Bất cứ ai nhìn vào đây
đều bị nguyền rủa,
Đấy là mong ước của tôi.
Saul Green, chủ sổ. (!!!)
Trong căn hộ này tối quá, tối mịt, cứ như bóng tối là hình dáng của cái lạnh. Tôi đi khắp các phòng bật hết đèn lên, bóng tối rút lui ra ngoài cửa sổ, một hình dáng lạnh lẽo cứ tìm cách chen vào. Nhưng khi tôi bật ngọn đèn trong căn phòng lớn, tôi biết là mình đã sai, ánh sáng rất xa lạ với nó, vì vậy tôi để cho bóng tối trở lại, chịu sự kiểm soát của hai chiếc bếp dầu và ánh lửa từ lò sưởi gas. Tôi nằm xuống và nghĩ về trái đất nhỏ bé này, một nửa chìm trong bóng tối lạnh lẽo, bay vòng quanh những không gian tối tăm bao la. Một lát sau, Saul bước vào và nằm xuống cạnh tôi. “Căn phòng này lạ thật,” anh nói, “giống như một thế giới vậy.” Cánh tay anh dưới gáy tôi vừa ấm áp vừa khỏe khoắn, và chúng tôi làm tình. Anh ngủ, và khi thức dậy anh thật ấm, chứ không phải là lạnh như ma khiến tôi phát khiếp. Rồi anh nói: “Chà, có lẽ bây giờ anh đã có thể làm việc được rồi.” Thái độ vị kỷ này thật thẳng thắn, giống hệt tôi khi cần một thứ gì đó, vì vậy tôi bật cười. Anh cũng cười, và chúng tôi không thể nào dừng lại được. Chúng tôi cười lăn lộn trên giường và sau đó là trên sàn nhà. Rồi anh nhảy vọt dậy, nói bằng giọng Anh cau có: “Thế này không ổn, không ổn chút nào,” và đi ra, trong khi vẫn cười.
Ma quỷ đã ra khỏi nhà. Đấy là ý nghĩ của tôi khi trần truồng ngồi trên giường, được sưởi ấm nhờ hơi nóng của ba ngọn lửa. Ma quỷ. Cứ như thể không phải cảm giác sợ hãi, nỗi kinh hoàng, sự lo lắng nằm sẵn trong tôi, trong Saul, mà là một thế lực nào đó từ bên ngoài tự chọn thời điểm đến và đi. Tôi nghĩ như vậy, tự dối lòng mình, bởi vì tôi cần giây phút hạnh phúc thuần khiết đó - tôi, Anna, ngồi trần truồng trên giường, cặp vú ép giữa hai cánh tay trần, cùng mùi dục tình và mùi mồ hôi. Đối với tôi, dường như sức mạnh ấm áp của niềm hạnh phúc từ cơ thể tôi đủ để xua đi mọi sợ hãi trên thế giới. Rồi bước chân lại bắt đầu ở tầng trên, chuyển động, trôi dạt, từ nơi này đến nơi khác trên đầu tôi, giống như những đoàn quân đang di chuyển. Dạ dày tôi thắt lại. Tôi nhìn niềm hạnh phúc của mình thoát đi. Ngay lập tức tôi rơi vào một trạng thái tồn tại mới, rất lạ lẫm. Tôi nhận ra cơ thể mình thật đáng ghét. Điều này từ trước đến nay chưa bao giờ xảy ra với tôi: và thậm chí tôi còn nói với chính mình: Ơ kìa, điều này mới, đây là điều mình đã từng được đọc. Tôi nhớ Nelson đã bảo với tôi có lúc anh nhìn cơ thể vợ và thấy ghét cái vẻ đàn bà của nó; anh ghét nó vì mớ lông ở nách và quanh bẹn. Anh bảo, đôi khi anh thấy vợ giống như một loài nhện nào đó, những chân tay nghều ngào xung quanh cái miệng hau háu chính giữa đầy lông. Tôi ngồi trên giường và nhìn đôi chân trắng gầy guộc và đôi tay trắng gầy guộc của mình, rồi nhìn hai bầu vú. Cái trung tâm ướt át, dấp dính của tôi dường như thật kinh tởm, và khi nhìn ngực mình tôi chỉ nhớ nổi chúng thế nào lúc đầy sữa, và thay vì dễ chịu, nó lại thật ghê tởm. Cảm giác lạ lẫm với cơ thể của chính mình khiến đầu tôi váng vất cho đến khi tôi neo mình lại được, nhờ chộp lấy cái gì đó, cái ý nghĩ những gì đang trải nghiệm không phải là ý nghĩ của tôi chút nào. Nhờ tưởng tượng, tôi đang nếm trải, lần đầu tiên, những cảm xúc của một kẻ đồng tính. Lần đầu tiên tôi hiểu được ý nghĩa những tác phẩm của dân đồng tính nói về sự ghê tởm. Tôi nhận thấy rõ cái cảm giác đồng tính đang trôi nổi khắp mọi nơi, và cả trong những người không bao giờ chịu thừa nhận điều này ở mình.
Tiếng bước chân trên gác đã ngừng. Tôi không thể nhúc nhích, cảm giác ghê tởm bóp chặt lấy tôi. Rồi tôi biết rằng Saul sẽ xuống gác và nói điều gì đó thể hiện điều tôi đang nghĩ; điều này rõ đến mức tôi chỉ việc ngồi đợi, trong cái mùi tự kinh tởm tanh tưởi, chờ xem cảm giác kinh tởm này nghe thế nào khi được nói to lên bằng giọng anh, giọng tôi. Anh đi xuống và đứng giữa cửa, rồi nói: “Trời ơi, Anna, em làm gì mà ngồi trần truồng thế kia?” Và tôi đáp, giọng hờ hững, lạnh nhạt: “Saul, anh có thấy là chúng ta đã đến cái mức ảnh hưởng tới tâm trạng của nhau ngay cả khi chúng ta ở khác phòng không?” Căn phòng quá tối nên không thấy được gương mặt anh, nhưng vóc dáng cơ thể anh, đứng cảnh giác ở cửa, thể hiện nhu cầu được bay, được chạy trốn khỏi Anna đang ngồi trần truồng, kinh tởm trên giường. Anh nói bằng cái giọng kinh hoàng của một cậu bé: “Mặc cái gì vào đi.” Tôi đáp: “Anh có nghe thấy em nói không đấy?” Vì anh không nghe. Anh nói: “Anna, anh bảo em rồi, đừng ngồi như thế nữa.” Tôi nói: “Anh nghĩ đấy là gì, cái điều khiến cho những người như chúng ta phải nếm trải tất cả mọi thứ? Chúng ta bị một điều gì đó đẩy vào việc cố trở thành càng nhiều thứ hoặc càng nhiều người khác nhau càng tốt.” Anh nghe thấy và nói: “Anh không biết. Anh không cần phải cố, con người anh là vậy.” Tôi đáp: “Em đâu có cố. Em bị đẩy vào. Anh có cho rằng những người sống trước chúng ta bị dằn vặt bởi những điều họ không được nếm trải? Hay chỉ mỗi chúng ta mà thôi?” Anh trả lời, giọng sưng sỉa: “Cô nương ạ, anh không biết, và anh không quan tâm, anh chỉ ước sao mình được thoát khỏi cái đó.” Rồi anh nói, giọng thân thiện chứ không phải kinh tởm: “Anna này, em có nhận thấy là trời lạnh bỏ bà ra không? Không mặc đồ vào thì em ốm mất. Anh đi ra ngoài đây.” Anh đi. Khi bước chân anh đi xuống cầu thang, cảm giác kinh tởm chính mình trong tôi biến mất cùng với anh. Tôi ngồi và chìm đắm mê mẩn cơ thể mình. Ngay cả một nếp nhăn khô nho nhỏ trên làn da đùi trong, dấu hiệu tuổi già, cũng khiến tôi thích thú. Tôi nghĩ: Ừ, cần phải như vậy, trước giờ đời mình vẫn thật vui sướng, mình chả quan tâm đến chuyện tuổi tác. Nhưng ngay giữa khi tôi nói vậy thì cảm giác an toàn lại một lần nữa lọt đi mất. Tôi trở lại với cảm giác kinh tởm. Tôi đứng chính giữa căn phòng lớn, trần truồng, để cho hơi nóng táp vào mình từ ba điểm hơi nóng, và tôi biết, và đây quả là một sự khai sáng - một trong những điều từ trước đến nay người ta vẫn luôn biết nhưng không bao giờ thực sự hiểu ý rằng sự tỉnh trí phụ thuộc hoàn toàn vào điều này: cần phải thấy vui vẻ khi cảm nhận cái thô ráp của tấm thảm dưới gan bàn chân êm ái, vui vẻ khi cảm nhận cái nóng táp vào làn da, vui vẻ khi đứng thẳng, biết rằng xương cốt đang chuyển động trơn tru dưới da thịt. Nếu điều này biến mất thì niềm tin cuộc sống cũng mất theo. Nhưng tôi không cảm nhận được chút gì cả. Tôi ghét cay ghét đắng cái bề mặt thảm này, một vật chết đã qua xử lý công nghiệp; cơ thể tôi là một loài thực vật gầy guộc, khẳng khiu, sắc nhọn, giống như cái cây cớm nắng; và khi tôi chạm vào mái tóc trên đầu mình, nó là thứ chết. Tôi cảm thấy sàn nhà phồng lên dưới chân mình. Các bức tường đang mất đi độ đặc. Tôi biết mình đang đi xuống một chiều kích khác, cách xa sự tỉnh trí hơn bao giờ hết. Tôi biết mình phải lên giường thật nhanh. Tôi không bước đi được, vì vậy tôi thả mình quỳ xuống chống tay và bò đến giường rồi nằm lên đó, giấu mình dưới chăn. Nhưng tôi không có gì bảo vệ. Tôi nằm đó nhớ tới cô Anna có khả năng điều khiển mơ mộng, kiểm soát thời gian, di chuyển dễ dàng và sống trong tầng đáy giấc ngủ như cá trong nước. Nhưng tôi không phải là cô Anna đó. Các vùng ánh sáng trên trần đã trở thành những con mắt lớn soi mói, con mắt của một con thú đang theo dõi tôi. Nó là một con cọp đang nằm soãi trên trần còn tôi là đứa trẻ biết rằng trong phòng có cọp, ngay cả khi đầu óc bảo cho tôi biết rằng không phải vậy. Bên ngoài bức tường có ba khung cửa sổ là một cơn gió lạnh đang thổi, đập các ô kính khiến chúng giật mạnh, còn ánh sáng mùa đông khiến cho rèm cửa trở nên mỏng manh hơn. Đấy không phải là rèm mà là những tấm thịt chua làm bốc mùi do con thú để lại. Tôi nhận thấy mình đang ở trong một cái lồng để con thú có thể nhảy vào khi muốn. Tôi phát ốm bởi mùi thịt chết, mùi hôi thối của con cọp và cảm giác sợ hãi. Và, với dạ dày nôn nao, tôi thiếp đi.
Đấy là loại giấc ngủ mà tôi từng trải qua chỉ trong lúc ốm dau: rất nông, như thể đang nằm ngay dưới mặt nước, còn giấc ngủ thực sự thì ở trong những tầng không đáy bên dưới mình. Và như vậy là tôi luôn biết mình nằm trên giường, biết mình ngủ, và suy nghĩ cực kỳ rõ ràng. Nhưng vẫn không giống như lúc tôi đứng một bên, trong giấc mơ, và nhìn thấy Anna đang ngủ, quan sát những nhân cách khác cúi người xuống để xâm chiếm vào cô. Tôi là chính mình, nhưng biết mình nghĩ gì và mơ gì, vì vậy có một nhân cách khác ngoài cô Anna nằm ngủ; nhưng là ai thì tôi không biết. Đấy là người khổ công ngăn sự tan rã của Anna.
