“Không phải là một thế lực không thể đánh bại”
Trong một cuốn "Danh nhân chiến tranh Triều Tiên" được xuất bản ở Nhật Bản, có tên của vị đoàn trưởng Trung Quốc đã hạ gục Phi Hổ Sơn: Phạm Thiên Ân.
Lời chú thích của cuốn sách viết: Phạm Thiên Ân, năm 1950 nhậm chức đoàn trưởng. Dẫn quân tham gia chiến tranh Triều Tiên. Trong Chiến dịch thứ nhất, đã chỉ huy một trung đoàn chỉ có vũ khí hỏa khí cá nhân (chính ủy Triệu Tiêu Vân) thọc sâu vào hậu phương Tập đoàn quân số 9 của Liên quân, chiếm lấy Phi Hổ Sơn (cao điểm 622.1), uy hiếp trạm tiếp tế tổng hợp Quân Vu Lý của Tập đoàn quân số 9. Sau đó, chịu sự phản công của Sư đoàn 7 Hàn Quốc thuộc Liên quân và một phần Trung đoàn 5 Mỹ dưới sự yểm trợ của hỏa lực không quân, pháo binh và xe tăng lớn, kiên cường giữ vững trong năm ngày năm đêm, chủ động thoát ly khỏi quân địch, từ đó mà thành danh.
Vào trước thềm, theo yêu cầu của mình, ông được điều làm đoàn trưởng Đoàn 335 thuộc Sư đoàn 112, lúc đó ông đang trong tuần trăng mật mới cưới. Tại đại hội thề quân trước khi xuất chinh sang Triều Tiên, ông thay mặt Đoàn 335 đưa ra khẩu hiệu "Tạo dựng trung đoàn kiểu mẫu", đồng thời đưa ra lời thách thức với các đơn vị anh em, điều kiện thách thức là: "Dùng một trung đoàn của ta tiêu dùng một trung đoàn của địch."
Dựa theo kế hoạch "dụ địch đi sâu" của Bành Đức Hoài, các bộ phận của quân đội Trung Quốc lúc này đang tập kết về khu vực được chỉ định. Trong khi đó, MacArthur đã ra lệnh cho các cánh quân ở chiến tuyến phía Tây bắt đầu tiến lên phía Bắc thăm dò. Trên toàn bộ chiến tuyến phía Tây, sự tiến quân của Sư đoàn 7 Hàn Quốc và một bộ phận quân Mỹ tại khu vực Xuyên Khúc và Quân Vu Lý là diễn ra nhanh chóng nhất.
Xuyên Khúc và Quân Vu Lý đều là con đường bắt buộc phải qua để Lực lượng Liên hợp quốc phối hợp với Tập đoàn quân số 10 Mỹ ở chiến tuyến phía Đông hoàn thành "chiến dịch gọng kìm" của MacArthur, đồng thời cũng là con đường bắt buộc phải qua để vòng tới Giang Giới. Để không cho tốc độ tiến về phía Bắc của Lực lượng Liên hợp quốc quá nhanh gây ảnh hưởng đến việc điều động của quân đội Trung Quốc và uy hiếp sườn phía sau của quân đội Trung Quốc, bắt buộc phải dựa vào hiểm trở của Phi Hổ Sơn để tiến hành cản kích.
Ngày 5 tháng 11, sau khi trải qua một trận chiến đẫm máu chiếm được trận địa Phi Hổ Sơn, Bành Đức Hoài ra lệnh cho Đoàn 335 "phòng ngự tại chỗ".
Nhiệm vụ cản kích Phi Hổ Sơn đã rơi lên vai Đoàn 335.
Mặc dù Tập đoàn quân 38 không thể hoàn thành nhiệm vụ dự định trong Chiến dịch thứ nhất, nhưng trong lòng Bành Đức Hoài, lực lượng này vẫn là một đơn vị sở hữu sức chiến đấu rất mạnh. Cản kích kẻ địch tiến về phía Bắc, một khi có sai sót, sẽ dẫn đến việc tiêu tan toàn bộ kế hoạch chiến dịch. Phó tư lệnh Chí nguyện quân Hồng Học Trí trong hồi ký sau này đã đặc biệt nhấn mạnh thái độ thận trọng khi lựa chọn đơn vị cản kích lúc bấy giờ: Dụ địch đi sâu, thông thường là dùng lực lượng phi chủ lực. Nhưng Tổng tư lệnh Bành lại dùng Sư đoàn 112 thuộc Tập đoàn quân 38, là chủ lực trong quân chủ lực để đánh. Sư đoàn 112 vốn là Sư đoàn 1 của Tứ Dã. Khi lựa chọn sư đoàn đánh cản kích, Tổng tư lệnh Bành từng tham khảo ý kiến của Đặng Hoa và tôi. Chúng tôi đã kiến nghị với ông rằng, nếu dùng lực lượng mạnh nhất, thì hãy dùng sư đoàn này. Dùng lực lượng mạnh nhất là vì sức chiến đấu của địch rất mạnh, đơn vị đánh cản kích vừa phải đạt được mục đích dụ địch đi sâu, lại vừa có thể trụ vững trước kẻ địch. Không trụ được trước kẻ địch, bị kẻ địch xông một phát vào ngay, thì còn bàn gì đến chuyện điều động quân đội, thắt túi nữa chứ? Sau đó có người nói trong Chiến dịch thứ hai Sư đoàn 112 không dùng hết sức, đây là chỉ biết cái thứ nhất mà không biết cái thứ hai, sức của Sư đoàn 112 trong Chiến dịch thứ hai chính là được dùng ở nơi mấu chốt này.
Phạm Thiên Ân hiểu rõ sự cản kích của đoàn mình tại Phi Hổ Sơn có ý nghĩa gì.
Phải nói rằng, khi đánh cản kích, Phạm Thiên Ân với tư cách là một đoàn trưởng, có lẽ vốn không biết kế hoạch "dụ địch đi sâu" của Bộ chỉ huy Chí nguyện quân. Thế nhưng, nếu trận địa bị mất, thì mọi quan binh của Đoàn 335 đều rõ, kẻ địch sẽ thông qua Phi Hổ Sơn, tiến thẳng về phía Bắc, mà phía Bắc bán đảo Triều Tiên chính là Trung Quốc.
Phạm Thiên Ân bước lên trận địa Phi Hổ Sơn, nhìn thấy những binh lính vội vã chuyển từ tấn công sang phòng ngự đang đào công sự. Khi tấn công, binh lính đã vứt bỏ hết những chiếc xẻng nhỏ và cuốc chim vốn cản trở việc xung phong, giờ đây, họ chỉ mặc những bộ áo bông bị những giọt mưa lất phất làm ướt, dùng tay, dùng lưỡi lê để đào lớp đất đá cứng ngắc. Đôi bàn tay của không ít binh lính vì thế mà bê bết máu tươi, máu và nước mưa hòa quyện vào nhau, giống như đang nhào bùn vậy. Khi giáo viên văn hóa Đới Đốc Bá - người không có chút kinh nghiệm chiến đấu nào - bất chấp hỏa lực phong tỏa của địch mang những chiếc xẻng nhỏ lên trận địa, các binh lính của Đoàn 335 nhìn thấy xẻng nhỏ mà bật khóc.
Phạm Thiên Ân nói với giáo viên văn hóa: "Cậu trí thức này được đấy!"
Ngày 6 tháng 11, Sư đoàn 7 Hàn Quốc phối hợp với quân Mỹ bắt đầu tấn công. Nằm ở vị trí tuyến đầu tiên của trận địa Phi Hổ Sơn là Tiểu đoàn 2, Đại đội 5, Trung đội 3 thuộc Đoàn 335. Trời vừa hửng sáng, máy bay và đại bác đồng loạt oanh tạc vào trận địa Trung đội 3, đá hóa thành bột, cây cối hoàn toàn trơ trụi. Suốt cả ban ngày, Trung đội 3 đã đánh lui nhiều đợt tấn công của địch. Buổi tối, binh lính Hàn Quốc châm lửa đốt sạch cây cối và cỏ khô bên cạnh trận địa Trung đội 3, trận địa của Trung đội 3 chìm trong biển khói dày đặc và lửa lớn. Binh lính Hàn Quốc mượn sự che chở của khói và lửa để xông lên lần nữa. Trung đội trưởng Mã Tăng Khuê dẫn dắt binh lính ẩn nấp ở sườn trận địa, khi địch đã đến rất gần, họ ném lựu đạn, tiêu diệt địch cùng với hỏa pháo đang cháy lan lên trận địa. Sau khi địch rút lui, binh lính Trung đội 3 nghe thấy tiếng khóc truyền đến từ dưới núi, ngó đầu ra xem thì thấy sĩ quan Hàn Quốc đang dùng gậy phạt lính. Binh lính Hàn Quốc lại một lần nữa leo lên núi, bọn chúng càng thêm nhát gan, đứng cách binh lính Trung Quốc khoảng 30 mét thì không tiến nữa. Mệnh lệnh của Mã Tăng Khuê là: Địch chưa đến 20 mét thì không được nổ súng. Thế nhưng binh lính Hàn Quốc nhất quyết không bò đến khoảng cách 20 mét, đột nhiên, một binh lính sốt ruột chờ đợi trong trung đội đã nổ súng một phát, binh lính Hàn Quốc liền túm tụm lại chạy bán sống bán chết xuống chân núi.
Ngày hôm nay, Trung đội 3 với cái giá thương vong một nửa, đã đánh lui bảy đợt tấn công của địch.
Đại đội 4 và Đại đội 6 chiến đấu ở Phi Hổ Sơn cũng vô cùng gian khổ, thương binh liên tục được khiêng xuống khỏi trận địa.
Đại đội trưởng Đại đội 6 vừa mới được khiêng xuống, chính trị viên cũng theo sát phía sau được khiêng xuống theo. Chính trị viên bị thương rất nặng, anh kêu la lớn tiếng. Chính trị viên tiểu đoàn khuyên anh đừng kêu nữa, anh ôm vết thương nói với chính trị viên tiểu đoàn: "Đại đội 6 tiêu rồi!"
Chính trị viên tiểu đoàn nói: "Mất trận địa rồi ư? Tôi không tin! Liên lạc viên! Theo tôi lên trận địa!"
Chính trị viên lên đến trận địa của Đại đội 6, trong màn đêm đen kịt quả nhiên không bóng người.
Anh dùng tay khua khoắng trong công sự, sờ thấy một người còn sống, đó là tiểu đội trưởng Trương Đức Dật. Chính trị viên hỏi những người khác ở đâu, Trương Đức Dật nói trung đội trưởng hy sinh rồi. Chính trị viên nói: "Bổ nhiệm cậu làm trung đội trưởng, mau chóng tập hợp người lại!"
Trận địa cuối cùng cũng gom lại được vài người. Sau khi điểm danh thì phát hiện, cán bộ đại đội ngoài phó đại đội trưởng ra, đều tử thương vong. Chính trị viên lúc đó bổ nhiệm phó đại đội trưởng làm đại đội trưởng, bổ nhiệm giáo viên văn hóa làm phó chính trị viên, đồng thời lập tức dẫn dắt tất cả mọi người khẩn trương sửa chữa công sự, chuẩn bị cản kích cuộc tấn công của địch.
Lực lượng Liên hợp quốc đã ném xuống Phi Hổ Sơn một lượng lớn bom đạn. Không chỉ tất cả pháo binh của Sư đoàn 7 Hàn Quốc đều đang pháo kích Phi Hổ Sơn, mà ngay cả pháo binh của Lực lượng Liên hợp quốc đặt tại Xuyên Khúc cũng đang oanh tạc Phi Hổ Sơn.
Binh lính Trung Quốc phải trải qua một trận chiến vô cùng tàn khốc.
Khi Phạm Thiên Ân ở trong sở chỉ huy báo cáo tình hình chiến sự lên cấp trên, đại đội cảnh vệ của đoàn không thể chống đỡ nổi dưới sự tấn công mãnh liệt của địch, phó chính trị viên và một trung đội trưởng của đại đội này đã chạy xuống khỏi trận địa, hét lên với Phạm Thiên Ân: "Đoàn trưởng! Mau rút lui thôi! Địch lên đến nơi rồi!"
Phạm Thiên Ân động đậy không một chút: "Mất trận địa rồi à?"
Phó chính trị viên và trung đội trưởng ấp úng nói không rõ.
Phạm Thiên Ân lập tức gọi điện thoại cho phó tiểu đoàn trưởng Trần Đức Tuấn ở trên núi, được biết kẻ địch xông lên trận địa đã bị đánh lui rồi. Phạm Thiên Ân quay đầu lại, sắc mặt âm trầm nói với tham mưu trinh sát của đoàn: "Doãn Nhật Hữu! Lấy dây quấn chân trói hai kẻ này lại, đem bắn!"
Doãn Nhật Hữu áp giải hai người bỏ đi. Chính ủy Triệu Tiêu Vân cảm thấy mạng người quan trọng, bèn gọi điện thoại đến sở chỉ huy sư đoàn, kết quả chính trị viên sư đoàn không đồng ý xử bắn, nói rằng: "Có thể cho họ cơ hội rèn luyện mà."
Trần Đức Tuấn ở trên núi nghe tin đoàn trưởng muốn xử bắn người, lại càng không đồng ý: "Trên núi thương vong lớn, người càng lúc càng ít, xử bắn chẳng phải lại càng ít hơn sao."
Phó đoàn trưởng vội vã đuổi theo gọi Doãn Nhật Hữu quay lại, cởi trói cho hai người.
Sắc mặt Phạm Thiên Ân càng thêm âm trầm: "Lập tức cho tôi ra tuyến đầu làm binh lính ở Đại đội 5!"
Trần Đức Tuấn nhìn thấy hai người trên núi liền mắng tơi bời: "Đồ ngốc! Muốn chạy sao không chạy về phía tôi? Hơn nữa, đào ngũ trước trận là hành vi gì hả? Chuyện này chưa xong đâu, đến Đại đội 5 xem người ta đánh giặc thế nào đi!"
Phó chính trị viên và trung đội trưởng sau đó đều vì chiến đấu dũng cảm mà được thăng chức.
Từ ngày 6 đến ngày 7, Lực lượng Liên hợp quốc tăng cường cường độ tấn công. Hai bên giằng co đi giằng co lại trên trận địa Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Đoàn 335 tới 16 lần, trong đó có nhiều lần rơi vào trạng thái chiến đấu giáp lá cà. Binh lính Đại đội 5 Lý Hưng Vượng bị thương ở đầu, lúc đang tự băng bó cho mình thì ba tên lính Mỹ ôm chầm lấy anh. Trong quá trình cướp súng, anh đá văng một tên lính Mỹ xuống vách núi, đồng thời nổ súng bắn chết tên thứ hai, lại dùng lựu đạn trên thi thể tên lính Mỹ để làm bị thương tên lính Mỹ thứ ba. Khi trung đội của Lý Hưng Vượng chiến đấu đến lúc khó khăn nhất, trên trận địa người không ngã xuống chỉ còn lại trung đội trưởng và ba binh lính, toàn bộ đạn dược của họ đều lấy từ thi thể của chiến hữu và kẻ địch. Binh lính Lý Vĩnh Quế - người từng giành được danh hiệu "Anh hùng gan dạ độc nhất" trong Nội chiến Trung Quốc - khi trận địa của anh bị địch dùng xăng châm lửa nuốt chửng hoàn toàn trong biển lửa, đã dẫn đầu nhảy khỏi chiến hào lao về phía kẻ địch, sự xuất hiện bất ngờ của anh trong biển lửa khiến kẻ địch sợ hãi quay đầu lăn xuống chân núi. Hết đạn, anh chạy về sở đại đội xin hơn chục quả lựu đạn và một khẩu súng máy. Đến lần thứ hai xin đạn, chân trái của anh bị bom làm đứt lìa, anh lê cái chân cụt lôi một hòm đạn súng máy lên núi. Người thanh niên sinh ra trong gia đình nghèo khó này đã liên tục nói một câu với chiến hữu bên cạnh trên trận địa: "Chúng ta tự nguyện đến Triều Tiên để đánh giặc lùn! Chúng ta tự nguyện đến Triều Tiên để đánh giặc lùn!" Cho đến khi giọt máu cuối cùng trên chân cạn kiệt.
Trong điều kiện không có bất kỳ loại vũ khí phòng không nào, có thể tưởng tượng được việc phi công Mỹ bắn phá trên đầu binh lính Trung Quốc cuồng loạn đến nhường nào. Sở chỉ huy Sư đoàn 112 thuộc Tập đoàn quân 38 nằm trong một cái hang núi, vốn tưởng rằng trong hang núi sẽ chẳng có nguy hiểm gì, nhưng vì cái hang núi này còn kiêm luôn việc tiếp nhận thương binh, nên số lượng lớn thương binh được khiêng vào đã khiến phi công Mỹ phát hiện ra mục tiêu. Phi công Mỹ lái máy bay lượn lách trong khe núi, làm những thùng xăng chất đống ở cửa hang bốc cháy. Trong khói dày và lửa lớn, không khí trong hang ngột ngạt đến nghẹt thở, những người chạy ra khỏi hang lần lượt ngã gục dưới làn đạn bắn phá của máy bay Mỹ. Sau khi máy bay Mỹ xác định được tình cảnh này của quan binh Trung Quốc, liền có một số lượng lớn máy bay tụ tập kéo đến, khe núi nhỏ mang tên Oa Động này tức thì trở thành bãi bắn phá của hàng loạt máy bay chiến đấu. Theo thống kê sau đó, trong trận tập kích trên không này, số quan binh Trung Quốc tử vong là 230 người, trong đó có rất nhiều nữ binh trẻ tuổi và sĩ quan cấp tiểu đoàn, trung đoàn.
Trong những ngày tháng cản kích gian khổ ở Phi Hổ Sơn, khó khăn nhất vẫn là vấn đề ăn uống.
Xạ thủ súng máy Đại đội 5 Lương Nhân Giang trong cơn đói cào cào đã ngậm một hòn đá trong miệng nhai, các binh lính kinh ngạc nhìn anh, nói: "Đá mà cũng ăn thay cơm được, thì cần người nhà nông làm gì?"
Lương Nhân Giang nói: "Không tin các cậu cứ thử xem, nước bọt ra nhiều, cái đói sẽ giảm đi một chút đấy."
Phát minh này nhanh chóng phổ biến trên trận địa, trên trận địa Phi Hổ Sơn vang lên một tiếng động nhai đá rào rạo.
Trong tiếng động ấy, có binh lính nói: "Chúng ta mà có máy bay thì tốt biết mấy, hồi đánh Tứ Bình từng thấy quân Quốc Dân Đảng thả đồ ăn từ trên không xuống, dù nhảy to bằng tám tấm chăn lụa, trứng gà treo ở trên rơi xuống đất cũng không vỡ!"
