Ba Lần Xuống Tóc

Lượt đọc: 41 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MƯỜI BỐN

❊ ❊ ❊

Mẫn bị bắt lại. Thật lạ lùng. Người thuộc đường phố nhất thì lại lạc đường. Nhập nhoạng thế nào Mẫn lại đâm vào ổ phục kích của chúng ở một góc khuất sau bốt điện. Khi vào lại nhà tù rồi Mẫn mới biết là Rãng đã thoát. Trong số những người bị bắt lại, không có Rãng. Mẫn mừng cho người chỉ huy cũ của mình đã thoát nạn. Với anh chắc mẩm thế nào cũng chết. Án tử hình cũ chưa xong giờ lại thêm cái án trốn ngục nữa có lẽ bọn chúng phải xử anh tới hai lần chết. Nhưng cũng lại may. Sau tiếng vang của cuộc vượt ngục, phong trào đấu tranh đòi giảm án cho tù chính trị ở chính quốc và thuộc địa sôi sục hẳn lên khiến nhà cầm quyền phải xem xét lại một số vụ án. Cũng từ việc này mà Mẫn và một số đồng chí khác được giảm hình phạt. Mẫn từ án tử hình được hạ xuống chung thân và bị Tây đưa đi đày ở nhà tù Côn Đảo. Hiệp nghị Giơ-ne-vơ kí kết, hoà bình được lập lại, Mẫn được ra tù và trao trả về miền Bắc. Trong không khí tự do của nửa nước được giải phóng anh đã dành thời gian đi tìm lại đồng đội cũ, những người đã một thời lửa máu với mình.

Trong số họ, anh quan tâm nhiều nhất đến Rãng, thủ trưởng cũ của mình cũng là người đầu tiên dìu dắt đưa anh vào kháng chiến.

Mẫn tìm đường về quê Rãng. Gặp bạn của con, bố mẹ Rãng không vui mà chỉ thấy buồn. Ông cụ nói:

- Nó về nhà được hơn năm rồi đi biệt. Lúc ấy là sắp giải phóng. Khi nó về, làng đã lập khu du kích rồi...

Mẫn cẩn thận, rào đón:

- Anh Rãng có nói là ở đâu về không ạ?

Sở dĩ Mẫn phải hỏi câu này là do thời điểm Rãng về quê so với thời điểm Rãng trốn tù cách nhau rất dài, hàng năm. Thời gian cách quãng ấy là thời gian lưu lạc của một người tù trốn.

Bà cụ thở dài:

- Tôi có hỏi em, nó bảo con trốn tù về. Nó cũng có lên báo cáo với xã việc này.

- Thời gian ở quê anh Rãng có tham gia công tác gì ở xã không ạ?

Ông cụ lắc đầu:

- Không. Lúc mới về Rãng có lên xã vài ba lần sau đó thì thôi. Suốt ngày chỉ thấy nó cuốc vườn, trồng cây. Tôi có bảo sao không lên xã xin lấy công việc gì làm cho đỡ rỗi chân, rỗi tay nó chỉ cười và lắc đầu, ít lâu sau nữa là nó bỏ nhà đi.

Mẫn thấy gai gai trong đầu. Người anh như lên cơn sốt. Từ dạo ra tù đến giờ anh thường vậy khi có điều gì cấn cá phải nghĩ ngợi. Bố mẹ Rãng không nói nhiều về con mình nhưng qua những gì hai cụ kể anh biết Rãng đang có điều gì đó rắc rối, không thuận. Kinh nghiệm hoạt động, kinh nghiệm ở tù đã cho anh những phỏng đoán này. Tuy vậy, anh vẫn tin, dù có thế nào Rãng vẫn là Rãng. Con người ấy sâu sắc, cơ chỉ và bền chắc không dễ gì có thể lay chuyển, thay đổi.

- Thưa hai bác. Cháu với anh Rãng sinh tử với nhau ngay từ hồi Toàn quốc kháng chiến kia. Rồi, số phận dun dủi thế nào lại cùng ở tù, cùng mang án chết, cùng trốn ngục. Lúc chui cống ra hai anh em cứ nghĩ sẽ lại được sát cánh cùng nhau chiến đấu nào ngờ... Kẻ thuộc đường bị Tây bắt lại, đứa lạ phố lại trốn thoát. Nay hoà bình, đồng đội muốn tìm lại nhau thì anh ấy đã biền biệt. Cháu muốn gặp lại anh Rãng quá hai bác ạ!

Bà cụ chấm nước mắt:

- Cám ơn anh đã có tình với em. Bố mẹ nào lại muốn con như thế. Nó bỏ đi mà không đãi đằng với bố mẹ một câu. Lúc đi, nó chỉ nói, mẹ đừng lo gì cho con cả. Bố có hỏi mẹ cũng nói vậy giúp con. Ông cụ hay nghĩ ngợi, con không muốn bố phải lo nhiều về con. Chỉ có thế rồi nó biền biệt từ ấy đến giờ.

- Anh ấy có nói là ở đâu không ạ?

Bà cự lắc đầu:

- Nó kín lắm. Cuối năm ngoái có một tin khiến tôi giật mình. Người ta nói hình như anh Rãng nhà cụ đi tu. Tôi không tin. Lại có người bảo đã gặp thằng Rãng nhà này ở cái chùa nào đấy ở mạn Nam phía bên kia sông. Tôi thì nghe là nghe vậy, không bàn ra bàn vào, nhưng ruột thì như có ai vò nhàu.

Ông cụ nói từng tiếng một:

- Đau lắm anh ạ! Đi kháng chiến ngần ấy năm, vào tù ra tội như vậy mà hoà bình về lại đi tu.

Ông cụ lắc đầu tiếp. Bà cụ như nhớ ra điều gì, nói ngay:

- Tôi nhớ ra rồi. Em có kể cho tôi nghe, lúc trốn tù có về tá túc ở chùa Nhuệ một thời gian. Hay là giờ nó lại về chỗ ấy...?

Một tia hy vọng loé ra từ câu chuyện. Mẫn mừng thầm và hỏi lại:

- Chùa Nhuệ hả bác?

- Nó nói vậy. Mà thế cũng nên. Đấy, cuối năm ngoái đấy, người ta đồn, tôi không tin nên nhãng đi. Hay là anh cứ thử đến đấy tìm xem. Ở bên kia sông, mạn phía Nam ấy, cũng xa lắm.

Lời mách bảo của bà cụ hay là linh cảm hiệu nghiệm của tấm lòng một người mẹ đã giúp Mẫn tìm ra Rãng ở chùa Nhuệ. Lúc này Rãng đã là sư bác.

Sư thầy Đàm Hải nói với Mẫn:

- Cậu ấy cứ nằng nặc xin nhà chùa cho được tu lại. Tôi bảo, hoà bình được lập lại rồi, cậu còn trai trẻ phải đi mà tham gia công tác, chứ đi ẩn trong cửa chùa làm sao được. Cậu ấy chỉ lắc đầu bảo với tôi, tu là cõi phúc, chị cho em xuống tóc quy y lại. Tôi hỏi vì sao phải làm như vậy, cậu ấy chỉ lắc đầu không nói.

-Hà hà...

- Thí chủ bảo sao...

- Dạ, bạch thầy không ạ!

Mẫn tìm cách trò chuyện riêng với Rãng. Từ lúc vào chùa gặp nhau, sau sự vui vẻ thông thường, Rãng thường tránh trả lời những câu hỏi của Mẫn có liên quan đến chuyện đi tu của mình. Mẫn vốn trực tính không chịu được sự im lặng đến thái quá này của Rãng, đã nói:

- Trước đây anh có thế này đâu. Lì quá!

- Tôi vẫn lì đấy chứ.

