlock hoặc cây tuyết tùng arbor vitæ trong tách trà của mình. Có sự khác biệt giữa việc ăn uống để lấy sức mạnh với việc ăn uống chỉ vì thói phàm ăn tục uống. Người Hottentot ngấu nghiến phần tủy của linh dương koodoo và các loài linh dương khác khi còn sống tươi như một điều hiển nhiên. Một số thổ dân da đỏ ở phương bắc của chúng ta ăn tươi phần tủy của tuần lộc Bắc Cực, cùng với nhiều bộ phận khác, bao gồm cả phần chóp sừng khi chúng vẫn còn mềm. Và rất có thể, ở điểm này họ đã đi trước các đầu bếp Paris một bước. Họ thu được thứ mà lẽ ra thường bị vứt vào lửa để đốt đi. Điều này có lẽ còn tốt hơn thịt bò nuôi chuồng và thịt lợn lò mổ trong việc nhào nặn nên một con người thực thụ. Hãy cho tôi một sự hoang dã mà không một nền văn minh nào có thể chịu đựng nổi ánh mắt của nó — hệt như thể chúng ta đang sống bằng tủy của những con linh dương koodoo ăn sống vậy.
Có những khoảng không gian nằm ven khúc hót của loài chim hoạ mi rừng, nơi tôi muốn di cư đến — những vùng đất hoang vu chưa có kẻ khai hoang nào dựng lều; nơi mà, ngẫm lại, tôi cảm thấy mình đã sớm thích nghi.
Gã thợ săn người châu Phi Cumming kể cho chúng ta nghe rằng bộ da của con linh dương eland, cũng như của hầu hết các loài linh dương khác vừa bị giết thịt, tỏa ra một thứ hương thơm vô cùng tuyệt diệu của cây cỏ. Tôi muốn mỗi người đàn ông đều giống như một con linh dương hoang dã, hòa quyện làm một với Tự nhiên đến mức chính cơ thể anh ta cũng tỏa hương thơm ngát để đánh thức các giác quan của chúng ta về sự hiện diện của anh ta, đồng thời gợi nhắc chúng ta về những chốn hoang sơ trong tự nhiên mà anh ta hay lui tới nhất. Tôi chẳng hề có chút ý định mỉa mai nào khi chiếc áo khoác của gã thợ săn vẫn còn thoang thoảng mùi của loài chuột xạ musquash; đối với tôi, đó là một thứ hương thơm dễ chịu hơn nhiều so với thứ mùi thường tỏa ra từ y phục của những thương gia hay học giả. Khi tôi bước vào tủ quần áo của họ và chạm vào những tấm áo choàng ấy, thứ mà tôi nhớ đến không phải là những đồng cỏ xanh ngắt hay cánh đồng hoa rực rỡ mà họ từng ghé qua, mà là những sàn giao dịch buôn bán đầy bụi bặm và các phòng đọc sách thì đúng hơn.
Một làn da rám nắng là điều gì đó vượt trên cả sự đáng kính, và có lẽ màu ô liu là màu sắc thích hợp hơn cho con người — một công dân của rừng thẳm — so với màu trắng. “Gã da trắng bệch!” Tôi chẳng lấy gì làm ngạc nhiên khi người châu Phi cảm thấy thương hại hắn ta. Nhà tự nhiên học Darwin từng nói, “Một gã da trắng tắm suối cạnh một người Tahiti trông chẳng khác nào một cái cây bị tẩy trắng bằng nghệ thuật của người làm vườn, nếu đặt cạnh một thân cây xanh thẫm khỏe mạnh đang vươn mình mạnh mẽ giữa đồng nội.”
Ben Jonson từng thốt lên rằng: —
“Cái đẹp gần gũi biết bao với sự lương thiện!”
Thế nên tôi cũng muốn nói rằng: —
“Sự hoang dã gần gũi biết bao với điều thiện!”
Sự sống luôn đi liền với sự hoang dã. Kẻ nào tràn trề sức sống nhất cũng chính là kẻ hoang dã nhất. Vẫn chưa bị con người thuần hóa, sự hiện diện của nó mang lại sự tươi mới cho anh ta. Một kẻ tiến bước không ngừng nghỉ và chẳng bao giờ ngơi nghỉ khỏi những lao động của mình, kẻ lớn lên nhanh chóng và đưa ra vô vàn đòi hỏi đối với cuộc sống, sẽ luôn thấy mình đang ở trong một vùng đất mới hay chốn hoang vu, được bao bọc bởi nguyên liệu thô của sự sống. Anh ta sẽ phải trèo qua những thân cây đổ rạp của những khu rừng nguyên sinh.
Niềm hy vọng và tương lai đối với tôi không nằm ở những thảm cỏ và cánh đồng canh tác, không nằm trong các thị trấn và thành phố, mà nằm ở những đầm lầy hiểm trở và rung rinh bùn nhão. Trước đây, khi phân tích sự ưu ái của mình dành cho một trang trại nào đó mà tôi từng có ý định mua lại, tôi thường phát hiện ra rằng mình bị thu hút hoàn toàn chỉ bởi vài sào đất đầm lầy không tài nào bước chân vào hay đo đạc được độ sâu — một cái hố tự nhiên nằm ở một góc của nó. Đó chính là viên ngọc quý làm tôi chói mắt. Tôi thu nhặt phần lớn sự sinh tồn của mình từ những đầm lầy bao quanh thị trấn quê hương hơn là từ những khu vườn được canh tác trong làng. Đối với mắt tôi, chẳng có thảm hoa nào giàu có hơn những khóm cây diệp viễn đông đặc (Cassandra calyculata) đang phủ kín những khoảng đất mềm mại này trên bề mặt trái đất. Ngành thực vật học tối đa cũng chỉ có thể cho tôi biết tên của những loài cây bụi mọc ở đó — quả việt quất cao, diệp viễn mọc tán, cây diệt cừu, đỗ quyên và hoa hồng đỗ quyên — tất cả đều đứng giữa lớp rêu bùn sphagnum rung rinh. Tôi thường nghĩ rằng mình rất muốn đặt mặt tiền nhà mình hướng vào khối cây bụi đỏ sậm này, bỏ qua những luống hoa hay đường viền khác, những cây vân sam được tỉa tót gọn gàng hay hàng rào được cắt cấy ngay ngắn, thậm chí cả những lối đi rải sỏi — để có được mảnh đất màu mỡ này ngay dưới cửa sổ của mình, chứ không phải mấy xe đất được chở đến từ nơi khác chỉ để lấp đi lớp cát bị đào lên khi khoét hầm nhà. Tại sao lại không đặt ngôi nhà của mình, phòng khách của mình, đằng sau mảnh đất này, thay vì đằng sau cái tập hợp nghèo nàn những món đồ kỳ quặc, cái sự ngụy trang tội nghiệp cho Tự nhiên và nghệ thuật mà tôi vẫn gọi là mảnh sân trước nhà? Đó chỉ là một nỗ lực để dọn dẹp cho sạch sẽ và tạo ra một vẻ bề ngoàimỉm mai tươm tất khi người thợ mộc và thợ hồ đã ra về, dẫu cho việc đó được làm cốt để chiều lòng kẻ qua đường nhiều hơn là người cư ngụ bên trong. Hàng rào sân trước được thiết kế tinh tế nhất chưa bao giờ là một đối tượng dễ chịu để tôi ngắm nghía; những món đồ trang trí cầu kỳ nhất, hình chóp quả sồi, hay bất cứ thứ gì đi nữa, rồi cũng sẽ sớm làm tôi mệt mỏi và chán ngấy. Vậy thì, hãy đưa những thanh dầm nhà sát tận mép đầm lầy đi (dẫu đó có thể không phải là nơi tốt nhất cho một cái hầm khô ráo), sao cho ở phía đó không có lối đi nào cho bọn người thành thị bén mảng tới. Sân trước không phải được làm ra để đi dạo, mà tối đa chỉ là để bước qua, và bạn hoàn toàn có thể đi bằng lối cửa sau.