Cán bộ công tác quần chúng Phùng Hiếu Tiên của Đoàn 335 phụng mệnh đi quyên góp lương thực. Ông tìm thấy những người nông dân Triều Tiên vì không hiểu quân đội Trung Quốc nên đã trốn đi, giảng giải cho họ rất nhiều đạo lý, lại tìm đến ký túc xá của một mỏ chì, nhận được sự đồng cảm của công nhân Triều Tiên. Trưởng một quận đã dẫn đầu mổ thịt con bò cày của chính mình, để quần chúng nấu con bò này thành sáu nồi canh thịt lớn. Đồng thời, những người nông dân Triều Tiên góp một ít gạo, châm lửa nấu cơm dưới làn đạn bắn phá của máy bay Mỹ. Trên con đường dẫn đến trận địa của Đoàn 335, mọi con đường nhỏ đều nằm dưới sự phong tỏa nghiêm ngặt của máy bay Mỹ, thế nhưng, giữa những mảnh đạn rít gào hỗn loạn, vẫn xuất hiện một đội ngũ đưa cơm đội vạc trên đầu. Dẫn đường là một cụ già người Triều Tiên hơn 60 tuổi, cụ đội một chiếc mũ bằng gao mà binh lính Trung Quốc nhìn có vẻ giống chiếc mũ sa có cánh chuồn mà các vị huyện lệnh thời cổ đại Trung Quốc hay đội. Người phía trước trong đội ngũ ngã xuống, người phía sau lại trầm mặc thay thế vị trí đó, bình thản và ngoan cường tiến về phía Phi Hổ Sơn. Một người phụ nữ tên là Phác Hiếu Nam đội một cái mâm gỗ đựng cơm, cô bị mảnh đạn bắn trúng ngã xuống nhưng vẫn vừa lê lết vừa bò với cái mâm gỗ, bò thẳng lên đến trận địa. Binh lính Trung Quốc bưng bát cơm nước mắt lưng tròng ăn không nổi. Kẻ địch lại bắt đầu tấn công, binh lính đặt bát cơm xuống, nói: "Mẹ kiếp, ông đây không ăn nữa, đánh chết mẹ lũ chó đẻ chúng mày!"
Những người nông dân và công nhân Triều Tiên đưa cơm cũng tham gia chiến đấu. Khi đánh lui đợt tấn công của địch một lần nữa, thương vong trên trận địa bao gồm cả những người dân Triều Tiên đưa cơm đó.
Cái mâm gỗ mà người phụ nữ Triều Tiên Phác Hiếu Nam dùng để đưa cơm lên Phi Hổ Sơn đã được binh lính Trung Quốc giữ lại, sau này chiếc mâm gỗ đó trở thành di vật lịch sử được Bảo tàng Lịch sử Cách mạng Quân sự Trung Quốc trân trọng cất giữ.
Ngày 8 tháng 11, là ngày cuối cùng Đoàn 335 cản kích tại Phi Hổ Sơn, cũng là ngày gian khổ nhất. Ngày hôm nay quân đội Mỹ điều động hơn 80 máy bay, hàng trăm cỗ đại bác đồng loạt oanh tạc, các trận địa trên Phi Hổ Sơn cuối cùng đều bước vào trạng thái chiến đấu giáp lá cà, tiếng hét gào và tiếng rên rỉ vang vọng lâu dài trên trận địa dài tới 5 km. Binh lính Lực lượng Liên hợp quốc biết binh lính Trung Quốc đã hết đạn rồi, sau một trận giáp lá cà thì dứt khoát lùi lại 20 mét nghỉ ngơi, rồi lại một lần nữa lao lên. Trận địa Phi Hổ Sơn lặp đi lặp lại cảnh mất rồi lại chiếm trong những cú vật lộn của binh lính hai bên, hỗn chiến từ khi mặt trời mọc kéo dài cho đến khi mặt trời lặn.
Lúc này, cấp trên bảo Phạm Thiên Ân đến sở chỉ huy sư đoàn họp, anh nói anh không thể rời khỏi nơi này, anh đi rồi sẽ làm lung lay lòng quân. Sư đoàn trưởng ra lệnh: "Cậu buộc phải đến tận nơi! Mọi hậu quả tôi chịu trách nhiệm!"
Hóa ra, cấp trên ra lệnh cho Đoàn 335 rút lui 30 km.
Phạm Thiên Ân nghe xong liền nổi giận: "Rút? Đánh chết đi sống lại không cho kẻ địch tiến lên một bước mà lại nhận kết quả là rút lui á? Rút nữa chẳng phải là đến sông Áp Lục rồi sao? Công tác tư tưởng của binh lính không thể thông được!"
Sư đoàn trưởng nói: "Đây là mệnh lệnh! Chấp hành!"
Đoàn 335 đã cản kích tại Phi Hổ Sơn trọn vẹn năm ngày năm đêm, chống lại cuộc tấn công vô cùng ngoan cường của một sư đoàn quân đội Hàn Quốc và một bộ phận quân Mỹ, tiêu diệt, làm bị thương và bắt sống 1800 tên địch.
Phạm Thiên Ân sẽ không thể biết rằng, lúc này Bành Đức Hoài phát hiện tốc độ tiến về phía Bắc của Lực lượng Liên hợp quốc không nhanh, sợ quyết tâm tiến về phía Bắc của MacArthur có thay đổi, có lẽ là do Tập đoàn quân 38 đánh quá ác liệt, nên mới bảo họ nới tay một chút.
Việc Đoàn 335 rút lui khiến Lực lượng Liên hợp quốc đang tấn công vui mừng khôn xiết. Các phương tiện truyền thông đại chúng lớn tiếng tuyên truyền "chiến thắng vĩ đại" của Lực lượng Liên hợp quốc trong trận Phi Hổ Sơn: "Cuộc tiến công mãnh liệt", "Lương thực và đạn dược của quân cộng sản thiếu thốn, sĩ khí sa sút", "Xác chết phơi đầy đồng, trông rất kinh hãi", đồng thời còn nắm bắt được tin tình báo "tàn quân" của quân đội Trung Quốc đang "chạy trốn về phía Bắc".
Cùng ngày, Đoàn 335 lập tức chuyển dời đến khu vực Cửu Long Lý, tiếp tục bố trí phòng tuyến để dụ địch. Sau khi Phạm Thiên Ân biết được kế hoạch dụ địch, bèn đùa một vố với Lực lượng Liên hợp quốc ở đây: Đầu tiên đánh cản kích tại một cao điểm vô danh nhỏ, sau khi đợt xung phong thứ nhất của địch bị đánh lui, liền ra lệnh cho bộ phận nhanh chóng rút khỏi trận địa, chạy lên ngọn núi ở đằng xa xem kịch vui. Lực lượng Liên hợp quốc chuẩn bị cho đợt tấn công thứ hai trước tiên tiến hành pháo kích và oanh tạc quy mô lớn đối với cao điểm, sau đó tấn công, sau khi chiếm được ngọn núi không một bóng người thì đang thấy khó hiểu, máy bay phối hợp tác chiến của quân Mỹ bay đến vùng trời phía trên cao điểm, bắt đầu oanh tạc và bắn phá như một thói quen lệ thường, kết quả của những tên lính Lực lượng Liên hợp quốc chiếm được ngọn núi đương nhiên vô cùng thảm hại.
Đoàn 335 vừa đánh vừa rút cản kích ở khu vực Cửu Long Lý suốt năm ngày năm đêm. Điểm khác biệt là không còn tử thủ như ở Phi Hổ Sơn nữa. Họ hoặc là tấn công một trận rồi rút lui; hoặc là chiếm một cao điểm rồi bày ra vẻ mặt kiên quyết tử thủ giữ vững hai ngày rồi rút lui; hoặc là đột nhiên tiến lên, đêm khuya mò qua vài ngọn núi rồi biến mất tăm. Khiến kẻ địch đuổi theo, nhưng lại không để hắn thực sự đuổi kịp, chiêu này là trò mà binh lính Trung Quốc có thể ngủ dựa vào thân cây, chỉ sống bằng vài hạt ngô rất thích làm, cũng là tuyệt kỹ gia truyền của quân đội Trung Quốc. Trên thế giới lúc bấy giờ chỉ có quân đội Nhật Bản và quân Quốc Dân Đảng chạy trốn sang Đài Loan là từng nếm trải thứ chiến thuật không thể diễn giải rõ ràng này, giờ thì đến lượt quân đội Hàn Quốc và Lực lượng Liên hợp quốc nếm trải cái cảm giác xoay mòng mòng này.
Sư đoàn 119, Đoàn 356 thuộc Tập đoàn quân 40 của Trung Quốc cũng là một trung đoàn gánh vác nhiệm vụ dụ địch. Đoàn trưởng Phù Tất Cử đã vạch ra cả một bộ phương án dụ địch đi sâu. Ngày 10 tháng 11, sau khi tiếp xúc với Sư đoàn Kỵ binh số 1 của Mỹ tiến về phía Bắc ở khu vực Thiên Phật Sơn, họ kiên quyết cản kích một trận ở mỗi ngọn núi, rồi liên tục từ bỏ, rút lui thẳng đến đỉnh chính. Trên trận địa đỉnh chính, họ tiến hành cản kích quy mô lớn suốt một ngày trời, thương vong của cả hai bên đều rất lớn, nhưng đến tối trời tối hẳn, Đoàn 356 lại rút lui, chờ đợi sự xuất hiện của Sư đoàn Kỵ binh số 1 Mỹ ở trận địa tuyến hai đã định trước. Kết quả là chờ đợi suốt ba ngày, điều này khiến Phù Tất Cử căng thẳng đến mức suýt nghẹn, ông sợ vì mình đánh quá hăng mà quân Mỹ không đến nữa. Cho đến ngày 16, họ cuối cùng cũng phát hiện ra đội trinh sát của quân Mỹ, Đoàn 356 lập tức chủ động tiếp lửa, đánh mạnh một trận rồi chuồn. Cứ đánh một trận rồi lại lùi một trận với Sư đoàn Kỵ binh số 1 Mỹ như vậy, cuối cùng sư đoàn điện báo tới nói rằng quân Mỹ đã sai lầm cho rằng "quân cộng sản là tàn quân đang chạy trốn về phía Bắc", Phù Tất Cử lúc này mới trút bỏ được gánh nặng trong lòng.
Thế nhưng, Bành Đức Hoài vẫn cho rằng vị tư lệnh đa nghi Walker này tiến lên quá chậm.
Tốc độ tiến về phía Bắc của Lực lượng Liên hợp quốc chính là thước đo để phán đoán thực lực và ý đồ của quân đội Trung Quốc. Thế là, Chủ nhiệm Chính trị Chí nguyện quân Đỗ Bình đề xuất thả một nhóm tù binh. Hành động này ít nhất có thể thu về hai hiệu quả: Một là thể hiện tinh thần nhân đạo của quân đội Trung Quốc, hai là tiếp tục "tỏ ra yếu kém trước kẻ địch".
Mao Trạch Đông cực kỳ tán thưởng đề xuất này, lập tức điện hồi âm: "Các đồng chí thả một nhóm tù binh rất tốt, nên nhanh chóng thả đi, sau đó nên bất cứ lúc nào cũng chia thành từng đợt thả đi, không cần xin chỉ thị."
Tối ngày 18 tháng 11, gió lạnh hiu hắt. 27 tù binh Mỹ và 76 tù binh Hàn Quốc được tuyển chọn trong trại tù binh sau khi cắt tóc, tắm rửa, phát lộ phí và ăn một bữa ăn phụ, dưới sự dẫn dắt của Trưởng khoa Tổ chức Chí nguyện quân Tư Đông Sơ và lái xe Vương Đại Hải, đã lên xe tải khởi hành hướng về khu vực Vân Sơn. Ở tuyến đầu trận địa, Tư Đông Sơ nói với các tù binh rằng: "Các anh vạn nhất mà không qua được tuyến cảnh giới của quân Mỹ, thì cứ quay lại, chúng tôi hoan nghênh!"
Đồng thời, Tập đoàn quân 42 cũng bắt đầu thả tù binh trong lúc dụ địch. Để làm cho tù binh tin rằng quân ta đang liên tiếp bại trận, tình trạng sắp phải chạy trốn qua sông Áp Lục, bộ chỉ huy tập đoàn quân ra lệnh cho bộ phận cố ý vứt lại một số súng ống và ba lô trên con đường rút lui.
Tập đoàn quân 39 trước khi thả tù binh, các sĩ quan của Chí nguyện quân đã đứng trước mặt các tù binh để phát biểu, nội dung là: Chúng tôi không phải là lực lượng chủ lực gì cả, chúng tôi đã rút lui về phía sau rồi, không đánh nhau nữa, chúng tôi không có đạn dược và thuốc men, chuẩn bị về nước đây. Sau khi giao dịch với quân Mỹ ở tuyến đầu, binh lính Trung Quốc dùng cáng đưa những tù binh bị thương và đau ốm đến bên đường cái, sau đó rút lui, để quân Mỹ đến khiêng cáng đi.
Ridgway - người sau này đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Viễn Đông của quân Mỹ - đã viết thế này trong hồi ký: "Cách làm thả tù binh của người Trung Quốc hoàn toàn khác với cách đối xử với tù binh của người Bắc Triều Tiên. Có một lần, người Trung Quốc thậm chí còn dùng cáng khiêng những thương binh nặng đặt bên đường cái, rồi rút lui. Lúc nhân viên y tế bên phía chúng tôi ngồi xe tải đến đó đón thương binh, họ không hề nổ súng về phía chúng tôi."
Phóng viên hãng thông tấn Associated Press (AP) White trong bài báo viết cho Nhật Bản ngày 23 tháng 11 nói rằng: "Tù binh Mỹ được thả nói rằng, Quân tình nguyện Nhân dân Trung Quốc đối xử với họ rất tốt. Họ nhận được khẩu phần ăn giống như Quân tình nguyện Nhân dân Trung Quốc. Chí nguyện quân từng dùng thiết bị hạn chế của mình để chữa trị cho những thương binh này. Người Trung Quốc không lục soát túi của người Mỹ, đồng thời để họ giữ lại thuốc lá, đồng hồ vàng và những vật dụng cá nhân khác."
Mao Trạch Đông nghe báo cáo về tình hình thả tù binh xong, đã điện chỉ thị cho Bành Đức Hoài: "Xin chuẩn bị sau chiến dịch lần này, lại thả thêm một nhóm nữa, ví dụ như ba bốn trăm người."
Quân đội Trung Quốc thả tù binh lập tức gây ra phản ứng quốc tế mạnh mẽ. Đồng thời, cũng gây ra sự hoảng loạn cực độ cho cục tình báo quân đội Mỹ. Người Mỹ cực kỳ muốn biết hành động này của quân đội Trung Quốc sẽ tạo ra ảnh hưởng như thế nào đối với cuộc chiến tranh mà họ đang tiến hành.
Tư liệu lịch sử chiến tranh của quân Mỹ cho thấy họ lúc đó từng phân tích rằng, người Trung Quốc thường yêu cầu những tù binh được thả phải hiểu rằng: "Các anh là nạn nhân của sự áp bức tư bản chủ nghĩa, chỉ có trốn thoát khỏi địa ngục đế quốc chủ nghĩa thì mới có được sự tự do của thiên đường cộng sản", yêu cầu tù binh đem tinh thần nhân đạo của quân đội Trung Quốc "nói cho đồng đội của các anh nghe", "thôi thúc đồng đội của các anh quay nòng súng hướng vào các sĩ quan của các anh". Sự xuất hiện của những lời lẽ này là vì người phương Tây vẫn hoàn toàn chưa hiểu rõ người Trung Quốc và quân đội Trung Quốc. Người phương Tây không biết rằng, quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc khi còn là một đội ngũ du kích nông dân, thì trong điều lệnh quân đội đầu tiên do họ định ra đã viết rõ ràng điều khoản "không được ngược đãi tù binh".
Vào ngày 5 tháng 11 khi Chiến dịch thứ nhất vẫn còn đang trong giai đoạn kết thúc, Tư lệnh Quân tình nguyện Nhân dân Trung Quốc Bành Đức Hoài từng đặc biệt viết một bức thư rất dài cho Kim Nhật Thành, giới thiệu chính sách và kinh nghiệm đối xử khoan hồng với tù binh của quân đội Trung Quốc.
Do từ xưa đến nay số phận của binh lính trong chiến tranh vô định, số phận của tù binh lại càng nơm nớp lo sợ ngày qua ngày, thế nên việc chép lại một lần nữa nội dung chính trong bức thư dài của Bành Đức Hoài là điều rất cần thiết, từ những dòng chữ có thể thấy được tiêu chuẩn đạo đức của một quốc gia văn minh ngàn năm.
Bành Đức Hoài nói: Do chúng ta áp dụng chính sách tù binh kể trên, chính là công tác chính trị làm tan rã quân đội giải phóng (chú thích: ý chỉ quân địch), khiến sức chiến đấu của địch dần suy yếu, đồng thời tranh thủ được đông đảo tù binh để bổ sung cho chính mình. Hiện nay trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, có một phần chiến sĩ là do binh lính tù binh bổ sung vào. Trong Nội chiến, nguồn binh lực của chúng ta chủ yếu dựa vào tù binh. Những tù binh được giải phóng này, sau khi qua giáo dục cải tạo, rất nhiều người đều đồng ý gia nhập đội ngũ cách mạng, có không ít người đã trở thành anh hùng chiến đấu và công thần nhân dân trong Nội chiến, điều này chứng minh tù binh là có thể tranh thủ và có thể cải tạo, cũng chứng minh chính sách khoan hồng với tù binh của đồng chí Mao Trạch Đông là hoàn toàn chính xác.
Trong thời kỳ đầu cách mạng của chúng ta, thậm chí sau này ở một số ít địa phương, có một số đồng chí căm hận sự tàn bạo của kẻ địch, áp dụng thái độ báo thù đối với quan binh bị bắt làm tù binh, điều này rất khó tránh khỏi. Thế nhưng hành vi báo thù này cực kỳ bất lợi cho cách mạng, bởi vì kết quả của việc báo thù rửa hận này đủ để tạo cớ cho kẻ địch tung tin đồn, chỉ có thể thúc đẩy sự đoàn kết bên trong của kẻ địch, gia tăng sức chiến đấu của kẻ địch. Nếu như hễ gặp kẻ địch là phải đánh liều mạng, vậy thì cái giá để giành được thắng lợi cách mạng sẽ càng lớn hơn nữa. Do đó, đối với hành vi báo thù sai lầm của một số đồng chí này, bắt buộc phải tiến hành giáo dục thuyết phục kiên trì, kiên quyết, khiến họ triệt để sửa đổi, thì mới có thể làm tan rã kẻ địch, lớn mạnh chính mình, giành được thắng lợi cách mạng.
