Cuốn Sổ Vàng

Lượt đọc: 202 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bốn cuốn sổ

❊ ❊ ❊

[Bốn cuốn sổ giống hệt nhau, khổ lớn, bìa bóng, trông như chất liệu một tấm lụa vân rẻ tiền. Nhưng màu sắc thì lại khác hẳn nhau: đen, đỏ, vàng và xanh dương. Khi mở từng bìa ra, để lộ bốn trang đầu tiên, dường như không thể tìm ra ngay trật tự. Ở mỗi cuốn, trang đầu hoặc trang thứ hai là những chữ viết ngoáy và các mẫu câu. Sau đó là tiêu đề, cứ như thể Anna tự động phân thân ra thành bốn, sau đó đặt tên cho các phần này theo bản chất của những gì cô vừa viết trong từng cuốn. Và thực tế cũng đúng là như vậy. Cuốn sổ đầu tiên, bìa đen, mở đầu với các nét nguệch ngoạc, các ký hiệu nhạc nằm rải rác, những nốt khóa son đã đổi thành ký hiệu đồng bảng (£) rồi lại đổi lại một lần nữa, sau đó là một hình vẽ phức tạp với các vòng tròn móc vào nhau, sau đó là chữ viết:]

màu đen

tối tăm, thật là tối tăm

tối quá

ở đây có một thứ từa tựa bóng tối đang hiện diện

[Và rồi, bằng kiểu chữ thay đổi đột ngột:]

Mỗi lần tôi ngồi vào bàn để viết, và để cho tâm trí được thư giãn, những từ ngữ, tối quá, hoặc điều gì đó liên quan đến bóng tối. Sợ hãi. Sợ hãi thành phố này. Sợ cảnh cô đơn. Chỉ có một thứ duy nhất có thể ngăn tôi khỏi nhảy dựng lên, gào thét, hoặc chạy đến máy điện thoại để gọi cho người nào đó, đấy chính là việc đưa bản thân trở lại vùng sáng nóng bỏng kia… ánh sáng trắng, rọi sáng, những đôi mắt đã nhắm, ánh sáng đỏ nóng bỏng trên nhãn cầu. Tảng đá granite tỏa ra những cơn sóng nhiệt dữ dội. Lòng bàn tay tôi áp vào nó, dịch chuyển trên lớp địa y. Cảm giác sần của địa y. Nhỏ xíu, giống như tai của lũ động vật tí hon, một tấm lụa thô ấm áp cọ vào lòng bàn tay tôi, rê qua rê lại nơi những lỗ chân lông trên da tôi. Và nóng. Mùi của mặt trời trên đá nóng. Khô và nóng, và tấm lụa bụi trên má tôi, mùi mặt trời, mặt trời. Những bức thư của người đại diện về cuốn tiểu thuyết. Mỗi lần nhận được, tôi lại muốn cười - tiếng cười ghê tởm. Tiếng cười gai người, tiếng cười của sự tuyệt vọng, một kiểu tự trừng phạt. Những bức thư không có thực, khi tôi nghĩ về cái sườn dốc đá granite nóng bỏng, hai má tôi áp vào đá nóng, ánh sáng đỏ trên mí mắt tôi. Ăn trưa với người đại diện. Phi thực - cuốn tiểu thuyết càng lúc càng giống như một sinh vật có sự sống của riêng nó. Những biên giới chiến tranh giờ chẳng liên quan gì đến tôi, nó là tài sản của những người khác. Người đại diện bảo nên chuyển thể nó sang điện ảnh. Tôi bảo không. Cô ấy đang kiên nhẫn - nghề của cô ấy phải vậy.

[Ở đây có một ngày tháng được viết nguệch ngoạc - 1951.]

(1952) Ăn trưa với người làm phim. Thảo luận về phân vai cho Những biên giới. Muốn phá lên cười kinh khủng. Tôi bảo không. Tự thấy mình đang dần bị thuyết phục. Đứng dậy thật nhanh và cắt ngang lời anh ta, thậm chí còn vô thức tưởng tượng ra dòng chữ Những biên giới chiến tranh bên ngoài một rạp chiếu phim. Mặc dù dĩ nhiên là anh ta muốn gọi nó bằng cái tên Tình yêu bị cấm đoán.

(1953) Dành cả buổi sáng để nhớ lại lúc mình ngồi dưới những tán cây trong đầm nước cạn gần Mashopi. Chịu chết.

*

[Đến đây xuất hiện tiêu đề hay đề mục của cuốn sổ:]

BÓNG TỐI

[Một đường kẻ màu đen gọn gàng chia đôi các trang, và hai nửa trang bắt đầu bằng:]

Tiền

Nguồn

[Dưới từ bên trái là các mẫu câu, những hồi tưởng, những bức thư của bạn bè ở Trung Phi được dán vào. Ở nửa trang bên kia là các giao dịch liên quan đến Những biên giới chiến tranh, tiền bản quyền dịch, kể lại các cuộc phỏng vấn và những thứ tương tự như thế.

Sau một vài trang, các ghi chép ở nửa bên trái dừng lại. Trong suốt ba năm trời, cuốn sổ bìa đen chẳng có gì khác ngoài các ghi chép về tiền bạc và những thứ liên quan đến đời sống hằng ngày, có vẻ như chúng đã nuốt trọn lấy những ký ức về châu Phi. Các ghi chép ở nửa bên trái lại bắt đầu ngang với một tờ giấy đánh máy giống kiểu tuyên ngôn được dán vào trang đó, tóm tắt Những biên giới chiến tranh, nay đổi thành Tình yêu bị cấm đoán, do Anna viết bằng giọng đùa cợt và đã được duyệt bởi bộ phận chuyển thể tại công ty đại diện của cô:]

Sự nghiệp học hành rực rỡ ở Oxford bị Chiến tranh Thế giới thứ hai làm cho gián đoạn, chàng thanh niên bảnh bao Peter Carey cùng với các thanh niên mặc quân phục xanh dương trong Không lực Hoàng gia được phái tới Trung Phi để tham gia khóa đào tạo phi công. Đầy lý tưởng và bốc đồng, chàng thanh niên Peter cảm thấy choáng với xã hội tỉnh lẻ phân biệt màu da và hãnh tiến ở nơi này. Anh nhập hội cùng một nhóm cánh tả giàu có ở địa phương, nhưng nhóm này chỉ lợi dụng đầu óc cấp tiến non trẻ, ngây thơ của anh. Suốt cả tuần, họ gào thét về những bất công đối với người da đen; đến cuối tuần họ xả láng trong một khách sạn sang trọng ở ngoại ô, thuộc quyền quản lý của ông chủ Boothby, một tay John Bull đích thực(1), cùng bà vợ duyên dáng của ông ta. Cô con gái mới lớn của họ đem lòng yêu chàng Peter nhà ta. Anh khích lệ cô, bằng tất cả sự thiếu suy nghĩ của tuổi trẻ; trong khi bà Boothby, vì ông chồng mê rượu và yêu tiền không ngó ngàng gì tới, nảy sinh một niềm đam mê mãnh liệt nhưng thầm kín với chàng thanh niên điển trai. Chán ngấy những vụ trác táng cuối tuần của đám cánh tả, Peter bí mật liên hệ với những người Phi nổi loạn ở địa phương; đầu bếp khách sạn là lãnh tụ của nhóm này. Anh đem lòng yêu cô vợ trẻ trung của tay đầu bếp, vốn bị tay chồng cuồng chính trị đối xử hờ hững, nhưng mối tình này đi ngược lại những cấm kỵ và tập tục của cộng đồng thực dân da trắng. Bà Boothby đột ngột xuất hiện ở nơi hai người đang lãng mạn hẹn hò, và trong cơn ghen lồng lộn đã báo cho lãnh đạo trại Không lực Hoàng gia, bộ sậu này hứa sẽ tống cổ chàng Peter của bà ra khỏi Khu thuộc địa. Bà kể cho cô con gái nghe chuyện này mà hoàn toàn không ý thức được động cơ của bản thân, vốn là để nhằm làm bẽ mặt cô gái trẻ vì Peter thích cô hơn bà, sau đó do lòng kiêu hãnh của một cô gái da trắng bị tổn thương, cô con gái phát ốm và tuyên bố sẽ bỏ nhà ra đi, còn bà mẹ thì gào lên như phát rồ, “Thậm chí nó còn chẳng thèm để ý đến mày. Nó thích con bé da đen bẩn thỉu kia hơn.” Được bà Boothby báo về việc cô vợ trẻ phản bội, tay đầu bếp tống cổ vợ ra khỏi nhà, bảo cô quay về với bố mẹ mà ở. Nhưng cô gái không chịu phục tùng, quyết định chuyển sang thị trấn gần nhất, chọn con đường thoát dễ dàng là bán trôn nuôi miệng. Mọi ảo tưởng vỡ tan, chàng Peter đau khổ say khướt trong đêm cuối cùng ở Khu thuộc địa, và tình cờ gặp người tình da đen của mình ở một quán rượu lậu tồi tàn. Họ dành cả đêm cuối cùng bên nhau trong vòng tay nhau, nơi duy nhất người da đen và người da trắng được phép gặp nhau, trong một nhà thổ cạnh vùng nước bẩn của khúc sông chảy qua thị trấn. Bị những luật lệ hà khắc, phi nhân tính cùng lòng đố kỵ của bọn đồi bại phá vỡ, tình yêu ngây thơ trong sáng của họ không có chút tương lai nào cả. Họ thống thiết nói rằng sẽ gặp nhau ở nước Anh khi chiến tranh kết thúc, nhưng cả hai đều biết đây chỉ là lời nói dối. Khi trời sáng, Peter từ biệt nhóm “tiến bộ”; sự khinh bỉ thể hiện rõ trong đôi mắt trẻ trung, nghiêm nghị của anh. Trong khi đó, người tình da đen trẻ tuổi của anh náu trong nhóm đồng bào của mình ở đầu kia sân ga. Khi đoàn tàu phụt hơi nước, cô vẫy tay nhưng anh không nhìn thấy cô; trong mắt anh chỉ hiện lên cái chết đang chờ đợi - chắng gì thì anh cũng là một phi công xuất sắc! - và cô quay trở lại với phố phường của thị trấn tăm tối, với vòng tay của một người đàn ông khác, trơ trẽn cười vang để giấu đi nỗi nhục nhã buồn thảm của mình.

[Trên nửa trang bên kia:]

Người đàn ông ở bộ phận chuyển thể hài lòng với đoạn này; bắt đầu thảo luận xem làm thế nào để cho câu chuyện “đỡ mếch lòng” giới lắm tiền - chẳng hạn vai nữ chính không nên là cô vợ thiếu thủy chung, vì như thế mọi người sẽ khó thông cảm cho cô ấy, mà nên dành cho con gái tay đầu bếp. Tôi bảo mình đã viết đoạn đó có tính giễu nhại, và thế là sau một lúc cau có, anh ta bật cười. Tôi quan sát khuôn mặt được khoác lên lớp mặt nạ khoan dung một cách chân thật, hiền hậu của anh ta, cũng chính là loại mặt nạ che giấu sự đồi bại trong giai đoạn này (chẳng hạn, đồng chí X, nhân vụ ba đảng viên cộng sản Anh bị sát hại trong nhà tù của Stalin, mang vẻ mặt giống hệt như thế khi nói: Chậc, nhưng chúng ta chưa bao giờ tính hết những điều vốn dĩ là bản tính của con người) và anh ta nói, “Chậc, cô Wulf, chúng ta biết rằng khi dùng bữa với quỷ, chiếc thìa không những phải dài mà còn phải làm bằng amiang(2) nữa cơ - đấy vẫn là một cốt truyện hết sức tuyệt vời và đáp ứng được các tiêu chuẩn của họ.” Khi tôi bảo vệ quan điểm của mình, anh ta vẫn bình tĩnh và hỏi, bằng giọng hết sức khoan dung cùng nụ cười không biết mệt mỏi, rằng tôi có thấy là dù ngành điện ảnh có yếu kém thế nào đi nữa thì người ta vẫn cho ra đời những bộ phim hay không. “Và thậm chí là cả những bộ phim mang theo thông điệp tiến bộ, thưa cô Wulf?” Anh ta vui mừng khi tìm ra một cụm từ chắc chắn sẽ làm tôi chú ý, và trưng nó ra; cái nhìn của anh ta vừa như tự khen ngợi vừa tàn nhẫn một cách cay độc. Tôi về nhà, cảm nhận được một sự ghê tởm đang dâng cao hơn bình thường khiến tôi phải ngồi xuống, buộc mình lần đầu tiên đọc cuốn tiểu thuyết kể từ khi nó được xuất bản. Cứ như là một người nào khác viết ra chứ không phải tôi. Nếu có ai đó bảo tôi đánh giá cuốn sách vào năm 1951, thời điểm nó ra đời, có lẽ tôi sẽ trả lời thế này, “Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay của một người có tài, tuy không quá tài năng. Sự mới lạ trong bối cảnh: một nhà ga giữa thảo nguyên Rhodesia, một cuộc đối đầu giữa những người thực dân da trắng tha hương chạy theo đồng tiền và những người da đen sưng sỉa bị bóc lột; sự mới lạ trong cốt truyện, mối tình giữa một chàng trai trẻ người Anh bị chiến tranh quăng quật vào Khu thuộc địa và một người phụ nữ da đen bán nguyên thủy, khiến người đọc quên đi rằng chủ đề này thực chất không hề mới lạ và chỉ được phát triển một cách hời hợt. Sự đơn giản trong phong cách của Anna Wulf chính là một điểm mạnh; nhưng còn quá sớm để kết luận đây là sự đơn giản mang dụng ý nghệ thuật, hay cái hình thức tưởng chừng như rất sắc nét này lại ngẫu nhiên đạt được nhờ cho phép những cảm xúc mạnh mẽ lèo lái hình hài cuốn tiểu thuyết.”

Nhưng kể từ năm 1954 trở đi:

“Tiểu thuyết khai thác bối cảnh châu Phi tiếp tục tràn ngập thị trường. Những biên giới chiến tranh có giọng kể khá kỹ thuật, bên cạnh đó là sự đóng góp đáng kể của những hiểu biết sâu sắc về các mối quan hệ tình dục thống khổ. Nhưng chắc chắn là không có gì mới mẻ lắm về xung đột giữa người da đen và người da trắng. Sự thù hận và tàn bạo tạo ra bởi rào cản màu da đã trở thành một điều đã được khai thác kỹ nhất trong văn chương của chúng ta. Câu hỏi thú vị nhất mà bản báo cáo mới về vấn đề chủng tộc này đặt ra là: trong khi những áp bức và căng thẳng thuộc địa châu Phi đã ít nhiều tồn tại dưới hình thức hiện nay suốt nhiều thập kỷ, tại sao chỉ vào cuối những năm bốn mươi và năm mươi chúng mới bước vào các tác phẩm nghệ thuật. Nếu biết được câu trả lời, chúng ta sẽ hiểu thêm về những mối quan hệ giữa xã hội với những tài năng mà nó tạo ra, giữa nghệ thuật với những mâu thuẫn nuôi dưỡng nó. Tiểu thuyết của Anna Wulf bắt nguồn từ một điều gì đó cao hơn sự phẫn nộ do tình đồng loại trước bất công: điều đó là tốt, nhưng không còn đủ nữa…”

Trong suốt giai đoạn ba tháng khi tôi viết điểm sách, mỗi tuần đọc mười cuốn sách hoặc thậm chí nhiều hơn, tôi khám phá ra một điều: sự hứng thú khi đọc những cuốn sách này chẳng liên quan gì đến cảm giác của tôi khi đọc - chẳng hạn - Thomas Mann, người cuối cùng của thế hệ nhà văn theo nghĩa cũ, những người đã sử dụng tiểu thuyết để đưa ra những tuyên ngôn triết lý về cuộc sống. Vấn đề là chức năng của tiểu thuyết dường như đang thay đổi; nó đã trở thành tiền đồn của báo chí; chúng ta đọc tiểu thuyết để lấy thông tin về những vùng đất sống mà chúng ta chưa biết - Nigeria, Nam Phi, quân đội Mỹ, làng của công nhân mỏ than, các nhóm hội nông dân ở Chelsea, vân vân. Chúng ta đọc để tìm hiểu xem điều gì đang diễn ra. Chỉ một trong năm trăm hay một ngàn cuốn tiểu thuyết là có yếu tố để trở thành một cuốn tiểu thuyết - yếu tố triết học. Tôi nhận ra rằng tôi đọc hầu hết các tiểu thuyết với cùng một cảm giác tò mò như khi đọc phóng sự. Hầu hết tiểu thuyết, nếu thực sự có chút thành công, thì đều mới mẻ, theo cái nghĩa chúng báo cáo cho người đọc biết được về sự hiện diện của một mảng xã hội, một loại người chưa được đưa vào nhận thức chung của chúng ta. Tiểu thuyết đã trở thành một chức năng của xã hội phân mảng, của ý thức phân mảng. Loài người đang bị chia nhỏ ra, ngày một chia nhỏ hơn, và trong bản thân mỗi người lại chia nhỏ thêm nữa, phản ánh trật tự mới của thế giới, đến nỗi họ tuyệt vọng vươn ra, một cách vô thức, để có được thông tin về những nhóm người khác bên trong đất nước mình, chưa kể các nhóm ở nước ngoài. Đấy là sự quờ quạng mù lòa nhằm nắm được sự nguyên vẹn của chính mình, và tiểu thuyết kiểu phóng sự là phương tiện để đạt được điều đó. Ở nước Anh này, tầng lớp trung lưu không biết gì về đời sống của những người lao động và ngược lại, nên các phóng sự, các bài báo và tiểu thuyết lại được bán xuyên biên giới, được đọc như thể người ta đang điều tra các bộ tộc hoang dã. Ngư dân ở Scotland là một loài khác hẳn so với những người thợ mỏ mà tôi đã từng chung sống ở Yorkshire; và cả hai đều đến từ một thế giới hoàn toàn khác biệt với khu nhà tập thể ở ngoại ô London.

Nhưng tôi lại không thể viết loại tiểu thuyết duy nhất khiến tôi có hứng thú: một tác phẩm được viết ra bởi một niềm đam mê dành cho tri thức hay cái thiện đủ mạnh để tạo ra một trật tự, tạo ra một cách nhìn mới về cuộc đời. Bởi vì tôi quá tản mạn. Tôi đã quyết định không bao giờ viết một cuốn tiểu thuyết nào nữa. Tôi có năm mươi “đề tài” để viết, và chúng đều khá cả. Nếu có một điều gì đấy mà chúng ta có thể khẳng định chắc chắn, thì đó là những cuốn tiểu thuyết có kỹ thuật và nhiều thông tin vẫn sẽ tiếp tục tuôn ra từ các nhà xuất bản. Phẩm chất duy nhất ở người cầm bút mà tôi có được, và cũng là phẩm chất ít quan trọng nhất, là tính hiếu kỳ. Tính hiếu kỳ của một phóng viên. Tôi chịu đựng sự giày vò từ cảm giác bất mãn và hụt hẫng vì không thể nào tiếp cận được một số lĩnh vực đời sống do bị cách sống, nền tảng giáo dục, giới tính, tư tưởng chính trị, giai cấp của tôi ngăn cản. Đây là căn bệnh của vài người thuộc loại ưu tú nhất giai đoạn này; một số có thể chịu đựng được áp lực mà nó gây ra, những người khác bị nó đè bẹp, đây là một sự nhạy cảm mới, một nỗ lực bán vô thức hướng tới một cách thấu hiểu mới bằng tưởng tượng. Nhưng như vậy là giết chết nghệ thuật. Tôi chỉ quan tâm đến việc mở rộng bản thân, sống càng trọn vẹn càng tốt. Khi tôi nói điều này với Mẹ Mật, bà trả lời bằng một cái gật đầu khe khẽ toát lên vẻ hài lòng mà mọi người vẫn dùng khi nhắc đến những sự thật lớn lao như thế, rằng người nghệ sĩ phải viết chỉ vì họ không thể sống. Tôi vẫn nhớ cảm giác buồn nôn khi nghe bà nói vậy, bây giờ khi viết ra tôi vẫn cảm thấy miễn cưỡng vì ghê tởm: đấy là vì nghệ thuật cũng như bản thân người nghệ sĩ đã bị hạ thấp quá mức, trở thành đặc tính của tất cả những tay nhà văn nghiệp dư cẩu thả, khiến bất cứ ai có mối liên hệ chân chính với nghệ thuật đều muốn chạy ra xa hàng trăm dặm để khỏi phải nhìn thấy cái cử chỉ khe khẽ gật đầu hài lòng và nụ cười thỏa mãn đó. Ngoài ra, khi một sự thật đã được khai thác quá nhiều - sự thật này đã trở thành chủ đề chính của giới nghệ sĩ trong thế kỷ này - khi nó đã trở nên khuôn sáo một cách kinh khủng, người ta bắt đầu tự hỏi: rốt cuộc thì nó có đúng hay không? Và người ta bắt đầu nghĩ về những cụm từ như “không thể sống”, “người nghệ sĩ” vân vân, để cho chúng âm vang và nhạt đi trong đầu, đấu tranh với cảm giác ghê tởm và mòn sáo, như tôi đã đấu tranh hôm đó khi ngồi trước mặt Mẹ Mật. Nhưng thật là phi thường vì cái món cũ rích này lại thật tươi mới và quyền uy khi xuất hiện từ miệng của giới phân tâm học. Mẹ Mật, đích thị là một phụ nữ có học thức, một người châu Âu đắm mình trong nghệ thuật, có thể nói những điều sáo rỗng như thế khi hành nghề, những chuyện mà khi có mặt bạn bè và không ở trong phòng khám thì hẳn bà sẽ thấy xấu hổ lắm. Một cấp độ cho đời sống thật, một cấp độ khác khi ở trên cái ghế bành của bác sĩ phân tâm. Tôi không chịu nổi điều này; rốt cuộc thì đây là điều mà tôi không thể nào chịu được. Bởi vì như thế có nghĩa là có một tiêu chuẩn đạo đức cho cuộc sống thật, và một tiêu chuẩn khác cho người bệnh. Tôi biết rất rõ cuốn tiểu thuyết đó, Những biên giới chiến tranh, đến từ cấp độ nào trong bản thân tôi. Tôi biết điều này khi viết cuốn sách. Lúc đó tôi ghét nó, và bây giờ tôi cũng ghét nó. Bởi cái phần đó trong bản thân tôi đã trở nên mạnh đến mức nó đe dọa nuốt chửng tất cả những điều khác, nên tôi phải đi gặp bà thầy mo, linh hồn sẵn sàng phơi bày trên tay. Nhưng ngay cả người cứu rỗi cũng mỉm cười thỏa mãn khi nhắc đến từ Nghệ thuật, người nghệ sĩ - con linh thú ấy - đủ biện minh cho tất cả, rằng mọi việc anh ta làm đều chính đáng. Nụ cười thỏa mãn, cái gật đầu thông cảm thậm chí nay không còn là của riêng những bác sĩ đầy học thức, hay các giáo sư, chúng đã thuộc sở hữu của những kẻ đổi tiền, của lũ chó hoang trong cánh báo chí, của kẻ thù. Khi có ông trùm nào đó trong ngành điện ảnh muốn mua một nghệ sĩ - và lý do thực sự cho việc ông ta tìm kiếm tài năng mới lạ và cái xuất thần của người sáng tạo chính là nhằm hủy hoại nó, dẫu không biết rằng đấy chính là điều ông ta muốn, và nhằm biện minh cho bản thân bằng cách hủy hoại một thứ gì đó chân chính - ông ta gọi nạn nhân là nghệ sĩ. Anh là nghệ sĩ mà, tất nhiên… và thường là nạn nhân gượng cười, nuốt hận.

Lý do thực thụ giải thích cho việc tại sao bây giờ lại có nhiều nghệ sĩ tham gia vào chính trị, vào “phụng sự xã hội” hay đại loại thế, là vì họ sẵn sàng chấp nhận một thứ kỷ luật, kỷ luật kiểu gì cũng được, để thoát khỏi nọc độc của từ “nghệ sĩ” mà kẻ thù sử dụng.

Tôi vẫn nhớ rất rõ khoảnh khắc cuốn tiểu thuyết ra đời. Tim tôi đã đập thình thịch; sau đó, khi tôi biết rằng mình sẽ viết, tôi phải nghĩ xem mình sẽ viết cái gì. “Đề tài” là một thứ gần như vô hình. Nhưng bây giờ, điều làm tôi quan tâm chính là điều này - tại sao tôi không viết theo kiểu kể lại những gì đã xảy ra, thay vì xây dựng một “câu chuyện” chẳng liên quan gì đến thứ chất liệu tạo nên nó. Đương nhiên, câu chuyện kể bình thường, đơn giản, không hình hài sẽ chẳng trở thành “tiểu thuyết”, và cũng sẽ chẳng được xuất bản, nhưng lúc ấy tôi thực sự không quan tâm đến việc “làm nhà văn” hay thậm chí đến việc kiếm tiền. Tôi đang không nói đến trò chơi mà nhà văn tự chơi với chính mình khi viết, trò chơi tâm lý - sự kiện được viết ra kia bắt nguồn từ sự kiện có thật nọ, nhân vật nọ được chuyển thể từ người kia trong cuộc sống, mối quan hệ này là bản sao tâm lý của mối quan hệ kia. Tôi chỉ đang tự hỏi mình: Tại sao lại cần có một câu chuyện - dù đấy chẳng phải một câu chuyện dở, giả tạo, hay làm cái gì đó giảm giá trị. Tại sao không cứ đơn giản là sự thật?

Tôi phát ốm lên khi nhìn vào bản tóm tắt giễu nhại, vào những bức thư của công ty phim, nhưng tôi biết điều khiến công ty phim hào hứng đến vậy trước khả năng chuyển thể cuốn tiểu thuyết sang điện ảnh cũng chính là yếu tố làm nên thành công cho cuốn tiểu thuyết. Cuốn tiểu thuyết “viết về” vấn đề sắc tộc. Trong đó, tôi không nói điều nào sai sự thật cả. Nhưng cái cảm xúc đã sinh ra nó lại là thứ gì đó rất đáng sợ, sự hào hứng phi luân đến bệnh hoạn, đến phát sốt gây ra bởi thời chiến, nỗi hoài nhớ giả tạo, nỗi khát khao được phóng túng, được tự do, được trở về với hoang dã, với sự vô định hình. Đối với tôi, rõ ràng là giờ tôi không thể nào đọc cuốn tiểu thuyết đó mà không cảm thấy xấu hổ, cứ như thể tôi ra đường mà không mặc áo quần. Nhưng dường như không có ai khác nhìn thấy điều đó. Những kẻ điểm sách không nhìn thấy. Các bạn vẫn đầy hiểu biết của tôi cũng không nhìn thấy. Đây là một cuốn tiểu thuyết phi luân lý, bởi vì nỗi hoài nhớ giả tạo kinh khủng kia hiển hiện trong từng câu văn. Và tôi biết rằng để viết được một cuốn khác, để viết được năm mươi bản báo cáo về xã hội mà tôi đang có đủ tư liệu để viết, tôi sẽ phải khơi lại cảm xúc đó một lần nữa. Và chính cảm xúc đó mới khiến năm mươi cuốn sách trở thành năm mươi cuốn tiểu thuyết chứ không phải là những thiên phóng sự.

Khi hồi tưởng lại thời gian đó, những kỳ cuối tuần ở khách sạn Mashopi với nhóm người đó, trước hết tôi sẽ phải đóng lại vài thứ trong tôi, bây giờ, khi đang viết ra những dòng này, tôi cũng phải đóng chúng lại, nếu không thì tôi sẽ cho ra đời “một câu chuyện”, một cuốn tiểu thuyết, chứ không phải sự thật. Điều này giống như khi ta nhớ lại một chuyện tình đặc biệt nồng cháy, hoặc một cơn ám ảnh tình dục. Thật phi thường thay, khi nỗi hoài nhớ trở nên sâu đậm hơn thì “những câu chuyện” lại bắt đầu hình thành, sinh sôi nảy nở như tế bào dưới ống kính hiển vi. Và nỗi hoài nhớ đó mạnh mẽ đến mức tôi chỉ có thể viết mỗi lần một vài câu. Chẳng có gì mạnh mẽ hơn cái tâm lý hư vô này, cái cảm giác giận dữ như ta có thể sẵn sàng vứt bỏ mọi thứ, và tự nguyện, háo hức trở thành một phần của quá trình tan rã. Cảm giác này là một trong những nguyên nhân lớn nhất khiến chiến tranh vẫn còn tiếp diễn trên trái đất. Và người nào đã đọc Những biên giới chiến tranh chắc hẳn sẽ nuôi dưỡng trong mình cảm giác này, cho dù họ không hề ý thức về nó. Đấy là lý do tại sao tôi lại cảm thấy xấu hổ, và tại sao tôi lại không ngừng có cảm giác như mình đã phạm tội.

Nhóm chúng tôi bao gồm những người tình cờ gặp gỡ nhau, ai cũng biết rõ là sẽ không gặp lại nhau nữa khi giai đoạn này của cuộc chiến kết thúc. Tất cả đều biết và thừa nhận một cách thẳng thắn là chúng tôi chẳng có điểm chung gì cả.

Bất chấp những cảm xúc mãnh liệt, những niềm tin và những điều tất yếu kinh khủng mà chiến tranh khơi dậy ở những vùng đất khác trên thế giới, tại đây, ngay từ đầu, chiến tranh đã được đặc trưng bằng cảm giác nước đôi. Có thể nhìn thấy ngay lập tức rằng, đối với chúng tôi, chiến tranh sẽ là một điều hết sức tốt đẹp. Khái niệm này chẳng có gì phức tạp đến mức cần phải có chuyên gia giải thích. Sự giàu có vật chất đã sờ sờ đến với Trung Phi và Nam Phi; mỗi người đều đột nhiên có thêm rất nhiều tiền, và thậm chí điều này đúng đối với cả người da đen, thậm chí là ở một nền kinh tế được thiết kế để đảm bảo họ chỉ có một số tiền tối thiểu để tồn tại và làm việc. Hàng hóa để cho ta tiêu tiền cũng chẳng thiếu thốn gì nghiêm trọng. Ít nhất là không thiếu đến mức ảnh hưởng tới việc hưởng thụ cuộc sống. Các nhà sản xuất địa phương bắt đầu chế tạo những mặt hàng trước đây phải nhập khẩu, đây là một cách khác để cho thấy chiến tranh có tính hai mặt - nơi đây từng có một nền kinh tế trì trệ, nhếch nhác, dựa trên lực lượng lao động vừa lạc hậu vừa thiếu hiệu quả, đến nỗi cần phải có một cú huých từ bên ngoài. Chiến tranh chính là cú huých kiểu đấy.

Còn một lý do nữa để giải thích cho cảm giác yếm thế - nói vậy là vì mọi người đã bắt đầu trở nên yếm thế, khi họ đã chán cảm giác xấu hổ. Chúng ta đã từng nghe khẳng định rằng cuộc chiến này là một phong trào thập tự chinh chống lại các học thuyết bệnh hoạn của Hitler, chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, vân vân, nhưng toàn bộ vùng đất mênh mông này - bằng khoảng một nửa tổng diện tích châu Phi, đã được điều hành dựa trên chính giả thuyết của Hitler: một số người cao quý hơn những người khác chỉ nhờ xuất thân chủng tộc. Người châu Phi trên khắp lục địa đen cười mỉa mai khi thấy các baas, các ông chủ da trắng của mình chiến đấu chống lại con quỷ phân biệt chủng tộc - những người châu Phi có được đôi chút học hành. Họ thích thú với cảnh các ông chủ da trắng háo hức xông lên, vượt biên giới tới bất cứ mặt trận nào chống lại chính cái tín điều mà họ sẵn sàng đổ đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ trên mảnh đất của mình. Trong suốt cuộc chiến tranh, báo chí tràn ngập những tranh cãi về việc liệu trao dù chỉ là một khẩu súng đồ chơi vào tay binh lính châu Phi có an toàn hay không, vì biết đâu họ sẽ quay ngược mũi súng lại với các ông chủ da trắng, hoặc sử dụng kiến thức hữu ích này về sau. Người ta kết luận, và cũng khá đúng, rằng như vậy không an toàn.

Sau đây là hai lý do rất xác đáng để giải thích tại sao cuộc chiến này mang lại cho chúng tôi, ngay từ buổi ban đầu, những điều trớ trêu thú vị.

(Một lần nữa tôi lại viện đến một cái giọng không đúng - nhưng tôi ghét cái giọng đó, dẫu rằng tất cả chúng tôi đều sống chung với nó trong nhiều tháng, nhiều năm, và nó gây vạ cho chúng tôi rất nhiều, tôi dám chắc chắn như vậy. Đó là một hình thức tự trừng phạt, là sự khóa cứng cảm xúc, là sự bất lực không thể hay khước từ không muốn ghép các mảnh trái ngược lại thành một chỉnh thể; để người ta có thể sống bên trong nó, bất chấp kinh khủng đến đâu. Hành động khước từ ấy có nghĩa là người ta không thể tạo ra sự thay đổi cũng không thể phá hủy; hành động khước từ ấy có nghĩa là đến cuối cùng mỗi cá thể hoặc phải chết, hoặc trở nên kiệt quệ.)

Tôi sẽ cố gắng chỉ viết ra các sự kiện. Đối với thế giới nói chung, cuộc chiến tranh gồm hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là khi mọi thứ rất tồi tệ và có khả năng thảm bại; giai đoạn này cuối cùng cũng đã kết thúc ở Stalingrad. Giai đoạn thứ hai chỉ đơn giản là kiên trì đến ngày thắng lợi.

Đối với chúng tôi, tôi muốn nói đến những người cánh tả và những người theo chủ nghĩa tự do thiên cánh tả, cuộc chiến tranh gồm ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là khi nước Nga phủ nhận chiến tranh. Hành động đó đã phong tỏa lòng trung thành của tất cả chúng tôi - khoảng dăm chục hay một trăm người lấy nguồn cảm hứng sống từ niềm tin vào Liên bang Xô viết. Giai đoạn này kết thúc khi Hitler tấn công nước Nga. Một nguồn sinh lực ngay lập tức bùng lên.

Mọi người quá dễ xúc động đối với chủ nghĩa cộng sản, hay nói đúng hơn là với các Đảng Cộng sản của chính mình, nên không thể nghĩ đến một đề tài mà một ngày nào đó sẽ trở thành đề tài của các nhà xã hội học. Đó là, các hoạt động xã hội diễn ra như là hệ quả trực tiếp hay gián tiếp từ sự hiện diện của một Đảng Cộng sản. Mọi người, hay các nhóm người, thậm chí còn không biết rằng họ đã được truyền cảm hứng, hoặc được truyền sức sống, hoặc thôi thúc muốn hòa mình vào cuộc sống nhờ Đảng, và thực tế này hoàn toàn đúng ở tất cả mọi quốc gia có Đảng Cộng sản, dù nhỏ. Trong thành phố bé nhỏ của chúng tôi, một năm sau ngày nước Nga tham chiến và khiến cánh tả hồi sinh, đã thấy xuất hiện (bên cạnh các hoạt động trực tiếp của đảng mà tôi không đề cập đến) một dàn nhạc nhỏ, các nhóm đọc sách, hai nhóm kịch, một hội điện ảnh, một đội khảo sát nghiệp dư về điều kiện sống của trẻ em da đen ở đô thị (việc công bố kết quả khảo sát đã khuấy động lương tâm của cộng đồng da trắng và đánh thức cảm giác ăn năn muộn màng) và cả nửa tá nhóm thảo luận về các vấn đề người da đen. Lần đầu tiên trong lịch sử hình thành của nó, trong thành phố có sự hiện diện của cái gọi là đời sống văn hóa. Nó đã mang lại niềm vui cho hàng trăm người vốn chỉ biết rằng cộng sản là một nhóm người đáng ghét. Và tất nhiên, rất nhiều hiện tượng kiểu đó đã bị phản đối bởi chính những người cộng sản khi ấy đang ở đỉnh cao nhiệt huyết và giáo điều. Nhưng chính những người cộng sản đã thúc đẩy chúng phát triển, bởi vì niềm tin tận tụy vào con người tựa như một dòng nước sẽ lan đi khắp mọi ngả.

Đối với chúng tôi, hồi đó (và điều này hoàn toàn đúng với toàn bộ các thành phố trên khắp châu Phi), một giai đoạn hoạt động căng thẳng bắt đầu. Giai đoạn này, giai đoạn của niềm tin hân hoan, kết thúc vào năm 1944, rất lâu trước khi kết thúc chiến tranh. Thay đổi này diễn ra không phải do bất kỳ sự kiện bên ngoài nào, chẳng hạn như thay đổi trong “đường lối” Liên Xô; mà bắt nguồn từ yếu tố nội tại, tự phát, và bây giờ nhìn lại, tôi có thể thấy nó gần như xuất hiện ngay từ ngày đầu thành lập nhóm “cộng sản”. Tất nhiên là tất cả các câu lạc bộ, nhóm thảo luận… đều tan rã khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu và bất cứ ai dành sự quan tâm nào cho Trung Quốc và Liên Xô đều trở thành đối tượng nghi ngờ chứ không còn được tính là hợp thời nữa. (Các tổ chức thuần túy mang tính văn hóa như dàn nhạc, nhóm kịch chẳng hạn thì vẫn tồn tại.) Nhưng khi tinh thần “cánh tả” hay “tiến bộ” hay “cộng sản,” - tùy xem từ nào là thích hợp, và với từng ấy thời gian đã trôi qua thì thật là khó nói - lên cao trong thành phố, thì các nhóm khởi xướng nó đã trở nên trì trệ, hoang mang, hoặc giỏi lắm thì cũng chỉ làm theo tinh thần trách nhiệm. Tất nhiên, vào thời điểm ấy, không một ai hiểu được, nhưng đó là điều hiển nhiên. Bây giờ thì ai cũng rõ rằng bên trong cơ cấu của một đảng hoặc một nhóm cộng sản luôn tồn tại nguyên tắc tự phân chia. Bất cứ đảng cộng sản nào ở bất cứ nơi đâu cũng đều tồn tại, thậm chí phát triển, theo quá trình đào thải các cá nhân và các nhóm lẻ; không phải do ưu khuyết điểm cá nhân, mà theo cách họ khớp hay không khớp với tính động nội tại của đảng ở từng thời điểm cụ thể. Trong cái nhóm nhỏ bé, nghiệp dư và quả thực nực cười của chúng tôi, không có điều gì xảy ra mà lại chưa từng có trong nhóm Iskra của Lenin những năm 1900-1905 ở London, thời điểm bắt đầu hình thành chủ nghĩa cộng sản có tổ chức. Nếu chúng tôi biết bất cứ một điều gì về lịch sử phong trào của mình, chắc hẳn chúng tôi đã thoát được khỏi tâm trạng hoài nghi, thất vọng, và hoang mang - nhưng đấy không phải là điều tôi muốn nói lúc này. Trong trường hợp chúng tôi, logic nội tại của “lãnh đạo tập quyền” đã khiến cho quá trình tan rã trở thành tất yếu, bởi vì chúng tôi không có chút liên hệ nào với các phong trào yếu ớt của châu Phi thời đó - đây là thời trước khi xuất hiện các phong trào giải phóng dân tộc, hoặc bất cứ hình thức công đoàn nào. Lúc đó, có một số người da đen đã bí mật gặp gỡ nhau ngay dưới mũi cảnh sát, nhưng họ không tin chúng tôi, bởi vì chúng tôi là người da trắng. Một vài người đến xin chúng tôi tư vấn về mặt kỹ thuật nhưng chúng tôi không thể nào biết được họ thực sự đang nghĩ gì trong đầu. Thực tế là một nhóm chính trị da trắng có tinh thần chiến đấu cao, được trang bị đầy đủ thông tin về phương thức tổ chức phong trào cách mạng, đang hoạt động trong chân không bởi vì quần chúng da đen chưa sẵn sàng nối dậy vào thời điểm đó, thậm chí trong vài năm sau cũng vậy. Và điều tương tự cũng xảy ra với Đảng Cộng sản ở Nam Phi. Các cuộc tranh luận, mâu thuẫn và tranh cãi bên trong nhóm của chúng tôi - đáng lẽ đã có thể thúc đẩy nó phát triển nếu như chúng tôi không phải là một thực thể ngoại lai, không gốc tích - đã hủy hoại chúng tôi nhanh chóng. Trong vòng một năm, nhóm của chúng tôi đã bị phân thành các tiểu nhóm, đầy rẫy những kẻ phản bội, còn các thành viên nòng cốt trung thành, ngoại trừ một hoặc hai người, thì không ngừng đến và đi. Do không hiểu được quá trình này nên chúng tôi dần bị bào mòn nguồn năng lượng tinh thần. Nhưng mặc dù nay đã hiểu rằng quá trình tự hủy hoại này bắt đầu đồng thời với sự ra đời của tổ chức, tôi vẫn không thể xác định được thời điểm nào thì sắc thái các cuộc nói chuyện và hành vi của chúng tôi thay đổi. Chúng tôi vẫn làm việc chăm chỉ, nhưng đi cùng với đó là một thái độ hoài nghi càng ngày càng trở nên sâu sắc. Và những câu chuyện đùa của chúng tôi, bên ngoài phạm vi các cuộc họp chính thức, đều ngược hẳn với những gì chúng tôi nói, ngược hẳn với những gì chúng tôi nghĩ rằng mình tin vào. Cũng nhờ chính giai đoạn đó của cuộc đời mà tôi biết cách quan sát lời nói đùa của mọi người. Một thái độ hơi ác ý, một chút giọng mỉa mai, trong quãng thời gian mười năm có thể biến tướng thành một khối u và hủy hoại cả một nhân cách. Tôi thường xuyên chứng kiến cảnh đó, và ở nhiều nơi khác chứ không riêng gì trong các tổ chức chính trị hay Đảng Cộng sản.

Nhóm mà tôi muốn nói đến được hình thành sau một cuộc chiến kinh khủng trong nội bộ “Đảng”. (Tôi phải đặt trong dấu ngoặc kép bởi vì nó chưa bao giờ được thành lập một cách chính thức mà tồn tại chủ yếu vì tình cảm.) Nó tách làm hai, vì một lý do chẳng quan trọng lắm - một lý do vớ vấn đến mức thậm chí tôi chẳng thể nào nhớ nổi nó là gì, chỉ nhớ mỗi sự kinh ngạc đáng sợ mà tất cả chúng tôi đều cảm nhận được khi một vấn đề nhỏ về mặt tổ chức lại có thể sinh ra ngần ấy hận thù cay đắng. Hai nhóm này thỏa thuận tiếp tục hợp tác với nhau - chúng tôi vẫn còn kha khá sự sáng suốt, nhưng chúng tôi có các chính sách khác nhau. Ngay cả đến bây giờ, tôi vẫn muốn bật ra một tiếng cười chán nản - mọi thứ thật vô nghĩa, thực tế là nhóm chúng tôi tựa như một nhóm lưu vong, với thói kèn cựa đến phát sốt của dân lưu vong chỉ vì những chuyện vặt vãnh. Và tất cả chúng tôi - khoảng trên dưới hai mươi người, đều là dân lưu vong; bởi vì suy nghĩ của chúng tôi đi trước quá xa so với sự phát triển của đất nước. Vâng, và bây giờ tôi nhớ rằng nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do một nửa tổ chức than phiền rằng có một số thành viên “không có gốc gác ở đây”. Chúng tôi tách ra theo ranh giới này.

Và bây giờ tôi sẽ viết về phân nhóm nhỏ bé của chúng tôi. Đầu tiên là ba người đàn ông thuộc trại không quân, đã từng biết nhau từ trước tại Oxford - Paul, Jimmy và Ted. Tiếp theo là George Hounslow, cai đường sá. Sau đó là Willi Rodde, dân tị nạn người Đức. Tôi. Maryrose, sinh ra và lớn lên ở đất nước này. Tôi là thành phần lẻ loi trong nhóm bởi vì tôi là người duy nhất còn tự do. Tự do theo nghĩa tôi tự quyết định đến Khu thuộc địa và có thể ra đi nếu muốn. Vậy mà tại sao tôi lại không ra đi? Tôi ghét nơi đây, và đã thấy ghét nó ngay khi vừa mới đến đây vào năm 1939 để lấy chồng và trở thành vợ của một nông dân trồng thuốc lá. Trước đó một năm, tôi gặp Steven khi anh đang đi nghỉ ở London. Đến trang trại của Steven hôm trước thì hôm sau tôi đã biết là mình thực sự thích anh, nhưng không thể nào chịu đựng được cuộc sống ở đây. Tuy nhiên, thay vì quay trở lại London, tôi vào thành phố và xin một chân thư ký. Trong nhiều năm liền, dường như đời tôi chỉ toàn những hành động được quyết định một cách tạm bợ, nhất thời, hời hợt, nhưng rồi tôi lại cứ tiếp tục làm theo những quyết định của mình. Chẳng hạn, tôi trở thành “người cộng sản” bởi vì trong thành phố chỉ có mỗi phe cánh tả là còn có chút đạo đức và coi rào cản về màu da là điều ghê tởm. Nhưng rồi trong tôi luôn tồn tại hai nhân cách, “người cộng sản” và Anna, và Anna lúc nào cũng phán xét người cộng sản. Và ngược lại. Tôi nghĩ đây là một dạng đờ đẫn. Tôi biết rằng chiến tranh sắp xảy ra, lúc đó sẽ rất khó mà về quê được, nhưng tôi vẫn ở lại. Tuy nhiên, tôi lại không thích thú gì với cuộc sống ở đây, tôi chẳng thích thú gì nhưng vẫn tham dự các buổi tiệc và khiêu vũ lúc hoàng hôn, chơi tennis và ngắm mặt trời. Những chuyện đó dường như đã xảy ra từ lâu lắm rồi đến nỗi tôi không thể mường tượng bản thân mình tham gia vào bất kỳ hoạt động nào như thế. Tôi không thể nhớ được cảm giác khi làm thư ký của ngài Campbell hay khiêu vũ hằng đêm là như thế nào nữa. Như thể những điều đó xảy ra với một người nào đó khác. Tôi có thể thấy lại hình ảnh của mình, nhưng ngay cả điều này cũng không phải là thật cho đến tận hôm kia, khi tôi tìm thấy tấm ảnh đen trắng cũ chụp một cô gái nhỏ bé, gầy guộc, mong manh, gần giống như búp bê. Tất nhiên là tôi sành sỏi hơn các cô gái sinh ra ở đây, nhưng ít kinh nghiệm hơn hẳn - ở xứ thuộc địa, người ta có nhiều tự do để làm điều mình thích hơn. Ở đây, các cô gái có thể làm những điều mà ở Anh tôi phải đánh nhau sứt đầu mẻ trán mới có được. Sự sành sỏi của tôi chỉ thể hiện ở mặt văn chương và xã hội. So với một cô gái như Maryrose, một người sở hữu vẻ bề ngoài mong manh dễ vỡ, thì tôi chỉ là đứa trẻ con. Trong ảnh, tôi đứng trên bậc thềm của câu lạc bộ, tay cầm vợt. Trông tôi toát lên vẻ thích thú và soi xét; khuôn mặt nhỏ bé, sắc cạnh. Tôi không bao giờ có được cái sự vui vẻ đáng ngưỡng mộ của Khu thuộc địa. (Tại sao lại là đáng ngưỡng mộ? Nhưng dù sao, tôi cũng thích nó.) Tuy nhiên, tôi không thể nhớ nổi cảm giác của mình lúc đấy là gì, chỉ nhớ rằng tôi tự nhắc mình hằng ngày, thậm chí kể cả sau khi chiến tranh đã nổ ra, là tôi phải đặt vé để về quê. Cùng khoảng thời gian này tôi gặp Willi Rodde và tham gia hoạt động chính trị. Không phải là lần đầu tiên. Tất nhiên là tôi còn quá trẻ nên không dính dáng gì đến chuyện Tây Ban Nha, nhưng bạn bè tôi thì có; vì vậy cộng sản và cánh tả không phải là điều gì mới mẻ đối với tôi. Tôi không thích Willi. Anh ta cũng không thích tôi. Nhưng chúng tôi bắt đầu sống chung với nhau, trong một chừng mực có thể, vì đó là một thành phố nhỏ đến mức anh làm việc gì thì hàng xóm đều biết hết. Chúng tôi thuê phòng trong cùng một khách sạn và ăn cơm cùng nhau. Chúng tôi sống chung như vậy trong gần ba năm trời. Nhưng chúng tôi không hề thích hay hiểu nhau. Thậm chí còn không hứng thú gì việc ngủ với nhau. Tất nhiên, lúc đó tôi còn non nớt, chỉ mới ngủ với mỗi mình Steven, mà cũng chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng ngay từ lúc đó tôi đã biết, và Willi cũng biết, là chúng tôi không hợp nhau. Giờ khi đã biết nhiều hơn về tình dục, tôi hiểu rằng không hợp là một khái niệm rất thực. Nó không có nghĩa là không yêu, không thông cảm, không kiên nhẫn, hay dốt nát. Hai người có thể không hợp với nhau về mặt tình dục nhưng lại cực kỳ hạnh phúc khi lên giường với người khác, cứ như là cấu trúc hóa học của cơ thể họ thù nhau vậy. Đúng vậy, Willi và tôi hiểu rất rõ điều này nên lòng tự ái của chúng tôi không hề bị sứt mẻ. Nhưng cảm xúc của chúng tôi thì có, và cũng chỉ ở điểm này mà thôi. Chúng tôi thấy tiếc cho nhau; cả hai đều mãi mãi thấy đau buồn với cảm giác bất lực bởi vì chúng tôi không thể mang đến sự thỏa mãn cho nhau trên phương diện này. Nhưng không điều gì ngăn chúng tôi đừng chọn đối tác khác. Vậy mà chúng tôi không hề có ai khác. Tôi không có người khác thì cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bởi cái phẩm chất mà tôi gọi là đờ đẫn, hoặc hiếu kỳ, khiến tôi tiếp tục giữ nguyên một điều gì đó mặc dù đáng lẽ đã phải thoát ra khỏi nó từ lâu. Yếu đuối? Cho đến khi viết ra từ này, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng nó được áp dụng với tôi. Nhưng có lẽ là thế. Tuy nhiên, Willi không hề yếu đuối. Ngược lại, anh là người nhẫn tâm nhất mà tôi từng biết.

Viết ra điều này, tôi thấy sửng sốt. Mình định nói gì thế nhỉ? Anh có những lúc làm những điều tốt đẹp lớn lao. Và bây giờ thì tôi nhớ ra rằng từ những năm đó, tôi đã phát hiện được một điều là bất kể tôi dùng từ gì để gán cho Willi thì cũng đồng thời có thể dùng từ ngược lại. Đúng vậy. Tôi vừa xem lại đống giấy tờ cũ của mình. Tôi tìm thấy một danh sách với tiêu đề Willi:

Nhẫn Tâm

Tốt Bụng

Lạnh Lùng

Ấm Áp

Đa Cảm

Thực tế

và một loạt những từ khác được viết kín trang giấy; và dòng cuối cùng tôi viết là, “Từ quá trình ghi lại những từ này về Willi, tôi mới khám phá ra một điều là tôi chẳng hiểu gì về anh. Nếu hiểu rõ một ai đó, người ta đã không phải lập ra danh sách từ như thế này.”

Nhưng điều mà tôi thực sự khám phá ra, mặc dù lúc đó tôi chưa nhận ra, là khi đem mô tả bất cứ một người nào, tất cả những từ ngữ vừa rồi đều vô nghĩa. Để mô tả một người, chúng ta sẽ viết, “Ngồi thẳng người bên cạnh chiếc bàn, Willi để cho đôi mắt kính tròn lấp lánh nhìn những người đang quan sát mình và nói, trang trọng nhưng pha vẻ hài hước thô vụng…” Đại loại như vậy. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ - đây cũng là một vấn đề ám ảnh tôi (và thật kỳ cục là sự ám ảnh này lại đã lộ diện, từ cách đây rất lâu, trong những bản danh sách dài dằng dặc liệt kê các từ trái nghĩa, hoàn toàn không biết nó sẽ trở thành cái gì), một khi tôi nói rằng những từ như tốt/xấu, mạnh/yếu là vô nghĩa, tôi đang chấp nhận sự phi luân lý, và tôi chấp nhận nó ngay khi bắt đầu viết “một câu chuyện”, “một cuốn tiểu thuyết”, bởi vì đơn giản một điều là tôi không quan tâm. Điều duy nhất tôi quan tâm là mô tả Willi và Maryrose thế nào để độc giả có thể cảm thấy họ chân thực. Và sau hai mươi năm sống chung với phe cánh tả, đồng nghĩa với hai mươi năm trăn trở với vấn đề luân lý trong nghệ thuật, đấy là tất cả những gì tôi có được. Vì vậy, trên thực tế, điều mà tôi đang muốn nói là, tính cách con người, cái ngọn lửa vô song ấy, là một thứ thiêng liêng đối với tôi đến mức mọi thứ khác đều trở nên mờ nhạt? Phải chăng đây là điều mà tôi đang muốn nói? Và nếu đúng vậy, thì điều đó có nghĩa là gì?

Nhưng hãy trở lại với Willi. Anh là trung tâm cảm xúc của phân nhóm chúng tôi, và, trước khi chúng tôi tách nhóm, đã từng là trung tâm của nhóm lớn - hiện nay, một người cũng mạnh mẽ như Willi đang lãnh đạo phân nhóm kia. Willi trở thành trung tâm bởi vì anh tuyệt đối tin tưởng rằng anh luôn đúng. Anh là bậc thầy về biện chứng; anh có thể rất lanh lợi và thông minh trong việc chẩn đoán một vấn đề xã hội nhưng ngay phút sau đã có thể trở nên giáo điều một cách ngớ ngẩn. Thời gian trôi đi, anh ngày càng trở nên cứng nhắc. Nhưng kỳ cục một điều là mọi người vẫn tiếp tục vây quanh anh, những người tinh tế hơn anh, ngay cả khi họ biết anh đang nói nhăng nói cuội. Ngay cả khi đến giai đoạn chúng tôi có thể cười trước mặt anh, và là cười anh, cười với những đoạn phi logic đến khủng khiếp mà anh nói, chúng tôi vẫn tiếp tục vây quanh anh và phụ thuộc vào anh. Thật đáng sợ khi điều này lại có thể là sự thật.

Chẳng hạn, trong lần đầu tiên anh thiết lập vai trò lãnh đạo, với sự chấp nhận của chúng tôi, anh bảo rằng anh là thành viên của một tổ chức bí mật hoạt động chống lại Hitler. Thậm chí còn kể những câu chuyện hoang đường về việc anh hạ ba tên S.S.(3), sau đó bí mật chôn xác chúng và trốn ra khỏi biên giới rồi sang nước Anh. Chúng tôi tin, tất nhiên. Tại sao lại không chứ? Nhưng thậm chí sau khi Sam Kettner, người quen của anh từ Johannesburg đến, nói với chúng tôi rằng ở Đức Willi chỉ là một người ủng hộ chủ nghĩa tự do không hơn không kém, chưa bao giờ tham gia bất cứ tổ chức chống Hitler nào, và chỉ rời nước Đức vì đã đến tuổi bị động viên, có vẻ như chúng tôi vẫn tin anh. Bởi vì chúng tôi tin anh đủ khả năng làm những điều đó ư? Đúng thế, tôi chắc là như vậy. Bởi vì, nói một cách ngắn gọn, ta chỉ có thể đánh giá con người qua những ảo tưởng của anh ta?

Nhưng tôi không muốn viết về tiểu sử của Willi - tại thời điểm đó tiểu sử như của anh là quá phổ biến. Anh là dân tỵ nạn tới từ châu Âu sành điệu, bị kẹt trong vũng nước tù trong suốt thời gian chiến tranh. Tôi muốn mô tả về tính cách của anh - nếu có thể. Vâng, điều đáng kể nhất ở anh là cách anh ngồi xuống, vạch ra mọi điều có thể xảy ra với anh trong mười năm tới, sau đó lên trước kế hoạch đối phó. Chẳng có điều gì khiến mọi người thấy khó hiểu hơn cảnh một người không ngừng lên kế hoạch đối phó với bất cứ sự kiện gì có thể xảy ra sau năm năm nữa. Người ta gọi đây là chủ nghĩa cơ hội. Nhưng rất hiếm người thực sự là kẻ cơ hội đúng nghĩa. Nó đòi hỏi người ta không những phải hiểu rõ mình, điều này không phải là khó; mà còn phải có nghị lực và ý chí ngoan cường, điều này mới hiếm. Chẳng hạn, trong suốt năm năm chiến tranh, sáng thứ Bảy nào Willi cũng uống bia (anh ghét bia) với một người của Phòng Điều tra Tội phạm (anh coi thường tay này) bởi vì anh tính toán rằng tay này có khả năng trở thành quan chức cao cấp vào thời điểm Willi cần đến hắn. Và anh đã đúng, bởi vì khi chiến tranh kết thúc, chính tay này đã tạo điều kiện cho Willi được nhập quốc tịch trước cả những người tỵ nạn khác. Và nhờ vậy, Willi được tự do rời khỏi Khu thuộc địa trước những người khác đến vài năm. Dù rốt cuộc anh đã quyết định không sống ở Anh mà quay lại Berlin; vì nếu chọn nước Anh thì lại cần phải có quốc tịch Anh - đại loại thế. Mọi việc anh làm đều được lên kế hoạch, tính toán kỹ lưỡng. Nhưng tất cả diễn ra công khai đến độ chẳng ai tin anh là người như thế cả. Ví dụ, chúng tôi nghĩ rằng anh thực sự thích tay điều tra kia trên phương diện cá nhân, nhưng cảm thấy xấu hổ khi phải thừa nhận rằng mình thích một “kẻ thù giai cấp”. Và khi Willi nói, “Nhưng hắn sẽ có ích cho tớ,” chúng tôi chỉ cười thông cảm như là đang cười một nhược điểm khiến anh trở nên người hơn.

Nói vậy là vì, dĩ nhiên, chúng tôi nghĩ anh thiếu nhân tính. Anh đóng vai trò chính ủy, người thủ lĩnh về tư tưởng. Nhưng anh lại là kẻ tiểu tư sản nhất mà tôi từng biết. Điều này có nghĩa là anh luôn hướng đến sự trật tự, đúng đắn, và bảo tồn nguyên trạng những gì đang tồn tại. Tôi còn nhớ Jimmy đã cười anh và nói rằng nếu anh lãnh đạo một cuộc cách mạng thành công vào thứ Tư thì hẳn là đến thứ Năm anh sẽ bổ nhiệm ngay một Bộ trưởng phụ trách Luân lý Cổ truyền. Willi đáp lại rằng anh là một người xã hội chủ nghĩa chứ không phải vô chính phủ.

Anh không chút thông cảm cho những kẻ yếu đuối, hoặc không có cảm xúc, hoặc kém thích nghi. Anh coi thường những kẻ để cho cảm xúc cá nhân làm đảo lộn cuộc sống. Nói như vậy không có nghĩa là anh không thể bỏ ra nhiều đêm liền để khuyên bảo một ai đó đang gặp rắc rối; những lời khuyên của anh có xu hướng khiến người nghe có cảm giác như anh ta kém cỏi hoặc vô giá trị.

Willi được nuôi dưỡng theo cái khuôn khổ không thể truyền thống hơn của tầng lớp trung lưu giàu có. Berlin cuối thập niên hai mươi và ba mươi của thế kỷ 20, một bầu không khí mà anh gọi là suy đồi, nhưng chính anh lại là một phần rất tích cực của nó; một chút quan hệ đồng tính ở tuổi mười ba, bị cô hầu gái quyến rũ khi lên mười bốn, và sau đó là tiệc tùng, đua xe, các nàng ca kỹ ở quán rượu; cố gắng cảm hóa một cô gái điếm bằng một cách thức ủy mị nhưng giờ đây anh lại trở nên yếm thế một cách ủy mị về hành động đó; coi thường Hitler theo cái cách của giới quý tộc, và lúc nào cũng rủng rỉnh tiền tiêu.

Anh ăn vận cực kỳ chỉn chu - ngay cả khi ở trong Khu thuộc địa và chỉ kiếm được vài bảng mỗi tuần; và lịch thiệp trong bộ đồ may bởi một thợ may người Ấn Độ với cái giá mười shilling. Vóc người anh tầm thước, gầy gò, hơi gù một chút, trên đầu là một mái tóc đen bóng cực mượt đã hói đi rất nhanh, trán cao và nhợt nhạt, đôi mắt pha màu xanh lá cây hết sức lạnh lùng thường khuất sau cặp kính cận dày cộp, chiếc mũi nhô cao và độc đoán. Anh thường kiên nhẫn lắng nghe mọi người nói, cặp kính lấp loáng, sau đó sẽ cất kính đi, để lộ ra đôi mắt, ban đầu còn yếu ớt và phải chớp chớp mấy cái để điều tiết, sau đó đột nhiên nheo lại và trở nên săm soi, rồi nói bằng một giọng giản dị vì ngạo mạn, khiến cho tất cả đều phải ngưỡng mộ. Đó là Wilhelm Rodde, nhà cách mạng chuyên nghiệp, người sau này (sau khi không xin được công việc lương cao tại một công ty ở London như mong đợi) đến Đông Đức (nhận xét bằng kiểu thẳng thắn đến tàn nhẫn thường ngày của anh: Người ta bảo rằng ở đấy sống rất ổn, có xe hơi và tài xế riêng) và trở thành quan chức với rất nhiều quyền lực trong tay. Và tôi chắc rằng anh là quan chức cực kỳ có năng lực. Tôi chắc rằng anh rất nhân bản, mỗi khi có thể. Nhưng tôi vẫn nhớ lúc anh ở Mashopi; tôi vẫn nhớ lúc tất cả chúng tôi ở Mashopi - bởi giờ đây, những năm tháng trắng đêm thảo luận và hoạt động ấy, thời chúng tôi làm con người chính trị, dường như ít thể hiện chúng tôi hơn thời ở Mashopi. Mặc dù đương nhiên, như tôi đã nói, điều đó chỉ đúng vì chúng tôi chỉ tham gia chính trị trong chân không chứ không có cơ hội thể hiện mình qua trách nhiệm chính trị.

Ba người đàn ông ở trại không quân chẳng có điểm gì chung ngoài bộ quân phục, mặc dù họ đã từng là bạn bè ở Oxford. Họ thừa nhận rằng khi chiến tranh kết thúc thì mối thân tình của họ cũng sẽ kết thúc. Thậm chí, đôi khi họ còn thừa nhận rằng họ thực sự không thích nhau, bằng lối nói bông lơn, nghiêm trọng, tự giễu mình rất phổ biến giữa chúng tôi trong suốt giai đoạn đó - giữa chúng tôi, tuy Willi là ngoại lệ, vì anh hạ mình sử dụng chất giọng hoặc phong cách của thời điểm đó chỉ là để người khác có thể tự do làm như vậy. Đấy là cách anh tham gia vào chủ nghĩa vô chính phủ. Ở Oxford, ba người này đều là đồng tính. Khi tôi viết ra và nhìn vào từ này, tôi nhận thấy nó có sức gây xáo trộn. Khi nhớ đến ba người này, rằng họ thế nào, tính cách của họ ra sao, tôi không thấy sốc hay xáo trộn gì. Nhưng trước từ đồng tính được viết ra giấy - vâng, tôi phải đấu tranh với sự ác cảm và bất an. Thật lạ thường. Tôi phải giảm bớt xáo trộn ấy bằng cách nói rằng, chỉ sau đó mười tám tháng, họ đã nói đùa về “giai đoạn đồng tính của chúng ta”, và tự giễu chính họ đã có những hành động chỉ đơn thuần là vì đua đòi. Họ thuộc một nhóm khoảng hai mươi người không thân thiết lắm, tất cả đều hơi cánh tả một chút, hơi văn chương một chút, và đều có quan hệ tình dục với nhau bất kể giới tính. Và một lần nữa, nói như vậy là hơi quá đáng. Đấy là giai đoạn đầu của cuộc chiến; họ đang chờ gọi nhập ngũ; sau này khi nhớ lại, có thể thấy là họ đã cố tình tạo ra một trạng thái vô trách nhiệm như một cách phản đối, và tình dục là một phần trong đó.

Người đáng chú ý nhất trong bộ ba này, nhưng chỉ về độ quyến rũ thôi, là Paul Blackenhurst. Anh là chàng trai trẻ mà tôi sử dụng để xây dựng nhân vật “chàng phi công trẻ tuổi hào hoa” đầy nhiệt tình và lý tưởng trong Những biên giới chiến tranh. Trên thực tế, anh chẳng có chút nhiệt tình dành cho bất kể cái gì, nhưng anh tạo được ấn tượng như thế bởi vì anh hào hứng tán đồng những điều dị thường về cả mặt đạo đức lẫn xã hội.

Bản chất lạnh lùng bị che giấu dưới lớp vỏ quyến rũ và một chút thanh nhã trong mọi hành động của anh. Anh cao lớn, vạm vỡ, cường tráng, nhưng động tác rất nhanh nhẹn và nhẹ nhàng. Gương mặt anh tròn, đôi mắt cũng tròn và xanh thẳm, nước da cực kỳ trắng và không có một chút tàn nhang, ngoại trừ một chút lấm tấm trên cái sống mũi duyên dáng. Anh có một mớ tóc dày và mềm lúc nào cũng rủ xuống trán. Khi ra nắng, nó tuyền một màu vàng rực, còn trong bóng tối là màu nâu vàng ấm áp. Đôi lông mày rất gọn gàng cũng có cái vẻ lấp lánh như vậy. Khi gặp bất kỳ ai, anh đều nhìn họ bằng ánh mắt xanh nhạt hết sức nghiêm nghị, dò hỏi một cách lịch sự và cực kỳ trân trọng, thậm chí hơi cúi người về phía trước để thể hiện sự chân thành của mình. Lúc mới gặp, giọng anh hạ thấp như thể đang thì thào, vừa trân trọng lại vừa quyến rũ. Rất ít người cưỡng lại được chàng trai trẻ đáng yêu tràn đầy (mặc dù tất nhiên là không phải anh cố tình như vậy) xúc cảm trong bộ quân phục đó. Phải rất lâu sau, hầu hết mọi người mới phát hiện ra rằng anh đang chế giễu họ. Tôi đã từng chứng kiến nhiều phụ nữ, thậm chí cả đàn ông, khi hiểu ra ý nghĩa của những câu nói nhỏ nhẹ nói bằng giọng cố tình kéo dài đầy ác ý của anh, đã tái cả người vì sốc; sau đó nhìn anh với vẻ ngờ vực rằng liệu có thể nào một vẻ vô tư nhường ấy lại có thể đi kèm với sự thô lỗ cố tình như vậy. Trên thực tế, anh cực kỳ giống Willi, nhưng chỉ ở bản tính ngạo mạn. Đấy là sự ngạo mạn của tầng lớp thượng lưu. Anh là một gã người Anh, thuộc tầng lớp trung lưu giàu có, vô cùng thông minh. Bố mẹ anh cũng là người có địa vị; bố anh là một nhà quý tộc hoặc đại loại như thế. Anh có được sự tự tin tuyệt đối như vậy là nhờ xuất thân từ gia đình dòng dõi giàu có lâu đời, không bao giờ phải lo nghĩ về chuyện tiền bạc. “Gia tộc” anh, tất nhiên là được anh nhắc đến với vẻ chế giễu, phân bố trên khắp các nhánh thuộc giới thượng lưu của xã hội Anh. Anh thường nói, giọng kéo dài, “Mười năm trước, tôi có thể tuyên bố rằng nước Anh thuộc về tôi và tôi biết rõ như vậy! Tất nhiên, chiến tranh sẽ loại bỏ điều đó, phải không nào?” Và nụ cười của anh cho thấy anh chẳng tin chút nào vào điều đó, và hy vọng rằng chúng tôi vì quá thông minh mà sẽ không tin theo. Theo kế hoạch, khi chiến tranh kết thúc anh sẽ về khu City. Anh nói về điều đó cũng bằng giọng chế giễu, “Nếu tôi lấy được vợ khá,” anh nói, chỉ có hai bên khóe miệng của anh là để lộ ra vẻ thích thú, “tôi sẽ trở thành một đầu tàu về kinh tế. Tôi có trí thông minh, có học vấn và có hậu phương tốt, chỉ cần mỗi tiền. Nếu lấy phải vợ xoàng, tôi sẽ chỉ là trung úy - như thế lại càng vui, tất nhiên, sẽ phải nghe lệnh người khác nhưng lại chịu ít trách nhiệm hơn.” Nhưng tất cả chúng tôi đều biết ít nhất anh sẽ đeo lon đại tá. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là kiểu nói chuyện như thế vẫn tiếp tục diễn ra khi nhóm “cộng sản” đang giai đoạn mạnh nhất. Một nhân cách cho phòng họp, một nhân cách khác khi ở quán cà phê. Nghe vậy nhưng điều này không hề phù phiếm; bởi vì nếu Paul dính vào một phong trào nào đó có thể sử dụng đến tài năng của anh, chắc chắn anh sẽ gắn bó với nó; y hệt như Willi, không thể nào đạt được mục tiêu trở thành cố vấn kinh doanh thời thượng (bẩm sinh dành cho anh) thì sẽ trở thành một tay cốp cộng sản. Không, giờ đây nhìn lại tôi thấy rằng những điểm dị thường và tinh thần hoài nghi của thời đó chỉ là phản chiếu lại những điều có thể xảy ra mà thôi.

Cùng với đó, anh đùa cợt về “hệ thống”. Anh chẳng có chút lòng tin nào vào nó, và chẳng cần nói thì ai cũng hiểu, việc anh chế giễu nó là hoàn toàn chân thành. Nhưng trong vai trò là một trung úy tương lai, anh sẽ dành cho Willi ánh nhìn màu xanh dương trong trẻo và dài giọng, “Tớ đang sử dụng thời gian của mình một cách hữu ích, cậu bảo có đúng không? Theo dõi các đồng chí. Tớ rồi sẽ có một xuất phát thần tốc vượt qua các trung úy đối địch, phải không nào? Đúng vậy, tớ sẽ hiểu kẻ thù. Có thể là cậu đấy, Willi thân mến ạ. Đúng vậy.” Nghe những lời này, Willi nhăn nhó khẽ cười tán thưởng. Thậm chí, có lần anh nói, “Các cậu thì ổn quá rồi còn gì, còn có chỗ mà đi về. Tớ là dân tỵ nạn.”

Họ thích chơi với nhau. Mặc dù Paul thà chết còn hơn phải thừa nhận (trong vai trò là một sĩ quan tương lai) rằng anh nghiêm chỉnh quan tâm đến một điều gì đó, anh lại rất say mê môn lịch sử, vì anh cảm nhận được niềm vui thích khi nghiên cứu về nghịch lý - đối với anh, đấy chính là bản chất của lịch sử. Và Willi cũng có chung niềm đam mê này - đối với lịch sử, không phải đối với nghịch lý… Tôi nhớ anh đã từng nói với Paul, “Chỉ một tên tài tử đích thực mới đi coi lịch sử là một chuỗi những điều, về xác suất, khó có thể xảy ra,” còn Paul trả lời, “Nhưng bạn Willi thân mến ơi, tớ là thành viên của một tầng lớp chờ chết, và cậu đáng lẽ phải là người đầu tiên hiểu tại sao tớ không thể có bất cứ thái độ nào khác?” Mắc kẹt trong câu lạc bộ sĩ quan với đám đàn ông mà phần lớn bị anh coi là đần độn, Paul thèm những cuộc trò chuyện nghiêm túc, mặc dù chẳng bao giờ anh thừa nhận thế, và tôi dám chắc rằng anh gắn bó với chúng tôi bởi vì chúng tôi mang điều này đến cho anh. Một lý do nữa là anh yêu tôi. Nhưng tất cả chúng tôi, vào lúc này hay lúc khác, đều yêu nhau. Như lời Paul giải thích, đấy là vì “vào thời chúng ta đang sống, người ta bắt buộc phải yêu càng nhiều người càng tốt.” Không phải anh nói như thế vì cảm thấy rằng anh sẽ chết. Anh không tin là ở một thời điểm nào đó anh sẽ chết. Anh đã tính toán xác suất sống sót của mình, bây giờ tình thế đã tốt đẹp hơn nhiều so với trước đó, trong suốt Trận đánh tại Anh(4). Anh học lái máy bay oanh tạc, ít nguy hiểm hơn so với máy bay chiến đấu. Và bên cạnh đó, một người chủ của anh là sĩ quan cấp cao trong không quân đã yêu cầu và quyết định (có lẽ là dàn xếp) để Paul đi đồn trú không phải ở Anh mà ở Ấn Độ, nơi có mức độ thương vong tương đối nhẹ. Tôi nghĩ Paul thực sự không có “dây thần kinh sợ hãi”. Hay nói cách khác, các dây thần kinh của anh, vốn được bảo bọc từ khi mới sinh, không có thói quen phát ra những dự cảm xấu. Họ - những người bay chung với anh - bảo tôi rằng anh luôn điềm tĩnh, tự tin, chính xác, và là một phi công bẩm sinh.

Về mặt này, anh khác hẳn Jimmy McGrath, cũng là một phi công giỏi, nhưng gặp cái gì cũng sợ. Jimmy thường tới chỗ tôi sau một ngày bay và nói rằng anh phát ốm vì căng thẳng. Anh sẽ thú nhận là đã nhiều đêm anh không ngủ vì căng thẳng. Anh sẽ rầu rĩ tâm sự với tôi rằng anh linh cảm thấy ngày mai anh sẽ chết. Và ngày hôm sau anh lại gọi điện cho tôi từ trại để nói rằng linh cảm của anh đã đúng vì trên thực tế anh đã “suýt phá tan cánh diều của mình” và việc anh không chết chỉ đơn thuần là nhờ may mắn. Đối với anh, đợt huấn luyện là nỗi đau khổ không dứt.

Nhưng Jimmy đã lái máy bay oanh tạc, lái rất giỏi nữa là đằng khác, qua bầu trời nước Đức trong suốt giai đoạn cuối chiến tranh, khi chúng ta đang bằm nát các thành phố của Đức một cách có hệ thống. Anh bay liên tục suốt hơn một năm, và chẳng hề hấn gì.

Paul chết vào đúng hôm cuối cùng trước khi anh rời Khu thuộc địa. Anh được điều tới Ấn Độ, như vậy chú anh đã đúng. Trong buổi tối cuối cùng đó, anh nhậu với chúng tôi. Thông thường, anh uống rất chừng mực, ngay cả lúc giả vờ nhậu tới bến với cả lũ chúng tôi. Đêm đó, anh nhậu say bí tỉ, đến mức Jimmy và Willi phải lôi vào phòng tắm trong khách sạn để giải rượu. Khi mặt trời sắp mọc anh mới trở về trại để chào tạm biệt bạn bè. Theo lời kể của Jimmy, anh đứng trên đường băng trong trạng thái lơ mơ vì rượu, ánh mặt trời bình minh chiếu vào mắt - mặc dù tất nhiên là Paul không bao giờ thể hiện tình trạng thật của mình. Một chiếc máy bay hạ cánh ở cách đây vài bước chân. Paul quay lại, mắt bị lóa nên bước thẳng vào cánh quạt. Chân anh bị cắt cụt ngay dưới háng và anh chết ngay lập tức.

Jimmy cũng thuộc tầng lớp trung lưu, nhưng là dân Scotland chứ không phải dân Anh. Tính cách anh chẳng có chút dáng dấp của dân Scot, ngoài lúc anh say và lúc anh trở nên đa cảm về những tội ác của người Anh thời xửa xừa xưa, chẳng hạn như vụ Glen Coe(5). Giọng anh bắt chước lối nói cố tình kéo dài giọng của dân Oxford một cách cực phóng đại. Giọng này đã không hẳn là lọt tai ở Anh, nhưng ở một khu thuộc địa thì nghe rất nực cười. Jimmy biết điều này nên luôn cố tình nhấn mạnh thêm mỗi khi gặp người nào đó mà anh không thích. Đối với chúng tôi, những người được anh thích, anh luôn nói lời xin lỗi. Anh nói, “Nhưng xét cho cùng, tớ biết như thế là ngớ ngẩn, nhưng chất giọng đắt giá này sẽ là cần câu cơm của tớ sau khi kết thúc chiến tranh đấy.” Và vậy là cũng giống như Paul, Jimmy không chịu tin - ít nhất là trên một trong những cấp độ nhân cách của anh - vào tương lai của chủ nghĩa xã hội mà anh đang xây dựng. Gia đình anh không được hoành tráng như gia đình Paul. Hay nói đúng hơn, anh thuộc một chi đã bị sa sút trong họ. Bố anh là một đại tá bất mãn từng phục vụ ở Ấn, đã nghỉ hưu - bất mãn, như lời Jimmy nhấn mạnh, bởi vì, “Ông ấy chẳng phải là đại tá xịn. Ông thích người Ấn, ông theo đuổi cả sự nhân đạo lẫn Phật giáo - trời ạ!” Jimmy kể, ông đã chết vì nốc rượu; nhưng tôi nghĩ điều này được đưa ra chỉ để cho thêm hương thêm hoa, bởi vì anh còn cho chúng tôi xem những bài thơ ông già tự sáng tác; và có lẽ anh ngầm tự hào về ông. Anh là đứa con độc nhất trong gia đình, ra đời khi người mẹ kính yêu của anh đã ngoài bốn mươi tuổi. Lúc mới nhìn qua, dễ dàng có ý nghĩ vóc người Jimmy giống hệt Paul. Đứng cách xa cả cây số, người ta có thể thấy là họ cùng một bộ tộc, rất khó phân biệt. Nhưng nhìn gần, sự giống nhau chung càng làm nổi bật sự khác nhau đến từng chân tơ kẽ tóc giữa hai người. Jimmy nặng cân, gần như là ục ịch; anh di chuyển một cách nặng nề; bàn tay anh lớn nhưng ngắn, giống như tay trẻ con. Cũng làn da trắng không tàn nhang, cũng đôi mắt xanh nước biển như Paul, nhưng ở anh thiếu đi vẻ duyên dáng, cái nhìn của anh trông đáng thương và toát lên vẻ khẩn cầu người khác hãy thích mình, rất trẻ con. Tóc anh nhạt màu và rủ xuống thành những lọn bết nhãy. Gương mặt anh như lời anh nói vui, là một gương mặt suy đồi. Nó quá đầy, quá mọng, gần như là nhẽo xuống. Anh không phải là người tham vọng, chẳng có mong ước gì khác ngoài trở thành giáo sư lịch sử một trường đại học nào đó, và anh đã đạt được. Không giống như những người khác, anh là dân đồng tính thực sự, mặc dù anh chẳng thích thú gì với điều này. Anh yêu Paul, nhưng cũng đồng thời khinh thường Paul và cũng khiến Paul khó chịu. Mãi sau này, anh mới lấy một người phụ nữ hơn anh mười lăm tuổi. Năm ngoái, anh viết cho tôi một bức thư mô tả cuộc hôn nhân này - rõ ràng là anh viết trong lúc đang say xỉn và, có thể nói là để gửi cho quá khứ. Họ ngủ với nhau trong vài tuần, bà ta không mấy thích thú còn anh thì chẳng cảm thấy gì, “mặc dù tớ đã để hết tâm trí vào chuyện đó, cam đoan là như vậy!” Rồi bà ta có thai, và quan hệ tình dục giữa hai người cũng chấm dứt. Tóm lại là giống hầu hết các cuộc hôn nhân khác ở Anh. Có vẻ như vợ anh chẳng nghi ngờ gì về việc chồng mình có bình thường hay không. Anh phụ thuộc khá nhiều vào vợ, và nếu bà ta chết tôi nghĩ chắc anh sẽ tự tử mất, hoặc chí ít thì cũng là chìm đắm trong rượu.