Phải, dẫu cho các vị có cho rằng tôi là kẻ lệch lạc đi chăng nữa, nếu tôi được đặt trước sự lựa chọn giữa việc sống bên cạnh khu vườn đẹp nhất mà nghệ thuật nhân loại từng tạo ra, hay thay vào đó là một vùng đầm lầy ảm đạm, tôi chắc chắn sẽ chọn đầm lầy. Hỡi những thị dân, hóa ra tất cả những nhọc nhằn lao tâm khổ tứ của các vị từ trước đến nay đối với tôi mới vô ích làm sao!
Tâm trạng của tôi chắc chắn sẽ phấn chấn lên tỷ lệ thuận với vẻ ảm đạm bên ngoài. Hãy cho tôi đại dương, sa mạc, hoặc chốn hoang dã! Giữa sa mạc, bầu không khí trong lành và sự cô tịch sẽ bù đắp cho sự thiếu hụt độ ẩm và độ màu mỡ. Nhà thám hiểm Burton từng nói về nó rằng — “Tinh thần của bạn trở nên tốt hơn; bạn trở nên bộc trực và hòa nhã, hiếu khách và thuần phu... Giữa sa mạc, những thức uống có cồn chỉ gây ra sự ghê tởm. Có một niềm khoái cảm mãnh liệt trong một sự tồn tại thuần túy mang tính bản năng.” Những ai từng trải qua hành trình dài trên các thảo nguyên xứ Tartary đều nói rằng: “Khi đặt chân trở lại những vùng đất đã qua canh tác, sự xáo trộn, bối rối và hỗn loạn của nền văn minh đã áp đảo và bóp nghẹt chúng tôi; không khí dường như cạn kiệt, và chúng tôi cảm thấy từng khoảnh khắc như sắp chết vì ngạt thở.” Khi muốn tìm lại sự thư thái cho tâm hồn, tôi lại tìm về khu rừng tối tăm nhất, đầm lầy rậm rạp nhất, bất tận nhất và đối với thị dân là ảm đạm nhất. Tôi bước vào một đầm lầy như bước vào một chốn linh thiêng — một thánh địa tối cao sanctum sanctorum. Ở đó chứa đựng sức mạnh, là phần tủy xương của Tự nhiên. Khu rừng hoang dã bao phủ lên lớp đất mùn nguyên thủy — và chính thứ thổ nhưỡng ấy vừa tốt cho con người lại vừa tốt cho cây cối. Sức khỏe của một người đòi hỏi phải có một diện tích đồng cỏ phóng tầm mắt rộng lớn tương ứng với số xe đất mục mà trang trại của anh ta cần. Đó chính là nguồn thực phẩm bổ dưỡng giúp anh ta nuôi dưỡng thân thể. Một thị trấn được cứu rỗi, xét cho cùng, không chỉ nhờ những con người lương thiện sống trong đó mà còn nhờ cả những khu rừng và đầm lầy bao quanh nó. Một vùng đất mà ở đó một khu rừng nguyên sinh vươn tán rợp bóng bên trên trong khi một khu rừng nguyên sinh khác đang mục nát bên dưới — một thị trấn như thế không chỉ thích hợp để trồng bắp và khoai tây, mà còn là nơi sinh thành những nhà thơ và triết học cho các thế hệ mai sau. Trong một thổ nhưỡng như thế đã nuôi dưỡng nên Homer và Khổng Tử cùng những bậc hiền triết khác, và từ chốn hoang dã ấy bước ra nhà cải cách ăn châu chấu và mật ong rừng.
Bảo tồn động vật hoang dã thường đồng nghĩa với việc tạo ra một khu rừng để chúng sinh sống hoặc lui tới. Con người cũng vậy. Một trăm năm trước, người ta buôn bán vỏ cây trên các con phố của chúng ta — thứ vỏ được lột ra từ chính những khu rừng của chúng ta. Ngay trong diện mạo của những thân cây nguyên sinh và xù xì ấy, ngẫm lại, dường như ẩn chứa một nguyên lý làm da thuộc có khả năng tôi luyện và củng cố các thớ sợi trong suy nghĩ của con người. Ồ! Tôi đã bắt đầu cảm thấy rùng mình trước những ngày tháng tương đối suy đồi này tại ngôi làng quê hương, khi mà người ta không thể gom nổi một xe vỏ cây có độ dày tử tế, và chúng ta thì chẳng còn sản xuất nổi hắc ín hay nhựa thông.
Các quốc gia văn minh — Hy Lạp, La Mã, Anh Quốc — từng được nuôi dưỡng bởi những khu rừng nguyên sinh vốn từng mục nát tại chỗ từ thuở xa xưa. Chúng vẫn tồn tại chừng nào thổ nhưỡng chưa bị vắt kiệt. Khốn thay cho nền văn hóa nhân loại! Chẳng mấy hy vọng có thể đặt vào một quốc gia khi lớp mùn thực vật đã cạn kiệt, và nó bị buộc phải lấy xương cốt của tổ tiên mình ra để làm phân bón. Ở nơi đó, nhà thơ tự duy trì sự sống chỉ bằng lớp mỡ thừa của chính mình, còn triết gia thì quỳ sụp xuống cả hai đầu gối bợ đỡ.
Người ta nói rằng nhiệm vụ của người Mỹ là “khai phá mảnh đất trinh nguyên,” và rằng “nông nghiệp ở đây đã sớm mang những quy mô không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác.” Tôi nghĩ rằng người nông dân đẩy lùi người da đỏ chính vì anh ta cải tạo đồng cỏ, và nhờ đó tự làm cho mình trở nên mạnh mẽ hơn và ở một mức độ nào đó gần gũi với tự nhiên hơn. Hôm nọ tôi đang đo đạc đất đai cho một người, một đường thẳng tắp dài một trăm ba mươi hai sào, băng qua một đầm lầy mà ngay tại lối vào của nó có lẽ người ta nên khắc dòng chữ mà Dante từng đọc được trên cửa lõi âm phủ — “Hãy từ bỏ mọi hy vọng, hỡi những ai bước vào đây” — nghĩa là hy vọng có thể quay trở ra một lần nữa; nơi mà có lúc tôi tận mắt chứng kiến người chủ thuê mình ngập đến cổ và phải bơi vùng vẫy để giữ mạng giữa tài sản của lão, dẫu lúc đó trời vẫn còn là mùa đông. Lão còn có một đầm lầy tương tự khác mà tôi hoàn toàn không thể đo đạc nổi vì nó hoàn toàn chìm dưới nước, thế nhưng, đối với một đầm lầy thứ ba mà tôi thực sự đo đạc từ đằng xa, lão đã thốt lên với tôi, đúng với bản năng của mình, rằng lão sẽ không bao giờ bán nó với bất kỳ giá nào, chỉ vì lớp bùn mà nó chứa đựng. Và gã đàn ông ấy dự định sẽ đào một con mương bao quanh toàn bộ khu vực trong vòng bốn mươi tháng tới, để từ đó cải tạo nó bằng phép thuật của chiếc xẻng. Tôi nhắc đến lão chỉ như một điển hình tiêu biểu cho cả một tầng lớp.