Cuộc chiến tranh mà nhân dân Triều Tiên đang tiến hành là cuộc chiến tranh cách mạng vì độc lập, dân chủ và tự do của Triều Tiên, thông qua việc khoan hồng với tù binh, đem chân lý này truyền đạt vào trong quân đội địch, dựa theo kinh nghiệm của Trung Quốc thì hiệu quả mang lại sẽ rất lớn. Công tác khoan hồng và giáo dục cải tạo đối với tù binh, điều này chính là thể hiện khí phách vĩ đại quang minh lỗi lạc của nhân dân lao động và quân đội của họ, một đội ngũ cách mạng sở hữu khí phách như thế thì nhất định là đánh đâu thắng đó, bách chiến bách thắng. Những kinh nghiệm trên đặc biệt được giới thiệu để các đồng chí tham khảo khi đối xử với tù binh trong tương lai.
Dưới sự dụ dỗ của quân đội Trung Quốc, Lực lượng Liên hợp quốc cuối cùng đã sinh ra một ảo giác to lớn, đó là cuộc oanh tạc trên không mà họ thực hiện đã ép lực lượng chi viện của Trung Quốc không thể bước vào chiến trường, mà binh lực của các đơn vị tham chiến thì có hạn, lại đã mất đi quyết tâm chiến đấu dưới hỏa lực mãnh liệt của Lực lượng Liên hợp quốc, quân đội Trung Quốc "không phải là một thế lực không thể đánh bại".
Ngày 21 tháng 11, Lực lượng Liên hợp quốc ở chiến tuyến phía Tây đã tiến đến "đường bắt đầu tấn công" do MacArthur hoạch định, hoàn thành việc triển khai toàn tuyến của chiến dịch.
Mà lúc này, sáu tập đoàn quân của quân đội Trung Quốc ở chiến tuyến phía Tây gồm các tập đoàn quân số 50, 66, 39, 40, 42, 38 đã lần lượt di chuyển đến khu vực phía Tây Bắc Định Châu, Quế Thành, Thái Xuyên, Vân Sơn, phía Bắc Đức Xuyên cũng như khu vực phía Bắc Ninh Biên, ba quân của Binh đoàn số 9 ở chiến tuyến phía Đông cũng đã toàn bộ đến được địa điểm dự định.
Ngày 22, 23 tháng 11, Lực lượng Liên hợp quốc tiếp tục tiến về phía Bắc. Tập đoàn quân số 8 Mỹ ở chiến tuyến phía Tây chỉ huy tổng cộng ba quân, tám sư đoàn, ba lữ đoàn và một đoàn lù dù gồm Tập đoàn quân số 1, Tập đoàn quân số 9 và Binh đoàn số 2 Hàn Quốc. Cánh trái của họ, Tập đoàn quân số 1 Mỹ chỉ huy Sư đoàn 24 Mỹ, Sư đoàn 1 Hàn Quốc, Lữ đoàn 27 Anh lần lượt tiến công từ khu vực Gia Sơn Lý, Cổ Thành Động theo hướng Tân Nghĩa Châu, Sóc Châu; Tập đoàn quân số 9 Mỹ chỉ huy Sư đoàn 25 Mỹ, Sư đoàn 2 Mỹ lần lượt tiến công từ khu vực Lập Thạch Lý, Cầu Trường theo hướng Bích Đồng, Sở Sơn, đội thược thứ hai của họ là Lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ nằm ở khu vực Quân Vu Lý; Sư đoàn Kỵ binh số 1 Mỹ cơ động ở khu vực Thuận Xuyên. Ở cánh phải, Binh đoàn số 2 Hàn Quốc chỉ huy Sư đoàn 7 và Sư đoàn 8 Hàn Quốc, lần lượt tiến công từ Tự Động phía bắc Đức Xuyên và khu vực Ninh Biên theo hướng Hy Xuyên, Giang Giới, đội thược thứ hai ở hướng này là Sư đoàn 6 Hàn Quốc cơ động ở khu vực Bắc Thương Lý, Giả Thương Lý.
Lữ đoàn 29 Anh nằm ở Bình Nhưỡng, Đoàn dù 187 Mỹ nằm ở Sa Li Viện, làm dự bị tổng chiến lược cho Tập đoàn quân số 8 ở chiến tuyến phía Tây.
Chiến tuyến phía Đông, Tập đoàn quân số 10 Mỹ do trực tiếp MacArthur chỉ huy, quản hạt Sư đoàn Thủy quân lục chiến số 1 Mỹ, Sư đoàn 7, Sư đoàn 3 Mỹ tiến công từ Hồ Trưởng Tân theo hướng Vũ Bình Lý, Giang Giới. Binh đoàn số 1 Hàn Quốc chỉ huy Sư đoàn Thủ đô, Sư đoàn 3 Hàn Quốc tiến dọc bờ biển phía đông tiến đẩy về phía bờ sông Đồ Môn.
Đến đây, Lực lượng Liên hợp quốc đã toàn bộ bị dụ đến chiến trường dự định, đi vào một cái túi lớn hình vòng cung rộng khoảng 140 km từ Thanh Đình Lý ở phía tây, qua Thái Xuyên, Vân Sơn, Tân Hưng Động đến phía đông Ninh Biên, tập kết ở miệng của cái túi lớn này là tổng cộng chín quân của Quân tình nguyện Nhân dân Trung Quốc tham chiến chuẩn bị sẵn. Mà lúc này, binh lực của Lực lượng Liên hợp quốc phân tán, sườn hở hoác, hậu phương trống rỗng, cơ hội chiến đấu mà Bành Đức Hoài hằng mong ước cuối cùng đã đến.
Ngửi thấy mùi cơm Trung Quốc là rút lui!
Lễ Tạ ơn (Thanksgiving Day), bắt nguồn từ thuộc địa Plymouth của Anh ở Bắc Mỹ, cư dân ở đây sau khi được mùa vào năm 1621 đã tổ chức hoạt động ăn mừng lớn để "tạ ơn Chúa", sau đó dần dần hình thành một ngày lễ cố định, tên là Lễ Tạ ơn. Thời gian của ngày lễ là thứ Năm thứ tư của tháng 11 hàng năm.
Lễ Tạ ơn năm 1950 là ngày 23 tháng 11.
Dinh thự xa hoa của MacArthur ở Tokyo vào ngày 23 tháng 11 đã thắp lên những ngọn nến của ngày Lễ Tạ ơn, mùi hương tỏa ra từ những con gà tây mới ra lò trên bàn ăn khiến người ta vô cùng dễ chịu. MacArthur cùng người nhà làm lễ cầu nguyện "tạ ơn Chúa" xong thì bắt đầu thưởng thức bữa tối ngày lễ. MacArthur phá lệ rót thêm một ly sủi tăm (champagne) sau món tráng miệng, rồi đứng trước cửa sổ ngắm nhìn muôn nhà sáng đèn ở Tokyo. Lúc này, phát thanh viên trong radio đang miêu tả thực đơn Lễ Tạ ơn của binh lính Mỹ ở tiền tuyến Triều Tiên, nghe vào không giống như đang báo cáo một bản thực đơn trong chiến hào, mà giống như đang giới thiệu một buổi tụ tập của các nhà tài phiệt ở câu lạc bộ golf hơn: Cocktail, ô liu nhồi, gà tây non quay sốt nam việt quất, salad hoa quả, bánh ngọt, bánh nướng nhân thịt và cà phê. MacArthur không có hứng thú với nội dung cụ thể của thực đơn này, tối nay ông sẽ trực tiếp bay ra tiền tuyến Triều Tiên, ông muốn đến giữa những chàng trai Mỹ đó để đi dạo xem thế nào. Nếu các phóng viên có thể chụp một bức ảnh Tướng MacArthur cùng binh lính Mỹ bàn luận về hương vị gà tây, và đăng lên báo chí, thì ngày Lễ Tạ ơn này coi như viên mãn.
Ngày 24, thời tiết phía trên bầu trời Tân An Châu bên bờ sông Thanh Xuyên ở Triều Tiên - nơi đặt trụ sở Bộ chỉ huy Tập đoàn quân số 8 quân Mỹ - vô cùng quang đãng. Khi máy bay chuyên cơ của MacArthur hạ cánh xuống đường băng lởm chởm ổ gà, các tướng lĩnh đứng đầu là Tướng Walker đã cung kính đón chào ông. MacArthur mặc áo khoác parka bước xuống chuyên cơ, không hề bắt tay với các tướng lĩnh quân sự của mình trước, vì ông biết các phóng viên không có hứng thú với những bức ảnh như vậy, thế nên ông bất ngờ ngồi xổm xuống trước, vỗ vỗ đầu một con chó nhỏ giống Đức tên là Ebei mà Tướng Milburn - Tư lệnh Tập đoàn quân số 1 Mỹ mang đến, dường như còn nói một câu nói đùa gì đó. Các phóng viên đã chụp lại bức ảnh thoải mái vui vẻ này, và dưới tiền đề không nghe rõ Tướng MacArthur nói câu nói đùa gì, đã cùng với các tướng lĩnh Mỹ có mặt ở hiện trường ngoác miệng cười lớn.
Tiếp đó MacArthur ngồi xe Jeep đi thị sát tiền tuyến.
MacArthur nửa đùa nửa thật trách mắng Tướng Walker hành động chậm chạp, Walker từ trước đến nay luôn giữ thái độ không bày tỏ quan điểm về vấn đề này. Ông nghe thấy MacArthur nói với Thiếu tướng Chu Chi - Tư lệnh Sư đoàn 24 Mỹ rằng: "Tôi đã bảo đảm với vợ và mẹ của các chàng trai Sư đoàn 24 rồi, các chàng trai sẽ được về nước vào lễ Giáng sinh. Đừng biến tôi thành kẻ lừa đảo chứ. Tiến đến sông Áp Lục, tôi sẽ cho các cậu đi."
Lời nói của MacArthur đã được phóng viên tạp chí Time của Mỹ có mặt tại hiện trường ghi nhớ kỹ lưỡng.
Các phóng viên chớp lấy chủ đề này, hỏi: "Thưa Tướng quân, ý của ông có phải là, cuộc chiến tranh này có thể kết thúc trước lễ Giáng sinh không?"
MacArthur nói: "Đúng vậy. Thế tiến công mạnh mẽ của cánh quân bên trái tôi sẽ không thể cản nổi, bất kỳ sự kháng cự nào cũng sẽ yếu ớt và vô vọng; cánh quân bên phải của tôi có sự phối hợp của lực lượng hải không quân mạnh mẽ, sẽ ở vào vị trí vô cùng có lợi. Sự hội họp của cánh trái và cánh phải bên bờ sông Áp Lục, xét theo một ý nghĩa nào đó, chính là sự kết thúc của chiến tranh."
"Tướng quân cho rằng quân đội Trung Quốc có bao nhiêu người ở Triều Tiên?"
"Ba vạn quân chính quy và ba vạn chí nguyện quân."
"Dự tính sau khi thắng lợi là gì?"
"Tập đoàn quân số 8 điều về Nhật Bản, hai sư đoàn đi châu Âu... Trước lễ Giáng sinh để các con được về nhà!"
Hôm sau, ngày 25 tháng 11, các tờ báo lớn của Mỹ đăng tải tiêu đề: "Tướng MacArthur bảo đảm kết thúc chiến tranh trước lễ Giáng sinh", "Binh lính có thể về nhà vào lễ Giáng sinh", "Chiến thắng trong tầm tay — Lễ Giáng sinh còn xa nữa đâu?"...
Tên gọi của chiến dịch "Cuộc tấn công lễ Giáng sinh" kể từ đó mang ý nghĩa châm chọc.
Câu nói "Trước lễ Giáng sinh để các con được về nhà" ngày sau đã trở thành trò cười vĩnh viễn của mọi người sau bữa cơm trà nước. Mặc dù sau này trong những lời biện bạch và hồi ký của mình, MacArthur cực kỳ phủ nhận việc bản thân từng nói những lời tương tự, nhưng tất cả các tướng lĩnh quân sự cao cấp của quân Mỹ tại sân bay Tân An Châu và số lượng lớn phóng viên đều là nhân chứng, việc chối bay chối biến hoàn toàn là chuyện không thể xảy ra. Thiếu tướng Whitney - tham mưu của MacArthur sau này hồi tưởng lại rằng, lời nói lúc đó của MacArthur là "nửa đùa, nhưng ý nghĩa và mục đích mang theo tính khẳng định nào đó". Lời biện bạch của chính MacArthur là: "Trong một số cuộc nói chuyện với các sĩ quan, tôi nói với họ rằng Tướng Bradley hy vọng điều hai sư đoàn về nước trước lễ Giáng sinh, nếu như Trung Quốc đỏ không can thiệp vào chiến tranh... Giới báo chí đã bóp méo câu nói này thành lời tiên tri về việc chúng ta nhất định phải thắng, hơn nữa cách giải thích bị bóp méo giả mạo này sau đó đã được dùng làm một thứ vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ để giáng cho tôi những đòn đau."
Điều mà MacArthur không thể phủ nhận chính là bản thông cáo mà ông công bố ngày hôm đó: Vòng vây siết chặt của Lực lượng Liên hợp quốc ở Bắc Triều Tiên đối với quân đoàn tinh nhuệ đang chiến đấu ở đó hiện đã đến gần thời điểm mấu chốt. Trong ba tuần qua, với tư cách là thành phần độc lập của chiếc kìm sắt này, các loại không quân với sự hiệp đồng và sức chiến đấu kiểu mẫu đã phát động cuộc tấn công liên tục, cắt đứt thành công tuyến tiếp tế từ phương Bắc đến, như vậy, việc viện trợ diễn ra do đó giảm đi đột ngột, sự tiếp tế cơ bản bị hạn chế rõ rệt. Cánh phải của cuộc tiến công gọng kìm này dưới sự yểm trợ hiệu quả của hải quân, hiện đã đến được vị trí bao vây có tầm nhìn cao áp đảo, chia đôi khu vực miền Bắc có khả năng về mặt địa lý có kẻ địch. Sáng nay, đoạn phía tây của cuộc tiến công gọng kìm đã phát động tổng tấn công, nhằm hoàn thành việc bao vây và siết chặt chiếc kìm. Nếu có thể thành công, điều này trên thực tế sẽ thu hẹp chiến tranh, khôi phục lại sự thống nhất hòa bình của Triều Tiên, khiến lực lượng Liên hợp quốc rút lui nhanh chóng, đồng thời khiến nhân dân và đất nước Triều Tiên được hưởng trọn vẹn chủ quyền và sự bình đẳng quốc tế. Chúng ta chính vì điều này mà chiến đấu.
Tờ The Times của Anh ngày hôm đó tuyên bố trên báo chí: "Bảy sư đoàn Liên hợp quốc (ba sư đoàn Mỹ và bốn sư đoàn Hàn Quốc) cũng như lữ đoàn Khối thịnh vượng chung Anh đã chuẩn bị sẵn sàng, để tiến hành cái gọi là cuộc tấn công cuối cùng, nhằm quét sạch đoạn hạ lưu sông Áp Lục này từ bờ biển phía tây đến địa điểm mà quân đội Hàn Quốc đã tiến tới."
Trong lịch sử chiến tranh thế giới, không có một người chỉ huy quân sự nào trước khi tấn công lại công khai tuyên bố kế hoạch tấn công của mình giữa ban ngày ban mặt như vậy, các nội dung quân sự tuyệt mật như tuyến đường tấn công, quy mô, binh lực, mục đích v.v. đều được dán công khai giống như công bố kế hoạch du lịch vậy.
Báo chí Anh nói rằng, việc lớn tiếng tuyên truyền cuộc tấn công này, "rõ ràng là một cách đánh giặc kỳ lạ nhất".
Tâm trạng của Willoughby - sĩ quan tình báo của MacArthur lúc này căng thẳng hơn vị tư lệnh của ông ta rất nhiều. Người theo chủ nghĩa lạc quan nổi tiếng này căn cứ vào bài học của Chiến dịch thứ nhất, trước thềm "Cuộc tấn công lễ Giáng sinh", sự đánh giá của ông ta đối với quân đội Trung Quốc thực tế hơn nhiều so với trước đây. Ngày 15 tháng 11, Willoughby nhắc nhở tư lệnh của mình rằng: "Khoảng ba mươi vạn quân Đảng Cộng sản Trung Quốc có kinh nghiệm chiến đấu đã tập kết tại đoạn 128 km từ An Đông đến Mãn Phố ở phía bắc sông Áp Lục. Tình báo đến từ Quảng Đông, Trung Quốc cũng cho thấy, số lượng lớn pháo binh, vũ khí nhẹ, đạn dược và các trang thiết bị quân sự khác đang được xếp lên tàu vận chuyển về phía Bắc."
Willoughby cảm thấy hoài nghi đối với báo cáo "không phát hiện thấy bóng dáng quân đội Trung Quốc" của các phi công trinh sát cơ quân Mỹ bay không ngừng nghỉ suốt 24 giờ. Ông cho rằng quân đội Trung Quốc có khả năng thâm nhập bộ đội vào Triều Tiên, bởi vì quân đội Trung Quốc rất giỏi tận dụng những con đường hẻo lánh để hành quân, và tận dụng màn đêm làm sự che chở. Hơn nữa sự hỗ trợ hậu cần của đội quân này tương đối cũng dễ dàng, bởi vì tuyến tiếp tế vô cùng ngắn.
Về khả năng cơ động và đặc điểm hành quân ẩn nấp của quân đội Trung Quốc, sử liệu chiến tranh của quân Mỹ miêu tả vô cùng chi tiết: Khả năng hành quân cường độ cao của quân đội Trung Cộng là xuất chúng phi thường. Theo tình báo đáng tin cậy, ba sư đoàn Trung Cộng xuất phát từ An Đông bên bờ sông Áp Lục, dùng thời gian từ mười sáu đến mười chín ngày hành quân hai trăm tám mươi sáu dặm, đến được một khu vực tập kết ở miền Đông Bắc Triều Tiên; một sư đoàn trong mười tám ngày, trên những con đường núi gập ghềnh hiểm trở hành quân trung bình mỗi ngày mười tám dặm. "Ban ngày" của binh lính Trung Cộng bắt đầu vào thời điểm màn đêm buông xuống, đại khái vào khoảng bảy giờ tối, cho đến ba giờ sáng hôm sau. Khi trời hửng sáng, tức là năm giờ rưỡi, họ phải đào công sự, ngụy trang tất cả vũ khí trang bị, sau đó ăn cơm. Ban ngày, chỉ có bộ đội trinh sát là hoạt động, để tìm kiếm nơi đóng quân cho ngày hôm sau. Lực lượng chủ lực đều đứng im bất động và được ngụy trang, từ ảnh chụp hàng không và quan sát trên không là không thể nhìn thấy được. Nếu một binh lính Trung Cộng tháo gỡ ngụy trang vào ban ngày, khi máy bay đến anh ta nhất định phải đứng im bất động tại nơi để lại dấu vết của mình, sĩ quan có quyền bắn chết ngay kẻ trái lệnh.
