Cuốn Sổ Vàng

Lượt đọc: 202 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời tựa

❊ ❊ ❊

Cuốn tiểu thuyết này được sắp xếp như sau:

Có một bộ xương, hoặc bộ khung, tên là Phụ nữ tự do, là một tiểu thuyết ngắn viết theo lối truyền thống dài khoảng 60.000 từ, có thể đứng độc lập được. Nhưng nó được chia thành năm đoạn, xen giữa là các phần của bốn cuốn sổ có bìa màu đen, đỏ, vàng và xanh dương. Các cuốn sổ này thuộc về Anna Wulf, nhân vật trung tâm của Phụ nữ tự do. Cô viết vào bốn chứ không phải một cuốn bởi vì, như cô thừa nhận, cô phải tách rời các thứ với nhau, vì sợ sự hỗn loạn, sự vô định hình - sợ sụp đổ. Áp lực, từ bên trong lẫn bên ngoài, đã khép lại các cuốn sổ; một dòng đen đậm được kẻ ngang trang giấy từ cuốn này sang cuốn khác. Nhưng giờ khi bốn cuốn sổ đã kết thúc, từ các mảnh vỡ của chúng có thể xuất hiện một thứ mới mẻ, Cuốn Sổ Vàng.

Từ đầu đến cuối các cuốn sổ, các nhân vật đã đưa ra những lời bàn luận, giả thuyết, giáo điều, dán nhãn, chia ngăn - đôi khi bằng một giọng chung chung và tiêu biểu cho thời đại tới mức họ trở thành ẩn danh, bạn có thể đặt cho họ những cái tên như trong các vở kịch luân lý thời trước, ông Giáo-Điều và ông Tôi-Tự-Do-Bởi-Vì-Tôi-Chả-Thuộc-Về-Nơi-Nào-Cả, cô Tôi-Phải-Có-Được-Tình-Yêu-và-Hạnh-Phúc và bà Tôi-Phải-Giỏi-Trong-Mọi-Việc-Tôi-Làm, ông Phụ-Nữ-Đích-Thực-Ở-Đâu? và cô Đàn-Ông-Đích-Thực-Ở-Đâu?, ông Tôi-Điên-Vì-Người-Ta-Bảo-Vậy, và cô Cuộc Đời-Qua-Trải-Nghiệm-Mọi-Việc, ông Tôi-Làm-Cách-Mạng-Vì-Vậy-Tôi-Tồn-Tại, và ông bà Nếu-Chúng-Ta-Xử-Lý-Tốt-Vấn-Đề-Nhỏ-Này-Thì-Có-Lẽ-Chúng-Ta-Có-Thể-Quên-Đi-Rằng-Chúng-Ta-Không-Dám-Nhìn-Vào-Những-Vấn-Đề-Lớn. Nhưng họ cũng phản ánh lẫn nhau, là các mặt của nhau, khai sinh ra suy nghĩ và hành vi của nhau - nhau, tạo thành các chỉnh thể. Trong Cuốn Sổ Vàng bên trong cuốn sách này, tất cả đã tập hợp lại, mọi ngăn cách bị phá vỡ, tình trạng phân mảnh chấm dứt để lại sự vô định hình - sự chiến thắng của chủ đề thứ hai, tức là thống nhất. Anna và tay người Mỹ Saul Green đều “đổ vỡ”. Họ điên, họ rồ, họ tâm thần - muốn dùng từ gì cũng được. Họ “vỡ” vào nhau, vào người khác, phá tan những mô hình giả dối họ dựng lên từ quá khứ của mình, những mô hình và công thức mà họ tạo ra để chống đỡ cho bản thân và cho nhau, họ tan rã. Họ nghe thấy ý nghĩ của nhau, nhận ra người kia trong chính mình. Saul Green, con người từng ghen tị và là tác nhân hủy diệt Anna, giờ ủng hộ cô, khuyên nhủ cô, gợi ý chủ đề cho cuốn sách thứ hai của cô, Phụ nữ tự do - một cái tên mỉa mai, mở đầu bằng: “Chỉ có hai người phụ nữ trong căn hộ ở London.” Và Anna, từng ghen vì Saul đến mức phát điên, chiếm hữu và đòi hỏi, đã cho Saul cuốn sổ mới xinh đẹp, Cuốn Sổ Vàng, mà trước đó cô đã từ chối không cho, gợi ý cho anh chủ đề mới cho cuốn sách tiếp theo của anh, viết vào đó câu đầu tiên: “Trên một sườn đồi khô ráo ở Algeria, người lính ngắm ánh trăng lấp lánh trên khẩu súng trường.” Trong Cuốn Sổ Vàng bên trong Cuốn Sổ Vàng, do cả hai cùng viết, không còn phân biệt nổi đâu là Saul và Anna, hoặc đâu là họ và đâu là những người khác trong cuốn sách.

Chủ đề “sụp đổ” này - rằng đôi lúc khi người ta “đổ vỡ” đấy cũng là một cách chữa lành bản thân, cách mà bản thể nội tại gạt bỏ những lưỡng phân và chia rẽ sai lầm - từ đó đến nay đã được nhiều người khác, cũng như chính bản thân tôi, đề cập tới. Nhưng nếu không tính đến vài cái truyện ngắn thi thoảng thì cuốn sách này là tác phẩm đầu tiên tôi viết về nó. Ở đây nó thô ráp hơn, gần với trải nghiệm thực hơn, trước khi trải nghiệm thực đã định hình thành ý nghĩ và mô hình - và có giá trị hơn có lẽ vì nó là nguyên liệu thô.

Nhưng không ai để ý mấy đến chủ đề trọng tâm này, bởi vì cuốn sách này lập tức hoặc bị coi thường, bởi những nhà phê bình thân thiện cũng như thù địch, rằng nó chẳng qua chỉ viết về cuộc chiến giới tính, hoặc được những người phụ nữ chiếm lấy làm một thứ vũ khí hữu dụng trong cuộc chiến giới tính.

Kể từ đó tôi ở vào một vị thế không thành thật, bởi vì từ chối ủng hộ những người phụ nữ không phải là một việc tôi muốn làm.

Để chốt lại cái đề tài Giải phóng Phụ nữ này - tất nhiên là tôi ủng hộ phong trào đó, bởi vì phụ nữ là những công dân hạng hai, như người ta đang nói rất hay và rất hăm hở ở nhiều quốc gia. Có thể nói rằng họ đang thành công, dù thành công của họ chỉ đến mức là đang được nghiêm túc lắng nghe. Những người trước đây thù địch hoặc thờ ơ thì giờ đã nói: “Tôi ủng hộ mục tiêu của họ nhưng tôi không thích giọng nói the thé cũng như cái kiểu hành xử thô tục, xấu tính của họ.” Đây là một giai đoạn không thể tránh khỏi và dễ nhận thấy trong bất cứ phong trào cách mạng nào: những người cải cách phải chuẩn bị tinh thần bị chối bỏ bởi những người đang sung sướng hưởng thụ những thành quả mà họ đã giành được. Mặc dù vậy, tôi không nghĩ rằng phong trào Giải phóng Phụ nữ sẽ thay đổi được nhiều - không phải là vì mục tiêu của nó có gì sai, mà vì rõ ràng là những biến cố mà chúng ta đang trải qua đang khiến cả thế giới rung chuyển thành một mô hình mới: có thể là khi chúng ta trải qua xong chặng này, nếu chúng ta sống sót được, những mục tiêu của Giải phóng Phụ nữ trông sẽ rất nhỏ bé và kỳ khôi.

