Cuốn Sổ Vàng

Lượt đọc: 202 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bốn cuốn sổ

❊ ❊ ❊

[Đến đây, cuốn sổ bìa đen đã hoàn thành kế hoạch ban đầu của nó, cả hai mặt đều đã có chữ. Dưới phần tiêu đề bên trái, Nguồn, viết:]

11 tháng Mười một, 1955

Hôm nay trên vỉa hè, một chú bồ câu nhà London béo ú đang lạch bạch giữa rừng giày dép của những người đang hối hả đón xe buýt. Một người đàn ông đá cho nó một cái, con bồ câu bay lên trời rồi đập vào một cột đèn, nằm đó, cổ vươn dài ra, mỏ há to. Anh đứng đó, ngơ ngác: anh tưởng rằng chú bồ câu sẽ bay đi. Anh lén nhìn xung quanh, như thể muốn trốn chạy. Nhưng quá muộn, một bà la sát mặt đỏ đã bước tới bên anh. “Đồ dã man! Đá chim bồ câu!” Lúc này, gương mặt anh cũng đỏ lựng cả lên. Anh nhe răng cười vì bối rối và ngạc nhiên một cách đáng buồn cười. “Lúc nào mà chúng chả bay đi,” anh nhận xét, cầu xin công lý. Bà la sát hét lên: “Anh giết nó rồi còn gì - đá một con bồ câu bé bỏng tội nghiệp!” Nhưng chú bồ câu đã chết đâu, nó đang vươn cổ ra bên cột đèn, cố gắng nhấc cái đầu lên, đôi cánh rướn lên rồi lại thõng xuống, hết lần này đến lần khác. Đến lúc này đã hình thành một đám người nho nhỏ, trong đó có hai thằng bé chừng mười lăm tuổi. Chúng có khuôn mặt cảnh giác sắc sảo của đám giang hồ đầu đường xó chợ, và đang đứng im quan sát, miệng nhai kẹo cao su. Một người lên tiếng: “Gọi cho R.S.P.C.A.(1) đi.” Bà la sát hét lên: “Không cần phải làm thế nếu như thằng du côn này không đá con vật đáng thương kia.” Người đàn ông đi đi lại lại, ngượng ngùng, anh đã trở thành một kẻ tội phạm bị cả đám đông căm ghét. Kẻ duy nhất không có chung cảm xúc với đám đông chính là hai thằng bé. Một thằng bé nói bâng quơ. “Nhà tù là nơi dành cho những tên tội phạm như hắn.” “Đúng thế, đúng thế,” bà la sát hét lên. Bà ta bận bịu với việc căm thù kẻ ra chân đến mức không hề nhìn ngó gì đến chú bồ câu. “Bỏ tù gì,” thằng bé thứ hai nói, “tao cho là phải đánh đòn.” Bà la sát nhìn nhanh hai thằng bé và nhận ra rằng chúng đang nhạo mình. “Ừ, và cả chúng mày cũng vậy!” bà ta quặc lại chúng, giọng hụt hơi vì đang quá cáu giận. “Cười đùa trên sự đau khổ của một con chim bé bỏng tội nghiệp.” Lúc này, hai thằng bé đang nhăn nhở cười, mặc dù không mang vẻ mặt xấu hổ, hoài nghi như tên tội phạm kia. “Cười đùa,” bà ta nói, “Cười đùa. Chúng mày cần phải bị đánh đòn. Đúng thế. Thật thế.” Trong lúc đó, một người đàn ông vẻ bệ vệ, nghiêm nghị cúi người xuống xem xét chú bồ câu. Ông ta đứng thẳng người lên và tuyên bố: “Nó sắp chết.” Ông ta nói đúng: đôi mắt của chú chim đang mờ dần, và máu ứa lên trong chiếc mỏ há ra. Vậy là bà la sát quên phắt đi ba mục tiêu thù hận của mình, cúi người về phía trước để nhìn chú chim. Miệng hơi mở ra, bà ta nhìn với vẻ tò mò bực bội trong lúc chú chim thở gấp, ngoẹo đầu rồi rũ xuống.

“Nó chết rồi,” ông bệ vệ nói.

Tên tội phạm đã hoàn hồn lại, miệng nói lời xin lỗi nhưng rõ ràng là quyết tâm không chấp nhận những nhận định vớ vẩn: “Tôi xin lỗi, nhưng đây chỉ là chuyện không may. Từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ nhìn thấy con bồ câu nào không chịu tránh đường cả.”

Ai nấy đều nhìn kẻ đá bồ câu lòng lim dạ sắt này bằng ánh mắt bất bình.

“Chuyện không may!” bà la sát nói, “Chuyện không may!”

Nhưng lúc này đám đông đã bắt đầu giải tán. Ông bệ vệ nhặt chú chim chết lên, nhưng đây là một sai lầm, bởi vì bây giờ ông không biết phải làm gì với nó cả. Kẻ đá chim bước đi, nhưng bà la sát bước theo anh và nói: “Tên tuổi và địa chỉ của anh là gì? Tôi sẽ kiện anh ra tòa.” Anh nói, giọng bực bội: “Ôi, sao chuyện bé lại cứ xé ra to thế nhỉ.” Bà ta nói: “Anh coi việc giết một con chim bé bỏng tội nghiệp là chuyện bé cơ đấy.” “Ừ thì đấy, đâu phải là chuyện gì lớn, giết người đâu phải là chuyện lớn,” một trong hai thằng bé mười lăm tuổi nhận xét trong khi đứng nhăn nhở cười, tay đút vào túi áo khoác. Thằng bạn tiếp lời, vẻ thâm thúy: “Mày nói đúng. Chuyện nhỏ là giết người, nhưng chuyện lớn thì không phải.” “Đúng thế,” thằng bé đầu tiên nói, “con bồ câu là chuyện lớn bao giờ? Ấy là khi nó là chuyện nhỏ.” Bà la sát quay ra nhìn chúng, và tên tội phạm nhân cơ hội này tẩu thoát, dáng vẻ cực kỳ hối hận, mặc dù anh không muốn. Bà la sát cố gắng tìm từ ngữ thích đáng để chửi bới hai thằng bé, nhưng lúc này ông bệ vệ đang đứng cầm cái xác chim, trông tuyệt vọng, và một thằng bé hỏi với giọng nhạo báng: “Ông định làm món bánh bồ câu đấy à, thưa ông?” “Mày láo là tao gọi cảnh sát đấy,” ông bệ vệ đáp ngay. Bà la sát mừng rỡ nói: “Đúng thế, đúng thế, lẽ ra phải gọi cảnh sát từ lâu rồi mới đúng.” Một trong hai thằng bé cất lên tiếng huýt sáo dài, hoài nghi, nhạo báng và ngưỡng mộ. “Chuẩn không cần chỉnh,” nó nói, “gọi cớm đi. Họ sẽ bắt ông vì tội ăn cắp bồ câu công cộng, thưa ông!” Cả hai vừa bỏ đi vừa cười vang, nhưng với tốc độ nhanh nhất có thể, bởi vì cảnh sát đã được nhắc tới.

Bà la sát giận dữ, ông bệ vệ, cái xác chim, và một vài người qua đường vẫn đứng lại. Ông bệ vệ nhìn quanh, thấy một cái thùng rác trên cột đèn bèn bước tới để thả con chim chết vào. Nhưng bà la sát đã ngăn ông lại, cầm lấy con chim. “Đưa đây cho tôi,” bà ta nói, giọng đầy vẻ dịu dàng. “Tôi sẽ chôn chú chim bé bỏng tội nghiệp này vào bồn hoa cửa sổ nhà tôi.” Ông bệ vệ mừng rỡ vội vàng bỏ đi. Còn lại một mình bà la sát, ghê tởm nhìn đám máu đặc nhỏ ra từ mỏ chú chim bồ câu.

12 tháng Mười một

Đêm qua tôi nằm mơ thấy chú chim bồ câu. Nó nhắc tôi nhớ đến một chuyện gì đó nhưng không biết chính xác là chuyện gì. Trong cơn mơ, tôi đang cố gắng nhớ lại. Nhưng khi tỉnh dậy, tôi biết ngay đấy là chuyện gì - một việc xảy ra trong những kỳ nghỉ cuối tuần tại khách sạn Mashopi. Đã nhiều năm nay tôi không còn nghĩ đến chuyện đó nữa, nhưng bây giờ nó lại hiển hiện một cách rõ ràng và chi tiết. Lại một lần nữa tôi cáu tiết vì đầu mình chứa đựng quá nhiều thứ bị giam hãm, không thể nào tiếp cận được, trừ phi may mắn có một sự việc gì đó xảy ra như hôm qua. Chắc hẳn đấy là một trong những kỳ nghỉ cuối tuần ở tầm giữa, không phải là kỳ cuối cùng đầy cao trào, vì chúng tôi vẫn giữ quan hệ tốt với ông bà Boothby. Tôi còn nhớ bà Boothby bước vào phòng ăn với một khẩu súng trường cỡ 0.22 khi chúng tôi đang ăn sáng và nói với cả nhóm: “Ở đây có ai biết bắn không?” Paul cầm lấy khẩu súng và nói: “Nền giáo dục tốn kém của tôi đã dạy cả sự tinh tế của việc giết gà gô và chim trĩ rồi.” “Ồ, không sang đến thế đâu,” bà Boothby trả lời. “Quanh đây có gà gô và chim trĩ, nhưng không phải là nhiều lắm. Ông Boothby có nói rằng ông thích món bánh bồ câu. Trước đây thỉnh thoảng ông ấy vẫn lôi súng ra, nhưng bây giờ thân hình ông ấy không còn phù hợp với việc này nữa, vậy nên tôi nghĩ rằng biết đâu các cậu có thể làm ơn…?”

Paul đang cầm khẩu súng với vẻ rất đăm chiêu. Cuối cùng anh nói: “Vâng, tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc dùng súng trường để bắn chim, nhưng nếu ông Boothby làm được thì chắc tôi cũng làm được.”

“Không khó đâu,” bà Boothby nói, và như thường lệ mềm lòng trước dáng vẻ lịch thiệp bên ngoài của Paul. “Giữa các ngọn đồi dưới kia có một đầm lầy đầy chim bồ câu. Cậu cứ để cho chúng đậu xuống và chỉ việc hạ thôi.”

“Thế mà gọi là thể thao ư,” Jimmy nói, giọng nghiêm nghị.

“Lạy Chúa tôi, thế mà gọi là thể thao ư!” Paul hùa theo, một tay bóp trán, một tay giơ khẩu súng ra xa.

Bà Boothby không biết là anh đang nói thật hay đùa, nhưng bà vẫn giải thích: “Cũng đáng thôi mà. Đừng bắn khi chưa chắc chắn là sẽ giết được con mồi, vậy thì có hại gì đâu?”

“Bà ấy nói đúng đấy,” Jimmy nói với Paul.

“Bà nói đúng,” Paul nói với bà Boothby. “Quá đúng. Chúng tôi sẽ làm việc này. Bao nhiêu chim bồ câu thì đủ cho món bánh bồ câu của ông chủ Boothby?”

“Dưới sáu con thì chẳng được mấy đâu, nhưng nếu cậu săn được nhiều hơn thì tôi có thể làm bánh bồ câu cho cả các cậu nữa. Nếu vậy sẽ là chút đổi gió so với mọi lần.”

“Đúng vậy,” Paul nói. “Hẳn là sẽ có đổi gió rồi. Cứ tin chúng tôi.”

Bà trang trọng cảm ơn anh rồi để chúng tôi ở lại với khẩu súng.

Bữa sáng đã xong, lúc đó khoảng mười giờ sáng, và chúng tôi thấy vui khi có thứ để giải khuây khi chờ đến bữa trưa. Đi qua khách sạn một quãng ngắn là tới con đường mòn đầy vết lún vuông góc với con đường chính và chạy ngoằn ngoèo qua thảo nguyên, đi theo lối mòn của người da đen thuở trước. Con đường này dẫn tới một khu truyền giáo của Giáo hội La Mã nằm giữa vùng hoang vu, cách đây hơn mười cây số. Đôi khi, chiếc xe của hội truyền giáo đến để tiếp tế; đôi khi nhân công trang trại đến hoặc đi ra khỏi khu truyền giáo theo từng nhóm, vì hội có một trang trại rộng lớn, nhưng phần lớn là con đường này không có bóng người lai vãng. Toàn bộ khu vực này là một thảo nguyên đầy cát nằm trên cao, nhấp nhô, thỉnh thoảng lại thấy những gò đất nổi lên đột ngột. Khi trời mưa, mặt đất hình như cưỡng lại chứ không đón nhận. Nước nhảy múa và gõ liên hồi, một trận điên cuồng những giọt trắng xóa nẩy cao đến cả mét trên lớp đất cứng, nhưng sau cơn bão chừng một tiếng, đất đai đã khô ráo trở lại, những rãnh nước và đầm lầy chảy xiết, ầm ĩ. Đêm hôm trước trời mưa to đến nỗi mái tôn của khu phòng ngủ lắc lư và đập ầm ầm trên đầu chúng tôi, nhưng bây giờ mặt trời đã lên cao, bầu trời không một gợn mây, và chúng tôi bước đi bên cạnh mặt đường rải nhựa, trên lớp cát trắng mịn vỡ lạo xạo dưới giày, để lộ ra lớp đất ướt sẫm màu bên dưới.

Buổi sáng hôm đó chúng tôi có năm người, tôi không nhớ những người còn lại ở đâu. Có lẽ đấy là hồi chỉ có năm người chúng tôi xuống khách sạn. Paul mang theo khẩu súng trường, từng centimet đều toát ra vẻ một vận động viên thể thao và mỉm cười một mình trong vai trò này. Jimmy đi bên cạnh anh, vụng về, hơi ục ịch, nhợt nhạt, đôi mắt thông minh của anh chốc lại quay lại nhìn Paul, khúm núm vì thèm khát, mỉa mai vì đau đớn với vị thế của mình. Tôi, Willi và Maryrose đi theo sau. Willi mang theo một cuốn sách. Maryrose và tôi mặc đồ nghỉ lễ - quần yếm và áo sơ mi sặc sỡ. Maryrose mặc quần yếm màu xanh dương và áo sơ mi màu hồng. Tôi mặc quần yếm màu hồng và áo sơ mi màu trắng.

Lúc rẽ từ con đường chính xuống con đường cát, chúng tôi phải đi chậm và thận trọng, bởi vì sáng nay sau cơn mưa tầm tã, đám côn trùng bắt đầu mở hội. Dường như thứ gì cũng tưng bừng và bò lổm ngổm. Trên lớp cỏ thấp, hàng triệu con bướm trắng với những đôi cánh màu trắng xanh bay lượn và chấp chới. Tất cả đều là bướm trắng, nhưng to nhỏ khác nhau. Sáng hôm đó, chỉ có duy nhất một loài nở trứng hoặc nhảy hoặc bò ra khỏi vỏ nhộng, và đang ăn mừng tự do của mình. Và trên chính đám cỏ cũng như trên khắp mặt đường là một loài châu chấu sáng màu, từng đôi một. Số lượng của chúng cũng lên tới hàng triệu.

“Kìa một con châu chấu nhảy lên lưng của con châu chấu khác,” Paul nhận xét với giọng nhẹ nhàng nhưng nghiêm trang ở phía trước. Anh dừng lại. Ngay bên cạnh anh, Jimmy cũng ngoan ngoãn dừng lại. Chúng tôi đứng lại ngay sau lưng hai người. “Lạ thật,” Paul nói, “nhưng từ trước đến nay chưa bao giờ tớ hiểu được ý nghĩa nội tại hay cụ thể của bài hát đó.” Tình huống thật gớm guốc, và cảm giác của cả lũ chúng tôi không phải là xấu hổ mà trầm trồ. Chúng tôi đứng cười, nhưng tiếng cười không quá lớn. Khắp các hướng xung quanh chúng tôi toàn là châu chấu, đang cặp nhau. Một con châu chấu, chân bám chắc vào cát, đứng yên; trong khi một con khác, trông giống hệt, kẹp chặt trên lưng nó khiến con bên dưới không thể nào nhúc nhích được. Hoặc một con cố gắng tìm cách trèo lên lưng con khác, trong khi con bên dưới đứng yên, rõ ràng là đang hỗ trợ con kia, mặc dù những nỗ lực cuồng nhiệt hay cuống cuồng của kẻ leo trèo kia có thể khiến cả hai ngã chổng gọng. Hoặc một đôi, trông chẳng cân xứng gì cả, ngã lăn đùng ra đất, con lúc nãy ở dưới tự đứng dậy và chờ đợi trong khi con kia cố gắng trở lại vị trí cũ, hoặc một con khác trông giống hệt đuổi cổ nó đi chỗ khác. Nhưng đám côn trùng hạnh phúc và say men tình này đứng quanh chúng tôi, con này trên con khác, từng đôi mắt tròn sáng ngớ ngẩn, đen nháy giương lên. Jimmy rú lên cười từng chặp, còn Paul đấm vào lưng anh, “Bọn côn trùng cực kỳ thô bỉ này không đáng cho chúng ta để ý đâu,” Paul nhận xét. Anh nói đúng. Có thể một con, hoặc dăm con, hoặc một trăm con trông sẽ hấp dẫn, màu sắc tươi sáng ẩn hiện trong thảm cỏ mỏng màu ngọc lục bảo. Nhưng khi chúng tụ tập đến hàng ngàn cá thể, xanh rực và đỏ rực, cùng những đôi mắt đen trống rỗng trô trố - chúng thật lố bịch, tục tĩu, và hơn hết là hiện thân của sự ngu xuẩn. “Tốt hơn hết là chúng ta xem bươm bướm,” Maryrose nói, và quay ra xem đàn bướm. Chúng đẹp đến kỳ diệu. Ngút tầm mắt chúng tôi, bầu trời xanh được tô điểm thêm vô vàn những cặp cánh trắng. Và nhìn xuống đầm lầy xa xa, đàn bướm là một quầng mây mù trắng lấp lánh trên nên cỏ xanh.

“Nhưng Maryrose yêu quý ạ.” Paul nói, “rõ ràng là em đang hình dung theo cái tư duy xinh xẻo của em rằng bọn bướm kia đang ăn mừng niềm vui cuộc sống, hoặc chỉ đơn giản là vui chơi với nhau, nhưng thực ra không phải như thế. Chúng chỉ đang theo đuổi tình dục hèn hạ, chẳng khác gì bọn châu chấu thô bỉ chưa từng có kia đâu.”

“Sao anh biết?” Maryrose thật thà hỏi bằng chất giọng nhỏ nhẹ của mình; và Paul bật lên tiếng cười trầm vang mà anh biết là cực kỳ quyến rũ, rồi quay lại và đến bên cạnh cô, bỏ lại một mình Jimmy ở phía trước. Willi, đang hộ tống Maryrose, nhường chỗ cho Paul và đến bên tôi, nhưng tôi đã tiến về phía Jimmy lúc này đang trơ trọi một mình.

Quả là gớm guốc,” Paul nói, giọng thực sự ghê tởm. Chúng tôi nhìn về nơi anh đang nhìn. Giữa một đàn châu chấu là hai đôi xốn mắt. Đôi thứ nhất là một con châu chấu khổng lồ trông rất mạnh mẽ, giống như cái pít tông với những cái chân to đùng như lò xo, còn trên lưng nó là bạn tình tí hon bất lực, không thể nào trèo lên được đến độ cao cần thiết. Và bên cạnh nó, tình huống lại đảo ngược: một con châu chấu tí hon sáng màu trông thật đáng thương đang bị một con châu chấu khổng lồ, mạnh mẽ cưỡi lên, đè nén, gần như là ép bẹp. “Anh sẽ làm một thí nghiệm khoa học nho nhỏ,” Paul tuyên bố. Anh thận trọng bước giữa đám côn trùng đang đậu đi ra chỗ cỏ bên lề đường, đặt khẩu súng xuống và rứt một cọng cỏ. Anh quỳ một chân xuống cát, đưa bàn tay thờ ơ nhanh nhẹn gạt đám côn trùng sang một bên. Anh nhanh nhẹn bẩy con châu chấu to xác ra khỏi lưng con bé. Nhưng ngay lập tức nó lại nhảy trở về vị trí cũ bằng một động tác dứt khoát đến kinh ngạc. “Chúng ta cần hai người cho thí nghiệm này.” Paul tuyên bố. Ngay lập tức Jimmy bứt một cọng cỏ và đến bên cạnh Paul, mặc dù mặt anh đang méo đi vì khó chịu khi phải cúi người xuống sát bầy côn trùng. Hai chàng trai quỳ trên con đường cát, điều khiển cọng cỏ. Tôi cùng Willi và Maryrose đứng quan sát. Willi đang cau mày. “Thật là phù phiếm,” tôi nhận xét, giọng mỉa mai. Mặc dù, như thường lệ, sáng hôm đó chúng tôi không được vui vẻ với nhau cho lắm, Willi vẫn chịu mỉm cười với tôi và nói bằng giọng vui vẻ thực sự: “Dù sao thì cũng thú vị mà.” Và chúng tôi mỉm cười với nhau, vừa trìu mến vừa đau lòng bởi vì những khoảnh khắc như vậy thật hiếm hoi. Và từ bên phía hai chàng trai đang quỳ, Maryrose nhìn chúng tôi bằng ánh mắt vừa ghen tị vừa đau đớn. Cô đang chứng kiến một đôi tình nhân hạnh phúc và cảm thấy mình bị cho ra rìa. Tôi không chịu được cảnh này, vì vậy tôi đến bên Maryrose, bỏ mặc Willi. Maryrose và tôi cúi người sau lưng Paul và Jimmy quan sát.

“Nhấc,” Paul nói. Một lần nữa anh nhấc con quái vật ra khỏi con châu chấu bé nhỏ. Nhưng Jimmy lóng ngóng không làm được, và anh chưa kịp thử lại lần nữa thì con côn trùng to xác của Paul đã lại trở về vị trí cũ. “Ôi, thằng ngốc này,” Paul cáu kỉnh nói. Thường thì Paul kiềm chế không nổi cáu như thế, bởi vì anh biết Jimmy ngưỡng mộ mình. Jimmy buông cọng cỏ và cười đau đớn, cố gắng che giấu nỗi tự ái - nhưng lúc này Paul đã cầm lấy hai cọng cỏ và bẩy hai con châu chấu ở trên, một con lớn một con bé, ra khỏi lưng hai con còn lại, một con bé và một con lớn, nhưng bây giờ thì chúng đã trở thành hai cặp đôi lứa xứng đôi, hai con lớn với nhau và hai con bé với nhau.

“Đấy,” Paul nói. “Đấy là cách tiếp cận khoa học. Thật gọn gàng. Thật dễ dàng. Thật thỏa mãn.”

Cả lũ chúng tôi đứng đó, cả năm đứa, nghiên cứu chiến thắng của lẽ thường. Và chúng tôi bật cười trở lại, như điên dại, ngay cả Willi cũng vậy, bởi vì chuyện này thật ngớ ngẩn hết sức. Trong khi đó, quanh chúng tôi hàng ngàn hàng ngàn con châu chấu sặc sỡ vẫn đang thực hiện công việc duy trì nòi giống của mình mà không cần đến chúng tôi hỗ trợ. Và ngay cả chiến thắng nhỏ nhoi của chúng tôi cũng nhanh chóng qua đi, bởi vì con châu chấu lớn lúc nãy ở trên lưng con lớn còn lại đã bị ngã, và con ở dưới ngay lập tức nhảy tót lên lưng nó.

“Bẩn thỉu,” Paul nói bằng giọng nghiêm trang.

“Chẳng có bằng chứng nào,” Jimmy nói, cố gắng hòa theo chất giọng nghiêm trang nhẹ nhàng của bạn mình nhưng không thành, bởi vì giọng anh lúc nào cũng nghe như hết hơi, hoặc the thé, hoặc quá bông đùa: “Chẳng có bằng chứng nào để nói rằng mọi vật trong cái mà ta vẫn gọi là tự nhiên được sắp xếp tốt hơn chúng ta sắp xếp cả. Chúng ta có bằng chứng nào để nói rằng tất cả những… sinh vật tiền sử nhỏ xíu này được sắp xếp chuẩn xác theo tiêu chí đực trên cái dưới? Hoặc thậm chí” - anh bạo dạn nói thêm bằng cái giọng sai điệu đến chết người của mình - “nhất định là phải con đực với con cái? Theo những gì chúng ta được biết, đây có thể là một bữa tiệc trác táng, con đực với con đực, con cái với con cái…” Anh bỏ lửng với một tiếng cười ngắn. Và nhìn gương mặt thông minh nóng bừng, lúng túng của anh, tất cả chúng tôi đều biết rằng anh đang tự hỏi tại sao những gì anh đã từng nói, hoặc có thể nói, lại không hề dễ dàng như khi Paul nói. Bởi vì nếu Paul nói những điều đó, và anh cũng rất có thể nói những điều như thế, thì cả lũ chúng tôi đã bật cười rồi. Thay vào đó, chúng tôi cảm thấy không thoải mái và nhận thức được rằng chúng tôi đang bị bao vây bởi lũ côn trùng xấu xí bò lổm ngổm này.

Đột nhiên Paul nhảy tới và cố tình giẫm lên, trước hết là đôi châu chấu to xác mà anh vừa tổ chức phối ngẫu, sau đó là đôi nhỏ con.

“Paul,” Maryrose thốt lên, run rẩy nhìn đám nát bét những cánh xanh cánh đỏ, mắt và vết bẩn màu trắng.

“Một phản ứng đặc trưng của người duy cảm,” Paul nói, cố tình nhại Willi - lúc này đang mỉm cười, công nhận việc biết mình bị giễu. Nhưng rồi Paul nghiêm túc nói: “Maryrose thân mến, đến tối nay, hoặc kéo dài thêm chút nữa, đến tối mai, gần như tất cả đám này sẽ chết - giống như đàn bươm bướm của em thôi.”

“Ôi không.” Maryrose nói, đau đớn nhìn những đám mây bươm bướm đang khiêu vũ, quên bẵng đi lũ châu chấu. “Nhưng tại sao?”

“Bởi vì chúng có quá nhiều chứ sao. Điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả bọn chúng đều sống? Đây sẽ là một cuộc xâm lược. Khách sạn Mashopi sẽ biến mất dưới một đống châu chấu bò lổm ngổm, nó sẽ bị nghiền nát đến tận mặt đất, trong khi đàn bướm mang điềm gở khủng khiếp kia nhảy múa mừng chiến thắng trước cái chết của ông bà Boothby và cô con gái tuổi cập kê của họ.”

Khó chịu và nhợt nhạt, Maryrose quay đi nhìn hướng khác. Chúng tôi biết rằng cô đang nghĩ về người anh trai đã chết của mình. Những lúc như thế, trông cô hoàn toàn cô độc khiến chúng tôi đều muốn bước đến vòng tay ôm lấy cô.

Nhung Paul vẫn tiếp tục, và bây giờ anh bắt đầu nhại giọng Stalin: “Điều này là hiển nhiên, không đáng phải nói - và trên thực tế chẳng cần phải nói gì cả, vậy thì tại sao tôi lại phải bỏ công nói ra? - Tuy nhiên, rõ ràng có cần nói ra hay không lại là chuyện ngoài lề. Như mọi người đều biết, tôi nói rằng thiên nhiên rất hoang phí. Chưa quá vài giờ nữa, lũ côn trùng này đã giết lẫn nhau bằng cách đánh nhau, cắn nhau, cố tình giết nhau, tự tử, hoặc do giao phối vụng về. Hoặc chúng sẽ bị lũ chim xơi tái, bọn chim chóc có lẽ ngay lúc này đây đang chờ chúng ta bước đi là ngay lập tức mở tiệc. Khi chúng ta trở lại khu nghỉ dưỡng thú vị này vào kỳ cuối tuần tiếp theo, hoặc, nếu các bổn phận chính trị không cho phép, vào kỳ cuối tuần sau đó nữa, chúng ta sẽ đi những bước quy củ dọc theo con đường này và có thể sẽ nhìn thấy một vài con côn trùng xanh đỏ vui tươi này đang vui chơi trong cỏ, và nghĩ, chúng mới đẹp làm sao! Và chúng ta sẽ chẳng mấy băn khoăn về hàng triệu xác chết ngay lúc đó vẫn đang chìm vào nơi yên nghỉ cuối cùng xung quanh chúng ta. Thậm chí tôi còn không muốn đề cập đến lũ bướm, rõ ràng là đẹp hơn nhiều, mặc dù không hữu ích gì hơn, mà chúng ta sẽ chủ động, thậm chí thường xuyên nhớ tới - nếu như chúng ta không vướng bận với những trò tiêu khiển thường ngày suy đồi hơn của mình.”

Chúng tôi tự hỏi tại sao anh lại cố tình ngoáy mũi dao vào vết thương của Maryrose về người anh trai đã chết. Cô đang mỉm cười đau đớn. Và Jimmy, không ngừng dằn vặt trong nỗi sợ hãi rằng anh sẽ đâm máy bay và chết, cũng đang có nụ cười he hé nhăn nhó như Maryrose.

“Điều tôi muốn nói thưa các đồng chí…”

“Bọn tớ biết cậu đang định nói gì,” Willi nói, cộc cằn và giận dữ. Có lẽ chính những lúc như thế này đã khiến anh như kiểu là “người cha” của cả nhóm, như lời Paul nói. “Đủ rồi,” Willi nói. “Đi săn chim bồ câu nào.”

“Không cần phải nói, điều hiển nhiên,” Paul nói, quay lại với câu mào đầu ưa thích của Stalin như để phản đối Willi, “là món bánh bồ câu của bà chủ Boothby sẽ không bao giờ được thực hiện, nếu như chúng ta cứ tiếp tục thái độ vô trách nhiệm như thế này.”

Chúng tôi đi tiếp dọc con đường mòn, giữa đám châu chấu. Cách đó khoảng chừng một cây số có một gò đất nhỏ, hoặc một đống đá granite lổn nhổn; và đi qua, cứ như là có ai đó vạch ra một đường ranh, lũ châu chấu không thấy nữa. Chỉ đơn giản là ở đó chúng không hiện diện, không tồn tại, chúng là một loài đã bị tuyệt chủng. Tuy nhiên, bọn bươm bướm vẫn xuất hiện khắp nơi, giống như những cánh hoa trắng đang nhảy múa.

Tôi nghĩ thời điểm đó chắc phải là tháng Mười hay tháng Mười một gì đó. Không phải là vì lũ côn trùng, tôi không đủ hiểu biết để nhìn côn trùng là có thể xác định được thời gian nào trong năm, mà là vì độ nóng của ngày hôm đó. Trời nóng điên nóng đảo, nóng đến phát hoảng. Nếu là cuối mùa mưa sẽ có hương sâm banh trong không khí như báo hiệu mùa đông đến. Nhưng hôm đó, tôi nhớ cái nóng hun đốt má, tay, chân, thậm chí xuyên qua quần áo chúng tôi. Nhưng tất nhiên lúc đấy phải là đầu mùa, cỏ còn thấp, từng túm lá xanh nhọn mọc lên trên nền cát trắng. Vậy cuối tuần đó diễn ra trước kỳ nghỉ cuối cùng khoảng bốn hoặc năm tháng gì đó, là ngay trước khi Paul chết. Và con đường mòn mà chúng tôi bước đi trong buổi sáng hôm đó là nơi sau đó mấy tháng Paul và tôi cầm tay nhau chạy trong đêm qua màn sương mù ẩm ướt tuyệt đẹp và cùng nhau ngã trên thảm cỏ ướt. Ở đâu? Có lẽ là gần chỗ chúng tôi ngồi bắn bồ câu để làm bánh.

Chúng tôi bỏ cái gò đất nhỏ lại sau lưng, và bây giờ phía trước mặt mọc lên một gò lớn. Thung lũng ở giữa là nơi bà Boothby bảo có chim bồ câu. Chúng tôi lặng lẽ bỏ đường mòn đến chân cái gò lớn. Tôi nhớ chúng tôi bước đi, trong im lặng, mặt trời thiêu đốt trên lưng. Tôi có thể thấy hình ảnh cả lũ chúng tôi, năm thanh niên nhỏ bé màu sắc tươi sáng, bước đi trong đầm lầy đầy cỏ giữa đàn bướm trắng bay chấp chới dưới bầu trời xanh rực rỡ.

Dưới chân gò là một khóm cây lớn, và chúng tôi dừng lại dưới đó. Cách đó chừng mười mét là một khóm cây nữa. Một con bồ câu gù lên đâu đó trong tán lá khóm cây thứ hai. Tiếng gù dừng lại khi chúng tôi xuất hiện, xác định rằng chúng tôi vô hại và lại tiếp tục vang lên. Thứ âm thanh dịu dàng, ru ngủ, mê hoặc, giống như tiếng ve sầu - mà khi lắng nghe kỹ, chúng tôi nhận thấy đang vang lên rầm rĩ khắp nơi xung quanh mình. Tiếng ve sầu giống như đang bị sốt rét bụng đầy thuốc kỷ ninh, thu âm thanh rền rĩ, liên miên đến phát điên dường như phát ra từ chính màng nhĩ. Chốc lát sau người ta không nghe thấy nó nữa, giống hệt như khi người ta không còn nghe thấy tiếng rền rĩ ơn ớn sốt của thuốc ký ninh trong máu.

“Chỉ có một con bồ câu,” Paul nói. “Bà Boothby lừa chúng ta.”

Anh tì nòng súng lên một tảng đá, nhắm con bồ câu, thử lại không dựa vào tảng đá, và khi chúng tôi nghĩ rằng anh sẽ bóp cò thì anh lại đặt khẩu súng xuống một bên.

Chúng tôi sửa soạn để nghỉ ngơi một cách thoải mái. Tán cây rất dày, cỏ rất mềm và êm, còn mặt trời đã gần lên đến đỉnh đầu. Cái gò đằng sau chúng tôi vươn lên tận trời cao, sừng sững, nhưng không ngột ngạt. Gò đống ở vùng này dễ khiến người ta bị đánh lừa. Thường là khá cao, chúng hóa ra rải rác và nhỏ lại khi ta đến gần hơn, bởi vì chúng bao gồm nhiều cụm hoặc đống đá tảng granite tròn, khiến người ta khi đứng ở chân gò có thể nhìn thấy rất rõ qua kẽ hở hay khe vách cái đầm cạn bên kia, những tảng đá lấp lánh ngổn ngang chồng lên nhau như một đống sỏi khổng lồ. Cái gò này, như chúng tôi biết, bởi đã từng khám phá nó, đầy những công sự và chướng ngại vật do người Mashana xây dựng cách đây bảy mươi, tám mươi năm trước để phòng ngự chống lại cuộc tấn công của người Matabele. Nơi đây cũng đầy những bức vẽ tuyệt đẹp của thổ dân. Ít ra thì chúng cũng đã từng tuyệt đẹp trước khi bị phá hủy bởi bàn tay của các vị khách nghỉ tại khách sạn, giải trí bằng cách ném đá vào chúng.

“Thử tưởng tượng xem,” Paul nói. “Chúng ta, một nhóm người Mashana, bị bao vây ở đây. Người Matabele đến, mang theo tất cả những tinh hoa khủng khiếp của mình. Chúng đông gấp bội chúng ta. Bên cạnh đó, chúng ta không phải là những kẻ thiện chiến, như những gì tớ nghe kể, chỉ là những con người giản dị đam mê nghệ thuật hòa bình, vì vậy người Matabele luôn giành chiến thắng. Chúng ta, đàn ông bọn anh, biết rằng chúng ta sẽ chết một cách đau đớn trong giây lát nữa thôi. Tuy nhiên, phụ nữ bọn em, Anna và Maryrose ạ, sẽ may mắn chỉ bị những ông chủ mới trong bộ tộc ưu việt hơn toàn những người Matabele thiện chiến và giàu sức mạnh đàn ông lôi đi mà thôi.”

“Bọn họ sẽ tự sát trước,” Jimmy nói. “Đúng vậy không, Anna? Đúng vậy không, Maryrose?”

“Tất nhiên,” Maryrose nói, giọng vui vẻ.

“Tất nhiên,” tôi nói.

Con bồ câu lại gù lên. Chúng tôi đã nhìn thấy nó, một con chim nhỏ, cân đối, đen thẫm trên bầu trời. Paul cầm khẩu súng lên, ngắm và bắn. Con chim ngã xuống, lộn mấy vòng trên đôi cánh yếu ớt, rồi va xuống đất đánh thịch một cái rõ đến mức chỗ chúng tôi vẫn có thể nghe thấy. “Chúng ta cần một con chó,” Paul nói. Anh nghĩ rằng Jimmy sẽ đứng dậy và nhặt lấy nó. Mặc dù chúng tôi có thể thấy rằng Jimmy đang cố gắng đấu tranh với bản thân, cuối cùng anh vẫn đứng dậy, bước đến khóm cây bên kia, nhặt lấy cái xác giờ đã trở nên bất động, ném xuống chân Paul rồi lại ngồi xuống. Mấy bước chân dưới mặt trời đã làm anh đỏ ửng, những mảng lớn hiện ra trên chiếc áo sơ mi. Anh cởi áo ra. Thân hình cởi trần của anh trông xanh xao, hơi béo, gần giống như thân hình trẻ con. “Dễ chịu hơn,” anh nói, giọng thách thức, biết rằng chúng tôi đang nhìn anh, và hẳn là có ý chê bai.

Khóm cây giờ đã trở nên yên tĩnh. “Một chú bồ câu,” Paul nói. “Một miếng ngon lành cho ông chủ của chúng ta.”

Từ những tán cây đằng xa vọng lại tiếng bồ câu gù, nghe rì rầm êm êm. “Kiên nhẫn đi,” Paul nói. Anh dựng khẩu súng trở lại và hút thuốc.