Ted Brown là người độc đáo nhất. Sinh ra trong một gia đình lao động đông con, trong suốt cuộc đời mình anh giành được nhiều học bổng và cuối cùng là học bổng tại Oxford. Trong ba người, anh là người xã hội chủ nghĩa chân chính duy nhất - tôi muốn nói rằng chủ nghĩa xã hội ăn sâu trong bản năng, trong máu thịt anh. Willi vẫn thường kêu ca rằng Ted cư xử như thể anh sống trong một thể chế xã hội chủ nghĩa phát triển rực rỡ hoặc như thể anh lớn lên trong một kibbutz(6) khỉ gió nào đó.” Khi đó Ted sẽ nhìn Willi, cảm thấy bối rối thực sự: anh không hiểu tại sao đó lại được coi là một lời chỉ trích. Rồi anh nhún vai và bỏ qua Willi để tập trung vào một thứ gì đó khác. Anh là một thanh niên năng nổ, nhanh nhẹn, mảnh khảnh, gầy gò, tóc đen bù xù, mắt nâu nhạt, lúc nào cũng thiếu tiền - anh cho người khác hết; quần áo lộn xộn - anh không có thời gian thu dọn hoặc không thì cũng là cho hết; không có thời gian cho bản thân vì anh dành hết thời gian cho người khác. Anh đam mê âm nhạc, và đã tự học được khá nhiều, đam mê văn học và đam mê đồng loại, những người anh coi là nạn nhân - dĩ nhiên trong đó có cả anh - của một âm mưu khổng lồ, gần như bao trùm vũ trụ, nhằm tước đoạt đi bản chất thực sự của họ. Tức là bản chất đẹp đẽ, hào phóng và tốt lành. Đôi khi anh nói là thích được làm đồng tính. Điều này có nghĩa là anh có rất nhiều người để mà bảo trợ. Trên thực tế, anh không chịu nổi việc các thanh niên khác cùng tầng lớp với anh không có điều kiện thuận lợi như anh. Anh thường tìm một tay thợ may lanh lẹ nào đó trong trại; hoặc một cậu thanh niên nào đó đến dự các buổi họp trong thành phố vì thực sự quan tâm chứ không phải vì không có việc gì khác hay hơn; rồi anh sẽ túm lấy cậu ta, bắt đọc sách, hướng dẫn về âm nhạc, giải thích cho cậu ta rằng cuộc sống là một cuộc thám hiểm vinh quang, sau đó sẽ đến chỗ chúng tôi để kể rằng “khi thấy một con bướm bị kẹt dưới đá, người ta phải cứu lấy nó.” Anh luôn lao vào khách sạn với một tay trẻ tuổi ngu ngơ, mắt tròn mắt dẹt nào đó, yêu cầu chúng tôi hãy “tiếp nhận em nó”. Chưa bao giờ chúng tôi từ chối. Trong suốt hai năm ở Khu thuộc địa, Ted đã cứu được cả chục con bướm, tất cả đều dành cho anh một sự tôn trọng đầy trìu mến. Anh yêu cả đám bọn họ. Anh thay đổi cuộc đời họ. Sau khi kết thúc chiến tranh, anh vẫn giữ liên hệ với họ từ nước Anh, bắt họ học tập, hướng cho họ vào Công đảng - lúc này anh không còn là cộng sản nữa; và lo đảm bảo sao cho họ khỏi ngủ đông, như lời anh nói. Anh lấy một cô gái Đức, một mối tình rất lãng mạn và vượt qua mọi ý kiến phản đối, sinh được ba đứa con, dạy tiếng Anh tại một trường học dành cho trẻ em chậm phát triển. Anh là một phi công giỏi, nhưng thật chẳng ngạc nhiên gì khi anh cố tình thì trượt trong những bài kiểm tra cuối cùng, bởi vì lúc đó anh đang trong giai đoạn vật lộn với linh hồn của một chú bò mộng trẻ tuổi người Manchester nhất định không theo con đường âm nhạc và kiên quyết gắn bó với bóng đá chứ không phải văn chương. Ted giải thích với chúng tôi rằng cứu một con người ra khỏi bóng tối quan trọng hơn việc đưa thêm một phi công vào chiến trường, bất kể phe phát xít có tồn tại hay không. Vì vậy anh ở lại mặt đất, sau đó được chuyển về nước Anh phục vụ ở các mỏ than, và công việc này khiến phổi anh bị ảnh hưởng suốt đời. Mỉa mai thay, chàng trai trẻ khiến anh phải chịu cảnh này lại là người duy nhất không chịu nghe lời anh.

Khi bị thải ra khỏi mỏ than vì không đủ năng lực, anh tìm đường đến Đức trong vai trò một nhà giáo dục. Cô vợ Đức đã giúp ích cho anh rất nhiều, vì cô là người thực tế, tháo vát và là một y tá giỏi. Bây giờ Ted cần được chăm sóc. Anh cay đắng than thở rằng tình trạng hai lá phổi buộc anh phải “ngủ đông”.

Ngay cả Ted cũng bị chịu ảnh hưởng bởi tâm trạng chung. Anh không thể nào chịu nổi những cuộc cãi cọ gay gắt trong nhóm chúng tôi, và việc tách nhóm đã trở thành giọt nước làm tràn ly, “Rõ ràng tớ không phải là người cộng sản,” anh ủ rũ nói với Willi, giọng cay đắng, “bởi vì những việc chẻ sợi tóc làm tư thế này là vô nghĩa đối với tớ.”

“Ừ, chắc chắn là không phải rồi,” Willi trả lời, “tớ đang tự hỏi xem phải mất bao lâu cậu mới nhìn thấy điều đó.” Hơn hết thảy mọi chuyện, Ted bực mình bởi vì tính logic của các tranh luận trước đó đã dẫn anh đến với phân nhóm do Willi phụ trách. Trong ý nghĩ của anh, lãnh đạo của nhóm kia, một hạ sĩ trong trại không quân và là một tay Mác-xít kỳ cựu, là “một gã quan liêu già nhăn”, nhưng xét trên khía cạnh con người, anh lại thích lão ta hơn Willi. Nhưng anh đã đi theo Willi… điều này dẫn tôi tới những thứ mà trước đó tôi chưa bao giờ nghĩ tới. Tôi đang liên tục dùng từ nhóm. Một tập thể những con người. Một thứ sẽ khiến người ta nghĩ ngay đến mối quan hệ tập thể - và thực tế là ngày nào chúng tôi cũng gặp nhau, trong nhiều tháng liền, mỗi ngày hàng tiếng đồng hồ liên tục. Nhưng giờ khi nhìn lại, nhìn lại để thực sự nhớ về những gì đã xảy ra, mọi việc không hoàn toàn như thế. Chẳng hạn, tôi không nghĩ là Ted và Willi có nói chuyện thân tình với nhau bao giờ - đôi lúc họ còn châm chọc lẫn nhau. Không, có một lần họ thực sự mặt đối mặt với nhau, nhưng là trong một cuộc tranh cãi nảy lửa. Cuộc tranh cãi xảy ra trên hàng hiên khách sạn ở Mashopi, dù không nhớ nội dung của nó là gì nhưng tôi vẫn nhớ Ted hét lên, “Cậu là loại người sẵn sàng bắn năm mươi người trước bữa sáng mà sau đó vẫn ăn được sáu món. Không, cậu sẽ sai một người khác bắn họ, cậu sẽ làm như vậy.” Và Willi trả lời, “Đúng vậy, nếu cần tớ sẽ làm thế…” Và cứ tiếp tục như thế trong khoảng một giờ hoặc hơn, trong khi những cỗ xe bò lăn qua giữa đám bụi trắng của trảng cát, những chuyến tàu hỏa ầm ầm chạy qua trên tuyến đường nối liền Ấn Độ Dương với thủ đô, trong khi những người nông dân mặc đồ kaki nhậu trong quán bar, và các nhóm người da đen tìm việc làm đi lại vẩn vơ dưới gốc cây lan dạ hương, giờ này sang giờ khác, kiên nhẫn chờ đến lúc ông chủ lớn Boothby có thời gian rảnh rỗi để phỏng vấn họ.

Còn những người khác? Paul và Willi thì thảo luận về lịch sử - triền miên không dứt. Jimmy cãi nhau với Paul - thường là về đề tài lịch sử, nhưng trên thực tế, Jimmy chỉ nói đi nói lại không biết chán một điều rằng Paul phù phiếm, lạnh lùng và vô tâm. Nhưng Paul và Ted lại chẳng có chút liên hệ nào với nhau, thậm chí họ còn không thèm cãi nhau. Còn tôi, tôi đóng vai “bạn gái thủ lĩnh” - một thứ hồ kết dính, một vai trò cổ xưa. Và tất nhiên, nếu mối quan hệ của tôi với bất cứ ai trong số những người này sâu sắc hơn một chút, chắc hẳn tôi sẽ gây ra rắc rối chứ không thể đóng vai người hàn gắn. Ngoài ra còn có Maryrose, người đẹp không ai có thể với tới. Vậy thì nhóm này là cái gì? Điều gì gắn kết mọi người trong nhóm lại với nhau? Tôi nghĩ đây là mối ác cảm xen lẫn hứng thú không bao giờ thay đổi mà Paul và Willi dành cho nhau, hai người tuy rất giống nhau nhưng lại được số phận dành sẵn những tương lai khác hẳn nhau.

Vâng. Willi, với thứ tiếng Anh chuẩn, giọng yết hầu, và Paul, với cách phát âm thú vị, tinh tế - hai giọng nói, giờ này sang giờ khác, ban đêm, ở khách sạn Gainsborough. Đấy là điều tôi nhớ rõ ràng nhất về nhóm trong suốt quãng thời gian này, trước khi chúng tôi đến Mashopi và mọi thứ đều thay đổi.

Khách sạn Gainsborough thực chất là một khu nhà trọ, một nơi cho người ta lưu trú lâu dài. Hầu hết nhà trọ trong thành phố đều có xuất phát điểm là nhà riêng, chắc chắn là tiện nghi hơn, nhưng lại lịch sự đến bất tiện. Tôi ở lại một nhà trọ trong một tuần rồi chuyển đi: tôi không thể nào chịu nổi sự tương phản giữa chủ nghĩa thực dân ở trạng thái nguyên bản của thành phố và sự chỉn chu của khu nhà trọ đầy những người Anh trung lưu cứ như thể chưa bao giờ ra khỏi nước Anh. Khách sạn Gainsborough mới xây, rộng lớn, ầm ĩ và xấu xí, đầy những người tỵ nạn, thư ký, kế toán và những đôi vợ chồng không thể tìm được một mái nhà hay căn hộ; thành phố chật cứng người vì chiến tranh, và tiền thuê nhà cứ thế tăng vọt.

Đúng kiểu Willi: anh mới có mặt ở khách sạn một tuần mà đã bắt đầu được hưởng ưu đãi đặc biệt, bất kể anh là người Đức, cũng có nghĩa là kẻ thù. Những người tỵ nạn Đức khác đều khai man là người Áo, hoặc tránh tiếp xúc, nhưng tên của Willi trong danh sách đăng ký ở khách sạn là Tiến sĩ Wilhelm Karl Gottlieb Rodde, trước đây ở Berlin, 1939. Không có gì là khai man. Bà James quản lý khách sạn kính nể anh. Anh đã cẩn thận cho bà biết rằng mẹ anh là một nữ bá tước. Và thực tế đúng là như vậy. Bà tin rằng anh làm nghề bác sĩ, và anh không thấy cần thiết phải giải thích cho bà biết từ “doctor” ở châu Âu Có nghĩa là gì(7). “Bà ta ngu đâu phải lỗi của tôi,” anh nói khi chúng tôi chỉ trích anh về điều này. Anh tư vấn miễn phí cho bà về pháp luật, chiếu cố với bà, trở nên thô lỗ khi không đạt được điều mình muốn và nói ngắn gọn là đã bắt bà phải chạy theo mình, như lời anh tự nói, “giống như một con cún con sợ hãi”. Là vợ của một tay thợ mỏ chết vì lở đá ở khu Rand, bà khoảng năm mươi tuổi, béo phì, lật đật, bị chứng đổ mồ hôi và dốt nát. Bà cho chúng tôi ăn các món hầm, bí ngô và khoai tây. Đám phục vụ da đen lừa bịp bà. Trước khi Willi dạy cho bà cách quản lý khách sạn, tự nguyện chứ không ai yêu cầu, vào cuối tuần đầu tiên khi anh đến đây, bà toàn thua lỗ. Sau khi được anh chỉ bảo, bà kiếm được rất nhiều tiền - đến khi Willi rời khách sạn thì bà đã trở nên giàu có: nhờ những khoản đầu tư vào bất động sản trên khắp thành phố theo lựa chọn của anh.

Phòng tôi ở ngay cạnh phòng Willi. Chúng tôi ăn cùng bàn. Bạn bè của chúng tôi tạt vào suốt ngày đêm. Chỉ riêng với chúng tôi, căn phòng ăn rộng mênh mông xấu khủng khiếp mở cửa đến tận nửa đêm, mặc dù giờ đóng của chính thức của nó là tám giờ tối (bữa tối từ bảy giờ đến tám giờ). Hoặc chúng tôi tự pha trà trong bếp, và cùng lắm là bà James sẽ mặc áo ngủ đi xuống, mỉm cười xuê xoa, bảo chúng tôi nói nhỏ giọng một chút. Quy định là không tiếp khách trong phòng sau chín giờ tối; nhưng một tuần thì có đến vài đêm chúng tôi mở lớp nghiên cứu trong phòng đến tận bốn năm giờ sáng. Chúng tôi làm gì tùy thích trong lúc bà James ngày càng kiếm được nhiều tiền, và Willi bảo với bà rằng bà là một con ngỗng đần độn chẳng có chút khiếu kinh doanh nào cả.

Bà trả lời, “Vâng, thưa ông Rodde,” rồi cười khúc khích và bẽn lẽn ngồi trên giường anh hút thuốc. Giống hệt một nữ sinh. Tôi nhớ Paul có lần nói, “Cậu nghĩ rằng một người xã hội chủ nghĩa có thể lợi dụng một bà già để có được những gì anh ta muốn?”

“Tớ giúp bà ấy kiếm được rất nhiều tiền.”

“Tớ đang nói về tình dục,” Paul nói, và Willi đáp, “Tớ không biết cậu định nói gì.” Đúng thế thật. Đàn ông không tự ý thức một cách rõ ràng như phụ nữ khi sử dụng lợi thế trời cho của mình, kém chân thành hơn nhiều.

Như vậy, đối với chúng tôi thì khách sạn Gainsborough như là một phiên bản mở rộng của Câu lạc bộ Cánh tả và nhóm cộng sản; và đồng nghĩa với lao động vất vả.

Lần đầu chúng tôi đến khách sạn Mashopi là trong một cơn bốc đồng. Chính Paul là người dẫn chúng tôi đến đó. Anh đang bay đi đâu đó trong vùng thì phải hạ cánh vì bất ngờ gặp bão; và anh cùng với huấn luyện viên quay lại bằng xe hơi, rồi dùng lại khách sạn Mashopi để ăn trưa. Đêm đó anh tới Gainsborough trong tâm trạng rất phấn khích, để chia sẻ niềm vui với chúng tôi. “Các cậu sẽ không bao giờ tin nổi đâu - đùng một cái giữa bụi rậm, xung quanh toàn gò đồi, dân dã man và châu Phi nói chung, xuất hiện khách sạn Mashopi với một quầy bar có ván phi tiêu và một bàn đánh đáo, với món bánh thịt bò và thận ăn giữa cái nóng hơn ba mươi độ C, và thêm vào đấy còn là ông bà Boothby - họ giống vợ chồng nhà Gatsby kinh khủng - nhớ không? Đôi vợ chồng điều hành quán rượu ở Aylesbury ấy? Vợ chồng nhà Boothby cứ như thể là chưa bao giờ bước chân ra khỏi nước Anh. Và tớ thề rằng ông ấy là một cựu thượng sĩ. Không thể là cái gì khác được.”

“Thế bà vợ hẳn phải là cựu tiếp viên quán bar,” Jimmy nói, “và họ có một cô con gái dễ thương mà họ đang muốn gả đi lấy chồng. Cậu nhớ không Paul, cái cô gái tội nghiệp không thể rời mắt khỏi cậu ở Aylesbury ấy?”

“Tất nhiên là bọn thực dân các cậu sẽ không ủng hộ sự phi lý tinh tế của nó đâu,” Ted nói. Những câu nói đùa kiểu thế này sẽ giả định Willi và tôi là bọn thực dân.

“Những cựu thượng sĩ như thể chưa bao giờ ra khỏi nước Anh đang điều hành một nửa số khách sạn và quán bar ở đất nước này,” tôi nói. “Các anh đã có thể khám phá ra điều này nếu như các cậu bứt nổi mình ra khỏi Gainsborough.”

Những câu nói đùa kiểu này sẽ giả định là Ted, Jimmy và Paul ghét Khu thuộc địa đến mức họ chẳng thèm biết gì về nó cả. Nhưng tất nhiên, họ biết cực nhiều thông tin.

Lúc đấy khoảng bảy giờ tối, và bữa tối ở Gainsborough sắp sửa bắt đầu. Bí ngô rang, bò hầm, hoa quả hầm.

“Nào chúng ta cùng đi và xem ở đấy thế nào,” Ted nói. “Ngay bây giờ. Chúng ta có thể làm một vại bia và quay lại để bắt xe buýt về trại.” Anh đưa ra đề nghị với vẻ hăng hái quen thuộc của mình, cứ như thể khách sạn Mashopi chắc chắn là trải nghiệm đẹp đẽ nhất mà cuộc sống còn chưa mang lại cho chúng a tôi.

Chúng tôi nhìn Willi. Đêm đó có một cuộc họp mặt của Câu lạc bộ Cánh tả, lúc đó đang ở thời kỳ hoàng kim của nó. Tất cả chúng tôi đều được mời dự. Chúng tôi chưa bao giờ, dù chỉ một lần, sao nhãng khỏi công việc. Nhưng Willi đã hờ hững đồng ý, cứ như điều đó không có gì quan trọng, “Sao lại không nhỉ? Món bí ngô của bà James riêng hôm nay có thể để cho ai đó khác ăn cũng được.”

Willi lái một chiếc xe hơi rẻ tiền đã qua năm lần chủ. Cả năm đứa chúng tôi trèo hết lên xe và lái đến Mashopi, cách đó khoảng một trăm cây số. Tôi nhớ đêm hôm đấy trời trong nhưng ngột ngạt - các vì sao mọc dày đặc và thấp, đằng xa có ánh chớp lấp loáng. Chúng tôi lái xe giữa những kopje, những đồi đá granite rất đặc trưng của vùng này. Những tảng đá tích tụ đầy nhiệt và điện, và khi chúng tôi đi qua, những luồng hơi nóng giống hệt những nắm đấm mềm mại đập vào mặt mỗi đứa.

Chúng tôi đến khách sạn Mashopi vào khoảng tám rưỡi, quầy bar lúc này đã rực rỡ ánh đèn và nông dân địa phương đang chen chúc nhau. Chỗ này bé nhưng sáng sủa, mặt sàn xi măng đen và mặt gỗ lên nước bóng loáng. Như Paul đã nói, có một tấm ván phóng phi tiêu đã cũ và một cái bàn đánh đáo. Và đứng đằng sau quầy bar là ông Boothby, cao khoảng một mét tám, bệ vệ, bụng phưỡn ra, lưng thẳng đứng như một bức tường, ngự trên gương mặt nặng nề với những mạch máu chằng chịt vằn lên vì rượu là một đôi mắt lồi điềm tĩnh, sắc sảo. Ông ta vẫn còn nhớ Paul và hỏi công việc sửa chữa máy bay tiến hành đến đâu rồi. Nó không bị hư hại gì, nhưng Paul bắt đầu nói tràng giang đại hải về việc một bên cánh bị sét đánh thế nào, và anh đã nhảy dù xuống ngọn cây ra sao, cắp theo huấn luyện viên dưới cánh tay anh thế nào - rõ là bịa đặt đến mức ông Boothby tỏ vẻ bồn chồn ngay từ lúc anh vừa mở miệng. Và Paul cứ thế kể với vẻ duyên dáng chân thành, trân trọng cho tới lúc anh kết luận, “Tôi sinh ra không phải là để hỏi tại sao, mà là để bay cao và hy sinh,” rồi gạt giọt nước mắt giả tạo, khiến ông Boothby phải bật cười một cách miễn cưỡng và hỏi anh có muốn uống một ly không. Paul đã tưởng ly rượu này sẽ do chủ nhà mời - một phần thưởng dành cho người hùng; nhưng ông Boothby đã chìa tay ra đòi tiền kèm theo một cái nheo mắt như muốn nói, “Vâng, tôi biết đấy không phải là một trò đùa, và nếu có cơ hội thì cậu đã đem tôi ra làm trò rồi.” Paul sẵn lòng trả tiền và tiếp tục câu chuyện. Vài phút sau anh quay lại với chúng tôi, mặt tươi cười và nói rằng ông Boothby đã từng là trung sĩ trong lực lượng Cảnh sát Nam Phi của Anh; rằng ông ta đã lấy vợ khi nghỉ phép ở Anh, và bà vợ ông ta từng làm phục vụ quầy bar trong một quán rượu; rằng họ có một đứa con gái mười tám tuổi, và họ đã mở khách sạn này được mười một năm. “Và cũng rất đáng ngưỡng mộ, nếu được phép nói như vậy,” chúng tôi nghe Paul nói. “Bữa trưa hôm nay rất ngon.”

“Nhưng đã chín giờ tối rồi,” Paul nói, “nên phòng ăn sắp sửa đóng cửa, còn chủ nhà thì không có ý định cho chúng ta ăn đâu. Vậy là tớ đã thất bại. Chúng ta sẽ chết đói. Tha lỗi cho tớ.”

“Để tớ thử xem sao,” Willi nói. Anh ra chỗ ông Boothby, gọi whisky, và trong vòng năm phút đã khiến cho phòng ăn mở cửa cho riêng chúng tôi. Tôi không hiểu vì sao anh có thể làm được như thế. Ngay từ đầu, trong cái quán bar đầy nông dân da đen thui mặc đồ kaki cùng với những bà vợ nhếch nhác của họ, anh đã lạc loài đến nỗi mọi con mắt đều dồn vào anh, hết lần này đến lần khác, từ khi anh bước vào. Anh mặc một bộ vest đũi lịch thiệp màu kem, mái tóc anh đen bóng dưới ánh đèn chói chang, gương mặt anh trắng xanh và tao nhã. Anh nói tiếng Anh bằng giọng trên cả chuẩn, với một tinh thần Đức không lẫn vào đâu được, và kể rằng anh và đám bạn thân của anh đã bôn ba từ thành phố về đây để nếm đồ ăn của Mashopi vì được nghe quá nhiều người đồn đại, và anh chắc rằng ông Boothby sẽ không làm anh thất vọng. Anh sử dụng đúng kiểu nói ngạo mạn ẩn chứa sự tàn nhẫn mà Paul đã dùng khi kể về vụ nhảy dù, và khiến ông Boothby đứng im lặng, lạnh lùng nhìn Willi, đôi bàn tay đỏ au to lớn vẫn để yên trên quầy bar. Rồi, Willi điềm tĩnh rút ví và móc ra tờ một bảng. Tôi nghĩ rằng đã nhiều năm nay không ai dám đưa tiền boa cho ông Boothby. Ông Boothby không trả lời ngay. Ông ta chậm rãi, thận trọng quay đầu và mắt còn lồi hơn khi nheo lại để đánh giá năng lực tiền tệ của Paul, Ted và Jimmy, tất cả đều đang đứng với những vại bia lớn trên tay. Rồi ông ta lên tiếng, “Để tôi xem bà xã có làm được không đã,” sau đó rời quầy bar, để nguyên đồng bảng của Willi trên quầy. Ý ông ta là Willi hãy lấy nó về, nhưng anh cứ để nó đấy và quay lại với chúng tôi. “Chả có gì khó khăn cả,” anh tuyên bố.

Paul đã kịp thu hút được sự chú ý của con gái một tay nông dân. Cô gái khoảng mười sáu tuổi, xinh xắn, mập mạp, mặc một chiếc váy hoa vải mỏng có viền ren. Paul đang đứng trước mặt cô, một tay giơ cao vại bia và nói với giọng nhẹ nhàng, vui vẻ, “Anh vẫn định nói với em ngay từ lúc anh vừa bước chân vào quán bar này rằng anh chưa bao giờ nhìn thấy một cái váy nào như của em từ khi anh đến Ascot cách đây ba năm về trước.” Cô gái đã bị anh hút hồn. Cô đỏ mặt. Nhưng tôi nghĩ rằng một lúc nữa Cô sẽ hiểu rằng anh đang xỏ lá cô. Tuy nhiên, lúc này Willi đã đặt tay lên cánh tay Paul và nói, “Đi thôi. Mấy trò đó hãy để sau.”

Chúng tôi bước ra ngoài hàng hiên. Bên kia đường là hàng cây bạch đàn, lá lấp lánh ánh trăng. Một đoàn tàu đứng yên, phun hơi và nước ra đường ray. Ted hạ thấp giọng và nói với vẻ nhiệt thành, “Paul này, cậu đúng là lý lẽ tốt nhất mà tớ có thể dùng để xử bắn toàn bộ bọn thượng lưu nhằm thoát khỏi đám người như cậu.” Tôi lập tức đồng ý. Đây không phải là lần đầu tiên chuyện này diễn ra. Khoảng một tuần trước, sự ngạo mạn của Paul đã khiến Ted cáu đến nỗi anh bỏ ra ngoài, mặt tái đi và trông như muốn bệnh, nói rằng anh sẽ không bao giờ nói chuyện với Paul nữa. “Hoặc Willi - hai người các cậu cùng một giuộc.” Phải mất nhiều giờ thuyết phục, tôi và Maryrose mới đưa được Ted trở lại nhóm. Nhưng giờ đây Paul nói, giọng tỉnh bơ, “Cô ấy chưa bao giờ nghe nói đến Ascot, mà khi hiểu ra, cô ấy sẽ cảm thấy hãnh diện,” và sau một lúc lâu im lặng, tất cả những gì Ted nói chỉ là, “Không phải, không phải đâu.” Rồi sau đó anh im lặng, trong khi chúng tôi quan sát những chiếc lá màu bạc đang rì rào, và rồi, “Quái quỷ thật. Cả đời này hai cậu cũng không hiểu được đâu, không một ai trong hai bọn cậu, và tớ chẳng thèm quan tâm.” Câu tớ chẳng thèm quan tâm được nói với một ngữ điệu chưa bao giờ tôi nghe thấy từ miệng Ted, gần như là phù phiếm. Rồi anh cười lớn. Chưa bao giờ tôi thấy anh cười như vậy. Tôi cảm thấy khó chịu, hoang mang bởi vì Ted và tôi luôn là đồng minh trong cuộc chiến này, và giờ đây tôi đã bị bỏ rơi.

Khu chính của khách sạn nằm ngay sát đường chính, bao gồm quán bar và phòng ăn cùng dãy nhà bếp đằng sau. Có một hàng hiên chạy dọc đằng trước với hàng cột đỡ bằng gỗ, cây leo mọc bám đầy cột. Chúng tôi im lặng ngồi ngáp trên ghế băng, đột nhiên thấy mệt lử và đói mềm. Chẳng mấy chốc bà Boothby, vừa bị chồng gọi về, đã cho chúng tôi vào phòng ăn rồi đóng cửa lại để du khách không vào gọi đồ ăn. Đây là một trong những con đường chính của Khu thuộc địa, lúc nào cũng tấp nập xe hơi. Bà Boothby là một phụ nữ to lớn, đầy đặn, mộc mạc, gương mặt đen thẫm, mái tóc nhạt màu uốn cụp. Bà mặc một cái corset bó chít, mông đột ngột nhô ra, ngực nâng cao như một vách núi ở đằng trước. Bà vui vẻ, tốt bụng, luôn nhào vào giúp đỡ người khác, nhưng cũng đầy phẩm cách. Bà xin lỗi, nói rằng vì chúng tôi tới muộn quá nên không thể dọn cho chúng tôi bữa tối đầy đủ được, nhưng bà sẽ cố gắng hết sức. Rồi với một cái gật đầu và câu chúc ngủ ngon, bà để chúng tôi lại với anh bồi bàn đang sưng sỉa vì bị giữ lại quá lâu so với giờ làm việc chính thức. Chúng tôi ăn hết bao nhiêu là đĩa bò bỏ lò với khoai tây và cà rốt rất ngon lành. Và sau đó là bánh táo, kem và pho mát địa phương. Toàn là những món thường có ở quán rượu của Anh, và được nấu rất cẩn thận. Phòng ăn lớn thật yên tĩnh. Tất cả các bàn đều đã được sắp soạn cho bữa sáng ngày mai. Cửa sổ và cửa chính đều treo những tấm rèm lanh hoa dày. Đèn pha của những chiếc xe hơi chạy qua không ngừng rọi sáng mấy tấm rèm lanh làm hoa văn mờ đi, và khiến màu đỏ và màu xanh dương của các bông hoa sáng bừng lên khi luồng sáng quét qua con đường chạy đến thành phố. Cả lũ chúng tôi đều buồn ngủ nên không ai nói gì nhiều. Nhưng một lát sau, tôi đã cảm thấy dễ chịu hơn bởi vì trong lúc Paul và Willi như thường lệ đang coi anh bồi bàn như người hầu, sai anh làm việc này, đòi hỏi anh làm việc kia, thì đột nhiên Ted chợt hoàn hồn lại và nói chuyện với anh như với con người - thậm chí còn ấm áp hơn bình thường, và tôi có thể dễ dàng nhận thấy Ted đã rất xấu hổ với phản ứng của mình lúc ở ngoài hiên. Trong khi Ted hỏi chuyện anh bồi bàn về gia đình, công việc, cuộc sống và tự kể về mình, Paul và Willi cắm cúi ăn như mọi khi trong những dịp như vậy. Từ lâu họ đã xác định rõ vị trí của mình. “Ted này, cậu đang nghĩ rằng nếu cậu tử tế với người phục vụ thì có nghĩa là cậu đang thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội?” “Phải,” Ted nói. “Vậy thì tớ không giúp gì được cậu.” Willi đáp kèm theo cái nhún vai đầy vô vọng. Jimmy đang gọi thêm đồ uống. Anh đã say mèm; anh say nhanh hơn bất cứ người nào tôi từng biết. Trước đó ông Boothby đã vào và nói rằng vì là du khách từ xa tới đây nên chúng tôi được phép uống - ông ta đã ngầm giải thích tại sao chúng tôi lại được phép ăn muộn như vậy. Nhưng thay vì chọn các loại đồ uống nặng mà ông gợi ý, chúng tôi gọi rượu vang và ông mang ra một chai rượu vang trắng lạnh lấy từ Cape Town. Rượu rất ngon; và mặc dù không muốn uống loại rượu mạnh nguyên chất ở Cape ông Boothby mang ra, chúng tôi vẫn cứ uống, sau đó còn gọi một ít rượu nữa. Và rồi Willi tuyên bố rằng cuối tuần sau cả lũ chúng tôi lại đến tiếp, không biết ông Boothby có thu xếp được phòng hay không. Ông Boothby bảo không có vấn đề gì - rồi đưa cho chúng tôi một tờ hóa đơn mà chúng tôi phải khó khăn lắm mới gom đủ tiền để thanh toán.

Willi không hỏi trước chúng tôi về chuyện quay lại Mashopi, nhưng dường như ý kiến này rất ổn. Chúng tôi lái xe quay về dưới ánh trăng lúc này đã trở nên lạnh lẽo, sương phủ trắng và lạnh cóng trên các thung lũng, đêm đã khuya và chúng tôi đều chếnh choáng say. Jimmy chẳng còn biết trời đất trăng sao gì nữa. Khi vào đến thành phố thì đã quá muộn nên ba chàng trai không được phép vào trại nữa; vì vậy họ lấy phòng tôi ở Gainsborough, còn tôi đến phòng Willi. Trong những dịp như thế họ thường dậy rất sớm, khoảng bốn giờ sáng, sau đó đi bộ ra sát rìa cái thành phố nhỏ bé này, chờ xin đi nhờ xe về trại để chuẩn bị cho chuyến bay lúc sáu giờ, khi mặt trời vừa mọc.

Vậy là cuối tuần kế tiếp, cả lũ chúng tôi đều xuống Mashopi. Willi và tôi. Maryrose. Ted, Paul và Jimmy. Khi đấy là khuya ngày thứ Sáu, bởi vì chúng tôi phải tham gia sinh hoạt đảng về “đường lối”. Như thường lệ, buổi sinh hoạt vẫn bàn về phương pháp làm thế nào để thu hút quần chúng châu Phi vào các hoạt động nổi dậy. Bất luận thế nào thì cuộc họp cũng rất gay gắt do sự chia rẽ chính thức - nhưng tách hay không thì chúng tôi vẫn coi mình là một khối thống nhất trong riêng buổi tối này. Có khoảng hai mươi người tham gia, và khi kết thúc cuộc họp, mặc dù tất cả đều thống nhất rằng “đường lối” hiện tại là “đúng đắn”, chúng tôi cũng đồng ý rằng nếu tiếp tục như vậy, chúng tôi sẽ không đi tới đâu cả.

Khi vào xe, không mang theo va li hay túi xách, tất cả chúng tôi đều im lặng. Chúng tôi im lặng suốt trên con đường đi ra khỏi ngoại ô. Rồi sau đó cuộc tranh cãi về “đường lối” lại bắt đầu, giữa Paul và Willi. Họ nói toàn những điều đã bàn đi bàn lại ở cuộc họp, nhưng chúng tôi đều lắng nghe, hy vọng, tôi nghĩ thế, sẽ có một vài ý tưởng mới mẻ nào đó dẫn chúng tôi ra khỏi mớ bòng bong hiện tại. “Đường lối” của chúng tôi rất đơn giản và tuyệt vời. Trong một xã hội mà người da màu chiếm đa số như thế này, rõ ràng những người xã hội chủ nghĩa phải có trách nhiệm chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Do đó, “con đường đi lên” là phải phối hợp các chiến sĩ tiên phong da trắng và da đen tiến bộ. Ai là chiến sĩ tiên phong da trắng? Rõ ràng là công đoàn. Vậy ai là chiến sĩ tiên phong da đen? Rõ ràng là công đoàn da đen. Nhưng lúc đó chưa có công đoàn da đen nào cả, vì điều này là bất hợp pháp và quần chúng da đen chưa phát triển tới mức có thể làm những hành động bất hợp pháp. Còn công đoàn da trắng, để giữ đặc quyền của mình, lại trở nên thù địch với người da đen hơn bất cứ bộ phận nào trong cộng đồng da trắng. Vì vậy bức tranh của chúng tôi về những gì nên xảy ra, nói đúng hơn là phải xảy ra, bởi vì nguyên tắc hàng đầu là giai cấp vô sản phải là đội quân tiên phong trên con đường đi tới tự do, không hề có chỗ trong hiện thực. Những nguyên tắc hàng đầu lại quá thiêng liêng nên không ai dám nghi ngờ về nó. Chủ nghĩa dân tộc của người da đen, trong giới chúng tôi (và điều này cũng đúng với Đảng Cộng sản Nam Phi), chỉ là một tư tưởng hữu khuynh cần phải đấu tranh. Trong khi đó, dựa trên những ý tưởng nhân đạo đẹp đẽ nhất, nguyên tắc hàng đầu lại đem đến cho chúng tôi những cảm giác đạo đức hết sức thỏa mãn.

Tôi thấy mình đang một lần nữa sa vào giọng hoài nghi, tự trừng phạt. Những giọng văn này mới dễ chịu làm sao, giống như một loại thuốc đắp lên vết thương. Bởi vì đấy đúng là một vết thương và tôi, cũng giống như hàng ngàn người khác, không thể nào nhớ đến khoảng thời gian gắn bó với “Đảng” mà không cảm thấy một nỗi giày vò đầy lạnh lẽo. Nhưng nỗi đau đấy cũng nguy hiểm giống như nỗi hoài niệm, hai thứ xúc cảm ấy có họ hàng với nhau và cũng chết người như nhau. Tôi sẽ tiếp tục đề tài này khi nào tôi có thể viết một cách chân thực, không phải bằng giọng này nữa.

Tôi nhớ Maryrose đã chấm dứt cuộc tranh cãi bằng lời nhận xét, “Nhưng các anh chẳng nói được điều gì mới mẻ hơn trước đây cả.” Vậy là cuộc nói chuyện dừng lại. Cô thường làm thế, cô có khả năng làm cả lũ chúng tôi im tịt. Nhưng đám đàn ông tỏ ra kẻ cả với cô, họ chẳng hề nghĩ rằng cô có khả năng tư duy chính trị. Nguyên nhân là vì cô không thể, hoặc không muốn, sử dụng những thuật ngữ đao to búa lớn. Nhưng cô nắm bắt quan điểm rất nhanh và có thể diễn đạt chúng bằng những từ ngữ đơn giản. Nhưng đầu óc của những người như Willi là kiểu chỉ có thể chấp nhận các ý tưởng khi chúng được thể hiện bằng ngôn ngữ mà bản thân anh sử dụng.

Lúc này cô nói, “Chắc chắn phải có điểm nào sai ở đâu đấy, bởi vì nếu không thì chúng ta đã không phải cãi nhau giờ này sang giờ khác như thế này.” Cô nói rất tự tin, nhưng khi đám đàn ông không trả lời - và cô cảm nhận được thái độ chịu đựng của họ dành cho mình, cô trở nên bồn chồn và khẩn khoản, “Em chưa diễn đạt được cho đúng, nhưng hẳn các anh hiểu ý em…” Bởi vì cô đã khẩn khoản nên mấy người đàn ông trở về bình thưòng, và Willi nói với giọng độ lượng, “Tất nhiên là em nói đúng. Bất cứ ai xinh đẹp như em cũng đều không thể nói sai.”

Cô đang ngồi cạnh tôi trên xe, và cô quay đầu sang trong bóng tối để mỉm cười với tôi. Chúng tôi rất hay cười với nhau như vậy. “Tớ ngủ đây, cô nói rồi kê đầu lên vai tôi và thiếp đi như một chú mèo con.

Cả lũ chúng tôi ai cũng mệt phờ. Tôi nghĩ những người chưa bao giờ tham gia phong trào cánh tả sẽ không thể hiểu được những người xã hội chủ nghĩa tận tụy phải làm việc vất vả thế nào, từ ngày này qua ngày khác, từ năm này qua năm khác. Dù sao đi nữa, chúng tôi đều phải kiếm sống, và đám đàn ông trong trại, ít nhất là những người thực sự đang trong giai đoạn huấn luyện, đều liên tục chịu những cơn căng thẳng đầu óc. Mỗi buổi tối chúng tôi đều tổ chức họp mặt, thảo luận nhóm, tranh luận. Chúng tôi đọc rất nhiều. Hầu như không ngày nào là chúng tôi không thức đến bốn năm giờ sáng. Bên cạnh đó, chúng tôi đều là những người cứu chữa linh hồn. Chúng tôi giống nhau ở một điểm, dù Ted mới là người đẩy đến mức cực đoan, đó là cảm thấy mình có trách nhiệm với bất cứ ai đang gặp rắc rối. Và một phần nghĩa vụ của chúng tôi là phải giải thích với bất cứ người nào có chút đầu óc rằng cuộc sống là một cuộc thám hiểm đầy vinh quang. Nhìn lại thời đó, tôi có thể hình dung được rằng trong số tất cả những công việc vất vả kinh khủng mà chúng tôi đã làm, thành tựu duy nhất đạt được là những quá trình khai hóa cấp độ cá nhân này. Tôi không tin là trong những người mà chúng tôi tác động lại có ai quên được vẻ nhiệt huyết rạng ngời trong niềm tin của chúng tôi vào vinh quang của cuộc sống, vì nếu không đạt đến niềm tin ấy bằng tình cảm thì chúng tôi cũng đạt được nó bằng nguyên tắc. Đủ kiểu sự việc giờ trở lại trong ký ức tôi - chẳng hạn như Willi, sau vài ngày trăn trở không biết phải làm gì với một phụ nữ đang đau khổ vì bị chồng phụ bạc, đã quyết định đưa cho cô cuốn Cành Vàng, bởi vì “khi một ai đó đang đau khổ vì việc cá nhân, cách xử lý đúng đắn là hãy nhìn nhận vấn đề theo quan điểm lịch sử.” Cô trả lại cuốn sách với vẻ hối lỗi, nói rằng nó quá khả năng nhận thức của cô, và dù sao thì cô cũng đã quyết định bỏ chồng bởi vì ông ta chỉ mang lại rắc rối chứ chẳng giúp ích được bao nhiêu. Nhưng sau khi rời thành phố, cô thường xuyên viết thư cho Willi, những bức thư lịch sự, xúc động và biết ơn. Tôi còn nhớ những lời kinh khủng thế này, “Tôi sẽ không bao giờ quên rằng anh đã tốt bụng đến mức rủ lòng quan tâm đến tôi.” (Tuy nhiên ở thời điểm đó thì tôi không thấy ấn tượng lắm với chúng.)

Cả lũ chúng tôi đã sống trong cường độ như thế suốt hơn hai năm trời - tôi nghĩ có thể cả lũ đã hơi điên một chút vì kiệt sức.

Ted bắt đầu hát để khỏi ngủ gật; còn Paul, với giọng hoàn toàn khác lúc anh tranh luận với Willi, kể một câu chuyện hoang đường kỳ quái về những gì sẽ xảy ra ở một Khu thuộc địa của người da trắng khi người da đen nổi dậy. (Buổi tối này của chúng tôi xảy ra gần một thập kỷ trước Kenya và cuộc khởi nghĩa Mau Mau(8).) Paul mô tả quá trình “hai người đàn ông rưỡi” (Willi phản đối việc ngầm nhắc đến Dostoievsky, vì anh coi ông này là một nhà văn phản động) làm việc suốt hai mươi năm để giúp người dân địa phương lạc hậu nhận thức được vị trí tiên phong của mình. Đột nhiên, đùng một cái, một kẻ mị dân dở ông dở thằng chỉ học có sáu tháng ở Trường Kinh tế London đã tạo ra được một phong trào quần chúng nhờ khẩu hiệu, “Tống cổ bọn da trắng”. Hai-người-đàn-ông-rưỡi, các chính trị gia có trách nhiệm, hoàn toàn choáng váng trước sự kiện này, nhưng đã quá muộn - kẻ mị dân kia đã tố cáo họ ăn lương của người da trắng. Trong cơn hoảng sợ, người da trắng tống cả kẻ mị dân lẫn hai người-đàn-ông-rưỡi vào tù với một tội danh bịa đặt nào đó; còn quần chúng da đen như rắn mất đầu tụ tập nhau trong các khu vực rừng núi và đồi gò, trở thành các chiến sĩ du kích. “Trong khi các trung đoàn da đen dần dần thất bại dưới tay các trung đoàn da trắng, gồm hàng chục chàng trai được học hành tử tế, đầu óc trong sạch như chúng ta, vốn được đưa từ Anh sang đây nhằm mục đích duy trì luật pháp và trật tự, họ đã viện đến các trò ma thuật cùng đám thầy mo. Hành vi kinh tởm phi Cơ đốc này đã làm tất cả những người trung thực xa lánh cuộc đấu tranh của người da đen, còn những chàng trai tử tế như chúng ta, trong cơn công phẫn đạo đức đã đánh họ nhừ tử, tra tấn họ, và treo cổ họ. Pháp luật và trật tự đã thắng. Người da trắng thả hai-người-đàn-ông-rưỡi ra khỏi tù nhưng treo cổ kẻ mị dân lên. Các quyền dân chủ tối thiểu được ban bố cho quần chúng da đen nhưng hai người-đàn-ông-rưỡi vẫn không hài lòng, vân vân và vân vân.”

Bọn tôi không ai nói gì về cái kịch bản viển vông này. Nó cách quá xa so với dự đoán của chúng tôi. Hơn nữa, chúng tôi choáng vì giọng điệu của anh. (Tất nhiên, bây giờ thì tôi nhận ra đấy là sự vỡ mộng của lý tưởng - khi vừa viết từ này vừa liên tưởng đến Paul, tôi cảm thấy rất ngạc nhiên. Đây là lần đầu tiên tôi tin rằng anh có khả năng có lý tưởng.) Anh nói tiếp, “Còn một khả năng nữa. Giả sử bên quân đội da đen thắng thì sao? Một người lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc thông minh sẽ không có con đường nào khác là củng cố tình cảm dân tộc và phát triển công nghiệp. Chúng ta đã bao giờ nghĩ tới chưa, thưa các đồng chí, rằng trách nhiệm của những người tiến bộ chúng ta là phải hỗ trợ các nhà nước dân tộc chủ nghĩa xây dựng các nguyên tắc ứng xử theo hướng tư bản, bất bình đẳng mà chúng ta ghét cay ghét đắng? Sao, đã bao giờ nghĩ tới chưa? Bởi vì tớ nhìn thấy chuyện đó, đúng thế, tớ có thể nhìn thấy nó trong quả cầu pha lê của tớ - nhưng chúng ta vẫn phải hỗ trợ tất cả những thứ đó thôi. Ừ, đúng thế, đúng thế, bởi vì chẳng có cách nào khác cả.”

Đến lúc này thì Willi lên tiếng, “Cậu cần một ly đấy.”

Giờ này thì các quán bar ở những khách sạn ven đường đều đã đóng cửa, vì thế Paul quyết định đi ngủ. Maryrose đang ngủ. Jimmy đang ngủ. Ted vẫn thức bên cạnh Willi ở ghế trước, huýt sáo một điệu aria(9) hay cái gì đại loại như thế. Tôi không nghĩ là anh lắng nghe câu chuyện của Paul - khi anh huýt sáo các đoạn nhạc hoặc hát lên thành lời thì đó luôn là tín hiệu thể hiện sự phản đối.

Rất lâu sau đó, tôi nhớ mình đã nghĩ rằng trong suốt những năm tranh luận phân tích không dứt đó, chỉ có duy nhất một lần chúng tôi đến gần được sự thật (tuy cũng còn xa tít mù tắp) và đấy là lúc Paul ca bài giễu nhại ấy trong cơn tức giận.

Khi chúng tôi đến khách sạn thì trời đã tối mịt. Người phục vụ ngái ngủ đang chờ sẵn ở ngoài hiên để dẫn chúng tôi về phòng. Khu phòng ngủ nằm cách khu phòng ăn và quầy bar khoảng ba trăm mét, trên sườn núi phía sau. Có hai mươi phòng chung mái được chia thành hai dãy nằm xây lưng lại với nhau, bên nào cũng có một hàng hiên. Các phòng rất mát mẻ và dễ chịu mặc dù cả khu nhà không có hệ thống thông gió. Phòng có quạt điện và một cái cửa sổ lớn. Chúng tôi được dành cho bốn phòng. Jimmy ở với Ted, tôi với Willi; còn Maryrose và Paul mỗi người một phòng. Về sau, cách bố trí này được giữ nguyên; hay nói cách khác, vì ông bà Boothby không bao giờ ý kiến gì nên Willi và tôi luôn ở chung một phòng ở khách sạn Mashopi. Cả lũ ngủ say như chết, và phải rất lâu sau bữa sáng mới thức dậy. Quầy bar lúc đó đã mở và chúng tôi uống một chút, gần như không nói câu nào, sau đó ăn trưa, cũng gần như không ai nói câu nào, chỉ thỉnh thoảng nhận xét không hiểu sao mình lại thấy mệt đến thế. Bữa trưa ở khách sạn lúc nào cũng tuyệt vời, rất nhiều thịt nguội và đủ các món xa lát và hoa quả mà ta có thể hình dung được. Cả lũ lại kéo nhau đi ngủ. Khi Willi và tôi tỉnh dậy thì mặt trời bắt đầu lặn, và chúng tôi phải đánh thức mọi người dậy. Rồi sau khi ăn xong bữa tối được nửa tiếng, chúng tôi lại đi ngủ. Và hôm sau, ngày Chủ nhật, cũng gần y như vậy. Trên thực tế, đây là đợt nghỉ cuối tuần dễ chịu nhất của chúng tôi ở đấy. Tình trạng mệt mỏi kinh khủng đem lại cho tất cả một trạng thái bình lặng. Gần như chúng tôi không uống chút gì, khiến cho ông Boothy rất thất vọng. Willi đặc biệt im lặng. Tôi nghĩ đấy chính là khoảng thời gian mà anh quyết định sẽ rút lui ra khỏi hoạt động chính trị, hoặc ít nhất là trong khả năng cho phép, để dành thời gian cho việc nghiên cứu. Còn với Paul, anh hành xử một cách đơn giản và vui vẻ với mọi người, đặc biệt là với bà Boothby, người đã bắt đầu thích anh.

Tối muộn ngày Chủ nhật chúng tôi mới lái xe trở lại thành phố vì không muốn rời khách sạn Mashopi. Trước lúc ra về, chúng tôi ngồi uống bia trên hiên, sau lưng là khách sạn, lúc này đã nhuốm một màu đen. Trăng sáng đến mức chúng tôi có thể nhìn thấy từng hạt cát trắng lấp lánh bị bánh xe bò hất tung qua đám đá dăm. Những chiếc lá nhọn, nặng nề nhô ra từ cành bạch đàn sáng lấp lánh như những mũi giáo bé xíu. Tôi nhớ Ted đã nói thế này, “Xem cả lũ chúng ta ngồi đây im như thóc kia. Mashopi là một nơi nguy hiểm. Chúng ta sẽ đến đây, hết cuối tuần này rồi lại đến cuối tuần khác và vùi mình ngủ đông trong men bia, ánh trăng và thức ăn ngon. Những chuyện này sẽ đi đến đâu, tớ hỏi các cậu?”

Một tháng liền chúng tôi không quay trở lại. Tất cả chúng tôi hiểu mình mệt mỏi thế nào, và tôi nghĩ chúng tôi ai cũng sợ những điều có thể xảy ra trong trường hợp chúng tôi để cho sự mệt mỏi cuốn chúng tôi đi. Một tháng đấy là một tháng làm việc vất vả. Paul, Jimmy và Ted đang hoàn tất khóa huấn luyện và phải bay hằng ngày. Thời tiết rất đẹp. Chúng tôi tổ chức nhiều hoạt động bên lề như thuyết trình, nhóm nghiên cứu và khảo sát. Nhưng “Đảng” chỉ họp đúng một lần. Phân nhóm kia đã mất năm thành viên. Điều thú vị là trong buổi họp mặt toàn thể duy nhất đó, chúng tôi đã đấu đá nhau dữ dội đến gần sáng; nhưng trong cả tháng đó, chúng tôi liên tục họp riêng, một cách hoàn toàn thoải mái, để thảo luận chi tiết về các hoạt động bên lề mà mình phụ trách. Trong khi đó, nhóm chúng tôi vẫn tiếp tục gặp nhau ở Gainsborough. Chúng tôi đùa nhau về khách sạn Mashopi và bầu không khí thư giãn quái quỷ mà nó mang lại. Chúng tôi coi nó như biểu tượng cho những gì xa xỉ, suy đồi và kém ý chí. Bạn bè chúng tôi, những người chưa đến đó nhưng biết rằng đây chỉ là một khách sạn ven đường bình thường đều bảo chúng tôi điên. Sau lần ghé thăm đó một tháng, chúng tôi được hưởng một kỳ nghỉ cuối tuần khá dài, từ tối thứ Năm đến tận thứ Tư tuần sau - ở Khu thuộc địa người ta coi trọng nghỉ lễ lắm, và chúng tôi quyết định lại hợp nhau lên đường. Nhóm bao gồm sáu người ban đầu và cậu thanh niên mới được Ted bảo trợ, Stanley Lett người Manchester, vì cậu này mà về sau Ted cố tình trượt trong bài kiểm tra năng lực. Ngoài ra còn một người nữa là Johnnie, nghệ sĩ dương cầm, chơi nhạc jazz, bạn của Stanley. Chúng tôi cũng hẹn George Hounslow gặp chúng tôi ở đó. Chúng tôi đến đó bằng xe hơi và tàu hỏa, và đến giờ quầy bar đóng cửa, ai cũng thấy rõ là cuối tuần này sẽ rất khác so với kỳ nghỉ trước đó.

Lúc ấy khách sạn đầy những người đến đây nhân kỳ nghỉ dài. Bà Boothby đã mở thêm một chái nữa, gồm mười hai căn phòng. Sẽ có hai cuộc khiêu vũ lớn, một riêng một dành cho cộng đồng, và chưa gì ở đó đã hình thành một bầu không khí hội hè dễ chịu. Khi nhóm chúng tôi ngồi vào bàn ăn tối, lúc đó đã rất muộn, một người bồi bàn đang trang trí các góc phòng ăn bằng giấy màu và các chuỗi bóng đèn, và chúng tôi được dọn cho món bánh pudding lạnh đặc biệt vốn để dành cho đêm hôm sau. Sau đó một sứ giả của bà Boothby đến hỏi xem hôm sau “các anh không quân” có sẵn lòng giúp bà trang trí phòng lớn hay không. Sứ giả là June Boothby, và rõ ràng là cô đến vì tò mò muốn gặp các anh không quân đang được nhắc đến, có thể là mẹ cô đã kể nhiều chuyện về họ. Nhưng cũng rõ ràng không kém là cô chẳng hề thấy ấn tượng chút nào. Rất nhiều cô gái lớn lên ở thuộc địa chỉ mới liếc nhìn các chàng trai người Anh một lần đã kết luận rằng họ ẻo lả, ướt át và mềm yếu. June cũng vậy. Tối hôm đó, cô chỉ ở lại đủ lâu để chuyển thông điệp của mẹ và nghe Paul bày tỏ, một cách quá lịch sự, niềm vui sướng khi được “thay mặt lực lượng không quân” chấp nhận lời mời tử tế của mẹ cô. Cô bước ra khỏi phòng ngay lập tức. Paul và Willi đùa mấy câu về cô con gái đã đủ tuổi cưới chồng, nhưng chủ yếu là để nhằm chế nhạo “ông bà Boothby, ông chủ quán rượu và bà vợ”. Suốt thời gian còn lại của kỳ nghỉ đó và trong các kỳ tiếp theo, họ phớt lờ cô gái. Rõ ràng, họ thấy cô xấu đến mức vì thương hại mà họ phải cố gắng không nhắc đến cô, hoặc có lẽ - mặc dù nhìn chung là không người nào trong bọn họ từng tỏ ra có tinh thần ấy - vì phép lịch sự. Cô vóc cao, đậm người, hai chân hai tay vĩ đại, đỏ au, vụng về. Da mặt cô đen thẫm, giống hệt mẹ, giống cả mái tóc không ra màu gì đang cụp lại quanh gương mặt tròn với các đường nét thô kệch. Cô không có lấy một điểm hay một nét nào có chút duyên dáng. Nhưng bên trong cô lại đang căng tràn, đến chực vỡ òa và sầu não cả người, cái bản năng của một con thú đang muốn săn mồi, bởi vì cô đang trong một tình trạng mà rất nhiều các cô gái trẻ đều phải trải qua - tình trạng ám ảnh tình dục, tựa như một dạng mất hồn. Khi tôi mười lăm tuổi, vẫn còn sống ở phố Baker với bố, tôi đã ở trong tình trạng này mất vài tháng, thành ra bây giờ tôi không thể nào bước qua khu phố đó mà không nhớ lại, nửa vui thích, nửa khó chịu, một trạng thái cảm xúc mạnh đến mức đủ sức hút vào bên trong nó những vỉa hè, nhà ở, các ô cửa sổ bày bán đồ. Điều lý thú ở June là thế này: lẽ ra ông trời nên sắp xếp sao cho những người đàn ông mà cô gặp đều hiểu được nguyên nhân khiến cô khổ sở. Không hề. Buổi sáng đầu tiên đó, Maryrose và tôi đã bất giác nhìn nhau và suýt thì phá lên cười vì nhận ra được sự thật và vừa thương hại vừa buồn cười. Nhưng chúng tôi đã không làm vậy, bởi vì chúng tôi cũng hiểu rằng sự thật hiển nhiên này lại không hiển nhiên chút nào với những người đàn ông, và chúng tôi muốn tránh cho cô khỏi bị họ cười nhạo. Tất cả phụ nữ ở đây đều biết rõ về June. Tôi nhớ một buổi sáng tôi đang ngồi trên hiên với bà Lattimore, người phụ nữ xinh đẹp tóc đỏ đang cưa cẩm chàng trai trẻ Stanley Lett, thì June xuất hiện, hau háu đi đi lại lại dưới hàng bạch đàn cạnh đường ray xe lửa. Như thể chúng tôi đang quan sát một kẻ mộng du. Cô đi dăm bước rồi dừng chân, nhìn sang những ngọn núi xanh xanh trùng điệp bên kia thung lũng, đưa hai tay lên tóc, khiến cho cơ thể bó chặt trong chiếc áo màu đỏ tươi hiện rõ từng đường nét cơ thể đang căng lên cùng mảng mồ hôi tối thẫm dưới nách - sau đó thả tay xuống, nắm tay ghì chặt hai bên hông. Cô đứng bất động, sau đó lại bước đi, rồi lại dừng lại, dường như đang trong cơn mơ, dùng mũi dép cao gót màu trắng đá những hòn xỉ than, và tiếp tục như thế một cách chậm rãi đến khi khuất hẳn sau hàng cây bạch đàn lấp lánh ánh mặt trời. Bà Lattimore buông ra một tiếng thở dài thật sâu, cười nhẹ một cách bao dung và nói, “Lạy Chúa tôi, dù có được cả triệu bảng thì tôi cũng không trở lại thời con gái nữa đâu. Lạy Chúa tôi, trải qua tất cả những chuyện đó một lần nữa, một triệu triệu cũng không.” Maryrose và tôi đồng ý. Nhưng, mặc dù đối với chúng tôi mỗi hành động của cô gái này đều cực kỳ đáng xấu hổ, cánh đàn ông vẫn chẳng hề nhận ra, vì vậy chúng tôi cảnh giác để không bán đứng cô. Đây là tinh thần lịch sự của phụ nữ, giữa chị em với chị em, mạnh mẽ không kém bất cứ lòng trung thành nào khác. Hoặc có lẽ là chúng tôi không muốn trực tiếp đối mặt với sự thiếu sót trong trí tưởng tượng nơi những người đàn ông của mình.

June dành phần lớn thời gian trên hàng hiên nhà Boothby, cách khách sạn khoảng ba trăm mét. Ngôi nhà được xây trên móng sâu hơn ba mét để tránh kiến. Mái hiên rất sâu và mát, sơn trắng, dây leo và hoa mọc khắp nơi. Ở đây sáng và xinh xẻo tuyệt vời, và có kê một chiếc ghế dài bọc vải creton để June nằm nghe nhạc từ chiếc máy quay đĩa xách tay, giờ này sang giờ khác, âm thầm mơ mộng về người đàn ông sẽ được phép giải cứu cô ra khỏi trạng thái mộng du. Và vài tuần sau, tưởng tượng của cô đã đủ mạnh để tạo nên người đàn ông ấy. Maryrose và tôi đang ngồi trên hiên khách sạn thì một chiếc xe tải dừng lại trên đường chạy về phía Đông, một bóng thanh niên cục mịch bước ra với đôi chân khổng lồ màu đỏ, đôi tay cháy nắng to như đùi bò. June từ ngôi nhà của bố cô hau háu bước xuống con đường rải sỏi, dùng mũi dép nhọn đá văng những viên sỏi. Một viên văng vào chân anh ta khi đang bước vào quầy bar. Anh ta dừng lại và nhìn cô. Sau đó, liên tục ngoái nhìn lại với ánh mắt trống rỗng, gần như bị thôi miên, anh ta bước vào quầy bar. June bước theo. Ông Boothby đang pha rượu gin với soda cho Jimmy và Paul và nói chuyện về nước Anh. Ông ta không để ý đến con gái đang ngồi tạo dáng ở góc nhà, mắt mơ mộng nhìn đám bụi nóng và ánh nắng ban mai lấp lánh đằng sau Maryrose và tôi. Người thanh niên cầm lấy cốc bia và ngồi trên ghế dựa, cách cô hơn một mét. Nửa tiếng sau, khi anh ta quay trở lại xe tải, June đã đi cùng anh ta. Maryrose và tôi đồng thời bật lên những tiếng cười bất giác và chỉ dừng lại khi Jimmy cùng Paul từ quầy bar nhìn ra để xem có chuyện gì. Một tháng sau, June và anh ta chính thức đính hôn, và đến lúc đấy mọi người mới nhận ra cô thật dịu dàng, dễ chịu và biết điều. Vẻ đờ đẫn như say thuốc đã hoàn toàn biến mất. Đến lúc đó chúng tôi mới nhận ra bà Boothby trước đó đã khó chịu thế nào với tình trạng của con gái. Có một cái gì đó quá vui vẻ, quá nhẹ nhõm trong cách bà chấp nhận cho cô đỡ đần việc khách sạn, thân thiết trở lại với cô, thảo luận về kế hoạch đám cưới. Gần như là bà cảm thấy hối lỗi vì đã thể hiện sự khó chịu từ trước đến giờ. Và có lẽ sự khó chịu kéo dài này là một phần nguyên nhân khiến bà sau này luôn nổi cáu và cư xử rất vô lý.

Không lâu sau khi June đi ra khỏi phòng trong đêm đầu tiên chúng tôi gặp cô, bà Boothby bước vào. Willi mời bà ngồi xuống cùng chúng tôi. Paul hấp tấp mời thêm lần nữa. Cả hai đều nói bằng cái giọng mà những người còn lại trong nhóm chúng tôi cho là lịch sự một cách quá đáng, đến mức phát chướng. Trong khi Paul, trong lần gặp trước đó với bà, vào đợt cuối tuần mà cả lũ chúng tôi đều mệt rã rời, đã rất đơn giản, không chút ngạo mạn, trò chuyện với bà về bố mẹ anh, về “quê nhà”. Mặc dù đương nhiên nước Anh của anh và của bà là hai đất nước hoàn toàn khác nhau.

Chúng tôi đùa nhau rằng bà Boothby đã để mắt đến Paul. Không ai trong chúng tôi thực sự tin vào điều này; nếu tin thì chúng tôi đã không đùa - hoặc chính xác hơn, tôi hy vọng chúng tôi đã không làm vậy. Vì trong giai đoạn ban đầu này, chúng tôi rất thích bà. Nhưng bà Boothby chắc chắn là rất mê Paul. Và bà cũng mê cả Willi nữa. Và mê chính những điểm mà chúng tôi ghét cay ghét đắng ở cả hai người - thái độ thô lỗ, ngạo mạn đằng sau những hành xử trang nhã của họ.

Chính nhờ Willi mà tôi biết được bao nhiêu phụ nữ thích bị ức hiếp. Điều này nghe thật xúc phạm và tôi từng đấu tranh để không công nhận đây là sự thật. Nhưng tôi đã phải chứng kiến hết lần này đến lần khác. Nếu có một phụ nữ nào đó mà những người còn lại trong nhóm chúng tôi coi là kẻ khó tính, được chúng tôi chiều chuộng, được chúng tôi thể tất, Willi thường nói, “Các cậu chả biết quái gì cả, cô ta chỉ cần cho ăn roi thật đau là đâu vào đấy hết.” (“Ăn roi thật đau” là cách nói phổ biến của người da trắng ở Khu thuộc địa, đầy đủ là, “Bọn kaffir(10) chỉ cần cho ăn roi thật đau là đâu vào đấy hết,” nhưng Willi dùng nó với cả những trường hợp khác.) Tôi nhớ đến mẹ của Maryrose, một phụ nữ điên khùng thích kiểm soát, đã hút hết sức sống của cô con gái, trạc tuổi năm mươi, khỏe mạnh và om sòm như một con gà mái già. Vì Maryrose, chúng tôi luôn lịch sự, chúng tôi chấp nhận bà khi bà nhặng xị theo chân cô con gái vào Gainsborough. Khi bà xuất hiện, Maryrose rơi vào trạng thái cáu kỉnh đến ủ dột, một dạng kiệt quệ vì căng thẳng. Cô biết cô phải đấu tranh với mẹ, nhưng cô lại không có sức mạnh tinh thần để làm việc này. Trong khi chúng tôi đã chuẩn bị tinh thần chịu đựng những phiền phức do bà gây ra, chiều lòng bà, thì Willi đã trị bà chỉ bằng dăm lời nói. Một buổi tối bà đến Gainsborough và thấy cả lũ chúng tôi đang ngồi trò chuyện quanh căn phòng ăn vắng vẻ. Bà nói to, “Vậy là các cô các cậu vẫn ở đây như thường lệ. Các cô các cậu phải đi ngủ rồi chứ.” Và khi bà đang định ngồi xuống nhập bọn với chúng tôi thì Willi, không hề cao giọng, chỉ hướng cặp mắt kính lấp loáng sang phía bà và nói, “Chào bác Fowler.” “Ừ, Willi? Lại là cậu đấy à?” “Bác Fowler, tại sao bác lại bám đuôi Maryrose đến đây và tự biến mình thành một mối phiền phức thế?” Bà thở gấp, đỏ bừng mặt, nhưng vẫn đứng cạnh chiếc ghế mà bà định ngồi vào và trừng mắt nhìn anh. “Đúng thế đấy.” Willi điềm tĩnh nói. “Bác là một bà già phiền phức. Nếu muốn bác có thể ngồi xuống, nhưng bác phải giữ trật tự và đừng có nói năng linh tinh.” Maryrose tái mặt vì sợ hãi và đau lòng thay cho mẹ. Nhưng sau một lúc im lặng, bà Fowler cười khẽ một tiếng bối rối rồi ngồi xuống và tuyệt đối trật tự. Sau đó, mỗi lần đến Gainsborough bà đều luôn cư xử với Willi như một cô gái nhỏ hiền thục trước mặt ông bố dữ đòn. Và không phải chỉ có bà Fowler và bà chủ Gainsborough mới như vậy.

Bây giờ đến lượt bà Boothby. Nhưng bà không phải là một kẻ bắt nạt tìm kiếm một kẻ bắt nạt khác mạnh hơn mình. Bà cũng không phải là người vô ý không mời mà tới. Tuy nhiên, ngay cả khi bà đã dùng cảm giác, nếu không phải là dùng trí thông minh - bà không phải là người thông minh - để hiểu ra rằng mình đang bị bắt nạt, bà vẫn trở lại nhiều lần để được bắt nạt nhiều hơn. Bà không chịu đầu hàng mà bằng lòng một cách bối rối khi bị “cho ăn roi” giống như bà Fowler, hay trở nên bẽn lẽn, e thẹn như bà James ở Gainsborough; bà thường kiên nhẫn lắng nghe và tranh luận lại, chỉ trên bề nổi của cuộc trò chuyện, bất chấp sự hỗn hào ẩn bên dưới, và vì thế đôi khi bà thậm chí còn khiến Willi và Paul phát ngượng mà tử tế trở lại với bà. Nhưng tôi biết chắc rằng hẳn phải có những lúc, khi ở một mình, bà đỏ bừng mặt, siết chặt nắm tay và nói, “Đúng vậy, tôi muốn đánh chúng một trận. Vâng, lẽ ra tôi nên đánh nó khi nó nói như vậy.”

Buổi tối hôm đó, Paul gần như ngay lập tức bắt đầu trò chơi ưa thích của mình - nhại theo những sáo ngữ của những người thực dân cho đến khi “người thực dân” đang bị đem ra làm trò đùa nhận ra được sự thật. Và Willi cũng tham gia.

“Người đầu bếp của bà, tất nhiên, đã ở đây với ông bà nhiều năm rồi - bà có muốn hút thuốc không?”

“Cảm ơn cậu, nhưng tôi không hút. Vâng, ông ta thật là ngoan, tôi phải nói về ông ta như thế, lúc nào cũng rất trung thành.”

“Ông ta gần như là người nhà ấy nhỉ, có phải không?”

“Đúng vậy, tôi nghĩ về ông ta như thế đấy. Và ông ta rất quý chúng tôi, chắc chắn thế. Lúc nào chúng tôi cũng đối xử tốt với ông ta.”

“Có lẽ không phải như một người bạn, mà như một đứa bé chứ?” (Giọng Willi.) “Bởi vì bọn họ chỉ là những đứa trẻ lớn xác mà thôi.”

“Vâng, đúng thế. Bọn họ chỉ là những đứa trẻ khi anh thực sự hiểu họ. Họ muốn được anh đối xử như cách anh đối xử với bọn trẻ - mạnh mẽ nhưng đúng đắn. Ông Boothby và tôi tin là mình nên đối xử tử tế với người da đen. Nên là như vậy thì hơn.”

“Nhưng mặt khác, bà không được để cho bọn họ lợi dụng bà,” Paul nói. “Bởi vì nếu không họ sẽ nhờn ngay.”

“Tôi rất vui khi nghe câu nói vậy, Paul ạ, bởi vì hầu hết thanh niên Anh các cậu vẫn có đủ thứ ý kiến hay hớm về bọn kaffir. Nhưng đúng thế. Họ phải biết là có một ranh giới không bao giờ được phép bước qua.” Vân vân và vân vân và vân vân.

Phải đến khi Paul nói rằng - anh đang ngồi ở tư thế yêu thích của mình - vại bia để yên, đôi mắt xanh dương nhìn thẳng vào mắt bà với vẻ quyến rũ, “Và tất nhiên là chúng ta cách bọn họ hàng thế kỷ tiến hóa, họ chỉ là đám khỉ đầu chó mà thôi,” bà mới đỏ mặt và nhìn sang hướng khác. Khỉ đầu chó đã kịp trở thành từ tục tằn ở Khu thuộc địa, mặc dù chỉ mới năm năm trước thôi nó còn được coi là chấp nhận được, thậm chí trong cả các bài xã luận. (Cũng như từ Kaffir đến lượt mình mười năm nữa sẽ trở thành thô thiển.) Bà Boothby không thể tin được rằng một “thanh niên trẻ tuổi có giáo dục, xuất thân từ một trong những trường đại học tốt nhất nước Anh” lại sử dụng từ khỉ đầu chó. Nhưng khi bà nhìn Paul một lần nữa, gương mặt thật thà đỏ bừng của bà đã sẵn sàng đón nhận đau thương, thì anh ngồi đó, nụ cười ngây thơ vẫn giữ nguyên vẻ chăm chú đầy quyến rũ như trước đó một tháng, khi anh chỉ là một chàng trai nhớ nhà, cần nhận một chút chăm sóc. Bà đột nhiên thở dài rồi đứng dậy, lịch sự nói, “Giờ tôi phải xin phép đi dọn bữa tối cho ông già nhà tôi đã. Ông Boothby ưa ăn nhẹ vào lúc khuya - chẳng bao giờ ông ấy có thời gian để ăn tối vì bận phục vụ quầy bar suốt cả buổi tối.” Bà chúc chúng tôi ngủ ngon, ném cho Willi, sau đó là Paul, một cái nhìn dò xét nghiêm nghị, đầy vẻ tổn thương, thật lâu. Rồi bà ra về.

Paul ngửa đầu ra sau, vừa cười vừa nói, “Bọn họ thật phi thường, bọn họ thật khó tin, bọn họ không thể có thật được.”

“Thổ dân,” Willi nói và phá lên cười. Thổ dân là từ anh dùng để chỉ người da trắng ở Khu thuộc địa.

Maryrose nói khẽ, “Em không thấy được làm thế để làm gì, Paul ạ. Chỉ là trêu chọc người ta mà thôi.”

“Maryrose thân mến. Maryrose xinh đẹp thân mến,” Paul nói,vừa khùng khục cười vừa uống bia.

Maryrose rất đẹp. Cô nhỏ bé, mảnh khảnh, mái tóc lượn sóng màu mật ong và đôi mắt lớn màu nâu. Cô đã từng xuất hiện trên bìa tạp chí ở Cape Town, có thời gian từng là người mẫu thời trang. Cô không hề có tính tự ái. Cô mỉm cười nhẫn nại và chậm rãi nói một cách kiên quyết nhưng vui vẻ, “Đúng vậy, Paul. Dù thế nào đi nữa thì em cũng trưởng thành từ mảnh đất này. Em hiểu bà Boothby. Em cũng giống như thế cho đến khi những người như anh giải thích rằng em đã sai. Anh không thể thay đổi bà ấy bằng cách trêu chọc bà ấy được. Anh chỉ làm bà ấy cảm thấy bị tổn thương mà thôi.”

Paul lại khùng khục cười và khăng khăng, “Maryrose, Maryrose, em cũng tốt đến mức không thể có thật được.”

Nhưng lát sau, cũng trong buổi tối đó, cô đã làm cho anh phải xấu hổ.

George Hounslow là dân làm đường, sống trong một thị trấn nhỏ cách đó chừng một trăm sáu mươi cây số cùng với vợ, ba con và bốn ông bà thân sinh của hai bên. Anh sẽ lái xe tải đến đây lúc nửa đêm. Anh đã đề nghị được tham gia mấy buổi tối trong kỳ nghỉ đó với chúng tôi, còn ban ngày thì làm việc trên con đường chính. Chúng tôi rời phòng ăn và đến ngồi dưới mấy cây bạch đàn gần đường sắt để chờ George. Dưới tán cây có một chiếc bàn gỗ thô và mấy chiếc ghế dài. Ông Boothby gửi đến mười hai chai rượu vang trắng ủ lạnh. Lúc đó chúng tôi đứa nào cũng đều đã say cả rồi. Cả khách sạn chìm trong bóng tối. Một lát sau, ánh đèn từ ngôi nhà ông bà Boothby cũng phụt tắt. Có một ngọn đèn nhỏ ở nhà ga và một chùm sáng nhỏ le lói từ khu phòng ngủ trên sườn núi cách đó mấy trăm mét. Ngồi dưới tán cây bạch đàn với ánh trăng lạnh nhỏ xuống đầu chúng tôi qua cành lá, và ngọn gió đêm cuốn đám bụi lên rồi rắc xuống chân chúng tôi, cả đám có cảm giác như đang ở chính giữa thảo nguyên. Khách sạn lẫn vào trong phong cảnh hoang sơ xung quanh với những gò đá granite, cây cối và ánh trăng. Cách đó gần hai cây, con đường chính cắt ngang một sườn núi, một vạt sáng nhợt nhạt, mỏng manh chạy giữa hai bờ cây đen thẫm. Mùi dầu khô của bạch đàn, mùi khô khó chịu của bụi đất, mùi lạnh của rượu vang, tất cả đều góp phần làm chúng tôi thêm say sưa.

Jimmy ngủ gà gật, đổ người vào Paul, còn Paul thì đưa tay ôm lấy anh. Tôi cũng lơ mơ ngủ, dựa đầu vào vai Willi. Stanley Lett và Johnnie, tay đánh dương cầm, ngồi sát bên nhau quan sát cả lũ chúng tôi với vẻ tò mò hiền hậu. Họ, bây giờ hay ở bất cứ thời điểm nào, chẳng giấu gì việc họ mới là những kẻ đang chịu đựng chúng tôi, chứ không phải ngược lại và điều này là dựa trên lập trường được thể hiện rõ rằng họ thuộc giai cấp lao động và vẫn sẽ thuộc giai cấp lao động, nhưng họ không phản đối được quan sát trực tiếp, nhờ những tình cờ thú vị của chiến tranh, hành vi của một nhóm trí thức. Chính Stanley là người sử dụng từ này, và cậu ta nhất định không chịu rút lại. Johnnie, tay chơi dương cầm, chẳng bao giờ nói câu nào. Cũng chẳng nói từ nào. Cậu luôn ngồi gần Stanley, âm thầm ủng hộ bạn.

Ted đã bắt đầu khổ sở vì Stanley, “cánh bướm dưới tảng đá” không chịu thừa nhận rằng cậu ta đang cần được giải thoát. Để tự an ủi, anh ngồi cạnh Maryrose và quàng tay quanh người cô. Maryrose mỉm cười vui vẻ và ngồi yên trong vòng tay của anh, nhưng tỏ vẻ xa cách như với bất kỳ người đàn ông nào khác. Rất nhiều cô gái đẹp một cách chuyên nghiệp có cái tài để cho người khác đụng chạm, hôn, ôm mình, cứ như đây là lệ phí phải trả cho Thượng đế vì đã sinh ra họ xinh đẹp. Một nụ cười vị tha thường sẽ đi kèm với thái độ khuất phục trước bàn tay của đàn ông, giống như hành động ngáp hay thở dài nhẫn nại. Nhưng đối với Maryrose thì còn hơn thế.

“Maryrose này,” Ted nói, giọng thành thật, mắt nhìn xuống cái đầu xinh xinh đang tỏa sáng trên vai mình, “tại sao em không yêu ai đó trong bọn, tại sao em không để cho ai đó trong bọn mình yêu em nhỉ?”

Maryrose chỉ mỉm cười, và ngay cả trong chút ít ánh sáng len lỏi qua những kẽ lá, đôi mắt nâu của cô vẫn to tròn và sáng một cách dịu dàng.