Khi tôi nằm trên bề mặt làn nước giấc mơ, và bắt đầu chìm rất chậm, người này nói: “Anna ạ, cô đang phản bội lại tất cả những gì cô tin; cô đang chìm trong tính chủ quan, trong chính cô, trong những nhu cầu của riêng mình.” Nhưng cô Anna muốn trượt xuống dưới làn nước tối thẫm không trả lời. Con người vô tư kia nói: “Trước giờ cô vẫn nghĩ mình là người mạnh mẽ. Nhưng người đó can đảm hơn cô cả ngàn lần - anh ta phải chiến đấu với điều này suốt nhiều năm nay, nhưng chỉ sau ít tuần chiến đấu cô đã muốn chịu thua rồi.” Nhưng cô Anna đang ngủ đã chìm xuống ngay dưới mặt nước, đu đưa trong nước, muốn đi xuống những tầng sâu đen thẫm phía dưới. Con người quở mắng kia nói: “Chiến đấu. Chiến đấu. Chiến đấu đi.” Tôi nằm đu đưa bên dưới làn nước, và giọng nói đó im lặng, rồi sau đó tôi biết những tầng nước sâu bên dưới đã trở nên nguy hiểm, dầy những quái vật và cá sấu cùng những thứ mà tôi khó có thể tưởng tượng ra, chúng quá cổ xưa và chuyên chế. Nhưng sự nguy hiểm của chúng là điều kéo tôi xuống, tôi muốn được nguy hiểm. Rồi, qua làn nước bít kín tai, tôi vẫn nghe thấy giọng nói đó: “Chiến đấu. Chiến đấu đi.” Tôi thấy làn nước hóa ra không hề sâu chút nào mà chỉ là một lớp nước chua rất cạn ở đáy cái lồng bẩn thỉu. Bên trên tôi, trên nóc lồng, con cọp đang nằm soãi. Giọng nói lên tiếng: “Anna, cô biết cách bay mà. Bay đi.” Vậy là tôi chầm chậm nhỏm lên tư thế quỳ, giống như một ả say rượu, trong làn nước cạn dơ dáy, sau đó đứng dậy và cố gắng bay, dùng chân đạp vào thứ không khí thối tha ở dưới. Việc này khó đến mức tôi suýt ngất, không khí quá mỏng, không đỡ được tôi. Nhưng tôi nhớ lại trước đây mình đã bay, và vì vậy bằng một nỗ lực rất lớn, vật lộn bằng từng bước đạp xuống, tôi vươn dậy và chộp lấy những thanh ngang trên nóc lồng, nơi con cọp đang nằm soãi tứ chi. Mùi hơi thở hôi thối làm tôi ngạt. Nhưng tôi lôi mình lên qua các thanh ngang và đứng cạnh con cọp. Nó nằm yên, hấp háy đôi mắt màu xanh lá cây nhạt nhìn tôi. Trên đầu tôi vẫn là mái nhà nên tôi phải dùng chân đạp không khí xuống để trồi lên xuyên qua mái. Một lần nữa tôi lại vật lộn và đấu tranh, rồi từ từ tôi trôi lên và mái nhà biến mất. Con cọp nằm ườn trễ nải trên một chiếc lồng nhỏ vô hại, chớp mắt, một chân duỗi ra và chạm vào chân tôi. Tôi biết mình không việc gì phải sợ con cọp này cả. Nó là một con vật đẹp đẽ, bóng bẩy nằm duỗi dài trong ánh trăng ấm áp. Tôi bảo con cọp: “Đấy là lồng của mày.” Nó không nhúc nhích, mà ngáp, nhe ra những hàng răng trắng. Rồi có tiếng động, nhiều người đến tìm con cọp. Nó sắp sửa bị bắt và nhốt vào lồng. Tôi nói: “Chạy đi, nhanh!” Con cọp chồm dậy, đứng quất đuôi, lúc lắc cái đầu qua bên này sang bên khác. Bây giờ thì nó đã bốc mùi sợ hãi. Nghe tiếng la hét và bước chân chạy của những người đó, nó đưa vuốt cào cánh tay tôi trong nỗi sợ hãi mù quáng. Tôi thấy máu chảy dọc cánh tay mình. Con cọp nhảy từ mái nhà thẳng xuống, đáp xuống vỉa hè, rồi chạy mất vào bóng tối dọc hàng rào chắn ngoài những ngôi nhà. Tôi bắt đầu khóc, hết sức đau buồn, bởi vì tôi biết rằng những người đó sẽ bắt và nhốt con cọp. Rồi tôi thấy cánh tay mình không đau chút nào nữa, nó đã lành. Tôi khóc vì thương xót, và nói: Con cọp là Saul, tôi không muốn anh bị bắt, tôi muốn anh được chạy tự do khắp thế giới. Rồi giấc mơ, hay giấc ngủ, trở nên mỏng manh, gần đến mức thức dậy nhưng không hẳn là thức dậy. Tôi tự nhủ: Mình phải viết một vở kịch về Anna, về Saul và về con cọp. Phần đầu óc tôi quan tâm đến vở kịch này tiếp tục hoạt động, suy nghĩ về nó, giống như một đứa trẻ di chuyển khối xếp hình quanh sàn - hơn thế nữa, một đứa trẻ bị cấm chơi, bởi vì nó biết như thế là né tránh, tạo nên các mô hình từ Anna, Saul và con cọp chỉ là cái cớ để khỏi phải suy nghĩ; mô hình những điều mà Anna và Saul sẽ làm và nói là những hình dáng nỗi đau, “cốt truyện” của vở kịch sẽ được định hình nhờ nỗi đau, và như thế là né tránh. Trong khi đó, với phần đầu óc mà tôi biết chính là cái nhân cách vô tư đã cứu cho tôi không bị tan rã, tôi bắt đầu kiểm soát giấc ngủ của mình. Nhân vật kiểm soát này nhất định bắt tôi phải gạt bỏ vở kịch về con cọp, phải ngừng chơi với những khối xếp hình. Anh ta nói rằng thay vì làm những việc mà tôi vẫn luôn làm, bịa ra các câu chuyện về cuộc sống, để khỏi nhìn thẳng vào đó, tôi nên quay lại và nhìn những cảnh tượng đời mình. Việc nhìn lại này mang một đặc tính quan trọng, giống như mục đồng đếm cừu, hoặc tổng duyệt kịch, đấy là sự kiểm tra, nhằm đảm bảo chắc chắn. Nó cũng chính là hành động mà tôi vẫn làm khi còn bé gặp ác mộng hằng đêm: trước khi đi ngủ, tôi nằm nhớ đến tất cả mọi chuyện trong ngày có yếu tố sợ hãi ẩn giấu trong đó, có thể trở thành một phần của cơn ác mộng. Tôi phải “gọi tên” được những thứ đáng sợ đó, hết lần này tới lần khác, thành một bài cầu nguyện kinh khủng, giống như một kiểu dùng ý thức để tiệt trùng trước khi ngủ. Nhưng lúc này, khi đã ngủ, vấn đề không phải gọi tên để làm cho những việc trước đây trở nên vô hại, mà là phải kiểm tra cho chắc là chúng vẫn hiện hữu ở đó. Nhưng tôi biết rằng sau khi biết chắc rằng chúng vẫn hiện hữu ở đó, tôi sẽ phải “gọi tên” chúng theo cách khác, và đấy là lý do tại sao cái nhân cách kiểm soát đó đang ép tôi trở lại. Tôi thăm lại, trước hết là nhóm người dưới những cây bạch đàn chỗ ga Mashopi dưới ánh trăng có mùi rượu vang, hình bóng những chiếc lá tối thẫm trên nền cát trắng. Nhưng sự giả tạo kinh khủng của nỗi nhớ nhung đã thoát ra khỏi nó; nó vô cảm, giống như một bộ phim tua nhanh. Nhưng tôi phải nhìn George Hounslow đi đến, khom đôi vai rộng, từ chiếc xe tải màu đen đỗ cạnh đường ray xe lửa lấp lánh dưới ánh sao, nhìn Maryrose và nhìn tôi bằng vẻ hau háu sợ sệt; và nghe Willi ư ử hát sai nhạc vào tai tôi những khúc trong vở nhạc kịch của Brecht; và thấy Paul hơi gập người về phía chúng tôi bằng vẻ lịch sự chế giễu, sau đó anh mỉm cười và đi về phía khu phòng ngủ gần những tảng đá granit chồng đống. Và rồi, theo anh, chúng tôi bước dọc lối mòn đầy cát. Anh đứng chờ chúng tôi, quay mặt về phía chúng tôi, điềm tĩnh mỉm cười vẻ đắc thắng, mắt không nhìn về chúng tôi, nhóm người đang tản bộ về phía anh dưới ánh nắng nóng bỏng, mà qua chúng tôi, về hướng khách sạn Mashopi. Người này tiếp nối người kia, chúng tôi cũng dùng lại và quay người nhìn. Tòa nhà khách sạn dường như nổ tung với đám mây cánh hoa hay cánh bướm trắng đang nhảy múa, xoay tít, hàng triệu con bướm trắng đã chọn tòa nhà để đậu xuống. Cảnh tượng này trông giống như một đóa hoa trắng dần nở, dưới bầu trời xanh thẳm đầy hơi nước. Rồi cảm giác bị đe dọa xâm nhập vào chúng tôi, và chúng tôi biết mình đã bị đánh lừa con mắt, bị gạt. Chúng tôi đang nhìn vụ nổ một trái bom khinh khí, và một bông hoa trắng nở ra dưới bầu trời xanh trong hình hài hoàn hảo những độ phồng, nếp gấp và vòng xoáy đến nỗi chúng tôi không tài nào nhúc nhích được, mặc dù biết mình bị nó đe dọa. Cái hình dáng của tử thần đẹp đến mức không thể nào tin nổi, và chúng tôi im lặng đứng nhìn, cho đến khi sự im lặng này bị một âm thanh trườn bò, sột soạt, lạo xạo xâm chiếm, và khi nhìn xuống chúng tôi thấy lũ châu chấu, trong cuộc truy hoan lổn nhổn kinh tởm dày đến cả chục phân, vây quanh chúng tôi. Người điều khiển máy chiếu vô hình đang chiếu bộ phim vội vàng tắt đi cảnh này, cứ như thể nói rằng: “Đủ rồi, các bạn biết nó vẫn còn đó.” Và ngay lập tức, ông ta bắt đầu chiếu phần mới của bộ phim. Phim chạy chậm do trục trặc kỹ thuật kiểu gì đó và có đôi lần ông ta (người chiếu phim vô hình) tua lại bộ phim để xem lại lần nữa. Vấn đề là bộ phim này không rõ, người ta quay quá tệ. Có hai người đàn ông, là một, nhưng tách biệt, có vẻ như đang đấu tranh với nhau trong một trận chiến ý chí thầm lặng để được xuất hiện trong phim. Một người là Paul Tanner, xuất thân lao động, nay đã trở thành bác sĩ, chất mỉa mai phê phán lạnh lùng là thứ giúp anh trụ vững trong cuộc chiến lập thân, tuy nhiên chính nó lại đấu tranh và dần dần đánh bại chủ nghĩa lý tưởng trong anh. Người kia là Michael, kẻ tỵ nạn đến từ châu Âu. Cuối cùng, khi hai người này nhập làm một, một con người mới được tạo ra. Tôi có thể nhìn thấy khoảnh khắc này, cứ như thể hình dáng của một con người, một chiếc khuôn đã được chế sẵn để đựng nhân cách của Michael, hay Paul Tanner, đang phình ra và biến đổi, như thể có một người thợ điêu khắc làm việc từ bên trong vật liệu ấy đang thay đổi hình dáng bức tượng bằng cách ép đôi vai của chính mình, cặp đùi của chính mình, vào chất liệu trước đó đã từng là Paul, là Michael. Con người mới này có vóc dáng lớn hơn, với phẩm chất anh hùng của tượng cổ, nhưng hơn hết thảy, tôi có thể cảm nhận được sức mạnh của anh ta. Rồi anh ta nói, và tôi có thể nghe thấy âm thanh mong manh của giọng nói thật trước khi nó bị giọng nói mới mạnh mẽ nuốt đi, hút vào: “Nhưng Anna thân mến của anh, chúng ta không phải là những kẻ thất bại như ta tưởng. Chúng ta đem đời mình ra đấu tranh để giúp những người ít ngu hơn chúng ta một chút xíu chấp nhận những thực tế mà các vĩ nhân luôn biết. Họ luôn biết, họ đã biết từ cả chục ngàn năm nay rằng nhốt con người vào buồng biệt giam chỉ khiến cho anh ta trở thành kẻ điên hay thú vật mà thôi. Họ luôn biết rằng người nghèo nào sợ hãi cảnh sát và ông chủ thì đều là nô lệ. Họ luôn biết rằng người sợ hãi sẽ trở thành người độc địa. Họ luôn biết rằng bạo lực chỉ đẻ thêm ra bạo lực mà thôi. Và chúng ta cũng biết. Nhưng liệu quần chúng đông đảo trên thế giới có biết hay không? Không. Công việc của chúng ta là bảo cho họ biết. Bởi vì các vĩ nhân không buồn để tâm. Trí tưởng tượng của họ đã bận rộn với việc tìm ra cách đưa người lên sao Kim sống; họ đang tạo dựng trong đầu hình dung về một xã hội toàn những con người tự do và cao quý. Trong khi đó, loài người đang tụt hậu sau họ cả chục ngàn năm, đang bị cầm tù trong sợ hãi. Các vĩ nhân không buồn để tâm. Và như thế là đúng. Bởi vì họ biết có chúng ta, những kẻ vần đi lên núi, ở đây. Họ biết chúng ta vẫn sẽ tiếp tục lăn tảng đá lên chân dốc một ngọn núi cao kinh khủng, trong khi họ đã đứng tự do trên đỉnh núi từ lâu. Cả đời mình, em và anh, chúng ta sẽ dành trọn sức lực, dành trọn tài trí, để vần tảng đá ấy đi ngược lên đỉnh núi