Trong lúc đó, Willi đọc sách. Maryrose nằm ngửa mặt lên trời, dựa cái đầu vàng mượt lên một búi cỏ, mắt nhắm lại. Jimmy đã tìm thấy trò giải trí mới. Giữa những bụi cỏ lẻ loi là một dòng cát sạch trước đây là nước chảy qua, có lẽ là từ cơn bão đêm qua. Đấy là một lòng sông tí hon, rộng khoảng nửa mét, đã khô cạn dưới ánh nắng mặt trời buổi sáng. Và trên cát trắng là cả chục cái hố nông hình tròn nhưng phân bố không đều và to nhỏ không giống nhau. Jimmy cầm một cọng cỏ nhỏ và cứng, nằm sấp xuống đất và ngoáy cọng cỏ quanh đáy của một cái hố lớn. Cát mịn không ngừng sụt xuống từng đợt, và chỉ một lát là cái hố tròn đến mức tinh tế đã bị phá hỏng.

“Đồ ngốc vụng về,” Paul nói. Giọng anh, như anh vẫn luôn nói trong những trường hợp như thế với Jimmy, nghe đau đớn và cáu kỉnh. Anh thực sự không thể nào hiểu được tại sao có người lại có thể lóng ngóng đến vậy. Anh giật lấy cọng cỏ khỏi tay Jimmy, khéo léo chọc vào đáy một hố cát khác, và chỉ một giây sau đã lôi ra con côn trùng tạo nên cái hố - một con vật ăn kiến tí hon nhưng so với giống loài của nó thì lại là kẻ to xác, bằng một cái đầu diêm cỡ lớn. Con côn trùng buông mình khỏi cọng cỏ của Paul và ngã lên một mảng cát mới, ngay lập tức điên cuồng vặn mình, và chỉ trong giây lát đã biến mất dưới lớp cát vừa đùn lên và trùm lên nó.

“Đấy,” Paul vừa cục cằn nói với Jimmy vừa trả lại cọng cỏ. Paul tỏ ra bối rối với thái độ cáu kỉnh của mình; còn Jimmy, im lặng và khá nhợt nhạt, không nói câu gì. Anh cầm lấy cọng cỏ và quan sát chỗ cát nhỏ đang nhấp nhô.

Trong khi đó, chúng tôi quá mải mê với việc này nên không để ý thấy hai con bồ câu mới đến trên khóm cây đối diện. Chúng bắt đầu gù lên, rõ ràng là không để ý gì đến việc hòa tấu với nhau, bởi vì hai dòng âm thanh dịu dàng cứ tiếp tục vang lên, có lúc cùng nhau, có lúc không.

“Chúng đẹp quá,” Maryrose lên tiếng phản đối, mắt vẫn nhắm.

“Tuy nhiên, giống như đàn bướm của em, số chúng là phải chết.” Và Paul nâng khẩu súng lên rồi bắn. Một con rơi khỏi cành, lần này rơi thẳng đứng như hòn đá. Con còn lại giật mình, nhìn quanh, cái đầu nhọn quay bên này quay bên kia, một mắt hếch lên trời để xem có con diều hâu nào vừa sà xuống tha đồng chí của nó đi hay không, rồi nghiêng xuống đất nhưng rõ ràng là không nhìn thấy cái xác đẫm máu nằm trong cỏ. Sau một lúc căng thẳng chờ đợi trong yên lặng, đủ thời gian để chốt súng nhả lại, nó bắt đầu gù trở lại. Và ngay lập tức Paul nâng súng lên bắn, và con chim cũng rơi thẳng xuống đất. Thế là bây giờ chúng tôi không còn ai nhìn Jimmy nữa, còn anh chàng thì chưa hề nhìn lên một lần mà cứ cắm cúi quan sát con côn trùng. Đã xuất hiện một cái hố nông, cân xứng rất đẹp trên cát, dưới đáy là con côn trùng ẩn thân đang nỗ lực đào xới. Trông rõ ràng là Jimmy không hề nhận thấy việc bắn hạ hai con bồ câu. Và Paul cũng không hề nhìn anh chàng. Anh cứ chờ đợi, khe khẽ huýt sáo, cau mày. Và chỉ được một lúc, không hề ngước nhìn chúng tôi hay nhìn Paul, Jimmy bắt đầu đỏ mặt, và anh nhổm dậy, bước đến chỗ khóm cây và quay trở lại với hai cái xác.

“Dù sao thì chúng ta cũng không cần đến chó,” Paul nói. Câu này được nói trước khi Jimmy quay lại được nửa bãi cỏ, nhưng anh vẫn nghe thấy. Tôi có thể hình dung được rằng Paul không định nói cho Jimmy nghe, nhưng cũng chẳng quan tâm là anh có nghe thấy hay không. Jimmy lại ngồi xuống, và chúng tôi có thể thấy mảng thịt dày rất trắng trên vai anh bắt đầu đỏ rực lên sau hai chuyến đi ngắn qua bãi cỏ sáng chói dưới ánh mặt trời. Jimmy trở lại với công việc quan sát côn trùng.

Lại một khoảng lặng căng thẳng nữa. Không còn nghe thấy tiếng bồ câu gù ở đâu. Ba cái xác đẫm máu nằm lăn lóc dưới nắng cạnh một tảng đá nhô ra. Tảng đá granite xù xì màu xám loang lổ bám đầy những địa y màu nâu, xanh và tím; và trên cỏ là những giọt đỏ tươi đặc lấp lánh.

Trong không khí có mùi máu.

“Mấy con chim đó sẽ ôi ra mất,” Willi nhận xét, từ đầu đến giờ vẫn chăm chú đọc sách.

“Hơi có mùi chút thì ngon hơn,” Paul nói.

Tôi có thể nhận thấy mắt Paul thoáng nhìn về phía Jimmy, và Jimmy lại một lần nữa đấu tranh với bản thân, vì vậy tôi nhanh chóng đứng dậy và quẳng mấy cái xác cứng đờ sã cánh vào bóng râm.

Lúc này giữa tất cả chúng tôi đang tồn tại một không khí căng thẳng nhức nhối, và Paul nói: “Anh muốn uống một chút.”

“Còn một tiếng nữa mới đến giờ quán rượu mở cửa,” Maryrose nói.

“Vậy thì anh chỉ còn biết hy vọng rằng số nạn nhân cần thiết sẽ sớm nộp mạng, bởi vì đến giờ mở cửa là anh về. Anh sẽ nhường lại việc giết chóc cho một ai đó.”

“Ở đây làm gì có ai bắn tốt như anh,” Maryrose đáp.

“Và cậu biết rất rõ điều đó,” Jimmy nói, giọng đột nhiên trở nên hằn học.

Anh đang quan sát dòng cát. Lúc này thật khó mà biết được cái hố kiến nào là hố mới. Jimmy đang nhìn chằm chằm vào một cái hố hơi lớn, dưới đáy có một cái bướu nhỏ - thân mình của con quái vật đang chờ; và một cái nhánh màu đen nhỏ xíu - răng hàm của con quái vật. “Bây giờ, tất cả những gì chúng ta cần là mấy con kiến,” Jimmy nói. “Và mấy con bồ câu,” Paul nói. Và, để đáp lại lời chỉ trích của Jimmy, anh nói thêm: “Tớ có thể chối bỏ được tài năng tự nhiên của mình hay không? Chúa cho. Và Chúa lấy đi. Trong trường hợp của tớ, Người đã cho.”

“Bất công,” tôi nói. Paul dành cho tôi nụ cười nhăn nhở tán thưởng hết sức dễ thương. Tôi mỉm cười lại. Không ngước mắt khỏi cuốn sách, Willi hắng giọng. Âm thanh này nghe thật ngộ nghĩnh, giống như một diễn viên dở ẹc, thế là cả tôi và Paul bật lên từng tràng cười hoang dại không kìm được quen thuộc với các thành viên của nhóm, dù đấy là từng người riêng rẽ, hoặc từng đôi, hoặc cả nhóm. Chúng tôi cười không dứt, còn Willi cứ ngồi đọc. Nhưng bây giờ tôi vẫn nhớ đôi vai khom khom nhẫn nại cùng cặp môi mím chặt đau đớn của anh. Lúc đó tôi đã quyết định không để ý đến điều này.

Đột nhiên có tiếng đập cánh êm ru hoảng hốt vang lên và một con bồ câu nhanh chóng đậu xuống cành cây gần như ngay trên đầu chúng tôi. Nó nhấc cánh toan bay lên ngay khi thấy chúng tôi, xếp cánh lại, đi mấy vòng trên cành cây, nghiêng đầu nhìn xuống chúng tôi. Đôi mắt đen sáng mở to giống như đôi mắt tròn của lũ côn trùng giao phối trên con đường mòn. Chúng tôi có thể nhìn thấy màu hồng thanh tú trên móng chân nó quặp chặt lấy cành cây và ánh mặt trời óng ả trên cánh nó. Paul nhấc khẩu súng lên - gần như dựng đứng - bắn, và con chim rơi xuống giữa chúng tôi. Máu bắn khắp cánh tay Jimmy. Anh lại tái nhợt, lau máu đi nhưng không nói gì.

“Việc này đang trở nên ghê tởm quá,” Willi nói.

“Vẫn như thế từ đầu mà,” Paul điềm tĩnh đáp.

Anh cúi người, nhặt lấy con chim ra khỏi đám cỏ và xem xét. Nó vẫn sống. Nó rũ xuống, nhưng cặp mắt đen nhìn chúng tôi chăm chú. Một lớp màng mỏng bao phủ lên cặp mắt, sau đó bằng một cái rùng mình dứt khoát, nó đẩy lùi tử thần rồi giãy giụa và vật lộn một lúc trong tay Paul. “Tớ phải làm gì bây giờ?” Paul nói, giọng đột nhiên the thé; rồi ngay lập tức lấy lại bình tĩnh bằng một câu nói đùa: “Các cậu đang trông đợi tớ giết con vật này một cách lạnh lùng phải không?”

“Đúng vậy,” Jimmy nói, đối mặt với Paul và thách thức anh. Dòng máu vụng về lại dâng lên má anh khiến nó loang lổ những mảng hồng, nhưng anh vẫn nhìn chằm chằm vào Paul.

“Rất tốt,” Paul nói, giọng khinh khỉnh, môi mím chặt. Anh nhẹ nhàng đỡ con bồ câu, không biết phải làm sao để giết chết nó. Còn Jimmy thì chờ đợi Paul chứng tỏ bản thân. Trong lúc đó, con chim chìm trong một mớ lông bóng loáng giữa hai tay Paul, đầu lả xuống trên cổ, run lên ngẩng thẳng một lần nữa, ngất sang một bên, trong khi cặp mắt xinh đẹp bị lớp màng che phủ còn nó thì vật lộn hết lần này sang lần khác với cái chết.

Rồi, để Paul khỏi phải thực hiện thử thách này, đột nhiên nó tắt thở, và Paul vứt nó lên đống xác.

“Lúc nào cậu cũng may mắn một cách kinh khủng trong mọi chuyện,” Jimmy nói bằng giọng giận dữ đến phát run lên. Cái miệng đầy đặn của anh, đôi môi anh vẫn tự hào gọi là “suy đồi”, rung lên thấy rõ.

“Ừ, tớ biết,” Paul đáp. “Tớ biết mà. Thần thánh phù hộ cho tớ. Bởi vì tớ sẵn sàng thừa nhận với cậu, Jimmy thân mến ạ, là tớ không thể nào buộc mình phải vặn cổ con bồ câu này được.”

Jimmy quay đi, đau đớn, trở lại với công việc quan sát hố của đám côn trùng ăn kiến. Khi anh đang dồn sự chú ý vào Paul, một con kiến rất bé, nhẹ như một mẩu bông, rơi vào thành hố và lúc này đã bị cắt ra làm hai bởi cặp răng của con quái vật. Bi kịch chết chóc này diễn ra trong phạm vi nhỏ đến mức cái hố, con côn trùng ăn kiến và con kiến có thể nằm lọt thỏm trên một cái móng tay nhỏ - chẳng hạn như cái móng tay nhỏ bé màu hồng của Maryrose.

Con kiến tí hon biến mất dưới lớp cát trắng, và một giây sau cặp răng xuất hiện, sạch sẽ và sẵn sàng sử dụng cho lần sau.

Paul tháo vỏ đạn ra khỏi khẩu súng và nhét vào một viên đạn vào, cái chốt gạt đánh cạch một cái. “Chúng ta cần phải kiếm được thêm hai con nữa mới đủ cho nhu cầu tối thiểu của bà Boothby,” anh nói. Nhưng khóm cây trống không, đứng căng mình lặng lẽ dưới ánh mặt trời nóng bỏng, tất cả mọi cành cây xanh rì và duyên dáng khẽ đung đưa. Lũ bướm giờ đây đã trở nên vắng đi thấy rõ, chỉ còn vài chục con đang dập dờn trong cái nóng chảy mỡ. Sóng nhiệt dâng lên giống như dầu trên cỏ, trên các dải cát, rất mạnh và dày trên những tảng đá nhô lên khỏi cỏ.

“Không có gì,” Paul nói. “Không có động tĩnh gì cả. Chán quá.”

Thời gian trôi qua. Chúng tôi hút thuốc. Chúng tôi chờ đợi. Maryrose nằm dài, mắt nhắm lại, ngon lành như mật ong. Willi đọc sách, kiên trì nâng cấp bản thân. Anh đang đọc cuốn Stalin với vấn đề thuộc địa.

“Một con kiến nữa này,” Jimmy nói, giọng phấn khích. Một con kiến lớn, gần bằng con côn trùng ăn kiến, đang vội vã lao đi bằng những cú vọt không đều nhau giữa các cọng cỏ. Nó di chuyển theo cách vừa chạy vừa dừng, giống như con chó săn lúc đánh hơi. Nó ngã thẳng xuống miệng hố, và giờ đây chúng tôi kịp nhìn thấy cặp răng nâu bóng vươn lên và cặp lấy giữa mình con kiến, suýt thì cắt nó ra làm đôi. Một trận chiến. Bụi cát trắng chảy xuống thành hố. Chúng đánh nhau dưới cát. Rồi yên lặng.

“Đất nước này có một thứ,” Paul nói, “sẽ làm tớ phải nhớ đến suốt đời. Khi nghĩ về cái tuổi thơ được bảo bọc mà những gã như Jimmy và tớ được hưởng - ngôi nhà xinh đẹp, mái trường công và Oxford, chúng ta có thể làm gì khác ngoài việc biết ơn những gì học được từ thực tế tự nhiên toàn những mỏ với nanh đỏ lòm này?”

“Tớ không biết ơn,” Jimmy nói. “Tớ ghét đất nước này.”

“Tớ ngưỡng mộ nó. Tớ nợ nó tất cả mọi thứ. Tớ sẽ không bao giờ nhả ra những lời sáo rỗng cao đẹp tự do chủ nghĩa học từ nền giáo dục dân chủ của tớ nữa. Bây giờ tớ đã hiểu rõ hơn.”

Jimmy nói: “Có thể là tớ hiểu rõ hơn, nhưng tớ vẫn sẽ tiếp tục nói những lời hay ý đẹp. Ngay khi tớ đặt chân trở về nước Anh. Đối với tớ thì ngày đó càng sớm càng tốt. Trên hết thảy, nền giáo dục của chúng ta đã chuẩn bị cho chúng ta đối mặt với sự bé mọn đằng đẵng của cuộc đời. Nó còn chuẩn bị cho chúng ta thứ gì khác nữa kia chứ? Riêng bản thân mình, tớ đang nóng lòng chờ sự bé mọn dài đằng đẵng đó bắt đầu. Khi tớ trở về - nghĩa là nếu như có lúc nào đó tớ được trở về, tớ sẽ…”

“Ô này,” Paul thốt lên, “lại một con chim nữa đến kìa. Không, không phải.” Một con bồ câu bay về phía chúng tôi, nhìn thấy chúng tôi bèn chuyển hướng bay giữa không trung, suýt thì đậu lên khóm cây bên kia, nhưng rồi nó đổi ý và bay đi mất. Cách đó khoảng hai trăm mét, một tốp nhân công nông trại đang đi qua trên con đường mòn. Chúng tôi lặng lẽ quan sát họ. Họ cười nói suốt cho tới khi trông thấy chúng tôi, rồi bây giờ họ cũng im lặng, và bước qua mà tránh nhìn chúng tôi, cứ như làm vậy thì họ có thể tránh được một con quỷ nào đó từ phía chúng tôi, những người da trắng.

Paul khe khẽ nói: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi.” Rồi anh đổi giọng, vui vẻ nói: “Nhìn một cách khách quan, tránh liên tưởng đến đồng chí Willi và đồng bọn - đồng chí Willi, tôi mời đồng chí cân nhắc mọi việc một cách khách quan.” Willi đặt cuốn sách xuống, chuẩn bị thể hiện sự mỉa mai. “Đất nước này rộng lớn hơn Tây Ban Nha. Nó bao gồm một triệu rưỡi người da đen, nếu ta được phép đề cập đến họ, và một trăm ngàn người da trắng. Nội ý nghĩ đó cũng đòi hỏi người ta phải có hai phút im lặng. Và chúng ta thấy gì? Người ta có thể hình dung được - người ta có toàn quyền hình dung, bất kể cậu có muốn nói, đồng chí Willi ạ, rằng một nhúm cát vô nghĩa này trên bãi biển thời gian - hình ảnh này không tệ chứ? - không độc đáo, nhưng luôn luôn phù hợp - con số hơn-một-triệu-rưởi người này ở trên mảnh đất xinh đẹp này của Chúa chỉ để làm cho nhau trở nên khổ sở hơn mà thôi…” Đến đây Willi lại cầm cuốn sách lên và chăm chú vào nó. “Đồng chí Willi, cứ để mắt đồng chí dõi theo con chữ nhưng hãy để cho đôi tai của tâm hồn đồng chí lắng nghe. Bởi vì thực tế - thực tế - là ở đây có đủ lương thực cho tất cả mọi người! - đủ nguyên liệu xây nhà cho tất cả mọi người! - đủ tài năng mặc dù phải thừa nhận là hiện tại đang bị giấu kín đến nỗi chỉ con mắt độ lượng nhất mới có thể nhận ra được - tôi nói là đủ tài năng để tạo ra ánh sáng ở nơi này chỉ có bóng tối hiện diện.”

“Cậu dựa vào cái gì mà suy luận như vậy?” Willi nói.

“Tớ chẳng suy luận gì cả. Tớ đang được một thứ ánh sáng… mới mẻ, thứ ánh sáng chói lòa, không kém…”

“Nhưng những gì cậu nói cũng đúng với cả thế giới, không phải chỉ một mình đất nước này,” Maryrose nói.

“Maryrose cao quý ơi! Đúng vậy. Mắt tớ đang mở to - Đồng chí Willi, cậu có phủ nhận rằng rằng còn có một nguyên lý nào đó đang hoạt động chưa được triết học của cậu thừa nhận? Một nguyên lý hủy diệt?”

Willi nói bằng đúng cái giọng mà tất cả chúng tôi đều nghĩ tới: “Không cần phải nhìn xa hơn luận điểm triết học về đấu tranh giai cấp,” và cứ như thể anh vừa nhấn nút, Jimmy, Paul và tôi bật lên một tràng cười không thể nào kìm nén được mà Willi không bao giờ tham gia.

“Tớ rất vui lòng khi thấy rằng,” anh nói, miệng cau có, “những đảng viên xã hội tốt - ít nhất thì hai người bọn cậu cũng tự gọi mình là đảng viên xã hội, lại coi đó là chuyện hài hước.”

“Em không coi đó là chuyện hài hước,” Maryrose nói.

“Em có bao giờ thấy chuyện gì là hài hước đâu,” Paul nói. “Em có biết rằng em không bao giờ cười không hả Maryrose? Không bao giờ? Trong khi đó thì anh, người có quan điểm sống có thể coi là bệnh hoạn, và càng lúc càng bệnh hoạn, lại cười liên tục? Em giải thích thế nào về chuyện này?”

“Em không có quan điểm sống nào cả,” Maryrose vừa nói vừa nằm dài ra trông giống như một con búp bê bé xíu mềm mại trong chiếc quần yếm và chiếc áo sơ mi sáng màu. “Dù sao đi nữa,” cô nói thêm, “thì bọn anh đâu có cười. Em để ý nghe bọn anh suốt…” - (cô nói câu này như thể cô không phải là người trong nhóm chúng tôi mà là người ngoài) - và em nhận thấy rằng bọn anh cười nhiều nhất khi nói chuyện gì đó kinh khủng. Em không coi đó là cười.”

“Khi em ở bên anh trai mình, em có cười không Maryrose? Và khi em ở bên người tình may mắn của mình ở cape Town?”

“Có.”

“Tại sao?”

“Bởi vì bọn em hạnh phúc,” Maryrose đáp giản dị.

“Lạy Chúa lòng lành,” Paul khâm phục nói. “Anh không thể nói như vậy được đâu. Jimmy, đã bao giờ cậu cười lớn vì hạnh phúc chưa?”

“Tớ chưa bao giờ hạnh phúc cả,” Jimmy đáp.

“Em thì sao, Anna?”

“Em cũng không.”

“Willi?”

“Chắc chắn rồi,” Willi bướng bỉnh đáp, bảo vệ chủ nghĩa xã hội, triết học hạnh phúc.

“Maryrose,” Paul nói, “em đang nói lên sự thật. Anh không tin Willi nhưng anh tin em. Dù mọi chuyện có thế nào đi nữa thì em cũng rất đáng ghen tị, Maryrose ạ. Em có biết điều đó không?”

“Có,” Maryrose đáp. “Có, em nghĩ em may mắn hơn bất kỳ người nào trong bọn anh. Em thấy hạnh phúc chẳng có gì sai cả. Có gì sai khi hạnh phúc cơ chứ?”

Im lặng. Chúng tôi nhìn nhau. Rồi Paul trang trọng cúi đầu trước Maryrose: “Như thường lệ,” anh nói bằng giọng khiêm nhường, “bọn anh chẳng có gì để trả lời em cả.”

Maryrose một lần nữa nhắm mắt lại. Một con chim bồ câu đáp xuống thật nhanh trên ngọn cây ở khóm đối diện. Paul bắn trượt. “Một thất bại,” anh thốt lên, giả giọng bi kịch. Con chim vẫn đậu nguyên chỗ cũ, ngạc nhiên nhìn quanh, theo dõi một chiếc lá bị viên đạn của Paul bắn rụng đang chao xuống đất. Paul tháo vỏ đạn rỗng ra, thong thả nạp đạn lại, ngắm và bắn. Con chim rơi xuống. Jimmy bướng bỉnh không nhúc nhích. Anh không nhúc nhích. Và Paul, trước khi cuộc chiến ý chí kịp kết thúc với phần thua thuộc về mình, đã giành chiến thắng bằng cách đứng dậy và nói: “Tớ sẽ tự đi nhặt cho chính mình.” Và anh bước tới nhặt con bồ câu; và tất cả chúng tôi đều thấy rằng Jimmy phải đấu tranh với chính mình để đôi chân không nhấc thân mình anh dậy bước qua đám cỏ đuổi theo Paul, lúc này đã trở lại với con chim chết, vừa ngáp vừa ném nó vào cùng với những xác chim khác.

“Mùi máu kinh quá, làm em nôn mất,” Maryrose nói.

“Bình tĩnh,” Paul nói. “Chỉ tiêu của chúng ta sắp đạt được rồi.”

“Sáu là đủ,” Jimmy nói. “Bởi vì sẽ không ai trong chúng ta ăn món bánh này cả. Ông Boothby có thể sở hữu toàn bộ chỗ này.”

“Chắc chắn là tớ sẽ ăn,” Paul nói. “Và các cậu cũng vậy. Chẳng lẽ các cậu lại thực sự hình dung rằng khi cái bánh ngon lành nhân thịt nâu đẫm nước xốt thơm tho đặt ra trước mặt thì các cậu vẫn nhớ được rằng những khúc hát dịu dàng của bạn chim này đã bị tiếng sấm tận thế cắt đứt một cách tàn bạo ư?”

“Có chứ,” Maryrose nói.

“Có,” tôi trả lời.

“Willi?” Paul hỏi, cố tình gây chuyện.

“Có lẽ là không.” Willi đáp, vẫn tiếp tục đọc sách.

“Bản tính của phụ nữ là dịu dàng,” Paul nói. “Họ sẽ quan sát chúng ta ăn, đùa nghịch với món bê quay ngon lành của bà Boothby, bĩu những cái miệng xinh nhỏ làm bộ ghê tởm, nhưng càng yêu chúng ta hơn vì những trò độc ác của chúng ta.”

“Giống như phụ nữ Mashana với người Matabele,” Jimmy nói.

“Tớ thích suy nghĩ về những ngày đó,” Paul nói, ngồi xuống với khẩu súng sẵn sàng, quan sát lùm cây. “Đơn giản quá chừng. Những người đơn giản giết nhau vì những lý do chính đáng, đất đai, phụ nữ, thức ăn. Không giống như chúng ta. Không giống chúng ta chút nào. Đối với chúng ta - các cậu có biết điều gì sẽ xảy ra không? Để tớ nói cho mà nghe. Nhờ kết quả công việc của những đồng chí tốt như Willi, luôn sẵn sàng hy sinh thân mình cho người khác, hoặc những người như tớ, chỉ quan tâm đến lợi nhuận, tớ dự đoán rằng trong vòng năm mươi năm nữa, toàn bộ vùng đất hoang tươi đẹp chỉ toàn bươm bướm và châu chấu mà chúng ta đang thấy trải dài trước mắt sẽ đầy những ngôi nhà chung vách của các công nhân da đen ăn mặc tươm tất.”

“Vậy thì sao chứ?” Willi hỏi.

“Đấy là tiến bộ,” Paul đáp.

“Đúng vậy,” Willi nói.

“Tại sao lại là nhà chung vách?” Jimmy hỏi, vẻ rất nghiêm túc. Anh có những lúc rất nghiêm túc về tương lai của chủ nghĩa xã hội. “Dưới chính quyền xã hội chủ nghĩa sẽ có những ngôi nhà xinh đẹp có vườn hoặc những căn hộ rộng lớn.”

“Jimmy thân mến của tôi!” Paul nói. “Thật đáng tiếc là cậu lại không hứng thú với môn kinh tế học. Xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa đi nữa - thì mảnh đất xinh đẹp này, phù hợp để xây dựng, sẽ được xây dựng với tốc độ chấp nhận được cho các nước nghèo thực sự - đồng chí đang nghe đấy chứ, đồng chí Willi?”

“Tớ đang nghe.”

“Và bởi vì chính phủ nào vấp phải vấn đề cần nhanh chóng lo chỗ ở cho những người chưa có nhà, bất kể là xã hội hay tư bản, đều chọn những căn nhà sẵn có rẻ tiền nhất, càng cầu toàn càng hỏng việc, nên khung cảnh xinh đẹp này sẽ biến thành các nhà máy nhả khói lên bầu trời xanh, và hàng loạt những ngôi nhà rẻ tiền giống hệt nhau. Tôi nói có đúng không, đồng chí Willi?”

“Cậu nói đúng.”

“Vậy thì sao?”

“Vấn đề không nằm ở chỗ đó.”

“Vấn đề tớ muốn nói nằm ở chỗ đó. Đấy là lý do tại sao tớ ưa nghĩ về cảnh man rợ đơn giản của người Matabele và người Mashana. Vì cảnh man rợ kia thì quá kinh rợn không dám nghĩ đến. Đây là thực tế của thời đại chúng ta, dù là xã hội hay tư bản - sao, đồng chí Willi?”

Willi ngập ngừng, sau đó nói: “Bề ngoài cũng sẽ có những điểm tương đồng nhất định, nhưng…” Câu nói của anh bị Paul và tôi, sau đó là Jimmy cắt đứt bằng một tràng cười.

Maryrose nói với Willi: “Họ cười không phải vì những gì anh nói, mà bởi vì anh luôn nói những gì họ đoán được trước.”

“Anh biết điều đó,” Willi đáp.

“Không phải đâu,” Paul nói, “em sai rồi Maryrose. Anh cười cả những gì cậu ấy nói đấy. Bởi vì anh cực sợ rằng sự thực không phải như thế. Cầu Chúa tha tội, anh mà lại đi rao giảng về chuyện này, nhưng anh sợ rằng - về phần anh, thỉnh thoảng anh sẽ bay ra khỏi nước Anh để kiểm tra các khoản đầu tư của mình ở nước ngoài và biết đâu anh lại bay qua vùng này, nhìn xuống các nhà máy đang tỏa khói và các khu nhà tập thể, anh sẽ nhớ đến những ngày tháng vui vẻ ở miền quê yên tĩnh này và…” Một con bồ câu đậu xuống khóm cây đối diện. Thêm một con nữa, rồi một con nữa. Paul nổ súng. Một con rơi xuống. Anh bắn tiếp, con thứ hai rơi xuống. Con thứ ba vội vã bay vụt lên bầu trời như thể nó vừa được phóng ra từ súng bắn đá. Jimmy đứng dậy, bước lại đó, cầm hai con chim bê bết máu trở về, ném chúng vào cùng với những con khác và nói: “Bảy rồi. Vì Chúa, như vậy chưa đủ hay sao?”

“Đủ rồi,” Paul đáp, đặt khẩu súng sang một bên. “Còn bây giờ chúng ta đi mau về quán rượu nào. Chúng ta chỉ có đủ thời gian để gột sạch máu trước giờ mở cửa thôi đấy.”

“Nhìn kìa,” Jimmy nói. Một con bọ dừa nhỏ kích thước gấp đôi con côn trùng ăn kiến lớn nhất đang bò đến gần qua những cọng cỏ chất ngất trên đầu nó.

“Không được,” Paul nói, “đấy không phải là nạn nhân tự nhiên.”

“Có lẽ vậy,” Jimmy đáp. Anh phẩy con bọ dừa vào cái hố lớn nhất. Một vụ hỗn loạn diễn ra. Cặp răng nâu bóng vồ lấy con bọ dừa, con bọ nhảy lên, kéo con côn trùng ăn kiến lên nửa hố. Cái hố sụp xuống giữa một làn sóng cát trắng, và trong vòng dăm phân xung quanh cuộc chiến thầm lặng nghẹt thở này, cát cuộn xoáy hết cả lên.

“Nếu tai chúng ta có khả năng nghe được,” Paul nói, “không gian sẽ đầy tiếng hò hét, rên rỉ, gầm gừ và hổn hển. Nhưng vì không thể, nên trên đầm lầy nắng cháy này chỉ có sự im lặng của hòa bình ngự trị.”

Có tiếng đập cánh. Một con chim xuất hiện.

“Không, đừng,” Maryrose đau đớn thốt lên, mở mắt và dùng khuỷu tay chống mình lên. Nhưng quá muộn, Paul đã bắn, con chim rơi xuống. Trước khi nó kịp chạm đất, một con chim khác đậu xuống, chót vót vắt vẻo trên đầu một cành cây. Paul bắn, con chim rơi xuống, lần này kèm theo tiếng kêu và đôi cánh đập trong vô vọng. Paul nhổm dậy, chạy qua đám cỏ, nhặt con chim chết và con bị thương về. Chúng tôi thấy anh nhìn nhanh con chim bị thương đang vùng vẫy bằng ánh mắt kiên quyết, miệng mím chặt, rồi vặn cổ nó.

Anh quay lại, quẳng hai cái xác xuống và nói: “Chín. Thế là đủ.” Trông anh trắng bợt và buồn nôn, nhưng mặc dù vậy, anh vẫn cố gắng ném cho Jimmy một nụ cười thú vị, đắc thắng.

“Đi thôi,” Willi vừa nói vừa gập cuốn sách lại.

“Từ từ,” Jimmy nói. Giờ đây cát đã ngừng chuyển động. Anh dùng một cọng cỏ mảnh đào cát lên và lôi ra cái xác của con bọ dừa tí hon, sau đó là xác của con côn trùng ăn kiến. Bây giờ chúng tôi đã nhìn thấy cặp răng của con côn trùng cắm sâu trong thân mình con bọ dừa. Nó chỉ còn lại là một cái xác không đầu.

“Bài học ở đây là chỉ kẻ thù tự nhiên mới nên giao chiến với nhau.”

“Những ai mới là người quyết định đâu là kẻ thù tự nhiên, còn đâu không phải?” Jimmy hỏi.

“Không phải cậu,” Paul đáp. “Nhìn xem cậu vừa làm đảo lộn cân bằng tự nhiên thế nào. Bây giờ đã bớt đi một con côn trùng ăn kiến. Và có thể hàng trăm con kiến lẽ ra đã nằm trong bụng nó bây giờ lại được sống. Và có một con bọ dừa chết, bị xẻ thịt một cách vô cớ.

Jimmy thận trọng bước qua dòng sông cát đầy những miệng hố lấp lánh, như muốn khỏi làm kinh động những con côn trùng còn lại đang nằm yên chờ đợi dưới đáy cái bẫy cát. Anh kéo cái áo sơ mi vào cơ thể đỏ ửng ướt đẫm mồ hôi của mình. Maryrose đứng dậy bằng phong cách quen thuộc - ngoan ngoãn, nhẫn nại, cam chịu, cứ như bản thân cô không còn chút ý chí nào. Tất cả chúng tôi đứng bên mép dải bóng râm, ngần ngừ không muốn bước vào ánh nắng chói chang nóng nực buổi trưa, đã thế lại thêm hoa mắt chóng mặt với đám bươm bướm còn lại đang quay cuồng như say rượu trong hơi nóng. Và khi chúng tôi đứng đó, khóm cây lúc này chúng tôi nằm tránh nắng òa lên bài ca sự sống. Đám ve sầu trú ngụ trong khóm cây, kiên nhẫn im lặng suốt cả hai tiếng đồng hồ chờ đợi chúng tôi ra đi, nay ré lên từng hồi liên tiếp. Và trong khóm cây bên kia, nhân lúc chúng tôi không để ý, hai con chim bồ câu đậu xuống kêu gù gù. Paul ngắm chúng, khẩu súng trường đung đưa. “Không,” Maryose nói. “Đừng mà.”

“Tại sao?”

“Thôi mà Paul.”

Đống xác chín con bồ câu, bị buộc túm những cái chân hồng hồng, lủng lẳng trong bàn tay kia của Paul, máu nhỏ xuống ròng ròng.

“Đây là một sự hy sinh lớn lao,” Paul từ tốn nói, “nhưng vì em, Maryrose ạ, anh sẽ dừng lại.”

Cô mỉm cười với anh, không phải vì biết ơn, mà cái kiểu trách móc nhẹ nhàng mà cô luôn dành cho anh. Và anh cười đáp trả, gương mặt rám nắng vui vẻ có đôi mắt xanh nước biển của anh cởi mở tùy cô dò xét. Họ cùng nhau bước đi phía trước, đám chim chết lê cánh trên những đám cỏ màu ngọc bích.

Ba chúng tôi theo sau.

“Thật đáng tiếc,” Jimmy nói, “là Maryrose lại chê Paul quá nhiều điểm. Bởi vì rõ ràng ai cũng nhận thấy họ là một cặp cực kỳ tương xứng.” Anh cố nói bằng giọng đùa bỡn mỉa mai, và suýt thì thành công. Suýt nữa, nhưng không hẳn, anh vẫn thốt lên sự ghen tị về việc Paul qua câu nói này.

Chúng tôi đưa mắt nhìn: họ, hai người đó, là một cặp hoàn hảo, cả hai đều nhẹ nhàng và duyên dáng, ánh mặt trời khiến tóc họ sáng rực lên, lấp lánh trên làn da nâu. Vậy nhưng Maryrose vẫn tiếp tục bước đi mà không nhìn Paul, trong khi anh ném cho cô những cái nhìn xanh biếc khẩn khoản một cách bỡn cợt nhưng vô ích.

Đường về quá nóng nên chúng tôi không nói được gì. Đi qua cái gò nhỏ với những đống đá granite bị mặt trời thiêu đốt, từng làn sóng nhiệt nóng đến chóng mặt khiến chúng tôi phải rảo bước qua nhanh. Mọi thứ thật trống rỗng và yên tĩnh, chỉ có đám ve sầu và một con bồ câu ở đằng xa lên tiếng. Và khi đi qua con gò, chúng tôi bước chậm lại để tìm đám châu chấu và thấy rằng các đôi tình nhân sáng rõ quấn chặt lấy nhau nay đã biến mất gần hết. Chỉ còn sót lại một ít, con này trên lưng con kia, giống như những cái kẹp phơi quần áo hình châu chấu vẽ đôi mắt đen tròn. Một ít thôi. Và lũ bướm gần như đã biến sạch. Một vài con chập chờn bay qua, dáng mệt mỏi, trên đám cỏ bị mặt trời thiêu đốt.

Đầu chúng tôi ong lên vì nóng. Chúng tôi ngây ngấy buồn nôn vì mùi máu.

Về đến khách sạn, chúng tôi tách ra mà không nói với nhau câu nào.

[Nửa phải của cuốn sổ bìa đen, mang tựa đề Tiền, tiếp tục.]