Những thứ vũ khí giúp chúng ta giành được những chiến thắng quan trọng nhất, những thứ lẽ ra phải được truyền đời từ cha sang con như những bảo vật gia truyền, không phải là gươm giáo, mà là dao phát quang, dao cắt cỏ, cái xẻng, và cuốc bổ đầm lầy — đã hoen gỉ vì máu của bao mảnh đồng cỏ và lem luốc bụi bặm của bao chiến trường khốc liệt. Những cơn gió từng thổi bạt cả ruộng bắp của người da đỏ vào đầm lầy, đồng thời chỉ ra con đường mà anh ta không đủ tài khéo để noi theo. Anh ta chẳng có công cụ nào tốt hơn một chiếc vỏ sò để tự bám rễ vào mảnh đất này. Thế nhưng người nông dân lại được vũ trang đầy đủ bằng cày và xẻng.
Trong văn chương, chỉ có sự hoang dã mới thu hút chúng ta. Sự tẻ nhạt chẳng qua chỉ là một tên gọi khác của sự thuần hóa. Chính tư duy hoang dã, tự do và không bị kìm kẹp trong Hamlet và Iliad, trong tất cả các kinh thư và thần thoại — những thứ không được học nhặt qua các trường lớp — mới là điều làm chúng ta say mê. Giống như vịt trời nhanh nhẹn và xinh đẹp hơn vịt nhà, suy nghĩ hoang dã — loài vịt mòng két — bay lượn qua những đầm lầy giữa màn sương rây hạt cũng đẹp đẽ nhường ấy. Một cuốn sách thực sự hay mang tính tự nhiên, đầy bất ngờ, kỳ diệu và hoàn hảo đến khó tả, hệt như một bông hoa dại được phát hiện trên những đồng cỏ hoang phía tây hoặc trong những khu rừng rậm phương đông. Thiên tài là thứ ánh sáng làm cho bóng tối trở nên rõ mồn một, giống như tia chớp lóe lên, có lẽ đập nát cả ngôi đền tri thức — chứ không phải một ngọn đèn cầy được thắp lên từ bếp lửa của nhân loại, vốn sẽ nhợt nhạt trước ánh sáng ban ngày.
Văn học Anh, từ thời của những nghệ sĩ hát rong cho đến các Nhà thơ Hồ nước — Chaucer, Spenser, Milton, và thậm chí bao gồm cả Shakespeare — hoàn toàn không mang một âm hưởng tươi mới và mang tính hoang dã theo nghĩa này. Đó chủ yếu là một nền văn học mang tính thuần hóa và văn minh, phản chiếu lại Hy Lạp và La Mã. Chốn hoang vu của xứ sở ấy chỉ là một khu rừng xanh lá, và kẻ hoang dã của họ chỉ là một Robin Hood. Ở đó có rất nhiều tình yêu mến tự nhiên nồng nhiệt, nhưng lại thiếu vắng chính bản thân Tự nhiên. Những biên niên sử của họ cho biết thời điểm các loài động vật hoang dã tuyệt chủng, nhưng lại bỏ ngỏ thời điểm mà kẻ hoang dã trong lòng xứ sở ấy tàn lụi.
Khoa học của Humboldt là một chuyện, thi ca lại là một chuyện khác. Nhà thơ ngày nay, bất chấp mọi khám phá của khoa học và khối lượng kiến thức tích lũy của nhân loại, cũng chẳng hề chiếm được ưu thế nào so với Homer.
Nền văn học thể hiện tiếng nói của Tự nhiên nằm ở đâu? Kẻ nào có thể khuất phục ngọn gió và dòng sông vào phục vụ cho mình, để chúng cất lời thay anh ta; kẻ nào đóng đinh các từ ngữ vào ý nghĩa nguyên thủy của chúng, giống như người nông dân đóng những chiếc cọc xuống đất vào mùa xuân sau khi bị băng giá đội lên; kẻ nào rút tỉa từ ngữ mỗi khi anh ta dùng đến chúng — cấy ghép chúng lên trang giấy với phần đất bám chặt vào rễ; kẻ có những từ ngữ chân thực, tươi mới và tự nhiên đến mức chúng dường như bung nở như những chồi non khi mùa xuân đến gần, dẫu cho chúng có nằm nửa vùi lấp giữa hai trang sách mốc meo trong một thư viện — vâng, nở hoa và kết trái ở đó theo loài của chúng, năm này qua năm khác, dành cho những độc giả trung thành, hòa nhịp cùng Tự nhiên xung quanh.
Tôi không biết có bài thơ nào để trích dẫn có thể diễn tả một cách thỏa đáng niềm khao khát khôn nguôi này dành cho Sự Hoang dã. Tiếp cận từ góc độ này, những vần thơ hay nhất cũng trở nên tầm thường. Tôi chẳng biết phải tìm ở đâu trong bất kỳ nền văn học nào, cổ đại hay hiện đại, một lời miêu tả làm tôi thỏa mãn về thứ Tự nhiên mà ngay cả bản thân tôi cũng quen thuộc. Các vị sẽ nhận thấy rằng tôi đang đòi hỏi một thứ mà không thời đại Augustan hay Elizabethan nào, ngắn gọn lại là không một nền văn hóa nào có thể ban tặng. Thần thoại đến gần với điều đó hơn bất kỳ thứ gì khác. Tự nhiên của thần thoại Hy Lạp có cội nguồn sâu thẳm và màu mỡ biết bao so với văn học Anh! Thần thoại chính là vụ mùa mà Cựu thế giới gặt hái trước khi thổ nhưỡng bị vắt kiệt, trước khi trí tưởng tượng và sức sáng tạo bị tàn phá bởi sâu bệnh; và đó vẫn là thứ mùa mỡ mà nó tiếp tục sinh sôi ở bất kỳ nơi nào mà sức sống nguyên sơ không bị suy giảm. Mọi nền văn học khác chỉ tồn tại tựa như những hàng cây du che bóng mái nhà chúng ta; thế nhưng thần thoại lại giống như cây huyết kiệt vĩ đại ở Quần đảo Tây phương, cổ xưa ngang với nhân loại, và dù loài cây đó có sống hay không, nó vẫn sẽ trường tồn chừng ấy thời gian; bởi vì sự lụi tàn của các nền văn học khác chính là chất mùn làm cho nó sinh sôi nảy nở.
Miền Tây đang chuẩn bị đưa những câu chuyện hoang đường của mình vào kho tàng cùng với phương Đông. Các thung lũng sông Hằng, sông Nile và sông Rhine sau khi đã dâng hiến mùa màng của mình, giờ đây vẫn còn phải chờ xem những thung lũng của sông Amazon, sông Plate, sông Orinoco, sông St. Lawrence và sông Mississippi sẽ sản sinh ra những gì. Rất có thể, khi qua dòng chảy của thời gian, tự do của nước Mỹ trở thành một huyền thoại của quá khứ — như hiện tại nó đang mang một phần tính chất huyền thoại — các nhà thơ trên thế giới sẽ được truyền cảm hứng bởi thần thoại châu Mỹ.