“Maryrose luôn đau khổ,” Willi nhận xét trên đầu tôi.

“Khái niệm đau khổ chỉ tồn tại trong tiểu thuyết kiểu cũ thôi,” Paul nói. “Nó không phù hợp với thời chúng ta đang sống đâu.”

“Ngược lại thì có,” Ted nói. “Số người đau khổ đang nhiều hơn bao giờ hết, chỉ vì cái thời chúng ta đang sống. Trên thực tế, tớ chắc chắn rằng bất cứ trái tim nào mà chúng ta có khả năng gặp được đều bị rạn vỡ, chấn động và nứt nẻ, và chỉ là một đám mô sẹo mà thôi.”

Maryrose ngước lên mỉm cười với Ted, tỏ vẻ ngượng ngùng nhưng cũng đầy biết ơn, sau đó nghiêm túc nói, “Đúng, tất nhiên là đúng như vậy rồi.”

Trước đây, Maryrose có một người anh trai mà cô hết mực yêu thương. Tính tình hai anh em rất hợp nhau, nhưng quan trọng hơn, mối quan hệ của họ cực kỳ khăng khít vì họ phải hỗ trợ nhau đối phó với bà mẹ quá quắt, hay chèn ép và gây khó khăn cho họ. Một năm trước, người anh trai này đã chết ở Bắc Phi, khi Maryrose đang làm người mẫu ở Cape Town. Cô rất được yêu thích, dĩ nhiên, nhờ vẻ ngoài của mình. Có một cậu thanh niên trông rất giống anh trai cô. Chúng tôi đã xem ảnh cậu ta - mảnh khảnh, ria vàng hoe, trông rất hiếu chiến. Cô yêu cậu ta ngay lập tức. Cô nói với chúng tôi - và tôi vẫn nhớ cảm giác choáng váng mà cô luôn gây ra cho chúng tôi bằng vẻ thành thật tuyệt đối nhưng cũng hết sức hờ hững, “Đúng thế, em biết là em yêu anh ấy vì anh ấy giống anh trai em, nhưng thế thì có gì sai nào?” Cô luôn đặt câu hỏi, hoặc tuyên bố, “Thế thì có gì sai nào?” còn chúng tôi chẳng bao giờ nghĩ nổi câu trả lời. Nhưng cậu thanh niên đó chỉ giống anh cô ở bề ngoài, mặc dù rất vui được tằng tịu với Maryrose nhưng cậu ta không hề muốn cưới cô.

“Có thể là đúng,” Willi nói, “nhưng rất là ngớ ngẩn. Em có biết điều gì sẽ xảy ra với em không Maryrose, nếu như em không chịu dè chừng? Em đang tôn thờ gã bạn trai này của em, và càng kéo dài thì em lại càng trở nên bất hạnh. Em sẽ xua đuổi tất cả những chàng trai tử tế mà em có thể lấy làm chồng, rồi em sẽ lấy một ai đó cho có chồng, rồi thì em sẽ trở thành một trong những bà mệnh phụ bất mãn vẫn đầy rẫy xung quanh chúng ta.”

Xin chú thích rằng mọi việc xảy ra với Maryrose đúng y sì như thế. Vài năm sau đó, cô vẫn tiếp tục xinh đẹp một cách mỡ màng, để cho đàn ông tán tỉnh trong khi vẫn giữ nụ cười ngọt ngào trông giống hệt như cái ngáp, nhẫn nại ngồi trong vòng tay của người này người kia; và cuối cùng, hết sức đột ngột, cưới một ông trung niên đã có ba đứa con. Cô không yêu ông ta. Trái tim của cô đã chết khi người anh trai bị một chiếc xe tăng nghiền nát.

“Vậy anh nghĩ em nên làm gì?” cô hỏi Willi với vẻ nhã nhặn kinh khủng qua một mảng ánh trăng.

“Em nên ngủ với ai đó trong bọn anh. Càng sớm càng tốt. Không có liều thuốc nào chữa cơn mê muội tốt hơn thế,” Willi đáp bằng giọng vui vẻ tàn nhẫn mà anh vẫn dùng khi sắm vai dân Berlin sành điệu. Ted nhăn nhó, bỏ tay ra khỏi người Maryrose như muốn chứng minh rằng anh không có ý định đồng tình với lời mỉa mai đó, và nếu anh có lên giường với Maryrose thì cũng là vì sự lãng mạn thuần khiết. Vâng, tất nhiên là như vậy rồi.

“Dù sao thì,” Maryrose nhận xét, “em thấy cũng chẳng ích gì đâu. Em không thể ngừng suy nghĩ về anh trai em.”

“Anh chưa từng biết một người nào mà lại tuyệt đối thẳng thắn đến vậy về loạn luân,” Paul nói. Anh chỉ định đùa, nhưng Maryrose đã trả lời bằng giọng khá nghiêm túc, “Ừ, em biết như vậy là loạn luân. Nhưng buồn cười là hồi đó em không hề nghĩ rằng đấy lại là loạn luân. Anh biết đấy, em và anh trai em yêu nhau.”

Chúng tôi lại choáng. Tôi cảm thấy vai Willi như cứng lại, và tôi vẫn nhớ mình đã nghĩ rằng chỉ mấy giây trước thôi anh vẫn còn đóng vai người châu Âu suy đồi, nhưng việc Maryrose ngủ với anh trai đã ném anh trở lại với bản chất Thanh giáo thực của anh.

Mọi người im lặng, sau đó Maryrose nhận xét, “Ừ, em có thể hiểu tại sao mọi người lại thấy choáng. Nhưng những ngày này em thường xuyên nghĩ về điều đó. Bọn em chẳng gây hại gì cho ai cả, đúng không nào? Vậy nên em chẳng hiểu thế thì có gì sai.”

Lại im lặng. Sau đó Paul xen vào, giọng hoan hỉ, “Nếu em không thấy có gì khác nhau, tại sao em lại không ngủ với anh hả Maryrose? Biết đâu được đấy, nhỡ đâu em lại khỏi?”

Paul vẫn ngồi thẳng người, đỡ lấy trọng lượng cơ thể Jimmy. Anh làm chỗ dựa cho Jimmy một cách bao dung, giống như Maryrose cho phép Ted vòng tay ôm lấy người cô. Paul và Maryrose đóng cùng một vai trò trong nhóm, từ hai phía đối diện nhau của trục giới tính.

Maryrose điềm tĩnh nói, “Nếu người bạn trai của em ở Cape không thể nào làm em quên được anh trai mình thì anh sao làm nổi?”

Paul trả lời, “Đâu là bản chất của cái trở ngại khiến em không thể cưới người tình trẻ ấy?”

Maryrose nói, “Anh ấy xuất thân từ một gia đình gia giáo ở Cape, và bố mẹ anh ấy không cho em lấy anh ấy, bởi vì em không phải con nhà.”

Paul buông ra cái tiếng cười khùng khục đầy quyến rũ của anh. Tôi không định nói là anh đã tập luyện kiểu cười này, nhưng chắc chắn anh biết đây là một trong những điểm hấp dẫn của mình. “Gia đình gia giáo,” anh nói đầy nhạo báng. “Gia đình gia giáo ở Cape. Hay ho quá nhỉ, quá hay luôn.”

Nghe thì như vậy nhưng thực tế câu nói ấy không đến nỗi hợm hĩnh lắm. Sự hợm hĩnh của Paul được thể hiện một cách gián tiếp qua các câu chuyện đùa hoặc khi chơi chữ. Thực ra là anh đang thỏa mãn niềm đam mê của cuộc đời mình, niềm thích thú với sự bất thường. Nhưng tôi không có tư cách để chỉ trích, vì tôi dám chắc cái lý do thực sự khiến mình ở lại Khu thuộc địa lâu đến thế, kể cả khi đã không còn ràng buộc gì nữa, là vì những nơi như vậy dung dưỡng loại niềm vui này. Paul đang mời tất cả chúng tôi thưởng lãm trò đùa của anh, giống như khi anh đã bày trò với vợ chồng nhà Boothby, một phiên bản của vợ chồng John Bull, điều hành khách sạn Mashopi.

Nhưng Maryrose đã lặng lẽ nói, “Em nghĩ việc này có vẻ buồn cười đối với anh, vì anh đã quen với những gia đình gia giáo ở Anh, và tất nhiên em hiểu được là gia giáo ở Anh sẽ khác gia giáo ở Cape. Nhưng với em thì chẳng có gì khác cả, phải không?”

Paul vẫn giữ vẻ mặt đùa cợt nhằm che giấu sự khó chịu đang bắt đầu nhen nhóm. Thậm chí như để chứng minh rằng đòn tấn công mà cô dành cho anh là thiếu công bằng, anh còn dịch người theo bản năng, khiến đầu của Jimmy ngả hẳn lên vai anh, như để thể hiện bản tính dịu dàng của mình.

“Nếu em ngủ với anh, Paul ạ,” Maryrose tuyên bố, “em dám chắc rằng em sẽ thích anh. Nhưng anh cũng như anh ấy thôi, như bạn trai của em ở Cape. Anh sẽ không bao giờ cưới em, vì em không phải con nhà. Anh làm gì có tim.”

Willi phá lên cười. Ted nói, “Đáng đời cậu, Paul.” Paul không nói gì. Vì bị dịch người lúc trước, Jimmy đã đổ xuống, đầu và vai tì lên đầu gối Paul, khiến cho anh phải giữ nguyên tư thế ngồi. Paul ẵm Jimmy như ẵm một đứa trẻ; và nguyên cả buổi tối anh ngồi nhìn Maryrose với một nụ cười lặng lẽ và thiểu não. Sau hôm đó, anh luôn nói chuyện một cách dịu dàng với cô, cố gắng tranh thủ tình cảm để xóa đi sự khinh ghét mà cô dành cho anh. Nhưng anh chẳng thay đổi được gì.

Khoảng nửa đêm, ánh sáng đèn pha của một chiếc xe tải nuốt chửng lấy ánh trăng, ngoặt ra khỏi con đường chính và đỗ lại ở khoảng cát trắng bên cạnh đường sắt. Đấy là một chiếc xe tải lớn, chở đầy thiết bị; có một nhà lưu động móc đằng sau. Cái nhà lưu động này là nhà của George Hounslow khi anh đi giám sát công trình. George nhảy xuống từ ghế lái rồi đi đến chỗ chúng tôi, và anh được chào đón bằng một ly rượu vang đầy ắp mà Ted đưa cho. Anh uống cạn, vừa đứng vừa nói xen giữa các ngụm, “Một lũ nghiện ngập bụng ỏng khốn nạn đần độn ngồi đây nhậu nhẹt.” Tôi nhớ mình ngửi thấy mùi rượu vang mát và gắt khi Ted nghiêng một chai khác để rót đầy ly cho George; rượu vang tràn ra và kêu xì xì trên đất bụi. Mùi đất bụi thật nặng và ngọt, cứ như trời vừa mưa xong.

George bước đến hôn tôi. “Anna xinh đẹp, Anna xinh đẹp - nhưng anh không thể có em được vì đã có thằng cha Willi chết tiệt này rồi.” Sau đó anh hất Ted ra, hôn lên bên má ngoảnh đi của Maryrose và nói, “Thế giới có bao nhiêu là cô gái đẹp, thế mà chúng ta ở đây chỉ có mỗi hai cô, muốn khóc quá đi mất.” Đám đàn ông cười phá lên, và Maryrose nhìn tôi mỉm cười. Tôi cười đáp lại. Nụ cười của cô chất chứa một nỗi đau vừa bất ngờ xuất hiện, và tôi chợt nhận ra mình cũng vậy. Rồi cô trở nên không thoải mái vì đã bộc lộ bản thân mình, chúng tôi nhanh chóng quay đi chỗ khác để thoát khỏi khoảnh khắc vừa qua. Tôi nghĩ chẳng ai trong hai chúng tôi sẵn lòng lý giải nỗi đau mà mình vừa cảm nhận. Lúc này George ngồi nhô người về phía trước, tay cầm ly rượu đầy ắp, và nói, “Lũ khốn và các đồng chí, đừng thơ thẩn nữa, đã đến lúc cho tôi biết tin tức rồi đấy.”

Chúng tôi bắt đầu sôi nổi lên, quên đi cơn buồn ngủ. Chúng tôi lắng nghe Willi tường thuật cho George về tình hình chính trị trong thành phố. George là người cực kỳ nghiêm chỉnh. Và anh hết sức tôn sùng Willi - đầu óc của Willi. Anh tin rằng mình là người ngu đần. Anh tin, và có lẽ suốt đời anh vẫn tin, rằng anh thiếu hụt đủ thứ và rằng anh rất xấu xí.

Trên thực tế anh khá ưa nhìn, hoặc ít nhất là phụ nữ luôn để ý đến anh, ngay cả khi họ không nhận ra là mình đang làm thế. Chẳng hạn, bà Lattimore tóc đỏ xinh đẹp vốn thường xuyên tuyên bố rằng anh rất đáng ghê tởm, nhưng lại chẳng bao giờ rời mắt khỏi anh. Anh khá cao, nhưng trông anh thấp hơn thực tế vì đôi vai rộng khiến người anh gù về phía trước. Thân hình anh rất rộng ở vai đột ngột hẹp lại ở hông. Vóc người anh giống như một chú bò mộng, mọi cử động của anh đều rất cương quyết và đột ngột do một nguồn năng lượng bị kìm nén, dồn ứ, tích tụ và bất đắc dĩ phải chấp nhận như vậy. Nguyên nhân là vì đời sống gia đình của anh rất khó khăn. Ở nhà, anh phải nhẫn nại, hy sinh, kỷ luật, và anh đã phải thể hiện như thế trong nhiều năm trời. Nhưng tôi biết, bản chất anh chẳng có chút nào những đức tính này. Có lẽ đây là lý do khiến anh tự hạ thấp mình xuống, khiến anh thiếu niềm tin ở bản thân. Anh là mẫu người có khả năng vĩ đại hơn nhiều so với chiếc áo mà cuộc đời khoác lên người anh. Tôi nghĩ là anh biết điều này, nhưng bởi vì anh âm thầm cảm thấy tội lỗi khi bực dọc với hoàn cảnh gia đình mình nên thái độ tự phỉ báng chính mình là một trong những cách anh sử dụng để trừng phạt bản thân chăng? Tôi không biết nữa… hoặc biết đâu anh tự trừng phạt mình như vậy vì tội liên tục thiếu chung thủy với vợ chăng? Phải là một ai đó già dặn hơn tôi vào thời điểm đó mới có thể hiểu được mối quan hệ của George với vợ anh. Anh dành cho cô một tình thương hết sức trung thành, sâu sắc, tình thương mà hai nạn nhân dành cho nhau.

Anh là một trong những người đáng yêu nhất mà tôi từng biết. Và chắc chắn anh là người tếu nhất. Anh khôi hài theo cái kiểu bộc phát, không thể cưỡng lại được. Tôi đã từng chứng kiến cảnh anh khiến cả căn phòng đầy ắp người cười như phát rồ từ khi quầy bar đóng cửa đến khi mặt trời mọc. Chúng tôi lăn lộn trên giường và trên sàn nhà, cười đến mức chẳng nhấc nổi mình lên được nữa. Ngày hôm sau, khi nhớ lại những câu chuyện cười đó, chúng tôi thấy cũng chẳng buồn cười lắm. Nhưng chúng tôi đã phát ốm vì cười - một phần vì khuôn mặt anh, một khuôn mặt đẹp trai, nhưng là kiểu đẹp trai khuôn mẫu, gần như là nhạt nhẽo trong sự cân đối của nó, khiến người ta nghĩ anh sẽ nói năng sách vở, nhưng tôi nghĩ chủ yếu là vì anh có cái môi trên rất dài và mỏng làm mặt anh trông vụng về và bướng bỉnh đến mức gần như ngớ ngẩn. Rồi các câu chuyện cứ thế tuôn ra khỏi khuôn mặt ấy, bằng giọng kể buồn bã, quyến rũ, nhuốm màu tự trừng phạt, và anh nhìn chúng tôi lăn ra cười, nhưng không bao giờ anh cười với các nạn nhân của mình mà chỉ nhìn với vẻ ngạc nhiên hết sức, như thể anh đang nghĩ: Ôi, nếu như mình có khả năng làm cho những con người thông minh này cười như vậy thì mình không thể nào là loại bỏ đi như mình nghĩ được.

Anh khoảng bốn mươi tuổi. Như vậy có nghĩa là anh già hơn mười hai tuổi so với người già nhất trong nhóm chúng tôi, Willi. Chúng tôi không bao giờ nghĩ đến điều này, nhưng anh thì không thể nào quên được. Anh thuộc kiểu người lúc nào cũng coi mỗi năm trôi qua như những viên ngọc quý lần lượt tuột qua kẽ tay rơi xuống biển. Đấy là vì tình cảm của anh đối với phụ nữ. Anh còn một niềm đam mê khác nữa là chính trị. Một trong những gánh nặng không hề nhẹ của anh là đã được bố mẹ dạy dỗ theo truyền thống xã hội chủ nghĩa cũ rích kiểu Anh, là thứ chủ nghĩa xã hội thế kỷ 19, duy lý, thực dụng và trên hết, căm thù tôn giáo với một nhiệt huyết mang tính tôn giáo. Nền giáo dục đó không thể giúp anh hòa mình được vào với những con người ở Khu thuộc địa. Anh là người cô độc và tách biệt, sống trong một thị trấn nhỏ xíu, lạc hậu và cô lập. Chúng tôi, nhóm thanh niên trẻ hơn anh rất nhiều, là những người bạn thực thụ đầu tiên mà anh có được sau bao nhiêu năm trời. Tất cả chúng tôi đều yêu mến anh. Nhưng tôi không tin là anh lại biết điều này, hoặc cho phép bản thân mình biết được điều này. Sự khiêm nhường trong anh quá mạnh. Đặc biệt là sự khiêm nhường trước Willi. Tôi vẫn nhớ có lần vì quá bực mình với kiểu anh ngồi, thể hiện sự tôn kính Willi bằng tất cả con người mình, trong lúc Willi đang tuyên bố luật lệ của một cái gì đó, tôi nói, “Vì Chúa, George ạ, anh rất đáng yêu, và em không chịu được khi chứng kiến cảnh anh liếm giày cho một người như Willi.”

“Nhưng giá mà anh có được đầu óc như Willi,” anh trả lời, và đúng là chỉ có anh mới có cái kiểu không thèm hỏi tại sao tôi lại đưa ra một nhận xét như thế về người đàn ông mà tôi đang chung sống, “nếu có được đầu óc như cậu ta, anh sẽ là người hạnh phúc nhất thế giới.” Và môi trên của anh chúm lại như tự chế giễu mình, “Em bảo đáng yêu là thế nào? Anh là thằng khốn, em biết mà. Anh đã kể cho em nghe những việc anh làm và rồi em lại bảo là anh đáng yêu.” Anh đang nói đến những gì anh đã kể cho Willi và tôi nghe, chỉ một mình hai bọn tôi, về các mối quan hệ của anh với phụ nữ.

Kể từ lúc đó, tôi thường xuyên nghĩ về điều này. Tôi muốn nói đến từ đáng yêu. Có lẽ tôi định dùng từ tốt. Tất nhiên chúng chẳng có ý nghĩa gì cả nếu ta nghĩ kỹ về chúng. Người ta vẫn nói một người đàn ông tốt, một người phụ nữ tốt; một người đàn ông đáng yêu, một người phụ nữ đáng yêu. Đương nhiên là chỉ khi nói chuyện thôi, đó không phải là những từ ngữ mà bạn sử dụng trong tiểu thuyết. Tôi sẽ tránh không dùng chúng.

Nhưng trong nhóm đó, tôi xin nói ngắn gọn, không cần phân tích gì thêm, George là người tốt, còn Willi thì không. Maryrose, Jimmy, Ted và tay chơi đàn dương cầm Johnnie là người tốt, còn Paul và Stanley Lett không phải. Và hơn nữa, tôi cá rằng nếu ngẫu nhiên chọn ra mười người trên phố và cho gặp họ, hoặc mời đến gia nhập với chúng tôi dưới tán cây bạch đàn đêm hôm đó, tất cả sẽ ngay lập tức đồng ý với cách phân loại này - sẽ biết tôi muốn nói gì, nếu tôi sử dụng từ tốt, đơn giản như vậy thôi.

Và khi nghĩ về điều này, một việc tôi đã làm không ít lần, tôi chợt nhận thấy mình đang đi vòng, bằng cửa sau, đến với một trong những điều luôn ám ảnh tôi. Tất nhiên, tôi muốn nói đến vấn đề “nhân cách”. Có trời chứng giám, chúng ta không bao giờ được phép quên rằng khái niệm “nhân cách” đã không còn tồn tại. Đấy là chủ đề của một nửa số tiểu thuyết đã từng được viết ra, chủ đề của các nhà xã hội học và tất cả các học giả khác. Người ta thường xuyên nói với chúng ta rằng nhân cách con người đã tan ra thành hư vô dưới toàn bộ khối kiến thức của chúng ta, đến nỗi tôi thậm chí đã bắt đầu tin vào điều đó. Nhưng khi nhìn lại nhóm người dưới tán cây bạch đàn và tái tạo lại hình ảnh của họ trong ký ức mình, đột nhiên tôi biết điều đó là vô nghĩa. Giả sử bây giờ tôi gặp Maryrose, sau bao nhiêu năm xa cách, cô sẽ làm một cử chỉ gì đó, hoặc liếc mắt theo cái kiểu đặc trưng của cô, và cô sẽ lại là Maryrose mà không gì có thể hủy diệt được. Hoặc giả sử cô đã “đổ vỡ”, hoặc phát điên. Cô sẽ vỡ tan tành thành nhiều mảnh nhỏ, nhưng cái cử chỉ đó, điệu bộ, ánh mắt đó vẫn nguyên vẹn, cho dù một số yếu tố kết nối không còn nữa. Và như vậy cuộc trò chuyện của các học giả, một hành động ức hiếp mang tính phản nhân văn, về chủ đề nhân cách bốc hơi đã trở nên vô nghĩa đối với tôi ở thời điểm tôi có đủ năng lượng cảm xúc bên trong mình để tạo ra trong ký ức một số con người mà tôi biết. Tôi ngồi xuống và nhớ lại mùi đất bụi và đêm trăng, tôi thấy Ted trao cho George ly rượu vang, còn George thì đáp lại một cách biết ơn thái quá. Hoặc tôi nhìn thấy, như trong một bộ phim quay chậm, Maryrose quay đầu với nụ cười nhẫn nại đến khủng khiếp… Tôi vừa mới viết ra từ phim. Đúng vậy. Tất cả những thời khắc mà tôi nhớ được đều có sự chắc chắn tuyệt đối như một nụ cười, một ánh mắt, một cử chỉ, trong một bức tranh hoặc một bộ phim. Phải chăng tôi đang nói rằng sự chắc chắn mà tôi cố sức bám vào thuộc về nghệ thuật thị giác chứ không thuộc về tiểu thuyết, không có chút nào dính dáng đến tiểu thuyết, thứ đã được đẩy vào địa phận của tan rã và sụp đổ? Tiểu thuyết gia còn bám vào ký ức về một nụ cười hay một ánh mắt làm gì khi đã quá rõ những điều phức tạp đằng sau chúng? Nhưng nếu không vậy, tôi sẽ chẳng bao giờ có khả năng đặt một từ nào lên giấy; giống như tôi đã từng giữ mình khỏi phát điên trong cái thành phố phương Bắc lạnh giá này bằng cách cố bắt mình nhớ lại cảm giác ấm áp của ánh mặt trời trên da thịt.

Và như vậy, tôi sẽ viết lại một lần nữa rằng George là người tốt. Và rằng tôi không chịu được cảnh phải chứng kiến anh biến thành một cậu học sinh nhút nhát khi nghe Willi nói… buổi tối hôm đó anh ghi nhận thông tin về những lộn xộn của các nhóm cánh tả trong thành phố bằng vẻ khiêm nhường và một cái gật đầu như nói rằng anh sẽ dành nhiều thời gian suy nghĩ khi ở một mình - bởi vì tất nhiên là anh quá ngu xuẩn để có thể suy nghĩ về một vấn đề gì đó mà không cần đến hàng tiếng đồng hồ liền, mặc dù những người còn lại trong nhóm chúng tôi đủ thông minh để không cần làm vậy.

Chúng tôi, tất cả chúng tôi, đều nghĩ rằng Willi đã quá nương nhẹ trong khi phân tích; anh nói như thể đang ở trong ủy ban và chẳng truyền đạt gì về nỗi lo lắng mới của chúng tôi, lúc này đã ngả sang hoài nghi và chế giễu.

Còn Paul, để phản đối Willi, quyết định kể cho George nghe sự thật theo cách riêng của mình. Anh bắt đầu thảo luận với Ted. Tôi nhớ mình đã quan sát Ted và tự hỏi không biết anh có phản ứng lại sự thách thức nhẹ nhàng, bỡn cợt này không. Ted ngần ngừ, trông không thoải mái, nhưng vẫn tham gia. Và bởi vì hành động như vậy không phải là tính cách của anh, nó đi ngược lại những niềm tin sâu sắc của anh nên lời nói của anh mang một vẻ cường điệu dữ dội khiến chúng tôi cảm thấy gai người hơn cả khi nghe Paul nói.

Paul mở đầu bằng cách miêu tả một cuộc họp giữa ủy ban trong đó “hai-người-đàn-ông-rưỡi” quyết định số phận của lục địa châu Phi “mà tất nhiên là không đếm xỉa gì tới ý kiến của những người châu Phi.” (Đương nhiên, trước mặt những người ngoài như Stanley Lett và tay đánh dương cầm Johnnie, đây chẳng khác nào là hành động phản bội khi thừa nhận rằng chúng tôi nghi ngờ về niềm tin của mình. George nhìn hai người này bằng ánh mắt hồ nghi, kết luận rằng chắc chắn họ đã là một phần của nhóm chúng tôi, vì nếu không chúng tôi sẽ không bao giờ hành động thiếu trách nhiệm như thế, sau đó nở một nụ cười vui sướng vì chúng tôi đã có hai tân binh.) Và giờ Paul đang mô tả việc hai-người-đàn-ông-rưỡi tự dưng xuất hiện ở Mashopi và toan “hướng Mashopi tới đường lối hành động đúng đắn”.

“Tớ đồ rằng khách sạn của chúng ta sẽ là điểm khởi đầu rất thuận lợi, phải không Ted?”

“Gần quầy bar, Paul ạ, với tất cả mọi tiện nghi hiện đại.” (Ted vốn không uống được nhiều, và George cau mày, lộ vẻ bối rối, khi nghe anh nói.)

“Vấn đề là đấy không hẳn là trung tâm của giai cấp vô sản công nghiệp đang phát triển. Tất nhiên, người ta có thể, và trên thực tế có lẽ nên nói thế về cả đất nước này?”

“Đúng thế, Paul. Nhưng mặt khác, nơi này lại có vô thiên lủng nông dân làm thuê lạc hậu và đói rã ruột.”

“Những người chẳng cần gì khác ngoài một bàn tay dìu dắt của giai cấp vô sản nói trên, nếu có tồn tại cái gì như thế.”

“À, sao lại không chứ. Có năm người da đen nghèo kiết xác đang làm đường sắt ở đây, tất cả đều rách rưới khổ sở. Chắc chắn là họ sẽ thích hợp chứ hả?”

“Như vậy, tất cả những gì chúng ta phải làm là thuyết phục họ hiểu đúng về giai cấp của mình, và rồi chẳng mấy mà toàn bộ nơi này sẽ nổi lên một cuộc bạo động cách mạng khi chúng ta còn chưa kịp nói xong câu Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản(11).”

George nhìn Willi, chờ anh phản đối. Nhưng buổi sáng hôm đó, Willi đã bảo tôi rằng anh định dành hết thời gian cho nghiên cứu, và anh không còn chút thời gian nào cho “đám tay chơi và đám gái muốn tìm chồng này”. Anh có thể dễ dàng vứt bỏ những người mà anh đã coi trọng đủ để làm việc với họ trong nhiều năm.

Lúc này, George đang hết sức bồn chồn, anh đã cảm nhận được rằng niềm tin của chúng tôi đã tuột khỏi chúng tôi, và điều này đồng nghĩa với việc anh sẽ vĩnh viễn cô đơn. Anh nói với tay dương cầm Johnnie, ám chỉ Paul và Ted:

“Bọn kia đang nói chuyện vớ vẩn, phải không anh bạn?”

Johnnie gật đầu đồng tình - không phải là với những lời vừa rồi, tôi nghĩ cậu ta hiếm khi nghe người ta nói, cậu ta chỉ cảm thấy người ta có thân thiện với mình hay không mà thôi.

“Tên chú là gì? Anh chưa gặp chú bao giờ hay sao ấy nhỉ?”

“Johnnie.”

“Chú là dân miền Trung nước Anh hả?”

“Manchester.”

“Hai chú đều là đảng viên?”

Johnnie lắc đầu, George từ từ há hốc miệng, sau đó anh vội vuốt tay qua mắt và ngồi thù lù một đống, im lặng. Trong khi đó, Johnnie và Stanley vẫn ngồi bên nhau, quan sát. Họ đang uống bia. Đột nhiên bằng một nỗ lực ghê gớm để phá vỡ rào cản, George bật dậy và giơ cao chai rượu vang. “Không còn nhiều, nhưng hãy uống chút nào,” anh nói với Stanley.

“Anh đừng bận tâm,” Stanley nói. “Bọn em uống bia.” Rồi cậu ta vỗ vỗ vào túi áo và ngực áo, nơi mấy chai bia thò ra khắp mọi phía. Tài năng vĩ đại của Stanley là lúc nào cũng “tổ chức” được nguồn bia cho Johnnie và bản thân. Khi Khu thuộc địa cạn rượu bia, một việc vẫn thỉnh thoảng xảy ra, Stanley sẽ xuất hiện với những thùng bia mà cậu ta cất giữ ở các nhà kho khắp nơi trên thành phố, sau đó bán kiếm lời cho đến khi có lại.

“Chú nói đúng,” George nói. “Nhưng dạ dày bọn thực dân đáng thương chúng tớ đã được tưới đẫm món nước vo gạo xứ Cape này từ khi cai sữa.” George thích rượu vang. Nhưng thậm chí thái độ thân thiện này cũng chẳng làm đôi kia mềm lòng chút nào. “Các chú có nghĩ rằng cần phải tét đít hai đứa kia không?” George hỏi, ý chỉ Ted và Paul. (Paul mỉm cười, còn Ted trông xấu hổ.)

“Em chẳng quan tâm đến mấy thứ đấy đâu,” Stanley nói. Ban đầu, George nghĩ cậu ta vẫn đang nói đến món rượu vang nhưng khi nhận ra cậu ta muốn đề cập đến chính trị, anh liếc nhanh sang Willi chờ chỉ đạo. Nhưng Willi đã rụt đầu vào vai và ngân nga trong miệng. Tôi biết anh đang nhớ nhà. Willi điếc nhạc, không biết hát, nhưng mỗi khi nhớ Berlin, anh cứ ngân nga suốt một giai điệu trong vở Nhạc kịch ba xu của Brecht, tất nhiên là sai nhạc.

Ôi con cá mập

Có bộ răng nguy hiểm

Và nó cứ nhe ra

Trắng nhởn…

Nhiều năm sau nó trở thành bài hát nổi tiếng, nhưng lần đầu tiên tôi được nghe là ở Mashopi, từ miệng Willi; và tôi vẫn nhớ cái cảm giác chênh chao khi tôi nghe bài hát này ở London, sau khi Willi vì buồn nhớ nhà mà đã ngân nga “một bài tớ thường hát khi còn bé - của một người tên là Brecht, tớ không biết chuyện gì xảy ra với ông ấy, ngày xưa ông ấy thịnh lắm,” anh kể với chúng tôi như vậy.

“Chuyện gì vậy, các chú?” George hỏi, sau một lúc lâu im lặng bức bối.

“Có thể nói là đang bắt đầu có biểu hiện mất tinh thần.” Paul chậm rãi nói.

“Ôi không,” Ted nói, nhưng rồi kìm mình lại và ngồi cau mày. Sau đó, anh nhảy lên và nói, “Tớ đi ngủ đây.”

“Chúng ta ai cũng sẽ đi ngủ cả,” Paul nói. “Vì thế cậu hãy chờ một chút.”

“Em muốn đi ngủ. Em buồn ngủ lắm rồi,” Johnnie nói, một câu dài hơn bất cứ những gì chúng tôi từng được nghe từ cậu ta. Cậu ta lảo đảo đứng dậy, một tay chống lên vai Stanley. Có vẻ như cậu ta đã nghĩ rất kỹ về mọi chuyện và bây giờ nhận thấy cần phải tuyên bố một câu gì đó. “Chuyện là thế này,” cậu ta nói với George. “Em đến khách sạn này bởi vì em là bạn của Stanley. Cậu ấy bảo họ có đàn piano và sẽ khiêu vũ một chút vào tối thứ Bảy. Em đến đây không phải vì chính trị. Anh là George Hounslow. Em đã nghe họ nói về anh. Rất vui được gặp anh.” Cậu ta chìa tay ra, và George nồng nhiệt bắt tay.

Stanley và Johnnie thả bộ dưới ánh trăng về phía khu phòng nghỉ, còn Ted đứng dậy và nói, “Tớ cũng đi ngủ đây - và tớ sẽ không bao giờ quay trở lại đây nữa.”

“Ôi, đừng có làm trò nữa,” Paul lạnh lùng nói. Vẻ lạnh lùng đột ngột này làm Ted ngạc nhiên, anh nhìn khắp tất cả chúng tôi với vẻ mơ hồ, đau khổ và bối rối. Nhưng rồi anh lại ngồi xuống.

“Hai thằng cu kia làm cái quái gì ở đây với chúng ta thế?” George thô lỗ hỏi. Một sự thô lỗ xuất phát từ tâm trạng không vui. “Anh chắc là bọn nó tốt, nhưng tại sao chúng ta lại nói về rắc rối của mình trước mặt bọn nó chứ?”

Willi vẫn không phản ứng gì. Tiếng ngân nga buồn thảm vẫn tiếp tục vang lên nhè nhẹ dăm centimet phía trên tai tôi, “Ôi con cá mập có bộ răng nguy hiểm…”

Paul nói với Ted, giọng chậm rãi và thờ ơ, “Tớ nghĩ chúng ta đã đánh giá sai tình hình giai cấp ở Mashopi. Chúng ta đã bỏ sót một nhân vật rõ là then chốt. Ông ta lúc nào cũng ở ngay dưới mũi chúng ta - người đầu bếp của bà Boothby.”

“Chú nói cái quái gì vậy, người đầu bếp ư?” George hỏi - giọng quá ư là thô lỗ. Anh đứng thẳng dậy, hùng hổ và tổn thương, rồi anh cứ thế lắc lư cái ly khiến rượu tràn cả xuống đất. Cả lũ chúng tôi đều nghĩ rằng thái độ hùng hổ của anh chỉ là do anh ngạc nhiên trước tâm trạng của chúng tôi mà thôi. Mấy tuần nay chúng tôi chưa gặp anh. Tôi nghĩ cả bọn đều đang ước lượng mức độ thay đổi trong mình, bởi vì đây là lần đầu tiên chúng tôi được thấy hình ảnh chính mình, phản chiếu trong mắt chính mình trước đây chỉ một thời gian ngắn. Và bởi vì chúng tôi cảm thấy có lỗi nên chúng tôi bắt đầu ghét George - đủ ghét để muốn làm anh đau lòng. Tôi vẫn nhớ rất rõ rằng tôi đã ngồi đấy, nhìn khuôn mặt thật thà giận dữ của George và tự nhủ, lạy Chúa lòng lành! Tôi nghĩ rằng anh xấu xí - tôi nghĩ rằng anh lố bịch, dù trước đây chưa hề cảm thấy như vậy theo tôi nhớ. Và rồi tôi hiểu tại sao mình lại có cảm giác đó. Nhưng tất nhiên là mãi về sau này chúng tôi mới thực sự hiểu được nguyên nhân khiến George phản ứng như vậy khi Paul đề cập đến người đầu bếp.

“Rõ ràng là người đầu bếp rồi,” Paul chậm rãi nói, anh đã trở nên hào hứng với mong muốn được chọc tức và làm đau lòng George. “Ông ta biết đọc. Ông ta biết viết. Ông ta có nhiều ý tưởng - bà Boothby phàn nàn về điều này. Do đó, ông ta là thành phần trí thức. Tất nhiên, sau này ông ta sẽ bị bắn khi các ý tưởng đó biến thành trở ngại, nhưng đến lúc đó ông ta đã làm tròn bổn phận. Dù sao đi nữa, chúng ta sẽ bị bắn cùng ông ta.”

Tôi vẫn nhớ cái nhìn bối rối rất lâu mà George dành cho Willi. Sau đó anh thăm dò Ted, lúc này đang ngửa đầu ra, cằm hướng lên mấy cành cây, ngắm những vì sao lấp lánh qua kẽ lá. Rồi anh lo lắng nhìn Jimmy vẫn đang nằm rũ như một cái xác trong tay Paul.

Ted nói ngắn gọn, “Như vậy đủ rồi. Bọn em sẽ tiễn anh ra nhà lưu động, George ạ, và chúng ta chia tay.” Đấy là một cử chỉ hòa giải và thân thiện, nhưng George nói gọn lỏn, “Không.” Vì anh phản ứng như thế, Paul lập tức nhỏm dậy, khiến Jimmy đổ ụp xuống chiếc ghế dài và nói bằng giọng điềm tĩnh kiên quyết, “Tất nhiên là bọn em sẽ đưa anh đến tận giường rồi.”

“Không,” George lại nói. Giọng anh có vẻ sợ hãi. Rồi khi nghe thấy giọng mình, anh sửa lại. “Cái bọn ngu xuẩn này. Cái bọn nát rượu này, thể nào các chú mày cũng vấp phải đường ray mà ngã hết.”

“Em đã bảo,” Paul hờ hững nói, “là bọn sẽ đưa anh vào xe.” Anh hơi lắc lư trong lúc đứng, nhưng rồi lại có thể tự chủ được. Giống như Willi, Paul có thể uống được rất nhiều mà không thể hiện ra là mình say. Nhưng bây giờ thì anh đã say.

“Không,” George nói, “đã bảo là không. Chúng mày không nghe thấy hả?”

Lúc này Jimmy đã tỉnh, loạng choạng đứng dậy khỏi chiếc ghế dài và bám vào Paul để khỏi ngã. Hai người lắc lư một lúc, sau đó ào về phía đường sắt và cái nhà lưu động của George.

“Quay lại,” George hét lên. “Mấy thằng ngốc kia. Bọn say xỉn. Lũ nhà quê.” Bọn họ lúc này đã cách xa cả chục mét, cố giữ thăng bằng trên đôi chân lóng ngóng. Bóng cẳng chân họ, những cái sọc màu đen, đổ dài trên nền cát lấp lánh, gần chạm tới nơi George đứng. Trông họ giống như hai con rối nhỏ bé giật cục đang tụt xuống dọc theo những chiếc thang dài màu đen. George nhìn, cau mày, sau đó thấp giọng chửi thề và đuổi theo họ. Trong khi đó, mấy đứa chúng tôi nhăn nhó nhìn nhau với vẻ chịu đựng - Có chuyện gì với George thế nhỉ? George bắt kịp hai người, nắm lấy vai họ rồi xoay người họ lại đối mặt với anh. Jimmy ngã. Có một dải sỏi trải dọc theo đường sắt và anh trượt chân khi giẫm lên mấy hòn sỏi trơn trượt. Paul vẫn đứng thẳng, khó nhọc giữ cho thân mình được thăng bằng. George ngồi xuống đất với Jimmy, cố gắng dựng anh đứng dậy, cố gắng nhấc cơ thể nặng nề trong bộ quân phục dày cộp như được làm từ nỉ. “Cái thằng ngu này,” anh nói, dịu dàng một cách thô lỗ với gã say. “Tao đã bảo mày quay lại cơ mà? Chẳng phải thế à?” Và khi cố gắng dựng Jimmy dậy với tình thương dịu dàng nhất, anh vẫn gần như lắc người Jimmy vì điên tiết, nhưng đã kìm lại đúng lúc. Lúc này, lũ chúng tôi đã chạy tới nơi và đứng bên cạnh họ trên đường ray. Jimmy đang nằm ngửa ra, mắt nhắm nghiền. Trán anh bị rách vì đập vào sỏi, máu chảy đen thẫm trên gương mặt tái nhợt. Có vẻ như anh đang ngủ. Mái tóc rủ xuống, vắt ngang trán thành những dải lượn sóng, lần đầu tiên tạo được một vẻ duyên dáng ở nơi anh. Từng sợi tóc sáng lên óng ánh.

“Quỷ thật,” George nói, giọng đầy thất vọng.

“Thế sao cứ làm ầm lên?” Ted nói. “Bọn em chỉ định đưa anh ra xe thôi chứ có làm gì đâu.”

Willi hắng giọng. Âm thanh này lúc nào cũng khọt khẹt, khá khó chịu. Anh thường xuyên làm vậy. Đấy không phải là âm thanh của sự lo lắng, đôi khi nó là một lời cảnh báo ngầm, đôi khi là một lời tuyên bố: tôi biết một thứ mà anh không biết. Tôi nhận thấy lần này nó rơi vào trường hợp thứ hai, và điều anh muốn nói là nguyên nhân khiến George không muốn bất kỳ ai đến gần nhà lưu động là vì bên trong xe có một người phụ nữ. Lúc tỉnh, Willi không bao giờ để lộ một điều bí mật nào cả, dù là gián tiếp, như vậy có nghĩa là anh đã say. Để che giấu câu nói hớ này, tôi nói thầm với Maryrose, “Bọn mình cứ quên béng đi mất là George nhiều tuổi hơn, có lẽ với anh ấy bọn mình chỉ như một lũ trẻ con mà thôi.” Tôi nói đủ lớn để những người khác có thể nghe thấy. George cũng nghe thấy và anh ngoảnh đầu lại, nhăn nhở một nụ cười biết ơn. Nhưng chúng tôi vẫn không thể khiến Jimmy nhúc nhích. Cả lũ cứ đứng đó nhìn anh. Lúc này đã quá nửa đêm khá lâu, mặt sỏi không còn nóng nữa, còn mặt trăng đã hạ thấp trên dãy núi sau lưng chúng tôi. Tôi nhớ mình đã tự hỏi làm thế nào mà Jimmy, lúc tỉnh táo thường không bao giờ biểu lộ vẻ gì khác ngoài khiếm nhã và đáng khinh, giờ - trong lúc anh đang nằm say mèm trên đất bẩn với vết thương đen sì trên trán - lại thành ra đàng hoàng và khiến cho chúng tôi cảm động. Và đồng thời tôi cũng tự hỏi người phụ nữ đó là ai - ai trong số vợ của một ông nông dân cục mịch nào đó, hay một cô gái đến tuổi cập kê, hay một khách của khách sạn mà chúng tôi đã từng ngồi uống chung ở quầy bar tối hôm đó - đã lẻn vào nhà lưu động của George, cố gắng giấu mình trong ánh trăng sáng vằng vặc như vậy. Tôi nhớ mình đã ghen tị với cô ta. Tôi nhớ mình đã yêu George, chỉ trong khoảnh khắc đó, với một tình yêu đau đớn, buốt nhói, trong khi tôi tự mắng mình ngu ngốc đủ kiểu. Vì tôi đã ruồng rẫy tình cảm của anh hết lần này đến lần khác. Vào thời điểm đó của đời mình, vì những lý do mà mãi về sau tôi mới hiểu nổi, tôi đã không để mình ngả vào vòng tay của những người đàn ông thực sự muốn có tôi.

Cuối cùng chúng tôi cũng dìu được Jimmy đứng dậy. Cả lũ chúng tôi, vừa kéo vừa đẩy. Rồi chúng tôi đỡ và dựng người anh lên giữa những gốc cây bạch đàn và lối đi dài giữa các luống hoa dẫn vào phòng khách sạn. Ở đó, anh lập tức lăn quay ra ngủ, và cứ thế ngủ trong lúc chúng tôi lau vết thương cho anh. Vết thương sâu và đầy cát, và phải mất rất lâu mới cầm máu được. Paul nói anh sẽ ở lại và trông chừng Jimmy, “mặc dù tớ rất ghét phải đóng vai Florence Nightingale”. Tuy nhiên, anh vừa ngồi xuống thì đã ngáy khò khò, và cuối cùng Maryrose đã phải ngồi trông chừng cả hai người đến tận sáng. Ted đi về phòng sau lời chúc ngủ ngon cộc lốc, gần như là giận dữ. (Nhưng đến sáng anh lại chuyển sang trạng thái tự chế giễu và yếm thế. Trong nhiều tháng tiếp theo đó, anh sẽ liên tục dao động giữa vẻ nghiêm trọng ăn năn và sự yếm thế ngày càng cay độc - sau này anh nói rằng đấy là quãng thời gian mà anh cảm thấy xấu hổ nhất trong đời.) Willi, George và tôi đứng trên bậc thềm khi đấy vẫn còn lờ mờ ánh trăng. “Cảm ơn nhé,” George nói. Anh nhìn chằm chằm sát mặt tôi rồi mặt Willi, do dự, nhưng rồi lại không nói ra điều anh định nói. Thay vào đó, anh thô lỗ buông ra một câu đùa gượng gạo, “Sẽ có lúc anh trả ơn cô chú.” Rồi anh sải bước về phía chiếc xe tải đỗ ở gần đường sắt, trong khi Willi lẩm bẩm, “Nhìn y như một gã đang bí mật hẹn hò ấy nhỉ.” Anh đã trở lại với con người tinh tế của mình, kéo dài giọng nói với một nụ cười ra vẻ am hiểu. Nhưng tôi vẫn đang quá ghen tị với người phụ nữ bí ẩn nên không đáp lại, rồi chúng tôi im lặng đi ngủ. Và có lẽ chúng tôi sẽ ngủ đến tận trưa, nhiều khả năng là như vậy, nếu như không bị ba tay phi công bước vào đánh thức cùng hai khay đồ ăn. Jimmy quấn băng quanh đầu, trông mệt mỏi. Ted hớn hở một cách thái quá và kỳ quặc, còn Paul trông thật quyến rũ khi anh tuyên bố, “Bọn anh đang làm cho tay đầu bếp bắt đầu phải suy nghĩ lại rồi, bởi vì ông ta đã cho phép bọn anh nấu bữa sáng cho em, Anna thân mến ạ, và bọn này đã tiện tay làm cả cho cậu nữa, Willi ạ.” Anh điệu đà cho cái khay trượt xuống trước mặt tôi. “Người đầu bếp đang bận tối mặt tối mày để chuẩn bị cho tối nay. Hai cậu có thích mấy món bọn tớ mang cho hai cậu không?”

Họ mang đủ thức ăn cho cả lũ, vì vậy tất cả thoải mái đánh chén đu đủ, lê, thịt muối, trứng, bánh mì tươi nóng hổi và cà phê. Cửa sổ rộng mở và ánh mặt trời rực rỡ bên ngoài, gió thổi vào phòng rất ấm và mang theo hương hoa. Paul và Ted ngồi trên giường tôi và chúng tôi tán tỉnh nhau; còn Jimmy ngồi trên giường Willi và nhận lỗi say xỉn đêm qua. Nhưng lúc đấy đã muộn, quầy bar đã mở cửa, vì vậy chúng tôi nhanh chóng thay đồ và cùng nhau đi giữa những luống hoa đang làm cho ánh mặt trời tràn ngập mùi cánh hoa đã héo và đang hầm hập nóng, hăng hăng khô, đến quầy bar. Các hàng hiên khách sạn lúc này đã rất đông người ngồi uống, quầy bar đã chật, còn bữa tiệc, như lời Paul vừa huơ vại bia vừa tuyên bố, đã bắt đầu.

Nhưng riêng Willi lại rút lui. Một phần lý do là anh không tán thành những việc phóng túng như ăn sáng tập thể trong phòng ngủ. “Nếu chúng ta lấy nhau rồi,” anh phàn nàn, “thì có thể chấp nhận được.” Tôi cười anh, và anh nói, “Ừ. Cười đi. Nhưng lề thói cũ có ý nghĩa riêng của nó. Nó giúp người ta tránh được rắc rối.” Anh bực mình vì tôi cười nhạo anh, và nói rằng một người phụ nữ trong hoàn cảnh như của tôi càng cần có thêm tự trọng trong hành vi, “Hoàn cảnh thế nào?” Đột nhiên tôi trở nên hết sức giận dữ, bởi vì phụ nữ vẫn thường xuất hiện cảm giác như bị mắc kẹt trong những tình huống như vậy. “Đúng vậy, Anna ạ, đàn ông với phụ nữ không giống nhau. Từ trước đến nay vẫn vậy và về sau có lẽ vẫn sẽ luôn như vậy.” “Trước đến nay vẫn vậy?” tôi muốn nhắc anh nhớ lại quá khứ. “Từ thời điểm ta coi là quan trọng.” “Chỉ có anh mới nghĩ vậy.” Nhưng chúng tôi đã từng cãi nhau kiểu này, chúng tôi biết tất cả mọi cụm từ sẽ được bên kia sử dụng - sự yếu đuối của phụ nữ, tâm lý sở hữu của đàn ông, phụ nữ thời xưa, vân vân, vân vân và vân vân, đến phát ngán lên được. Chúng tôi biết đó là sự xung đột về tính tình sâu đậm đến mức dù có nói thế nào đi nữa thì cũng không thể tạo nên sự khác biệt đối với bất cứ ai trong hai chúng tôi - thực tế là chúng tôi luôn làm nhau sốc bởi những bản năng và những cảm xúc sâu sắc nhất. Vì vậy, nhà cách mạng chuyên nghiệp tương lai gật đầu cụt lủn với tôi và ra ngồi trên hiên khách sạn với mớ ngữ pháp tiếng Nga của mình. Nhưng anh cũng chẳng yên ổn học hành được bao lâu, bởi vì George đang sải bước từ phía rặng bạch đàn lên, trông rất nghiêm trọng.

Paul chào tôi, “Anna, đến xem mấy thứ đáng yêu trong bếp nào.” Anh choàng tay qua người tôi, và tôi biết Willi cũng nhìn thấy vì tôi cố tình làm vậy, và chúng tôi bước qua lối đi lát đá dẫn đến nhà bếp, một căn phòng rộng và thấp ở sau lưng khách sạn. Những chiếc bàn chất đầy thức ăn, trên phủ màn để ngăn ruồi. Bà Boothby đang ở đây cùng với người đầu bếp, và rõ ràng đang tự hỏi tại sao bà lại tự đẩy mình đến cảnh biến chúng tôi thành những vị khách quý đến mức có thể lượn lờ ra vào nhà bếp thoải mái như vậy. Paul lập tức chào người đầu bếp và hỏi thăm về gia đình ông ta. Tất nhiên, bà Boothby không thích điều này, nhưng cũng chính vì thế mà Paul mới làm vậy. Cả người đầu bếp lẫn bà chủ da trắng đều có chung một thái độ với Paul - thận trọng, bối rối, hơi nghi ngờ. Ấy là vì người đầu bếp đang hoang mang. Một trong những thay đổi quan trọng của việc có hàng trăm, hàng ngàn lính không quân ở Khu thuộc địa này trong năm năm qua là một số người da đen đã đi đến mức hiểu rõ rằng hoàn toàn có thể xảy ra - cùng với những việc khác - trường hợp người da trắng đối xử với người da đen như con người. Người đầu bếp của bà Boothby hiểu rõ mối quan hệ phong kiến với những trật tự quen thuộc; ông ta cũng hiểu rõ sự tàn bạo của mối quan hệ lạnh lùng hiện đại. Nhưng lúc này ông ta đang nói chuyện bằng vai phải lứa với Paul về lũ trẻ nhà mình. Trước mỗi lời nhận xét của ông ta lại có một chút ngập ngừng, ngập ngừng vì không quen làm vậy, nhưng rồi phẩm chất đường hoàng của ông ta, vốn thường bị lờ đi, đã nhanh chóng đưa ông ta trở lại với một cuộc trò chuyện bình đẳng. Bà Boothby lắng nghe vài phút, sau đó kết luận, “Nếu cậu thực sự muốn giúp đỡ, Paul ạ, cậu và Anna có thể vào phòng lớn trang trí giùm tôi.” Bà nói với giọng như thể bảo Paul rằng bà đã biết việc anh cố tình trêu chọc bà đêm hôm trước. “Chắc chắn rồi, Paul nói. “Rất vui lòng.” Nhưng anh vẫn cố ý tiếp tục câu chuyện với người đầu bếp thêm một lúc nữa. Ông ta đẹp một cách khác thường - tầm tuổi trung niên, khỏe mạnh, dáng chuẩn, gương mặt và đôi mắt sống động, phần lớn người da đen ở vùng này là những bộ xương còm cõi do thiếu ăn và bệnh tật, nhưng ông này sống trong một căn nhà nhỏ ở phía sau nhà ông bà Boothby cùng vợ và năm đứa con. Tất nhiên điều này là bất hợp pháp, vì người da đen không được phép sống trên đất của người da trắng. Căn nhà trông khá nghèo nàn, nhưng còn tốt hơn những căn lều thông thường của người châu Phi đến hai mươi lần. Quanh nhà có hoa và rau, gà thường và gà sao. Tôi có thể hình dung được rằng ông ta rất hài lòng với công việc ở khách sạn Mashopi.

Khi Paul và tôi rời nhà bếp, ông ta chào chúng tôi theo thói quen, “Chào Nkos. Chào Nkosikaas,” có nghĩa là Chào ông lớn và bà lớn.

“Lạy Chúa,” Paul nói bằng giọng cáu kỉnh và bực tức khi chúng tôi đã ở bên ngoài nhà bếp. Và rồi bằng giọng điềm tĩnh kỳ quái của bản năng tự bảo toàn, “Nhưng anh lại để tâm mới lạ chứ. Dù sao đi nữa, đã có Chúa lòng lành đặt anh vào vị trí cuộc đời rõ ràng là sẽ phù hợp với sở thích và tài năng của anh, vậy thì tại sao anh lại phải quan tâm cơ chứ? Nhưng cũng thế cả thôi…”

Chúng tôi đi lên phòng lớn dưới ánh mặt trời nóng rực, đất bụi ấm và thơm dưới đế giày. Anh lại choàng tay ôm lấy tôi và bây giờ tôi thấy vui vì những lý do khác chứ không phải chỉ để Willi nhìn thấy nữa. Tôi nhớ cánh tay anh đã tì lên hõm lưng tôi và tôi đã nghĩ rằng, khi chung sống trong một nhóm như thế này, những đốm lửa tình chớp nhoáng có thể bùng lên và phụt tắt trong chốc lát, để lại những cảm giác dịu dàng, những tò mò dang dở, một nỗi đau mất mát, có phần buồn cười và không hề khó chịu chút nào, và tôi nghĩ rằng có lẽ trên tất cả, chính nỗi đau dịu dàng của những điều dang dở là thứ gắn bó chúng tôi lại với nhau. Dưới một gốc cây dạ lan to mọc cạnh căn phòng lớn, che khuất tầm nhìn của Willi, Paul xoay tôi lại đối mặt với anh rồi mỉm cười với tôi, và nỗi đau ngọt ngào cứ nhói lên trong tôi không ngớt. “Anna,” anh nói, hay đúng hơn là hát. “Anna, Anna xinh đẹp, Anna ngớ ngẩn, Anna điên rồ, niềm an ủi của chúng ta ở nơi hoang dã này, Anna với đôi mắt đen mang vẻ thú vị bao dung.” Chúng tôi mỉm cười với nhau, trong khi mặt trời chích chúng tôi qua tán lá xanh dày bằng những chiếc kim vàng nhọn hoắt. Điều anh nói ngày ấy là một khải lộ với tôi. Bởi vì tôi cứ mãi lúng túng, thất vọng, buồn bực, dằn vặt vì mình kém cỏi, bị cuốn đi theo đủ mọi loại tương lai không tưởng bởi sự thiếu thốn, nên cái thái độ sống được miêu tả bằng “đôi mắt mang vẻ thú vị bao dung” vẫn còn cách tôi nhiều năm trời. Tôi không nghĩ rằng khi đó tôi thực sự nhìn thấy mọi người, mà chỉ thấy họ là những thứ để phục vụ nhu cầu của tôi. Đến bây giờ nhìn lại thì tôi mới hiểu điều đó, nhưng lúc đó tôi sống trong một màn sương mù sáng rực, chuyển động và bập bùng theo những ý thích thay đổi xoành xoạch của bản thân. Tất nhiên, tuổi trẻ chính là như thế. Nhưng Paul, mới là người duy nhất trong nhóm chúng tôi có “đôi mắt mang vẻ thú vị”, và khi chúng tôi tay trong tay bước vào phòng lớn, tôi nhìn anh và tự hỏi có lẽ nào một người thanh niên điềm tĩnh như thế lại cũng sẽ chịu cảnh buồn chán và dằn vặt như tôi; và có thật là tôi cũng có “đôi mắt mang vẻ thú vị” như anh hay không - mà cái đó nghĩa là thế quái nào chứ? Đột nhiên tôi rơi vào trạng thái trầm cảm khó chịu kinh khủng, những ngày đó tôi thường bị như vậy, và chỉ sau một tích tắc tôi đã rời Paul để một mình bước tới khung cửa sổ.

Tôi nghĩ rằng đây là căn phòng dễ chịu nhất mà tôi từng biết đến trong đời. Gia đình Boothby cho xây nó bởi vì ở nơi này không có nhà hội họp chung, nên họ luôn phải dọn dẹp phòng ăn để lấy chỗ khiêu vũ và tổ chức các cuộc họp chính trị. Nhưng thực ra họ cho xây căn phòng này vì lòng tốt, để tặng cho huyện chứ không phải vì mục đích lợi nhuận.

Căn phòng rộng như một đại sảnh nhưng lại trông giống như phòng khách, trong xây bằng gạch đỏ bóng loáng và sàn bằng xi măng đỏ thẫm màu. Cột nhà - có tám cây cột lớn đỡ lấy cái mái nhà lợp tranh - xây bằng gạch thô màu cam ngả sang đỏ. Bếp lửa ở hai đầu phòng đủ lớn để quay cả một con bò. Rui nhà làm bằng gỗ gai, có mùi hơi đắng, và mùi gỗ thay đổi tùy theo không khí khô hay ẩm. Một đầu phòng kê chiếc đàn piano lớn trên một cái bục nhỏ, đầu kia là chiếc máy nghe nhạc và một chồng đĩa. Mỗi bên có cả tá cửa sổ, một bên nhìn ra gò đá granite chất chồng đằng sau nhà ga, còn bên kia nhìn ra dãy núi xanh thẫm ở phía đằng xa, cách hàng dặm đồng cỏ.

Johnnie đang chơi piano ở đầu kia, Stanley Lett và Ted ngồi bên cạnh. Cậu ta như không hề biết đến sự tồn tại của cả hai người. Vai và chân cậu ta nhịp và nhún theo bản nhạc jazz, gương mặt trắng hơi phù của cậu ta không biểu cảm chút gì khi cậu ta nhìn ra dãy núi phía xa. Stanley chẳng quan tâm chuyện Johnnie hờ hững với mình: Johnnie là tờ phiếu ăn, là chiếc vé mời tham dự các bữa tiệc có Johnnie biểu diễn, là hộ chiếu đưa cậu ta đến với những buổi hội hè vui vẻ. Cậu ta không giấu giếm lý do tại sao lại đi cùng Johnnie - cậu ta là người trung thực nhất trong đám vô lại. Đổi lại, cậu ta luôn “tổ chức” sao cho Johnnie có đủ thuốc lá, bia và gái, tất cả đều miễn phí. Tôi nói rằng cậu ta vô lại, nhưng tất nhiên điều này chẳng có ý nghĩa gì cả. Cậu thuộc loại người ngay từ đầu đã hiểu rằng có một luật dành cho người giàu và một loại khác dành cho người nghèo. Đối với tôi, điều này vẫn chỉ đơn thuần là lý thuyết cho đến khi tôi thực sự sống trong khu lao động ở London. Đây cũng là khi tôi hiểu Stanley Lett. Cậu ta khinh thường luật pháp đến tận xương tủy; khinh thường, nói ngắn gọn như vậy, cái Nhà nước mà chúng tôi vẫn suốt ngày nhắc đến. Tôi nghĩ phải chăng đây chính là lý do khiến Ted hứng thú với cậu ta? Anh vẫn thường nói, “Nhưng cậu ta rất thông minh!” - hàm ý rằng nếu sử dụng đến trí thông minh, cậu ta có thể có ích cho sự nghiệp chung. Và tôi nghĩ rằng Ted không sai cho lắm. Có một loại cán bộ công đoàn như Stanley: cứng rắn, biết kiềm chế, có năng lực và vô liêm sỉ. Lúc nào tôi cũng thấy Stanley bình tĩnh một cách ranh ma, cậu ta sử dụng điều này như một thứ vũ khí để giành lấy mọi thứ có thể từ thế giới mà cậu ta coi hiển nhiên là được tổ chức vì lợi ích của người khác. Cậu ta rất đáng sợ. Và chắc chắn là cậu ta làm tôi sợ với vóc dáng to lớn, nặng nề, đường nét thô cứng và đôi mắt xám lạnh lùng dò xét. Vậy thì tại sao cậu ta lại chịu được một Ted nhiệt thành và đầy lý tưởng như vậy? Tôi nghĩ không phải vì cậu ta sẽ được gì ở anh. Cậu ta cảm động thực sự khi Ted, một “chàng trai học bổng”, vẫn lo cho giai cấp của mình. Đồng thời, cậu ta cũng nghĩ anh điên. Cậu ta thường nói, “Nghe này, anh bạn, anh thật may mắn khi có nhiều não hơn hầu hết bọn tôi. Hãy tận dụng cơ hội của anh và đừng lêu lổng vô ích. Bọn công nhân chẳng quan tâm đến ai khác ngoài bản thân mình. Anh biết rõ điều đó. Tôi biết rõ điều đó.” “Nhưng Stan này,” Ted nói, mắt lấp lánh, mái tóc đen rung rinh trên đầu anh, “Stan này, nếu có đủ số người biết quan tâm đến những người khác, chúng ta có thể thay đổi được tất cả - cậu không thấy thế sao?” Stanley thậm chí đã đọc xong số sách mà Ted cho mượn, cậu ta vừa trả lại vừa nói, “Tôi chẳng phản đối chuyện đó. Chúc các anh may mắn, tôi chỉ có thể nói vậy được thôi.”

Sáng hôm nay, Stanley đã xếp lên chiếc dương cầm cả một dãy vại bia. Trong góc phòng là một hòm gỗ đầy chai. Không gian xung quanh chiếc đàn đặc quánh khói thuốc, thỉnh thoảng lấp lánh vài tia nắng phản chiếu. Ba người đàn ông bị cô lập trong căn phòng bởi một màn khói bảng lảng. Johnnie cứ chơi đàn, chơi hoài, chơi mãi, khá phiêu. Stanley uống bia, hút thuốc và để ý đến đám con gái đang bước vào xem ai có thể dùng được cho mình hay cho Johnnie. Còn Ted thì khao khát cái linh hồn chính trị của Stanley và tinh thần âm nhạc của Johnnie. Như tôi vừa nói, Ted tự học nhạc nhưng anh không thể biểu diễn được. Anh thường ngân nga các trích đoạn của Prokovies, Mozart, Bach, khuôn mặt đau khổ với một khát khao đầy tuyệt vọng, rồi buộc Johnnie chơi những bản đó. Johnnie có thể chơi lại mọi thứ mà cậu nghe, tay phải cậu lướt trong không trung trong lúc Ted ngân nga, còn tay trái nôn nóng đặt hờ trên các phím đàn. Vào thời điểm cái áp lực tựa hồ như thôi miên từ sự tập trung của Ted được giải tỏa, bàn tay trái bắt đầu đảo phách, sau đó cả hai tay trở nên điên cuồng trong cơn hứng khởi với jazz, trong khi Ted mỉm cười, gật gù và thở dài, rồi cố gắng tìm kiếm ánh mắt của Stanley trong niềm thích thú đầy phiền muộn. Nhưng nụ cười đáp trả của Stanley chỉ mang ý nghĩa thân thiện, cậu không phải là người sành nhạc.

Ba người họ ngồi bên chiếc dương cầm cả ngày.

Có khoảng chục người ở đó, nhưng vì sảnh quá rộng nên trông khá vắng vẻ. Maryrose và Jimmy đang đứng trên ghế treo vòng hoa giấy lên các thanh rầm với sự giúp sức của khoảng một tá lính không quân mới đi tàu xuống từ thành phố vì nghe nói có Stanley và Johnnie ở đây. June Boothby đang ngồi ở khung của sổ, thả hồn theo giấc mơ riêng. Khi được nhờ giúp, cô chầm chậm lắc đầu và lại quay ra ngắm dãy núi xa xa, Paul đứng cạnh cái nhóm kia một lúc, sau đó đến bên khung cửa sổ của tôi, với mấy chai bia lấy được của Stanley.

“Cảnh buồn quá phải không Anna yêu dấu?” Paul nói, trỏ về phía nhóm thanh niên và Maryrose. “Bọn nó kia, đứa nào cũng thật thảm hại vì bị ức chế tình dục, còn cô ấy kia, đẹp như ánh ban mai nhưng lại chẳng nghĩ đến ai khác ngoài người anh đã chết. Còn Jimmy, đang vai kề vai với cô ấy nhưng lại chẳng nghĩ đến bất cứ người nào khác trên thế giới ngoài anh. Đôi lúc anh tự nhủ mình nên lên giường với cậu ấy, bởi vì tại sao lại không chứ? Như vậy cậu ấy sẽ rất hạnh phúc. Nhưng sự thật là anh bất đắc dĩ phải kết luận rằng không những hiện giờ anh không đồng tính mà anh còn chưa bao giờ đồng tính cả. Bởi vì ai là người anh thèm muốn mỗi khi nằm dài trên chăn đơn gối chiếc? Anh thèm muốn Ted à? Hay thậm chí là Jimmy? Hay bất cứ ai trong số những người hùng trẻ tuổi lịch thiệp cứ liên tục vây quanh anh? Không hề. Anh khao khát Maryrose. Và anh khao khát em. Tất nhiên là không phải với cả hai người cùng một lúc.”

George Hounslow bước vào đại sảnh và đi thẳng đến chỗ Maryrose. Cô vẫn đang đứng trên chiếc ghế được các anh chàng theo đuổi mình giữ hộ. Họ tỏa ra các hướng khi anh đến gần. Đột nhiên, một điều đáng sợ xảy ra. Khi tiếp cận phụ nữ, George rất vụng về, khúm núm quá mức, và thậm chí có khi còn nói lắp nữa. (Nhưng nghe cứ như là anh cố tình nói lắp vậy.) Trong khi đó, đôi mắt nâu sâu hoắm của anh lại dán chặt vào người ấy với vẻ trân trối gần như là đe dọa. Ấy vậy mà thái độ của anh vẫn tỏ ra khúm núm, hối lỗi. Người ấy sẽ đỏ mặt hoặc tức giận, hoặc bật cười một cách lo lắng. Tất nhiên, anh là người tôn thờ khoái lạc. Tôi muốn nói rằng tôn thờ khoái lạc thực sự, không phải là chỉ tỏ ra như vậy, vì lý do này hay lý do khác, như phần lớn nam giới. Anh thực sự cần, rất cần phụ nữ. Tôi nói điều này bởi vì không còn nhiều đàn ông như vậy nữa. Tôi muốn nói đến những người đàn ông văn minh, những người đàn ông trìu mến, không hành động vì nhục dục trong xã hội văn minh của chúng ta. George cần một người phụ nữ biết phục tùng, anh cần một phụ nữ mê mẩn anh. Và ngày nay đàn ông không còn có thể chế ngự phụ nữ theo cách này mà không cảm thấy tội lỗi. Hoặc còn rất ít. Khi nhìn một người phụ nữ, George sẽ chỉ thấy hình ảnh cô ta khi anh làm tình với cô ta, làm cho cô ta mê man bất tỉnh. Và anh sợ rằng điều đó sẽ hiện ra trong ánh mắt của mình. Hồi đó tôi không hiểu điều này, tôi không hiểu sao mình lại bối rối mỗi khi anh nhìn tôi. Nhưng từ đó đến nay tôi đã gặp một vài người giống như anh, tất cả đều có cùng thái độ khúm núm đầy nóng vội, vụng về ấy, và đều ẩn chứa sức mạnh ngạo mạn ấy.

George đứng bên dưới Maryrose, lúc này đang giơ tay lên cao. Mái tóc óng ả của cô buông xuống ngang vai, còn trên mình cô là một chiếc váy không tay màu vàng. Tay và chân cô là một màu vàng nâu mịn màng. Đám lính không quân gần như ngơ ngẩn vì cô. Và George cũng bất động sững sờ y hệt vậy mất một lúc. George nói một câu gì đó. Cô buông thõng hai tay, chầm chậm bước xuống khỏi ghế và đứng trên sàn, ngước lên nhìn anh. Anh lại nói câu gì đó. Tôi nhớ vẻ mặt anh lúc đó - cằm chìa ra phía trước một cách hung hãn, mắt đắm đuối, trông đê hèn đến mức ngu xuẩn. Maryrose giơ nắm tay lên và đấm mạnh vào mặt anh. Mạnh hết sức có thể - đầu anh đổ về phía sau, và thậm chí anh loạng choạng mất một bước. Rồi không thèm nhìn anh, cô lại trèo lên chiếc ghế và tiếp tục treo vòng hoa. Jimmy mỉm cười với George bằng vẻ ngượng ngùng đầy chân thành, cứ như thể anh là người phải chịu trách nhiệm cho cú đấm đó. George bước tới chỗ chúng tôi, và một lần nữa anh lại tự nguyện sắm vai hề, còn đám vệ tinh của Maryrose đã trở lại quanh cô với dáng vẻ sùng bái vô vọng.

“Chà,” Paul nói. “Thật là ấn tượng. Nếu Maryrose đánh em như thế thì em sẽ tin ngay rằng mình đã đạt được tiến triển gì đó.”

Nhưng mắt George đang chan chứa nước mắt. “Anh thật là một thằng ngốc,” anh nói. “Một thằng đần. Tại sao một cô gái xinh đẹp như Maryrose lại thèm nhìn anh cơ chứ?”

“Đúng vậy, tại sao cơ chứ?” Paul nói.

“Anh nghĩ là mũi anh đang chảy máu,” George nói như để bào chữa cho việc xì mũi. Sau đó anh mỉm cười. “Anh đi đâu cũng gặp rắc rối,” anh nói. “Còn thằng Willi khốn nạn kia thì lại quá bận rộn với thứ tiếng Nga chết tiệt của nó nên có thèm quan tâm gì đâu.”

“Tất cả chúng ta đều gặp rắc rối,” Paul nói. Ở anh toát ra một vẻ khỏe khoắn điềm tĩnh, và George trả lời, “Anh ghét đám thanh niên tuổi hai mươi. Các cậu thì gặp rắc rối kiểu gì được cơ chứ?”

“Khó lắm đấy,” Paul nói. “Trước hết, em hai mươi tuổi. Điều đó có nghĩa là em thấy căng thẳng và không thể thoải mái trước phụ nữ. Thứ hai, em hai mươi tuổi. Em có cả cuộc sống trước mặt, và thành thật mà nói thì triển vọng này thường làm em phát sợ. Thứ ba, em hai mươi tuổi, em đem lòng yêu Anna và trái tim em đang tan vỡ.

George liếc nhìn tôi để xem điều này có đúng hay không, và tôi nhún vai. George uống cạn vại bia trong một hơi và nói, “Dù sao thì anh cũng không có quyền quan tâm ai đang đem lòng yêu ai. Anh là một thằng khốn, một thằng khốn nạn. Ừ, điều đó thì cũng chẳng sao, nhưng anh còn là một tay tích cực ủng hộ chủ nghĩa xã hội. Ngoài ra anh là một con lợn. Làm thế nào mà một con lợn lại có thể trở thành đảng viên được, đấy là điều anh muốn biết?” Anh đang nói đùa, nhưng mắt anh lại đẫm nước mắt, thân mình anh như quắp chặt lại và căng lên vì đau khổ.

Paul quay đầu với vẻ quyến rũ lười biếng rất đặc trưng, rồi dừng đôi mắt xanh bước biển mở to của anh ở George. Tôi có thể nghe rõ anh đang nghĩ: Ôi lạy Chúa, đây mới là rắc rối thực sự, mình thậm chí còn không muốn nghe nhắc đến nó nữa… anh lướt về phía cửa, trao cho tôi nụ cười ấm áp nhất và dịu dàng nhất rồi nói, “Anna yêu dấu, anh yêu em hơn cả cuộc đời anh, nhưng anh phải giúp Maryrose đây.” Đôi mắt anh như nói: Tống khứ thằng đần ảm đạm kia đi rồi anh sẽ quay lại. George hầu như không nhận thấy Paul đã ra đi.

“Anna,” George nói. “Anna, anh không biết phải làm thế nào bây giờ.” Và tôi cảm thấy y hệt như Paul: Mình không muốn dính dáng đến rắc rối thực sự. Tôi muốn được ra kia treo vòng hoa cùng cả nhóm, vì bây giờ khi Paul đã tham gia, không khí của nhóm đó đột nhiên trở nên vui vẻ. Mọi người bắt đầu khiêu vũ, Paul với Maryrose, thậm chí cả June Boothby nữa, bởi vì có nhiều đàn ông hơn phụ nữ, và mọi người đang từ khách sạn đổ đến vì bị thu hút bởi tiếng nhạc khiêu vũ.

“Ra ngoài đi,” George nói. “Đâu đâu cũng là sự trẻ trung, sôi nổi. Chúng làm anh chán đến chẳng nói nổi nên lời. Bên cạnh đấy, nếu có em thì người yêu em sẽ mở miệng. Anh muốn nói chuyện với cậu ta.”

“Cảm ơn anh,” tôi nói, hơi phũ phàng. Nhưng tôi đi cùng anh ra hiên khách sạn lúc này đã vãn người vì tất cả đang đến phòng khiêu vũ, Willy nhẫn nại đặt cuốn sách ngữ pháp xuống và nói, “Muốn được yên ổn làm việc sao mà khó thế.”

Chúng tôi ngồi xuống, cả ba người, chân duỗi ra dưới ánh nắng, phần cơ thể còn lại trong bóng râm. Bia của chúng tôi đựng trong những chiếc ly dài, nhẹ đô, vàng ươm, và lấp lánh ánh nắng. Rồi George bắt đầu nói. Câu chuyện rất nghiêm chỉnh, nhưng anh lại nói bằng giọng bông đùa tự giễu mình, vì thế nên dường như mọi thứ đều trở nên xấu xí và khó chịu, trong khi tiếng nhạc từ phòng khiêu vũ cứ liên tục vọng đến lôi kéo tôi.

Câu chuyện là thế này. Tôi từng kể rằng anh gặp khó khăn trong cuộc sống gia đình. Đúng thật là không thể chịu đựng nổi. Anh có một người vợ, hai đứa con trai và một đứa con gái. Anh nuôi cả bố mẹ vợ lẫn bố mẹ đẻ. Tôi đã từng đến căn nhà nhỏ đó. Thậm chí đến thăm thôi cũng đã thấy không chịu đựng nổi. Đôi vợ chồng trẻ, hay nói đúng hơn là đôi vợ chồng trung niên, trụ cột của cái gia đình đó, đã bị vắt kiệt sức sống với bốn ông bà già và ba đứa trẻ con. Vợ anh làm việc quần quật suốt ngày và anh cũng vậy. Cả bốn ông bà già, mỗi người một lý do, đều phải nằm một chỗ, đều cần được chăm sóc đặc biệt, ăn uống đặc biệt, vận vân. Đến tối, trong căn phòng khách, bốn người mải miết chơi bài, cãi cọ và hờn dỗi kiểu người già, họ chơi hàng tiếng liền ở ngay giữa phòng, bọn trẻ con làm bài tập ở bất cứ nơi nào có thể, còn George và vợ thì đi ngủ sớm, một phần vì đã quá mệt mỏi, một phần vì phòng ngủ là nơi duy nhất họ có được đôi chút riêng tư. Đấy là khi ở nhà. Và rồi suốt nửa tuần, George phải ở ngoài đường, đôi khi làm việc cách nhà hàng trăm cây số, ở nửa kia đất nước. Anh yêu vợ, và vợ anh cũng yêu anh, nhưng lúc nào anh cũng cảm thấy có lỗi bởi vì lo toan chừng đó việc nhà đã quá vất vả đối với bất cứ người phụ nữ nào rồi, chưa nói đến việc cô phải cáng đáng thêm nghề thư ký nữa. Bao nhiêu năm nay, hai bọn họ chưa có lấy một ngày nghỉ, và họ thiếu tiền triền miên nên suốt ngày cãi cọ đến khổ sở vì những chuyện năm xu một hào.

Trong khi đó, George lại rất hay bồ bịch. Và anh đặc biệt thích phụ nữ da đen. Cách đây khoảng năm năm, anh ở lại Mashopi một đêm và đã đem lòng mê vợ tay đầu bếp của bà Boothby. Người phụ nữ này trở thành tình nhân của anh. “Anh có thể dùng cái từ đó được sao,” Willi nói, nhưng George gân cổ lên cãi mà không nhận ra sự hài hước trong chuyện này, “Tại sao lại không chứ? Nhất là khi ta không phải những người phân biệt chủng tộc, cô ấy xứng đáng được gọi như thế, như là một cách bày tỏ sự tôn trọng, đại loại vậy.”

George thường đi qua Mashopi. Năm ngoái, anh nhìn thấy bọn trẻ con nhà tay đầu bếp, trong đó có một đứa da trắng hơn những đứa khác và trông giống anh. Anh hỏi người phụ nữ, và chị ta trả lời: đúng thế, chị ta tin rằng đây là con của anh. Chị ta chẳng đặt nặng chuyện đó.

“Thì sao?” Willi nói. “Vấn đề ở đây là gì?”

Tôi còn nhớ cái nhìn ngờ vực một cách khổ sở của George. “Nhưng Willi - chú đúng là một thằng đần, đấy là con anh, anh phải có trách nhiệm với việc nó sống trong khu ổ chuột đằng kia.”

“Thì sao?” Willi lại nói.