- Đấy là lì trước giặc, lì trước kẻ thù. Với đồng đội, với chúng tôi nào anh có thế...

- Thuở ấy khác giờ khác!

- Khác là khác thế nào. Vẫn áo vải cờ đào...

Rãng cười. Cái đầu trọc của anh lấm tấm mồ hôi. Nhìn bộ nâu sồng anh mặc trên người Mẫn có cảm giác chẳng giống tí nào so với người đội trưởng lanh lợi, hóm hỉnh khi xưa. Riêng Mẫn thì Rãng lại nhìn anh với cái nhìn nguyên vẹn.

- Mẫn vẫn như xưa chả khác tí nào!

Mẫn gật gù:

- Tôi có cho vào cối giã nhừ cũng không lẫn.

- Cậu suôn sẻ hơn mình.

- Anh thì không suôn sẻ? Tôi không tin!

Rãng cười:

- Thôi, ông tướng ạ, đừng lục vấn nhau nữa. Cứ để mình tu tiếp cho tròn quả phúc.

Mẫn kiên quyết:

- Tôi không buông tha anh đâu nếu anh không nói cho tôi biết lí do.

- Tìm mà làm gì. Chuyện đã cũ cứ cho nó cũ đi. Mọi việc rồi sẽ qua. Mình nghĩ, chẳng có gì quan trọng hơn cái tâm mình đang sống. Mình hiểu mình là cái gì trước tiên. Chính vì sự giác ngộ đó mà tôi tìm đến mái chùa này. Xưa, sư thầy đã cưu mang che chở tôi lúc hoạn nạn. Vì công việc chung tôi đã xuống tóc đi tu.

Mẫn cười đáp:

- Nay thì không phải. Chẳng có cái chung nào xui anh về lại mái chùa này.

- Có đấy.

- Tôi cứ nghĩ anh về lại chùa Nhuệ chỉ là để tạ ơn sư thầy.

- Mới đầu tôi cũng nghĩ thế. Nào ngờ...

- Lý do?

- Mẫn đừng hỏi gì. Cứ cho phép mình như thế này. Im lặng là vàng. Tôi nghĩ là tôi chọn đúng.

Mẫn nhắm nghiền mắt. Trên đôi gò má còn xanh của anh lăn ra hạt giọt nước mắt. Rãng nhìn nó mà cảm giác như đôi viên sỏi nhỏ vừa lăn ra khỏi hốc mắt của đồng đội mình. Nỗi đau buồn của bạn vì mình đã khiến Rãng thấy gan ruột cuộn lại như có ai đang cuốn thừng.

- Mình xin lỗi Mẫn.

Mẫn nắm chặt hai tay đấm vào mặt mình:

- Anh xin lỗi gì tôi. Anh có lỗi gì đâu mà phải xin. Bây giờ thì sạch bong rồi. Sạch sành sanh. Một chút tơ vương cũng không. Còn tôi, từ lúc ở tù Côn Đảo về cứ ao ước tìm lại được anh, thấy lại được anh.

Rãng lấy ngón tay trỏ xoa xoa lỗ mũi, trầm ngâm:

- Khi ấy bị bắt lại như Mẫn mà hay.

- Trốn tù vào lại tù mà lại hay?

- Ít ra là đúng với mình.

- Tôi không hiểu.

- Có thế thật. Ai đó bảo, có lội sông mới biết sông sâu, có lên rừng mới hay ghềnh thác. Mẫn không ở hoàn cảnh như mình làm sao có suy nghĩ giống mình được.

- Thì ta vẫn phải có những cái chung chứ. Nếu không có những cái ấy ngồi chung với nhau một mâm, đứng chung với nhau một hàng, cùm chung với nhau một gông làm sao được.

Rãng cười:

- Mẫn như chính trị viên đại đội ấy.

- Còn anh?

Rãng để tay trước ngực:

- Mô Phật!

- Thầy Hải bảo căn số của anh không phải là căn số đi tu. Anh không bao giờ thoát tục được.

- Mình coi sư thầy Hải như chị ruột. Lần này nữa thầy lại hồi sinh cho mình. Lúc mới đến chị mình mừng đến rơi nước mắt. Thầy bảo, lúc tên lý trưởng xông vào buồng sư chị cứ sợ cậu không chạy kịp. Sau đó nghe tin có người bắt ở chỗ kia bắn ở chỗ nọ, gan ruột chị như có ai đốt. Giờ gặp lại được cậu đây rồi chị mừng quá. Đúng là Trời Phật có mắt, lúc nào người cũng độ trì cho những kẻ hiền lành, phúc đức. Chị lo chẳng còn được gặp cậu lại sợ mắc tội vì chùa mà cậu bị bắt. Nay gặp được cậu đây rồi, chị như người được sống lại.

Rãng đang muốn dài dòng giãi bày. Anh muốn làm loãng cái ý định mà Mẫn đang muốn hỏi. Nào có hay ho gì khi nói về mình. Kẻ gặp vận may nói nhiều còn bị thiên hạ chê cười huống chi mình là đứa đang cơn lận đận.

- Anh lại vòng vo Tam Quốc rồi. Mẫn nói cho anh Rãng biết, tôi đến đây là để hỏi cho rõ đầu đuôi. Anh không nói Mẫn không về đâu.

- Cậu cứ ở ăn cơm chay của chùa. Bao lâu cũng được. Chỉ sợ Mẫn tiết canh lòng lợn không chịu nổi. Còn chuyện kia, Mẫn muốn hiểu nên đi hỏi người khác, những chỗ có liên quan. Tốt nhất là thôi...

- Tôi muốn hỏi chính anh.

- Vì sao?

- Vì tôi tin anh. Người như anh không thể có điều gì vẩn đục được. Anh không nói là anh có tội với chính lương tâm anh đấy. Mặt anh vuông vức, tĩnh tại như thế này làm sao có thể xấu được. Im lặng tuỳ lúc. Còn im lặng mãi kiểu này khác nào anh vô tình tiếp tay cho sự gian dối hoành hành.

- Anh phải nói. Vì máu xương của đồng đội, của chính mình anh phải nói.

- Tôi là người không ưa thanh minh.

- Sao lại thanh minh. Đây là lịch sử. Anh là lịch sử. Chúng ta là lịch sử.

Giọng Mẫn như giọng một nhà hùng biện. Mắt anh quắc lên như hai lưỡi mác vừa được mài. Đôi mắt ấy đang truyền dũng khí cho Rãng, bắt anh tự tìm lại mình, đúng ra là khơi dậy trong Rãng mạch nguồn nóng hổi của bản lĩnh mà lâu nay vì những lý do nào đấy anh đóng băng, hoá đá. Giờ đã đến lúc cái ngôi nhà kín cổng, cao tường có tên là Rãng kia phải chuyển động.

- Xin lỗi anh vì những lời đao to, búa lớn của Mẫn. Vẫn biết anh là người lặng lẽ, kín đáo. Vẫn biết anh là con nhà võ thật nhưng thường ứng xử bằng tư chất kẻ sĩ. Anh là thỏi thép nguội. Thật phí nếu nó bị lãng quên, hoen gỉ.

- Mô Phật. Mẫn đừng nói nữa. Cao sang quá. Mình sao được như vậy mà Rãng nói vậy. Mình chỉ là mấy cành tre rào ở vườn chùa thôi bạn ạ!

- Gì thì gì cũng được nhưng anh phải nói. Phải nói anh Rãng ạ, nếu anh không muốn biến anh thành một thằng hèn và tôi thành một kẻ ngu ngốc, bội bạc.