thêm được vài phân. Và họ tin cậy chúng ta, và họ đúng, và đây là lý do tại sao chúng ta không hề vô dụng chút nào.” Giọng nói nhỏ dần; nhưng phim đã thay đổi. Bây giờ thì nó chỉ là hình thức. Cảnh này nối tiếp cảnh khác, sáng lên, sau đó tắt ngấm; tôi biết việc “viếng thăm” quá khứ này là nhằm nhắc nhở tôi rằng tôi vẫn phải nhào nặn nó. Paul Tanner và Ella, Michael và Anna, Julia và Ella, Molly và Anna, Mẹ Mật, Tommy, Richard, bác sĩ West - những người này thoáng xuất hiện, méo mó vì bị tua nhanh, rồi lại biến mất, sau đó cuốn phim ngừng lại, hay nói đúng hơn là chạy hết, với một tiếng khục chói tai. Và trong khoảng im lặng tiếp đó, người chiếu phim nói (bằng giọng khiến tôi phải chú ý, bởi vì đây là một giọng nói mới, khá hớn hở, thực tế, chế giễu, một giọng nói của lẽ thường): “Vậy điều gì khiến cô nghĩ rằng điều cô chọn làm điểm nhấn là đúng đắn?” Từ đúng đắn mang một âm vang giễu nhại. Đấy là cách chế giễu cái thuật ngữ đúng đắn của chủ nghĩa Marx. Nó cũng mang vẻ nghiêm nghị, giống như giọng giáo viên. Vừa nghe thấy từ “đúng đắn”, tôi liền bị cảm giác buồn nôn, và tôi biết rất rõ cảm giác đó - nó là sự buồn nôn khi căng thẳng, khi cố gắng mở rộng giới hạn của mình ra quá mức vẫn được coi là có thể. Với cảm giác buồn nôn ấy, tôi lắng nghe giọng nói đó vang lên: “Vậy điều gì khiến cô nghĩ rằng điều cô chọn nhấn mạnh là đúng đắn?” trong khi ông ta, người chiếu phim, bắt đầu chiếu lại bộ phim một lần nữa, hay nói đúng hơn là mấy bộ phim, bởi vì có mấy bộ khác nhau, và khi chúng vụt qua trước mắt trên màn chiếu, tôi có thể phân biệt và “gọi tên” chúng. Bộ phim về Mashopi; bộ phim về Paul và Ella; bộ phim về Michael và Anna; bộ phim về Ella và Julia; bộ phim về Anna và Molly. Như tôi nhận ra lúc này, đây đều là những bộ phim được sản xuất cẩn thận, theo lối truyền thống, cứ như người ta thực hiện trong phim trường; và rồi tôi nhìn thấy phần nhan đề: mấy bộ phim này, chứa toàn những thứ tôi ghét nhất, đều do tôi đạo diễn. Người chiếu phim tiếp tục phát mấy bộ phim này ở tốc độ rất nhanh, và rồi dừng ở phần danh sách thực hiện, và tôi nghe thấy tiếng cười chế giễu của ông ta vì câu Đạo diễn Anna Wulf. Sau đó ông ta chiếu thêm vài cảnh nữa, mỗi cảnh đều hào nhoáng với những điều không có thực, giả tạo và ngớ ngẩn. Tôi hét lên với người chiếu phim: “Nhưng đây không phải là của tôi, tôi đâu có làm ra chúng.” Vậy là người chiếu phim, gần như là chán chường vì tự tin, cho những cảnh đó biến mất, và chờ tôi chứng minh rằng ông ta sai. Và lúc này thật là khủng khiếp, bởi vì tôi phải đối diện với gánh nặng tạo lại trật tự từ cảnh hỗn loạn của đời mình. Thời gian đã biến mất, và ký ức của tôi không hề tồn tại, do đó tôi không thể nào phân biệt được giữa những gì mình đã bịa ra với những gì đã trải qua, và tôi biết rằng mọi điều mình bịa ra đều là giả tạo hết. Đấy là một cơn lốc xoáy, một điệu nhảy lộn xộn, giống như điệu nhảy của lũ bướm trắng trong cái lung linh của hơi nóng trên lòng cái đầm cạn đầy cát. Người chiếu phim vẫn chờ đợi, vẻ nhạo báng. Tôi hiểu ông ta đang nghĩ gì. Ông ta đang nghĩ rằng tôi đã chọn lấy chất liệu này cho khớp với những điều tôi biết, và đây là lý do tại sao tất cả đều giả tạo. Bỗng nhiên ông ta nói to: “June Boothby sẽ thấy thời kỳ ấy thế nào? Tôi cá là cô không thể xây dựng được June Boothby đâu.” Câu đó khiến đầu óc tôi sang số vào một mức rất lạ với tôi, và tôi bắt đầu viết câu chuyện về June Boothby. Tôi không tài nào ngăn được dùng ngôn từ, và tôi phát khóc vì bực bội khi thấy mình viết bằng thứ phong cách của loại tạp chí phụ nữ cảnh vẻ nhạt nhẽo nhất, nhưng điều đáng sợ là sự nhạt nhẽo này lại có được nhờ thay đổi rất nhẹ trong phong cách của chính tôi, chỉ duy nhất một từ đây đó: “June, vừa bước sang tuổi mười sáu, nằm trên chiếc chaise longue (ghế dài) ở hiên nhà, nhìn ra con đường qua tán lá sum suê của cây muồng hoàng yến. Cô biết có điều gì đó sắp sửa xảy ra. Khi mẹ cô bước vào phòng, đứng sau lưng cô và nói: June, đi giúp mẹ làm bữa tối cho khách sạn - June không hề nhúc nhích. Và mẹ cô, sau một lúc ngừng lại, đi ra khỏi phòng mà không nói một lời. June tin rằng mẹ cô cũng biết. Cô nghĩ: mẹ thân yêu, mẹ biết con cảm thấy thế nào mà. Và rồi điều đó xảy ra. Một chiếc xe tải chạy đến trước của khách sạn, cạnh mấy chiếc bơm xăng, và anh bước ra. June, không hề vội vàng, thở dài và đứng dậy. Rồi, cứ như bị một ngoại lực nào đó thúc ép, cô rời khỏi nhà và bước đi trên con đường mà mẹ cô vừa đi trước đó vài phút, về phía khách sạn. Có vẻ như người trai trẻ đứng cạnh mấy chiếc bơm xăng nhận ra cô đang đến gần. Anh quay lại. Ánh mắt họ gặp nhau…” Tôi nghe thấy tiếng người chiếu phim cười. Ông ta thấy khoái trá bởi vì tôi không thể ngăn được mớ chữ ấy trỗi dậy, ông ta vui sướng một cách ác độc. “Tôi đã bảo rồi,” ông ta nói, bàn tay đã đưa lên định chiếu lại bộ phim một lần nữa. “Tôi đã bảo là cô không làm nổi đâu mà.” Tôi thức giấc trong bóng tối ngột ngạt của căn phòng, chỉ sáng ở ba nơi có ánh hồng. Giấc mơ khiến tôi kiệt sức. Ngay lập tức tôi biết mình tỉnh dậy vì Saul đang ở trong nhà. Tôi không nghe thấy tiếng di chuyển nhưng cảm nhận được sự hiện diện của anh. Thậm chí tôi còn biết chính xác anh ở chỗ nào, đang đứng bên kia cánh cửa một chút, chỗ chiếu nghỉ. Tôi có thể thấy anh, dáng vẻ lưỡng lự bồn chồn, búng môi, không biết có nên vào hay không. Tôi gọi: “Saul, em dậy rồi.” Anh bước vào và nói bằng giọng hớn hở giả tạo: “Chào em, anh cứ nghĩ em đang ngủ.” Tôi biết người chiếu phim trong giấc mơ của mình là ai. Tôi nói: “Anh có biết là anh đã trở thành một dạng lương tâm hoặc nhà phê bình bên trong không. Em vừa mơ thấy anh như thế.” Anh nhìn tôi một lúc lâu, vẻ điềm đạm, láu cá, rồi nói: “Anh mà trở thành lương tâm của em ư, đúng là trò đùa, em là lương tâm của anh mới đúng.” Tôi đáp: “Saul, chúng ta rất không tốt cho nhau.” Anh đang định nói: “Có thể anh không tốt cho em, nhưng em lại tốt cho anh…” bởi vì trên gương mặt anh xuất hiện vẻ đùa bỡn cố tình nhưng lại rất ngạo mạn, là chiếc mặt nạ luôn đi cùng với những lời này. Tôi nói để ngăn anh lại: “Anh sẽ phải phá vỡ điều đó. Em nên làm, nhưng em không đủ mạnh mẽ. Em nhận ra anh mạnh mẽ hơn em nhiều. Trước đây thì em tưởng ngược lại.”
Tôi quan sát vẻ giận dữ, khó chịu, nghi ngờ chuyển động trên gương mặt anh. Anh liếc xéo tôi, mắt nheo lại. Tôi biết rằng lúc này anh đang chuẩn bị gây sự, từ cái nhân cách ghét tôi vì muốn lấy mất thứ gì đó của anh. Tôi cũng biết rằng khi anh là “chính mình”, anh sẽ nghĩ về những điều tôi vừa nói, và là người trách nhiệm nên thực tế là anh sẽ thực hiện những gì tôi yêu cầu.
Trong khi đó thì anh lên tiếng, sưng sỉa: “Vậy là em sắp sửa đá anh ra ngoài.”
Tôi đáp: “Em có nói thế đâu” - nói với con người trách nhiệm.
Anh nói: “Anh không tuân thủ đường lối của em nên em mới đá anh ra ngoài chứ gì.”
Không hề biết là mình sắp sửa làm vậy, tôi ngồi dậy và rít lên với anh: “Vì Chúa, hãy thôi đi, thôi đi, thôi đi, thôi đi.” Anh thụt lùi, theo bản năng. Tôi biết rằng với anh, khi một người đàn bà rít lên trong cơn cuồng loạn cũng có nghĩa là anh sắp bị đánh. Tôi nghĩ thật kỳ cục là hai chúng tôi lại ở bên nhau, thân cận đến mức người này có thể trở thành người kia, vì cả đời tôi chưa bao giờ đánh một ai. Thậm chí anh còn dịch về phía cuối giường và ngồi ở tư thế sẵn sàng chạy khỏi một người đàn bà đang rít lên và đánh mình. Tôi nói, không phải là rít lên nữa mà là khóc: “Anh không thấy rằng đây là một cái vòng luẩn quẩn, chúng ta cứ đi hết vòng này đến vòng khác đó sao?” Mặt anh tối sầm lại vì thù địch, tôi biết anh đang phải đấu tranh với việc ra đi. Tôi quay đi, dằn cơn buồn nôn trong dạ dày xuống và nói: “Dù sao đi nữa thì khi Janet về anh cũng sẽ tự ra đi một mình.”
Tôi không hề biết trước là mình sẽ nói ra điều này, hoặc mình có nghĩ như thế. Tôi nằm nghĩ về chuyện đó. Tất nhiên đây là chuyện thật.
“Ý em là sao?” anh hỏi, giọng tò mò chứ không phải thù địch.
“Nếu em có con trai thì anh sẽ ở lại. Anh sẽ cảm thấy đồng nhất với nó. Ít nhất là trong một thời gian, cho đến khi anh vượt qua chuyện đó. Nhưng vì em có con gái nên anh sẽ bỏ đi bởi vì anh sẽ coi mẹ con em là hai người đàn bà, hai kẻ thù.” Anh chầm chậm gật đầu. Tôi nói: “Kỳ cục thật, em luôn khổ sở vì những cảm giác về số phận, định mệnh, bất khả kháng. Nhưng có con gái chứ không phải con trai là điều ngẫu nhiên. Hoàn toàn ngẫu nhiên. Vì vậy anh phải đi cũng là điều ngẫu nhiên. Đời em sẽ thay đổi, hoàn toàn, vì điều này. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn, bớt tù túng hơn, khi bám vào yếu tố ngẫu nhiên. Tôi nói: “Lạ thật, có con là khi người phụ nữ cảm thấy mình đang bước vào một dạng định mệnh bất khả kháng. Nhưng ở trung tâm thứ mà bọn em cảm thấy gắn bó nhất lại là một thứ gì đó hoàn toàn ngẫu nhiên.” Anh liếc nhìn tôi, không thù địch, vẻ trìu mến. Tôi nói: “Dù sao đi chăng nữa thì không một ai trên đời này có thể thấy việc em có con gái thay vì con trai là điều gì khác ngoài ngẫu nhiên. Cứ hình dung xem Saul, nếu em có con trai thì chúng ta sẽ có cái mà dân Mỹ các anh gọi là một mối quan hệ. Một mối quan hệ lâu dài. Nó có thể trở thành bất cứ cái gì, ai mà biết được?”
Anh khẽ nói: “Anna, thực sự là anh tệ với em như thế à?”
Tôi trả lời, bằng đúng vẻ sưng sỉa của anh - mượn của anh khi anh không dùng đến nó, có thể nói như vậy, vì lúc này anh đang dịu dàng và hài hước: “Em đã không giam chân với đám thầy mo ấy nếu chẳng phải để biết rằng chẳng ai làm gì mình cả, toàn tự em hết.”
“Dẹp đám thầy mo ấy đi,” anh nói, đặt tay lên vai tôi. Anh mỉm cười, lo lắng cho tôi. Vì lúc này anh hoàn toàn ở đó, con người tốt. Nhưng tôi đã thấy đằng sau gương mặt anh cái thế lực đen ấy; nó đang trở lại trong mắt anh. Anh đang chiến đấu với chính mình. Tôi nhận ra cuộc chiến đó chính là cuộc chiến mà tôi đã gặp trong giấc ngủ, từ chối kết nạp những nhân cách lạ muốn xâm chiếm tôi. Cuộc chiến của anh kinh khủng đến mức anh phải ngồi, nhắm mắt, mồ hôi túa ra trên trán. Tôi nắm lấy tay anh, anh chộp lấy và nói: “Ổn rồi, Anna, ổn rồi, ổn rồi. Đừng lo. Tin anh đi.” Chúng tôi ngồi trên giường, nắm chặt lấy tay nhau. Anh gạt mồ hôi trên trán rồi hôn tôi và nói: “Mở tí nhạc jazz đi em.”