Ngay cả những giấc mơ hoang đường nhất của những kẻ dã man cũng không vì thế mà bớt đi tính chân thực, dẫu cho chúng có thể không lấy lòng được thứ nhận thức thông thường nhất của người Anh và người Mỹ ngày nay. Không phải chân lý nào cũng tự thân làm vừa lòng nhận thức thông thường. Tự nhiên luôn có chỗ dành cho loài cây clematis hoang dã cũng như cho cây bắp cải. Một số biểu hiện của chân lý mang tính hoài niệm — số khác thuần túy mang tính cảm giác, theo cách gọi thông thường — số khác nữa lại mang tính tiên tri. Thậm chí một số dạng bệnh tật cũng có thể tiên báo cho các hình thái sức khỏe. Nhà địa hình học đã phát hiện ra rằng hình dáng của loài rắn, quái vật griffin, rồng bay và những họa tiết trang trí tưởng tượng khác của huy hiệu học đều có nguyên mẫu trong các hóa thạch từng tuyệt chủng trước khi con người được tạo ra, và do đó “chúng ám chỉ một nhận thức mờ nhạt và mờ ảo về một trạng thái tồn tại hữu cơ trước đó.” Người Hindu từng mơ rằng trái đất nằm trên lưng một con voi, con voi đứng trên một con rùa, và con rùa nằm trên một con rắn; và dẫu đó có thể chỉ là một sự trùng hợp không mấy quan trọng, nhưng việc nêu ra đây rằng gần đây một hóa thạch rùa đã được phát hiện ở châu Á có kích thước đủ lớn để cộng hưởng nâng đỡ một con voi cũng không phải là điều thừa thãi. Tôi thú thực là mình có sự ưu ái đối với những tưởng tượng hoang dã này, những thứ vượt qua cả trật tự của thời gian và sự phát triển. Chúng là hình thức giải trí siêu việt nhất của trí tuệ. Chim gà gô rất thích hạt đậu, nhưng không phải những hạt đậu đi cùng nó vào nồi.
Tóm lại, tất cả những điều tốt đẹp đều hoang dã và tự do. Có một cái gì đó trong một khúc âm thanh, dù được tạo ra bởi nhạc cụ hay giọng nói con người — lấy tiếng kèn tò te vào một đêm mùa hè làm ví dụ chẳng hạn — bằng sự hoang dã của nó, nói không chút mỉa mai, gợi cho tôi nhớ đến những tiếng kêu phát ra từ các loài mãnh thú trong khu rừng nguyên sinh của chúng. Đó chính là phần hoang dã trong chúng mà tôi có thể thấu hiểu. Hãy cho tôi những con người hoang dã làm bạn bè và hàng xóm, chứ đừng là những kẻ thuần hóa. Sự hoang dã của kẻ dã man chỉ là một biểu tượng mờ nhạt về sự cuồng nộ dữ dội mà những người tốt và những tâm hồn yêu tự do gặp gỡ nhau.
Tôi thậm chí còn thích nhìn thấy các loài động vật thuần hóa khẳng định lại quyền lợi nguyên thủy của chúng — bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy chúng chưa đánh mất hoàn toàn thói quen và sức mạnh hoang dã ban đầu; chẳng hạn như khi con bò của người hàng xóm xé rào thoát khỏi bãi cỏ vào đầu mùa xuân và dũng cảm bơi qua dòng sông, một dòng nước xám xịt và lạnh buốt, rộng chừng hai mươi lăm đến ba mươi sào, đang dâng cuồn cuộn vì băng tuyết tan. Hệt như đàn bò rừng bison đang băng qua sông Mississippi. Chiến tích này mang lại cho bầy gia súc một vẻ uy nghi nhất định trong mắt tôi — vốn dĩ chúng đã uy nghi sẵn rồi. Những hạt giống bản năng vẫn được bảo tồn dưới lớp da dày của trâu bò và ngựa, giống như những hạt giống ẩn giấu trong lòng đất qua một khoảng thời gian vô định.
Bất kỳ biểu hiện tinh nghịch nào ở loài gia súc cũng là điều nằm ngoài dự đoán. Một ngày nọ, tôi nhìn thấy một đàn gồm một tá bò đực và bò cái đang chạy nhảy và đùa nghịch trong niềm vui vụng về, hệt như những con chuột khổng lồ, thậm chí giống như những chú mèo con. Chúng lắc đầu, dựng đuôi và lao lên lao xuống ngọn đồi, và tôi nhận ra qua đôi sừng cũng như sự hoạt bát của chúng, mối quan hệ họ hàng của chúng với loài hươu nai. Thế nhưng, khốn thay! Một tiếng thét “Dừng lại!” lớn và bất ngờ sẽ dập tắt ngay lập tức ngọn lửa hăng hái của chúng, biến chúng từ thịt hươu trở lại thành thịt bò, đồng thời làm cứng đờ gân cốt chúng hệt như cỗ xe lửa. Nào ai ngoài Ác quỷ từng thét lên câu “Dừng lại!” với nhân loại? Quả thực, cuộc đời của loài gia súc, cũng giống như cuộc đời của biết bao con người, chỉ là một dạng di chuyển cơ học; chúng nhích từng bên một, và con người, bằng những cỗ máy của mình, đang tiến lại gặp loài ngựa và loài trâu bò ở điểm giữa chừng. Bất kỳ bộ phận nào từng chạm qua ngọn roi đều sẽ bị tê liệt kể từ giây phút ấy. Đố ai có thể nghĩ đến sườn của một loài mèo uyển chuyển nào đó theo cách mà chúng ta nói về sườn bò?
Tôi lấy làm vui mừng khi loài ngựa và bò đực phải bị thuần hóa trước khi chúng có thể trở thành nô lệ của con người, và rằng bản thân con người cũng vẫn còn giữ lại chút ít thói hoang đàng tuổi trẻ để vẫy vùng trước khi họ trở thành những thành viên ngoan ngoãn của xã hội. Không nghi ngờ gì nữa, không phải tất cả mọi người đều là những đối tượng phù hợp như nhau cho nền văn minh; và bởi vì đại đa số, giống như chó và cừu, vốn dĩ đã hiền lành do bản tính di truyền, đó không phải là lý do để bắt những kẻ khác phải bị bẻ gãy bản chất nhằm quy tụ họ về cùng một mức độ ngang bằng. Con người về cơ bản là giống nhau, nhưng họ được tạo ra với những cá tính riêng biệt để có thể trở nên đa dạng. Nếu cần phải phục vụ cho một mục đích thấp kém, một người này sẽ làm tốt gần như hoặc hoàn toàn ngang ngửa một người khác; nhưng nếu là mục đích cao cả, sự xuất sắc cá nhân là điều phải được xem trọng. Bất kỳ ai cũng có thể bịt một cái lỗ để chắn gió, nhưng chẳng có ai khác có thể phục vụ cho một mục đích hiếm có như tác giả của ví dụ này đã làm. Khổng Tử từng nói rằng — “Bộ da của con hổ và con báo, khi đã được thuộc da, cũng chẳng khác nào bộ da của con chó và con cừu được thuộc.” Thế nhưng việc thuần hóa loài hổ không phải là sứ mệnh của một nền văn hóa chân chính, cũng chẳng khác nào việc biến cừu thành loài hung dữ; và việc thuộc da của chúng để làm giày không phải là công dụng tốt nhất mà chúng có thể mang lại.
Khi lướt qua một danh sách tên người bằng một ngôn ngữ nước ngoài, chẳng hạn như tên các sĩ quan quân đội, hoặc các tác giả từng viết về một chủ đề cụ thể nào đó, tôi lại được nhắc nhở một lần nữa rằng chẳng có ý nghĩa gì đằng sau một cái tên cả. Ví dụ, cái tên Menschikoff, đối với tai tôi chẳng mang ý nghĩa con người nào hơn ngoài một sợi râu, và nó hoàn toàn có thể là tên của một con chuột. Tên của người Ba Lan và người Nga đối với chúng ta như thế nào, thì tên của chúng ta đối với họ cũng vậy. Cứ như thể chúng được đặt tên bởi trò chơi con trẻ vô nghĩa — Iery-wiery ichery van, tittle-tol-tan. Tôi nhìn thấy trong tâm trí mình một bầy sinh vật hoang dã đang lúc nhúc khắp mặt đất, và với mỗi con, kẻ chăn gia súc lại gán cho một âm thanh man rợ nào đó trong phương ngữ của riêng hắn. Tên của con người, dĩ nhiên, cũng rẻ mạt và vô nghĩa hệt như Bose và Tray, những cái tên dành cho loài chó.