Mẫn nức lên. Anh khóc. Đá và sắt đã phải chảy nước mắt. Sự gan lì của Rãng liệu còn trụ bám? Tính tình thẳng băng, phẩm hạnh như vàng ròng, bạc nén của Mẫn đã khiến Rãng phải trừng mắt nhìn thẳng, cái nhìn không một chút hư vô mà vào chính cuộc đời mình...

Thời gian như từng chiếc mo nang lột vỏ để lộ ra những thân tre. Rãng cay nghiệt tìm lại dấu chân mình sau buổi từ biệt con đò và ông lão kéo vó nhân nghĩa. Ông lão như ông Bụt. Từ con đò ông Bụt ấy Rãng về lại cuộc đời. Cũng từ đấy những khuất khúc của một tù nhân trốn ngục lại bộ hành cùng anh.

Đường về quê nghẽn lối. Giặc lập vành đai kiểm soát ngặt nghèo người qua lại nơi giáp ranh. Với cảnh không giấy tờ như Rãng thật khó có thể qua. Ngoài bốt gác, đồn canh, giặc giăng dây thép gai và chôn mìn. Giữa vùng địch tạm chiếm và khu du kích chỉ cách nhau một con sông nhỏ. Hai bên bờ sông vắng tanh bóng người. Đây là vùng đất chết. Nhiều đêm mèo hoang, chuột đồng chạy qua cạm bẫy khiến mìn nổ làm cả vùng lộng óc. Cơ sự này có đi đêm cũng chẳng lọt. Nghĩ vậy Rãng tìm cách lân la vào mấy quán ven đường thăm dò để chốt lại rồi từ đó mà tìm cách vượt vành đai trắng an toàn.

Có một quán cơm kiêm quán giải khát có tên gọi Quán cô Bùa. Tên quán gắn với tên cô chủ quán. Bùa tuổi ngót ba mươi da bánh mật, đầy đặn, xinh giòn. Từ ngày có quán khách vào ra nườm nượp. Đây là chỗ khách gặp gỡ làm ăn giữa hai vùng. Họ chọn nơi nghỉ ngơi, ăn uống, chỗ giao dịch, chỗ xuất phát. Tất nhiên, chuyện này chỉ xì xào to nhỏ vì đa phần là dân buôn bán giữa hai vùng. Bề ngoài chỉ là ăn uống còn bên trong là công việc. Ngồi ăn một bát phở ở đây, từ một góc khuất, nhẩn nha ăn, nhẩn nha nghe ngóng Rãng đã nhận ra điều này. Riêng cô chủ quán thì lúc nào cũng roi rói như hoa vừa nở. Môi cười, mắt cũng cười. Riêng giọng nói thì cứ như mía đang độ heo may rót mật vào tai khách hàng.

- Quan bác cần thêm đồ uống gì không ạ?

- Bà chị ăn phở của em có thấy gì đặc biệt không? Nước dùng gia truyền đấy ạ.

- Anh trai ơi, lần sau về lại vào quán em nhé.

- Dạ, em ra đây ạ. Các thầy dạy gì em xin dạ điều đó ạ.

Đại khái là như vậy. Cô chủ quán vâng mọi chỗ, dạ mọi chỗ và đặc biệt là cái tai cô lúc nào cũng muốn đi trước cái mắt, cái chân. Cô hay la cà chỗ nọ, chỗ kia. Khi ngồi, khi đứng. Lúc trò chuyện đôi ba câu, lúc hỏi han tới dăm mười phút. Cô là một phụ nữ có duyên hay chuyện, sở dĩ Rãng vừa ăn vừa nhẩm nghĩ về cô như vậy vì lý do riêng của nó. Anh biết hàng đắt khách, chỉ đôi người phục vụ trông có vẻ bấn và chậm. Nhiều lúc người phục vụ không ra kịp đã bị khách bẳn gắt. Họ phải vừa làm bếp vừa kiêm người phục vụ việc để khách không vừa lòng là chuyện chẳng ai muốn nhưng không phải dễ khắc phục.

Nhân cô chủ quán đi qua, Rãng nheo mắt nhìn rồi cười nói:

- Phở của bà chị ngon quá. Nước dùng phải nói là tuyệt. Nói xin lỗi, ăn rồi lại muốn ợ ra thưởng thức lại.

- Leo ôi, nói gì mà khiếp.

- Tôi nói thật đấy.

Cô chủ quán cười. Đôi mắt cô ríu lại. Đôi gò má nổi lên một màu mận chín. Phải nói là đẹp.

- Bác chắc đi hàng.

Rãng thở dài:

- Chả giấu gì bà chị, đang thất bát đây.

- Sao?

- Mất trắng. Cả hàng ra đến hàng vào. Ông Tây đã khiếp ông ta cũng chẳng vừa. Dân trâu ngựa bọn tôi mất kiểu này chỉ có ăn mày.

- Kể cũng tội. Nhưng giỏi giang xuôi ngược như các anh thì lo gì.

Cô chủ quán đã dùng từ "anh" khi nói chuyện với Rãng. Vẻ thân mật này khiến anh nhấn thêm trong câu chuyện:

- Bà chị nói cho vui ấy chứ. Ai mà lại vừa giỏi giang vừa xinh đẹp như bà chị được. Ngồi quán chị chưa đầy tiếng mà cứ thấy lộc lá ùn ùn chảy vào. Nhìn cách làm ăn của bà chị mà tôi thèm nhỏ dãi.

- Eo ôi, khen gì mà khen khiếp.

Cô chủ quán cười khanh khách, nói tiếp:

- Thôi, nhà em đi làm việc đây. Khen ho hen chẳng còn.

- Này bà chị...

Cô chủ quán mất hút vào phía trong. Rãng nhìn theo tiếc rẻ vì câu chuyện đang đà kết dính. Chẳng đợi Rãng tiếc lâu cô chủ quán đã ra. Cô mang theo một ly trà thơm:

- Quan bác tinh quá. Nói cứ như là... mà thôi. Bác nhấp thử trà nhà em pha xem trà gì nào?

Rãng nhấp nhấp vị trà nóng. Chát ngọt lại có vị của cốm xanh, anh cười:

- Chè Thái đây mà. Ở vùng này mà có loại chè này để uống quả là một kỳ công.

- Cũng từ các bác mà ra cả đấy. Cứ mỗi chuyến vào ra an toàn, thuốc tây đi trà Thái về gọi là tha hồ mà đếm bạc.

Cô chủ quán nói như gợi ý. Rãng nghe, thở dài:

- Tôi giờ gãy gánh rồi. Túi còn mấy đồng xu lẻ để ăn quà vặt. Đang định về quê lo ít vốn ngặt cái họ ngăn dữ quá. Đâu cũng súng đạn ken dày.

- Thế nhà bác ở xa không ạ?

- Cũng gần trăm cây số...

- Kể cũng xa thật.

Cô chủ quán như đồng cảm với Rãng, nói tiếp:

- Giờ bác định tính sao?

Với nét mặt ngao ngán Rãng nhìn cô chủ quán như muốn thăm dò:

- Trở đi mắc núi, trở lại mắc sông. Lúc này chỉ có cái quán này là an toàn nhất.

Cô chủ quán lúng túng:

- Bác nói gì em chưa hiểu?

Rãng lấp lửng:

- Thôi, để lát nữa vắng khách tôi xin thưa chuyện với bà chị.

Cô chủ quán vẻ không vui:

- Cũng được. Nhưng xin bác đừng có gọi em là bà chị nữa. Em là Bùa.

Rãng nói thật:

- So với tuổi bà chị tôi còn kém một hai năm. Các cụ mình nói hơn nửa ngày cũng là anh.

Cô chủ quán hóm hỉnh:

- Đấy là của con trai. Còn em là phận gái, hơn nữa lại chưa có gì, quan bác cứ gọi là Bùa cho tiện...