Những cuốn tiểu thuyết này không phải là tiếng kèn cổ vũ cho Giải phóng Phụ nữ. Nó mô tả nhiều cảm xúc của phụ nữ như hung hăng, thù địch, oán giận. Nó đưa chúng ra trang giấy. Rõ ràng là những gì mà nhiều phụ nữ vẫn đang nghĩ, cảm nhận, trải nghiệm, đã đem đến một niềm kinh ngạc lớn. Ngay lập tức rất nhiều vũ khí cổ xưa được đem ra, những món chính, như thường lệ, chính là các câu kiểu như “Cô ta chả đàn bà tí nào”, “Cô ta là một mụ ghét đàn ông”. Dường như phản xạ này không thể nào bị phá hủy. Đàn ông - và nhiều phụ nữ, từng nói rằng phụ nữ đòi quyền bầu cử đầu thế kỷ 20 là phi nữ tính, là nam tính, là đã nhiễm thói hung bạo. Tôi chưa đọc được một tài liệu nào nói về một xã hội trong đó phụ nữ đòi hỏi nhiều hơn những gì tự nhiên ban phát cho mà lại không ghi nhận phản ứng này từ phía đàn ông - và một số phụ nữ. Nhiều phụ nữ nổi giận với Cuốn Sổ Vàng. Những gì phụ nữ vẫn nói với những phụ nữ khác, cằn nhằn trong nhà bếp, phàn nàn, buôn chuyện hoặc bộc lộ qua cái cách họ sung sướng với nỗi khổ của mình, lại không phải là những gì họ muốn nói lớn thành tiếng - vì sợ đàn ông có thể nghe lỏm thấy. Phụ nữ hèn nhát như thế bởi vì họ đã sống gần như là nô lệ trong thời gian quá dài. Số phụ nữ sẵn sàng đứng lên bảo vệ những gì họ thực sự nghĩ, cảm nhận, trải nghiệm với người đàn ông họ yêu vẫn còn ít ỏi. Hầu hết phụ nữ vẫn sẽ bỏ chạy như những chú cún con bị ném đá khi đàn ông nói: Em không nữ tính, hung hăng, em đang làm mất hết nam tính của anh. Tôi tin rằng bất cứ phụ nữ nào kết hôn với một anh chàng sử dụng kiểu đe dọa này, hoặc đặt niềm tin vào anh ta theo một cách nào đó, đều xứng đáng với những gì cô ta nhận được. Vì đàn ông như thế chỉ là một kẻ ức hiếp người khác, không biết gì về thế giới anh ta đang sống, hoặc về lịch sử của nó - đàn ông và phụ nữ đảm nhiệm vô số vai trò trong quá khứ, và cả hiện tại, trong các xã hội khác nhau. Vì vậy nên anh ta hoặc dốt nát, hoặc sợ bị lạc loài - một tên hèn… Tôi viết tất cả những nhận xét này bằng đúng cái cảm giác như thể tôi đang viết thư gửi vào quá khứ xa xôi: Tôi chắc chắn rằng mọi thứ chúng ta bây giờ coi là đương nhiên, sẽ bị quét sạch trong thập kỷ sau.

(Thế thì tại sao lại viết tiếu thuyết? Thật sự đấy, tại sao! Tôi đồ rằng chúng ta phải tiếp tục sống như thể…)

Một số cuốn sách không được đọc đúng cách bởi vì chúng đã nhảy cóc qua một giai đoạn phát triển quan điểm, giả định một sự kết tinh thông tin trong xã hội mà thực tế vẫn chưa xảy ra. Cuốn sách này được viết như thể mọi thái độ mà các phong trào Giải phóng Phụ nữ tạo ra đã tồn tại trong thực tế. Lần đầu tiên nó xuất hiện là cách đây ngót mười năm, 1962. Nếu ra mắt bạn đọc vào thời điểm hiện tại, có lẽ người ta sẽ thực sự đọc nó chứ không chỉ đơn thuần là phản ứng lại: tình hình đã thay đổi rất nhanh. Một số thói đạo đức giả nhất định đã biến mất. Chẳng hạn, mười, hoặc thậm chí năm, năm trước - một thời nổi loạn về mặt tình dục - tiểu thuyết và kịch được viết rất nhiều bởi những anh đàn ông giận dữ chỉ trích phụ nữ - đặc biệt là ở Mỹ, nhưng ở cả đất nước này cũng có - được mô tả như những người thích gây hấn và phản bội, nhưng đặc biệt là phá hoại và đào mỏ. Nhưng những thái độ này ở các nhà văn nam lại được coi là đương nhiên, được chấp nhận như là một cơ sở triết học đúng đắn, một điều khá bình thường, và chắc chắn không bị coi là ghét phụ nữ, hung hăng, hay loạn thần kinh. Điều này vẫn tiếp diễn, tất nhiên - nhưng mọi chuyện đã tốt hơn, không có gì phải nghi ngờ cả.

Tôi chìm đắm vào việc viết cuốn sách này đến nỗi không nghĩ đến cảnh nó sẽ được đón nhận như thế nào. Tôi toàn tâm toàn ý với nó không chỉ đơn thuần là vì cuốn sách này khó viết - giữ dàn ý trong đầu, tôi viết liền tù tì từ đầu đến cuối, một việc không hề đơn giản - mà vì thứ tôi học hỏi được trong lúc viết. Có thể là bằng việc đưa ra cho bản thân một cấu trúc chặt chẽ, quy định những giới hạn cho bản thân, ta sẽ vắt ra được chất liệu mới nơi ít mong đợi nhất. Đủ loại ý tưởng và trải nghiệm mà tôi không nhận ra là của mình đã nổi lên khi viết. Vì thế, thời gian viết thực tế, chứ không chỉ những trải nghiệm đã đi vào việc viết lách ấy, thực sự là một kinh nghiệm có tính sang chấn: nó khiến tôi thay đổi. Bước ra từ quá trình kết tinh này, giao bản thảo cho nhà xuất bản và bạn bè xong, tôi được nói cho biết rằng mình đã viết một luận văn về cuộc chiến giới tính, và nhanh chóng khám phá ra rằng bất kể tôi nói gì cũng chẳng thể nào thay đổi được nhận định đó.

Nhưng cốt lõi của cuốn sách, cách thức tổ chức của nó, mọi thứ trong đó, đã nói một cách cả thẳng thắn và ngầm ẩn rằng chúng ta không được tách rời mọi thứ, không được chia ngăn.