Tôi mở một bản Armstrong thời kỳ đầu. Tôi ngồi trên sàn nhà. Căn phòng lớn là cả một thế giới, có ánh hồng của ngọn lửa trong lồng cùng những cái bóng của nó. Saul nằm trên giường, nghe bản nhạc jazz, mặt hiện vẻ hoàn toàn mãn nguyện.
Ngay lúc đó tôi không thể nào “nhớ” được cô Anna bệnh tật. Tôi biết cô ta đang ở trong cánh gà, chờ đợi bước ra, khi có người chạm vào cái nút nào đó - nhưng chỉ có thế mà thôi. Chúng tôi im lặng một lúc lâu. Tôi tự hỏi khi chúng tôi bắt đầu nói chuyện thì hai kẻ nào sẽ là người lên tiếng. Tôi nghĩ rằng nếu có một cái máy thu âm ghi lại vô số những giờ nói chuyện trong căn phòng đó, những lời trò chuyện, chửi nhau, cãi cọ và bệnh tật, đấy sẽ là bản ghi âm hàng trăm con người khác nhau, ở các vùng miền khác nhau trên thế giới, lúc này đang trò chuyện, la hét và gặng hỏi. Tôi ngồi đó và tự hỏi không biết người nào sẽ bắt đầu la hét khi tôi lên tiếng, vì vậy tôi nói: “Em vẫn đang nghĩ.” Chuyện trong hai chúng tôi có một người nói “vẫn đang nghĩ” đã trở thành chuyện đùa. Anh cười và nói: “Vậy ra em đang nghĩ cơ đấy.”
“Nếu người ta có thể bị một nhân cách không phải của mình xâm chiếm, tại sao mọi người - em muốn nói đến đông đảo mọi người ở lại không thể bị những nhân cách xa lạ xâm chiếm.”
Anh nằm xuống, bật môi theo tiếng nhạc jazz, gảy chiếc ghi ta tưởng tượng. Anh không trả lời, chỉ nhăn nhó, nghĩa là: Anh đang nghe đây.
“Mấu chốt là, thưa đồng chí…” tôi ngừng lại, nghe thấy cách mình dùng từ đó, giống như tất cả chúng tôi bây giờ đều nói như thế, mang theo nỗi hoài nhớ mỉa mai. Tôi nghĩ rằng đây là họ hàng với cái giọng giễu cợt của người chiếu phim - một mặt của hoài nghi và hủy diệt.
Saul vừa nói vừa đặt xuống chiếc ghi ta tưởng tượng: “À đồng chí ơi, nếu đồng chí nói rằng quần chúng bị tiêm nhiễm những cảm xúc từ bên ngoài thì tôi sẽ rất vui, đồng chí ạ, vì đồng chí vẫn bất chấp mọi thứ để bấu chặt lấy những nguyên lý xã hội chủ nghĩa của mình.”
Anh dùng từ đồng chí và quần chúng một cách mỉa mai, nhưng lúc này giọng anh chuyển sang cay đắng: “Như vậy, tất cả những gì chúng ta phải làm, thưa đồng chí, là bố trí sao cho quần chúng, giống như vô số những chiếc thùng rỗng, được đổ đầy những cảm xúc thuần khiết bình yên dễ chịu hữu ích tốt đẹp, giống như chúng ta.” Giọng anh còn trên xa cả mỉa mai, không phải là bằng cái giọng của người chiếu phim, nhưng cũng không khác là bao.
Tôi nói: “Đấy là cách nói của em, kiểu mỉa móc đó, nhưng hiếm có khi nào anh làm vậy đâu.”
“Khi cái con người cách mạng 100 phần trăm trong anh rạn nứt, anh nhận thấy rằng mình đã rạn nứt thành những khía cạnh thuộc mọi thứ anh ghét. Đấy là vì anh sống mà chưa bao giờ để mắt hướng tới việc trở thành thứ vẫn được gọi là trưởng thành.
Cả đời anh, cho đến tận gần đây, vẫn được dành cả vào việc chuẩn bị sẵn sàng cho cái giây phút có người bảo: ‘Cầm lấy khẩu súng đó’; hoặc ‘điều hành hợp tác xã nọ’; hoặc ‘tổ chức hàng rào người kia’. Anh luôn tin rằng anh sẽ chết ở tuổi ba mươi”.
“Tất cả đàn ông trẻ tuổi đều tin rằng họ sẽ chết ở tuổi ba mươi. Họ không chịu đựng nổi cảnh thỏa hiệp khi già đi. Và em là ai mà dám bảo rằng họ không đúng kia chứ?”
“Anh không phải là tất cả đàn ông. Anh là Saul Green. Chẳng trách anh phải rời nước Mỹ. Chẳng còn ai ở đấy nói thứ ngôn ngữ của anh nữa cả. Điều gì xảy ra với tất cả bọn họ - đã có thời anh từng biết cả lố người. Bọn anh đều là những kẻ đảo trời lật đất. Giờ thì anh chạy xe khắp nước, tìm kiếm những người bạn cũ, thế mà bọn họ hết thảy đều đã lập gia đình hoặc thành đạt cả và đều nói chuyện riêng với chính mình trong cơn say bởi vì các giá trị Mỹ đều thối hoắc.”
Tôi bật cười khi thấy anh nói đến từ lập gia đình với vẻ sưng sỉa. Anh ngước nhìn lên để xem tại sao tôi lại cười, rồi nói: “Ồ đúng thế, đúng thế, anh nghĩ đúng vậy đấy. Anh bước vào căn hộ mới đẹp đẽ của một người bạn cũ và nói: “Này, cậu làm nghề này là thế quái nào vậy, cậu có biết là nó thối mù hay không, cậu có biết là cậu đang tự hủy hoại bản thân hay không? Và cậu ta đáp: ‘Nhưng còn vợ con tớ thì sao?’ Anh hỏi: ‘Những gì tớ nghe thấy có đúng không thế - rằng cậu đã trở thành tên chỉ điểm hại bạn bè?’ Và cậu ta nuốt nhanh một ly nữa rồi nói: ‘Nhưng Saul ạ, tớ còn có vợ con nữa.’ Chúa ơi, đúng thế đấy. Và vậy là anh ghét vợ con, và anh đúng khi ghét chúng nó. Đúng thế, được, cứ cười đi, có gì buồn cười hơn chủ nghĩa lý tưởng theo kiểu của anh - nó thật là cũ kỹ, thật quá ngây thơ! Có một điều người ta không thể nói với bất kỳ người nào được nữa, có vẻ như vậy: Cậu biết từ trong sâu thẳm trái tim mình là cậu không nên sống như vậy. Thế thì tại sao cậu vẫn sống như vậy? Không, người ta không thể nào nói ra được, sẽ là đồ hợm mình mà… nói ra thì có ích gì cơ chứ, mọi người đã đánh mất bộ gan ngày xưa rồi. Lẽ ra hồi đầu năm nay anh phải đến Cuba đầu quân cho Castro, và bị giết rồi mới phải.”
“Chắc chắn là không rồi, bởi vì anh đâu có đi.”
“Đấy là vì quyết định luận lại chen vào, thay cho cái ngẫu nhiên mà em vừa mới cúi chào cách đây một lúc.”
“Nếu anh thực sự muốn bị giết, có cả chục cuộc cách mạng để anh có thể bị giết.”
“Anh không hợp với cuộc sống được sắp sẵn cho chúng ta. Em biết gì không Anna? Anh sẽ đánh đổi bất cứ thứ gì để được trở lại với lúc còn ở trong nhóm trẻ con say mê lý tưởng nơi góc phố, tin rằng mình có thể thay đổi được mọi thứ. Đấy là thời kỳ duy nhất trong đời anh cảm thấy hạnh phúc. Đúng vậy, thôi được, anh biết em đang định nói gì.”
Vì vậy nên tôi không nói gì cả. Anh ngẩng đầu lên nhìn tôi và nói: “Nhưng rõ ràng là anh muốn em nói ra.”
Vì vậy tôi nói: “Tất cả đàn ông Mỹ đều nhìn lại và mè nheo đòi trở lại lúc mình còn ở trong nhóm thanh niên trước khi họ chịu áp lực phải thành đạt hoặc lập gia đình. Mỗi khi em gặp một anh chàng người Mỹ nào đó, em chờ đến giây phút gương mặt anh ta rạng rỡ hẳn lên - đấy là khi anh đang nói về nhóm bạn bè của mình.”
“Cảm ơn em,” anh nói, vẻ sưng sỉa. “Câu đó đã khóa kín lại cảm xúc mạnh nhất mà anh từng cảm nhận được rồi tống khứ nó đi.”
“Đấy là điều không ổn với tất cả chúng ta. Những cảm xúc mạnh mẽ nhất của chúng ta đều bị khép lại, hết cảm giác này đến cảm giác khác. Vì một lý do nào đó mà chúng đều không thích hợp với thời chúng ta đang sống. Nhu cầu mạnh nhất của em là gì - được ở bên một người đàn ông, được yêu thương, mấy thứ đó. Em thực sự có khiếu trong chuyện này.” Tôi nghe giọng mình cũng sưng sỉa như giọng anh lúc trước. Tôi đứng dậy và đi đến chỗ chiếc máy điện thoại.
“Em làm gì thế?”
Tôi quay số của Molly và nói: “Em gọi cho Molly. Cô ấy sẽ hỏi: Anh chàng người Mỹ của cậu thế nào? Em sẽ trả lời: Tớ đang trong một cuộc tình với anh ấy. Cuộc tình - chính là cách nói này. Trước nay em vẫn luôn thích nó, thật từng trải và phởn phơ! Ồ, rồi cô ấy sẽ nói: Đấy chẳng phải là việc hợp lý nhất mà cậu từng làm trong đời, hử? Em sẽ bảo không phải. Điều đó sẽ khép chuyện này lại. Em muốn nghe cô ấy nói ra.” Tôi đứng nghe tiếng chuông điện thoại reo trong căn hộ của Molly. “Bây giờ em nói về năm năm đời mình - đấy là hồi tôi yêu một người yêu tôi. Nhưng tất nhiên là thời đó tôi còn quá ngây thơ. Chấm hết. Đấy là khép lại. Em nói: Rồi tôi trải qua một thời gian tìm kiếm những người đàn ông làm mình tổn thương. Tôi cần điều đó. Chấm hết. Đấy là khép lại.” Điện thoại vẫn tiếp tục reo. “Tôi làm cộng sản một thời gian. Tổng thể thì đó là một sai lầm. Mặc dù vậy nó vẫn là một trải nghiệm hữu ích, và những điều như thế không bao giờ là quá nhiều cả. Chấm hết. Đấy là khép lại.” Nhà Molly không có ai trả lời, vì vậy tôi đặt ống nghe xuống. “Thế là cô ấy sẽ phải nói vào một lúc khác,” tôi nói.
“Nhưng điều ấy không đúng,” anh đáp.
“Có thể là không. Nhưng em vẫn muốn nghe điều đó, dù thế nào đi nữa.”
Ngừng một lúc. “Điều gì sẽ xảy ra với anh hả Anna?”
Tôi nói, lắng nghe chờ xem mình nói gì, để biết mình nghĩ gì: “Anh sẽ phải vật lộn để vượt qua những gì đang vây lấy anh lúc này. Anh sẽ trở thành một người rất dịu dàng, thông thái, tốt bụng để mọi người tìm đến khi cần được bảo rằng họ… điên rồ vì một sự nghiệp tốt đẹp.”
“Lạy Chúa, Anna!”
“Anh nói cứ như em xúc phạm anh thế!”
“Lại là người bạn cũ của chúng ta, sự trưởng thành ấy! Ôi, anh sẽ không để bị hắn bắt nạt đâu.”
“Ồ, nhưng chín chắn là quan trọng nhất chứ?”
“Không!”
“Nhưng Saul tội nghiệp của em, chẳng ai cứu được anh cả, anh đang đi thẳng đến đó. Thế những con người tuyệt vời mà chúng ta biết, khoảng năm mươi sáu mươi tuổi thì sao? Ôi, cũng có vài người như thế đấy… những con người tuyệt vời, chín chắn và thông thái. Những con người đích thực, như người ta nói, toát ra sự thanh thản. Vậy làm thế nào mà họ được như thế? Ờ, chúng ta biết, phải không nào? Mỗi một người trong số họ đều có tiền sử tội phạm về cảm xúc, ôi những tử thi buồn bã rỉ máu rải trên con đường dẫn tới sự chín chắn của con người thông thái, thanh thản tuổi ngoài năm mươi! Anh đơn giản là sẽ không thể trở nên thông thái, chín chắn, v.v. được trừ phi anh đã làm kẻ ăn thịt người điên rồ được chừng ba mươi năm.”
“Anh vẫn sẽ tiếp tục làm kẻ ăn thịt người đấy.” Anh cười, nhưng vẻ sưng sỉa.