Tôi nghĩ rằng sẽ có một chút lợi ích nào đó cho triết học nếu con người được gọi tên một cách chung chung, đúng như cách họ được nhìn nhận. Khi đó, người ta chỉ cần biết chi tộc và có lẽ cả chủng loại hoặc thứ bậc là có thể hiểu được cá nhân đó. Chúng ta không sẵn sàng tin rằng mỗi người lính trinh sát trong quân đội La Mã đều có một cái tên riêng — bởi vì chúng ta chưa từng cho rằng anh ta có một cá tính riêng. Hiện tại, những cái tên thực sự duy nhất của chúng ta hóa ra lại là những biệt danh. Tôi từng quen biết một cậu bé, vì năng lượng đặc biệt của mình, được gọi là “Buster” bởi những đứa trẻ cùng chơi, và cái tên đó đã đường hoàng thay thế luôn tên thánh của cậu ta. Một số nhà thám hiểm kể cho chúng ta nghe rằng người da đỏ ban đầu không được đặt cho một cái tên nào cả, mà phải tự giành lấy nó, và tên của cậu ta chính là danh tiếng của cậu ta; và ở một số bộ tộc, cậu ta còn mang một cái tên mới với mỗi chiến tích mới. Thật đáng thương hại khi một người mang một cái tên thuần túy chỉ vì sự tiện lợi, trong khi bản thân chưa từng giành được tên tuổi hay danh vọng nào.
Tôi sẽ không cho phép những cái tên đơn thuần tạo ra ranh giới phân biệt giúp mình, mà vẫn nhìn nhận con người theo bầy đàn bất chấp tất cả những cái tên ấy. Một cái tên quen thuộc không thể làm cho một con người trở nên bớt xa lạ đối với tôi. Nó có thể được gán cho một kẻ dã man, kẻ vẫn đang giữ kín trong bí mật tước hiệu hoang dã của riêng mình được giành lấy từ chốn rừng sâu. Chúng ta đều mang trong mình một kẻ dã man hoang dã, và có lẽ đâu đó có một cái tên hoang dã được ghi nhận là của chúng ta. Tôi nhận thấy rằng người hàng xóm của tôi, kẻ mang cái tên quen thuộc William hay Edwin, sẽ cởi bỏ nó cùng với chiếc áo khoác của mình. Nó không hề bám dính lấy anh ta khi chìm vào giấc ngủ, hay lúc nổi giận, hoặc khi được đánh thức bởi bất kỳ niềm đam mê hay cảm hứng nào. Tôi dường như nghe thấy tiếng người thân của anh ta phát lên vào khoảnh khắc ấy cái tên hoang dã nguyên thủy của anh ta bằng một thứ ngôn ngữ nghe rợn cả quai hàm hoặc vô cùng du dương.
Kìa người mẹ hoang dã, vĩ đại và bao bọc xung quanh chúng ta — Tự nhiên, đang trải dài khắp chốn, với vẻ đẹp và tình mẫu tử dành cho những đứa con của mình hệt như loài báo; thế nhưng chúng ta lại bị cai sữa quá sớm từ bầu vú mẹ để bước vào xã hội, vào cái nền văn hóa độc quyền là sự tương tác giữa con người với con người — một kiểu giao phối cận huyết tạo ra tối đa chỉ là một tầng lớp quý tộc thuần túy kiểu Anh, một nền văn minh được định sẵn sẽ sớm đi đến hồi kết.
Trong xã hội, ngay cả trong những thể chế tốt đẹp nhất của con người, thật dễ dàng để nhận ra một sự chín ép sớm sủa. Khi chúng ta đáng lẽ vẫn đang là những đứa trẻ lớn lên từng ngày, chúng ta đã sớm hóa thành những người lớn thu nhỏ. Hãy cho tôi một nền văn hóa biết dung nạp thật nhiều đất mục từ những vùng đầm lầy và làm cho tầng thổ nhưỡng sâu thêm — chứ không phải thứ chỉ biết trông chờ vào phân bón nhân tạo cùng các công cụ và phương thức canh tác cải tiến!
Rất nhiều sinh viên nghèo khổ bị đau mắt mà tôi từng nghe kể sẽ có thể lớn nhanh hơn, cả về mặt trí tuệ lẫn thể chất, nếu thay vì thức khuya đến mức độ ấy, họ thành thật ngủ một giấc trọn vẹn vốn là quyền lợi của một kẻ ngốc.
Thậm chí có thể có sự dư thừa của thứ ánh sáng mang lại tri thức. Niepce, một người Pháp, đã phát hiện ra “tính quang hóa” — nguồn năng lượng trong các tia nắng mặt trời tạo ra hiệu ứng hóa học; rằng những khối đá hoa cương, các công trình kiến trúc bằng đá và những bức tượng kim loại “đều bị tác động mang tính hủy hoại như nhau trong những giờ có ánh nắng mặt trời, và nếu không có những sự sắp đặt của Tự nhiên kỳ diệu không kém, chúng sẽ sớm lụi tàn dưới cái chạm nhẹ nhàng tinh tế nhất của những tác nhân vi tế nhất trong vũ trụ.” Thế nhưng ông nhận thấy rằng “những thể vật lý trải qua sự biến đổi này trong ánh sáng ban ngày lại có khả năng tự phục hồi về trạng thái ban đầu trong những giờ đêm buông xuống, khi mà sự kích thích này không còn tác động lên chúng nữa.” Từ đó người ta suy ra rằng “những giờ phút bóng tối cũng cần thiết cho thế giới vô cơ giống như chúng ta đều biết đêm và giấc ngủ đối với vương quốc hữu cơ.” Thậm chí mặt trăng cũng không chiếu sáng vào mỗi đêm, mà nhường chỗ cho màn đêm tĩnh mịch.
Tôi không muốn mọi con người hay mọi phần trong một con người đều được thuần hóa, cũng giống như tôi không muốn mọi sào đất trên trái đất này đều được canh tác: một phần sẽ là đất trồng trọt, nhưng phần lớn hơn sẽ là đồng cỏ và rừng rậm, không chỉ phục vụ cho một nhu cầu trước mắt, mà còn chuẩn bị một lớp mùn cho một tương lai xa xôi nhờ sự phân hủy hằng năm của thảm thực vật mà nó nuôi dưỡng.
Vẫn còn những con chữ khác để đứa trẻ học hỏi ngoài những ký tự do Cadmus phát minh ra. Người Tây Ban Nha có một thuật ngữ rất hay để diễn tả thứ kiến thức hoang dã và mờ sương này — Gramatica parda — ngữ pháp nâu sậm, một dạng trí khôn tự nhiên bắt nguồn từ chính loài báo mà tôi từng đề cập.