Cách đây vài tháng, tôi nhận được một bức thư của tạp chí Pomegranate Regieo ở New Zealand, đặt viết truyện. Tôi phúc đáp, nói rằng tôi không viết truyện. Họ trả lời đề nghị tôi gửi cho “các đoạn nhật ký, nếu chị còn giữ.” Tôi đáp lại bảo rằng tôi không ưa việc xuất bản các nhật ký viết riêng cho cá nhân. Tôi giải khuây bằng cách soạn cuốn nhật ký hư cấu bằng chất giọng thích hợp với một tờ báo văn chương ở khu thuộc địa hay một khu hẻo lánh nào đó ở rìa Đế quốc Anh: các giới trí thức ở cách xa trung tâm văn hóa sẽ chấp nhận một giọng văn trang trọng hơn nhiều so với các tay chủ bút và khách hàng của họ ở những nơi như London hay Paris chẳng hạn. (Mặc dù đôi khi tôi vẫn thắc mắc có đúng thế không.) Nhật ký này là của một thanh niên người Mỹ sống dựa vào tiền trợ cấp của người cha làm trong nghề bảo hiểm. Cậu ta đã có ba truyện ngắn được xuất bản và hoàn thành được một phần ba cuốn tiểu thuyết. Cậu ta uống rượu khá nhiều, nhưng không nhiều đến mức như cậu huênh hoang với mọi người; hút cần sa, nhưng chỉ vào những dịp có bạn bè từ Mỹ đến thăm. Cậu căm ghét cái hiện tượng thô thiển có tên là Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

16 tháng Tư. Trên bậc thềm bảo tàng Louvre. Nhớ tới Dora. Cô gái ấy đang thực sự gặp rắc rối. Không biết cô đã giải quyết xong chưa. Phải viết thư cho cha mới được. Trong bức thư gần đây nhất, giọng cha khiến mình đau lòng. Chẳng lẽ chúng ta phải lúc nào cũng cách xa nhau? Con là nghệ sĩ - Lạy Chúa!

17 tháng Tư. Nhà ga Lyon. Nghĩ tới Lise. Lạy Chúa tôi, đã hai năm rồi cơ đấy! Mình đã làm gì với cuộc đời mình thế nhỉ? Paris đã lấy mất nó… phải đọc lại Proust mới được.

18 tháng Tư. London. Diễu hành kỵ binh. Nhà văn là lương tri của thế giới. Nghĩ tới Marie. Nghĩa vụ của nhà văn là phải phản bội lại vợ mình, đất nước mình và bạn bè mình nếu như điều đó phục vụ cho tác phẩm. Và tình nhân cũng thế.

18 tháng Tư. Bên ngoài Điện Buckingham. George Eliot là Gissing của nhà giàu. Phải viết thư cho cha mới được. Chỉ còn lại có chín mươi đô la. Liệu chúng ta có bao giờ tìm được tiếng nói chung không?

9 tháng Năm. Rome. Tòa thánh Vatican. Nghĩ tới Fanny. Lạy Chúa tôi, cặp đùi của cô ấy, giống như đôi cổ trắng muốt của thiên nga. Vậy mà lại gặp rắc rối! Nhà văn là phải là, Machiavelli của nhà bếp tâm hồn. Phải đọc lại Thom (Wolfe) mới được.

11 tháng Năm. Khu Campagna. Nhớ đến Jerry - chúng giết anh mất rồi. Quân khốn nạn! Người giỏi thường chết trẻ. Mình cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa. Đến năm ba mươi tuổi mình sẽ tự sát. Nghĩ tới Betty. Những cái bóng đen của mấy cây chanh in trên mặt cô. Trông như cái đầu lâu. Mình hôn lên hốc mắt cô để cảm nhận được cái xương trắng trên môi mình. Nếu không được tin cha trước tuần tới sẽ đưa xuất bản nhật ký này. Lỗi tại ông. Phải đọc lại Tolstoy mới được. Ông chỉ nói những điều ai nấy đều biết tỏng, nhưng có lẽ vì bây giờ thực tế đang hút cạn chất thơ ra khỏi đời mình nên mình sẽ cho phép ông vào điện thần văn chương của mình.

21 tháng Sáu. Les Halles. Nói chuyện với Marie. Rất bận nhưng cô cũng đề nghị dành cho mình một đêm miễn phí. Lạy Chúa tôi, mắt mình lại đầy nước khi nhớ đến chuyện đó! Khi tự sát, mình sẽ nhớ rằng một cô gái đứng đường đã đề nghị cho mình một đêm trong đời, vì tình yêu. Đời mình chưa từng có lời khen ngợi nào lớn lao hơn thế. Không phải nhà báo mà nhà phê bình mới là con điếm của giới trí thức. Đang đọc lại Fanny Hill. Đang nghĩ đến việc viết một bài báo có nhan đề “Tình dục là Thuốc phiện của con người”.

22 tháng Sáu. Quán cà phê Flore. Thời gian là Dòng sông chở những chiếc lá suy nghĩ của chúng ta đi vào lãng quên. Cha bảo mình phải về nhà. Liệu có lúc nào ông hiểu mình không? Đang viết một cuốn sách khiêu dâm cho Jules có tên là Chim Bướm. Năm trăm đô, nên cha cứ việc lượn đi thôi. Nghệ thuật là Tấm gương phản chiếu những lý tưởng bị phản bội của chúng ta.

30 tháng Bảy, London, Nhà vệ sinh công cộng, Quảng trường Leicester. A, những thành phố đã mất trong cơn ác mộng thành thị của chúng ta! Nghĩ tới Alice. Khát thèm nhục dục đến với mình ở Paris khác hẳn về mặt tính chất so với phát thèm nhục dục đến với mình ở London. Ở Paris, tình dục mang mùi hương của cái gì đó rất khó nói. Ở London, nó chỉ đơn thuần là tình dục. Phải quay lại Paris thôi. Mình có nên đọc Bossuet? Đang đọc cuốn Chim Bướm của mình lần thứ ba. Khá ổn. Đã dồn, không phải những gì tốt nhất, nhưng cũng là những gì tốt nhì vào đó. Khiêu dâm là thứ báo chí đích thực của những năm năm mươi. Jules lại bảo chỉ trả cho mình ba trăm đô. Khốn nạn! Đánh điện cho cha, nói rằng con đã hoàn thành một cuốn sách và đã được người ta chấp nhận. Ông gửi cho mình một ngàn đô. Chim Bướm thực sự là một bãi nước bọt nhổ thẳng vào mặt Đại lộ Madison. Leautard là Stendhal của người nghèo. Phải đọc Stendhal mới được.

Tình cờ quen nhà văn trẻ người Mỹ James Schafter. Cho cậu xem cuốn nhật ký này. Cậu rất khoái. Chúng tôi bịa ra thêm khoảng một ngàn từ nữa, sau đó cậu gửi cho một tờ văn nghệ nhỏ của Mỹ, coi là tác phẩm của một người bạn không dám tự mình gửi vì quá ngượng ngùng. Được in. Cậu mời tôi đi ăn trưa để chúc mừng. Kể cho tôi nghe chuyện sau: nhà phê bình Hans P., một người rất khoa trương, đã viết một bài báo về tác phẩm của James, nói rằng nó rất đồi bại. Anh ta có lịch tới London. Trước đó đã từng làm Hans P. mất mặt vì không thích anh ta, James gửi một bức điện nịnh bợ tới sân bay và một bó hoa tới khách sạn. Lúc Hans P. từ sân bay về thì cậu đã chờ sẵn ở sảnh khách sạn, mang theo một chai Scotch và một bó hoa khác. Sau đó, cậu xung phong làm hướng dẫn viên giới thiệu vòng quanh London. Hans P. khoái chí nhưng vẫn cảm thấy lo lắng. James duy trì chuyện này trong suốt hai tuần Hans P. ghé thăm, bám lấy từng lời của Hans. Khi Hans P. ra về, anh ta nói với vẻ đạo đức hết mực: “Tất nhiên, anh phải hiểu rằng tôi không bao giờ cho phép cảm xúc cá nhân xen vào lương tri phê bình của mình cả.” James đáp lời: “quằn quại trong sự suy đồi đạo đức,” nguyên văn lời cậu miêu tả: “Đúng vậy đấy, nhưng vâng, tôi hiểu điều đó, nhưng trời ạ, quan trọng vẫn là phải có trao đổi - chính thế.” Hai tuần sau, Hans P. viết một bài báo về tác phẩm của James, trong đó nói rằng yếu tố đồi bại trong tác phẩm của James xuất phát từ cảm giác yếm thế trung thực của người thanh niên trước tình trạng xã hội chứ không phải yếu tố bền vững trong thế giới quan của James. James cười lăn lộn trên sàn nhà suốt cả buổi chiều.

James đảo ngược lại tấm mặt nạ mà các nhà văn trẻ vẫn thường đeo. Tất cả, hoặc gần như tất cả, nếu từ đầu đã đủ ngây thơ, thì đều vừa ý thức vừa vô thức dần dà sử dụng ngây thơ làm một phương tiện bảo vệ. Nhưng James lại thích giả dạng đồi bại. Chẳng hạn, khi đối mặt với một đạo diễn điện ảnh chơi trò quen thuộc là vờ như định làm phim dựa vào cốt truyện của James, “y nguyên như vậy, mặc dù tất nhiên là chúng tôi phải thay đổi một chút” - James sẽ dành ra một buổi chiều, mặt nghiêm chỉnh, lắp bắp vì sốt sắng, đề nghị áp dụng những thay đổi ngày càng điên rồ hơn nhằm phục vụ lượng vé bán ra, trong khi tay đạo diễn càng lúc càng lo lắng. Nhưng, như lời James nói, ta không thể đưa ra được đề xuất thay đổi nào quá đáng hơn những gì bản thân họ sẵn sàng đưa ra, và như vậy họ không bao giờ biết được có phải là cậu có cười nhạo họ hay không. Cậu chia tay họ, “líu lưỡi với cảm xúc biết ơn.” Họ tức giận “một cách không thể nào hiểu nổi” và không liên hệ lại với cậu nữa. Hoặc tại một buổi tiệc có nhà phê bình hay quan chức nào đó mang hơi hướng khoa trương, James sẽ ngồi dưới chân người đó, gần như năn nỉ xin ân huệ và tuôn ra những lời tâng bốc. Sau đó, cậu cười bò. Tôi bảo cậu tất cả những chuyện này hết sức nguy hiểm, cậu trả lời rằng cũng chẳng nguy hiểm hơn là làm một “nghệ sĩ trẻ trung thực có phẩm giá”. “Phẩm giá,” cậu vừa nói vừa phô vẻ mặt nghiêm nghị, tay gãi gãi háng, “là tấm vải đỏ trước con bò tót Tài thần, hoặc nói cách khác, phẩm giá là cái khổ của người nghèo.” Tôi nói rằng những điều này nghe rất hay - cậu đáp: “Vậy thì Anna, chị đánh giá cái tác phẩm chế của chị thế nào? Đâu là sự khác biệt giữa chị và tôi?”

Tôi đồng ý rằng cậu ta nói đúng, nhưng lúc đó, đang hưng phấn với thành công từ cuốn nhật ký của chàng thanh niên người Mỹ, chúng tôi quyết định bịa thêm một cuốn nữa, lần này là một nữ tác giả mới cho tuổi trung niên đã từng sống vài năm ở một thuộc địa châu Phi, và mắc chứng bệnh đa cảm. Tác phẩm này nhắm vào Rupert, chủ bút tờ Zenith, mới đây đề nghị tôi “rốt cuộc cũng phải cho chúng tôi cái gì đó của chị đi chứ!”

James đã từng gặp Rupert và ghét ông ta. Rupert là người ướt át, ẻo lả, dễ kích động, đồng tính, thông minh.

Tuần lễ Phục sinh. Các cánh cửa Nhà thờ chính thống Nga ở Kensington nằm sát mép con phố giữa thế kỷ 20. Trong là bóng tối lập lòe, mùi hương trầm, những bóng người quỳ gối cúi mình với lòng mộ đạo từ thuở xa xưa. Sàn nhà trơ trụi mênh mông. Một vài thầy tu đắm mình trong nghi thức tế lễ. Mấy tín đồ ít ỏi quỳ trên nền gỗ cứng, gập người về trước và dập trán lên sàn. Ít thôi, đúng vậy. Nhưng thực. Đây là thực tại. Mình đang nhận thức được thực tại. Dù sao đi nữa thì phần đông loài người vẫn đặt bản thể mình trong một tôn giáo, chỉ có thiểu số là kẻ ngoại đạo. Ngoại đạo ư? À, đấy là một từ rất vui để nói về sự khô cằn của con người hiện đại vô thần! Mình đứng trong khi những người khác thì quỳ. Mình, cái đứa mình nhỏ bé bướng bỉnh, mình có thể cảm nhận được đầu gối mình oằn xuống, mình, kẻ duy nhất ngoan cố đứng yên. Các thầy tu trang nghiêm, hòa nhã, nam tính. Một nhúm các cậu bé xanh xao đáng yêu đang trang nghiêm bày tỏ lòng mộ đạo một cách duyên dáng. Từng làn sóng lời hát bằng tiếng Nga rắn rỏi, ấm áp rền vang. Đầu gối mình, nhủn đi… Mình thấy mình đang quỳ xuống. Cái con người cá nhân nhỏ bé thường vẫn đòi lên tiếng đâu rồi? Mình không quan tâm. Mình nhận thức được những điều sâu kín hơn. Những hình bóng trang nghiêm của các thầy tu lung linh, mờ ảo qua dòng nước mắt mình. Thật là quá sức chịu đựng. Mình loạng choạng đứng dậy và chạy trốn khỏi mảnh đất này, không phải của mình; sự trang nghiêm này, không phải của mình… phải chăng mình không nên coi mình là kẻ vô thần nữa, mà đúng hơn là bất khả tri? Từ vô thần có vẻ thật cằn cỗi khi mình nghĩ (chẳng hạn) về sự nồng nhiệt long trọng của những thầy tu này. Bất khả thi có ý vị nhiều hơn không? Mình đến trễ bữa tiệc coctail. Không vấn đề gì, bà bá tước không để ý. Mình cảm thấy, như mình vẫn luôn cảm thấy như vậy, thật buồn khi phải làm bà bá tước phu nhân Pirelli… một bước thụt lùi, chắc chắn rồi, sau khi trở thành tình nhân của bốn người đàn ông nổi tiếng? Nhưng mình cho rằng chúng ta, mỗi chúng ta, đều cần có một cái mặt nạ nhỏ bé cho riêng mình trước thế giới tàn nhẫn này. Như mọi khi, các phòng đông kín những tinh hoa văn chương của đất London. Ngó thấy Harry thân yêu của mình ngay lập tức. Mình rất thích những người Anh cao to, mặt trắng, giống loài ngựa này - thật quý phái. Chúng mình trò chuyện trong tiếng ầm ĩ vô nghĩa của buổi tiệc cocktail. Anh khuyên mình nên viết một vở kịch dựa vào cuốn Những biên giới chiến tranh. Một vở kịch không bênh phe nào cả mà tập trung vào bi kịch cốt lõi của tình thế thuộc địa, bi kịch của người da trắng. Điều này đúng, tất nhiên… nghèo khổ đó là gì, đói rách, suy dinh dưỡng, vô gia cư, những nỗi khổ ải trần tục này (từ của anh - có một típ đàn ông Anh như thế, nhạy cảm, tràn đầy sự đa cảm đích thực, giàu trực giác hơn bất cứ phụ nữ nào!) có là gì so với thực tại, cái thực tại nhân bản là tình thế khó xử của người da trắng? Lắng nghe lời anh nói, mình hiểu sâu hơn về chính cuốn sách của mình. Và mình nghĩ đến cảnh, chỉ cách đó hơn một cây số, những bóng người quỳ trên nền đá lạnh của nhà thờ Nga dập đầu bày tỏ lòng sùng kính đối với một chân lý sâu sắc. Chân lý của mình? Ôi không! Tuy nhiên, mình vừa quyết định là từ nay về sau sẽ coi mình là người theo thuyết bất khả tri chứ không phải là vô thần nữa, và ngày mai mình sẽ ăn trưa với Harry thân yêu và sẽ thảo luận về vở kịch. Khi chia tay, anh - thật tế nhị - siết lấy tay mình, một áp lực hờ hững đầy thơ mộng. Mình về nhà, đến gần với thực tại hơn bao giờ hết trong đời, mình nghĩ. Và, lặng lẽ, đến với chiếc giường hẹp tinh tươm của mình. Mình cảm thấy mỗi ngày rất cần phải có chăn đệm sạch trải trên giường. A, thật là một khoái cảm (chứ không phải nhục cảm) khi luồn mình, sau khi đã tắm rửa sạch sẽ, vào giữa tấm vải lanh sạch sẽ mát rượi, và nằm chờ giấc ngủ kéo đến. A, cái đứa mình bé nhỏ may mắn…

Ngày chủ nhật Phục sinh

Mình ăn trưa với Harry. Ngôi nhà của anh mới đáng yêu làm sao! Anh đã vạch ra một bản phác thảo về những gì anh nghĩ vở kịch nên có. Anh có người bạn thân là Sir Fred, và anh nghĩ nên để ông này đóng vai chính, vì khi đó, tất nhiên, sẽ chẳng còn khó khăn gì trong việc tìm nhà đầu tư. Anh đề xuất thay đổi cốt truyện một chút. Một thanh niên nông thôn da trắng để ý một cô gái trẻ châu Phi xinh đẹp và thông minh hiếm thấy. Anh tìm cách tác động để cô học hỏi, tự nâng cấp bản thân, bởi vì gia đình cô chỉ là những người thổ dân bản địa thô kệch. Nhưng cô hiểu lầm động cơ của anh và đem lòng yêu anh. Rồi khi anh (ôi, thật dịu dàng làm sao) giải thích về mối quan tâm thực sự của anh dành cho cô, cô nổi cơn tam bành và gọi anh bằng những từ xấu xa nhất. Chửi mắng anh. Anh nhẫn nại chịu đựng. Nhưng cô đến gặp cảnh sát và bảo rằng anh tìm cách cưỡng hiếp cô. Anh âm thầm chịu đựng tai tiếng xã hội. Anh vào tù mà chỉ dùng ánh mắt trách cứ cô, trong khi cô quay đi vì xấu hổ. Nó sẽ rất chân thật, đậm kịch tính! Nó là biểu tượng, như lời Harry nói, cho vị thế ưu việt về mặt tinh thần của người đàn ông da trắng bị lịch sử cài bẫy, bị lôi xuống vũng bùn thú vật của châu Phi. Rất thật, rất sắc sảo, rất mới. Một trong những việc chứng tỏ lòng can đảm thực thụ là bơi ngược con sóng. Khi rời nhà Harry, mình đi bộ về nhà và thực tại dùng đôi cánh trắng chạm vào mình. Mình bước những bước nhỏ chậm rãi, như để khỏi phí mất trải nghiệm tuyệt đẹp này. Và cứ thế mình bước lên giường, tắm rửa sạch sẽ, đọc cuốn Theo bước Chúa(2) mà Harry cho mượn.

Tôi nghĩ như thế là hơi khó hiểu, nhưng James bảo không, Ông ta sẽ nhảy bổ vào cho mà xem. Hóa ra là James nói đúng: nhưng không may lòng nhạy cảm hiếm hoi của tôi lại chiến thắng vào giây phút cuối cùng và tôi quyết định giữ gìn sự riêng tư của mình. Rupert gửi cho tôi một lá thư, bảo rằng ông rất hiểu, một số trải nghiệm quá riêng tư nên không thể in ra.

[Đến đoạn này, trong cuốn sổ bìa đen có ghim một bản sao truyện ngắn của James Schaffer, sau khi được một tờ tạp chí văn chương đề nghị viết bài điểm sách cho một chục cuốn tiểu thuyết. Cậu gửi truyện này cho người chủ bút, đề nghị đem in nó thay cho bài điểm sách. Người chủ bút viết lại bày tỏ sự hâm mộ truyện ngắn đó, xin phép được xuất bản trên tờ tạp chí - “nhưng bài điểm sách của anh ở đâu rồi, thưa anh Schaffer? Chúng tôi đã mong nhận được nó trong số này.” Chính thời điểm này, James và Anna xác định rằng họ thất bại, rằng trên thế giới đã xảy ra chuyện gì đó khiến cho giễu nhại trở thành vô vọng. James viết một bài điểm sách nghiêm chỉnh về chục cuốn tiểu thuyết đó, xử lý từng cuốn một; dùng hết cả ngàn từ. Anna và cậu không còn viết thêm tác phẩm chế nào nữa.]

Máu Trên Lá Chuối

Phật-phật-phật-phật-phật, những cây chuối nói, như bóng ma lướt qua vầng trăng châu Phi đang mệt mỏi vì tuổi tác, rây lọc gió. Bóng ma. Những bóng ma của thời gian và của nỗi đau trong tôi. Những đôi cánh đen của cú đêm, những đôi cánh trắng của bướm đêm, cắt vụn, rây nhỏ mặt trăng. Phật-phật, tiếng những cây chuối, và mặt trăng xanh xao vì đau đớn trượt trên tàu lá bị gió xô nghiêng. John, John, cô gái của tôi hát, cô gái da nâu, ngồi khoanh chân trong bóng tối dưới mái hiên căn lều, mặt trăng bí ẩn in trên nhãn cầu. Đôi mắt mà tôi vừa hôn lên trong đêm, đôi-mắt-nạn-nhân trong một bi kịch không của riêng ai, nhưng chẳng mấy sẽ không còn của chung nữa, ôi, châu Phi! Bởi chẳng mấy chốc đám lá chuối sẽ trở nên già yếu vì màu đỏ thẫm, đất đỏ sẽ trở nên đỏ thêm, đỏ hơn cả màu đôi môi mới được tô son của tình yêu da đen của tôi, đã bị cửa hàng phản bội cho cơn khát dục-con-buôn của tay thương nhân da trắng.

“Giờ thì nằm yên và ngủ đi Noni, mặt trăng đã mọc lên bốn sừng đầy đe dọa còn anh đang làm nên số phận của anh và em, số phận của nhân dân chúng ta.”

“John, John,” cô gái của tôi nói, và giọng nàng đang thở dài khao khát giống như tiếng thở dài của những chiếc lá sáng rực đang ve vãn mặt trăng.

“Giờ thì ngủ đi Noni của anh.”

“Nhưng trái tim em đã hóa gỗ mun bởi bồn chồn và hối lỗi về số phận của mình.”

“Ngủ đi, ngủ đi, anh không ghét em đâu Noni của anh, anh vẫn thường thấy gã đàn ông da trắng chĩa cặp mắt như mũi tên vào nhịp hông đung đưa, lúc lắc Noni của anh ạ. Anh đã thấy. Anh đã thấy rõ như thấy những tàu lá chuối đáp lại mặt trăng và những mũi giáo trắng của cơn mưa sát hại mặt đất quê hương chúng ta bị lũ ăn thịt người hãm hiếp. Ngủ đi.”

“Nhưng John, John của em, em muốn nôn mửa khi nghĩ rằng em đã phản bội anh, người đàn ông của em, người tình của em, nhưng em đã bị gã da trắng ở cửa hàng ép buộc, không còn là chính em nữa.”

Phật-phật, những tàu lá chuối kêu và lũ cú đêm thét gào thảm thiết với mặt trăng ốm o xám xịt.

“Nhưng John, John của em, đấy chỉ là một thỏi son nhỏ, một thỏi son nhỏ màu đỏ em mua để cho đôi môi khát của em thêm xinh đẹp vì anh, tình yêu của em, và khi mua nó em nhìn thấy ánh mắt màu xanh lạnh lẽo của hắn nóng rực lên trên cặp đùi thiếu nữ, và em chạy, em chạy tình yêu của em ạ, từ cửa hàng chạy về với anh, với tình yêu của em, đôi môi em đỏ vì anh, vì anh John của em người đàn ông của em.”

“Ngủ đi, Noni. Đừng ngồi khoanh chân dưới bóng trăng nhăn nhở nữa. Đừng ngồi khóc than vì nỗi đau của em mà cũng là nỗi đau của anh và nỗi đau của nhân dân chúng ta đang gào khóc xin anh thương xót, lòng anh thương xót đang dành cho em và luôn luôn vĩnh viễn, Noni của anh cô gái của anh.”

“Nhưng tình yêu của anh, John của em, tình yêu của anh dành cho em ở đâu?”

À, những khúc cuộn tối tăm của con rắn đỏ hận thù trườn dưới gốc cây chuối, trồi lên giữa những cửa sổ mắt cáo tâm hồn tôi.

“Tình yêu của anh, Noni ơi, là dành cho em và dành cho nhân dân ta và cho con rắn mào đỏ hận thù.”

“Aie, Aie, Aie,” tình yêu của tôi, tình yêu Noni của tôi thét lên, mũi giáo xuyên thấu tận chiếc dạ con bí ẩn hào phóng của nàng từ nỗi thèm khát của gã đàn ông da trắng, nỗi thèm khát sở hữu của gã, nỗi thèm khát con buôn của gã.

Và “Aie, Aie, Aie,” các bà già kêu gào trong những căn lều của họ khi nghe thấy sự cương quyết của tôi trong làn gió và trong dấu hiệu của những tàu lá chuối bị cưỡng hiếp. Những giọng nói trong làn gió, hãy mang nỗi đau của tôi đến tấu lên với thế giới tự do, con rắn trong đám bụi âm vang tiếng gọi, hãy đớp lấy gót chân thế giới nhẫn tâm này vì tôi!

“Aie, Aie, John của em, và đứa trẻ em đang mang trong mình có là gì đi nữa, nó cũng đang đè nặng lên tim em, đứa trẻ em sẽ sinh cho anh, tình yêu của em, người đàn ông của em, chứ không phải cho gã đàn ông da trắng đáng ghét ở cửa hàng đã ngáng gót chân cuống cuồng bỏ chạy của em khi em chạy trốn, và bị ném vào đám bụi vô hình lúc mặt trời lặn, thời điểm mà toàn bộ thế giới đều bị bóng đêm không tuổi phản bội?”

“Ngủ đi, ngủ đi, cô gái của anh, Noni của anh, đứa trẻ là của thế giới, trĩu nặng số phận và lai tạp trong sự bí ẩn của các dòng máu lẫn lộn, nó là đứa trẻ của những cái bóng căm hờn, đứa trẻ của con rắn dồn nén hận thù trong anh.”

“Aie, Aie,” Noni của tôi thét lên, quằn quại mãnh liệt và huyền bí trong bóng râm mái hiên căn lều.

“Aie, Aie,” các bà già kêu gào khi nghe thấy sự cương quyết của tôi, các bà là người kiểm chứng dòng đời, tử cung cằn khô sự sống, nghe thấy những tiếng thét câm lặng của sự sống từ trong căn lều của mình.

“Ngủ đi, Noni của anh. Nhiều năm nữa anh sẽ quay về. Nhưng bây giờ anh đã mang lấy mục đích cương quyết của một người đàn ông. Đừng cản anh.”

Xanh thẫm và xanh lá những bóng ma dưới ánh trăng, những bóng ma bị lòng hận thù của tôi chia nhỏ. Và đỏ thẫm con rắn trong đám bụi tím dưới cây chuối. Câu trả lời trong hàng vạn câu trả lời. Mục đích ẩn sau hàng triệu mục đích. Phật-phật, nhũng tàu lá chuối nói, và tình yêu của tôi hát: John ơi và anh sẽ bỏ em đi đâu, em người chờ đợi anh vĩnh viễn với dạ con đong đầy những khát khao.

Bây giờ tôi đi vào thành phố tới những con đường quằn quại-xám-xịt-màu-thép-nòng-súng của gã đàn ông da trắng để tìm các huynh đệ của mình và tôi sẽ đặt vào tay họ con rắn đỏ hận thù và chúng tôi sẽ cùng nhau lùng ra thói khát dục của gã da trắng và giết chết nó, để những cây chuối không còn phải mang quả lạ, mảnh đất quê hương bị hãm hiếp của chúng tôi không còn phải khóc lóc, và đám bụi linh hồn không còn phải khóc đòi mưa.

“Aie, Aie,” các bà già thét lên.

Trong bóng đêm bị ánh trăng dọa nạt, một tiếng thét, tiếng thét cái chết vô danh.

Noni của tôi gập người lại bò vào căn lều và những cái bóng xanh tím của mặt trăng trống rỗng và trống rỗng trái tim tôi ngoại trừ cái mục-đích-con-rắn cuộn tròn trong đó.

Sét gỗ mun ghét lá. Sấm dạ lan dương giết cây. Những trái đu đủ tròn xoe ngọt ngào hứng báo oán màu chàm. Phật-phật, những tàu lá chuối nói, những bóng ma trên mặt trăng đã mệt mỏi vì thời gian. Tôi đi đây, tôi đang nói với những tàu lá chuối. Vô số những cơn rùng mình đồi bại xé tan những giấc mơ ngang dọc khu rừng cắt cụt.

Tôi đi trên đôi chân định mệnh và những tiếng vọng của bụi tối tăm lầy lội trong cái bóng lờ mờ của thời gian. Tôi đi qua những cây chuối và những con rắn đỏ hận thù yêu thương đang hát sau lưng tôi: Đi đi, anh, đi đi, báo oán, đi thành phố. Và trên những tàu lá chuối, mặt trăng đỏ thẫm hát phật-phật-phật, gào thét, khóc than, ôi đỏ là nỗi đau của tôi, đỏ thẫm là nỗi đau quanh co của tôi, ôi đỏ và đỏ thẫm đang rỏ xuống những tàu lá phản chiếu ánh trăng là nỗi hận thù của tôi.

[Đến đây có kẹp một trang phê bình về Những biên giới chiến tranh được cắt ra từ tờ Văn chương Xô viết, đề tháng Tám năm 1952.]

Thực sự kinh khủng là vấn đề bóc lột ở các thuộc địa của Anh, được phơi bày trong cuốn tiểu thuyết đầu tay dũng cảm này, được viết và xuất bản dưới con mắt của chính kẻ áp bức với mục đích phơi bày sự thật sau lưng chủ nghĩa Đế quốc Anh cho cả thế giới được biết! Tuy ngưỡng mộ lòng dũng cảm của nhà văn trẻ dám đem lương tri xã hội của mình ra thách thức tất cả, chúng ta vẫn không được bỏ qua điểm nhấn không đứng đắn của cô đối với cuộc đấu tranh giai cấp ở châu Phi. Đây là câu chuyện về một chàng phi công trẻ, một người yêu nước thực thụ, chẳng mấy nữa sẽ hy sinh cho đất nước trong cuộc Chiến Tranh Chống Phát Xít Vĩ Đại, tình cờ gặp một nhóm được gọi đảng viên xã hội, những kẻ định cư da trắng suy đồi chơi trò chính trị. Phát ốm lên với những trải nghiệm cùng nhóm thị dân giàu có, vai vế này, anh quay sang với nhân dân, với cô gái da đen giản dị dạy cho anh biết về những thực tế của đời sống dân lao động thực thụ. Nhưng đây lại chính là điểm yếu của cuốn tiểu thuyết mang dụng ý tốt nhưng sai đường này. Một thanh niên thượng lưu người Anh có thể liên hệ ở điểm nào với con gái của một đầu bếp? Trong cơn hành xác của bản thân để đạt tới chân lý nghệ thuật đích thực, nhà văn cần phải tìm kiếm cái điển hình. Một tình huống như vậy không phải, và không thể, là điển hình. Giả sử nhà văn trẻ, vượt qua dãy Hy Mã Lạp Sơn sự thật, biến nhân vật nam chính thành một chàng công nhân da trắng trẻ tuổi và nữ chính thành một công nhân châu Phi thuộc đoàn thể trong một xí nghiệp nào đó? Trong trường hợp đấy, cô hẳn đã có thể tìm được một giải pháp về chính trị, xã hội, hoặc tâm linh, để soi sáng cho cuộc đấu tranh giành tự do ở châu Phi trong tương lai. Quần chúng lao động ở đâu trong cuốn sách này? Các chiến sĩ giai cấp tự giác ở đâu? Họ không hiện diện. Nhưng đừng để nhà văn trẻ tài năng này nản lòng! Đỉnh cao nghệ thuật luôn dành cho người nào có tinh thần vĩ đại! Tiến lên! Vì thế giới!

[Bài phê bình Những biên giới chiến tranh, Tạp chí Xô viết, tháng Tám năm 1954.]

Kỳ vĩ và hoang dã thay là châu Phi! Một cảnh huy hoàng chợt hiện ra trước mắt chúng ta trong những trang viết của cuốn tiểu thuyết vừa từ nước Anh đến với chúng ta, mô tả một sự kiện thời chiến diễn ra chính giữa lòng những bình nguyên và rừng già của mảnh đất châu Phi.

Không cần phải nói rằng các nhân vật điển hình trong nghệ thuật khác với các khái niệm loại hình trong khoa học về mặt nội dung, và theo đó là về mặt hình thức. Vì thế, khi tác giả này trích dẫn ở phần đầu cuốn sách một câu sặc mùi ngôn ngữ nhảm nhí của xã hội học phương Tây, nhưng vẫn chứa đựng một thực tế sâu sắc: “Người ta nói rằng, vì Adam ăn trái táo mà thành lầm lạc, hay sa ngã. Tôi thì bảo rằng đấy là vì chàng đòi hỏi một thứ cho riêng mình, và vì cái Tôi, của Tôi, Bản Thân Tôi của chàng và những thứ tương tự như thế” - chúng ta bèn nhìn tác phẩm của chị bằng con mắt háo hức chờ đợi thiếu cơ sở. Nhưng chúng ta hãy chào đón những gì chị đã mang đến, trông chờ trong hy vọng về những gì chị có thể, thực tế là sẽ, mang đến cho chúng ta, khi chị hiểu ra rằng một tác phẩm nghệ thuật đích thực phải đi vào đời sống cách mạng nhấn mạnh cả nội dung, hệ tư tưởng sâu sắc, tính nhân văn, bên cạnh chất lượng nghệ thuật. Cảm giác tăng dần khi trang cứ nối tiếp trang: các chủng người đã tiến hóa trên lục địa vẫn đang lạc hậu này mới cao quý làm sao, mới thực sự sâu sắc làm sao; cảm giác này đọng lại và liên tục gợi lên phản ứng trong tim bạn. Bởi vì chàng phi công trẻ tuổi người Anh và cô gái da đen cả tin, những hình tượng khó quên nhờ vào tài năng mê hoặc của tác giả, vẫn chưa phải là điển hình cho những tiềm năng đạo đức sâu sắc của tương lai. Độc giả của chúng tôi nói với chị, tác giả thân mến ạ, bằng một giọng đồng thanh: “Tiếp tục đi! Hãy nhớ rằng nghệ thuật phải luôn được thấm đẫm thứ ánh sáng trong trẻo của sự thật! Hãy nhớ rằng quá trình sáng tạo ra các hình thức chủ nghĩa hiện thực cụ thể mới trong văn học châu Phi nói riêng và ở các nước chưa phát triển có phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ nói chung là một quá trình rất khó khăn và phức tạp!

(Bài phê bình Những biên giới chiến tranh trên Tạp chí Văn học Tự do Thuộc địa Xô viết, tháng Mười hai năm 1956.)

Cuộc kháng chiến chống lại ách áp bức của đế quốc ở châu Phi có những Homer và Jack London của riêng mình. Nó còn có những nhà nghiên cứu tâm lý làng nhàng nhưng không phải là không có những đóng góp nhất định nho nhỏ. Khi quần chúng da đen đang trên chặng đường hành quân, khi mỗi ngày đều có một cuộc đấu tranh anh hùng trong các phong trào dân tộc, chúng ta có thể nói gì về cuốn tiểu thuyết đã ghi chép lại câu chuyện tình yêu giữa một anh chàng người Anh học Oxford ra với một cô gái da đen? Là đại diện duy nhất của nhân dân mình trong cuốn sách này, vậy nhưng nhân vật cô gái vẫn mờ nhạt, không được phát triển và không làm người đọc thỏa mãn. Không, tác giả này phải học hỏi nền văn học của chúng ta, nền văn học lành mạnh và tiến bộ, rằng không ai được lợi lộc gì từ tuyệt vọng cả. Đây là một cuốn tiểu thuyết tiêu cực. Chúng tôi phát hiện ra những ảnh hưởng của Freud. Còn có cả yếu tố thần bí chủ nghĩa. Còn nhóm những người “xã hội” được mô tả ở đây, tác giả đã thử châm biếm nhưng thất bại. Có một cái gì đó không lành mạnh, thậm chí là thái độ mơ hồ trong cách viết của cô. Hãy để cho cô ấy học hỏi từ Mark Twain - chất hài hước lành mạnh của ông thật gần gũi với bạn đọc tiến bộ - cách làm thế nào để nhân loại bật cười trước những gì đã chết, lạc hậu, lỗi thời trước lịch sử.