Mặc dù trinh sát trên không của máy bay quân Mỹ rất nghiêm ngặt, nhưng sự cơ động tiến vào của đại binh đoàn quân đội Trung Quốc vẫn không bị phát hiện. Sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, các nhà chiến lược quân sự của Mỹ, Anh và các nước đã gọi hành động này là "kỳ tích trong lịch sử chiến tranh đương đại".
Tập đoàn quân số 8 Mỹ đã giải thích như sau về việc vì sao không phát hiện ra sự điều động quy mô lớn của quân đội Trung Quốc:
Một, khi có được tình báo tương đối chính xác, một quan niệm có sẵn "không thể nào có chuyện đó đâu" đã chi phối sự phán đoán. Bất kỳ tình báo nào nếu người chỉ huy không tin, thì không thể gọi đó là tình báo hiệu quả.
Hai, tổ chức tình báo của Tập đoàn quân số 8 nghèo nàn. Mạng lưới tình báo do Sư đoàn 24 Mỹ thiết lập ở Hàn Quốc ban đầu sau đó đã giải tán, từ đó về sau không thiết lập lại mạng lưới tình báo hiệu quả nào nữa.
Ba, về kỹ thuật tình báo không có thủ đoạn hiệu quả để trinh sát ban đêm. Sĩ quan phán đoán không có năng lực nhìn thấu sự ngụy trang của quân đội Trung Quốc.
Sư đoàn, các sĩ quan trinh sát và sĩ quan phán đoán do tập đoàn quân triệu tập đều là những người đã nhiều năm không tham gia chiến tranh, năm tháng khiến họ đã mất đi sự nhạy cảm nghề nghiệp của mình.
Còn về việc mãi vẫn chưa làm rõ được con số chính xác của quân đội Trung Quốc, lời giải thích của Tập đoàn quân số 8 là họ "đã rơi vào một cú lừa không đáng kể gì của quân đội Trung Quốc". Bởi vì, "quân đội Trung Quốc quy định xưng hô giảm đi hai cấp để sử dụng, tức là gọi quân đoàn thành đơn vị này đơn vị nọ, nghe vào giống như một trung đoàn, sư đoàn nghe vào giống như một tiểu đoàn, trung đoàn nghe vào giống như một đại đội."
Những lời lẽ này chính là minh chứng cho quan điểm của Tướng Walker - Tư lệnh Tập đoàn quân số 8 Mỹ: Tất cả đều là sự thoái thác gượng gạo sau khi thất bại.
Tướng Walker - Tư lệnh Tập đoàn quân số 8 Mỹ trong mắt MacArthur là một kẻ nhát gan và hèn nhát. Khi chiến dịch mới sắp bắt đầu, Walker không còn cảm thấy tức giận vì phương thức chỉ huy độc đoán của MacArthur và việc tách Tập đoàn quân số 10 độc lập khỏi sự chỉ huy của ông ta nữa. Giờ phút này, điều khiến ông ta lo lắng hơn chính là chiến trường mù mịt sương khói mà Tập đoàn quân số 8 của ông ta sắp phải đối mặt. Tập đoàn quân số 8 vì khoảng cách khổng lồ giữa họ với Tập đoàn quân số 10 ở chiến tuyến phía Đông mà khiến cho cánh phải "bị lộ ra nguy hiểm", điều này khiến Walker cảm thấy vô cùng sợ hãi. Khi MacArthur ra lệnh cho ông ta bắt đầu tấn công vào ngày 15 tháng 11, Walker phản kháng rằng ông ta hoàn toàn không nhận được vật tư hậu cần đáng lẽ phải có, mà bộ đội của ông ta mỗi ngày tấn công đều cần 4000 tấn các loại vật tư. Thế nên, MacArthur đành phải đổi thời gian tấn công sang ngày 20 tháng 11. Mà sự chuẩn bị tiêu cực sau đó của Walker lại khiến thời gian tấn công bị trì hoãn đến ngày 24. Sự kéo dài thời gian này của Walker rốt cuộc có phải vừa khéo cho Bành Đức Hoài thời gian điều động quân đội hay không thì chưa nói đến, các nhà gia quân sự Mỹ đối với sự thận trọng này của Walker đã đưa ra sự phân tích có vẻ kỳ lạ nhưng lại vô cùng triết lý, họ nói nguyên nhân Walker làm như vậy xuất phát từ "sự kính trọng nào đó của ông ta đối với quân đội Trung Quốc". Walker từng nói rõ với một phóng viên rằng, mặc dù mệnh lệnh của MacArthur phải kiên quyết chấp hành, nhưng sự chuẩn bị của ông ta là một khi tình hình có thay đổi thì sẽ rút lui. Ông ta từng nói với một người bạn thân thiết của mình rằng, sự rút lui của Tập đoàn quân số 8 ở cánh phải trước mặt quân đội Trung Quốc, đã suýt chút nữa khiến ông ta mất chức. MacArthur không thích ông ta. Ông ta buộc phải phát động tiến công theo kế hoạch của MacArthur, nếu không sự nghiệp quân nhân chuyên nghiệp của ông ta sẽ nhanh chóng kết thúc. Nhưng ông ta đồng thời lại có một linh cảm nhạy bén và mạnh mẽ: "Quân đội Trung Quốc nhất định đang đợi chúng ta ở một nơi nào đó."
Để liên lạc với Tập đoàn quân số 10 Mỹ ở chiến tuyến phía Đông, Walker đã cử đội tuần tra đi tìm kiếm quân đội đồng minh ở sườn của mình, kết quả báo cáo của đội tuần tra nói rằng, sườn của Tập đoàn quân số 8 "dường như tồn tại một đội quân". Tại cuộc họp báo sắp bắt đầu tấn công, lời nói của Tướng Walker khiến tất cả các nhân vật báo chí có mặt đều cảm thấy bầu không khí có vấn đề. Phóng viên tờ Reader's Digest James A. Michener sau đó nhớ lại rằng, buổi họp báo đó là "sự việc ảm đạm tối tăm nhất trong tất cả ký ức" của ông ta.
Phóng viên hỏi: "Tướng Walker, ông nói đội tuần tra của ông đã liên lạc được với cánh trái, bọn họ là đơn vị láng giềng hữu nghị phải không?"
Walker đáp: "Chúng tôi cho là vậy."
"Chẳng lẽ ông không biết sao?"
"Chúng tôi cho rằng bọn họ chắc chắn là quân đồng minh."
"Các ông không có bất kỳ liên lạc nào với cánh trái sao?"
"Không. Chúng ta độc lập tác chiến với nhau. Nhưng chúng tôi chắc chắn, những đội quân đó chắc chắn là quân đồng minh."
Mấy ngày sau, khi chiến trường nổ súng, Walker mới biết được đội quân "chắc chắn là quân đồng minh" mà đội tuần tra của ông ta nhìn thấy, thực ra lại là một đội quân trong động thái vòng tạt của Trung Quốc.
Người đưa ra sự nghi ngờ mạnh mẽ đối với "Cuộc tấn công lễ Giáng sinh" của MacArthur không chỉ có một mình Tướng Walker, mà cùng với Tổng thống Truman và các tướng lĩnh cao cấp quân Mỹ bao gồm cả Ridgway đều cho rằng MacArthur đang đi trên dây. Trong một cuộc họp do Truman triệu tập, Ridgway đã chỉ trích gay gắt MacArthur. Ridgway cho rằng việc MacArthur chia Tập đoàn quân số 8 và Tập đoàn quân số 10 thành hai ngả tiến công mà không liên lạc với nhau, chính là trao cho quân đội Trung Quốc vốn giỏi thọc sâu và chia cắt một cơ hội tuyệt vời. Sự bố trí này là thứ mà học viên tập sự cấp thấp nhất của West Point mới làm ra. Tiếp đó, ông ta dùng giọng điệu chế nhạo để mỉa mai cái gọi là "tấn công" của MacArthur: "Mặc dù MacArthur gọi cuộc tiến về phía sông Áp Lục này là 'tấn công', nhưng thực tế chẳng qua chỉ là một cuộc vận động tiếp địch. Khi chưa làm rõ vị trí của kẻ địch, khi các đơn vị quân địch hoàn toàn chưa tiếp xúc với đơn vị của anh, anh là không thể phát động tấn công đối với kẻ địch được. Rất nhiều chỉ huy bộ đội dã chiến đều tin rằng, lực lượng hùng mạnh của Trung Quốc nhất định đang chờ thời cơ ở một nơi nào đó, hơn nữa, có một hai vị chỉ huy còn tỏ ra nghi ngờ một cách khôn ngoan đối với cách làm mù quáng tiến về phía trước mà không màng đến an toàn của sườn, không giành được liên lạc với các đơn vị láng giềng hữu nghị ở hai cánh. Thế nhưng, lại không một ai biết khó mà lui, hơn nữa rất nhiều người còn biểu hiện ra sự lạc quan thái quá của vị tổng tư lệnh." Truman cũng bày tỏ sự hoài nghi đối với luận điệu "kết thúc chiến tranh trước lễ Giáng sinh" của MacArthur, mặc dù sự hoài nghi này được nói ra sau sự việc: "Việc chúng ta nên làm lúc đó là dừng lại ở chỗ cái cổ của Triều Tiên này (ông dùng ngón tay chỉ lên một quả địa cầu), đó là điều mà người Anh mong muốn. Chúng ta biết người Trung Quốc có gần một triệu người ở biên giới và những thứ đại loại như thế, nhưng MacArthur là người chỉ huy chiến địa. Anh đã chọn ông ta, anh buộc phải ủng hộ ông ta, đây là cách duy nhất để một tổ chức quân sự có thể vận hành. Tôi đã nhận được ý kiến tốt nhất mà tôi có thể nhận được, mà người ở tiền tuyến lại nói rằng, việc này nên làm như thế này. Thế nên tôi đã đồng ý. Đây là quyết định do tôi đưa ra, bất kể sau này nhìn nhận thế nào đi nữa."
Đến tổng thống còn không có cách nào với MacArthur, các mưu sĩ quân sự cao cấp khác thì có thể làm gì?
Ngoại trưởng Acheson đã viết thế này trong hồi ký của mình: "Chính phủ đã đánh mất cơ hội tốt nhất để ngăn chặn Triều Tiên tiến tới thảm họa. Tất cả các cố vấn tổng thống có liên quan, dù là văn hay võ, đều biết đã xảy ra vấn đề, nhưng vấn đề gì, tìm ra thế nào, xử lý thế nào, mọi người đều không có chủ ý."
Mục cách thức quan hệ của MacArthur với tư cách là một tướng lĩnh quân sự đồn trú ở nước ngoài đối với chính phủ nước mình và cơ quan ra quyết định quân sự tối cao nước mình, đã trở thành mối quan hệ kỳ lạ và hoang đường nhất trong lịch sử chính trị và lịch sử chiến tranh thế giới sau Thế chiến thứ hai. "Ông ta luôn cho rằng chúng tôi là một đám nhãi con." Tướng Bradley - Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ nói. Phép ẩn dụ này vô cùng sinh động, nhưng nhà văn Mỹ Joseph C. Goulden nói còn hay hơn: "Tội lỗi lớn nhất của Lầu Năm Góc là sợ việc nhỏ mà hèn nhát. Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân trước mặt MacArthur sợ đến mức run lẩy bẩy giống như những cậu bé học sinh gặp đại ca đầu đường ở trong thành phố."
Sáng ngày 23 tháng 11 Lễ Tạ ơn, Bành Đức Hoài cầm kính lúp lắc lư qua lại trên bản đồ, ông gọi Hồng Học Trí, Đặng Hoa và Giải Phương lại, chỉ vào Đức Xuyên và Ninh Viễn trên bản đồ và nói: "Chính là ở đây! Chính là ở đây!"
Tình hình chiến cơ mà Bành Đức Hoài đang chờ đợi đã trở nên rõ ràng: Cánh phải của Liên quân đã hình thành một điểm yếu rõ rệt, vị trí này nằm ở khu vực Đức Xuyên và Ninh Viễn. Lực lượng Liên quân ở khu vực này là sư đoàn số 7 và sư đoàn số 8 của quân đội Nam Triều Tiên, trong khi đối đầu với họ sẽ là quân đoàn 38 và quân đoàn 42 của Trung Quốc. Phải nói rằng, đây là kịch bản lý tưởng nhất trong dự tính của Bành Đức Hoài, quân đội Nam Triều Tiên hoàn toàn không phải là đối thủ của quân đội Trung Quốc. Thọc vào từ vị trí này, có thể đánh thẳng vào hậu phương lớn của Liên quân ở chiến tuyến phía Tây. Bành Đức Hoài dường như đã có thể nhìn thấy cái kết toàn quân bị tiêu diệt của hai sư đoàn Nam Triều Tiên.
Bành Đức Hoài lập tức phát điện cho quân đoàn 38 và quân đoàn 42: "Mục tiêu của các đồng chí là tiêu diệt hoàn toàn sư đoàn 7 và sư đoàn 8 của quân ngụy Lý tại khu vực Đức Xuyên. Thời gian tấn công của các đồng chí bắt đầu vào tối ngày 25. Các quân ở bờ tây sông Thanh Xuyên thì tùy theo sự phát triển của tình hình chiến dịch mà quyết định. Đề nghị đồng chí Hàn Tiên Sở căn cứ vào tình hình thực tế để điều chỉnh. Tóm lại, lấy việc cắt đứt, bao vây trước, phấn đấu tiêu diệt toàn bộ sư đoàn 7 và sư đoàn 8 của Lý Thừa Vãn làm nguyên tắc."
Ngày hôm nay, ngoài việc sư đoàn 7 và sư đoàn 8 Nam Triều Tiên đã đến tuyến Đức Xuyên, Ninh Viễn, sư đoàn 6 Nam Triều Tiên đang từ khu vực Giá Xuyên chuyển hướng sang phía đông, Bắc Thương Lý, Giả Thương Lý do sư đoàn 2 Mỹ tiếp quản. Cùng lúc đó, sư đoàn kỵ binh số 1 Mỹ, sư đoàn 24, lữ đoàn 27 Anh cũng như sư đoàn 1 Nam Triều Tiên đều đã tiến đến tuyến Cầu Trường, Long Sơn Động, Bác Xuyên. Sự thay đổi của tình hình địch đã thu hút sự chú ý của Quân ủy Trung ương Trung Quốc, đặc biệt gửi điện báo: Sau khi quân ta phát động tấn công ở bờ đông sông Thanh Xuyên, sư đoàn 2 Mỹ, sư đoàn kỵ binh 1 có khả năng tăng viện sang phía đông. Nếu hai sư đoàn đó viện đông, quân ta ở 39, 40 quân bên bờ đông sông Thanh Xuyên đều khó đạt được mục đích phối hợp với 42 quân, 38 quân tiêu diệt sư đoàn 7, sư đoàn 8 của quân Lý. Do đó, kiến nghị 40 quân tiến về phía đông hội quân với 38 quân, tăng cường lực lượng đột kích cánh tả của quân ta.
Để đối phó với sư đoàn 2 Mỹ và kỵ binh 1 có khả năng tăng viện phía đông theo hướng Cầu Trường, Viện Lý, nhằm đảm bảo quân đoàn 38 và quân đoàn 40 của ta trước tiên tiêu diệt sư đoàn 7 và sư đoàn 8 của quân Lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho bước tác chiến tiếp theo đánh địch bằng vòng tránh chiến dịch.
Bành Đức Hoài lập tức điều chỉnh bố trí chiến dịch của mình: Do Phó tư lệnh Hàn Tiên Sở trực tiếp chỉ huy quân đoàn 38 và quân đoàn 42, trước tiên tiêu diệt ba sư đoàn 6, 7, 8 của quân Nam Triều Tiên tại Đức Xuyên, Ninh Viễn, Bàn Sơn; quân đoàn 40 dịch chuyển về phía đông đến phía bắc Tân Hưng Lý, Tô Dân Lý, dùng một sư đoàn tiếp quản phòng tuyến của sư đoàn 112 thuộc quân đoàn 38 để cản địch, chủ lực của họ thọc sâu vào Hạ Nhật Lĩnh, Tây Thương, ngăn chặn quân Mỹ viện đông; sau khi quân đoàn 40 dịch chuyển sang đông, quân đoàn 39, quân đoàn 66, quân đoàn 50 cũng lần lượt dịch chuyển sang đông, lần lượt tiếp phòng, duy trì sự toàn vẹn của chiến tuyến. Khi phát động tổng tấn công vào địch, các quân phải tích cực tiến công quân địch trước mặt, phấn đấu tiêu diệt một bộ phận địch.
Bành Đức Hoài báo cáo kế hoạch sau khi điều chỉnh cho Mao Trạch Đông, một lần nữa xác định thời gian phát động tấn công ở chiến tuyến phía Tây là chớp bóng ngày 25 tháng 11, còn thời gian phát động tấn công ở chiến tuyến phía Đông sau khi được điều chỉnh tương ứng là chớp bóng ngày 26.
Ngay lúc MacArthur đang cười nói vui vẻ ở tiền tuyến, bức điện trả lời mà Bành Đức Hoài nhận được từ Mao Trạch Đông là: "Bố trí tác chiến lúc 7 giờ ngày hôm nay của các đồng chí là hoàn toàn chính xác."
Mao Trạch Đông không biết rằng, ngay lúc ông phát bức điện này tới Triều Tiên, một sự kiện khiến ông đau buồn suốt đời đã xảy ra.
Sáng ngày 25, máy bay Mỹ bay đến bầu trời nơi đặt sở chỉ huy của Chí nguyện quân, một quả bom pan-xê (napalm) rơi trúng nóc ngôi nhà nơi Bành Đức Hoài đang ở, ngôi nhà lập tức bốc cháy. Do ngày hôm trước sở chỉ huy Chí nguyện quân đã bị máy bay Mỹ ném bom, dưới yêu cầu quyết liệt của Hồng Học Trí và những người khác, sáng hôm đó Bành Đức Hoài cùng đoàn người đã lên núi ẩn nấp, thế nhưng, Mao Ngạn Anh và mấy nhân viên tham mưu khác không lên núi ẩn nấp. Quả bom napalm nhiệt độ cao chỉ mất vài phút đã thiêu rụi ngôi nhà thành tro bụi. Khi máy bay Mỹ rời đi, Bành Đức Hoài từ trên núi xuống, ông đã nhìn thấy thi thể bị cháy đen của Mao Ngạn Anh.