“Ràng buộc. Tự do. Tốt. Xấu. Có. Không. Tư bản chủ nghĩa. Xã hội chủ nghĩa. Tình dục. Tình yêu…” Anna nói, trong Phụ nữ tự do, tuyên bố chủ đề của cuốn sách - gào lên, trống giong cờ mở thông báo một mô típ xuyên suốt… hoặc là tôi tưởng tượng như vậy. Cũng như khi tôi tin rằng trong một cuốn sách có tên Cuốn Sổ Vàng, cái phần bên trong đặt trùng tên với nó có thể được cho là tâm điểm, mang theo sức nặng của toàn bộ cuốn sách, và đưa ra một tuyên bố.

Nhưng không.

Còn có nhiều chủ đề khác cũng đi vào cuốn sách này, với tôi đây là một thời điểm quan trọng: những suy nghĩ và chủ đề mà tôi vẫn đang giữ trong đầu nhiều năm nay giờ đã được nối vào với nhau.

Một trong số đó là không thể tìm thấy cuốn tiểu thuyết nào mô tả môi trường trí thức và đạo đức cách đây một trăm năm, vào khoảng giữa thế kỷ vừa qua, ở nước Anh, theo cách mà Tolstoy làm cho nước Nga, Stendhal làm cho nước Pháp. (Đến đây cần phải đưa ra những lời tạ sự không tránh được.) Đọc Đỏ và ĐenLucien Leuwen là biết về nước Pháp như thể ta đang sống ở đó, đọc Anna Karenina là biết nước Nga khi đó. Nhưng một cuốn tiểu thuyết thời Victoria rất hữu ích như vậy lại không bao giờ được viết nên. Hardy cho chúng ta biết cảm giác thế nào khi người ta nghèo, khi có một trí tưởng tượng lớn hơn những gì một thời đại chật hẹp như vậy cho phép, khi làm một nạn nhân. George Eliot, trong phạm vi của mình, cũng rất hay. Nhưng tôi nghĩ hình phạt mà bà phải trả giá khi làm một phụ nữ thời Victoria là bà vẫn phải tỏ ra là một phụ nữ tốt, ngay cả khi bà không “tốt” nếu chiếu theo những tiêu chuẩn đạo đức giả của thời đó - có rất nhiều điều bà không hiểu bởi vì bà chú trọng đạo đức. Meredith, nhà văn bị đánh giá thấp một cách đáng kinh ngạc, có lẽ gần đạt được điều này nhất. Trollope thử đề tài này nhưng thiếu tầm. Không có lấy một cuốn tiểu thuyết nào có đủ khí lực và thể hiện được sự xung đột giữa các tư tưởng đương thời như trong một cuốn tiểu sử đàng hoàng về William Morris.

Tất nhiên, nỗ lực này của tôi giả định rằng cái bộ lọc là cách nhìn đời của phụ nữ cũng có giá trị như bộ lọc của đàn ông… Gạt vấn đề đó sang một bên, hay đúng hơn là thậm chí không xét đến nó, tôi quyết định rằng để truyền đạt đúng cái “không khí” ý thức hệ giữa thế kỷ chúng ta, phải đặt bối cảnh cuốn sách giữa những người theo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Marx, bởi vì chính chủ nghĩa xã hội, trong các chặng khác nhau của nó, là nơi diễn ra những cuộc tranh luận lớn của thời đại chúng ta; các phong trào, các cuộc chiến, các cuộc cách mạng, đã được chính những người tham gia nhìn nhận như các dạng khác nhau của phong trào chủ nghĩa xã hội, hoặc chủ nghĩa Marx, đang tiến lên, hoặc bị kìm giữ, hoặc ở thế lui về. (Tôi nghĩ ít nhất chúng ta cũng phải thừa nhận khả năng là người sau, khi nhìn lại thời đại của chúng ta, có thể nhìn nhận vấn đề không giống như chúng ta y như chúng ta, khi nhìn lại các cuộc cách mạng Anh, Pháp, hoặc thậm chí Nga, cũng đánh giá chúng khác với mọi người sống vào thời đó.) Những “chủ nghĩa Marx” và các cành nhánh của nó đã khuấy động tư tưởng ở khắp nơi, nhanh và mạnh mẽ tới mức, dẫu từng bị cho là quá “ngoài luồng”, thì nay chúng đã được hấp thụ, đã trở thành một phần của cách nghĩ thông thường. Những tư tưởng cách đây ba, bốn mươi năm còn bị giới hạn trong phái cực tả thì đến cách đây hai mươi năm đã thâm nhập khắp cánh tả nói chung, và trong mười năm qua đã trở thành tư tưởng xã hội thông thường từ cánh hữu sang cánh tả. Một thứ được thẩm thấu toàn diện đến mức ấy đã thôi không còn là một lực lượng mới mẻ nữa - nhưng nó đã từng rất có sức chi phối, và trong một cuốn tiểu thuyết thuộc thể loại như tôi đang cố gắng thực hiện, phải được đặt vào trung tâm.

Một ý tưởng nữa mà tôi đã cân nhắc trong một thời gian dài, là nhân vật chính phải là một dạng nghệ sĩ nào đó, nhưng bị “bế tắc”. Điều này là do chủ đề về người nghệ sĩ đã có thời gian tràn lan trong nghệ thuật - họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ - với tư cách những tấm gương đáng ngưỡng mộ. Mọi nhà văn lớn đều sử dụng nó, cùng hầu hết các nhà văn nhỏ. Những cổ mẫu đó, người nghệ sĩ và bản sao đối nghịch của mình là nhà kinh doanh, đã cầm cương nền văn hóa của chúng ta, một người bị miêu tả như một kẻ thô lỗ không mấy nhạy cảm, người kia là kẻ sáng tạo, thừa mứa nhạy cảm và đau khổ với cái tôi cao như núi, nhưng tất cả cần phải được tha thứ nhờ sản phẩm của anh ta - và dĩ nhiên, theo đúng nguyên tắc ấy, lẽ ra người doanh nhân cũng phải được tha thứ nhờ sản phẩm của mình. Chúng ta quen với những gì mình đang có hiện tại, và quên rằng người nghệ-sĩ-với-tư-cách-tấm-gương là một chủ đề mới. Những người hùng cách đây một trăm năm thường không phải là nghệ sĩ. Họ là binh lính, là người xây dựng đế chế, là nhà thám hiểm, là tu sĩ, và là chính trị gia - tiếc thay cho những người phụ nữ nào chưa được như Florence Nightingale(1). Chỉ những kẻ lập dị và lệch lạc mới muốn trở thành nghệ sĩ, và phải đấu tranh để được làm điều đó. Nhưng khi khai thác cái chủ đề mang tính thời đại ấy - “nghệ sĩ”, “nhà văn”, tôi quyết định nó phải được phát triển thêm bằng cách cho kẻ này bị “bế tắc” và thảo luận về các lý do dẫn đến bế tắc ấy. Các lý do ấy phải liên quan đến sự cách biệt giữa các vấn đề lớn đến choáng ngợp như chiến tranh, đói kém, nghèo khổ, và con người cá nhân nhỏ bé đang tìm cách phản ánh lại chúng trong tác phẩm. Nhưng điều không thể tha thứ được, thực sự còn không thể chịu đựng được nữa, là cái kiểu cô độc ghê gớm, ái kỷ ghê gớm đã trở thành hình mẫu luôn được đặt lên bệ thờ của người nghệ sĩ. Dường như theo cách riêng của mình, những người trẻ tuổi đã chứng kiến điều này và thay đổi nó, tạo ra một nền văn hóa của riêng mình trong đó có hàng trăm, hàng ngàn người làm phim, hỗ trợ làm phim, làm báo đủ kiểu, làm nhạc, vẽ tranh, viết sách, chụp ảnh. Họ đã vứt bỏ nhân vật cô độc, sáng tạo, nhạy cảm đó đi - bằng cách nhân bản anh ta lên hàng trăm nghìn lần. Một xu hướng đã đạt tới cực độ, tới chỗ kết thúc, và vì vậy sẽ gây ra một dạng phản ứng trở lại, như bao nhiêu lần từ trước đến nay.

