Chân Dung Những Nữ Văn Sĩ

Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Harriet Martineau.

❊ ❊ ❊

Harriet Martineau sinh tại Norwich vào ngày 12 tháng 6 năm 1802. Gia đình Martineau là hậu duệ của những người tị nạn theo phái Huguenot. Cha của Harriet, ông Thomas Martineau, là một nhà sản xuất tại Norwich; Elizabeth Rankin là tên thời con gái của mẹ bà, người được mô tả là “một phụ nữ đích thực xứ Northumbrian.” Harriet là người con thứ sáu trong một gia đình có tám anh chị em. Tuổi thơ của bà ốm yếu, bị kìm nén và bất hạnh. “Cuộc đời tôi chẳng có mùa xuân nào,” sau này bà từng viết như vậy. Khi lên mười một tuổi, bà được gửi vào trường của một thầy giáo tên là Perry, người đã đặt nền tảng vững chắc cho việc học hành của bà. Khoảng hai năm sau, thầy Perry rời Norwich, và việc học của Harriet tiếp tục được duy trì tại nhà dưới sự hướng dẫn của các gia sư đến dạy. Năm mười bốn tuổi, bà được gửi đến một trường nội trú ở Bristol và ở đó mười lăm tháng. Sau đó, khát khao kiến thức mãnh liệt đã thúc đẩy bà tiếp tục việc học tại nhà dù gặp phải vô vàn sự nản lòng. Giống như những phụ nữ trẻ khác thời bấy giờ, bà được kỳ vọng phải “dành một lượng thời gian khủng khiếp cho việc may vá,” và có thời điểm bà chỉ có thể đánh cắp thời gian cho công việc trí tuệ từ những giấc ngủ của mình.

Bà bắt đầu bị lãng tai từ năm tám tuổi, và đến năm mười-tám tuổi thì gần như mất hẳn thính giác. Đây là một thử thách cay đắng đối với bà. Vào năm 1822, khi tròn đôi mươi, một mối tình nảy nở giữa bà và anh chàng Worthington, một sinh viên thần học theo phái Unitarian, đồng thời là bạn của anh trai bà (sau này là Tiến sĩ James Martineau). Worthington nghèo, và gia đình bà từ chối chấp thuận một lễ đính hôn chính thức. Ba năm chờ đợi và hồi hộp trôi qua. Vào tháng 6 năm 1826, Thomas Martineau qua đời. Cuộc khủng hoảng tài chính mùa đông năm 1825 đã khiến ông rơi vào cảnh tương đối túng quẫn, và trong di chúc, ông chỉ có thể chu cấp “một khoản tối thiểu vừa đủ sống” cho vợ và các con gái. Đến lúc này, anh Worthington đã hoàn thành việc học và có được một công việc ổn định; và gia đình Martineau, trong những hoàn cảnh đã thay đổi ấy, cho phép Harriet đi đến quyết định đính hôn với anh. Tuy nhiên, chàng thanh niên bất hạnh ấy lại bị cơn sốt não quật ngã, khiến tâm trí bấn loạn, và đến cuối năm 1826 thì anh qua đời.

Sự nghiệp văn chương của Harriet đã sớm khởi đầu với một số bài viết đóng góp cho tạp chí Monthly Repository của phái Unitarian. Năm 1823, bà cho xuất bản ẩn danh một cuốn sách nhỏ mang tên Devotional Exercises (Các bài tập sùng kính), và vào năm 1826 là một cuốn sách gồm các bài Addresses, Prayers, and Hymns (Diễn từ, Cầu nguyện và Thánh ca). Trong cảnh nghèo túng bần hàn mà bà vừa rơi vào, bà cầm bút với một ý chí sắt đá, dù trong một thời gian đầu mang lại ít kết quả. Bà cung cấp những câu chuyện ngắn ẩn danh cho một nhà xuất bản tên là Houlston, và viết cho ông một câu chuyện mang tên Principle and Practice (Nguyên tắc và Thực tiễn) cùng phần tiếp theo của nó. Bà viết bài không lấy thù lao cho tờ Repository và nhận viết thuê một cuốn Life of Howard (Cuộc đời của Howard), nhưng chưa bao giờ nhận được khoản thù lao đã hứa.

Vào tháng 6 năm 1829, ngôi nhà cũ ở Norwich – nơi người anh trai Henry của bà vẫn duy trì tư cách thành viên công ty sau khi cha qua đời – đã phá sản. Vì bà Martineau cùng các con gái vốn phụ thuộc vào lợi nhuận của xưởng dệt để duy trì khoản thu nhập ít ỏi của họ, nên giờ đây họ hoàn toàn rơi vào cảnh không nơi nương tựa. Các người chị em khác trở thành giáo viên; Harriet làm việc bằng kim chỉ vào ban ngày và viết văn vào ban đêm. Bà tiếp tục viết bài cho tờ Repository với mức thù lao 15 bảng Anh một năm; và viết cho ấn phẩm định kỳ này một câu chuyện mang tên The Hope of the Hebrews (Niềm hy vọng của người Hê-bơ-rơ), được giới phái Unitarian ca ngợi đến mức biên tập viên W. J. Fox khuyên bà nên xuất bản một tập hợp những câu chuyện như thế. Bà đã làm theo, và tác phẩm đạt được thành công vừa phải. Bà tham gia một cuộc thi do một hiệp hội Unitarian tổ chức nhằm tranh ba giải thưởng “cho các bài luận hay nhất nhằm mục đích cải đạo người Công giáo La Mã, người Do Thái và người theo đạo Hồi lần lượt sang phái Unitarian.” Bà giành cả ba giải thưởng, qua đó kiếm được hai mươi lăm đồng guinea và mang lại niềm vinh dự lớn cho giáo phái. Cùng năm đó, 1830, bà viết câu chuyện dài Five Years of Youth (Năm năm tuổi trẻ) và một tập sách mang tên Traditions of Palestine (Truyền thuyết xứ Palestine).

Toàn bộ công việc này, được thực hiện với sự kiên trì kỳ diệu dưới vô vàn bất lợi, chỉ đến được với một lượng độc giả hạn chế và từ lâu đã bị lãng quên. Nhưng vào mùa thu năm 1831, bà nảy ra ý định trình bày các nguyên tắc kinh tế chính trị dưới hình thức những câu chuyện phổ thông. Bà kiên trì theo đuổi ý định đó, bất chấp việc các nhà xuất bản Luân Đôn liên tục từ chối dính líu đến kế hoạch này; bà đến Luân Đôn để trực tiếp thúc đẩy vấn đề; và cuối cùng đã thành công trong việc đạt được một thỏa thuận với những điều kiện khắc nghiệt cùng ông Charles Fox, em trai của vị biên tập viên tờ Repository. Trước sự ngạc nhiên tột độ của vị quý ông này và sự bình thản hài lòng của tác giả, những số đầu tiên của bộ sách Illustrations of Political Economy (Minh họa Kinh tế Chính trị) đã gặt hái thành công ngay lập tức và vô cùng to lớn. Câu chuyện đầu tiên được xuất bản vào tháng 2 năm 1832, và Harriet Martineau vụt sáng thành một tên tuổi nổi tiếng.

Vào tháng 11, bà đến sinh sống tại Luân Đôn. Bà được đón tiếp như một nhân vật lừng lẫy trong giới thượng lưu, nhưng không hề lơi là công việc, mỗi tháng đều đặn cho ra mắt một tập dày từ một trăm hai mươi đến một trăm năm mươi trang. Khi hoàn thành bộ sách Minh họa của mình, hai năm sau khi đến Luân Đôn, bà đã có chuyến du hành kéo dài hai năm tới Châu Mỹ, nơi bà thể hiện một lòng dũng cảm đạo đức không hề nhỏ qua việc liên minh với những người theo chủ nghĩa Bãi nô. Bà trở về Anh vào tháng 8 năm 1836, và tận dụng những trải nghiệm vừa qua để viết trong vòng sáu tháng tiếp theo một tác phẩm gồm ba tập mang tên Society in America (Xã hội ở Châu Mỹ), với bản in đầu tiên thu về 900 bảng Anh. Tiếp nối tác phẩm này là cuốn Retrospect of Western Travel (Nhìn lại những chuyến du hành phương Tây), được bán với giá 600 bảng Anh. Bà viết bài cho nhiều tạp chí khác nhau; cho ra mắt vào năm 1838 một tác phẩm mang tên How to Observe in Morals and Manners (Cách quan sát đạo đức và phong tục), cùng một số cuốn sách nhỏ theo đơn đặt hàng của Ủy ban Luật Người nghèo nằm trong chuỗi ‘Cẩm nang phục vụ.’

Bà bắt đầu viết tiểu thuyết Deerbrook vào tháng 6 năm 1838, và thăm Scotland vào tháng 8 và tháng 9. Deerbrook ra mắt vào mùa xuân. Tác phẩm này nhìn chung được coi là yếu kém nhất của bà.

Vào thời điểm này, bà Martineau – người đang dần bị mù, người anh trai Henry của Harriet, và một người dì ốm yếu đều phụ thuộc hoàn toàn vào Harriet để sinh sống. Sự lo lắng và làm việc quá sức đã khiến bà lâm trọng bệnh. Bà lên đường đi du lịch Lục địa sau khi xuất bản Deerbrook, nhưng khi đến Venice, bà đổ bệnh nặng đến mức buộc phải quay về Anh. Vào mùa thu năm 1839, bà được đưa đến Tynemouth, nơi bà ở lại suốt năm năm tiếp theo dưới sự chăm sóc của người anh rể, một bác sĩ tên là Greenhow. Đây là một quãng thời gian đầy đau đớn, nhưng hoạt động trí tuệ của bà chưa bao giờ bị đình trệ. Tác phẩm The Hour and the Man (Thời gian và Con người), một tiểu thuyết lịch sử, ra mắt vào tháng 4 năm 1840; và đầu năm 1841 là bộ truyện The Playfellow (Bạn chơi), một chuỗi truyện thiếu nhi chứa đựng tác phẩm nổi tiếng Crofton Boys (Những cậu bé ở Crofton); năm 1843 là cuốn Life in the Sick-Room (Cuộc sống trong phòng bệnh), xuất bản ẩn danh nhưng ngay lập tức được công chúng nhận ra; cùng vô số truyện ngắn và bài viết hỗ trợ cho các phong trào khác nhau. Năm 1841, vì nguyên tắc riêng, bà đã từ chối lời đề nghị trao mức lương hưu 150 bảng Anh một năm từ Lãnh chúa Melbourne. Năm 1843, bạn bè đã gửi tặng bà một món quà tri ân trị giá 1.400 bảng Anh.

Vào tháng 6 năm sau, bà đồng ý thử phương pháp chữa bệnh bằng từ tính động vật (mesmerism). Đến tháng 12, sức khỏe của bà đã khá hơn rất nhiều và cho phép bà rời khỏi Tynemouth. Mười năm tiếp theo là khoảng thời gian bà tận hưởng sức khỏe hoàn hảo. Với sự nhiệt tình vốn có, bà cho xuất bản trên tờ Athenæum, và sau đó dưới dạng sách mỏng, sáu bức thư mang tựa đề Letters on Mesmerism (Những bức thư về thuật thôi miên), tường thuật chi tiết về phương pháp chữa bệnh kỳ diệu này. Tuyên bố công khai về niềm tin của bà vào thuật thôi miên đã dẫn đến việc rạn nứt quan hệ với ông Greenhow.

Cô Martineau lúc này mua một mảnh đất gần Ambleside, và thuê nhà trọ ở ngôi làng này trong suốt mùa đông năm 1845-1846 để giám sát việc xây dựng một ngôi nhà theo đúng bản vẽ của chính mình. Tại đây, bà viết tác phẩm Forest and Game Law Tales (Truyện về Luật Rừng và Thú săn). Vào mùa xuân, bà chính thức dọn vào tổ ấm mới mang tên “The Knoll.” Sau khi viết một câu chuyện dành cho giới trẻ mang tên The Billow and the Rock (Ngọn sóng và Khối đá), bà cùng một số bạn bè lên đường đi phương Đông vào mùa thu năm 1846, và trở về vào tháng 10 năm 1847. Cuộc sống tại “The Knoll” của bà vô cùng bận rộn và mang lại nhiều ích lợi. Bà tham gia làm nông nghiệp ở quy mô rất nhỏ, và viết về chủ đề này một cuốn sách có tựa đề Health, Husbandry and Handicraft (Sức khỏe, Canh nông và Thủ công).

Trong tác phẩm Eastern Life, Past and Present (Đời sống phương Đông, Xưa và Nay), xuất bản năm 1848, cô Martineau lần đầu tiên để lộ cho thiên hạ thấy rằng một sự thay đổi quan trọng đã diễn ra trong quan điểm thần học của bà. Điều này phần lớn chịu ảnh hưởng từ ông Henry G. Atkinson – người mà bà quen biết trong thời gian hồi phục sau cơn bạo bệnh kéo dài, và là người tri kỷ gắn bó sâu sắc nhất với bà cho đến cuối đời. Tác phẩm tiếp theo của bà là Household Education (Giáo dục gia đình), tiếp nối vào năm 1850 bằng công trình quan trọng History of the Thirty Years’ Peace (Lịch sử Ba mươi năm Hòa bình). Vào tháng 1, năm 1851, xuất hiện tác phẩm Letters on the Laws of Man’s Nature and Development (Những bức thư về các quy luật bản chất và sự phát triển của con người), là thành quả chung của bà và ông Atkinson. Trong cuốn sách này, những quan điểm mới của bà được trình bày một cách rõ ràng. Tác phẩm vấp phải sự phẫn nộ từ giới báo chí chính thống. Một bài viết về chủ đề này trên tờ Prospective Review của Tiến sĩ James Martineau đã châm ngòi cho sự rạn nứt giữa hai anh em.