"Tại sao lại cứ nhằm vào nó mà ném bom chết chứ?" Bành Đức Hoài trong nỗi đau đớn tột cùng cứ lẩm bẩm mãi câu nói này.
Ngoài Bành Đức Hoài và vài vị chỉ huy cao cấp ra, không ai biết thân phận thực sự của Mao Ngạn Anh.
Mao Ngạn Anh, con trai cả của Mao Trạch Đông, sinh năm 1922 tại Trường Sa, Trung Quốc, thời thơ ấu trải qua trong nhà tù của Quốc Dân Đảng cùng mẹ là Dương Khai Tuệ. Sau đó được đảng ngầm Cộng sản giải cứu.
Tốt nghiệp Học viện Quân sự Frunze Liên Xô và Học viện Ngôn ngữ Phương Đông Liên Xô, trong chiến tranh Xô-Đức từng là trung úy tăng của quân đội Liên Xô. Trước khi viện Triều là Phó bí thư Đảng ủy Nhà máy Chế tạo Máy Bắc Kinh. Sau khi viện Triều đảm nhận chức thư ký kiêm phiên dịch tiếng Nga của Bành Đức Hoài, lúc hy sinh mới 28 tuổi, kết hôn chưa lâu.
Đây là sự việc xảy ra vào ngày thứ hai sau khi "Cuộc tấn công Lễ Giáng sinh" của Liên quân chính thức bắt đầu.
Vài giờ sau, các binh sĩ đã dùng ván gỗ đóng thành một chiếc quan tài, chôn cất Mao Ngạn Anh trên núi.
Cho đến nay, tại nơi gọi là Đại Du Động ở Bắc Triều Tiên, vẫn dựng một tấm bia đá, mặt trước viết: Mộ của đồng chí Mao Ngạn Anh. Mặt sau viết: Đồng chí Mao Ngạn Anh nguyên quán thôn Thiệu Sơn, huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam, là con trai cả của lãnh tụ nhân dân Trung Quốc - đồng chí Mao Trạch Đông. Năm 1950, đồng chí kiên quyết xin tham gia Nhân dân Chí nguyện quân Trung Quốc, đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng Mỹ viện Triều vào ngày 25 tháng 11 năm 1950. Tinh thần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của đồng chí Mao Ngạn Anh sẽ mãi mãi giáo dục và cổ vũ thế hệ thanh niên. Liệt sĩ Mao Ngạn Anh bất tử!
Nếu không có sự trinh sát hiện trường và đánh dấu vị trí mục tiêu của nhân viên đặc công Liên quân, việc máy bay Mỹ ném bom địa điểm làm việc của Bành Đức Hoài tuyệt đối không thể chuẩn xác như vậy. Sự việc này đã phơi bày sự sơ lỏng trong công tác bảo vệ bộ chỉ huy chiến tranh của phía Trung Quốc trong giai đoạn đầu của Chiến tranh Triều Tiên.
Nếu Bành Đức Hoài không nghe theo lời khuyên mà lên núi ẩn nấp, thì ông cũng không thể thoát khỏi thảm họa này. Nếu Chiến tranh Triều Tiên mà không có vị tư lệnh Trung Quốc này, thì cuộc chiến tranh sẽ lại biến thành cái dạng gì đây?
MacArthur đã hạ lệnh tổng tấn công, sau khi tận mắt nhìn thấy tiếng động cơ xe tăng gầm rú và các phóng viên trong một sự phấn khích khó hiểu phát đi điện tín cho toàn thế giới rằng Liên quân đã bắt đầu "cuộc tổng tấn công cuối cùng", ông cảm thấy ở đây không còn việc gì của mình - vị tổng tư lệnh này nữa, thế nên ông lại lên chiếc chuyên cơ của mình, sau đó, những chỉ thị mà ông đưa ra cho phi công lại khiến tất cả những người có mặt phải kinh ngạc đến ngây người: "Bay về phía bờ Tây, sau đó dọc theo sông Áp Lục bay lên phía bắc!"
Các sĩ quan tham mưu đi cùng lập tức nói không được, bởi vì cho dù chiếc chuyên cơ này có vũ khí tự vệ.
Có máy bay chiến đấu hộ tống, bay về phía sông Áp Lục cũng là một việc vô cùng nguy hiểm. Sĩ quan tình báo Willoughby chẳng phải đã nhiều lần cảnh báo rằng máy bay Mig của Liên Xô đã chạm trán với máy bay Mỹ trên sông Áp Lục rồi sao? Pháo cao xạ bên sông của quân đội Trung Quốc chẳng phải đã có kỷ lục bắn hạ máy bay Mỹ rồi sao?
MacArthur nói: "Ta muốn xem địa hình, xem dấu vết của người Xô Viết và người Trung Quốc... Sự gan dạ dám thực hiện chuyến bay này chính là sự bảo vệ tốt nhất!"
Mọi sự phản đối trước ý chỉ của MacArthur đều không có hiệu quả.
Các phóng viên sợ hãi, lầm bầm nói: "Có cần thiết phải làm thế này không?"
Tướng Whitney, tham mưu của MacArthur, cẩn thận nhắc nhở: "Có nên mang theo dù không?"
“Cái ông quý tộc này nếu thích thì anh cứ mang, dù sao tôi thì không mang.” MacArthur cậm chiếc tẩu thuốc, trên mặt hiện lên rõ ràng là một nụ cười mỉa mai.
Chuyên cơ cất cánh. Quẹo vòng trên bầu trời bờ Tây, bay đến cửa sông Áp Lục.
MacArthur ra lệnh: "Bay dọc theo dòng sông! Bay thấp xuống một chút!"
Độ cao 5000 mét.
Dưới cánh máy bay là một vùng đồi núi và đồng bằng trắng xóa tuyết. Sông Áp Lục đã đóng băng, lòng sông nơi dòng nước chảy xiết đặc biệt thỉnh thoảng lộ ra mặt nước màu đen. Trên những vùng hoang mạc rộng lớn dọc theo con sông, những con đường ngoằn ngoèo gập ghềnh bị tuyết dày bao phủ, không có bất kỳ dấu vết nào của con người và phương tiện giao thông qua lại, vùng hoang mạc trong gió tuyết mờ mịt kéo dài mãi đến tận miền xa xôi không bóng người ở Siberia.
MacArthur 70 tuổi chẳng nhìn thấy gì cả.
Tướng Whitney sau đó vẫn nhớ như in sự sợ hãi mà ông cảm nhận được trước cảnh tượng nhìn xuống từ khung cửa sổ của máy bay: "Phóng tầm mắt nhìn ra xa là vùng đất khỉ ho cò gáy vô tận, núi non trùng điệp, thung lũng vực sâu, dòng nước sông Áp Lục gần như có màu đen bị trói buộc trong thế giới băng tuyết tĩnh mịch như chết." Whitney cảm thấy MacArthur không mang dù là đúng, bởi vì ông cho rằng, nếu gặp tình huống khẩn cấp, thà cùng đồng quy vu tận với máy bay còn hơn là nhảy dù xuống "vùng hoang dã lạnh lùng tàn nhẫn này".
Vì chuyến bay ở sông Áp Lục của mình, MacArthur đã được Không quân Mỹ trao tặng Huân chương Công huân bay và Huy hiệu Danh dự Chiến đấu bay.
MacArthur kết thúc chuyến bay biên giới trong ánh mắt sùng bái của các phóng viên. Lần này chiếc chuyên cơ của ông thực sự bay về Tokyo. Khi chiếc máy bay biến mất trong những đám mây, Walker ở lại phía sau thấp giọng lầm bầm một câu: "Đồ làm càn." Giọng của Walker tuy rất nhỏ, nhưng tất cả những người có mặt sau đó đều nói rằng họ đã nghe rõ mồn một.
Trợ lý Lynch của Tướng Walker khi buộc phải trả lời câu hỏi của phóng viên về việc này đã đáp rằng: "Tướng Walker dù gặp phải chuyện bực mình đến đâu cũng không dùng ngôn từ xúc phạm thần linh."
MacArthur vừa trở về Tokyo đã lập tức ra tuyên bố: Cuộc tiến công lần này của Liên quân sẽ nhanh chóng kết thúc trong chiến thắng.
Tờ "Asahi Shimbun" của Tokyo ngày hôm đó đã đăng ở vị trí trang trọng với dòng tiêu đề lớn: Liên quân bắt đầu tổng tiến công, chiến loạn có thể kết thúc. Cùng lúc đó, Tướng Walker ở tiền tuyến chiến tranh lại nói với Thiếu tướng Church - sư đoàn trưởng sư đoàn 24 Mỹ rằng: "Bảo với đại tá Stephens của trung đoàn 21 - lực lượng tiên phong của anh, hễ ngửi thấy mùi thức ăn Trung Quốc là phải rút lui ngay!"
Vẫn là cùng lúc đó, trong một cái hang ẩm ướt ở một khe núi hoang vắng mà chiếc chuyên cơ của MacArthur vừa lướt qua, Bành Đức Hoài đang dùng đôi tay tê cứng vì lạnh cầm kính lúp xem bản đồ. Ông trầm ngâm suy nghĩ xem sau khi chiến dịch nổ ra, hướng quân đoàn 38 - nơi mấu chốt nhất - còn có thể xảy ra những tình huống bất ngờ nào nữa.
Ngay lúc các binh sĩ Mỹ đang nhai những miếng thịt gà tây thơm phức, uống cà phê nóng, thì giữa cánh đồng tuyết bao la vô tận ở miền bắc Triều Tiên, hàng chục vạn binh sĩ Trung Quốc đang co ro trong những chiến hào được ngụy trang bằng cành cây khô và tuyết đọng, trên những chiếc xẻng nhỏ của họ nướng một loại bánh bột mì cứng ngắc, hoặc nướng chín khoai tây và hạt đậu nành để chuẩn bị lương khô cho trận chiến sắp ngầm sắp tới. Bữa trưa là ngô luộc. Ngô luộc bị đông cứng rất chắc, họ bèn đặt bắp ngô dưới ánh nắng mùa đông để phơi, phơi mềm được lớp nào thì gặm lớp ấy — vì đã đào sẵn một cái bẫy khổng lồ để tống địch vào chỗ chết, trong khoảnh khắc chờ đợi, họ ăn rất chậm rãi và thong thả.
MacArthur — kẻ không nhìn thấy những hàng bắp ngô màu vàng óng của các binh sĩ Trung Quốc ở mép chiến hào dưới ánh nắng mặt trời mà tự xưng là "hiểu sâu sắc tính cách của dân tộc phương Đông", qua đó đã định mệnh hóa "Cuộc tấn công Lễ Giáng sinh" của ông ta trong lịch sử chiến tranh thế giới tất yếu phải diễn ra như một bi kịch.
Quân đoàn 2 Hàn Quốc đã không còn tồn tại
Chớp bóng ngày 25 tháng 11 năm 1950, trên toàn bộ chính diện rộng lớn ở chiến tuyến phía Tây phía bắc sông Thanh Xuyên, từ tây sang đông, Nhân dân Chí nguyện quân Trung Quốc quân đoàn 50 tại Bác Xuyên đánh lữ đoàn 27 Anh, quân đoàn 66 tại Thái Xuyên đánh sư đoàn 1 Nam Triều Tiên, quân đoàn 39 tại Ninh Biên đánh sư đoàn 25 Mỹ, quân đoàn 40 hướng về phía Cầu Trường đánh sư đoàn 2 Mỹ, quân đoàn 38 tại Đức Xuyên đánh sư đoàn 7 Nam Triều Tiên, quân đoàn 42 tại Ninh Viễn đánh sư đoàn 6 và sư đoàn 8 Nam Triều Tiên, bắt đầu xuất kích toàn diện. Hai ngày sau, quân đoàn 20, 26, 27 của Nhân dân Chí nguyện quân Trung Quốc ở chiến tuyến phía Đông cũng bắt đầu tiến công.
Sử quân sự Trung Quốc gọi cuộc tấn công này là "Chiến dịch lần thứ hai" của Chiến tranh Triều Tiên.
Điều đáng chú ý là, trong các bức điện qua lại thường xuyên giữa Triều Tiên và Bắc Kinh, một quan điểm của Mao Trạch Đông được nhắc đi nhắc lại ở vị trí vô cùng quan trọng, đó chính là: Trước tiên tiêu diệt hai sư đoàn ngụy 7 và 8.
Mao Trạch Đông thậm chí còn lo lắng lực lượng ở hướng này không đủ, yêu cầu dành sự chú ý đặc biệt trong việc bố trí binh lực. Về vấn đề lựa chọn cửa ngõ chiến dịch, quan điểm của Mao Trạch Đông và Bành Đức Hoài là nhất trí: Cánh phải của Liên quân ở chiến tuyến phía Tây.
Trong vô số các tác phẩm ký sự viết về Chiến tranh Triều Tiên sau này, có một vấn đề được đề cập lặp đi lặp lại, đó chính là vấn đề sức chiến đấu của quân đội Nam Triều Tiên. Trong sử liệu chiến tranh của quân đội Mỹ, có thể bắt gặp khắp nơi các ví dụ về sức chiến đấu kém cỏi của quân đội Nam Triều Tiên, các từ ngữ như "tan rã ngay khi chạm trán", "ô hợp ô hợp", "hoảng loạn cuống cuồng" được sử dụng lặp đi lặp lại. Mà trong sử liệu chiến tranh của quân đội Nam Triều Tiên, không dưới một lần thể hiện sự phẫn nộ đối với cách miêu tả này của người Mỹ, quân đội Nam Triều Tiên cho rằng cách duy nhất để người Mỹ trốn tránh trách nhiệm chính là phóng đại bôi nhọ sự vô dụng của quân đội Nam Triều Tiên.
Trong chiến dịch lần thứ hai do quân đội Trung Quốc phát động, chính diện do quân đoàn 38 và quân đoàn 42 của Nhân dân Chí nguyện quân Trung Quốc chịu trách nhiệm tấn công, chính là khu vực phòng thủ do ba sư đoàn 6, 7, 8 của quân đội Nam Triều Tiên phụ trách. Khu vực phòng thủ này nằm ở cánh phải chiến tuyến phía Tây của Liên quân.
Đây là nơi mà Mao Trạch Đông và Bành Đức Hoài đồng thời chú ý tới. Dự kiến chiến dịch của Bành Đức Hoài là, dùng binh lực của hai quân đánh vào cánh tả của chiến tuyến Trung-Triều với một cuộc đột kích mãnh liệt, nhanh chóng mở ra một cửa ngõ chiến dịch, cửa ngõ chiến dịch này một mặt có thể cắt đứt hoàn toàn liên lạc giữa hai chiến trường đông tây của Liên quân, mặt khác từ cửa ngõ này có thể cắt ngang vào hậu phương lớn của Liên quân, từ đó thực hiện cuộc bao vây lớn chiến dịch của toàn bộ chiến tuyến phía Tây. Cho dù là Mao Trạch Đông hay Bành Đức Hoài, đều biết sự thành bại của chiến dịch lần này, phần lớn phụ thuộc vào việc cánh tả có thể đột phá nhanh chóng hay không và việc thọc sâu theo chiều ngang có thể đến đúng giờ hay không.
Khi đó, quân Mỹ ở chiến tuyến phía Tây tiến độ nhanh, còn quân Nam Triều Tiên ở cánh phải của họ tiến độ chậm, từ đó khiến toàn bộ chiến tuyến hình thành một khối lồi ra. Chiến tuyến của Liên quân vô tình bị kéo dài ra, binh lực ở trạng thái phân tán. Đặc biệt là lực lượng Nam Triều Tiên ở cánh phải nằm cách ly trơ trọi ở hai bên bờ sông Đại Đồng. Mà bố trí của Walker là giao toàn bộ cánh phải của chiến tuyến cho quân đội Nam Triều Tiên.
Nguyên nhân khiến Mao Trạch Đông và Bành Đức Hoài đồng lòng xác định cánh tả của chính diện tấn công quân đội Trung-Triều là khu vực mỏng manh nhất của toàn bộ chiến tuyến Liên quân, hai quân của Trung Quốc chắc chắn có thể nhanh chóng đột phá phòng tuyến trước mặt ở đây, và không thể ngăn cản mà thọc sâu vào hậu phương của Liên quân, nguồn gốc sự tự tin của họ rất đơn giản: Đối thủ ở khu vực này là quân đội Nam Triều Tiên thuần chất. Mà quân đội Nam Triều Tiên dễ đánh hơn quân đội Mỹ rất nhiều.
Do sự thành bại của cuộc tấn công cánh tả liên quan đến sự thành bại của toàn bộ chiến dịch, Bành Đức Hoài quyết định thân chinh đến tuyến đầu chiến tranh để chỉ huy, quyết định của ông lập tức bị ủy ban đảng của Chí nguyện quân phủ quyết.
Cuối cùng hội nghị quyết định giao cho Phó tư lệnh Chí nguyện quân Hàn Tiên Sở tổ chức Sở chỉ huy tiền tiến Chí nguyện quân, thống nhất chỉ huy quân đoàn 38 và quân đoàn 42 ở cánh tả. Trước khi lên đường, Hàn Tiên Sở hỏi Bành Đức Hoài: "Còn dặn dò gì nữa không?" Bành Đức Hoài nghiêm giọng nói: "Một là phải thọc vào cho được, hai là phải chặn cho chắc. Phải rút kinh nghiệm của chiến dịch trước, không thể để địch chạy thoát lần nữa!"
Cái gọi là "kinh nghiệm của chiến dịch trước" là chỉ việc quân đoàn 38 lỡ mất chiến cơ ở hướng Hy Xuyên trong Chiến dịch lần thứ nhất.
Lần này, hướng tấn công chủ chủ yếu của quân đoàn 38 là Đức Xuyên.
Lương Hưng sơ - quân trưởng quân đoàn 38, kể từ sau khi bị Bành Đức Hoài mắng tơi bời tại hội nghị Chí nguyện quân, trong lòng vẫn luôn cảm thấy khó chịu. Tại hội nghị ủy ban đảng quân đoàn, ông đã truyền đạt lại lời chỉ trích của Bành Đức Hoài đối với quân đoàn 38, đồng thời chủ động gánh vác trách nhiệm: "Lão Bành mắng đúng, là tôi chỉ huy không tốt!" Nói thì nói vậy, nhưng tâm lý thực sự của vị tướng lĩnh có tính cách ngoan cố này là không mấy phục khí: Ai mà chẳng biết quân đoàn 38 là mộtbộ đội lừng danh lừng lẫy? Cho dù đánh không được lý tưởng lắm trong Chiến dịch lần thứ nhất, nhưng số lượng địch bị tiêu diệt không ít hơn các quân khác, câu "chủ lực cái nỗi gì" của Lão Bành quả thực hơi làm tổn thương người ta.