Rãng cười tươi vẻ như người được khen:

- Nếu bà chủ cho phép, cảm ơn Bùa.

Sau cuộc làm quen này Rãng đã tâm sự hoàn cảnh thật của mình cho Bùa nghe. Tất nhiên cái "thật" này là do tự anh nghĩ ra cho phù hợp với những tính toán của mình. Khó khăn thì Bùa đã biết. Lưng vốn cạn kiệt, đi lại khó khăn, dễ bị bắt, bị tù tội...

- Thật may mà lạc được vào quán cô Bùa.

- ...

- Anh lại khen quá rồi.

- Tôi nói thật đấy.

- Anh có điều gì muốn nói với Bùa phải không?

Rãng cười, vẻ ngượng:

- Bùa tinh thật. Thôi thì cũng chả có gì phải e lệ trước cô chủ nữa.

- Lại cô chủ rồi! Ghét...

Bùa bĩu môi nói hờn. Đây là vẻ cảm tình của người mới gặp. Rãng chưa vợ, lại có duyên nên rất rành những biểu cảm này của những phụ nữ chưa chồng. Trai gái thật lạ. Đã ghét nhau thì không kể nhưng vào đoạn cảm tình rồi thì đố mà dứt được. Điều gì của nhau cũng quý, cũng hấp dẫn. Cái gì của nhau đưa ra cũng quan trọng. Khi Rãng đưa ra chuyện muốn tá túc nhờ Bùa một ít ngày chờ thời cơ vượt vùng kiểm soát về quê lo vốn để đi buôn tiếp thì Bùa ưng ý ngay:

- Anh cứ ở. Bao nhiêu ngày cũng được. Có điều nhà em là nhà hàng suốt ngày ồn ã, suốt ngày ra vào...

- Tôi quen việc này rồi. Mình dân làm ăn chứ có phải đi tu đâu mà ưa tĩnh lặng. Còn điều này nữa, những ngày ở đây Bùa cho tôi được lo giúp việc bếp núc. Tôi để ý thấy, cửa hàng đang có vẻ bấn về chuyện này.

- Ôi sao mà anh tinh thế - Bùa xuýt xoa - Quả là em đang vất vả về chuyện này quá. Nếu được anh ở lại giúp cho thì khác nào bà còng đi chợ có cái gậy để chống.

Rãng cười về lối nói đùa của cô chủ quán:

- Phải cái gậy ải, mọt thôi Bùa ạ!

Bùa đập tay vào bả vai Rãng:

- Ái cái phải gió nhà anh. Có em mọt thì có...

Ăn nói đáo để. Kiểu này lờn miệng vậy thôi nhưng chưa chắc đã phải loại lẳng lơ thân xác. Rãng đã thấy, khi một khách ăn có vẻ bỡn cợt vỗ tay vào eo lưng Bùa đã bị cô cau mày khó chịu nói:

- Hàng nhà em là hàng ăn uống chứ không phải hàng Tom-chát như ở ngõ chợ Khâm Thiên đâu nhá.

Nói chưa chắc đã làm. Con gái khôn ngoan loại như Bùa là các chàng trai nên cẩn thận. Rãng không có ý trai gái nào trong chuyện này. Những lời vui vui của anh với Bùa cũng chỉ là giúp cho những tính toán chạy trốn của anh mà thôi. Giờ đã ở gần vùng giáp ranh rồi, nhỡ không may Tây bắt được coi như công vượt ngục vừa rồi là công cốc.

- Thú thật với Bùa là tôi vụng và dốt lắm đấy.

- Anh bảo cái gì?

- Tôi nói cái chuyện bếp núc ấy mà. May ra được cái giỏi bổ củi, nhóm lò.

Bùa chỉ tay ra trước mặt như muốn cho mấy người phục vụ thấy được vẻ bà chủ của mình:

- Không lo! Đã có mấy đứa phục vụ này. Các em nên nhớ đây là ông anh họ của chị ở quê lên giúp việc nên đứa nào cũng phải vâng, dạ cho phải phép. Nhớ chưa?

- Dạ, nhớ rồi ạ.

- Còn anh không có việc gì mà phải ngại. Cứ an tâm đi. Lúc nào bếp cũng đỏ lửa là được. Vả lại, em còn chạy ra, chạy vào cơ mà.

Thế là Rãng vào vai canh bếp cho cửa hàng cô Bùa. Anh suốt ngày lúi húi trong bếp, đêm đi ngủ kê mấy cái ghế ăn cơm lại làm giường. Bùa nhiều lần mời anh vào trong nhà nằm anh đều cám ơn xin phép...

- Anh ngủ phòng khách cơ mà.

- Nhưng không tiện. Trên nhà chỉ có mình Bùa.

- Ơ hay. Em ngủ trong buồng cửa khoá trái. Anh nằm ngoài phòng khách cửa ra vào thông thống lo gì?

- Vẫn biết vậy nhưng giữ cho nhau vẫn hơn Bùa ạ!

Bùa nhăn mặt, khó nghĩ:

- Em không muốn anh phải vạ vật như những đứa làm công khác.

- Họ ngủ được tôi cũng ngủ được. Hơn nữa, tôi có khác gì họ đâu mà Bùa lại phân biệt.

Bùa giậm chân xuống đất:

- Anh nói thế mà cũng nghe được.

Rãng biết mình lỡ lời:

- Xin lỗi vì câu nói vô ý vừa rồi của tôi. Quả thật tôi rất cám ơn Bùa. Không có Bùa thì giờ tôi đã lang thang hoặc bị bắt rồi. Một thằng buôn lậu chỉ còn cái thân xác, tiền nong không, giấy tờ không. May mà có Bùa. Tôi không muốn Bùa bị mang tiếng vì tôi.

- Anh nghĩ như vậy cũng phải nhưng anh em mình không như thế là được chứ gì?

- Giữ trước vẫn hơn Bùa ạ!

- Đàn ông các anh vừa khôn, vừa dại. Nhẹ không ưa ưa nặng. Chả có ai bảo ông anh họ cô Bùa ngủ ở phòng khách là sai cả.

- Tôi nói với mấy người làm là ngủ dưới này nhân tiện trông cửa hàng cho cô em họ. Thời buổi này kiếm ăn đã khó khăn nhỡ không may có kẻ trộm kẻ cắp nó lọt vào thì khác nào kiếm củi ba năm thiêu một giờ. Tôi nói vậy ai cũng khen chị em nhà cô Bùa chu đáo, cẩn thận.

- Khéo thế.

Bùa chịu lý sự của Rãng. Trong mắt của Bùa, Rãng không phải là một gã đàn ông ngốc nghếch. Việc này đã được chứng minh qua cách trò chuyện của anh. Bùa muốn Rãng gần hơn trong quan hệ với mình. Cô không suồng sã nhưng cũng chẳng cách bức lạnh lùng. Cô muốn giữa cô và Rãng như kiểu mưa dầm thấm lâu. Trước hết là có một người đàn ông tốt ở cạnh. Đàn ông như cái cột, cái mái trong nhà.

- Thôi được. Anh muốn thế em chẳng nài nỉ thêm tí nào nữa. Nhưng từ tối nay trở đi, ông đi ngủ là ông phải mắc màn cho em nhờ. ông không chịu mắc màn, để muỗi nó khiêng đi là không ai đứng trông bếp cho em đâu. Ông nhớ chưa nào ông cóc tía.

- Dạ thưa bà chủ, tôi nhớ rồi.

- Lại bà chủ. Anh mà để lộ ra cho bọn người làm công nó biết anh không phải là anh họ em là chết với em đấy.

- Nhớ rồi em Bùa ạ!

- Ngoan lắm...