“Anh là người xã hội chủ nghĩa,” George nói. “Và trong phạm vi cho phép của cái địa ngục này, anh cố gắng trở thành một người xã hội chủ nghĩa đích thực và chiến đấu với rào cản màu da. Chà. Anh đứng trên bục và phát biểu - ồ, tất nhiên rất khéo léo, rằng rào cản màu da không có lợi cho bất kỳ ai, rằng ngài Jesus lịch lãm, nhu mì và dịu dàng chắc hẳn sẽ không chấp thuận, bởi anh sẽ mất việc ngay nếu nói rằng như vậy là thiếu nhân tính và vô đạo đức và người da trắng vĩnh viễn bị nguyền rủa vì điều đó. Thế mà giờ chắc là anh sẽ lại xử sự như bất cứ tên bợm da trắng thối tha nào từng ngủ với một phụ nữ da đen và bổ sung một con cừu lai vào tập thể cừu lai của Khu thuộc địa.”

“Chị ta có bảo anh phải làm gì đâu,” Willi nói.

“Nhưng vấn đề không phải ở chỗ đó.” George úp mặt vào hai lòng bàn tay bẹt, và tôi thấy nước chảy ra giữa các kẽ tay anh. “Chuyện này đang gặm nát anh,” anh nói. “Anh đã biết chuyện này suốt cả năm nay và nó đang làm anh phát điên lên được.”

“Có vậy cũng chẳng giải quyết được gì nhiều,” Willi nói, và George đột ngột bỏ tay xuống, để lộ khuôn mặt đẫm nước mắt rồi nhìn Willi.

“Anna?” George nhìn tôi cầu khẩn. Cảm xúc trong tôi đang rối như mớ bòng bong. Trước hết là tôi ghen với người phụ nữ đó. Đêm qua tôi đã ước mình được là chị ta, nhưng đấy là một cảm xúc không gắn với một bộ mặt cụ thể. Bây giờ tôi đã biết chị ta là ai, và tôi kinh ngạc khi nhận thấy mình đang căm ghét George và lên án anh - hệt như tôi đã căm ghét anh đêm qua khi anh khiến tôi có cảm giác tội lỗi. Và rồi, tệ hơn thế là tôi ngạc nhiên khi thấy mình căm ghét vì người phụ nữ đó là da đen. Tôi đã nghĩ rằng mình không hề có bất kỳ cảm xúc nào như thế, nhưng dường như không phải vậy, do đó tôi cảm thấy vừa xấu hổ vừa giận dữ - với chính tôi, và với George. Nhưng không chỉ có vậy. Còn quá trẻ, mới hai ba hai tư tuổi, giống như nhiều cô gái “được giải phóng” khác, tôi cũng sợ bị cảnh nội trợ quẩn quanh giam hãm và chế ngự. Căn nhà của George, nơi vợ chồng anh bị giam hãm mà không có chút hy vọng nào được giải thoát, trừ trường hợp bốn ông bà già đều chết, chẳng khác nào là địa ngục trong mắt tôi. Thậm chí chuyện này làm tôi sợ đến mức đã gặp ác mộng về nó. Vậy mà con người này, George, con người bị giam hãm, con người đã nhốt người phụ nữ bất hạnh là vợ anh ta vào lồng, đối với tôi lại cũng là - và tôi biết rõ điều đó - biểu tượng của một bản năng tình dục mạnh mẽ mà trong lòng mình, tôi phải trốn chạy khỏi nó, nhưng rồi không cưỡng được lại hướng về nó. Theo bản năng, tôi biết rằng nếu lên giường với George, tôi sẽ biết đến một kiểu tình dục mà chưa bao giờ tôi chạm đến được. Và mặc dù những quan điểm, những cảm xúc này cứ giằng xé tôi, tôi vẫn thích anh, thật lòng yêu anh, hẳn nhiên, trên phương diện một con người. Tôi ngồi trên hàng hiên, lặng người đi mất một lúc, biết rằng mặt tôi đang đỏ bừng lên và tay tôi đang run rẩy. Tôi lắng nghe tiếng nhạc, tiếng hát vẳng xuống từ căn phòng lớn trên đồi, và tôi có cảm giác như George, bằng sức ép từ sự bất hạnh của anh, đang gạt tôi ra khỏi một cái gì đó vô cùng ngọt ngào, đáng yêu. Lúc đó, tôi thấy mình như đã dành cả nửa cuộc đời để tin rằng tôi đang bị cấm cản khỏi cái thứ đẹp đẽ ấy, nhưng rồi cái đầu nói rằng tôi thật vô lý - vì chẳng hạn như Maryrose vẫn ghen tị với tôi bởi vì cô tin rằng Willi và tôi đang có mọi thứ mà cô muốn, cô tin chúng tôi là một đôi yêu nhau.

Willi nãy giờ đang nhìn tôi, và anh lên tiếng, “Anna sốc vì chị ta là người da đen.”

“Một phần thôi,” tôi nói. “Mặc dù em ngạc nhiên khi mình lại cảm thấy như thế.”

“Anh thì ngạc nhiên vì em đã thừa nhận,” Willi lạnh lùng nói, mắt kính lấp loáng.

“Anh ngạc nhiên khi cậu không thừa nhận đấy,” George nói với Willi. “Thôi đừng có giở cái giọng ấy ra nữa. Cậu đúng là một thằng đạo đức giả khốn nạn.” Và Willi nhấc đám sách ngữ pháp của mình lên, đặt trên đầu gối.

“Giải pháp là gì, anh có một đề nghị thông minh nào không?” Willi hỏi. “Đừng nói ra. Với tính cách của anh, anh hẳn tin rằng trách nhiệm của anh là phải đưa đứa trẻ về nhà mình. Điều đó có nghĩa là bốn người già sẽ sốc mà chết, chưa kể sẽ không có ai nói chuyện với họ nữa. Ba đứa trẻ nhà anh sẽ bị tẩy chay ở trường. Vợ anh sẽ mất việc. Anh sẽ mất việc. Chín con người sẽ bị hủy hoại. Và điều đó có ích lợi gì cho con trai anh hả George? Em hỏi được không?”

“Và câu chuyện đến đấy là hết?” tôi hỏi.

“Đúng vậy,” Willi trả lời. Trong những lúc như thế, anh thường thể hiện vẻ mặt bướng bỉnh và nhẫn nại, miệng mím lại.

“Anh có thể biến chuyện này thành một phép thử,” George nói.

“Thử cái gì?”

“Toàn bộ thói đạo đức giả chết tiệt này.”

“Sao lại dùng từ đó với em - anh vừa gọi em là đồ đạo đức giả.” George trông có vẻ xấu hổ, vì thế Willi nói, “Ai sẽ trả giá cho cử chỉ cao đẹp của anh? Anh có tám người phụ thuộc vào mình đấy.”

“Vợ anh không phụ thuộc vào anh. Anh phụ thuộc vào cô ấy. Về mặt cảm xúc. Bọn em tưởng là anh không biết à?”

“Anh có muốn em phân tích thực tế một lần nữa không?” Willi nói với vẻ nhẫn nại quá mức, rồi liếc nhìn mấy cuốn sách của mình. Cả George và tôi đều biết rằng vì bị gọi là đồ đạo đức giả, lúc này anh sẽ không đời nào dịu xuống nữa, nhưng George vẫn tiếp tục, “Willi, không còn gì nữa hả? Chắc chắn là không thể kết thúc như vậy được chứ?”

“Anh muốn em nói rằng làm vậy là không công bằng, là vô đạo đức hay một từ gì đó có ích tương tự như thế?”

“Đúng thế,” George trả lời sau một lúc im lặng, gục cằm xuống ngực. “Đúng thế, anh nghĩ rằng anh muốn vậy. Bởi vì điều tồi tệ hơn là nếu chú nghĩ rằng anh không còn ngủ với cô ấy nữa, thì thực tế là không phải đâu. Biết đâu vào một ngày nào đó lại thòi ra thêm một nhóc Hounslow nữa ở nhà bếp của Boothby. Tất nhiên là bây giờ anh thận trọng hơn trước đây.”

“Đấy là việc của anh,” Willi nói.

“Chú là một con lợn vô nhân đạo,” George nói sau một lúc im lặng.

“Cảm ơn anh,” Willi đáp. “Nhưng chẳng còn làm gì được nữa, đúng không? Anh đồng ý như vậy chứ?”

“Thằng bé sẽ lớn lên giữa đám bí ngô và gà qué, sẽ trở thành một anh lực điền hay một tay thư ký nửa mùa, còn ba đứa kia sẽ vào được đại học và thoát khỏi đất nước khốn kiếp này, cho dù anh có phải làm việc kiếm tiền đến chết.”

“Anh đang tiếc thương cho cái gì?” Willi nói. “Máu của anh? Tinh trùng thiêng liêng của anh, hay cái gì?”

Cả George và tôi đều sốc. Willi nhìn chúng tôi với vẻ mặt đanh lại, và vẫn tiếp tục giận dữ khi George nói, “Không, đấy là vấn đề trách nhiệm. Đấy là khoảng cách giữa niềm tin và hành động của anh.”

Willi nhún vai và chúng tôi im lặng. Trong cái tĩnh lặng nặng nề của ban trưa vọng đến tiếng những ngón tay của Johnnie đang múa trên phím đàn.

George nhìn tôi một lần nữa, và tôi thúc giục mình để chiến đấu với Willi. Bây giờ nhìn lại, tôi muốn bật cười bởi vì tôi đã tự động chọn cách tranh cãi bằng ngôn ngữ văn chương, còn anh tự động trả lời bằng ngôn ngữ chính trị. Nhưng lúc đó, dường như điều này chẳng có gì là khác thường cả. Và dường như cũng chẳng có gì khác thường trong mắt George, vì anh chỉ ngồi gật gù trong lúc tôi nói.

“Nghe này,” tôi nói. “Trong văn học thế kỷ 19 đầy những chuyện như thế. Như kiểu một tiêu chuẩn đạo đức. Như kiểu Jesus sống lại. Vậy mà giờ đây anh chỉ nhún vai như chẳng có chuyện gì quan trọng?”

“Anh không để ý là anh đã nhún vai,” Willi trả lời. “Nhưng có lẽ thực tế là ngày nay, một đứa trẻ ngoài giá thú không còn là điểm kết tinh của thế khó xử về đạo đức trong xã hội nữa?”

“Tại sao lại không?” tôi hỏi.

“Tại sao lại không?” George hỏi, giọng dữ dội.

“Thế nào, anh thực sự cho rằng vấn đề của người da đen ở đất nước này được tổng kết lại ở đứa con da trắng của người đầu bếp nhà Boothby hả?”

“Chú đặt vấn đề kiểu đấy mà nghe được à,” George giận dữ nói. (Vậy nhưng George vẫn tiếp tục khúm núm đến xin lời khuyên của Willi, vẫn tôn sùng anh, và trong nhiều năm trời sau khi Willi đã rời Khu thuộc địa vẫn viết cho anh những bức thư tự xỉ vả mình.) Lúc này anh nhìn ra xa, chớp mắt cho nước mắt rơi xuống rồi nói, “Anh đi lấy thêm bia.” Anh bước về phía quầy bar.

Willi nhấc cuốn sách lên và nói trong khi không hề nhìn tôi, “Đúng, anh biết. Nhưng anh không ngán gì ánh mắt trách móc của em đâu. Em cũng sẽ khuyên anh ấy như vậy, đúng không? Rất nhiều ồ và à, nhưng vẫn là lời khuyên đấy.”

“Chung quy lại, mọi thứ đều kinh khủng đến mức chúng ta trở nên chai sạn, và chúng ta không hề quan tâm nữa.”

“Anh có thể đề nghị em làm theo một số nguyên tắc cơ bản được không - chẳng hạn như cái gì sai thì bỏ đi, thay đổi nó đi? Thay vì cứ ngồi đó và than vãn về nó?”

“Còn trong lúc chờ đợi?”

“Trong lúc chờ đợi, anh sẽ học bài và em sẽ đi ra với George, để cho George khóc trên vai em, rồi em sẽ thương cảm cho anh ấy, nhưng việc này cũng sẽ chẳng giải quyết được vấn đề gì.”

Tôi đứng lên và chầm chậm bước về căn phòng lớn. George đang dựa vào tường, một tay cầm ly, mắt nhắm nghiền. Tôi biết mình nên bước đến bên anh, nhưng tôi không làm vậy. Tôi bước vào căn phòng lớn. Maryrose đang ngồi một mình bên cửa sổ và tôi đến cạnh cô. Cô vừa mới khóc.

Tôi nói, “Hình như hôm nay là ngày khóc của mọi người hay sao ấy nhỉ?”

“Trừ cậu ra,” Maryrose nói. Điều này có nghĩa là tôi đang quá hạnh phúc với Willi nên không cần phải khóc, vì thế tôi ngồi xuống cạnh cô và hỏi, “Có chuyện gì vậy?”

“Tớ đang ngồi đây, nhìn mọi người khiêu vũ, và tớ bắt đầu suy nghĩ. Chỉ một vài tháng trước đây, chúng ta còn tin rằng thế giới sẽ thay đổi và mọi thứ sẽ trở nên tươi đẹp, nhưng bây giờ chúng ta biết rằng không phải như vậy.”

“Thật sao?” tôi nói với giọng hoảng sợ.

“Tại sao nó lại phải thay đổi chứ?” cô hỏi thẳng. Tôi không có tinh thần đâu để tranh đấu với cô, vì vậy sau một lúc im lặng cô nói, “George ra gặp cậu có chuyện gì thế? Chắc là anh ấy chửi tớ là đồ chó vì đã đánh anh ấy?”

“Cậu có tưởng tượng được là George lại chửi ai đó là đồ chó vì đã đánh anh ấy không? Sao cậu lại nghĩ vậy?”

“Tớ khóc cũng một phần vì điều đó. Tất nhiên lý do thực sự khiến tớ đánh anh ấy là vì tớ biết một ai đó như George có thể làm tớ quên đi anh trai tớ.”

“Thế thì có lẽ cậu nên cho một ai đó giống như George thử xem sao?”

“Có lẽ vậy,” cô nói. Cô nở một nụ cười nhè nhẹ, già nua như muốn nói: Cậu thật là trẻ con! khiến tôi giận dữ đáp lại, “Nhưng nếu cậu biết, tại sao cậu lại không làm?”

Lại nụ cười nhè nhẹ đó, và cô nói, “Sẽ không có ai yêu tớ như anh tớ nữa đâu. Anh ấy yêu tớ thật lòng. George sẽ làm tình với tớ. Và việc đó sẽ không giống như tớ với anh tớ, đúng không? Nhưng có gì sai khi nói rằng: Mình đã từng có được thứ tuyệt vời nhất và mình sẽ không bao giờ có lại nó nữa, thay vì quan hệ với một ai đó và tất cả chỉ dừng lại ở tình dục. Thế có gì sai nào?”

“Khi cậu nói thế có gì sai nào như vậy, tớ chẳng biết phải trả lời thế nào nữa, mặc dù tớ biết là có chỗ sai đấy.”

“Chỗ nào chứ?” cô có vẻ rất tò mò, và tôi trả lời với một giọng thậm chí còn giận dữ hơn, “Cậu không thử lấy một lần, cậu không thử. Cậu cứ thế bỏ cuộc.”

“Mọi chuyện với cậu rất tốt đẹp,” cô nói, lại hàm ý nhắc đến Willi, vì thế lúc này tôi chẳng thể nói gì nữa. Đến lượt tôi muốn khóc, cô nhìn thấy điều này và nói từ kinh nghiệm đau khổ vượt trội của cô, “Đừng khóc, Anna, chẳng bao giờ có ích gì đâu. Thôi tớ đi rửa ráy chuẩn bị ăn trưa đây.” Rồi cô bước đi. Toàn bộ đám trai trẻ đang hát hò quanh chiếc đàn dương cầm, vì vậy tôi cũng rời căn phòng và bước đến chỗ lúc nãy tôi nhìn thấy George đứng dựa. Tôi trèo qua đám tầm ma, bởi vì anh đã đi sâu ra đằng sau và đang đứng nhìn cái căn nhà nhỏ bên kia lùm cây đu đủ, nơi người đầu bếp sống cùng với vợ con. Có hai đứa trẻ da nâu đang ngồi xổm trong đám bụi đất giữa đàn gà.

Tôi nhận thấy cánh tay láng mịn của George run lên khi anh cố gắng châm thuốc, nhưng không châm được nên nóng nảy vứt điếu thuốc đi, rồi anh chậm rãi nói, “Không, thằng con rơi của anh không có ở đây.”

Tiếng cồng vang lên từ phía khách sạn, báo hiệu giờ ăn trưa đã đến.

“Chúng ta đi vào đi,” tôi nói.

“Đứng đây với anh thêm một phút nữa.” Anh quàng tay lên vai tôi, và hơi nóng từ nó tỏa xuyên qua áo tôi. Chiếc cồng không còn phát ra những làn sóng âm kim loại ngân dài nữa, và tiếng dương cầm trong nhà cũng đã ngừng. Im lặng, và một con bồ câu gù lên từ phía cây lan dạ hương. George đặt tay lên ngực tôi rồi nói, “Anna, anh có thể đưa em lên giường ngay bây giờ - rồi sau đó là Marie, cô gái da đen của anh, rồi quay về với vợ anh đêm nay và chiếm hữu cô ấy, và hạnh phúc với cả ba đứa bọn em. Em có hiểu chuyện đó không, Anna?”

“Không,” tôi nói, giận dữ. Nhưng bàn tay anh trên ngực tôi đã làm cho tôi hiểu.

“Không hiểu ư?” anh nói, giọng mỉa mai. “Không ư?”

“Không,” tôi khẳng định, nói dối thay cho tất cả phụ nữ, và do nghĩ về vợ anh, người khiến tôi có cảm giác bị giam hãm.

Anh nhắm mắt lại. Đôi mi mắt màu đen của anh tạo thành hai chiếc cầu vồng bé xíu khi chúng run rẩy trên gò má sạm nắng. Anh nói, mắt vẫn nhắm, “Đôi khi anh thử nhìn mình như một người ngoài. George Hounslow, một người công dân đáng kính, lập dị, tin theo chủ nghĩa xã hội nhưng vứt bỏ hết vì các bậc phụ huynh cây cao bóng cả, vì người vợ đáng yêu và ba đứa con. Và bên cạnh anh, anh thấy một con khỉ đột rất to cứ vung vẩy cánh tay và nhăn nhở. Anh thấy nó rõ đến mức phát ngạc nhiên vì không một ai khác nhìn thấy cả.” Anh buông tay ra khỏi ngực tôi để tôi có thể thở đều trở lại, và tôi nói, “Willi nói đúng. Anh không thể làm được gì cả, vì vậy anh đừng có tự hành hạ mình nữa.” Mắt anh vẫn nhắm nghiền. Tôi không biết là tôi sắp sửa nói ra những gì tôi sắp nói, nhưng anh đã mở mắt ra và lùi lại, như vậy đây là một dạng thần giao cách cảm. Tôi nói, “Nhưng anh cũng không thể tự tử được.”

“Tại sao không?” anh tò mò hỏi.

“Cùng một lý do như khi anh không thể đưa đứa trẻ về nhà được thôi. Anh phải lo cho những chín người.”

“Anna, anh đang tự hỏi không biết mình có đưa đứa trẻ về nhà không nếu như, giả sử thôi nhé, chỉ phải lo cho hai người?”

Tôi không biết phải trả lời anh thế nào. Sau một lúc, anh choàng tay quanh người tôi rồi vừa dẫn tôi đi qua đám tầm ma vừa nói, “Đi với anh về khách sạn và đuổi con khỉ đột đi.” Còn bây giờ, tất nhiên là tôi đang bực mình một cách quái đản vì đã từ chối con khỉ đột và phải đóng vai trò một nữ tu chay tịnh, vì thế trong bữa trưa tôi ngồi cạnh Paul chứ không ngồi cạnh George. Sau bữa trưa, cả lũ chúng tôi đều ngủ một giấc dài và bắt đầu nhậu từ rất sớm. Mặc dù buổi khiêu vũ đêm hôm đó được tổ chức riêng cho “những trại chủ của cả Mashopi và Huyện”, nhưng khi đám chủ cùng vợ đến trên những chiếc xe to đùng thì phòng khiêu vũ đã chật ních người nhảy múa. Tất cả chúng tôi, và đã có thêm nhiều lính không quân từ thành phố xuống, và Johnnie đang chơi đàn dương cầm, còn tay đàn thường lệ, vốn không bằng một phần mười Johnnie, đã rất vui vẻ đến ngồi ở quầy bar. Người dẫn chương trình đêm nay đã trang trọng hóa bầu không khí bằng một bài phát biểu vội vàng và chẳng chân thành cho lắm để chào đón các chàng trai mặc đồ màu xanh da trời, và cả lũ chúng tôi khiêu vũ đến lúc Johnnie thấm mệt vào khoảng năm giờ sáng. Sau đó, chúng tôi đứng thành từng nhóm dưới bầu trời quang đãng lạnh giá phủ đầy sao, và ánh trăng hắt bóng xuống quanh người chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều vòng tay ôm lấy nhau và hát. Hương hoa dễ chịu dậy lên trong bầu không khí ban đêm đang làm hồi sinh vạn vật, và các cành hoa vươn thẳng lên khỏe khoắn. Paul đứng bên tôi, chúng tôi đã khiêu vũ với nhau suốt cả đêm. Willi đứng cạnh Maryrose - anh đã khiêu vũ với cô. Còn Jimmy, lúc này say khướt, thì đang loạng choạng một mình. Anh đã lại một lần nữa bị thương, máu đang chảy ra từ cái vết thương nhỏ trên mắt anh. Và đến đây là kết thúc ngày đầu tiên của chúng tôi ở đây, hình thành khuôn mẫu cho tất cả những ngày còn lại. Buổi khiêu vũ “cộng đồng” đêm hôm sau lại có tất cả những người đó tham gia, quầy bar nhà Boothby không ngớt bận bịu, người đầu bếp nhà Boothby phải làm việc thêm giờ, và có lẽ vợ ông ta đã thậm thụt hẹn hò với George. Người lúc này vẫn đang mong ngóng Maryrose một cách đau khổ và vô ích.

Trong buổi tối thứ hai, Stanley Lett bắt đầu để ý tới bà Lattimore, người phụ nữ tóc đỏ, và mối quan hệ này kết thúc trong… tôi định nói là thảm họa. Nhưng từ này nghe thật lố bịch. Bởi vì điều đau lòng là thời đó chẳng có gì là thảm họa cả. Một thời đầy những sai lầm, xấu xí, bất hạnh và mang màu sắc yếm thế, nhưng chẳng có gì là bi kịch cả, và chẳng có giây phút nào có thể thay đổi bất cứ điều gì hay bất cứ ai. Thỉnh thoảng, ánh chớp cảm xúc lại lóe lên, chiếu sáng một vùng khốn khổ của những bi kịch cá nhân, và rồi - chúng tôi lại tiếp tục khiêu vũ. Vụ bồ bịch của Stanley với bà Lattimore chỉ dẫn đến một sự kiện mà tôi nghĩ chắc hẳn đã xảy ra hàng chục lần trong cuộc hôn nhân của bà.

Bà khoảng bốn mươi lăm tuổi, khá đầy đặn, có đôi tay tuyệt đẹp và đôi chân mảnh khảnh bậc nhất. Bà có làn da trắng mịn, đôi mắt dịu hiền màu xanh dừa cạn, một đôi mắt xanh gần như ngả sang tím, lờ đờ, dịu dàng, cận thị, nhìn đời qua màn nước mắt. Nhưng đối với bà thì là cả màn rượu. Chồng bà làm trong lĩnh vực thương mại, to lớn, nóng nảy, và uống rượu như hũ chìm. Ông ta bắt đầu uống từ khi quán bar mở cửa và uống suốt ngày, càng uống càng rầu rĩ. Trong khi đó, rượu chè lại khiến cho bà vợ trở nên ủy mị, hay thở dài và mau nước mắt. Chưa một lần nào tôi nghe thấy ông ta nói chuyện với bà mà không cục súc. Có vẻ như bà không để ý, hoặc đã không còn để ý nữa. Họ không có con, nhưng bà không lúc nào rời một con chó săn đẹp tuyệt vời lông xù màu đỏ, giống hệt màu tóc của bà, đôi mắt cũng lộ vẻ mong mỏi và đẫm lệ như bà. Cả hai ngồi bên nhau trên hàng hiên khách sạn, người phụ nữ tóc đỏ và chú chó săn lông xù màu đỏ, cùng đón nhận sự kính trọng và đồ uống từ những người khách khác. Cả ba thường đến khách sạn vào cuối tuần. Và rồi Stanley đâm ra say mê bà. Cậu ta bảo bà không có mặt trái. Cậu ta bảo bà thuộc típ người tốt bụng. Trong đêm khiêu vũ thứ hai, Stanley săn sóc bà ta trong khi ông chồng uống rượu đến lúc quầy bar đóng cửa, ông ta đứng lắc lư bên chiếc đàn dương cầm cho đến tận khi, rốt cuộc, Stanley cũng đưa cho một cốc - một đòn chí tử - khiến ông ta phải ngật ngưỡng đi về đi ngủ, bỏ mặc vợ khiêu vũ. Có vẻ như ông ta cũng chẳng quan tâm vợ mình đang làm gì. Bà ta ở cùng chúng tôi, hay nói đúng hơn là ở cùng Stanley, lúc này đã “tổ chức” được cho Johnnie một cô ở nông trại cách đó ba cây số có chồng đi lính. Cả bốn người, như lời họ vẫn nhắc đi nhắc lại, đều đang có một quãng thời gian vui vẻ. Chúng tôi khiêu vũ trong căn phòng lớn; Johnnie chơi đàn trong khi cô vợ tay nông dân, một cô tóc vàng to béo mặt đỏ gay dân Johannesburg, ngồi bên cạnh. Ted đã tạm thời từ bỏ cuộc chiến giành linh hồn của Stanley. Như chính miệng anh nói ra, tình dục rốt cuộc lại mạnh hơn anh. Suốt cả kỳ nghỉ dài dằng dặc đó - kéo dài gần một tuần, chúng tôi nhậu và khiêu vũ trong khi tiếng đàn dương cầm của Johnnie cứ vang lên không ngớt bên tai.

Và khi trở lại thành phố, chúng tôi biết rằng, như lời Paul nhận xét, kỳ nghỉ này không đem lại nhiều lợi ích cho chúng tôi. Chỉ có duy nhất một người duy trì được sự tự giác và đó là Willi, vì ngày nào anh cũng học được kha khá ngữ pháp. Mặc dù anh cũng đã chịu nhượng bộ một chút - trước Maryrose. Chúng tôi nhất trí là tất cả sẽ quay trở lại Mashopi. Sau đó hai tuần, tôi nghĩ vậy. Lần này thật khác với kỳ nghỉ lễ - cả khách sạn không có ai ngoài chúng tôi, vợ chồng nhà Lattimore và con chó cùng ông bà Boothby. Nhà Boothby chào đón chúng tôi hết sức lịch sự. Rõ ràng là họ đã nói chuyện về chúng tôi, rằng họ không tán thành lắm cái kiểu hành xử như chủ nhà của chúng tôi, nhưng vì chúng tôi trả quá nhiều tiền nên không thể không hoan nghênh được. Tôi không nhớ rõ lắm về kỳ nghỉ cuối tuần đó, hoặc bốn hay năm kỳ nghỉ sau đó cũng vậy - cứ cách vài tuần một lần. Không phải cuối tuần nào chúng tôi cũng đến đó.

Khoảng sáu đến tám tháng sau lần đầu tiên chúng tôi ghé thăm khách sạn thì nổ ra cuộc khủng hoảng, nếu như có thể gọi đấy là khủng hoảng. Đây cũng là lần cuối cùng chúng tôi đến Mashopi. Nhóm chúng tôi vẫn những người đó: George, Willi, Maryrose và tôi; Ted, Paul và Jimmy. Stanley cùng Johnnie giờ đây thuộc một nhóm khác, gồm có bà Lattimore, con chó và cô vợ tay nông dân. Thỉnh thoảng Ted cũng nhập bọn với họ, nhưng chỉ ngồi im lặng, rất tách biệt, để rồi sau đó nhanh chóng quay trở lại với chúng tôi, vẫn ngồi im lặng như trước và mỉm cười với chính mình. Đây là một nụ cười mới ở nơi anh, chế giễu, cay đắng và tự phán xét chính mình. Ngồi dưới tán cây bạch đàn, chúng tôi thường nghe thấy giọng nói du dương của bà Lattimore uể oải cất lên từ phía hàng hiên, “Cậu Stan, lấy cho tôi một cốc? Một điếu thuốc cho tôi thì sao, cậu Stan? Con trai, đến đây nói chuyện với tôi nào.” Và cậu ta gọi bà là bà Lattimore, đôi lúc đang trí thì bằng cái tên Myra, và mỗi lần như thế bà ta lại cụp đôi mí mắt màu đen đậm chất Ireland nhìn cậu ta. Cậu ta khoảng hai mươi hai hoặc hai mươi ba gì đó, họ cách nhau khoảng hai mươi tuổi, và rất thích đóng vai mẹ con trước mặt mọi người, nhưng cảm giác giới tính giữa họ mạnh đến mức mỗi khi bà Lattimore đến gần, chúng tôi lại phải nhìn quanh lo lắng.

Nhìn lại những kỳ nghỉ cuối tuần đó, chúng giống như một chuỗi hạt cườm, bắt đầu là hai hạt to lấp lánh, sau đó là các hạt không quan trọng, và cuối cùng là một hạt rực rỡ khác. Nhưng đấy chỉ là trong ký ức lười biếng của tôi, bởi vì ngay khi bắt đầu suy nghĩ về kỳ nghỉ cuối tuần cuối cùng đó, tôi nhận thấy rằng chắc hẳn phải có nhiều chuyện diễn ra trong các kỳ cuối tuần trước đó mới dẫn đến một sự kiện như thế. Nhưng tôi không tài nào nhớ ra được, tất cả đã qua mất rồi. Tôi phát điên lên, Cố gắng nhớ lại - giống hệt như tôi đang đánh vật với một cái tôi khác bướng bỉnh cứ khăng khăng giữ bí mật của riêng nó. Mọi thứ vẫn nguyên trong đầu tôi, chỉ cần tôi chạm được tới. Tôi thấy tức giận bởi có bao nhiêu điều mình không hề chú ý tới, cứ thế sống trong một đám sương mù chủ quan đầy màu sắc. Làm sao tôi biết được rằng những gì tôi “nhớ được” chính là những gì quan trọng? Những gì tôi nhớ được đều là do Anna của hai mươi năm trước lựa chọn. Tôi không biết cô Anna của hiện tại sẽ chọn gì. Bởi vì trải nghiệm với Mẹ Mật và những thử nghiệm với các cuốn sổ này đã khiến cho tính khách quan trong tôi sắc bén tới mức - những chủ đề này thuộc về cuốn sổ xanh dương, không phải cuốn này. Dù sao đi nữa, mặc dù bây giờ thì có vẻ như dịp cuối tuần cuối cùng đó đã xảy ra đủ loại biến cố mà không hề có dấu hiệu báo trước, nhưng tất nhiên chuyện đã không phải như vậy.

Chẳng hạn, tình bạn của Paul với Jackson chắc hẳn đã tiến triển khá mạnh đủ để khiến bà Boothby phát khùng lên như vậy. Tôi vẫn còn nhớ lúc bà cuối cùng cũng ra lệnh cho Paul phải ra khỏi nhà bếp - chắc là dịp cuối tuần ngay trước kỳ nghỉ cuối cùng đó. Paul và tôi đang ở trong nhà bếp nói chuyện với Jackson. Bà Boothby bước vào và nói, “Cô cậu biết rằng quy định của khách sạn không cho phép khách vào nhà bếp.” Tôi vẫn còn nhớ khá rõ đã có cảm giác choáng váng, như thể là đang chịu cảnh bất công, như kiểu cảm giác của trẻ con khi người lớn hành xử độc đoán. Như vậy, điều đó hẳn có nghĩa là chúng tôi đã chạy ra chạy vào nhà bếp suốt ngày mà không bị bà phản đối. Paul trừng phạt bà bằng cách làm theo đúng lời nói của bà. Anh chờ ở cửa sau nhà bếp cho đến lúc Jackson được phép đi ăn trưa, sau đó nghênh ngang cùng Jackson đi tới hàng rào thép bao quanh căn nhà của Jackson, vừa nói vừa đặt bàn tay lên cánh tay người đầu bếp. Sự động chạm da thịt giữa đen và trắng là nhằm mục đích cố ý chọc tức bất cứ người da trắng nào nhìn thấy. Chúng tôi không bao giờ đến gần nhà bếp nữa. Và bởi vì đang trong tâm trạng trẻ con cao độ, chúng tôi cười rúc rích và nói về bà Boothby không khác gì bọn trẻ nói chuyện về cô hiệu trưởng. Thật kỳ lạ làm sao khi ngày ấy chúng tôi có thể trở nên trẻ con đến vậy, và chúng tôi chẳng buồn bận tâm đến việc đã làm bà bị tổn thương. Bà đã trở thành “thổ dân” vì đã thù ghét tình bạn giữa Paul và Jackson. Trong khi chúng tôi biết tương đối rõ là ở Khu thuộc địa này không một người da trắng nào lại sẽ không ghét mối quan hệ đó, và trong vai trò chính trị của mình, chúng tôi vẫn luôn hiểu biết và nhẫn nại vô bờ bến giải thích cho người da trắng tại sao thái độ phân biệt chủng tộc của họ lại là vô nhân đạo.

Tôi còn nhớ một chuyện khác - Ted tranh luận với Stanley về bà Lattimore. Ted nói rằng ông Lattimore đang ghen và ông ta có lý do chính đáng cho điều đó. Stanley hồn hậu chế giễu: Ông Lattimore đối xử với vợ như cỏ rác, vì vậy ông ta đáng phải chịu như thế. Nhưng sự chế giễu này thực ra là dành cho Ted, bởi vì anh mới chính là người đang ghen, và ghen vì Stanley. Stanley không bận tâm tới việc Ted đã bị tổn thương. Hơn nữa, sao cậu ta lại phải bận tâm cơ chứ? Khi một người bị tán tỉnh ở một cấp độ với mục tiêu nằm ở một cấp độ khác, người đó sẽ luôn cảm thấy hậm hực. Luôn luôn như vậy. Tất nhiên, mục tiêu chủ chốt của Ted là “cánh bướm dưới đá” và anh làm chủ mọi cảm xúc lãng mạn của mình. Nhưng dĩ nhiên là những cảm xúc ấy có tồn tại, và Ted cũng đáng đời - chuyện xảy ra không phải chỉ một lần, khi Stanley nở cái nụ cười hiểu biết quen thuộc với vành môi cứng đơ ấy của cậu ta, đôi mắt lạnh lùng nheo lại và nói, “Thôi nào. Anh biết đấy không phải gu của tôi mà.” Dù Ted chỉ đang đề xuất cậu ta đọc sách, hoặc dành một buổi tối để nghe nhạc. Stanley đã chuyển sang khinh khỉnh ra mặt với Ted. Và Ted chấp nhận điều đó, thay vì mắng cậu ta. Ted là một trong những người có đạo đức nhất mà tôi từng biết, nhưng anh vẫn sẵn sàng đi “tổ chức hậu cần” với Stanley, tìm kiếm bia hay chôm thức ăn. Sau đó, anh sẽ kể cho chúng tôi nghe rằng anh chỉ tham gia để có cơ hội giải thích cho Stanley thấy, “vì sớm muộn gì cậu ta cũng sẽ thấy,” rằng cách sống đấy chẳng hay ho gì cả. Nhưng rồi anh lại liếc nhanh chúng tôi với vẻ xấu hổ, sau đó quay mặt đi và nở cái nụ cười cay đắng mới có ở nơi anh.

Và sau đó là vụ con trai của George. Cả nhóm ai cũng biết. Nhưng bản chất George là người kín đáo, vì thế tôi tin chắc rằng trong suốt cả năm tự giày vò mình về chuyện đó anh đã không kể cho bất cứ ai nghe. Cả Willi và tôi đều kín như bưng. Nhưng rồi cả nhóm đều biết. Tôi đồ rằng vào một đêm nọ khi chúng tôi đã ngà ngà say, George đã đưa ra một ám chỉ mà anh nghĩ sẽ không ai hiểu ra. Chẳng mấy chốc chúng tôi bắt đầu đùa cợt về chuyện đó giống như bây giờ chúng tôi đang đùa cợt về tình hình chính trị đáng thất vọng ở nước này. Tôi nhớ có đêm George làm chúng tôi cười đứt ruột khi anh nghĩ ra tình huống một ngày nào đó con trai anh sẽ tìm đến nhà anh và xin một chân giúp việc. George sẽ không nhận ra con mình, nhưng có một mối liên hệ thần bí nào đó kéo anh lại với cậu bé tội nghiệp. Cậu bé được giao cho làm việc trong nhà bếp và nhờ tố chất nhạy cảm cũng như trí thông minh bẩm sinh, “dĩ nhiên là tất cả đều được thừa hưởng từ anh,” cậu bé nhanh chóng chiếm được cảm tình của cả nhà. Chẳng mấy chốc, cậu bé sẽ đi nhặt những lá bài mà bốn người già đánh rơi bên bàn đánh bài và mang đến một tình bạn dịu dàng, không vụ lợi cho ba đứa trẻ nhà anh - “anh em cùng bố khác mẹ của nó”. Ví dụ, khi lũ trẻ chơi quần vợt, nó sẽ rất giỏi khoản nhặt bóng. Cuối cùng, sự nhẫn nại của cậu bé cũng được đền đáp. Một hôm, ánh sáng đột nhiên lóe lên trong đầu George khi cậu bé đưa đôi giày cho anh, “tất nhiên là đã được đánh bóng loáng”. “Thưa ông chủ, cháu còn phải làm gì nữa không ạ?” “Con tôi!” “Bố. Cuối cùng bố cũng nhận ra!” Đại loại như vậy.

Đêm đó, chúng tôi thấy George ngồi một mình dưới gốc cây, tay ôm lấy đầu, bất động, một cái bóng nặng nề chán nản ở giữa những cái bóng lay động của đám lá nhọn hoắt, lấp lánh. Chúng tôi bước xuống ngồi cùng anh, nhưng chẳng ai biết nói gì.

Trong dịp cuối tuần cuối cùng đó, một buổi khiêu vũ lớn đã được lên lịch trước, vì vậy chúng tôi đến đấy vào những thời điểm khác nhau trong ngày thứ Sáu, người thì bằng xe hơi, người thì bằng tàu hỏa, và gặp nhau ở phòng lớn. Khi Willi và tôi đến, Johnnie đã có mặt bên chiếc dương cầm cùng người đẹp tóc vàng mặt đỏ; Stanley đang khiêu vũ với bà Lattimore, còn George thì đang trò chuyện với Maryrose. Willi bước thẳng đến và đuổi George đi chỗ khác, còn Paul đến chỗ tôi. Mối quan hệ của chúng tôi vẫn vậy, nhẹ nhàng, nửa chế giễu và đầy hứa hẹn. Người ngoài nhìn vào có thể sẽ nghĩ, và biết đâu họ đã đinh ninh như vậy, rằng Willi cặp với Maryrose, còn Paul cặp với tôi. Dù đôi khi họ cũng có thể nghĩ tới một mối quan hệ tay bốn gồm tôi và George và Paul và Maryrose. Tất nhiên, những mối quan hệ lãng mạn kiểu tuổi mới lớn này tồn tại được là vì mối quan hệ tình dục giữa tôi với Willi, như tôi đã nói, không đi đến đâu cả. Nếu đôi chủ chốt trong nhóm có một mối quan hệ tình dục trọn vẹn, nó sẽ đóng vai trò chất xúc tác cho các đôi khác, và thường là sẽ khiến cho cả nhóm tan vỡ. Tôi đã từng chứng kiến nhiều nhóm như vậy, cả chính trị lẫn phi chính trị, và người ta luôn đánh giá mối quan hệ của đôi chủ chốt (bởi vì kiểu gì cũng phải có một đôi chủ chốt) thông qua quan hệ của các đôi xung quanh.

Vào hôm thứ Sáu đó, trong vòng một tiếng sau khi chúng tôi đặt chân đến khách sạn thì có chuyện xảy ra. June Boothby bước vào phòng lớn để nhờ Paul và tôi đến nhà bếp giúp cô chuẩn bị thức ăn cho bữa tối hôm đó, bởi vì Jackson còn đang bận tít mù với đám thức ăn cho bữa tiệc ngày hôm sau. Thời điểm đó June đã đính hôn với anh chàng trẻ tuổi của cô và đã thoát khỏi trạng thái mất hồn trước đó. Paul và tôi đi cùng cô. Jackson đang trộn hoa quả với kem để làm món pudding lạnh, và Paul lập tức nói chuyện với anh. Đề tài của họ là nước Anh, và đối với Jackson thì đây là một nơi xa xôi, huyền bí đến mức anh có thể dành hàng tiếng đồng hồ để nghe kể về những chi tiết vụn vặt nhất - chẳng hạn như hệ thống tàu điện ngầm, xe buýt, hay Nghị viện. June và tôi cùng nhau đứng chế biến món xa lát cho bữa tối của khách sạn. Cô đang nôn nóng muốn được rảnh chân rảnh tay để quấn quýt bên anh chàng trẻ tuổi, người có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Bà Boothby bước vào, nhìn Paul và Jackson rồi nói, “Tôi nghĩ là tôi đã bảo các cô các cậu đừng có vào nhà bếp nữa rồi cơ mà?”

June nôn nóng đáp, “Ôi mẹ ơi, là con nhờ họ đấy. Tại sao mẹ lại không thuê thêm một đầu bếp nữa, Jackson phải làm quá nhiều việc.”

“Jackson làm ở đây mười lăm năm nay rồi, và đến bây giờ mới có vấn đề.”

“Ôi mẹ ơi, làm gì có vấn đề gì. Nhưng từ khi có chiến tranh và các anh lính không quân cứ đến đây suốt thì việc phải nhiều hơn chứ. Con không ngại gì khi giúp đỡ ông ấy một tay, cả Paul và Anna cũng vậy.”

Bà mẹ trả lời, “Mẹ nói gì con phải nghe nấy, June.”

“Ôi mẹ ơi,” June đáp, giọng bực bội nhưng vẫn có phần dịu dàng. Cô nhăn mặt với tôi: Đừng để ý làm gì. Bà Boothby nhìn thấy và nói, “Con đang ngạo mạn quá đấy con gái ạ. Con bắt đầu ra lệnh trong nhà bếp từ bao giờ đấy?”

June nổi cáu và đi thẳng ra khỏi phòng.

Thở một cách nặng nhọc, gương mặt thô kệch vốn bình thường đã đỏ nay lại càng đỏ hơn, bà Boothby đau đớn nhìn Paul. Nếu Paul nói câu gì đó nhẹ nhàng, hay làm bất cứ điều gì đó để bà nguôi đi một chút, chắc hẳn bà sẽ lập tức trở về với bản chất hiền hậu của mình. Nhưng hành động của anh vẫn không khác gì trước đây: gật đầu ra hiệu cho tôi đi cùng với anh, rồi bình tĩnh bước ra ngoài theo lối cửa sau, vừa đi vừa nói với Jackson, “Tôi sẽ gặp lại anh lúc nào anh xong việc. Nếu như có lúc nào đó anh xong nổi việc.” Tôi nói với bà Boothby, “Nếu June không nhờ thì bọn tôi cũng không vào đâu.” Nhưng vì đó là lời phân trần của tôi nên bà không đáp lại. Vì vậy, tôi quay trở lại phòng lớn và khiêu vũ với Paul.

Bao lâu nay chúng tôi vẫn đùa nhau là bà Boothby yêu Paul. Có lẽ bà yêu thật, một chút. Nhưng bà là mẫu phụ nữ rất đơn giản và chăm chỉ. Bà đã rất chăm chỉ kể từ khi chiến tranh nổ ra, và cái khách sạn một thời chỉ là chỗ trú chân qua đêm cho khách lữ hành thì nay đã thành một khu nghỉ dưỡng cuối tuần. Chắc hẳn điều này đã khiến bà căng thẳng. Rồi lại còn June nữa, trong vài tuần gần đây cô đã lột xác từ một cô bé mới lớn hay hờn dỗi thành một người đàn bà có tương lai. Giờ đây nhìn lại, tôi nghĩ rằng chính cuộc hôn nhân của June là nguyên nhân sâu xa khiến bà trở nên rầu rĩ như vậy. Chắc chắn June là chỗ dựa tinh thần duy nhất của bà. Ông Boothby suốt ngày đứng sau quầy bar, hơn nữa ông còn thuộc loại bợm nhậu khó sống chung nhất. Những người nhậu từng chầu bí tỉ chẳng là cái gì khi so sánh với những người “có tửu lượng cao”, đều đặn ngày nào, tuần nào cũng nạp một lượng rượu vào người, năm này đến năm khác. Loại bợm nhậu này cư xử rất tệ với vợ mình. Bà Boothby sắp mất June, vì cô sẽ ở cách đó gần năm trăm cây số. Cũng chẳng có gì: đối với Khu thuộc địa thì khoảng cách đó chẳng nhằm nhò gì, nhưng dù chỉ có vậy thì bà cũng đã mất con gái của mình. Và có lẽ bà chịu ảnh hưởng của bầu không khí đứng ngồi không yên của thời chiến. Mấy tuần nay bà, một người phụ nữ đã cam chịu cuộc sống không được làm phụ nữ từ nhiều năm nay, đã chứng kiến bà Lattimore, một người cùng độ tuổi với bà, lại có Stanley Lett theo đuổi. Có lẽ bà đúng là có những mơ ước thầm kín đối với Paul. Tôi cũng chẳng biết nữa. Nhưng giờ đây nhìn lại, tôi thấy bà Boothby thật lẻ loi và đáng thương. Nhưng hồi đó thì tôi lại không nghĩ thế. Tôi chỉ thấy bà là một mụ “thổ dân” ngu xuẩn. Ôi lạy Chúa, thật đau lòng khi nghĩ về những người mà ta từng tàn nhẫn với họ. Và những cử chỉ dù chỉ nhỏ nhặt thôi hẳn cũng có thể đã khiến bà vui lên được - giá như thỉnh thoảng chúng tôi mời bà đến làm vài ly, hoặc trò chuyện với bà. Nhưng chúng tôi chỉ quanh quẩn trong nhóm mình và nghĩ ra đủ câu chuyện đùa ngu xuẩn để cười nhạo bà. Tôi vẫn còn nhớ gương mặt bà khi Paul và tôi rời nhà bếp. Bà nhìn chằm chằm vào lưng Paul - cái nhìn đau đớn, hoang mang; đôi mắt bà như dại đi vì không thể hiểu nổi anh. Và bà cao giọng với Jackson, “Anh đang trở nên rất láo xược, Jackson ạ. Tại sao anh lại trở nên láo xược như vậy?”

Theo quy định, Jackson rỗi từ ba giờ đến năm giờ chiều hằng ngày, nhưng giống như một người hầu tận tụy thời phong kiến, khi công việc bận rộn, ông ta bỏ qua quyền lợi của mình. Chiều hôm nay, phải đến năm giờ chúng tôi mới thấy ông ta ra khỏi nhà bếp và chầm chậm đi về nhà. Paul nói, “Anna thân mến, anh sẽ không thể nói là mình yêu em nếu như anh không yêu thương Jackson hơn. Đến lúc này, đây đã là vấn đề nguyên tắc…” Rồi anh bước ra khỏi chỗ tôi và đi đến gặp Jackson. Hai người đứng nói chuyện bên hàng rào, còn bà Boothby thì quan sát họ từ cửa sổ nhà bếp. Paul vừa đi thì George đến ngồi cùng tôi. George nhìn Jackson và nói, “Bố của con anh.”

Tôi đáp, “Ôi, thôi nào, nói vậy chẳng ích lợi gì cả.”

“Anna, em có thấy rằng tất cả những chuyện này chỉ là một trò hề không? Thậm chí anh còn không thể cho tiền con anh? Em có thấy rằng nó kỳ quái một cách kinh khủng không - Jackson kiếm được năm bảng một tháng. Phải thừa nhận rằng với một thằng nheo nhóc con cái như anh, năm bảng là số tiền lớn - nhưng nếu anh đưa cho Marie năm bảng chỉ để sắm cho thằng bé tội nghiệp vài bộ quần áo tươm tất, số tiền đó sẽ rất nhiều đối với họ… Cô ấy bảo với anh, tiền mua thức ăn mỗi tuần cho gia đình Jackson chỉ hết có mười shilling. Họ sống bằng bí ngô, bột ngô và thức ăn thừa từ nhà bếp.”

“Jackson không nghi ngờ chút nào ư?”

“Marie nghĩ là không. Anh có hỏi cô ấy. Em có biết cô ấy nói gì không, ‘Anh ấy là người chồng tốt. Anh ấy đối xử tốt với em và lũ trẻ’… em có biết không Anna, khi cô ấy nói thế, chưa bao giờ anh thấy mình lại khốn nạn đến vậy.”

“Anh vẫn ngủ với chị ấy à?”

“Ừ. Em có biết không Anna, anh yêu cô ấy, anh yêu cô ấy nhiều đến mức…”

Một lúc sau, chúng tôi nhìn thấy bà Boothby từ nhà bếp bước ra và đi thẳng đến chỗ Paul và Jackson. Jackson đi vào lều, còn bà Boothby thì cứng người vì giận dữ và cô độc, đành trở về nhà. Paul bước đến chỗ chúng tôi đang đứng và thuật lại những gì bà đã nói với Jackson, “Tôi không cho anh nghỉ để nói những chuyện hỗn xược với những người da trắng không biết phải trái đâu.” Vì quá bực mình nên Paul chẳng có tâm trí nào mà đùa cợt nữa. Anh nói, “Lạy Chúa, Anna, lạy Chúa. Lạy Chúa tôi.” Rồi dần bình tĩnh lại, anh dẫn tôi quay lại sàn khiêu vũ và nói, “Điều làm anh thực sự thấy thú vị là có những người, như em chẳng hạn, thành tâm tin rằng thế giới có thể thay đổi.”

Chúng tôi khiêu vũ và nhậu hết cả buổi tối. Cả lũ đều đi ngủ rất muộn. Willi và tôi lên giường trong tâm trạng cáu kỉnh với nhau. Anh bực mình bởi vì George lại lôi những rắc rối của mình ra kể lể, và anh phát ngấy lên với George. Anh nói với tôi, “Có vẻ như em và Paul đang tiến triển tốt nhỉ?” Anh nói ra câu đó vào lúc này hay vào bất cứ lúc nào trong suốt sáu tháng qua thì cũng chẳng khác gì nhau. Tôi trả lời, “Thì anh và Maryrose cũng vậy.” Mỗi đứa chúng tôi nằm trên một trong hai cái giường kê ở hai góc phòng. Anh đang cầm trên tay một cuốn sách viết về sự phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Đức thuở sơ khai. Anh ngồi đó, toàn bộ trí tuệ tập trung đằng sau đôi mắt kính lấp loáng, tự hỏi có đáng cãi nhau vào lúc này không. Tôi nghĩ anh cho rằng có cãi thì cũng chỉ dẫn đến cuộc tranh luận quen thuộc của chúng tôi về George… “tình cảm ủy mị” với “quan liêu giáo điều”. Hoặc có lẽ - vì anh là mẫu người hoàn toàn chẳng hay biết gì về động cơ của mình - anh tin rằng anh căm thù mối quan hệ giữa tôi với Paul. Và có lẽ đúng vậy. Ngày ấy khi bị thách thức thì tôi đã lôi “Maryrose” ra để đáp trả. Nhưng bây giờ nếu bị thách thức, tôi sẽ nói rằng bất cứ người phụ nữ nào cũng đều tin tưởng từ đáy lòng rằng nếu người yêu không thể làm mình thỏa mãn, cô ta có quyền tìm kiếm một người khác. Đấy là ý nghĩ đầu tiên và mãnh liệt nhất xuất hiện trong đầu cô ta, bất kể sau đó cô ta có vì thương hại hay vì sự thiết thực mà tìm cách xoa dịu nó đi như thế nào chăng nữa. Nhưng Willi và tôi lại không ở với nhau vì tình dục. Vậy thì sao? Tôi viết ra điều này và nghĩ xem cái khía cạnh tranh cãi giữa chúng tôi mạnh đến mức nào mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn đánh giá mọi chuyện trên cơ sở đúng-sai, theo bản năng và đơn thuần là vì thói quen. Ngu xuẩn. Luôn luôn ngu xuẩn.

Đêm hôm đó chúng tôi không cãi nhau. Chỉ một chốc sau anh đã ngân nga một mình: Ôi con cá mập có hàm răng nguy hiểm… sau đó cầm cuốn sách lên đọc, còn tôi thì đi ngủ.

Ngày hôm sau, tâm trạng cáu kỉnh râm ran khắp khách sạn. June Boothby đi khiêu vũ với anh chồng chưa cưới và đến sáng mới về. Ông Boothby quát mắng ầm ĩ khi con gái bước vào, còn bà Boothby thì khóc rấm rứt. Vụ mắng mỏ Jackson đã đến tai khắp đám người làm. Mấy người hầu bàn đeo bộ mặt sưng sỉa với chúng tôi suốt bữa trưa. Jackson đến đúng ba giờ là nghỉ theo quy định, bỏ mặc bà Boothby tự chuẩn bị thức ăn cho buổi khiêu vũ, còn June thì nhất định không chịu giúp mẹ bởi vì hôm trước bà đã nặng lời với cô. Và chúng tôi cũng thế. Chúng tôi nghe June hét vang lên, “Nếu không keo kiệt thì mẹ đã thuê một người phụ bếp khác chứ đâu cần phải tự biến mình thành thánh tử đạo chỉ vì năm bảng một tháng như thế.” Mắt bà Boothby đỏ hoe, mặt bà lại thể hiện một mớ cảm xúc hỗn độn, và bà đi theo June khắp nơi, miệng liên tục phản đối. Bởi vì tất nhiên là bà không hề keo kiệt. Năm bảng chẳng là gì cả đối với nhà Boothby; và tôi nghĩ nguyên nhân khiến bà không chịu thuê thêm đầu bếp là vì bà không ngại phải làm việc gấp đôi người khác và bà cho rằng chẳng có lý do gì mà Jackson lại không chăm chỉ theo bà.

Bà đi về nhà nằm nghỉ. Stanley Lett đang ngồi với bà Lattimore ngoài hiên. Món trà của khách sạn được một người hầu bàn dọn ra lúc bốn giờ, nhưng bà Lattimore thấy đau đầu và muốn đổi sang cà phê đen. Tôi nghĩ chắc hẳn bà đã gặp rắc rối gì đó với chồng, nhưng chúng tôi đã quá quen với thói dễ dãi của ông ta rồi nên phải mãi về sau mới nghĩ ra điều đó. Stanley Lett vào bếp yêu cầu người hầu bàn làm cà phê, nhưng tủ cà phê đã bị khóa mất, và người cầm chìa khóa lại là Jackson, người quản gia tin cẩn. Stanley Lett đến nhà Jackson để mượn chìa khóa. Tôi không nghĩ cậu ta nhớ ra rằng như thế là một việc làm thiếu tế nhị, nếu xét đến tình thế lúc bấy giờ. Cậu ta chỉ đơn giản là “làm công tác tổ chức”, theo đúng bản chất của mình. Vốn thích Stanley vì gắn liền Không lực Hoàng gia với cách đối xử nhân đạo, Jackson từ nhà mình đi sang nhà bếp để mở tủ bát đĩa và pha cà phê cho bà Lattimore. Chắc hẳn bà Boothby đã quan sát hết tất cả những diễn biến này từ cửa sổ phòng ngủ nhà mình, thế là bà đi xuống và bảo với Jackson rằng nếu còn làm vậy một lần nữa, ông ta sẽ bị đuổi việc. Stanley cố gắng vỗ về bà nhưng không được, bà giống như người bị ma ám, và chồng bà phải đưa bà trở về phòng nằm nghỉ.

George đến gặp Willi và tôi rồi nói, “Bọn em có biết rằng nếu Jackson bị đuổi thì sẽ thế nào không? Cả gia đình ông ta sẽ tiêu dùng luôn.”

Willi trả lời, “Ý anh là anh tiêu tùng.”

“Không, cái thằng đần này, lần này thì anh đang lo cho họ. Đây là mái ấm của họ. Jackson sẽ không bao giờ tìm đâu ra một nơi chấp nhận cho cả gia đình sống cùng như thế. Ông ta sẽ phải đi tìm việc ở chỗ khác, còn cả gia đình sẽ phải quay trở lại Nyasaland.”

Willi đáp, “Rất có khả năng. Họ sẽ lại giống như những người da đen khác chứ không còn ở trong thiểu số nửa phần trăm nữa - dẫu số đó chắc chẳng nhiều đến vậy.”

Chỉ sau đó một lát, quán bar mở cửa và George đi nhậu. Anh rủ Jimmy đi cùng. Dường như tôi đã quên bẵng đi điều quan trọng nhất - Jimmy trong thời gian này đang khiến bà Boothby nổi đóa. Chuyện xảy ra vào kỳ nghỉ cuối tuần trước đó. Trước mặt bà Boothby, Jimmy vòng tay ôm lấy Paul và hôn Paul. Lúc đó anh đã say bét nhè. Vốn là người chất phác, bà Boothby sốc kinh khủng. Tôi cố gắng giải thích với bà rằng các quy ước và giả thiết về năng lực đàn ông ở Khu thuộc địa không giống như ở Anh, nhưng sau đó bà vẫn không thể vứt bỏ ánh nhìn ghê tởm dành cho Jimmy. Bà đã không thấy phiền hà gì khi anh thường xuyên say xỉn, khi anh không chịu cạo râu nên trông rất đáng ghét với hai cái sẹo chưa lành hẳn xen giữa đám râu lởm chởm, khi anh ngật ngưỡng đi quanh trong bộ quân phục không đóng cúc thắt đai. Tất cả những điều đó đều chẳng sao cả; đàn ông đích thực có nhậu nhẹt, không cạo râu và không chăm chút ngoại hình thì đã làm sao. Thậm chí bà còn chăm sóc và đối xử khá dịu dàng với anh. Nhưng từ “đồng tính” đã đẩy anh ra giới hạn chấp nhận được của bà. “Tôi nghĩ rằng cậu ta chính là cái thứ người ta gọi là đồng tính,” bà nói, sử dụng từ này như thể nó cũng chứa thuốc độc.

Jimmy và George uống đến say mèm ở quán bar, và khi buổi khiêu vũ bắt đầu thì họ đã trở nên ủy mị, trìu mến. Phòng lớn chật ních người lúc họ bước vào. Jimmy và George khiêu vũ với nhau, George biến việc đó thành trò chơi của mình, nhưng Jimmy thì trông vui vẻ như trẻ con. Họ lượn một vòng quanh căn phòng - những thế là quá đủ. Bà Boothby đã có mặt ở đó, bộ váy xa tanh màu đen khiến bà trông như con hải cẩu, gương mặt bà bừng bừng vẻ khốn khổ. Bà đi thẳng đến chỗ hai người và bảo họ hãy đem hành vi đáng kinh tởm của họ đi chỗ khác. Không một ai khác để ý đến chuyện này, và George bảo bà đừng có cư xử như một con mụ ngớ ngẩn nữa, sau đó quay sang khiêu vũ với June Boothby. Jimmy đứng há hốc miệng bất lực, giống hệt một cậu bé vừa bị đòn và không biết phải làm gì. Rồi anh lang thang một mình trong bóng đêm.

Paul khiêu vũ với tôi. Willi khiêu vũ với Maryrose. Stanley khiêu vũ với bà Lattimore. Ông Lattimore ngồi ở quầy bar, còn George thì liên tục bỏ chúng tôi để đi ra với cái nhà lưu động của anh. Cả lũ chúng tôi ồn ào và chế nhạo mọi thứ nhiều hơn hẳn trước đây. Tôi nghĩ tất cả đều biết rằng đây là kỳ nghỉ cuối tuần cuối cùng của mình. Nhưng chúng tôi không hề bàn với nhau là sẽ không quay trở lại đây nữa; cũng như lúc đầu chẳng có ai đưa ra quyết định chính thức nào về việc đến đây. Chỉ có cảm giác mất mát; vì Paul và Jimmy sẽ sớm bị điều đi đóng quân nơi khác.

Đến gần nửa đêm thì Paul nhận ra rằng Jimmy đã đi quá lâu. Chúng tôi tìm khắp đám đông trong phòng lớn nhưng không thấy. Paul và tôi ra ngoài đi tìm thì gặp George ở cửa ra vào. Bên ngoài, bầu trời đêm ẩm ướt và đầy mây. Ở vùng này, giữa thời tiết đẹp trường kỳ chúng tôi đã quá quen thuộc, thỉnh thoảng lại có một đợt hai ba ngày như thế, trời có mưa phùn hoặc sương mù thổi nhẹ, giống hệt những cơn mưa nhỏ hạt ở Ireland. Lúc này, từng nhóm từng đôi đang đứng nghỉ, nhưng trời quá tối nên không thể nhìn thấy rõ mặt được, vì vậy chúng tôi len lỏi giữa những người này để mong nhìn thấy dáng Jimmy. Quán bar đã đóng cửa và ở ngoài hiên khách sạn hay trong phòng ăn cũng không thấy anh. Chúng tôi bắt đầu thấy lo, vì đã không ít lần chúng tôi phải giúp anh ra khỏi luống hoa hay rặng bạch đàn trong tình trạng say không biết trời đất trăng sao gì nữa. Chúng tôi tìm khắp các phòng ngủ. Chúng tôi chậm rãi đi qua các khu vườn, dò dẫm khắp các gốc cây bụi cỏ nhưng vẫn không thấy. Chúng tôi đứng sau lưng tòa nhà chính của khách sạn, đang tự hỏi xem nên tìm tiếp chỗ nào thì ánh đèn nhà bếp cách đó dăm bước chân sáng lên trước mặt chúng tôi. Jackson chậm rãi bước vào bếp, một mình. Ông ta không hề biết rằng mình đang bị người khác nhìn thấy. Trước đây, lúc nào tôi cũng thấy ông ta lịch thiệp và dè chừng; nhưng lúc này ông ta vừa giận dữ vừa bồn chồn - tôi nhớ mình đã nhìn gương mặt ông ta và nghĩ rằng thực sự tôi chưa bao giờ nhìn thấy nét mặt đấy. Mặt ông ta biến sắc - ông ta đang nhìn một vật gì đó trên sàn nhà. Chúng tôi dấn về phía trước để xem, thì ra Jimmy đang nằm ngủ hoặc say khướt hoặc cả hai trên sàn bếp. Jackson cúi xuống để đỡ anh dậy, và đúng lúc đó thì bà Boothby tiến đến sau lung Jackson. Jimmy tỉnh dậy, nhìn thấy Jackson và giơ hai tay lên giống như một đứa trẻ mới bị đánh thức, ôm lấy cổ Jackson. Người đàn ông da đen nói, “Ông Jimmy, ông Jimmy, ông phải đi ngủ. Ông không được ở đây.” Và Jimmy trả lời, “Anh yêu tôi, phải không Jackson, anh yêu tôi, chẳng có ai ở đây yêu tôi cả.”

Bà Boothby sốc đến nỗi sụm cả người xuống, phải tựa vào tường, mặt tái mét. Lúc này, ba người chúng tôi đã ở trong bếp, đỡ Jimmy đứng dậy và gỡ tay anh ra khỏi cổ Jackson.

Bà Boothby nói, “Jackson, mai dọn đi ngay.”

Jackson đáp, “Thưa bà chủ, tôi đã làm gì sai ạ?”

Bà Boothby nói, “Cút. Cút xéo. Đưa cái gia đình bẩn thỉu của mày và cả bản thân mày nữa đi khỏi nơi đây. Ngày mai, nếu không tao sẽ gọi cảnh sát.”

Jackson nhìn chúng tôi, đôi lông mày nhíu lại rồi dãn ra, nỗi đau khiến da mặt ông ta hết căng lại dãn, khiến ông ta trông như thể đang gồng lên rồi lại thả lỏng. Tất nhiên là ông ta không thể nào hiểu nổi tại sao bà Boothby lại khó chịu đến thế.

Ông ta chậm rãi nói, “Thưa bà chủ, tôi đã phục vụ bà suốt mười lăm năm nay.”

George nói, “Tôi sẽ nói chuyện với bà ấy, Jackson ạ.” Từ trước đến nay, chưa bao giờ George nói chuyện trực tiếp với Jackson. Đứng trước Jackson, anh luôn cảm thấy mình tội lỗi.

Và Jackson chầm chậm hướng ánh mắt về phía George, chầm chậm chớp mắt, giống hệt một người vừa bị đánh. George tiếp tục im lặng, chờ đợi. Sau đó, Jackson lên tiếng, “Ông không muốn chúng tôi ra đi phải không, thưa ông?”

Tôi không biết câu đó có nghĩa là gì. Có lẽ Jackson đã biết hết mọi chuyện về vợ mình. Vào lúc đấy thì có vẻ như câu nói đó hàm ý như vậy. Nhưng George nhắm mắt lại một lát, rồi lắp bắp điều gì đó, nghe buồn cười như lời một thằng ngốc. Rồi anh loạng choạng bước ra khỏi nhà bếp.

Chúng tôi vừa đỡ vừa đẩy Jimmy đi ra khỏi nhà bếp, rồi nói, “Chúc anh ngủ ngon, Jackson, cảm ơn anh vì đã giúp đỡ ông Jimmy.” Nhưng ông ta không đáp lại.

Chúng tôi đặt Jimmy vào giường, Paul và tôi. Lúc đi từ khu phòng ngủ qua bóng đêm ẩm ướt, chúng tôi nghe giọng George nói chuyện với Willi cách đó chừng chục bước chân. Willi nói, “Cũng tương đối.” Và “Rõ ràng rồi.” Và “Rất có khả năng.” Còn lời nói của George thì càng lúc càng trở nên dữ dội và rời rạc.

Paul thấp giọng nói, “Ôi lạy Chúa tôi, Anna, đi với anh nào, đi ngay nào.”

Tôi trả lời, “Em không thể.”

“Anh có thể sẽ phải rời khỏi đất nước này bất cứ lúc nào. Có thể anh sẽ không bao giờ được gặp lại em nữa.”

“Anh biết là em không thể.”

Không trả lời, anh dấn bước vào bóng tối, và khi tôi vừa định đi theo anh thì Willi xuất hiện. Chúng tôi đang đứng rất gần phòng mình, vì vậy chúng tôi quyết định đi vào phòng. Willi nói, “Đây là điều tốt nhất có thể xảy ra. Jackson và gia đình sẽ ra đi, còn George sẽ tỉnh táo trở lại.”

“Như vậy gần như chắc chắn là gia đình Jackson sẽ phải chia lìa. Jackson sẽ không thể sống cùng với gia đình nữa.”

Willi đáp, “Thật đúng là em. Jackson đã rất may mắn khi có gia đình ở bên cạnh. Hầu hết bọn họ đâu có được như vậy. Nhưng bây giờ thì ông ta cũng giống như những người khác. Thế thôi. Em trước giờ có khóc thương cho những người còn lại đâu?”

“Không, em không khóc thương mà em hành động, bằng cách ủng hộ các chính sách có khả năng chấm dứt toàn bộ chuyện khốn kiếp này.”

“À, hẳn. Và như thế cũng đúng thôi.”

“Nhưng em lại quen Jackson và gia đình ông ấy. Đôi khi, em không thể tin được rằng anh nói thật lòng những gì anh nghĩ.”

“Tất nhiên là em tin sao được. Người duy cảm thì không bao giờ tin vào cái gì khác ngoài cảm xúc của bản thân.”

“Và đối với George thì mọi chuyện sẽ chẳng có gì khác cả. Bởi vì bi kịch của George không phải là Marie mà chính là George. Cô ấy đi rồi lại sẽ có người khác thay thế.”

“Chuyện này có thể dạy cho anh ta một bài học,” Willi nói, mặt trở nên rất khó coi.

Tôi bỏ mặc Willi trong phòng và ra đứng trên hiên. Màn sương đã mỏng bớt, để lộ vầng sáng mờ mờ lạnh lẽo đang lan dần trên nền trời tranh tối tranh sáng. Paul đang đứng cách đó vài bước nhìn tôi. Và đột nhiên, tất cả những cảm giác lâng lâng say, giận dữ, khổ sở dâng lên trong tôi như một trái bom bùng nổ và tôi không thiết đến bất cứ điều gì khác ngoài việc được ở bên Paul. Tôi chạy đến bên anh, anh nắm lấy tay tôi và không nói lời nào, hai đứa cùng chạy mà không cần biết chạy đi đâu hay tại sao lại phải chạy. Chúng tôi chạy dọc con đường chính dẫn về phía Đông, trượt chân và bước loạng choạng trên nền đá dăm lầy lội, ẩm ướt, sau đó ngoặt vào một lối mòn đầy cỏ mà chúng tôi cũng chẳng biết là dẫn đi đâu. Chúng tôi chạy trên lối mòn, qua những vũng nước đầy cát mà chúng tôi chẳng hề nhìn thấy, qua màn sương mờ mờ đã lại buông xuống. Những thân cây tối thẫm đẫm nước hiện ra lờ mờ bên đường, rồi nằm lại đằng sau trong lúc chúng tôi cứ tiếp tục chạy. Hơi thở đứt quãng, chúng tôi rời lối mòn, loạng choạng bước vào thảo nguyên phủ đầy những bụi cây thấp đã trở nên vô hình. Chúng tôi chạy thêm vài bước rồi ngã vật vào vòng tay nhau trên thảm lá ướt đẫm trong cơn mưa đang chầm chậm rơi xuống, trên đầu chúng tôi những đám mây đen giờ đã sà xuống đuổi nhau lướt qua bầu trời, ánh trăng nhàn nhạt lúc ẩn lúc hiện, vật lộn với bóng đêm, và chúng tôi lại chìm vào đêm tối. Chúng tôi bắt đầu run lên đến mức cả hai phải phá lên cười; răng va vào nhau cành cạch. Tôi không mặc gì khác ngoài một chiếc váy khiêu vũ mỏng. Paul cởi chiếc áo khoác quân đội ra choàng quanh tôi, và chúng tôi lại nằm xuống. Da thịt chúng tôi nóng rực, nhưng tất cả mọi thứ khác đều ướt đẫm và lạnh cóng. Vẫn giữ được điềm tĩnh vào cả những lúc như thế này, Paul lên tiếng, “Anh chưa bao giờ làm việc đó cả, Anna yêu dấu ạ. Chọn một người phụ nữ từng trải như em chẳng phải là rất khôn ngoan sao?” Tôi lại bật cười khi nghe anh nói vậy. Hai chúng tôi chẳng ai khôn ngoan chút nào cả, chúng tôi chỉ quá hạnh phúc. Mấy tiếng sau, trời dần sáng rõ và tiếng đàn dương cầm của Johnnie vẳng tới từ khách sạn đã ngừng hẳn, và nhìn lên cao chúng tôi nhìn thấy mây đã quang và sao đã lặn. Chúng tôi đứng dậy, nhớ lại xem tiếng dương cầm vọng tới từ hướng nào rồi bước đi về phía mà chúng tôi nghĩ là nơi khách sạn chúng tôi tọa lạc. Chúng tôi loạng choạng bước đi, qua những đám cây rồi bụi cỏ, tay nóng rực lên trong tay nhau, nước mắt và nước mưa từ lá cỏ chảy trên mặt chúng tôi. Chúng tôi không tìm thấy khách sạn đâu cả: có lẽ gió đã thổi bạt tiếng đàn đi chệch hướng. Trong bóng tối, chúng tôi vừa bò vừa trèo và cuối cùng thấy mình ở trên đỉnh một cái gò nhỏ. Một màn tối đen hoàn toàn tĩnh lặng bao phủ cả mấy dặm xung quanh dưới ánh sao xám xịt. Chúng tôi ngồi bên nhau trên một gờ đá granite ướt, ôm lấy nhau và chờ trời sáng. Chúng tôi vừa ướt, vừa lạnh, vừa mệt nên chẳng ai nói câu nào. Chúng tôi kề đôi má lạnh bên nhau và chờ đợi.

Trong cuộc đời, chưa bao giờ tôi cảm thấy hạnh phúc một cách tuyệt vọng, hoang dại và đau đớn như lúc ấy. Cảm giác này mạnh mẽ đến mức tôi không thể nào tin được. Tôi nhớ mình đã tự nhủ, Nó là thế này đây, hạnh phúc là thế này đây, nhưng đồng thời tôi cũng thấy thất kinh vì nó được sinh ra từ quá nhiều điều xấu xa, bất hạnh. Và trên gương mặt lạnh giá của chúng tôi đang áp sát vào nhau, những giọt nước mắt nóng hổi không ngừng lăn xuống.

Một lúc lâu sau, một vầng sáng màu đỏ ló ra khỏi màn đêm trước mặt chúng tôi, và quang cảnh hiện dần ra trước ánh sáng của nó, tĩnh lặng, xám màu và tuyệt đẹp. Trông thật lạ lẫm từ độ cao này, khách sạn hiện ra cách chỗ chúng tôi chừng gần một cây số, và không phải ở nơi mà chúng tôi đã đoán. Nó vẫn tối om, chẳng có chút ánh đèn nào cả. Lúc này, chúng tôi đã nhận ra rằng tảng đá mà chúng tôi đang ngồi nằm ở miệng của một cái hang nhỏ, và vách đá phẳng lì ở phía sau chi chít những hình vẽ của thổ dân. Trông chúng thật tươi mới và sinh động ngay cả trong màn ánh sáng mờ mờ này, có điều chúng đã không còn nguyên vẹn. Những bức vẽ như thế này xuất hiện trên khắp mọi miền đất nước, nhưng hầu hết đã bị hủy hoại do bọn trẻ con da trắng không biết giá trị của chúng nên đã ném đá vào. Paul nhìn bức tranh vẽ những hình người và thú đã nứt nẻ, sứt sẹo rồi nói, “Một bức minh họa mới phù hợp với chúng ta làm sao, Anna thân mến, mặc dù anh cũng khó mà tìm được đúng từ để giải thích tại sao, trong tình trạng hiện nay.” Anh hôn tôi lần cuối cùng, và chúng tôi từ từ trèo xuống qua đám lá cỏ sũng nước. Bị dính nước, chiếc váy của tôi co lên trên đầu gối, và điều này khiến chúng tôi bật cười vì trong tình huống như vậy, tôi chỉ có thể nhích từng bước nhỏ. Chúng tôi đi thật chậm dọc theo lối mòn về khách sạn, đến khu phòng ngủ và thấy bà Lattimore đang ngồi khóc trên hiên. Cánh cửa phòng ngủ sau lưng bà khép hờ, còn ông Lattimore đang ngồi trên nền nhà bên cạnh lối ra vào. Ông vẫn còn say, và đang nói bằng giọng chậm rãi, thận trọng, lè nhè, “Đồ đĩ. Đồ đĩ xấu xa. Đồ khốn nạn không biết đẻ.” Rõ ràng là chuyện này đã từng xảy ra trước đây. Bà ngước bộ mặt tàn tạ lên nhìn chúng tôi, dùng cả hai tay rứt mái tóc đỏ đáng yêu của mình, nước mắt nhỏ xuống cằm. Con chó thu mình bên cạnh, khẽ ư ử, chúi đầu vào lòng bà, cái đuôi xù màu đỏ quét qua quét lại trên sàn, đầy vẻ hối lỗi. Ông Lattimore không hề để ý đến chúng tôi. Cặp mắt xấu xí đỏ ngầu của ông dán chặt vào bà vợ, “Đồ đã lười biếng không biết đẻ. Đồ gái đứng đường. Đồ khốn nạn bẩn thỉu.”

Paul bước đi, còn tôi vào phòng ngủ. Trong phòng tối om và ngột ngạt.

Willi hỏi, “Em đi đâu thế?”

Tôi đáp, “Anh biết rồi còn gì.”

“Đến đây.”

Tôi bước đến, anh nắm lấy cổ tay tôi và kéo tôi xuống cạnh anh. Tôi nhớ mình đã nằm đó, cảm thấy căm ghét anh và tự hỏi tại sao lần duy nhất anh ta làm tình với tôi lại diễn ra sau khi anh biết tôi vừa ngủ với một ai đó.

Sự việc đó đã chấm dứt mối quan hệ giữa Willi và tôi. Chúng tôi không bao giờ tha thứ cho nhau vì chuyện này. Chúng tôi không bao giờ nhắc lại nữa, nhưng nó luôn hiện hữu ở đó. Và như vậy là một mối quan hệ “phi tình dục” cuối cùng cũng kết thúc, nhờ tình dục.

Ngày hôm sau là Chủ nhật và chúng tôi tụ tập ngay trước bữa trưa dưới rặng cây cạnh đường xe lửa. George đang ngồi đó một mình. Trông anh thật già nua, buồn bã và buông xuôi. Jackson đã đưa vợ con đi trong đêm, lúc này họ đang đi bộ về phía Bắc, đến Nyasaland. Căn nhà hay căn lán trước đây vốn đầy sự sống nay trống toác, chỉ qua một đêm đã trở thành vô chủ. Trông nó thật nhỏ bé và hoang tàn, đứng thông thống giữa hàng cây đu đủ. Nhưng Jackson vì quá vội vàng nên không kịp mang theo đàn gà. Có mấy con gà sao, mấy con gà mái ghẹ to cộ, và một đám những sinh vật nhỏ xíu lông cứng đờ có tên là gà kaffir, và một chú trống choai lông có màu nâu lẫn đen lóng lánh, những chiếc lông đuôi óng ánh trong nắng đang dùng những chiếc móng non màu trắng bới đất và cất tiếng gáy vang. “Là anh đấy,” George vừa nói với tôi vừa nhìn chú trống choai, nặn ra một câu nói đùa.

Trong bữa trưa ở khách sạn, bà Boothby bước đến xin lỗi Jimmy. Hấp tấp, lo lắng, mắt đỏ hoe, và mặc dù không giấu được cái nhìn ghét bỏ đối với Jimmy, bà vẫn thực sự chân thành. Jimmy chấp nhận lời xin lỗi bằng thái độ mau mắn. Anh không nhớ chuyện gì đã xảy ra đêm hôm trước và chúng tôi cũng không hề kể lại cho anh. Anh nghĩ rằng bà xin lỗi vì sự việc xảy ra trên sàn nhảy với George.