“Ổ không đâu. Em có thể nhận ra ứng viên cho sự thanh thản và chín chắn tuổi trung niên từ cách xa cả dặm. Ở tuổi ba mươi, họ điên cuồng chiến đấu, phun lửa và thách thức và vung gươm chinh phục đàn bà khắp mọi hướng. Và em đã thấy anh từ lúc này, Saul Green, sống tằn tiện hết sức khỏe mạnh và cô độc trong căn hộ không có nước nóng ở một nơi nào đó, thi thoảng lại sành sỏi nhấp một ngụm Scotch lâu năm loại ngon. Đúng vậy, lúc này em đã thấy anh, anh sẽ lại phình ra đủ hình dáng thích hợp của mình. Anh sẽ là một trong những tay trung niên gai góc, to ngang, rắn rỏi đó, giống như con gấu nâu xơ xác, mái tóc húi cua màu vàng kim đang dần bạc đi rất sành điệu bên thái dương. Và có lẽ anh cũng sẽ phải mang kính. Và anh sẽ học cách im lặng, thậm chí đến lúc đó có thể nó đã tới một cách tự nhiên. Thậm chí em còn thấy một bộ râu màu vàng gọn gàng đang dần bạc đi. Người ta sẽ nói: Biết Saul Green không? Thế mới là người chứ! Mạnh mẽ làm sao! Điềm tĩnh làm sao! Thanh thản làm sao! Nhưng đừng quên, thi thoảng một trong những tử thi lại thở ra một lời than thân nho nhỏ - còn nhớ tôi không?”
“Những tử thi đó, để anh nói cho em biết, tất cả như một đều ở phía anh, và nếu như em không hiểu được điều đó thì em chả hiểu cái gì cả.”
“Ồ em hiểu chứ, nhưng điều đó không làm cho chuyện bớt nản lòng đi chút nào, khi thấy các nạn nhân lúc nào cũng sẵn sàng hiến máu thịt của mình.”
“Nản lòng! Anh có ích cho mọi người, Anna ạ. Anh thức tỉnh họ, lay họ và đẩy họ đi theo con đường đúng đắn.”
“Vớ vẩn. Người nào quá sốt sắng trở thành nạn nhân thì đều là những kẻ đã tự mình từ bỏ kiếp ăn thịt người, họ không đủ cứng rắn và tàn nhẫn để đi trên con đường vàng dẫn tới sự trưởng thành và cái nhún vai thông thái. Họ biết là mình đã từ bỏ. Điều họ đang nói thực ra là: Tôi đã từ bỏ, nhưng tôi rất vui được hiến máu thịt mình cho anh.”
“Nhom nhom nhom,” anh nói, gương mặt nghiến lại khiến cho đôi lông mày màu vàng chụm lại thành một đường kẻ đậm ngang trán, răng anh nhe ra, nhăn nhở vẻ giận dữ.
“Nhom nhom nhom,” tôi đáp.
“Theo anh hiểu, em không phải là kẻ ăn thịt người?”
“Ồ, có chứ. Nhưng em cũng đã phân phát giúp đỡ và an ủi, tùy lúc. Không, em không muốn làm thánh đâu, em sẽ trở thành kẻ vần đá lên núi.”
“Là cái gì?”
“Có một ngọn núi đen rất lớn. Đó là sự ngu xuẩn của người đời. Có một nhóm người vần tảng đá ngược lên ngọn núi đó. Họ cứ lên được vài bước thì chiến tranh, hoặc cách mạng không đúng cách lại nổ ra, và tảng đá lăn xuống - không phải xuống đến tận đáy, nó luôn dừng lại ở chỗ cao hơn vài phân so với điểm xuất phát. Vì vậy nhóm người đó ghé vai vào tảng đá và lại bắt đầu đẩy. Trong khi đó, ở trên đỉnh núi là một vài bậc vĩ nhân. Thỉnh thoảng họ lại nhìn xuống, gật gù và nói: Tốt, bọn vần đá vẫn đang phiên làm việc. Còn trong khi đó chúng ta đang chiêm nghiệm về bản chất của vũ trụ, hoặc hình dung về một tương lai khi thế giới toàn những người không biết đến thù hận, sợ hãi, và giết chóc.”
“Hừm. Vậy thì anh muốn được là một trong những vĩ nhân trên đỉnh núi.”
“Đen đủi cho cả hai chúng ta, chúng ta đều là những kẻ vần đá.”
Và bỗng nhiên anh bật dậy và ra khỏi giường, giống như cây lò xo thép đen bật lên, đứng đó, mắt đầy hận thù, như thể vừa bỗng nhiên được bật công tắc, rồi nói: “Ồ không, em không, ồ không, anh sẽ không… anh sẽ… anh, anh, anh.” Tôi nghĩ, À, vậy là hắn đã trở lại, phải không. Tôi đi vào bếp, lấy một chai Scotch, quay lại, nằm xuống sàn và uống chai Scotch trong khi anh nói. Tôi nằm trên sàn, nhìn những hoa văn ánh sáng vàng lấp lánh trên trần nhà, nghe tiếng mưa nặng hạt rơi khoan nhặt ngoài trời và cảm nhận được sự căng thẳng bóp lấy gan ruột mình. Anna ốm yếu đã trở lại. Anh, anh, anh, anh, giống như khẩu súng máy đều đặn phun ra. Tôi lắng nghe nhưng lại không lắng nghe, cứ như một bài diễn văn tôi viết mà ai đó đang thuyết. Vâng, đấy là tôi, là mọi người, cái kẻ đang nói đó. Anh. Anh. Anh thì. Anh thì. Anh sắp. Anh sẽ không. Anh sẽ. Anh muốn. Anh. Anh đi quanh phòng như một con thú, con thú biết nói, những chuyển động dữ dội và nạp đầy năng lượng, một sức mạnh mãnh liệt phụt ra anh, Saul, Saul, anh, anh muốn. Đôi mắt xanh lá của anh bất động, không nhìn, miệng anh, giống như chiếc thìa hoặc chiếc thuổng hoặc như khẩu súng máy, bắn ra, phun ra, thứ ngôn ngữ nóng bỏng hiếu chiến, mỗi lời như một viên đạn. “Anh sẽ không để em hủy hoại. Không để bất cứ ai cả. Anh sẽ không để bị bịt miệng, giam giữ, thuần hóa, bị bắt im lặng ở yên đấy làm như lời người ta bảo anh… anh đang nói những gì anh nghĩ, anh không chấp nhận thế giới của em.” Tôi có thể cảm nhận được sự hung bạo từ sức mạnh đen tối của anh tấn công từng sợi thần kinh trong tôi. Tôi thấy cơ dạ dày mình đảo lộn, cơ lưng căng lên như dây đàn, tôi nằm cầm chai Scotch trong tay, điềm tĩnh nhấp từng ngụm, cảm nhận cơn say ngấm dần, lắng nghe, lắng nghe… Tôi nhận thấy mình nằm đó đã rất lâu, có lẽ hàng giờ, trong khi Saul đi lại và la hét. Một vài lần tôi có nói gì đó, ném ngôn từ vào dòng lũ lời nói của anh, và như thể một cỗ máy, được thợ điều chỉnh hoặc cài đặt để dừng chốc lát khi gặp âm thanh từ bên ngoài, vừa dừng lại, tự kiểm tra một cách máy móc, miệng, hoặc lỗ hổng kim loại đã sẵn sàng tư thế tiếp tục phun ra dòng anh anh anh anh anh anh. Một lần tôi nhỏm dậy, không hẳn là anh nhìn thấy, bởi vì anh đang không thấy tôi, trừ phi như một kẻ thù mà anh phải quát át đi, và tôi mở Armstrong, một phần là vì bản thân, bám chặt lấy thứ âm nhạc ấm áp trong trẻo này như một chiếc gối ôm, rồi nói: “Nghe đi, Saul, nghe đi.” Anh hơi cau mày, đôi lông mày giật giật và nói một cách máy móc: “Hả? Cái gì?” Sau đó là anh anh anh anh anh anh, anh sẽ cho cả lũ bọn em thấy thế nào là đạo đức, tình yêu và luật lệ của lũ bọn em, anh anh anh anh. Vì vậy tôi lấy Armstrong ra rồi mở nhạc của anh, điềm tĩnh và trí tuệ, thứ âm nhạc hờ hững dành cho những người đàn ông không chấp nhận điên rồ và đam mê, và anh ngừng lại mất một lúc rồi ngồi xuống, cứ như cơ đùi của anh đã bị cắt, anh ngồi, đầu gục xuống ngực, nhắm mắt, lắng nghe tiếng trống mềm mại như súng máy của Hamilton, tiếng trống tràn ngập căn phòng thay lời anh trước đó, rồi anh nói, bằng giọng của chính anh: “Lạy Chúa tôi, những gì chúng ta đã mất, những gì chúng ta đã mất, những gì chúng ta đã mất, làm sao có thể trở lại được với nó đây, làm sao có thể trở lại được với nó đây?” Và rồi, cứ như điều này không hề xảy ra, tôi có thể thấy cơ đùi anh căng lên khiến anh bật dậy, và tôi tắt máy vì anh không hề nghe gì cả, ngoại trừ lời nói của chính mình, anh anh anh, rồi lại nằm xuống và lắng nghe ngôn từ vãi vào tường và văng ra khắp nơi, anh anh anh, cái bản ngã trần trụi. Tôi thấy buồn nôn, tôi cuộn người lại thành một búi cơ đau đớn, trong khi đạn bay vung vãi, và mất một lúc tôi đã xây xẩm và trở lại với cơn ác mộng ở chỗ tôi biết, thật sự biết, chiến tranh đang chờ đợi mình, tôi chạy dọc con phố vắng tanh đầy những tòa nhà màu trắng vấy bẩn trong thành phố im lặng nhưng đầy những con người im lặng vì chờ đợi, trong khi ở đâu đó rất gần chiếc thùng đựng tử thần nhỏ bé, xấu xí nổ tung, khẽ, thật khẽ, nó nổ tung vào cảnh im lặng chờ đợi, gieo rắc cái chết, nghiền nát các tòa nhà, đập tan chất sống, phân rã cấu trúc da thịt, trong khi tôi gào lên, không ra tiếng, không ai nghe thấy, cũng như tất cả mọi người trong các tòa nhà im lặng đều gào lên, không ai nghe thấy. Khi tôi thoát ra được khỏi cơn xây xẩm, Saul đang đứng dựa vào tường, tì lưng vào đó, cơ đùi và lưng bám chặt vào đó, nhìn tôi. Anh đã thấy tôi. Anh đã trở lại, lần đầu tiên trong mấy giờ qua. Gương mặt anh trắng bệch, rút hết máu, đôi mắt xám xịt, căng thẳng, vẻ kinh hoàng bởi vì tôi nằm đó, quằn quại vì đau đớn. Anh nói bằng giọng chính mình: “Anna, vì Chúa, đừng làm như thế,” nhưng rồi lưỡng lự, và kẻ điên kia trở lại, vì bây giờ không chỉ là anh anh anh anh nữa mà là anh chống lại đàn bà. Đàn bà là bọn cai ngục, là lương tri, là tiếng nói của xã hội, và anh hướng dòng hận thù thuần túy vào tôi, vì là đàn bà. Và lúc này whisky đã làm tôi trở nên yếu đuối và đờ đẫn, vì vậy tôi cảm nhận được trong mình thứ cảm xúc đờ đẫn, mềm oặt, yếu đuối, người đàn bà bị phản bội. Ôi hu hu, anh không yêu em, anh không yêu, đàn ông không còn yêu đàn bà nữa. Ôi hu hu, và ngón trỏ thanh nhã sơn màu hồng của tôi trỏ vào bộ ngực trắng, đầu nhũ hoa màu hồng bị phản bội của tôi, và thay mặt toàn nữ giới tôi bắt đầu rơi những giọt nước mắt yếu đuối, đờ đẫn pha whisky. Khi khóc, tôi thấy dương vật anh dựng lên dưới lớp quần jean, vì thế tôi trở nên ẩm ướt, và tôi nghĩ, vẻ nhạo báng, vậy là bây giờ anh sẽ yêu tôi, anh sẽ yêu cô Anna tội nghiệp bị phản bội và bộ ngực trắng tổn thương của cô ấy. Rồi anh nói bằng giọng khe khẽ kinh hoàng của cậu học sinh, một kẻ đạo đức, “Anna, em say rồi, dậy khỏi sàn đi.” Và tôi đáp, “Không” và khóc, thích thú đắm mình trong cảm giác yếu đuối. Vậy là anh lôi tôi dậy, kinh hoảng và thèm khát, rồi đi vào trong tôi, rất to lớn nhưng giống như một cậu học sinh, làm tình với người phụ nữ đầu tiên trong đời, quá nhanh, đầy hổ thẹn và cuồng nhiệt. Và thế là tôi nói, vì không được thỏa mãn: “Giờ thì cư xử đúng tuổi của mình đi,” dùng chính ngôn ngữ của anh, và anh đáp, kinh hoảng: “Anna, em say rồi, giờ thì ngủ đi cho tỉnh.” Vậy là anh đắp chăn cho tôi rồi hôn tôi, nhón chân đi ra ngoài, giống như cậu học sinh mắc lỗi tự hào về lần quan hệ đầu tiên của mình, và tôi thấy anh, tôi thấy Saul Green, cậu bé ngoan người Mỹ, đa cảm và cả thẹn, vừa ăn nằm với người phụ nữ đầu tiên trong đời. Vậy là tôi cứ thế nằm cười, cười mãi. Rồi tôi ngủ và tỉnh dậy thấy mình đang cười. Tôi không biết mình đã mơ thấy cái gì, nhưng khi tỉnh dậy tôi thấy mình thực sự nhẹ nhõm, và thấy anh bên cạnh.