Cái hồn nhiên, nhí nhảnh, cái lắm lời có duyên, cái mặn mà khêu gợi bản năng, cái sắc sảo ẩn sâu điều khó hiểu... là từ Bùa, có từ Bùa mà Rãng cảm nhận được trong những ngày sống nhờ ở quán hàng của cô để chờ thời đã khiến anh nặng nghĩa lúc ra đi vào một hôm mưa to gió lớn, trời đen như mực, đêm thời cơ của anh. Anh bỏ quán cô Bùa ra đi như một tên bỏ trốn. Định viết cho Bùa mấy lời cảm tạ Rãng lại thôi. Anh sợ tung tích của mình có thể gây phiền phức cho cô trong chuyện làm ăn. Giặc vẫn đang lần tìm anh. Có thể lúc này ít gắt gao hơn lúc đầu nhưng chưa hẳn chúng đã thôi cuộc. Tính cẩn trọng của nghề nghiệp đã khiến Rãng ra đi như một kẻ không có trước có sau. Khi lách cửa bước đi lòng anh nặng trĩu những ân hận.

Biền biệt bao năm trời giờ Rãng mới chạm tới cánh đồng làng mình. Đến chỗ cầu ngói ngày xưa anh hay lên đây thả trâu có hai người đeo súng trường nhô ra, thét to: -Ai?

-Tôi.

- Tôi là ai?

Rãng đi lại gần. Anh đã nhận ra hai người cùng làng khác xóm. Rãng mừng quá reo lên:

- Anh em mình cả. Tôi là Rãng đây mà.

- Ôi anh Rãng. Sao nghe nói anh bị đi tù rồi bị bắn rồi cơ mà.

Rãng gật gù rồi chậm rãi nói:

- Mình vượt ngục trốn tù. Lần mãi từ năm ngoái giờ mới về được tới quê đấy.

- Quê mình là khu du kích rồi. Anh về tham gia công việc với chúng em cho vui.

Rãng nắm chặt tay hai người lắc lắc:

- Mình cũng định thế. Giờ cho phép mình về thăm nhà. Chả biết giờ các cụ ra sao?

- Các cụ vẫn bình thường. Trước đây bị chúng dọa nạt có sinh ốm đau giờ đã lại sức rồi.

Rãng về đến ngõ nhà mình. Vừa kẹt cửa nhìn thấy mẹ đang bưng rổ bèo từ ao lên anh chạy ào vào:

- Mẹ... Mẹ...

Mẹ Rãng sững người đánh rơi rổ bèo rồi chết lặng trong vòng tay của con.

Mãi sau mẹ mới sụt sịt:

- Mẹ tưởng chúng nó giết con rồi. Dạo nghe tin mày bị bắt cả tháng trời không đêm nào là đêm mẹ không khóc.

- Ha ha... Giờ thì ngủ ngon rồi.

Bố Rãng từ trong nhà ra. Ông cụ đầu tóc đã tiêu muối cả. Rãng nhào đến bên cạnh bố. Ông cụ nắm chặt hai vai con nhìn ngắm rồi nói to như muốn cả nhà cùng được nghe:

- Chết làm sao được con nhỉ. Bố biết mày là thằng cao số. Giờ định thế nào? Anh em có nói nhỏ với bố là mày vượt ngục. Rồi bặt tin. Tao lo nhưng không dám khóc như mẹ mày. Nói không phải nói trạng chứ bố luôn luôn tin là con không thể chết. Mới chưa đầy ba mươi tuổi mà chết thì uổng quá phải không con?

Bên bàn nước Rãng thưa chuyện với bố mẹ:

- Con định chiều nay ra xã báo cáo sự tình rồi nhờ các anh ấy liên hệ giúp lên cơ quan cũ.

- Lại về Công an hả?

- Dạ vâng. Anh em từng một thời sinh tử với nhau. Từ dạo bị bắt đến giờ con bặt tin nên sốt ruột quá.

- Cũng phải. Giờ ra mổ giúp bố con gà để bố làm mâm cơm tạ ơn tổ tiên.

Chiều muộn Rãng có mặt tại Ủy ban Kháng chiến của xã. Sau cái bắt tay thân tình anh báo cáo lại quá trình trốn tù của mình và đề đạt nguyện vọng công tác. Đồng chí Chủ tịch xởi lởi nói, giọng người nhà:

- Việc ấy đâu đến lượt chú phải lo. Chú đã chiến thắng được kẻ thù trở về được quê hương là tự hào lắm rồi, thành tích lắm rồi. Giờ chú cứ nghỉ nhà với ông bà ít ngày cho ông bà vui. Việc của chú tôi sẽ làm công văn lên huyện đề đạt ý kiến. Kết quả ra sao tôi sẽ thông báo sau.

- Báo cáo anh, từ ngày xa đơn vị đến giờ tôi sốt ruột quá.

- Yên tâm đi. Chỉ vài ngày nữa là có công việc giao cho chú ngay. Giờ quê mình đang bộn lên đây. Vừa đánh giặc vừa giữ làng chú tính một vài người làm sao cho xuể. Ở nhà làm du kích với bọn anh cũng được. Lên huyện lên tỉnh làm Công an càng hay. Chú phải nhớ rằng sau cái trận bắt Tổng Khón là các chú nổi tiếng khắp vùng đấy...

Rãng vững dạ ra về. Lòng anh lâng lâng một cảm giác khó tả. Tuy chưa được gặp mặt đồng đội nhưng anh tự thấy mình như được trở lại đơn vị. Anh mường tượng ra những khuôn mặt thân quen, những tình cảm chia sẻ, những kỉ niệm sinh tử. Công việc vừa nguy hiểm, mạo hiểm nhưng vui. Đồng đội sống chết có nhau nên khi phải xa cách thì cái sự nhớ nhiều khi nó cứ bộn lên trong lòng như rạ lợp.

- Lên xã thế nào rồi con? - Mẹ hỏi.

- Gặp anh Chủ tịch rồi mẹ ạ! Mọi việc thế là ổn.

- Các anh ấy có căn vặn gì nhiều không? - Bố hỏi tiếp.

- Dạ, không ạ!

- Thế là tin nhau đấy. Thời buổi này gián điệp, mật thám như rươi, tin được nhau như thế là bản lĩnh lắm...

Cậu nói của bố chẳng gợn lên trong lòng Rãng chút lo lắng gì. Việc anh rành rành như nắng ngày thế này làm sao các anh ấy nghi cho được. Bố già chắc tính nên bố nghĩ thế là phải. Vậy mà... điều ông cụ nói lại vận vào Rãng tức thì.

Một tuần chờ đợi Rãng không thấy xã nhắc nhở gì. Sang ngày thứ tám, sốt ruột quá anh lên Ủy ban hỏi. Vẫn anh Chủ tịch xã tiếp Rãng nhưng lần này gương mặt có vẻ lạnh và nghiêm:

- Anh Rãng đấy à? Ngồi đi...

- Thưa anh...

- Chuyện của anh đề đạt lần trước chứ gì?

- Dạ phải.

- ...

Anh Chủ tịch nhìn Rãng. Cái nhìn không lấp lánh như trước mà lạnh tanh, xa lạ. Rãng giật mình về thái độ khác thường này của người đứng đầu chính quyền xã, anh hỏi ngay:

- Chắc có chuyện gì phức tạp phải không ạ?

- Có đấy... mà không...

- ...

Anh Chủ tịch xã đứng dậy đi ra phía ngoài cửa sổ ngắm nhìn mấy luống rau ngoài vườn. Cái nhìn dửng dưng.

Rãng nhìn, tấm lưng áo gụ bạc phếch của anh cứ nhô lên hạ xuống theo hơi thở gấp mà tự đoán ra sự việc. Có thể có điều gì đó nghi ngờ về Rãng mà anh không dám nói chăng? Nhưng sao lại có chuyện tày đình này mới được chứ. Việc Rãng vào tù rồi trốn tù, toàn gặp những người tốt giúp đỡ, chưa hề mảy may sa sẩy điều gì...