*

[Cuốn sổ bìa đỏ tiếp tục:]

Ngày 13 tháng Mười một năm 1955

Kể từ sau cái chết của Stalin năm 1953, bên trong Đảng xuất hiện tình trạng chung mà các tay kỳ cựu bình phẩm là không thể có được vào bất cứ thời điểm nào trước đó. Các nhóm người, cả cựu cộng sản lẫn cộng sản, thường xuyên hội họp để thảo luận về những gì đang diễn ra trong Đảng, ở Liên Xô và nước Anh. Cuộc họp đầu tiên tôi được mời tham gia (lúc này tôi đã ra khỏi Đảng được hơn một năm) bao gồm chín đảng viên và năm cựu đảng viên. Và không ai trong số các cựu đảng viên chúng tôi không phải hứng chịu cảm giác “Đồ phản bội” thường gặp cả. Chúng tôi gặp nhau như những đảng viên xã hội tin tưởng nhau trọn vẹn. Các cuộc thảo luận tiến triển rất chậm và bây giờ đã xuất hiện một dạng kế hoạch mơ hồ - nhằm xóa bỏ “tình trạng quan liêu cứng nhắc” ngay giữa tâm Đảng, giúp Đảng Cộng sản Anh có thể thay đổi hoàn toàn, trở thành một Đảng thực sự của Anh, không phụ thuộc bó giò vào Moscow và không bị buộc phải dối trá nữa, vân vân, một Đảng thực sự dân chủ. Tôi lại thấy mình ở giữa những con người đầy phấn khởi và quyết tâm - có cả những người đã ra khỏi Đảng cách đây nhiều năm. Tóm tắt kế hoạch như sau: (a) Đã gạt bỏ hết những “tay kỳ cựu” vốn không có khả năng tư duy thẳng thắn sau quá nhiều năm dối trá và hai mặt, Đảng cần phải đưa ra tuyên bố chính thức phủ nhận quá khứ. Đây là điều cần làm trước hết. (b) Phá vỡ mọi mối liên hệ với các Đảng Cộng sản nước ngoài, hy vọng rằng các Đảng Cộng sản khác cũng sẽ trẻ hóa bản thân và đập tan quá khứ. (c) Kêu gọi hàng ngàn và hàng ngàn người đã trở thành đảng viên nhưng đã ra khỏi Đảng vì ghê tởm, mời họ tham gia Đảng hồi sinh, (d) …

[Đến đây, cuốn sổ đỏ được nhồi đầy những mẩu báo liên quan đến Đại hội Đảng Cộng sản Nga lần thứ Hai mươi, thư từ của đủ các loại người về chính trị, lịch trình hội họp chính trị v.v. Đống giấy tờ này được buộc lại bằng dây cao su và gài vào trang viết. Sau đó tiếp tục là chữ viết của Anna:]

Ngày 11 tháng Tám năm 1956

Không phải là lần đầu tiên trong đời tôi nhận ra rằng mình vừa dành nhiều tuần, nhiều tháng cho hoạt động chính trị điên cuồng và hoàn toàn chẳng nhận được gì về mình. Hơn nữa, đáng ra tôi đã biết trước là việc này chẳng mang lại lợi lộc gì. Đại hội Hai mươi đã khiến tăng gấp đôi, gấp ba số lượng người, cả trong lẫn ngoài đảng, mong muốn có một Đảng Cộng sản “mới”. Tối qua, tôi tham dự một cuộc họp kéo dài đến tận gần sáng. Lúc gần kết thúc, một đảng viên xã hội người Ao, trước đó chưa từng lên tiếng, có bài phát biểu ngắn gọn và hài hước, đại loại thế này: “Kính thưa các đồng chí. Từ đầu đến giờ tôi lắng nghe các đồng chí phát biểu và cảm thấy kinh ngạc trước những mạch nguồn niềm tin ở con người! Những gì các đồng chí nói có nghĩa là: các đồng chí biết lãnh đạo của Đảng Cộng sản Anh bao gồm những nam nữ đảng viên hoàn toàn bị tha hóa do nhiều năm làm việc trong bầu không khí chủ nghĩa Stalin. Các đồng chí biết họ sẽ làm bất cứ điều gì để giữ chiếc ghế của mình. Các đồng chí biết, bởi vì các đồng chí đã đưa ra cả trăm ví dụ trong buổi tối hôm nay, rằng họ cấm đoán các giải pháp, gian lận khi bỏ phiếu, cài người vào hội họp, dối trá và xuyên tạc. Chẳng có cách nào để tống họ ra khỏi ghế bằng các biện pháp dân chủ, một phần là vì họ vô liêm sỉ, một phần là vì đến một nửa số đảng viên vẫn quá ngây thơ tin rằng lãnh đạo của mình không thể làm những trò đấy được. Nhưng mỗi lần đụng đến điểm này trong tranh luận thì các đồng chí lại ngừng lại, và thay vì đưa ra kết luận rõ ràng từ những điều vừa nói, các đồng chí lại chuyển sang mơ mộng và nói như thể chỉ có mỗi một việc là đề nghị các đồng chí lãnh đạo từ chức ngay lập tức bởi vì làm thế sẽ có lợi nhất cho Đảng. Cứ như các đồng chí đề nghị viết đơn xin một tên trộm chuyên nghiệp đừng đi ăn trộm nữa bởi vì anh giỏi như thế sẽ khiến cho nghề của anh tai tiếng lắm.”

Tất cả chúng tôi cùng bật cười nhưng vẫn tiếp tục thảo luận. Chất giọng hài hước đã giúp anh tránh phải đưa ra một câu trả lời nghiêm túc.

Trở về, tôi suy nghĩ về điều đó. Từ lâu rồi tôi đã kết luận rằng tại các cuộc họp chính trị thì sự thật thường được nêu ra chính trong một bài phát biểu hoặc một lời nhận xét như thế, mặc dù tại thời điểm đó bị lờ đi vì không đúng với tinh thần của cuộc họp. Hài hước, trào phúng, thậm chí giận dữ hoặc cay đắng - nhưng đây là sự thật, còn lại tất cả mọi bài phát biểu và đóng góp dài dòng đều là vớ vẩn.

Tôi vừa đọc những gì tôi viết vào ngày 13 tháng Mười một năm ngoái. Tôi thấy kinh ngạc với sự ngây thơ của chúng ta. Nhưng tôi đang thực sự hào hứng với niềm tin về khả năng có một Đảng mới trung thực. Tôi thực sự tin vào khả năng này.

Ngày 20 tháng Chín năm 1956

Chẳng họp hành gì nữa. Ý tưởng được ưa chuộng, người ta bảo tôi vậy, là mở ra một “ĐCS thực sự của Anh” mới làm mẫu và thay thế cho Đảng hiện tại. Mọi người đang cân nhắc, như thể không hề thấy có khúc mắc gì, sự hiện hữu của hai ĐCS đối địch. Nhưng có thể thấy rõ ràng điều gì sẽ xảy ra. Sức lực của cả hai sẽ dồn cho việc ném những lời nhục mạ vào nhau và phủ nhận quyền trở thành cộng sản của nhau. Một công thức làm nên hề kịch. Nhưng điều này cũng chẳng ngu xuẩn hơn ý tưởng “vứt bỏ” đội cựu binh bằng các hình thức dân chủ và cải cách Đảng “từ bên trong”. Ngu xuẩn. Nhưng trong nhiều tháng liền tôi đã loay hoay với điều đó, giống như hàng trăm con người ngày thường vốn thông minh khác đã mất nhiều năm tham gia vào chính trị. Đôi khi tôi nghĩ hình thức trải nghiệm duy nhất mà con người không rút được kinh nghiệm gì từ đó chính là trải nghiệm chính trị.

Hàng chục người đang tháo chạy khỏi Đảng với trái tim tan vỡ. Mỉa mai thay, trước đây họ trung thành và ngây thơ bao nhiêu thì nay họ sẽ đau lòng và yếm thế bấy nhiêu. Những người ít ảo tưởng như tôi (chúng ta ai cũng có ảo tưởng cả - ảo tưởng của tôi là chủ nghĩa bài Do Thái là chuyện “bất khả tồn tại”) vẫn giữ bình tĩnh và sẵn sàng bắt đầu lại, chấp nhận thực tế là Đảng Cộng sản Anh hẳn sẽ dần dần thoái hóa thành một giáo phái nhỏ. Thuật ngữ được ưa chuộng mới là “suy nghĩ lại về vị thế của chủ nghĩa xã hội”.

Hôm nay Molly gọi cho tôi. Tommy đang giao du với một nhóm xã hội chủ nghĩa trẻ mới. Molly bảo cô đã ngồi trong góc lắng nghe bọn chúng trò chuyện. Cô có cảm giác như “đã quay lại cả trăm năm về với tuổi trẻ của chính mình” khi mới vào Đảng. “Anna ạ, thật là phi thường! Thực sự là rất kỳ cục. Chúng nó ở đây, chẳng coi Đảng Cộng sản ra gì, và cũng khá đúng, và cũng chẳng coi Công đảng ra gì, và tớ sẽ không thấy ngạc nhiên nếu như chúng không đúng về chuyện đó, có vài trăm đứa rải rác khắp nước Anh, nhưng tất cả đều nói như thể nước Anh sẽ trở thành nước xã hội chủ nghĩa chậm nhất là mười năm nữa, và tất nhiên là nhờ vào nỗ lực của chúng. Cậu biết đấy, cứ như là chúng sẽ điều hành nước Anh xã hội chủ nghĩa mới tươi đẹp sắp sửa ra đời vào thứ Ba tuần sau. Tớ có cảm giác là chúng nó điên, hoặc là tớ điên… nhưng vấn đề là, Anna ạ, điều này giống hệt như chúng ta, đúng không? Sao? Và thậm chí sử dụng cả những thuật ngữ kinh khủng mà chúng ta vẫn đem ra giễu cợt trong nhiều năm nay, thái độ như thể chúng vừa tự mình nghĩ ra vậy.” Tôi đáp: “Nhưng Molly ạ, hẳn cậu phải mừng vì nó trở thành đảng viên xã hội chứ không phải một loại hãnh tiến nào đấy chứ?” “Nhưng, tất nhiên. Đương nhiên. Vấn đề là, chúng nó đáng ra phải thông minh hơn chúng ta chứ, Anna?”

*

[Cuốn sổ bìa vàng tiếp tục:]

HÌNH BÓNG NGƯỜI THỨ BA

Từ điểm này trong cuốn tiểu thuyết, “người thứ ba” trước đây là vợ của Paul; sau đó là cái tôi thay thế trẻ hơn của Ella được tạo nên từ những tưởng tượng về vợ Paul; sau đó là ký ức về Paul; trở thành bản thân Ella. Trong khi Ella đổ vỡ và tan rã, cô bám ghì lấy ý tưởng về Ella nguyên vẹn, khỏe mạnh, và hạnh phúc. Mối liên hệ giữa các “người thứ ba” phải được xác định rõ ràng: mối liên hệ đó là tính bình thường, nhưng còn hơn thế - nó là truyền thống, là thái độ hay cảm xúc phù hợp với cuộc đời “đáng kính” mà trên thực tế Ella phủ nhận mọi liên hệ với nó.

Ella chuyển đến một căn hộ mới. Julia hận lắm. Một khu vực trước đây mờ mịt trong mối quan hệ của họ nay lộ ra do thái độ của Julia. Julia từng chế ngự Ella. Ella từng sẵn sàng chịu bị chế ngự, hoặc ít nhất là sẵn sàng tỏ ra như vậy. Bản chất của Julia là cực kỳ phóng khoáng - tốt bụng, nồng nhiệt, chia sẻ. Nhưng bây giờ thậm chí cô còn đi đến mức kể lể với bạn chung của hai người rằng Ella đã lợi dụng cô, khai thác cô. Chỉ có hai mẹ con ở trong căn hộ rộng lớn, xấu xí, bẩn thỉu mà lúc này phải lau dọn và sơn phết lại, Ella nghĩ rằng theo một nghĩa nào đó thì Julia nói đúng. Cô đã sống như một tù nhân tình nguyện, cái cốt lõi độc lập giấu kín như mọi người tù. Rời khỏi căn nhà của Julia giống như cô con gái rời xa mẹ. Hoặc, cô nghĩ một cách châm biếm, nhớ lại câu nói đùa ác ý của Paul là cô đã “kết hôn với Julia” - giống như một cuộc hôn nhân tan vỡ.

Một quãng thời gian tiếp đó Ella thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Cô nghĩ rất nhiều về tình bạn tan vỡ với Julia. Vì cô thân với Julia hơn bất cứ người nào khác, nếu “thân thiết” đồng nghĩa với tự chia sẻ tâm tình với nhau và trải nghiệm chung. Nhưng hiện tại, tình bạn này chỉ còn lại hận thù và căm ghét. Và cô vẫn nghĩ không ngừng đến Paul, người đã bỏ rơi cô nhiều tháng nay. Hơn một năm nay.

Ella hiểu rằng, khi sống với Julia, cô được bảo vệ khỏi bị dòm ngó trên một phương diện nào đó. Bây giờ rõ ràng cô là “một phụ nữ sống một mình”; và mặc dù trước đây cô không nhận ra, điều này hoàn toàn khác với “hai phụ nữ sống chung nhà”.

Ví dụ. Sau khi cô chuyển đến căn hộ mới được ba tuần, bác sĩ West gọi điện cho cô. Ông ta thông báo với cô là vợ ông ta đi nghỉ mát và mời cô đi ăn tối. Bất chấp thông tin được tung ra một cách quá khéo léo về việc vợ ông ta đi vắng, Ella vẫn đi, không tin nổi bữa ăn hôm nay không phải để bàn về khía cạnh nào đó của công việc ở văn phòng. Từ đầu đến cuối bữa, Ella dần hiểu ra rằng bác sĩ West đang gạ gẫm cô cặp bồ. Cô nhớ đến những lời nhận xét nghiệt ngã mà ông ta thận trọng gửi tới cô vào thời điểm Paul bỏ rơi cô và nghĩ rằng có thể ông ta đã xếp cô vào một góc trong đầu để dành cho những dịp như thế này. Cô cũng hiểu rằng nếu buổi tối hôm nay cô, Ella, từ chối thì ông ta sẽ rà soát tiếp một danh sách ba đến bốn cô khác, vì ông ta nói một cách hằn học: “Còn có những người khác nữa, cô biết đấy. Cô không đẩy tôi vào cõi cô độc được đâu.”

Ella theo dõi mọi diễn biến trong văn phòng và thấy rằng đến cuối tuần, Patricia Brent có thái độ mới với bác sĩ West. Thái độ của người phụ nữ cứng rắn, năng nổ, chuyên nghiệp này đã trở nên mềm mại, gần như là thiếu nữ. Patricia là người cuối cùng trong danh sách ngắn tủn của bác sĩ West, bởi vì ông ta đã thử và thất bại trước hai cô thư ký. Ella quan sát: khoái trá một cách ác ý khi thấy bác sĩ West đã dừng lại ở lựa chọn theo ông ta là dở nhất; giận dữ thay mặt toàn nữ giới vì Patricia Brent tỏ ra cực kỳ biết ơn và vui sướng; hoảng hốt khi thấy rằng chấp nhận ân huệ của một kẻ như bác sĩ West có lẽ là cái đích con đường của chính cô; buồn cười một cách giận dữ trước cảnh bác sĩ West, khi bị cô từ chối, đã phải kiếm cách tỏ ra: cô không chịu tôi, nhưng cô thấy đấy, tôi chả quan tâm!

Và tất cả những cảm xúc này đều mạnh một cách khó chịu, bắt nguồn từ một nỗi căm hận chẳng liên quan gì đến bác sĩ West cả. Ella không ưa chúng, và cảm thấy xấu hổ. Cô tự hỏi mình tại sao cô không thương hại bác sĩ West, một người đàn ông trung niên chẳng lấy gì làm hấp dẫn, lấy một bà vợ nói chung là được việc và hẳn là nhàm chán. Tại sao ông ta không được quyền tìm kiếm lấy một chút lãng mạn nào đó cho mình? Nhưng vô ích. Cô vẫn căm ghét và khinh bỉ ông ta.

Gặp Julia tại nhà một người bạn, mối quan hệ của họ khá lạnh nhạt. Ella “tình cờ” kể cho cô nghe về bác sĩ West. Chỉ mấy giây, hai người phụ nữ lại trở nên thân thiết, cứ như giữa họ chưa bao giờ có tình trạng lạnh lùng. Nhưng lúc này họ đang là bạn bè trên cơ sở một khía cạnh từ trước đến nay vẫn đóng vai trò thứ yếu trong mối quan hệ của họ - nói xấu đàn ông.

Julia đáp lễ câu chuyện của Ella về bác sĩ West bằng chuyện mình: một diễn viên ở nhà hát nơi Julia đang diễn một tối đưa cô về nhà và lên uống cà phê rồi than vãn về chuyện hôn nhân. Julia: “Tớ vẫn cực kỳ tử tế và sẵn lòng giúp đỡ như thường lệ, nhưng tớ phát chán khi cứ phải nghe đi nghe lại đến mức chỉ muốn hét lên.” Đến bốn giờ sáng, Julia bảo rằng cô thấy mệt vì vậy anh ta nên đi về. “Nhưng trời ơi, cậu mà chứng kiến thì hẳn sẽ nghĩ câu đó đã xúc phạm lão ta kinh khủng lắm. Tớ thì có thể thấy rằng nếu đêm hôm đó mà lão không làm gì được tớ thì cái tôi của lão sẽ xẹp lép toàn tập, vì vậy tớ quyết định lên giường.” Anh ta bất lực, Julia vô tư. “Sáng ra, lão hỏi tối nay có thể đến nữa được không. Lão bảo đấy là điều tối thiểu tớ có thể làm để cho lão cơ hội tự chuộc lỗi. Ít ra thì lão còn có tí đầu óc hài hước.” Và như vậy là anh ta có đêm thứ hai với Julia. Kết quả chả tốt đẹp gì hơn. “Đương nhiên là lão ra về lúc bốn giờ để cho người đàn bà bé nhỏ kia tin rằng lão làm việc khuya. Lúc ra về, lão quay sang tớ và nói: ‘Em là đồ thiến người, ngay từ lúc vừa nhìn thấy em anh đã nghĩ em như vậy.’”

“Lạy Chúa,” Ella nói.

“Ừ, Julia hung hăng đáp. “Và điều buồn cười là lão ta vốn rất hiền lành. Tớ muốn nói rằng tớ không bao giờ nghĩ một lời nói kiểu đó lại phát ra từ lão ta.”

“Đáng ra cậu không nên lên giường với lão.”

“Nhưng cậu biết là thế nào mà - giây phút đó, khi thấy một người đàn ông trông có vẻ thật tổn thương nam tính, người ta không thể chịu đựng được, người ta cần phải vực anh ta dậy.”

“Đúng thế, nhưng sau đó họ lại đá chúng ta thật lực, vậy thì tại sao chúng ta phải làm vậy?”

“Ừ, nhưng dường như chẳng bao giờ tớ nhớ được cả.”

Vài tuần sau, Ella gặp Julia và kể: “Bốn thằng cha, thậm chí tớ còn chưa bao giờ lả lơi với bọn họ, gọi điện cho tớ bảo rằng vợ đi vắng, và mỗi lần như thế lại có chút bẽn lẽn vui vẻ trong giọng nói. Thực sự là kỳ lạ - ta quen biết một người, làm việc với nhau trong nhiều năm, thế rồi chỉ cần vợ đi vắng là đủ để họ thay đổi giọng nói và nghĩ rằng ta sẽ tự đổ lăn kềnh và lên giường. Cậu nghĩ cái quái gì đang diễn ra trong đầu họ vậy?”

“Tốt nhất là đừng có nghĩ về chuyện đó nữa.”

Ella nói với Julia do nhất thời muốn xoa dịu, muốn quyến rũ (và cô nhận ra trong lúc nói đấy cũng chính là nhu cầu cô vẫn cảm thấy, muốn quyến rũ hay xoa dịu đàn ông): “Ít nhất thì hồi tớ còn ở trong nhà cậu, chuyện này không hề xảy ra. Bản thân chuyện này thật kỳ cục, phải không?”

Julia thể hiện một tia đắc thắng, như thể cô muốn nói: Ờ, vậy là tớ cũng có ích đấy chứ…

Và lúc này tới một thời điểm khó chịu: Vì hèn nhát, Ella để vuột mất cơ hội nói rằng Julia đã cư xử không hay khi cô ra đi; cơ hội “cởi mở về tất cả mọi chuyện”. Và trong sự im lặng khó chịu này xuất hiện ý nghĩ, đương nhiên là tiếp sau câu “bản thân chuyện này thật kỳ cục, phải không?” - có thể nào họ nghĩ chúng ta là đồng tính?

Trước đó Ella đã tính đến điều này, và thấy buồn cười. Nhưng giờ cô lại nghĩ: Không. Nếu nghĩ bọn mình là đồng tính thì họ đã bị thu hút rồi, hắn họ đã bu tới cả đám rồi. Mỗi người đàn ông mình biết đều nói một cách thèm muốn - dù là công khai hay vô thức - về dân đồng tính nữ. Đây là một khía cạnh trong tính ái kỷ khó tin của họ: coi bản thân là kẻ cứu rỗi những nữ nhân lạc lối này.

Ella lắng nghe những lời cay đắng này trong tâm trí mình và chúng làm cô run rẩy. Khi về nhà, cô thử tìm cách phân tích nỗi cay đắng đang xâm chiếm cô. Cô thực sự cảm thấy đang bị nó đầu độc.

Cô nghĩ tất cả những chuyện vừa xảy ra không có chuyện nào là chưa từng có trong cuộc đời mình. Đàn ông đã có gia đình, tạm thời xa vợ, tìm cách cặp với cô, vân vân và vân vân, cách đây mười năm thậm chí cô còn chẳng để tâm hay bình phẩm. Cô tiếp nhận tất cả những điều này như một phần của những rủi ro và cơ hội khi làm một “phụ nữ tự do”. Nhưng cô nhận thấy rằng, mười năm trước cô đã cảm nhận được một điều mà hồi đó cô không nhận ra. Một cảm giác thỏa mãn, chiến thắng các bà vợ, bởi vì cô, Ella, người phụ nữ tự do, khiến người ta hào hứng hơn nhiều so với những người đàn bà bị trói buộc buồn tẻ. Cô thấy ngượng khi nhìn lại và nhận ra cảm xúc này.

Cô cũng nghĩ rằng cô đang nói với Julia bằng giọng của một bà cô chua chát. Đàn ông. Kẻ thù. Chúng nó. Cô quyết định không tâm sự với Julia nữa, hoặc ít ra cũng phải vứt cái giọng cay đắng khô khan đi.

Không lâu sau đó thì xảy ra chuyện này. Một thư ký biên tập ở văn phòng đang cùng Ella viết một loạt bài báo tư vấn về các vấn đề tình cảm - loại vấn đề thường thấy nhất trong những bức thư gửi đến. Ella và người này đã có vài buổi tối cùng nhau ở lại văn phòng. Cần phải có sáu bài báo, mỗi bài có hai tiêu đề, một chính thức và một để Ella và người đồng nghiệp dùng đùa. Chẳng hạn, bạn có đôi lúc thấy chán nhà mình? thì Ella và Jack đặt là: Cứu với! Tôi đang sắp phát điên. Và: Người chồng bỏ bê gia đình thì trở thành Chồng tôi ngủ lang. Đại loại thế. Cả Ella và Jack đều cười rất nhiều và châm chọc phong cách quá đơn giản của các bài báo này, nhưng họ viết rất cẩn thận và kỳ công. Cả hai người đều biết họ đùa cợt là vì những bất hạnh và chán nản trong các bức thư đổ vào văn phòng, và họ không tin là bài viết của mình có thể làm được điều gì đấy để xoa dịu bớt.

Đêm cuối cùng làm việc chung với nhau, Jack lái xe đưa Ella về. Anh đã có vợ, có ba con, khoảng ba mươi tuổi. Ella rất thích anh. Cô mời anh một ly, anh lên nhà cùng cô. Cô biết thời điểm anh mời cô làm tình sẽ sớm xảy ra. Cô đang nghĩ: Nhưng mình đâu có hứng thú đối với anh. Nhưng biết đâu đấy, chỉ cần mình có thể gạt bỏ được hình bóng của Paul. Làm sao mình biết được nhỡ khi lên giường mình lại hứng thú với anh ta? Đằng nào thì, mình cũng đâu có thích Paul ngay từ đầu. Ý nghĩ cuối cùng này khiến cô cảm thấy ngạc nhiên. Cô ngồi lắng nghe, trong khi người đàn ông trẻ tuổi trò chuyện và giải khuây cho cô, rồi nghĩ: trước kia Paul vẫn thường nói, đùa thôi nhưng thực sự nghiêm thúc, rằng ban đầu mình không thấy yêu anh. Bây giờ thì chính mình lại nói điều đó. Nhưng mình nghĩ điều này không đúng. Có thể mình nói vậy chỉ vì anh đã nói vậy… nhưng chẳng có gì lạ khi mình không có chút hứng thú nào với đàn ông nếu như suốt ngày mình chỉ nghĩ đến Paul.

Ella lên giường với Jack. Cô phân anh vào loại tình nhân thành thục. “Anh ta không có cảm giác, học làm tình từ sách vở, kiểu như những cuốn có tên Làm Thế Nào Để Thỏa Mãn Vợ.” Anh ta đạt được khoái cảm từ việc đưa được phụ nữ lên giường, chứ không phải từ bản thân tình dục.

Hai người vui vẻ, thân thiện, tiếp tục cùng nhau làm tốt công việc ở cơ quan. Nhưng Ella đang phải đấu tranh với việc muốn khóc. Cô đã quen với kiểu trầm cảm đột ngột này và bởi vậy bèn chiến đấu với nó: Không phải mình đang trầm cảm; đấy là cảm giác hối hận, nhưng không phải mình hối hận; nó là hối hận từ quá khứ, nó liên quan đến thứ tiêu chuẩn kép mà mình đã khước từ.

Sau khi thông báo anh phải về nhà, Jack bắt đầu kể về vợ. “Cô ấy là người tốt,” anh nói, còn Ella cứng người trước vẻ trịch thượng trong giọng nói của anh. “Anh tìm cách đảm bảo rằng cô ấy không bao giờ nghi ngờ khi anh đi ngang về tắt. Tất nhiên, cô ấy đã phát chán vì bị dính với mấy đứa trẻ, khá vướng víu, nhưng cô ấy xoay xở được.” Anh đang thắt lại cà vạt, vừa đi giày vào vừa ngồi xuống giường Ella. Anh tràn đầy sự khỏe khoắn, gương mặt anh là gương mặt nhẵn nhụi, cởi mở của một cậu bé. “Anh khá may mắn với bà xã nhà anh,” anh nói tiếp; nhưng bây giờ trong giọng nói đã có vẻ oán giận đối với vợ, và Ella biết rằng dịp này, dịp anh ngủ với cô, sẽ được khôn khéo sử dụng để hạ nhục vợ. Và anh đang hớn hở một cách thỏa mãn, không phải vì niềm khoái lạc của tình yêu, do anh biết rất ít về khoái lạc, mà vì anh đã chứng tỏ được điều gì đó với bản thân. Anh chào từ biệt Ella: “Thôi, trở về với cái máng lợn đây. Vợ anh là nhất quả đất, nhưng cô ấy không phải là mẫu người nói chuyện tài tình.” Ella kiềm chế mình không bảo rằng một người phụ nữ có ba con nhỏ, mắc kẹt trong căn nhà ở ngoại ô chỉ có một chiếc ti vi, thì làm quái gì có lắm thứ tài tình mà nói. Cô thấy ngạc nhiên với mức độ oán hận của mình. Cô biết rằng vợ anh, người đàn bà đang chờ anh đâu đó bên kia London, cách đây nhiều cây số, sẽ biết ngay khi anh đặt chân vào phòng ngủ rằng anh vừa ngủ với một người đàn bà khác qua vẻ mặt hớn hở tự mãn của anh.

Ella quyết định rằng (a) cô sẽ kiêng khem cho đến khi yêu ai đó và (b) cô sẽ không bàn về lần này với Julia.

Ngày hôm sau, cô gọi điện cho Julia, họ gặp nhau ăn trưa và cô kể cho Julia nghe. Lúc kể cô ngẫm nghĩ rằng trong khi cô luôn kiên quyết từ chối không tâm sự với Patricia Brent, hoặc ít nhất là không chịu đồng lõa với những lời chỉ trích mang tính mỉa mai đàn ông của bà (Ella nghĩ rằng tính chất mỉa mai, gần như là hồn hậu trong lời chỉ trích đàn ông của Patricia chính là kết cục khi nỗi cay đắng của chính cô hiện tại trở nên mềm yếu, và quyết tâm không để chuyện đó xảy ra) nhưng cô lại sẵn sàng tâm sự với Julia dù cho cảm giác cay đắng của Julia đang nhanh chóng biến thành cảm giác khinh miệt ăn mòn. Một lần nữa cô quyết định không buông mình vào những câu chuyện kiểu này với Julia, nghĩ rằng hai người phụ nữ làm bạn bè với nhau trên cơ sở nói xấu đàn ông thì chính là đồng tính, nếu không phải về mặt thể xác thì cũng là về mặt tâm lý.

Lần này, cô giữ lời hứa với mình không nói chuyện với Julia. Cô đơn độc và cô đơn.

Lúc này thì có chuyện mới xảy ra. Cô bắt đầu bị nỗi khao khát tình dục hành hạ. Ella thấy hoảng bởi vì theo cô nhớ mình chưa bao giờ cảm thấy ham muốn tình dục, tình dục đơn thuần, mà không liên quan tới một người đàn ông cụ thể, ít nhất là sau tuổi thiếu niên, mà cả hồi ấy cũng vẫn gắn với hình bóng tưởng tượng về một người đàn ông nào đó. Bây giờ cô không ngủ được, cô thủ dâm, kèm theo những tưởng tượng hận thù về đàn ông. Paul đã hoàn toàn biến mất: cô đã mất đi người đàn ông mạnh mẽ ấm áp trong trải nghiệm của mình và chỉ còn nhớ đến một kẻ phản bội cay độc. Cô bị cơn khát tình vô cớ hành hạ. Cô thấy nhục kinh khủng, nghĩ rằng điều này có nghĩa là cô phụ thuộc vào đàn ông để được “làm tình”, để “được phục vụ”, để “được thỏa mãn”. Cô sử dụng những từ ngữ thô tục này để tự nhục mạ chính mình.

Sau đó cô nhận ra rằng cô đã rơi vào một lời nói dối về bản thân cô và về phụ nữ, và cô phải bám chặt lấy nhận thức này: rằng khi ở bên Paul, cô không hề cảm thấy những cơn đói tình không phải do anh khơi dậy; rằng nếu anh cách xa cô vài ngày, cô ngủ đông đến khi anh quay lại; rằng cơn đói tình vật vã hiện tại của cô không phải là cần tình dục mà là tổng hợp tất cả những cơn đói cảm xúc trong đời cô. Rằng khi cô lại yêu ai đó, cô sẽ trở lại bình thường: tức là một người phụ nữ có ham muốn tình dục lên xuống theo anh ta. Có thể nói rằng bản năng tình dục của phụ nữ bị đàn ông kiềm chế, nếu anh ta là một người đàn ông đích thực; theo một nghĩa nào đó, cô được anh ta ru ngủ, cô không suy nghĩ về tình dục.

Ella bám chắc lấy nhận thức này và nghĩ: mỗi lần trong đời khi trải qua một giai đoạn khô cằn, một thời kỳ tê liệt, mình luôn làm đúng thế: bám chặt lấy những từ ngữ thuộc về một lĩnh vực tri thức nào đó, dù là chúng khô khan và vô nghĩa, nhưng biết rằng cuộc sống sẽ trở lại và khiến chúng hồi sinh. Nhưng thật lạ khi người ta lại bám vào câu từ và đức tin ở chúng.

Trong khi đó, đàn ông tiếp cận cô nhưng cô từ chối, bởi vì cô biết cô không thể yêu họ. Những lời cô tự nói với bản thân là: Mình sẽ không ngủ với đàn ông đến khi nào mình biết là mình có thể yêu họ.

Nhưng vài tuần sau đó lại xảy ra chuyện này: Ella gặp một người trong bữa tiệc. Một lần nữa cô lại chịu khó đi dự tiệc, cảm thấy ghét cái quá trình “lại phải tham gia thị trường độc thân”. Anh ta là một nhà viết kịch bản, người Canada. Về mặt thể chất anh ta không có gì đặc biệt hấp dẫn đối với cô. Nhưng anh ta thông minh, có khiếu hài hước lém lỉnh kiểu bên kia bờ Đại Tây Dương mà cô thích. Vợ anh ta, cũng có mặt ở bữa tiệc, là một cô gái xinh đẹp, thực tế là đẹp một cách chuyên nghiệp. Sáng hôm sau, người này đến nhà Ella, không hề báo trước. Anh ta mang đến rượu gin, tonic, hoa; anh ta diễn một trò chơi theo tình huống “anh chàng đến tán tỉnh cô gái gặp ở bữa tiệc đêm trước, mang theo hoa và rượu gin”. Ella rất thích. Họ uống rượu, cười vang và trêu đùa nhau. Nhờ tiếng cười mà họ lên giường. Ella ban phát khoái lạc. Cô không cảm thấy gì, và sẵn sàng thề rằng anh ta cũng không cảm thấy gì. Vì trong khoảnh khắc đi vào, cô chợt hiểu rằng đây là điều anh ta quyết phải làm và chỉ có thế. Cô nghĩ: À, mình làm điều này mà không có cảm xúc gì, vậy thì tại sao mình lại chỉ trích anh ta? Như vậy là không công bằng. Rồi cô táo tợn nghĩ: Nhưng đấy chính là vấn đề. Niềm đam mê của đàn ông tạo ra niềm đam mê của phụ nữ, hoặc đáng ra phải vậy, do đó mình cay nghiệt thì có gì là sai.

Sau đó họ tiếp tục uống và cười đùa. Rồi anh nói, bất chợt, chẳng liên quan gì đến những điều nói trước đó: “Anh có một người vợ đẹp mà anh ngưỡng mộ. Anh có công việc mà anh thích làm. Và bây giờ anh có một cô gái.” Ella hiểu rằng cô chính là cô gái đó, và việc ngủ với cô là một dạng dự án hay kế hoạch để có một cuộc sống hạnh phúc. Cô nhận ra rằng anh nghĩ mối quan hệ này sẽ tiếp tục được duy trì, anh coi điều này là đương nhiên. Cô bày tỏ rằng đối với cô chuyện qua lại này đã chấm dứt; khi cô nói, trên mặt anh xuất hiện một vẻ tự ái rất xấu xí, mặc dù giọng cô nhẹ nhàng, rất ngoan ngoãn, như thể việc cô từ chối là do những tình huống nằm ngoài tầm kiểm soát của cô.

Anh chăm chú nhìn cô, mặt đanh lại. “Có chuyện gì vậy cưng, anh không làm em thỏa mãn à?” Anh nói với vẻ mệt mỏi, bối rối. Ella vội vàng khẳng định với anh là không phải như vậy, mặc dù thực tế ngược lại. Nhưng cô hiểu điều này không phải là lỗi của anh, kể từ khi Paul bỏ rơi cô đến nay cô không hề có một cơn cực khoái thực thụ.

Cô nói bằng giọng khô khốc mặc dù bản thân cô không định như vậy: “Vâng, em nghĩ trong chuyện này chúng ta chẳng ai có lỗi cả.”

Cái nhìn khó chịu, mệt mỏi, nghiêm khắc lại một lần nữa xuất hiện. “Anh có một người vợ đẹp,” anh tuyên bố. “Nhưng cô ấy không thỏa mãn anh về mặt tình dục. Anh cần thêm.”

Điều này khiến Ella câm lặng. Cô có cảm giác như mình đang ở trong một vùng đất hoang vu của những cảm xúc trụy lạc chẳng liên quan gì đến cô cả, mặc dù cô đang tạm thời lạc trong đó. Nhưng cô nhận ra rằng anh thực sự không hiểu điều anh đề nghị với cô có gì không phải. Dương vật anh to; anh “giỏi chuyện chăn gối”. Thế là đủ. Ella đứng im lặng, nghĩ rằng sự mệt mỏi về mặt nhục dục mà anh gặp phải trên giường là mặt bên kia của sự mệt mỏi lạnh lùng trước mọi thứ của anh. Anh đứng nhìn khắp cô. Bây giờ, Ella nghĩ, bây giờ anh sẽ chửi mình, anh sẽ bắt mình hứng chịu. Cô cứng người đón nhận.

“Anh đã hiểu rằng,” anh lè nhè nói, giọng sắc lẻm vì lòng tự ái bị tổn thương, “không cần thiết phải kiếm lấy một người phụ nữ đẹp làm gì. Cứ tập trung vào một phần của cô ấy - bất cứ phần nào - cũng là đủ lắm rồi. Luôn có điểm gì đấy đẹp ở một người phụ nữ, dù xấu. Chẳng hạn như tai. Hoặc tay.”

Bỗng nhiên Ella phá lên cười và cố gắng nhìn vào mắt anh vì cô nghĩ chắc chắn rằng anh sẽ cười. Bởi vì suốt cả vài tiếng đồng hồ trước khi họ lên giường với nhau, họ có một mối quan hệ vui vẻ và hài hước. Câu nói vừa rồi của anh chẳng khác gì nhại lại lời một tay sát gái lõi đời. Vậy thì chắc hẳn anh phải cười chứ? Nhưng không, câu đấy là cố tình làm đau lòng nhau, và anh không chịu rút lại, dù là bằng một nụ cười.

“May là em có đôi tay đẹp, nếu như không có gì khác,” cuối cùng Ella cũng lên tiếng, khô khan.

Anh đến bên cô, nhấc tay cô lên, hôn một cách mệt mỏi, giống như một tay trác táng: “Đẹp lắm, cưng ạ, đẹp lắm.”

Anh ra về và cô nghĩ phải đến lần thứ một trăm rằng trong đời sống tình cảm của mình, tất cả những người đàn ông thông minh đều hạ xuống một cấp độ thấp hơn hẳn so với bất cứ cấp độ nào họ dùng cho công việc, đến mức như thể không phải cùng một người vậy.

Tối hôm đó Ella về nhà Julia và thấy Julia đang trong “tâm trạng của Patricia” như cô vẫn đánh giá - mỉa mai chứ không phải là cay đắng.

Julia nói với Ella bằng giọng hài hước rằng anh ta, tay diễn viên từng gọi cô là “đồ thiến người”, mấy hôm trước đã mang hoa đến như không có chuyện gì xảy ra. “Lão ta thực sự cảm thấy ngạc nhiên khi thấy tớ không hùa theo. Chưa bao giờ lão tỏ ra vui vẻ và dễ gần đến thế. Nhưng tớ cứ ngồi đấy, nhìn lão và nhớ đến cảnh mình đã khóc đến lồi cả mắt sau khi lão ra về - cậu nhớ không, có hai đêm, và tớ đã ngọt ngào và tử tế hơn bao giờ hết để làm cho lão được thoải mái, vậy mà lão bảo tớ là… nhưng ngay cả thế tớ cũng không thể làm tổn thương lão được. Vậy là tớ cứ ngồi đấy và nghĩ: Mi có cho rằng lão đã quên những gì lão nói hoặc tại sao lão lại nói như vậy không? Hay là chúng ta không nên quan tâm đến những điều họ nói? Chúng ta chỉ cần đủ cứng rắn để đón nhận mọi thứ? Đôi khi tớ nghĩ chúng ta đều ở trong một kiểu nhà thương điên về mặt tình dục.”