Anh lạnh, vì vậy tôi dang tay ôm lấy anh, ngập tràn hạnh phúc. Tôi biết, nhờ mức độ hạnh phúc của mình, rằng chắc mình đã bay lượn dễ dàng và vui vẻ trong mơ, và rằng không phải lúc nào mình cũng sẽ là Anna ốm yếu. Nhưng khi thức dậy, anh đã kiệt sức sau hàng giờ anh anh anh anh, gương mặt anh vàng vọt và phiền não, và khi ra khỏi giường cả hai chúng tôi đều kiệt quệ, do đó chúng tôi im lặng uống cà phê và đọc báo, không đủ khả năng nói bất cứ điều gì, trong gian bếp rộng lớn, sạm màu sáng. Anh nói: “Anh phải làm việc đây.” Nhưng chúng tôi đều biết là không được, và chúng tôi quay trở lại giường, quá mệt mỏi nên không nhúc nhích nổi, và thậm chí tôi còn ước đây là Saul của đêm hôm trước, đầy sát khí đen tối, bởi kiệt sức như vậy thì thật là kinh khủng. Sau đó anh nói: “Anh không thể nằm ở đây được.” Và tôi đáp: “Ừ.” Nhưng chúng tôi không hề nhúc nhích. Rồi anh đi, hay nói đúng hơn là bò ra khỏi giường. Và tôi nghĩ: Làm thế nào mà anh tự ra khỏi đây được nhỉ, anh phải toát mồ hôi mới làm nổi ấy chứ. Và mặc dù đã được cơn căng thẳng trong dạ dày mách bảo, tôi vẫn tò mò muốn biết. Anh nói, giọng thách thức: “Anh đi dạo một chút đây.” Tôi đáp: “Được thôi.” Anh lén nhìn tôi rồi đi ra ngoài mặc đồ và quay lại. Anh nói: “Sao em không ngăn anh lại?” Và tôi đáp: “Vì em không muốn.” Anh nói: “Nếu biết anh chuẩn bị đi đâu thì em đã ngăn anh lại rồi.” Và tôi trả lời, nghe thấy giọng mình đanh lại: “Ồ, em biết anh sắp đi gặp một ả nào đấy.” Và anh nói: “Hờ, ai biết đâu nhỉ?”
“Không, và cũng chả quan trọng.”
Nãy giờ vẫn đứng ở cửa, nhưng bây giờ anh bước vào phòng, lưỡng lự. Trông anh có vẻ tò mò.
Tôi nhớ đến lời de Silva: “Anh muốn xem điều gì sẽ xảy ra.”
Saul muốn xem điều gì sẽ xảy ra. Và tôi cũng vậy. Tôi có thể cảm nhận trong chính mình, mạnh hơn bất cứ điều gì khác, sự tò mò ác ý, cực kỳ vui sướng - như thể anh, Saul và tôi là hai thực thể bí ẩn, hai luồng sức mạnh vô danh, không tính cách. Cứ như thể căn phòng chứa đựng hai sinh vật cực kỳ hiểm ác, và nếu kẻ kia bỗng nhiên lăn ra chết hoặc gào lên đau đớn thì kẻ còn lại sẽ hỏi: “Ờ, thế đấy, phải không?”
“Chả quan trọng,” anh nói, giờ đây với vẻ sưng sỉa, nhưng là kiểu sưng sỉa ngập ngừng, sưng sỉa diễn tập, hoặc là lặp lại nhưng quá cũ nên chả ai tin. “Chả quan trọng, em nói thế, nhưng em lại quan sát từng cử động của anh như gián điệp vậy.”
Tôi đáp bằng giọng vui vẻ hớn hở, kèm theo tiếng cười, giống như tiếng thở dốc yếu đuối kiệt sức (tôi bắt chước tiếng cười nghe được từ những người phụ nữ bị căng thẳng cấp tính): “Em làm gián điệp vì anh biến em thành như vậy đấy chứ.” Anh đứng im, nhưng trông như đang lắng nghe, cứ như những lời anh phải nói tiếp theo được mớm từ đĩa thu âm: “Anh sẽ không để bất cứ ả nào tóm cổ hết. Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ.”
Câu “chưa bao giờ và sẽ không bao giờ” thốt ra với vẻ vội vã, cứ như chiếc đĩa bị tua nhanh vậy.
Và tôi đáp, vẫn cái giọng ác ý vui vẻ giết người đó: “Nếu tóm cổ theo ý anh là bị người phụ nữ của mình biết hết mọi cử động thì bây giờ anh đang bị tóm cổ đấy.”
Và tôi nghe thấy chính mình buông ra tiếng cười hấp hối, yếu đuối, nhưng đắc thắng.
“Đấy là em nghĩ thế,” anh đáp, giọng ác ý.
“Đấy là em biết thế.”
Cuộc đối thoại đã chạy hết, và bây giờ chúng tôi nhìn nhau, tò mò, và tôi nói: “Vậy là chúng ta sẽ không bao giờ phải nhắc lại chuyện đó nữa.” Và anh đáp, tò mò: “Hy vọng là thế.” Rồi đi ra, vội vàng, do nguồn năng lượng từ cuộc trao đổi này.
Tôi đứng đó nghĩ: Mình có thể tìm ra sự thật bằng cách đi lên gác và xem nhật ký của anh. Nhưng tôi biết mình sẽ không làm vậy, và sẽ không bao giờ làm vậy một lần nữa. Thời kỳ đó đã chấm dứt. Nhưng tôi rất ốm. Tôi vào nhà bếp pha cà phê, nhung lại rót cho mình một ly nhỏ Scotch. Tôi nhìn căn bếp, rất sáng sủa, rất sạch sẽ. Rồi cảm giác chóng mặt tấn công tôi. Màu sắc quá sáng, cứ như chúng mang hơi nóng vậy. Và tôi nhận ra tất cả mọi khiếm khuyết của căn bếp vốn thường vẫn mang lại niềm vui cho tôi - một vết nứt trên nền sứ trắng lấp lánh, bụi trên vỉ lò, sơn bắt đầu phai màu. Tôi choáng váng vì cảm giác rẻ mạt và bẩn thỉu. Căn bếp cần phải sơn lại toàn bộ, nhưng không điều gì có thể thay đổi được tình trạng cũ kỹ của căn bếp và sự rữa nát của những bức tường trong một căn nhà rữa nát. Tôi tắt đèn bếp và quay trở lại căn phòng này. Nhưng chẳng mấy chốc nó cũng có vẻ tồi tệ như căn bếp. Mấy bức rèm đỏ mang thứ ánh sáng lập lòe điềm gở nhưng lại lòe loẹt, còn màu trắng của tường mờ xỉn đi. Tôi thấy mình đang đi lại loanh quanh trong phòng, mắt nhìn mấy bức tường, rèm cửa, cánh cửa, thấy kinh tởm trước chính thứ vật chất tạo nên căn phòng, trong khi màu sắc tấn công tôi bằng cái sức nóng phi thực. Tôi nhìn căn phòng như nhìn vào khuôn mặt một người nào đó mà tôi biết rất rõ, tìm những dấu vết căng thẳng và áp lực. Vào khuôn mặt của chính tôi, hoặc của Saul chẳng hạn, biết có gì đằng sau khuôn mặt nhỏ, điềm tĩnh của tôi, có gì đằng sau khuôn mặt lớn, cởi mở, tóc vàng của Saul có vẻ ốm yếu, phải thừa nhận thế, nhưng ai chưa từng nếm trải thì làm sao mà đoán được vô vàn những khả năng đang dàn ra trong đầu anh? Hoặc khuôn mặt của một phụ nữ trên tàu, khi tôi nhìn được qua vầng trán căng thẳng hoặc một nút thắt đau đớn, thấy nằm ẩn giấu dưới nó là cả một thế giới rối loạn và kinh ngạc trước sức mạnh của con người khi giữ mình không vỡ tan dưới áp lực. Giống như căn bếp, căn phòng lớn của tôi đã trở thành, không phải là lớp vỏ dễ chịu chứa đựng tôi mà là cuộc tấn công không khoan nhượng lên sự chú ý của tôi từ cả trăm điểm khác nhau, như thể cả trăm kẻ thù đang chờ tôi lơi là là bò lên người tôi từ đằng sau mà tấn công. Quả đấm cửa cần được đánh bóng, một vệt bụi ngang lớp sơn trắng, một vệt vàng vàng chỗ rèm cửa đỏ đã ngả màu, cái bàn nơi mấy cuốn sổ tay cũ của tôi bị giấu bên trong - tất cả những thứ này tấn công tôi, đòi hỏi sự chú ý của tôi bằng những làn sóng buồn nôn đu đưa nóng bỏng. Tôi biết mình phải đến chỗ cái giường, và một lần nữa tôi phải bò trên sàn để đến đó. Tôi nằm trên giường và trước khi ngủ thiếp đi tôi biết rằng người chiếu phim đang đợi.
Tôi cũng biết những điều mình sắp sửa được nghe. Hiểu biết là một sự “khai sáng”. Trong suốt những tuần điên cuồng ngoài thời gian vừa qua, tôi đã có những khoảnh khắc “hiểu biết” nối tiếp nhau, nhưng không tài nào thể hiện dạng hiểu biết này thành lời được. Nhưng những khoảnh khắc này lại vô cùng mạnh mẽ, giống như những điểm sáng chớp nhoáng trong một giấc mơ vẫn còn lưu lại khi người ta tỉnh dậy, đến nỗi những gì tôi vừa biết sẽ làm nên cách tôi trải nghiệm cuộc sống đến tận lúc chết. Ngôn từ. Ngôn từ. Tôi chơi đùa với ngôn từ, hy vọng rằng một kết hợp nào đó, thậm chí là kết hợp ngẫu nhiên, sẽ nói ra điều tôi muốn. Hay là có âm nhạc sẽ tốt hơn? Nhưng âm nhạc tấn công tai trong của tôi như một kẻ thù địch, đấy không phải là thế giới của tôi. Thực tế là không có cách nào mô tả được trải nghiệm thật. Tôi cay đắng nghĩ, có khi một hàng dấu sao, giống như tiểu thuyết lỗi thời, lại tốt hơn. Hoặc một dấu nào đó, chẳng hạn như hình tròn hoặc hình vuông. Cái gì cũng được, nhưng không phải là ngôn từ. Những người đã từng ở đó, ở cái chỗ trong chính họ nơi ngôn từ, mô hình, trật tự đều tan rã, sẽ hiểu tôi muốn nói gì, còn những người khác sẽ không biết. Nhưng một khi đã có mặt ở đó, sẽ có sự mỉa mai ghê gớm, sẽ có cái nhún vai kinh khủng, và vấn đề không phải là chiến đấu với nó, chối bỏ nó, cũng không phải là đúng hay sai, mà chỉ đơn giản là biết nó tồn tại ở đó, lúc nào cũng vậy. Vấn đề là cúi chào nó, có thể nói như vậy, hết sức lịch sự, như với một kẻ thù xưa cũ: Được rồi, ta biết ngươi ở đó, nhưng chúng ta phải giữ hình thức đúng không? Và biết đâu điều kiện tồn tại của ngươi lại chính là việc chúng ta giữ hình thức, tạo ra mô hình - ngươi đã từng nghĩ tới điều đó chưa?
Như vậy, tôi chỉ có thể nói rằng trước khi đi ngủ, tôi “hiểu” lý do tại sao mình phải ngủ, người chiếu phim sẽ nói gì, và tôi phải học biết những gì. Mặc dù tôi đã biết từ trước; vậy là bản thân việc mơ đã mang tính chất ngôn từ được nói ra sau sự việc, hoặc là bản tóm tắt, để nhấn mạnh, như một điều gì đó vừa biết được.