Không lâu sau đó, cô Martineau cho xuất bản một tập sách mở đầu cho bộ Lịch sử Hòa bình. Vào tháng 11 năm 1853, bản dịch tác phẩm ‘Triết học thực chứng’ của Comte do bà thực hiện đã ra mắt. Vào thời điểm này, bà thường xuyên viết bài cho các tạp chí định kỳ. Vào mùa thu năm 1852, bà thăm Ireland và viết một loạt bài gửi tờ Daily News trong thời gian ở đó, sau đó được tái bản thành một cuốn sách vào cuối năm. Năm 1854, bà biên soạn một cuốn Cẩm nang toàn tập về các hồ (Complete Guide to the Lakes).

Vào cuối năm này, sức khỏe của bà suy giảm. Đầu năm 1855, các bác sĩ đưa ra kết luận rằng bà đang mắc chứng phì đại và suy yếu cơ tim, và tuổi thọ của bà có lẽ không còn kéo dài. Dưới ấn tượng đó, cuốn Tự truyện của bà đã được viết một cách nhanh chóng. Bà không bao giờ rời khỏi Ambleside nữa; nhưng trái với dự đoán, bà vẫn sống thêm được hai mươi mốt năm. Bà tiếp tục viết các bài xã luận cho tờ Daily News – nơi người ta nói rằng bà đã đóng góp tổng cộng hơn một nghìn sáu trăm bài viết chính trị – cùng các bài báo và sách mỏng về nhiều chủ đề được công chúng quan tâm. Một tập sách mang tên Sketches from Life (Phác thảo từ đời sống) được phát hành vào năm 1856, và đến năm 1859 xuất hiện tác phẩm England and Her Soldiers (Nước Anh và những người lính của mình), được viết nhằm hỗ trợ công tác quân đội của Florence Nightingale.

Năm 1868, một loạt các bài Biographical Sketches (Phác thảo tiểu sử), vốn được đăng tải trên tờ Daily News, đã được tập hợp lại thành một cuốn sách. Trước thời điểm này, bệnh tật trở nặng đã buộc bà phải gác lại công việc văn chương. Bà đã phải chịu đựng một đòn giáng nặng nề vào năm 1864 khi người cháu gái Maria – người đồng hành và y tá tận tụy của bà – qua đời. Một người cháu gái khác là Jane đã đứng ra lấp vào chỗ trống đó. Cô Martineau, hay đúng hơn là phu nhân Martineau, cách gọi mà bà thích dùng hơn trong những năm cuối đời, vẫn giữ được sự điềm tĩnh và vui vẻ cho đến hơi thở cuối cùng. Bà qua đời vào ngày 27 tháng 6 năm 1876. Một khối u phát triển chậm đã được phát hiện chính là nguyên nhân thực sự dẫn đến cái chết của bà.

Có lẽ chưa từng có ai sống mà lại nhận về nhiều ý kiến đánh giá trái chiều đến thế. Người này nhìn nhận bà là một con người cay nghiệt, khô khan và ích kỷ; kẻ khác lại thấy bà dị hợm, tràn ngập sự hài hước, biết hy sinh vì người khác và bị cuốn đi bởi những niềm nhiệt huyết cao cả. Trí châm biếm từng buông lời cợt nhả trước nhân vật kỳ lạ này. Hartley Coleridge từng nhận xét rất đúng về bà rằng bà là “một kẻ cuồng tín về mọi thứ.” “Dù sao đi nữa, bà ấy vẫn là một con người xuất chúng!” George Eliot thốt lên. Có một điều khá chắc chắn rằng bà là một kẻ lãng mạn theo cái nghĩa cao cả và vô tư lợi. Khi túng thiếu, bà từ chối tiền hưu trí; bà phô bày thay vì che giấu những quan điểm không được lòng số đông; là hậu duệ của những người Huguenot và bản thân không theo tôn giáo nào, bà vẫn hiên ngang giọn giáo chiến đấu cùng Charlotte Brontë để bảo vệ người Công giáo; và hẳn phải là một kẻ vô cùng thành kiến mới có thể từ chối dành sự ngưỡng mộ cho lòng quả cảm bướng bỉnh, kiên định và mang phong thái nhà binh của bà.

“Chào mừng tâm hồn kiên định,

Vững vàng và sắc sảo,

Đã gột rửa tận sâu đáy lòng

Màn sương, ảo ảnh và nỗi sợ!

Chào mừng tinh thần dám

Tin tưởng vào suy nghĩ của chính mình, trước khi

Được đám đông vọng lại!

Chào mừng lòng dũng cảm đã cất lên

Tiếng nói cho tín điều của mình, trước khi tín điều ấy

Được thời gian ban phép thánh!”[1]

Tuổi thơ bị kìm nén và bệnh hoạn.

Chưa từng có một kẻ phàm trần khốn khổ nào lại bị nguyền rủa bởi một hệ thần kinh bần cùng hơn thế. Những giờ phút dài đằng đẵng bị khó tiêu ban ngày cùng những cơn ác mộng kinh hoàng giờ đây nghĩ lại vẫn thấy thật não nề.... Đôi khi ánh sáng mờ ảo từ những ô cửa sổ vào ban đêm dường như tiến lại gần cho đến khi đè nặng lên nhãn cầu tôi, và rồi những ô cửa sổ ấy lại có vẻ lùi xa đến vô tận. Nếu tôi đặt bàn tay dưới đầu lên gối, bàn tay ấy dường như thu nhỏ lại chỉ còn là một điểm, trong khi đầu tôi lại phình to ra như một ngọn núi. Đôi khi tôi chết khiếp ở đầu cầu thang và chắc mẩm rằng mình không tài nào xuống được; và tôi chẳng bao giờ dám băng qua sân để ra vườn mà không phải cắm cổ chạy, thở hổn hển, và sợ hãi không dám ngoảnh lại nhìn đằng sau, bởi vì có một con mãnh thú đang đuổi theo mình. Bầu trời đầy sao mới là thứ tồi tệ nhất; nó cứ sà xuống, bóp nghẹt và nghiền nát tôi, đè nặng lên đỉnh đầu tôi. Tôi không nhớ có bất kỳ nỗi sợ đặc biệt nào về kẻ trộm hay hồn ma cả; nhưng mọi thứ đúng như những gì tôi nhìn thấy trước mắt đều thật đáng sợ đối với tôi; và giờ đây tôi thấy rằng mình hầu như chẳng có chút khoảng lặng nào thoát khỏi sự kinh hoàng ấy. Nỗi sợ hãi của tôi trước con người cũng lớn lao chẳng kém gì bất kỳ điều gì khác.... Ngôi nhà của chúng tôi nằm trong một con phố hẹp; và tất cả các cửa sổ của nó, ngoại trừ hai hoặc ba cái ở phía sau, đều nhìn về hướng đông. Những căn phòng phía trước không hề có ánh nắng mặt trời, trừ lúc trước bữa ăn sáng vào mùa hè. Một buổi sáng mùa hè, tôi bước vào phòng khách – căn phòng vốn ít khi được sử dụng vào những ngày đó – và nhìn thấy một cảnh tượng khiến tôi phải giấu mặt vào chiếc ghế và thét lên vì sợ hãi. Những giọt nước pha lê trên lò sưởi, nơi ánh mặt trời đang chiếu rọi, chẳng hiểu sao lại chuyển động, và những sắc màu lăng kính nhảy múa cuồng nhiệt trên các bức tường. Tôi tưởng chúng còn sống – một dạng yêu ma nào đó; và kể từ thời điểm đó trở đi, tôi không bao giờ dám một mình bước vào căn phòng đó vào buổi sáng nữa. Tôi e rằng mình phải thú nhận rằng tim tôi đã đập rộn ràng suốt cả cuộc đời mỗi khi nhìn thấy những sắc màu lăng kính nhảy múa trên tường.

Đủ thấy rõ rằng tính khí của tôi hẳn phải tồi tệ lắm. Giờ đây tôi cảm thấy nó thực sự độc ác như quỷ sứ, ngoại trừ một sự dễ tha thứ vốn từng khiến tôi vô cùng bực bội. Tính khí của tôi lẽ ra đã có thể sớm trở nên hoàn toàn tốt đẹp nếu chỉ cần một chút chiều chuộng nhỏ nhặt dành cho tình cảm tự nhiên của tôi, và cách xử lý hợp lý đối với những lỗi lầm của tôi; nhưng tôi lại là đứa con gần như út ít trong một gia đình đông con, và không chỉ phải chịu đựng quy tắc nghiêm khắc mà tất cả mọi người đều phải gánh chịu, mà còn phải chịu đựng cả cách đối xử thô bạo, khinh miệt của các anh chị lớn – những người vốn chẳng có ý ác tâm gì, nhưng lại tổn thương tôi không thể bù đắp được. Tôi không có lòng tự trọng, và có một nhu cầu vô hạn về sự tán thành và tình cảm. Khả năng ghen tị của tôi là một thứ gì đó vô cùng khủng khiếp.... Tôi đã cố gắng trong một khoảng thời gian dài – tôi nghĩ là từ khoảng tám đến mườifour tuổi – để trải qua một ngày trọn vẹn mà không khóc. Tôi là một đứa trẻ kiên trì; và tôi biết mình đã cố gắng rất nhiều, nhưng tôi vẫn thất bại.

Harriet Martineau: ‘Autobiography.’ Boston: Houghton, Mifflin & Co., 1877.

Sự huấn luyện theo lối khắc kỷ.

Những lời khích lệ đầu tiên mà bà từng nhận được lại đến dưới lớp vỏ bọc của sự nghiêm khắc. Bà đang phải chịu đựng cảm giác khó chịu vì có một con ruồi bay vào mắt. “Harriet,” người mẹ nói, vừa nắm chặt lấy bà để thực hiện thao tác, “Mẹ biết con là đứa có nghị quyết, và con phải đứng yên cho đến khi mẹ gắp nó ra.” Được nhắc nhở như vậy, sinh vật nhỏ bé đang hoảng hốt và căng thẳng ấy đã không hề nhúc nhích cho đến khi vật cản được lấy ra. Và liệu rằng sinh vật nhỏ bé run rẩy ấy, với “đôi má tái nhợt như đất sét,” “trán trắng phẳng phiu, nơi mái tóc mọc thấp,” “hốc mắt sâu hoắm — đôi mắt sáng, to và đầy đặn, thường đỏ hoe vì khóc — một khuôn mặt hoàn toàn khiếp đảm,” — liệu cô bé khi ấy có quả quyết không? Bà chạy đến chiếc cổng lớn gần phố, và ra hiệu cho một đứa trẻ chơi cùng để kể cho nó nghe những gì mẹ mình vừa nói. “Đó là tất cả những gì mày lôi tao đến đây để nghe thôi sao?” Đó là lời khích lệ đầu tiên mà bà từng nghe trong đời, và bà chẳng thể tìm được ai để chia sẻ niềm vui mới mẻ ấy. Cho đến lúc đó, bà chưa bao giờ nghĩ bản thân mình có giá trị dẫu chỉ là một xu.

Maria Weston Chapman: ‘Memorials of Harriet Martineau.’ (‘Autobiography,’ vol. ii.)

Cảm xúc tôn giáo thuở thiếu thời.

Quả thực tôi vô cùng sùng đạo từ khi còn rất nhỏ. Tôn giáo ấy đủ tồi tệ, đúng như có thể mong đợi từ sự khẩn thiết của những nhu cầu trong tôi; nhưng tôi nghi ngờ liệu mình có thể vượt qua nếu không có nó. Tôi nuông chiều xu hướng tự phụ của mình bằng những giấc mơ về sự sủng ái của thần linh, nhằm bù đắp cho sự thiếu hụt trầm trọng lòng tự trọng của bản thân; và tôi rũ bỏ cảm giác hối hận vốn chẳng lúc nào dứt bằng một cách xưng tội và ăn năn vô cùng tiện lợi, thứ đã làm dịu đi các dây thần kinh của tôi mà tôi ngờ rằng chẳng hề cải thiện được chút hành vi nào của mình.... Trong khi tôi sợ hãi mọi người mà mình nhìn thấy, tôi lại chẳng hề sợ Chúa lấy một chút.... Những ngày Chủ nhật bắt đầu trở thành những ngày được đánh dấu, và nhìn chung là được đánh dấu một cách đầy dễ chịu. Tôi không biết tại sao hoa nghệ tây lại gắn liền một cách đặc biệt với ngày Chủ nhật vào thời điểm đó, nhưng có lẽ mẹ tôi đã từng đi dạo trong vườn cùng chúng tôi vào một Chủ nhật đầu mùa xuân nào đó. Ý niệm của tôi về thiên đường là một nơi rực rỡ với sắc hoa nghệ tây vàng và tím lilac. Tình yêu của tôi dành cho những màu sắc sặc sỡ là rất lớn.... Nhà nguyện Octagon ở Norwich [thuộc phái Unitarian] có một số cửa sổ kỳ lạ trên mái; không phải giếng trời, mà là để ánh sáng lọt vào một cách gián tiếp. Tôi thường ngồi ngước nhìn những khung cửa sổ ấy, chờ đợi các thiên sứ đến đón mình và đưa lên thiên đường trước mắt toàn thể giáo đoàn – vì tận thế chắc chắn sẽ xảy ra khi chúng tôi đang ở nhà nguyện. Giờ đây nghĩ lại, tôi thấy hình như toàn bộ thời gian đó tôi chỉ nghĩ về điều này và về các bài thánh ca. Thật là kinh khủng khi tôi không thể cầu nguyện nổi lúc ở nhà nguyện. Tôi tin rằng trong đời mình chưa bao giờ làm thế. Tôi cầu nguyện rất nhiều khi chỉ có một mình, nhưng hoàn toàn không thể làm điều đó theo bất kỳ cách nào khác, và sự đạo đức giả khi tỏ ra làm như vậy từng là một nỗi thống khổ kéo dài và đau đớn đối với tôi.

Phát hiện ra Milton năm bảy tuổi.