Ella lạnh nhạt nói: “Julia thân mến ơi, chúng ta đã chọn con đường làm phụ nữ tự do, vậy thì đây là cái giá mà chúng ta phải trả, thế thôi.”

“Tự do,” Julia đáp.“Tự do! chúng ta tự do thì ích lợi gì nếu như bọn họ không tự do? Tớ thề với Chúa rằng mỗi người trong số họ, ngay cả những người khá nhất, đều mang trong đầu cái ý nghĩ cũ rích về gái ngoan và gái hư.”

“Vậy còn chúng ta thì sao? Tự do, chúng ta nói, nhưng sự thật là bọn họ cương cứng lên khi ở cùng với một người đàn bà mà họ chẳng mảy may quan tâm, nhưng chúng ta không đạt được cực khoái nếu như không yêu họ. Thế thì tự do cái nỗi gì?”

Julia nói: “Thế thì cậu may mắn hơn tớ rồi. Hôm qua tớ nghĩ: cứ mười thằng đàn ông mà tớ ngủ cùng trong suốt năm năm qua thì có đến tám thằng bất lực hoặc ra quá nhanh. Tớ tự trách mình - tất nhiên rồi, chúng ta vẫn luôn làm vậy, chẳng kỳ cục hay sao khi chúng ta chỉ chực tìm cớ tự trách mình về tất cả? Nhưng ngay cả lão diễn viên khốn kiếp đó, kẻ bảo rằng tớ là đồ thiến người, lại đủ tử tế để nói, ồ, tất nhiên là tình cờ thôi, rằng lão ta chỉ tìm thấy một người đàn bà trong đời có thể quan hệ được. Ồ, đừng nghĩ rằng lão ta nói thế là để an ủi tớ, không hề.”

“Julia thân mến ơi, không phải cậu đã ngồi xuống mà đếm đấy chứ?”

“Không, trước khi tớ bắt đầu suy nghĩ về điều đó thì không.”

Ella thấy mình mang một tâm trạng mới hoặc ở trong một giai đoạn mới, cuộc sống của cô trở nên hoàn toàn không dính dáng gì đến tình dục. Cô cho rằng đây là vì chuyện với tay viết kịch bản người Canada, nhưng không thực sự quan tâm lắm. Lúc này cô trở nên lạnh nhạt, tách biệt, độc lập. Không chỉ không nhớ nổi nó như thế nào nữa, cảm giác khổ sở vì khao khát tình dục ấy, mà cô còn không tin rằng một lúc nào đấy sẽ cảm thấy khao khát trở lại. Tuy nhiên, cô biết rằng hiện tượng này, hiện tượng độc lập và không tình dục, chỉ là mặt kia của việc bị tình dục ám ảnh.

Cô gọi cho Julia để thông báo rằng cô đã cạch tình dục, cạch đàn ông, bởi vì “cô chán ngấy rồi”. Giọng hoài nghi vui vẻ của Julia vang lên tanh tách trong tai Ella, và cô nói: “Tớ nói thật đấy.” “Tốt cho cậu,” Julia đáp.

Ella quyết định viết trở lại, lục lạo trong chính mình cuốn sách đã viết sẵn, chỉ chờ đến lúc chép lại. Cô dành rất nhiều thời gian ở một mình, chờ đến lúc nhìn ra những đường nét của cuốn sách bên trong mình.

Tôi nhìn thấy Ella đang chầm chậm đi đi lại lại trong căn phòng trống rộng lớn, suy nghĩ, chờ đợi. Tôi, Anna, nhìn thấy Ella. Tất nhiên, đó là Anna. Nhưng quan trọng là ở chỗ đó, bởi vì cô ấy không phải là Anna. Lúc tôi, Anna, viết: Ella gọi cho Julia để thông báo v.v. thì Ella thoát ra khỏi tôi và trở thành một người khác. Tôi không hiểu điều gì xảy ra vào giây phút Ella tự tách mình ra khỏi tôi và trở thành Ella. Không một ai hiểu cả. Chỉ cần gọi cô là Ella thay cho Anna là đủ. Tại sao tôi lại chọn cái tên Ella? Có lần tôi gặp một cô gái có tên là Ella tại một bữa tiệc. Cô ấy điểm sách cho tờ báo nào đó và đọc bản thảo cho một nhà xuất bản. Cô nhỏ nhắn, gầy, da ngăm đen - mẫu cơ thể giống tôi. Tóc cô buộc ra sau bằng một chiếc nơ đen. Tôi ấn tượng với đôi mắt của cô, cực kỳ cảnh giác và đề phòng. Đây là cửa sổ của pháo đài. Mọi người uống như hũ chìm. Chủ nhà bước đến rót thêm vào ly của chúng tôi. Cô đưa tay - bàn tay gầy, trắng, thanh tú, đúng lúc ông chủ nhà vừa rót được hai phân rượu vào ly - che lại. Cô gật đầu bình thản: “Đủ rồi.” Sau đó là một cái lắc đầu bình thản khi ông nài nỉ rót đầy. Ông ta đi chỗ khác; cô nhìn thấy tôi đang quan sát. Cô cầm cái ly với hai phân rượu vang đỏ bên trong lên và nói: “Chính xác là lượng rượu tôi cần để say vừa phải.” Tôi bật cười. Nhưng không, cô nghiêm túc. Cô uống chỗ rượu vang đó, rồi nói: “Vâng, đúng thế đấy.” Đánh giá xem chỗ rượu tác động đến mình thế nào - cô lại khẽ gật đầu bình thản thêm một lần nữa. “Vâng, đúng là như thế.”

Chà, tôi sẽ không bao giờ làm vậy. Như vậy chẳng giống Anna chút nào.

Tôi nhìn thấy Ella, đơn độc, đi lại trong căn phòng rộng lớn, buộc lại mái tóc đen thẳng bằng một dải ruy băng rộng màu đen. Hoặc ngồi hết giờ này sang giờ khác trong ghế bành, đôi bàn tay trắng thanh tú buông trên đùi. Cô ngồi nhíu mày nhìn chúng, suy nghĩ.

Ella tìm thấy câu chuyện này bên trong mình: Một người phụ nữ được một người đàn ông yêu thương nhưng trong suốt mối quan hệ lâu dài đó, anh ta chỉ trích cô vì không chung thủy với anh ta, vì khao khát đời sống xã hội mà lòng ghen tuông của anh ta không cho phép, và vì làm “một người phụ nữ mê sự nghiệp”. Thực ra trong suốt năm năm quan hệ đó, người phụ nữ này chưa bao giờ liếc mắt nhìn một người đàn ông nào khác, chưa bao giờ đi chơi, và sao nhãng sự nghiệp, nhưng ngay khi anh ta bỏ rơi cô thì cô trở thành tất cả những gì mà anh ta chỉ trích. Cô trở nên lang chạ, chỉ sống vì tiệc tùng và xả thân với công việc, hy sinh đàn ông và bạn bè vì nó. Mấu chốt của câu chuyện này nằm ở chỗ tính cách mới này là do anh ta tạo ra; và tất cả mọi điều cô làm - những hành vi tình dục, hành vi phản bội nhằm phục vụ cho sự nghiệp v.v. đều vì một suy nghĩ trả thù: Đấy, anh muốn như thế đấy, anh muốn tôi trở thành như thế đấy. Và sau một quãng thời gian xa cách, nay gặp lại người đàn ông đó lúc tính cách mới của cô đã định hình chắc chắn, anh ta lại đem lòng yêu cô. Đây là điều anh ta luôn mong muốn ở cô; và lý do thực tế khiến anh ta rời bỏ cô là vì cô quá âm thầm, phục tùng và chung thủy. Nhưng giờ đây, khi anh ta yêu cô trở lại, cô từ chối và cay đắng khinh bỉ: tính cách hiện tại không phải cô “thật sự”. Anh ta đã chối bỏ con người “thật” của cô. Anh ta đã phản bội một tình yêu đích thực và bây giờ đem lòng yêu con người giả. Cự tuyệt anh ta cũng là cách cô giữ gìn con người thật của cô, con người mà anh ta đã phản bội và chối bỏ.

Ella không viết câu chuyện này. Cô sợ rằng viết ra thì chuyện sẽ thành sự thật mất.

Cô nhìn lại trong mình một lần nữa và thấy: Một người đàn ông và một người phụ nữ. Cô, sau nhiều năm sống tự do, đã quá sẵn sàng đón nhận một tình yêu nghiêm túc. Anh ta đang đóng vai trò một người tình nghiêm túc để tìm một chỗ tỵ nạn, một nơi náu mình. (Ella lấy ý tưởng về nhân vật này từ tay viết kịch bản người Canada - từ thái độ điềm tĩnh và giống như mặt nạ của anh ta trên phương diện một người tình: anh ta đang quan sát chính mình trong một vai diễn, vai diễn một người đàn ông đã có vợ và cô nhân tình. Ella sử dụng khía cạnh này của tay người Canada - một người đàn ông quan sát chính mình diễn kịch.) Người phụ nữ thì, quá khao khát, quá căng thẳng, đã khiến người đàn ông bị đóng băng lại nhiều hơn thực tế, mặc dù anh chỉ lờ mờ biết rằng mình đóng băng. Vốn không có ý chiếm hữu, không ghen tuông, không đòi hỏi, người phụ nữ biến thành cai ngục. Như thể cô đang bị ám bởi một nhân cách không thuộc về cô. Và cô quan sát bản thân mình sa ngã thành bà la sát mang tâm lý chiếm hữu này với vẻ ngạc nhiên, như thể con người thứ hai chẳng liên quan gì đến cô cả. Và cô tin thế thật. Vì khi người đàn ông buộc tội cô là theo dõi ghen tuông, cô trả lời hết sức chân thành: “Em không ghen, em chưa bao giờ ghen.” Ella ngắm câu chuyện này với vẻ kinh ngạc; bởi vì kinh nghiệm của bản thân cô chẳng có gì gợi lên những tình tiết trong đó. Vậy thì câu chuyện này từ đâu ra? Ella nghĩ đến vợ Paul - nhưng không; chị ta quá nín nhịn và cam chịu nên không thể dẫn tới một nhân vật như vậy được. Hay phải chăng là chồng cô, tự hạ thấp bản thân, ghen tuông, hèn hạ, hay khích động làm ầm ĩ lên như đàn bà do không đủ năng lực làm đàn ông? Ella nghĩ, có lẽ nhân vật chồng này, người mà bản thân cô dính dáng quá ngắn ngủi và có thể coi là không có chút gắn bó thực tế nào, là nhân vật nam làm mẫu cho bà la sát trong câu chuyện của cô? Tuy nhiên, cô quyết định không viết ra. Nó đã viết xong bên trong cô, nhưng cô không nhận được nó là của cô. Có lẽ mình đã đọc được ở đâu đó chăng? - cô tự hỏi; hay một người nào đó đã kể cho mình nghe nhưng mình lại quên béng đi mất?

Trong khoảng thời gian này Ella có đến thăm bố một lần. Đã lâu rồi cô không đến thăm ông. Đời ông chẳng có gì thay đổi cả. Ông vẫn lặng lẽ, chăm chú với khu vườn, mấy cuốn sách, một cựu quân nhân nay biến thành một nhà thần bí. Hay vốn ông đã là kiểu người thần bí từ xưa? Và lần đầu tiên Ella tự hỏi: Cảm giác sẽ như thế nào nếu lấy phải một người như thế? Cô hiếm khi nghĩ đến người mẹ đã mất từ lâu, nhưng bây giờ cô cố gắng hồi tưởng lại những ký ức về bà. Cô nhìn thấy một người phụ nữ khéo léo, vui vẻ, hoạt bát. Một buổi tối, ngồi cùng bố ở hai bên lò sưởi, trong căn phòng trần trắng và đen đầy ắp sách vở, cô quan sát ông vừa đọc sách vừa nhấp whisky và cuối cùng khơi mào câu chuyện về mẹ.

Gương mặt bố cô khoác ngay vẻ lo sợ khôi hài kinh khủng; rõ ràng là ông cũng nhiều năm nay không hề nghĩ đến người phụ nữ đã khuất. Ella kiên trì hỏi. Cuối cùng ông bất ngờ lên tiếng: “Mẹ con quá ư là tốt so với bố.” Ông bật cười, vẻ không thoải mái; và đôi mắt xanh xa xăm của ông bỗng có cái nhìn giật mình đảo qua đảo lại của một con thú bị đánh động. Tiếng cười khiến Ella thấy khó chịu nhưng cô hiểu lý do tại sao: cô bực mình thay cho người vợ, mẹ cô. Cô nghĩ: Rắc rối của Julia và mình tương đối đơn giản: chúng ta đang đóng vai tình nhân nhưng đã vượt quá lứa tuổi làm tình nhân lâu lắm rồi. Cô nói lớn: “Tại sao lại quá ư là tốt?” mặc dù bố cô đã cầm cuốn sách trở lại làm tấm khiên che mình. Ông nói với qua cuốn sách, một ông già da dẻ cháy sạm bỗng nhiên bồn chồn với những cảm xúc sau ba mươi năm: “Mẹ con là người tốt. Bà ấy là một người vợ tốt. Nhưng bà ấy không hiểu, hoàn toàn không hiểu chút nào, toàn bộ chuyện đó bị bỏ ra ngoài bà ấy hết sạch.” “Bố muốn nói đến tình dục?” Ella hỏi, tự buộc mình phải nói ra mặc dù cô thấy kinh khi phải nghĩ về những vấn đề như vậy ở bố mẹ. Ông bật cười, vẻ bị xúc phạm; mắt ông lại đảo vòng: “Tất nhiên lũ chúng mày giờ chẳng e ngại gì khi nói đến chuyện đó. Bố không bao giờ nói chuyện đó. Đúng vậy, tình dục, nếu như con gọi như vậy. Bị bỏ quên ở ngoài khi nhào nặn ra bà ấy, đại loại thế.” Cuốn sách, hồi ký của một ông tướng Anh nào đó, được giơ lên chống lại Ella. Ella kiên trì tiếp: “Vậy thì bố xử lý chuyện đấy thế nào?” Các cạnh cuốn sách dường như run lên. Ngừng một lát. Cô định hỏi: Bố không dạy cho mẹ à? Nhưng giọng bố cô từ đằng sau cuốn sách - giọng nói gọn ghẽ nhưng do dự, gọn ghẽ nhờ rèn luyện, do dự bởi vì sự mơ hồ trong thế giới riêng tư của ông: “Khi nào không chịu được, bố ra ngoài và mua cho mình một ả. Con còn trông mong gì nữa?” Câu còn trông mong gì nữa không phải dành cho Ella mà dành cho mẹ cô. “Ghen tuông! Bà ấy chẳng quan tâm gì đến bố, thế mà lại ghen như một con mèo ốm.”

Ella nói: “Con định bảo rằng có lẽ vì mẹ xấu hổ. Lẽ ra bố nên dạy cho mẹ chứ?” Vì cô đang nhớ đến lời Paul nói: Không có đàn bà lãnh cảm, chỉ có đàn ông bất lực.

Cuốn sách từ từ hạ xuống cặp đùi gầy như que củi của bố cô. Gương mặt khô, gầy, hơi vàng bỗng đỏ bừng, cặp mắt xanh dương lồi ra như mắt côn trùng: “Thế này. Hôn nhân đối với bố thì… à! À, con đang ngồi ở kia, vậy bố nghĩ đấy cũng là một lý do cho việc này.”

Ella đáp: “Con nghĩ mình nên xin lỗi - nhưng con muốn biết về mẹ. Dù sao đi nữa thì đây cũng là mẹ đẻ của con.”

“Bố không nghĩ về bà ấy. Đã nhiều năm nay rồi. Thỉnh thoảng bố nghĩ đến bà ấy khi con chiếu cố đến thăm.”

“Đây là lý do tại sao con cảm thấy bố không muốn gặp con nhiều?” Ella hỏi, nhưng mỉm cười và buộc ông phải nhìn cô.

“Bố chưa bao giờ nói vậy, đúng không? Bố không cảm thấy thế. Nhưng tất cả những thứ gọi là máu mủ ruột rà - chuyện gia đình, hôn nhân, đại loại như thế, đối với bố đều có vẻ như không có thật. Con là con gái của bố, bố tin vậy. Chắc là vậy, kiểu mẹ con mà. Bố không cảm nhận được. Gắn bó huyết thống - con có cảm nhận được không? Bố thì không.”

“Có,” Ella nói. “Khi con ở đây với bố, con cảm nhận được một mối ràng buộc. Con không biết nó là cái gì.”

“Bố cũng không.” Ông già trở lại là chính mình, và một lần nữa ở một nơi xa xăm, không bị những cảm xúc cá nhân làm tổn thương. “Chúng ta là con người - bất kể điều đó có nghĩa là gì. Bố không biết. Bố thấy vui khi gặp con, khi con chiếu cố đến bố. Đừng có nghĩ là con không được chào đón. Nhưng bố đang già đi. Con chưa biết điều đó là thế nào đâu. Tất cả gia đình, con cái, những chuyện như thế, đều có vẻ như không có thật. Không phải là điều quan trọng. Ít nhất là đối với bố.”

“Vậy thì điều gì mới quan trọng?”

“Chúa, bố nghĩ vậy. Bất kể điều đó có nghĩa là gì. Ồ, tất nhiên, bố biết nó chẳng có nghĩa gì với con cả. Tại sao lại phải có ý nghĩa chứ? Xưa từng đôi lúc thoáng thấy rồi. Trên sa mạc - quân đội mà, con biết đấy. Hoặc lúc gặp nguy hiểm. Bây giờ thì đôi khi vào ban đêm. Bố nghĩ ở một mình, là điều rất quan trọng. Loài người, con người, những điều như vậy, thật là một mớ hổ lốn. Mọi người nên để cho nhau được yên.” Ông nhấp một ngụm whisky, nhìn cô bằng ánh mắt tỏ ra kinh ngạc trước những gì ông nhìn thấy. “Con là con gái của bố. Bố tin như vậy. Bố chẳng biết gì về con cả. Tất nhiên là giúp con trong khả năng của bố. Con sẽ được hưởng số tiền bố có lúc bố ra đi - chuyện này thì con biết rồi. Cũng chẳng nhiều nhặn gì. Nhưng bố không muốn biết về cuộc sống của con - dù sao cũng không nên tán thành kiểu sống đó, bố nghĩ vậy.”

“Vâng, con cũng nghĩ vậy.”

“Thằng chồng con, cái tay chán như cơm nguội ấy, không thể hiểu được chuyện này.”

“Lâu rồi bố ơi. Giả thử con kể với bố là con từng yêu một người đã có vợ trong năm năm và đây là điều quan trọng nhất đời con?”

“Việc của con. Không phải của bố. Và những gã sau đó, bố nghĩ vậy. Con không giống mẹ con, như vậy cũng đáng kể đấy. Giống hơn một bà bố đã quen sau khi mẹ con chết.”

“Sao bố không cưới bà kia?”

“Bà ấy đã có gia đình. Bám chắc lấy chồng bà ấy. À, bố nghĩ là bà ấy đúng. Về mặt đó, đấy là điều tốt đẹp nhất trong đời bố, nhưng cái mặt đó - chưa bao giờ là mặt quan trọng nhất đối với bố cả.”

“Bố còn không bao giờ thắc mắc về con? Con đang làm gì? Bố không nghĩ đến cháu ngoại mình?”

Đến lúc này, rõ ràng là ông đã thoái lui hoàn toàn, ông không thích sức ép này chút nào.

“Không. Ôi, thằng nhóc thì đúng là ngộ. Gặp nó lúc nào cũng vui. Nhưng nó sẽ trở thành một kẻ ăn thịt người như bất cứ ai khác.”

“Ăn thịt người?

“Ừ, ăn thịt người. Mọi người đều chỉ là kẻ ăn thịt người nếu như không để cho nhau được yên. Đối với con - bố biết gì về con ư? Con là một phụ nữ hiện đại, bố chẳng biết gì về họ cả.”

“Một phụ nữ hiện đại,” Ella khô khan nói, miệng mỉm cười.

“Ừ. Cuốn sách của con, bố nghĩ vậy. Bố nghĩ con đang theo đuổi một điều gì đó của riêng con giống như tất cả chúng ta đều theo. Vậy thì chúc con may mắn. Chúng ta không thể giúp nhau được. Người nào chẳng giúp được gì nhau, tốt nhất là nên tách nhau ra.”

Nói đến đây ông nhấc cuốn sách lên, đồng thời chuyển cho cô lời cảnh báo cuối cùng rằng câu chuyện đến đây là chấm dứt bằng một thoáng quắc mắt đột ngột.

Một mình trong phòng riêng, Ella nhìn vào cái hồ của riêng mình, chờ các hình bóng xuất hiện, chờ câu chuyện tự nó hình thành. Cô nhìn thấy một sĩ quan chuyên nghiệp trẻ tuổi, rụt rè, kiêu hãnh nhưng không có tài ăn nói. Cô thấy một người vợ trẻ e thẹn và vui vẻ. Và bây giờ một ký ức, không phải hình ảnh, nổi lên trên bề mặt: cô nhìn thấy cảnh này: đêm khuya, trong phòng mình, cô đang giả vờ ngủ. Bố mẹ cô đang đứng giữa phòng. Ông vòng tay ôm lấy bà, bà e lệ và bẽn lẽn như một cô gái. Ông hôn bà, sau đó bà chạy nhanh ra khỏi phòng, mắt đẫm lệ. Ông đứng một mình, giận dữ, tay kéo ria mép.

Ông còn lại một mình, rút lui khỏi vợ ông sang đám sách vở và những giấc mơ khô khan, sơ sài của một người đàn ông có lẽ đã có thể thành nhà thơ hoặc nhà thần bí. Và trên thực tế, khi ông chết, người ta tìm thấy những sổ nhật ký, bài thơ, đoạn văn trong các ngăn kéo khóa kín.

Ella kinh ngạc vì kết cục này. Cô chưa bao giờ nghĩ bố mình là người có thể làm thơ, hoặc biết viết lách nói chung. Cô đến thăm bố mình một lần nữa, sớm nhất có thể.

Đêm khuya, trong căn phòng yên tĩnh có ngọn lửa chầm chậm cháy trong hốc tường, cô hỏi: “Bố ơi, đã bao giờ bố làm thơ chưa?” Cuốn sách rơi xuống cặp đùi gầy gò của ông đánh bộp và ông đưa mắt nhìn cô. “Làm thế quái nào mà con biết?”

“Con không biết. Con chỉ nghĩ là có thể thế thôi.”

“Chưa bao giờ bố nói với ma nào cả.”

“Con xem được không?”

Ông ngồi một lúc, kéo kéo bộ ria mép dữ tợn già nua lúc này đã ngả bạc. Sau đó ông đứng dậy và mở một ngăn kéo. Ông đưa cho cô một tập thơ. Toàn là thơ về cô độc, mất mát, ngoan cường, những chuyến du hành cô lẻ. Thường là về lính. T. E. Lawrence: “Một người đàn ông gầy gò khắc khổ giữa những người đàn ông gầy gò.” Rommel: “Và tối đến, những người yêu nhau dừng bên ngoài thành phố, nơi khoảng một mẫu đất cắm thánh giá nghiêng trong cát.” Cromwell: “Đức tin, núi non, đài tưởng niệm và đá tảng…” Lại là T. E. Lawrence: “… nhưng đi qua những vực sâu hoang dã của tâm hồn.” Và một lần nữa T. E. Lawrence bác bỏ: “Sự sáng rõ, hành động cùng những phần thưởng trung thực, và thừa nhận mình chiến bại, giống như tất cả những người đến với ngôn từ.”

Ella trả lại cho ông. Ông già rồ dại cầm lấy tập thơ và khóa chúng trở lại chỗ cũ.

“Bố chưa bao giờ nghĩ đến chuyện xuất bản à?”

“Chắc chắn là không rồi. Để làm gì cơ chứ?”

“Con hỏi thế thôi.”

“Tất nhiên là con khác bố. Con viết để xuất bản. À, bố nghĩ mọi người đều vậy.”

“Bố chưa bao giờ nói, bố có thích tiểu thuyết của con không? Bố đọc chưa?”

“Thích ư? Sách viết rất giỏi, đại loại thế. Nhưng cái tay cơm nguội tội nghiệp đó, hắn ta muốn tự tử làm gì cơ chứ?”

“Có những người muốn thế.”

“Cái gì? Ai mà chẳng muốn, không lúc này thì lúc khác. Nhưng tại sao lại viết về chuyện đó?”

“Có lẽ bố nói đúng.”

“Bố không bảo rằng bố nói đúng. Đấy là cảm giác của bố. Đấy là sự khác biệt giữa bọn ta và các con.”

“Khác biệt gì cơ, về chuyện tự tử ư?”

“Không. Con đòi hỏi quá nhiều. Hạnh phúc. Mấy thứ đó. Hạnh phúc! Bố không nghĩ là mình đã từng suy nghĩ về điều đó. Các con - dường như các con nghĩ rằng đời nợ mình cái gì đấy. Tại bọn cộng sản cả.”

“Sao cơ?” Ella nói, giật mình và thích thú.

“Đúng thế, các con toàn là bọn đó cả.”

“Nhưng con đâu phải cộng sản. Bố đang nhầm con với bạn Julia của con rồi. Và ngay cả cô ấy cũng không còn là cộng sản nữa.”

“Cũng thế cả thôi. Họ nắm được các con rồi. Các con đứa nào cũng nghĩ là mình có thể làm bất cứ việc gì.”

“Chà, con nghĩ đúng là như thế - đâu đó trong đáy lòng ‘bọn con’ là niềm tin rằng điều gì cũng có thể làm được. Còn bố thì có vẻ như có quá ít mà đã bằng lòng.”

“Bằng lòng ư? Bằng lòng! Cái từ đó nghĩa là quái gì vậy?”

“Con muốn nói rằng dù hay dù dở thì chúng con cũng sẵn sàng thử nghiệm với chính mình, cố gắng trở thành những kiểu người khác nhau. Nhưng bố thì đầu hàng một kiểu.”

Ông già ngồi với vẻ dữ tợn và căm hận. “Thằng ngốc trẻ tuổi trong cuốn sách của con, nó chẳng nghĩ được điều gì ngoài chuyện tự tử.”

“Có lẽ bởi vì đúng là đời nợ anh ta cái gì đấy, nợ mọi người, mà anh ta lại không có được.”

“Có lẽ, con nói thế sao? Có lẽ? Con viết ra, vì vậy con phải biết chứ.”

“Có lẽ lần sau con sẽ thử viết về điều đó - những người cố tình tìm cách trở thành một thứ khác, tìm cách phá vỡ hình thức hiện tại của bản thân.”

“Con nói cứ như là… một người là một người. Người thế nào thì thế đấy thôi. Không thể trở thành một người khác được. Không thể thay đổi được điều đó.”

“Vậy thì con nghĩ rằng đây chính là điểm khác biệt thực sự giữa chúng ta. Bởi vì con tin rằng có thể thay đổi được điều đó.”

“Vậy thì bố không hiểu con. Và bố không muốn hiểu. Phải đối diện với con người thật của mình đã đủ mệt lắm rồi, chứ chưa cần làm cho mọi việc trở nên phức tạp hơn.”

Cuộc đối thoại này với bố đã khởi đầu một luồng suy nghĩ mới cho Ella.

Bây giờ, khi tìm kiếm những đường nét phác thảo một câu chuyện và hết lần này đến lần khác chẳng tìm thấy gì khác ngoài những mô hình thất bại, chết chóc, mỉa mai, cô chủ tâm khước từ chúng. Cô cố gắng áp đặt các mô hình về hạnh phúc hoặc cuộc sống đơn giản. Nhưng thất bại.

Rồi cô thấy mình đang nghĩ thế này: mình phải chấp nhận các mô hình thấu hiểu bản thân, đồng nghĩa với bất hạnh hoặc ít ra cũng là sự khô cằn. Nhưng mình có thể xoay chuyển nó trở thành chiến thắng. Một đàn ông và một phụ nữ - được. Cả hai đều đang sắp hết khả năng chịu đựng. Cả hai đều đổ vỡ bởi vì cố tình nỗ lực vượt quá giới hạn bản thân. Và từ sự hỗn loạn đó nảy sinh ra một loại sức mạnh mới.

Ella nhìn vào trong mình, như nhìn xuống mặt nước hồ, để tìm những hình ảnh phản chiếu câu chuyện; nhưng nó vẫn chỉ là một tập hợp những câu chữ khô khan trong tâm trí. Cô chờ đợi, kiên nhẫn chờ đợi các hình ảnh xuất hiện, ra đời.

*

[Trong quãng thời gian khoảng mười tám tháng, cuốn sổ bìa xanh ghi toàn các bài viết ngắn mang phong cách khác hẳn, không chỉ là so với các bài viết trước đó trong cuốn sổ bìa xanh mà còn so với bất cứ bài nào khác trong các cuốn sổ còn lại. Phần này bắt đầu:]

Ngày 17 tháng Mười năm 1954: Anna Freeman, sinh ngày 10 tháng Mười một năm 1922, con gái của đại tá Frank Freeman và bà May Fortescue; ngụ tại 23 phố Baker; học tại trường Nữ sinh Hampstead; sáu năm ở Trung Phi - từ 1939 đến 1945; cưới Max Wulf năm 1945; có một con gái sinh năm 1946; ly dị Max Wulf năm 1947; gia nhập Đảng Cộng sản năm 1950, ra khỏi Đảng năm 1954.

[Mỗi ngày đều có bài viết riêng, bao gồm những câu ngắn trần thuật thực tế: “Dậy sớm. Đọc cái này cái kia. Gặp người này người kia. Janet ốm. Janet khỏe. Molly được mời nhận một vai mà cô ấy thích/không thích, vân vân.” Sau một ngày tháng Ba năm 1956, một dòng kẻ đen đậm gạch ngang giữa trang, đánh dấu kết thúc những bài viết nhỏ gọn. Và mười tám tháng qua bị gạch đi bằng hai đường chéo đậm mỗi trang. Lúc này, Anna tiếp tục bằng một kiểu chữ viết khác, không phải kiểu chữ nhỏ rõ ràng ở những đoạn viết hằng ngày mà là kiểu viết tháu, nhiều phần gần như không thể đọc nổi với tốc độ viết như thế:]

Vậy là tất cả lại vẫn là thất bại. Mặc dù tôi mong chờ nó chứa đựng nhiều sự thật nhất, cuốn sổ xanh lại dở hơn bất cứ cuốn nào khác. Tôi đã trông đợi một bản ghi chép sự việc súc tích để hiện lên các mô típ khi tôi đọc lướt qua, nhưng kiểu ghi chép này cũng sai lạc như các đoạn về những gì xảy ra hôm 15 tháng Chín năm 1954, bây giờ tôi đọc chỉ xấu hổ vì sự sướt mướt của nó cũng như cái giả định rằng nếu tôi viết “lúc chín rưỡi tôi đi vào nhà vệ sinh để ị, lúc hai giờ để tè và lúc bốn giờ tôi toát mồ hôi” thì sẽ thật hơn là chỉ viết những gì tôi nghĩ. Vậy mà tôi vẫn không hiểu tại sao. Bởi vì mặc dù trong cuộc sống, những việc như đi vào nhà vệ sinh hay thay tampon khi đến tháng được xử lý ở cấp độ gần như vô thức, nhưng tôi vẫn nhớ được từng chi tiết của một ngày cách đây hai năm về trước, vì nhớ rằng Molly để dây máu lên váy và tôi phải nhắc cô lên gác thay đồ trước khi con trai cô bước vào.

Và tất nhiên điều này chẳng dính dáng gì đến văn học cả, nó cũng giống như “trải nghiệm” với Mẹ Mật. Tôi nhớ mình đã nói với bà rằng trong phần lớn thời gian chúng tôi gặp nhau, nhiệm vụ của bà là làm cho tôi ý thức được, và lo nghĩ đến, những thực tế về mặt thể chất mà chúng tôi đã dành cả thời thơ ấu học cách bỏ qua để còn có thể sống nổi. Và rồi bà trả lời rất rõ ràng: rằng việc “học” ấy ở thời thơ ấu là sai lầm, nếu không thì tôi đã không cần phải ngồi trong chiếc ghế đối diện nhờ bà giúp đỡ mỗi tuần ba lần. Tôi đáp lại thế này, dù biết rằng sẽ không nhận được câu trả lời nào, hoặc ít nhất là ở cấp độ mà tôi muốn, bởi vì tôi biết điều mình đang nói là thói quen “lý trí hóa” mà bà gán cho là cội nguồn các rắc rối cảm xúc của tôi: “Đối với tôi, có vẻ như về bản chất đi phân tích tâm lý là một quá trình mà người ta bị buộc phải trở lại với trạng thái ấu nhi và sau đó được cứu thoát ra khỏi đó nhờ kết tinh những gì học hỏi được thành một dạng thế giới quan nguyên thủy về mặt trí thức - người ta buộc phải trở lại với huyền thoại, với văn hóa dân gian và tất cả những gì thuộc về các giai đoạn dã man, mông muội của xã hội. Vì nếu tôi nói với bà: Tôi nhận ra trong giấc mơ đó, cái huyền thoại này nọ; hoặc trong cảm xúc về bố mình, cái truyện dân gian kia; hoặc không khí trong ký ức đó giống hệt như trong một bản truyện thơ Anh - vậy là bà mỉm cười, bà thỏa mãn. Đối với bà, tôi đã vượt qua giai đoạn trẻ con đó, tôi đã chuyển hóa và cứu rỗi nó bằng cách đưa nó vào huyền thoại. Nhưng trên thực tế, những gì tôi làm, hay bà làm, chỉ là lần mò trong những ký ức trẻ thơ của một cá nhân, sau đó kết hợp chúng vào nghệ thuật hoặc những ý tưởng thuộc về thời thơ ấu của một dân tộc.” Bà mỉm cười khi nghe vậy, tất nhiên. Và tôi tiếp: “Bây giờ tôi sẽ sử dụng chính vũ khí của bà để chống lại bà. Tôi không đề cập đến việc bà nói cái gì, mà là bà phản ứng như thế nào. Bởi vì thời điểm bà thực sự vui vẻ và phấn khích, thời điểm khuôn mặt bà trở nên sống động, là khi tôi nói rằng đêm qua tôi đã mơ về những điều mà Hans Andersen kể trong câu chuyện về Nàng Tiên Cá. Nhưng khi tôi thử xem xét một trải nghiệm, một ký ức, một giấc mơ, theo quan điểm hiện đại, thử nói một cách phê phán hoặc khô khan hoặc phức tạp, thì bà làm vẻ mặt gần như chán ngấy hoặc nôn nóng. Vì vậy từ đó tôi suy ra rằng điều thực sự làm bà hài lòng, thực sự làm bà cảm động, chính là thế giới nguyên thủy. Bà có nhận thấy rằng chưa một lần, chưa hề bao giờ, tôi kể lại một trải nghiệm mà tôi từng biết, hoặc một giấc mơ, theo kiểu người ta vẫn kể với bạn bè, hoặc theo kiểu cả bà cũng kể, bên ngoài căn phòng này, với bạn bè, mà không bị bà cau mày - và tôi thề rằng cái cau mày hay thái độ nôn nóng đó là điều mà bà không hề ý thức được. Hay bà định nói rằng bà cố tình cau mày, bởi vì bà nghĩ rằng tôi chưa thực sự sẵn sàng bước ra khỏi thế giới huyền thoại đó?”

“Vậy thì sao?” bà vừa mỉm cười vừa hỏi.

Tôi đáp: “Tốt hơn rồi đấy - bà sẽ mỉm cười như thế nếu như tôi nói chuyện với bà trong một phòng tiếp khách - được rồi, tôi biết rằng bà định bảo rằng đây đâu phải là phòng khách, và tôi có mặt ở đây bởi vì tôi đang gặp rắc rối.”

“Vậy thì sao?” - mỉm cười.

“Tôi sẽ nói điều hiển nhiên rằng biết đâu đấy từ loạn thần kinh lại có nghĩa là tình trạng ý thức và phát triển rất cao. Bản chất của chứng loạn thần kinh là mâu thuẫn. Những bản chất của việc sống vào thời điểm hiện tại, Sống trọn vẹn chứ không giới hạn mình khỏi những gì đang diễn ra, là mâu thuẫn. Trên thực tế, tôi đã đạt đến giai đoạn nhìn mọi người và nói rằng - anh ấy hoặc cô ấy, họ còn nguyên vẹn nổi bởi vì họ chọn giới hạn ở giai đoạn này giai đoạn kia. Mọi người giữ thần kinh tỉnh táo nhờ tự giới hạn, tự hạn chế bản thân.”

“Cô bảo rằng trải nghiệm với tôi thì tốt hơn hay xấu hơn cho cô?”

“Nhưng bây giờ bà đã trở lại phòng khám rồi. Tất nhiên là tốt hơn. Nhưng đây là một thuật ngữ phòng khám. Tôi sợ tốt hơn lại phải đánh đổi bằng cái giá là sống bên trong huyền thoại và giấc mơ. Phân tâm học đứng vững hay sụp đổ phụ thuộc vào việc nó có làm cho con người tốt lên hay không, tốt hơn về mặt đạo đức chứ không phải là mạnh khỏe hơn về mặt lâm sàng. Thực ra bây giờ bà đang muốn hỏi tôi thế này: Giờ đây cô có khả năng sống dễ dàng hơn trước đây hay không? Hay nói ngắn gọn là cô có bớt mâu thuẫn đi không, bớt hoài nghi đi không, bớt loạn thần kinh hay không? Đấy, bà biết là có mà.”