Paul nói, “Thế Jackson thì sao?”

Bà đáp, “Đi rồi, khuất mắt rồi.” Bà nói bằng giọng nặng nề, cộc cằn, mang sắc thái vừa ngạc nhiên vừa ngờ vực. Rõ ràng là bà đang không hiểu chuyện quái quỷ gì vừa xảy ra khiến bà có thể thẳng thừng đuổi việc người phục vụ đã trung thành với gia đình bà suốt mười lăm năm qua. Bà nói, “Có khối người sẵn sàng thế chỗ ông ta.”

Chúng tôi quyết định rời khách sạn ngay trong chiều hôm đó và không bao giờ quay lại nữa. Vài ngày sau thì Paul chết còn Jimmy rời khỏi đây để lái máy bay oanh tạc trên bầu trời Đức. Ted nhanh chóng trượt kỳ kiểm tra phi công và Stanley Lett mắng anh là đồ ngốc. Johnnie tiếp tục chơi dương cầm tại các buổi tiệc và vẫn là người bạn ít lời, xa cách của chúng tôi.

Thông qua cơ quan phụ trách người bản xứ, George tìm ra được chỗ ở của Jackson. Ông đã đưa gia đình đến Nyasaland, để họ ở đó và làm đầu bếp cho một gia đình trong thành phố. Thỉnh thoảng George vẫn gửi tiền cho họ, hy vọng mọi người trong gia đình sẽ nghĩ rằng đây là tiền ông bà Boothby gửi đến, do họ cảm thấy ăn năn chắng hạn. Nhưng tại sao họ lại phải ăn năn nhỉ? Đối với họ thì họ đã chẳng làm gì khiến cho họ phải thấy xấu hổ cả.

Và câu chuyện đến đấy là hết.

Đấy là chất liệu xây dựng nên Những biên giới chiến tranh. Tất nhiên, hai “câu chuyện” này chẳng có điểm nào giống nhau cả. Tôi nhớ rất rõ giây phút tôi ý thức được là mình sẽ viết cuốn sách ấy. Lúc đó, tôi đang đứng trên bậc thềm khu phòng ngủ của khách sạn Mashopi, ánh trăng lạnh lẽo rọi xuống khắp xung quanh. Phía xa bên kia hàng bạch đàn là một đoàn tàu hàng vừa vào ga, đang đỗ trên đường ray kêu xì xì và phả ra những đám mây hơi nước trắng toát. Gần đoàn tàu là chiếc xe tải của George, phía sau là cái nhà lưu động - được sơn nâu và trông giống như một kiện hàng mỏng manh. Lúc này George đang ở trong đó với Marie - tôi vừa nhìn thấy chị lén xuống đó và trèo vào. Những luống hoa ướt đẫm mát rượi tỏa hương thơm ngát. Trên phòng khiêu vũ vẳng xuống tiếng đàn bão tố của Johnnie. Tôi nghe thấy sau lưng mình tiếng Paul và Jimmy trò chuyện với Willi, và giọng cười trẻ trung của Paul bất chợt vang lên. Trong tôi đang tràn ngập một cảm giác lâng lâng say đầy ngọt ngào và nguy hiểm, khiến tôi chỉ muốn sải chân bước vào không trung, cưỡi lên cơn say để bay thẳng vào giữa muôn vì sao. Và cơn say này, ngay từ lúc đó tôi đã biết, là sự khinh suất vì vô hạn những khả năng có thể xảy ra, vì nguy hiểm, vì cái nhịp đập bí mật, xấu xa, đáng sợ của chiến tranh, vì cái chết mà tất cả chúng ta đều muốn có, cho nhau và cho bản thân mình.

[Một ngày, sau đó vài tháng.]

Kể từ ngày viết ra, hôm nay là lần đầu tiên tôi đọc từ đầu đến cuối những dòng này. Chúng tràn ngập nỗi hoài nhớ, mỗi từ đều trĩu nặng nỗi nhớ, mặc dù khi viết tôi cứ nghĩ tôi đang miêu tả một cách khách quan. Nhớ cái gì nhỉ? Tôi không hiểu nổi. Bởi vì tôi thà chết còn hơn phải trải qua bất cứ giây phút nào của thời đấy một lần nữa. Còn “Anna” của ngày ấy giống như một kẻ thù, hoặc như một người bạn cũ mà mình biết quá rõ nên không muốn gặp lại chút nào.

*

[Cuốn sổ thứ hai, cuốn bìa đỏ, được khởi đầu không chút vấp váp. Dòng “Đảng Cộng sản Anh” được viết ngay giữa trang đầu, gạch chân hai lần, và kế tiếp là dòng chữ, ngày 3 tháng Một năm 1950:]

Tuần trước, Molly đến giữa đêm để nói rằng đảng viên đang được phát cho một tờ khai về quá trình sinh hoạt đảng, trong đó có một phần yêu cầu ghi rõ những “hoài nghi và lúng túng” của bản thân. Molly bảo lúc đầu cô nghĩ chỉ viết vài dòng thôi, nhưng không ngờ đã viết “nguyên cả một luận án - lên tới hàng chục trang chết tiệt”. Có vẻ như cô rất khó chịu với chính mình. “Không hiểu tớ muốn cái gì nữa - tự thú chăng? Dù sao đi nữa thì lỡ viết rồi nên tớ cũng sẽ gửi đi thôi.” Tôi bảo cô điên. Tôi nói, “Giả sử như có lúc nào đấy Đảng Cộng sản Anh lên cầm quyền, tài liệu đấy sẽ được đưa vào hồ sơ, và nếu họ cần bằng chứng để treo cổ cậu lên là có ngay - họ sẽ có cả nghìn bằng chứng.” Cô khẽ cười với tôi bằng vẻ mặt gần như chua chát - nụ cười quen thuộc mỗi khi tôi nói với cô những điều như thế. Molly không phải là một đảng viên ngây thơ. Cô nói, “Cậu yếm thế quá.” Tôi đáp, “Cậu biết sự thật là thế mà. Hoặc có thể là như thế.” Cô hỏi, “Nếu cậu nghĩ như vậy, tại sao cậu vẫn nói đến việc vào Đảng?” Tôi trả lời, “Vậy tại sao cậu vẫn ở lại, mặc dù cậu cũng nghĩ như thế?” Cô lại mỉm cười, vẻ chua chát đã biến mất, mỉa mai thay, và gật đầu. Ngồi một lúc, suy nghĩ và hút thuốc. “Kỳ cục nhỉ, phải không Anna?” Đến sáng, cô nói, “Tớ nghe lời cậu, tớ sẽ xé bỏ nó đi.”

Cũng ngày hôm đó, tôi nhận được điện thoại của đồng chí John nói rằng anh đã biết tin tôi muốn vào Đảng, và “đồng chí Bill”, phụ trách văn hóa, đang muốn phỏng vấn tôi, “Tất nhiên là cậu không cần phải gặp đồng chí ấy nếu cậu không thích,” John vội vàng nói, “nhưng đồng chí ấy bảo rất muốn được gặp người trí thức đầu tiên đang mong vào hàng ngũ của Đảng kể từ khi bắt đầu Chiến tranh Lạnh.” Tôi thấy hứng thú với sự mỉa mai trong lời nói này, vì vậy tôi trả lời tôi sẽ gặp đồng chí Bill. Tôi đồng ý mặc dù thực tế chưa quyết định gia nhập. Lý do đầu tiên là tôi ghét phải tham gia bất cứ hội nhóm nào, một lý do mà bản thân tôi cũng thấy khinh thường. Lý do thứ hai, quan điểm của tôi về chủ nghĩa cộng sản khiến cho tôi sẽ không thể nói những gì mình tin là đúng với bất cứ đồng chí nào tôi biết, đây hẳn là một lý do mang tính quyết định? Có lẽ là không, vì mặc dù tôi đã tự nhủ trong suốt nhiều tháng trời rằng mình không thể nào gia nhập một tổ chức mà bản thân cho là không trung thực, tôi vẫn cứ hết lần này đến lần khác thấy mình ngả về quyết định gia nhập. Và lúc nào cũng ở cùng những thời điểm nhất định - chính xác ra là có hai thời điểm. Thời điểm thứ nhất là bất cứ lúc nào, vì một lý do nào đó, tôi gặp các nhà văn, những người làm xuất bản, v.v. nói chung là giới chữ nghĩa. Giới này thực sự kiểu cách, gái già, và mang nặng tinh thần giai cấp; hoặc người bên mảng kinh doanh của nhà xuất bản, quá đỗi trắng trợn, đến mức bất cứ cuộc tiếp xúc nào với họ cũng khiến tôi nghĩ đến việc vào Đảng. Thời điểm thứ hai là khi tôi gặp Molly, vừa ào đi để tổ chức một việc gì đó, đầy sức sống và nhiệt tình, hoặc là khi tôi bước lên cầu thang và nghe thấy giọng mọi người trong nhà bếp - tôi bước vào. Một bầu không khí thân thiện, nơi mọi người làm việc vì mục tiêu chung. Nhưng như vậy là không đủ. Ngày mai tôi sẽ gặp đồng chí Bill của họ và bảo với anh ta rằng về bản chất tôi là “một người có cảm tình với Đảng”, nhưng tôi sẽ ở ngoài Đảng.

Ngày hôm sau.

Phỏng vấn tại phố King, một khu đông đúc với những văn phòng nhỏ xíu có mặt tiền lắp kính khung thép. Từ trước đến giờ không thực sự để ý đến chỗ này, mặc dù tôi đã từng đi qua không ít lần. Lớp kính chắn gợi lên trong tôi hai cảm giác - một là sợ hãi, thế giới vũ lực. Cảm giác còn lại là sự bảo vệ - nhu cầu che chắn một tổ chức khỏi bị người ta ném đá. Tôi vừa bước lên những bậc thang hẹp vừa suy nghĩ về cảm giác thứ nhất: bao nhiêu người đã gia nhập Đảng Cộng sản Anh chính vì, ở Anh, rất khó mà nhớ được những hiện diện cụ thể của quyền lực, của vũ lực; đối với họ Đảng là điển hình cho một thực thể quyền lực trần trụi được ẩn giấu trong nước Anh? Hóa ra đồng chí Bill lại là một thanh niên Do Thái còn rất trẻ, đeo kính, trí thức, thuộc tầng lớp lao động. Thái độ của anh ta đối với tôi vừa nhanh nhẹn vừa thận trọng, giọng nói điềm tĩnh, nhanh nhẹn, thoảng chút coi thường. Với vẻ coi thường mà anh ta vô tình thể hiện đó, tôi thích thú nhận thấy trong tôi bắt đầu xuất hiện nhu cầu muốn xin lỗi, gần như là muốn nói lắp. Cuộc phỏng vấn diễn ra thuận lợi, người ta đã báo với anh ta rằng tôi sẵn sàng gia nhập, vì vậy mặc dù tôi đến đây với ý định từ chối nhưng cuối cùng tôi vẫn nhận thấy mình đang đồng tình. Tôi cảm thấy (có lẽ là vì thái độ coi thường của anh ta), vâng, rằng anh ta nói đúng, rằng công việc của họ đang có tiến triển, trong khi tôi cứ ngồi đây run rẩy với lương tâm của mình. (Mặc dù tất nhiên là tôi không nghĩ rằng anh ta nói đúng.) Trước khi tôi ra về, anh ta bất ngờ nhận xét, “Trong vòng năm năm tới, có lẽ chị cũng sẽ giống như số còn lại, viết cho các tờ báo tư bản những bài báo mô tả chúng tôi như quái vật.” Tất nhiên, “số còn lại” ở đây có nghĩa là giới trí thức. Trong nội bộ Đảng lưu truyền một huyền thoại là dân trí thức cứ hết ra rồi lại vào, trong khi thực tế là lượng thay đổi trong các giai cấp và nhóm đều như nhau. Tôi rất bực. Nhưng cũng đồng thời bị tổn thương, và chính điều này đã khiến tôi trở nên vô hại. Tôi nói với anh ta, “Rất may tôi lại là người cũ. Nếu là một tay mới toe, có lẽ tôi đã vỡ mộng với thái độ của anh rồi.” Anh ta nhìn tôi thật lâu, điềm tĩnh và sắc sảo, như muốn nói: Ừ, tất nhiên là nếu chị không phải người cũ thì tôi đã không nhận xét như vậy. Cái nhìn này khiến tôi vừa cảm thấy hài lòng - quay trở lại với hội, có thể nói như vậy, cũng có nghĩa là được phép thu nạp vào những lời mỉa mai, những trò đồng lõa tinh vi với những người trong cuộc, vừa bỗng cảm thấy kiệt sức. Đã ra khỏi bầu không khí đó quá lâu, dĩ nhiên là tôi đã quên mất bầu không khí căng thẳng, đầy tính phòng vệ, châm biếm của các nhóm chủ chốt. Nhưng trong tất cả những thời điểm tôi muốn gia nhập, tôi luôn ý thức một cách đầy đủ về bản chất của các nhóm chủ chốt. Tất cả những đảng viên mà tôi biết - những người ít nhiều có hiểu biết, đều có cùng quan điểm về “trung ương”, rằng Đảng đang phải đội một nhóm lãnh đạo quan liêu vô dụng ở trên đầu, và rằng công việc thực thụ vẫn được hoàn thành bất kể trung ương có thế nào. Chẳng hạn như lời nhận xét của đồng chí John khi lần đầu tiên tôi nói với anh là có lẽ tôi sẽ vào Đảng, “Cậu điên rồi. Họ vừa ghét vừa coi thường những nhà văn vào Đảng. Họ chỉ tôn trọng những ai không vào thôi.” Họ ở đây là Trung ương. Tất nhiên đây chỉ là lời nói đùa, nhưng khá điển hình. Đi tàu điện ngầm, đọc báo buổi chiều. Miệt thị Liên Xô. Đối với tôi, dường như những gì người ta nói về họ đều đúng cả, nhưng cách nói ấy - độc địa, hả hê, hoan hỉ - làm tôi phát ốm, và tôi cảm thấy vui mừng vì đã vào Đảng. Về nhà tìm Molly. Cô không ở nhà, vì thế tôi có vài tiếng đồng hồ để chán nản và tự hỏi tại sao mình lại vào Đảng. Khi Molly về, tôi kể cho cô nghe và nói, “Điều buồn cười là tớ đã định bảo với anh ta là sẽ không vào thế mà cuối cùng vẫn vào.” Cô cười khẽ với tôi, vẻ chua chát (kiểu cười này chỉ dành riêng cho chính trị, không bao giờ dành cho bất cứ chuyện gì khác, bản chất của cô không có gì chua chát cả), “tớ cũng đã vào dẫu chẳng muốn.” Chưa bao giờ cô hé lộ một chút gì về chuyện này, lúc nào cũng chỉ trung thành với Đảng, vì vậy chắc là mặt tôi trông ngạc nhiên lắm. Cô nói, “Thì bây giờ cậu vào rồi tớ mới bảo với cậu.” Có nghĩa là sự thật này không thể nói cho người ngoài nghe được. “Tớ đã qua lại với các đồng chí trong Đảng lâu đến mức…” Nhưng ngay cả lúc này cô cũng không thể nói thẳng ra được vế còn lại “… tớ biết quá rõ nên chẳng muốn vào nữa.” Cô mỉm cười, hay nói đúng hơn là nhăn nhó. “Lúc đó tớ bắt đầu hoạt động trong tổ chức Hòa bình, bởi vì tớ tin vào nó. Tất cả những người còn lại đều là đảng viên. Một hôm, con khốn nạn Ellen hỏi tớ tại sao lại chưa vào Đảng. Tớ cợt nhả mấy câu - sai lầm là đây, và thế là mụ ta nổi cáu. Vài ngày sau, mụ ta bảo tớ rằng đang có tin đồn tớ là gián điệp, vì tớ không phải là đảng viên. Tớ đồ rằng chính mụ ta khơi mào cái tin đồn này. Điều buồn cười là nếu tớ làm gián điệp thì tớ đã vào Đảng lâu rồi - nhưng tớ đã nổi cáu, và ngay lập tức đi điền vào đơn đăng ký…” Cô ngồi hút thuốc và trông thật buồn bã. Rồi lại nói, “Kỳ cục quá, phải không?” Rồi lên giường đi ngủ.

5 tháng Hai 1950

Mọi việc diễn ra đúng như tôi tiên đoán, những cuộc thảo luận về chính trị mà tôi nói lên suy nghĩ thật của bản thân lại chỉ diễn ra với những người trước đây từng gia nhập nhưng bây giờ đã ra khỏi Đảng. Họ bao dung ra mặt với tôi - một sai lầm nho nhỏ, cái việc tôi gia nhập Đảng.

19 tháng Tám 1951

Ăn trưa với John, lần đầu tiên kể từ khi tôi vào Đảng. Bắt đầu nói chuyện như tôi vẫn nói với các cựu đồng chí của mình, thẳng thắn thừa nhận những gì đang xảy ra ở Liên Xô. John tự động bảo vệ Liên Xô với thái độ rất đáng ghét. Nhưng rồi ăn tối với Joyce, cây bút của Nero Statesman, và cô ta bắt đầu đả kích Liên Xô. Ngay lập tức, tôi thấy mình đang diễn vở tự-động-bảo-vệ-Liên-Xô, một điều tôi không thể chịu nổi ở người khác. Cô ta cứ tiếp tục công kích, tôi cứ tiếp tục bảo vệ. Vì Joyce đang nói chuyện với một người cộng sản nên cô ta viện đến một số sáo ngữ nhất định. Tôi phản đòn. Hai lần cố gắng phá vỡ mạch chuyện đó, bắt đầu lại bằng một giọng điệu khác, thất bại - bầu không khí nhuốm màu thù địch. Tối hôm nay Michael ghé thăm. Tôi kể cho anh nghe về chuyện xảy ra với Joyce. Nhận xét rằng tuy cô ta là bạn cũ nhưng có lẽ chúng tôi sẽ không gặp lại nhau nữa. Mặc dù tôi đã chẳng thay đổi gì về thế giới quan của mình, đối với cô ta, việc tôi vào Đảng đã biến tôi thành hiện thân cho một cái gì đó mà cô ta phải thể hiện những quan điểm nhất định. Và tôi phản ứng lại theo cách tương tự. Michael nhận xét, “Nhưng em mong chờ điều gì chứ?” Anh nói trên tư cách một người Đông Âu lưu vong, một nhà cựu cách mạng, được kinh nghiệm chính trị thực thụ tôi luyện, còn tôi chỉ là một cô bé “ngây thơ về mặt chính trị”. Và tôi đã trả lời trong vai trò đó, phun ra vô số những lời nói ngớ ngẩn mang màu sắc tự do. Thật thú vị biết mấy - chúng ta đóng vai nào thì diễn trò đấy thôi.

15 tháng Chín 1951

Vụ việc của Jack Briggs. Phóng viên Thời báo. Nghỉ việc khi chiến tranh bùng nổ. Lúc đó còn chưa thuộc đảng phái nào cả. Trong chiến tranh, hoạt động cho tình báo Anh. Thời gian này chịu ảnh hưởng của những người cộng sản mà anh gặp được, chuyển mạnh sang cánh tả. Sau chiến tranh, từ chối một số công việc lương cao ở các tòa báo bảo thủ, chấp nhận làm việc với mức lương bèo bọt ở báo cánh tả. Hoặc thiên về cánh tả, vì khi anh muốn viết một bài về Trung Quốc, trụ cột của cánh tả là Rex đã đặt anh vào tình thế phải xin nghỉ việc. Không xu dính túi. Tại thời điểm này, bị coi là một đảng viên cộng sản trong cộng đồng báo chí, và cũng vì thế mà không ai thuê anh, tên anh xuất hiện trong Phiên tòa Hungary như một tên gián điệp âm mưu lật đổ chủ nghĩa cộng sản. Tình cờ gặp nhau, anh đang suy sụp kinh khủng - một chiến dịch hạ nhục anh đã bùng ra trong giới đảng viên và các phần tử thân Đảng, họ nói rằng anh đã và đang là “một tên gián điệp tư bản”. Bị bạn bè nghi ngờ. Trong một cuộc gặp mặt của một nhóm nhà văn. Chúng tôi thảo luận về vấn đề này, quyết định tiếp cận Bill để chấm dứt chiến dịch đáng ghê tởm này. John và tôi đi gặp Bill, nói rằng không thể có chuyện Jack Briggs làm gián điệp được, đề nghị đồng chí phải có hành động gì đó. Bill niềm nở, vui vẻ. Nói rằng anh ta sẽ “tìm hiểu” và cho chúng tôi biết. Chúng tôi chấp nhận từ “tìm hiểu”; biết rằng điều đó đồng nghĩa với việc thảo luận với cấp trên. Không thấy Bill nói gì nữa. Nhiều tuần trôi qua. Một phương pháp thông dụng của lãnh đạo đảng - cứ để cho mọi việc trôi đi trong những thời điểm khó khăn. Chúng tôi lại đến gặp Bill. Cực kỳ niềm nở. Nói rằng anh ta không thể làm gì được. Tại sao lại không? “Ừ thì trong trường hợp này có thể còn những nghi vấn…” John và tôi tức điên lên, gặng hỏi Bill xem cá nhân anh ta có mảy may nào nghĩ rằng Jack mà lại có khả năng làm gián điệp sao. Bill ngần ngừ, bắt đầu giải thích dài dòng và quanh co rằng ai cũng có thể là gián điệp được, “kể cả tôi”. Và cười một cách rạng rỡ, thân ái. John và tôi ra về, lòng chán nản, bực bội - với cả chính bản thân mình. Chúng tôi quyết định sẽ gặp riêng Jack Briggs, và kiên quyết yêu cầu mọi người cũng làm vậy, những lời đồn đại và những câu chuyện phiếm độc địa vẫn tiếp tục diễn ra. Jack Briggs cực kỳ chán nản và hoàn toàn bị cô lập,với cả cánh tả lẫn cánh hữu. Mỉa mai hơn, ba tháng sau vụ cãi nhau với Rex về bài báo khai thác đề tài Trung Quốc mà Rex gọi là “sặc mùi cộng sản,” các tờ báo uy tín bắt đầu trình làng những bài báo với đúng giọng điệu đó, và Rex, con người dũng cảm, nhận thấy bây giờ là thời điểm thích hợp để cho đăng bài về Trung Quốc. Anh ta mời Jack Briggs thực hiện bài báo. Trong tâm trạng đảo lộn và cay đắng, Jack từ chối.

Với những biến thể ở mức độ kịch tính khác nhau, đây là câu chuyện của người trí thức cộng sản hoặc cận cộng sản trong thời kỳ này.

3 tháng Một 1952

Tôi viết rất ít trong cuốn sổ này. Tại sao? Tôi nhận thấy rằng mọi thứ tôi viết đều nhằm phê phán Đảng. Nhưng tôi vẫn giữ thẻ Đảng. Molly cũng vậy.

Hôm qua, ba người bạn của Michael bị treo cổ ở Praha. Anh nói chuyện với tôi - hay đúng hơn là với chính mình - suốt cả buổi tối. Lúc đầu, anh giải thích tại sao mấy người đó không thể là người phản bội chủ nghĩa cộng sản được. Rồi bằng những phân biệt tinh tế về chính trị, anh giải thích tại sao lại không thể có chuyện Đảng hãm hại và treo cổ người vô tội; và có lẽ ba người bạn của anh đã vô tình sa vào các hoạt động phản cách mạng “một cách khách quan”. Anh cứ nói mê nói mải cho tới tận khi cuối cùng tôi phải nói với anh rằng chúng ta cần phải đi ngủ. Anh khóc suốt đêm trong mơ. Chốc chốc, tôi lại giật mình tỉnh giấc và thấy anh đang thút thít, nước mắt ướt đẫm gối. Sáng hôm sau, tôi kể lại cho anh nghe rằng anh đã khóc. Anh giận lắm - giận chính anh. Anh đi làm mà trông như một ông già, gương mặt nhăn nheo và xám xịt, sau khi gật đầu thẫn thờ với tôi - tâm trí anh đang ở một nơi nào xa lắm, khóa cứng trong cõi tự vấn khốn khổ của anh. Trong khi đó, tôi hỗ trợ lập bản kiến nghị xin giảm tội cho vợ chồng nhà Rosenberg(12). Không thể nào khiến mọi người ký vào được, ngoại trừ các trí thức ở trong Đảng và thân Đảng. (Không giống như ở Pháp. Bầu không khí ở đất nước này đã thay đổi quá nhiều trong vòng vài ba năm qua, căng thẳng, nghi ngờ, sợ hãi. Chỉ cần đổ thêm một chút dầu vào lửa thôi cũng đủ để tạo ra chủ nghĩa McCarthy(13) theo kiểu của chúng ta.) Người ta, thậm chí cả những người trong Đảng, chưa nói đến các trí thức “đáng kính”, hỏi tôi rằng tại sao tôi lại giúp vợ chồng nhà Rosenberg mà không đứng về phía những người bị mưu hại ở Praha? Tôi thấy không thể nào mà trả lời cho hợp lý được, trừ việc phải có ai đó giúp cho nhà Rosenberg. Tôi cảm thấy ghê tởm - với chính mình, với những người không ký tên vào bản kiến nghị giúp nhà Rosenberg, dường như tôi đang sống trong một bầu không khí ghê tởm đầy nghi ngờ. Tối nay, Molly đã khóc, khá bất ngờ - cô đang ngồi trên giường tôi, huyên thuyên về ngày hôm đó của mình, và bật khóc. Khóc lặng lẽ, bất lực. Điều này gợi cho tôi nhớ đến một cái gì đó, không rõ là cái gì, nhưng tất nhiên là tôi biết rõ, tôi nhớ đến lúc Maryrose bỗng nhiên nước mắt lã chã trên mặt khi đang ngồi trong căn phòng lớn ở Mashopi rồi nói, “Chỉ một vài tháng trước đây, chúng ta còn tin rằng thế giới sẽ thay đổi và mọi thứ sẽ trở nên tươi đẹp, nhưng bây giờ chúng ta biết rằng không phải như vậy.” Molly cũng khóc như vậy. Báo chí vương vãi trên sàn nhà với những bài báo về vụ Rosenberg, về việc xảy ra ở Đông Âu.

Nhà Rosenberg lên ghế điện. Bị buồn nôn trong đêm. Sáng nay khi tỉnh dậy, tôi tự hỏi: tại sao tôi lại cảm thấy như thế đối với nhà Rosenberg, trong khi chỉ cảm thấy bất lực và chán nản trước những người bị mưu hại trong khối các nước cộng sản? Câu trả lời thật mỉa mai. Tôi cảm thấy có trách nhiệm đối với những chuyện xảy ra ở phương Tây, nhưng không phải với những chuyện xảy ra ngoài đó. Nhưng tôi lại là một đảng viên. Tôi nói chuyện này với Molly, và cô trả lời, nhanh nhẹn và bận rộn (cô đang dở tay với một cuộc tổ chức khó khăn), “Được rồi, tớ biết, nhưng bây giờ tớ đang bận.”

Koestler. Điều ông viết cứ vướng vít trong tâm trí tôi - rằng bất cứ người cộng sản phương Tây nào ở lại Đảng sau một thời gian nhất định thì đều ở lại do vin vào một huyền thoại cá nhân của riêng họ. Hoặc đại loại như thế. Vậy là tôi tự hỏi chính mình, huyền thoại của riêng tôi là gì? Đó là mặc dù hầu hết những lời chỉ trích dành cho Liên Xô đều chính xác, nhưng chắc chắn phải có một nhóm người ở đó đang chờ đợi cơ hội để quay ngược tiến trình hiện tại trở lại với chủ nghĩa xã hội đích thực. Trước đây, tôi chưa bao giờ phát biểu được rõ ràng như thế. Tất nhiên là tôi không thể tâm sự chuyện này với một đảng viên nào, mặc dù tôi vẫn thường thảo luận với các cựu đảng viên về những đề tài như thế. Biết đâu là tất cả mọi đảng viên tôi biết đều có những huyền thoại tương tự không thể nói ra được với người khác, không cái nào giống cái nào? Tôi hỏi Molly. Cô cáu kỉnh, “Cậu đọc cái món Koestler tởm lợm đấy làm gì?” Lời nhận xét này khác xa so với cách nói chuyện bình thường của cô, dù là về chính trị hay không phải chính trị, đến nỗi tôi phát ngạc nhiên và tìm cách thảo luận với cô. Nhưng cô quá bận rộn. Vì đang làm công tác tổ chức (cô đang thực hiện một cuộc triển lãm nghệ thuật Đông Âu với quy mô lớn) nên cô chẳng còn tâm trí nào để mà quan tâm tới câu chuyện của tôi. Cô đang sắm một vai hoàn toàn khác. Hôm nay, tôi nhận ra rằng khi trò chuyện với Molly về chính trị, tôi không bao giờ biết được người nào sẽ trả lời mình - người phụ nữ chính trị tỉnh táo, lọc lõi, mỉa mai, hay là đảng viên cuồng tín thốt ra những lời khá điên rồ, theo đúng nghĩa đen của từ này. Và trong tôi cũng có hai nhân cách như vậy. Chẳng hạn, khi gặp tay chủ bút Rex trên đường. Tuần trước. Sau khi chào hỏi nhau, tôi nhìn thấy trên mặt anh ta xuất hiện một cái nhìn hằn học, dè bỉu, và tôi biết rằng sắp sửa phải nghe một chuyện đùa thô thiển về Đảng. Và biết nếu anh ta làm thế thật thì tôi sẽ bênh vực Đảng. Tôi không chịu nổi cái cảnh phải nghe anh ta nói những lời hằn học, hoặc tôi phải đóng vai ngây ngốc. Vì vậy tôi cáo từ đi tiếp. Vấn đề là, khi vào Đảng ta không hề nhận ra rằng chẳng mấy chốc ta sẽ không còn gặp ai khác có thể trò chuyện với ta mà không kèm theo cái tinh thần hằn học nghiệp dư kinh khủng ấy, ngoại trừ đảng viên hoặc cựu đảng viên. Ta bị cô lập. Tất nhiên đây sẽ là lý do tôi ra khỏi Đảng.

Tôi thấy rằng hôm qua tôi viết là tôi sẽ ra khỏi Đảng. Tôi tự hỏi là bao giờ, và vì cớ gì?

Ăn tối với John. Họa hoằn lắm chúng tôi mới gặp nhau - lúc nào cũng suýt nảy sinh bất đồng chính trị. Cuối bữa ăn, anh nói, “Nguyên nhân chúng ta không ra khỏi Đảng là vì không chịu đựng nổi cảnh phải nói lời từ biệt với lý tưởng về một thế giới tươi đẹp hơn.” Quá nhàm. Nhưng thú vị bởi vì nó ngụ ý là anh tin, và tôi cũng phải tin, rằng chỉ có Đảng Cộng sản mới có thể làm cho thế giới trở nên tươi đẹp hơn mà thôi. Chẳng đứa nào trong chúng tôi tin vào điều đó. Nhưng trên hết thảy mọi chuyện, lời nhận xét này làm tôi choáng váng bởi vì nó mâu thuẫn với tất cả những gì anh nói trước đó. (Tôi từng cãi rằng chuyện ở Praha rõ ràng là một vụ mưu hại nhưng anh bảo mặc dù có thể mắc “sai lầm” nhưng không có khả năng Đảng cố tình chà đạp lên đạo lý như thế.) Tôi về nhà với ý nghĩ rằng khi vào Đảng, sâu trong tâm khảm tôi đã hướng đến sự toàn vẹn, đến việc chấm dứt mọi chia rẽ, ngăn cách, bất mãn trong lối sống của chúng ta. Nhưng vào Đảng chỉ thêm chia rẽ - không phải vì chúng ta đứng trong hàng ngũ một tổ chức mà mỗi nguyên lý của nó, dù chỉ là trên giấy tờ, đều đi ngược lại mọi quan điểm của xã hội chúng ta đang sống; mà vì một điều gì đó sâu xa hơn thế rất nhiều, khó hiểu hơn thế rất nhiều. Tôi cố suy nghĩ về điều này, nhưng đầu óc tôi cứ trôi vào mông lung, tôi trở nên khó chịu và mệt mỏi. Michael đến với tôi, rất muộn. Tôi kể cho anh nghe những gì tôi đang cố gắng phân định. Dù thế nào đi nữa thì anh cũng là một thầy mo, là kẻ chữa trị linh hồn. Anh nhìn tôi với vẻ rất lạnh lùng và mỉa mai rồi nói, “Anna yêu quý ơi, linh hồn con người khi ngồi trong nhà bếp, hoặc trên giường cũng vậy, đã khá là phức tạp và chúng ta đã chẳng hiểu quái gì về nó cả. Vậy mà em lại ngồi mà lo lắng chỉ vì em không hiểu được linh hồn con người đang đứng giữa một cuộc cách mạng thế giới?” Vậy là tôi bỏ qua chuyện này, với cảm giác thoải mái, đồng thời tôi cũng thấy có lỗi vì mình đã quá vui sướng khi không phải nghĩ về nó nữa.

Tôi đi tham quan Berlin cùng Michael. Anh đi tìm những người bạn cũ đã tản mát trong chiến tranh, có thể ở bất cứ đâu. “Chết, anh nghĩ thế,” anh nói bằng một giọng rất mới, đều đều, quyết tâm tỏ ra vô cảm. Có từ phiên tòa Praha đến giờ, giọng nói này. Đông Berlin vùng đất đáng sợ, ảm đạm, xám xịt, đổ nát, nhưng trên hết là bầu không khí, một bầu không khí thiếu tự do như thứ chất độc vô hình không ngừng lan ra khắp nơi. Sự việc có ý nghĩa nhất là thế này: Michael tình cờ gặp vài người quen cũ từ trước chiến tranh. Họ đáp lại anh với thái độ thù địch khiến Michael, đang chạy về phía trước để gây chú ý với họ, khi nhìn thấy những gương mặt hằn học đã phải chùn bước lại. Nguyên nhân là vì họ biết anh từng qua lại với những người bị treo cổ ở Praha, hoặc ít ra là ba người trong số đó đã phản bội nên như thế có nghĩa là anh cũng phản bội. Anh cố gắng nói chuyện, rất hòa nhã và lịch thiệp. Họ như một bầy chó, một bầy thú, quay mặt ra ngoài, dựa sát vào nhau để giảm bớt nỗi sợ hãi. Tôi chưa bao giờ trải qua bất cứ điều gì như thế, cả sợ hãi và căm hận cùng hiện diện trên gương mặt họ. Một người trong số họ, người phụ nữ có đôi mắt ngùn ngụt lửa giận, nói, “Đồng chí làm gì mà lại mặc bộ đồ đắt tiền thế kia?” Quần áo của Michael luôn là đồ may sẵn, anh chẳng chi tiêu gì cho quần áo cả. Anh nói, “Nhưng Irene ạ, đây là bộ vest rẻ nhất mà tôi có thể mua được ở London.” Gương mặt cô ta đóng băng trong vẻ nghi ngờ, cô ta liếc nhìn bạn mình, tỏ vẻ đắc thắng. Cô ta nói, “Tại sao đồng chí lại đến đây gieo rắc thứ chất độc tư bản đó? Chúng tôi biết bên đồng chí đang túng thiếu ngay cả mặt hàng quần áo.” Ban đầu Michael sững sờ, nhưng rồi anh nói, vẫn bằng cái giọng mỉa mai, rằng ngay cả Lenin cũng hiểu là một xã hội cộng sản mới hình thành rất có thể phải đối mặt với nguy cơ thiếu hàng tiêu dùng. Trong khi đó nước Anh, “tôi nghĩ là đồng chí cũng biết, Irene ạ,” là một xã hội tư bản vững chắc, có cả đống hàng tiêu dùng. Cô ta tỏ vẻ nhăn nhó vì tức giận, hoặc vì căm hờn. Sau đó cô ta quay gót bước đi, và đám bạn cũng đi theo. Michael chỉ nói ngắn gọn, “Trước kia cô ta đã từng thông minh.” Sau đó có mấy lần anh nói đùa về việc này, nghe rất mệt mỏi và chán nản. Chẳng hạn anh nói, “Tưởng tượng xem Anna, tất cả những người cộng sản anh hùng đó đã ngã xuống để tạo ra một xã hội mà đồng chí Irene có thể nhổ vào mặt anh vì tội mặc đẹp hơn chút xíu so với chồng của đồng chí ấy.”

Ngày hôm nay, Stalin qua đời. Molly và tôi ngồi trong bếp, cáu kỉnh. Tôi liên tục nói, “Chúng ta đang mâu thuẫn, chúng ta nên vui vẻ mới đúng. Nhiều tháng nay chúng ta vẫn bảo rằng ông ta nên chết đi cơ mà.” Cô nói, “Ôi, tớ không biết, Anna ạ, có thể ông ta cũng chưa bao giờ biết hết những chuyện kinh khủng đang xảy ra.” Rồi cô bật cười và nói, “Thực ra chúng ta cáu kỉnh là vì chúng ta đang sợ đến đờ cả người ra. Dù sao thì ma cũ vẫn dễ chịu hơn.” “Ôi, làm gì có gì tệ hơn được nữa.” “Sao lại không? Tất cả chúng ta ai cũng tin rằng mọi việc rồi sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Sao lại phải như thế cơ chứ? Đôi khi tớ nghĩ rằng chúng ta đang đi vào một kỷ băng hà mới đầy những bạo ngược và kinh hoàng, tại sao lại không chứ? Ai sẽ chặn việc này lại - chúng ta ư?” Sau đó khi Michael về, tôi kể lại với anh những gì Molly đã nói - rằng có thể Stalin chẳng hay biết gì, bởi vì tôi nghĩ thật kỳ cục khi tất cả chúng tôi đều có chung ước mơ về một con người vĩ đại, và đã cố tạo dựng ra người đó, hết lần này đến lần khác, bất kể sự thực trước mắt có là thế nào. Trông Michael có vẻ mệt mỏi cay nghiệt. Trông thấy vẻ ngạc nhiên của tôi, anh nói, “Ừ, cũng có thể đúng, phải không nào? Vấn đề nằm ở chỗ đấy - cái gì cũng có thể đúng ở bất cứ đâu, không có cách nào để biết tường tận chân tướng của sự việc được. Bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra - mọi thứ điên rồ đến nỗi bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra.”

Khi nói những lời này, gương mặt anh trông thất thần và đỏ bừng. Giọng anh đều đều, như mấy ngày hôm nay vẫn vậy. Rất lâu sau đó anh nói, “Giờ thì chúng ta vui mừng khi ông ta chết. Nhưng hồi anh còn trẻ và còn nhiệt tình tham gia chính trị, anh thấy ông ta thật vĩ đại. Ông ta vĩ đại đối với tất cả chúng ta.” Rồi anh cố cười và nói, “Dù sao đi nữa thì cũng không có gì sai cả, trong bản thân việc này, việc muốn có những người vĩ đại trên thế giới.” Rồi anh đưa bàn tay lên làm động tác che mắt, một cử chỉ mới có ở nơi anh, như thể ánh sáng làm anh đau đớn. Anh nói, “Anh đau đầu quá, chúng ta đi ngủ nhé?” Lên giường nhưng chúng tôi không làm tình, chỉ nằm yên lặng bên nhau, không nói điều gì. Anh khóc trong mơ, tôi phải đánh thức anh dậy khỏi cơn ác mộng.

Bầu cử bổ sung. Bắc London. Đủ cả ứng cử viên các đảng - Bảo thủ, Công đảng, Cộng sản. Công đáng chiếm ưu thế, nhưng như thế là đã giảm so với cuộc bầu cử trước đó. Như thường lệ, những cuộc thảo luận dài lê thê trong Đảng Cộng sản về việc có nên chia phiếu bầu của Công đảng hay không. Tôi đã từng tham gia vài cuộc. Kiểu thảo luận này cuộc nào cũng giống như cuộc nào. Không, chúng ta không muốn chia phiếu; để cho Công đảng giữ quyền còn hơn là Bảo thủ. Nhưng mặt khác, nếu chúng ta tin tưởng vào chính sách của Đảng, chúng ta phải cố gắng đưa úng cử viên của mình vào. Nhưng chúng ta lại chẳng có chút hy vọng nào trong việc đưa được ứng viên của Đảng vào. Tình huống bế tắc này kéo dài đến khi có phái viên từ Trung ương xuống bảo rằng rất sai lầm khi coi Đảng Cộng sản là một dạng nhóm tiền phong bên lề, như thế chỉ là tư tưởng chủ bại, chúng ta phải đấu tranh trong cuộc bầu cử như thể có niềm tin chiến thắng. (Nhưng chúng tôi biết là sẽ không thắng nổi.) Như vậy là mặc dù khích lệ được mọi người làm việc chăm chỉ, bài diễn văn đấu tranh của cán bộ Trung ương vẫn không giải quyết được tình huống khó xử này. Trong cả ba lần tôi chứng kiến điều này xảy ra, những hoài nghi và lúng túng này đều được giải quyết bằng một câu nói đùa. Ồ đúng thế đấy, câu đùa ấy rất quan trọng trong chính trị. Câu nói này của chính cán bộ Trung ương nói ra: Không sao cả, các đồng chí ạ, chúng ta sẽ mất tiền cọc(14), chúng ta sẽ không giành được đủ số phiếu cần có từ bên Công đảng. Nhiều tiếng cười thoải mái vang lên, và cuộc họp giải tán. Hoàn toàn đi ngược lại với tất cả mọi điều trong chính sách, trên thực tế câu nói đùa này đã nói thay cảm giác của mọi người. Tôi đi vận động bầu cử, ba buổi chiều. Trụ sở chiến dịch đóng tại ngôi nhà của một đồng chí địa phương; chiến dịch được tổ chức nhờ bàn tay của chân chạy Bill, người sống trong khu vực bầu cử. Khoảng một chục bà nội trợ tham gia vận động vào các buổi chiều - đám đàn ông buổi tối mới đến. Mọi người đều biết nhau cả, và tôi thấy không khí ở đây thật tuyệt - mọi người chung tay vì một mục đích chung. Với tài tổ chức của mình, Bill xử lý mọi việc đến tận gốc. Nhâm nhi mấy ly trà và thảo luận xem mọi việc diễn ra thế nào trước khi đi vận động. Đây là khu vực dành cho dân lao động. “Người ta nhiệt liệt ủng hộ Đảng ở khu này,” một người phụ nữ nói, giọng tự hào. Được người ta đưa cho hai chục tấm bìa, trên có ghi tên những người đã được vận động, đánh dấu “do dự”. Việc của tôi là gặp lại họ và thuyết phục họ bầu cho Đảng Cộng sản. Khi tôi rời trụ sở chiến dịch, mọi người đang thảo luận về cách ăn mặc phù hợp khi đi vận động - hầu hết chị em ở đây đều mặc đẹp hơn hẳn phụ nữ trong vùng. “Tôi nghĩ không nên mặc khác với bình thường,” một chị nói, “như vậy là một dạng ăn gian.” “Đúng vậy, nhưng nếu chị đến nhà người ta mà ăn mặc diêm dúa quá, họ sẽ có tâm lý đề phòng.” Đồng chí Bill cười đôn hậu - vẻ đôn hậu đầy sức sống y hệt như Molly khi cô chú tâm vào những tiểu tiết của công việc - và nói, “Kết quả mới là quan trọng.” Hai chị phụ nữ mắng anh ta là thiếu trung thực. “Chúng ta phải trung thực trong mọi việc, bởi vì nếu không họ sẽ không tin chúng ta nữa.” Những cái tên được bàn giao cho tôi là những người sống rải rác trên một khu vực rộng lớn gồm toàn các con phố của dân lao động. Một khu vực rộng mênh mông với những ngôi nhà nhỏ bé, tồi tàn, giống nhau y hệt. Cách đó chừng gần một cây số là nhà ga chính, phả khói dày đặc ra xung quanh. Những đám mây đen thấp lè tè và dày ụ, và cột khói tỏa lên lẫn vào trong mây. Ngôi nhà đầu tiên có cánh cửa đã bị nứt và bạc màu. Chị C, người hom hem, mặc chiếc váy len đã bị dãn và đeo tạp dề. Chị ta có hai đứa con trai nhỏ, được chăm sóc và ăn mặc tử tế. Tôi giới thiệu mình là người của Đảng Cộng sản; chị ta gật đầu. Tôi nói, “Tôi nghe nói chị vẫn chưa quyết định được có nên bầu cho chúng tôi hay không?” Chị ta đáp, “Chị chẳng có gì phản đối các em cả.” Chị ta không hề thù địch, mà ngược lại, rất lịch sự. Chị ta nói, “Chị cán bộ lần trước đến đây để lại một quyển sách.” (Một cuốn thông tin.) Cuối cùng chị ta nói, “Nhưng bọn chị lúc nào cũng bầu cho Công đảng, em ạ.” Tôi đánh dấu Công đảng lên tấm bìa, gạch chữ Do dự, và đi tiếp. Nhà tiếp theo, người đảo Síp. Nhà này còn nghèo hơn, một người đàn ông trẻ tuổi trông có vẻ mệt mỏi, một cô gái da đen rất xinh, và một trẻ sơ sinh. Chẳng có đồ đạc gì. Mới đến nước Anh. Hóa ra điểm khiến họ “do dự” là không biết mình có được đi bầu hay không. Tôi giải thích rằng họ có quyền. Cả hai đều tốt bụng, nhưng muốn tôi ra về, đứa bé đang khóc, một không khí ngột ngạt và mệt mỏi. Người đàn ông nói anh ta không khó chịu gì với cộng sản cả, nhưng anh không thích người Nga. Tôi có cảm giác là họ sẽ không cất công đi bầu, nhưng tôi vẫn để nguyên dòng chữ “do dự” và đi đến nhà tiếp theo. Một ngôi nhà được chăm sóc cẩn thận, một đám thanh niên ngổ ngáo đứng ngoài. Những tiếng huýt sáo và lời trêu chọc thân thiện nổi lên khi tôi bước đến. Tôi gọi chị chủ nhà, lúc này đang ôm bụng bầu nằm nghỉ. Trước khi mở cửa cho tôi vào, chị ta đang cằn nhằn với thằng con trai vì nó đã hứa sẽ giúp chị ta đi mua hàng. Cậu ta bảo sẽ đi sau: một cậu bé chừng mười sáu tuổi, đẹp trai, rắn rỏi, ăn mặc bảnh bao - tất cả bọn trẻ trong khu này đều ăn mặc bảnh bao, ngay cả khi bố mẹ chúng không được như vậy. “Cô muốn gì?” chị ta hỏi tôi. “Tôi là người của Đảng Cộng sản,” và giải thích. Chị ta nói, “Vâng, chúng tôi đã tiếp người của các cô rồi.” Lịch sự, nhưng thờ ơ. Sau một hồi trò chuyện mà không thể thuyết phục chị ta đồng ý hay phản đối điều gì, chị ta bảo chồng mình luôn bầu cho Công đảng, còn chị ta thì làm theo lời chồng. Khi tôi ra về, chị ta quát con trai, nhưng nó đang lượn lờ cùng đám bạn, cười nhăn nhở. Chị ta hét lên với nó. Nhưng cảnh này chỉ tạo nên một cảm giác dễ chịu: chị ta không thực sự nghĩ rằng cậu con trai sẽ đi mua đồ giúp mình, chỉ quát lấy lệ, trong khi cậu bé biết mẹ sẽ quát nên chẳng để ý làm gì. Ở ngôi nhà tiếp theo, người phụ nữ chủ nhà ngay lập tức niềm nở mời tôi uống trà, nói rằng chị ta thích bầu cử, “mọi người cứ tạt qua để trò chuyện một chút.” Nói tóm lại, chị ta cô đơn. Chị ta nói không ngớt về những vấn đề cá nhân của mình bằng một giọng lê thê, mệt mỏi. (Trong số những ngôi nhà tôi ghé qua, đối với tôi dường như đây là ngôi nhà chứa đựng rắc rối thực sự, khổ sở thực sự.) Chị ta kể rằng chị ta có ba đứa con nhỏ, rằng đang rất chán và muốn được tiếp tục đi làm nhưng chồng không cho. Chị ta cứ nói, nói và nói như bị ma ám, và tôi ở đó gần ba tiếng đồng hồ, không tài nào về được. Cuối cùng tôi cũng hỏi được xem chị ta có bầu cho Đảng Cộng sản hay không thì chị ta trả lời, “Có chứ, nếu cưng thích,” tôi chắc là chị ta nói câu này với tất cả những người đi vận động. Chị ta nói thêm rằng chồng chị ta luôn bầu cho Công đảng. Tôi sửa chữ “do dự” thành Công đảng, và đi tiếp. Khoảng mười giờ đêm hôm đó tôi quay lại, mang theo đống bìa, ngoại trừ ba tấm còn lại đâu đều đã bị sửa thành Công đảng và trao chúng lại cho đồng chí Bill. Tôi nói, “Chúng ta có một số cán bộ vận động khá lạc quan.” Anh ta xem qua một lượt mấy tấm bìa, không nhận xét gì, đặt chúng trở lại hộp rồi nói to cốt để cả những người vận động bầu cử khác cũng nghe thấy, “Chính sách của chúng ta rất được ủng hộ, chúng ta vẫn có thể sẽ đưa được ứng viên của mình vào.” Tổng cộng, tôi đi vận động ba buổi chiều, hai buổi còn lại không phải là đảo qua những nhà “do dự” mà là đến những nhà chưa có ai đến. Tìm được hai người bỏ phiếu cho Đảng Cộng sản, cả hai đều là đảng viên, còn lại đều bầu cho Công đảng. Năm người phụ nữ cô đơn một mình âm thầm phát điên dù đã có chồng con, hay nói đúng hơn là vì đã có chồng con. Phẩm chất chung của họ: tự ti. Cảm thấy ăn năn vì họ không hạnh phúc. Cả năm người bọn họ đều nói câu, “Chắc là tôi có cái gì đó không ổn.” Trở lại trụ sở chiến dịch, tôi kể chuyện mấy người này với chị cán bộ phụ trách ca chiều. Chị nói, “Đúng thế, đi vận động ở đâu tôi cũng có cảm giác bất an này. Đất nước này đầy rẫy những người phụ nữ phát điên lên một mình.” Ngừng một lúc, chị nói thêm với vẻ hơi hung hăng, mặt đối lập của cái phần thiếu tự tin ở những người phụ nữ kia, “Thực ra, trước kia tôi cũng y hệt như thế cho đến khi vào Đảng và tìm thấy mục đích sống của đời mình. Bấy lâu tôi đang suy nghĩ về điều này - thực tế là những người phụ nữ này khiến tôi quan tâm hơn nhiều so với chiến dịch bầu cử. Ngày bầu cử: Công đảng chiến thắng, số ghế giảm. Ứng viên Cộng sản mất tiền cọc. Một câu đùa. (Chuyên gia nói đùa của trụ sở chiến dịch, đồng chí Bill.) “Nếu chúng ta có thêm hai nghìn phiếu thì bên Lao động lại chẳng mất ăn mất ngủ ấy chứ. Trong cái rủi lại có cái may.”

Jean Barker. Vợ của một cán bộ cấp thấp trong Đảng. Ba mươi tư tuổi. Nhỏ bé, da đen, mập mạp. Khá xấu. Bị chồng kẻ cả. Chị luôn mang vẻ ngoài hiền hậu, căng thẳng, dò hỏi. Đến thu đảng phí. Lắm mồm bẩm sinh, không bao giờ ngừng nói, nhưng là loại lắm mồm thú vị nhất, chị thuộc loại chưa nghĩ xong thì đã nói xong, đến nỗi suốt ngày đỏ mặt, tự nhận ra mình lỡ lời, giải thích ý mình định nói là gì, hoặc cười một cách lo lắng. Hoặc đang nói dở câu thì chị dừng lại, nhíu mày một cách lúng túng như thể muốn nói, “Chắc chắn là tôi không nghĩ như điều tôi vừa nói!” Vì vậy, chị nói mà trông cứ như đang lắng nghe người khác nói. Chị đang viết dở một cuốn tiểu thuyết, bảo rằng chị không có thời gian để viết nốt. Tôi chưa từng gặp một đảng viên nào ở bất cứ đâu mà không viết, viết dở, hoặc định viết tiểu thuyết, truyện ngắn, hay kịch. Tôi thấy điều này rất khác thường, mặc dù tôi không hiểu tại sao. Bởi vì chị không kiểm soát được lời nói của mình, toàn làm người khác sốc hoặc buồn cười, chị sẽ phát triển tính cách của một vai hề, hoặc một nhà văn hài hước có hạng. Chị không có chút khiếu hài hước nào. Nhưng hễ nghe thấy một lời nào đó bản thân nói ra khiến cho chị ngạc nhiên, thì nhờ kinh nghiệm chị biết rằng mọi người sẽ cười, hoặc sẽ khó chịu, vì vậy chị tự cười mình theo kiểu rất lúng túng và căng thẳng, rồi lại hối hả nói tiếp. Chị có ba đứa con. Chị và chồng rất kỳ vọng vào chúng, thúc chúng học hành để giành học bổng. Con cái chị được giáo dục cẩn thận theo “đường lối” của Đảng, về tình hình Nga, vân vân. Chúng có kiểu nhìn dò xét đề phòng khi gặp người lạ, biết rằng mình thuộc về thiểu số. Với đảng viên, chúng hay khoe khoang hiểu biết về Đảng, trong khi bố mẹ chúng quan sát bằng đôi mắt tự hào.

Jean làm quản lý cho một căng tin. Ca làm việc dài. Chăm sóc nhà cửa, con cái và bản thân rất tốt. Bí thư Đảng bộ địa phương. Chị không bao giờ hài lòng với bản thân. “Tôi làm chưa đủ, tôi muốn nói là Đảng là không đủ với tôi, tôi phát ngấy lên rồi, toàn công việc giấy tờ, giống như một cái văn phòng, chẳng có ý nghĩa gì cả.” Cười, vẻ lo lắng. “George…” (tên chồng chị) “nói rằng thái độ như vậy là không đúng, nhưng tôi không hiểu tại sao lúc nào tôi cũng phải cúi mình. Tôi muốn nói rằng, bọn họ cũng sai trái đầy ra, đúng không nào?” Cười. “Tôi quyết định sẽ làm một cái gì đó bõ công cho thay đổi.” Cười. “Tôi muốn nói là một cái gì đó khác biệt. Dù sao đi nữa, ngay cả các đồng chí lãnh đạo cũng đang nhắc đến chủ nghĩa bè phái đúng không… ôi tất nhiên các đồng chí lãnh đạo phải là người đầu tiên nói điều đó rồi…” Cười. “Mặc dù có vẻ như điều đó sẽ không xảy ra… dù sao thì tôi cũng quyết định thử làm một cái gì đó hữu ích.” Cười. “Tôi muốn nói là điều gì đó khác biệt. Vậy nên bây giờ tôi dạy cho bọn trẻ em gặp khó khăn vào chiều thứ Bảy hằng tuần. Cô biết đấy, trước kia tôi là giáo viên mà. Tôi huấn luyện cho các cháu. Không, không phải con cháu đảng viên, chỉ là trẻ em bình thường thôi.” Cười. “Mười lăm cháu. Công việc vất vả lắm. George bảo tốt hơn là tôi nên phụ trách công tác xây dựng cán bộ, nhưng tôi muốn làm việc gì đó thực sự có ích…” Và vân vân. Đảng Cộng sản chủ yếu gồm những người không mang tinh thần chính trị mà là những người có nhiệt tình cống hiến. Và cả những người lẻ loi nữa, khi đó Đảng trở thành gia đình của họ. Paul, tay nhà thơ, tuần trước vừa say rượu và nói rằng anh ta phát ốm và chán ngấy Đảng, nhưng anh ta đã vào Đảng từ năm 1935, thế nên nếu ra khỏi Đảng, anh ta sẽ ra khỏi “toàn bộ đời mình”.

*

[Cuốn sổ bìa vàng trông như bản thảo của một cuốn tiểu thuyết, vì nó được đặt tên là Hình bóng người thứ ba. Phần mở đầu chắc chắn giống một tiểu thuyết:]

Giọng Julia vang lên từ trên lầu, “Ella, cậu có đi dự tiệc không thế? Cậu có dùng buồng tắm không? Nếu không tớ dùng đấy.” Ella không trả lời. Một phần là vì cô đang ngồi trên giường con trai, chờ cậu bé ngủ. Một phần nữa là cô đã quyết định không đi dự tiệc, và không muốn tranh cãi với Julia. Ngay sau đó cô thận trọng rời giường, nhưng ngay lập tức mắt Michael mở ra và nói, “Tiệc gì thế mẹ? Mẹ có đi không?” “Không,” cô trả lời, “ngủ đi.” Cậu bé nhắm mắt lại, mí mắt nháy nhè nhẹ rồi nằm yên. Ngay cả khi đang buồn ngủ, cậu vẫn là một cậu bé bốn tuổi ghê gớm, rắn chắc, vuông vức. Trong ánh sáng mờ mờ, mái tóc hung hung, hai hàng mi, thậm chí lông tơ trên cánh tay trần của cậu đều ánh lên như vàng. Da cậu sạm nâu và hơi lấp lánh vì mùa hè. Ella lặng lẽ tắt đèn - chờ, bước tới cánh cửa - chờ; ra ngoài - chờ. Không động tĩnh. Julia nhanh nhẹn bước lên cầu thang, hỏi bằng giọng vui vẻ, thoải mái, “Này, cậu sẽ đi chứ?” “Suỵt, Michael vừa mới ngủ thôi.” Julia hạ thấp giọng và nói, “Đi tắm đi. Tớ muốn được yên ổn mà tắm trong khi cậu đi.” “Nhưng tớ đã bảo là tớ không đi,” Ella nói, hơi cáu.

“Tại sao không?” Julia vừa nói vừa bước vào căn phòng lớn của căn hộ. Nơi này có hai phòng và một bếp, tất cả đều khá hẹp, trần thấp, do nằm ngay dưới mái. Đây là nhà của Julia, nhưng Ella sống ở đây cùng cậu con trai Michael, trong ba phòng này. Phòng lớn có một cái giường kê thụt vào, một đống sách, mấy khung tranh. Căn phòng sáng sủa và nhẹ nhàng, khá bình dị, chính xác hơn là không có gì đặc biệt. Ella không muốn áp đặt thị hiếu của mình vào đây. Điều khiến cô không thể: đây là nhà của Julia, đồ đạc của Julia; sau này sẽ có một nơi nào đó mang thị hiếu riêng của cô. Đại khái là cô có cảm giác như thế. Nhưng cô thích sống ở đây và không có ý định chuyển đi. Ella đi theo Julia và nói, “Tớ không muốn đi.” “Cậu có bao giờ muốn đâu,” Julia trả lời. Cô đang ngồi xổm hút thuốc trên chiếc ghế bành to quá khổ so với căn phòng. Julia là người Do Thái, đầy đặn, chắc nịch, đầy sức sống, mạnh mẽ. Cô là diễn viên. Cô chưa bao giờ quá hãnh diện về nghề diễn. Cô đóng các vai nhỏ, không tồi. Như lời cô ca cẩm, những vai đấy gồm hai loại, “Hài kịch cũ rích về giai cấp lao động, và bi kịch cũ rích về giai cấp lao động.” Cô đang bắt đầu tham gia vào truyền hình. Cực kỳ bất mãn với bản thân.

Khi cô nói, “Cậu có bao giờ muốn đâu,” một phần là chê Ella, và một phần là chê chính mình. Cô luôn thích đi chơi, không bao giờ từ chối lời mời nào. Cô nói rằng, ngay cả khi coi thường vai mình đang diễn, ghét vở kịch, và ước sao không liên quan chút gì đến nó, cô vẫn lại thích cái việc mà cô gọi là “thể hiện cá tính”. Cô yêu những buổi tập, cửa hàng của nhà hát, những cuộc trò chuyện xã giao và nói xấu người khác.

Ella làm việc tại một tạp chí phụ nữ. Cô viết bài về váy áo và mỹ phẩm, về đề tài chinh-phục-và-giữ-chân-đàn-ông, đã ba năm nay, và ghét trò viết lách này. Cô không giỏi. Lẽ ra cô đã bị đuổi việc nếu không phải là bạn của bà chủ bút. Gần đây, cô bắt đầu làm một công việc mà bản thân thấy thích. Tờ tạp chí mở ra chuyên mục y học, do một tay bác sĩ viết. Nhưng mỗi tuần có đến vài trăm lá thư gửi về mà trong đó có đến một nửa chẳng liên quan gì đến thuốc thang mà toàn những vấn đề cá nhân, bắt buộc phải trả lời bằng thư riêng. Ella xử lý những bức thư này. Bên cạnh đó, cô cũng viết dăm truyện ngắn mà cô mô tả một cách trào phúng là “nhạy cảm và nữ tính”, và cả cô lẫn Julia đều bảo rằng đây là loại truyện ngắn họ ghét nhất. Và cô đang viết dở một cuốn tiểu thuyết. Nói tóm lại, xét bề ngoài thì Julia chẳng có lý do gì để ghen tị với Ella. Ấy thế mà cô vẫn ghen tị.

Bữa tiệc tối nay được tổ chức tại ngôi nhà của ông bác sĩ mà Ella làm việc cùng. Ngôi nhà nằm ở một nơi khá xa, Bắc London. Ella lười. Đối với cô, di chuyển là cả một nỗ lực lớn. Và nếu Julia không lên tầng, hẳn cô đã lên giường đọc sách.

Julia nói, “Cậu bảo là cậu muốn tái hôn, nhưng tái hôn thế quái nào được nếu như cậu chẳng bao giờ gặp ai cả?”

“Đấy là điều mà tớ chịu không nổi,” Ella đáp với vẻ hăng hái đột xuất. “Tớ lại phải gia nhập thị trường tình ái, vì vậy mà tớ phải đi dự tiệc tùng.”

“Thái độ như thế không hay ho gì đâu - mọi việc vẫn diễn ra theo cách đó, phải không nào?”

“Chắc vậy.”

Lòng thầm mong Julia sẽ đi, Ella ngồi lên mép giường (là chiếc đi văng được phủ một lớp vải dệt mềm màu xanh lá cây) và hút thuốc cùng bạn. Cô cứ nghĩ là cô đang che giấu cảm xúc của mình, nhưng thật ra cô đang khó chịu và bồn chồn. “Dù thế nào đi nữa,” Julia nói, “cậu cũng chẳng bao giờ gặp ai khác ngoài mấy gã rởm đời ở văn phòng cậu.” Cô nói thêm, “Bên cạnh đó, cậu cũng đã ly dị xong từ tuần trước.”

Ella bỗng nhiên bật cười, và sau một lát Julia cũng phá lên cười với cô, và ngay lập tức họ lại cảm thấy thân thiết với nhau.

Câu nói cuối cùng của Julia chạm đến một vấn đề quen thuộc. Cả hai người đều tự coi mình rất bình thường, nếu như không muốn nói là truyền thống. Điều đó có nghĩa là một người phụ nữ với những phản ứng cảm xúc thông thường. Việc cuộc đời họ chưa bao giờ đi theo con đường thông thường là bởi vì, như họ cảm nhận, và thậm chí có thể sẽ nói ra, họ chưa bao giờ gặp được người đàn ông có khả năng nhìn thấy con người thật của họ. Và vậy là, phụ nữ đối xử với họ có chút ghen ghét pha lẫn thù địch, còn đàn ông dành cho họ những cảm xúc - theo như lời họ ca cẩm - tầm thường đến phát chán. Bạn bè coi họ là những người hoàn toàn coi nhẹ chuẩn mực đạo đức thông thường. Julia là người duy nhất sẵn sàng tin Ella nếu cô nói rằng trong suốt quãng thời gian chờ đợi ly hôn, cô đã rất thận trọng giới hạn những phản ứng của bản thân với bất cứ người đàn ông nào (hay nói đúng hơn là chúng tự giới hạn chính mình) có ý với cô. Giờ đây Ella đã tự do. Chồng cô lấy vợ ngay sau hôm hoàn tất thủ tục ly hôn. Ella thờ ơ với chuyện này. Cuộc sống vợ chồng của cô rất buồn; dẫu chắc chắn là không tệ hơn so với nhiều người, nhưng có lẽ Ella sẽ cảm thấy tự phản bội chính mình nếu cứ chấp nhận ở trong một cuộc hôn nhân thỏa hiệp như vậy. Đối với người ngoài, câu chuyện là George chồng Ella đã bỏ cô theo người khác. Cô căm thù sự thương hại dành cho cô vì chuyện này, nhưng chẳng làm gì để cải chính cả, vì đủ kiểu lòng tự trọng phức tạp. Hơn nữa, mọi người nghĩ thế nào thì cũng có gì là quan trọng?

Cô vẫn còn lại đứa con, niềm tự trọng, tương lai. Cô không thể nào hình dung nổi tương lai này lại thiếu bóng đàn ông. Vì vậy, và tất nhiên là cô đồng ý rằng Julia đúng khi thực tế đến thế, cô cần phải đi dự các bữa tiệc và chấp nhận những lời mời. Có điều cô lại ngủ quá nhiều và đang cảm thấy chán nản.

“Và hơn nữa, nếu tớ đi, tớ sẽ phải cãi nhau với bác sĩ West, như vậy chẳng lợi lộc gì cả.” Ý Ella là cô tin rằng bác sĩ West đang giới hạn sự hữu ích của mình, không phải vì thiếu lương tâm mà thiếu trí tưởng tượng. Bất cứ câu hỏi nào không thể đưa ra lời khuyên liên quan đến bệnh viện, thuốc men, cách điều trị, ông ta đều chuyển sang cho Ella.

“Tớ biết, bọn họ thực sự kinh khủng.” Nói bọn họ là Julia muốn ám chỉ giới quan chức, công chức, những người làm việc trong các văn phòng, bất kỳ thuộc loại nào. Đối với Julia, bọn họ được định nghĩa là tầng lớp trung lưu - Julia là người cộng sản, mặc dù chưa bao giờ cô vào Đảng, và bên cạnh đó, bố mẹ cô thuộc giai cấp công nhân.

“Nhìn cái này xem,” Ella kích động nói, lôi từ trong túi ra ra một tờ giấy màu xanh gấp nhỏ. Đấy là một bức thư được viết trên giấy viết rẻ tiền, “Kính gửi bác sĩ Allsop. Trong cảnh tuyệt vọng, tôi cảm thấy mình phải viết thư này cho ông. Tôi bị thấp khớp ở cổ và đầu. Ông tư vấn cho những bệnh nhân khác rất tận tình trong chuyên mục của ông. Xin hãy tư vấn cho tôi. Tôi bắt đầu bị thấp khớp khi chồng tôi qua đời vào ngày 9 tháng Ba năm 1950, vào lúc 3 giờ chiều tại bệnh viện. Bây giờ tôi đang rất lo sợ, bởi vì tôi ở một mình trong căn hộ, và điều gì sẽ xảy ra nếu bệnh thấp khớp phát ra khắp nơi còn tôi thì không thể nhúc nhích để kêu cứu được. Rất mong ông lưu tâm, kính thư. (Bà) Dorothy Brown.”

“Ông ta trả lời thế nào?”

“Ông ta bảo việc của ông ta là đảm nhận một mục báo về y học, chứ không phải là chữa bệnh tưởng cho bệnh nhân ngoại trú.”

“Tớ có thể hiểu,” Julia nói. Cô đã từng gặp bác sĩ West một lần và xếp ông ta vào hàng ngũ kẻ thù ngay từ cái nhìn đầu tiên.

“Có hàng trăm hàng ngàn người trên khắp đất nước này đang chết dần chết mòn trong cảnh khốn khổ mà chẳng ai thèm quan tâm.”

“Không quan tâm chút nào luôn,” Julia nói. Cô dụi điếu thuốc và nói, rõ ràng là đã chịu thua trong cuộc chiến thuyết phục Ella đi dự tiệc, “Tớ đi tắm đây.” Rồi cô đi xuống gác, vui vẻ hát vang.

Ella vẫn ngồi nguyên một chỗ. Cô đang nghĩ: nếu mình đi, mình sẽ phải là váy áo để mặc. Suýt thì cô đã đứng dậy để ra chỗ tủ áo, nhưng rồi cô nhíu mày và nghĩ: Nếu mình nghĩ xem nên mặc cái gì, như vậy hóa ra là mình muốn đi thật à? Kỳ cục nhỉ. Có lẽ nào mình lại muốn đi thật? Dù sao đi nữa, mình vẫn luôn hành động như thế, miệng thì nói là không làm, nhưng rồi lại thay đổi ý định. Vấn đề là có thể mình đã quyết định rồi. Nhưng theo hướng nào? Mình không thay đổi ý định. Rồi bỗng nhiên lại thấy mình đang làm một việc mà trước đó mình đã nói là không làm. Đúng vậy. Và bây giờ mình chẳng biết mình đã quyết định như thế nào nữa.

Vài phút sau, cô đã chúi mũi vào cuốn tiểu thuyết đang viết dở của mình. Chủ đề cuốn sách là về một vụ tự tử. Cái chết của một người đàn ông trẻ tuổi không biết rằng mình sẽ tự tử cho đến mãi tận lúc chết, khi hắn hiểu rằng thực ra nhiều tháng nay hắn đã chuẩn bị cho nó đến từng chi tiết. Mấu chốt của cuốn tiểu thuyết nằm ở sự tương phản giữa bề nổi cuộc sống của hắn, vốn rất ngăn nắp và chỉn chu nhưng lại không có mục tiêu lâu dài, với mô típ ngầm chỉ hướng đến vụ tự tử, và kết thúc bằng chuyện tự tử. Tất cả các dự định của hắn cho tương lai đều mờ nhạt và bất khả thi, ngược hẳn với tính thực tiễn sắc bén trong cuộc sống hiện tại của hắn. Sự thất vọng hoặc điên rồ hoặc phi logic chảy ngầm bên dưới sẽ dẫn tới, hay nói đúng hơn được suy ngược lại từ những ảo tưởng bất khả về tương lai xa. Vì vậy, tính liên tục đích thực của cuốn tiểu thuyết này sẽ nằm ở cái tầng ngầm thất vọng mà ban đầu ít người để ý, sự phát triển của ý định tự tử chưa ai biết đến. Thời điểm cái chết xảy ra sẽ là thời điểm người đọc hiểu được diễn tiến liên tục đích thực của cuộc đời hắn - sợi dây kết nối không phải thuộc về trật tự, kỷ luật, thực tiễn, mà ở tính phi thực tế. Ở thời khắc cái chết xảy ra, người ta sẽ hiểu rằng mối dây liên hệ giữa nhu cầu tăm tối được chết và bản thân cái chết là những ảo tưởng hoang dại, điên rồ của một cuộc sống tươi đẹp, và rằng lương thức cũng như trật tự (không giống như những gì người ta tưởng ở phần đầu cuốn sách) đều không phải là triệu chứng của sự minh mẫn mà là những dấu hiệu của bệnh điên.

Ý tưởng về cuốn tiểu thuyết này đến với Ella lúc cô thấy mình đang sửa soạn váy áo để đi ăn tối với mọi người, sau khi đã tự nhủ rằng cô không muốn ra ngoài. Cô tự nhủ, khá ngạc nhiên với ý nghĩ đó: Chính xác là mình sẽ tự tử theo cách này. Mình sẽ thấy mình chuẩn bị nhảy ra khỏi một cánh cửa sổ mở toang hay xả gas trong một căn phòng nhỏ đóng kín, và mình sẽ nói với chính mình, không cảm xúc gì ráo ngoài cảm giác vừa đột nhiên hiểu ra một điều mà lẽ ra mình phải hiểu từ lâu: Lạy Chúa lòng lành! Hóa ra đây là điều mình định làm. Hóa ra chính là vậy, suốt từ trước đến nay. Và không biết có bao nhiêu người tự tử theo đúng cách này nhỉ? Người ta luôn hình dung đến nó như một tâm trạng tuyệt vọng, hoặc một khoảnh khắc khủng hoảng. Nhưng đối với nhiều người, mọi thứ cứ thế xảy ra thôi - họ thấy mình sắp xếp giấy tờ thật ngăn nắp, viết thư tuyệt mệnh, thậm chí gọi điện cho bạn bè bằng giọng rất vui vẻ, thân thiện, gần như là với cảm giác tò mò… chắc hẳn là họ phải thấy mình nhét báo xuống dưới khe cửa ra vào, dán lên khung cửa sổ, thật điềm tĩnh và hiệu quả, tự nói với chính mình bằng giọng khá thờ ơ. Chà, chà, thật thú vị làm sao. Quái lạ, sao trước đây mình không hiểu nổi điều này nhỉ?

Ella thấy cuốn tiểu thuyết này rất khó. Không phải là về mặt kỹ thuật. Ngược lại, cô có thể hình dung rất rõ về người đàn ông trẻ tuổi đó. Cô biết hắn sống thế nào, mọi thói quen của hắn ra sao. Cứ như thể câu chuyện đã được viết sẵn đâu đó bên trong cô, và cô chỉ đang chép lại mà thôi. Vấn đề là cô cảm thấy xấu hổ. Cô chưa hề nói gì với Julia về cuốn sách. Cô biết bạn mình sẽ nói những câu kiểu như, “Đề tài tiêu cực quá đi mất, nhỉ?” Hoặc, “Thế thì đâu có chỉ cho ai thấy con đường đi lên…” Hoặc những lời đánh giá khác từ kho vũ khí phê bình mà những người cộng sản hiện đang dùng. Ella vẫn thường cười Julia trước những lời như thế, nhưng sâu trong trái tim cô, dường như cô cũng đồng ý với Julia, bởi vì cô không thấy có ích lợi gì cho người ta khi đọc loại tiểu thuyết như thế. Nhưng cô vẫn viết. Và bên cạnh cảm giác ngạc nhiên và xấu hổ với đề tài cuốn sách, đôi khi cô còn cảm thấy sợ hãi. Thậm chí cô còn nghĩ: Hay là mình đã âm thầm quyết định tự tử mà mình không hề biết? (Nhưng cô không tin điều này là thật.) Và cô tiếp tục thực hiện cuốn tiểu thuyết với những lý do như, “Ừ, cần gì phải xuất bản đâu, mình viết cho mình cơ mà.” Và khi kể với bạn bè, cô thường nói đùa, “Nhưng những người tớ biết ai cũng viết tiểu thuyết cả.” Điều này ít nhiều có thật. Trên thực tế, thái độ của cô đối với cuốn sách này cũng giống như người mê đồ ngọt, hưởng thụ một mình, hoặc một trò tiêu khiển riêng tư nào khác, chẳng hạn như đóng kịch với một cái tôi vô hình thay thế, hoặc trò chuyện với hình ảnh của mình trong gương.

Ella đã lấy một cái váy ra khỏi tủ và trải lên cầu là, nhưng rồi cô nói: Vậy là rốt cuộc mình vẫn đi dự tiệc à? Không biết mình quyết định như vậy lúc nào nhỉ? Trong lúc là váy, cô vẫn tiếp tục suy nghĩ về cuốn tiểu thuyết của mình, hay nói đúng hơn là đưa thêm một chút vào ánh sáng những điều sẵn có đang chờ đợi trong bóng tối. Cô đã mặc chiếc váy vào và đang ngắm mình trong chiếc gương dài, sau đó quyết định mặc kệ cái gã đàn ông trẻ tuổi ấy muốn ra sao thì ra, còn cô tập trung vào công việc trước mắt. Cô không hài lòng với vẻ ngoài của mình. Chưa bao giờ cô cảm thấy quá thích chiếc váy này. Cô có rất nhiều quần áo trong tủ, nhưng chẳng đặc biệt thích cái nào cả. Đối với gương mặt và mái tóc của cô cũng vậy. Kiểu tóc của cô không thích hợp, chưa bao giờ thích hợp. Ấy vậy mà cô lại có tất cả mọi thứ để biến mình trở nên thực sự hấp dẫn. Cô nhỏ người, xương bé. Đường nét của cô đẹp, gương mặt nhỏ, cằm nhọn. Julia vẫn thường nói, “Nếu cậu bỏ công chăm chút, cậu sẽ giống như mấy cô gái Pháp hấp dẫn, bí ẩn kia, quyến rũ tuyệt vời, cậu là mẫu người như thế.” Nhưng Ella không bao giờ làm được như thế. Tối nay, cô chỉ mặc một chiếc váy len giản dị màu đen, trông thì có vẻ như sẽ trở nên “quyến rũ tuyệt vời”, nhưng thực tế thì không hề. Ít nhất là trên mình Ella. Và cô buộc tóc ra sau. Trông cô có vẻ xanh xao, gần như là khắc khổ.

Nhưng mình không quan tâm đến những người sắp gặp, cô vừa nghĩ vừa quay đi khỏi chiếc gương. Như vậy thì có vấn đề gì đâu. Mình sẽ cố gắng nhiều hơn cho bữa tiệc nào mình thực sự muốn đi.

Con trai cô đang ngủ. Từ bên ngoài cánh cửa phòng tắm, cô hét lên với Julia, “Rốt cuộc tớ vẫn đi nhé.” Julia đáp lại bằng một tiếng cười khúc khích đắc thắng, “Biết ngay là cậu sẽ đi mà.” Elly hơi bực mình với vẻ đắc thắng đó, nhưng trả lời, “Tớ sẽ về sớm.” Câu này Julia không đáp lại trực tiếp. Cô nói, “Tớ sẽ để ngỏ cửa phòng tớ cho Michael. Chúc một buổi tối tốt lành.”