Shakespeare năm mười ba tuổi.

Khi tôi lên bảy tuổi, ... tôi bị giữ lại không được đến nhà nguyện vào một chiều Chủ nhật vì một thứ bệnh vặt nào đó. Khi cánh cửa nhà khép lại sau lưng những người đi nhà nguyện, tôi nhìn những cuốn sách trên bàn. Cuốn sách trông xấu xí nhất bị úp mở ra, và hành động lật nó ngửa lại của tôi là một trong những sự kiện bước ngoặt trong cuộc đời tôi. Tập sách thô kệch, vụng về, đóng bìa da bê màu nâu ấy chính là ‘Paradise Lost’ (Thiên đường đã mất), và thứ giấy màu xanh nhạt thông thường với kiểu chữ cổ kính của nó đối với tôi tựa như một cuộn kinh từ thiên đàng rơi xuống. Điều đầu tiên tôi nhìn thấy là “Argument” (Luận đề), mà tôi tưởng là một cuộc tranh cãi và cho rằng nó đủ ngớ ngẩn, nhưng lại có đoạn gì đó về việc Satan rẽ đôi Hỗn mang đã khiến tôi phải lật tìm phần thơ ca; và định mệnh tinh thần của tôi đã được định đoạt trong suốt bảy năm tiếp theo. Kể từ đó trở đi, người ta chỉ có thể tìm thấy cuốn sách đó bằng cách hỏi xin tôi, cho đến khi một người quen trẻ tuổi tặng tôi một cuốn Milton nhỏ của riêng mình. Chỉ trong vài tháng, tôi tin là chẳng còn dòng nào trong ‘Paradise Lost’ mà tôi không thể tìm ra ngay lập tức. Tôi ru mình chìm vào giấc ngủ bằng cách đọc đi đọc lại nó; và khi những tấm rèm cửa được kéo ra vào buổi sáng, những miêu tả về ánh sáng thiên đàng lại ùa về trong trí nhớ tôi. Tôi nghĩ đây hẳn là trải nghiệm đầu tiên của tôi về sự giải thoát tinh thần thông qua nguồn lực trí tuệ. Tôi chắc chắn rằng kể từ thời điểm đó trở đi mình đã hạnh phúc hơn phần nào.... Giờ khắc trong ngày mà tôi yêu thích nhất là lúc khăn trải bàn được rút đi, và tôi trốn khỏi bữa tráng miệng để đọc Shakespeare dưới ánh lửa vào mùa đông trong phòng khách. Mẹ tôi rất tử tế khi cho phép hành vi phá vỡ phép tắc gia đình này; và một lần nữa, vào một thời điểm sau đó, khi tôi bắt đầu say mê đọc báo.... Từ đó đến nay tôi vẫn thường cảm ơn bà vì sự dung thứ này. Tờ báo của chúng tôi là tờ Globe, vào thời kỳ hoàng kim của nó, khi mà dù chưa từng đề cập đến Kinh tế Chính trị, nó vẫn giảng dạy về môn này và nhìn nhận các vấn đề thời sự dưới lăng kính của nó.... Suốt thời gian đó, tôi vô tình trở thành một nhà kinh tế chính trị mà không hề hay biết, và đồng thời, cũng là một dạng bảng tra cứu sống động của Milton và Shakespeare.

Kinh tế chính trị ở tuổi mười lăm.

Harriet Martineau: ‘Autobiography.’

Bệnh điếc.

Chứng điếc của bà – căn bệnh nổi tiếng nhất trong các khiếm khuyết về giác quan của bà – không phải là sự tước đoạt giác quan sớm nhất. Bà chưa bao giờ có thể ngửi được, theo trí nhớ của bà; và vì khứu giác và vị giác gắn bó mật thiết với nhau, và phần lớn những gì chúng ta tin là hương vị thực chất là mùi hương, nên hệ quả tất yếu là bà cũng gần như mất hẳn vị giác. Do đó, hai trong số những con đường để tâm trí tiếp nhận ấn tượng từ thế giới bên ngoài đã khép lại với bà suốt cả cuộc đời, và con đường thứ ba cũng bị chặn đứng trước khi bà bước vào tuổi trưởng thành.

Mrs. Fenwick Miller: ‘Harriet Martineau.’ (Famous Women Series.) Boston: Roberts Brothers, 1885.

Sự thiếu hụt vị giác.

Bà hoàn toàn không có chút vị giác nào. “Có một lần,” bà kể với tôi khi tôi đang bày tỏ sự thương cảm cho sự thiếu thốn này của bà, “tôi nếm một đùi cừu, và nó thật ngon lành. Hôm đó, tình cờ tôi có hẹn đi ăn tối ở ngoài, và, tôi lấy làm xấu hổ khi phải nói rằng, tôi đã vô cùng háo hức mong chờ những niềm vui của bàn tiệc; nhưng chẳng có gì xảy ra cả – món quà ấy biến mất đột ngột như lúc nó đến.” Khứu giác cũng bị tước đoạt khỏi bà, y như Wordsworth; thật kỳ lạ làm sao, trong trường hợp của ông ấy, theo lời bà kể, nó cũng chỉ được ban phát đúng một lần duy nhất. “Ông ấy từng ngửi thấy mùi của một cánh đồng đậu và nghĩ đó là thiên đường.”

James Payn: ‘Some Literary Recollections.’ New York: Harper & Bros., 1884.

Giáo dục thực tế.

“Tôi có thể may áo sơ mi và làm bánh pudding,” bà tuyên bố, “và ủi đồ, vá víu, và tự kiếm sống bằng cây kim của mình, nếu cần thiết – như tôi đã từng cần thiết, trong một vài tháng, trước khi giành được một vị trí và nghề nghiệp tốt hơn bằng ngòi bút của mình.” Trong suốt mùa đông tiếp theo sau vụ phá sản của ngôi nhà cũ ở Norwich, bà đã dành toàn bộ thời gian ban ngày để cắm mặt vào những món đồ thêu thủ công, thứ duy nhất có thể giúp bà kiếm tiền một cách chắc chắn. Nhưng bà không hề gác lại công cụ lao động gai góc hơn là chiếc kim khuyết rực rỡ kia. Sau khi trời tối, bà bắt đầu một ngày dài lao động văn chương trong căn phòng của chính mình.

Mrs. Fenwick Miller: ‘Harriet Martineau.’

Kết quả tốt đẹp từ việc gia đình sụt giảm thu nhập.

Chỉ trong một thời gian rất ngắn, hai người chị em của tôi ở nhà và tôi bắt đầu cảm nhận được diễm phúc của một sự tự do hoàn toàn mới mẻ. Bản thân tôi, người từng buộc phải viết văn trước bữa sáng hoặc theo một cách lén lút nào đó, từ nay đã có được sự tự do để làm công việc của riêng mình theo cách của riêng mình; bởi vì chúng tôi đã mất đi cái mác tầng lớp thượng lưu. Kể từ đó đến nay, không biết bao nhiêu lần chúng tôi đã tự nhủ rằng, nếu không vì sự mất mát tiền bạc ấy, chúng tôi có lẽ đã tiếp tục sống theo lối sống tỉnh lẻ tầm thường của những phụ nữ có thu nhập eo hẹp, suốt ngày may vá, tằn tiện, và ngày càng trở nên nông cạn hơn qua mỗi năm; trong khi trái lại, việc bị quăng quật vào cuộc đời khi vẫn còn kịp lúc, tự lực gánh sinh, chúng tôi đã lao động chăm chỉ và hữu ích, giành được bạn bè, danh tiếng và sự độc lập, được chiêm ngưỡng thế giới thỏa thích cả trong và ngoài nước, và tóm lại, chúng tôi đã thực sự sống thay vì chỉ tồn tại.

Lối sống trong khoảng thời gian ngay sau đó.

Tôi tin rằng vào mỗi đêm mùa đông năm đó, tôi đều viết lách cho đến tận hai hoặc ba giờ sáng, luôn tuân thủ nguyên tắc của gia đình là có mặt ở bàn ăn sáng đúng lúc kim đồng hồ điểm tám giờ. Không ít lần tôi rơi vào trạng thái kiệt quệ và suy sụp thần kinh đến mức buộc phải đi qua đi lại trong phòng trước khi có thể đặt nét chữ cuối cùng lên trang giấy, hoặc viết nốt nửa câu cuối cùng của một bài luận hay bài phê bình. Thế nhưng tôi vẫn vô cùng hạnh phúc. Cảm giác tiến bộ và vươn lên được cảm nhận sâu sắc thật là tuyệt vời; và sự vận động của tất cả các giác quan cũng vậy, và không kém phần quan trọng là ý chí, để vượt qua những vật cản và ép mình vươn tới thứ quyền năng diễn ngôn trước công chúng mà tôi tin là bản thân ít nhiều xứng đáng.

Harriet Martineau: ‘Autobiography.’

Sự nản lòng đối với các câu chuyện Kinh tế Chính trị.

Nghị quyết kỳ lạ của bà.

Khi Harriet đến gặp ông W. J. Fox để đưa cho ông xem tờ thông cáo mời gọi những người đặt mua dài hạn cho bộ sách, bà phát hiện ra rằng ông Charles Fox đã quyết định tuyên bố sẽ không xuất bản quá hai số, trừ khi một nghìn bản của số 1 được bán sạch trong vòng nửa tháng đầu tiên!... Ông Fox sống ở Dalston. Khi Harriet rời khỏi nhà ông sau khi tiếp nhận tối hậu thư vô lý và nản lòng này, bà “bắt đầu đi bộ quãng đường bốn dặm rưỡi để đến Nhà máy bia” [tức là đến một ngôi nhà thuộc cơ sở của Whitbread, nơi bà đang là khách]. “Tôi không đủ tiền để đi xe, dù là xe gì đi nữa; nhưng vốn đã mệt mỏi, giờ đây tôi cảm thấy gần như quá ốm để có thể đi bộ nổi. Trên đường đi, không xa Shoreditch là mấy, tôi hoa mắt đến mức không thể đứng vững nếu không có điểm tựa, và tôi đã dựa người vào hàng rào dừa bẩn thỉu, vờ như đang ngắm nhìn một luống bắp cải, nhưng miệng lẩm bẩm với chính mình khi nhắm nghi mắt lại, ‘Cuốn sách của tôi rồi sẽ thành công thôi.’” Ngay đêm hôm đó, bà đã viết phần lời tựa dài, điềm tĩnh và đầy suy ngẫm cho tác phẩm của mình. Sau khi hoàn thành, bà ngồi sưởi bên lò sưởi trong phòng ngủ với nỗi trầm cảm sâu sắc nhất; bà khóc, để đôi chân gác lên chắn lò sưởi, cho đến tận bốn giờ sáng, rồi lên giường và khóc ở đó cho đến sáu giờ thì chìm vào giấc ngủ. Nhưng nếu ai đó cho rằng vì tâm tính phụ nữ tìm thấy sự giải tỏa qua những giọt nước mắt mà thực tế đó chứng minh sự yếu đuối, họ sẽ phải suy ngẫm lại khi nghe tin bà đã thức dậy lúc tám giờ rưỡi để tiếp tục công việc của mình, vẫn kiên quyết như mọi khi rằng tác phẩm nhất định phải được xuất bản.

Mrs. Fenwick Miller: ‘Harriet Martineau.’

Sự đón nhận bình thản trước thành công của bà.

Theo trí nhớ tốt nhất của tôi, tôi đã phải đợi mười ngày kể từ ngày xuất bản trước khi nhận được thêm một dòng tin nào từ nhà xuất bản. Mẹ tôi, phỏng đoán từ sự cáu kỉnh của ông ta, suy luận rằng ông ta mang tin vui đến: trong khi tôi lại nghĩ điều ngược lại. Mẹ tôi đã đúng; và giờ đây tôi có thể mỉm cười trước những nỗ lực cố tỏ ra nản lòng cuối cùng của ông ta giữa lúc thành công rực rỡ. Vào cuối mười ngày đó, ông ta gửi kèm theo bức thư một bản sao số đầu tiên của tôi, yêu cầu tôi nhanh chóng thực hiện bất kỳ chỉnh sửa nào mà tôi muốn, vì ông ta hầu như chẳng còn lại cuốn nào. Ông ta bổ sung rằng lượng cầu quá lớn khiến ông đề nghị chúng ta nên in hai nghìn bản ngay bây giờ. Một lời tái bút thông báo cho tôi biết rằng kể từ khi viết những dòng trên, ông ta nhận ra chúng ta sẽ cần đến ba nghìn bản. Lời tái bút thứ hai đề nghị bốn nghìn, và thứ ba là năm nghìn. Bức thư đó thật đáng giá, bây giờ thì nó đã đến. Có một sự nhẹ nhõm vô cùng to lớn trong chuyện này; nhưng tôi chẳng nhớ có cảm giác say sưa nào – hay bất kỳ phản ứng đau đớn nào sau đó. Tôi nhớ mình đã đi qua đi lại trên thảm cỏ trong vườn (tôi nghĩ là vào ngày mười tháng Hai), cảm thấy rằng mọi lo âu của mình đã chấm dứt. Và quả thực là như vậy. Tôi nghĩ mình có thể tính mốc sự giải thoát khỏi lo toan tài chính từ ngày mười tháng Hai năm 1832 đó.

Harriet Martineau: ‘Autobiography.’

Lối sống ở Luân Đôn.