Tôi vẫn nhớ bà ngồi đối diện với tôi, một bà già lanh lợi, đầy sức sống, với chiếc áo sơ mi diềm và chiếc váy rất năng động, mái tóc bạc vén ra sau thành một búi vội vã, cau mày nhìn tôi. Tôi hài lòng khi thấy cái cau mày - chúng tôi đang ở ngoài, dù trong giây lát, mối quan hệ bác sĩ-bệnh nhân.

“Xem này,” tôi nói. “Nếu tôi ngồi đây, mô tả về giấc mơ đêm qua, ví dụ là giấc mơ sói, ở mức phát triển cao hơn, trên mặt bà sẽ có một vẻ nhất định. Và tôi biết vẻ mặt đó có nghĩa là gì bởi vì tự bản thân tôi cũng cảm thấy thế - nhận ra. Niềm vui khi đã nhận ra, khi có thể thực hiện chút công việc cứu hộ, có thể nói như vậy, cứu những gì vô định hình thành ra có định hình. Một chút hỗn loạn nữa được cứu và được gọi tên. Bà có biết là bà mỉm cười thế nào khi tôi gọi tên cho một điều gì đó không? Cứ như là bà vừa mới cứu người nào đó khỏi chết đuối. Và tôi biết cảm giác này. Nó là niềm vui. Nhưng bên trong nó có điều gì đấy kinh khủng - bởi tôi chưa bao giờ biết đến niềm vui ấy khi tỉnh thức, như khi đang ngủ, trong một kiểu giấc mơ cụ thể - là khi bầy sói ra khỏi rừng, hoặc khi cổng lâu đài mở ra, hoặc khi tôi đứng trước ngôi đền màu trắng đổ nát trên bãi cát trắng, đằng sau là trời xanh và biển xanh, hoặc khi tôi bay lượn như Icarus - trong những giấc mơ này, bất kể chúng được tạo nên từ những chất liệu đáng sợ nào, tôi đều có thể khóc vì hạnh phúc. Và tôi biết lý do tại sao - nó là vì tất cả những đau đớn, giết chóc, và bạo lực đều bị nhốt lại an toàn trong câu chuyện nên không thể khiến tôi tổn thương được.”

Bà im lặng, nhìn tôi chăm chú.

Tôi nói: “Bà định nói rằng có thể là tôi chưa sẵn sàng tiến xa hơn? Ồ, tôi thì nghĩ rằng nếu đủ khả năng nôn nóng, đủ khả năng muốn có nó, hẳn tôi đã sẵn sàng bước sang giai đoạn tiếp theo rồi chứ nhỉ?”

“Vậy giai đoạn tiếp theo là gì?”

“Giai đoạn tiếp theo, chắc chắn, đó là tôi sẽ rời bỏ sự an toàn của huyền thoại và Anna Wulf một mình tiến tới.”

“Một mình?” bà nói, rồi hờ hững nói thêm, “Cô là cộng sản, hoặc theo lời cô nói là như vậy, nhưng cô lại muốn đi một mình. Chẳng phải đây là cái mà cô gọi là mâu thuẫn sao?”

Và vậy là chúng tôi phá lên cười, và chuyện lẽ ra dừng ở đấy, nhưng tôi tiếp tục: “Bà nhắc đến cá thể hóa. Cho đến nay, đối với tôi điều đó có nghĩa là thế này: cá nhân nhận ra từng phần nối tiếp ở cuộc đời ngày trước của mình là một khía cạnh trong trải nghiệm chung của nhân loại. Khi anh ta có thể nói: điều tôi làm trước kia, điều tôi cảm thấy trước kia, chỉ là hình ảnh phản chiếu của giấc mơ cổ mẫu to lớn đó, hoặc là câu chuyện sử thi, hoặc giai đoạn lịch sử đó, anh ta sẽ được tự do, bởi vì anh ta đã tự tách mình ra khỏi trải nghiệm đó, hoặc ghép nó vừa khít như một mảnh khảm vào một mô hình rất cũ kỹ, và nhờ hành động đặt nó vào đúng chỗ, anh ta được giải thoát khỏi nỗi đau cá thể của nó.”

“Nỗi đau?” bà nhẹ nhàng hỏi.

“Ồ, Mẹ Mật thân yêu, người ta đến với bà đâu phải bởi vì họ đang quá ư hạnh phúc.”

“Không, họ thường đến, giống như cô, bởi vì họ bảo rằng họ không cảm nhận được gì.”

“Nhưng lúc này tôi cảm nhận được. Tôi mở lòng đón đợi mọi thứ. Nhưng vừa hoàn tất việc đó thì bà đã bảo nhanh lên - gạt bỏ đi, gạt bỏ nỗi đau vào nơi nó không thể gây đau đớn, biến nó thành câu chuyện hoặc thành lịch sử. Nhưng tôi không muốn gạt bỏ nó. Vâng, tôi biết bà muốn tôi nói gì - rằng bởi vì tôi đã cứu được quá nhiều chất liệu đau riêng tư - bởi vì trời đánh tôi đi nếu như tôi gọi nó bằng bất cứ cái tên nào khác, và đã đi hết nó, chấp nhận nó, và biến nó thành cái chung, bởi vì thế nên nay tôi tự do và mạnh mẽ. Được thôi, tôi sẽ chấp nhận và nói ra. Và bây giờ thì sao? Tôi mệt mỏi với những con sói, những lâu đài, những khu rừng và những thầy tu rồi. Tôi có thể đối mặt với họ trong bất cứ lốt nào mà họ muốn. Nhưng tôi vừa nói với bà đấy, tôi muốn ra đi, một mình tôi, Anna Freeman.”

“Một mình cô?” bà nhắc lại.

“Bởi vì tôi tin rằng có hàng lố khu vực trong tôi được tạo nên từ kiểu trải nghiệm mà phụ nữ chưa từng có trước đây…”

Nụ cười nhẹ nhàng lại chuẩn bị nở ra trên gương mặt bà - đây là “nụ cười chỉ huy” trong các buổi điều trị giữa chúng tôi, chúng tôi trở lại với vai trò bác sĩ và bệnh nhân.

Tôi nói: “Khoan, khoan hẵng cười. Tôi tin rằng tôi đang sống cuộc sống mà phụ nữ từ trước đến nay chưa bao giờ biết đến.”

“Chưa bao giờ?” bà hỏi, và đằng sau giọng nói đó tôi có thể nghe thấy những âm thanh mà bà luôn gợi lên tại những thời điểm như vậy - biển vỗ sóng lên bờ biển xưa cũ, giọng nói của những người đã khuất cách đây hàng trăm năm. Bà có khả năng gợi lên cảm giác về những vùng thời gian mênh mông bằng một nụ cười hoặc giọng nói khiến tôi thấy vui vẻ, thanh thản, khiến tôi tràn ngập niềm vui - nhưng lúc này thì tôi không muốn.

“Chưa bao giờ,” tôi đáp.

“Chi tiết thay đổi, nhưng hình thức vẫn vậy,” bà nói.

“Không,” tôi kiên quyết.

“Vậy cô khác họ như thế nào? Cô định nói rằng từ trước đến nay chưa bao giờ có nữ nghệ sĩ? Chưa bao giờ có phụ nữ sống độc lập? Chưa bao giờ có những người phụ nữ kiên quyết bảo vệ tự do tình dục? Tôi nói cho cô biết, đằng sau cô có cả một hàng dài dằng dặc phụ nữ nối vào quá khứ, và cô phải lùng ra họ, tìm ra họ trong chính bản thân cô và ý thức được họ.”

“Họ đâu có nhìn bản thân như tôi. Họ đâu có cảm nhận như tôi. Làm sao mà họ làm được? Tôi không muốn lúc ngủ dậy, đang còn hoảng hồn vì giấc mơ về cảnh toàn thế giới bị bom H hủy diệt thì nghe bảo rằng xưa kia người ta cũng cảm nhận như vậy về cái nỏ. Như vậy không đúng. Trên thế giới đang có một điều gì đấy mới mẻ. Và tôi không muốn nghe, khi tôi vừa đi gặp một ông trùm điện ảnh, kẻ nắm giữ thứ quyền lực khống chế ý nghĩ của người ta theo cách không một vị hoàng đế nào từng có được, rồi quay về với cảm giác bị chà đạp lên người, rằng Lesbia cũng cảm thấy y chang sau khi mặc cả với tay buôn rượu. Và khi bỗng nhiên có được bức tranh (mặc dù Chúa biết là rất khó có được) về một cuộc sống không phải là đầy thù hận, sợ hãi, ghen ghét và ganh đua từng phút cả ngày lẫn đêm, tôi không muốn phải nghe bảo rằng đây chỉ là giấc mơ xưa cũ về thời đại vàng son được cập nhật cho hợp lý…”

“Chẳng phải vậy sao?” bà hỏi, miệng mỉm cười.

“Không, bởi vì giấc mơ về thời vàng son còn mạnh hơn hàng triệu lần vì nó có thể xảy ra, cũng như việc hủy diệt thế giới có thể xảy ra. Có lẽ chính vì cả hai đều có thể xảy ra.”

“Vậy cô muốn tôi nói điều gì?”

“Tôi muốn có khả thể tách bạch trong bản thân mình đâu là những điều xưa cũ và xảy ra theo chu kỳ, lịch sử lặp đi lặp lại, hay huyền thoại, còn đâu là những điều mới mẻ, những gì tôi cảm thấy hoặc nghĩ tới mà có thể là mới mẻ…” Tôi thấy vẻ mặt bà và nói: “Bà định nói rằng những điều tôi cảm thấy hoặc nghĩ tới, không có gì là mới mẻ sao?”

“Tôi chưa bao giờ nói…” Bà bắt đầu, sau đó chuyển sang dùng đại từ chúng ta... “chúng ta chưa bao giờ nói hoặc ám chỉ rằng loài người không thể phát triển xa thêm được nữa. Cô không buộc tội tôi là nói thế chứ? Bởi vì như vậy hoàn toàn ngược lại với những gì chúng ta nói.”

“Tôi buộc tội bà đã xử sự như thể bà không tin vào điều đó. Xem nào, nếu như chiều nay lúc đến tôi nói với bà thế này: Hôm qua đi dự tiệc tôi gặp một người đàn ông và tôi nhận ra anh ta là một con sói, một hiệp sĩ, hoặc một thầy tu, chắc bà sẽ gật đầu và mỉm cười. Và cả hai chúng ta đều cảm thấy niềm vui và nhận ra điều đó. Nhưng nếu tôi nói: Hôm qua đi dự tiệc tôi gặp một người đàn ông và bỗng nhiên anh ta nói câu gì đấy khiến tôi nghĩ: Ồ, có dấu hiệu về điều gì đó - trong tính cách của người đó có vết nứt giống như lỗ hổng trong thân con đập, và biết đâu qua lỗ hổng đó tương lai sẽ trào ra dưới một hình dạng khác hẳn - có thể là kinh khủng, hoặc có thể là tuyệt vời, nhưng sẽ là mới mẻ - nếu tôi nói vậy chắc bà sẽ cau mày.”

“Cô đã gặp một người như vậy hả?” bà hỏi, đầy thực tế.

Không. Tôi không gặp. Nhưng đôi khi tôi gặp gỡ ai đó, và có vẻ như đối với tôi việc bị nứt chính giữa người, bị chia đôi, có nghĩa là họ đang mở lòng chờ đợi một vấn đề gì đó.”

Bà nói sau một lúc lâu im lặng đầy vẻ suy tư: “Anna, điều đó cô không nên nói với tôi.”

Tôi ngạc nhiên. Tôi đáp: “Không phải là bà đang cố tình yêu cầu tôi gian dối với bà đấy chứ?”

“Không. Tôi đang nói rằng cô nên viết trở lại.”

Tôi cáu, tất nhiên, và tất nhiên là bà biết tôi sẽ cáu.

“Bà đang khuyên tôi nên viết về trải nghiệm của chúng ta? Vậy sao được? Nếu tôi ghi lại từng lời cuộc trao đổi giữa hai chúng ta trong một tiếng đồng hồ, người ta sẽ chẳng thể nào hiểu nổi trừ phi tôi viết chuyện đời mình để giải thích cho nó.”

“Vậy thì sao?”

“Đấy sẽ chỉ là ghi chép về cách tôi nhìn bản thân mình tại một thời điểm nhất định. Bởi vì bản ghi chép về một tiếng đồng hồ trong tuần đầu tiên tôi gặp bà, chẳng hạn, và một tiếng đồng hồ bây giờ, sẽ khác nhau đến mức…”

“Thì sao?”

Và bên cạnh đó, có những vấn đề về văn chương, những vấn đề về thẩm mỹ mà xem ra bà chẳng bao giờ nghĩ đến cả. Những gì bà và tôi vừa thực hiện cùng nhau về bản chất đều nhằm xóa đi cảm giác xấu hổ. Trong tuần đầu tiên biết bà, tôi không thể nói rằng: Tôi nhớ đến cảm giác kinh tởm, xấu hổ và tò mò đến khủng khiếp khi nhìn thấy bố mình trần truồng. Tôi phải mất nhiều tháng mới xóa bỏ được rào cản trong lòng mình để nói lên được những điều như vậy. Nhưng bây giờ tôi có thể nói những chuyện như: … bởi vì tôi muốn bố mình chết và vân vân, nhưng nếu không có trải nghiệm chủ quan, không xóa bỏ các rào cản, thì người nào đọc được sẽ cảm thấy sốc chẳng khác gì nhìn thấy máu hoặc gặp từ nào đó gây liên tưởng đến những chuyện ô nhục, và con số này sẽ nuốt chửng mọi thứ khác.”

Bà khô khan nói: “Anna thân mến ạ, cô đang sử dụng trải nghiệm của chúng ta với nhau để củng cố những bào chữa cho việc không chịu viết lách.”

“Ôi, lạy Chúa tôi, không, tôi không định nói như vậy.”

“Hay cô đang bảo rằng có một số cuốn sách chỉ để dành cho thiểu số?”

“Bà Marks thân mến ơi, bà biết rất rõ rằng thừa nhận bất cứ ý tưởng nào như vậy đều trái với nguyên tắc của tôi, kể cả đúng là tôi có ý tưởng ấy thật đi nữa.”

“Thế thì tốt thôi, nếu cô có ý tưởng đó thật thì hãy giải thích tại sao có những cuốn sách dành cho thiểu số?”

Tôi suy nghĩ rồi đáp: “Đấy là vấn đề hình thức.”

“Hình thức ư? Vậy còn nội dung thì sao? Tôi hiểu rằng hình thức, phải vậy không?”

“Những người như tôi có thể chia tách như vậy, nhưng tôi thì không. Ít ra là trước thời điểm này. Nhưng bây giờ tôi sẽ bảo rằng đây là vấn đề hình thức. Người ta không ngại những thông điệp vô luân. Họ không ngại thứ nghệ thuật bảo rằng giết người là tốt, tàn ác là tốt, tình dục vị tình dục là tốt. Họ thích thế, miễn là thông điệp đó được điểm trong một chút. Và họ cũng thích cả những thông điệp nói rằng giết người là xấu, tàn ác là xấu, và tình yêu là tình yêu là tình yêu là tình yêu. Họ chỉ không chịu được nếu có ai bảo rằng tất cả đều chẳng có ý nghĩa gì hết cả, họ không chịu được cảnh vô định hình.”

“Như vậy, những tác phẩm nghệ thuật vô định hình, nếu có tồn tại cái thứ ấy, là thứ dành cho thiểu số?”

“Nhưng tôi không tin rằng một số cuốn sách được dành riêng cho thiểu số. Bà biết là tôi không hề tin điều đó. Tôi không có quan điểm quý tộc đối với nghệ thuật.”

“Anna thân mến của tôi ơi, thái độ của cô đối với nghệ thuật còn quý tộc đến mức cô chỉ viết, nếu có viết, cho riêng mình mà thôi.”

“Tất cả mọi người khác cũng vậy mà,” tôi nghe thấy chính mình lẩm bẩm như thế.

“Người khác nào?”

“Những người khác, ở khắp nơi trên thế giới, đang âm thầm viết những cuốn sách bí mật, bởi vì họ sợ điều mình đang nghĩ.”

“Vậy ra cô cảm thấy sợ điều cô đang nghĩ?” Và bà với tay ra cầm lấy cuốn sổ hẹn, đánh dấu một giờ đã kết thúc.

[Đến đây lại một đường kẻ đậm màu đen chạy ngang trang giấy.]

Khi tôi chuyển đến căn hộ mới này và thu xếp căn phòng lớn, điều đầu tiên tôi làm là mua chiếc bàn chân rời và đặt đám sổ tay của mình lên đó. Ấy vậy mà trong căn hộ kia tại nhà Molly, những cuốn sổ đó bị nhét vào một chiếc vali để dưới gầm giường. Ban đầu tôi còn không định mua chúng. Cho tới khi chuyển đến đây, tôi nghĩ chưa từng có lúc nào tôi tự nhủ: mình viết vào bốn cuốn sổ tay, một cuốn bìa đen dành cho Anna Wulf-nhà văn; một cuốn bìa đỏ, liên quan đến các vấn đề chính trị; một cuốn bìa vàng, trong đó tôi viết những câu chuyện dựa trên trải nghiệm của bản thân; và một cuốn bìa xanh dương, cố gắng làm nhật ký. Ở nhà Molly, tôi chẳng bao giờ nghĩ đến mấy cuốn sổ này; và chắc chắn không coi đây là công việc, hoặc trách nhiệm.

Những điều quan trọng trong cuộc sống trườn lại gần khi người ta không để ý, không mong đợi, không hình dung đến chúng trong đầu. Người ta nhận ra chúng khi chúng xuất hiện, thế thôi.

Tôi chuyển đến căn hộ này ban đầu là để có chỗ, không chỉ cho một người đàn ông nào đó (Michael hoặc người đến sau anh) mà còn cho những cuốn sổ tay này. Trên thực tế, bây giờ tôi thấy mình chuyển đến căn hộ này là để có chỗ cho mấy cuốn sổ. Vì đến đây chưa được một tuần tôi đã mua chiếc bàn chân rời và đặt mấy cuốn sổ lên đấy. Rồi sau đó thì tôi đọc. Tôi chưa từng đọc lại kể từ hồi bắt đầu ghi chép. Và đọc xong thì cảm giác thật không dễ chịu chút nào. Trước hết, vì chưa bao giờ tôi nhận ra được rằng việc bị Michael chối bỏ đã ảnh hưởng đến tôi thế nào; việc này đã thay đổi, hay có vẻ là đã thay đổi, toàn bộ tính cách của tôi ra sao. Nhưng trên hết là vì tôi không nhận ra chính mình trong đó. Ráp nối những điều tôi viết với những gì tôi nhớ lại, mọi thứ đều có vẻ như giả tạo. Và còn nữa - sự thiếu trung thực trong những điều tôi viết là do một điều mà trước đó tôi chưa từng nghĩ tới - sự cằn cỗi của chính tôi. Giọng điệu chỉ trích, đề phòng, căm ghét ngày càng sâu sắc.

Đấy là khi tôi quyết định sử dụng cuốn sổ bìa xanh, cuốn này, không vào mục đích gì khác ngoài ghi chép lại những sự việc đã diễn ra. Tối nào tôi cũng ngồi trên ghế chơi đàn và ghi chép lại ngày hôm đó, cứ như thể tôi, Anna, đang đóng đinh Anna vào trang giấy. Ngày nào tôi cũng tạo hình cho Anna, nói: Hôm nay tôi dậy lúc bảy giờ, nấu bữa sáng cho Janet, đưa con bé đến trường, vân vân, và có cảm giác như mình đã cứu ngày hôm đó khỏi hỗn loạn. Nhưng bây giờ đọc những đoạn đấy tôi lại chẳng có cảm giác gì cả. Tôi càng lúc càng thấy khổ sở với cảm giác chóng mặt bởi ngôn từ chẳng có nghĩa gì cả. Ngôn từ chẳng có nghĩa gì cả. Khi tôi nghĩ, chúng không còn là hình thức chứa đựng trải nghiệm mà trở thành chuỗi âm thanh vô nghĩa, giống như lời nựng trẻ em, và quá sai lệch so với trải nghiệm. Hoặc giống như nhạc nền của phim nhưng lại chẳng ăn nhập gì với bộ phim cả. Khi tôi đang nghĩ tôi chỉ phải viết những cụm từ như là “Tôi bước xuống phố”, hoặc trích một đoạn từ báo ra “các từ ngữ đó ngay lập tức tan biến, và trong đầu tôi bắt đầu xuất hiện những hình ảnh chẳng liên quan gì đến chỗ ngôn từ đó cả, khiến cho dường như mỗi từ tôi nhìn thấy hoặc nghe thấy đều giống như chiếc bè nhỏ nhấp nhô trên mặt biển mênh mông đầy những hình ảnh. Vì vậy nên tôi chẳng thể nào viết gì thêm được nữa. Hoặc chỉ khi nào tôi viết thật nhanh, không nhìn lại những gì mình vừa viết. Vì nếu nhìn lại, những từ ngữ đó lại nổi lềnh bềnh và chẳng có nghĩa gì cả, còn tôi thì chỉ ý thức được mỗi bản thân mình, Anna, như một mạch đập trong bóng tối bao la, và những từ ngữ mà tôi, Anna, viết ra chẳng là gì cả, hoặc chỉ như chất dịch mà con bướm ngài đã ép mình tiết ra thành từng dải rồi đông cứng lại trong không khí.

Tôi chợt nghĩ rằng, những gì đang xảy ra là sự sụp đổ của tôi, Anna, và đây là cách tôi đang dần nhận thức về nó. Vì ngôn từ là hình thức, và nếu tôi đã rơi xuống chỗ hình dạng, hình thức, diễn đạt đều không là gì cả thì tôi cũng không là gì cả, bởi vì khi đọc những cuốn sổ đấy, tôi thấy rất rõ ràng rằng tôi vẫn còn là Anna nhờ một loại trí tuệ nhất định nào đó. Thứ trí tuệ đó đang tan ra và tôi cảm thấy hết sức sợ hãi.

Đêm qua, tôi gặp lại một giấc mơ, như lời tôi kể với Mẹ Mật, đáng sợ nhất trong tất cả các loại giấc mơ thường trở đi trở lại với tôi. Khi bà bảo tôi “gọi tên” nó (để cho nó một hình dạng), tôi bảo rằng đây là cơn ác mộng về sự hủy diệt. Sau đó, khi tôi mơ thấy nó một lần nữa, và bà bảo: “Gọi tên nó đi,” tôi còn đi xa hơn: tôi bảo đây là cơn ác mộng về nguyên lý thù hận, hoặc ác ý - niềm vui trong thù hận.

Lần đầu tiên tôi mơ về nó, nguyên lý, hoặc hình thù đó, mang hình thức một chiếc bình cụ thể lúc đó tôi đang có, một chiếc bình bằng gỗ kiểu nông thôn mà ai đó đã mang từ Nga về. Nó phình ra như củ hành, dáng trông khá vui mắt và chân chất, bên ngoài được trang trí bằng các mẫu hình màu đỏ, đen và thếp vàng rất thô. Trong giấc mơ của tôi, chiếc bình này có tính cách, và tính cách này là ác mộng bởi vì nó đại diện cho một điều gì đấy vô chính phủ và không thể kiểm soát được, một điều gì đấy mang tính chất hủy diệt. Hình thù, hoặc vật thể đó, vì nó không phải là con người, mà giống như một loài yêu tinh hoặc tiểu tiên, khiêu vũ và nhảy nhót với vẻ sống động đầy vênh váo rất ngớ ngẩn và nó không chỉ đe dọa tôi mà còn đe dọa tất cả mọi vật đang sống, nhưng không nhắm đến một đối tượng cụ thể nào, và chẳng cần lý do nào cả. Đây là khi tôi “gọi tên” nó là giấc mơ về hủy diệt. Lần tiếp theo tôi nằm mơ, sau đó nhiều tháng, nhưng lập tức nhận ra đúng giấc mơ đó, cái nguyên lý hay nguyên tố ấy mang hình hài một ông già, gần như là người lùn, đáng sợ hơn cực nhiều so với cái vật giống bình kia, bởi vì ông ta có chút hơi hướm con người. Ông già này cười mỉm, cười khúc khích, cười khẩy, trông xấu xí, đầy sức sống và mạnh mẽ, và cả lần này nữa, ông ta đại diện cho sự thù hận, độc ác thuần túy, niềm vui trong độc ác, niềm vui trong mong muốn tính hủy diệt. Đây là khi tôi “gọi tên” giấc mơ là niềm vui trong thù hận. Và tôi mơ lại giấc mơ đó nhiều lần nữa, luôn là những lúc cực kỳ mệt mỏi hoặc căng thẳng, hoặc đang xung đột, cảm thấy những bức vách của chính mình trở nên rất mỏng hoặc đang bị đe dọa. Nguyên tố này mang nhiều hình dạng khác nhau, thường là dưới dạng một ông/bà già lụ khụ (nhưng cũng có vẻ gì đó như lưỡng tính, hoặc thậm chí không giới tính) và hình thù này luôn rất sống động, mặc dù mang một chiếc chân gỗ, hoặc chống nạng, hoặc có bướu, hoặc dị dạng theo kiểu nào đó. Và sinh vật này lúc nào cũng mạnh mẽ, mang một sức sống nội tại mà tôi biết là bắt nguồn từ nỗi thù hận không mục đích, không định hướng và vô cơn cớ. Nó chế nhạo, ghê tởm, xúc phạm, ao ước giết người, ao ước cái chết. Vậy nhưng nó lại luôn tràn đầy niềm vui. Kể cho Mẹ Mật nghe về giấc mơ này, lặp lại phải đến lần thứ sáu hay thứ bảy gì đó, bà luôn hỏi như thường lệ: “Vậy cô gọi tên nó là gì?” và tôi trả lời như thường lệ với những từ như hận thù, độc ác, khoái thú trong đau đớn; và bà hỏi: “Chỉ toàn những đặc tính xấu, chẳng có gì tốt đẹp cả?” “Không có.” tôi đáp, cảm thấy ngạc nhiên. “Và không có chút sáng tạo nào cả?” “Với tôi thì không.”

Rồi bà mỉm cười theo kiểu mà tôi biết là ngụ ý bảo tôi nên suy nghĩ thêm về điều đó, vì vậy tôi hỏi: “Nếu hình thù này là một thế lực có tính nguyên tố và sáng tạo, ở bên thiện cũng như ở bên ác, vậy thì tại sao tôi lại sợ nó khủng khiếp đến thế?”

“Có lẽ là khi mơ sâu hơn, cô sẽ cảm nhận được sức sống cả tốt lẫn xấu.”

“Tôi thấy nó nguy hiểm đến mức ngay khi cảm nhận được không khí của hình thù đó, thậm chí là trước khi hình thù đó xuất hiện, và tôi biết là giấc mơ đang bắt đầu, tôi đã vùng vẫy và la hét muốn tỉnh dậy.”

“Nó nguy hiểm với cô chừng nào cô còn sợ nó…” Câu này đi cùng với cái gật đầu giản dị, dứt khoát, ân cần, và bất chấp mọi thứ, bất kể tôi đang đau khổ hay gặp rắc rối đến mức nào, cái gật đầu này luôn làm tôi muốn bật cười. Và tôi cười thật, cười luôn, như ma làm trong chiếc ghế của mình, trong khi bà ngồi mỉm cười, vì bà nói như người ta vẫn nói về động vật hoặc loài rắn: chúng sẽ không hại ta nếu ta không sợ chúng.

Và tôi nghĩ, như tôi vẫn thường nghĩ, rằng bà đang muốn vẹn cả đôi đường: vì nếu hình thù, hoặc nguyên tố này, quá quen thuộc với bà qua những giấc mơ hoặc những tưởng tượng ở bệnh nhân đến mức bà lập tức nhận ra nó ngay, vậy thì tại sao mình tôi lại phải chịu trách nhiệm cho việc nó hoàn toàn xấu xa? Có điều “xấu xa” có vẻ như là một từ quá đậm cảm tính con người so với một nguyên lý vốn phi nhân tính từ bản chất, bất kể nó lựa chọn khoác lấy hình dạng nào giống con người.

Hay nói cách khác, buộc điều này là tốt hay xấu là tùy thuộc vào tôi ư? Phải chăng bà đang định nói như vậy?

Đêm qua tôi lại mơ thấy giấc mơ đó một lần nữa, và lần này đáng sợ hơn bất cứ điều gì mà tôi từng trải qua, bởi vì tôi cảm nhận được sự kinh hoàng, cảm giác bất lực, khi đối mặt với thế lực hủy diệt không có gì ngăn cản đó, khi không có một vật gì hay điều gì hay thậm chí một người lùn để chứa đựng nó. Trong giấc mơ, tôi ở cùng một người khác mà tôi không nhận ra được ngay; và sau đó tôi hiểu rằng thế lực độc ác kinh khủng này đang trong người bạn đó. Và vì vậy tôi buộc bản thân phải thức dậy để thoát khỏi giấc mơ, la hét, và khi tỉnh dậy tôi tìm tên cho con người trong giấc mơ của mình, biết rằng đây là lần đầu tiên nguyên lý đó mang hình dáng con người. Và khi biết con người đó là ai, tôi càng thấy sợ hơn. Vì nếu thế lực đáng sợ kinh khủng đó chứa trong một hình hài gắn liền với huyền thoại hoặc ma thuật sẽ an toàn hơn là được thả rông, hoặc là như trong giấc mơ ấy, tự do bên trong một con người, và là một con người có khả năng tác động đến tôi.

Khi đã thực sự tỉnh giấc và nhìn lại giấc mơ từ tình trạng tỉnh táo, tôi thấy hoảng sợ bởi vì nếu nguyên tố đó bây giờ đang ngoài phạm vi huyền thoại và bên trong một con người khác, vậy thì điều đó chỉ có nghĩa là nó cũng đang chạy rông trong tôi, hoặc có thể gọi dậy chỉ cần chút kích thích nhỏ.

Bây giờ tôi phải viết lại những trải nghiệm liên quan đến giấc mơ này mới được.

[Đến đây, Anna kẻ một đường đen đậm ngang qua trang giấy. Sau đó cô viết:]

Tôi kẻ đường này bởi vì tôi không muốn viết ra. Cứ như là viết về điều đó sẽ hút tôi vào gần với nguy hiểm hơn. Nhưng tôi phải bám chặt lấy điều này - rằng Anna, cô Anna biết suy nghĩ, có thể nhìn vào những gì Anna cảm nhận được và “gọi tên” cho nó.

Những gì đang xảy ra là điều rất mới mẻ trong cuộc đời của tôi. Tôi nghĩ nhiều người có cảm giác về một hình hài, về sự diễn tiến, trong cuộc sống. Cảm giác này giúp họ có thể nói rằng: Vâng, con người mới này rất quan trọng đối với tôi: người này là sự khởi đầu của một điều mà tôi phải trải qua. Hoặc: Cảm xúc này, vốn từ trước đến nay tôi chưa thấy bao giờ, không phải là thứ xa lạ như tôi tưởng. Bây giờ nó sẽ là một phần của tôi và tôi phải đối mặt với nó.

Bây giờ thật dễ dàng nhìn lại cả cuộc đời mình và nói: Cô Anna đó, vào thời gian đó, là một người như thế như thế. Và rồi năm năm sau, cô là một người như thế như thế. Một năm, hai năm, năm năm làm một mẫu người nhất định có thể được gói ghém lại và cất đi, hoặc “gọi tên” - đúng vậy, trong suốt thời gian đó tôi là như thế. Và bây giờ tôi đang ở giữa một giai đoạn như vậy, rồi khi nó trôi qua tôi sẽ thản nhiên nhìn lại và nói: Vâng, tôi từng là thế đấy. Tôi là một người phụ nữ cực kỳ dễ bị tổn thương, ưa chỉ trích, sử dụng độ nữ tính như một dạng chuẩn mực hay tiêu chuẩn so sánh để đo lường và xua đuổi đàn ông. Vâng - đại loại như thế. Tôi là một cô Anna mời gọi sự bỏ cuộc từ đàn ông mà không hề ý thức được điều đó. (Nhưng tôi ý thức được điều đó. Và ý thức được nó, có nghĩa là tôi sẽ bỏ nó lại đằng sau và trở thành… nhưng thành cái gì?) Tôi bị kẹt trong một cảm xúc phổ biến đối với phụ nữ ở thời đại chúng ta, thứ cảm xúc có thể khiến họ trở nên cay đắng, đồng tính, hoặc đơn độc. Vâng, cô Anna đó, trong suốt thời gian đó…

[Lại một đường kẻ màu đen nữa ngang qua trang giấy:]

Khoảng ba tuần trước, tôi đến dự một cuộc họp chính trị. Cuộc này không chính thức, tổ chức tại nhà Molly. Đồng chí Harry, một trong những học giả hàng đầu trong Đảng, gần đây có đến Nga, với tư cách là một người Do Thái, để tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra với người Do Thái trong “những năm đen tối” trước khi Stalin chết. Anh đấu tranh với giới chóp bu trong Đảng để được đi; còn bọn họ thì tìm cách ngăn cản anh. Anh dọa rằng nếu bọn họ không để cho anh đi, không chịu giúp đỡ anh, anh sẽ làm toáng chuyện đó. Anh ra đi; quay trở lại với những thông tin kinh khủng; bọn họ không muốn bất cứ thông tin nào bị công bố cả. Quan điểm của anh là quan điểm thông thường từ những “trí thức” trong thời này: chỉ cần một lần thôi, Đảng Cộng sản phải thừa nhận và giải thích những gì mọi người biết là có thật. Quan điểm của bọn họ, quan điểm cũ rích của giới quan liêu cộng sản - đoàn kết với Liên Xô bằng mọi giá, có nghĩa là thừa nhận càng ít càng tốt. Bọn họ đồng ý xuất bản một báo cáo hạn chế, loại bỏ những điều ghê rợn đáng sợ nhất. Anh vẫn đang tiến hành một loạt cuộc họp dành cho các đảng viên và cựu đảng viên, ở đó anh nói về những điều anh đã khám phá được. Bây giờ thì giới chóp bu đã trở nên giận dữ và đe dọa sẽ khai trừ anh, đe dọa sẽ khai trừ những đảng viên đến dự cuộc họp của anh. Anh sẽ từ chức.

Trong phòng khách nhà Molly có hơn bốn mươi người. Toàn là “trí thức” cả. Những gì Harry kể cho chúng tôi nghe thật là tồi tệ, nhưng chẳng tệ hơn nhiều lắm so với những gì chúng tôi biết được qua báo chí. Tôi để ý thấy người đàn ông ngồi cạnh tôi yên lặng lắng nghe. Thái độ yên lặng của anh trong một cuộc họp đầy cảm xúc đã khiến tôi cảm thấy ấn tượng. Có lúc, chúng tôi mỉm cười với nhau bằng vẻ mỉa mai đau thương lúc này đang là đặc trưng của những người như chúng tôi. Cuộc họp chính thức kết thúc, còn khoảng mươi người ở lại. Tôi nhận ra không khí của “cuộc họp kín” - có nhiều điều khác sắp được trình bày, những người không phải đảng viên đều phải về. Nhưng sau một lúc lưỡng lự, Harry và những người khác bảo chúng tôi có thể ở lại. Sau đó, Harry lại nói tiếp. Những điều chúng tôi được nghe lúc nãy thật kinh khủng; những điều chúng tôi được nghe bây giờ thậm chí còn tồi tệ hơn cả những điều mà báo chí chống cộng độc địa nhất đang đăng tải. Bọn họ không thể tiếp cận để biết về những sự việc thực tế như Harry. Anh kể về những vụ tra tấn, đánh đập, những hình thức giết người dã man nhất. Về người Do Thái bị nhốt trong những chiếc lồng tra tấn thời Trung cổ, bị tra tấn bằng những dụng cụ lấy thẳng từ viện bảo tàng. Vân vân và vân vân.

Nỗi kinh hoàng trong những điều anh đang kể lúc này ở một cấp độ hoàn toàn khác so với những điều anh kể trước đó, trong cuộc họp bốn mươi người. Khi anh kết thúc, chúng tôi đặt câu hỏi; mỗi câu trả lời lại mang đến một điều mới mẻ và kinh khủng. Những gì chúng tôi đang thấy là thứ mà chúng tôi biết rất rõ qua trải nghiệm của bản thân: một người cộng sản, kiên quyết phải trung thực, vẫn đang chiến đấu từng tấc một, ngay cả tại thời điểm này, để không phải thừa nhận sự thật về Liên Xô. Khi anh nói xong, người đàn ông yên lặng (là một người Mỹ mang tên Nelson) lúc nãy đứng dậy và say mê hùng biện. Lời anh thốt ra một cách dễ dàng bởi vì anh nói rất hay, và rõ ràng là nhờ rất nhiều trải nghiệm chính trị. Giọng khỏe, và bài bản. Nhưng bây giờ anh đang kết tội. Anh nói rằng lý do khiến các đảng cộng sản ở phương Tây đã sụp đổ, hoặc sẽ sụp đổ, là vì họ không có khả năng nói lên sự thật về bất cứ điều gì, và bởi vì thói quen dối trá với cả thế giới từ bao lâu nay nên họ không còn nhìn ra được sự thật nữa, ngay cả với chính bản thân họ. Anh nói, nhưng đêm nay, sau Đại hội Hai mươi và tất cả những gì chúng ta biết được về tình trạng của chủ nghĩa cộng sản, chúng ta nhìn thấy một đồng chí lãnh đạo, người mà tất cả chúng ta đều biết là đã chiến đấu đòi sự thật ở bên trong Đảng chống lại những kẻ yếm thế hơn anh, đã cố tình chia đôi sự thật - một sự thật êm đềm hơn dành cho cuộc họp công khai có bốn mươi người, và một sự thật khác, khắc nghiệt hơn, dành cho một nhóm nhỏ. Harry bối rối và khó chịu. Lúc đó, chúng tôi không biết về những lời đe dọa mà đội ngũ chóp bu sử dụng nhằm bịt miệng anh. Tuy nhiên, anh nói rằng sự thật này quá kinh khủng nên càng ít người biết càng tốt - nói một cách ngắn gọn, sử dụng những luận điểm tương tự như bọn quan chức mà anh đã đấu tranh chống lại.