Chủ đề “người nghệ sĩ” phải liên quan tới một chủ đề khác, tính chủ quan. Khi tôi bắt đầu viết, các nhà văn phải chịu một thứ áp lực là không được “chủ quan”. Áp lực này bắt nguồn từ bên trong các phong trào Cộng sản, tiếp bước cái dòng phê bình văn học vị xã hội phát triển ở Nga hồi thế kỷ 19, bởi một nhóm tài năng đáng kể, trong đó Belinsky là người nổi tiếng nhất, sử dụng nghệ thuật và đặc biệt là văn học trong cuộc chiến chống lại Sa hoàng và áp bức. Nó lan nhanh khắp mọi nơi, và vang vọng đến tận những năm năm mươi, tại đất nước này, với chủ đề “phụng sự xã hội”. Nó vẫn còn hiệu lực ở các nước Cộng sản ngày nay. “Bận tâm tới những lo toan cá nhân ngớ ngẩn của mình trong khi Rome đang bốc cháy”, nó thường được diễn đạt như vậy, ở cấp độ đời thường - và thật khó mà chống lại nó, khi nó đến từ những người thân thiết nhất, gần gũi nhất, và từ những người làm mọi điều mà ta tôn trọng nhất: chẳng hạn như, cố gắng đấu tranh chống định kiến sắc tộc ở Nam Phi. Nhưng đồng thời tất cả những tiểu thuyết, truyện, nghệ thuật đủ loại đều ngày càng trở nên riêng tư hơn. Trong cuốn sổ bìa xanh dương, Anna viết về những bài nói chuyện của cô: “ ‘Nghệ thuật thời Trung Cổ có tính chung, phi cá nhân; được hình thành từ ý thức tập thể. Nó không có tính cá nhân đau đớn đã thúc đẩy nghệ thuật thời đại tư sản. Và một ngày, chúng ta sẽ bỏ lại sau lưng cái cảm hứng dĩ kỷ vi trung thúc đẩy nghệ thuật cá nhân. Chúng ta sẽ trở lại với thứ nghệ thuật không thể hiện sự chia rẽ nội tâm và tách rời bản thân ra khỏi đồng loại, mà thể hiện trách nhiệm của con người đối với đồng loại và anh em. Nghệ thuật phương Tây càng lúc càng trở thành tiếng thét xé lòng ghi lại nỗi đau. Nỗi đau đang trở thành hiện thực sâu sắc nhất của chúng ta…’ Tôi vẫn đi nói những lời đại loại như thế. Cách đây ba tháng, giữa chừng bài giảng này, tôi bỗng bị nói lắp và không thể nào nói nốt được…”

Anna nói lắp bởi vì cô đang né tránh một thứ gì đó. Khi áp lực hoặc một dòng chảy nào đó đã bắt đầu, không có cách nào tránh được nó: không có cách nào để không chủ quan tột độ: có thể nói, đây là nhiệm vụ của nhà văn trong thời điểm đó. Bạn không thể phớt lờ nó được: bạn không thể viết một cuốn sách về chuyện xây dựng cây cầu hoặc con đập mà không đặt mình vào tâm trí và cảm giác của những người xây nó. (Bạn nghĩ đây là tranh biếm họa? - Không hề. Áp lực chọn một trong hai này nằm ở tâm điểm truyền thống phê bình văn học tại các nước cộng sản vào thời điểm này. Cuối cùng thì tôi cũng hiểu rằng cách để vượt lên trên, hoặc vượt qua nan đề này, cách để vượt qua cảm giác bứt rứt khi viết về “các vấn đề cá nhân lặt vặt” là công nhận rằng không có gì là riêng tư cả, riêng tư theo nghĩa là độc nhất thuộc về một người. Viết về chính mình cũng là viết về những người khác, bởi vì những rắc rối, nỗi đau, niềm vui, cảm xúc của bạn - và cả những ý tưởng phi thường, xuất sắc của bạn - không thể là của một mình bạn. Cách để giải quyết vấn đề “chủ quan”, cái tình thế chướng mắt là quá mải mê với một cá nhân nhỏ bé đang đồng thời bị mắc kẹt trong một cơn bùng nổ các khả năng vừa khủng khiếp vừa tuyệt diệu, là coi anh ta như một thế giới vi mô và bằng cách đó vượt qua cái riêng tư, cái chủ quan, biến cái riêng tư thành cái chung, như thực tế cuộc sống vẫn luôn làm vậy, biến đổi một trải nghiệm riêng tư - hoặc cái mà bạn tưởng là riêng tư khi còn bé, “mình đang yêu”, “mình đang thấy cảm giác này cảm giác kia, hoặc có suy nghĩ này hoặc suy nghĩ nọ” - thành một thứ gì đó lớn hơn nhiều: rốt cuộc thì trưởng thành chỉ là việc hiểu rằng các trải nghiệm độc nhất và phi thường của ta là điều mọi người đều có.

Một ý tưởng nữa là nếu cuốn sách này được tạo hình đúng cách, bản thân nó sẽ là một lời bình luận về tiểu thuyết truyền thống: cuộc tranh cãi thế nào là tiểu thuyết đã diễn ra từ khi thể loại tiểu thuyết ra đời, và không phải là một thứ gần đây mới có, như cảm giác của ta khi đọc các bài nghiên cứu văn học đương đại. Đặt tiểu thuyết ngắn Phụ nữ tự do làm bản tóm tắt cô đọng toàn bộ khối chất liệu đó là đã đưa ra một thông điệp về tiểu thuyết truyền thống, một cách khác để mô tả nỗi thất vọng của nhà văn khi đã viết xong: “Tôi mới nói được ít ỏi làm sao về sự thật, tôi mới nắm bắt được ít ỏi làm sao toàn bộ cái tồn tại phức tạp ấy; làm sao cái thứ gọn gàng nhỏ bé này có thể chân thực được khi những gì tôi trải nghiệm lại thô ráp đến thế và rõ ràng là không định hình, không đường nét?”

Nhưng tham vọng lớn của tôi là tạo hình một cuốn sách cũng đồng thời là bình luận về chính nó, một tuyên bố không lời: tuyên bố thông qua chính cách nó được tạo hình.