Lộ trình của bà ở Luân Đôn diễn ra như sau: Bà viết văn vào buổi sáng, thức dậy và tự pha cà phê lúc bảy giờ, rồi lao vào công việc ngay sau bữa sáng cho đến hai giờ. Từ hai giờ đến bốn giờ, bà tiếp khách. Vì có số lượng quen biết vô cùng lớn, bà từ chối thực hiện các chuyến thăm viếng buổi sáng; nhưng mọi người có thể đến thăm bà vào bất kỳ buổi chiều nào. Bà từng bị buộc tội là kiêu ngạo vì sự sắp xếp này; nhưng với khối lượng công việc trên tay và sự tranh giành để có được sự hiện diện của bà, thực sự bà không thể làm khác đi được. Mặc dù vậy, Sydney Smith đã gợi ý một kế hoạch hay hơn; ông bảo bà nên “thuê một xe ngựa và thuê một nữ văn sĩ hạng xoàng ngồi trên xe đi vòng quanh để phát danh thiếp!” Sau khi khách ra về, bà đi ra ngoài để thực hiện “chuyến đi bộ nghĩa vụ” hàng ngày của mình, rồi trở về lướt qua các tờ báo và thay trang phục đi ăn tối. Hầu như không ngoại lệ, bà đều đi ăn tối ở bên ngoài, xe ngựa của chủ nhà hoặc một người bạn nào đó thường được phái đến đón bà. Một hoặc hai buổi tiệc tối sẽ khép lại một ngày, trừ khi áp lực văn chương quá lớn, trong trường hợp đó đôi khi bà sẽ viết thư sau khi trở về nhà. Suốt thời gian viết bộ sách của mình, bà chỉ cần từ năm đến sáu tiếng ngủ trong tổng số hai mươi bốn giờ, và mặc dù không phải là người kiêng cữ tuyệt đối mà vẫn uống rượu vang trong bữa tối, bà hoàn toàn không dùng bất kỳ loại chất kích thích nào để hỗ trợ cho công việc của mình.

Mrs. Fenwick Miller: ‘Harriet Martineau.’

Ấn tượng ban đầu của Carlyle về bà.

Hai hoặc ba ngày trước ... có một cô Martineau đến thăm chúng tôi, người mà có lẽ các anh đã từng nghe danh trên tờ Examiner. Một chân dung gớm ghiếc về cô ấy từng được đăng trên tờ Fraser vào một tháng nọ.[2] Cô ấy là một nữ văn sĩ nổi tiếng đương thời; đã đi du lịch Châu Mỹ suốt hai năm qua và giờ đã trở về nhà để viết một cuốn sách về nơi đó. Cô ấy khiến chúng tôi hài lòng hơn nhiều so với dự đợi. Trông cô ấy rất thông minh, thực sự có gương mặt dễ mến; chuyện trò rôm rả, dẫu rất tiếc là điếc đặc như tượng đá, khiến bạn phải nói chuyện với cô ấy thông qua một chiếc ống nghe tai. Cô ấy chắc phải tầm ba mươi lăm tuổi. Vì cô ấy bày tỏ những “tình cảm rất thiện chí” đối với phía bên này đường, tôi có ý định thân thiết với cô ấy một chút.

Thomas Carlyle: Thư gửi mẹ. ‘Thomas Carlyle: A History of His Life in London,’ bởi James Anthony Froude, M. A. New York: Charles Scribner’s Sons, 1884.

Ngoại hình.

Tôi nhớ làm sao lần đầu tiên nhìn thấy bà, từ rất lâu rồi! Chúng tôi lần đầu gặp bà ở nhà thờ – nhà thờ của Tiến sĩ Channing. Đó là một sự hiện diện khiến người ta chẳng mệt mỏi khi ngắm nhìn – vô cùng thu hút và ấn tượng; dẫu cho các nét trên khuôn mặt khá thô, và chỉ nhờ vào sự gầy gò nên mới thoát khỏi vẻ cục mịch. Bà cao hơn và có vóc dáng cường tráng hơn hầu hết phụ nữ Mỹ. Làn da của bà không trắng cũng chẳng vàng xám, lại càng không mang sắc thái tái nhợt đậm chất trí tuệ thường được cho là của giới cầm bút. Đó là sắc diện của một người phải chịu đựng sự hành hạ khắt khe, nhưng không phải do công việc văn chương. Bà sở hữu mái tóc nâu dày dặn, óng ả, được chải gọn gàng thành những gợn sóng lấp lánh rẽ từ giữa vương trán hoàn toàn khác với chiếc trán phẳng phiu được mô tả bởi những ai từng biết bà thời thơ ấu. Giờ đây nó sà thấp xuống đôi mắt, giống như ván trán của người Hy Lạp, và trông như được chạm nổi thay vì khắc họa bởi guồng quay của tư duy. Bản thân đôi mắt ấy sáng và đầy đặn, mang sắc xanh xám ngả lục, thay đổi màu sắc theo thời điểm trong ngày hoặc theo ánh mắt của người nhìn – les yeux pers trong các tác phẩm lãng mạn Pháp cổ. Chúng luôn tĩnh lặng và sắc sảo một cách điềm tĩnh, tựa như đang liên tục quan sát thứ gì đó trong khi kẻ khác chẳng tìm thấy gì để chú ý. Biểu cảm quen thuộc của bà là sự trang nghiêm điềm tĩnh và tự chủ – ánh nhìn của sự thong thả hoàn mỹ và nhân từ vốn chỉ xuất hiện ở những ai đã trải qua cuộc đấu tranh dài đẵng đẵng, vị tha để giành lấy những điều tuyệt vời nhất từ cuộc sống bằng một chiến thắng trọn vẹn. Bạn có thể bước đi suốt cả ngày dài trên bất kỳ con phố thành thị nào mà không thể bắt gặp một khuôn mặt với sức mạnh mộc mạc, vui tươi cùng ngập tràn ánh sáng và sự ngọt ngào trong từng đường nét biểu cảm đến thế.

Maria Weston Chapman: ‘Memorials of Harriet Martineau.’

Mô tả bức chân dung đẹp nhất của bà.

Đó là khi bà đang ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, bức chân dung đầu tiên về bà mà tôi từng thấy đã được vẽ nên. Bản thân bà không thích nó, cho rằng tư thế mang tính kịch nghệ điệu đà; nhưng tôi được biết người em gái Rachel của bà đã luôn khẳng định rằng đó là bức chân dung chân thực duy nhất về Harriet từng được thực hiện. Tại thời điểm này, một vài hình dung về ngoại hình của bà có thể được phác họa. Bà cao hơn chiều cao trung bình một chút, và vào thời điểm này có một vóc dáng mảnh mai. Gương mặt trong bức chân dung có hình bầu dục; phần trán khá rộng cũng như cao, nhưng không đến mức nổi bật. Điểm đặc biệt đáng chú ý nhất của khuôn mặt nằm ở phần môi dưới hơi nhô ra. Chiếc mũi thẳng, đầu mũi hoàn toàn không hếch lên, mà lại có một chóp mũi rõ ràng. Đôi mắt có màu xám trong trẻo, với ánh nhìn bình thản, kiên định nhưng lại rất dịu dàng; quả thực, ẩn chứa trong đó là một vẻ tha thiết, cầu khẩn. Mái tóc có màu nâu sẫm đến mức gần như đen nhánh. Một lọn tóc của bà (được cắt đi hai mươi năm sau chuyến viếng thăm Châu Mỹ này, khi nó đã chuyển sang màu trắng như tuyết) đã được trao cho tôi; và tôi nhận ra di vật được nâng niu ấy có kết cấu tinh tế đặc biệt – một dấu hiệu chắc chắn của một hệ thống thần kinh mỏng manh và nhạy cảm. Bàn tay và bàn chân của bà đều nhỏ nhắn. Bà chắc chắn không phải là một mỹ nhân; bên cạnh việc môi dưới hơi trề ra, khuôn mặt còn có nhược điểm là hai bên má hơi tóp lại quá mức về phía cằm. Nhưng bà cũng không phải là người quá kém sắc. Biểu cảm trên bức tranh này vừa mang vẻ ngọt ngào đầy tha thiết, vừa có sức mạnh tiềm ẩn; và người ta cảm nhận rằng với vẻ đẹp biểu cảm nhường ấy, nó chắc chắn sẽ thu hút những ai nhìn ngắm bà bằng sự đồng cảm.

Mrs. Fenwick Miller: ‘Harriet Martineau.’

“Một hiện tượng kỳ lạ.”

Cuốn sách về nước Mỹ của cô Martineau đã phát hành rồi.... Tôi đọc nó vì lợi ích của nữ tác giả đáng kính, người mà tôi vô cùng yêu quý. Cô ấy là một trong những hiện tượng kỳ lạ nhất đối với tôi. Một nữ thi sĩ đích thực, nhưng bị bó buộc trong lớp áo cứng đơ, bị quấn chặt như một xác ướp trong những công thức của phái Socinian và Kinh tế Chính trị; thế nhưng bên trong cái vỏ bọc đó, cô ấy thực sự vẫn tràn đầy sức sống! “Thượng đế ban cho mỗi Dân tộc một vị Tiên tri bằng chính ngôn ngữ của họ,” người Ả Rập thường nói như vậy. Ngay cả những tín đồ phái Unitarian ở Anh rồi cũng có ngày có nhà thơ của riêng họ, và những lời hay ý đẹp nhất dành cho họ cũng đã được cất lên. Tôi khâm phục sự chính trực và chân thành của vị nữ sĩ đáng kính này; sự nhạy bén, sắc sảo của cô ấy sâu sắc đến đâu: tình yêu của cô ấy cũng thật lớn lao; không, thực ra là quá lớn lao; đám đông những phàm nhân vô danh tiểu tốt lừng lẫy mà cô ấy lôi ra trước mắt bạn – từ các Mục sư, người viết sách mỏng, nhà chống nô lệ, đến các Chủ bút tài ba và những bậc vĩ nhân gánh vác thế giới trên vai (mà chúng ta chẳng hề hay biết) – quả thực là nhiều đến mức quá thừa thãi.

Thomas Carlyle: Thư gửi Emerson, tháng 6 năm 1837. ‘Correspondence of T. Carlyle and R. W. Emerson.’ Boston: James R. Osgood & Co., 1883.

Sự ngưỡng mộ của bà dành cho Carlyle.

Anh không thể tưởng tượng được anh ấy (Carlyle) đang tạo được sức hút lớn nhường nào đối với những bộ óc thông tuệ ở đây đâu! Có hẳn Harriet Martineau mang đến tặng anh ấy chiếc ống nghe tai của cô ấy, với một vẻ e thẹn, đỏ mặt đầy điệu đà, thứ suýt nữa đã khiến tôi từ bỏ cả niềm tin vào nhân dạng của chính cô ấy!

Jane W. Carlyle: Thư gửi John Sterling. ‘Letters and Memorials of Jane Welsh,’ do James Anthony Froude biên tập. New York: Charles Scribner’s Sons, 1883.

Cách trò chuyện của bà.

Bà là người nói nhiều nhất mà tôi từng gặp; thực sự giống như tiếng róc rách của một con suối, lại vô cùng sinh động và thông thái nữa; và suốt khoảng thời gian trò chuyện, bà liên tục di chuyển chiếc loa tai từ người nghe này sang người nghe khác, khiến nó trở thành một cơ quan truyền tải thông tin và sự đồng cảm giữa bà và bạn. Chiếc ống nghe tai dường như trở thành một phần nhạy cảm trên cơ thể bà, giống như râu của một số loài côn trùng. Nếu bạn có chút nhận xét nhỏ nào muốn bày tỏ, bạn chỉ việc thả nó vào đó; và bà giúp bạn đưa ra ý kiến bằng sự mời gọi nhỏ bé, tinh tế này của chiếc loa khi bà hơi hướng nó về phía bạn; và nếu bạn chẳng có gì để nói, sự khơi gợi ấy cũng không đến mức làm bạn bối rối.

Nathaniel Hawthorne: ‘Passages from the English Note-Books.’ Boston: James R. Osgood & Co., 1873.

Ông ấy [Southey] nhắc đến cô Martineau một cách kiên nhẫn nhưng không mấy tôn trọng, mô tả cô ấy là “nói lưu loát hơn bất kỳ người phụ nữ nào ông từng gặp, và mang trong đầu một ý niệm vững chắc về sự không thể sai lầm của chính mình.”

Henry F. Chorley: ‘Autobiography, Memoir, and Letters.’ London: 1873.

Giai thoại thích đáng về Sydney Smith.

Khi ông bệnh nặng đến mức tất cả bạn bè đều lo lắng khôn nguôi, M—— đến thăm và ân cần hỏi thăm xem ông đã trải qua một đêm thế nào, Sydney Smith đáp rằng, “Ôi, khủng khiếp, khủng khiếp, anh bạn thân mến của tôi ơi! Tôi mơ thấy mình bị xích vào một tảng đá và bị Harriet Martineau cùng Macaulay nói cho đến chết.”

Frances Ann Kemble: ‘Records of Later Life.’ New York: Henry Holt & Co., 1882.

Lời kể của ông Payn về cách trò chuyện và tính cách của bà.

Tác giả của cuốn ‘Vestiges of Creation’ từng nói với tôi bằng giọng điệu khô khan, hài hước của ông ấy rằng, “Bạn của anh, cô Martineau, vừa cho tôi địa chỉ ở thành phố nơi cô ấy mua tất cả những chiếc ống nghe tai. Ôi trời đất thánh thần ơi! Cô ấy cần nhiều đến thế để làm gì? Ý cô ấy muốn nói là trong đời mình cô ấy đã dùng hỏng từng ấy cái ống nghe tai chỉ để lắng nghe những gì người khác nói chắc?”