Ngay khi giấc mơ tiếp diễn, người chiếu phim nói, bằng giọng của Saul, rất thực tế: “Bây giờ chúng ta sẽ chiếu qua một lần nữa.” Tôi thấy hổ thẹn, bởi vì tôi sợ rằng mình sẽ phải xem đúng những bộ phim tôi vừa mới xem trước đó - hào nhoáng và không có thật. Nhưng lần này, mặc dù vẫn là những bộ phim đó nhưng chúng lại mang một đặc trưng khác, và trong mơ tôi gọi tên đấy là “hiện thực”; chúng mang vẻ dữ dội, thô ráp, hơi giật cục của một bộ phim Nga hoặc Đức thời kỳ đầu. Có những đoạn phim được cho chạy chậm lại thành những quãng dài, rất dài trong khi tôi theo dõi, mê mải, những chi tiết mà tôi không có thời gian để ý trong cuộc sống. Người chiếu phim cứ nói liên tục, khi tôi đã hiểu một điểm nào đó mà ông ta muốn tôi hiểu: “Nó đấy, thưa cô nương, nó đấy.” Và vì có ông ta hướng dẫn, tôi xem thậm chí còn kỹ hơn. Tôi nhận ra rằng tất cả những gì tôi từng nhấn mạnh, hay những mô hình trong đời tôi từng nhấn mạnh, giờ đây đều đang lướt qua, nhanh và vặt vãnh. Chẳng hạn, nhóm người dưới rặng bạch đàn, hoặc Ella nằm trong cỏ cùng với Paul, hoặc Ella viết tiểu thuyết, hoặc Ella muốn chết trên máy bay, hoặc những con bồ câu rơi trước mũi súng của Paul - tất cả những điều này đều biến mất, đều bị nuốt đi, nhường chỗ cho những gì thực sự quan trọng. Vậy là tôi cứ thế quan sát trong một quãng thời gian mênh mông, lưu ý từng cử động, dáng điệu bà Boothby đứng trong căn bếp của khách sạn ở Mashopi, cặp mông mập mạp nhô ra như vách núi dưới sức ép của chiếc corset, từng mảng mồ hôi tối thẫm dưới nách, gương mặt bà đỏ bừng vì bấn loạn, trong khi bà cắt thịt lạnh ra từ đủ thứ xương gia súc và gia cầm, và lắng nghe những giọng nói trẻ trung tàn nhẫn và tiếng cười còn tàn nhẫn hơn qua bức tường mỏng. Hoặc tôi nghe thấy tiếng ngâm nga của Willi, ngay sau tai tôi, tiếng ngâm nga lạc điệu, cực kỳ cô đơn; hoặc quan sát anh được quay chậm, hết lần này đến lần khác, để tôi không bao giờ quên nổi, nhìn tôi thật lâu và đau đớn khi tôi và Paul tán tỉnh nhau. Hoặc tôi thấy ông Boothby, con người bệ vệ sau quầy bar, nhìn con gái mình với chàng trai trẻ của cô. Tôi thấy ánh mắt ghen tị nhưng không hề đau khổ của ông dành cho chàng thanh niên, trước khi ông nhìn ra chỗ khác, rồi vươn tay ra lấy một chiếc ly không và rót đầy. Và tôi thấy ông Latimore, đang uống trong quầy bar, thận trọng không nhìn ông Boothby, trong khi lắng nghe tiếng cười của bà vợ tóc đỏ xinh đẹp. Tôi nhìn thấy ông, hết lần này đến lần khác, cúi xuống, run rẩy vì say, vuốt ve con chó lông xù màu đỏ, vuốt ve, vuốt ve. “Hiểu chưa?” người chiếu phim hỏi và chiếu một cảnh khác. Tôi thấy Paul Tanner về nhà lúc sáng sớm, nhanh nhẹn và năng nổ vì tội lỗi, thấy anh nhìn vào mắt vợ, còn chị đứng trước mặt anh, đeo chiếc tạp dề hoa, khá ngượng nghịu và có vẻ cầu khẩn, trong khi lũ trẻ ăn sáng trước khi đến trường. Sau đó anh quay người, cau mày, và đi lên gác rút chiếc áo sơ mi sạch từ trên giá xuống. “Hiểu chưa?” người chiếu phim nói. Rồi bộ phim chạy rất nhanh, vùn vụt trôi qua, giống như một giấc mơ, chiếu gương mặt của những người tôi từng có lần nhìn thấy trên phố, và đã quên, chiếu một cánh tay cử động chậm, chiếu chuyển động của một đôi mắt, tất cả đều cùng nói lên một điều - bộ phim bây giờ đã vượt ra ngoài trải nghiệm của tôi, của Ella, vượt ra ngoài những cuốn sổ tay, bởi vì có sự hòa trộn; và thay vì nhìn thấy từng cảnh, từng người, từng gương mặt, từng cử động, từng ánh mắt riêng rẽ thì chúng lại xuất hiện cùng nhau, rồi bộ phim lại trở nên hết sức chậm, trở thành một loạt những khoảnh khắc khi bàn tay người nông dân cúi xuống thả hạt vào lòng đất, hoặc tảng đá đứng lấp lánh trong khi làn nước chầm chậm mài mòn nó, hoặc người đàn ông đứng trên sườn đồi khô ráo dưới ánh trăng, đứng mãi đứng mãi, trên tay sẵn sàng khẩu súng trường. Hoặc người phụ nữ nằm thao thức trong bóng tối, miệng nói Không, tôi sẽ không tự tử đâu, không đâu, không đâu.
Bây giờ thì người chiếu phim lại im lặng, tôi gọi ông ta, Đủ rồi, nhưng ông ta không trả lời, vì vậy tôi vươn tay ra để tắt cái máy. Vẫn ngủ, tôi đọc chữ trên một trang giấy mà tôi đã viết trước đó: Đó là chuyện về lòng can đảm, nhưng không phải là thứ can đảm mà tôi từng biết tới. Nó là thứ can đảm nhỏ nhoi đau đớn nằm ở gốc rễ mỗi cuộc đời, bởi vì bất công và tàn bạo nằm ở gốc rễ cuộc đời. Và lý do trước nay tôi chỉ chú ý đến cái anh hùng, cái đẹp, hoặc cái thông minh là vì tôi không chấp nhận thứ bất công và tàn bạo ấy, và vì vậy cũng không chấp nhận sự bền bỉ nhỏ nhoi nhưng lại lớn hơn bất cứ thứ gì khác.
Tôi nhìn vào những chữ mình đã viết và cho là then chốt; tôi bèn mang đến cho Mẹ Mật. Tôi nói: “Chúng ta lại trở về với lá cỏ ấy, sẽ vươn lên qua những mảnh thép gỉ cả ngàn năm sau khi bom đã nổ và vỏ trái đất đã tan chảy. Bởi vì sức mạnh ý chí trong lá cỏ ấy cũng giống như sự bền bỉ nhỏ nhoi đau đớn. Phải vậy không?” (Tôi mỉm cười mỉa mai trong mơ, đề phòng bị bẫy.)
“Vậy thì sao?” bà hỏi.
“Nhưng vấn đề nằm ở chỗ tôi không nghĩ mình muốn dành nhiều tôn kính đến vậy cho lá cỏ khốn kiếp đó, ngay cả lúc này.”
Nghe đến đây bà mỉm cười, ngồi trong chiếc ghế vững vàng và lưng thẳng, khá bực mình khi thấy tôi chậm hiểu, bởi vì tôi vẫn luôn không nắm được vấn đề như thế. Vâng, trông bà giống như một người nội trợ nôn nóng vì vừa để mất thứ gì đó hoặc đang sắp đến giờ phải ra ngoài.
Khi tôi thức dậy thì chiều đã muộn, căn phòng lạnh và tối. Tôi thấy suy sụp, tôi chính là bộ ngực trắng của chị em bị bắn tua tủa những mũi tên đàn ông độc ác. Tôi nhức nhối vì cần Saul, tôi muốn hành hạ anh, xỉ vả anh và chửi bới anh. Tất nhiên khi đó anh sẽ nói: Ồ, Anna tội nghiệp, anh xin lỗi, và chúng tôi sẽ làm tình.
Truyện ngắn: hoặc tiểu thuyết ngắn: hài hước và mỉa mai: Một người phụ nữ, bực mình trước khả năng nhượng bộ đàn ông của mình, quyết định tự giải phóng bản thân. Cô kiên quyết cặp với hai tình nhân, ngủ với họ lần lượt từng đêm xen kẽ - khoảnh khắc tự do là khi cô có thể tự nhủ rằng cô ưa cả hai người như nhau. Nhờ bản năng, hai người đàn ông biết về sự hiện diện của nhau, một người thì ghen tuông, đem lòng yêu thương cô thực sự, người kia trở nên hờ hững và đề phòng. Mặc dù đã quyết tâm như vậy, cô vẫn không thể ngăn nổi mình đừng yêu người đã đem lòng yêu cô; đóng băng trước người đề phòng kia. Tuy nhiên, mặc dù thất vọng vì thấy mình vẫn “mất tự do” như lâu nay, cô tuyên bố với cả hai người đàn ông rằng bây giờ cô đã hoàn toàn được giải phóng, cuối cùng thì cô cũng đã đạt được lý tưởng là lạc thú tình dục lẫn cảm xúc trọn vẹn với hai người đàn ông một lúc. Người hờ hững và đề phòng thì thú vị khi nghe điều này, đưa ra những lời nhận xét khách quan và thông minh về giải phóng phụ nữ. Người mà cô thực lòng yêu thì bỏ cô vì thấy bị tổn thương và tức giận. Cô chỉ còn lại người đàn ông cô không yêu và không yêu cô, trao đổi với nhau những câu chuyện thông minh về đề tài tâm lý.
Ý tưởng của câu chuyện làm tôi thấy hào hứng, và tôi bắt đầu nghĩ không biết nên viết ra như thế nào. Ví dụ, chuyện sẽ biến đổi thế nào nếu dùng Ella thay cho chính tôi? Đã một thời gian tôi không hề nghĩ đến Ella nữa, và tôi nhận ra rằng tất nhiên cô đã thay đổi trong thời gian tạm ngưng đó, cô đã trở nên đề phòng hạn chẳng hạn. Tôi thấy cô với mái tóc khác - cô lại buộc ra đằng sau, trông nghiêm khắc; cô mặc quần áo kiểu khác. Tôi quan sát Ella đi lại trong phòng tôi; và rồi tôi bắt đầu hình dung cô ở cùng Saul sẽ ra sao - thông minh hơn hẳn tôi, tôi nghĩ vậy, điềm tĩnh hơn chẳng hạn. Sau một lúc, tôi nhận ra mình đang làm những gì từng làm trước đó, tạo ra “người thứ ba” - người phụ nữ hơn tôi hoàn toàn. Vì tôi có thể đánh dấu chính xác thời điểm Ella rời bỏ thực tại, rời bỏ cách hành xử trên thực tế do bản chất của cô; và chuyển thành một nhân cách hào sảng đến bất khả với cô. Nhưng tôi không ghét con người mới mà tôi đang tạo ra này, tôi nghĩ rất có khả năng những thứ hoành tráng, phóng khoáng mà ta cùng sánh vai trong tưởng tượng này sẽ trở thành hiện thực, đơn giản là vì ta cần chúng, ta tưởng tượng ra chúng. Vậy là tôi bắt đầu phá lên cười vì khoảng cách giữa những gì tôi đang tưởng tượng với con người tôi, chưa nói đến con người của Ella.
Tôi nghe tiếng chân Saul đi lên cầu thang, và tôi muốn biết ai sẽ vào phòng. Ngay khi nhìn thấy anh, mặc dù trông anh ốm yếu và mệt mỏi, tôi biết ma quỷ sẽ không xuất hiện trong phòng tôi ngày hôm đó; và có lẽ sẽ không bao giờ nữa, bởi vì tôi cũng biết anh định nói gì.
Anh ngồi lên mép giường và nói: “Thật buồn cười là em lại đang cười. Trong lúc đi dạo anh có suy nghĩ về em một lúc.”
Tôi thấy cảnh tượng anh bước đi qua các con phố, bước đi qua sự hỗn loạn trong trí tưởng tượng, bám lấy mọi ý tưởng hoặc cụm từ để cứu mình. Tôi nói: “Vậy anh nghĩ thế nào?” - chờ đợi nhà sư phạm lên tiếng.
“Sao em lại cười?”
“Vì anh chạy lông nhông khắp một thành phố điên rồ, nghĩ ra những châm ngôn đạo đức để cứu rỗi cả hai chúng ta, giống như những câu châm ngôn trong kẹo Giáng sinh.”
Anh hững hờ đáp: “Tiếc là em lại hiểu anh quá rõ. Anh cứ tưởng sẽ làm em ngạc nhiên với khả năng tự chủ và sự tài giỏi của mình. Đúng thế, anh nghĩ câu châm ngôn trong kẹo Giáng sinh là chính xác.”
“Vậy thì đón nhận thôi.”
“Trước hết thì em cười không đủ Anna ạ. Anh cứ nghĩ mãi. Con gái cười. Bà già cười. Phụ nữ tuổi em không cười, tất thảy bọn em đều bận rộn chết mẹ với cái sự nghiệp nghiêm túc là sống.”
“Nhưng thật ra em đang cười rơi cả hàm đây - em cười những người phụ nữ tự do.” Tôi kể cho anh nghe sườn truyện ngắn của mình, anh ngồi lắng nghe, mỉm cười giễu cợt. Rồi anh nói: “Ý anh không phải như vậy, anh muốn nói là cười thực sự cơ.”
“Em sẽ đưa việc đó vào lịch trình vậy.”
“Đừng, đừng nói như thế. Nghe này Anna, nếu không tin rằng những thứ chúng ta đưa vào lịch trình sẽ trở thành sự thật thì chẳng có hy vọng nào cho chúng ta cả. Chúng ta sẽ được cứu rỗi bằng những thứ chúng ta nghiêm túc đưa vào lịch trình.”
“Chúng ta phải tin tưởng kế hoạch của mình?”
“Chúng ta phải tin tưởng kế hoạch bất khả thi đẹp đẽ của mình.”
“Phải. Rồi sao nữa?”
“Thứ hai, em không thể tiếp tục như vậy được, em phải bắt tay vào công việc viết lách trở lại”.
“Rõ ràng là nếu có thể thì em đã viết.”
“Không, Anna, như vậy không đủ. Tại sao em không viết cái truyện ngắn mà em vừa kể cho anh nghe? Không, anh không muốn nghe bất cứ bài than thở rẻ tiền nào mà em vẫn thường ca cho anh - nói anh nghe, một câu đơn giản thôi, tại sao lại không. Em có thể gọi là châm ngôn trong kẹo Giáng sinh nếu muốn, nhưng khi đi lang thang anh nghĩ rằng nếu có thể giản lược nó trong đầu, cô đặc nó lại thành một thứ gì đó, thì em có thể xem xét nó thật kỹ rồi hạ gục nó.”
Tôi bắt đầu cười, nhưng anh nói: “Không, Anna ạ, nếu không làm thế thì em sẽ rạn nứt ra đấy.”
“Thôi được rồi. Em không thể viết nổi truyện ngắn đó hay bất cứ truyện nào khác, bởi vì em cứ ngồi xuống viết là lại có ai đó vào phòng, nhìn qua vai em và ngăn em lại.”