- Thưa đồng chí Chủ tịch.

Anh Chủ tịch quay lại nhìn thẳng vào mặt Rãng giọng kìm nén:

- Thôi cậu về đi. Nhớ là ở nhà không được đi đâu đấy. Có việc gì đi xa phải báo cáo với xã đội. Cứ ở nhà, lúc nào xã gọi hãy lên...

Câu nói như một tảng đá đập lên đầu Rãng. Anh điếng hết cả người. Như vậy là có chuyện. Mà chuyện gì mới được chứ? Rãng lắc đầu không hiểu. Lúc này tốt nhất là ngậm bồ hòn mà ngẫm nghĩ chăng? Vốn là người có lối sống sạch sẽ Rãng không làm sao hiểu được chuyện này:

- Nhưng vì sao mới được chứ, thưa đồng chí Chủ tịch. Tôi hoàn toàn không hiểu chuyện gì đang xảy ra với mình?

- Tôi đã nói cậu về đi thì cậu cứ về. Nói nhiều với nhau lúc này đều không có lợi cho cả tôi lẫn cậu.

- Nhưng thua anh...

Giọng ông Chủ tịch có vẻ dịu nhưng vẫn kiên quyết:

- Rãng cứ về đi.

- Nhưng tôi, tôi...

- Tôi cũng vậy...

Cả hai đều muốn nói mà không nói được. Rãng cảm thấy mình bức xúc. Ông Chủ tịch xã cũng vậy. Cả hai anh em đang bị cái gì đó nén xuống, muốn bùng lên nhưng vì một lý do nào đó phải kìm nó lại.

Rãng sống trong thầm lặng. Anh ít giao du chỉ ở nhà quanh quẩn vườn tược, cả việc định sang gia đình Thơi thắp cho cô một nén hương anh cũng chưa dám. Sau chuyện ở Ủy ban về, bố mẹ anh buồn hẳn. Gặp lại con mà lại buồn vì con. Tuổi già là vậy. Bố chỉ thở dài, lắc đầu:

- Việc này không còn là chuyện làng xã nữa. Anh là người đi thiên hạ nhiều anh biết. Người ta có ý như vậy là người ta nghi ngờ mình.

- Nhưng con không làm một chuyện gì để đến nỗi cấp trên phải nghi ngờ.

- Đấy là anh nói vậy. Còn mọi người. Còn tai mắt chỗ nọ chỗ kia. Thời gian anh đi tù, thời gian anh gián đoạn. Bao nhiêu ngày tháng như vậy liệu có ai theo anh mà hiểu hết được không? Anh làm cái gì anh khắc biết. Bố chỉ khuyên anh cái sự chân thật. Trời có mắt nếu anh không làm sai anh không sợ. Còn bây giờ đã thế thì phải thế...

Mẹ lại có lối khuyên Rãng theo kiểu mẹ. Cụ dỗ dành Rãng cứ như anh còn bé tí:

- Rãng này... nghe mẹ. Có sao nói vậy. Nhỡ không may trót sai cái gì cũng phải báo cáo. Con người ta ai nắm tay từ tối cho tới sáng được.

- Nhưng con không có cái gì sai thì mẹ bảo con phải nói cái gì nào?

- Ấy là mẹ ví dụ thế. Mẹ đẻ ra con mẹ biết chứ. Mà thôi cứ kệ nó. Lòng mình đã son thì sợ thì than bụi. Còn mình đấy, người đây. Thiên hạ chán vạn người tinh mắt. Cứ bình tâm ở nhà lo ruộng vườn với bố mẹ. Mà lúc nào đó phải sang bên nhà mà thắp cho em Thơi một nén hương...

Lời bố, lời mẹ như rút ruột ra khuyên răn con. Rãng nghe và thấm. Anh chẳng ngờ ở cái lúc anh có thể sải cánh bay tiếp lại phải ngồi một chỗ như gà rù. Đành phải nghe lời bố mẹ răn dạy. Anh đã có một tối lủi thủi sang nhà Thơi. Anh đi như một kẻ giấu mặt. Gặp bố mẹ Thơi anh nói lời chia sẻ rồi thắp hương vái người đã khuất ba vái. Lúc trở về nhà anh vừa đi vừa khóc. Đàn ông khóc đã khó khăn, còn người như anh nguyên Đội trưởng Đội hành động của Công an sụt sịt khóc như con trẻ càng là sự lạ. Vậy đấy, nước mắt đâu phải chỉ dành riêng cho người yếu đuối. Ngay cả kẻ đã từng một thời hiển hách gặp bước ngặt nghèo không phải không có lúc yếu mềm. Rãng đã để cho nước mắt của mình chảy tràn ra má, rơi mặn trên môi mà không hề lo sợ, ngượng nghịu. Bóng đêm đã che giúp anh cái phần đớn hèn bản năng. Cũng giọt nước mắt bản năng ấy như xoa dịu bớt nỗi xui xẻo trong anh, động viên anh gắng chịu đựng và chờ đợi...

Niềm hy vọng lại từ chối Rãng. Ít lâu sau từ một nguồn tin không chính thức Rãng biết rõ được nguyên nhân bị "treo giò" của mình. Lúc ấy anh mới rõ anh bị đồng đội mình từ chối là vì sao. Nguyên nhân thật ngắn gọn: Thời gian vượt ngục dài, phức tạp. Cụ thể, Rãng đã từng gọt tóc đi tu (?) và ăn ở một thời gian dài ở quán hàng của một nữ gián điệp Tây...! Người đưa tin cho Rãng là người có trách nhiệm. Anh truyền đạt lại cho Rãng theo kiểu không chính thức để Rãng tự biết, tự nghĩ. Rãng hiểu kiểu nói chuyện này. Một lối khép tội không văn bản với lí do "theo dư luận" và "cấp trên đang cho điều tra". Còn người thuộc diện này nên im lặng chờ đợi và không nên làm điều gì để phức tạp thêm.

Rãng chỉ muốn kêu trời. Cấp trên chưa hỏi anh chưa thể nói. Sự thanh minh lúc này là vô nghĩa. Lời đồn kia là có thật. Anh không phủ nhận hiện tượng nhưng bản chất lại hoàn toàn khác. Trong lúc này anh biết, mọi sự giãi bày đều chưa phải lúc. Đất nước đang vào giai đoạn phản công quyết liệt. Tất cả cho mặt trận, cho đánh giặc. Việc của Rãng chỉ nhỏ như mạt tro, hạt cát nào có đáng gì. Nghĩ vậy Rãng cắn răng... chờ hồi âm!

Hoà bình lập lại, quê hương hoàn toàn giải phóng, mọi người vui riêng Rãng lại buồn. "Bản án tồn nghi" vẫn treo lơ lửng trước mắt. Cơ quan có trách nhiệm không biết vì mải việc gì vẫn cứ im lặng. Sự đen trắng của phẩm hạnh con người vẫn ngổn ngang chồng đống trong lòng Rãng. Chính từ tâm trạng này mà anh nhớ tới sư thầy Đàm Hải và ngôi chùa Nhuệ tình nghĩa của thời đánh giặc.

Vào một buổi sáng nhiều sương Rãng dậy sớm thắp hương trên bàn thờ tổ tiên. Anh quần áo chỉnh tề đặt tay trước miệng khấn vái hồi lâu rồi quay ra lễ bố mẹ ba vái. Anh nói:

- Con muốn đi xa làm ăn ít tháng. Mong bố mẹ ở nhà giữ gìn sức khoẻ đừng có lo lắng gì cho con cả. Đất nước hoà bình rồi...