Không còn nghi ngờ gì nữa, bà rất áp đảo trong tranh luận (có lẽ đó tất cả là những gì ông ấy ngụ ý), nhưng tôi luôn thấy bà rất sẵn lòng lắng nghe, đặc biệt là trước bất kỳ câu chuyện buồn tủi hay gian khó nào nằm trong khả năng giải quyết của bà. Quả thực, các cuộc trò chuyện của độc thoại không hề độc thoại chút nào, và hiếm khi tôi biết được một người bạn đồng hành nào rạng rỡ và vui vẻ đến thế; nhưng câu chuyện của bà, khi không bị cuốn vào những cuộc tranh luận, lại rất hay kể chuyện – một điều hiếm thấy ở phụ nữ. Bà từng quen biết nhiều nhân vật kiệt xuất và thú vị hơn hầu hết đàn ông, và chắc chắn là hơn bất kỳ người phụ nữ nào cùng thời; phạm vi tác phẩm đồ sộ của bà – từ chính trị, tôn giáo cho đến xã hội – đã khiến bà kết giao với những con người mang quan điểm trái ngược nhau nhất, thuộc mọi tầng lớp, trong khi giữa vòng tròn rộng lớn các mối quan hệ cá nhân, bản tính hiền mẫu, sự dịu dàng và (về những vấn đề tế nhị trong gia đình) khả năng phán đoán tốt đã biến bà thành người tâm sự của rất nhiều người, đặc biệt là giới trẻ; điều đó đã mở rộng sự thấu hiểu của bà về cuộc đời con người lên một mức độ phi thường. Tôi chưa từng biết người phụ nữ nào mà bản chất lại mang đậm tính nữ sâu sắc đến thế như Harriet Martineau, hay một người bị đại chúng hiểu lầm nhiều đến vậy về phương diện đó.

James Payn: ‘Some Literary Recollections.’

Hồi ức về trận bạo bệnh kéo dài ở Tynemouth.

Trên chiếc ghế bành mà tôi ngả lưng sau chuyến đi xe đến Tynemouth vào ngày 16 tháng 3 năm 1840, tôi đã nằm suốt gần năm năm trời, cho đến khi sự tuân thủ một quy luật tự nhiên mới được phát hiện đã vực tôi dậy và đưa tôi trở lại với thế giới, để tiếp tục mười năm làm việc miệt mài cùng một tâm hồn và trí tuệ ngập tràn sự bình yên, tận hưởng gần như trọn vẹn.... Trong suốt thời gian tôi bệnh tật, những tiện nghi và niềm vui được mang đến cho tôi vô vàn. Sydney Smith từng nói rằng bất kỳ ai gửi cho tôi trò chơi, trái cây và hoa cỏ đều chắc chắn sẽ được lên thiên đường, với điều kiện họ phải đóng đầy đủ các khoản thuế cho Giáo hội Anh. Nếu vậy, rất nhiều bạn bè của tôi đã an toàn. Trong số những kỷ vật khác của thời kỳ đó hiện vẫn được lưu giữ và trân trọng, có những bức vẽ do các cô nhà Nightingale gửi tặng, cùng một hộp đựng phong bì (được dùng hằng ngày) do chính đôi tay của vị thiên sứ Florence bất tử làm ra. Tôi là một trong những bệnh nhân đầu tiên được bà chăm sóc, và điều đó xảy ra nhờ tình bạn của tôi với một số thành viên trong gia đình bà.... Tôi không nghĩ mình đã từng khao khát điều gì tha thiết đến thế như khao khát được nhìn thấy tán lá xanh. Đã hơn năm năm trời tôi không được nhìn thấy một cái cây nào, ngoại trừ một bụi cây nhỏ còi cọc mọc phía trên bến cảng ở Tynemouth. Một người bạn cũ đã gửi cho tôi những bức ký họa màu vô cùng quyến rũ về những cổ thụ trong Rừng Sherwood, và một họa sĩ hoàn toàn xa lạ với tôi, ông McIan, đã từ bỏ chuyến dã ngoại một ngày tại nhà một người bạn ở vùng nông thôn để vẽ tặng tôi một cái cây lộng gió. Suốt nhiều tháng trời, bức tranh cây lộng gió ấy được ghim lên bức tường trước mặt tôi, thổi biết bao luồng gió mát lành vào tâm trí tôi.... Trong nhiều buổi chiều mùa hè, khi tôi nằm trên chiếc ghế dài sát cửa sổ và người khách ghé thăm ngồi bên cạnh, phóng tầm mắt ngắm nhìn dải biển tím thẫm hoặc chờ đợi vầng trăng nhô lên từ lòng biển như một hành tinh đang lớn dần thành mặt trời, những lời bàn luận uyên thâm, sâu sắc đã được cất lên, giờ đây khắc sâu vào trí nhớ tôi như những vì sao trên bầu trời đêm u tối. Lúc thì một triết gia, lúc thì một nhà thơ, lúc thì một nhà đạo đức học mở ra trước mắt tôi những chiêm nghiệm, tầm nhìn hay niềm tin xác tín.

Harriet Martineau: ‘Autobiography.’

Thư tín với Elizabeth Barrett.

Gần đây tôi có được niềm vui lớn lao qua một số bức thư từ cô Martineau, khối óc phụ nữ cao quý nhất giữa hai vùng biển – “ngọt ngào như mùa xuân, sâu thẳm như đại dương.” Cô ấy đang chìm trong nỗi đau đớn tuyệt vọng về thể xác và sự thăng hoa thanh thản trong tâm hồn, vừa không còn chút hy vọng nào lại vừa ôm ấp mọi hy vọng.

Elizabeth Barrett: Thư gửi R. H. Horne. ‘Letters of Elizabeth Barrett Browning, addressed to Richard Hengist Horne.’ New York: James Miller, 1877.

Sự thuyên giảm nhanh chóng nhờ thuật thôi miên.

Chỉ trong vòng một phút, ánh sáng hoàng hôn và ánh lân tinh xuất hiện; và thêm hai, ba phút nữa, một cảm giác dễ chịu tuyệt vời lan tỏa khắp cơ thể tôi – một sự thoải mái mát mẻ, trước sự hiện diện của nó, mọi đau đớn và bứt rứt đều nhường chỗ, rỉ ra ngoài qua lòng bàn chân, có thể nói là như vậy. Trong suốt tiếng đồng hồ đó, và gần như cả buổi tối, tôi không thể kìm lòng được việc thốt lên những lời sung sướng chẳng khác nào một kẻ đang chịu cực hình cất tiếng kêu la vì đau đớn. Tôi thấy thèm ăn và ăn ngon miệng trở lại lần đầu tiên sau năm năm trời. Không có chút hơi nóng, sự ngột ngạt hay buồn nôn nào trong suốt buổi trị liệu, cũng như không có bất kỳ rối loạn nào sau đó. Suốt cả buổi tối, thay vì sự lười biếng, ấm ức đến uể oải của thuốc phiện – thứ khiến người ta cảm thấy cơn đau vẫn đang rình rập bên dưới, tôi trải nghiệm những cảm giác không thể tả xiết của sức khỏe, thứ mà tôi đã hoàn toàn đánh mất và lãng quên.

Harriet Martineau: Letters on Mesmerism, được trích dẫn bởi Mrs. Fenwick Miller trong tác phẩm ‘Harriet Martineau.’

Sức khỏe tốt sau đó.

Nhìn thấy một người phụ nữ da ngăm đen đang ngóng chờ xe ngựa – thong thả nhận ra gương mặt ấy – ngó đầu ra cửa sổ – hóa ra là cô Martineau.... Cùng cô ấy đi bộ đến ngôi nhà mới xây hoặc đang xây của cô ấy, một chốn cư ngụ vô cùng tiện nghi, tọa lạc ở vị trí đẹp và đáng mơ ước về mọi mặt. Tôi không khỏi ngạc nhiên khi nhìn thấy sắc da khỏe mạnh rám nắng trên khuôn mặt cô ấy, và chứng kiến những sải bước kiên định, suýt chút nữa là ra dáng nam nhi của cô ấy khi đi cùng tôi đến Fox How, trang viên của Tiến sĩ Arnold.

W. C. Macready: Nhật ký, 1846. ‘Macready’s Reminiscences and Selections from his Diaries and Letters,’ do Sir Frederick Pollock biên tập. New York: Macmillan & Co., 1875.

Ấn tượng sau này của Carlyle.

Cô Martineau đã đến và đã rời đi – đến Norwich, sau đó sang Ai Cập – tinh thần kiệt quệ hoàn toàn, một tâm trí giờ chỉ còn thu gọn trong ba yếu tố: sự lú lẫn, tính giáo điều và niềm hy vọng vô hạn. Chưa bao giờ trong đời tôi cảm thấy chán ngán một sinh linh nào đến thế.

Thomas Carlyle: Thư trong ‘Thomas Carlyle: A History of his Life in London.’

Sự thay đổi quan điểm được thuật lại một cách gay gắt.

Vào thứ Tư, ông Henry Bright ghé qua dùng bữa tối. Ông ấy đã đến thăm cô Martineau tại Ambleside, và thấy cô ấy vô cùng thú vị, cùng một trạng thái giáo điều kỳ lạ – vì giờ đây cô ấy tuyên bố tin tưởng và khẳng định rằng chẳng có Chúa trời hay thế giới bên kia nào cả! Ông ấy nói hoàn toàn không thể tranh luận với cô ấy được, bởi vì cô ấy quá bảo thủ và độc đoán, lại có một lợi thế kỳ cục là hạ chiếc loa tai xuống khi không muốn nghe bất kỳ lời đáp trả nào cho những tuyên bố của mình. Cô ấy đang thực hiện một số bản thiết kế tuyệt đẹp cho các khung cửa sổ nhà thờ của anh trai mình ở Liverpool, những bản vẽ đã được chấp thuận và sẽ được vẽ lên đó; nhưng cô ấy lại đang bất hòa với anh trai và chẳng hề qua lại với ông.

Mrs. Hawthorne: Thư gửi cha cô.

Nằm trong số những điểm bất lợi của thứ thời tiết khốn khổ này là việc tôi vẫn chưa thể đến Ambleside để thăm cô Martineau. Khi cô ấy đến ăn tối với chúng tôi, hoặc ghé qua Liverpool, tôi luôn lỡ mất cơ hội gặp cô ấy vì bận ở Cambridge; và tôi thừa nhận bản thân hơi tò mò muốn được nghe chính miệng cô ấy kể lại một số trải nghiệm của mình. “Mốt” mới nhất của cô ấy (dùng theo từ của DeQuincey), là việc thành lập một cửa hàng ở Luân Đôn chuyên bán – nói theo tiếng Anh thông thường – những ấn phẩm vô thần. Vừa rồi cô ấy đã phàn nàn một cách cay đắng với anh rể tôi rằng bất cứ khi nào cuốn sách ‘Bản chất và sự phát triển của con người’ của cô ấy được hỏi mua, người bán hàng lại lén lút lôi nó ra từ dưới gầm quầy, như thể đang hổ thẹn vì bán nó và sợ hãi kẻo ai đứng cạnh đó cảm thấy bị xúc phạm. Thế nên sẽ có một cửa hàng tọa lạc ngay vị trí trung tâm, ngập tràn các tác phẩm của cô Martineau và August Comte, và Froude – tác giả cuốn ‘Sự sụp đổ của đức tin’; cùng Frank Newman – tác giả cuốn ‘Các giai đoạn của đức tin’, và (như Clough từng nói) thế giới sẽ được đón nhận chân lý khách quan: “Rằng chẳng có Chúa trời nào cả, và Harriet chính là nhà tiên tri của ngài.”

Henry Bright: Thư gửi Nathaniel Hawthorne. ‘Nathaniel Hawthorne and his Wife: a Biography,’ bởi Julian Hawthorne. Boston: James R. Osgood & Co., 1885.

Được chính bà khẳng định.

Tôi không phản đối câu chữ, khi mà mọi người hiểu thấu đáo sự việc như anh; nhưng tôi không phải là kẻ vô thần, theo đúng nghĩa được thừa nhận của thuật ngữ đó. Kẻ vô thần là “người dừng chân ở những nguyên nhân thứ cấp,” kẻ cho rằng những sự vật mà họ biết là do những sự vật khác mà họ biết tạo ra hoặc gây nên. Điều này đối với tôi hoàn toàn là vô nghĩa; và điều đó đã bị Bacon lên án là sự ngu muội của chủ nghĩa vô thần. Tôi không thể tưởng tượng nổi sự vắng mặt của một Nguyên nhân Đầu tiên; nhưng khi đó, tôi lập luận rằng đó không phải là một nhân vị; nghĩa là, điều đó là cực kỳ khó xảy ra, và không có bằng chứng nào chứng minh nó là như vậy. Giờ đây, mặc dù tầng lớp nông cạn, dốt nát và đầy thành kiến sẽ không nhìn ra sự khác biệt này, anh thì có; và anh sẽ thấy rõ ràng rằng vẫn còn lại những khoảng không gian nào cho sự kinh hoàng và tôn kính dưới đức tin của tôi.

Harriet Martineau: Thư gửi Charlotte Brontë, trong ‘Memorials of Harriet Martineau,’ bởi Maria Weston Chapman.

Lời chứng của Florence Nightingale về cảm xúc tôn giáo của Martineau.

Tôi nghĩ, dẫu có vẻ mâu thuẫn, cô ấy lại mang trong mình cảm xúc tôn giáo chân thực và sâu sắc nhất mà tôi từng biết.... Cho đến tận cuối đời, cảm xúc tôn giáo của cô ấy – theo nghĩa cái thiện chiến thắng cái ác, của một Trí tuệ Tối cao thấu suốt và nhào nặn toàn bộ vũ trụ; sự phục tùng tự nhiên của trí tuệ cho các mục đích của cái thiện, ngay cả khi đó chỉ là những mục đích nhỏ nhoi trong đời sống xã hội hoặc gia đình; – tất cả những điều này, vốn giả định sự tồn tại của một đấng thiêng liêng ngoài chúng ta, cao cả hơn, sâu sắc hơn, tốt đẹp hơn chúng ta và vĩnh cửu hơn, nghĩa là trường tồn, đã hiện hữu quá đỗi mạnh mẽ trong cô ấy – mạnh mẽ đến mức người ta khó lòng giải thích được việc cô ấy (dường như chỉ là) đánh mất tầm nhìn về Trí tuệ và Sự thiện Tối cao ấy trong những năm tháng cuối đời.