Và bây giờ, bỗng nhiên Nelson lại đứng dậy và lên án bằng giọng còn mãnh liệt hơn, tự phê phán hơn. Thật là kích động. Và mọi người đều trở nên kích động - tôi có thể cảm thấy sự kích động dâng trào trong tôi. Tôi nhận ra một không khí mà tôi đã từng nhận ra trong “giấc mơ về sự hủy diệt”. Đấy là cảm giác hoặc không khí khi chuẩn bị xuất hiện hình thù hủy diệt. Tôi đứng dậy và cảm ơn Harry - dù sao đi nữa thì cũng đã hai năm trôi qua kể từ khi tôi thôi làm đảng viên, không có quyền tham dự họp kín. Tôi đi xuốn gác – Molly đang khóc trong nhà bếp. Cô nói: “Với cậu thì dễ rồi, cậu có phải là người Do Thái đâu.”

Trên đường, tôi thấy Nelson đã đi xuống sau tôi. Anh nói rằng anh sẽ đưa tôi về nhà. Anh lại trở nên yên lặng; và tôi quên bẵng đi cái giọng tự phê phán mình trong bài phát biểu của anh. Anh khoảng bốn mươi tuổi, người Mỹ gốc Do Thái, trông dễ chịu, có đôi chút gia trưởng. Tôi biết là mình thấy anh hấp dẫn và..

[Lại một dòng kẻ đậm màu đen nữa. Sau đó:]

Lý do tôi không muốn viết ra điều này bởi vì tôi phải cố lắm mới viết được về tình dục. Sự cấm đoán này mới mạnh mẽ kinh khủng làm sao.

Tôi đang biến điều này trở nên quá phức tạp - viết quá nhiều về cuộc họp nói trên. Nhưng Nelson và tôi chắc sẽ khó dễ dàng đồng cảm với nhau nếu không chia sẻ toàn bộ những trải nghiệm đó, mặc dù ở những quốc gia khác nhau. Trong đêm đầu tiên đó, anh ở lại muộn. Anh đang tán tôi. Anh nói về tôi, về kiểu sống của tôi. Và phụ nữ luôn đáp ứng ngay lập tức người đàn ông nào hiểu rằng chúng ta đang ở một loại biên giới nào đó. Tôi nghĩ tôi có thể nói rằng họ “gọi tên” chúng ta. Chúng ta cảm thấy an toàn với họ. Anh lên gác để thăm Janet, lúc này đang ngủ. Sự quan tâm anh dành cho con bé thật chân thành. Anh có ba đứa con. Lập gia đình được mười bảy năm. Cuộc hôn nhân của anh là hệ quả trực tiếp từ việc anh phải chiến đấu ở Tây Ban Nha. Không khí buổi tối hôm đó thật nghiêm túc, trách nhiệm, người lớn. Sau khi anh ra về, tôi đã sử dụng từ đó - người lớn. Và tôi so anh với những người đàn ông mà tôi gặp gần đây (tại sao?), lũ đàn ông-trẻ con. Tôi cảm thấy mình cao hứng đến mức phải tự cảnh cáo mình. Lại một lần nữa tôi ngạc nhiên nhận thấy khi sống trong cảnh thiếu thốn, người ta mới dễ dàng quên đi tình yêu, niềm vui, khoái cảm làm sao. Gần hai năm nay, những cuộc gặp gỡ đầy thất vọng, những lần cụt hứng nối tiếp nhau. Tôi thu gọn chiếc váy cảm xúc của mình, những phản ứng trở nên cảnh giác. Giờ đây, sau một buổi tối với Nelson, tôi đã quên toàn bộ những điều đó. Ngày hôm sau anh đến gặp tôi. Janet đang chuẩn bị ra ngoài để chơi với bạn bè. Nelson và con bé lập tức thân thiện với nhau. Anh nói những chuyện còn hơn cả một người tình tiềm năng. Anh bảo anh sắp bỏ vợ và cần một mối quan hệ thực sự với phụ nữ. Tối hôm đó anh sẽ đến “sau khi Janet đã ngủ”. Tôi yêu anh vì ý nghĩa của câu “sau khi Janet đã ngủ” và sự thấu hiểu cách sống của tôi. Tối hôm đó khi anh đến thì đã rất khuya và trong trạng thái hoàn toàn khác - mồm tía lia, như có ai đó bắt phải nói, mắt đảo tứ phía nhưng không hề nhìn vào mắt tôi. Tôi cảm thấy lòng mình trĩu xuống; nhờ cảm giác bỗng nhiên lo lắng và e sợ của chính mình mà tôi hiểu, trước khi trí óc tôi hiểu, rằng đây sẽ lại là một lần thất vọng nữa. Anh nói về Tây Ban Nha, về cuộc chiến ở đó. Anh kết tội bản thân mình, giống như lúc ở cuộc họp, đấm ngực, kích động, vì đã tham gia vào những vụ phản bội của Đảng Cộng sản. Anh nói rằng vì anh mà nhiều người vô tội đã bị bắn, mặc dù lúc đó anh không tin bọn họ vô tội. (Nhưng khi anh nói ra điều này, một cảm giác không ngừng chạy xuyên qua tôi: anh ta không thực sự hối hận, không thực sự; cơn kích động và sự ầm ĩ của anh ta là một hình thức tự vệ trước cảm giác, bởi vì nó quá kinh khủng, nỗi hối hận mà anh ta sẽ phải cảm thấy.) Có nhiều lúc anh ta cũng thật buồn cười với sự hài hước tự trừng phạt kiểu Mỹ. Đến nửa đêm thì anh ta ra về, hoặc nói đúng hơn là lẻn về, vẫn nói rất to, trông có lỗi. Anh ta mời chính mình về, có thể nói như vậy. Tôi bắt đầu nghĩ về vợ anh ta. Nhưng tôi vẫn không thừa nhận những gì bản năng mách bảo rất rõ ràng là sai. Sáng hôm sau, không báo trước, anh ta quay lại. Tôi không nhận ra con người kích động, ồn ào ở anh ta nữa - anh ta tỉnh táo, có trách nhiệm và hài hước. Anh ta đưa tôi lên giường và lúc đó tôi đã nhận ra không ổn ở chỗ nào. Tôi hỏi anh ta xem có phải lúc nào cũng như thế này không. Anh ta lúng túng (và điều này mách tôi về các mối quan hệ trai gái của anh ta rõ hơn bất cứ điều gì khác) khi thấy tôi nói thẳng ra như vậy trong khi anh ta tìm cách giả vờ không hiểu ý tôi. Sau đó anh ta bảo rằng anh ta sợ tình dục chết khiếp, không bao giờ ở trong đàn bà được quá vài giây, và lần nào cũng như lần nào. Và từ sự hấp tấp căng thẳng ghê tởm theo bản năng khi anh ta rút ra khỏi tôi, sự hấp tấp khi anh ta mặc đồ, tôi nhìn thấy nỗi sợ của anh ta mới sâu thẳm làm sao. Anh ta bảo rằng anh ta đã bắt đầu đi phân tích tâm lý, mong là sẽ được “chữa” sớm. (Tôi không kìm nổi cơn buồn cười khi nghe từ “chữa”, vốn được mọi người nói đến khi đi phân tích tâm lý, hình dung đấy là khám bệnh, cứ như là cuối cùng người ta cũng liều mạng xin thực hiện một cuộc phẫu thuật biến đổi người đó thành một thứ hoàn toàn khác vậy.) Sau đó, mối quan hệ của chúng tôi thay đổi - bạn bè, tin tưởng. Nhờ sự tin tưởng đó mà chúng tôi sẽ tiếp tục gặp nhau.

Chúng tôi có gặp nhau. Nhiều tháng trước. Điều khiến tôi thấy sợ lúc này là tại sao tôi lại tiếp tục mối quan hệ đó? Không phải là tự đề cao bản thân: tôi có thể chữa cho người này. Không hề. Tôi không dốt đến thế, tôi đã biết quá nhiều trường hợp liệt dương. Cũng không hẳn là lòng trắc ẩn. Mặc dù có phần như vậy. Tôi luôn ngạc nhiên trước sự mạnh mẽ của nhu cầu giúp vực dậy đàn ông ở chính mình cũng như ở những người phụ nữ khác. Thật mỉa mai khi chúng tôi sống trong thời đại mà đàn ông chỉ trích chúng tôi là “đồ thiến người” - tất cả những từ ngữ đại loại như thế. (Nelson nói vợ anh ta là “đồ thiến người” - điều này khiến tôi nổi giận khi nghĩ về nỗi khổ sở mà chắc hẳn chị ấy đã phải chịu.) Vì sự thật là phụ nữ có nhu cầu bản năng sâu thẳm là giúp đàn ông được thực sự làm đàn ông. Ví dụ như Molly. Tôi nghĩ điều này là do đàn ông đích thực đang càng ngày càng ít đi, vì vậy chúng tôi thấy sợ hãi và cố gắng tạo ra đàn ông.

Không, điều làm tôi thấy sợ chính là sự sẵn sàng của mình. Đấy là thứ mà Mẹ Mật gọi là “mặt trái” của thứ nhu cầu được phục tùng, được xoa dịu người khác của phụ nữ. Lúc này tôi không phải là Anna, tôi không có ý chí, tôi không thể thoát ra khi tình huống đã bắt đầu, tôi cứ thế làm theo nó.

Trong vòng một tuần kể từ khi lên giường với Nelson lần đầu tiên, tôi rơi vào tình huống mình không có khả năng kiểm soát. Nelson, người đàn ông thầm lặng và trách nhiệm đã biến mất. Thậm chí tôi còn không nhớ nổi anh ta nữa. Ngay cả những từ ngữ, thứ ngôn ngữ mang trách nhiệm cảm xúc cũng đã biến mất. Anh ta đã trở thành tù nhân của cơn cuồng loạn the thé, ép buộc mà tôi cũng bị dính vào. Chúng tôi lên giường lần thứ hai: cùng với một bài tự lên án lắm lời, hài hước cay đắng nhưng ngay lập tức biến thành tràng xỉ vả tất cả phụ nữ một cách cuồng loạn. Sau đó anh ta biến mất khỏi đời tôi trong suốt gần hai tuần. Tôi trở nên căng thẳng hơn, trầm cảm hơn bao giờ hết. Tôi cũng không có ham muốn. Tôi không quan hệ tình dục với ai - không gì cả. Cách một quãng xa, tôi nhìn thấy Anna, thuộc về một thế giới bình thường và ấm áp. Tôi có thể nhìn thấy cô nhưng không thể nhớ nổi cảm giác đang sống là như thế nào nữa, như cô. Anh ta gọi cho tôi hai lần, đưa ra lý do lý trấu, những lý do có thể nhìn thấu, một điều tôi thấy rất sỉ nhục, bởi vì những lời đấy không cần thiết - chúng là những lý do dành cho “một người đàn bà”, cho “những người đàn bà”, cho “kẻ thù”, chứ không phải dành cho Anna; trong những lúc làm người tốt anh ta không thiếu nhạy cảm đến thế. Trong tâm trí, tôi đã gạch tên anh ta khỏi danh sách người tình, nhưng dự định sẽ giữ anh ta lại làm bạn. Giữa chúng tôi có một điểm giống nhau, là mối quan hệ từ một kiểu tự biết mình, một kiểu tuyệt vọng. Và thế rồi một buổi tối anh ta đến không báo trước, trong nhân cách kia, nhân cách “tốt”. Và lắng nghe anh ta nói, tôi không tài nào nhớ nổi anh ta như thế nào lúc bị kích động và dồn ép nữa. Tôi ngồi đó và nhìn anh ta, giống hệt như đã nhìn cô Anna tỉnh trí và hạnh phúc - anh ta ở ngoài tầm với, cô ở ngoài tầm với, di chuyển bên kia một bức tường bằng kính. Ồ, vâng, tôi hiểu đằng sau bức tường kính đó có những loại người Mỹ nhất định sinh sống, tôi hiểu quá rõ - đừng chạm vào tôi, vì Chúa đừng chạm vào tôi, đừng chạm vào tôi bởi vì tôi sợ cảm giác.

Tối hôm đó anh ta mời tôi đến dự dạ tiệc ở nhà anh ta. Tôi bảo rằng tôi sẽ đi. Sau khi anh ta ra về, tôi biết là mình không nên đi bởi vì tôi cảm thấy không yên. Nhưng nhìn qua thì tại sao lại không cơ chứ? Anh ta sẽ không bao giờ là người tình của tôi cả, vậy thì chúng tôi là bạn bè, cớ sao lại không đến và gặp gỡ bạn bè anh ta, gặp vợ anh ta?

Ngay khi bước vào căn hộ của họ, tôi nhận thấy mình sử dụng trí tưởng tượng mới ít làm sao, mình lựa chọn làm người mới ngu ngốc làm sao. Đôi khi tôi không thích phụ nữ, tôi không thích toàn bộ giới mình, chính bởi vì khả năng không-nghĩ-ngợi khi làm thế tiện cho chúng tôi, chúng tôi chọn cách không-nghĩ-ngợi khi tìm cách vươn tới hạnh phúc. Đấy, khi vào căn hộ đó, tôi biết là mình đã chọn cách không-nghĩ-ngợi, vì vậy tôi thấy xấu hổ và nhục nhã.

Một căn hộ đi thuê rộng lớn, đầy những đồ đạc vô danh, thiếu thẩm mỹ. Và tôi biết rằng kể cả khi chuyển vào một ngôi nhà và chất đầy trong đó những món đồ mà tự mình lựa chọn, họ vẫn sẽ vô danh - đấy là tính chất của họ, sự vô danh. Sự an toàn trong cõi vô danh. Vâng, và tôi hiểu điều đó quá, quá rõ. Họ nhắc đến tiền thuê căn hộ này và tôi không thể tin nổi. Ba mươi bảng một tuần, cả một gia tài, thật là điên rồ. Có khoảng mười hai người, tất cả đều là người Mỹ liên quan đến truyền hình hoặc điện ảnh - giới “showbiz”; và tất nhiên là họ cười đùa về điều đó. “Chúng tôi làm showbiz, vậy thì tại sao lại không chứ? Điều đó chẳng có gì sai cả, đúng không nào?” Bọn họ biết nhau hết, “biết nhau” trên cơ sở cùng là giới showbiz, trên những mối liên hệ tùy hứng qua công việc, nhưng họ thân thiện với nhau, một sự thân thiện hấp dẫn, khoan hòa, bỗ bã. Tôi thích thế, điều này khiến tôi nhớ đến sự thân thiện bỗ bã, thân mật của những người da trắng ở châu Phi. “Chào nhé. Chào nhé! Cậu khỏe không? Cứ tự nhiên như ở nhà, mặc dù tớ mới gặp cậu có một lần.” Nhưng tôi thích thế. Theo tiêu chuẩn ở Anh thì họ đều là người giàu. Ở Anh, những người giàu như họ không trò chuyện về tiền. Một không khí lúc nào cũng sặc mùi tiền bạc, thứ tiền bạc lo âu, quanh những người Mỹ này. Nhưng với từng ấy tiền bạc, đồ đạc nào cũng thật đắt tiền (có vẻ như họ cho đó là đương nhiên), một bầu không khí trung lưu rất khó định nghĩa. Tôi ngồi đó, cố gắng định nghĩa nó. Đấy là một kiểu bình dân cố ý, một sự thu nhỏ con người cá nhân; cứ như thể tất cả bọn họ đều mang sẵn trong mình một nhu cầu được thu mình cho vừa với điều người khác mong đợi. Nhưng người ta lại thích họ quá thể, họ tốt quá đi mất, người ta ngắm họ đầy thương hại bởi vì họ lựa chọn thu nhỏ bản thân, để đặt ra những giới hạn. Là những giới hạn gắn với tiền. (Nhưng tại sao? - một nửa trong số họ là cánh tả, đã từng có tên trong sổ đen, đến Anh bởi vì họ không thể kiếm tiền nổi ở Mỹ. Ấy vậy mà tiền, tiền, lúc nào cũng tiền.) Vâng, tôi có thể cảm nhận được cảm giác lo lắng gắn với tiền ấy hiện diện trong không khí, giống như một câu hỏi. Nhưng tiền thuê căn hộ rộng lớn xấu xí của Nelson đủ cho một gia đình trung lưu của Anh sống thoải mái.

Tôi thầm mê mải theo dõi cô vợ của Nelson - một nửa là vì sự tò mò thông thường - con người mới mẻ này là người thế nào? Nhưng nửa còn lại thì khiến tôi cảm thấy xấu hổ - cô ấy thiếu điều gì mà tôi lại có? Chẳng gì cả - tôi có thể thấy như vậy.

Trông cô hấp dẫn. Một người phụ nữ Do Thái cao, rất gầy, gần như là da bọc xương; rất hấp dẫn với những đường nét đậm đà ấn tượng, mọi thứ đều sắc nét, cái miệng rộng linh lợi, cái mũi lớn cong cong khá đẹp, đôi mắt to đen ấn tượng nổi bật. Và quần áo táo bạo sặc sỡ. Giọng nói to the thé (khiến tôi ghét, tôi ghét người nói to), và giọng cười cố ý. Một phong cách và vẻ tự tin tuyệt vời, tất nhiên là tôi ghen tị, tôi vẫn luôn như vậy. Và rồi nhìn cô, tôi biết sự tự tin đó chỉ là bề ngoài. Vì cô không bao giờ rời mắt khỏi Nelson cả. Không bao giờ, dù chỉ một giây. (Trong khi anh ta lại không nhìn cô, anh ta sợ phải nhìn.) Tôi bắt đầu nhận ra phẩm chất đó ở phụ nữ Mỹ - sự tự tin, sự quả quyết bề ngoài. Và đằng sau là cảm giác lo lắng. Dáng vẻ đôi vai họ nói lên lo lắng, sợ hãi. Họ sợ. Trông họ cứ như là đang ở một mình tại nơi nào đó trong không gian nhưng lại giả vờ như mình không hề đơn độc. Họ mang dáng vẻ của những người đơn độc, những người bị cô lập. Nhưng giả vờ như không hề đơn độc. Họ làm tôi sợ.

Thế đấy, từ lúc Nelson vào, cô không bao giờ rời mắt khỏi anh ta. Anh ta bước vào với một câu lém lỉnh, cái kiểu hài hước tự trừng phạt, tự định nghĩa khiến tôi phát sợ, bởi vì điều đó chấp nhận quá nhiều thứ: “Ông chủ đến muộn hai tiếng, là tại làm sao? - bởi vì anh ta còn phải uống đẫy, để đối mặt với buổi tối vui vẻ và hòa đồng phía trước.” (Và toàn bộ bạn bè của anh ta phá lên cười - mặc dù họ chính là buổi tối vui vẻ và hòa đồng đó.) Và cũng với phong cách đó, cô trả lời, vui vẻ, căng thẳng và trách móc: “Nhưng bà chủ đã biết trước anh ấy sẽ muộn mất hai tiếng do buổi tối vui vẻ và hòa đồng đó, vì thế bữa tối đã được bố trí để dọn ra lúc mười giờ, xin hãy đừng lo lắng phút giây nào vì chuyện đó nữa!” Và vậy là tất cả bọn họ đều cười, còn đôi mắt cô, bề ngoài thật đen và táo tợn, đầy vẻ tự tin, lại dán chặt lấy anh, lo lắng và sợ hãi. “Scotch chứ? Nelson?” cô hỏi, sau khi rót cho những người khác; giọng cô bỗng trở nên the thé nài nỉ. “Đúp,” anh ta đáp; hùng hổ và thách thức; và họ nhìn nhau trong giây lát, giây lát ấy đột nhiên phơi bày; rồi giọng những người khác trêu đùa và cười lớn át đi. Đấy là một điều nữa mà tôi bắt đầu hiểu ra - họ che giấu cho nhau, lúc nào cũng vậy. Điều này mang lại cho tôi cảm giác cực kỳ phấp phỏng khi quan sát sự thân thiện dễ dãi, biết rằng họ đang để ý đề phòng những giây phút nguy hiểm như thế này, để kịp che đậy. Tôi là người Anh duy nhất có mặt ở đây; và họ rất độ lượng với điều đó, vì họ là những con người dễ thương mang bản năng độ lượng: họ có rất nhiều câu nói đùa giễu chính mình về thái độ điển hình của người Mỹ đối với người Anh; họ rất buồn cười nên tôi cười thật nhiều, sau đó cảm thấy mình thật dở bởi vì tôi không biết làm thế nào để giễu mình, một cách dễ dàng, đáp lễ họ cả. Chúng tôi uống rất nhiều, đây là buổi tụ tập mà ngay từ lúc đặt chân vào mọi người đã xác định phải uống vào người thật nhiều càng sớm càng tốt. Chà, tôi chưa quen nên say hơn tất cả mọi người, và say rất nhanh, mặc dù họ uống nhiều hơn hẳn tôi. Tôi để ý đến một người phụ nữ tóc vàng nhỏ bé mặc bộ xường xám xanh lá cây thêu kim tuyến bó sát. Cô thật là xinh đẹp, thanh tú một vẻ gọn gàng, nhỏ bé. Cô từng là, hoặc đang là, vợ thứ tư của một ông to béo, đen đúa và xấu xí, một ông trùm điện ảnh về phương diện nào đó. Cô đã uống hết bốn ly đúp trong vòng một giờ nhưng vẫn tỉnh táo, tự chủ và quyến rũ, nhìn chồng mình uống với vẻ lo lắng, nựng ông ta để đừng uống say quá. “Cưng ơi, không thực sự cần phải uống ly mới đấy đâu,” thủ thỉ với ông ta, giọng cưng nựng. Và ông ta: “Ồ, có chứ, cưng của em cần ly đó và anh ta sẽ uống.” Và cô vuốt ve, vỗ về ông ta: “Cục cưng bé nhỏ của em sẽ không uống đâu, không uống đâu, bởi vì mẹ bảo vậy đấy.” Và lạy Chúa lòng lành, ông ta không uống thật. Cô mơn trớn và nựng ông ta, và tôi nghĩ điều này thật sỉ nhục cho đến khi hiểu ra đây chính là nền tảng của cuộc hôn nhân này - bộ xường xám xinh đẹp màu xanh lá cây và đôi hoa tai xinh đẹp dài thượt, đổi lấy chăm sóc ông ta, cưng nựng ông ta. Tôi thấy hổ thẹn. Không một ai khác thấy hổ thẹn. Ngồi đó quan sát họ, say ngất ngư, ở ngoài cuộc bởi vì tôi không thể nói được câu nào dí dỏm, tôi nhận thấy rằng cảm giác của tôi trên hết là hổ thẹn, và tôi sợ rằng lần sau nếu có một tình thế nguy hiểm nào đó chắc họ sẽ không kịp thời che đậy mà sẽ có một vụ bùng nổ thật kinh khủng. Và đúng là khoảng nửa đêm đã bùng nổ, nhưng tôi hiểu rằng không có gì phải sợ cả, bởi vì tất cả bọn họ đều đã vượt trước tôi rất xa, ở một trình độ trải đời nào đó vượt xa bất cứ điều gì tôi từng quen; và chính sự hài hước tự nhận thức, tự giễu nhại mình là lớp vỏ bọc giúp họ tránh được mọi tổn thương thực tế. Có nghĩa là bảo vệ họ cho đến thời điểm bạo lực bùng nổ thành một cuộc ly dị nữa, hoặc là đổ vỡ vì say rượu.

Tôi vẫn tiếp tục quan sát vợ Nelson, thật táo bạo, hấp dẫn và giàu sức sống, đôi mắt cô dán chặt vào Nelson suốt từng giây phút của buổi tối hôm đó. Đôi mắt cô có luôn có vẻ mở to, trống rỗng và hỗn loạn. Tôi biết cái vẻ đó nhưng không thể nhớ nổi, nhưng rồi cuối cùng cũng nhớ ra: Đôi mắt của bà Boothby cũng giống như thế khi bà bắt đầu rạn nứt, vào cuối câu chuyện; đôi mắt điên cuồng và hỗn loạn nhưng lại mở to, nỗ lực không thể hiện ra trạng thái của bản thân. Và tôi đã thấy vợ của Nelson đang bị nhốt trong một cơn cuồng loạn vĩnh cửu có kiểm soát nào đó. Rồi tôi hiểu rằng tất cả bọn họ đều vậy, bọn họ đều là những con người đang ở cực hạn, kiểm soát nó, bấu víu lấy nó, trong khi cơn cuồng loạn lập lòe trong những câu chuyện gai góc vui vẻ, trong những đôi mắt linh lợi, cảnh giác.

Nhưng bọn họ đều đã quen với nó, họ đã sống trong nó suốt bao nhiêu năm nay, họ không lạ gì nó, chỉ có tôi lạ mà thôi. Vậy nhưng, ngồi đó trong góc nhà, không uống thêm giọt nào bởi vì tôi đã say quá sớm, và đang trong tình trạng quá mẫn cảm, quá nhạy cảm vì phải uống quá nhiều quá nhanh nên phải chờ cho lắng bớt - tôi hiểu rằng điều này không quá mới mẻ với mình như tôi vẫn tưởng, điều này chẳng có gì lạ so với những gì tôi đã từng chứng kiến trong cả trăm cuộc hôn nhân ở Anh, cả trăm gia đình ở Anh; vẫn là điều đó nhưng đã đi xa hơn một bậc, ngấm vào nhận thức và tự ý thức. Tôi hiểu rằng tất cả bọn họ trên hết đều là những người tự ý thức, lúc nào cũng để ý đến chính mình; và sự hài hước của họ xuất phát chính từ nhận thức đó, luôn đi kèm với kinh tởm bản thân. Sự hài hước này không phải là trò đùa bằng lời vô hại và trí tuệ hóa mà người Anh quen dùng, mà là một dạng tẩy trùng, một dạng vô hại hóa, một trò “gọi tên” để giúp bản thân tránh khỏi đau đớn. Nó giống như người nông dân chạm tay vào lá bùa hộ mạng để tránh khỏi bị ma quỷ dòm ngó.

Đến lúc trời tương đối khuya, như đã nói ở trên là vào khoảng nửa đêm, thì tôi nghe thấy giọng vợ Nelson, nghe the thé ầm ĩ: “Được rồi, được rồi, tôi biết tiếp đến sẽ là gì. Anh sẽ chẳng viết cái kịch bản đó đâu. Vậy thì tại sao lại mất thời gian với Nelson hả Bill?” (Bill là ông chồng to lớn hiếu chiến của cô vợ tóc vàng bé tí xíu biết khéo léo chiều chuộng.) Cô nói tiếp với Bill, ông ta đang quyết tâm giữ bề ngoài vui vẻ: “Anh ấy sẽ khoe lên khoe xuống suốt nhiều tháng trời, nhưng đến cuối cùng thì anh ấy sẽ lắc đầu với anh thôi, và lãng phí thời gian vào một kiệt tác không bao giờ lên nổi sân khấu khác…” Rồi cô phá lên cười, tiếng cười đầy vẻ hối lỗi, nhưng hoang dại và cuồng loạn. Và Nelson chiếm lấy sân khấu, có thể nói như vậy, trước khi Bill kịp đỡ cho anh ta, mặc dù ông ta đã sẵn sàng làm thế: “Thế đấy, đúng là vợ tôi đấy, chồng cô ấy phí thời gian viết ra những kiệt tác - này, tôi đã có một vở diễn trên Broadway, chẳng phải sao?” Anh ta rít lên câu cuối với cô, rít lên như một mụ đàn bà, gương mặt tím lại vì thù ghét cô, cùng với một nỗi sợ trần trụi, kinh hoàng. Và tất cả bọn họ bắt đầu cười phá lên, cả căn phòng bắt đầu cười phá lên và đùa cợt, để che đậy đi giây phút nguy hiểm đó, và Bill lên tiếng: “Làm thế nào mà cô biết được là tôi sẽ không lắc đầu với Nelson, có thể lắm chứ, có thể đã đến lượt tôi là người viết nên kiệt tác, tôi có thể cảm thấy nó đang dần xuất hiện đây này.” (Nhìn sang cô vợ tóc vàng xinh đẹp như muốn nói: Đừng lo cưng ơi, cưng biết là anh chỉ đang che đậy lại thôi mà, phải không nào?) Nhưng họ che đậy vô ích, sự tự vệ của cả nhóm không đủ mạnh để lấp đi khoảnh khắc bạo lực. Nelson và vợ đơn độc, quên đi tất cả chúng tôi, đứng ở phía bên kia căn phòng, khóa cứng trong nỗi hận thù dành cho nhau, và một lời cầu xin khẩn thiết đến tuyệt vọng dành cho nhau, họ không còn biết gì về chúng tôi nữa, nhưng bất chấp tất cả, họ đang dùng đến sự hài hước tự trừng phạt, cuồng loạn, chết người. Những lời dí dỏm và lém lỉnh:

NELSON: Ờ, Nghe thấy không cưng? Bill sắp sửa viết vở Cái chết của người chào hàng cho thời đại chúng ta đấy, anh ấy sẽ viết được trước anh, và khi đó thì là lỗi của ai - vợ yêu dấu của anh chứ còn ai vào đây nữa?

CÔ (the thé, vừa nói vừa cười, đôi mắt cô, điên dại vì lo lắng, chuyển động không kiểm soát trên gương mặt cô, giống như hai con sên trần nhỏ bé màu đen oằn oại dưới lưỡi dao): Ồ, là lỗi của em, tất nhiên rồi, còn của ai được nữa chứ? Nhiệm vụ của em là vậy mà, phải không?

NELSON: Đúng vậy, tất nhiên là nhiệm vụ của em rồi. Em che đậy cho anh, anh biết. Và anh yêu em vì thế. Nhưng có phải là anh đã đưa được vở kịch đó lên sân khấu Broadway hay không? Cùng với tất cả những bài phê bình tốt đẹp? Hay anh chỉ tưởng tượng ra mà thôi?

CÔ: Mười hai năm rồi. Ồ, hồi đó anh là một công dân Mỹ đàng hoàng, chẳng có danh sách đen nào thấp thoáng trong tương lai. Vậy mà xem anh đã làm gì từ bấy đến giờ?

ANH: Thôi được, ừ thì bọn họ đã đánh bại anh. Em tưởng là anh không biết à? Em có cần phải nói đi nói lại thế không? Để anh nói cho em nghe, bọn họ không cần đến đội hành quyết và nhà tù thì mới đánh bại được người ta. Dễ hơn thế nhiều… ờ, về phần anh thì. Ừ, về phần anh thì…

CÔ: Anh bị đưa vào danh sách đen, anh là người hùng, đấy là cái cớ để bỏ bê suốt phần còn lại của cuộc đời anh…

ANH: Không, con bồ câu bé nhỏ ạ; không đâu cưng ạ, em mới là cái cớ cho phần còn lại của cuộc đời anh - sáng nào cũng đánh thức anh dậy vào lúc bốn giờ sáng, la hét và lèm bèm rằng rốt cuộc thì em và các con của em sẽ phải về khu Bowery mà sống nếu như anh không viết thêm thứ khốn nạn nào nữa cho Bill, anh bạn tốt của chúng ta?

CÔ (cười lớn, gương mặt méo mó vì cười): Được rồi, vậy là em thức dậy vào lúc bốn giờ sáng hằng ngày. Được rồi, vậy là em sợ. Muốn em chuyến đến căn phòng dành cho khách không?

ANH: Có, anh muốn em chuyển đến căn phòng dành cho khách đấy. Anh có thể sử dụng ba tiếng hằng sáng đó để làm việc. Nếu như anh còn nhớ được phải làm việc như thế nào. (Bỗng nhiên bật cười.) Ngoại trừ rằng có khi rốt cuộc anh lại ở trong căn phòng dành cho khách với em và nói rằng anh sợ có thể sẽ kết thúc đời mình ở khu Bowery. Kế hoạch như vậy ổn chứ? Em và anh bên nhau ở khu Bowery, bên nhau cho đến khi cái chết chia lìa đôi ta, yêu đến tận lúc chết.

CÔ: Anh dựng được một vở hài kịch như vậy thì em sẽ cười đến rụng đầu ra mất.

ANH: Ừ, người vợ yêu dấu nhất đời tôi sẽ cười đến rụng đầu ra nếu như tôi phải về ở khu Bowery. (Bật cười.) Nhưng nực cười ở chỗ là nếu như em ở đó, say bẹp trên ngưỡng cửa, chắc chắn anh sẽ đi theo em, đúng, sự thật là thế. Nếu như em ở đó, anh sẽ đi theo em. Anh cần cảm giác an toàn, đúng thế, đấy là thứ anh cần ở em, bác sĩ phân tâm của anh nói vậy, anh là ai mà dám cãi lại chứ?

CÔ: Ừ, đúng vậy, đấy là thứ anh cần ở em. Và đấy là thứ anh nhận được. Anh cần có Mẹ, Chúa ơi cứu con.

(Cả hai cùng cười lớn, dựa vào người nhau, ré lên cười, cười đến bủn rủn chân tay)

ANH: Ừ, em là mẹ của anh. Ông ấy bảo vậy. Ông ấy vẫn luôn đúng mà. Ghét mẹ mình cũng chẳng sao, sách nói vậy mà. Anh làm theo đúng cách. Anh sẽ không cảm thấy hối hận về điều đó đâu.

CÔ: Ổ không, tại sao anh lại phải cảm thấy hối hận chứ, tại sao anh lại phải có mảy may cảm giác hối hận chứ?

ANH (hét lên, gương mặt đẹp trai ngăm đen méo xệch đi): Bởi vì em khiến cho anh hối hận, lúc nào anh cũng sai với em, anh phải là người sai, mẹ luôn luôn đúng.

CÔ (bỗng nhiên không cười mà lo lắng đến tuyệt vọng): Ôi, Nelson, đừng có lúc nào cũng chế giễu em như thế chứ, đừng làm vậy, em không chịu nổi đâu.

ANH (nhẹ nhàng và đe dọa): Vậy là em không chịu nổi? Thì đấy, em vẫn phải chịu thôi. Vì sao? Bởi vì anh cần em phải chịu đựng điều đó, lý do là thế đấy. Này, có lẽ em nên đến gặp bác sĩ phân tâm. Tại sao mình anh phải làm hết phần việc nặng nhọc này chứ? Ừ, đúng đấy, em có thể đi gặp bác sĩ phân tâm, anh không ốm, em mới ốm. Em mới ốm!

(Nhưng cô đã chịu thua, quay đi, ủ rũ và tuyệt vọng. Anh nhảy về phía cô, đắc thắng nhưng kinh hoàng): Giờ thì em lại làm sao thế? Không chịu đựng được, hả? Tại sao chứ? Làm sao mà em biết rằng không phải em mới là người bị bệnh: tại sao lúc nào anh cũng là người sai? Ồ, đừng làm bộ mặt như thế! Tìm cách làm anh cảm thấy có lỗi như thường lệ hả? Thì em thành công rồi đấy. Được rồi, vậy là anh sai. Nhưng xin em đừng lo lắng - dù chỉ một chút thôi. Anh luôn là người sai mà. Anh đã nói vậy, đúng không nào? Anh đã thú nhận như vậy, đúng không nào? Em là phụ nữ, vì vậy em đúng. Được rồi, được rồi, không phải là anh lèm bèm. Anh chỉ đang nói lên thực tế mà thôi - anh là đàn ông, vì vậy anh sai. Được chưa?

Nhưng giờ đây, bỗng nhiên người phụ nữ tóc vàng bé nhỏ (đã uống ít nhất là ba phần tư chai Scotch mà vẫn đang vui vẻ và tự chủ như một chú mèo con bé bỏng mềm mại có đôi mắt xanh lơ mơ màng vừa hé mở, dịu dàng) đứng dậy và nói: “Bill, Bill, em muốn khiêu vũ. Em muốn khiêu vũ, cưng ạ.” Vậy là Bill nhảy đến chỗ chiếc máy quay đĩa, và căn phòng đầy ắp những bản nhạc thời kỳ cuối của Armstrong, tiếng kèn trumpet yếm thế và giọng vui vẻ yếm thế của Armstrong về già. Và Bill kéo cô vợ nhỏ bé xinh đẹp vào vòng tay, rồi họ khiêu vũ. Nhưng đây chỉ là giễu nhại, giễu nhại một vũ điệu vui vẻ đầy nhục thể. Lúc này, tất cả mọi người đều đang khiêu vũ, còn Nelson và vợ thì ở ngoài rìa cả nhóm, không ai để ý. Không ai nghe họ nói, mọi người không chịu đựng nổi nữa. Và rồi Nelson nói, lớn tiếng, xỉa ngón cái về phía tôi: “Tôi sẽ khiêu vũ với Anna. Tôi không biết khiêu vũ, tôi không biết làm gì cả, cô không cần phải nói với tôi điều đó, nhưng tôi sẽ khiêu vũ với Anna.” Tôi đứng dậy, bởi vì tất cả mọi người đều đang nhìn tôi, mắt như muốn nói: Cố lên nào, cô phải khiêu vũ, cô phải làm thế.

Nelson bước tới, nói to bằng giọng giễu nhại: “Tôi sẽ khiêu vũ với Anna. Khiêu vũ với a-a-nh! Kh-i-i-ê-u vũ với anh đi, Anna.”

Đôi mắt tuyệt vọng của anh ta mang vẻ tự căm ghét bản thân, khổ sở, đau đớn. Và rồi, giọng giễu nhại: “Nào, mình chịch nhau đi, cưng, anh thích phong cách của em.”