Chúng ta từng nghe nói về Hội Phổ biến Kiến thức Hữu ích. Người ta nói rằng kiến thức là sức mạnh, đại loại là vậy. Tôi nghĩ rằng cũng có một nhu cầu cấp thiết tương đương đối với một Hội Phổ biến Sự Vô tri Hữu ích, thứ mà chúng ta sẽ gọi là Kiến thức Diễm lệ, một loại kiến thức hữu ích theo một nghĩa cao cả hơn: bởi vì phần lớn cái gọi là kiến thức tự khoe khoang của chúng ta chẳng qua chỉ là sự tự cao tự đại rằng chúng ta biết điều gì đó, thứ đã tước đi của chúng ta lợi thế từ sự vô tri thực sự của bản thân? Thứ mà chúng ta gọi là kiến thức thường là sự dốt nát tích cực của chúng ta; còn sự dốt nát lại là kiến thức tiêu cực. Trải qua bao năm tháng kiên nhẫn lao động và đọc báo — bởi vì thư viện của khoa học chẳng qua chỉ là những tập hồ sơ báo chí — một con người tích lũy hàng vạn sự kiện, cất giấu chúng trong ký ức, rồi đến một mùa xuân nào đó trong đời, anh ta thong dong bước ra những Cánh đồng Tri thức Vĩ đại, anh ta dường như thả mình ăn cỏ như một con ngựa và bỏ lại toàn bộ dây cương trong chuồng. Đôi khi tôi muốn nhắn nhủ với Hội Phổ biến Kiến thức Hữu ích rằng: — Hãy ra đồng ăn cỏ đi. Các vị đã nhai cỏ khô đủ lâu rồi. Mùa xuân với vụ mùa xanh mướt đã đến rồi. Ngay cả những con bò cũng được lùa ra đồng cỏ nông thôn trước khi tháng Năm kết thúc; dẫu cho tôi từng nghe về một gã nông dân quái đản nào đó cứ giữ nhốt con bò của mình trong chuồng và cho nó ăn cỏ khô suốt cả năm trời. Và thường xuyên, Hội Phổ biến Kiến thức Hữu ích cũng đang đối xử với những tín đồ của mình y như thế.
Sự dốt nát của một con người đôi khi không chỉ hữu ích, mà còn diễm lệ — trong khi cái gọi là kiến thức của anh ta đôi khi lại tồi tệ hơn cả vô dụng, bên cạnh việc mang dáng vẻ xù xì thô kệch. Ai mới là kẻ dễ đối phó nhất — kẻ chẳng biết gì về một chủ đề, và — một điều cực kỳ hiếm hoi — biết rằng bản thân mình chẳng biết gì, hay kẻ thực sự biết một chút về nó, nhưng lại tưởng rằng mình biết tất cả?
Khao khát tri thức trong tôi mang tính ngắt quãng, nhưng khao khát được gội rửa đầu óc trong những bầu không khí chưa từng được biết đến bởi đôi chân mình lại là một khát vọng thường trực và bất biến. Đỉnh cao nhất mà chúng ta có thể vươn tới không phải là Tri thức, mà là Sự Đồng điệu với Trí tuệ. Tôi không biết liệu thứ tri thức bậc cao này có đạt đến điều gì cụ thể hơn ngoài một sự ngạc nhiên mới mẻ và vĩ đại trước một sự mặc khải đột ngột về sự bất cập của tất cả những gì trước đó chúng ta từng gọi là Tri thức — một khám phá ra rằng có nhiều thứ trên trời dưới đất hơn là những gì được mơ tưởng trong triết học của chúng ta. Đó là khoảnh khắc ánh mặt trời thắp sáng màn sương mù. Con người không thể nhận thức theo bất kỳ nghĩa cao cả nào vượt hơn thế, cũng giống như anh ta không thể ngước nhìn một cách thanh thản và bình an vào vầng thái dương: Ὁς τὶ νοῶν, οὐ κεῖνον νοήσεις — “Ngươi sẽ không nhận thức được điều đó, như là việc nhận thức một sự vật cụ thể,” theo Sấm truyền Chaldean.
Có một điều gì đó mang tính nô lệ trong thói quen đi tìm kiếm một luật lệ để rồi cúi đầu tuân thủ. Chúng ta có thể nghiên cứu các định luật vật chất vì sự tiện lợi của mình, nhưng một cuộc sống thành công không hề bị ràng buộc bởi bất kỳ luật lệ nào. Khám phá ra một định luật trói buộc chúng ta tại những nơi mà trước đó ta không hề biết mình bị trói buộc chắc chắn là một phát hiện bất hạnh. Hãy sống tự do, hỡi đứa con của màn sương — và xét về mặt tri thức, tất cả chúng ta đều là những đứa con của màn sương. Kẻ dám nắm lấy quyền tự do để sống sẽ đứng trên tất cả mọi luật lệ, nhờ vào mối liên hệ của anh ta với Đấng Lập Pháp. “Đó là bổn phận tích cực,” sách Vishnu Purana viết, “khiến chúng ta không bị nô dịch; đó là kiến thức mang lại sự giải thoát cho chúng ta: mọi bổn phận khác chỉ đem lại sự mệt mỏi; mọi tri thức khác chỉ là sự khéo léo của một nghệ nhân mà thôi.”
Thật đáng kinh ngạc khi trong lịch sử của chúng ta lại có quá ít sự kiện hay biến cố then chốt, tâm trí chúng ta ít được rèn giuyện đến nhường nào, và chúng ta có quá ít trải nghiệm làm sao. Tôi rất muốn được đoan chắc rằng bản thân mình đang lớn lên thật nhanh chóng và mạnh mẽ, dẫu cho chính sự lớn lên ấy có làm xáo trộn đi sự bình thản tẻ nhạt này — dẫu cho đó là sự vẫy vùng qua những đêm dài, u ám và oi bức hay những mùa giông bão. Sẽ thật tuyệt vời nếu toàn bộ cuộc đời của chúng ta thậm chí là một thảm kịch thần thánh, thay vì cái vở hài kịch hay kịch hề tầm thường này. Dante, Bunyan và những người khác dường như đã rèn giuyện tâm trí của họ nhiều hơn chúng ta: họ trải qua một hình thức tu dưỡng mà các trường làng và đại học của chúng ta chưa từng nghĩ tới. Thậm chí Mahomet, dẫu cho nhiều kẻ có thể la ó réo gọi tên ông, cũng có nhiều điều đáng để sống, vâng, và đáng để hy sinh hơn rất nhiều so với những gì họ thường có.
Vào những khoảng khắc hiếm hoi, khi một suy nghĩ nào đó ghé thăm ai đó, chẳng hạn như khi anh ta đang đi dạo trên đường ray xe lửa, thì quả thực, những cỗ xe lửa lao qua mà anh ta chẳng hề hay biết tiếng động của chúng. Thế nhưng chẳng mấy chốc, theo một quy luật vô tình nào đó, cuộc đời chúng ta lại trôi qua và những cỗ xe lửa ấy quay trở lại.
“Hỡi ngọn gió hiền hòa, kẻ lang thang vô hình,
Và uốn cong những khóm kế bên Loira bão bùng,
Lữ khách của những thung lũng lộng gió,
Tại sao ngươi lại rời xa tai ta sớm thế?”
Trong khi hầu hết mọi người đều cảm thấy một sức hút kéo họ về phía xã hội, thì rất ít người bị thu hút mạnh mẽ bởi Tự nhiên. Trong mối quan hệ của họ với Tự nhiên, con người đối với tôi phần lớn, bất chấp nghệ thuật của họ, đều thua kém các loài động vật. Đó hiếm khi là một mối quan hệ đẹp đẽ như trong trường hợp của loài vật. Chúng ta đánh giá thấp vẻ đẹp của cảnh quan xung quanh biết bao! Chúng ta phải được nhắc nhở rằng người Hy Lạp gọi thế giới là Κόσμος - Vẻ đẹp, hoặc Trật tự, thế nhưng chúng ta lại không hiểu rõ tại sao họ lại gọi như thế, và xét cho cùng chúng ta chỉ xem đó như một sự kiện ngữ học tò mò mà thôi.