Biết nỗi niềm của con, bố chỉ biết nắm vai Rãng lắc lắc. Riêng mẹ không cầm được nước mắt nói:

- Đi đâu thì đi, làm gì thì làm con phải lấy cái tâm cái đức làm chính. Phận trai, cứ có chí là việc gì cũng làm được. Con đi đâu, ở đâu phải nhớ đến quê hương, nhớ đến bố mẹ. Cốt nhục mình ở đấy đừng có bao giờ quên mà phải tội.

Lời mẹ lúc chia tay, tuy cụ khóc đấy mà sao tiếng nói lại có vẻ rắn rỏi, khúc triết làm vậy. Người mẹ khi cần rắn rỏi, ở những thời điểm quan trọng cũng chẳng kém gì giới mày râu mà không nói nổi với con những lời khích lệ!

"... Chuyện xuống tóc đi tu lần thứ hai của ông Rãng là thế đấy Nhật Tín ạ, cậu nghĩ thế nào...?".

Ông Mẫn dừng những trang kí ức của mình về ông Rãng mà trở về thực tại. Giữa ông và Nhật Tín vẫn là cốc bia hơi và đĩa lạc luộc. Cái món nhậu rẻ tiền này thật thích hợp với hai anh em. Chỉ cần nhuận bút một bài báo nhỏ hoặc một cái phong bì được nhận trong cuộc họp là hai người có thể lai rai bên nhau mà cà kê chuyện đời. Bữa nhậu hôm nay là Nhật Tín chi. Anh từ Ân Đức về với nhiều dự định không thành. Bực mình về sự vô duyên của mình anh đã đến kéo ông Mẫn ra quán bia:

- Hôm nay anh em mình phải say.

Nhìn khuôn mặt căng căng của Nhật Tín ông Mẫn cười cười:

- Ừ... không say không về...!

- Nào... Cạn vại đầu đi anh.

- Hết nhé...

- Vâng.

"Ực... ực... ực..." những tiếng uống đua nhau phát ra từ họng hai người. Người phục vụ đổi cốc. Hai vại bia khác vàng sánh lại đặt trước mặt. Nhật Tín mở lòng tay ôm lấy vại bia xoay xoay. Anh kể cho ông Mẫn nghe chuyện từ Ân Đức về cùng những lời khuyên của Tiểu May. Anh đã không dám về quê ông Rãng ngay lúc ấy mà trở về thành phố gặp ông Mẫn:

- Em biết bác còn giấu em nhiều chuyện về ông Rãng!

- Ờ... Cũng phải để nhà báo đi thực địa. Chẳng gì bằng tai nghe mắt thấy. Giấu thì thực tâm tôi không muốn giấu. Ngay cả những chuyện của cô Tiểu May tôi cũng đã nói cho chú biết rồi thôi. Còn chuyện lão Rãng tôi muốn tự chú tìm hiểu. Con người này cũng bình thường như bao con người khác thôi mà sao cứ mỗi lần nghĩ tới là tôi lại có cảm giác như mình có gì không phải với lão ấy. Cùng đi kháng chiến với nhau. Ông ấy còn là chỉ huy của mình nữa. Vậy mà hòa bình lập lại mình ra tù có công ăn việc làm trong cơ quan Nhà nước hẳn hoi còn lão ấy lại phải dứt áo giã từ bố mẹ đến ở cửa chùa...

- Ông Rãng xuống tóc lần thứ hai.

- Còn gì nữa...

Giọng nói nghèn nghẹt của ông Mẫn hình như có pha thêm nước mắt. Nhật Tín như bị khuôn mặt hồng hào nhưng hơi sệ xuống cùng đôi mắt đã ngả màu tuổi tác của ông thu hút. Và câu chuyện ông Rãng phải đi tu lần thứ hai đã được ông kể lại bằng nỗi thổn thức của kí ức.

- Các bác vất vả quá.

Nhật Tín nói một câu khách sáo. Anh tự ngượng khi nhìn ông Mẫn. Vẫn khuôn mặt ấy, ông nói:

- Chẳng phải chỉ các bác mới vất vả. Các chú cũng có cái gian nan của nó. Quan trọng là mình chịu đựng nó thế nào và xử lý nó thế nào. Các cụ bảo nước dâng đến đâu bắc cầu đến đấy. Tôi quan niệm như vậy đấy Nhật Tín ạ.

- Và bác đã vào cuộc giúp bác Rãng!

Ông Mẫn nhướn mày, trừng mắt nhìn Nhật Tín:

- Sao lại là giúp. Trách nhiệm chứ. Biết mà không làm là mình có tội với đồng đội. Biết mà không làm mình sẽ là kẻ vô ơn.

- Em hiểu, em hiểu!

Nhật Tín nói rồi lặng ngắt. Cái hào khí từ giọng nói của ông Mẫn đã giúp anh nhận ra một phẩm chất. Thế hệ những người đánh giặc từng sinh tử có nhau thường là bền vững và có hậu khi nghĩ về nhau, nhớ về nhau. Dù quyền cao chức trọng hay cơ nhỡ bần hàn, vinh hoa không thể phai nhạt, uy vũ không thể ngăn cách đấy là đạo làm người của những kẻ dưa muối luôn luôn lấy cái đức làm đầu. Ông Mẫn thuộc phần nhân đức này.

- Cậu biết, lúc ấy tôi bảo với ông Rãng thế nào không?

Nhật Tín im lặng nghe tiếp lời ông Mẫn:

- Tôi phải có trách nhiệm đưa cậu trả về với ánh sáng, với sự thật của ông Rãng ạ. Cậu làm thế này là cậu trốn tránh, cậu coi thường chúng tôi.

Mẫn thưa chuyện với sư thầy Đàm Hải xin thầy mấy chữ xác nhận ông Rãng trốn tù về chùa. Không ngần ngại gì sư thầy ghi: "Cậu Rãng có ở chùa thời gian là 12 tháng rưỡi. Để tránh sự nhòm ngó nghi ngờ của lý trưởng xã và Tây đồn tôi đã đồng ý để cậu Rãng xuống tóc quy y. Về tình cảm vì cùng tỉnh với Rãng tôi đã nhận cậu là em nuôi. Việc cậu Rãng đi tu là hợp với đạo lý nhà Phật và vì cách mạng...".

Sau chuyện này Mẫn đã lần tìm cô chủ quán Bùa. Dân sở tại nói, mấy tháng trước ngày giải phóng cô Bùa bị công an bắt. Tội của cô Bùa là tội làm gián điệp cho Tây. Mẫn đã tìm ra nơi giam giữ Bùa. Được phép của lãnh đạo trại giam Mẫn đã có cuộc gặp gỡ với phạm nhân Đỗ Thị Bùa. Cùng buổi gặp với anh có một cán bộ của trại tham dự trong tư cách người chứng kiến.

- Chị là Đỗ Thị Bùa?

- Dạ thưa cán bộ, đúng ạ!

- Chị bị giam giữ tại đây vì tội gì?

- Dạ thưa cán bộ, cháu trót dại làm chỉ điểm cho Tây ạ!

Câu hỏi chỉ là giao đãi bước đầu. Mẫn muốn Bùa có không khí bình thường trong buổi trò chuyện. Anh hỏi Bùa về gia cảnh và khuyên cô chịu khó cải tạo, khai báo thành thật để sớm được hưởng lượng khoan hồng của cách mạng. Khép lại câu chuyện anh hỏi cô về quan hệ giữa cô và Rãng:

- Thưa cán bộ, lúc đến làm ở quán của cháu anh ấy tên là Sơn chứ không phải là Rãng.

- Đấy là tên hoạt động của anh ấy.