Ngược dòng lịch sử quân đoàn 38, thực ra có mối liên hệ chặt chẽ với sự nghiệp quân sự của Bành Đức Hoài. Tiền thân của quân đoàn này là Quân đoàn 1 Dân chủ Liên quân Đông Bắc, mà quân đoàn này được phát triển lên lấy Hồng quân Công nông Trung Quốc làm xương sống. Trung đoàn 338 quân đoàn 38 là một phần của Sư đoàn 75 Quân đoàn 25 Hồng quân, còn trung đoàn 334 là một phần của Quân đoàn 5 Hồng quân được thành lập sau cuộc khởi nghĩa Bình Giang do Bành Đức Hoài lãnh đạo vào tháng 7 năm 1928. Đội quân này từng tham gia trận chiến Bình Hưng Quan trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Năm 1946 tiến sâu vào khu vực Đông Bắc Trung Quốc, sau khi cấu thành Quân đoàn 1 Liên quân Đông Bắc, đã tham gia các chiến dịch trong Nội chiến Trung Quốc như "Ba lần xuống Giang Nam", "Bốn trận Bình Xá", "Đại chiến Liêu Tây", "Chiếm đóng Thẩm Dương" vân vân, chiến công hiển hách. Tháng 12 năm 1948, quân đoàn 38 chính thức được thành lập. Trong chiến dịch Bình Tân, đảm nhận nhiệm vụ chủ công Thiên Tân, là đơn vị đầu tiên đột phá phòng tuyến thành phố Thiên Tân, chiếm cầu Kim Thang, tiêu diệt hơn 2 vạn quân Quốc Dân Đảng. Sau đó lại vung quân nam hạ, tham gia các chiến dịch Nghi (Xương) Sa (Thị), Tây Nam Hồ Nam, Quảng Tây vân vân. Trong cuộc Nội chiến của Trung Quốc, quân đoàn 38 từ sông Tùng Hoa cực bắc Trung Quốc, đánh thẳng đến biên giới Trung-Việt ở biên giới Tây Nam Trung Quốc, chuyển chiến qua 13 tỉnh thành, giải phóng hơn 100 thành phố, trở thành lực lượng chủ lực không thể chối cãi trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Trận đánh đầu tiên bước chân vào Triều Tiên, lại biến thành "chủ lực cái nỗi gì". Quân trưởng Lương Hưng Sơ nói với cấp dưới: "Quân đoàn 38 rốt cuộc có phải là chủ lực hay không, trận này hãy chờ xem! Trận này ai nấy phải tự chịu trách nhiệm, ai mà xảy ra vấn đề, đừng trách tôi không khách khí!"
Sở chỉ huy của quân đoàn 38 chuyển từ Cầu Trường đến một hang mỏ ở Hàng Tiên Động.
Trong cái hang ẩm ướt này, Lương Hưng Sơ nhìn chằm chằm vào bản đồ suốt một thời gian dài, ông gần như nhớ nhuyễn từng địa danh trên mảnh đất mà bộ đội của ông sắp tấn công.
Hàn Tiên Sở đã đến sở chỉ huy của quân đoàn 38.
Hàn Tiên Sở, người huyện Hoàng Ân, Hồ Bắc, từ nhỏ đã tham gia Hồng quân, từ binh sĩ cho đến Phó tư lệnh Binh đoàn thuộc Dã chiến quân số 4, trong sự nghiệp quân sự, ông đã từng kinh qua mọi chức vụ quân sự, vì vậy kinh nghiệm tác chiến vô cùng phong phú.
Hàn Tiên Sơ giới thiệu tình hình toàn bộ chiến tuyến phía Tây, sau đó cụ thể nói đến nhiệm vụ của quân đoàn 38: Đánh hạ Đức Xuyên, sau đó nhanh chóng vòng ra hậu phương địch. Hàn Tiên Sở nói, để có thể nhanh chóng đánh hạ Đức Xuyên, quân đoàn 42 trước tiên phối hợp với quân đoàn 38 chiến đấu, rồi sau đó mới đánh Ninh Viễn.
Lương Hưng Sơ nghe xong không vui: "Bảo quân đoàn 42 đi làm việc của họ đi! Đánh Đức Xuyên chúng ta thầu hết!"
Hàn Tiên Sở nghiêm túc nói: "Nơi chiến trận không có chuyện nói đùa!"
Lương Hưng Sơ nói: "Ngày 25 bắt đầu tiến công, ngày 26 giải quyết chiến đấu!"
Hàn Tiên Sở gọi điện cho Bành Đức Hoài, nói rằng quân đoàn 38 muốn "đánh đơn", hơn nữa bảo đảm một ngày đánh hạ Đức Xuyên. Hàn Tiên Sơ kiến nghị, nếu quân đoàn 38 đơn độc đánh Đức Xuyên, quân đoàn 42 có thể đồng thời đánh Ninh Viễn, như vậy nghiền nát phòng tuyến của quân đội Nam Triều Tiên sẽ càng gọn gàng hơn. Bành Đức Hoài nói: "Lương Hưng Sơ khẩu khí lớn thật đấy! Nói cho hắn biết, cái tôi muốn là tiêu diệt, chứ không phải lùa cừu!"
Lương Hưng Sơ nói: "Tôi muốn gói sủi cảo sư đoàn 7 Nam Triều Tiên!"
Khẩu khí của Lương Hưng Sơ lớn kinh người, bởi vì ông đã có kế hoạch cụ thể. Ông muốn thọc vào từ chỗ tiếp giáp của hai sư đoàn 7 và 8 Nam Triều Tiên, bao vây quân địch ở Đức Xuyên.
Sư đoàn 113 qua phía đông Đức Xuyên đến đỉnh Phản Hồi ở phía nam Đức Xuyên, sau đó từ nam đánh lên bắc, sư đoàn 112 qua phía tây Đức Xuyên đến Vân Tùng Lý, từ tây đánh sang đông, sư đoàn 114 chính diện tấn công Đức Xuyên.
“Lần này tôi phải đánh cho một trận thật hiểm ác!” Lương Hưng Sơ nói tới đây nghiến răng nghiến lợi, “Phái một đội tiên phong xuất phát ngay lập tức, do Trương Khuê Ấn - Trưởng khoa trinh sát của quân đoàn và Chu Văn Lễ - Trưởng khoa trinh sát của sư đoàn 3 dẫn đầu, vượt sông Đại Đồng ngầm, bí mật thâm nhập vào Võ Lăng Lý ở phía trước Đức Xuyên, phá hủy cây cầu đường bộ từ Đức Xuyên dẫn tới Thuận Xuyên và Bình Nhưỡng trước cho tôi, để xem ngụy sư đoàn 7 chạy đi đâu!”
Hàn Tiên Sơ đồng ý với kế hoạch của quân đoàn 38, rồi nói: "Tôi qua quân đoàn 42 xem thế nào." Hàn Tiên Sở hiểu rằng, đối với quân đoàn 38 đang ở trạng thái cung giương nắp bắn, nói thêm gì nữa cũng hoàn toàn không cần thiết.
Ngày 24, một ngày trước khi chiến dịch lần thứ hai bắt đầu, đội tiên phong của quân đoàn 38 xuất phát trong đêm trưa thưa thớt ánh sao.
Hành động thâm nhập sâu vào hậu phương địch lần này của đội tiên phong quân đoàn 38 sau đó đã được một xưởng phim của Trung Quốc quay thành một bộ phim cuộn đen trắng, được chiếu rộng rãi ở các thành thị và nông thôn Trung Quốc. Tên của bộ phim là "Tập Kích".
Lúc đó, Lương Hưng Sơ gọi Trương Khuê Ấn - Trưởng khoa trinh sát đến sở chỉ huy, hỏi: "Có dám dẫn theo ít người thọc vào trước cho tôi không?" Trương Khuê Ấn nghiêm túc nói: "Có gì mà không dám!" Lương Hưng Sơ nói: "Vậy thì chuẩn bị xuất phát ngay lập tức, ngày 26 nhất định phải phá hủy cây cầu đó cho tôi."
Câu trả lời của Trương Khuê Ấn là: "Bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ."
Giang Ung Huy - Phó quân trưởng quân đoàn 38 chỉ vào bản đồ nói với Trương Khuê Ấn: "Võ Lăng Lý nằm dựa vào bờ tây sông Đại Đồng, có một nhánh sông vắt ngang qua con đường cái từ phía nam dẫn đến Đức Xuyên. Ở đó có một cây cầu đường bộ, các anh nhất định phải phá hủy cây cầu này trước 8 giờ sáng ngày 26, ước tính lúc đó kẻ địch bị tấn công có thể tháo chạy về phía nam, quân địch tiến về phía bắc cũng có thể tăng viện, phá hủy cây cầu lúc này, mới có thể bảo đảm chủ lực tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Đức Xuyên." Cuối cùng, Giang Ung Huy hỏi: "Đêm nay có qua được sông Đại Đồng không?"
Trương Khuê Ấn nói: "Không có tai nạn gì thì có thể."
Giang Ung Huy nói: "Đội tiên phong các anh dẫn theo rất đông người, việc xuyên qua chiến tuyến của địch gặp khó khăn rất lớn, tuy nhiên, có thương vong cũng phải qua!"
Trương Khuê Ấn nói: "Rõ!"
Hiển nhiên, Giang Ung Huy cảm thấy hơi lo lắng về việc đội tiên phong liệu có thể suôn sẻ thọc sâu vào hậu phương địch dưới sự phong tỏa nghiêm ngặt của quân đội Nam Triều Tiên hay không: "Thực sự không qua được, thì cũng phải đánh một trận, bắt mấy tên tù binh về."
Đội tiên phong gồm 323 người, trong đó chủ yếu là công binh, còn có phiên dịch tiếng Anh và tiếng Triều Tiên cùng với Cục trưởng và Cục phó Cục Nội vụ tỉnh Bình An, Bắc Triều Tiên đến làm hướng dẫn viên và liên lạc viên. Ngoài mang theo vũ khí cần thiết, còn mang theo thiết bị thông tin và phá hoại.
Các sĩ quan binh sĩ Trung Quốc trong đội tiên phong đều buộc khăn trắng ở bắp tay, họ dưới sự che chở của hỏa lực tấn công giả vờ của bộ đội tuyến đầu, lợi dụng bóng đêm tiến về phía trận tuyến của quân đội Nam Triều Tiên. Vừa xuất phát không lâu, Bộ tư lệnh Chí nguyện quân điện tới, nói không cho phép đội tiên phong mang theo nhân viên mật mã — sợ lỡ xảy ra chuyện, để quân địch biết được mật mã điện báo thì tổn thất sẽ rất lớn. Quân trưởng Lương Hưng Sơ cho rằng, đội tiên phong không có nhân viên mật mã thì liên lạc với sở chỉ huy thế nào? Vẫn là tin tưởng nhân viên mật mã của mình đi! Vừa hay lúc này một quả đạn pháo đã làm đứt đường dây điện thoại, thế là việc này cứ thế cho qua.
Trong chiến tranh, đặc biệt là trước thềm đại chiến khi hai bên đang ở trạng thái đối đầu căng thẳng, một đội ngũ 323 người muốn xuyên qua chiến tuyến của đối phương, hơn nữa còn không bị phát hiện, quả thực là một việc bất khả thi — không biết nếu khu vực phải vượt qua là trận tuyến của quân đội Mỹ, quân trưởng Lương Hưng Sơ có còn dám mường tượng ra hành động như vậy hay không — quân đội Nam Triều Tiên nhất định phải để cho binh sĩ Trung Quốc đùa cợt một vố. Đội tiên phong đi được một lúc, thấy con đường đã bị kẽm gai phong tỏa, lại quay lại, sau đó đi về hướng khác của tuyến đầu. Cứ thế, họ đi qua đi lại ở tuyến đầu của quân đội Nam Triều Tiên, tìm kiếm nơi có thể đặt chân, quân đội Nam Triều Tiên vậy mà không có bất kỳ phản ứng gì. Cuối cùng, đội tiên phong tìm được một chân núi có độ dốc rất lớn, có lẽ quân đội Nam Triều Tiên cho rằng ở đây con người tuyệt đối không thể đi qua, cho nên không có biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt. Chân núi quả nhiên không đứng chân nổi, dốc, chất đất xốp mềm, các binh sĩ vừa bước lên là trượt xuống, dưới chân núi là một con sông nhỏ, kết quả các binh sĩ chồng chất lên nhau như chơi xếp hình, trượt tõm xuống sông nhỏ. Đi tiếp về phía trước, đến gần tuyến đầu, lại thấy kẽm gai, lại còn thấy binh sĩ Nam Triều Tiên đang đào công sự dưới ánh trăng. Nhân lúc một đám mây che khuất mặt trăng, vài binh sĩ Trung Quốc dưới sự dẫn dắt của Chu Văn Lễ - Trưởng khoa trinh sát sư đoàn 3, đẩy hàng rào kẽm gai lên, đội ngũ nối đuôi nhau khom lưng chui qua, liên tiếp chui qua ba lớp hàng rào kẽm gai, 323 người dưới con mắt của binh sĩ Nam Triều Tiên thuận lợi bước vào một khu rừng nhỏ, Trương Khuê Ấn kiểm tra lại quân số trong rừng, không thiếu một ai.
Bước tiếp theo là qua sông. Cầu qua sông đã bị quân địch phá hủy, đội tiên phong biết rằng, khi quân Nhân dân Bắc Triều Tiên rút lui từ Bình Nhưỡng, đã làm một chiếc "cầu ngầm dưới nước" ẩn dưới mặt nước trên sông. Khi tìm kiếm cây cầu này, đội tiên phong đi dọc theo con đường cái, giống như đang hành quân trên địa bàn của chính mình vậy, ô tô chở đầy lính Nam Triều Tiên chạy từ phía đối diện tới, vậy mà cứ sượt vai lướt qua nhau như thế, người Trung Quốc và người Triều Tiên thoạt nhìn không có gì khác biệt, trong bóng tối bộ quân phục trông cũng xấp xỉ nhau, sau khi đi qua, tay vẫn nắm chặt quả lựu đạn đã mở nắp.
Các binh sĩ Trung Quốc vã mồ hôi hột vì căng thẳng đều cảm thấy kỳ lạ, lính Nam Triều Tiên sao lại dễ lừa thế không biết.
Đội tiên phong tiến vào một thị trấn nhỏ tên là Cổ Thành Giang, cây cầu ngầm dưới nước đó nằm ở địa điểm này. Thị trấn đã có quân đội Nam Triều Tiên phòng thủ, một tên lính Nam Triều Tiên đang ngái ngủ đái trên đường phố, nhìn thấy đội ngũ đi tới liền quay người chạy vào nhà. Binh sĩ Trung Quốc đi theo hắn vào trong nhà, nổ súng tiêu chuẩn tiêu diệt tên địch đang ngủ. Từ miệng tên tù binh biết được, cầu ngầm dưới nước đã bị quân đội Nam Triều Tiên phát hiện, và đã có bộ đội phòng thủ. Một trung đội của đội tiên phong nhanh chóng chạy về phía bến vượt, trong một ngôi nhà nhỏ bên bờ sông có mấy tên lính Nam Triều Tiên đang chơi cái gì đó, có vẻ như đang đánh bạc. Chu Văn Lễ bảo liên lạc viên người Triều Tiên cố ý lớn giọng nói bằng tiếng Triều Tiên: "Cởi giày ra, chuẩn bị qua sông!" Do âm thanh lớn mà bình tĩnh, mấy tên lính Nam Triều Tiên cứ tưởng là trò đùa của người phe mình, đầu cũng không ngẩng lên tiếp tục chơi. Đến bờ sông, Chu Văn Lễ trở nên căng thẳng, bởi vì nếu không tìm chuẩn cây cầu dưới mặt nước mà xuống nước, lính Nam Triều Tiên chắc chắn sẽ nhìn ra sơ hở. Anh nhìn ra mặt sông một lúc, thấy trên mặt sông có một dải sóng nước vụn vặt dẫn sang bờ bên kia. Chu Văn Lễ đặt chân bước xuống, quả nhiên đây chính là cầu ngầm dưới nước. Vốn tưởng là một việc vượt sông vô cùng gian nan, cứ thế mà vượt qua như trò đùa.
Sự cảnh giác tuyến đầu và việc phòng thủ bến vượt sông Đại Đồng của quân đội Nam Triều Tiên chẳng khác nào hình nộm trưng bày.
Đội tiên phong lại đi thêm mấy dặm đường, nhìn thấy một ngôi làng nhỏ, vì không muốn dây dưa với địch nên đi xuyên qua làng, thế nhưng trên con đường buộc phải đi qua, phát hiện một tên lính Nam Triều Tiên ôm súng đi lang thang giữa đường, xem ra là một tên lính gác tuần tra. Đội tiên phong làm như không nhìn thấy tên lính gác này cứ thế ào ào đi tới, tên lính Nam Triều Tiên ôm súng bị dạt sang một bên ngẩn ngơ nhìn, binh sĩ Trung Quốc chê hắn vướng víu, dứt khoát dùng vai húc hắn ngã xuống rãnh, hắn leo lên bờ bên kia của rãnh, vẫn cứ ngẩn ngơ nhìn như vậy. Lúc này, tiếng súng bỗng vang lên, hóa ra một tiểu đội của đội tiên phong đi vào ngôi làng muốn bắt một hướng dẫn viên, đã bị địch phát hiện.
Hai bên đánh nhau, đội tiên phong muốn xông qua, kết quả bị hỏa lực súng máy của địch áp chế trên đường cái. Đội tiên phong đã bị bại lộ. Trương Khuê Ấn lập tức quyết định không thể đánh thế này được, ra lệnh cho bộ đội thoát khỏi địch, rời khỏi đường cái lên núi. Đợi đám lính Nam Triều Tiên chưa hiểu chuyện gì xảy ra, vài trăm người của đội tiên phong đã biến mất trong dãy núi tối tăm rậm rạp rồi.
Đây là một dãy núi cổ thụ rợp trời, từ 2 giờ sáng leo liền tù tì đến 8 giờ sáng, đội tiên phong mới leo lên được đỉnh núi. Quần bông và giày lúc qua sông trong đêm đều đã ướt sũng, giờ thì đã đông cứng thành băng.