Như tôi đã nói, điều này không được để ý tới.

Một lý do cho vấn đề này là cuốn tiểu thuyết thiên về truyền thống châu Âu hơn là truyền thống nước Anh. Hay nói đúng hơn, theo quan điểm thế nào là truyền thống nước Anh tại thời điểm đó. Dù sao đi nữa thì tiểu thuyết Anh vẫn có cả ClarissaTristram Shandy, The Tragic Comedians - và Joseph Conrad - kia mà.

Nhưng rõ ràng, cố gắng viết một cuốn tiểu thuyết luận đề là tự gây khó khăn cho bản thân: chủ nghĩa địa phương trong nền văn hóa chúng ta rất mạnh. Ví dụ, từ thập kỷ này sang thập kỷ khác, những chàng trai cô gái thông minh bước ra từ trường đại học có thể tự hào nói: “Tất nhiên là tôi không biết gì về văn học Đức.” Đấy là âm hưởng chủ đạo. Người thời Victoria biết mọi điều về văn học Đức, nhưng có thể không biết gì về văn học Pháp cũng chẳng thấy làm sao.

Đối với phần còn lại - chả phải ngẫu nhiên mà những phê bình thông minh tôi nhận được lại là từ những người đang, hay đã từng, theo Marx. Họ hiểu điều tôi đang cố gắng làm. Đấy là vì chủ nghĩa Marx nhìn mọi vật như tổng hòa và trong tương quan với nhau - hoặc cố gắng làm vậy. Người từng chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Marx sẽ coi việc một sự kiện ở Siberia sẽ tác động đến một sự kiện khác ở Botswana là đương nhiên. Tôi nghĩ có thể với chủ nghĩa Marx, lần đầu tiên, trong thời đại chúng ta, ngoài các tôn giáo chính thức, có một nỗ lực xây dựng một trí tuệ thế giới, đạo đức thế giới. Nó không thành công, không thể tránh khỏi bị chia nhỏ và chia nhỏ hơn nữa, giống như tất cả mọi tôn giáo khác, thành những nhà nguyện, giáo phái, và tín ngưỡng ngày càng nhỏ hơn. Nhưng nó vẫn là một nỗ lực.

Cái việc xem mình đang cố gắng làm gì - nó khiến tôi nghĩ đến giới phê bình, và nguy cơ gây ngáp. Cuộc cãi nhau vặt đáng buồn này giữa nhà văn và nhà phê bình, nhà viết kịch và nhà phê bình: Công chúng đã quen với điều đó đến mức họ thấy đó như lũ trẻ cãi nhau: “À vâng, cái đám trẻ con này, họ lại cãi nhau nữa rồi.” Hoặc: “Nhà văn các anh toàn được khen thôi, hoặc nếu không thì ít nhất cũng được chú ý - vậy thì tại sao các anh cứ tổn thương mãi thế?” Và công chúng nói chung là đúng. Vì những lý do mà tôi không nêu ra ở đây, những trải nghiệm ban đầu và quý giá trong cuộc đời viết lách đã cho tôi chút nhìn nhận về các nhà phê bình, nhưng đối với cuốn tiểu thuyết này, Cuốn Sổ Vàng, tôi đã quên mất: tôi nghĩ rằng phần lớn những lời chỉ trích đó đều quá ngớ ngẩn nên chẳng thể nào đúng được. Lấy lại thăng bằng, tôi hiểu ra vấn đề. Đấy là nhà văn đang nhìn vào nhà phê bình để tìm một alter ego, một cái tôi khác thông minh hơn cái tôi của chính nhà văn, nhìn thấy rõ nhà văn đang vươn tới điều gì, và đánh giá chỉ thông qua việc nhà văn đã đạt được mục tiêu đó hay chưa. Tôi chưa bao giờ gặp một nhà văn nào mà, khi rốt cuộc gặp được cái sinh vật hiếm ấy, một nhà phê bình thực thụ, lại không mất đi toàn bộ chứng hoảng loạn mà thành kính và chăm chú lắng nghe - anh ta đã tìm thấy thứ mà anh ta nghĩ là mình cần. Nhưng thứ mà anh ta, nhà văn, đang đòi hỏi lại là bất khả. Tại sao anh ta lại phải mong đợi sinh vật phi thường này, nhà phê bình hoàn hảo ấy (dù thỉnh thoảng kẻ đó vẫn tồn tại), tại sao lại phải có một người khác hiểu được điều anh ta đang cố gắng làm? Rốt cuộc thì, cũng chỉ có một người dệt nên cái kén đó, chỉ một người có nhiệm vụ dệt nó mà thôi.

Giới bình luận và phê bình không thể mang lại thứ mà họ tự cho là sẽ mang lại - và thứ mà các nhà văn khao khát đến mức lố bịch và trẻ con.

Đấy là vì các nhà phê bình không được dạy để làm điều đó; việc đào tạo họ nhằm vào hướng ngược lại.

Điều này bắt đầu khi đứa trẻ mới năm sáu tuổi, bắt đầu đến trường. Nó bắt đầu bằng điểm số, phần thưởng, “thứ bậc”, “lớp”, sao - và vẫn tồn tại ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực. Trạng thái tâm lý đua ngựa này, cách tư duy phân kẻ thắng người thua, dẫn tới “Nhà văn X đang đi trước Nhà văn Y mấy bước. Nhà văn Y đã rớt lại đằng sau. Trong cuốn sách gần đây nhất của mình, Nhà văn Z đã thể hiện mình giỏi hơn Nhà văn A.” Ngay từ đầu đứa trẻ đã được huấn luyện để suy nghĩ theo cách này: luôn luôn so sánh, tính toán thành công và thất bại. Nó là một hệ thống loại trừ: kẻ yếu hơn chán nản và bỏ cuộc; một hệ thống được thiết kế để tạo ra một số ít kẻ thắng luôn luôn cạnh tranh với nhau. Tôi tin tưởng rằng - mặc dù đây không phải là nơi phát triển tiếp ý này - tài năng mà mỗi đứa trẻ sở hữu, bất chấp số “IQ” chính thức của nó, có thể ở lại với nó suốt đời, bồi dưỡng cho nó và mỗi người khác, nếu tài năng này không bị coi là món hàng được gán cho giá trị nào đó trong cuộc đua giành thành công.

Một điều khác cũng được dạy từ đầu là không được tin vào đánh giá của chính mình. Trẻ em được dạy phải phục tùng quyền lực, tìm kiếm ý kiến và quyết định của người khác, và trích dẫn cũng như tuân thủ.