Để đến nhà bác sĩ West, cô phải đi tàu điện ngầm mất nửa tiếng, đổi tàu một lần, sau đó đi thêm một quãng ngắn bằng xe buýt. Một lý do khiến Ella lúc nào cũng ngại lê mình ra khỏi nhà Julia là cô thấy sợ thành phố này. Cô bực bội khi phải di chuyển, dặm này qua dặm khác, qua vẻ xấu xí nặng nề là những vùng rìa hoang mạc vô danh của London, sau đó cơn bực bội rút đi, nhường chỗ cho nỗi sợ hãi. Lúc chờ xe tại bến xe buýt, cô thay đổi kế hoạch và quyết định đi bộ để tự trừng phạt mình vì thói hèn nhát. Cô sẽ đi bộ trên suốt quãng đường còn lại, và đối mặt với thứ cô ghét. Trước mặt cô, dãy phố với những ngôi nhà tồi tàn, nhỏ bé, xám xịt trải dài đến vô tận. Ánh sáng xám ngoét của chiều muộn mùa hè khiến bầu trời ẩm ướt như thấp thêm. Hàng dặm, hàng dặm liền, đâu đâu cũng là vẻ xấu xí này, sự bần tiện này. Đây chính là London - những con phố bất tận toàn những ngôi nhà như vậy. Thật khó mà chịu đựng nổi sức nặng vật lý đơn thuần của nhận thức này bởi vì - đâu là sức mạnh có khả năng di dời vẻ xấu xí ấy? Và trên mỗi con phố, cô nghĩ, là những người giống như cái bà đã viết lá thư mà cô đang mang theo trong túi xách. Những con phố này chịu sự thống trị của nỗi sợ hãi và ngu dốt, ngu dốt và bần tiện đã tạo nên chúng. Cô đang sống trong thành phố này, cô là một phần của nó và chịu trách nhiệm về nó… Ella bước nhanh, một mình trên phố, nghe thấy tiếng đế giày của chính mình vang lên sau lưng. Cô quan sát những bức rèm trên các khung cửa sổ. Ở đầu này con phố là nơi cư ngụ của những người lao động, nhìn những tấm rèm ren và vải hoa là nhận ra ngay. Đây là tác giả của những bức thư kinh khủng không cách gì trả lời được mà cô có trách nhiệm phải xử lý. Nhưng đến một chỗ thì mọi thứ đột nhiên thay đổi, bởi vì những tấm rèm cửa sổ đã thay đổi - trước mặt cô là một tấm rèm màu xanh lông công. Đây là nhà của một họa sĩ. Ông đã chuyển đến căn nhà rẻ tiền này và trang trí cho nó đẹp lên. Rồi những người có nghề nghiệp đàng hoàng khác cũng dọn đến theo ông. Nhóm này khác hẳn với những cư dân khác trong vùng. Họ không thể nào giao tiếp với mọi người ở đầu kia của con phố, và những người đó cũng không thể, hoặc không muốn, đặt chân vào nhà họ chút nào. Đây là nhà của bác sĩ West - ông ta quen người đầu tiên đến đây, ông họa sĩ, nên mua luôn ngôi nhà gần như là đối diện. Ông ta từng nói, “Vừa đúng lúc, giá đang bắt đầu tăng.” Vườn nhà bác sĩ rất bừa bộn. Ba đứa con và bà vợ phải trợ giúp ông bác sĩ ở phòng khám. Không còn chút thời gian nào cho vườn tược nữa. (Những khu vườn ở đầu kia của con phố được chăm sóc khá chu đáo.) Ella nghĩ, ở một nơi như thế này thì làm gì có lá thư nào gửi đến xin tư vấn của tạp chí phụ nữ. Cánh cửa mở vào trong và gương mặt hoạt bát, hiền hậu của bà West xuất hiện. Bà nói, “Cuối cùng rồi em cũng tới,” và đón lấy chiếc áo khoác của Ella. Tiền sảnh rất đẹp, sạch sẽ và thiết thực - thế giới của bà West. Bà nói, “Nghe chồng chị bảo rằng hai người lại đang xích mích với nhau vì cái đám điên khùng của ông ấy. Em thật tốt khi bỏ bao nhiêu công sức cho mấy người này.” “Việc của em mà,” Ella nói. “Em nhận lương là để làm việc đó.” Bà West mỉm cười với vẻ khoan dung hiền hậu. Bà ghét Ella. Không phải vì cô làm việc với chồng bà - không, cảm xúc này quá thô kệch đối với bà West. Ella không lý giải được sự ghét bỏ này cho đến khi nghe thấy bà nói: Mấy cô nàng mê sự nghiệp như các cô. Câu này quá lạc điệu, giống như cái đám điên khùng và mấy người này, khiến Ella không thể trả lời bà. Và giờ đây bà West lại ra cái điều cho cô biết rằng chồng bà vẫn thảo luận với bà về công việc, ngấm ngầm thể hiện quyền làm vợ của mình. Trước đây, Ella từng tự nhủ: Dù sao thì bà cũng là người tốt. Bây giờ bực bội, cô lại nói: Bà ta đâu phải là người tốt. Những người này là một đám chết tiệt toàn những kẻ chỉ có mấy cụm từ tiệt trùng, cái đám điên khùngcô nàng mê sự nghiệp. Mình không thích bà ta và mình sẽ không việc gì phải tỏ ra thích bà ta cả… Cô đi theo bà West vào phòng khách và nhìn thấy những gương mặt quen biết. Chẳng hạn như bà sếp của cô ở tạp chí. Bà cũng trạc trung tuần, nhưng rất diện, ăn mặc đẹp, mái tóc bạc sáng màu uốn xoăn. Bà là một người phụ nữ đi làm, ngoại hình góp phần vào nghề nghiệp của bà, không giống như bà West vốn ưa nhìn nhưng lại không hề ăn diện. Tên bà là Patricia Brent, và cái tên này cũng góp phần vào nghề nghiệp của bà - Bà Patricia Brent, nữ chủ bút. Ella đến ngồi bên Patricia, và bà nói, “Bác sĩ West bảo rằng cô đang xích mích với ông ấy về những bức thư.” Ella nhìn nhanh xung quanh và thấy mọi người đang mỉm cười chờ đợi. Việc này đã trở thành món đem đãi tiệc, và mọi người muốn cô nói một vài câu, sau đó có thể bỏ qua. Nhưng không được để xảy ra thảo luận nghiêm túc hay bất hòa. Ella vừa mỉm cười vừa nói, “Có phải xích mích gì đâu.” Cô cố tình nói thêm bằng giọng hài hước pha buồn bã, đúng chất giọng mọi người đang chờ được nghe, “Nhưng dù thế nào thì cũng thật buồn, mình chẳng làm được gì cho mấy người này.” Cô nhận thấy mình đã dùng cụm từ đó, mấy người này, nên cảm thấy bực bội và chán nản. Cô nghĩ, đáng lẽ mình đừng đến. Mấy người này (lần này có nghĩa là vợ chồng nhà West và những gì họ đại diện) chỉ chịu đựng mình khi mình giống họ mà thôi.

“À, nhưng vấn đề nằm ở chỗ đấy,” bác sĩ West nói. Ông ta nói một cách ngắn gọn. Ông ta là người ngắn gọn, có tay nghề. Ông ta nói thêm, trêu Ella, “Tất nhiên là trừ phi cả hệ thống này thay đổi. Ella của chúng ta là một nhà cách mạng mà lại không biết là mình như thế.” Ella đáp, “Tôi đã hình dung là tất cả chúng ta đều muốn hệ thống này thay đổi.” Những câu này hoàn toàn không thích hợp. Bác sĩ West vô tình cau mày, sau đó mỉm cười. “Nhưng tất nhiên là thế rồi,” ông ta nói. “Và thay đổi càng sớm càng tốt.” Hai vợ chồng nhà West bầu cho Công đảng. Việc bác sĩ West ủng hộ Công đáng là một chuyện mang lại niềm tự hào cho Patricia Brent, vì bà theo Đảng Bảo thủ. Lòng khoan dung của bà đã được chứng minh. Ella không dính líu gì đến chính trị, nhưng cô cũng quan trọng với Patricia vì một lý do rất mỉa mai là cô không giấu giếm sự khinh thường đối với tờ tạp chí của bà. Cô làm chung văn phòng với Patricia. Không khí ở văn phòng này, và tất cả những văn phòng khác có liên quan đến tờ tạp chí, đều giống nhau: chúng mang không khí của chính tờ tạp chí này - hơi dân dã, bẽn lẽn và hợm hĩnh. Và tất cả phụ nữ làm việc ở đây đều dần dà có cái hơi hướm này, bất kể họ có muốn thế hay không, ngay cả bản thân Patricia là người không hề giống thế chút nào. Patricia vốn là một người tốt bụng, nhân hậu, thẳng thắn, có lòng tự trọng với tinh thần chiến đấu cao. Nhưng trong văn phòng, bà sẽ nói những điều không giống với tính cách của mình, còn Ella thì vì lo sợ cho chính mình nên chỉ trích bà vì điều đó. Rồi cô tiếp tục nói rằng dẫu cả hai đều cùng phải làm việc để tự nuôi sống bản thân, nhưng cũng không cần thiết phải tự lừa dối mình về công việc đang làm. Cô nghĩ rằng, thậm chí gần như là ao ước, Patricia sẽ đuổi việc cô. Ngược lại, Patricia lại mời cô đi ăn một bữa trưa đắt tiền để bà có cơ hội bảo vệ cho mình. Hóa ra, đối với bà công việc này là một thất bại. Bà từng làm biên tập viên mảng thời trang cho một tờ tạp chí phụ nữ lớn sang trọng, nhưng rõ ràng là không được đánh giá cao về chuyên môn. Đó là tờ tạp chí chuyên về các vấn đề văn hóa thời thượng, vì vậy cần phải có một biên tập viên hiểu được điều gì là thời thượng trong nghệ thuật. Patricia không có chút nhạy cảm nào đối với xu thế chung, tuy theo Ella thì đây lại là điều hay cho bà, có điều người chủ báo lại chuyển Patricia sang tờ Women at Home, tạp chí dành cho những người phụ nữ thuộc tầng lớp lao động và thậm chí không cần phải giả bộ có giọng điệu thức thời. Giờ thì Patricia đã quá thích hợp với công việc, và điều này khiến bà thầm cảm thấy chán nản. Bà đã từng thích thú một cái tiếc nuối bầu không khí của tờ tạp chí cũ, nơi có những nhà văn và nghệ sĩ thời thượng cộng tác. Bà là con một gia đình tỉnh lẻ, giàu có nhưng ít học; tuổi thơ của bà trôi qua trong cảnh được kẻ hầu người hạ chăm bẵm đến nơi đến chốn, và chính quá trình tiếp xúc ban đầu này với “tầng lớp dưới”, như cách bà vẫn dùng để gọi họ, trong văn phòng với vẻ bẽn lẽn, ngoài văn phòng với vẻ chân thành - đã giúp bà hiểu một cách chính xác, trực tiếp rằng cần phải phục vụ bạn đọc những gì.

Chẳng những không sa thải Ella, bà còn dành cho cô sự tôn trọng nuối tiếc mà bà từng dành cho tờ tạp chí thời thượng mà bà đã phải dứt áo ra đi. Bà thỉnh thoảng lại buông lời rằng đang làm việc cho bà là một “trí thức” - một người từng có truyện đăng trên các “tờ báo trí thức”.

Và bà có một cách nhìn nhận nồng hậu hơn, nhân bản hơn bác sĩ West về những bức thư gửi đến văn phòng.

Bây giờ thì bà bảo vệ Ella bằng câu nói, “Tôi đồng ý với Ella. Mỗi khi nhìn vào cái đống đau khổ hằng tuần của cô ấy, tôi không biết cô ấy xử lý chống thế nào. Chuyện này làm tôi buồn đến mức không nuốt nổi cơm nữa. Và tin tôi đi, khi tôi ăn không nổi là lớn chuyện rồi.”

Mọi người đều cười, và Ella mỉm cười biết ơn với Patricia, lúc này đang gật đầu như thể muốn nói, “Ổn cả thôi, chúng tôi đâu có chỉ trích cô.”

Bây giờ mọi người bắt đầu trò chuyện trở lại và Ella đã có thể rảnh rang nhìn ngó xung quanh. Phòng khách rất rộng. Một bức tường đã bị đập đi. Trong những ngôi nhà còn lại ở trên phố, tất cả đều nhỏ và giống y sì nhau, hai phòng nhỏ ở tầng trệt được dùng làm nhà bếp - lúc nào cũng có người và được dùng để ở - và phòng khách để cho khách. Tại đây, căn phòng này chiếm toàn bộ tầng trệt ngôi nhà, có một cầu thang dẫn lên các phòng ngủ. Phòng rất sáng, có rất nhiều màu sắc - những mảng màu đối chọi nhau, xanh thẫm, hồng sáng và vàng. Bà West không có khiếu thẩm mỹ nên căn phòng không nổi. Ella nghĩ, trong vòng năm năm tới, những ngôi nhà ở dầu kia của con phố sẽ được sơn tường sáng màu, có rèm và đệm ăn rơ với nhau. Chúng ta đang tìm cách áp đặt cái gu thẩm mỹ đương thời này lên các ngôi nhà đó - chẳng hạn như đăng lên tờ Women at Home. Và căn phòng này sẽ trở thành… cái gì nhỉ? Bất cứ cái gì trở nên thời thượng tiếp theo, chắc thế… giờ thì mình phải trở nên hòa đồng hơn, dù sao đi nữa thì đây cũng là bữa tiệc mà.

Nhìn quanh một vòng nữa, cô lại thấy đây không phải là bữa tiệc mà chỉ là buổi tụ họp của những người có mặt ở đây bởi vì vợ chồng West nói, “Đã đến lúc chúng ta phải mời mọi người đến chơi,” và họ đến đây vì nghĩ, “Tôi nghĩ chúng ta phải đến nhà West.”

Ước gì mình đừng đến đây, Ella nghĩ, và đường về nhà mới xa xôi làm sao. Lúc này, một người đàn ông rời chiếc ghế ở bên kia góc phòng và đến ngồi bên cạnh cô. Ấn tượng ban đầu của cô là một gương mặt đàn ông còn trẻ, xương xương, một nụ cười sắc sảo, đầy soi xét đến mức căng thẳng, nhưng chứa những khoảnh khắc ngọt ngào lúc anh tự giới thiệu bản thân (anh tên là Paul Tanner, làm nghề bác sĩ), dẫu không phải anh muốn như vậy, hoặc có khi anh không hề hay biết đến điều đó. Cô thấy mình đang cười, như để đáp lại những khoảnh khắc ấm áp này, vì vậy cô nhìn anh kỹ hơn. Tất nhiên, cô đã nhầm, anh không trẻ như cô tưởng. Đầu anh hơi hói, mái tóc đen hơi cứng, và làn da rất trắng, hơi tàn nhang của anh đã có những nếp hằn sâu quanh mắt. Đôi mắt xanh nước biển, sâu thẳm, khá đẹp; vừa hiếu chiến vừa nghiêm nghị, ánh lên vẻ không chắc chắn. Một gương mặt nặng trĩu căng thẳng, cô khẳng định và nhận thấy cơ thể anh căng lên theo lời anh nói - anh nói hay, nhưng khá thận trọng. Sự e dè của anh khiến cô tự dưng muốn tránh khỏi anh, trong khi mới ngay trước đó cô còn đáp lại sự ấm áp không tự giác trong nụ cười của anh.

Đây là những phản ứng đầu tiên của cô đối với người đàn ông mà sau này cô yêu say đắm. Sau này anh ca cẩm, nửa cay đắng nửa hài hước, “Ban đầu em có yêu anh chút nào đâu. Lẽ ra em phải yêu anh từ ánh mắt đầu tiên mới đúng. Ước gì đời anh có một người phụ nữ đưa mắt nhìn anh một cái là đem lòng yêu luôn, nhưng chẳng bao giờ được như vậy cả.” Sau này, anh nói thêm về đề tài này, cố tình hài hước vì biết mình đang dùng thứ ngôn ngữ ủy mị, “Gương mặt là linh hồn. Làm sao mà đàn ông có thể tin được người phụ nữ chỉ đem lòng yêu anh ta sau khi làm tình? Em chẳng yêu anh chút nào.” Và anh tiếp tục giữ điệu cười cay đắng, hài hước khi Ella thốt lên, “Sao anh lại có thể tách rời việc làm tình với những chuyện khác nhỉ? Thật vô lý.”

Cô không còn để ý đến anh nữa. Cô nhận thấy mình bắt đầu bồn chồn, và cô biết rằng anh cũng biết điều này. Và biết điều đó làm anh không thoải mái: anh đã bị cô hấp dẫn. Gương mặt anh quá mải mê với việc giữ chân cô; cô cảm thấy đằng sau đó là niềm kiêu hãnh, một niềm kiêu hãnh về giới tính sẽ bị tổn thương nếu cô không đáp lại, và điều này khiến cô bỗng nhiên muốn tháo chạy. Mớ cảm xúc hỗn độn này, tất cả đều quá đột ngột và dữ dội đến khó chịu, khiến Ella nghĩ đến George chồng mình. Cô lấy George gần như là vì đã quá mệt mỏi sau khi anh tán cô mãnh liệt trong suốt một năm trời. Cô đã biết là cô không nên lấy anh ta. Vậy mà cô vẫn lấy; cô không có đủ dũng khí để chia tay. Không lâu sau đám cưới, cô thấy kinh tởm khi làm tình với anh ta, một cảm giác mà cô không thể nào kiểm soát hay che giấu nổi. Điều này làm anh ta khao khát cô gấp đôi, nhưng như vậy chỉ khiến cô thêm ghét anh ta - thậm chí có vẻ như anh ta còn sướng khoái hay thỏa mãn khi bị cô cự tuyệt. Rõ ràng là họ đang ở trong một dạng ngõ cụt tâm lý vô vọng. Sau đó, để chọc tức cô, anh ta ngủ với một người phụ nữ khác và kể cho cô nghe. Mãi rồi cô cũng có đủ dũng khí để dứt khoát chia tay với anh ta: trong cơn tuyệt vọng, cô dựa vào lý do, không được trung thực cho lắm, là anh ta phản bội cô. Đây không phải là nguyên tắc đạo đức của cô, và việc cô sử dụng những lý lẽ truyền thống, lặp đi lặp lại bởi vì cô hèn nhát, nói rằng anh ta phản bội cô, khiến cô thấy khinh bỉ chính mình. Mấy tuần cuối cùng sống chung với George là một cơn ác mộng chỉ toàn là tự khinh bỉ và cuồng loạn, kéo dài đến khi cô ra khỏi nhà anh ta, chấm dứt cơn ác mộng, tạo khoảng cách giữa cô với người đàn ông đã làm cô bức bối, đã cầm tù cô, và hiển nhiên là đã tước đoạt ý chí của cô. Sau đó anh ta cưới người phụ nữ mà anh ta đã lợi dụng hòng đưa Ella về với anh ta. Ella nhẹ cả người.

Mỗi khi chán nản, cô có thói quen không ngừng lo lắng về cách hành xử của mình trong cuộc hôn nhân này. Cô đã đưa ra nhiều bình luận tâm lý phức tạp về nó; cô phỉ báng cả bản thân lẫn anh ta; cảm thấy mệt mỏi và bị vấy bẩn với toàn bộ chuyện này, và tệ hơn, thầm lo sợ rằng một lỗi lầm nào đó trong chính cô sẽ khiến cô phải chịu cảnh đọa đày tương tự với một người đàn ông khác mà cô không có cách gì tránh được.

Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn ở bên Paul Tanner, cô đã lại nói hết sức đơn giản, “Tất nhiên, tôi chưa bao giờ yêu George.” Cứ như thể chẳng có gì hơn để nói về chuyện này. Và đối với cô, chẳng có gì hơn để nói nữa cả. Và cô cũng chẳng lo lắng chút nào về việc tất cả những thái độ tâm lý phức tạp đã trải qua dường như chẳng ăn nhập gì với độ đơn giản trong câu: “Tất nhiên tôi chưa bao giờ yêu anh ta,” cùng với hệ quả của nó: “Tôi yêu Paul.”

Trong khi đó, cô vẫn bồn chồn tìm cách để thoát khỏi anh và cảm thấy mình đang bị mắc bẫy - không phải vì anh, mà vì khả năng quá khứ của cô sẽ trỗi dậy trong anh.

Anh nói, “Ca khiến cô tranh cãi với West là sao vậy?” Anh đang tìm cách giữ chân cô. Cô nói, “Ồ, anh cũng là bác sĩ, tất nhiên cái gì mà chẳng gọi là ca.” Giọng cô trở nên the thé và hiếu chiến, nhưng rồi cô tự buộc mình phải mỉm cười và nói, “Xin lỗi anh. Nhưng tôi cho rằng công việc này khiến tôi lo nghĩ nhiều hơn mức cần thiết.” “Tôi hiểu,” anh nói. Bác sĩ West không bao giờ nói, “Tôi hiểu,” và ngay lập tức Ella có thiện cảm với anh. Thái độ lạnh nhạt mà cô vốn không nhận thấy ở mình, và cũng không bao giờ biến mất trừ phi cô gặp những người mà cô biết rõ, lập tức tan biến. Cô tìm lá thư trong túi xách và thấy anh mỉm cười khó hiểu trước đống lộn xộn hiện ra bên trong. Anh cầm lấy bức thư, mỉm cười. Anh cứ ngồi cầm bức thư trên tay, chưa mở ra, nhìn cô với vẻ tán thưởng, như đang chào đón cô, con người thật của cô, giờ đã cởi mở với anh. Sau đó anh đọc bức thư và lại ngồi cầm nó trên tay, lần này đã được mở ra. “Tay West tội nghiệp có thể làm được gì cơ chứ? cô muốn anh ta kê thuốc mỡ à?” “Không, không, tất nhiên là không.” “Có lẽ bà ta đã làm phiền bác sĩ riêng của mình mỗi tuần ba lần kể từ” - anh xem bức thư - “ngày mùng 9 tháng Ba năm 1950. Người đàn ông tội nghiệp đó đã kê bất cứ loại thuốc mỡ nào mà anh ta có thể nghĩ tới.” “Vâng, tôi biết,” cô nói. “Tôi phải trả lời bức thư này vào sáng mai. Và còn khoảng một trăm bức nữa.” Cô chìa tay ra để lấy bức thư. “Thế cô định nói gì với bà ta?” “Tôi nói gì à? Vấn đề là có hàng ngàn hàng ngàn, có lẽ là hàng triệu người như thế.” Từ hàng triệu nghe hơi trẻ con, và cô nhìn anh chăm chú, cố gắng truyền tải cho anh cái sức nặng ảm đạm của sự dốt nát, khổ sở mà cô hình dung ra. Anh trao bức thư lại cho cô và nói, “Nhưng mà cô định trả lời thế nào?” “Tôi không thể nói bất cứ điều gì mà bà ấy thực sự cần. Bởi vì đương nhiên những gì bà ấy cần là đích thân bác sĩ Allsop xuống thăm bà ấy, giải cứu bà ấy giống như một hiệp sĩ trên lưng ngựa trắng.” “Đương nhiên rồi.” “Vấn đề là chỗ đó. Tôi không thể nói, thưa bà Brown thân mến, bà không bị thấp khớp, bà cô đơn và bị lãng quên, vì vậy nên bà phịa ra những triệu chứng và rêu rao lên để có ai đó chú ý đến bà. Đấy, không thể đúng không?” “Cô có thể nói những điều đấy, khéo léo một chút. Có lẽ tự bà ấy cũng biết. Cô có thể khuyên bà ấy cố gắng đi gặp gỡ mọi người, tham gia một tổ chức nào đó hoặc đại loại như thế.” “Bảo bà ấy phải làm gì thì ngạo mạn quá.” “Bà ấy viết thư xin giúp đỡ, vì vậy không bảo mới là ngạo mạn.” “Anh bảo, một tổ chức nào đó! Nhưng bà ấy đâu có muốn vậy. Bà ấy không muốn những thứ chung chung như thế. Bà ấy lấy chồng đã nhiều năm nay và bây giờ bà ấy cảm thấy cứ như bị mất đi một nửa bản thân vậy.”

Đến đây, anh nhìn cô với vẻ trang nghiêm một lúc, và cô không biết anh đang nghĩ gì. Cuối cùng anh lên tiếng. “Thôi được, tôi nghĩ là cô nói đúng. Nhưng cô có thể đề nghị bà ấy gửi thư đến văn phòng tư vấn hôn nhân.” Anh bật cười trước vẻ khó chịu hiện trên mặt cô và nói tiếp, “Đúng vậy, nhưng cô sẽ ngạc nhiên khi biết chính tay tôi đã dàn xếp được bao nhiêu vụ hôn nhân tốt đẹp thông qua văn phòng hôn nhân.”

“Anh nói cứ như… một người làm công tác xã hội trong lĩnh vực tâm thần ấy,” cô đáp, và ngay khi những lời này vừa thốt ra cô đã biết câu trả lời là gì. Bác sĩ West, một bác sĩ đa khoa tỉnh táo không bao giờ đủ nhẫn nại cho những việc “rườm rà”, đã nhiều lần nói đùa về người đồng nghiệp được gọi là “thầy mo”, người được ông ta bàn giao cho những bệnh nhân tâm thần nặng. Vậy ra đây là “thầy mo”.

Paul Tanner nói, vẻ ngần ngừ, “Đúng như vậy đấy, theo một nghĩa nào đó.” Cô biết thái độ ngần ngừ này là vì anh không muốn nhận được câu trả lời mà cô hẳn sẽ đưa ra. Cô biết câu trả lời đó bởi vì cô nhận thấy trong mình đang chuyển sang cảm giác nhẹ nhõm và thích thú, một sự thích thú không mấy dễ chịu vì anh là thầy mo, anh biết hết đủ mọi điều về cô. Cô nói nhanh, “Ồ, tôi sẽ không kể cho anh nghe những rắc rối của tôi đâu.” Anh ngừng lại, cô biết rằng anh đang tìm những từ ngữ có thể khiến cô không làm như thế, rồi anh nói, “Còn tôi thì không bao giờ tư vấn ở bữa tiệc cả.”

“Trừ bà góa phụ Brown,” cô đáp.

Anh mỉm cười, và nói, “Cô thuộc tầng lớp trung lưu, đúng không?” Đây rõ ràng là một lời phán xét. Ella cảm thấy tổn thương. “Gốc gác thì là vậy,” cô đáp. Anh nói, “Tôi là dân lao động, vì vậy có lẽ tôi biết rõ về bà góa phụ Brown hơn cô.”

Đến lúc này Patricia Brent bước tới, đưa anh đi nói chuyện với một nhân viên của bà. Ella nhận thấy rằng cô và Paul vừa đóng vai một đôi dính như sam, trong một bữa tiệc không dành cho các đôi. Điệu bộ của Patricia cho thấy họ đã khiến mọi người chú ý. Vì vậy, Ella cảm thấy khá bực bội. Paul không muốn đi. Anh nhìn cô bằng ánh mắt khẩn khoản, van vỉ, nhưng cũng thật nghiêm khắc. Phải, Ella nghĩ, một cái nhìn nghiêm khắc, giống như cái gật đầu ra lệnh rằng cô phải ở đây cho đến khi anh xong việc và quay lại với cô. Và cô lại có ý tránh anh.

Đã đến lúc phải về nhà. Cô chỉ mới ở nhà vợ chồng West được một tiếng, nhưng cô muốn ra về, Paul Tanner lúc này đang ngồi giữa Patricia và một phụ nữ trẻ. Ella không nghe thấy họ nói gì nhưng cả hai người phụ nữ đều tỏ vẻ quan tâm nửa thích thú nửa bí mật, đồng nghĩa với việc họ đang nói chuyện về công việc của bác sĩ Tanner, dù gián tiếp hay trực tiếp, và trong khi họ trở nên sôi nổi hơn với câu chuyện này thì anh vẫn giữ nụ cười lịch sự nhưng gượng gạo. Còn lâu anh mới thoát được khỏi họ, Ella nghĩ; vì vậy cô đứng dậy và xin phép bà West khiến bà bực mình vì cô về quá sớm như vậy. Cô gật đầu chào bác sĩ West, sáng mai cô sẽ gặp lại ông ta với một chồng thư, và mỉm cười với Paul, đôi mắt xanh của anh vụt nhìn lên, rất xanh và thảng thốt khi biết cô đang chuẩn bị ra về. Cô bước vào sảnh để mặc áo khoác, và anh vội vã bước tới sau lưng cô, xin phép được đưa cô về nhà. Thái độ của anh lúc này suồng sã, gần như là thô lỗ, bởi vì anh không muốn bị đẩy đến một cuộc theo đuổi công khai như thế. Ella nói, “Có lẽ không tiện đường của anh đâu.” Anh hỏi, “Cô sống ở đâu?” và khi cô nói địa chỉ, anh khẳng định chắc chắn rằng không hề trái đường chút nào. Anh có một chiếc xe nhỏ của Anh. Anh lái rất nhanh và chắc tay. Thành phố London của những tài xế xe hơi và người đi taxi rất khác với thành phố London của những người đi tàu điện ngầm và xe buýt. Ella đang nghĩ rằng những dặm đường xám xịt mà cô từng đi qua nay đã trở thành một thành phố lung linh trong ánh đèn điện, và rằng nó chẳng có sức mạnh gì để dọa cô cả. Trong khi đó, Paul Tanner ném về phía cô những cái liếc nhìn sắc bén thăm dò và đặt ra những câu hỏi ngắn gọn, thực tế về cuộc sống của cô. Cô trả lời anh, với ý định thách thức anh vì đã gán cái mác trung lưu lên cô, rằng trong chiến tranh cô đã từng phục vụ tại một căng tin dành cho nữ công nhân xí nghiệp, và sống trong ký túc xá ở đó. Rằng sau chiến tranh, cô mắc bệnh lao, nhưng không nặng lắm, và phải nằm sáu tháng trời trong bệnh viện điều dưỡng. Đây là sự kiện làm thay đổi đời cô, khiến cô thay đổi nhiều hơn hẳn so với những năm chiến tranh ở cùng các nữ công nhân xí nghiệp. Mẹ cô mất lúc cô còn rất trẻ, và bố cô, một người đàn ông trầm lặng, dày dạn, một sĩ quan giải ngũ từ Ấn Độ, đã nuôi cô lớn lên. “Nếu như anh có thể gọi như thế là nuôi dưỡng - tôi bị bỏ mặc một mình, và tôi biết ơn vì điều đó,” cô vừa nói vừa phá lên cười. Và cô đã từng lấy chồng, trong thời gian ngắn ngủi, và không hạnh phúc. Paul Tanner gật đầu với mỗi thông tin nghe được; và Ella nhìn thấy hình ảnh anh ngồi đằng sau bàn làm việc, gật đầu với câu trả lời của mỗi bệnh nhân khi anh đưa ra câu hỏi. “Người ta bảo rằng cô viết tiểu thuyết,” anh nói lúc lướt xe đỗ lại bên ngoài nhà Julia. “Tôi không viết tiểu thuyết,” cô đáp, cảm thấy khó chịu như thể bị xâm phạm đời tư, và ngay lập tức bước ra khỏi xe. Anh nhanh chóng bước ra ngoài và bước đến cánh cửa khi cô vừa bước tới. Họ do dự. Nhưng cô muốn vào nhà, thoát khỏi sự theo đuổi dai dẳng của anh. Anh đột ngột nói: “Chiều mai tôi lấy xe đưa cô đi dạo nhé?” Như nghĩ thêm được điều gì, anh liếc nhanh lên bầu trời lúc này đang dày mây và nói, “Trông có vẻ như trời sẽ đẹp.” Nghe thấy điều này, cô bật cười, và nhờ cảm giác thoải mái mà tiếng cười mang lại, cô nhận lời. Mặt anh rạng rỡ vì nhẹ nhõm - và bên cạnh đó, vì chiến thắng. Cô nghĩ, anh như đã giành được một chiến thắng, và thấy lạnh người. Rồi sau một lúc ngần ngừ nữa, anh bắt tay cô, gật đầu và đi ra xe, nói rằng anh sẽ đón cô vào lúc hai giờ. Cô bước vào nhà qua cái sảnh tối om, lên cái cầu thang cũng tối om, đi qua ngôi nhà lặng phắc. Ánh đèn lọt ra từ dưới cửa phòng Julia. Dù sao thì cũng vẫn còn quá sớm. Cô cất giọng, “Tớ về rồi, Julia,” và giọng Julia vang lên rõ ràng, “Vào đây nói chuyện.” Phòng ngủ của Julia rộng rãi và tiện nghi, và cô đang nằm đọc sách trên một đống gối giữa chiếc giường đôi rộng lớn. Cô mặc pyjama, ống tay xắn lên tận khuỷu. Trông cô vui vẻ, ranh mãnh và tò mò. “Sao, thế nào?” “Chán òm,” Ella nói, coi câu này như một lời chỉ trích Julia, vì đã bắt cô phải đi - bằng sức mạnh ý chí vô hình của mình. “Một tay bác sĩ tâm thần đưa tớ về nhà,” cô nói thêm, cố tình dùng từ này để thấy ở nơi Julia vẻ mặt mà cô đã từng cảm nhận được ở mình, sau đó là trên mặt Patricia và người phụ nữ trẻ tuổi. Khi nhìn thấy nó, cô cảm thấy xấu hổ và ân hận vì mình đã nói ra - như thể cô đã cố tình thực hiện một hành động công kích đối với Julia. Mà đúng là mình đã làm thế, cô nghĩ. “Và tớ nghĩ rằng tớ không thích anh ta,” cô nói thêm, trở lại với trạng thái trẻ con, nghịch mấy chai nước hoa trên bàn trang điểm của Julia. Cô xoa nước hoa lên phần thịt trên cổ tay, quan sát gương mặt của Julia trong gương, lúc này lại trở nên hoài nghi, nhẫn nại và ranh mãnh. Cô nghĩ: Ừ, tất nhiên Julia gần như là một người mẹ, nhưng mình có nhất thiết lúc nào cũng phải hùa theo như thế không? - Ngoài ra, phần lớn thời gian mình lại cảm giác như là mẹ Julia, mình có nhu cầu được bảo vệ cô ấy, mặc dù mình không biết là bảo vệ cô ấy khỏi cái gì. “Tại sao cậu không thích anh ta?” Julia thắc mắc. Câu này nghiêm túc, vì vậy Ella cũng sẽ phải suy nghĩ một cách nghiêm túc. Thay vào đó cô nói, “Cảm ơn cậu vì đã trông chừng Michael,” rồi lên gác đi ngủ, để lại cho Julia một nụ cười nhẹ nhàng như lời xin lỗi.

Hôm sau, ánh nắng phủ lên khắp London, cây cối trên đường phố dường như không còn góp vào khối nặng của những tòa nhà, những vỉa hè mà là phần nối dài của những cánh đồng, thảm cỏ và vùng quê. Đang do dự về vụ lái xe đi chơi buổi chiều hôm đó, Ella vụt trở nên vui vẻ khi hình dung đến ánh nắng chiếu trên thảm cỏ; và nhờ cú vút bay bất ngờ của tinh thần ấy, cô hiểu rằng hẳn là gần đây cô đã chán nản hơn mình tưởng. Cô thấy mình hát trong lúc nấu bữa trưa cho con. Đấy là vì cô nhớ đến giọng nói của Paul. Lúc trước cô không chú tâm đến giọng Paul, nhưng giờ đây cô đang nghe thấy nó vang lên - một giọng nói ấm áp, hơi sắc lên do dấu vết lối phát âm của tầng lớp dưới. (Giờ nhớ lại, cô lắng nghe anh chứ không phải nhìn anh.) Và cô đang lắng nghe, không phải là nghe những từ ngữ anh sử dụng mà là nghe ngữ điệu của anh, thứ ngữ điệu mà giờ đây cô đã phân biệt rõ từng sắc thái: tinh tế, mỉa mai và thông cảm.

Chiều nay, Julia đưa Michael đi thăm bạn bè, và cô đi rất sớm, ngay khi vừa kết thúc bữa trưa, để cậu bé không biết rằng mẹ cậu sắp sửa đi chơi mà không cho cậu đi cùng. Julia nói: “Dù sao thì trông cậu cũng rất vui vẻ vì chuyện này.” Ella đáp: “Ôi, đã mấy tháng nay tớ có ra khỏi London đâu. Hơn nữa, tớ không hợp với việc không có đàn ông bên cạnh.” “Ai thì hợp cơ chứ?” Julia vặn lại. “Nhưng tớ không tán thành việc yêu chỉ để cho có.” Và sau khi găm được mũi tên nhỏ này vào đích, cô dắt cậu bé ra đi với vẻ đắc thắng.

Paul đến muộn, và nhìn cách xin lỗi gần như là chiếu lệ của anh, cô hiểu rằng anh là người thường xuyên đến muộn, và điều này là do bản chất chứ không phải chỉ đơn thuần bận rộn với công việc bác sĩ nhiều áp lực. Nói chung cô thấy vui vì anh đến muộn. Nhìn vào gương mặt anh, lúc này lại bị đám mây cáu kỉnh căng thẳng che phủ, cô nhớ ra rằng tối hôm qua mình đã không thích anh. Bên cạnh đó, đến muộn nghĩa là anh không thực sự quan tâm đến cô, và điều này làm dịu đi một chút hoảng sợ nho nhỏ có liên quan đến George chứ không phải Paul. (Tự cô cũng biết điều này.) Nhưng lúc họ vừa bước vào xe và chạy ra khỏi London, cô nhận thấy nhiều lần anh lại khẽ liếc nhìn cô với vẻ lo lắng; cô cảm nhận được sự quả quyết trong anh. Nhưng anh đang nói chuyện còn cô thì lắng nghe giọng nói của anh, và mỗi lời anh nói đều rất dễ chịu, hệt như những gì cô nhớ. Cô lắng nghe, nhìn ra ngoài cửa sổ, và cười. Anh đang kể cho cô nghe tại sao anh lại đến muộn. Giữa anh và nhóm bác sĩ cùng làm việc với anh ở bệnh viện có chút hiểu lầm. “Không ai thực sự nói ra thành lời, nhưng tầng lớp trung lưu giàu có giao tiếp với nhau bằng những tiếng rít không thành tiếng, giống như loài dơi. Điều này đặt những người có xuất thân như anh vào tình thế bất lợi kinh khủng.”

“Anh là bác sĩ duy nhất thuộc giai cấp lao động ở đó sao?”

“Không, ở bệnh viện thì không phải, chỉ là ở trong bộ phận đó thôi. Và người ta không bao giờ để cho anh quên đi điều đó. Họ thậm chí còn không ý thức được là mình làm thế.” Câu này nghe vui vui, hài hước. Cũng có chút cay đắng. Nhưng vị cay đắng xuất phát từ thói quen cũ, không có chút chua chát nào bên trong cả.

Chiều nay họ nói chuyện với nhau khá dễ dàng, như thể rào cản giữa hai người đã âm thầm tan đi sau một đêm. Họ bỏ lại những khu ngoại vi xấu xí của London sau lưng, ánh nắng vây quanh họ, và tinh thần Ella đột ngột dâng cao đến mức cô cảm thấy mình lâng lâng. Hơn nữa, cô biết rằng người đàn ông này sẽ là người tình của mình, cô biết điều này qua cái khoái cảm mà giọng nói anh mang đến cho cô, và trong cô tràn ngập một niềm vui thầm kín. Ánh mắt anh dành cho cô lúc này mang theo nụ cười, gần như là nuông chiều, và giống như Julia anh nhận xét: “Trông em rất vui vẻ với chính mình.”

“Vâng, đang ra khỏi London mà.”

“Em ghét nó lắm sao?”

“Ôi không, em thích chứ, em muốn nói là em thích cách sống của mình ở đó. NHưng em ghét… cái này.” Và cô trỏ ra ngoài cửa sổ. Những hàng giậu và thân cây lại bị một ngôi làng nhỏ nuốt chửng. Ở đây không còn sót lại thứ gì của nước Anh cũ, nơi này thật mới mẻ và xấu xí. Họ lái xe qua con phố thương mại chính, và những cái tên trên các cửa hiệu giống hệt như những nơi họ liên tục đi qua trên suốt con đường ra khỏi London.

“Tại sao?”

“Thì rõ ràng là nó xấu đến thế cơ mà.” Anh tò mò nhìn vào mặt cô. Một lúc sau, anh nói: “Mọi người vẫn sống ở đấy cả thôi.” cô nhún vai. “Em cũng ghét họ à?” Ella cảm thấy khó chịu: nhiều năm qua, bất cứ người nào mà cô có khả năng gặp gỡ đều hiểu ngay lý do mà không cần giải thích tại sao cô căm ghét “tất cả những điều này”; và việc hỏi xem có phải cô “cũng ghét họ”, họ ở đây ám chỉ những người bình thường, thật chẳng liên quan. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, cô nói, giọng thách thức: “Theo một nghĩa nào đó thì đúng. Em ghét thứ mà họ kiên nhẫn chịu đựng. Lẽ ra phải gạt bỏ nó đi chứ - gạt bỏ tất cả.” Và cô dùng tay phác một động tác gạt bỏ, phủi đi cái sức nặng ảm đạm khủng khiếp của London cùng hàng ngàn thị trấn xấu xí và vô số sinh mệnh tù túng, nhỏ bé khác của nước Anh.

“Nhưng em biết là điều đó sẽ không xảy ra,” anh nói và hé một nụ cười bướng bỉnh. “Chuyện này vẫn sẽ tiếp diễn - và sẽ có thêm nhiều chuỗi cửa hàng, nhiều ăng ten truyền hình, và nhiều con người đáng kính nữa. Em định nói như vậy phải không?”

“Tất nhiên. Nhưng anh chấp nhận nó. Tại sao anh lại coi tất cả những điều này là dĩ nhiên?”

“Đây là thời đại của chúng ta. Mọi thứ đều tốt đẹp hơn trước đây.”

“Tốt đẹp hơn!” cô thốt lên, không chủ đích nhưng rồi kìm lại. Vì cô hiểu rằng mình đang so cái từ tốt đẹp hơn của anh với một hình dung cá nhân hình thành từ lúc cô còn nằm ở bệnh viện - rằng đang có một nguồn năng lượng hủy diệt đen tối vô danh tính, tác động ngấm ngầm đến gốc rễ cuộc sống và thể hiện ra ngoài thông qua chiến tranh, tàn ác và bạo lực. Chẳng liên quan gì đến đề tài mà họ đang tranh luận. Cô nói: “Anh muốn nói tốt đẹp hơn theo nghĩa không còn cảnh thất nghiệp và không còn ai bị đói?”

“Thật lạ, nhưng phải, đó chính là điều anh muốn nói.” Thái độ của anh như đã dựng lên một hàng rào ngăn cách giữa hai người - anh xuất thân từ giai cấp lao động, còn cô thì không, và anh thuộc tầng lớp những người được khai sáng. Vì vậy cô tiếp tục im lặng cho đến khi anh khẳng định: “Mọi thứ đang tốt đẹp hơn nhiều, hơn rất nhiều. Sao em lại không nhận thấy nhỉ? Anh còn nhớ…” Và anh ngừng lại - lần này không phải (như cách Ella nhìn nhận) vì anh đang “bắt nạt” cô, bằng những kiến thức vượt trội, mà vì nỗi đau trỗi lên từ những điều anh vừa nhớ lại.

Do đó, cô thử một lần nữa: “Em không hiểu sao lại có ai có thể nhìn thấy những gì đang xảy ra với đất nước này mà không thấy ghét nó. Trên bề mặt thì mọi thứ đều tốt đẹp - tất cả đều bình lặng, buồn tẻ, như là một tập hợp các khu ngoại ô. Nhưng bên dưới là thuốc độc. Nó chứa đầy những hận thù và ghen tị, Còn con người thì trở nên đơn độc.”

“Điều này đúng đối với mọi thứ, mọi nơi. Nó đúng với bất cứ nơi nào đạt tới một chuẩn sống nhất định.”

“Như thế đâu có nghĩa là tốt đẹp hơn.”

“Bất cứ điều gì cũng đều tốt đẹp hơn một nỗi sợ hãi chúng ta từng biết đến.”

“Anh muốn nói đến nghèo đói thực sự. Và tất nhiên là anh muốn nói rằng em không đủ trải nghiệm để hiểu điều đó.”

Nghe đến đây, anh liếc nhanh nhìn cô, ngạc nhiên với sự khăng khăng của cô - và, như Ella cảm nhận được, dành cho nó một sự kính nể nhất định. Trong cái nhìn đó không thấy có chút dấu hiệu nào của một người đàn ông đánh giá người phụ nữ vì tiềm năng tình dục của cô ta, và cô cảm thấy yên tâm hơn.

“Vậy là em muốn san phẳng tất cả, cả nước Anh này?”

“Vâng.”

“Chỉ để lại một ít nhà thờ lớn, mấy ngôi nhà cổ và một vài ngôi làng xinh xắn?”

“Vâng.”

“Và rồi em sẽ đưa người dân trở lại các thành phố mới đẹp đẽ, mỗi thành phố là giấc mơ của một kiến trúc sư, và bảo với mọi người nếu không thích thì cũng cố mà chịu đựng nó.”

“Vâng.”

“Hay biết đâu em lại thích nước Anh kiểu truyền thống, bia bọt, chơi đánh ky và những cô gái mặc váy dài tự dệt?”

Cô trả lời, giọng giận dữ: “Tất nhiên là không rồi! Em ghét tất cả những gì mang màu sắc William Morris(15). Nhưng mà anh đang thiếu trung thực đấy. Nhìn anh kìa - em dám chắc là anh đã dồn hết sức lực mình có chỉ để vượt qua rào cản giai cấp. Cuộc sống của anh hiện tại không thể có chút can hệ nào với cuộc sống của bố mẹ anh trước kia. Với họ, chắc chắn anh phải rất lạ lẫm. Chắc chắn anh phải bị chia thành hai nửa. Đất nước này là vậy. Anh biết rồi còn gì. Ôi em ghét điều này, ghét tất cả những thứ này. Em ghét một đất nước chia rẽ đến mức… em không biết bất cứ điều gì về nó cho đến khi chiến tranh xảy ra và em được sống chung với tất cả những người phụ nữ đó.”

Ừm,” cuối cùng anh lên tiếng, “tối qua họ nói đúng - hóa ra em đúng là một người cách mạng.”

“Không hề. Những lời đó chẳng có ý nghĩa gì với em cả. Em không quan tâm chút nào đến chính trị.”

Nghe vậy anh bật cười, nhưng nói bằng giọng tha thiết khiến cô xúc động: “Nếu mọi chuyện diễn ra theo đúng ý của em, một Jerusalem mới được dựng lên, thì việc ấy cũng giống như giết chết một cái cây bằng cách đột ngột chuyển nó đến một mảnh đất không phù hợp. Trong những gì đang diễn ra có tính liên tục, có một dạng logic vô hình. Em sẽ giết chết tinh thần của mọi người nếu mọi chuyện diễn ra theo đúng ý em.”

“Tính liên tục không nhất thiết phải đúng chỉ vì nó có tính liên tục.”

“Nhưng đúng là vậy đấy, Ella, đúng vậy. Đúng vậy. Tin anh đi, đúng là vậy đấy.”

Câu này nghe thật riêng tư, nên lần này đến lượt cô quay lại nhìn anh, ngạc nhiên, và quyết định không nói gì cả. Cô nghĩ, anh đang nói rằng sự chia rẽ trong chính anh đau đớn đến mức đôi khi anh tự hỏi như thế có đúng hay không… và cô quay đi tiếp tục nhìn ra cửa sổ. Họ đi qua một ngôi làng nữa. Ngôi làng này đẹp hơn ngôi làng vừa rồi: có một trung tâm cổ với những ngôi nhà lâu đời ngọt ngào, ấm áp trong nắng. Nhưng quanh trung tâm là những căn nhà mới xấu xí và đều tăm tắp, và nằm trên quảng trường chính có một cửa hàng Woolworth, không có gì khác biệt so với tất cả những cơ sở khác của nó, và một quán rượu bắt chước thời Tudor. Cả vùng này có lẽ là một chuỗi làng như vậy, cái này nối tiếp cái kia. Ella nói: “Tránh xa làng mạc ra đi, ở đó chẳng có gì cả.”

Lần này cái nhìn của anh dành cho cô, cô có nhận thấy nhưng mãi về sau mới hiểu, trông thảng thốt thật sự. Mất một lúc anh không nói gì cả, nhưng khi xuất hiện một con đường nhỏ, ngoằn ngoèo chạy qua những tán cây sâu hun hút đẫm ánh nắng, anh bèn tạt vào. Anh hỏi: “Bố em sống ở đâu?”

“Ồ,” cô đáp, “em thấy anh định nói gì rồi. Ông ấy không giống như vậy chút nào đâu.”

“Giống cái gì cơ? Anh đã nói gì đâu.”

“Không, nhưng anh ám chỉ điều đó suốt. Ông ấy là cựu quân nhân ở Ấn Độ. Nhưng ông ấy không giống như kiểu người ta hay nói về bọn họ. Ông suy giảm sức khỏe và tham gia chính quyền một thời gian. Và ông cũng chả giống kiểu đấy chút nào.”

“Vậy ông ấy là kiểu thế nào?”

Cô bật cười. Một tiếng cười chứa đựng tình cảm, nghe vừa bột phát vừa chân thành, cùng một chút cay đắng mà cô không nhận ra là có tồn tại trong cô. “Khi rời Ấn Độ, ông mua một ngôi nhà cũ. Ở Cornwall. Nhỏ và biệt lập. Rất đẹp. Đã cũ - anh biết đấy. Ông là người sống tách biệt, luôn luôn như vậy. Ông đọc rất nhiều. Ông biết nhiều về triết học và tôn giáo - chẳng hạn như đạo Phật.”

“Ông ấy có thích em không?”

Thích em?” Câu hỏi khiến Ella giật mình. Cô chưa từng tự hỏi liệu bố cô có thích cô hay không. Cô quay sang Paul, dành cho anh một cái nhìn cảm kích thoáng qua, bật cười: “Câu hỏi hay đấy. Nhưng anh biết không, em không biết.” Rồi nói thêm, giọng nhỏ lại: “Không, nghĩ kỹ lại thì, em không tin là ông ấy thích em, không thực sự thích.”

“Tất nhiên là có thích chứ,” Paul hấp tấp nói, rõ ràng là ân hận vì đã hỏi câu đó.

“Chuyện này chả có tất nhiên tất nheo gì hết,” và Ella ngồi im lặng, suy nghĩ. Cô biết rằng cái nhìn của Paul vừa ăn năn vừa trìu mến, và cô vô cùng thích anh vì mối quan tâm anh thực sự dành cho cô.

Cô tìm cách giải thích: “Cứ cuối tuần khi em về nhà, ông rất vui khi gặp em - em có thể nhận ra điều đó. Mặc dù không bao giờ ông than phiền rằng sao em không đi thường xuyên hơn. Nhưng khi em ở đó, dường như đối với ông chẳng có gì khác biệt cả. Ông sống theo lề thói của mình. Một bà già dọn dẹp nhà cửa. Nấu nướng thì tàm tạm. Ông ăn đi ăn lại một vài món, như thịt bò đỏ, thăn bò và trứng. Ông uống một ly rượu gin trước bữa trưa, hai hoặc ba ly whisky sau bữa tối. Sáng nào cũng vậy, sau bữa sáng là ông đi bộ một chặng đường dài. Ông làm vườn vào buổi chiều. Đêm nào ông cũng đọc đến tận khuya. Khi em về đó, mọi việc vẫn y sì như vậy. Thậm chí ông còn chả nói chuyện với em.” Cô lại cười. “Tựa như điều anh nói lúc nãy - em và bố không cùng một nhịp. Ông có một người bạn rất thân, một ông đại tá, và trông họ rất giống nhau, cả hai đều gầy, da sạm màu, lông mày dữ tợn, và họ giao tiếp với nhau bằng những tiếng rít không thành tiếng. Đôi khi họ ngồi đối diện nhau hàng tiếng đồng hồ mà không nói lời nào, chỉ uống whisky, hoặc đôi khi nhắc chút chút tới Ấn Độ. Và khi bố em chỉ có một mình, em nghĩ ông ấy nói chuyện với Chúa, Phật hoặc một ai đó. Nhưng không phải với em. Thường thì nếu em có nói gì đó, ông rất xấu hổ hoặc nói về một vấn đề khác.” Rồi Ella lặng im, nghĩ rằng đây là câu chuyện dài nhất cô từng nói với anh, và điều này thật lạ, bởi vì cô hiếm khi kể về, hay thậm chí là nghĩ về, bố mình. Paul không tiếp tục chủ đề này, thay vào đó đột nhiên hỏi: “Chỗ này thì sao?” Lối mòn gập ghềnh kết thúc ở một cánh đồng có rào bao quanh. “Ồ,” Ella nói. “Được. Sáng nay em cứ hy vọng anh sẽ đưa em tới một cánh đồng nho nhỏ, như chỗ này.” Cô nhanh chóng ra khỏi xe, thoáng bắt gặp cái nhìn thảng thốt của anh, nhưng cô không hề nhớ tới nó cho đến tận mãi về sau, khi lục tìm ký ức để tìm hiểu xem ngày hôm đó anh nghĩ thế nào về cô.

Cô lang thang một lúc qua các lùm cỏ, sờ vào chúng, hít ngửi chúng, rồi để cho ánh nắng rơi xuống mặt. Khi cô chậm bước về chỗ anh, anh đã trải một tấm thảm trên cỏ và ngồi lên đó, chờ đợi. Cái nhìn chờ đợi của anh đã hủy diệt cảm giác dễ chịu vừa được tạo ra trong cô nhờ chút tự do nho nhỏ của cánh đồng ngập nắng, và gây căng thẳng. Cô nghĩ, lúc nằm vật xuống, anh ấy đang toan tính gì vậy, lạy Chúa lòng lành, phải chăng anh ấy sẽ làm tình với mình sớm đến vậy? Ồ, không, anh ấy không đâu, chưa đâu. Mặc dù vậy, cô vẫn nằm gần anh, hạnh phúc, và mãn nguyện phó mặc mọi chuyện cho số phận.

Về sau - sau đó không lâu, anh nói, trêu cô, rằng cô mang anh đến đây bởi vì cô đã xác định là cô muốn anh làm tình với cô, rằng cô đã dự định như thế. Và lần nào cô cũng cáu điên lên, và rồi vì anh cứ trêu mãi nên cô làm mặt lạnh với anh. Và rồi cô lại quên. Và rồi anh lại lôi ra, và vì cô biết điều này quan trọng với anh, vụ cãi vã nhỏ được lặp đi lặp lại này đã như một vết nhiễm trùng ngày một nặng dần. Không đúng. Từ trong xe cô đã biết anh sẽ là người yêu của mình, nhờ vào giọng nói của anh, cô tin vào nó. Nhưng là vào một thời điểm nào đó, lúc nào không quan trọng. Anh ấy sẽ biết thời điểm nào là thích hợp, cô cảm thấy thế. Và như vậy nếu lúc đó là thời điểm thích hợp, buổi chiều đầu tiên họ ở riêng với nhau đó, thì chắc là thích hợp. “Vậy thì anh nghĩ em sẽ làm gì nếu anh không làm tình với em?” cô hỏi, về sau, tò mò và tức tối. “Em sẽ cáu,” anh trả lời, bật cười, nhưng là với một chút hối hận. Và thái độ hối hận này, một cảm xúc chân thành, đã kéo cô lại với anh, cứ như họ cùng là nạn nhân của một sự độc ác nào đó trong đời mà hai người không ai thoát nổi.

“Nhưng mà anh dàn xếp hết còn gì,” cô nói. “Thậm chí anh còn mang theo thảm để phục vụ mục đích đó. Em nghĩ khi đi chơi vào các buổi chiều anh luôn mang theo thảm trong xe phòng khi cần đến.”

“Tất nhiên rồi, chẳng có gì bằng một tấm thảm ấm áp dễ thương trên cỏ cả.”

Nghe thế cô cười. Và về sau cô ớn lạnh nghĩ: “Biết đâu anh ấy đã mang những cô khác đến cánh đồng đó, có thể đây chỉ là một thói quen của anh.”

Nhưng lúc đó cô đã cực kỳ hạnh phúc. Sự nặng nề của thành phố đã rời bỏ cô, và mùi hương hoa cỏ cùng mặt trời thật ngon lành. Rồi cô bắt đầu nhận ra nụ cowif pha chút mỉa mai của anh nên ngồi dậy, vẻ đề phòng. Anh bắt đầu nói, cố tình mỉa mai, về chồng cô. Cô kể cho anh nghe những gì anh muốn biết, vắn tắt thôi, vì đêm qua cô đã kể một vài sự việc. Và rồi cô kể anh nghe, cũng vắn tắt, về đứa con; nhưng lần này chỉ lướt qua bởi vì cô cảm thấy tội lỗi do cô đã ở đây, dưới ánh nắng, và chắc hẳn Michael sẽ thích chuyến đi cũng như cánh đồng ấm áp này.

Cô hiểu rằng Paul đã nói điều gì đó về vợ anh. Phải mất một lúc thì điều này mới ngấm vào được. Anh còn nói rằng anh có hai đứa con. Cô cảm thấy sốc, nhưng không để chuyện đó làm cô mất tự tin trong thời điểm này. Cách anh kể về vợ, vừa hấp tấp và gần như là bực bội, cho Ella biết rằng anh không yêu vợ. Chưa gì cô đã dùng từ “yêu”, và bằng một sự ngây thơ khá xa lạ với cô khi phân tích các mối quan hệ. Thậm chí cô còn tưởng tượng là chắc anh đã ly thân với vợ, một khi anh có thể nói về cô ấy hờ hững như vậy.

Anh làm tình với cô. Ella nghĩ, Ôi anh ấy nói đúng, đây chính là thời điểm thích hợp, ở đây, tại nơi tươi đẹp này. Cơ thể cô chứa quá nhiều ký ức về người chồng cũ nên cô không thôi căng thẳng. Nhưng cô nhanh chóng trao mình cho anh, một cách tin tưởng, bởi vì cơ thể họ thấu hiểu lẫn nhau. (Nhưng phải đến sau này cô mới dùng cụm từ như “cơ thể chúng ta thấu hiểu lẫn nhau”. Lúc đó cô chỉ nghĩ: Chúng ta hiểu nhau.) Nhưng một lần, khi mở mắt ra, cô thấy gương mặt anh, và nó mang một vẻ gì đó khắc nghiệt, gần như là xấu xí. Vì vậy cô nhắm mắt lại để khỏi phải nhìn, và thấy hạnh phúc trong những khoảnh khắc yêu đương. Sau đó, cô thấy anh quay mặt đi, và cái nhìn khắc nghiệt lại xuất hiện. Cô tách ra khỏi anh, theo bản năng, nhưng bàn tay anh đặt trên bụng cô đã giữ cô lại. Anh nói, giọng pha chút trêu chọc: “Em gầy quá đi mất.” Cô cười, không thấy tổn thương, bởi vì cách anh đặt tay lên da thịt cô cho cô biết anh thích cô như thế này. Và cô thích chính mình, trần truồng. Thân hình cô mỏng manh, mảnh khảnh, vai và đầu gối sắc cạnh, nhưng ngực và bụng cô trắng lấp lánh, đôi bàn chân vừa thanh tú vừa trắng. Thường thì cô vẫn muốn mình khác đi, ao ước được to lớn hơn, đầy đặn hơn, tròn trịa hơn, “đàn bà hơn”, nhưng cách bàn tay anh chạm vào cô đã xóa tan tất cả những điều đó và cô thấy hạnh phúc. Anh giữ áp lực mềm mại của tay anh lên cái bụng mong manh của cô một lúc, rồi đột ngột rút về và bắt đầu mặc quần áo. Cảm thấy bị bỏ rơi, cô cũng bắt đầu mặc quần áo theo. Không hiểu sao bỗng nhiên cô suýt bật khóc, một lần nữa cơ thể cô lại dường như quá gầy và nhẹ. Anh hỏi: “Bao lâu rồi em chưa ngủ với đàn ông?”

Cô lúng túng, tự hỏi: Anh định nói đến George ư? Nhưng anh ta không tính, mình đâu có yêu anh ta. Mình ghét anh ta chạm vào người mình. “Em không biết,” cô trả lời, và lúc nói ra cô hiểu anh muốn nói rằng cô ngủ với anh vì thiếu thốn tình dục. Mặt cô bắt đầu nóng bừng lên và cô nhanh chóng nhỏm dậy khỏi chiếc thảm, quay mặt đi, rồi nói với giọng nghe thật xấu xí: “Từ tuần trước cơ. Tôi chọn lấy một gã ở bữa tiệc rồi mang về nhà.” Cô tìm kiếm ngôn từ trong ký ức về những cô gái ở căng tin, trong thời gian chiến tranh. Cô tìm thấy và nói: “Ngọt thịt phết, tay đấy ấy.” Cô vào xe, đóng sầm cửa lại. Anh ném chiếc thảm vào sau xe, vội vàng vào xe, rồi bắt đầu công việc vòng xe quay tới quay lui để đưa xe ra khỏi cánh đồng.

“Vậy là em có cái thói quen ấy hả?” anh hỏi. Giọng anh tỉnh táo, thản nhiên. Cô nghĩ rằng trong khi vừa mới đây anh còn đang hỏi với tư cách một người đàn ông; giờ anh lại nói “như một người đàn ông ngồi sau bàn giấy”. Cô nghĩ rằng cô chỉ muốn chặng đường về chóng qua để cô có thể về nhà và khóc. Chuyện làm tình lúc nãy giờ đây đã gắn liền những ký ức trong đầu cô về người chồng cũ, cùng việc cơ thể cô rúm lại muốn tránh xa cơ thể George, bởi vì trong ý nghĩ cô đang cố tránh xa người đàn ông mới này.

“Vậy là em có cái thói quen ấy hả?” anh hỏi lại.

“Thói quen gì?” cô cười. “Ồ, tôi hiểu rồi.” Và cô nhìn anh vẻ như không thể tin được, như thể anh đã bị điên. Lúc này anh quả có hơi điên, mặt anh căng lên vì nghi ngờ. Bây giờ, anh không còn là “một người đàn ông ngồi sau bàn giấy” nữa, mà là một người đàn ông thù địch với cô. Giờ thì cô đã sẵn sàng chống lại anh, vì vậy cô cười giận dữ và nói: “Xét cho cùng anh thật là ngu ngốc.”

Họ không nói gì với nhau cho đến tận khi đến con đường chính và hòa vào dòng xe cộ đang dần đông đặc lại trên con đường trở về thành phố. Rồi anh nói, bằng giọng rất khác, thân thiện, làm hòa: “Dù thế nào đi nữa thì anh cũng không có tư cách gì mà chỉ trích cả. Đời sống tình cảm của anh cũng khó mà được coi là mẫu mực.”

“Hy vọng anh thấy tôi là một trò tiêu khiển làm anh thỏa mãn.”

Anh tỏ vẻ bối rối. Với cô dường như anh thật ngu ngốc vì đã không hiểu. Cô có thể thấy anh đang sắp xếp từ ngữ trong đầu và rồi lại vứt bỏ chúng. Và do vậy cô không cho anh cơ hội nào được nói cả. Cô có cảm giác như mình vừa phải hứng một loạt cú đấm, cố tình, liên tục, nhằm vào chỗ nào đó ngay dưới vú. Suýt nữa thì cô thở hổn hển với cơn đau mà những cú đấm này gây ra. Môi cô run lên, nhưng cô thà chết còn hơn là khóc trước mặt anh. Cô ngoảnh mặt sang một bên, nhìn miền quê lúc này đang chìm vào bóng tối và giá lạnh, rồi bắt đầu lên tiếng trước. Khi quyết tâm, cô có thể trở nên khắc nghiệt, độc ác, thú vị. Cô giải khuây cho anh bằng câu chuyện phiếm hay ho ở văn phòng tờ tạp chí, các vụ lăng nhăng của Patricia Brent, vân vân, trong khi cô khinh ghét anh vì chấp nhận phiên bản vờ vẫn của cô. Cô cứ nói huyên thuyên, trong khi anh im lặng, và khi họ về đến nhà Julia, cô bước nhanh ra khỏi xe, và đã ở trên ngưỡng cửa khi anh còn chưa kịp theo cô. Cô đang dò dẫm tra chìa khóa vào ổ thì anh đã đến sau cô và nói: “Tối nay bạn Julia của em cho con em đi ngủ được không? Chúng ta sẽ đi xem kịch nếu em thích. Không, xem phim chứ, Chủ nhật mà.” Cô thở hắt ra vì ngạc nhiên: “Nhưng tôi sẽ không gặp lại anh nữa, chắc là anh không nghĩ là tôi sẽ gặp anh chứ?”

Anh đặt tay lên vai cô từ phía sau và nói: “Nhưng tại sao chứ? Em thích anh, giả vờ ngược lại chả lợi lộc gì cả.” Nghe câu này, Ella không biết trả lời ra sao cả, cô không quen kiểu nói này. Và bây giờ, cô không thể nhớ nổi mình đã hạnh phúc với anh ra sao trên cánh đồng nữa. Cô đáp: “Tôi sẽ không gặp lại anh nữa.”

“Sao lại thế?”

Cô bực bội chuồi vai thoát ra, tra chìa vào cửa, vặn, rồi nói: “Đã từ lâu rồi tôi chưa hề ngủ với bất cứ ai cả. Kể từ cuộc tình kéo dài một tuần, cách đây hai năm trước. Một mối tình thật dễ thương…” Cô nhìn thấy cái cau mày của anh và cảm thấy sung sướng bởi vì cô đang làm anh bị tổn thương, và vì cô đang nói dối, mối tình đấy không hề dễ thương. Nhưng bây giờ, hoàn toàn nói thật và buộc tội anh bằng tất cả thịt da mình, cô nói: “Anh ấy là người Mỹ. Anh ấy chưa bao giờ làm tôi cảm thấy khó chịu, chưa hề. Anh ấy không giỏi chút nào trong chuyện chăn gối, chắc đây là một trong những cụm từ các anh thường dùng, phải không? Nhưng anh ấy không coi thường tôi.”

“Sao em lại kể với anh chuyện này?”

“Anh thật ngu ngốc,” cô đáp bằng giọng khinh miệt vui vẻ. Và cô thấy trong mình dâng lên một cảm giác hoan hỉ khắc nghiệt, cay đắng, đủ sức hủy diệt anh và hủy diệt chính cô. “Anh nói về chồng tôi. Nhưng anh ta thì liên quan gì? Trong mắt mình, tôi chưa bao giờ tôi ngủ với anh ta…” Anh bật cười, hoài nghi và cay đắng, nhưng cô tiếp tục: “Tôi ghét phải ngủ với anh ta. Cái đó không thể tính được. Và anh hỏi, bao lâu rồi tôi chưa ngủ với đàn ông? Chắc chắn đây là điều hết sức đơn giản. Anh là bác sĩ tâm lý, anh bảo thế, là người chữa trị linh hồn, vậy mà anh không hiểu những điều đơn giản nhất về bất cứ ai.”

Nói xong cô vào nhà Julia, đóng cửa lại, áp mặt vào tường và bắt đầu khóc. Ngôi nhà đem lại cho cô cảm giác chưa có ai về. Chuông reo, gần như ngay tại cô: Paul đang cố gắng để cô mở cửa. Nhưng cô bỏ lại tiếng chuông sau lưng, đi qua cái khoảng không tối đen của ngôi nhà để lên căn phòng nhỏ bé sáng sủa trên nóc, chậm rãi, vừa đi vừa khóc. Và giờ thì chuông điện thoại reo. Cô biết là Paul, qua buồng điện thoại bên kia đường. Cô để mặc cho nó reo, bởi vì cô đang khóc. Chuông ngừng, rồi lại reo tiếp. Cô nhìn những đường cong màu đen, rắn chắc, phi nhân tính của thiết bị này và ghét nó; cô nuốt nước mắt, hắng giọng và trả lời. Là Julia. Julia bảo cô muốn ở lại ăn tối với bạn bè; lát nữa cô sẽ mang cậu bé về nhà cùng cô và cho cậu đi ngủ, và nếu muốn thì Ella có thể đi chơi. “Có chuyện gì với cậu thế?” Giọng Julia vọng đến, vang và điềm tĩnh như thường lệ, qua ba cây số đường phố. “Tớ đang khóc.” “Tớ có thể nghe thấy, vì cái gì thế?” “Ồ, bọn đàn ông khốn kiếp, tớ ghét tất thảy bọn chúng.” “Ờ được, nếu là như vậy, nhưng cậu nên đi xem phim thì tốt hơn, cậu sẽ vui lên đấy.” Ngay lập tức Ella cảm thấy dễ chịu hơn, sự việc kia đã không còn quan trọng nữa, và cô bật cười.

Khi điện thoại reo sau đó nửa tiếng, cô trả lời, không nghĩ đó là Paul. Nhưng là anh. Anh bảo, anh đã chờ trong xe để gọi lại. Anh muốn nói chuyện với cô. “Tôi không thấy chúng ta sẽ đi đến đâu cả,” Ella nói, giọng điềm tĩnh và hài hước. Còn anh, giọng hài hước và hơi bối rối, nói: “Đi xem phim đi, và chúng ta sẽ không phải nói chuyện.” Thế là cô đi. Cô gặp anh với cảm giác thoải mái. Bởi vì cô đã tự nhủ rằng cô sẽ không làm tình với anh nữa. Tất cả đã kết thúc. Cô đi chơi với anh là vì nếu không đi thì có vẻ quá đáng quá. Và vì giọng anh trên điện thoại chẳng có chút liên hệ nào đến vẻ khắc nghiệt trên gương mặt anh khi đang nằm trên cô lúc ở ngoài đồng. Và bởi vì bây giờ họ sẽ trở lại với mối quan hệ họ đã có trong lúc lái xe ra khỏi London. Thái độ của anh về chuyện có được cô trên cánh đồng đã xóa tan việc đó. Nó không hề xảy ra, nếu đấy là cách anh cảm nhận!

Sau này anh nói: “Khi anh gọi cho em, sau khi em vội vã vào nhà - em đến ngay lập tức, em chỉ cần được thuyết phục.” Và anh cười. Cô ghét điệu cười này. Tại những thời điểm như thế, anh mang nụ cười thiểu não, và thiểu não một cách e dè, của tay trác táng, đóng vai một kẻ trác táng để anh có thể tự cười chính mình. Nhưng cả hai nét ấy đều đúng với anh cả, Ella cảm thấy vậy, bởi vì lời phàn nàn của anh là thật. Và do vậy tại những thời điểm như thế, trước hết cô sẽ mỉm cười với anh, với hành động nhại lại kẻ trác táng của anh và sau đó nhanh chóng đổi đề tài. Cứ như thể tại những thời điểm đó anh mang một nhân cách không phải của anh. Cô tin là nó không phải của anh. Nó ở một cấp độ khác hẳn, không những chẳng liên quan gì đến sự đơn giản và nhẹ nhàng khi họ ở bên nhau mà còn trái ngược tới mức cô không còn cách nào khác ngoài việc lờ nó đi. Nếu không cô sẽ phải chia tay anh.

Họ không đi xem phim mà đến quán cà phê. Anh lại kể chuyện về công việc ở bệnh viện. Anh có hai công việc tại hai bệnh viện khác nhau. Một cái là bác sĩ tư vấn tâm lý. Cái còn lại là tái tổ chức. Như lời anh nói: “Anh đang cố gắng biến một cái hang rắn thành cái gì đó văn minh hơn. Vậy thì anh phải chiến đấu với ai? Công chúng ư? Không hề, chính là bọn bác sĩ lỗi thời…” Chuyện của anh có hai đề tài. Một là sự phô trương rởm đời của giới quản lý cỡ trung trong ngành y. Ella nhận ra rằng tất cả những lời chỉ trích của anh đều xuất phát từ quan điểm giai cấp thuộc loại đơn giản nhất, ẩn trong những gì anh nói, mặc dù anh không nói ra, là ý nghĩ: ngu ngốc và thiếu óc tưởng tượng là đặc trưng của tầng lớp trung lưu, và rằng thái độ của anh, tiến bộ và khai phóng, có được là nhờ anh thuộc giai cấp lao động. Đây cũng chính là quan điểm mà Julia dùng để nói chuyện và Ella phê bình bác sĩ West. Nhưng đã có mấy lần cô thấy mình cứng người vì căm giận, cứ như cô mới là người bị phê bình; và khi điều này xảy ra, cô lại viện đến những năm tháng ở căng tin, và nghĩ rằng nếu không có trải nghiệm đó chắc bây giờ cô không thể nhìn giới thượng lưu của đất nước này, từ bên dưới, qua đôi mắt của các cô gái xí nghiệp, giống như bao nhiêu con cá lạ lùng nhìn qua đáy bể cá. Chủ đề thứ hai của Paul là một thứ hoàn toàn đối lập với chủ đề đầu tiên, thể hiện bằng việc toàn bộ cá tính của anh thay đổi khi đề cập đến nó. Anh kể những câu chuyện phê phán lúc này bằng giọng đầy vẻ mỉa mai ác ý một cách thích thú. Nhưng khi nói về bệnh nhân thì anh lại nghiêm túc. Thái độ của anh cũng giống như cô đối với “các bà Brown” - họ đã bắt đầu gọi chung những người viết thư nhờ cô giúp đỡ bằng tên này. Anh nói về họ bằng vẻ ân cần cực kỳ nhã nhặn, cùng tình thương bực bội. Bực là bực sự vô vọng của họ.

Giờ thì cô thích anh đến nỗi đối với cô, trường đoạn trên cánh đồng dường như không hề xảy ra. Anh đưa cô về nhà và theo cô vào sảnh, vẫn nói. Họ đi lên cầu thang, và Ella nghĩ: Mình nghĩ là cả hai sẽ uống chút cà phê rồi anh sẽ về. Cô đã thành thật tin như vậy. Vậy mà, khi anh lại làm tình với cô, cô lại nghĩ: Ừ, như thế là đúng, bởi vì cả hai đã thân mật đến thế suốt cả buổi tối rồi cơ mà. Về sau, khi anh phàn nàn: “Tất nhiên là em biết anh sẽ lại làm tình với em,” cô trả lời: “Tất nhiên là em không biết. Và nếu anh không làm thì cũng đâu có sao.” Nghe vậy hoặc là anh trả lời: “Ồ, đúng là đồ đạo đức giả!” hoặc: “Vậy thì em chẳng có quyền ngu ngơ đến thế về động cơ của mình.”

Ở cùng Paul Tanner đêm hôm đó là trải nghiệm sâu sắc nhất mà Ella từng có với đàn ông, khác hẳn so với bất cứ điều gì cô từng biết trước đó đến nỗi mọi thứ trong quá khứ đều trở nên không liên quan. Cảm giác này mang tính quyết định tới mức, khi đến sáng sớm hôm sau Paul hỏi: “Julia nghĩ gì về những chuyện kiểu này?” Ella trả lời một cách mơ hồ: “Chuyện kiểu gì?”

“Tuần trước chẳng hạn. Em bảo là em đưa đàn ông về nhà sau bữa tiệc.”

“Anh điên rồi,” cô nói, cười một cách sảng khoái. Họ nằm trong bóng tối. Cô quay đầu nhìn mặt anh; cái gò má đen thẫm nổi bật trên nền ánh sáng rọi tới từ cửa sổ; có vẻ gì đó vừa xa xôi vừa cô độc, và cô nghĩ: Anh lại rơi vào trạng thái lúc trước rồi. Nhưng lần này điều đó không làm cô khó chịu, vì vẻ giản dị trong cái cử chỉ ấm áp khi đùi anh chạm vào đùi cô khiến cho sự xa xôi trên gương mặt anh trở nên chẳng liên quan gì cả.

“Nhưng Julia bảo sao?”

“Về cái gì?”

“Sáng hôm sau cô ấy sẽ nói gì?”

“Sao cô ấy lại phải nói gì?”

“À, anh hiểu rồi,” anh nói ngắn gọn; rồi nhỏm dậy và nói thêm: “Anh phải về nhà cạo râu và thay áo sạch.”

Tuần đó đêm nào anh cũng đến với cô, muộn, khi Michael đã ngủ. Rồi sáng nào anh cũng về sớm, để “lấy áo sạch”.

Ella vô cùng hạnh phúc. Cô buông thả mình theo cái dòng chảy không-nghĩ-ngợi. Khi Paul nói điều gì đó từ “nhân cách tiêu cực của anh”, cô chắc chắn về những cảm xúc của mình đến nỗi đáp lại: “Ồ, anh thật ngu ngốc, em bảo anh rồi, anh chả hiểu gì hết.” (Từ tiêu cực là của Julia, được dùng sau khi cô nhìn thấy Paul ở cầu thang và nhận xét: “Cái mặt này có điều gì đó cay đắng và tiêu cực.”) Cô nghĩ rằng anh sẽ nhanh chóng cưới cô. Hoặc có thể không nhanh lắm. Phải là một thời điểm nào đó phù hợp, và khi thời điểm đó tới anh sẽ biết. Chắc hẳn cuộc hôn nhân của anh không phải là một cuộc hôn nhân, nếu anh có thể ở cùng cô, hết đêm này đến đêm khác, chỉ đến sáng mới về nhà “để lấy áo sạch”.

Ngày Chủ nhật tiếp theo, một tuần sau lần đầu tiên họ đi chơi ở vùng quê, Julia lại đưa cậu bé đi gặp bạn bè, và lần này Paul đưa Ella đến Kew. Họ nằm trên bãi cỏ đằng sau hàng đỗ quyên, cây cối trên đầu họ, mặt trời rắc nắng lên người họ. Họ nắm tay nhau. “Em thấy đấy,” Paul nói, với vẻ nhăn nhó của một kẻ trác táng, “chúng ta cứ như một cặp vợ chồng già - chúng ta biết là đêm nay sẽ làm tình trên giường, vì vậy bây giờ chúng ta chỉ nắm tay mà thôi.”

“Nhưng thế thì sao nào?” Ella vui vẻ hỏi.

Anh cúi người nhìn mặt cô. Cô mỉm cười với anh. Cô biết là anh yêu cô. Cô thấy hết sức tin tưởng ở anh. “Thế thì sao ư?” anh nói bằng vẻ tuyệt vọng hài hước. “Thật kinh khủng. Anh với em như thế này ở đây…” Họ như thế nào được phản ánh trên gương mặt và đôi mắt anh, ấm áp trên khuôn mặt cô… “Và cứ thử xem sẽ ra sao nếu chúng ta cưới nhau.” Ella thấy mình lạnh đi. Cô nghĩ: Chắc anh ấy không nói câu đó theo kiểu một tay đàn ông đang cảnh cáo người đàn bà đấy chứ? Chắc anh ấy không rẻ tiền đến vậy chứ? Cô nhìn thấy vẻ cay đắng quen thuộc trên mặt anh và nghĩ: Không, không phải, ơn Chúa, anh ấy đang tự đối thoại với bản thân. Và ánh sáng trong cô lại lóe lên. Cô nói: “Nhưng như anh đâu thể gọi là đã kết hôn. Anh không thể gọi như thế là kết hôn được. Anh không bao giờ gặp cô ấy.”

“Bọn anh cưới nhau khi cả hai đều mới hai mươi. Nên có luật cấm điều đó mới phải,” anh nói thêm, vẫn với vẻ hài hước tuyệt vọng đó, hôn cô. Anh nói, môi trên cổ họng cô: “Em thật khôn ngoan khi không kết hôn, Ella ạ. Hãy cứ khôn ngoan và giữ lấy tình trạng đó.”