Các binh sĩ vừa ăn lương khô vừa phơi quần dưới nắng. Đài vô tuyến đã liên lạc được với quân bộ, đồng thời báo cáo tình hình đêm qua và vị trí của cây cầu ngầm dưới nước.
Các binh sĩ đội tiên phong lúc phơi quần bị ánh nắng ấm áp sưởi cho ngập tràn cơn buồn ngủ, ai nấy mơ màng gật gù.
Nơi này cách mục tiêu Võ Lăng Lý của đội tiên phong còn 70 km. Ô tô của quân đội Nam Triều Tiên trên con đường dưới núi cứ qua lại tấp nập. Ban ngày đi đường lớn chắc chắn không được. 14 giờ chiều, đội tiên phong lại xuất phát, đi đường mòn trong núi. Gai góc trong núi mọc lung tung, cây mục ngã đổ, đội tiên phong vừa mở đường vừa tiến bước, đi đến khi trời tối thì phía bắc truyền đến tiếng súng tiếng pháo; ngoảnh đầu nhìn lại, ánh lửa đạn nhuộm đỏ bầu trời Đức Xuyên: Chiến dịch lần thứ hai đã nổ ra! Các binh sĩ Trung Quốc của đội tiên phong biết rằng, hễ tiếng súng nổ ra, lính Nam Triều Tiên sẽ chạy trốn tản mác như ong vỡ tổ, không đi nhanh một chút thì không chặn nổi bọn chúng đâu.
Chớp bóng ngày 25 tháng 11, ba sư đoàn của quân đoàn 38 bắt đầu hành động tấn công.
Khi cuộc tấn công bắt đầu, các sĩ quan binh sĩ sư đoàn 112 cảm thấy mệt mỏi nhất. Họ sau Chiến dịch lần thứ nhất đảm nhận nhiệm vụ nhử địch vào sâu, chủ lực sư đoàn luân phiên chống cự lại Liên quân tiến về phía bắc, đánh một bước lùi một bước, cứ thế dẫn dụ Liên quân vào khu vực do Bành Đức Hoài thiết lập. Chiều ngày 25, sư đoàn 112 vừa dừng bước lại nhận được lệnh lập tức tiến công, điều này có nghĩa là, từ tuyến đường vừa đánh vừa rút những ngày nay lại đánh ngược trở lại. Toàn sư đoàn buộc phải vượt qua ngọn núi mang tên Huynh Đệ Phong một lần nữa trong đêm, thực hiện vòng tránh bao vây về phía tây Đức Xuyên. Do mệnh lệnh tiến quân đến quá vội vàng, cán bộ các đại đội chỉ đằng hành quân đằng làm công tác động tác chiến đấu.
“Leo núi là để bao vây địch, chỉ cần leo qua được là thắng lợi!” Sư đoàn 112 đưa ra khẩu hiệu như vậy.
Mệnh lệnh mà sư đoàn trưởng Dương Đại Dịch hạ xuống cho bộ đội là: Gặp địch thì dùng ít người chặn lại, chủ lực kiên quyết thọc vào, ai ham chiến đấu người đó tự chịu trách nhiệm!
Phía tây Đức Xuyên là điểm tiếp giáp giữa sư đoàn 7 Nam Triều Tiên với sư đoàn 25 Mỹ và lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ, phiên hiệu địch ở đây rất hỗn loạn, cộng thêm việc tấn công chính diện đã bắt đầu, tổ chức của địch lại càng hỗn loạn hơn. Sư đoàn 112 đang hành quân gấp trên đường cái, đột nhiên phát hiện một loạt đèn ô tô phía trước, Phó sư đoàn trưởng Lý Trung Tín phán đoán đã bị địch phát hiện, thế là ra lệnh đánh. Sau trận chiến ngắn ngủi, phát hiện những chiếc ô tô thu được toàn là gà sống, không biết vào lúc này, quân đội Nam Triều Tiên vận chuyển nhiều gà sống ra tiền tuyến làm gì. Những binh sĩ Trung Quốc trong bụng không có một giọt dầu mỡ lập tức nghĩ đến mùi vị của gà luộc, chủ trương ăn một trận rồi tính, thế nhưng Sư đoàn trưởng Dương Đại Dịch kiên quyết không đồng ý, yêu cầu bộ đội bất chấp tất cả tiến lên.
Các binh sĩ Trung Quốc trói tay chân những tên lính Nam Triều Tiên bắt được, vứt xuống khe núi. Vài cố vấn Mỹ bắt được thì không thể vứt, bắt họ đi theo bộ đội, mấy tên người Mỹ nói gì cũng không chịu đi thế là binh sĩ Trung Quốc khênh họ đi. Cứ thế, sư đoàn 112 vào lúc 5 giờ sáng ngày 26, đúng giờ chiếm lĩnh Vân Tùng Lý ở phía tây Đức Xuyên, cắt đứt đường rút lui của sư đoàn 7 Nam Triều Tiên.
Sư đoàn 113 quân đoàn 38 chịu trách nhiệm thọc sâu về phía nam Đức Xuyên bắt đầu hành động sau khi sư đoàn 112 bắt đầu hành động nửa tiếng. Tuyến đường thọc sâu của họ là điểm tiếp giáp giữa sư đoàn 7 và sư đoàn 8 Nam Triều Tiên, phòng thủ ở đây càng mỏng manh hơn. Sư đoàn 113 trong Chiến dịch lần thứ nhất đã không hoàn thành tốt nhiệm vụ, toàn thể trên dưới sư đoàn đều cảm thấy áp lực rất lớn, cho nên ngay khi hành động vừa bắt đầu, đã tỏ ra vô cùng hung ác. Mỗi trung đoàn đều dùng hai tiểu đoàn làm tiên phong, trên đường gặp trận địa địch cản trở tiến quân, một đợt xung phong là giải quyết xong chiến đấu. Khi họ đêm đến nơi bờ sông Đại Đồng, như hổ đói vồ mồi tiêu diệt sạch số địch đang sưởi lửa bên bờ sông, rồi vội vã vượt sông. Sư đoàn trưởng Giang Triều và Chính ủy Vu Kính Sơn làm gương cởi quần bông và giày tất ra, bước xuống dòng nước sông đầu tiên, thế là các binh sĩ đều học theo dáng vẻ của họ, lần lượt bước vào dòng nước sông buốt thấu xương. Những khối băng vỡ trên sông va đập vào nhau trong dòng nước xiết, phát ra âm thanh rất lớn, dòng nước lạnh thấu tận tủy khiến hô hấp của các binh sĩ cũng trở nên khó khăn. Trong đội ngũ binh sĩ vượt sông, có một nữ chiến sĩ tên là Hạo Thục Chi, do cô đặc biệt chịu thương chịu khó, lại chăm sóc thương binh vô cùng chu đáo, nên được các binh sĩ toàn sư đoàn yêu mến. Đêm hôm đó, cô cũng cởi quần bông ra, bước đi trong đội ngũ trong bóng tối, trên người cô thậm chí còn đeo nhiều hơn các chiến sĩ khác một phần lương khô, sau khi vào Triều Tiên cô vẫn luôn làm như vậy, mục đích là để vào thời điểm then chốt các thương binh không đến nỗi chết đói. Đảm nhận hậu vệ của trung đoàn 338 là đại đội 1, khi tiểu đội anh nuôi đi phía trước đã lên bờ, mà trung đội 3 đi phía sau còn chưa xuống nước, thì trong bóng tối nghe thấy có người hô: "Địch!" Quả nhiên, khoảng một tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên lao bổ về phía bến vượt. Các sĩ quan binh sĩ đại đội 1 không hề do dự, lập tức xông lên đánh địch, trung đội 1 đang lội đến giữa sông quay đầu lại bắt đầu nổ súng, trung đội 3 cũng dựng súng máy quét ở bờ bắc, đại đội trưởng hô lớn: "Bắt tù binh mau! Lập công đến nơi rồi!" Các binh sĩ gào thét hưởng ứng, ngay cả các chiến sĩ tiểu đội anh nuôi cũng giơ dao phay và đòn gánh xông về phía địch. Đợi khi binh sĩ Trung Quốc đã xông đến cách lính Nam Triều Tiên không xa, lính Nam Triều Tiên nhìn thấy cảnh tượng khiến họ kinh hồn bạt vía: Trong đêm tối giá lạnh này, xông về phía họ là một nhóm binh sĩ Trung Quốc không mặc quần! Những tên lính lộ hai chân trần này trên người toàn là băng! Sự hoảng sợ tột độ ập đến trong chớp mắt khiến những tên lính Nam Triều Tiên mặc đồ cồng kềnh ngoài số bị đánh chết ra, số bị bắt sống có tới hơn 140 người.
Sau khi vượt sông, sư đoàn 113 không ngừng tiến về khu vực định trước, trên con đường cái dẫn đến Đức Xuyên, đại đội trinh sát và đại đội cảnh vệ của sư đoàn 7 Nam Triều Tiên đã phong tỏa con đường cái. Trung đội tiên phong tiểu đoàn 3 trung đoàn 338 vòng ra sau lưng địch, một loạt lựu đạn đánh tan tác đám lính Nam Triều Tiên này, dưới sự truy sát sát nút của binh sĩ Trung Quốc, hơn 50 tên lính Nam Triều Tiên của hai đại đội bị bắt sống, số còn lại chạy trốn mất tăm mất tích. Sau trận chiến, thịt bò mà chúng nấu trong nồi bên vệ đường vẫn còn bốc khói nghi ngút.
Sư đoàn 113 vào lúc 8 giờ sáng ngày 26 đã chiếm lĩnh các yếu địa như Chế Nhật Phong, Cát Động ở phía nam Đức Xuyên, cắt đứt liên lạc giữa hai nơi Đức Xuyên và Ninh Viễn cùng đường rút lui về phía nam của địch.
Đội hành động cuối cùng là sư đoàn 114 quân đoàn 38 đảm nhận tấn công chính diện ở Đức Xuyên, họ đã bắt đầu đợt tấn công mạnh chính diện vào lúc 20 giờ tối ngày 25. Cuộc tấn công diễn ra vô cùng suôn sẻ. Trung đoàn 340 chiếm lĩnh Bắc sơn Hướng Đường Động vào lúc 5 giờ sáng ngày hôm sau, 9 giờ sáng chiếm lĩnh khu vực Thiết Mã Sơn, Tam Phong. Trung đoàn 341 cũng thuận lợi chiếm lĩnh trận địa Phát Dương Động. Lúc này, hỏa lực pháo binh của quân đội Nam Triều Tiên trở nên vô cùng mãnh liệt, thế là Giang Ung Huy - Phó quân trưởng đi theo sư đoàn 114 ra lệnh tiêu diệt trận địa pháo binh của địch. Tiểu đoàn 2 trung đoàn 341 tiến sát lại gần trận địa pháo binh của địch trong hỏa lực pháo, bao vây trận địa pháo binh của địch vào lúc 4 giờ sáng ngày 26, đại đội 4 đánh sở chỉ huy, đại đội 5 cắt đứt liên lạc giữa sở chỉ huy và trận địa của địch, đại đội 6 trực tiếp tấn công trận địa pháo binh, kết quả trận chiến là tiêu diệt toàn bộ địch, đánh tan một liên đội tăng viện, thu giữ 50 ô tô, 11 khẩu lựu pháo.
Sư đoàn 114 vào lúc 11 giờ sáng ngày 26 đã chiếm lĩnh khu vực Đấu Minh Động, Mã Thượng Lý ở phía bắc Đức Xuyên, hoàn thành nhiệm vụ nén ép quân địch ở Đức Xuyên.
Cũng vào sáng ngày 26, đội tiên phong do Trương Khuê Ấn dẫn đầu sau khi vượt sông Đại Đồng, hành quân gấp 70 km, đã tiếp cận được đích đến Võ Lăng Lý. Dưới sự dẫn dắt của một cụ già người Triều Tiên và một cô bé người Triều Tiên, họ đi xuyên qua một ngôi làng, thì nhìn thấy cây cầu mà quân trưởng Lương Hưng Sơ yêu cầu họ phá hủy. Họ đánh điện báo về quân bộ, sở chỉ huy quân đoàn ra lệnh cho họ lập tức tiến hành phá hoại. Bà con người Triều Tiên ở ngôi làng cạnh cầu nghe nói Chí nguyện quân muốn giải phóng Đức Xuyên, phụ nữ thì nấu cơm cho đội tiên phong, đàn ông thì giúp họ tìm dây thừng và thang. 7 giờ 50 phút sáng ngày 26, một tiếng nổ lớn vang lên ở Võ Lăng Lý, cây cầu lớn đã bị phá hủy.
Các binh sĩ Trung Quốc phá cầu còn chưa rời khỏi cây cầu, thì đã nhìn thấy trên con đường cái ở phía bắc ô tô và xe tăng nối đuôi nhau chạy tới, quân địch ở Đức Xuyên bắt đầu tháo chạy về phía nam. Thế là đội tiên phong và số địch đông gấp nhiều lần đã bắt đầu chiến đấu. Trận chiến tập trung ở ven cầu, địch mưu đồ sửa chữa cây cầu này, đội tiên phong của Trương Khuê Ấn quyết không cho địch sửa chữa.
Đến đây, chủ lực hơn 5000 người của sư đoàn 7 Nam Triều Tiên ở Đức Xuyên, đã bị nén ép vào một đoạn địa khúc chỉ rộng hơn chục ki-lô-mét vuông ở thung lũng Đức Xuyên.
Kế hoạch của Lương Hưng Sơ - quân trưởng quân đoàn 38 là ngày 26 hạ gục Đức Xuyên.
Để nhanh chóng giải quyết quân địch ở Đức Xuyên, quân đoàn 38 sau khi vây chặt Đức Xuyên, đã phát động tổng tấn công vào lúc 15 giờ chiều. Ba sư đoàn cùng lúc tấn công mãnh liệt từ ba mặt, theo vòng vây ngày càng thu hẹp, lính Nam Triều Tiên chạy loạn khắp nơi như cá trong lưới. Binh sĩ Trung Quốc và lính Nam Triều Tiên hoàn toàn trộn lẫn vào nhau đánh hỗn chiến, máy bay hỗ trợ của quân Mỹ lúc này không dám ném bom và bắn phá, chỉ bay lượn hỗn loạn trên bầu trời, không biết làm thế nào mới có thể cứu vãn quân đội Nam Triều Tiên đang thua trận như nước chảy. Hầu Chinh Bội - Chính trị viên đại đội 5 trung đoàn 336 sư đoàn 112 dẫn theo 17 binh sĩ, gặp một đám địch bại trận đang ùa tới như thủy triều trên một con đường cái, đông tới hơn 2000 người. 17 binh sĩ Trung Quốc không chút sợ hãi khai hỏa mãnh liệt, lính Nam Triều Tiên quay đầu chạy trốn, nhưng lại hứng chịu hỏa lực từ một hướng khác bắn tới. Thế là lính Nam Triều Tiên chạy qua chạy lại trong làn đạn của binh sĩ Trung Quốc, chỉ riêng 17 binh sĩ do Hầu Chinh Bội dẫn dắt đã bắn chết bắn bị thương và bắt sống hơn 200 tên lính Nam Triều Tiên.
Do quân đội Nam Triều Tiên đã hoàn toàn mất đi sự chỉ huy, biến thành một buổi diễn tập hỗn loạn vô trật tự, thế là đã xảy ra không ít chuyện bất ngờ. Sở chỉ huy của sư đoàn 112 được đặt trong một ngôi làng nhỏ, Sư đoàn trưởng Dương Đại Dịch đã đi tiền tuyến chỉ huy bộ đội rồi, Phó sư đoàn trưởng Lý Trung Tín đang viết báo cáo chiến dịch trong một ngôi nhà nhỏ, điện thoại reo lên, vừa nhấc máy, là giọng nói thấp thẹn của nhân viên tổng đài: "Phó sư đoàn trưởng, đừng nói gì cả! Nghe là được rồi! Có một đám địch đang đi về phía ngôi nhà của thủ trưởng đấy!" Vừa nói xong, Chính ủy bị thương đã loạng choạng bước vào cửa, xác nhận tình hình địch. Lý Trung Tín nhìn ra ngoài cửa, một đám địch đang ngồi nghỉ ở cửa ngôi nhà nhỏ này! Sở chỉ huy không có binh sĩ nào, chỉ có một tiểu đoàn cảnh vệ canh giữ một tên tù binh Mỹ.
Lý Trung Tín lập tức ra lệnh cho tiểu đoàn cảnh vệ chiếm lĩnh ngọn núi phía sau ngôi nhà, rồi ra lệnh cho quân kèn thổi kèn. Tiếng kèn vừa vang lên, Phó sư đoàn trưởng cầm súng lục xông ra khỏi cửa, lũ địch ngoài cửa sợ hãi ôm đầu tháo chạy. Khi Lý Trung Tín đang bực bội vì tên tù binh Mỹ nhân cơ hội trốn thoát đó, ngẩng đầu nhìn lên, mấy ngàn tên lính Nam Triều Tiên trên ngọn núi cuồn cuộn cuộn cuộn trôi qua như một vũng nước đục, đỉnh đầu chúng có hàng chục máy bay Mỹ đang yểm trợ chúng tháo chạy. Lý Trung Tín lập tức ra lệnh cho tiểu đoàn 1 trung đoàn 336 chặn đám lính Nam Triều Tiên này lại. Tiêu đoàn 1 thọc lên, khai hỏa.
Trong trận hỗn chiến, đại đội 8 trung đoàn 338 sư đoàn 113 đã chạm trán với đoàn cố vấn Mỹ của sư đoàn 7 Nam Triều Tiên. Binh sĩ Trung Quốc lao lên vật lộn với các cố vấn Mỹ, kết quả tiêu diệt phần lớn đoàn cố vấn, bắt sống 8 cố vấn Mỹ, trong đó có 1 đại trung úy, 1 trung tá, 6 thiếu tá.
Chiến đấu đến 19 giờ tối, trừ một số ít địch chạy thoát, phần lớn sư đoàn 7 Nam Triều Tiên đã bị tiêu diệt ở Đức Xuyên. Trận Đức Xuyên, quân Nam Triều Tiên thương vong 1041 người, bị bắt sống 2078 người, tổn thất 156 khẩu pháo, 218 ô tô.
Khi đêm xuống, Phó tư lệnh Chí nguyện quân Hàn Tiên Sở dưới sự hộ tống của Chính ủy quân đoàn 38 Lưu Tây Nguyên đã bước vào thành phố Đức Xuyên trong biển lửa. Trên các con đường trong thành toàn là tù binh.
Pháo pháo, súng ống và ô tô, còn có các loại vật tư chất cao như núi.