Tôi cười. (Tôi nghe thấy giọng cười của mình, the thé và nài nỉ.) Tất cả đều cười, nhẹ nhõm, bởi vì tôi đang đóng vai của mình; và giây phút nguy hiểm đã trôi qua. Vợ Nelson cười lớn nhất. Tuy nhiên, cô dành cho tôi một cái nhìn dò xét sắc bén đầy sợ hãi, và tôi biết mình đã tham gia vào cuộc chiến hôn nhân này; và sự tồn tại của bản thân tôi, Anna, có lẽ chỉ để đổ dầu vào lửa. Có thể họ đã cãi nhau vì tôi, liên miên, trong khoảng thời gian kinh khủng từ bốn đến bảy giờ sáng, khi họ thức dậy với cảm giác lo lắng (nhưng lo lắng về cái gì mới được chứ?) và đánh nhau chí tử. Thậm chí tôi còn nghe thấy cả lời thoại: Tôi khiêu vũ với Nelson, trong khi vợ anh ta quan sát, mỉm cười với vẻ lo lắng đau đớn, và lắng nghe đoạn thoại:

CÔ: Vâng, tôi chắc là anh nghĩ tôi không biết gì về anh và Anna Wulf.

ANH: Đúng thế, em không biết và chẳng bao giờ biết được cả, chứ sao?

CÔ: Vậy là anh nghĩ tôi không biết cơ đấy, hừ tôi biết, chỉ cần nhìn anh là biết!

ANH: Nhìn anh đây này, cưng! Nhìn anh đi, búp bê ơi! Nhìn anh đi em yêu, nhìn, nhìn, nhìn đi! Em thấy ai nào? Lothario? Don Juan? Đúng thế, là anh đấy. Đúng thế. Anh đang ngủ với Anna Wulf đấy, cô ấy hợp gu anh, bác sĩ phân tâm của anh bảo thế, vậy thì anh là cái gì mà dám cãi lại bác sĩ?

Sau cuộc khiêu vũ hoang dã, đau đớn, đầy tiếng cười đó, khi mọi người đều khiêu vũ trong sự giễu nhại, và thôi thúc tất cả các thành viên khác của nhóm hãy giữ vững màn giễu nhại, hãy cố hết sức mà giữ, cả lũ chúng tôi chào nhau và về nhà.

Lúc chia tay, vợ Nelson hôn tôi. Tất cả chúng tôi hôn nhau, một gia đình lớn hạnh phúc, mặc dù tôi biết, và họ cũng biết, rằng bất cứ thành viên nào của nhóm này ngày mai đều có thể rơi rụng ra ngoài, vì thất bại, hoặc say mèm hay vì bất tuân thủ, và sẽ không bao giờ gặp lại nữa. Nụ hôn của vợ Nelson lên má tôi - trái trước, phải sau - gần như ấm áp và chân thành, như muốn nói: Xin lỗi nhé, chúng tôi không tránh được, chẳng liên quan gì đến chị đâu; vừa thăm dò như muốn nói: Tôi muốn biết chị có gì cho Nelson mà tôi không có.

Và thậm chí chúng tôi còn liếc nhìn nhau, vừa mỉa mai vừa cay đắng, như nói: Ồ, chẳng liên quan gì đến mỗi chúng ta cả, thật đấy!

Cái hôn này tuy nhiên khiến tôi cảm thấy bất ổn, tôi cảm thấy mình là một kẻ giả mạo. Bởi vì tôi đang nhận thấy một điều mà lẽ ra bằng trí tuệ đã phải biết chứ không cần phải đến nhà họ: mối dây giữa Nelson và vợ anh ta khăng khít một cách cay đắng, và sẽ không bao giờ tan vỡ. Họ ràng buộc nhau bằng mối quan hệ chặt chẽ nhất trong mọi loại quan hệ, là sự hành hạ nhau có tính loạn thần kinh; trải nghiệm nỗi đau được mỗi phía ban ra và đón nhận; nỗi đau trở thành một khía cạnh của tình yêu; được hiểu như một tri thức về thế giới, về lớn lên.

Nelson sắp bỏ vợ, nhưng anh ta sẽ không bao giờ bỏ cô. Cô sẽ rền rĩ rằng mình bị hắt hủi và bỏ rơi; cô không biết cô sẽ không bao giờ bị hắt hủi.

Buổi tối sau bữa tiệc, tôi ở nhà ngồi trong ghế bành, mệt lử. Một hình ảnh không ngừng xuất hiện trong đầu tôi: nó giống như một cảnh phim, sau đó cứ như là tôi đang xem một trường đoạn trong phim. Một người đàn ông và một phụ nữ ở trên sân thượng một tòa nhà trong thành phố đông đúc, nhưng tiếng ồn và chuyển động của thành phố ở tít xa bên dưới họ. Họ lang thang vô định trên sân thượng, đôi lúc ôm nhau, nhưng gần như là thử nghiệm, cứ như họ nghĩ: Thế này có vị gì nhỉ? - rồi họ lại buông nhau ra và bước lang thang trên sân thượng. Sau đó người đàn ông bước đến bên người phụ nữ và nói: Anh yêu em. Và cô đáp, giọng kinh hoảng: Ý anh là sao? Anh nói: Anh yêu em. Vậy là cô ôm anh, còn anh quay đi với vẻ hấp tấp lo lắng, nên cô hỏi: Sao anh lại nói là anh yêu em? Và anh trả lời: Anh muốn xem câu đó nghe ra thế nào. Thế là cô nói: Nhưng em yêu anh, em yêu anh, em yêu anh - còn anh bước đến sát rìa sân thượng và đứng đó, sẵn sàng nhảy xuống - anh sẽ nhảy nếu cô còn nói thêm dù chỉ một lần nữa: Em yêu anh.

Khi ngủ, tôi mơ thấy đoạn phim này - phim màu. Bây giờ không phải là trên sân thượng nữa mà là trong một màn sương mù hoặc khói mỏng nhuộm màu, một lớp sương mù có màu cực đẹp cuộn xoáy, bên trong có một người đàn ông cùng một người phụ nữ đi lang thang. Cô cố gắng tìm anh, nhưng khi cô đâm phải anh, hoặc tìm thấy anh, thì anh lại hốt hoảng tránh cô, quay lại nhìn cô, rồi quay đi, rồi lại quay đi lần nữa.

Buổi sáng hôm sau bữa tiệc, Nelson gọi điện và tuyên bố rằng anh ta muốn lấy tôi. Tôi nhận ra giấc mơ này. Tôi hỏi anh ta tại sao lại nói như vậy. Anh ta hét lên: “Bởi vì anh muốn vậy.” Tôi nói anh ta khăng khít với vợ thế còn gì. Rồi giấc mơ, hay đoạn phim dừng lại, và giọng anh ta thay đổi, nói với vẻ hài hước: “Lạy Chúa tôi, nếu thật vậy thì anh gặp rắc rối rồi.” Chúng tôi nói chuyện thêm một lúc nữa, sau đó anh ta bảo rằng đã kể với vợ chuyên ngủ với tôi. Tôi bực quá đi mất, tôi bảo anh ta đã lợi dụng tôi để cãi nhau với chị vợ. Anh ta bắt đầu hét lên và chửi tôi giống như đêm hôm trước đã hét vợ tại bữa tiệc.

Tôi đặt ống nghe xuống và sau vài phút anh ta đã xuất hiện trước cửa. Lúc này anh ta thanh minh về cuộc hôn nhân của mình, không phải với tôi mà với một người quan sát vô hình nào đó. Tôi nghĩ anh ta còn không ý thức rõ lắm là tôi ở đó. Tôi nhận ra người đó là ai khi anh ta nói rằng bác sĩ phân tâm của anh ta đang đi nghỉ mất một tháng.

Anh ta bỏ đi, vừa đi vừa quát mắng và la hét tôi - phụ nữ nói chung. Một tiếng sau anh ta gọi điện cho tôi xin lỗi, nói rằng anh ta “bị điên” và tất cả chỉ là vì thế. Sau đó anh ta nói: “Anh không làm em tổn thương đấy chứ Anna?” Câu này khiến tôi sững sờ - tôi lại cảm nhận được không khí của giấc mơ kinh khủng kia. Nhưng anh ta nói tiếp: “Tin anh đi, anh chẳng muốn gì hơn là cùng em có được cái thứ có thật ấy,” và sau đó chuyển sang giọng cay đắng đau lòng, “Nếu thứ tình yêu mà người ta bảo là khả dĩ kia thật hơn những gì có vẻ chúng ta nhận được.” Và rồi một lần nữa, giọng nằng nặc và the thé: “Nhưng anh muốn nghe em nói là anh không hề làm em bị tổn thương, em phải nói vậy.” Tôi có cảm giác như vừa bị một người bạn và giữa mặt, hoặc nhổ vào mặt, hoặc rút dao ra và ngoáy sâu trong da thịt tôi trong khi cười nhăn nhở vui sướng. Nhưng tôi vẫn nói rằng tất nhiên là anh ta đã làm tôi tổn thương, nhưng chọn cách nói không để lộ những gì tôi cảm thấy, tôi nói giống như anh ta vừa nói, cứ như thể việc tôi bị tổn thương là điều có thể đưa ra nói chuyện điềm nhiên sau khi bắt đầu cuộc gặp gỡ như vậy chừng ba tháng.

Anh ta nói: “Anna ạ, anh chợt nghĩ - chắc chắn là anh không phải là kẻ quá tồi tệ được - nếu như anh có thể hình dung được nên trở thành người như thế nào, nếu anh có thể hình dung thực sự yêu thương một người, thực sự sống vì một người… thì đây là một dạng kế hoạch cho tương lai, phải không?”

Chà những lời này khiến tôi cảm động, bởi vì tôi thấy dường như một nửa những gì chúng tôi làm, hoặc cố gắng trở thành, đều chẳng khác gì kế hoạch cho cái tương lai mà chúng tôi cố gắng hình dung; vì vậy chúng tôi chấm dứt cuộc trò chuyện với vẻ rất thắm tình đồng chí.

Nhưng tôi ngồi, trong một màn sương mù lạnh, và nghĩ: Điều gì xảy ra với đàn ông khiến họ có thể nói chuyện như thế này với phụ nữ? Hết tuần này đến tuần khác, Nelson không ngừng kéo tôi vào việc của anh ta - và anh ta luôn sử dụng tất cả vẻ quyến rũ, sức ấm áp, kinh nghiệm thu hút phụ nữ, và đặc biệt sử dụng khi tôi nổi cáu, hoặc khi anh ta biết anh ta vừa nói điều gì đó rất đáng sợ. Và rồi điềm nhiên anh ta quay sang nói: Anh có làm em bị tổn thương hay không? Vì với tôi, điều đó phủ nhận tất cả giá trị đàn ông, đến nỗi khi nghĩ xem điều đó có nghĩa là gì, tôi cảm thấy nôn nao và lạc lối (giống như đang ở trong một màn sương lạnh đâu đó), mọi thứ mất đi ý nghĩa, và thậm chí những lời tôi nói lúc đó cũng trở nên giống như tiếng vọng, trở thành lời nhại nghĩa.

Sau lúc anh ta gọi cho tôi để hỏi: Anh có làm em bị tổn thương hay không? thì tôi mơ và nhận ra nó chính là niềm-vui-hủy-diệt. Giấc mơ là một cuộc trò chuyện qua điện thoại giữa tôi với Nelson. Nhưng anh ta vẫn ở cùng phòng. Anh ta mang lốt một người có trách nhiệm, có tâm hồn ấm áp. Nhưng lúc nói, nụ cười của anh ta thay đổi và tôi nhận ra vẻ ác ý đột ngột không động cơ. Tôi cảm nhận được con dao ngoáy trong da thịt mình, giữa những dẻ sườn, các cạnh dao nghiến ken két vào xương. Tôi không thể cất lời, bởi vì sự nguy hiểm, sự hủy diệt, đến từ một người thân với tôi, một người mà tôi thích. Rồi tôi bắt đầu nói vào ống nghe điện thoại, và trên gương mặt chính mình tôi cảm nhận được nụ cười bắt đầu, nụ cười ác ý vui sướng. Thậm chí tôi còn đi vài bước khiêu vũ, điệu nhảy giật đầu, cứng đờ, gần giống như búp bê của một cái bình biết cử động. Tôi nhớ trong giấc mơ mình đã nghĩ: Vậy bây giờ mình là cái bình ma quỷ, lần sau mình sẽ là tên người lùn già; lần tiếp theo sẽ là bà già gù lưng. Rồi gì nữa nhỉ? Sau đó, giọng Nelson từ ống nghe vọng vào tai tôi: Rồi đến phù thủy, rồi đến tiểu phù thủy. Tôi tỉnh giấc, vẫn nghe thấy những lời này vọng ra với niềm vui sướng hân hoan ác ý khủng khiếp: “Phù thủy, và rồi đến tiểu phù thủy!”

Tôi vừa qua thời kỳ hết sức trầm uất. Tôi đã phụ thuộc rất nhiều vào nhân cách đó - mẹ của Janet. Tôi không ngừng tự hỏi bản thân - khi bên trong tôi trống rỗng, căng thẳng, tê cóng, tôi có thể, vì Janet, vẫn điềm tĩnh, trách nhiệm, linh hoạt - chuyện phi thường biết bao?

Tôi không gặp lại giấc mơ đó nữa. Nhưng cách đây hai ngày, tôi ngặp một người đàn ông tại nhà Molly. Người Tích Lan. Anh lượn lờ tiếp cận, nhưng tôi từ chối. Tôi sợ bị chối bỏ, sợ thất bại thêm một lần nữa. Giờ thì tôi cảm thấy xấu hổ. Tôi đang trở nên hèn nhát. Tôi thấy sợ bởi vì phản xạ đầu tiên trong tôi, khi đàn ông đề cập đến vấn đề tình dục, là bỏ chạy, chạy đi bất cứ đâu, miễn là tránh khỏi con đường đau thương.

[Một dòng kẻ đậm màu đen chạy ngang qua trang giấy.]

De Silva người Tích Lan. Anh là bạn của Molly. Tôi gặp anh cách đây nhiều năm tại nhà Molly. Vài năm trước, anh đến London và kiếm sống bằng nghề phóng viên, nhưng khá nghèo. Anh lấy một cô vợ người Anh. Anh gây ấn tượng với mọi người tại bữa tiệc bằng vẻ điềm tĩnh mỉa mai; anh đưa ra những nhận xét hóm hỉnh về mọi người, tàn nhẫn, nhưng hờ hững một cách lạ lùng. Nghĩ về anh, tôi thấy anh đứng tách ra khỏi một nhóm người, nhìn vào và mỉm cười. Anh sống cùng vợ trong phòng ngủ kiêm phòng khách, ăn spaghetti, một cuộc sống của giới văn chương bên rìa. Họ có một đứa con nhỏ. Không kiếm sống được đây, anh quyết định quay về Tích Lan. Vợ anh không muốn vậy: anh là con thú của một gia đình thuộc tầng lớp cao, rất hợm hĩnh, ghét việc anh lấy vợ da trắng. Anh thuyết phục vợ quay về cùng anh. Gia đình anh không chịu đón nhận cô vợ, vì vậy anh tìm cho cô một căn phòng và dành một nửa thời gian cho hai mẹ con, một nửa cho gia đình. Cô muốn quay về Anh, nhưng anh bảo rồi sẽ ổn thôi, và dỗ vợ sinh thêm đứa nữa, dù cô không muốn. Đứa con thứ hai vừa ra đời thì anh cao chạy xa bay.

Bỗng nhiên tôi nhận được điện thoại của anh hỏi về Molly, lúc này đang đi vắng. Anh bảo anh đang ở Anh bởi vì anh “vừa mới thắng cược ở Bombay, nhờ đó anh được một tấm vé miên phí đi Anh”. Về sau tôi nghe nói điều này không đúng: anh đã đi Bombay thực hiện bài báo nào đó, và trong cơn bốc đồng, anh đã vay tiền và bay từ đó tới London. Anh hy vọng rằng Molly, trước đây từng cho anh vay tiền, sẽ đón nhận anh. Không gặp Molly, vì vậy anh thử gặp Anna. Tôi nói rằng lúc này tôi không có tiền, mà đúng như vậy thật, nhưng bởi vì anh nói rằng không còn nắm được tình hình nên tôi mời anh ăn tối và gọi một số bạn bè đến gặp anh. Anh không tới, nhưng một tuần sau thì gọi điện, giọng khổ sở, trẻ con, hối lỗi, nói rằng vì quá trầm cảm nên anh không thể gặp mọi người được, “còn chẳng nhớ nổi số điện thoại của tôi hôm ăn tối”. Sau đó tôi gặp anh tại nhà Molly, lúc này đi xa đã về. Anh vẫn cái vẻ điềm tĩnh, vô tư, dí dỏm thường thấy. Anh đã tìm được việc làm báo, nhắc đến vợ bằng giọng trìu mến rằng “sẽ đến ở cùng anh, có lẽ vào tuần tới”. Đấy là đêm anh gạ tôi nhưng tôi bỏ chạy. Có lý do chính đáng. Nhưng nỗi sợ của tôi không xuất phát từ lương tri, chẳng qua là tôi sẽ trốn chạy bất cứ người đàn ông nào, và đây là lý do tại sao ngày hôm sau anh gọi điện thì tôi lại mời anh ăn tối. Nhìn cách anh ăn, tôi thấy anh đang không được ăn uống đủ. Anh quên rằng anh đã nói rằng vợ anh sẽ đến, “có lẽ vào tuần tới”, nên bây giờ anh nói “cô ấy không muốn rời bỏ Tích Lan, cô ấy rất hạnh phúc.” Anh nói điều này với vẻ hờ hững, cứ như thể chính anh đang nghe lời anh nói. Cho đến thời điểm này, chúng tôi vẫn còn khá vui vẻ và thân thiện. Nhưng việc anh đề cập đến vợ đã mang tới một giọng điệu mới, tôi có thể cảm nhận được. Anh liên tục liếc nhìn tôi với vẻ điềm tĩnh, suy đoán và thù địch. Thái độ thù địch không nhằm vào tôi. Chúng tôi vào căn phòng lớn nhà tôi. Anh dạo bước quanh phòng, vẻ cảnh giác, đầu nghiêng một bên như thể đang lắng nghe, ném cho tôi những cú liếc nhanh hứng thú, bâng quơ, như không thực sự nhằm vào tôi. Rồi anh ngồi xuống và nói: “Anna này, anh muốn kể cho em nghe một chuyện từng xảy ra với anh. Không, cứ ngồi nghe thôi. Anh muốn kể cho em và anh muốn em chỉ việc ngồi nghe thôi, đừng nói gì cả.”

Tôi ngồi xuống và lắng nghe với vẻ thụ động lúc này đang khiến tôi thấy sợ, bởi vì tôi biết mình nên từ chối, và đúng ngay tại thời điểm đó. Bởi vì trong đó có sự thù nghịch và gây hấn - không hề nhằm vào cá nhân. Nhưng bầu không khí lại tràn ngập điều đó. Anh kể cho tôi nghe câu chuyện này, vẻ xa xăm, hờ hững, mỉm cười, quan sát gương mặt tôi.

Vài đêm trước đó, anh đã phê cần sa. Rồi anh bước xuống phố, đâu đó ở khu Mayfair, “em biết đấy Anna, cái không khí giàu sang và đồi trụy, có thể ngửi thấy được. Nó hấp dẫn anh. Đã đôi lần anh đi bộ tới đó và ngửi thấy mùi đồi trụy, nó khiến anh thấy hào hứng.” Anh nhìn thấy một cô gái trên vỉa hè nên bước thẳng tới chỗ cô ta và nói: “Anh thấy em xinh lắm, em ngủ với anh chứ?” Anh bảo, anh sẽ không làm thế nổi nếu như không say rượu hay phê cần sa. “Anh có thấy cô ta xinh đâu, nhưng quần áo cô ta mặc rất đẹp,và lúc nói ra câu đấy xong thì anh cũng nghĩ là cô ta xinh, cô ta trả lời, rất đơn giản, vâng.” Tôi hỏi, cô ta là điếm à? Anh đáp, với vẻ sốt ruột một cách điềm đạm (cứ như anh đang chờ, thậm chí muốn tôi hỏi chính câu đó): “Anh không biết. Chả quan trọng.” Tôi nhận thấy cách anh nói: Chả quan trọng. Bình thản, điềm tĩnh, anh đang nói rằng: Người khác ra sao thì quan trọng gì nào, anh đang nói về bản thân anh cơ mà. Cô ta bảo với anh: “Em thấy anh đẹp trai đấy, em muốn ngủ với anh.” Và tất nhiên là anh đẹp trai, bề ngoài lanh lợi, mạnh mẽ, hào nhoáng. Nhưng là vẻ đẹp lạnh lùng. Anh nói với cô ta: “Anh muốn làm thế này. Anh sẽ làm tình với em, như thể anh đang vô cùng yêu em. Nhưng em không được đáp lại. Em chỉ cần đáp ứng anh về mặt tình dục thôi, còn em phải bỏ ngoài tai những lời anh nói. Em có hứa thế không?” Cô ta vừa đáp vừa cười to: “Được, em hứa.” Họ đến phòng anh. “Đấy là đêm thú vị nhất trong đời anh, Anna ạ. Đúng thế, anh thề đấy, em có tin không? Ừ, em phải tin anh chứ. Bởi vì anh xử sự như thể anh yêu cô ta, cứ như là anh vô cùng yêu cô ta, và thậm chí anh cũng tin như vậy. Bởi vì - em phải hiểu điều này, Anna ạ, chỉ yêu cô ta trong đêm đấy thôi, đấy là điều tuyệt vời nhất có thể hình dung được. Vì vậy là anh bảo rằng anh yêu cô ta, anh giống như một người đang yêu say đắm. Nhưng cô ta cứ đóng hỏng vai suốt. Cứ mười phút một lần anh lại thấy gương mặt cô ta thay đổi và cô ta đáp lại giống như một người phụ nữ được yêu. Vì vậy anh lại phải dừng cuộc chơi và nói: Không, đấy không phải là điều em đã hứa. Anh yêu em, nhưng em biết anh không thật lòng như vậy. Nhưng thực sự anh đã thật lòng. Trong đêm hôm đó, anh đã tôn sùng cô ta. Anh chưa bao giờ yêu như vậy. Nhưng cô ta cứ liên tục làm hỏng bằng cách đáp lại. Vì thế nên anh buộc phải đuổi cô ta đi, bởi vì cô ta cứ yêu anh.”

“Cô ta có tức giận không?” tôi hỏi. (Bởi vì tôi cảm thấy tức giận khi lắng nghe, và tôi biết anh muốn tôi thấy tức giận.)

“Có. Cô ta tức giận lắm. Cô ta chửi anh đủ kiểu. Nhưng với anh chả quan trọng. Cô ta bảo anh là đồ ác dâm và tàn nhẫn - đủ loại như vậy. Nhưng với anh chả quan trọng. Bọn anh đã thỏa thuận, cô ta đã đồng ý, ấy thế mà cô ta lại làm hỏng hết cả. Anh muốn có khả năng yêu phụ nữ một lần trong đời mà không cần phải trao lại bất cứ thứ gì. Nhưng tất nhiên là điều đó chả quan trọng. Anh kể cho em nghe bởi vì nó chẳng hề quan trọng. Em có hiểu không Anna?”

“Từ bấy đến nay anh có gặp lại cô ta nữa không?”

“Không, tất nhiên là không. Anh quay lại con phố nơi anh chọn cô ta, mặc dù biết là sẽ không gặp được. Anh hy vọng cô ta là điếm, nhưng anh biết không phải, bởi vì cô ta bảo với anh là không phải. Cô ta làm việc ở quán cà phê. Cô ta bảo cô ta muốn yêu.”

Buổi tối hôm đó, anh còn kể cho tôi nghe chuyện này: anh có một người bạn thân, họa sĩ B. B. đã lập gia đình, nhưng cuộc hôn nhân này chưa bao giờ thỏa mãn về mặt tình dục. (Anh nói: “Tất nhiên là cuộc hôn nhân này chưa bao giờ thỏa mãn về mặt tình dục,” và cụm từ “thỏa mãn về mặt tình dục” nghe giống như một thuật ngữ y khoa.) B, sống ở nông thôn. Ngày nào cũng có một người phụ nữ từ trong làng đến dọn nhà. Trong khoảng một năm, B. ngủ với người phụ nữ này, sáng nào cũng vậy, trên sàn bếp, trong khi vợ anh ta ở trên gác. De Silva đến thăm B. nhưng B. đi vắng. Vợ anh ta cũng vậy. De Silva ở lại ngôi nhà để chờ họ trở về và người phụ nữ lau dọn hằng ngày vẫn đến như thường lệ. Cô ta kể với de Silva rằng cô ta đã ngủ với B. được một năm, và cô ta yêu B., “nhưng tất nhiên, với anh ấy thì em không đủ tốt, chẳng qua là vì vợ anh ấy không tốt cho anh ấy.” “Chẳng hấp dẫn hay sao, Anna? Cụm từ đấy, vợ anh ấy không tốt cho anh ấy - không phải là ngôn ngữ của chúng ta, không phải là ngôn ngữ của loại người như chúng ta.” “Đừng quàng cả người khác vào như vậy chứ,” tôi nói, nhưng anh nghiêng đầu sang một bên và đáp: “Không, anh thích nó - thích hơi ấm của nó. Và do vậy anh cũng làm tình với cô ta. Trên sàn nhà bếp, trên một loại thảm tự làm đặt ở đó, giống như B. Anh muốn bởi vì B. đã làm vậy. Anh không biết tại sao. Và tất nhiên, điều đó chả quan trọng với anh.” Sau đó vợ B. quay về. Cô về để dọn nhà đón B. Cô thấy de Silva ở đó. Cô rất vui khi gặp de Silva, bởi vì anh là bạn của chồng và “cô cố gắng làm hài lòng chồng ở ngoài giường bởi vì cô không quan tâm đến anh ta trên giường.” De Silva dành nguyên cả buổi tối cố gắng tìm hiểu xem cô có biết chuyện chồng cô ngủ với người lau dọn hay không. “Sau đó anh nhận ra là cô ta không biết, vì vậy anh nói: ‘Tất nhiên, chuyện chồng cô lăng nhăng với người lau dọn chẳng nghĩa lý gì cả, cô không nên để tâm.’ Cô ta nổi đóa lên. Cô ta phát điên vì ghen tuông và thù hận. Em có hiểu nổi không, Anna? Cô ta nhắc đi nhắc lại: Sáng nào anh ấy cũng ngủ với người đàn bà đó trên sàn nhà bếp. Đấy là cụm từ mà cô ta cứ nhắc đi nhắc lại: ‘Anh ấy ngủ với cô ta trên sàn nhà bếp khi tôi đang đọc sách trên gác.’” Vì vậy nên de Silva làm đủ cách để bình định vợ B., đấy là chữ anh dùng, và sau đó B. trở về. “Anh kể cho B. nghe điều anh vừa làm và anh ta tha thứ cho anh. Vợ anh ta bảo sẽ bỏ anh ta. Anh nghĩ cô ta sẽ bỏ thật. Bởi vì anh ta ngủ với người lau dọn ‘trên sàn nhà bếp’.”

Tôi hỏi: “Anh làm thế để làm gì?” (Khi lắng nghe, tôi cảm thấy lạnh người kinh khủng, một nỗi sợ đến rã rời. Tôi trở nên thụ động khi gặp một kiểu sợ hãi nào đó.)

“Tại sao? Tại sao em lại hỏi thế? Có gì quan trọng nào? Anh muốn xem điều gì sẽ xảy ra, thế thôi.”

Vừa nói anh vừa mỉm cười. Đấy là nụ cười hồi tưởng, khá ranh mãnh, vui sướng, thích thú. Tôi nhận ra nụ cười này - nó là bản chất giấc mơ của tôi, nó là nụ cười từ hình thù trong giấc mơ của tôi. Tôi muốn chạy ra khỏi phòng. Vậy nhưng tôi lại nghĩ: Phẩm chất này, câu nói “anh muốn xem điều gì sẽ xảy ra” trí tuệ này, là một thứ gì đó mơ hồ trong không trung, trong rất nhiều người mà ta vẫn gặp, nó là một phần cấu thành tất cả chúng ta. Nó là mặt bên kia của câu: Chả quan trọng, với anh chả quan trọng - cụm từ không ngừng ngân lên qua những lời de Silva nói.

De Silva và tôi ở với nhau đêm đó. Tại sao? Bởi vì với tôi chả quan trọng. Việc nó có gì quan trọng với tôi, khả năng nó có gì quan trọng với tôi đã bị đẩy đi vào xa xăm. Nó thuộc về cô Anna bình thường, người đang cất bước ra đi ở một nơi nào đó đằng chân trời cát trắng, tôi có thể nhìn thấy nhưng không thể chạm vào.

Đối với tôi, đêm hôm đó thật chết chóc, giống như nụ cười thích thú, hờ hững của anh. Anh bình thản, hờ hững, trừu tượng. Điều đó chẳng quan trọng gì với anh. Nhưng có những lúc bỗng nhiên anh lại rơi vào trạng thái một đứa trẻ khốn khổ cần mẹ. Tôi để bụng vì những lúc này hơn vì vẻ hờ hững bình thản và sự tò mò. Vì tôi cứ bướng bỉnh nghĩ: Tất nhiên là tại anh ấy, đâu phải mình. Vì đàn ông tạo ra những thứ này, họ tạo ra chúng ta. Buổi sáng, khi nhớ lại mình đã bấu víu như thế nào, luôn bấu víu lấy điều này như thế nào, tôi thấy mình thật ngớ ngẩn. Bởi tại sao điều này lại phải đúng cơ chứ?

Sáng hôm sau, tôi làm bữa sáng cho anh. Tôi thấy lạnh lẽo và hờ hững. Quỷ tha ma bắt - tôi có cảm giác như trong mình không còn chút sự sống hay hơi ấm nào nữa. Tôi thấy như anh đã hút hết sức sống ra khỏi người tôi. Nhưng chúng tôi lại cư xử cực kỳ thân thiện. Tôi cảm thấy thân thiện nhưng hờ hững với anh. Lúc ra về, anh nói sẽ gọi điện nhưng tôi bảo rằng tôi sẽ không ngủ với anh nữa. Mặt anh bỗng méo xệch thành một cơn giận dữ hằn học; và tôi thấy mặt anh chắc phải giống như lúc cô gái anh gạ gẫm dọc đường đáp lại lời anh nói rằng anh yêu cô ta. Đấy là vẻ mặt của anh ta khi cô đáp lại - giận dữ và hằn học. Nhưng tôi đã không lường được điều này. Sau đó, chiếc mặt nạ mang nụ cười thờ ơ trở lại, và anh ta hỏi: “Tại sao lại thế?” Tôi đáp: “Bởi vì anh chả quan tâm chút mẹ nào đến việc anh có ngủ với tôi hay không.” Tôi chờ anh ta nói: “Nhưng em cũng có quan tâm đâu,” thì chắc tôi sẽ chấp nhận. Nhưng bỗng nhiên anh ta hóa thành đứa trẻ khốn khổ như mấy lúc đêm hôm trước, và nói: “Nhưng anh có, thực sự có mà.” Đến mức anh ta còn gần như đấm ngực để chứng minh điều đó - anh ta ngăn bàn tay nắm chặt đang đưa gần đến ngực, tôi thấy. Và một lần nữa tôi cảm thấy không khí trong giấc mơ về sương mù - sự vô nghĩa, sự trống rỗng không cảm xúc.

Tôi nói: “Không, anh không quan tâm. Nhưng chúng ta sẽ tiếp tục làm bạn bè.” Anh ta xuống gác ngay, không nói một lời. Chiều hôm đó anh ta gọi điện cho tôi. Anh ta kể cho tôi nghe hai, ba câu chuyện nhạt nhẽo, tiêu khiển, ác ý về những người quen chung. Tôi biết còn chuyện khác sắp đến, bởi vì tôi cảm thấy e sợ, nhưng không hình dung được nó là gì. Sau đó anh ta nói, giọng lơ đãng gần như thờ ơ. “Đêm nay anh muốn em cho một người bạn của anh ngủ trong căn phòng trên gác. Em biết đấy, căn phòng ở ngay trên phòng ngủ của em.”

“Nhưng đây là phòng Janet,” tôi nói. Tôi không hiểu được anh ta đang thật sự nói chuyện gì.

“Nhưng em có thể chuyển con bé ra ngoài - nhưng không sao. Phòng nào cũng được. Ở trên gác. Tối nay khoảng mười giờ anh sẽ đưa cô ấy đến.”

“Anh muốn đưa một cô gái bạn anh đến nhà tôi để ngủ qua đêm?” Tôi thật ngu xuẩn khi không biết anh ta định nói gì. Nhưng tôi bực mình, nên lẽ ra tôi phải hiểu mới đúng chứ.

“Đúng vậy,” anh ta nói, vẻ hờ hững. Sau đó bằng giọng bình thản, lơ đãng: “Thì đằng nào cũng chả quan trọng gì.” Rồi anh ta gác máy.

Tôi đáng suy nghĩ. Sau đó tôi hiểu ra, nhờ cơn giận, vì vậy tôi gọi lại cho anh ta. Tôi nói: “Anh định nói rằng anh muốn đưa đàn bà vào nhà tôi để ngủ với cô ta?”

“Đúng vậy. Nhưng không phải là bạn anh. Anh sẽ bắt một cô điếm ngoài ga và đưa cô ta đến đây. Anh muốn ngủ với cô ta ngay trên phòng em để em có thể nghe thấy tiếng bọn anh.”

Tôi không nói được gì. Rồi anh ta hỏi: “Anna, em tức giận à?”

Tôi đáp: “Nếu không muốn làm tôi tức giận thì anh đã chẳng nghĩ ra việc đó.”

Và sau đó anh ta khóc rức lên như trẻ con, “Anna ơi, Anna, anh xin lỗi, hãy tha thứ cho anh.” Anh ta bắt đầu rền rĩ khóc lóc. Tôi tin rằng anh ta đứng đó đấm ngực bằng bên tay không cầm ống nghe, hoặc đập đầu vào tường - dù sao thì tôi cũng nghe được những tiếng thùm thụp không đều có thể là một trong hai việc đó. Và tôi hiểu rõ là anh ta đã dự tính tất cả từ đầu, ngay từ lúc anh ta gọi điện nói về việc đưa gái đến nhà tôi để có thể chấm dứt bằng đấm ngực hoặc đập đầu vào tường, và đây là mục đích của toàn bộ việc này. Vì thế nên tôi gác máy.

Sau đó tôi nhận được hai bức thư. Bức đầu tiên bình thản, ác ý, xấc xược - nhưng trên hết là không đầu không cuối, không mục đích, một bức thư có thể là kết quả sau cả tá tình huống khác nhau, chẳng cái nào giống cái nào. Và đấy chính là mục đích của bức thư - tính phi logic. Và rồi đến bức thư kia, hai ngày sau, rền rĩ điên cuồng như một đứa trẻ. Bức thư thứ hai làm tôi thấy khó chịu hơn bức thư thứ nhất.

Tôi đã hai lần mơ thấy de Silva. Anh ta là hiện thân bằng xương bằng thịt của nguyên lý vui-sướng-khi-gây-đau-khổ. Trong giấc mơ của tôi, anh ta không đội lốt kẻ nào hết mà giống hệt như ngoài đời, mỉm cười, ác ý, hờ hững, thích thú.

Hôm qua Molly gọi điện cho tôi. Cô nghe nói rằng anh ta đã bỏ lại cô vợ không một xu trong túi, cùng với hai đứa con. Gia đình anh ta, gia đình giàu có thượng lưu của anh ta, đã đón nhận cả mấy mẹ con. Molly: “Tất nhiên, vấn đề của toàn bộ chuyện này là anh ta thuyết phục vợ sinh đứa con thứ hai, dù cô không muốn, chỉ nhằm đảm bảo nhanh chóng trói chân cô ta thật chặt và để anh ta được tự do. Sau đó anh ta bỏ đi Anh, tớ đoán là vì hy vọng sẽ được tớ an ủi. Và điều kinh khủng là nếu như không đi vắng vào thời điểm mấu chốt đó thì tớ đã làm vậy, hẳn tớ đã nhìn nhận mọi việc qua bề mặt: chàng trí thức Tích Lan tội nghiệp không tìm ra phương kiếm sống, phải rời bỏ vợ cùng hai đứa con để đến với thị trường trí thức London được trả giá cao. Lũ chúng ta mới ngốc nghếch làm sao, liên tục, vĩnh cửu, và chúng ta chẳng bao giờ học được gì, và tớ biết khá rõ rằng lần sau chuyện đó có xảy ra thì tớ vẫn sẽ chẳng học được gì.”

Tôi gặp B., đến lúc này tôi đã quen được một thời gian, tình cờ trên đường phố. Đi uống cà phê với anh ta. Anh ta vồn vã nói về de Silva, Anh ta nói rằng đã thuyết phục de Silva “tử tế hơn với vợ.” Anh ta nói rằng anh ta, B., sẽ dành một nửa số tiền làm trợ cấp hằng tháng cho vợ de Silva, nếu như de Silva hứa cung cấp nửa còn lại. “Vậy anh ta có chi nửa kia không?” tôi hỏi. “Ồ, tất nhiên là không,” B. đáp, gương mặt thông minh lôi cuốn của anh ta đầy vẻ hối tiếc, không chỉ vì de Silva mà vì toàn thể nhân loại. “Thế de Silva đi đâu?” tôi hỏi, dù đã biết trước câu trả lời. “Anh ấy sẽ đến sống trong ngôi làng cạnh tôi. Anh ấy thích một cô nàng ở đấy. Thực ra là cô nàng vẫn đến dọn nhà cho tôi hằng sáng. Cô ấy vẫn tiếp tục lau dọn nhà cho chúng tôi, tôi mừng vì điều đó. Cô ấy rất tốt.”

“Tôi vui lắm,” tôi nói.

“Ừ, tôi rất thích anh ấy.”

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Doris Lessing

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.