“Ai? Em có biết không?”
“Tất nhiên là em biết. Có thể là một nông dân Trung Quốc. Hoặc một chiến binh du kích của Castro. Hoặc một người Algeria chiến đấu cho Mặt trận giải phóng. Hoặc Tom Mathlong. Họ đứng đây trong căn phòng và nói, tại sao cô không làm điều gì đó cho chúng tôi, thay vì mất thời gian viết nhăng viết cuội?”
“Em biết rất rõ là chẳng ai trong số họ nói thế cả.”
“Không. Nhưng anh hiểu rất rõ em muốn nói gì. Em biết là anh hiểu. Đấy là lời nguyền cho tất cả chúng ta.”
“Ừ, anh có biết. Nhưng Anna ạ, anh sẽ bắt em phải viết. Cầm giấy và bút chì lên đi.”
Tôi đặt một tờ giấy sạch lên bàn, cầm lấy cây bút chì và chờ đợi.
“Không được cũng chả sao cả. Sao em lại ngạo mạn đến thế? Cứ bắt đầu đi.”
Đầu tôi trống rỗng vì hoảng sợ. Tôi đặt cây bút chì xuống. Tôi thấy anh trừng mắt nhìn tôi, thúc đẩy tôi, ép buộc tôi - tôi lại nhặt cây bút chì lên.
“Thế thì để anh cho em câu đầu tiên vậy. Có hai người các em đấy thôi, Anna ạ. Viết đi: Chỉ có hai người phụ nữ trong căn hộ ở London.”
“Anh muốn em bắt đầu cuốn tiểu thuyết bằng câu chỉ có hai người phụ nữ trong căn hộ ở London?”
“Sao lại nói bằng giọng đó? Viết đi, Anna.”
Tôi viết.
“Em sẽ viết cuốn sách đó, em sẽ viết, em sẽ hoàn thành nó.”
Tôi nói: “Sao việc em viết lại quan trọng với anh đến thế?”
“À,” anh đáp, vẻ thất vọng tự giễu cợt. “Câu hỏi hay đấy. Ờ, bởi vì nếu em làm được thì anh cũng làm được.”
“Anh muốn em cho anh câu đầu tiên trong cuốn tiểu thuyết của anh không?”
“Nói nghe nào.”
“Trên một sườn đồi khô ráo ở Algeria, người lính ngắm ánh trăng lấp lánh trên khẩu súng trường.”
Anh mỉm cười. “Anh viết được cái đó, còn em thì không.”
“Thế thì viết đi.”
“Với điều kiện em cho anh cuốn sổ mới của em.”
“Tại sao?”
“Anh cần nó. Thế thôi.”
“Cũng được.”
“Anh sẽ phải đi, Anna ạ, em biết chứ?”
“Biết.”
“Thế thì nấu cho anh ăn. Anh chưa bao giờ nghĩ sẽ nói với một người phụ nữ là hãy nấu cho anh ăn. Anh coi việc nói được ra như thế này là một bước nhỏ đến với cái người ta gọi là trưởng thành.”
Tôi nấu ăn và chúng tôi đi ngủ. Sáng nay tôi thức dậy trước và gương mặt anh, đang ngủ, trông ốm yếu và gầy guộc. Tôi nghĩ anh không thể đi được, không thể để anh đi được, trong tình trạng này thì anh chưa đi được.
Anh thức giấc, còn tôi đấu tranh với khao khát muốn nói: Anh không thể đi được. Em phải chăm sóc anh. Em sẽ làm bất cứ điều gì chỉ cần anh nói sẽ ở lại với em.
Tôi biết anh đang phải chiến đấu với sự mềm yếu của bản thân. Tôi tự hỏi không biết điều gì sẽ xảy ra nếu như mấy tuần trước đây anh không vô thức quàng tay quanh cổ tôi, trong giấc ngủ. Khi đó tôi muốn anh quàng tay quanh cổ tôi. Tôi nằm, cố gắng không chạm vào anh, còn anh thì cố gắng không van nài tôi, và tôi nghĩ thật lạ khi hành động tử tế, đầy thương hại lại có thể là một sự phản bội đến thế. Đầu óc tôi bất tỉnh vì kiệt sức, và trong khi đó, nỗi đau từ lòng thương hại chiếm ngự lấy tôi và tôi ẵm anh trong tay, biết rõ như thế là phản bội. Anh lập tức níu lấy tôi, trong một giây gần gũi thực sự. Rồi ngay lập tức, sự giả dối của tôi khiến anh cũng giả dối theo, vì anh lẩm bẩm bằng giọng trẻ con: “Bé ngoan mà,” nhưng không phải như anh từng thì thầm với mẹ mình, vì những lời đó không thể nào là của anh cả, chúng được lấy ra từ văn chương. Và anh lẩm bẩm bằng giọng ủy mị, một sự giễu nhại. Nhưng không hẳn. Vậy mà khi nhìn xuống, tôi thấy gương mặt ốm yếu gầy võ của anh hiện rõ ban đầu là sự giả dối ủy mị đi cùng với những lời vừa rồi, sau đó là nhăn nhó đau đớn; rồi, khi thấy tôi nhìn xuống, vẻ hoảng hốt, đôi mắt xám của anh nheo lại thành cái nhìn thuần túy thách thức đầy căm ghét, và chúng tôi nhìn nhau tuyệt vọng trong nỗi hổ thẹn và bẽ bàng của cả hai. Rồi gương mặt anh dãn ra. Anh thiếp đi mất vài giây, bất tỉnh, như tôi vừa bất tỉnh, ngay trước khi tôi cúi xuống vòng tay ôm lấy người anh. Rồi anh giật mình tỉnh giấc, đầy căng thẳng và quyết tâm, giật người ra khỏi tay tôi, liếc nhìn với vẻ cảnh giác và tỉnh táo khắp phòng để tìm kẻ thù, rồi đứng dậy, tất cả mọi động tác xảy ra gần như đồng thời, vì những phản ứng này nối tiếp nhau hết sức nhanh chóng.
Anh nói: “Chúng mình không đứa nào có thể xuống thấp hơn thế.”
Tôi đáp: “Đúng vậy.”
“Chậc, thế là cạn kiệt,” anh nói.
“Khép lại và kết thúc,” tôi đáp.
Anh lên gác gói ghém vài món đồ vào túi và mấy chiếc va li.
Anh quay xuống rất nhanh và dựa lưng vào cánh cửa căn phòng lớn của tôi. Anh là Saul Green. Tôi thấy Saul Green, người cách đây vài tuần vừa bước vào nhà tôi. Anh mặc bộ quần áo mới vừa khít người mà anh mua để che đi vẻ gầy guộc của mình. Người anh gọn gàng, hơi nhỏ, vai rộng quá khổ, còn xương trên gương mặt quá gầy lại nhô hết cả ra, như vẫn quả quyết rằng đây là một thân hình cường tráng, chắc nịch, và sẽ lại trở thành người đàn ông khỏe mạnh, vai rộng khi đã vượt qua bệnh tật và hồi phục. Tôi có thể thấy đứng bên cạnh người đàn ông nhỏ bé, gầy guộc, mớ tóc vàng mềm mại, gương mặt ốm yếu vàng vọt, là một người da nâu khỏe mạnh, cường tráng, giống như cái bóng sẵn sàng nuốt chửng thân thể tạo ra nó. Trong khi đó trông anh có vẻ sẵn sàng hành động, đã trút hết những gì thừa thãi, chân nhấp nhổm, cảnh giác. Anh đứng móc ngón cái vào thắt lưng, các ngón chĩa xuống (nhưng lúc này lại giống như hình ảnh giễu nhại lịch thiệp dáng đứng của một kẻ trác táng) và đang thách thức một cách mỉa mai, đôi mắt xám điềm tĩnh đề phòng, nhưng vẫn khá thân thiện. Tôi cảm thấy trìu mến với anh cứ như là anh trai của tôi vậy, cứ như thể, giống như một người anh trai, bất kể chúng tôi có đi lạc nhau như thế nào, xa cách đến đâu, chúng tôi vẫn sẽ luôn là máu thịt của nhau và suy nghĩ bằng ý nghĩ của nhau.
Anh nói: “Viết câu đầu tiên vào cuốn sổ cho anh.”
“Anh muốn em viết cho anh ư?”
“Ừ, viết đi.”
“Tại sao?”
“Em ở trong đội mà.”
“Em không thấy thế. Em ghét đội điếc.”
“Vậy thì hãy suy nghĩ lại đi. Trên thế giới chỉ còn một ít người như chúng ta thôi, chúng ta dựa vào nhau ngay cả khi không hề biết tên nhau. Nhưng chúng ta vẫn luôn dựa vào nhau. Chúng ta là một đội, chúng ta là những người không chịu bỏ cuộc, là những người tiếp tục chiến đấu. Anh nói cho em biết, Anna, đôi khi anh cầm một cuốn sách lên và nói: Ờ, vậy là cậu đã viết nó trước rồi, phải không? Tốt cho cậu. Được rồi, vậy thì tớ sẽ không phải viết nữa.”
“Thôi được rồi, em sẽ viết câu đầu tiên cho anh.”
“Tốt lắm. Viết đi, rồi anh sẽ quay lại lấy cuốn sổ và chào tạm biệt rồi anh sẽ lên đường.”
“Anh đi đâu?”
“Em biết rất rõ là anh không biết mà.”
“Cũng có lúc anh phải biết chứ.”
“Thôi được, thôi được, nhưng anh chưa trưởng thành, em quên rồi à?”
“Có khi anh nên quay về Mỹ.”
“Sao lại không nhỉ? Tình yêu ở đâu mà chả là tình yêu cơ chứ.”
Tôi bật cười, và lúc anh xuống tầng dưới, tôi đến chỗ cuốn sổ mới xinh đẹp và viết: “Trên một sườn đồi khô ráo ở Algeria, người lính ngắm ánh trăng lấp lánh trên khẩu súng trường.”
[Đến đây thì hết nét chữ của Anna, cuốn sổ vàng tiếp tục với nét chữ của Saul Green, một tiểu thuyết ngắn về người lính Algeria.] Người lính này là một nông dân hiểu rằng những gì anh đang cảm nhận về cuộc đời không phải là những gì người ta trông đợi anh cảm nhận. Ai trông đợi ư? Một bọn họ vô hình, có thể là Chúa, hoặc Nhà nước, hoặc Luật pháp, hoặc Trật tự. Anh bị người Pháp bắt, tra tấn, trốn thoát, lại gia nhập Mặt trận dân tộc giải phóng, và thấy chính mình đang tra tấn tù nhân Pháp, theo lệnh. Anh biết rằng đối với việc này anh nên có những cảm giác mà trên thực tế anh không hề cảm thấy. Một đêm, anh trao đổi về trạng thái tâm lý của mình với một tù nhân người Pháp mà anh đã từng tra tấn. Tù nhân người Pháp này là một trí thức trẻ, sinh viên triết học. Chàng thanh niên (hai người bí mật trò chuyện trong xà lim của người tù) than thở rằng anh đang ở trong một nhà tù trí thức. Cậu nhận thấy, nhận thấy đã nhiều năm nay, rằng không một ý nghĩ, hay cảm xúc nào của cậu mà lại không lập tức rơi vào hai cái ngăn kéo, một cái ghi “Marx” còn cái kia ghi “Freud”. Ý nghĩ và cảm xúc của cậu giống như những viên bi lăn vào những cái rãnh định sẵn, cậu than thở vậy. Người lính Algeria trẻ tuổi thấy chuyện này rất thú vị, anh bảo anh không hề thấy như thế, anh nói điều làm anh cảm thấy băn khoăn - mặc dù tất nhiên thực tế thì nó chẳng mấy làm anh băn khoăn, anh chỉ thấy là nó nên thế - là không một ý nghĩ hay cảm nhận nào của anh lại giống như người ta mong đợi. Người lính Algeria nói anh ghen tị với cậu người Pháp - hay nói đúng hơn, anh thấy cần phải ghen tị với cậu ta. Trong khi cậu sinh viên Pháp lại nói rằng tận đáy lòng cậu ta ghen tị với anh chàng Algeria: cậu ta ước rằng chỉ một lần, một lần duy nhất trong đời, cậu ta được cảm nhận hoặc suy nghĩ điều gì đó của riêng mình, tự phát, không theo chỉ đạo, không theo ý muốn của mấy ông nội Freud và Marx. Giọng hai chàng thanh niên vang to quá mức cho phép, đặc biệt là cậu sinh viên Pháp khi kêu than về trường hợp của mình. Sĩ quan chỉ huy bước vào, thấy anh chàng Algeria đang trò chuyện, như anh em, với người tù mà lẽ ra anh ta phải canh gác. Người lính Algeria nói: “Thưa ngài, tôi đã làm theo lệnh: tra tấn người này. Ngài không hề bảo tôi không được trò chuyện với hắn.” Sĩ quan chỉ huy kết luận anh lính là một dạng gián điệp, có lẽ đã được tuyển khi còn ở trong tù. Lão ra lệnh xử bắn. Sáng hôm sau, người lính Algeria và cậu sinh viên người Pháp bị bắn cùng nhau, trên sườn đồi, mặt trời vừa lên soi gương mặt họ, sát bên nhau.
[Tiểu thuyết ngắn này về sau được xuất bản, khá thành công.]