Phần tôi, tôi cảm thấy rằng đối với Tự nhiên, tôi đang sống một cuộc đời bên bờ cõi, ở ranh giới của một thế giới mà tôi chỉ thực hiện những cuộc viễn chinh thỉnh thoảng và thoáng qua, và lòng trung thành của tôi đối với nhà nước mà trong lãnh thổ của nó tôi dường như đang ẩn náu chỉ là lòng trung thành của một kẻ cướp biên giới vùng đầm lầy. Hướng tới một cuộc sống mà tôi gọi là tự nhiên, tôi sẵn sàng đi theo ngay cả một ngọn lửa trơi will-o’-the-wisp băng qua những vũng lầy và bãi sụt không thể tưởng tượng nổi, thế nhưng chẳng có ánh trăng hay con đom đóm nào chỉ cho tôi con đường đắp cao dẫn đến đó cả. Tự nhiên là một nhân cách vô cùng to lớn và phổ quát đến mức chúng ta chưa từng nhìn thấy dù chỉ một nét mặt của nàng. Kẻ đi dạo trên những cánh đồng quen thuộc trải dài quanh thị trấn quê hương thỉnh thoảng lại thấy mình đang lạc vào một vùng đất khác với những gì được miêu tả trong văn tự của chủ sở hữu, hệt như đang ở một cánh đồng xa xôi nào đó nơi biên giới của vùng Concord thực sự, nơi quyền tài phán của nó chấm dứt, và ý nghĩa mà từ Concord gợi lên cũng không còn được gợi lên nữa. Những trang trại mà chính tay tôi từng đo đạc, những mốc giới mà tôi từng cắm xuống, vẫn hiện lên mờ ảo như qua một lớp sương mù; thế nhưng chúng chẳng có thứ hóa chất nào để cố định lại; chúng phai mờ khỏi bề mặt lớp kính, và bức tranh do người họa sĩ vẽ bỗng nổi bật mờ ảo từ bên dưới. Thế giới mà chúng ta quen thuộc không để lại một dấu vết nào, và nó sẽ chẳng có ngày kỷ niệm nào cả.
Hôm nọ tôi có dịp đi dạo trên Nông trang Spaulding. Tôi nhìn thấy ánh mặt trời lặn đang rọi sáng phần phía bên kia của một khu rừng thông uy nghiêm. Những tia nắng vàng vọt len lỏi vào các lối đi trong rừng hệt như vào một sảnh đường vương giả. Tôi vô cùng xúc động như thể một dòng họ cổ xưa, đáng ngưỡng mộ và rực rỡ nào đó đã định cư ở đó, tại vùng đất mang tên Concord, mà tôi hoàn toàn không biết đến — nơi có mặt trời phục vụ — những kẻ chưa từng bước chân vào xã hội trong làng — chưa từng nhận được cuộc viếng thăm nào. Tôi nhìn thấy công viên của họ, khu vui chơi giải trí của họ, ẩn hiện xa hơn qua khu rừng, tại đầm lầy nam việt quất của Spaulding. Những rặng thông vươn lên tạo thành những chiếc mái đầu hồi cho họ. Ngôi nhà của họ không lộ diện rõ ràng trước mắt; những cây cối đâm xuyên qua đó. Tôi không biết liệu mình có nghe thấy âm thanh của một tiếng cười khúc khích bị kìm nén hay không. Họ dường như đang nằm ngả mình trên những tia nắng. Họ có con cái trai gái đầy đủ. Họ hoàn toàn khỏe mạnh. Con đường mòn chở hàng của người nông dân, dẫn thẳng qua sảnh đường của họ, hoàn toàn không làm họ bận tâm dù chỉ một chút, giống như phần đáy bùn của một cái ao đôi khi lấp ló hiện ra qua lớp phản chiếu của bầu trời. Họ chưa từng nghe nói về Spaulding, và cũng không biết rằng lão là hàng xóm của mình — dẫu cho tôi vẫn nghe thấy tiếng lão huýt sáo khi lái xe chở hàng đi qua ngôi nhà đó. Không gì có thể sánh bằng sự thanh thản trong cuộc sống của họ. Huy hiệu của họ đơn giản chỉ là một loài địa y. Tôi nhìn thấy nó được vẽ trên những thân thông và sồi. Gác mái của họ nằm trên ngọn những tán cây. Họ chẳng màng đến chính trị. Chẳng có tiếng ồn ào lao động nào cả. Tôi không nhận thấy họ đang dệt hay đang quay tơ. Thế nhưng tôi thực sự phát hiện ra, khi cơn gió lặng đi và không gian chìm vào tĩnh mịch, một tiếng vo ve âm nhạc ngọt ngào không thể tưởng tượng nổi — hệt như tiếng vang của một tổ ong đằng xa vào tháng Năm, mà rất có thể chính là âm thanh tư duy của họ. Họ chẳng có lấy một suy nghĩ vẩn vơ lười biếng nào, và không một kẻ bên ngoài nào có thể nhìn thấy công việc của họ, bởi sự siêng năng của họ không hề lộ diện qua những nút thắt hay u bướu sần sùi bị bủa vây.
Thế nhưng tôi lại thấy khó khăn để ghi nhớ về họ. Chúng phai mờ một cách không thể vãn hồi khỏi tâm trí tôi ngay cả lúc tôi đang cất lời và nỗ lực gợi nhớ lại chúng, để rồi tâm trí lại tự tĩnh ngập tràn. Chỉ sau một nỗ lực lâu dài và nghiêm túc nhằm nhớ lại những suy nghĩ tốt đẹp nhất của mình, tôi mới lại nhận thức được sự chung sống của họ. Nếu không vì những gia đình như thế này, tôi nghĩ chắc mình sẽ dọn khỏi Concord.
Chúng ta ở New England đã quen nói rằng ngày càng ít chim bồ câu ghé thăm chúng ta mỗi năm. Những khu rừng của chúng ta không cung cấp đủ hạt dẻ rừng cho chúng. Có vẻ như, những suy nghĩ cũng ngày càng ít ghé thăm mỗi con người đang lớn lên theo từng năm, bởi vì lùm cây trong tâm trí chúng ta đã bị tàn phá — bị bán đi để nuôi dưỡng những tham vọng vô ích không cần thiết, hoặc bị đem đến nhà máy xay bột, và chẳng còn lại lấy một cành cây nhỏ để chúng đậu chân. Chúng không còn xây tổ hay sinh sôi nảy nở cùng chúng ta nữa. Vào một mùa nào đó ấm áp hơn, rất có thể, một cái bóng mờ ảo lướt qua khung cảnh của tâm trí, được chiếu bởi đôi cánh của một suy nghĩ nào đó trong cuộc hành trình di cư mùa xuân hay mùa thu, thế nhưng khi ngước nhìn lên, chúng ta hoàn toàn không thể phát hiện ra thực chất của chính suy nghĩ đó. Những suy nghĩ có cánh của chúng ta đã bị thuần hóa thành gia cầm. Chúng không còn cất cánh bay cao, và chỉ đạt đến sự vĩ đại kiểu gà Shanghai và Cochin China. Những suy nghĩ vĩ-ì-ại đó, những con người vĩ-ì-ại đó mà các vị vẫn hằng nghe nói đến!