Trong địa hạt chính trị, đứa trẻ được dạy rằng nó tự do, là kẻ dân chủ, có ý chí tự do và đầu óc tự do, sống trong một đất nước tự do, tự đưa ra quyết định của riêng mình. Đồng thời, nó cũng là một tù nhân của những giả định và giáo điều của thời đại mà không thắc mắc gì, bởi vì nó chưa bao giờ được bảo rằng chúng có tồn tại. Đến khi người thanh niên đến độ tuổi phải lựa chọn (ta vẫn quen nghĩ rằng đương nhiên phải lựa chọn) giữa nghệ thuật và khoa học, cậu ta thường chọn nghệ thuật bởi vì cậu ta cảm thấy rằng đây là nhân văn, tự do, quyền lựa chọn. Cậu ta không biết rằng cậu đã được đúc nên bởi một hệ thống: cậu ta không biết rằng bản thân lựa chọn cũng là kết quả của một sự lưỡng phân lầm lạc bắt nguồn từ trong lòng nền văn hóa của chúng ta. Những ai cảm nhận được điều này, và những ai không muốn bản thân bị rèn đúc thêm, có xu hướng ra đi, bằng một nỗ lực nửa vô thức, theo bản năng, để tìm kiếm thứ công việc sẽ không chia rẽ bản thân mình. Với toàn bộ thể chế của chúng ta, từ lực lượng cảnh sát đến giới hàn lâm, từ y tế đến chính trị, chúng ta rất ít để ý tới những người ra đi - quá trình loại trừ liên tục diễn ra và loại bỏ, rất sớm, những kẻ có xu hướng mới lạ và cải tổ, để lại những người bị hút vào một cái guồng nào đó bởi vì họ vốn đã như vậy rồi. Một cảnh sát trẻ rời bỏ lực lượng bảo rằng anh ta không thích những việc anh ta phải làm. Một giáo viên trẻ bỏ nghề dạy, chủ nghĩa lý tưởng của cô bị thất vọng. Cơ chế xã hội này gần như không mấy ai để ý tới - nhưng nó là một yếu tố không kém phần quan trọng trong việc giúp cho thể chế của chúng ta áp chế con người và đứng yên tại chỗ.

Vốn đã có nhiều năm trong hệ thống đào tạo đó, những đứa trẻ này trở thành nhà phê bình, người điểm sách, và không thể mang lại cho tác giả, người nghệ sĩ, thứ mà anh ta ngốc nghếch tìm kiếm - những đánh giá độc đáo và giàu sức gợi mở. Điều họ có thể làm, và làm rất tốt, là bảo với nhà văn rằng cuốn sách hoặc vở kịch tương thích hay không với các hình mẫu cảm xúc và tư duy hiện tại - với xu thế đương thời. Họ giống như giấy quỳ vậy. Họ là những chiếc máy đo sức gió - vô giá. Họ là những chiếc phong vũ biểu nhạy cảm nhất đo ý kiến công chúng. Những biến động về tâm trạng và quan điểm sẽ xuất hiện ở đây trước bất cứ nơi nào, ngoại trừ địa hạt chính trị - nguyên nhân là vì những người này được giáo dục nhằm thực hiện đúng việc đó - tìm kiếm ý kiến bên ngoài bản thân, điều chỉnh bản thân cho phù hợp với những chuyên gia, với “nhận định phổ biến” - một cụm từ có sức mách bảo phi thường.

Có thể là không còn cách nào khác để giáo dục con người. Có lẽ vậy, nhưng tôi không tin. Trong lúc đó, ít ra sẽ có ích nếu mô tả mọi việc một cách đúng đắn, gọi mọi việc bằng đúng cái tên của chúng. Lý tưởng nhất, điều cần nói với mọi đứa trẻ, lặp đi lặp lại, trong suốt cuộc đời đến trường của chúng là thế này:

“Các em đang trong quá trình được truyền thụ. Chúng tôi chưa phát triển được một hệ thống giáo dục không phải là một hệ thống truyền thụ. Chúng tôi xin lỗi, nhưng chúng tôi chỉ có thể làm được đến thế. Điều các em đang được dạy ở đây là một hỗn hợp giữa những định kiến hiện tại và những lựa chọn của nền văn hóa này. Chỉ cần nhìn thoáng vào lịch sử cũng thấy được những thứ này chỉ là tạm thời. Các em đang được dạy bởi những người từ trước đến nay có khả năng điều chỉnh bản thân cho phù hợp với một chế độ tư duy được những người tiền nhiệm sắp đặt. Đấy là một hệ thống tự duy trì. Trong các em, ai năng động và độc đáo hơn người khác sẽ được khuyến khích ra đi và tìm cách tự giáo dục bản thân - tự trau dồi nhận định của riêng mình. Những ai ở lại phải nhớ, luôn luôn và mọi lúc, rằng mình đang được đúc và đưa vào mô hình để phù hợp với những nhu cầu cụ thể và nhỏ hẹp của xã hội này.”

Giống như mọi nhà văn khác, tôi vẫn liên tục nhận được thư từ các bạn trẻ đang định viết luận văn và tiểu luận về sách của tôi ở các nước - những đặc biệt là ở Mỹ. Các em toàn nói: “Xin hãy cho em một danh mục các bài viết về tác phẩm của cô, những nhà phê bình đã từng viết về cô, các chuyên gia.” Các em cũng yêu cầu hàng nghìn chi tiết về những thứ hoàn toàn không liên quan, nhưng là điều mà các em được dạy phải coi trọng, thành cả một bộ hồ sơ, giống như phòng nhập cư vậy.

Tôi trả lời những yêu cầu này như sau: “Sinh viên thân mến. Em điên rồi. Tại sao lại bỏ ra nhiều năm tháng để viết hàng ngàn từ về một cuốn sách, hay thậm chí về một nhà văn, trong khi có hàng trăm cuốn sách đang chờ em đọc. Em không thấy rằng em là nạn nhân của một hệ thống nguy hại. Và nếu đích thân em đã chọn tác phẩm của tôi làm đề tài, và nếu em thực sự phải viết luận văn - và hãy tin rằng tôi rất biết ơn vì những điều tôi viết lại được em coi là hữu ích - vậy thì tại sao em không đọc những gì tôi đã viết và tự quyết định xem mình sẽ nghĩ gì, đối chiếu nó với cuộc sống của riêng em, trải nghiệm của riêng em. Kệ các vị giáo sư này nọ đi.”

“Thưa nhà văn,” các em trả lời. “Nhưng em phải biết các chuyên gia nói gì, bởi vì nếu em không trích dẫn họ, giáo sư sẽ không cho bọn em điểm.”

Đây là một hệ thống quốc tế, hoàn toàn giống nhau từ dãy Ural đến Nam Tư, từ Minnesota đến Manchester.

Vấn đề là, bởi tất cả chúng ta đều quen với nó, chúng ta không còn nhận ra nó tồi tệ ra sao nữa.

Tôi không quen với nó, bởi vì tôi rời trường học khi mới mười bốn tuổi. Có thời gian tôi thấy tiếc về điều này, và tin rằng tôi đã bỏ lỡ điều gì đấy quý giá. Giờ thì tôi thấy biết ơn vì đã thoát thân một cách may mắn. Sau khi xuất bản Cuốn Sổ Vàng, tôi chuyên tâm vào việc tìm hiểu về cỗ máy văn chương, khảo sát quy trình tạo thành một nhà phê bình hay điểm sách. Tôi xem vô số các bài thi - và không thể tin vào mắt mình; tham gia các lớp dành cho giáo viên dạy văn, và không thể tin vào tai mình.