Florence Nightingale: Thư gửi Maria Weston Chapman, được xuất bản trong tác phẩm ‘Memorials of Harriet Martineau’ của người sau.

“Nữ thần sấm truyền.”

Hình thể và nét mặt của bà đều gợi cảm giác xa lánh; bà chính là Nữ thần sấm truyền trong mọi vấn đề, và từ ngai vàng của mình là chiếc ghế dài, bà đưa ra những phán quyết không có đường kháng cáo. Bản chất của bà rất cứng nhắc: không có sự hòa nhã, dung túng hay khoan dung. Luôn là một nạn nhân của bệnh tật, điếc đến mức chiếc ống nghe luôn kề bên tai; khuôn mặt thô kệch – một nhược điểm mà chắc chắn bà không hề không ý thức được – cùng vóc dáng cục mịch; bà hoàn toàn không có những ân sủng thu hút đàn ông ở phụ nữ: ngay cả các mối quan hệ bạn bè của bà dường như cũng được đẽo gọt từ đá; bà có lẽ từng khơi gợi sự ngưỡng mộ thật đấy, nhưng với những tình cảm dịu dàng biến người phụ nữ trở thành sinh vật chỉ thấp hơn các thiên thần một bậc thì bà hoàn toàn xa lạ.

S. C. Hall: ‘Retrospect of a Long Life.’ New York: D. Appleton & Co., 1883.

Lời kể của Hawthorne về cô Martineau, năm 1854.

Tôi đã gặp cô Martineau vài tuần trước. Bà là một phụ nữ lớn tuổi, vạm vỡ, lực lưỡng và ăn mặc giản dị, nhưng bù lại, bà sở hữu một khuôn mặt hiền hậu, vui tươi và thông minh đến mức nhìn bà còn dễ chịu hơn hầu hết những mỹ nhân.[Pg 40] Mái tóc bà đã điểm xuyết hoa râm rõ rệt, và bà chẳng hề ngần ngại khi tự gọi mình là người già.... Toàn bộ câu chuyện của bà đều xoay quanh bản thân và các công việc của mình; nhưng nó không mang vẻ ích kỷ, bởi vì điều đó quá đỗi vui tươi và không hề vướng chút bệnh hoạn nào. Và người phụ nữ này lại là một kẻ Vô thần; và nghĩ rằng nguyên lý sự sống sẽ lụi tàn khi thể xác bà nằm xuống lòng mộ! Tôi sẽ không nghĩ thế đâu, dẫu chỉ vì lợi ích của chính bà. Gì cơ! Chỉ có vài cọng cỏ dại mọc lên từ thân tàn ma dại của bà, thay vì để trí tuệ và sự đồng cảm của bà nở hoa kết trái mãi mãi!

Nathaniel Hawthorne: ‘Passages from the English Note-Books.’

Ngôi nhà của bà, “The Knoll.”

Vẻ đẹp của phong cảnh đã khiến bà quyết định chọn vùng hồ nước Anh làm nơi định cư cho mình, và khi không tìm thấy ngôi nhà thích hợp nào đang bỏ trống, bà quyết định tự xây lấy một căn. Bà mua hai mẫu đất, nằm cách ngôi làng Ambleside chưa đầy nửa dặm; vay một ít tiền thế chấp từ một người họ hàng khá giả; tự mình đứng ra chỉ đạo phác thảo bản thiết kế và giám sát quá trình xây dựng ngôi nhà sao cho phù hợp với sở thích của bản thân.

Đó là một ngôi nhà nhỏ xinh xắn có mái nhọn, được xây bằng đá xám và tọa lạc trên một ngọn đồi đá nhỏ – đó chính là nguồn gốc của cái tên “The Knoll” (Gò đất). Nơi đây có đủ diện tích đá để làm móng vững chãi cho ngôi nhà, đồng thời tạo ra một khoảng hiên rộng khoảng hai mươi thước Anh phía trước các cửa sổ, tiếp theo đó là sườn dốc của khối đá. Dưới chân mỏm đá chính là khu vườn. Những bậc đá hẹp ở cả hai đầu hiên dẫn xuống thảm cỏ xanh mướt và những luống hoa; ở chính giữa những khóm hoa ấy là một chiếc đồng hồ mặt trời bằng đá hoa cương xám, khắc câu châm ngôn đặc trưng bao quanh: “Hỡi Ánh sáng! Hãy ghé thăm tôi!”

... Bên trong, “The Knoll” thực sự là một chốn cư ngụ nhỏ nhắn, xinh xắn dành cho một quý cô độc thân cùng gia đình nhỏ của bà, với một căn phòng dành riêng cho những vị khách ghé thăm bất chợt.... Phòng khách có hai cửa sổ lớn, một trong số đó kéo dài sát tận sàn nhà và được bố trí sẵn hai hoặc ba bậc đá bên ngoài, để những người trong nhà có thể dễ dàng bước ra khu vực hiên. Những kẻ săn lùng người nổi tiếng thường có thói quen, vào mùa du lịch, không chỉ đi dạo quanh khu vườn và hiên nhà của bà mà không cần xin phép, mà thậm chí còn trèo lên bậc thềm và bẹp dí chóp mũi vào cửa sổ nhà bà. Sự bất tiện từ việc phải chịu đựng sự quan tâm thân thiện quá đà này là điều mà hầu hết chúng ta đều cảm thấy khó chịu, nhưng đối với cô Martineau thì nó còn nhân lên gấp bội bởi chứng điếc của bà, khiến bà không thể nhận được cảnh báo về sự tiếp cận của những người hâm mộ từ tiếng bước chân lạo xạo trên sỏi đá, để rồi dấu hiệu đầu tiên bà nhận ra sự hiện diện của họ chính là việc quay đầu lại tình cờ và chạm trán ngay chiếc mũi bẹt cùng đôi mắt đang dòm ngó áp sát vào ô cửa kính.

Các nguyên tắc và thực tiễn của bà luôn đi đôi với nhau trong các sắp xếp gia đình cũng như trong toàn bộ cuộc sống nói chung; và căn phòng bếp của bà cũng thoáng đãng, ngập tràn ánh sáng và thoải mái đối với những người hầu không kém gì phòng khách dành cho chính bà. Nhà bếp cũng được trang bị sẵn một tủ sách dành riêng cho thư viện của người hầu. Vẫn còn đó không ít sự quan tâm vương vấn xung quanh phòng khách, nơi Harriet Martineau từng tiếp đón những vị khách quý như Charlotte Brontë, George Eliot, Emerson và Douglas Jerrold.... Những giàn cây leo nhanh chóng phủ kín “The Knoll” ở mọi phía. Cây thường xuân giữ cho ngôi nhà luôn xanh tươi suốt bốn mùa; hiên nhà ngập tràn hoa kim ngân, hoa ông lão, hoa lạc tiên và dây leo Virginia. Wordsworth, Macready và những người bạn nổi tiếng khác đã trồng cây cho Harriet ngay phía dưới khoảng hiên.

Một người nội trợ tháo vát.

Việc quản gia của bà luôn được thực hiện một cách hoàn hảo. Quả thực, đôi khi cả đôi tay lẫn khối óc của chính bà đều được huy động vào đó. Khi ở nhà, ngày nào bà cũng tự tay châm đèn. Bà cũng luôn tự mình phủi bụi cho những cuốn sách của mình. Đôi khi bà còn làm nhiều hơn thế. Không lâu sau khi định cư tại vùng hồ... một người phụ nữ vô cùng kính trọng bà qua các tác phẩm đã đến thăm bà tại ngôi nhà mới, đi cùng là một người bạn nam giới. Khi hai vị khách tiến đến ngôi nhà qua con đường xe chạy, họ nhìn thấy ai đó đang trèo lên một chiếc thang bếp, cọ rửa những ô cửa sổ phòng khách. Đó chính là nữ văn sĩ nổi tiếng! Bà bình thản đi lấy chiếc loa tai của mình để lắng nghe mục đích chuyến thăm của họ; và sau khi họ tự giới thiệu, bà mời họ vào nhà và bước vào một cuộc trò chuyện thú vị về nhiều chủ đề văn học khác nhau. Trước khi ra về, bà giải thích với vẻ thích thú rõ rệt vì bị bắt quả tang đang làm công việc của một cô hầu phòng rằng, thợ xây đã làm việc ở nhà mãi không xong; sáng nay, khi những ô cửa sổ bẩn thỉu lần đầu tiên có thể được lau chùi, thì một người hầu của bà đã bỏ đi lấy chồng thợ mộc, người kia thì đi xem lễ cưới; và thế là nữ chủ nhân, đã quá ngán ngẩm cảnh bẩn thỉu, liền tự mình xắn tay áo vào cọ rửa và đánh bóng những ô cửa sổ.

Cuộc sống tại “The Knoll.”

Bà thức dậy rất sớm; không ít lần vào mùa đông, từ trước khi trời sáng; và lập tức lên đường cho một chuyến đi bộ dài sảng khoái. Đôi khi, tôi được kể lại rằng, bà xuất hiện tại một trang trại cách đó bốn dặm trước khi người ta vắt sữa bò. Bà bưu tá già vẫn nhớ cách mà bà Martineau – khi bà đang sắp xếp những túi thư sớm trong làn sương mờ mờ buổi sớm – bước đến với bó thư từ lớn trên tay, và không bao giờ quên dành một cái gật đầu, nụ cười vui vẻ hay dăm ba câu hỏi han ân cần. “Tôi luôn ra ngoài trước khi trời hửng sáng,” cô Martineau viết cho ông Atkinson... “và vào những buổi sáng đẹp trời, tôi đi lên ngọn đồi phía sau nhà thờ – con đường Kirkstone... Khi mảnh trăng khuyết còn sót lại và ngôi sao mai treo lơ lửng trên đỉnh Wansfell, giữa những tầng mây hổ phách của buổi bình minh đang đến gần, mọi thứ thật tuyệt vời.”... Trở về nhà, bà ăn sáng lúc bảy giờ rưỡi; châm sẵn đèn cho buổi tối và sắp xếp mọi việc gia đình; và đúng tám giờ rưỡi, bà đã ngồi vào bàn làm việc, cặm cụi không bị quấy rầy cho đến hai giờ, thời gian dùng bữa trưa sớm. Những giờ làm việc này là bất khả xâm phạm, bất kể trong nhà có khách hay không. Tuy nhiên, sau bữa trưa, bà hoàn toàn dành trọn thời gian cho các vị khách, nếu có.

Mrs. Fenwick Miller: ‘Harriet Martineau.’

Những buổi tối mùa đông ở Ambleside.

Vào những buổi tối mùa đông, tôi thắp đèn, trải tấm thảm len ra và trầm tư hoặc mơ mộng cho đến khi tiếng báo hiệu của tờ báo cho biết nước trà đã ngấm đủ thời gian.... Sau khi uống trà, nếu có tin tức từ chiến trường, tôi gọi những người hầu gái của mình vào, họ mang tấm bản đồ lớn xuống và cùng tôi nghiên cứu những cơ hội chiến dịch.[Pg 44] Sau đó là một hoặc hai tiếng dành cho Montaigne, Bacon, Shakespeare, Tennyson, hoặc một cuốn tiểu sử cũ kỹ thân thương nào đó, hay cuốn sách mới nhất vừa xuất bản từ Luân Đôn – về lịch sử, đạo đức hay chính trị. Rồi khi cả ngôi nhà và khu vực xung quanh đã chìm vào giấc ngủ, là nửa tiếng dạo bước trên hiên nhà, hoặc nếu thời tiết quá xấu thì đứng ở hiên cửa, nơi tôi hiếm khi nào bước vào mà lại không mang theo một mục đích rõ ràng cho công việc của sáng hôm sau. Tôi tin rằng, nếu không có cuộc sống điền viên nơi thôn dã, phần lớn những lợi ích và niềm vui từ các chuyến du hành cũng như từ việc học tập của tôi đã bị tước đoạt mất. Trên hiên nhà mình, tôi thấy hai thế giới hiện ra rực rỡ trước mắt, ngay cả khi màn đêm buông xuống che khuất khỏi đôi mắt phàm trần mọi thứ ngoại trừ đường nét của những ngọn núi uy nghiêm bao bọc lấy thung lũng của chúng ta ở ba mặt, cùng khoảng không thoáng đạt nhìn ra hồ ở phía nam. Ở một trong hai thế giới đó, giờ đây tôi nhìn thấy bờ biển tuyệt mỹ của bang Massachusetts vào mùa thu, hay những đầm lầy ngập tràn hoa ở Louisiana, những khu rừng ở Georgia vào mùa xuân, hoặc đồng cỏ lộng gió ở Illinois vào mùa hè; hay dòng sông Nile xanh thẳm, ngọn núi Sinai rám nắng, thành phố Petra nguy nga, hay khung cảnh Damascus nhìn từ Salahiey; Đại vận kênh dưới hoàng hôn Venice, Rừng Đen trong chập choạng tối, Malta dưới cái nắng chói chang giữa trưa, sa mạc rộng lớn trải dài dưới bầu trời đầy sao, hay Biển Đỏ tung những vỏ sò tuyệt mỹ lên bờ trong ánh bình minh mờ nhạt. Đó là một thế giới, hoàn toàn nằm gọn trong bức tường hiên nhà tôi, và hiện lên trong ánh sáng theo tiếng gọi của tôi. Thế giới thứ hai, hoành tráng và tinh tế hơn, chính là thế giới của Khoa học, nơi chỉ mới bắt đầu được khám phá.

Harriet Martineau: ‘Autobiography.’

Cô Martineau trong vai trò chủ nhà.