Chúng ta ôm chặt lấy mặt đất — thật hiếm hoi làm sao khi chúng ta cất cánh vươn lên! Tôi nghĩ chúng ta có thể tự nâng mình lên cao hơn một chút. Ít nhất chúng ta cũng có thể trèo lên một cái cây. Tôi từng thu được lợi ích khi trèo lên một cái cây một lần. Đó là một cây thông trắng cao vút, nằm trên đỉnh một ngọn đồi; và dẫu cho tôi bị dính đầy nhựa thông, tôi đã được đền đáp xứng đáng, bởi tôi đã khám phá ra những ngọn núi mới ở đường chân trời mà trước đó tôi chưa từng thấy — mở rộng thêm biết bao nhiêu phần của mặt đất và bầu trời. Tôi có thể đi dạo quanh gốc cây đó suốt bảy mươi năm, nhưng chắc chắn tôi sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy chúng. Thế nhưng, trên hết thảy, tôi đã khám phá ra xung quanh mình — khi ấy là lúc gần cuối tháng Sáu — chỉ trên đầu ngút của những cành cao nhất, một vài bông hoa nhỏ xíu và tinh tế có hình nón màu đỏ, đó chính là những bông hoa cái của cây thông trắng đang vươn mình hướng về thiên đường. Tôi đã mang thẳng ngọn cao nhất ấy về làng và cho những vị bồi thẩm đoàn lạ mặt đang đi dạo trên phố xem — bởi vì đó là tuần diễn ra phiên tòa — và cho cả những người nông dân, thương buôn gỗ, thợ đốn củi và thợ săn xem, và không một ai từng nhìn thấy thứ gì tương tự trước đó, mà tất cả đều kinh ngạc hệt như vừa có một ngôi sao rơi xuống vậy. Hãy cứ kể về những kiến trúc sư cổ đại hoàn thiện công trình của họ trên đỉnh những cột trụ một cách hoàn hảo như ở phần chân bên dưới dễ nhìn hơn đi! Tự nhiên từ lâu đã luôn mở rộng những bông hoa nhỏ bé của khu rừng hướng về thiên đường, ngay trên đầu con người và bị họ phớt lờ. Chúng ta chỉ nhìn thấy những bông hoa mọc dưới chân mình nơi đồng cỏ. Những cây thông đã phát triển những bông hoa tinh tế của chúng trên những cành cao nhất của khu rừng qua bao mùa hè suốt nhiều thế hệ, che bóng cả trên đầu những đứa con da đỏ lẫn da trắng của Tự nhiên; thế nhưng hiếm có một người nông dân hay thợ săn nào trong vùng từng tận mắt nhìn thấy chúng.
Trên hết, chúng ta không thể cho phép bản thân không sống trong hiện tại. Kẻ được ban phước trên mọi phàm nhân chính là người không để lãng phí một khoảnh khắc nào của cuộc sống đang trôi qua chỉ để hoài niệm quá khứ. Trừ khi triết học của chúng ta lắng nghe được tiếng gà gáy ở mọi chuồng trại trong tầm mắt của chúng ta, nếu không nó đã lỗi thời rồi. Âm thanh đó thường gợi nhớ rằng chúng ta đang trở nên gỉ sét và cổ lỗ trong công việc cũng như thói quen tư duy của mình. Triết học của chú gà ấy cập nhật thời gian gần đây hơn chúng ta. Có một cái gì đó được gợi ý từ đó mang ý nghĩa như một cuốn tân ước mới mẻ hơn — phúc âm theo khoảnh khắc này. Nó không hề thụt lùi lại phía sau; nó thức dậy sớm và duy trì sự thức sớm ấy, và việc ở đúng nơi nó đang đứng chính là việc đón đầu thời gian, ở hàng ngũ tiên phong của dòng chảy thời gian. Đó là sự biểu hiện cho sức khỏe và sự trọn vẹn của Tự nhiên, một lời ca tụng dành cho toàn thế giới — sự khỏe khoắn hệt như một dòng suối phun trào, một nguồn suối mới của các nàng Muses, để ca ngợi khoảnh khắc cuối cùng này của thời gian. Nơi nó sống, không có đạo luật về kẻ trốn nô lệ nào được thông qua. Đã mấy ai chưa từng phản bội chủ nhân của mình không biết bao nhiêu lần kể từ lần cuối cùng nghe thấy âm thanh tiếng gáy đó?
Công trạng trong tiếng hót của loài chim này nằm ở chỗ nó hoàn toàn không vương vấn chút u sầu nào. Người ca sĩ có thể dễ dàng lay động chúng ta đến rơi nước mắt hoặc nụ cười, nhưng đâu là kẻ có thể khơi gợi trong chúng ta một niềm vui buổi sáng tinh khôi? Khi lòng đầy u sầu ảm đạm, phá vỡ sự tĩnh mịch đáng sợ của lối đi bằng ván gỗ vào một ngày Chủ nhật, hoặc đôi khi là kẻ thức canh trong ngôi nhà có tang gia, tôi nghe thấy tiếng gáy của một chú gà trống từ đằng xa hay gần, tôi thầm nghĩ trong lòng, “Dù sao thì cũng có một kẻ trong số chúng ta vẫn khỏe mạnh,” — và với một cảm xúc tuôn trào bất chợt, tôi tìm lại được sự tỉnh táo của mình.
Chúng ta từng chứng kiến một buổi hoàng hôn tuyệt đẹp vào một ngày tháng Mười một vừa qua. Tôi đang đi dạo trên một đồng cỏ, nơi xuất phát của một con lạch nhỏ, khi mặt trời cuối cùng, ngay trước lúc lặn, sau một ngày lạnh lẽo và xám xịt, vươn tới được một tầng mây trong trẻo ở đường chân trời, và ánh nắng ban mai dịu dàng và rực rỡ nhất rọi xuống thảm cỏ khô, lên thân cây ở đường chân trời phía đối diện, và lên những chiếc lá của các khóm sồi lùn trên sườn đồi, trong khi bóng của chúng tôi trải dài ngoằn ngoèo về phía đông trên đồng cỏ, hệt như thể chúng tôi là những hạt bụi duy nhất trong những tia nắng ấy. Đó là thứ ánh sáng mà chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi chỉ một khoảnh khắc trước đó, và bầu không khí lúc bấy giờ cũng ấm áp và thanh bình đến mức chẳng còn thiếu thứ gì để biến đồng cỏ đó thành một chốn thiên đường. Khi chúng ta ngẫm lại rằng đây không phải là một hiện tượng đơn độc, sẽ không bao giờ lặp lại nữa, mà nó sẽ xảy ra mãi mãi về sau, vô số lần vào các buổi chiều, để cổ vũ và trấn an đứa trẻ cuối cùng bước đi ở đó, thì cảnh tượng ấy lại càng tráng lệ hơn gấp bội.
Mặt trời lặn trên một đồng cỏ quạnh hiu nào đó, nơi không một ngôi nhà nào lấp ló, với toàn bộ vẻ vinh quang và rực rỡ mà nó trút xuống các thành phố, và rất có thể rọi chiếu theo cách chưa từng có trước đó — nơi chỉ có một con diều hầm độc nhất được ánh nắng mạ vàng lên đôi cánh, hoặc chỉ có một con chuột xạ thò đầu ra từ túp lều của nó, và có một con lạch nhỏ xíu mang những đường vân đen nằm giữa đầm lầy, đang bắt đầu uốn lượn, ngoằn ngoèo trôi chậm rãi quanh một gốc cây mục nát. Chúng tôi bước đi trong một thứ ánh sáng trong lành và rực rỡ đến thế, mạ vàng thảm cỏ khô và những chiếc lá, sáng bừng một cách dịu dàng và thanh thản đến độ tôi tưởng rằng mình chưa bao giờ được gội mình trong một dòng lũ vàng rực rỡ đến vậy, hoàn toàn phẳng lặng không một gợn sóng hay tiếng thì thầm. Phía tây của mỗi khu rừng và gò đất đều tỏa sáng rực rỡ hệt như ranh giới của miền Elysium, và vầng thái dương sau lưng chúng ta tựa như một người chăn gia súc hiền hòa đang lùa chúng ta trở về nhà vào lúc chiều tà.
Cứ thế, chúng ta thong dong tiến về Miền Đất Thánh, cho đến một ngày mặt trời sẽ chiếu rọi rực rỡ hơn bao giờ hết, rất có thể sẽ soi rọi vào tâm trí và trái tim chúng ta, thắp sáng toàn bộ cuộc đời chúng ta bằng một thứ ánh sáng bừng tỉnh vĩ đại, ấm áp, thanh bình và vàng óng hệt như trên một sườn đồi mùa Thu.