Có thể bạn sẽ nói: Đấy là một phản ứng phóng đại, và tôi không có quyền nói vậy, bởi vì, như tôi vừa nói, tôi chưa bao giờ tham gia vào hệ thống này. Nhưng tôi nghĩ điều này không hề phóng đại, và phản ứng của một người bên ngoài rất giá trị, đơn giản bởi vì nó tươi mới và không bị chi phối bởi bổn phận trung thành với một nền giáo dục cụ thể nào.

Nhưng sau cuộc điều tra này, tôi dễ dàng trả lời những câu hỏi của mình: Tại sao họ lại thiển cận, cá nhân, nhỏ nhen đến thế? Tại sao họ lại luôn chẻ sợi tóc làm tư, và hay chê bai, tại sao họ lại hào hứng với tiểu tiết và không quan tâm đến đại thể? Tại sao họ luôn hiểu từ phê bình đồng nghĩa với “tìm khiếm khuyết”? Tại sao họ lại luôn coi nhà văn là mâu thuẫn với nhau, chứ không phải bổ khuyết cho nhau… đơn giản, họ được đào tạo để suy nghĩ như vậy. Cái con người quý giá hiểu được bạn đang làm gì, bạn đang hướng tới điều gì, và có thể cho bạn lời khuyên cũng như những lời phê bình thực thụ, gần như luôn luôn là một ai đó bên ngoài cỗ máy văn chương, thậm chí bên ngoài hệ thống đại học; đấy có thể là một sinh viên vừa mới bắt đầu và vẫn còn yêu văn học, hoặc có thể đấy là một con người biết suy nghĩ đọc rất nhiều, đang làm theo bản năng của mình.

Tôi bảo với những sinh viên sẽ phải dành ra một hai năm viết luận về một cuốn sách như sau: “Chỉ có một cách đọc, là tìm các thư viện và hiệu sách, nhặt lấy những cuốn sách các em thấy hấp dẫn, chỉ đọc những cuốn đó mà thôi, nếu thấy chán thì bỏ xuống, lướt qua những phần lê thê - và không bao giờ, không bao giờ đọc bất cứ điều gì chỉ vì các em cảm thấy phải đọc, hoặc bởi vì nó thuộc về một trào lưu hay một phong trào nào đó. Hãy nhớ rằng những cuốn sách khiến các em thấy nhàm chán khi hai ba mươi tuổi sẽ mở ra những cánh cửa cho các em khi bốn năm mươi tuổi - và ngược lại. Đừng đọc một cuốn sách vào thời điểm không phù hợp. Hãy nhớ rằng cứ mỗi cuốn sách in mà ta đang có, thì còn ngần ấy cuốn sách chưa bao giờ được in, chưa bao giờ được viết - ngay cả giờ đây, trong thời đại bắt buộc phải sùng kính chữ viết, thì lịch sử, thậm chí đạo đức xã hội, vẫn được dạy thông qua kể chuyện, và những người đã được huấn luyện để chỉ tư duy dựa trên những gì đã viết ra - không may là gần như mọi sản phẩm của hệ thống giáo dục của chúng ta không thể làm được gì hơn thế - đều đang bỏ lỡ mọi thứ ngay trước mắt. Chẳng hạn, lịch sử thực thụ của châu Phi vẫn đang được gìn giữ bởi những người kể chuyện và những nhà thông thái da đen, sử gia da đen, thầy thuốc da đen; nó là một thứ lịch sử truyền miệng, vẫn được giữ an toàn trước người da trắng và thói ăn cướp của họ. Khắp mọi nơi, nếu giữ đầu óc mình luôn rộng mở, các em sẽ tìm thấy sự thật trong những ngôn từ không được viết ra. Vì vậy đừng bao giờ để cho trang giấy in trở thành người chủ của mình. Trên hết thảy, các em cũng cần biết rằng việc các em phải dành ra một, hoặc hai năm cho một cuốn sách, hoặc một tác giả, có nghĩa là các em được đào tạo rất dở - đáng ra các em cần phải được dạy để đọc từ mối đồng cảm này tới mối đồng cảm khác, các em phải học cách làm theo trực giác để biết những gì mình cần: đấy là thứ các em nên trau dôi, chứ không phải là cách trích dẫn từ người khác.”

Nhưng không may là điều này gần như lúc nào cũng quá muộn.

Thực sự đã có lúc có vẻ như thể những cuộc nổi dậy gần đây của sinh viên có thể thay đổi mọi việc, như thể sự mất kiên nhẫn của họ với những thứ cằn cỗi người ta đang dạy có thể đủ mạnh để thay thế vào đó một thứ gì đó tươi mới và hữu ích hơn. Nhưng có vẻ như thời nổi dậy đã kết thúc. Buồn. Trong suốt thời gian sôi nổi ở Mỹ, tôi nhận được những lá thư kể lại chuyện các lớp sinh viên đã từ chối giáo trình, và mang đến lớp những cuốn sách do họ tự chọn, những cuốn mà họ thấy có liên quan đến đời mình. Các lớp học này đầy cảm xúc, đôi khi bạo lực, giận dữ, phấn khích, sôi sục sống động. Tất nhiên điều này chỉ xảy ra với những giáo viên đồng cảm, và sẵn sàng đứng cùng sinh viên chống lại cường quyền - sẵn sàng chịu hậu quả. Có những giáo viên biết rằng cách họ phải dạy rất tệ và chán - may mắn là vẫn có đủ những người như vậy, với một chút may mắn, để lật đổ những gì sai trái, ngay cả khi bản thân các em sinh viên đã mất động lực.

Trong khi đó, có một đất nước nơi mà….

Ba bốn mươi năm trước, một nhà phê bình lập nên một danh sách riêng gồm các nhà văn và nhà thơ mà cá nhân ông ta cho rằng đã góp phần tạo nên những gì giá trị trong văn học, loại bỏ tất cả những người khác. Danh sách này được ông ta bảo vệ dài dòng trên báo chí sách vở, bởi vì ngay lập tức danh sách đó trở thành một đề tài tranh cãi căng thẳng. Hàng triệu từ đã được viết ra, cả ủng hộ lẫn phản đối - các trường phái, ủng hộ cũng như phản đối, ra đời. Cuộc tranh luận này, ngần ấy năm về sau, vẫn tiếp tục… không ai thấy tình trạng này là đáng buồn hay lố bịch cả…

Nơi có những cuốn sách phê bình vô cùng phức tạp và uyên bác, nghiên cứu về - nhưng thường là qua các cấp trung gian - tác phẩm gốc: tiểu thuyết, kịch, truyện. Người viết những cuốn sách này tạo nên một giai tầng trong trường đại học trên toàn thế giới - họ là một hiện tượng quốc tế, lớp trên cùng của giới hàn lâm văn chương. Cả đời họ dành cho việc phê bình, và phê bình các bài phê bình của nhau. Ít nhất thì họ cũng coi hoạt động này quan trọng hơn tác phẩm gốc. Sinh viên văn có thể dành nhiều thời gian đọc bài phê bình và phê bình của phê bình hơn là đọc thơ, tiểu thuyết, tiểu sử và truyện. Rất nhiều người coi tình trạng này là khá bình thường, chẳng có gì đáng buồn và lố bịch….