Ella mỉm cười. Cô nghĩ: Và như vậy là rốt cuộc mình đã sai. Hành động đó đúng là nhằm muốn nói: Em không thể trông chờ quá nhiều ở anh. Cô cảm thấy mình hoàn toàn bị hắt hủi. Và anh vẫn nằm đặt hai bàn tay lên hai cánh tay cô, và cô có thể cảm nhận được hơi ấm của chúng qua cơ thể cô, còn mắt anh, ấm áp và đầy tình yêu dành cho cô, ở trên mặt cô chỉ mấy phân. Anh đang mỉm cười.

Đêm đó khi ở trên giường, làm tình với anh là một việc làm máy móc, cô chỉ thực hiện các chuyển động đáp lại theo thói quen. Đấy là một trải nghiệm khác hẳn so với các đêm trước. Dường như anh không biết điều đó, và sau đó họ nằm trong vòng tay nhau như thường lệ. Cô thấy ớn lạnh và mất tinh thần.

Ngày hôm sau cô nói chuyện với Julia, từ trước đến nay vốn vẫn luôn im lặng đối với việc Paul ở lại qua đêm. “Anh ấy đã kết hôn,” cô nói. “Anh ấy đã lấy vợ được mười ba năm. Vì đó là một cuộc hôn nhân nên ban đêm anh ấy không về nhà cũng chẳng có vấn đề gì. Hai con.” Julia nhăn mặt vẻ miễn bình luận và chờ đợi cô nói tiếp. “Vấn đề là, tớ không chắc chắn chút nào… và còn có Michael nữa.”

“Thái độ của lão đối với Michael thế nào?”

“Anh ấy chỉ mới gặp thằng bé có một lần, được một lát. Anh ấy vẫn thường ghé qua muộn - cậu biết rồi đấy. Và anh ấy đi khi Michael chưa tỉnh giấc. Để lấy áo sạch ở nhà.” Nghe đến đây Julia cười, và Ella cười cùng cô.

“Cô ta hẳn phải là một người đàn bà phi thường.” Julia nói. “Anh chàng có nói gì về cô ta không?”

“Anh ấy bảo họ cưới nhau lúc còn quá trẻ. Và rồi anh ấy đi lính, và khi quay về anh ấy cảm thấy mình như người lạ với cô ta. Theo như những gì tớ biết thì anh ấy chẳng làm gì khác ngoài việc ngoại tình từ lúc đấy đến giờ.”

“Nghe không hay lắm nhỉ,” Julia nói. “Cậu cảm thấy thế nào về anh ta?” Lúc đó, Ella không cảm thấy gì ngoài cảm giác tuyệt vọng đau đớn lạnh lẽo. Dẫu có muốn cô cũng không thể dung hòa hạnh phúc của họ với cái mà cô gọi là sự cay độc của anh. Cô mang một tâm trạng giống như hoảng sợ. Julia đang dò xét cô. “Tớ nghĩ, khi lần đầu tiên nhìn thấy anh ta, anh ta mang một gương mặt cực kỳ đau khổ.” “Anh ấy chả đau khổ chút nào,” Ella đáp nhanh. Rồi, nhìn thấy mình bảo vệ anh một cách bản năng và phi lý, cô bật cười chính mình và nói: “Ý tớ là đúng, trong anh ấy có cái đó, một kiểu cay đắng. Nhưng anh ấy còn có công việc và anh ấy thích nó. Anh ấy chạy nháo nhào từ bệnh viện này sang bệnh viện khác, kể đủ mọi câu chuyện tuyệt vời về nó, và rồi cách anh ấy nói về bệnh nhân - anh ấy quan tâm thực sự. Rồi khi ở với tớ, ban đêm, và dường như chẳng bao giờ anh ấy cần ngủ cả.” Ella đỏ mặt, ý thức được rằng mình đang khoe mẽ. “Đúng như vậy đấy,” cô vừa nói vừa nhìn nụ cười của Julia. “Và rồi buổi sáng anh ấy chạy vọt đi, dù trên thực tế là không hề ngủ chút nào, lấy áo và rồi có lẽ trao đổi đôi chút với vợ về chuyện này chuyện kia. Năng lượng. Năng lượng không thể đi kèm với đau khổ. Hoặc thậm chí là cay đắng, thực tế là vậy. Hai thứ đó chả liên quan gì với nhau cả.”

“Ồ, hừm,” Julia nói. “Nếu thế thì tốt nhất là cậu nên chờ xem chuyện gì xảy ra, đúng không?”

Đêm hôm đó Paul rất hài hước và dịu dàng. Cứ như thể anh đang xin lỗi vậy, Ella nghĩ. Nỗi đau của cô tan biến. Sáng hôm sau cô thấy mình đã hạnh phúc trở lại. Anh nói lúc mặc quần áo: “Tối nay anh không gặp em được, Ella ạ.” Cô nói, không hề sợ hãi: “Vâng, không sao.” Nhưng anh vừa cười vừa nói tiếp: “Dù sao đi nữa thì thỉnh thoảng anh cũng phải gặp các con chứ.” Nghe cứ như anh đang buộc tội cô đã cố tình không cho anh gặp chúng. “Nhưng em có cản anh đâu,” Ella nói. “Ồ, có, em có chứ, có chứ,” anh nói, gần như hát. Anh vừa cười vừa hôn phớt lên trán cô. Đấy là cách anh ấy hôn những người phụ nữ khác, cô nghĩ, khi anh rời bỏ họ mãi mãi. Đúng vậy. Anh ấy đâu có quan tâm đến họ, vì vậy anh ấy cười và hôn lên trán họ. Và bỗng nhiên một hình ảnh xuất hiện trong đầu cô, cô nhìn chằm chằm và thấy kinh ngạc. Cô thấy anh đặt tiền lên bệ lò sưởi. Nhưng anh không phải theo như cô biết, là loại đàn ông trả tiền cho phụ nữ. Nhưng cô có thể nhìn thấy anh, rõ ràng, đặt tiền lên bệ lò sưởi. Đúng vậy. Hình ảnh đó hiện ngầm trong thái độ của anh. Thái độ dành cho cô, Ella. Nhưng điều đó thì liên quan gì tới tất cả những giờ cả hai ở bên nhau, khi mỗi cái nhìn và cử chỉ của anh ấy đều bảo với mình là anh ấy yêu mình? (Vì việc Paul từng nói với cô, hết lần này đến lần khác, rằng anh yêu cô, không có nghĩa gì cả, hay nói đúng hơn là sẽ không có nghĩa gì cả nếu như điều đó không được xác nhận bằng cách anh chạm vào người cô cũng như hơi ấm giọng nói của anh.) Và bây giờ, khi ra về, anh nói, thoáng chút nhăn nhó cay đắng: “Vậy là tối nay em sẽ được tự do, Ella.” “Ý anh là sao, tự do?” “Ồ… tự do với các bạn trai khác của em; lâu nay em hờ hững với họ mà, đúng không?”

Cô đến phòng làm việc, sau khi đưa con đến trường mẫu giáo, cảm giác như cái lạnh vừa lọt vào xương, vào xương sống cô. Cô hơi run lên. Nhưng hôm đó ngày rất ấm. Đã mấy ngày rồi cô không liên lạc với Patricia, cô đã quá chìm đắm vào hạnh phúc. Giờ thì cô lại một lần nữa dễ dàng thông cảm với bà. Patricia kết hôn được mười một năm; rồi chồng bà bỏ bà đi theo một người khác trẻ hơn. Với đàn ông, bà giữ thái độ yếm thế một cách lịch thiệp, vui vẻ, dí dỏm. Điều này khiến Ella thấy khó chịu; nó lạ lẫm với cô. Patricia trạc ngũ tuần, sống một mình, có một cô con gái đã trưởng thành. Ella biết, bà là người can đảm. Nhưng Ella không thích nghĩ quá sâu về Patricia; đặt mình vào vị thế của bà, hoặc chỉ là đồng cảm, đồng nghĩa với việc có thể cô phải cắt đứt một khả năng nào đó cho bản thân mình. Hoặc là cô cảm thấy thế. Hôm nay Patricia nhận xét mấy câu vô cảm về một đồng nghiệp nam đang ly thân với vợ, và Ella cáu với bà. Sau đó cô trở lại phòng, xin lỗi, vì Patricia đã bị tổn thương. Ella luôn cảm thấy yếu thế với bà chị già này. Cô không quan tâm đến bà nhiều như Patricia quan tâm cô. Cô biết cô kiểu như là một biểu tượng đối với Patricia, phải chăng là cho tuổi trẻ của chính bà? (Nhưng Ella không muốn nghĩ về điều đó, rất nguy hiểm.) Giờ thì cô chủ tâm ở lại với Patricia, trò chuyện, kể chuyện cười, và buồn lòng khi thấy nước mắt của sếp mình. Cô nhìn thấy, rất rõ, một người đàn bà trung niên, thông minh, tốt bụng, tròn người, mặc quần áo từ mấy tờ tạp chí thời trang, như một kiểu đồng phục, mớ tóc quăn nhuộm màu đang bạc dần; và đôi mắt bà - cứng rắn trong công việc, dịu dàng với Ella. Khi đang ở cùng Patricia, cô nhận được điện thoại từ chủ bút của một trong mấy tờ tạp chí đã đăng truyện của cô. Anh ta hỏi cô có vướng bận gì không, có thể đi ăn trưa được không. Cô bảo có, lắng nghe trong đầu mình từ vướng bận. Trong mười ngày qua đúng là cô cảm thấy vướng bận, mất tự do. Giờ thì cô cảm thấy, hoàn toàn không phải tự do, mà là rời rạc, hoặc cứ như cô trôi dạt trên ý chí của một người khác - của Paul. Tay chủ bút này từng muốn ngủ với cô, và Ella từ chối. Giờ thì cô nghĩ rằng rất có thể cô sẽ ngủ với gã. Sao lại không cơ chứ? Có gì khác biệt đâu? Tay chủ bút này là một anh chàng thông minh, hấp dẫn, nhưng cứ nghĩ đến việc gã chạm vào người mình là cô khó chịu. Gã không có một chút hơi ấm bản năng nào dành cho phụ nữ, hay yêu thích phụ nữ, điều mà cô cảm thấy ở Paul. Và đây cũng là lý do tại sao cô sẽ ngủ với gã, bây giờ cô sẽ không thể để cho một gã đàn ông nào mà cô thấy hấp dẫn chạm vào mình. Nhưng có vẻ như dù thế nào thì Paul cũng không quan tâm; anh thường cười cợt về “anh chàng cô đưa về nhà từ bữa tiệc”, gần như thể là anh thích cô vì điều đó. Thế thì được thôi; được thôi - nếu như anh muốn thế, cô chả quan tâm chút nào nữa. Và thế là cô nhấc mình đi ăn trưa, trang điểm kỹ, với tâm trạng thách thức cả thế giới.

Bữa trưa như thường lệ - đắt đỏ; và cô thích thức ăn ngon. Anh ta thú vị; và cô thích cách anh ta nói chuyện. Cô dần trở lại sự hòa hợp trí tuệ quen thuộc giữa hai người và trong lúc đó, cô quan sát anh ta và nghĩ việc làm tình với anh ta là một điều không thể tưởng tượng được. Nhưng tại sao lại không chứ? Cô thích anh ta, phải không nào? Thế thì sao? Còn tình yêu? Nhưng tình yêu là ảo ảnh, là một từ thuộc về các tờ tạp chí phụ nữ, phụ nữ chắc chắn không thể sử dụng từ yêu với một người đàn ông không quan tâm đến việc cô ấy có ngủ với người đàn ông khác hay không. “Nhưng nếu định ngủ với người này, tốt nhất là mình nên làm điều gì đó.” Cô không biết phải làm thế nào; cô đã từ chối anh ta nhiều đến mức anh ta đinh ninh mình sẽ luôn bị từ chối. Sau khi ăn trưa xong, khi họ đang trên vỉa hè, Ella bỗng thấy nhẹ nhõm: vớ vẩn, tất nhiên là cô sẽ không ngủ với anh ta, bây giờ cô sẽ quay về phòng làm việc và chỉ thế thôi. Rồi cô thấy hai cô gái điếm trên ngưỡng cửa, và cô nhớ đến hình ảnh cô đã hình dung về Paul sáng hôm đó, vì vậy khi tay chủ bút nói: “Ella, anh ước sao…” thì cô ngắt lời anh ta bằng một nụ cười và nói: “Thì đưa em về nhà đi. Không, về chỗ anh, không phải về chỗ em.” Vì cô không chịu nổi việc có bất cứ người đàn ông nào khác ngoài Paul trên giường mình lúc này. Anh ta đã có vợ, vì vậy anh ta đưa cô đến căn hộ độc thân của mình. Nhà anh ta ở nông thôn, anh ta để vợ con ở đó, và sử dụng căn hộ này cho những cuộc phiêu lưu như vậy. Suốt trong lúc khỏa thân với tay chủ bút, Ella chỉ nghĩ đến Paul. “Chắc hẳn anh bị điên. Mình sẽ làm gì với một người điên đây? Anh thực sự nghĩ rằng mình có thể ngủ với người khác khi mình đang ở cùng anh hay sao? Không thể nào anh lại tin điều đó chứ.” Cùng trong lúc đó, cô đang cố tử tế hết mức với người đồng chí thông minh chuyên dùng những bữa trưa trí thức cùng cô. Anh ta gặp khó khăn, và Ella biết rằng đó là vì cô không thực sự muốn anh ta, vì vậy đây là lỗi của cô, mặc dù anh ta đang tự trách mình. Và do vậy nên cô quyết tâm giúp anh ta thỏa mãn, nghĩ rằng chẳng có lý do gì để khiến anh ta cảm thấy khó chịu chỉ vì cô đang phạm tội ngủ với một người mà cô không mảy may quan tâm… và khi xong xuôi, cô chỉ việc không tính đến sự việc này nữa. Nó chẳng có nghĩa lý gì cả. Tuy nhiên, cuối cùng cô đã cảm thấy bị bỏ rơi, dễ tổn thương, run rẩy muốn khóc và cực kỳ bất hạnh. Nỗi khao khát của cô, thực ra, lại hướng cả về Paul. Anh chàng ngày hôm sau lại gọi điện cho cô nói rằng đêm đó cũng không đến được. Và bây giờ Ella muốn có Paul đến nỗi cô tự nhủ điều đó chẳng mảy may có vấn đề gì với cô, tất nhiên là anh phải làm việc, hoặc phải về nhà thăm con.

Tối hôm sau họ gặp nhau với vẻ hết sức đề phòng, từ cả hai phía. Ít phút sau thì hết sạch, và họ lại bên nhau. Một lúc nào đấy trong đêm hôm đó anh nói: “Thật kỳ cục nhỉ, đúng là khi đã yêu một người thì chuyện ngủ với người khác chẳng có nghĩa lý gì cả.” Lúc đó cô không nghe thấy câu này - bên trong cô một cơ chế đã bắt đầu chạy ngăn không cho cô nghe thấy lời anh khi anh nói những câu có thể khiến cô không vui. Nhưng ngày hôm sau thì cô nghe thấy, những từ này đột nhiên trở lại trong đầu cô và cô lắng nghe chúng. Như vậy là suốt hai đêm đó anh đã thử với người khác, và có chung trải nghiệm giống như cô. Vì vậy bây giờ cô lại tràn đầy tự tin, và tin tưởng anh. Rồi anh bắt đầu hỏi cô về những gì cô đã làm trong suốt hai ngày đó. Cô bảo cô đi ăn trưa với tay chủ bút đã xuất bản một truyện của cô. “Anh đã đọc một truyện của em. Khá là hay.” Anh nói câu này với vẻ đau đớn, cứ như anh mong là câu chuyện đó dở. “Hơ, sao lại không cơ chứ?” cô hỏi. “Anh nghĩ đấy là George, chồng em?” “Một phần thôi, không phải tất cả.” “Thế còn tay chủ bút?” Trong một thoáng cô nghĩ mình sẽ nói: “Em đã có một trải nghiệm giống hệt như của anh vậy.” Rồi cô nghĩ: Nếu anh ấy có thể khó chịu với những thứ không bao giờ xảy ra thì anh ấy sẽ nói gì nếu mình bảo rằng mình đã thực sự ngủ với tay đó? Dù mình chẳng thực sự ngủ với tay đó, như thế không tính, hai việc đó hoàn toàn không giống nhau.

Về sau Ella đánh giá rằng việc họ “ở bên nhau” (cô không bao giờ sử dụng từ “cuộc tình”) đã bắt đầu từ khoảnh khắc đó - khi cả hai đều đã thử với người khác và thấy rằng những gì họ cảm nhận về nhau khiến cho những người khác trở nên chẳng liên quan gì nữa. Đấy là lần duy nhất cô từng phản bội Paul, mặc dù cô không coi đó là chuyện quan trọng. Nhưng cô khổ sở với việc mình đã làm bởi vì nó trở thành một dạng kết tinh cho tất cả những lời buộc tội sau này của anh dành cho cô. Sau đó gần như đêm nào anh cũng đến với cô, và khi anh không đến cô biết nguyên nhân không phải là do anh không muốn. Anh đến khuya, do công việc, và do con cái. Anh giúp cô xử lý những bức thư của “bà Brown”, và điều này khiến cô rất vui - cùng nhau xử lý các vụ việc của những con người đó, và thỉnh thoảng cô có thể thực sự làm được cái gì đó cho họ.

Cô không nghĩ gì đến vợ anh. Ít ra là hồi đầu.

Mối lo duy nhất của cô, hồi đầu, là Michael. Cậu bé từng yêu thương bố đẻ của mình, nhưng giờ đây đã đi bước nữa và đang sống ở Mỹ. Hoàn toàn là tự nhiên khi đứa trẻ chuyển tình cảm ấy sang cho người đàn ông mới đến này. Nhưng Paul cứng người khi Michael vòng tay ôm lấy anh, hoặc chạy ào đến đón anh. Ella quan sát cảnh anh cứng người theo bản năng, cười gượng, và rồi đầu anh (cái đầu của người chữa trị linh hồn, cân nhắc xem làm thế nào để xử lý tình huống này tốt nhất) bắt đầu làm việc. Anh nhẹ nhàng gỡ tay Michael xuống, nhẹ nhàng nói với cậu bé, cứ như cậu đã trưởng thành rồi vậy. Và Michael đáp lại cử chỉ này. Ella thấy đau lòng khi chứng kiến cảnh cậu bé, từ chối thứ tình cảm đàn ông này, sẽ phản ứng bằng cách đóng vai người lớn, nghiêm túc, trả lời những câu hỏi nghiêm túc. Sự hồn nhiên trong tình cảm đã bị cắt đứt trong cậu. Cậu dành nó cho cô, ấm áp và nhanh nhẹn trong cử chỉ và lời nói, nhưng với Paul, với thế giới đàn ông, cậu bé hành xử một cách có trách nhiệm, điềm tĩnh, chín chắn. Đôi lúc Ella có chút hoảng sợ. Mình đang làm hại Michael, thằng bé sẽ bị hại. Thằng bé sẽ không bao giờ có phản ứng ấm áp một cách tự nhiên với đàn ông nữa. Và rồi cô lại nghĩ: Nhưng mình chả tin lắm. Nếu mình hạnh phúc, điều đó hẳn sẽ tốt cho thằng bé, nếu rốt cuộc mình cũng được làm một người phụ nữ thực thụ, điều đó hẳn sẽ tốt cho thằng bé. Và vì vậy Ella không lo lắng nhiều, bản năng mách bảo cô vậy. Cô thả mình vào tình yêu Paul dành cho cô, và không nghĩ ngợi. Mỗi khi thấy mình nhìn mối quan hệ này từ bên ngoài, như cách những người khác có lẽ sẽ đánh giá, cô thấy sợ hãi và hoài nghi. Vì vậy cô không nghĩ. Cô sống ngày nào biết ngày đó, và không nhìn xa làm gì.

Năm năm.

Nếu tôi định viết cuốn tiểu thuyết này, đề tài chính, hay mô típ, sẽ bị chôn vùi, lúc đầu là thế, và dần dần mới trồi lên. Mô típ vợ Paul - người thứ ba. Ban đầu Ella không nghĩ về cô ta. Sau đó cô phải nỗ lực để khỏi phải nghĩ về cô ta. Đến một lúc, cô biết thái độ của mình đối với người đàn bà bí mật này thật đáng khinh, đó là khi cô thấy đắc thắng trước cô ta, vui sướng vì cô đã giành được Paul từ tay cô ta. Khi Ella bắt đầu nhận ra cảm xúc này, cô sợ hãi và xấu hổ đến nỗi giấu biệt nó đi, rất nhanh. Nhưng hình bóng của người thứ ba lại lớn lên, và Ella không thể không nghĩ ngợi. Cô nghĩ rất nhiều về người đàn bà vô hình mà Paul quay về (và là người anh luôn quay về), và bây giờ không phải vì đắc thắng nữa, mà là vì ghen tị. Cô ghen tị với cô ta. Dần dần, miễn cưỡng, cô dựng lên trong đầu mình hình ảnh về một người đàn bà bình thản, điềm tĩnh, không ghen tuông, không ganh tị, không đòi hỏi, có thể tự tạo ra hạnh phúc cho bản thân, độc lập, nhưng luôn sẵn sàng cho đi hạnh phúc khi được hỏi xin. Ella hiểu ra (nhưng là mãi về sau, cách đó khoảng ba năm) rằng thật phi thường là một hình ảnh như vậy lại thành hình trong cô, vì nó chẳng mang dấu vết gì từ những điều Paul kể về vợ. Vậy hình ảnh này xuất phát từ đâu? Dần dà, Ella nhận rằng đây chính là cái cô muốn ở mình, người đàn bà tưởng tượng kia là cái bóng của chính cô, là tất cả những gì cô không có. Bởi vì bây giờ cô đã biết, và thấy sợ hãi, rằng cô quá phụ thuộc vào Paul. Từng phần trong cô đều quyện vào với anh, và cô không thể hình dung nổi cảnh sống thiếu anh. Chỉ riêng ý nghĩ không có anh đã tạo nên một nỗi sợ đen tối lạnh lẽo vây lấy cô, vì vậy cô không nghĩ tiếp nữa. Và cô nhận thấy cô đang bám lấy hình bóng người đàn bà đó, người thứ ba, như một chốn an toàn của cô.

Mô típ thứ hai trên thực tế chính là một phần của cái thứ nhất, mặc dù phải đến cuối cuốn tiểu thuyết mới thể hiện ra - sự ghen tuông của Paul. Cơn ghen tăng lên, và gắn liền với nhịp điệu rút lui chậm rãi của anh. Anh buộc tội cô, nửa cười cợt, nửa nghiêm túc, là đã ngủ với người khác. Trong quán cà phê, anh buộc tội cô đánh mắt với một người đàn ông mà thậm chí cô không hề để ý thấy. Ban đầu, cô cười anh. Về sau, cô thấy cay đắng, nhưng luôn luôn kìm nén cảm giác cay đắng, như vậy quá nguy hiểm. Rồi, khi cô bắt đầu hiểu ra hình ảnh mà cô tạo ra về người đàn bà bình thản, v.v. đó, cô thắc mắc về cơn ghen của Paul và bắt đầu muốn hiểu rõ nó - không phải vì cay đắng, mà vì thực sự muốn hiểu cô hiểu ra rằng cái bóng của Paul, người thứ ba tưởng tượng của anh, là một tay trác táng căm ghét chính mình, tự do, hờ hững, vô tâm. (Đây là cái vai mà đôi khi anh vẫn đóng với cô bằng vẻ tự chế giễu.) Vậy điều đó có nghĩa là khi dành thời gian ở bên Ella, trong một mối quan hệ nghiêm túc, tay trác táng trong anh bị đuổi đi, bị đẩy sang một bên, và giấu mình trong nhân cách của anh, tạm thời không được dùng đến, chờ ngày trở lại. Và bây giờ Ella nhìn thấy, bên cạnh người đàn bà khôn ngoan, bình thản, điềm tĩnh, cái bóng của cô, là hình bóng của người đàn ông lăng nhăng ghét chính mình. Hai nhân vật lạc điệu này đi bên nhau, sánh bước với Ella và Paul. Và rồi đến một lúc (nhưng ở tận cuối cuốn tiểu thuyết này, lúc cao trào) Ella nghĩ: “Cái bóng của Paul, người đàn ông mà anh thấy ở mọi nơi, ngay cả trong một người đàn ông mà thậm chí mình không hề để ý thấy, là tay trác táng như bước ra từ ca kịch hài này. Như vậy điều đó có nghĩa là Paul đang dùng cái tôi ‘tích cực’ của anh khi ở với mình.” (Từ của Julia.) “Với mình thì anh tốt. Nhưng mình lại mang theo hình bóng một người phụ nữ tốt, trưởng thành và không vặn hỏi. Điều đó có nghĩa là mình đang dùng cái tôi ‘tiêu cực’ với anh. Như vậy cảm giác cay đắng mà mình cảm thấy đang lớn dần trong mình, vì anh, là một phiên bản cợt nhạo của sự thật. Trên thực tế, anh tốt hơn mình, trong mối quan hệ này. Những nhân vật vô hình luôn đi theo chúng mình suốt đã chứng minh điều đó.”

Những mô típ bổ trợ. Tiểu thuyết của cô. Anh hỏi cô đang viết gì và cô nói cho anh biết. Một cách dè dặt, bởi vì giọng anh luôn đầy vẻ nghi ngờ khi nhắc đến việc viết lách của cô. Cô nói: “Đây là tiểu thuyết viết về chuyện tự tử.”

“Thế em biết gì về tự tử?”

“Chả biết gì, em cứ viết thế thôi.” (Với Julia, cô kể những câu chuyện cười cay đắng về chuyện Jane Austen giấu tiểu thuyết dưới giấy thấm khi mọi người vào phòng, trích châm ngôn của Stendhal rằng bất cứ người phụ nữ nào dưới năm mươi tuổi mà viết tiểu thuyết thì nên dùng bút danh.)

Trong mấy ngày sau đó, anh kể cho cô nghe chuyện về các bệnh nhân muốn tự tử của anh. Phải mất một lúc lâu cô mới hiểu rằng anh làm việc này là vì anh nghĩ cô quá ngây thơ, khờ khạo nên không thể viết được về tự tử. (Và thậm chí cô cũng đồng ý với anh.) Anh đang hướng dẫn cô. Cô bắt đầu giấu anh công việc của mình. Cô bảo thậm chí cô không quan tâm đến việc “làm một nhà văn, cô chỉ muốn viết cuốn sách, để xem điều gì sẽ xảy ra”. Điều này dường như thật vớ vẩn với anh, và chẳng mấy chốc anh bắt đầu phàn nàn rằng cô đang dùng kiến thức chuyên môn của anh để lấy thực tế cho cuốn tiểu thuyết.

Mô típ Julia. Paul không thích mối quan hệ giữa Ella với Julia. Anh coi đây là một liên minh chống lại anh, và hay đưa ra những câu đùa có tính chuyên môn về khía cạnh đồng tính nữ của mối quan hệ này. Nghe vậy Ella bảo rằng trong trường hợp đó, tình bạn của anh với đàn ông là gay hay sao? Nhưng anh bảo cô chả có tí óc hài hước nào cả. Ban đầu bản năng của Ella là hy sinh Julia vì Paul; nhưng về sau cô và Julia đã chuyển hướng, bắt đầu trở nên phán xét Paul. Họ nói với nhau những câu chuyện từng trải, với một cái nhìn cặn kẽ đầy phán xét, ngấm ngầm phán xét cánh đàn ông. Nhưng Ella không coi điều này là phản bội lại Paul, bởi vì câu chuyện của họ thuộc về một thế giới hoàn toàn khác; thế giới của những nhận định từng trải chẳng liên quan gì đến tình cảm cô dành cho Paul.

Mô típ tình mẫu tử của Ella đối với Michael. Cô luôn đấu tranh để Paul trở thành bố của cậu bé và lần nào cũng thất bại. Và Paul nói: “Em rồi sẽ vui vì điều này, em sẽ thấy là anh nói đúng.” Câu này chỉ có một nghĩa duy nhất: Khi anh bỏ em, em sẽ thấy vui là anh đã không tạo ra một mối quan hệ gần gũi với con em. Và vì vậy Ella quyết định không nghe thấy nó.

Mô típ thái độ của Paul với nghề nghiệp. Anh bị chia đôi trong vấn đề này. Anh nghiêm túc với bệnh nhân của mình, nhưng nhạo báng những từ ngữ chuyên môn mà anh sử dụng. Anh thường kể chuyện về một bệnh nhân, đầy vẻ tinh tế và sâu sắc, nhưng sử dụng thứ ngôn ngữ của văn chương và cảm xúc. Rồi anh sẽ đánh giá câu chuyện đó bằng thuật ngữ phân tâm học, đem lại cho nó một chiều kích khác. Và rồi, năm phút sau, anh sẽ chế giễu, theo một cách thức vô cùng thông minh và mỉa mai, những thuật ngữ anh vừa mới dùng làm thước đo để đánh giá các tiêu chuẩn văn chương, những chân lý cảm xúc. Và tại mỗi thời điểm, trong mỗi nhân cách - con người của văn chương, con người của phân tâm học, hay con người nghi ngờ tất cả mọi hệ thống tư duy coi mình là câu trả lời tuyệt đối - anh sẽ nghiêm túc và mong Ella chấp nhận toàn bộ con người anh trong thời điểm đó; và anh rất ghét khi cô cố gắng kết nối các nhân cách này trong anh.

Cuộc sống chung của họ bắt đầu đầy rẫy những cụm từ và biểu tượng. “Bà Brown” ám chỉ các bệnh nhân của anh và những người phụ nữ nhờ cô giúp đỡ.

“Bữa trưa văn chương của em” là cụm từ của anh để chỉ việc cô thiếu chung thủy, có lúc được sử dụng một cách hài hước, có lúc nghiêm túc.

“Chuyên luận của em về tự tử.” Cuốn tiểu thuyết của cô, thái độ của anh đối với nó.

Và một cụm từ nữa ngày càng trở nên quan trọng, mặc dù ban đầu khi anh sử dụng thì cô không biết rằng nó phản ánh thái độ ăn sâu trong anh đến mức nào. “Cả hai chúng ta đều là những kẻ vần đá lên núi(16).” Đây là cụm từ anh dùng để chỉ những gì anh coi là thất bại của bản thân. Anh đấu tranh để thoát khỏi nền tảng nghèo khó, giành được học bổng, đạt được học vị cao nhất trong ngành y học, xuất phát từ tham vọng được trở thành một nhà khoa học sáng tạo. Nhưng giờ thì anh biết anh sẽ không bao giờ trở thành cái nhà khoa học đột phá ấy. Và nhược điểm này một phần là do điều tốt đẹp nhất trong anh gây ra, tình thương trọn đời, không mệt mỏi anh dành cho kẻ nghèo khổ, kẻ dốt nát và bệnh tật. Lúc lẽ ra phải chọn thư viện hoặc phòng thí nghiệm, anh lại chọn kẻ yếu. Bây giờ thì anh không bao giờ trở thành người khai phá hoặc người mở toang ra những cánh cửa chưa ai mở được nữa. Anh đã trở thành con người đấu tranh chống lại tay giám thị y tế phản động thuộc tầng lớp trung lưu, vốn chỉ muốn phòng bệnh luôn khóa kín và bệnh nhân phải luôn mặc áo trói(17). “Em và anh, Ella ạ, chúng ta là những kẻ thất bại. Chúng ta đem đời mình ra đấu tranh để giúp những người dốt hơn chúng ta một chút xíu chấp nhận những thực tế mà các vĩ nhân luôn biết. Họ đã biết từ ngàn năm nay rằng nhốt người ốm vào buồng biệt giam chỉ khiến cho anh ta thêm tồi tệ mà thôi. Họ đã biết từ ngàn năm nay rằng người nghèo nào sợ hãi ông chủ và cảnh sát thì đều là nô lệ. Họ biết. Chúng ta biết. Nhưng liệu quần chúng đông đảo được khai sáng của nước Anh có biết hay không? Không. Nhiệm vụ của chúng ta, em và anh, là bảo cho họ biết, Ella ạ. Bởi vì các vĩ nhân quá vĩ đại nên không buồn để tâm. Họ đã khám phá ra cách đưa người lên sao Kim sống và làm hệ thống tưới tiêu cho Mặt trăng. Đấy là điều quan trọng trong thời đại của chúng ta. Em và anh là những kẻ vần đá lên núi. Cả đời mình, em và anh, chúng ta sẽ dành trọn sức lực, dành trọn tài trí, để vần một tảng đá khổng lồ đi ngược lên đỉnh núi. Tảng đá là thực tế mà các vĩ nhân biết được nhờ bản năng, còn ngọn núi đó là ngu ngốc của người đời. Chúng ta vần tảng đá đó. Đôi khi anh ước rằng mình đã chết trước khi nhận cái công việc anh đã vô cùng khao khát này - anh đã nghĩ rằng nó là một cái gì đó có tính sáng tạo. Anh đã dùng thời gian của mình vào việc gì? Bảo với bác sĩ Shackerly, một người Birmingham nhỏ bé sợ sệt luôn ức hiếp vợ do không biết làm thế nào để yêu thương phụ nữ, rằng ông ta phải mở rộng cửa bệnh viện của mình, không được nhốt người bệnh tội nghiệp trong xà lim tối đen với bốn bức tường bọc nệm trắng, và rằng áo trói là điều ngu xuẩn. Đấy là cách anh sử dụng thời gian của anh. Và điều trị những căn bệnh gây ra bởi một xã hội ngu xuẩn tới mức… Còn em, Ella ạ. Em bảo với các bà vợ của đám công nhân, những người cũng tốt chẳng kém gì chủ của họ, rằng hãy sử dụng những phong cách và đồ đạc được thời thượng hóa nhờ đám kinh doanh chuyên kiếm tiền bằng sự đua đòi của người đời. Và em bảo với những phụ nữ nghèo khổ, nô lệ cho sự ngu xuẩn của mọi người, hãy ra ngoài tham gia các nhóm hoạt động xã hội hoặc kiếm một thú vui lành mạnh nào đó, để tạm gác sang một bên cái thực tế là họ không được yêu thương. Và nếu như cái thú vui lành mạnh kia không có tác dụng, mà cũng chả có lý do gì khiến nó phát huy tác dụng cả, họ sẽ trở thành bệnh nhân ngoại trú của anh… Anh ước gì mình đã chết từ trước, Ella ạ. Anh ước gì mình đã chết từ trước. Không, tất nhiên là em không hiểu điều đó, nhìn mặt em anh có thể thấy được là em không hiểu…”

Lại là cái chết. Cái chết đi ra khỏi tiểu thuyết của cô và đi vào đời cô. Nhưng lại là cái chết ở dưới dạng năng lượng, vì con người này làm việc như một người điên, xuất phát từ một tình thương giận dữ, cái con người bảo rằng ước gì mình đã chết này lại không bao giờ chịu ngừng giúp đỡ những người vô vọng.

Cứ như thể cuốn tiểu thuyết này đã viết xong và tôi đang đọc nó vậy. Và bây giờ khi nhìn lại tổng thể, tôi thấy một chủ đề khác mà lúc bắt đầu tôi không nhận ra. Chủ đề này là sự ngây thơ. Từ lúc Ella gặp Paul và yêu anh, từ lúc cô dùng từ yêu, sự ngây thơ ra đời.

Và do vậy nên bây giờ, khi nhìn lại mối quan hệ giữa tôi với Michael (tôi lấy tên người tình thật sự của mình đặt cho đứa con hư cấu của Ella cùng nụ cười nho nhỏ, háo hức thái quá xuất hiện trên gương mặt bệnh nhân khi cung cấp loại bằng chứng mà nhà phân tâm đang chờ đợi nhưng người bệnh lại tin là không liên quan), tôi nhìn thấy trên hết là sự ngây thơ của mình. Bất cứ người thông minh nào cũng đều thấy trước được cái kết của cuộc tình này ngay từ đầu. Vậy mà tôi, Anna, giống như Ella với Paul, lại không chịu thấy. Paul đã sinh ra Ella, cô Ella ngây thơ. Anh hủy diệt đi Ella hiểu biết, nghi ngờ, từng trải trong cô và hết lần này đến lần khác anh ru ngủ lý trí của cô, và cô sẵn sàng nhắm mắt làm ngơ, trôi dạt một cách tăm tối trong tình yêu cô dành cho anh, trong sự ngây thơ của cô, vốn là cách gọi khác của niềm tin sáng tạo bột phát. Và khi sự nghi ngờ anh dành cho bản thân hủy diệt người-đàn-bà-đang-yêu này, khiến cho cô bắt đầu suy nghĩ, cô sẽ đấu tranh để trở lại với sự ngây thơ.

Bây giờ, khi bị đàn ông hấp dẫn, tôi có thể đánh giá chiều sâu của mối quan hệ khả dĩ với người đó theo mức độ mà cô Anna ngây thơ được tái tạo trong tôi.

Thỉnh thoảng khi tôi, Anna, nhìn lại, tôi muốn cười lên thật to. Đây là tiếng cười hoảng sợ, ghen tị của hiểu biết trước ngu ngơ. Giờ thì tôi không có khả năng để tin như thế nữa. Tôi, Anna, sẽ không bao giờ bắt đầu một cuộc tình với Paul. Hay Michael. Hay nói đúng hơn, tôi sẽ bắt đầu một cuộc tình, chỉ thế thôi, và biết đích xác điều gì sẽ xảy ra, tôi sẽ cố tình bắt đầu một mối quan hệ khô cằn, giới hạn.

Điều Ella mất đi trong năm năm đó là sức mạnh sáng tạo thông qua sự ngây thơ.

Kết thúc cuộc tình. Mặc dù đây không phải là từ mà Ella dùng lúc đó. Về sau cô mới dùng, một cách cay đắng.

Lần đầu tiên Ella hiểu ra rằng Paul đang rút lui khỏi cô là lúc cô nhận ra anh không giúp cô xử lý đám thư từ nữa. Anh nói: “Lợi lộc gì chứ? Anh đối phó với bà góa phụ Brown suốt ngày ở bệnh viện. Anh chẳng làm được gì cả, thật đấy. Anh giúp người ta chỗ này chỗ khác. Rốt cuộc thì lũ vần đá chẳng giúp được việc gì cả. Chúng ta tưởng tượng là chúng ta giúp được. Khoa tâm thần và công việc phúc lợi, chẳng khác nào là dán cao lên nỗi khổ không cần thiết.”

“Nhưng Paul, anh biết là anh giúp họ mà.”

“Anh cứ nghĩ suốt, chúng ta lạc hậu cả lũ. Loại bác sĩ nào mà lại coi bệnh nhân của mình là triệu chứng của một căn bệnh toàn thế giới?”

“Nếu đúng là anh thực sự cảm thấy như vậy thì anh đã không làm việc vất vả đến thế.”

Anh do dự, rồi tung ra cú đấm này: “Nhưng Ella ạ, em là bồ chứ không phải vợ anh. Sao em lại muốn anh chia sẻ những gì nghiêm túc về cuộc sống với em?”

Ella phát cáu. “Hằng đêm anh nằm trên giường em và kể cho em nghe mọi chuyện. Em là vợ anh.” Lúc nói vậy, cô biết mình đang ký tờ lệnh kết thúc. Dường như cô đã hết sức hèn nhát khi không nói ra từ trước. Anh đáp lại bằng cách khẽ cười vẻ bị xúc phạm, một cử chỉ rút lui.

Ella hoàn thành cuốn tiểu thuyết và được đồng ý xuất bản. Cô biết cuốn tiểu thuyết này cũng tốt, không quá đặc sắc. Nếu có người bảo đọc và nhận xét, cô sẽ nói rằng đây là một cuốn tiểu thuyết nhỏ, trung thực. Nhưng Paul đọc và châm biếm một cách văn hoa.

Anh nói: “Ôi, đàn ông bọn anh có lẽ phải rút lui khỏi cuộc sống thôi.”

Cô sợ hãi nói: “Ý anh là sao?” Nhưng cô cũng đồng thời bật cười, vì anh nói câu đó bằng giọng rất kịch, tự nhại chính mình.

Giờ thì anh vứt bỏ thái độ tự trào và nói bằng giọng hết sức nghiêm túc: “Ella thân mến ơi, em không biết cuộc cách mạng vĩ đại của thời chúng ta là gì ư? Cách mạng Nga, cách mạng Trung Quốc - mấy cái đó chẳng là gì cả. Cuộc cách mạng thực thụ là phụ nữ chống lại đàn ông.”

“Nhưng Paul ơi, điều đó chẳng có nghĩa lý gì với em cả.”

“Tuần trước anh xem phim, anh đi một mình, không mang em đi theo, một bộ phim dành cho một người đàn ông ở một mình.”

“Phim gì thế?”

“Em có biết là bây giờ phụ nữ có thể có con mà không cần đến đàn ông không?”

“Nhưng để làm quái gì?”

“Chẳng hạn như người ta có thể ướp đá buồng trứng của phụ nữ. Cô ta có thể có con. Đàn ông không còn cần thiết cho nhân loại nữa.”

Ella lập tức bật cười, tự tin. “Nhưng có đàn bà nào đầu óc bình thường mà lại muốn ướp đá buồng trứng thay vì có một người đàn ông?”

Paul cũng cười, “Nhưng Ella này, ngoài chuyện đùa vui ra thì nó còn là một tín hiệu của thời đại.”

Nghe vậy Ella thốt lên: “Lạy Chúa tôi, Paul, trong suốt năm năm qua nếu như có lúc nào đó anh bảo em có con thì em đã rất hạnh phúc.”

Một cử chỉ rút lui khỏi cô, vừa bản năng vừa thảng thốt. Rồi câu trả lời thận trọng, kèm theo một tiếng cười: “Nhưng Ella ạ, anh đang nói về mặt nguyên tắc. Đàn ông không còn cần thiết nữa.”

“Ồ, nguyên tắc,” Ella vừa cười vừa nói. “Anh điên rồi. Em vẫn bảo anh là điên mà.”

Nghe vậy anh đáp, giọng nghiêm túc: “Ừ, có thể em đúng. Em rất tỉnh táo, Ella ạ. Lúc nào cũng vậy. Em bảo anh điên. Anh biết. Càng lúc anh càng trở nên điên hơn. Đôi khi anh tự hỏi tại sao người ta không nhốt anh lại thay cho bệnh nhân của anh. Còn em thì càng lúc càng tỉnh táo. Đấy là sức mạnh của em. Rồi em sẽ ướp đá buồng trứng thôi mà.”

Nghe đến đây cô gào lên, đau đớn tới mức cô không còn quan tâm mình nói với anh bằng giọng thế nào nữa: “Đồ điên. Để tôi nói cho anh nghe tôi thà chết còn hơn có một đứa con bằng cách đó. Anh không biết rằng từ lúc quen anh đến giờ tôi vẫn muốn có con với anh hay sao? Từ lúc quen anh đến giờ mọi thứ vẫn sung sướng tới mức…” Cô nhìn thấy gương mặt anh, theo bản năng không tin những điều cô vừa nói. “Thôi được rồi. Nhưng cứ cho đây là lý do tại sao rốt cuộc anh sẽ hóa ra không cần thiết - bởi vì anh chả có chút lòng tin nào ở con người anh cả…” Bây giờ mặt anh có vẻ kinh ngạc và buồn bã, nhưng cô đang bị cuốn vào guồng nói nên không quan tâm. “Anh chả bao giờ hiểu nổi một điều đơn giản - nó đơn giản và bình thường tới mức tôi không hiểu tại sao anh lại không hiểu. Mọi thứ với anh vẫn luôn hạnh phúc, dễ dàng và vui vẻ, vậy mà anh nói về việc phụ nữ ướp đá buồng trứng. Đá. Buồng trứng. Thế nghĩa là sao? Vậy đấy, nếu anh muốn biến mất khỏi cõi đời này thì cứ việc, tôi chả quan tâm.” Nghe vậy anh vừa dang tay vừa nói. “Ella. Ella! Đến đây.” Cô đến bên anh, anh ôm cô, nhưng chỉ một lát anh đã trêu cô: “Nhưng em thấy đấy, anh nói đúng mà - chừng nào em công khai thừa nhận điều đó, em sẽ đẩy hết thảy chúng ta ra khỏi rìa trái đất và cười.”

Tình dục. Cái khó của việc viết về tình dục, đối với phụ nữ, là tình dục chỉ khoái thú khi người ta không nghĩ đến, không phân tích nó. Phụ nữ cố tình không nghĩ đến tình dục trên phương diện kỹ thuật. Họ trở nên cáu kỉnh khi đàn ông nói chuyện về điều đó, xuất phát từ bản năng tự bảo tồn: họ muốn bảo tồn cái cảm xúc bột phát vốn là điều kiện cơ bản cho sự thỏa mãn của họ.

Về cơ bản, với phụ nữ tình dục là cảm xúc. Điều này đã được viết bao nhiêu lần rồi? Vậy mà ngay cả với người đàn ông sâu sắc và thông minh nhất, vẫn luôn có lúc phụ nữ thấy anh ta qua hố sâu ngăn cách: anh ta không hiểu; cô bỗng thấy lẻ loi; vội vã quên đi khoảnh khắc đó, bởi vì nếu không cô sẽ phải nghĩ ngợi. Julia, tôi và Bob ngồi trong bếp nhà Julia buôn chuyện. Bob kể chuyện về một cuộc hôn nhân tan vỡ. Anh nói: “Vấn đề là tình dục. Thằng khốn tội nghiệp, chim nhỏ như cái kim.” Julia: “Tớ vẫn luôn nghĩ rằng cô ta không yêu cậu ấy.” Bob, nghĩ rằng cô nghe không rõ: “Không, cậu ấy lúc nào chả lo chết đi được, cái ấy bé tẹo.” Julia: “Nhưng cô ta chưa bao giờ yêu cậu ấy, chỉ cần nhìn họ bên nhau là bất cứ ai cũng đều thấy được điều đó.” Bob, lúc này đã trở nên hơi nôn nóng: “Đấy không phải lỗi của họ, bọn ngốc tội nghiệp, ngay từ đầu tự nhiên đã không thuận với chuyện của hai bọn họ rồi.” Julia: “Tất nhiên là lỗi của cô ta. Nếu không yêu thì cô ta không nên lấy cậu ấy.” Bob, phát cáu vì sự ngu ngốc của cô, bắt đầu giải thích dài dòng về mặt kỹ thuật, trong khi cô nhìn tôi, thở dài, mỉm cười và nhún vai. Mấy phút sau, vì anh cứ cố chấp, cô cắt ngang lời anh bằng một câu nói đùa cáu kỉnh, không cho anh nói tiếp.

Về phần tôi, Anna, có một thực tế đáng nói là đến khi ngồi xuống viết về đề tài này, tôi mới nhận ra mình chưa bao giờ phân tích xem chuyện tình dục giữa tôi và Michael như thế nào. Nhưng trong suốt năm năm đó đã có một sự phát triển cực kỳ rõ ràng, hiện ra trong ký ức của tôi giống như đường cong trên đồ thị.

Khi Ella làm tình với Paul lần đầu tiên, trong suốt mấy tháng đầu tiên, điều khẳng định cô yêu anh, và khiến cô có thể sử dụng từ này, là ngay lập tức cô đạt được cực khoái. Nghĩa là cực khoái âm đạo. Và nếu không yêu anh chắc cô đã không có được trải nghiệm này. Đây là thứ cực khoái tạo ra nhờ khao khát của người đàn ông với người phụ nữ, và niềm tin của anh vào nhu cầu đó.

Thời gian trôi đi, anh bắt đầu sử dụng các biện pháp máy móc. (Tôi nhìn từ máy móc - đàn ông sẽ không dùng từ đó.) Paul bắt đầu dựa nhiều vào việc xoa nắn cô bên ngoài, giúp Ella đạt cực khoái âm vật. Rất kích thích. Nhưng luôn có một phần trong cô ghét điều đó. Bởi vì cô cảm thấy rằng khi anh muốn như thế có nghĩa là anh có nhu cầu, một cách bản năng, không trao mình cho cô. Cô cảm thấy rằng, dẫu không biết đến hoặc không ý thức được (mặc dù có lẽ là anh ý thức được), anh sợ cảm xúc. Cực khoái âm đạo là cảm xúc và không phải là gì khác, cảm nhận mà nó đem lại giống như cảm xúc và thể hiện qua những cảm giác không khác với cảm xúc, cực khoái âm đạo là tan rã trong một cảm giác mơ hồ, tối tăm choán lấy toàn bộ cơ thể như bị cuốn theo một xoáy nước ấm. Có vài dạng cực khoái âm vật khác nhau, và chúng còn mang lại khoái cảm mạnh mẽ hơn (từ của đàn ông) cực khoái âm đạo. Có thể có tới hàng nghìn kiểu sướng khoái, cảm giác, v.v., nhưng chỉ có một loại cực khoái thực thụ ở phụ nữ và đấy là khi đàn ông, từ toàn bộ nhu cầu và khao khát của mình, chiếm đoạt người phụ nữ và muốn có trọn vẹn sự đáp ứng của cô. Tất cả những thứ khác đều chỉ là đồ thay thế và giả mạo, và ngay cả người phụ nữ thiếu kinh nghiệm nhất cũng cảm nhận được điều này nhờ bản năng. Trước Paul, Ella chưa bao giờ biết đến cực khoái âm vật, và cô bảo với anh như vậy, và anh thấy vui. “Ồ, ít ra thì em vẫn là trinh nữ trong một vấn đề nào đó, Ella.” Nhưng khi cô bảo với anh rằng chưa bao giờ cô biết đến cái cô nhất định gọi là “cơn cực khoái đích thực”, đến mức độ mãnh liệt được gần tương tự trước khi gặp anh, anh bất giác cau mày và nói: “Em có biết là có những nhà sinh lý học lỗi lạc nói rằng không có cơ sở vật lý nào cho cực khoái âm đạo ở phụ nữ không?” “Thế thì họ chả biết nhiều lắm, đúng không?” Và như vậy, thời gian trôi qua, tâm điểm trong việc họ làm tình chuyển từ cực khoái đích thực sang cực khoái âm vật, và đến lúc Ella nhận ra (và nhanh chóng dẹp đi ý nghĩ này) rằng cô không còn đạt được cực khoái đích thực nữa. Ngay trước khi kết thúc, khi Paul bỏ cô. Nói tóm lại, về mặt cảm xúc cô đã biết sự thật là gì khi đầu óc cô còn chưa chịu thừa nhận.

Cũng ngay trước khi chấm dứt, Paul nói với cô một điều (vì trên giường anh thích cô đạt cực khoái âm vật hơn) mà cô bỏ qua, coi như một triệu chứng khác của nhân cách phân liệt của anh - vì sắc thái câu chuyện, cách anh kể chuyện, ngược hẳn với những gì cô đang trải nghiệm với anh trên thực tế.

“Hôm nay ở bệnh viện có một chuyện chắc em sẽ thích,” anh nói. Họ đang ngồi trong chiếc xe tối đen đỗ bên ngoài nhà Julia. Cô dịch người vào gần anh, còn anh vòng tay ôm lấy cô. Cô có thể cảm nhận được người anh rung lên vì cười. “Như em biết đấy, cứ nửa tháng thì cái bệnh viện oai nghiêm của bọn anh lại giảng bài một lần để phổ biến kiến thức cho nhân viên. Hôm qua người ta thông báo rằng giáo sư Bloodrot sẽ giảng cho bọn anh nghe về cực khoái ở thiên nga mái.” Theo bản năng Ella dịch ra, anh kéo cô lại và nói: “Anh biết em sẽ làm vậy mà. Ngồi yên nghe nhé. Hội trường đầy ắp người - khỏi cần phải nói. Ông giáo sư đứng dậy, cả cái thân hình mét chín giống như một cái thước bị còng, bộ râu mỏng màu trắng phất phơ, và nói ông đã hoàn toàn chứng minh được rằng thiên nga mái không có cực khoái. Ông sẽ sử dụng khám phá khoa học hữu ích này làm cơ sở cho một cuộc thảo luận ngắn về bản chất của cực khoái ở nữ giới nói chung.” Ella phá lên cười. “Ừ, và anh biết em sẽ cười đúng lúc đó. Nhưng anh chưa kể xong. Khi nghe ông giáo sư nói thế, trong hội trường náo động cả lên. Mọi người đứng dậy ra về. Vị giáo sư đáng kính, vẻ khó chịu, bảo ông tin rằng đề tài này sẽ không xúc phạm đến bất cứ ai cả. Dù sao đi nữa thì nghiên cứu tình dục, một thứ khác hẳn với mê tín về tình dục, đang được tiến hành ở khắp mọi bệnh viện thuộc loại này trên khắp thế giới. Nhưng mọi người vẫn cứ ra về. Ai ra về? Toàn bộ phụ nữ. Có khoảng năm mươi nam giới và khoảng mười lăm phụ nữ. Và từng nữ bác sĩ một đều đứng dậy ra ngoài cứ như đang làm theo mệnh lệnh. Vị giáo sư của chúng ta rất hụt hẫng. Ông vểnh chòm râu be bé ra trước và nói rằng ông ngạc nhiên khi thấy các đồng nghiệp nữ, vốn được ông tôn trọng đến thế, lại có thể cổ hủ thẹn thùng đến vậy. Nhưng vô ích, chẳng còn một bóng nữ nào nữa cả. Thấy vậy, vị giáo sư của chúng ta hắng giọng và tuyên bố ông sẽ tiếp tục bài giảng, bất chấp thái độ đáng trách của các nữ bác sĩ. Theo ông, ông nói, dựa trên những nghiên cứu của ông về bản chất của thiên nga mái, không có cơ sở sinh lý nào cho việc đạt được cực khoái âm đạo ở phụ nữ… không, đừng dịch người đi, Ella, đúng là phụ nữ thật dễ đoán! Anh ngồi bên cạnh bác sĩ Penworthy, bố của năm đứa con, và anh ta nói thầm với anh rằng điều này rất lạ - thường thì vợ của ông giáo sư, một phụ nữ hết sức vì cộng đồng, vẫn có mặt tại các buổi nói chuyện nho nhỏ của chồng, nhưng hôm đó bà không tới. Đến đây thì anh có một hành động đi ngược lại giới tính của mình. Anh đi theo đám phụ nữ ra khỏi hội trường. Toàn bộ đã biến mất. Rất lạ, không còn thấy một người nào nữa. Nhưng cuối cùng thì anh cũng tìm thấy cô bạn cũ Stephanie, đang uống cà phê ở căng tin. Anh ngồi xuống bên cạnh cô ấy. Rõ ràng là cô ấy rất né tránh anh. Anh nói: ‘Stephanie, sao các bạn lại bỏ bài giảng then chốt về tình dục của giáo sư vĩ đại của chúng ta?’ Cô ấy mỉm cười với anh vừa thù địch vừa cực kỳ dịu dàng và nói: ‘Nhưng Paul thân mến ạ, phụ nữ có tí đầu óc nào cũng đều biết rõ, sau mấy thế kỷ vừa qua, là không nên ngắt lời khi đàn ông bắt đầu chỉ bảo mình nên cảm nhận thế nào về tình dục.’ Anh phải vất vả mất nửa tiếng cùng ba tách cà phê mới làm cho cô bạn Stephanie thích anh trở lại được.” Anh lại bật cười, ôm cô trong tay. Anh quay người nhìn mặt cô và nói: “Đúng vậy. Và cũng đừng có giận anh, chỉ vì anh có cùng giới tính với vị giáo sư - anh cũng bảo Stephanie như vậy đấy.” Cơn giận của Ella tan biến và cô bật cười với anh. Cô nghĩ: Đêm nay anh ấy sẽ lên nhà với mình. Cho đến cách đây không lâu thì gần như đêm nào anh cũng ở với cô, vậy mà giờ thì anh về nhà mỗi tuần hai ba đêm. Anh nói, dường như không ăn nhập vào đâu cả: “Ella này, em là người phụ nữ ít ghen nhất mà anh từng biết đấy.” Ella bỗng cảm thấy ớn lạnh, rồi hoảng hốt, và cơ chế phòng thủ làm việc rất nhanh: cô không hề nghe thấy điều anh nói, và hỏi: “Anh sẽ lên nhà với em chứ?” Anh đáp: “Anh đã định không lên. Nhưng nếu anh thực sự quyết định như vậy thì anh đã chẳng ngồi đây, đúng không?” Họ đi lên gác, tay nắm tay. Anh nói: “Không biết em và Stephanie sẽ đối xử với nhau thế nào nhỉ?” Cô nghĩ rằng cái nhìn của anh dành cho cô rất lạ, “cứ như anh ấy đang thử điều gì đó”. Cơn hoảng hốt trở lại trong khi cô nghĩ, mấy ngày này anh nói rất nhiều về Stephanie, chả lẽ… Rồi đầu óc cô mờ đi, và cô nói: “Nếu anh muốn thì em đã soạn sẵn một ít đồ ăn tối.”

Họ ăn, và anh nhìn sang phía cô rồi nói: “Em cũng nấu ăn rất ngon nữa chứ. Anh sẽ làm gì với em đây, Ella?”

“Điều anh đang làm lúc này thôi,” cô đáp.

Anh quan sát cô, bằng vẻ hài hước tuyệt vọng mà thời gian này cô rất thường xuyên thấy. “Và anh đã không thay đổi em được chút xíu nào cả. Ngay cả quần áo hay cách em làm tóc cũng vậy.” Đây là cuộc cãi lộn cứ diễn ra hết lần này đến lần khác giữa hai người. Anh cứ suốt ngày chỉnh lại tóc cô, kéo quần áo của cô thành kiểu khác, rồi nói: “Ella, sao em cứ nhất định phải giống như một bà giáo khó tính vậy? Có Chúa chứng giám, em chả giống thế chút nào.” Anh thường mang đến cho cô một chiếc áo xẻ sâu, hoặc chỉ cho cô chiếc váy trong cửa sổ hàng quần áo, và nói: “Sao em không mua cái váy như thế nhỉ?”

Nhưng Ella cứ tiếp tục buộc mái tóc đen ra đằng sau, và từ chối những món quần áo cá tính mà anh thích. Trong thâm tâm cô nghĩ: Anh ấy phàn nàn rằng mình không hài lòng với anh ấy nên mình muốn có người khác. Anh ấy sẽ nghĩ gì nếu mình bắt đầu mặc đồ khêu gợi? Nếu mình làm cho bản thân trở nên quyến rũ thì anh ấy sẽ không chịu nổi đâu. Như thế này là đã đủ tệ rồi.

Có lần cô vừa nói vừa cười anh: “Nhưng Paul ạ, anh là người đã mua cho em cái áo màu đỏ đó. Phần cổ áo được cắt sâu để khoe bầu ngực em. Nhưng khi em mặc nó, anh vào phòng và bước ngay đến rồi cài hết cúc lại - anh làm vậy một cách rất bản năng.”

Đêm nay anh đến chỗ cô, tháo tóc cô ra rồi thả cho nó buông xõa. Nhìn sát vào mặt cô, cau mày, anh tẽ ra mấy lọn thả trước trán rồi xếp quanh cổ cô. Cô để cho anh muốn làm gì thì làm, cứ thế lặng im dưới hơi ấm bàn tay anh, mỉm cười với anh. Bỗng nhiên cô nghĩ: Anh đang so sánh mình với người khác, anh có nhìn mình chút nào đâu. Cô dịch người ra, nhanh chóng, và anh nói: “Ella này, nếu em cho phép bản thân thì thực sự em có thể rất xinh đẹp đấy.”

Cô đáp: “Vậy anh nghĩ rằng em không đẹp sao?”

Anh nửa nhăn nhó nửa cười, rồi kéo cô nằm xuống giường. “Tất nhiên là không phải thế rồi,” anh trả lời. “Thế sao anh còn nói vậy,” cô nói, mỉm cười và tự tin.

Chính đêm hôm đó anh nói, gần như bâng quơ, rằng có người mời anh làm việc ở Nigeria, và đang nghĩ đến chuyện ra đi. Ella nghe thấy, nhưng gần như lơ đãng; tin vào cái giọng điệu bâng quơ anh dùng để nói về chuyện này. Rồi cô nhận ra một cái hố chán nản đã mở ra trong lòng mình và rằng cái kết đang tới. Nhưng cô vẫn kiên quyết nghĩ, “Thì điều đó sẽ giải quyết mọi chuyện. Mình có thể đi cùng anh ấy. Chẳng có gì giữ mình ở lại đây cả. Michael có thể đi học tại một ngôi trường nào đó ở đấy. Và mình có gì ở đây để giữ mình lại chứ?”

Đúng vậy. Nằm trong bóng tối, trong tay Paul, cô nghĩ rằng đôi cánh tay đó, qua năm tháng, đã chia tách cô với mọi người. Cô rất ít khi ra ngoài, bởi vì cô không thích ra ngoài một mình, và bởi vì ngay từ đầu cô đã chấp nhận rằng họ cùng nhau đi chơi sẽ có hại nhiều hơn lợi. Hoặc là Paul ghen, hoặc anh bảo anh lạc lõng giữa đám bạn văn chương của cô. Nghe vậy Ella nói: “Họ đâu phải là bạn, họ là người quen thôi.” Cô không có mối liên hệ thiết thân với bất kỳ ai ngoài con trai mình, Paul và Julia. Julia sẽ không bao giờ mất đi, đây là tình bạn trọn đời. Vì vậy nên lúc này cô nói: “Em có thể đi với anh được chứ?” Anh ngần ngừ, rồi vừa cười vừa trả lời: “Nhưng em đâu muốn từ bỏ toàn bộ những sự kiện văn chương thú vị của mình ở London?” Cô bảo anh rằng anh rất điên, rồi bắt đầu lên kế hoạch ra đi cùng anh.

Một hôm cô cùng anh về nhà anh. Vợ và con anh đang đi nghỉ. Họ vừa cùng nhau đi xem phim về, và anh bảo anh muốn lấy một chiếc sơ mi sạch. Anh đỗ xe bên ngoài một ngôi nhà nhỏ, nằm trong một dãy nhà giống nhau như hệt ở ngoại ô phía Bắc Shepherd’s Bush. Đồ chơi trẻ con nằm vương vãi trên một khoảnh vườn gọn gàng.

“Anh cứ nói suốt với Muriel về lũ trẻ,” anh nói, giọng cáu kỉnh. “Không thể để bọn nó vứt đồ đạc vương vãi như thế này được.”

Đến đây thì cô hiểu rằng đây là nhà anh.

“Vào một lát đi,” anh nói. Cô không muốn vào nhà, nhưng rồi cô vẫn đi theo anh. Tiền sảnh dán giấy hoa loại thông thường, có một cái tủ ly sẫm màu và một dải thảm xinh xắn. Vì một lý do nào đó, nơi này khiến Ella cảm thấy dịu lòng. Phòng khách lại thuộc một thời đại thẩm mỹ khác: có ba loại giấy dán tường khác nhau, còn rèm và nệm thì hết sức lạc điệu. Rõ ràng nó vừa mới được trang hoàng nên trông vẫn có vẻ như đang được trưng bày. Một cảnh tượng nản lòng, Ella theo Paul vào bếp trên đường anh đi tìm áo sơ mi sạch, lần này là một tờ tạp chí y học anh cần. Nhà bếp là căn phòng cũ nhất của ngôi nhà, rất tồi tàn. Nhưng một bức tường được dán giấy màu đỏ, vì vậy có vẻ như căn phòng này cũng đang trong quá trình thay đổi. Trên chiếc bàn ăn là một chồng tờ tạp chí Women at Home. Ella có cảm giác như vừa bị đấm thẳng vào mặt; nhưng tự nhủ rằng dù sao đi nữa thì cô cũng làm việc cho tờ tạp chí hợm hĩnh đáng ghê tởm này, vậy thì cô có quyền gì mà cười nhạo những người đọc nó? Cô tự nhủ rằng cô chẳng biết người đồng nghiệp nào ở tạp chí mà lại dồn hết tâm trí vào công việc cả; rằng có vẻ như ai nấy đều miễn cưỡng làm việc, hoặc là làm việc với thái độ giễu cợt, hoặc lơ đễnh, vì vậy cô cũng đâu có tồi tệ hơn người nào khác. Nhưng vô ích, trong góc bếp có một chiếc ti vi nhỏ, và cô hình dung vợ anh ngồi đó, hết đêm này sang đêm khác, đọc Women at Home hoặc nhìn ti vi và lắng nghe tiếng lũ trẻ trên gác. Paul thấy cô đứng đó, tay sờ đám tạp chí và xem xét căn phòng, bèn nói, bằng giọng hài hước một cách cay nghiệt quen thuộc của anh: “Đây là nhà cô ấy, Ella ạ. Phải theo ý cô ấy thôi. Chắc đây là điều tối thiểu anh có thể làm được.”

“Vâng, là cái tối thiểu.” “Đúng rồi. Chắc là ở trên gác,” rồi Paul ra khỏi nhà bếp và bắt đầu lên gác, nói vọng qua vai: “Thế thì có lên không?” Cô tự hỏi: Phải chăng anh ấy đang giới thiệu nhà cửa để thể hiện điều gì đó? Bởi vì anh ấy muốn nói với mình điều gì đó? Anh ấy không biết là mình ghét ở đây?

Nhưng một lần nữa cô lại ngoan ngoãn theo anh lên gác và vào phòng ngủ. Căn phòng này lại khác, và rõ ràng là nó đã trong tình trạng hiện tại từ rất lâu rồi. Có hai chiếc giường nằm ở hai bên chiếc bàn nhỏ gọn gàng, trên có đặt một bức ảnh lớn đóng khung của Paul. Các gam màu bao gồm xanh lá cây, vàng và đen, với rất nhiều đường sọc ngựa vằn trông đến là bồn chồn - kỷ nguyên “jazz” trong trang trí nội thất, hai mươi lăm năm sau khi nó ra đời. Paul đã tìm thấy tờ tạp chí của mình, ở trên chiếc bàn cạnh giường, và chuẩn bị rời đi. Ella nói: “Một ngày nào đó em sẽ nhận được thư do bác sĩ West đưa cho. ‘Bác sĩ Allsop thân mến. Xin hãy cho biết tôi cần phải làm gì. Gần đây ban đêm tôi toàn mất ngủ. Trước khi đi ngủ tôi vẫn uống sữa nóng và cố gắng thư giãn đầu óc, nhưng vô ích. Xin hãy tư vấn cho tôi, Muriel Tanner. T.B: Tôi quên không nói, chồng tôi đánh thức tổi dậy sớm, vào khoảng sáu giờ, khi về nhà sau ca làm việc khuya ở bệnh viện. Đôi khi cả tuần anh ấy không về nhà. Tôi xuống tinh thần lắm. Chuyện này xảy ra đã năm năm nay rồi’.”

Paul lắng nghe, mặt buồn bã, nghiêm túc. “Anh chẳng hề giấu giếm em,” cuối cùng anh nói, “rằng anh không tự hào lắm về bản thân trong vai trò làm chồng.”

“Vì Chúa, sao anh không kết thúc chuyện này đi?”

“Cái gì!” anh thốt lên, miệng đã hơi cười cợt và trở lại với vai tay trác táng, “ruồng rẫy người phụ nữ tội nghiệp với hai đứa con ư?”

“Có thể cô ấy sẽ kiếm được một người đàn ông chăm sóc cho mình. Đừng bảo với em là anh khó chịu với điều đó. Chắc là anh không thích cô ấy sống như thế này đấy chứ?”

Anh nghiêm túc trả lời: “Anh bảo em rồi, cô ấy là người rất đơn giản. Lúc nào em cũng nghĩ người khác giống như em. Không có đâu. Cô ấy thích xem ti vi và đọc Women at Home rồi dán mấy mẩu giấy lên tường. Và cô ấy là một người mẹ tốt.”

“Vậy mà cô ấy không phiền lòng gì chuyện không có một người đàn ông ư?”

“Theo những gì anh biết thì cô ấy có, nên anh chả bao giờ hỏi,” anh đáp, lại bật cười.

“Em chịu anh đấy!” Ella nói, cực kỳ chán nản, lại theo anh xuống gác. Cô rời căn nhà nhỏ lạc điệu một cách vui mừng, như thể đang thoát ra khỏi bẫy; rồi cô nhìn xuống con phố và nghĩ rằng có lẽ người ta đều như thế cả, tất cả đều vụn vỡ, không có ai nguyên vẹn, phản ánh một cuộc đời trọn vẹn, một con người trọn vẹn; hoặc, nhân chuyện này, một gia đình trọn vẹn. “Điều em không thích,” Paul nói, khi họ lái xe đi, “là Muriel có thể hạnh phúc được khi sống như vậy.”

“Sao cô ấy lại như vậy được nhỉ?”

“Lâu lâu rồi anh có hỏi cô ấy xem có muốn bỏ anh không. Cô ấy có thể quay về nhà bố mẹ đẻ, nếu muốn. Cô ấy bảo không. Hơn nữa, không có anh cô ấy sẽ lạc lối.”

“Lạy Chúa lòng lành!” Ella nói, ghê tởm và sợ hãi.

“Thật đấy, anh như kiểu một người bố vậy, cô ấy hoàn toàn phụ thuộc vào anh.”

“Nhưng cô ấy chả bao giờ gặp anh cả.”

“Anh làm việc cực chạy,” anh nói cụt lủn. “Khi về nhà anh xử lý tất cả mọi chuyện. Máy sưởi gas, hóa đơn tiền điện, chỗ nào mua thảm rẻ, cần phải làm gì về chuyện trường lớp của bọn trẻ con. Mọi thứ.” Thấy cô không trả lời, anh quả quyết: “Anh bảo từ trước rồi, em rất hợm mình, Ella ạ. Em không thể chịu nổi thực tế rằng đây có thể là cách cô ấy muốn sống.”

“Đúng vậy, em không chịu nổi. Và em không tin. Không một người phụ nữ nào trên thế giới lại muốn sống thiếu tình yêu cả.”

“Em thật quá cầu toàn. Em đúng là người ưa tuyệt đối. Em so mọi việc với cái lý tưởng nào đó tồn tại trong đầu em, và nếu như nó không được như những khái niệm đẹp đẽ của em thì em lên án nó lập tức. Hoặc em giả vờ với bản thân rằng nó đẹp đẽ mặc dù không phải vậy.”

Ella nghĩ: Anh ấy muốn nói việc mình và anh ấy; còn Paul thì đã tiếp tục: “Chẳng hạn - có thể Muriel cũng nói về em thế này: Thế quái nào mà cô ta lại chấp nhận làm bồ chồng mình được nhỉ, có gì đảm bảo đâu cơ chứ? Và lại còn không đáng kính.”

“Ồ, đảm bảo!”

“Ồ, thật thế. Em nói với vẻ khinh miệt, Ồ, đảm bảo! Ồ, đáng kính! Nhưng Muriel thì không. Chúng rất quan trọng đối với cô ấy. Chúng rất quan trọng với hầu hết mọi người.”

Ella thấy rằng giọng anh nghe rất giận dữ và thậm chí bị tổn thương. Cô chợt nghĩ ra rằng anh đồng cảm với vợ (vậy mà mọi sở thích của anh, khi anh ở với cô, Ella, lại khác) và rằng đảm bảo và đúng đắn cũng rất quan trọng với anh?

Cô im lặng nghĩ: Nếu anh ấy thực sự muốn sống như vậy, hoặc ít nhất là cần được như vậy, điều này sẽ lý giải tại sao chẳng lúc nào anh ấy hài lòng với mình cả. Mặt kia của cô vợ nhỏ bé chừng mực, đứng đắn là cô tình nhân thông minh, vui vẻ, quyến rũ. Có lẽ anh ấy thực sự thích nếu như mình không chung thủy với anh và mặc đồ hở hang. Nhưng mình không. Đây là con người mình, và nếu không thích thì anh ấy cũng phải chịu thôi.

Cũng trong buổi tối hôm đó anh nói, vẻ cười cợt, nhưng hung hăng: “Giống những người phụ nữ khác sẽ tốt cho em, Ella ạ.”

“Ý anh là sao?”

“Chờ đợi ở nhà, người vợ, cố gắng giữ chồng mình không rơi vào tay những người đàn bà khác. Thay vì có một chàng nhân tình quỳ dưới chân.”

“Ồ, ý anh là vậy sao?” cô nói, giọng mỉa mai. “Nhưng tại sao anh lại coi hôn nhân là một kiểu đánh nhau? Em không thấy nó giống một trận chiến cho lắm.”

“Em không thấy vậy!” anh nói, đến lượt anh mỉa mai. Và sau một lát dừng lại: “Em vừa viết tiểu thuyết về đề tài tự tử đấy thôi.”

“Liên quan gì đến chuyện này?”

“Toàn bộ những nhận định thông minh đó…” Anh kìm lại và ngồi nhìn cô, thiểu não, phán xét và, Ella nghĩ, lên án. Họ đang ở trên căn phòng nhỏ của cô, dưới mái nhà, đứa bé ngủ phòng bên, phần còn lại của bữa ăn cô nấu nằm trên chiếc bàn thấp giữa hai người, như cả ngàn lần nay vẫn thế. Anh xoay ly rượu vang giữa các ngón tay và nói, giọng đau đớn: “Anh không biết làm thế nào mà sống qua được mấy tháng vừa rồi nếu không có em.” “Mấy tháng vừa rồi có chuyện gì đặc biệt à?” “Chả có gì. Đấy mới là vấn đề. Mọi chuyện cứ thế diễn ra. Còn ở Nigeria anh sẽ không khâu các vết thương cũ, vết loét trên người một con sư tử ghẻ lở. Công việc của anh là thế đấy, tra thuốc mỡ lên vết thương của một con vật già nua không còn sức sống để tự chữa cho bản thân. Ít ra thì ở châu Phi anh sẽ được làm việc cho một điều gì đó mới mẻ và đang phát triển.”

Anh đi Nigeria đột ngột đến bất ngờ. Ít nhất là bất ngờ với Ella. Họ vẫn đang nói về chuyện đó như thể nó thuộc về tương lai xa, thì bỗng một hôm anh bước vào và bảo anh sẽ đi vào ngày hôm sau. Kế hoạch đưa cô đi cùng với anh tất nhiên là vẫn còn mơ hồ, cho đến chừng nào anh biết được tình hình ở đấy. Cô tiễn anh ra sân bay, cứ như cô sẽ gặp lại anh trong một vài tuần nữa. Nhưng sau khi anh hôn tạm biệt cô, anh quay lại khẽ gật đầu cay đắng, nở một nụ cười méo mó, toàn cơ thể anh thắt lại đầy đau đớn, và bỗng nhiên Ella cảm thấy nước mắt chạy xuống gương mặt cô, và mỗi sợi thần kinh của cô đều lạnh đi vì mất mát. Đến mấy ngày sau cô vẫn không tài nào ngừng khóc được, và cơn lạnh vẫn khiến cô run rẩy từng cơn. Cô viết thư, lên kế hoạch, nhưng là từ trong một cái bóng dần phủ lên người cô. Anh có viết một lần, bảo rằng vẫn chưa thể nói chắc chắn làm cách nào để cô và Michael có thể đến với anh được; và rồi im luôn.

Một chiều cô đang làm việc với bác sĩ West, với một chồng thư như thường lệ, ông ta nói: “Hôm qua tôi vừa nhận được thư của Paul Tanner.”

“Thật sao?” Theo như cô biết, bác sĩ West không biết về mối quan hệ giữa cô với Paul.

“Nghe có vẻ như cậu ta thích ở đấy, vì vậy tôi nghĩ là cậu ta sẽ đưa gia đình đi cùng.” Ông ta thận trọng kẹp mấy lá thư lại với nhau thành một xấp riêng cho mình rồi nói tiếp: “Nhưng cũng may mà cậu ta đi, tôi nghĩ vậy. Trước khi ra đi cậu ta có bảo tôi là đang vướng vào một con bé lông bông xinh xắn. Nghe có vẻ như vướng nặng phết. Qua những gì được nghe kể tôi thấy cô ta chả tốt đẹp gì cho lắm.”

Ella cố gắng thở bình thường, dò xét bác sĩ West và khẳng định rằng đây chỉ là câu chuyện làm quà về một người bạn chung chứ không nhằm làm cô tổn thương. Cô nhặt một lá thư ông ta vừa trao cho cô, mở đầu thế này: “Thưa bác sĩ Allsop, tôi viết cho ông để kể về cậu con trai bé bỏng của tôi đang bị mộng du…” và nói: “Bác sĩ West, đây thì chắc chắn là thuộc địa hạt của ông chứ?” Vì trận chiến nhã nhặn này đã tiếp diễn, không thay đổi, trong suốt bao nhiêu năm tháng họ làm việc cùng nhau. “Không, Ella ạ, không phải. Nếu trẻ em bị mộng du thì tôi có kê đơn cũng chả ích gì, và cô sẽ là người đầu tiên trách tôi nếu như tôi làm vậy. Bảo cô ta hãy đến bệnh viện và khéo léo ám chỉ đấy là lỗi của cô ta chứ không phải lỗi của đứa trẻ. Chậc, tôi chắc chẳng cần phải bảo cô nói như thế nào nữa.” Ông ta cầm một lá thư khác lên và nói: “Tôi khuyên Tanner ở ngoài nước Anh càng lâu càng tốt. Mấy chuyện này không phải lúc nào cũng dễ dứt được đâu. Cô gái trẻ kia cứ lẵng nhẵng bắt cậu ta phải cưới. Thực ra thì cũng không trẻ lắm. Đấy là vấn đề. Tôi nghĩ cô ấy đã chán cuộc sống ăn chơi nhảy múa và muốn ổn định.”

Ella buộc mình không nghĩ đến câu chuyện này cho đến khi cô hoàn thành việc phân chia thư với bác sĩ West. Ôi, mình thật ngây thơ, cuối cùng cô kết luận. Có lẽ là anh ấy lăng nhăng với Stephanie ở bệnh viện. Ít ra thì anh ấy cũng chẳng nhắc đến ai ngoài Stephanie, anh ấy toàn nói về cô ta thôi. Nhưng chẳng bao giờ anh ấy nói về cô ấy bằng cái giọng ấy, “con bé lông bông”. Không, đấy là ngôn ngữ của gia đình nhà West, họ sử dụng những cụm từ ngớ ngẩn như con bé lông bông với cuộc sống ăn chơi nhảy múa. Mấy cái người trung lưu đáng kính này mới tầm thường đến đáng sợ làm sao.