- Cháu không biết anh ấy là người của Việt Minh. Chỉ nghe anh ấy kể và tin anh ấy là người đi buôn lậu bị bắt hết hàng thôi ạ.

- Giữa hai người có trao đổi gì về công việc của cô không?

- Thực lòng là cháu không muốn anh ấy dính dáng đến công việc của mình. Chỉ quý anh ấy, nói bác đừng cười, thương anh ấy nữa và mong đến chuyện lâu dài. Cháu giấu anh ấy cả công việc làm của mình nữa. Cháu cho cái nghề mình nó chẳng hay ho gì, đã đa mang không dứt ra được đành phải chịu.

- Thời gian anh Rãng ở nhà cô, cô có thấy anh ấy gặp gỡ ai hay làm những việc gì khác không?

- Thưa không ạ. Công việc tối mắt tối mũi suốt ngày lấy đâu thời giờ mà gặp gỡ, trò chuyện. Còn việc của cháu là việc riêng, có những quy định bí mật chẳng ai trong quán biết được...

- Cô có dám đảm bảo những lời nói vừa rồi của mình bằng giấy tờ không.

- Dạ thưa, có ạ!

Bùa lễ phép giơ hai tay đỡ tờ giấy và cây bút từ người cán bộ trại giam đưa ra. Cô ghi nắn nón: "Tôi là Đỗ Thị Bùa, phạm nhân trại cải tạo... xin được thành thật khai như sau: Việc ông Rãng đến làm ăn ở quán của tôi chỉ là sự vô tình. Lúc ấy tôi không biết Rãng là ai, chỉ biết ông là người cơ nhỡ lại chân chất nên tôi tạo việc làm giúp đỡ. Riêng công việc làm gián điệp của tôi cho Tây không có liên quan tới ông Rãng. Thực tế cho đến lúc ông Rãng bỏ quán của tôi đi ông cũng chưa biết tôi làm gì cho địch cả...".

Có hai lời chứng thực quan trọng trong tay Mẫn đi tìm Hùng, đội phó đội hành động của Rãng ngày trước. Hỏi thăm mãi, Mẫn mới biết Hùng đang làm cán bộ Công an ở một tỉnh miền núi. Gặp Mẫn, biết tin Rãng, Hùng mừng khôn tả:

- Cám ơn anh Mẫn nhiều. Hoà bình lập lại tôi nhận công tác trấn biên ngay. Có ý định lúc nào nghỉ phép về xuôi sẽ tìm anh Rãng nay may quá lại gặp anh.

Mẫn đã vào đề thẳng:

- Ông phải đi với tôi. Anh Rãng đang có sự rắc rối.

- Chết! Sao thế?

- Sống thôi. Chuyện không có gì ghê gớm nhưng phức tạp và tế nhị. Ông nên bố trí nghỉ phép về với tôi. Ta sẽ tìm người có trách nhiệm nói cho ra nhẽ. Đây là trách nhiệm của mình với anh ấy.

- Tôi có thể đi ngay với anh được.

Mẫn, Hùng nắm chặt tay nhau vào cuộc. Ít lâu sau Rãng được giải oan. Lại chính sư thầy Đàm Hải làm lễ cho Rãng hoàn tục. Bà nói:

- Căn số của cậu còn nặng lắm. Cõi đời thế tục mới là công việc của cậu. Cứ chân cứng đá mềm mà bước em ạ. Có gì chị sẽ cầu trời cầu Phật phù hộ cho em.

- Đa tạ chị.

- Thỉnh thoảng có dịp lại qua ghé vào thăm chùa chị dành cho ít lộc Phật về thụ hưởng cùng bạn bè, con cháu.

- Chị ơi, với chị là sống tết chết giỗ chị ạ. Mãi mãi em chẳng quên được công ơn nuôi dạy, giúp đỡ, che giấu của chị.

- Cậu đừng khách sáo với chị. Chị là con Phật, cứu một người phúc đằng hà sa. Cậu được như hôm nay là chị mừng lắm rồi.

Rãng xin sư thầy bộ áo quần tu, vòng tràng hạt về làm kỷ niệm. Anh còn xin bức ảnh bà chị nuôi về treo, ngầm ý khi nào sư thầy khuất bóng sẽ là bức ảnh thờ. Với Rãng sư thầy từ lâu đã trở thành ruột thịt của đời anh.

Mẫn đến đón Rãng rời chùa. Cùng đi với Mẫn có Hùng. Hùng mang cho Rãng bộ quần áo công an màu vàng, bảo:

- Anh mặc vào cho đỡ nhớ Ngành.

Mẫn thì đội chiếc mũ phớt lên đầu Rãng nói:

- Cứ đội cái mũ này lúc nào chải lật ngôi được thì bỏ ra và được phép đi tìm vợ...

Nói đến chuyện đi tìm vợ cho anh Rãng, Hùng chợt nhớ tới chị Thơi. Anh hỏi Rãng:

- Việc chị Thơi bây giờ ra sao rồi anh?

Mẫn nhìn Rãng nói giận:

- Đã có thời gian nào người ta lo việc ấy. Đi ở ẩn thì còn thiết gì tới cuộc đời này nữa.

Rãng cúi mặt ân hận:

- Mình có lỗi với Thơi quá. Lại còn chị người ở, cụ già kéo lưới cưu mang mình những ngày trốn tù nữa.

Cả ba lại xúm vào lo việc lớn khác. Những câu chuyện về Thơi được kể lại. Nhân thân của chị được hiện ra bằng văn bản. Những ngày Thơi giúp công an trừ gian. Chiến công của Thơi giết tên Tây lai gian ác rồi nhảy xuống sông tự vẫn để bảo toàn khí tiết người con gái. Ai cũng nhớ thương và khâm phục Thơi. Chị được mọi người làm đơn đề nghị Nhà nước truy tặng liệt sĩ...

Rãng xin xã cho được đặt mộ Thơi ở nghĩa trang liệt sĩ. Trong vuông tiểu sành nhỏ bé không có hài cốt của Thơi, bố mẹ Thơi đã đặt vào đó một bộ quần áo của chị. Em gái chị, cô Thơm đã nhờ anh Rãng để vào lòng tiểu chiếc gương, chiếc lược cho chị chải đầu, trang điểm. Tấm ảnh của Thơi được nhân đôi, một để nhà làm ảnh thờ, một hoá cùng lửa lấy tàn tro rắc lên các di vật trong lòng tiểu.

Ngôi mộ Lê Thị Thơi được chính tay Rãng, Mẫn, Hùng xây. Rồi họ cùng nhau khắc lên bia tên người đã khuất. Trong lễ mai táng Rãng đã đón sư thầy Đàm Hải về làm lễ cầu siêu cho Thơi. Hùng đã xin phép lãnh đạo bắn ba phát súng ngắn lên trời tiễn biệt người con gái bất hạnh và quả cảm. Lúc cuối lễ, Thơm ôm ảnh chị vào lòng, nhìn bố mẹ, nhìn mọi người, nhìn anh Rãng, anh Mẫn, anh Hùng và thưa:

- Xin gia đình, xin các bác lãnh đạo, xin các anh các chị cho em được hương khói thờ phụng chị Thơi trọn đời.

Lúc ấy Thơm chưa có chồng. Sau lời nói của Thơm ai cũng nhìn Rãng như mong muốn một điều gì... Rồi sau đó ít lâu điều ấy đã thành sự thật. Hai gia đình và bạn bè đã xúm vào làm lễ cưới cho hai người.

Ông Mẫn lại dừng trang ký ức. Nâng cốc bia lên trước mặt Nhật Tín, ông nói:

- Nào cạch một vại nữa rồi kết thúc câu chuyện dang dở ở đây. Lúc nào ta sẽ nói tiếp. Cuộc đời còn dài mà...

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.