Chiếc xe ngựa đưa tôi đến cổng nhà cô Martineau lúc sáu giờ rưỡi tối hôm qua, và bà đã đứng sẵn ở đó với một khuôn mặt rạng rỡ để chào đón tôi.... Chúng tôi đã cùng nhau đi bộ khắp nơi, ngắm nhìn những ngôi nhà tranh và tận hưởng cảnh sắc núi non bất chấp mưa và sương mù.... Cô M. vô cùng quyến rũ trong ngôi nhà của chính mình – thực sự xinh đẹp nhờ sự hoạt bát và thông minh. Buổi tối hôm nay, cô ấy đã đi vòng ra phía sau tôi, vòng tay ôm lấy tôi và hôn tôi theo cách đáng yêu nhất, nói rằng cô ấy vô cùng vui mừng vì đã kéo được tôi đến đây.

Marian Evans: Thư gửi gia đình Bray, 1852.

Nhiều câu chuyện nhỏ thú vị nhất trong đó [cuốn ‘Tự truyện’ của bà] viết về chính bà và những người khác mà bà từng kể cho tôi nghe, ... khi tôi đang ở cùng bà, và gần như hoàn toàn bằng những từ ngữ y hệt. Nhưng chúng còn tuyệt vời hơn nữa khi được kể lại bằng chất giọng ngân vang như tiếng bạc của bà. Bà là một người trò chuyện vô cùng duyên dáng, và là một quý cô hoàn hảo trong phép tắc của một người chủ nhà.

Marian Evans [Lewes]: Thư gửi Mrs. Bray, 1877. ‘George Eliot’s Life,’ do J. W. Cross biên tập. New York: Harper & Bros., 1885.

Ngoại hình.

Đứng ở hiên cửa chính là cô Martineau. Một người phụ nữ có chiều cao trung bình, “có xu hướng,” như các tiểu thuyết gia hay nói, “đẫy đà một chút,” với một nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt đôn hậu và chiếc ống nghe kè kè bên tai. Vào thời điểm đó, tôi đoán bà khoảng năm mươi tuổi; mái tóc nâu điểm xuyết chút hoa râm, được chải chuốt gọn gàng một cách kỳ lạ phẳng phiu trên vương trán thấp nhưng rộng. Tôi không nghĩ có lúc nào trông bà xinh đẹp cả, nhưng các nét trên khuôn mặt không đến mức khó coi, và biểu cảm của chúng toát lên sự dịu dàng và đôn hậu như người mẹ.

James Payn: ‘Some Literary Recollections.’

Mô tả một bức thư của bà.

Dì Charles đã đọc cho chúng tôi nghe một bức thư vô cùng thông minh từ Harriet Martineau, kết hợp khéo léo hình ảnh của một kẻ nghiện thuốc lá, nhà đạo đức học, nhà kinh tế chính trị, kẻ tám chuyện và một người phụ nữ.

Caroline Fox: Nhật ký (1849). ‘Memories of Old Friends.’ Philadelphia: J. B. Lippincott & Co., 1882.

Hút thuốc.

Mức độ điếc, như tôi đã đề cập, thay đổi thất thường; và bà đã thử mọi loại phương pháp chữa trị. Không ai từng quen biết bà lại nghi ngờ bà có bất kỳ hành vi “phóng khoáng” hay thiếu nữ tính nào, nhưng theo lời khuyên của một nhà khoa học nào đó, bà đã thử hút thuốc.

Xì-gà.

Tôi có đặc quyền được cung cấp riêng cho bà một số loại xì-gà rất nhẹ, và không biết bao nhiêu đêm mùa đông, chúng tôi đã ngồi bên nhau nửa tiếng đồng hồ hoặc hơn thế ở hiên nhà “The Knoll” để hút thuốc. Nếu một số người tử tế là hàng xóm của bà mà hay biết chuyện đó, chúng tôi đã đồng ý rằng, điều đó thực sự sẽ mang lại cho họ khối chuyện để bàn tán. Nếu tôi nhớ không lầm, bà chỉ thử phương pháp chữa bệnh này trong vài tháng, nhưng bà tưởng tượng rằng nó mang lại hiệu quả tích cực cho thính giác của mình. Về phần tôi, tôi chẳng thích gì hơn những buổi tối như thế.

James Payn: ‘Some Literary Recollections.’

Tẩu chibouk.

Những đêm mất ngủ là nguồn gốc của nỗi đau đớn lớn lao đối với bà trong những năm tháng cuối đời này. Dưới sự tư vấn của y khoa, bà thử hút thuốc như một phương pháp để có được giấc ngủ ngon hơn, và đã thu được một chút thành công. Bà thường hút bằng chiếc tẩu chibouk mà bà mang theo khi trở về từ phương Đông, thứ mà bà đã học cách sử dụng ở đó như bà thuật lại với sự đơn giản và trực diện quen thuộc trong phần phụ lục của cuốn ‘Eastern Life’:[Pg 46] “Tôi thấy nó có lợi cho sức khỏe,” bà viết ở đó, “và tôi chẳng thấy lý do gì để bản thân không được hút nó cũng giống như phụ nữ Anh nhấm nháp ly rượu sherry ở nhà – một sự nuông chiều mà tôi không cần đến. Tôi tiếp tục sử dụng chiếc tẩu chibouk trong vài tuần sau khi trở về, và sau đó chỉ từ bỏ vì sự bất tiện của nó.” Bất cứ khi nào sức khỏe và sự thoải mái cần đến nó, bà lại dùng lại.

Mrs. Fenwick Miller: ‘Harriet Martineau.’

Lời kể của Charlotte Brontë về chuyến thăm Ambleside.

Tôi đang ở nhà cô Martineau trong một tuần. Ngôi nhà của cô ấy rất dễ chịu, cả bên trong lẫn bên ngoài; mọi ngóc ngách đều được sắp xếp với sự ngăn nắp và thoải mái đáng ngưỡng mộ. Các vị khách của cô ấy tận hưởng sự tự do tuyệt đối; những gì cô ấy đòi hỏi cho bản thân, cô ấy cũng cho phép họ làm điều tương tự. Tôi thức dậy vào giờ của mình, ăn sáng một mình. Tôi dành buổi sáng ở phòng khách, cô ấy ở phòng làm việc. Đúng hai giờ chúng tôi gặp nhau, trò chuyện và đi bộ cho đến năm giờ – giờ ăn tối của cô ấy – rồi cùng nhau trải qua buổi tối, khi cô ấy trò chuyện trôi chảy, dồi dào và với sự cởi mở hoàn toàn. Tôi về phòng mình ngay sau mười giờ còn cô ấy thức để viết thư. Cô ấy tỏ ra vô cùng dồi dào về thể lực lẫn tinh thần, cùng năng suất lao động không biết mệt mỏi. Cô ấy là một phụ nữ vĩ đại và tuyệt vời; dĩ nhiên không tránh khỏi một vài điểm kỳ quặc, nhưng cho đến nay tôi chưa thấy điều nào làm mình khó chịu cả. Cô ấy vừa cứng rắn lại vừa ấm áp, bộc trực nhưng cũng đầy âu yếm. Tôi tin là cô ấy hoàn toàn không ý thức được sự độc đoán của chính mình. Khi tôi nhắc đến điều đó, cô ấy kịch liệt phủ nhận; và rồi tôi lại phì cười trước cô ấy.

Charlotte Brontë: Thư trong ‘Life of Charlotte Brontë’ của Mrs. Gaskell. London: Smith, Elder & Co., 1857.

Ống nghe tai của bà.

Khiếu hài hước.

Nhờ sự thông minh sắc sảo của bà, tôi thấy thật khó để nhận thức được tình trạng điếc nặng của bà và thường hay bắt chuyện khi bà chưa chuẩn bị sẵn sàng. Bà chưa bao giờ đánh mất sự nhạy cảm trước tính chất vô lý của thói quen này, và giờ đây tôi vẫn có thể nhìn thấy nụ cười trong đôi mắt nhân hậu của bà khi bà chộp lấy chiếc ống nghe. Bà rất thích những trò đùa vui vẻ, ngay cả khi nó nhắm vào chính bản thân mình.... Một sự việc buồn cười đã xảy ra. Tôi đã quá quen thuộc với chiếc ống nghe tai của bà đến mức bắt đầu xem nó như một phần trên cơ thể bà. Nó nằm trên bàn, cách xa bà một khoảng khá lớn, và có đôi điều muốn nói với cô ấy, tôi vô tình hướng câu nói vào cõi vô định của thiết bị thay vì tai của cô ấy. Chúa ơi, chúng tôi đã cười phá lên biết nhường nào! Cô ấy có khiếu hài hước rất sắc sảo, dẫu vậy bản thân cô ấy lại hoàn toàn không hay biết điều đó.

James Payn: ‘Some Literary Recollections.’

“Không thể chỉ phán nhận qua các tác phẩm.”

Về người chủ nhà tốt bụng của mình, tôi không thể dùng những từ ngữ nào quá cao cả để ca ngợi. Dẫu không thể chia sẻ tất cả các quan điểm của cô ấy – dù là triết học, chính trị hay tôn giáo – tôi vẫn nhìn thấy ở bản thân cô ấy một giá trị và tầm vóc vĩ đại, cùng sự nhất quán, lòng nhân ái và tính kiên trì trong hành động, đến mức khơi gợi niềm kính trọng và tình cảm chân thành nhất. Cô ấy không phải là kiểu người có thể bị phán xét chỉ qua các tác phẩm của mình, mà đúng hơn là qua chính những việc làm và cuộc đời của cô ấy, chẳng có gì có thể gương mẫu hay cao quý hơn thế. Việc quản lý gia đình của cô ấy được điều hành vô cùng tuyệt vời; mọi việc cô ấy làm đều hoàn hảo, từ việc viết một cuốn sách lịch sử cho đến công việc nữ công gia chánh thầm lặng nhất. Không có bất kỳ sự cẩu thả hay lơ đễnh nào được dung thứ dưới quyền của cô ấy, và thế nhưng cô ấy không hề quá khắt khe hay đòi hỏi quá mức cay nghiệt; những người hầu và những người hàng xóm nghèo khó đều yêu quý cũng như kính trọng cô ấy.

Charlotte Brontë: Thư trong ‘Life of Charlotte Brontë’ của Mrs. Gaskell.

“Kiêu hãnh, nhưng không hề kiêu ngạo.”

Tôi nghĩ cô ấy kiêu hãnh, nhưng hoàn toàn không hề kiêu ngạo chút nào; và niềm kiêu hãnh ấy chính là ý thức về năng lực, cùng cảm giác vô thức, có thể nói như vậy, về sự chính trực và tính chân thực tuyệt đối... Sự nắm bắt rõ ràng, nhanh nhạy về bản chất và giá trị của một vấn đề chính là thế mạnh của cô ấy, và cô ấy chưa bao giờ nói hay viết về những gì mình không thấu hiểu, đồng thời ngay lập tức nhìn ra cách làm cho một vấn đề hóc búa trở nên dễ hiểu đối với người khác.

Henry G. Atkinson: Thư gửi Maria Weston Chapman, được xuất bản trong tác phẩm ‘Memorials of Harriet Martineau’ của người sau.

Tính ích kỷ của bà.

Quan niệm của bà về thiên đường.

Chẳng phải hầu như tất cả các tác giả viết tự truyện gần đây đều là những kẻ ích kỷ đó sao? Rất nhiều tác phẩm như vậy đã xuất hiện trong mười năm qua, và lập trường của người viết tự truyện trong hầu hết mọi trường hợp đều giống nhau – cụ thể là Chúa đã làm một việc tuyệt vời khi tạo ra anh ta; nhưng việc Ngài tạo ra bất kỳ ai khác, và quan tâm đến cá nhân người đó nhiều bằng sự quan tâm mà Ngài dành cho tác giả tự truyện, lại là một mệnh đề mà anh ta không tài nào ép mình cân nhắc dẫu chỉ trong một khoảnh khắc. Hai cuốn sách thể hiện rõ quan điểm này chính là tự truyện của John Quincy Adams và cô Harriet Martineau. Carlyle chỉ là một kẻ ích kỷ ôn hòa khi đứng cạnh những cây bút này. Adams không nói về bản thân như một cá nhân, mà như một sứ mệnh mà ông đã dấn thân. Trong số hai người, cô Martineau là kẻ ngây thơ hơn cả. Cô ấy muốn sắp xếp toàn bộ thế giới hoàn toàn theo quan điểm của riêng mình. Ví dụ, cô ấy từng chỉ trích cố Lãnh chúa Lytton, chỉ vì ông ấy không mang theo ống nghe tai. Lãnh chúa Lytton bị điếc, và thích không mang ống nghe tai hơn. Cô Martineau cũng bị điếc, và có mang theo một chiếc. Cô ấy không tin vào sự bất tử của linh hồn, và tỏ ra vô cùng cay nghiệt với bất kỳ ai có quan điểm ngược lại. Thiên đường của cô ấy, nếu niềm tin cho phép cô ấy có một cái, hẳn sẽ là một nơi mà mọi người đều ngồi vòng quanh với những chiếc ống nghe tai và chế giễu học thuyết về sự bất tử của linh hồn.

—— ——: ‘Zweibak: or, Notes of a Professional Exile,’ trên tạp chí The Century, tháng 2 năm 1886.

Lập trường cao cả của bà trong vấn đề tiền bạc.

Ai cũng biết rằng một khoản lương hưu từng được đề nghị trao cho bà bởi ba vị Thủ tướng liên tiếp – Bá tước Grey, Lãnh chúa John Russell và ông Gladstone – những người mà giống như Caesar, bà “đã từ chối ba lần,” bởi vì việc đó đi ngược lại các nguyên tắc của bà khi gánh vác lên vai Nhà nước bất kỳ nghĩa vụ nào như vậy. Thế nhưng bà lại hoàn toàn phụ thuộc vào chiếc ngòi bút mỏng manh đó để duy trì sinh kế.

James Payn: ‘Some Literary Recollections.’

Công việc thêu thùa của bà.