Nơi mà gần đây, tôi đọc một bài luận về Antony và Cleopatra của một cậu sắp phải thi lấy bằng Tú tài Anh. Tiểu luận đầy sự mới mẻ và phấn khích về vở kịch, cái cảm giác mà bất cứ người dạy văn thực thụ nào cũng đều muốn khơi nên. Bài luận được giáo viên trả lại như sau: Tôi không thể cho điểm tiểu luận này được, em không hề trích dẫn các chuyên gia. Rất ít giáo viên có khả năng thấy điều này là đáng buồn và lố bịch…

Nơi mà những người tự coi mình là có giáo dục, thực tế là còn ưu tú và tinh túy hơn những người bình thường không đọc sách lại đến gần một nhà văn và chúc mừng anh/cô ta vì đã được một ai đó viết một bài khen ngợi - nhưng sẽ không thấy cần thiết phải đọc cuốn sách đó, hoặc có bao giờ nghĩ rằng điều mà họ thực sự quan tâm đến là thành công…

Nơi mà khi một cuốn sách về một đề tài nhất định nào đó ra đời, thiên văn học chẳng hạn, ngay lập tức hàng chục trường đại học, hiệp hội, chương trình truyền hình sẽ mời tác giả đến nói chuyện về thiên văn học. Họ chẳng mảy may nghĩ gì đến chuyện đọc cuốn sách đó. Hành vi này được coi là khá bình thường, không lố bịch chút nào…

Nơi mà một nhà phê bình hoặc một người điểm sách trẻ, chưa hề đụng tới tác phẩm nào của nhà văn ấy ngoài cuốn sách trước mặt anh/cô ta, sẽ viết với vẻ trịch thượng, hoặc như thể quá chán với toàn bộ công việc này, hoặc như thể đang cân nhắc phải chấm bao nhiêu điểm cho một bài luận, về nhà văn đó - kẻ có thể đã viết mười lăm cuốn sách, và vẫn viết hai, ba mươi năm nay - chỉ dẫn cho nhà văn nói trên phải viết gì tiếp theo, và viết như thế nào. Không ai nghĩ rằng điều này là lố bịch, dĩ nhiên người trẻ tuổi kia càng không nghĩ thế, anh/cô ta đã được dạy phải tỏ ra trịch thượng và xếp loại người khác trong nhiều năm, từ Shakespeare trở xuống.

Nơi mà một giáo sư khảo cổ học có thể viết về một bộ tộc Nam Mỹ có những kiến thức tiên tiến về cây cối, về thuốc, và về các phương pháp tâm lý rằng: “Điều đáng ngạc nhiên là những con người này không có ngôn ngữ viết…” Và không ai nghĩ là ông ta lố bịch.

Nơi mà, vào dịp kỷ niệm một trăm năm Shelley, trong cùng một tuần và trên ba tờ tạp chí văn học khác nhau, ba người đàn ông trẻ tuổi, có nền giáo dục giống nhau, xuất thân từ các trường đại học giống nhau của chúng ta, có thể viết các bài phê bình về Shelley, hạ thấp ông bằng lời ca ngợi nhạt nhẽo nhất có thể, và bằng chất giọng giống hệt nhau, cứ như thể họ đang làm ơn cho Shelley bằng cách nhắc đến tên ông - và dường như không ai nghĩ rằng một việc như vậy có thể cho thấy hệ thống văn chương của chúng ta đang hỏng trầm trọng thế nào.

Cuối cùng… đối với tác giả của nó, cuốn tiểu thuyết này tiếp tục là một trải nghiệm đem lại nhiều hiểu biết. Chẳng hạn. Mười năm sau khi viết ra nó, tôi vẫn có thể nhận được, trong một tuần, ba lá thư viết về nó, từ ba con người thông minh, hiểu biết, lo lắng, đã chịu khó ngồi xuống và viết cho tôi. Một có thể ở Johannesburg, một ở San Francisco, một ở Budapest. Và tôi ngồi đây, ở London, đọc chúng, hoặc cùng một lúc, hoặc lần lượt - như thường lệ, biết ơn người viết, và vui vẻ khi thấy những gì tôi viết ra có thể kích thích, soi sáng - hoặc thậm chí khiến người ta bực mình. Nhưng một lá thư hoàn toàn viết về cuộc chiến giới tính, về sự phi nhân đạo của đàn ông đối với phụ nữ, và sự phi nhân đạo của phụ nữ đối với đàn ông, và người viết đã viết từ trang này đến trang khác chẳng về một cái gì khác cả, bởi vì cô ta - nhưng không phải lúc nào cũng là nữ - không thấy được điều gì khác trong cuốn sách.

Bức thứ hai là về chính trị, có thể từ một người “cựu đỏ” giống như tôi, anh/cô ta viết nhiều trang về chính trị, và không bao giờ đề cập đến bất cứ chủ đề nào khác trong cuốn sách.

Hai lá thư này là kiểu phổ biến nhất, khi cuốn sách còn non trẻ.

Lá thứ ba, ngày xưa thì hiếm nhưng bây giờ đã bắt kịp các lá khác, được viết bởi một người không thấy gì trong đó ngoài chủ đề bệnh tâm thần.

Nhưng vẫn là cuốn sách đó.

Và tất nhiên những việc này lại một lần nữa làm nảy sinh câu hỏi về việc người ta thấy gì khi đọc sách, và tại sao một người lại thấy cái mô hình này chứ không hề thấy một mô hình khác, và thật kỳ cục khi ở vị thế tác giả, ta hình dung rõ ràng đến thế về một cuốn sách, trong khi các độc giả lại nhìn nhận về nó rất khác.

Và từ kiểu tư duy này đã xuất hiện một kết luận mới: một nhà văn nếu muốn độc giả nhìn thấy những gì anh ta thấy, hiểu được hình dạng và mục tiêu của một cuốn tiểu thuyết như anh ta thấy thì đó không chỉ là một ý muốn trẻ con - mong muốn ấy đồng nghĩa với việc anh ta không hiểu một điểm cơ bản nhất. Đó là cuốn sách có thể sống, có sức thuyết phục và tạo ra kết quả, có khả năng thúc đẩy suy nghĩ cũng như tranh luận, chỉ khi người ta không hiểu dàn ý, hình dạng và ý định của nó, bởi vì khoảnh khắc nhìn thấy dàn ý, hình dạng và ý định đó cũng là khoảnh khắc không còn thấy được gì hơn nữa.

Và khi mô hình của cuốn sách và hình dạng đời sống nội tại của nó trở nên dễ hiểu đối với độc giả giống như đối với tác giả - thì có lẽ đã đến lúc quẳng cuốn sách sang một bên, coi như đã làm tròn mục đích, và lại bắt đầu một thứ gì đó mới mẻ.

DORIS LESSING,

THÁNG SÁU 1971

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Doris Lessing

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.