Trong khi đó cô vô cùng buồn bã, và cái bóng mà cô vẫn đang xua đuổi từ khi Paul ra đi đã hoàn toàn nhấn chìm cô. Cô nghĩ về vợ Paul: chắc hẳn cô ấy đã cảm thấy thế này, cảm giác hoàn toàn bị ruồng rẫy, khi Paul không còn quan tâm đến cô ấy nữa. Ồ ít nhất thì cô, Ella, cũng có lợi thế khi quá ngốc nghếch mà không nhận ra rằng Paul đang lăng nhăng với Stephanie. Nhưng phải chăng Muriel cũng chọn cách ngốc nghếch - chọn cách tin rằng Paul đã ở lại bệnh viện nhiều đêm đến thế?

Ella có một giấc mơ khó chịu và bực bội. Cô ở trong ngôi nhà nhỏ xấu xí, với những căn phòng nhỏ chả phòng nào giống phòng nào. Cô là vợ Paul, và chỉ bằng nỗ lực ý chí cô mới ngăn không cho căn nhà tan rã và bay tứ tung do sự xung đột giữa các phòng. Cô quyết định phải bài trí lại toàn bộ ngôi nhà, theo một phong cách duy nhất, phong cách của cô. Nhưng cứ đúng lúc cô treo rèm mới hay sơn phòng thì căn phòng của Murie lại được tái tạo. Ella như một bóng ma trong căn nhà này và cô nhận ra căn nhà sẽ gắn kết lại chừng nào linh hồn Muriel vẫn trong nó và gắn kết được chính vì mỗi căn phòng thuộc về một kỷ nguyên khác nhau, một linh hồn khác nhau. Và Ella thấy mình đang đứng trong bếp, tay đặt lên chồng Women at Home; cô là một “con bé quyến rũ” (cô có thể nghe thấy bác sĩ West nói những lời này) mặc chiếc váy bó sặc sỡ và chiếc áo len bó sát, tóc rất hợp thời trang. Và Ella nhận ra rằng Muriel không hề ở đó, cô ấy đã đến Nigeria gặp Paul rồi, còn Ella thì chờ trong nhà cho đến khi Paul quay về.

Khi Ella tỉnh dậy sau giấc mơ này, cô đang khóc. Lần đầu tiên cô hiểu ra rằng người phụ nữ mà Paul phải tự mình tách ra, phải bỏ sang Nigeria, bởi vì anh, bằng mọi giá, phải tự tách mình ra khỏi cô ta, chính là cô. Cô là con bé lông bông đó.

Cô đồng thời hiểu ra rằng bác sĩ West đã cố tình nói câu đó, có lẽ là do một số cụm từ trong bức thư Paul gửi; đó là lời cảnh báo từ thế giới đáng kính của bác sĩ West, nhằm bảo vệ một trong những thành viên của nó, gửi tới Ella.

Thật lạ, cú sốc này, ít nhất là trong chốc lát, đủ để bẻ gãy sức mạnh của tâm trạng chán nản đã cầm giữ cô nhiều tháng nay trong gọng kìm đen tối của nó. Cô chuyển sang tâm trạng bất chấp đầy cay đắng, giận dữ. Cô bảo với Julia rằng Paul đã “đá cô”, và rằng cô thật ngốc nghếch khi không thấy được điều đó từ trước (và việc Julia im lặng cho thấy cô hoàn toàn đồng ý với Ella). Cô bảo cô không có ý định ngồi một chỗ và khóc than vì chuyện đó.

Không biết rằng mình đã vô thức dự định làm điều này, cô ra ngoài và mua cho mình ít quần áo mới. Không phải là những món đồ “khêu gợi” mà Paul muốn cô mặc, nhưng cũng chả giống với bất cứ món đồ nào cô từng mặc từ trước đến giờ, và hợp với con người mới của cô, hơi nghiêm khắc, hờ hững, và thờ ơ - hoặc ít ra là cô tin như vậy. Và cô cắt tóc, kiểu tóc mới, mềm mại và khêu gợi, ôm lấy khuôn mặt nhỏ bé và cái cằm nhọn của cô. Và cô quyết định không ở nhà Julia nữa. Cô đã sống với Paul trong ngôi nhà này, vì vậy cô không thể chịu đựng nó được nữa.

Đầy tỉnh táo, gọn ghẽ và mau mắn, cô tìm cho mình một căn nhà mới và dọn về ở. Căn hộ này rộng, quá rộng so với hai mẹ con cô. Chỉ sau khi ổn định chỗ ở cô mới hiểu rằng không gian thừa là dành cho một người đàn ông. Trên thực tế là cho Paul, và cô vẫn đang sống như thể anh sắp sửa quay về với cô.

Rồi cô nghe tin, khá tình cờ, rằng Paul đã về nước Anh nghỉ phép và đã ở đây được hai tuần rồi. Vào đêm cái hôm cô nghe được tin này, cô thấy mình diện đồ và trang điểm, làm tóc cẩn thận, đứng bên cửa sổ nhìn xuống phố, chờ anh. Cô chờ đến khi nửa đêm trôi qua đã lâu, nghĩ: Công việc của anh ở bệnh viện rất dễ giữ anh ở lại khuya thế này, mình không được đi ngủ sớm, bởi vì anh thấy đèn tắt sẽ không lên nữa vì sợ làm mình tỉnh giấc.

Cô đứng đó, đêm này qua đêm khác. Cô có thể thấy mình đứng đó, tự nhủ: Chuyện này điên thật. Đúng là điên thật. Điên là khi mày không đủ khả năng ngăn bản thân làm điều gì đó dù biết là phi lý. Bởi vì mày biết là Paul sẽ không đến. Vậy mà cô vẫn tiếp tục diện đồ và đứng hàng giờ bên cửa sổ, chờ đợi, hằng đêm. Và, đứng đó nhìn chính mình, cô có thể thấy được sự điên rồ này gắn liền với sự điên rồ khi xưa đã ngăn không cho cô thấy cuộc tình này chắc chắn rồi sẽ kết thúc, sự ngây thơ đã từng khiến cô hạnh phúc. Vâng, niềm tin ngốc nghếch, sự ngây thơ và tin tưởng đã dẫn đến, khá logic, việc cô đứng bên cửa sổ chờ người đàn ông cô biết, khá rõ, sẽ không bao giờ về lại với cô nữa.

Sau vài tuần, cô nghe bác sĩ West nói, nhìn bề ngoài thì có vẻ là bâng quơ, nhưng bên trong lại ngấm ngầm vẻ đắc thắng độc ác, rằng Paul đã lại quay về Nigeria. “Vợ cậu ta không đi cùng,” bác sĩ West nói. “Cô ta không muốn từ bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Rõ ràng là ở đây, cô ta đang cực kỳ hạnh phúc.”

Vấn đề của câu chuyện này là nó được viết theo kiểu phân tích các quy luật tan vỡ trong mối quan hệ giữa Paul và Ella. Tôi thấy không còn cách viết nào khác cả. Khi đã trải qua một chuyện gì đó, người ta sẽ nhìn nhận nó theo một mô hình. Và mô hình của một cuộc tình, dù là cuộc tình kéo dài năm năm và chẳng khác gì một cuộc hôn nhân, đều được quy định bởi yếu tố đã khiến nó chấm dứt. Đấy là lý do tại sao toàn bộ chuyện này đều không thật. Bởi vì khi đang trải qua chuyện gì đó, người ta không nghĩ theo cách ấy chút nào.

Giả sử tôi viết thế này: hai ngày tròn, với từng chi tiết, một ngày khi cuộc tình vừa mới bắt đầu, và một ngày khi nó sắp kết thúc? Không, bởi vì theo bản năng tôi vẫn sẽ cô lập và nhấn mạnh những yếu tố phá hỏng cuộc tình này. Đó chính là thứ mang lại hình hài cho cuộc tình. Nếu không tất cả sẽ trở thành hỗn độn, bởi vì hai ngày này, bị chia tách bởi thời gian nhiều tháng, sẽ không có cái bóng nào phủ lên cả, mà chỉ là những bản ghi chép một niềm hạnh phúc giản dị không cần suy nghĩ, cùng với đôi ba khoảnh khắc nghịch âm (trên thực tế là phản ảnh của cái kết đang đến gần nhưng tại thời điểm diễn ra thì không hề cảm thấy như thế) nhưng những khoảnh khắc ấy lại bị hạnh phúc nuốt chửng.

Văn chương là bản phân tích sau khi xảy ra sự việc.

Hình thức của cuốn kia, về những gì xảy ra ở Mashopi, là nỗi hoài nhớ. Còn cuốn này, viết về Paul và Ella, hình thức của nó không phải là nỗi hoài nhớ, mà là một dạng khổ đau.

Để tái hiện một người phụ nữ đang yêu một người đàn ông, người ta nên tái hiện cảnh nàng nấu ăn cho chàng hoặc mở một chai vang trước bữa ăn, trong khi chờ chàng bấm chuông cửa. Hoặc buổi sáng nàng thức dậy trước chàng để ngắm gương mặt chàng chuyển từ cái bình thản của giấc ngủ sang nụ cười chào đón. Vâng. Lặp đi lặp lại hàng nghìn lần. Nhưng như vậy không phải là văn chương. Có lẽ làm phim thì tốt hơn. Vâng, cái khía cạnh vật chất của cuộc sống, đây mới là sống, chứ không phải bản phân tích về sau, hay những khoảnh khắc lạc điệu, những linh cảm. Một cảnh trong phim: Ella chậm rãi gọt quả cam, đưa cho Paul những múi cam màu vàng, anh nhận lấy, múi này rồi múi khác, vẻ tư lự, cau mày: anh đang nghĩ về chuyện khác.

*

[Cuốn sổ xanh dương bắt đầu bằng một câu:]

“Có vẻ như Tommy đang trách mẹ.”

[Rồi Anna viết:]

Tôi lên gác sau cuộc cãi lộn giữa Tommy và Molly và ngay lập tức bắt tay vào chuyển nó thành truyện ngắn. Tôi nhận ra hành động này - biến mọi việc thành truyện hư cấu - chắc hẳn là cách tôi né tránh. Tại sao lại không cứ thế ghi lại chuyện xảy ra giữa Molly và con trai cô ấy ngày hôm nay? Tại sao tôi lại không cứ thế ghi lại những gì xảy ra? Tại sao tôi lại không ghi nhật ký? Rõ ràng, việc tôi chuyển mọi việc thành truyện hư cấu chỉ là một cách để che giấu điều gì đó khỏi bản thân tôi. Hôm nay rất rõ: ngồi nghe Molly và Tommy gây lộn, rất khó chịu; rồi lên thẳng trên gác và bắt đầu viết một câu chuyện mặc dù không hề định làm vậy. Tôi sẽ ghi nhật ký.

7 tháng Một, 1950

Tuần này Tommy tròn mười bảy tuổi. Molly chưa bao giờ gây áp lực bắt con trai phải quyết định về tương lai. Thực ra thì gần đây cô có bảo cu cậu đừng lo lắng gì nữa và đi Pháp chơi vài tuần để “mở mang đầu óc”. (Cụm từ này khiến cu cậu phát cáu.) Hôm nay, cu cậu vào bếp để kiếm chuyện cãi cọ - cả Molly và tôi đều biết ngay khi cu cậu vừa bước chân vào. Cu cậu đã mang cái tâm trạng đối đầu với Molly này được ít lâu rồi. Bắt đầu từ sau lần đầu tiên cu cậu đến thăm nhà bố đẻ. (Lúc đó chúng tôi không nhận thấy rằng chuyến thăm đó tác động đến cậu sâu sắc thế nào.) Từ đó, cu cậu bắt đầu chỉ trích mẹ vì đã tham gia cộng sản và “sống phóng đãng”. Molly cười xòa và nói rằng về thăm những điền trang đầy rẫy địa chủ và tiền bạc thì cũng vui đấy, nhưng thật may mắn là cậu không phải sống cả đời ở đó, Vài tuần sau, cu cậu đến đó lần thứ hai và trở lại với mẹ mang theo thái độ lịch sự quá mức, đầy thù địch. Lần này thì tôi can thiệp: kể cho cu cậu nghe về Molly và bố cậu, câu chuyện mà Molly vì lòng tự trọng nên không thể tự mình kể ra được - bố cậu đã gây áp lực tài chính thế nào để buộc mẹ cậu phải trở về với mình, dọa kể với sếp của mẹ về chuyện mẹ tham gia Đảng Cộng sản ra sao, vân vân, để mẹ phải đối mặt với nguy cơ mất việc - cả một câu chuyện dài xấu xí. Ban đầu Tommy không tin; dễ hiểu thôi, sau một kỳ nghỉ cuối tuần dài như thế thì làm gì có ai đáng yêu hơn Richard cơ chứ. Sau đó cu cậu tin, nhưng cũng chẳng thay đổi được gì. Molly khuyên cu cậu hãy đến ở cùng bố cả mùa hè để (như lời cô nói với tôi) lớp vỏ đẹp đẽ kia có thời gian bong ra. Cu cậu đi. Sáu tuần trời. Điền trang. Bà vợ dễ thương kiểu truyền thống. Ba cậu nhóc vui vẻ. Richard về nhà vào cuối tuần, mang theo đám bạn làm ăn, v.v. Đám địa chủ trong vùng. Đơn thuốc của Molly hiệu nghiệm như bùa. Tommy tuyên bố rằng “ở đó cuối tuần đã là quá đủ”. Cô vui lắm.

Nhưng quá sớm. Cuộc tranh cãi hôm nay giống như một cảnh trong một vở kịch. Cu cậu bước vào, khăng khăng nói mình phải đưa ra quyết định về việc đi nghĩa vụ quân sự: rõ ràng cậu đang muốn Molly nói rằng cậu nên từ chối nhập ngũ vì lý do lương tâm(18). Tất nhiên Molly muốn như vậy, nhưng vẫn bảo cậu tự mình quyết định lấy. Cu cậu khơi mào bằng cách cãi rằng cậu nên thực hiện nghĩa vụ quân sự. Câu nói này mở màn cho một trận tấn công vào cách sống của cô, quan điểm chính trị của cô, và bạn bè cô - tất cả những gì thuộc về cô. Họ ngồi đó, mỗi người một bên chiếc bàn ăn, khuôn mặt tối sầm, bướng bỉnh, lầm lì của Tommy chĩa vào mẹ, còn cô ngồi thả lỏng và thư giãn hoàn toàn, một nửa sự chú ý dành cho việc nấu bữa trưa, không ngừng chạy đến chỗ điện thoại để lo công chuyện của Đảng - cậu nhẫn nại, giận dữ, chờ đợi qua mỗi cuộc điện thoại đến khi mẹ cậu trở lại. Và khi cuộc tranh cãi dài dằng dặc đó kết thúc, cậu đã tự thuyết phục mình phải đi đến quyết định sẽ trở thành người từ chối nhập ngũ vì lý do lương tâm, và giờ đòn tấn công hiện tại cậu dành cho mẹ liên quan đến chủ nghĩa quân phiệt ở Liên Xô, vân vân. Khi cu cậu lên gác, tuyên bố, như thể điều này có liên quan trực tiếp đến câu chuyện trước đó của họ, rằng cậu định lấy vợ thật sớm và có thật nhiều con, Molly buông mình ủ rũ vì mệt mỏi và sau đó bắt đầu khóc. Tôi lên gác để cho Janet ăn trưa. Bực bội. Bởi vì Molly và Richard khiến tôi nghĩ đến bố của Janet. Trong mắt mình, tôi cho đấy là một cuộc dan díu ngớ ngẩn cực kỳ điên rồ không đáng có. Những lời đại loại như: bố của con tôi, dù có được nhắc đi nhắc lại cũng không thể khiến tôi nghĩ khác đi được. Một ngày nào đó Janet sẽ nói: “Mẹ tớ cưới bố tớ được một năm thì họ ly dị.” Và khi nó lớn lên và biết được sự thật từ tôi: “Mẹ tớ sống với bố tớ được ba năm; sau đó họ quyết định có con và cưới nhau để tớ không phải là con ngoài giá thú, sau đó ly dị.” Nhưng những lời này sẽ chẳng dính dáng đến bất cứ điều gì mà tôi tin là thật. Mỗi khi nghĩ đến Max, trong tôi lại tràn ngập cảm giác tuyệt vọng. Tôi nhớ đến cái cảm giác tuyệt vọng khiến trước kia tôi đã từng phải viết về anh. (Willi trong cuốn sổ bìa đen.) Nhưng lúc đứa trẻ ra đời, dường như cuộc hôn nhân trống rỗng ngớ ngẩn kia đã bị xóa bỏ. Tôi nhớ mình từng nghĩ trong lần đầu tiên nhìn thấy Janet: Thế đấy, tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc v.v. có cái gì là quan trọng đâu. Đã có đứa trẻ tuyệt vời này đây rồi. Nhưng Janet sẽ không hiểu được. Tommy cũng không hiểu. Nếu Tommy có thể cảm nhận được điều đó, hẳn nó sẽ không còn căm ghét Molly vì đã rời bỏ bố nó. Tôi nhớ hình như trước đây đã từng viết nhật ký, trước khi Janet ra đời. Để tôi tìm xem sao. Đúng rồi, đây là nhật ký một ngày mà tôi vẫn nhớ láng máng.

9 tháng Mười, 1946

Đêm qua, từ chỗ làm tôi đến thẳng căn phòng khách sạn kinh khủng đó, Max đang nằm trên giường, yên lặng. Tôi ngồi xuống ghế đi văng. Anh bước đến, gác đầu lên lòng tôi còn tay anh choàng quanh eo tôi. Tôi có thể cảm nhận được nỗi tuyệt vọng của anh. Anh nói: “Anna này, chúng mình chẳng còn gì để nói với nhau nữa, tại sao nhỉ?” “Bởi vì mình không phải cùng một kiểu người.” “Như vậy nghĩa là sao, không phải cùng một kiểu người?” anh hỏi, phả cái vị mỉa mai tự động vào giọng nói - một kiểu dài giọng ra vẻ miễn cưỡng, đề phòng, mỉa mai. Tôi thấy ớn lạnh, nghĩ rằng có lẽ đúng là câu đó chẳng có nghĩa gì cả, nhưng tôi vẫn cố nắm chắc lấy tương lai nên lên tiếng: “Nhưng chắc chắn là phải có nghĩa gì đó chứ, cùng là một kiểu người ấy?” Rồi anh đáp: “Lên giường đi.” Ở trên giường, anh đặt tay lên bầu vú tôi nhưng tôi cảm thấy rợn cả người nên nói: “Có ích gì đâu, chúng ta chẳng cần đến nhau, và trước giờ vẫn vậy?” Vì thế chúng tôi đi ngủ. Đến gần sáng, đôi vợ chồng trẻ ở phòng bên làm tình với nhau. Tường phòng khách sạn mỏng đến mức chúng tôi có thể nghe thấy hết mọi thứ. Tôi thấy buồn khi nghe tiếng họ; chưa bao giờ tôi thấy buồn đến vậy. Max thức giấc và nói: “Có chuyện gì vậy em?” Tôi đáp: “Anh thấy đấy, hạnh phúc không phải là thứ quá xa vời, vì vậy chúng ta nên nắm chặt lấy nó.” Thời tiết rất nóng. Mặt trời đang lên, còn đôi phòng bên thì cười phá lên. Ánh nắng hồng tạo thành một vết ố nhàn nhạt ấm áp trên bức tường. Max nằm bên tôi, cơ thể anh nóng và buồn bã. Lũ chim đang hót ầm ĩ, nhưng rồi mặt trời thiêu đốt, khiến chúng im bặt. Đột ngột. Một phút trước chúng vừa léo nhéo những âm thanh hỗn loạn, thế mà bỗng đột nhiên im lặng. Đôi vợ chồng đang nói cười thì đứa con nhỏ tỉnh dậy và bắt đầu khóc. Max nói: “Có khi chúng ta nên có con nhỉ?” Tôi đáp: “Anh định nói rằng đứa con sẽ khiến chúng ta xích lại gần nhau?” Tôi nói bằng giọng cáu kỉnh, và cảm thấy ghét bản thân vì điều đó, nhưng sự đa cảm của anh làm tôi phát cáu. Trông anh thật ngoan cố, và anh nhắc lại: “Chúng ta nên có một đứa con.” Rồi đột nhiên tôi nghĩ: Tại sao lại không nhỉ? Mấy tháng nữa cũng chưa ra khỏi Khu thuộc địa được. Chúng tôi không có tiền. Cứ có con đã - tôi vẫn luôn sống như thể có điều gì đó tuyệt diệu đang sắp sửa kết tinh nay mai. Bây giờ hãy cứ tạo ra cái gì đó đã… vậy là tôi quay sang anh và chúng tôi làm tình với nhau. Đấy là buổi sáng Janet thành hình. Tuần kế tiếp, chúng tôi làm đám cưới ở phòng đăng ký. Một năm sau, chúng tôi chia tay. Nhưng người đàn ông này chưa bao giờ làm tôi rung động, chưa bao giờ gần gũi với tôi. Nhưng lại có Janet… Tôi nghĩ mình nên đi khám bác sĩ phân tâm.

Ngày 10 tháng Một, 1950

Hôm nay đi gặp bà Marks. Sau phần mào đầu, bà hỏi: “Tại sao cô lại đến đây?” Tôi đáp: “Bởi vì tôi có những trải nghiệm lẽ ra phải làm tôi thấy rung động nhưng lại chẳng rung động chút nào.” Bà chờ đợi, vì vậy tôi nói tiếp: “Chẳng hạn, Molly bạn tôi có một cậu con trai - tuần trước nó quyết định từ chối nhập ngũ vì lý do lương tâm, nhưng nó cũng hoàn toàn có thể đã quyết định ngược lại. Đấy là điều tôi nhận thấy ở trong chính bản thân tôi.” “Cái gì?” “Tôi quan sát mọi người - họ quyết định trở thành thế này hay thế khác. Nhưng cứ như thể đây là một kiểu khiêu vũ - họ cũng hoàn toàn có thể chọn một lối đi ngược lại với niềm tin mãnh liệt không kém.” Bà do dự, sau đó hỏi tôi: “Cô đã viết một cuốn tiểu thuyết à?” “Vâng.” “Cô đang viết thêm cuốn khác?” “Không, tôi sẽ không bao giờ viết cuốn nào khác nữa.” Bà gật đầu. Tôi đã biết kiểu gật đầu đó, vì vậy tôi nói: “Tôi đến đây không phải vì bế tắc ý tưởng sáng tác.” Bà gật đầu lần nữa và tôi nói: “Bà sẽ phải tin như vậy…” Thái độ ngần ngừ này vừa lúng túng vừa hung hăng nên tôi đáp lại bằng một nụ cười mà tôi biết là rất hung hăng: “… nếu như chúng ta muốn làm việc được với nhau.” Bà cười, vẻ lạnh nhạt. Rồi: “Sao cô lại không muốn viết cuốn khác nữa?” “Bởi vì tôi không còn niềm tin vào nghệ thuật nữa.” “Vậy là cô không tin vào nghệ thuật?” - tách rời từng từ giơ lên cho tôi ngắm nghía. “Không.” “Ra vậy.”

Ngày 14 tháng Một, 1950

Tôi mơ rất nhiều. Mơ thấy: tôi ở trong phòng hòa nhạc. Nhóm khán giả trông như búp bê mặc đồ dạ hội. Một cây đại dương cầm. Bản thân tôi cũng ăn vận ngớ ngẩn: một chiếc váy xa tanh phong cách thời Edward và chuỗi ngọc trai, giống như Nữ hoàng Mary, ngồi bên cây dương cầm. Tôi chẳng thể chơi nổi một nốt nào cả. Khán giả chờ đợi. Giấc mơ được cách điệu, giống như một cảnh trong kịch hoặc một bức minh họa cổ. Tôi kể cho bà Marks nghe về giấc mơ này, và bà hỏi: “Ý nghĩa đằng sau nó?” Tôi đáp: “Sự vô cảm.” Bà khẽ nở nụ cười khôn ngoan, nụ cười giống như cây đũa của người nhạc trưởng chỉ huy các buổi gặp của chúng tôi. Mơ. Chiến tranh ở Trung Phi. Một phòng khiêu vũ rẻ tiền. Mọi người đều say, và khiêu vũ dừng lại nhường chỗ cho tình dục. Tôi chờ đợi ở một bên sàn nhảy. Một gã chải chuốt trông như con búp bê đến gần tôi. Tôi nhận ra Max. (Nhưng ở anh có cái vẻ văn chương mà tôi đã viết trong cuốn sổ về Willi.) Tôi bước vào vòng tay anh, giống như búp bê, cứng đờ, không thể nào nhúc nhích được. Một lần nữa giấc mơ lại mang vẻ nghịch dị. Giống như tranh biếm họa. Bà Marks hỏi: “Giấc mơ này là về chuyện gì?” “Vẫn vậy, vô cảm. Tôi lãnh cảm với Max.” “Vậy là cô sợ mình lãnh cảm?” “Không, bởi vì tôi chỉ lãnh cảm với một mình anh ta.” Bà gật đầu. Đột nhiên tôi thấy lo lắng: Liệu mình có bị lãnh cảm trở lại không nhỉ?

Ngày 19 tháng Một, 1950

Sáng nay tôi ở trong căn phòng áp mái. Tiếng trẻ con khóc vẳng qua tường, tôi nhớ tới căn phòng khách sạn ở châu Phi, nơi đứa bé vẫn khóc làm chúng tôi tỉnh giấc mỗi sáng, sau đó được cho ăn và nói ọ ẹ, phát ra những âm thanh vui vẻ trong lúc bố mẹ chúng làm tình. Janet đang chơi trên sàn nhà với đống đồ chơi xếp hình của nó. Đêm qua, Michael mời tôi đi chơi với anh và tôi đáp là không thể bởi vì Molly đi ra ngoài, tôi không thể bỏ Janet ở nhà được. Anh nói, giọng mỉa mai: “Thế đấy, tình mẫu tử bao giờ cũng phải đi trước tình yêu.” Vì cái giọng mỉa mai lạnh nhạt này mà tôi phản ứng lại anh. Và sáng nay, tôi thấy mình bị vây kín trong sự lặp lại - đứa trẻ phòng bên khóc, và thái độ thù ghét của tôi đối với Michael. (Nhớ đến thái độ thù ghét của tôi đối với Max.) Sau đó là cảm giác phi thực tại - không thể nào nhớ nổi mình đang ở đâu - ở đây, London, hay ở đó, châu Phi, trong tòa nhà có đứa trẻ khóc bên kia bức tường. Janet từ dưới sàn ngước lên và nói: “Chơi với con đi, mẹ ơi.” Tôi không nhúc nhích được. Một lúc sau, tôi cố gắng đứng dậy khỏi chiếc ghế và ngồi xuống sàn nhà bên cạnh cô con gái bé bỏng. Tôi nhìn con và nghĩ: Đây là con mình, máu thịt của mình. Nhưng tôi không hề cảm nhận được điều đó. Nó nhắc lại: “Chơi đi, mẹ.” Tôi di chuyển các miếng gỗ để xếp thành hình ngôi nhà, nhưng rất máy móc. Buộc mình phải thực hiện từng động tác. Tôi có thể thấy mình đang ngồi trên sàn, hình ảnh của một “bà mẹ trẻ chơi với cô con gái nhỏ”. Giống như một cảnh trong phim, hoặc một bức ảnh. Tôi kể cho bà Marks về chuyện này và bà nói: “Vậy thì sao?” Tôi đáp: “Giống hệt như các giấc mơ, có điều đột nhiên lại xuất hiện trong đời thực.” Bà chờ đợi, và tôi nói tiếp: “Đấy là vì tôi cảm thấy thù ghét Michael - cảm giác đó làm đóng băng tất cả mọi thứ.” “Cô đang quan hệ với anh ta à?” “Vâng.” Bà chờ đợi và tôi vừa mỉm cười vừa nói: “Không, tôi đâu có lãnh cảm.” Bà gật đầu. Một cái gật đầu chờ đợi.

Tôi không biết bà mong chờ tôi nói chuyện gì. Bà gợi ý: “Cô con gái bé nhỏ của cô yêu cầu cô chơi với nó?” Tôi không hiểu. Bà nói: “Chơi. Chơi với nó. Cô không thể chơi được.” Tôi hiểu, cảm thấy bực bội. Suốt mấy hôm rồi, tôi bị dẫn dắt hết lần này đến lần khác, rất khéo léo, đến cùng một điểm; mỗi lần tôi đều cảm thấy bực bội; và dường như lần nào cơn bực của tôi cũng được xem là cách để tôi cưỡng lại sự thật. Tôi đáp: “Không, giấc mơ đấy không phải về nghệ thuật. Không phải.” Và cố gắng nói đùa: “Ai là người mơ giấc mơ đấy, bà hay tôi?” Nhưng bà không hề cười với câu nói đùa đó: “Con gái ơi, cô viết cuốn sách đó, cô là nghệ sĩ.” Bà nói từ nghệ sĩ với một nụ cười dịu dàng, thông cảm, và cung kính. “Bà Marks này, bà phải tin tôi, tôi không quan tâm đến việc có bao giờ viết ra một chữ nào nữa hay không.” “Cô không quan tâm,” bà nói, bằng cụm không quan tâm, bà muốn tôi nhớ lại lời của chính tôi: Vô cảm. “Vâng,” tôi khẳng định, “tôi không quan tâm.” “Con gái ơi, tôi làm nghề điều trị tâm lý bởi vì đã có thời tôi tin rằng tôi sẽ trở thành nghệ sĩ. Tôi điều trị cho rất nhiều nghệ sĩ. Bao nhiêu người đã ngồi vào chỗ cô đang ngồi, bởi vì họ bế tắc, trong sâu thẳm bản thân họ, không còn khả năng sáng tác được nữa.” “Nhưng tôi không phải là họ.” “Tự mô tả bản thân xem nào.” “Bằng cách nào?” “Mô tả bản thân cô như thể cô đang mô tả một người khác.” “Anna Wulf là một người phụ nữ nhỏ bé, da ngăm đen, gầy gò, khó tính, quá nghiêm khắc và dè chừng. Ba mươi ba tuổi. Cô lập gia đình được một năm, với một người đàn ông cô không quan tâm, và có một cô con gái nhỏ. Cô là người cộng sản.” Bà mỉm cười. Tôi nói: “Không ổn à?” “Thử lại đi: ví dụ như là, Anna Wulf đã từng viết một cuốn tiểu thuyết được giới phê bình đánh giá cao và thành công đến nỗi bây giờ cô vẫn đang sống nhờ tiền nhuận bút.” Tôi ngập tràn cảm giác thù ghét. “Tốt lắm: Anna Wulf đang ngồi trên ghế trước mặt một người chữa trị linh hồn. Cô đến đây bởi vì cô không thể cảm nhận rõ về bất cứ điều gì. Cô bị đóng băng. Cô có rất nhiều bạn bè và người quen. Mọi người rất vui khi gặp cô. Nhưng cô chỉ quan tâm đến một người duy nhất trên thế giới, đó là con gái cô, Janet.” “Tại sao cô ấy lại bị đóng băng?” “Cô ấy sợ.” “Sợ điều gì?” “Chết.” Bà gật đầu, do đó tôi xen ngang trò chơi và nói: “Không, không phải là sợ mình chết. Tôi thấy hình như kể từ khi tôi bắt đầu nhớ được gì, điều duy nhất thực sự xảy ra với thế giới là chết chóc và hủy diệt. Tôi thấy dường như điều này còn mạnh hơn cả sự sống.” “Sao cô lại tham gia cộng sản?” “Ít nhất thì họ cũng còn tin vào điều gì đó.” “Tại sao cô lại nói là họ, trong khi cô là đảng viên?” “Nếu tôi có thể nói là chúng tôi, mà trong lòng thực sự nghĩ như vậy, tôi đã không ở đây, đúng không nào?” “Vậy là cô thực sự không quan tâm đến các đồng chí của mình?” “Tôi giao thiệp dễ dàng với mọi người, nếu đó là điều bà định nói?” “Không, ý tôi không định nói vậy.” “Tôi nói với bà rồi, người duy nhất mà tôi thực sự quan tâm đến, thực sự là con gái tôi. Và đấy là vị kỷ.” “Cô không quan tâm đến bạn Molly của cô?” “Tôi thích cô ấy.” “Và cô không quan tâm đến người yêu của mình, Michael?” “Giả sử như ngày mai anh ta bỏ rơi tôi, tôi sẽ nhớ được bao lâu rằng tôi… thích ngủ với anh ta?” “Cô quen anh ta được bao lâu rồi - ba tuần? Sao anh ta lại phải bỏ cô chứ?” Tôi không tài nào nghĩ ra câu trả lời, trên thực tế tôi ngạc nhiên khi thấy mình nói ra câu đó. Thời gian của chúng tôi đã hết. Tôi chào tạm biệt và khi ra về, bà nói: “Con gái ơi, cô phải nhớ rằng người nghệ sĩ mang trong mình một trọng trách thiêng liêng.” Tôi không nhịn được cười. “Sao cô lại cười?” “Bà không thấy buồn cười sao - nghệ thuật là điều thiêng liêng, hợp âm Đô trưởng hùng tráng?” “Ngày kia tôi sẽ gặp lại cô như thường lệ, con gái ạ.”

Ngày 31 tháng Một, 1950

Hôm nay tôi mang đến cho bà Marks hàng chục giấc mơ - những giấc mơ tôi đã mơ trong vòng ba ngày vừa qua. Tất cả đều có cùng cái tính chất giả nghệ thuật, châm biếm, minh họa, giễu nhại. Giấc mơ nào cũng ngập trong những màu sắc tươi sáng, sống động, rực rỡ, khiến tôi thấy rất vui. Bà nói: “Cô mơ nhiều thật đấy.” Tôi đáp: “Hễ nhắm mắt lại là tôi mơ.” Bà: “Vậy những giấc mơ này là về chuyện gì?” Tôi mỉm cười trước làm bà nhìn tôi với vẻ nghiêm nghị, sẵn sàng cứng rắn với tôi. Nhưng tôi nói: “Tôi muốn hỏi bà điều này. Một nửa trong số đó là ác mộng, tôi sợ hãi thực sự, toát cả mồ hôi khi thức giấc. Vậy mà tôi lại thấy thích thú với từng phút mình mơ. Tôi thích mơ. Tôi mong chờ đến lúc đi ngủ bởi vì tôi sẽ được mơ. Tôi tỉnh giấc giữa đêm, hết lần này đến lần khác, để thưởng thức cảm giác biết rằng mình đã mơ. Sáng dậy, tôi thấy vui sướng như thể tôi vừa xây được rất nhiều đô thị trong giấc ngủ. Rồi sao? Nhưng hôm qua tôi gặp một người phụ nữ từng đi gặp bác sĩ tâm lý trong mười năm trời - một người Mỹ, tất nhiên.” Đến đây, bà Marks mỉm cười. “Người phụ nữ có nụ cười rạng rỡ, vô trùng này kể rằng giấc mơ của chị ta còn quan trọng hơn cả cuộc sống, thực hơn bất cứ những gì xảy ra ban ngày với chồng con chị ta.” Bà Marks mỉm cười. “Vâng, tôi biết bà sắp sửa nói điều gì. Đúng vậy - chị ta nói với tôi rằng đã có thời chị ta tin mình sẽ trở thành nhà văn. Nhưng đồng thời, tôi chưa bao giờ gặp bất cứ ai ở bất cứ đâu, thuộc bất cứ tầng lớp, màu da, tín ngưỡng nào lại không có lần tin mình sẽ trở thành nhà văn, họa sĩ, vũ công hay đại loại thế. Và chắc hẳn đấy là một thực tế thú vị hơn bất cứ chủ đề nào khác mà chúng ta từng thảo luận trong căn phòng này - dù sao đi nữa thì một trăm năm trước, trong đầu hầu hết mọi người hẳn chưa từng có cái ý nghĩ là trở thành nghệ sĩ. Họ chấp nhận cái vị trí trong đời mà Chúa đã dẫn dắt họ đến. Nhưng - lẽ nào lại không có vấn đề gì với việc giấc mơ của tôi đang trở nên thỏa mãn hơn, lý thú hơn, hấp dẫn hơn bất cứ điều gì xảy ra với tôi khi thức? Tôi không muốn giống như chị người Mỹ đó.” Im lặng, nụ cười nhạc trưởng của bà. “Vâng, tôi biết là bà muốn tôi nói rằng mọi khả năng sáng tạo của tôi đều đang đi vào giấc mơ.” “Không phải vậy sao?” “Bà Marks ạ, tôi đề nghị chúng ta sẽ bỏ qua chuyện mơ mộng của tôi một thời gian.” Bà lạnh lùng nói: “Cô đến gặp tôi, một bác sĩ phân tâm, và đề nghị chúng ta bỏ qua chuyện mơ mộng của cô?” “Lỡ đâu những giấc mơ thú vị kia là cách để tôi trốn thoát khỏi cảm giác?” Bà ngồi yên suy nghĩ. Ồ, bà là một bà già thông thái trí tuệ kinh khủng. Bà khẽ phác một động tác, yêu cầu tôi im lặng để bà nghĩ xem điều này có hợp lý không. Trong lúc chờ đợi, tôi ngắm căn phòng mà hai chúng tôi đang ngồi. Căn phòng cao, dài, tối và yên tĩnh. Hoa ở khắp nơi. Các bức tường treo đầy tranh chép các kiệt tác và có cả mấy bức tượng nữa. Trông gần giống như một phòng tranh. Đây là một căn phòng dành riêng cho tranh tượng. Nó khiến tôi cảm thấy khoan khoái, giống như một phòng tranh. Vấn đề là cuộc đời tôi chẳng ăn nhập mấy với căn phòng này - cuộc đời tôi lúc nào cũng thô ráp, dang dở, sống sượng, dò dẫm; và cuộc đời những người mà tôi biết rõ cũng vậy. Nhìn căn phòng này, tôi nhận ra rằng cái khía cạnh thô ráp, dở dang trong cuộc đời mình chính là thứ tạo nên giá trị của nó và tôi phải giữ rịt lấy điều đó. Bà thoát ra khỏi trạng thái trầm tư và nói: “Được thôi, con gái ạ. Chúng ta sẽ gác giấc mơ của cô lại một thời gian, và cô sẽ kể cho tôi nghe về những điều cô vẽ ra trong lúc không ngủ.”

Vào hôm đó, ngày 31 tháng Một, tôi không còn mơ nữa, giống như có cây đũa thần vừa vẫy. “Còn mơ nữa không?” bà bâng quơ hỏi để xem tôi có còn dành cho bà cái hành động lẩn tránh vô lý đó hay không. Chúng tôi trò chuyện về các sắc thái cảm giác của tôi đối với Michael. Phần lớn thời gian chúng tôi cảm thấy hạnh phúc khi ở bên nhau, rồi đột nhiên tôi sẽ có cảm giác căm ghét, thù hận anh. Nhưng luôn luôn vì cùng một lý do: khi anh bình phẩm về việc tôi đã viết sách - anh ghét việc này, anh đem chuyện tôi làm “nữ tác gia” ra làm trò cười, khi anh mỉa mai về Janet, rằng tôi đặt tình mẫu tử trước tình yêu, và khi anh cảnh báo rằng anh không có ý định cưới tôi. Anh luôn đưa ra lời cảnh báo này sau khi anh nói yêu tôi và tôi là điều quan trọng nhất trong cuộc đời anh. Tôi thấy tổn thương và tức tối. Tôi giận dữ nói với anh: “Chắc chắn đây là lời cảnh báo mà người ta chỉ cần nói một lần thôi,” và anh trêu tôi cho đến khi tôi hết giận. Những đêm đó, lần đầu tiên tôi thấy lãnh cảm với anh. Khi tôi kể lại chuyện này, bà Marks nói: “Tôi đã từng chữa bệnh lãnh cảm cho một người trong suốt ba năm trời. Cô ấy sống cùng với người yêu. Nhưng trong suốt ba năm đó cô ấy chưa bao giờ đạt được cực khoái. Hôm họ cưới nhau cũng là hôm đầu tiên cô ấy biết thế nào là cực khoái.” Kể xong bà gật đầu nhấn mạnh như muốn nói: Vậy đấy, cô thấy đấy! Tôi cười và đáp: “Bà Marks này, sao mà bà giỏi phản ứng đến thế?” Bà mỉm cười nói: “Nhưng mà từ đó có nghĩa là gì, con gái?” “Nó rất có ý nghĩa với tôi,” tôi nói. “Và vào cái đêm người yêu cô nói rằng anh ta không lấy cô thì cô trở nên lãnh cảm?” “Nhưng những lần khác anh ấy nói ra hoặc ngụ ý như thế thì tôi lại không bị lãnh cảm.” Tôi nhận thấy có chút thiếu thành thật, vì vậy tôi thừa nhận: “Thực sự là phản ứng của tôi khi ở trên giường liên quan đến cách anh ấy đón nhận tôi như thế nào.” “Tất nhiên rồi, cô là một người phụ nữ đích thực cơ mà.” Bà dùng từ này, một người phụ nữ, một người phụ nữ đích thực, giống hệt như khi bà nói nghệ sĩ, một người nghệ sĩ đích thực. Một khái niệm tuyệt đối. Khi bà nói, “Cô là một người phụ nữ đích thực,” tôi bật cười, không nhịn nổi, và một lúc sau thì bà cũng bật cười. Sau đó bà hỏi tại sao tôi lại cười và tôi giải thích cho bà nghe. Bà đang định tranh thủ cơ hội này để nhắc đến chủ đề “nghệ thuật” - từ lúc tôi hết mơ đến giờ cả hai chúng tôi không ai nhắc gì đến nó nữa. Nhưng không, bà nói: “Sao cô không bao giờ đề cập đến những quan điểm chính trị của cô nhỉ?”

Tôi suy nghĩ và đáp: “Về Đảng Cộng sản - tôi chuyển từ sợ hãi, thù hận sang gắn bó kinh khủng. Xuất phát từ nhu cầu bảo vệ và chăm sóc nó - bà có hiểu điều đó không?” Bà gật đầu, vì vậy tôi nói tiếp: “Còn Janet - tôi có thể đồng thời vừa căm hận mãnh liệt sự tồn tại của nó bởi vì con bé khiến tôi không thể thực hiện được rất nhiều thứ mình muốn, lại vừa yêu thương nó. Rồi Molly nữa. Tôi có thể giờ trước vừa ghét cô ấy vì thói hách dịch và hay bảo bọc người khác thì giờ sau đã yêu thương cô ấy được rồi. Với Michael cũng hệt như vậy. Vậy nên rõ ràng là chúng ta có thể chỉ cần căn cứ vào một trong số các mối quan hệ của tôi để thấy được toàn bộ tính cách của tôi?” Đến đây bà cười nhạt. “Được thôi,” bà nói, “chúng ta hãy căn cứ vào Michael nhé.”

Ngày 15 tháng Ba, 1950

Tôi đến gặp bà Marks và nói rằng mặc dù tôi đang hạnh phúc với Michael hơn bao giờ hết trong đời, vẫn có điều gì đó xảy ra mà tôi không thể nào hiểu được. Tôi đi ngủ trong vòng tay anh, tan ra và hạnh phúc, rồi sáng hôm sau thức dậy lại cảm thấy căm ghét và thù hận anh. Nghe vậy bà nói: “Con gái ơi, vậy thì phải chăng đã đến lúc cô bắt đầu mơ trở lại?” Tôi bật cười, còn bà thì chờ đến lúc tôi dứt cười, và tôi nói, “Bà lúc nào cũng thắng.” Đêm qua tôi lại bắt đầu mơ trở lại, cứ như có ai đó ra lệnh cho tôi phải mơ.

Ngày 27 tháng Ba, 1950

Tôi khóc trong giấc mơ. Tỉnh lại chỉ nhớ được là mình đã khóc. Khi kể cho bà Marks nghe, bà nói: “Nước mắt chảy trong giấc ngủ là giọt nước mắt thật nhất chảy trong cuộc đời của chúng ta. Những giọt nước mắt lúc thức chỉ là tự thương hại mà thôi.” Tôi đáp: “Nghe rất thơ, nhưng tôi không tin là bà định nói như vậy.” “Tại sao?” “Bởi vì khi tôi đi ngủ và biết rằng mình sẽ khóc, tôi cảm thấy khoan khoái.” Bà mỉm cười, tôi chờ đợi điều đó - nhưng lúc này bà không có ý định giúp đỡ tôi. “Bà không định nói rằng,” tôi nói, giọng mỉa mai, “tôi là người khổ dâm?” Bà gật đầu: tất nhiên. “Trong nỗi đau có cả niềm vui,” tôi nói, thay bà tấu lên khúc chiến thắng. Bà gật đầu. Tôi nói: “Bà Marks ạ, nỗi đau hoài nhớ buồn bã làm tôi khóc cũng chính là cảm xúc khiến tôi viết nên cuốn sách khốn nạn đó.” Bà ngồi nhỏm dậy, thẳng người, sửng sốt. Bởi vì tôi đã gọi một cuốn sách, nghệ thuật, hoạt động cao quý đó, là khốn nạn. Tôi nói: “Tất cả những gì bà đã làm là từng bước đưa tôi đến kiến thức chủ quan về điều mà tôi đằng nào cũng biết trước, là gốc rễ của cuốn sách đã bị đầu độc.” Bà nói: “Thấu hiểu bản thân tức là biết rõ, theo các cấp độ ngày càng sâu hơn, những gì mình đã biết từ trước.” Tôi nói: “Nhưng như vậy chưa đủ.” Bà gật đầu và ngồi suy nghĩ. Tôi biết bà sắp tung ra điều gì đấy nhưng không biết là điều gì. Sau đó bà nói: “Cô có viết nhật ký không?” “Cũng thỉnh thoảng.” “Có ghi lại những chuyện xảy ra ở đây không?” “Thỉnh thoảng.” Bà gật đầu. Vậy là tôi biết bà đang nghĩ gì. Bà nghĩ rằng quá trình viết nhật ký là sự khởi đầu của cái mà bà cho là hành động phá băng, giải phóng khối “bế tắc” khiến tôi không còn sáng tác được nữa. Tôi thấy giận dữ, căm tức đến nỗi không nói nên lời. Tôi có cảm giác rằng, khi nhắc đến cuốn nhật ký, khi biến nó thành một phần trong quá trình của bà, đại loại vậy, bà đang cướp nó ra khỏi tay tôi.

[Đến đây cuốn nhật ký dừng lại, không còn là những ghi chép mang tính cá nhân nữa mà là các mẫu báo, được cắt ra và dán lại, ghi chép ngày tháng một cách cẩn thận.]

Tháng Ba, 50

Người tạo mẫu gọi đây là “Phong cách Bom H”, giải thích rằng “H” là viết tắt của hydro peroxit hay ô xy già, hóa chất dùng làm thuốc nhuộm. Mái tóc bồng lên ở phần gáy, như là bom nổ. Daily Telegraph

13 tháng Bảy, 50

Hôm nay ở Quốc hội có nhiều tiếng hoan hô khi ông Lloyd Bentsen, Đảng Dân chủ, thúc giục tổng thống Truman lên tiếng yêu cầu Bắc Triều Tiên phải rút quân trong vòng một tuần, nếu không các thành phố của họ sẽ bị đánh bom nguyên tử. Express

29 tháng Bảy, 50

Theo như ông Attlee đã nói rõ, nước Anh quyết định chi thêm 100 triệu bảng cho quốc phòng, đồng nghĩa với việc phải gác lại công cuộc cải thiện chất lượng cuộc sống và dịch vụ xã hội vốn đang được kỳ vọng. New Statesman

3 tháng Tám, 50

Nước Mỹ sẽ vẫn tiếp tục sản xuất bom H (bom khinh khí), loại vũ khí được cho là mạnh hơn bom nguyên tử hàng trăm lần. Express

5 tháng Tám, 50

Dựa vào những kết luận thu được từ bài học Hiroshima và Nagasaki về mức độ lan tỏa, độ tỏa nhiệt, phóng xạ, vân vân, người ta tính rằng một quả bom nguyên tử có thể giết chết 50.000 người trong một khu vực dân cư của Anh. Nhưng tạm thời chưa nhắc đến bom hydro, chắc chắn là ta không thể giả định an toàn rằng... New Statesman

24 tháng Mười Một, 50

MACARTHUR NÉM 100.000 QUÂN VÀO CUỘC TẤN CÔNG NHẰM KẾT THÚC CHIẾN TRANH Ở TRIỀU TIÊN. Express

9 tháng Mười Hai, 50

ĐỀ NGHỊ ĐÀM PHÁN HÒA BÌNH Ở TRIỀU TIÊN NHƯNG QUÂN ĐỒNG MINH KHÔNG CHẤP NHẬN. Express

16 tháng Mười Hai, 50

NƯỚC MỸ “CÓ NGUY CƠ XUỐNG MỒ”. Tất cả đã được đặt trong tình trạng báo động. Tối nay tổng thống Truman tuyên bố với người dân Mỹ rằng nước Mỹ đang “có nguy cơ xuống mồ” vì những kẻ lãnh đạo Liên Xô.

Ngày 13 tháng Một, 51

Hôm qua, Truman đặt ra những mục tiêu to lớn cho công tác phát triển quốc phòng của Mỹ, yêu cầu toàn thể dân Mỹ phải chấp nhận hy sinh. Express

12 tháng Ba, 51

BOM NGUYÊN TỬ CỦA EISENHOWER. Tôi sẽ sử dụng ngay lập tức nếu tôi nghĩ rằng làm vậy là đủ hủy diệt kẻ thù. Express

6 tháng Tư, 51

NỮ GIÁN ĐIỆP DO THÁM BOM NGUYÊN TỬ SẼ PHẢI CHẾT. Người chồng cũng bị đưa lên ghế điện. Thẩm phán: Ngươi Gây Ra Thảm Kịch Triều Tiên.

2 tháng Năm

TRIỀU TIÊN: 371 NGƯỜI CHẾT, BỊ THƯƠNG HAY MẤT TÍCH

9 tháng Sáu, 51

Tòa án Tối cao Hoa Kỳ vừa tuyên y án mười một lãnh tụ của Đảng Cộng sản Mỹ vì tội âm mưu tuyên truyền lật đổ chính phủ bằng vũ lực. Mức án năm năm tù và khoản phạt 10.000 đô la cho mỗi người sẽ được áp dụng ngay lập tức. Statesman

16 tháng Sáu, 51

The Los Angeles Times ngày mùng 2 tháng Sáu, tuyên bố: “Ở Triều Tiên ước tính có khoảng 2 triệu thường dân, phần lớn là trẻ em, đã bị giết hoặc chết do nhiễm phóng xạ kể từ khi chiến tranh nổ ra. Hơn mười triệu người lâm vào cảnh vô gia cư và nghèo đói.” Ngày 1 tháng Sáu, Dong Sung Kim, đặc phái viên của Cộng hòa Triều Tiên, báo cáo: “Chỉ trong một đêm, có 156 ngôi làng bị đốt trụi. Những ngôi làng này nằm trên đường kẻ thù hành quân. Vì vậy, đương nhiên máy bay của Liên Hiệp Quốc phải phá hủy chúng. Toàn bộ người già và trẻ em kẹt lại ở đó vì không đủ khả năng làm theo lệnh tản cư đều bị giết.” New Statesman

13 tháng Bảy, 51

Đàm Phán Ngừng Bắn Bị Đình Trệ - do bên Đỏ từ chối không cho 20 phóng viên và nhiếp ảnh của Đồng minh vào Kaesong. Express

16 tháng Bảy

10.000 người tại các vụ bạo loạn trên đất dầu mỏ. Binh lính sử dụng hơi cay. Express

28 tháng Bảy

Cho đến nay, việc hiện đại hóa vũ khí vẫn không khiến người dân Mỹ phải chịu bất cứ hy sinh nào. Ngược lại, tiêu dùng tiếp tục gia tăng. New Statesman

1 tháng Chín, 51

Kỹ thuật làm đông nhanh tế bào mầm và bảo quản vô thời hạn có thể thay đổi hoàn toàn ý nghĩa của thời gian. Hiện tại, kỹ thuật này đang được áp dụng cho tinh trùng nam giới, nhưng cũng có thể được điều chỉnh cho trứng của phụ nữ. Một nam giới sống ở năm 1951 và một phụ nữ sống ở năm 2051 có thể được “phối” với nhau vào năm 2251 và được một người mẹ nuôi mang thai hộ. Statesman

17 tháng Mười, 51

THẾ GIỚI HỒI GIÁO RỰC LỬA. Tăng thêm quân đến Suez. Express

20 tháng Mười

QUÂN ĐỘI PHONG TỎA AI CẬP. Express

16 tháng Mười một, 51

12.790 tù binh của Đồng minh và 250.000 thường dân Hàn Quốc đã bị quân Đỏ giết hại ở Triều Tiên. Express

24 tháng Mười một, 51

Trong vòng đời con cái chúng ta, dân số thế giới có thể đạt tới mức 4 tỷ. Làm thế nào để chúng ta có thể thực hiện được phép mầu nuôi sống 4 tỷ con người? Statesman

24 tháng Mười Một, 51

Không ai biết được bao nhiêu người đã bị hành quyết, bỏ tù, tống vào các trại cải tạo hoặc chết sau hàng tháng thẩm vấn trong công cuộc thanh trừng vĩ đại của Liên Xô từ năm 1937-1939, cũng không ai biết liệu một triệu hay hai mươi triệu người đang phải chịu cảnh lao động cưỡng bức ở nước Nga ngày nay. Statesman

13 tháng Mười hai, 51

NGA CHẾ TẠO MÁY BAY NÉM BOM NGUYÊN TỬ. Nhanh nhất thế giới. Express

1 tháng Mười Hai, 51

Nước Mỹ đang trong thời kỳ thịnh vượng nhất trong lịch sử. Mặc dù chỉ riêng khoản chi tiêu cho hiện đại hóa vũ khí và viện trợ kinh tế nước ngoài hiện nay đã lớn hơn toàn bộ Ngân sách Liên bang trước chiến tranh. Statesman

29 tháng Mười hai, 51

Đây là năm đầu tiên trong lịch sử Anh đang trong thời kỳ hòa bình mà chúng ta có mười một sư đoàn ở nước ngoài và chi ra mười phần trăm ngân sách mỗi năm cho vũ khí. Statesman

29 tháng Mười Hai, 51

Ở Mỹ, có những dấu hiệu cho thấy rằng có thể cuối cùng McCarthy(19) và bạn bè cũng đã vượt quá giới hạn của mình. Statesman

12 tháng Một, 1952

Khi Tổng thống Truman tuyên bố với cả thế giới hồi đầu năm 1950 rằng nước Mỹ sẽ thúc đẩy các nỗ lực sản xuất bom H - theo lời các nhà khoa học thì có sức công phá lớn gấp 1.000 lần so với quả bom ở Hiroshima, hoặc tương đương với hai mươi triệu tấn thuốc nổ T.N.T. - Albert Einstein âm thầm chỉ ra rằng đã “xuất hiện, càng ngày càng rõ, bóng ma của một cuộc đại hủy diệt.” Statesman

1 tháng Ba, 1952

Cũng giống như hàng trăm ngàn người dân vô tội bị kết tội là phù thủy ở thời Trung cổ, vô số các đảng viên và người yêu nước ở Liên Xô đã bị thanh trừng vì những hoạt động phản cách mạng hoang đường. Trên thực tế, cũng chính vì không có gì để mà lật tẩy nên các vụ bắt giữ đã đạt tới một con số không tưởng (bằng một phương pháp cực kỳ tài tình, ông Weissberg đã tính toán rằng từ năm 1936 đến 1939, có thể đã có tám triệu người vô tội bị thuyên chuyển qua các nhà tù). Statesman

22 tháng Ba, 1952

Lời buộc tội rằng Liên Hiệp Quốc đang tiến hành chiến tranh vi khuẩn ở Triều Tiên không thể bị bác bỏ chỉ vì nó quá điên rồ. Statesman

15 tháng Tư, 52

Chính phủ cộng sản Rumani vừa ra lệnh trục xuất hàng loạt “người vô dụng” ra khỏi Bucharest. Con số này lên tới 200.000 người, tương đương một phần năm thành phố. Express

28 tháng Sáu, 52

Không thể nào xác định được số người Mỹ bị hạn chế hoặc từ chối hộ chiếu, nhưng các trường hợp được biết cho thấy rất nhiều người thuộc các tầng lớp, tín ngưỡng và niềm tin chính trị khác nhau đã bị ảnh hưởng. Nằm trong danh sách này có cả… Statesman

5 tháng Bảy, 52

Quan trọng hơn hết, hệ quả của phong trào săn phù thủy ở Mỹ là tạo ra một sự tuân thủ ở mức độ toàn dân, một tinh thần chính thống mới, trong đó bất đồng ý kiến sẽ đồng nghĩa với thiệt hại về kinh tế. Statesman

2 tháng Chín, 52

Bộ trưởng Nội vụ nói rằng mặc dù một quả bom nguyên tử ném chính xác chắc chắn sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng, đôi khi người ta cũng phóng đại quá đáng về chuyện này. Express

Tôi hiểu rõ rằng ta không thể làm cách mạng bằng nước hoa hồng được; câu hỏi của tôi là, để triệt tiêu nguy cơ chiến tranh khỏi đất Đài Loan, liệu có nhất thiết phải hành quyết một triệu rưởi người hay không, hay chỉ tước vũ khí của họ là đủ. Statesman

13 tháng Mười hai, 1952

NGƯỜI NHẬT YÊU CẦU VŨ TRANG. Express

13 tháng Mười hai

Mục II của Đạo luật McCarran cho phép thành lập cái gọi là trại tạm giam. Thay vì chỉ đạo công tác thành lập các trại đó, luật pháp cho phép Bộ trưởng Tư pháp Mỹ bắt và giam giữ “tại các trại tạm giam đó theo lệnh của ông ta… tất cả những người nào mà ta có cơ sở hợp lý để tin rằng người đó hẳn sẽ tham gia hoặc sẽ âm mưu cùng với người khác tham gia vào các hoạt động gián điệp và phá hoại.”

3 tháng Mười, 52

TRÁI BOM CỦA CHÚNG TA ĐÃ NỔ. Vũ khí nguyên tử đầu tiên của nước Anh đã phát nổ thành công. Express

11 tháng Mười, 22

QUÂN MAU MAU CHÉM ĐẠI TÁ(20). Express

23 tháng Mười, 22

QUẤT CHÚNG ĐI. Ngài Goddard, chánh thẩm Tối cao. Express

25 tháng Mười, 52

Đại tá Robert Scott, Sĩ quan chỉ huy thuộc căn cứ Không quân Mỹ tại Furstenfeldbruck: “Hiệp ước sơ bộ giữa Mỹ và Đức đã được ký kết. Tôi thực sự hy vọng rằng tổ quốc của các bạn sẽ sớm trở thành thành viên chính thức của lực lượng NATO… Tôi nóng lòng cùng các bạn chờ đợi đến ngày chúng ta kề vai sát cánh bên nhau như bạn bè, anh em để chống lại mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản. Tôi hy vọng và cầu nguyện rằng sẽ sớm xảy ra cái thời khắc mà tôi hoặc một tư lệnh khác của nước Mỹ sẽ chuyển giao căn cứ Không quân tuyệt vời này cho một Tư lệnh Không quân Đức cùng với sự khởi đầu cho Không lực mới của nước Đức.” Statesman

17 tháng Mười một, 52

NƯỚC MỸ THỬ NGHIỆM BOM H. Express

1 tháng Mười một, 52

Triều Tiên: Kể từ khi bắt đầu đàm phán ngừng bắn, tổng thương vong, kể cả thường dân, sẽ sớm ngang bằng với con số tù nhân mà vận mệnh của họ đang là trở ngại chính cho việc ngừng bắn. Statesman

27 tháng Mười một, 52

Tối nay, chính phủ Kenya đã tuyên bố rằng kết quả của biện pháp trừng phạt tập thể dành cho vụ sát hại Tư lệnh Jack Meiklejohn hôm thứ Bảy tuần trước là 750 nam giới cùng 2.200 phụ nữ và trẻ em đã bị trục xuất ra khỏi nhà ở. Express

8 tháng Mười một, 52

Mấy năm gần đây, hành động tố cáo những người chỉ trích phong trào McCarthy là những người “chống nước Mỹ” cáu bẳn kinh niên đã trở thành mốt. Statesman

22 tháng Mười một, 52

Chỉ mới hai năm kể từ khi Tổng thống Truman ra lệnh “Chạy” cho chương trình Bom H. Ngay lập tức, một nhà máy tỷ đô đã được tiến hành xây dựng tại sông Savannah, South Carolina, nhằm sản xuất tritium (hydro có 2 neutron trong nguyên tử); đến cuối năm 1951, ngành công nghiệp bom H đã trở thành lĩnh vực công nghiệp sánh ngang với các tập đoàn U.S. Steel và General Motors. Statesman

22 tháng Mười một, 52

Nhưng phát súng đầu tiên của chiến dịch hiện tại đã nổ - thật tiện thay lại trùng hợp với cao trào sôi nổi của chiến dịch bầu cử của phe Cộng hòa, một chiến dịch đã lợi dụng tối đa vụ Alger Hiss(21) được “cài cắm” vào Bộ Ngoại giao - nhờ vào tiết lộ của Thượng nghị sĩ Cộng hòa Alexander Wiley bang Wisconsin rằng ông ta đã yêu cầu tiến hành điều tra việc các đảng viên cộng sản người Mỹ “thâm nhập sâu” vào Ban Thư ký Liên Hiệp Quốc… Sau đó, Tiểu ban An ninh Nội vụ của Thượng viện bắt đầu thẩm vấn 12 nạn nhân đầu tiên của mình trong đợt tấn công mới này, tất cả đều là quan chức cấp cao… nhưng việc 12 nhân chứng từ chối làm chứng xác nhận bất cứ liên hệ nào với cộng sản cũng không thể cứu được họ khỏi… Nhưng rõ ràng là các Thượng nghị sĩ săn phù thủy đang tìm kiếm con mồi lớn hơn 12 người nói trên, những người mà bằng chứng duy nhất được dẫn ra cho tội âm mưu lật đổ và làm gián điệp là thái độ im lặng của họ. Statesman

29 tháng Mười một, 52

Mặc dù diễn ra theo đúng chuẩn pháp lý chính trị ở các nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Đông Âu, phiên tòa xử những người chống phá nhà nước ở Tiệp Khắc được quan tâm một cách bất thường. Trước hết đó là vì Tiệp Khắc là nước duy nhất trong khối Đông Âu có lối sống dân chủ đã bắt rễ rất sâu, bao gồm đầy đủ quyền tự do công dân và bộ máy tư pháp độc lập. Statesman

3 tháng Mười hai, 52

NGƯỜI DARTMOOR BỊ PHẠT ĐÁNH. Kẻ phạm tội bị đánh 12 roi. Express

17 tháng Mười Hai, 1952

11 LÃNH TỤ CỘNG SẢN BỊ TREO CỔ Ở PRAHA. Gián Điệp Phe Tư Bản, Chính Phủ Tiệp Tuyên Bố.

29 tháng Mười Hai, 1952

Một nhà máy nguyên tử mới toanh trị giá 10.000 bảng được thiết kế để tăng gấp đôi sản lượng vũ khí hạt nhân của nước Anh. Express

13 tháng Một, 53

CHOÁNG VÁNG VỚI ÂM MƯU SÁT HẠI Ở LIÊN XÔ. Sáng sớm hôm nay, đài phát thanh Moscow buộc tội một nhóm khủng bố trong vỏ bọc các bác sĩ người Do Thái đã âm mưu ám sát các lãnh đạo của Nga - trong đó có một số sĩ quan hàng đầu của quân đội Liên Xô và một nhà khoa học nguyên tử. Express

6 tháng Ba, 1953

STALIN QUA ĐỜI. Express

23 tháng Ba, 1953

2.500 QUÂN MAU MAU BỊ BẮT. Express

23 tháng Ba, 1953

ÂN XÁ CHO TÙ NHÂN Ở LIÊN XÔ. Express

1 tháng Tư, 1953

HÒA BÌNH Ở TRIỀU TIÊN CÓ THỂ CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO VỚI BẠN? Express

7 tháng Năm, 1953

THÊM HY VỌNG HÒA BÌNH Ở TRIỀU TIÊN. Express

8 tháng Năm, 1953

Nước Mỹ đang thảo luận về khả năng triển khai hành động của Liên Hiệp Quốc nhằm “kiềm chế hành động khiêu chiến của cộng sản ở Đông Nam Á”. Và Mỹ đang gửi một lượng lớn máy bay, xe tăng và đạn dược tới Đông Dương. Express

13 tháng Năm THẢM SÁT Ở AI CẬP. Express

18 tháng Bảy, 1953

TRẬN ĐÁNH ĐÊM Ở BERLIN. Rạng sáng hôm nay, 15.000 Người Dân Đông Berlin đang chiến đấu với một sư đoàn thiết giáp và bộ binh Liên Xô trên những con phố không có lấy một ánh đèn. Express

6 tháng Bảy

NỔI DẬY Ở RUMANI. Express

10 tháng Bảy, 53

BERIA BỊ XÉT XỬ VÀ BỊ BẮN. Express

27 tháng Bảy, 1953

TRIỀU TIÊN NGỪNG BẮN. Express

7 tháng Tám, 1953

ĐÔNG ĐẢO TÙ BINH NỔI LOẠN. Cuộc nổi loạn trên quy mô lớn với 12.000 tù binh Bắc Triều Tiên đã bị dập tắt khi các lính gác Liên Hiệp Quốc sử dụng hơi cay và vũ khí hạng nhẹ. Express

20 tháng Tám, 1953

300 người chết trong một phi vụ đảo chính. Ba Tư. Express

19 tháng Hai, 1954

Nước Anh đã có một kho bom nguyên tử dự trữ. Express

27 tháng Ba, 1954

QUẢ BOM H THỨ HAI BỊ HOÃN LẠI - Các đảo vẫn còn chịu sức nóng của vụ nổ số 1. Express

30 tháng Ba

QUẢ BOM H THỨ HAI ĐƯỢC CHO NỔ. Express

[Đến đây các ghi chép mang tính cá nhân lại tiếp tục.]

2 tháng Tư, 1954

Hôm nay tôi nhận thấy rằng mình đang rút khỏi cái mà bà Marks gọi là “trải nghiệm” của tôi với bà; và do một điều bà nói; chắc hẳn bà đã biết trước được một thời gian rồi. Bà nói: “Cô phải nhớ rằng ngừng phân tích trải nghiệm không có nghĩa là ngừng chính trải nghiệm đó.” “Bà muốn nói rằng, cái men nở vẫn tiếp tục có tác dụng?” Bà mỉm cười và gật đầu.

4 tháng Tư, 1954

Tôi lại gặp ác mộng - tôi bị nguyên lý vô chính phủ đe dọa, lần này dưới hình dạng một kẻ lùn không phải người. Trong giấc mơ có cả bà Marks, rất to lớn và mạnh mẽ; giống như một phù thủy tốt bụng. Bà nghe tôi kể lại giấc mơ và nói: “Khi cô chỉ có một mình, và cô bị đe dọa, cô phải triệu hồi phù thủy tốt bụng để giúp đỡ.” “Là bà,” tôi đáp. “Không, chính là cô, hiện thân trong hình ảnh cô tạo nên từ tôi.” Vậy là xong chuyện. Cứ như thể bà vừa nói: Từ giờ cô tự thân vận động nhé. Vì bà nói một cách bâng quơ, gần như là hững hờ, giống hệt một người quay lưng đi. Tôi ngưỡng mộ sự điệu nghệ của bà; cứ như là vừa tạm biệt bà vừa trao cho tôi một vật gì đó - có thể là một nhánh cây đang nở hoa, hoặc lá bùa trừ ma quỷ.

7 tháng Tư, 1954

Bà hỏi tôi có ghi chép gì về những “trải nghiệm” hay không. Tình hình là, trong suốt ba năm qua bà chưa một lần đề cập đến cuốn nhật ký; vì vậy hẳn là bản năng của bà đã cho biết rằng tôi không hề ghi chép. Tôi đáp: “Không.” “Cô không hề ghi chép chút gì?” “Không. Nhưng tôi có trí nhớ rất tốt.” Im lặng. “Vậy là cuốn nhật ký mà cô từng bắt đầu viết vẫn còn trắng?” “Không, tôi dán các mảnh cắt ra từ báo.” “Loại nào?” “Chỉ là những thứ gây ấn tượng với tôi thôi - những sự kiện có vẻ quan trọng.” Bà nhìn tôi với vẻ khó hiểu như muốn nói: Này, tôi đang chờ nghe định nghĩa đây. Tôi nói: “Hôm trước tôi vừa xem lại chúng, những gì tôi có là một hồ sơ về chiến tranh, giết người, loạn lạc, đau khổ.” “Và có vẻ như đối với cô đấy là sự thật về mấy năm vừa qua?” “Chẳng lẽ với bà đấy lại không phải là sự thật sao?” Bà nhìn tôi - mỉa mai. Không dùng lời, bà đang nói rằng “trải nghiệm” của chúng tôi có tính sáng tạo và có kết quả, và rằng tôi không trung thực khi nói câu vừa rồi. Tôi nói: “Tốt thôi; những mảnh báo cắt ra đó là để xác định thứ tự ưu tiên, cái gì quan trọng, cái gì không. Tôi đã bỏ ra ba năm có lẻ vật lộn với linh hồn quý giá của mình, còn trong lúc đó…” “Trong lúc đó làm sao?” “Chỉ vì gặp may mà tôi mới không bị tra tấn, sát hại, chết đói, hoặc bỏ xác trong tù.” Trông bà vẫn mỉa mai một cách kiên nhẫn, vì vậy tôi nói: “Chắc bà phải thấy rằng những gì xảy ra ở đây, trong căn phòng này, không chỉ kết nối người ta với cái mà bà gọi là sáng tạo. Nó kết nối người ta với… nhưng tôi không biết phải gọi nó là gì nữa.” “Tôi thấy vui khi cô không sử dụng từ hủy diệt.” “Được rồi, mọi thứ đều có hai mặt, vân vân, nhưng mặc dù vậy, mỗi khi có điều kinh khủng xảy ra ở đâu đó, tôi lại mơ về nó, như thể chính bản thân tôi có liên quan đến vậy.” “Cô vẫn đang cắt tất cả những chuyện tồi tệ ra khỏi các trang báo và dán chúng vào cuốn nhật ký dành cho trải nghiệm này, như một lời chỉ dẫn cho chính cô về cách mơ?” “Nhưng bà Marks, như vậy thì có gì sai cơ chứ?” Chúng tôi thường xuyên rơi vào tình trạng bế tắc này, đến nỗi giờ đây không ai cố gắng phá vỡ nó cả. Bà ngồi mỉm cười với tôi, lạnh nhạt và nhẫn nại. Tôi đối mặt với bà, thách thức.

9 tháng Tư, 1954

Hôm nay, lúc tôi ra về bà nói: “Vậy là bây giờ con gái ạ, khi nào thì cô bắt đầu viết trở lại?” Tất nhiên, tôi có thể nói rằng suốt thời gian này tôi vẫn thỉnh thoảng nguệch ngoạc mấy dòng trong các cuốn sổ, nhưng bà không định hỏi như thế. Tôi đáp: “Rất có khả năng là không bao giờ.” Bà phác một cử chỉ nôn nóng, gần như là cáu kỉnh; trông bà bực bội, giống như một bà nội trợ bị đổ bể kế hoạch - cử chỉ này rất chân thực, không giống bất cứ nụ cười, cái gật đầu, hoặc lắc đầu, hoặc tắc lưỡi nôn nóng nào mà bà thường sử dụng để chỉ huy buổi chữa bệnh. “Tại sao bà lại không hiểu được rằng,” tôi nói, thực sự muốn giải thích với bà, “chẳng có tờ báo nào mà tôi cầm lên lại không chứa những thông tin có vẻ kinh khủng tột độ đến mức khiến cho mọi thứ tôi có thể viết ra đều trở nên vô nghĩa lý?” “Vậy thì cô không nên đọc báo nữa.” Tôi cười. Một lúc sau bà mỉm cười với tôi.

15 tháng Tư, 1954

Tôi có vài giấc mơ, tất cả đều liên quan đến việc Michael rời bỏ tôi. Nhờ những giấc mơ này mà tôi biết rằng anh sẽ sớm làm vậy; rất sớm. Trong giấc ngủ, tôi quan sát các cảnh chia ly này. Không chút cảm xúc. Trong đời thực, tôi bất hạnh một cách tuyệt vọng, mãnh liệt, trong lúc ngủ, tôi dửng dưng. Hôm nay bà Marks hỏi tôi: “Nếu tôi yêu cầu cô dùng một cụm từ để mô tả những gì cô đã học được từ tôi, cô sẽ trả lời thế nào?” “Là bà đã dạy tôi khóc,” tôi đáp, không phải là không cộc lốc. Bà mỉm cười, chấp nhận thái độ đó. “Rồi sao?” “Thế nên bây giờ tôi trở nên dễ tổn thương gấp trăm lần trước đây.” “Rồi sao nữa? Có thế thôi à?” “Ý bà nói là tôi cũng mạnh hơn gấp trăm lần? Tôi không biết. Tôi không biết nữa. Tôi hy vọng thế.” “Tôi biết,” bà nói, nhấn mạnh. “Cô đang mạnh mẽ hơn rất nhiều. Và cô sẽ viết về trải nghiệm này.” Một cái gật đầu quả quyết; rồi bà nói: “Rồi cô sẽ thấy. Trong vài tháng, có lẽ là vài năm.” Tôi nhún vai. Chúng tôi lên lịch hẹn cho tuần tới; đây sẽ là cuộc hẹn cuối cùng.

23 tháng Tư

Tôi mơ thấy một giấc mơ cho cuộc hẹn cuối cùng. Tôi mang theo nó đến chỗ bà Marks. Tôi mơ thấy mình cầm một chiếc hộp gì đó trên tay, bên trong đựng một thứ rất quý. Tôi bước đi dọc một căn phòng dài, giống như phòng tranh hoặc giảng đường, đầy những tranh tượng chết. (Khi tôi nói từ chết, bà Marks mỉm cười vẻ mỉa mai.) có một nhóm người đang chờ đợi ở cuối căn phòng trên một cái bục. Họ đang chờ tôi đến giao cho họ chiếc hộp. Tôi thấy vui mừng khôn xiết vì cuối cùng rồi cũng trao cho họ được vật quý đó. Nhưng khi trao xong, đột nhiên tôi thấy họ đều là doanh nhân, môi giới chứng khoán, đại loại thế. Họ không mở hộp ra mà đưa cho tôi những khoản tiền lớn. Tôi bắt đầu khóc. Tôi hét lên: “Mở hộp ra, mở hộp ra,” nhưng họ không nghe thấy tôi, hoặc không muốn nghe. Đột nhiên tôi nhận ra tất cả họ đều là những nhân vật trong một bộ phim hoặc vở kịch nào đó do tôi viết ra, và thấy xấu hổ với nó. Khung cảnh chuyển hẳn thành hề kịch, lấp lánh và gớm ghiếc, còn tôi là một nhân vật trong chính vở kịch của mình. Tôi mở chiếc hộp ra và bắt họ nhìn. Nhưng trái với suy nghĩ của tôi, bên trong không có vật gì đẹp đẽ cả mà là một đống các mảnh vụn. Không phải là một vật hoàn chỉnh bị vỡ thành nhiều mảnh mà là các mảnh vụn từ khắp nơi trên thế giới - tôi nhận ra một cục đất đỏ mà tôi biết là có xuất xứ từ châu Phi, rồi một mảnh kim loại thuộc về một khẩu súng Đông Dương, và rồi mọi thứ trở nên ghê rợn, các mảnh thịt từ những người bị giết trong chiến tranh Triều Tiên và một cái huy hiệu đảng của người nào đó đã chết trong nhà tù Liên Xô. Nhìn vào đống mảnh vụn xấu xí này, tôi có cảm giác đau đớn đến mức không thể nào nhìn được, vì vậy tôi đóng nắp hộp lại. Nhưng tốp doanh nhân này không hề để ý. Họ lấy chiếc hộp từ tay tôi và mở ra. Tôi quay đi để không phải nhìn, nhưng họ rất vui. Cuối cùng tôi cũng nhìn và thấy trong hộp có một thứ. Đấy là một con cá sấu nhỏ màu xanh lá cây với chiếc mõm mỉa mai đầy vẻ đồng lõa. Tôi nghĩ rằng đây là một con cá sấu làm bằng ngọc bích hoặc ngọc lục bảo, nhưng rồi tôi thấy nó là vật sống vì những giọt nước mắt lớn, băng giá chảy xuống má và biến thành kim cương. Tôi phá lên cười khi thấy mình đã lừa được đám doanh nhân và tỉnh giấc. Bà Marks nghe tôi kể lại giấc mơ này nhưng không nhận xét gì, dường như bà không hề quan tâm. Chúng tôi thân ái chào tạm biệt, nhưng trong lòng mình, bà đã quay đi, và tôi cũng vậy. Bà bảo tôi cứ “ghé qua thăm” nếu tôi cần đến bà. Tôi nghĩ, làm thế nào mà tôi cần bà được cơ chứ khi mà bà đã ban cho tôi hình ảnh của bà, tôi biết cực rõ là mỗi khi gặp rắc rối tôi sẽ mơ thấy bà phù thủy to lớn nhân từ như một người mẹ đó. (Bà Marks thuộc mẫu người rất nhỏ nhắn, dẻo dai, đầy nghị lực, nhưng tôi luôn mơ thấy bà to lớn và mạnh mẽ.) Tôi bước ra khỏi căn phòng tối tăm, trang trọng mà tôi đã dành rất nhiều giờ nửa mê nửa tỉnh trong những ảo ảnh và những giấc mơ, căn phòng giống như một ngôi miếu thờ nghệ thuật, và tôi đặt chân lên cái vỉa hè xấu xí, lạnh giá. Tôi thấy mình trong khung cửa sổ một cửa hàng: một người phụ nữ nhỏ bé, khá xanh xao, khô khan, gầy guộc, trên mặt có cái nhìn châm biếm mà tôi nhận thấy là giống hệt như vẻ nhăn nhở nơi mõm con cá sấu nhỏ bé màu xanh lá cây đầy ác ý trong chiếc hộp pha lê trong mơ.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Doris Lessing

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.