Bà có sự yêu thích đặc biệt đối với công việc này [thêu thùa] và tiếp tục thực hiện nó suốt cả cuộc đời mình. Rất nhiều bạn bè của bà có thể trưng bày những tác phẩm thủ công khéo léo tuyệt đẹp do chính đôi tay bà thực hiện. Hết lần này đến lần khác, bà đóng góp cho các mục đích công cộng bằng cách gửi một tác phẩm thêu thủ công tuyệt đẹp của mình để bán lấy tiền gây quỹ cho các tổ chức xã hội. Ngay cả trong giai đoạn bận rộn nhất của sự nghiệp văn chương, bà chưa bao giờ hoàn toàn ngừng rèn luyện kỹ năng của mình trong công việc đậm chất nữ tính này. Thực chất, bà coi nghệ thuật thêu len là một hình thức giải trí nghệ thuật của bản thân.

Mrs. Fenwick Miller: ‘Harriet Martineau.’

Một câu chuyện ở Ambleside.

Đã từng có thời điểm quyền đi lại qua những cánh đồng (tôi nghĩ là một phần của Rydal Park) ở vùng phụ cận Ambleside bị tranh chấp, và chủ sở hữu đã đóng cửa không cho công chúng qua lại. Cô Martineau, dẫu là một nhà hoạt động nhân đạo trên diện rộng, cũng có thể (một điều không phổ biến ở tầng lớp đó) nhặt một cây kim vì lý do tự do, và đóng vai trò như một anh hùng Hampden của làng. Khi những người hàng xóm khác chùn bước trước cuộc đối đầu với vị Lãnh chúa vùng điền trang này, bà đã đứng ra thay họ gác kiếm, và “chống lại tên bạo chúa nhỏ bé của những cánh đồng ấy.” Chỉ một mình bà, tất nhiên không phải “với cây cung giương cao và ống tên đầy ắp,” mà với chiếc ống nghe tai và ô che mưa, thực hiện chuyến đi bộ qua vùng đất bị cấm đoán như thường lệ. Ngay lập tức, vị lãnh chúa độc ác đó (câu chuyện được truyền tụng là thế, mặc dù tôi chưa từng nghe chính miệng bà kể) đã thả một con bò đực tơ vào cánh đồng. Nó tấn công kẻ xâm phạm, hoặc ít nhất là chuẩn bị tấn công bà, nhưng người phụ nữ bất khuất ấy vẫn đối mặt và đứng vững chân tại chỗ. Bà hoàn toàn đủ khả năng làm điều đó, bởi vì bà có lòng dũng cảm bảo vệ quan điểm của mình... và dẫu sao đi nữa, dù là do ngạc nhiên trước sự cả gan của bà hay vì khiếp sợ chiếc ống nghe tai (thứ mà dĩ nhiên nó chẳng có gì để đối đáp), cuối cùng con bò đực cũng rút lui sự kháng cự và cho phép bà tiếp tục bước đi trong hòa bình. Ước gì tôi có thể nói rằng bà có được may mắn của một nữ anh hùng ái quốc khác là “xóa bỏ được khoản thuế,” nhưng tôi e rằng vị lãnh chúa độc ác kia đã đạt được mục đích của hắn. Tuy nhiên, không chỉ một lần, người ta đã chỉ cho tôi thấy phía bên kia bức tường – bởi vì con bò đực vẫn ở đó – gò đất nhỏ nơi mà với thứ vũ khí duy nhất là chiếc ống nghe tai (bởi vì bà cầm ô che trên đầu suốt thời gian đó để tránh nắng), người phụ nữ gan dạ ấy đã chống lại kẻ thù khủng khiếp.

James Payn: ‘Some Literary Recollections.’

Một người hàng xóm tốt.

Tôi rất vui khi nhận ra rằng, bất chấp những tà thuyết của bà, những người dân lao động bình thường ở Ambleside vẫn giữ lại trong ký ức hình ảnh dịu dàng và đầy ân tình về bà. Bà là một người hàng xóm tốt bụng, bác ái với tất cả mọi người, ân cần với những kẻ thất học, chưa từng tỏ ra cay nghiệt hay nổi cáu, luôn vui tươi và hạnh phúc tựa như những đóa hồng và dây thường xuân quanh “The Knoll” mà bà vô cùng yêu quý.

Moncure D. Conway, trên tạp chí Harper’s Magazine, tháng 1 năm 1881.

Phương pháp làm việc của bà.

Tôi từng viết ra những nét chữ thô tục, nguệch ngoạc, rối rắm và bừa bộn cho đến khi bước qua tuổi đôi mươi; cho đến khi sự nghiệp cầm bút khiến tôi quên đi hình thức để tập trung vào nội dung, và mang lại sự tự do cho đôi tay tôi. Sau đó thì tôi làm rất tốt, ban đầu được thợ sắp chữ khen ngợi về độ rõ ràng, và theo thời gian là cả những phẩm chất khác... Tôi nhận ra rằng việc sao chép lại những gì mình đã viết là không ổn, và đã vĩnh viễn từ bỏ thói quen đó – qua đó tiết kiệm được một lượng thời gian khổng lồ mà tôi một cách khiêm tốn nghĩ rằng đang bị lãng phí bởi những tác giả khác. Chẳng có ích gì khi chép lại nó cả. Tôi không sửa đổi; và nếu có khi nào sửa, tôi lại phải đổi ngược lại như cũ; và tôi, một lần là mãi mãi, cam kết chỉ dùng một bản duy nhất... Tôi vẫn luôn áp dụng một phương pháp viết duy nhất từ trước đến nay. Tôi luôn chắc chắn về những gì mình định nói, và rồi cứ thế viết ra mà không hề bận tâm hay lo lắng – chỉ liếc lại nó để xem có từ nào bị bỏ sót hay lặp lại hay không, chứ không hề sửa dù chỉ một cụm từ trong toàn bộ tác phẩm. Tôi đề cập điều này bởi vì tôi nhận thấy rằng tai họa lớn lao phát sinh từ quan niệm cho rằng việc chắp vá ở bước thứ hai sẽ bù đắp cho sự cẩu thả ở bước đầu tiên... Tận tâm hiến dâng sức lực tốt nhất cho công việc luôn là phương châm của tôi, và vì thế những giờ phút buổi sáng luôn là khoảng thời gian thiêng liêng dành cho nó ngay từ thủa ban đầu. Tôi không bao giờ trải qua một ngày nào mà không viết, và việc viết lách luôn được thực hiện vào buổi sáng. Tôi rất hiếm khi viết bất cứ thứ gì nghiêm túc hơn thư từ dưới ánh đèn nến. [Trong thời gian thực hiện bộ ‘Truyện Kinh tế Chính trị’] trung bình mỗi ngày tôi viết mười hai trang giấy viết thư loại lớn (khổ quarto, tôi tin là người ta gọi vậy), mỗi trang chứa ba mươi ba dòng.

Bàn làm việc, v.v.

Cuộc chiến tranh sắp bùng nổ [1853] khiến một bài viết về Chính sách Đối ngoại của nước Anh cho tạp chí Westminster Review trở nên vô cùng cần thiết, và tôi đã đồng ý thực hiện nó. Tôi đã đến nhà vị biên tập viên vì mục đích đó... Khi tiếp quản căn phòng ở đó và phát hiện ra một chiếc bàn làm việc tuyệt vời trên bàn của mình, với độ dốc vô cùng tiện lợi và chiều cao lý tưởng để viết lách mà không bị mỏi, tôi chợt nhận ra rằng trong suốt hành trình lao động văn chương kéo dài gần ba mươi lăm năm của mình, chưa có lấy một lần tôi nghĩ đến việc sắm cho bản thân một chiếc bàn làm việc đúng nghĩa, chuyên nghiệp. Tôi vẫn luôn viết trên giấy thấm, trên một mặt bàn phẳng, ngoại trừ những lúc lười biếng vào mùa đông, tôi viết giống như những người bị cận thị (như bà Somerville và “Currer Bell” vẫn luôn làm), trên một tấm ván hoặc vật gì đó cứng cáp được giữ bằng tay trái. Tôi đã viết phần lớn bộ ‘Kinh tế Chính trị’ theo cách đó, và bằng bút sắt... nhưng nó thực sự bất tiện về mặt cơ bản; và kể từ đó trở đi, tôi luôn viết trên bàn và bằng bút lông ngỗng. Giờ đây tôi sẽ bắt đầu một phương pháp mới mẻ và xa hoa – đúng lúc, tình cờ thay, lại là vào giai đoạn cuối của sự nghiệp văn chương đời tôi. Ông Chapman đã kiếm cho tôi một chiếc bàn làm việc hạng nhất ở phố Chancery-lane, với đầy đủ mọi sự tiện nghi, mang hình dáng chuẩn mực về mặt công thái học; và hơn thế nữa, một số loại giấy của Pháp với đủ mọi kích cỡ, thứ đã làm hư hỏng tôi trước tất cả các loại giấy khác; mực viết tương ứng; và một dụng cụ gọt ngòi bút mang phong cách thủ công Pháp, rất phù hợp với đôi mắt lúc bấy giờ đang cảm nhận những hậu quả từ tuổi tác và việc làm việc quá sức.

Harriet Martineau: ‘Autobiography.’

Hình thức của bản thảo.

Tôi từng tận mắt nhìn thấy bản thảo gốc của một trong những tập ‘Truyện Kinh tế Chính trị’. Chữ viết rõ ràng được thực hiện nhanh nhất có thể theo nhịp di chuyển của bàn tay; mọi từ ngữ nào có thể viết tắt đều được viết tắt để tiết kiệm thời gian. “Socy.,” “opporty.,” “agst.,” “abt.,” “independce.,” đây là một trong số những chữ viết tắt được giao phó cho sự thông minh của thợ sắp chữ; chưa kể đến những từ phổ biến và đơn giản hơn, chẳng hạn như “wh.,” “wd.,” và tương tự thế. Nét chữ, dẫu rất dễ đọc, lại mang một vẻ ngoài có phần cẩu thả, nhếch nhác. Do đó, hiện hữu đầy đủ mọi dấu hiệu của quá trình sáng tác cực kỳ nhanh chóng. Thế nhưng các vết sửa chữa trên bản thảo lại rất ít và vô cùng vụn vặt; cấu trúc của câu chưa bao giờ bị thay đổi, và hiếm khi có sự tu chỉnh ngay cả đối với các từ khóa chính. Bản thảo được viết (bất chấp luật lệ và trật tự) ở cả hai mặt giấy.

Mrs. Fenwick Miller: ‘Harriet Martineau.’

Những biến động tâm lý về công việc.

Những biến động tâm lý mà tôi trải qua đối với mỗi tập sách của mình đều đều đặn chẳng khác nào thủy triều. Tôi bừng cháy với ý tưởng ban đầu và tin rằng mình đã tìm ra một kho báu. Sau đó, trong quá trình làm việc, tôi lúc thì ngưỡng mộ lúc lại khinh miệt những gì mình viết. Khi hoàn thành, tôi rơi vào sự tuyệt vọng cùng cực; và rồi, khi nhìn thấy nó xuất hiện trên bản in, tôi lại ngạc nhiên khi thấy nó trông tuyệt vời làm sao.

Harriet Martineau: ‘Autobiography.’

George Eliot viết về ‘Những cậu bé ở Crofton’.

Thật là một tác phẩm nhỏ bé tinh tế làm sao cuốn ‘Những cậu bé ở Crofton’ của Harriet Martineau! Tôi đã có những giọt nước mắt thật tuyệt vời khi đọc nó. Có hai hoặc ba dòng trong đó đủ sức nuôi dưỡng tâm hồn một người suốt cả tháng trời. Mẹ của Hugh nói với cậu, khi nhắc đến những con người mang nỗi buồn vĩnh cửu, “Họ sớm có được một niềm vui mới mẻ và ngọt ngào, thứ mà không ai ngoài những kẻ từng chịu đựng sự thất vọng cay đắng mới có thể cảm nhận được – niềm vui khi thức tỉnh tâm hồn để gánh chịu nỗi đau, và thầm lặng đồng thuận với Chúa, khi chẳng ai thấu hiểu những gì ẩn chứa trong trái tim họ.”

Marian Evans: Thư gửi Mrs. Bray, 1845. ‘George Eliot’s Life,’ do J. W. Cross biên tập.

Carlyle viết về ‘Deerbrook’.

Mọi người hỏi rằng anh nghĩ thế nào về nó [Deerbrook]? Đối với câu hỏi đó, có những câu trả lời nghiêm túc có thể đáp lại, nhưng hiếm có câu nào tuyệt vời bằng sự im lặng.

Thomas Carlyle: Thư gửi Emerson, ngày 17 tháng 4 năm 1839.

Bàn về ‘Thời gian và Con người.’

Cô Harriet đáng kính hiện không được khỏe; nhưng vẫn giữ vững một trái tim vô cùng kiên cường. Cô ấy sống bên bờ biển Northumbrian xanh thẳm tuyệt đẹp; một chốn tĩnh lặng “muôn vàn âm vang” mà tôi thường xuyên ganh tị với cô ấy. Cô ấy viết lách không mệt mỏi... Cậu đã thấy nhân vật Toussaint lơ-Uverture của cô ấy chứ; cách cô ấy nhào nặn nên một “Washington da đen” tuyệt đẹp đến thế... từ một gã Nô lệ da đen cục mịch, nhẫn tâm, nửa ú ớ, ba hoa; và từ một pha tồi tệ nhất mà phong trào ‘Sansculottism’ có thể trưng ra, một phong trào Sansculottism da đen, hóa thành một vở Opera hay Oratorio âm nhạc trong chiếc tất hồng! Điều đó thật tuyệt vời. Đẹp đẽ như trái tim một đứa trẻ – và lại nằm trong một cái đầu sắc sảo nhường ấy. Cô ấy hiện đang viết chuyên mục Truyện thiếu nhi, thứ mà tôi tính toán là mình sẽ thấy còn hoàn hảo hơn nữa.

Thomas Carlyle: Thư gửi Emerson, ngày 21 tháng 2 năm 1841. ‘Correspondence of T. Carlyle and R. W. Emerson.’

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.