Khi trời sáng, tình hình chiến sự Đức Xuyên đã được phát thanh viên của Công ty Phát thanh Truyền hình Mỹ miêu tả như sau: "Quân đoàn 2 của quân đội Đại Hàn Dân Quốc đã bị tiêu diệt, dưới đòn tấn công mãnh liệt của quân đội Trung Quốc, chưa đầy hai mươi bốn giờ đã hoàn toàn biến mất không còn tồn tại nữa, tìm cũng không tìm thấy dấu vết của bộ đội đó nữa."
Quân trưởng quân đoàn 42 Trung Quốc Ngô Thụy Lâm bị thương một chân, người ta gọi là "Ngô què".
Vị tướng lĩnh Trung Quốc dày dặn trận mạc này trong Chiến dịch lần thứ nhất sau khi vào Triều Tiên, đã thể hiện phong cách chỉ huy linh hoạt cơ động, kiên cường bất khuất của mình ở phần phía đông bán đảo Triều Tiên. Rạng sáng ngày 23, ông đang nghiên cứu bản đồ, nhận được điện thoại từ Hàn Tiên Sở gọi tới từ quân đoàn 38, Hàn Tiên Sở nói rằng, do quân đoàn 38 yêu cầu đơn độc gánh vác nhiệm vụ đánh Đức Xuyên, cho nên kế hoạch tác chiến ban đầu của quân đoàn 42 sẽ có sự thay đổi đôi chút. Ngô Thụy Lâm thầm nghĩ: Cái tên Lương Răng Vẩu này!
Chắc chắn là vì vụ "Hy Xuyên bỗng thò ra một trung đoàn da đen" trong Chiến dịch lần thứ nhất mà bị Lão Bành mắng cho một trận, muốn vớt vát lại thể diện trong Chiến dịch lần thứ hai đây mà! Thế cũng tốt, tôi tập trung tinh lực đánh Ninh Viễn và Bàn Sơn, giải quyết gọn gàng sạch sẽ sư đoàn 8 Nam Triều Tiên, chuyện nở mặt nở mày đừng để tên Lương Răng Vẩu chiếm hết một mình!
Quân trưởng Ngô Thụy Lâm và Chính ủy quân đoàn Châu Bưu lại một lần nữa xác định tình hình địch và kế hoạch tác chiến mới của quân đoàn 42.
Nằm ở chính diện của quân đoàn 42 là các bộ phận của sư đoàn 8 Nam Triều Tiên.
Cách đánh mà quân đoàn 42 áp dụng là: Tiêu diệt địch trong vận động, vòng tránh chia cắt: Sư đoàn 125 làm đơn vị tấn công chính diện, thực hiện đột phá chính diện từ Ninh Viễn, tiêu diệt tiểu đoàn 1, 3 trung đoàn 10 và tiểu đoàn 1, 2 trung đoàn 21 của sư đoàn 8 Nam Triều Tiên, chiếm lĩnh tuyến Phong Điền Lý, Tùng Đình Lý, Phượng Đức Sơn, sau đó tấn công về thành phố Ninh Viễn. Sư đoàn 126 chiếm lĩnh Long Đức Lý, Nam Trung Lý, cắt đứt đường lui của địch ở Ninh Viễn, ngăn chặn quân địch có khả năng viện bắc từ Mạnh Sơn, Bắc Thương Lý tới, đồng thời chiếm lĩnh Mạnh Sơn. Sư đoàn 124 vòng tránh đến tuyến Thạch Mạc Lý ở phía đông nam Ninh Viễn, sau đó đánh bắc tiến công Ninh Viễn.
Vòng tránh ở cánh bắt đầu vào chớp bóng ngày 25, thời gian tấn công chính diện là giờ ngày 25.
Hàn Tiên Sở đến sở chỉ huy quân đoàn 42, đặc biệt dặn dò sau khi giải quyết sư đoàn 8 Nam Triều Tiên ở Mạnh Sơn và Ninh Viễn, nên lập tức thọc sâu về hướng Thuận Xuyên.
Quân trưởng Ngô Thụy Lâm tuy què một chân, nhưng bất chấp sự khuyên can của cấp dưới, đã trèo lên ngọn núi phía bắc thành Ninh Viễn. Tuyết ngập quá đầu gối, vị quân trưởng vừa thở hồng hộc vừa nhìn thấy thành Ninh Viễn mà bộ đội của ông sắp sửa đánh qua ống nhòm. Thành huyện này đã thành một mảnh phế thải, những ngôi nhà đổ nát càng trở nên tối tăm hơn trong tuyết đọng. Trên mặt sông phía tây chảy những khối băng bị đạn pháo làm nứt vỡ, các khối băng va đập vào nhau phát ra âm thanh rất lớn. Vương Đạo Tuyền - Sư đoàn trưởng sư đoàn 125 đi cùng quân trưởng chỉ vào mặt sông nói: "Đây là 'Sở Hà Hán Giới'. Tây sông là ngụy sư đoàn 7, thuộc về quân đoàn 38; đông sông thuộc về chúng ta."
Ngô Thụy Lâm nói: "Phái một tiểu đoàn mũi nhọn chui vào thành Ninh Viễn, hốt trọn ổ sở chỉ huy trung đoàn 10 - chủ lực sư đoàn 8 của chúng trong thành cho tôi, tôi muốn đào tim chúng trước!"
Khi sư đoàn 124 và sư đoàn 126 dịch chuyển tiến lên, do đường sá đông đúc, không thể đến vị trí xuất kích đúng thời gian định sẵn, kết quả đại đội lớn đến lúc trời sáng vẫn đang hành quân, bị máy bay trinh sát của Mỹ phát hiện, lập tức chuốc lấy sự ném bom và bắn phá của hơn 20 máy bay Mỹ, bộ đội vừa phải vội vã tiến lên, vừa phải không ngừng ẩn nấp, kết quả tốc độ chẳng những không nhanh lên, còn xuất hiện một số thương vong.
Mặc dù vậy, khi chớp bóng buông xuống, cuộc tấn công của quân đoàn 42 nhằm vào sư đoàn 8 Nam Triều Tiên đã bắt đầu.
Sư đoàn 125 tấn công chính diện xuất kích đúng giờ vào lúc 23 giờ. Trung đoàn 375 của họ một mặt liên tiếp hạ các trận địa địch như Phong Điền Lý, vẫn luôn tấn công đến phía tây Ninh Viễn.
Sư đoàn 125, trung đoàn 373 chia binh làm hai đường, đoàn trưởng Lý Lâm dẫn một đường đánh Mã Chương Bình và Trực Lý, chính ủy dẫn một đường tiến thẳng đến Mã Thượng Lý, bảo vệ bên sườn cho trung đoàn 374 – đơn vị chủ công đánh thành Ninh Viễn.
Trung đoàn 374 cũng do đoàn trưởng và chính ủy mỗi người dẫn một đường, lần lượt tiến về các vùng ngoại vi của thành Ninh Viễn.
Ngô Thụy Lâm phái tiểu đoàn mũi nhọn "khoét tim" do tiểu đoàn 1 trung đoàn 374 sư đoàn 125 đảm nhiệm, đại đội mũi nhọn của tiểu đoàn mũi nhọn là đại đội 3 do phó tiểu đoàn trưởng Tôn Quang Sơn dẫn dắt. Đại đội 3 vốn nổi tiếng đánh đêm, vào ban đêm, họ như cá gặp nước. Trong các trận chiến càn quét ngoại vi, họ mò đến khoảng cách chưa đầy 10 mét so với lính Hàn Quốc, dùng dao găm đâm chết lính gác của địch; chưa đợi địch phản ứng kịp, dưới sự yểm trợ của pháo binh, các chiến sĩ đại đội 3 mãnh liệt lao lên, lính Hàn Quốc chống trả vội vàng rồi vứt bỏ trận địa tháo chạy về phía nam.
Khi tấn công cao điểm 566, lính Hàn Quốc chống trả vô cùng ngoan cường, toàn bộ cao điểm vang vọng tiếng hò hét của cận chiến. Đại đội phó đại đội 3 tên là đồng chí Lưu, trong lúc dẫn dắt binh sĩ vật lộn với địch, anh trước tiên đối đầu với một tên lính Hàn Quốc thấp béo, trong tiếng hò hét của tên lính thấp béo, lại xuất hiện thêm hai tên lính Hàn Quốc nữa, kết quả đồng chí Lưu bị ba tên địch vây quanh. Đồng chí Lưu là cựu binh, từng lập đại công hai lần trong chiến tranh giải phóng, nổi tiếng toàn sư đoàn về đâm lê. Anh không hề la hứa, điềm tĩnh lợi dụng một sơ hở của đối phương trong lúc giáp lá cà, đâm thẳng lưỡi lê vào lưng tên thấp béo. Có lẽ vì đâm quá sâu, lưỡi lê của đồng chí Lưu nhất thời không rút ra được, hai tên địch còn lại lao về phía anh.
Đồng chí Lưu buông lưỡi lê của mình ra, xoay người một cái, cướp lấy khẩu súng của một tên địch.
Nhân khoảnh khắc đối phương ngẩn người, anh lại đâm gục một tên địch. Tên địch cuối cùng quay đầu chạy bạt mạng, đồng chí Lưu bám sát không rời, một nhát lê kết thúc cuộc giáp chiến. Chiếm lĩnh cao điểm 566 rồi, đại đội 3 không dừng lại, họ phá tan sự cản trở của một đại đội quân đội Hàn Quốc, tựa như một con dao nhọn cắm thẳng vào thành Ninh Viễn. Tiểu thành bị chiến tranh tàn phá lỗ chỗ này tối đen như mực, đặt trong sự đối lập với tiếng súng pháo dữ dội bốn phía, trong thành có thể coi là tĩnh lặng vô cùng. Các chiến sĩ Trung Quốc của đại đội 3 mò đến cạnh một tòa lầu nhỏ hai tầng, phát hiện bên trong có người, nói tiếng Mỹ.
Đại đội 3 lập tức tấn công, sau một trận chiến ngắn ngủi, ô cửa sổ chìa chiếc khăn mặt trắng ra biểu thị đầu hàng. Khi các chiến sĩ Trung Quốc kiểm tra chiến quả thì giật mình thon thót, tổng cộng có 17 tên lính Mỹ thuần chủng, ở giữa còn có mấy nữ binh Mỹ! Hóa ra bọn họ đến từ Hoành Xuyên Lý, đều thuộc Sư đoàn 3 Mỹ, nói là đến thành Ninh Viễn nghỉ chủ nhật. Mà tòa lầu nhỏ hai tầng này vốn là một vũ trường. Lúc này các chiến sĩ Trung Quốc mới biết, hôm nay là Chủ nhật – ngày nghỉ ngơi của toàn thế giới.
Cùng lúc đó, phó tiểu đoàn trưởng Tôn Tiên Sơn đã chỉ huy binh sĩ bao vây sở chỉ huy đoàn 10 sư đoàn 8 Hàn Quốc. Sĩ quan Hàn Quốc không ngờ quân đội Trung Quốc lại xuất hiện ở đây nhanh đến vậy, hơn 30 sĩ quan bao gồm cả đoàn trưởng đều bị bắt làm tù binh.
Tiếp theo là chiến tranh đường phố hỗn loạn trong thành Ninh Viễn. Trận chiến kéo dài đến tận trời sáng. Tiểu đoàn 1 mũi nhọn thuộc trung đoàn 374 với cái giá thương vong 97 người, đã tiêu diệt 194 địch, bắt sống 223 tù binh, thu giữ 15 khẩu pháo, hơn 160 khẩu súng các loại.
Đoàn 10 là trung đoàn chủ lực của sư đoàn 8 Hàn Quốc, chịu trách nhiệm phòng thủ Ninh Viễn. Sở chỉ huy còn không còn, lấy gì mà bàn đến chuyện phòng thủ? Quân đội Hàn Quốc ở Ninh Viễn bắt đầu tản mác trốn chạy tứ phía.
Sư đoàn 124 chịu trách nhiệm vu hồi bị ép chặt trên mặt đường ở Trung Lý Nam Sơn. Cuộc tấn công Trung Lý Nam Sơn của trung đoàn 376 đánh suốt hai tiếng đồng hồ vẫn chưa hạ được, quân trưởng Ngô Thụy Lâm giận tím mặt. Dưới mệnh lệnh nghiêm ngặt của ông, do chính tham mưu trưởng sư đoàn trực tiếp chỉ huy, tập trung chín khẩu súng máy hạng nặng, với binh lực được tăng cường, phát động thế công mạnh mẽ vào chướng ngại vật cản trở trên đường vu hồi này, cuối cùng đã đả thông con đường lớn. Tiểu đoàn 2 của trung đoàn 376 cắm sâu nhất, lúc trời sáng đã thấu đến Đức Hóa Lý, tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho các binh sĩ tranh thủ thời gian ăn uống. Đang ăn dở, bỗng một tốp lính Hàn Quốc chạy tới, nhận nhầm tiểu đoàn 2 là người mình, cứ thế chạy tới ăn cùng. Khi bọn họ biết mình đã bị bắt làm tù binh, liền vứt súng sang một bên, vẫn cứ ăn ngấu nghiến. Tiểu đoàn 2 cứ thế bắt sống hơn 200 tên lính Hàn Quốc đói khát hoảng sợ.
Trung đoàn 370 sư đoàn 124 đến Thạch Mạc Lý vào lúc nửa đêm, tiêu diệt một đại đội súng máy thuộc đoàn 21 sư đoàn 8 Hàn Quốc. Do tiểu đoàn 2 của họ không thể đến đúng giờ tại địa điểm được định đoạt, kết quả là đại đội bộ binh của trung đoàn Hàn Quốc này đã chạy thoát sạch.
Lực lượng tiên phong thọc sâu về tây nam Ninh Viễn là đại đội 4 tiểu đoàn 2 trung đoàn 372 sư đoàn 124. Tại một nơi gọi là Đầu Thượng Động, một chiếc xe jeep chạy ngược chiều hướng về đại đội 4.
Đối mặt với sự chặn bắt của các chiến sĩ đại đội 4, trên xe nhảy xuống hai tên sĩ quan Hàn Quốc, lớn tiếng hét gì đó, qua sự giải thích của phiên dịch viên, các chiến sĩ đại đội 4 đã hiểu hắn đang hét: "Quân đội Trung Quốc ở đâu?" Thế là, các chiến sĩ đại đội 4 lớn tiếng đáp lại: "Quân đội Trung Quốc ở đây!" Sau khi bắt tù binh, gặng hỏi, biết được có một nhúm tàn binh Hàn Quốc trốn từ Ninh Viễn đến sắp tới nơi, thế là đại đội 4 lập tức chiếm lĩnh các điểm cao ở hai bên đường cái, chẳng bao lâu sau, đèn xe trên đường chớp sáng, quân địch tháo chạy đã đến. Đại đội 4 chờ xe chạy đến gần thì đánh đầu chặn đuôi, sau đó đánhọc ngang lưng, lính Hàn Quốc trên xe nhảy xuống xe tháo thân, bị đại đội 4 bao vây chặt chẽ. Trận chiến kết thúc, các chiến sĩ Trung Quốc bất ngờ phát hiện trên xe chứa đầy thực phẩm, bánh quy, đồ hộp, còn có cả một số đồ ăn ngon mà các chiến sĩ Trung Quốc không biết. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Khổng Chúc Trám ban hành mệnh lệnh: "Thông báo các đại đội, lên xe lấy đồ ngon! Lấy được bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu!"
Liên lạc viên chớp mắt đã truyền đạt mệnh lệnh "lên xe lấy đồ ngon" đến từng đại đội.
Có một thứ mà các chiến sĩ Trung Quốc không thể mang đi, chính là ô tô và đại bác do quân Hàn Quốc vứt bỏ. Người biết lái ô tô trong quân đội Trung Quốc rất ít, mà đại bác thì dựa vào sức người đẩy không nổi.
Khi trời sáng, máy bay của quân Mỹ theo lệ bay tới. Máy bay lượn lờ ở tầm thấp, sau khi xác định sư đoàn 8 Hàn Quốc đã không còn tồn tại nữa, liền bắt đầu ném bom những thứ mà các chiến sĩ Trung Quốc không thể mang đi. Mặt đường chốc lát lửa trời ngút trời, các quan binh Trung Quốc xót xa nhìn ô tô và pháo binh trong chốc lát biến thành một đống sắt vụn.
Đúng như Mao Trạch Đông và Bành Đức Hoài đã dự liệu trước khi chiến dịch bắt đầu, chỉ trong vòng một ngày, toàn bộ cánh phải chiến tuyến của Liên quân đã sụp đổ hoàn toàn.
Đại đội Baker thảm hại và "những người Mỹ da đen"
Đại đội Baker thuộc tiểu đoàn 3 trung đoàn bộ binh 9 sư đoàn 2 quân Mỹ cũng giống như phần lớn các đại đội Mỹ của Tập đoàn quân số 8, toàn đại đội 129 quan binh được biên chế hỗn hợp giữa người da trắng và da đen, tân binh và cựu binh, để thích ứng với tác chiến trên chiến trường Triều Tiên, đại đội còn được trang bị thêm hơn chục binh sĩ Hàn Quốc.
Sáng sớm ngày 25 tháng 11 năm 1950, khi quan binh đại đội Baker biết được hôm nay họ vẫn phải đóng vai trò đại đội tiên phong, thì cằn nhằn đầy bụng, bởi vì trong quân đội Mỹ những ngày này đang thịnh hành một câu nói: "Ai làm đại đội tiên phong thì người đó chắc chắn sẽ gặp người Trung Quốc." Quan binh đại đội Baker cho rằng mỗi lần đánh trận đại đội Baker đều xông lên tuyến đầu, rõ ràng cho thấy đại đội Baker trong mắt các quan trên chính là một chiếc giẻ lau bẩn thỉu, rất tệ hại nhưng rất có ích, dùng xong sẽ vứt đi mà không hề bận tâm.
Thế nhưng, sự thật là đại đội Baker kể từ khi tiến đến bờ sông Thanh Xuyên cho đến nay vẫn chưa gặp phải trận chiến nào có ý nghĩa thực sự, ngoại trừ những cuộc kháng cự lẻ tẻ, bọn họ vẫn chưa nhìn thấy bóng dáng quân đội Trung Quốc. Ngày 25 tháng 11, khi đại đội Baker sắp xuất phát, báo cáo của phi công trinh sát đã đến tay đại đội trưởng đại úy Wallace, nội dung báo cáo cũng giống như mọi ngày, không phát hiện tung tích địch.
Mục tiêu ngày hôm nay của đại đội Baker là cao điểm 219 bên bờ sông Thanh Xuyên cách đó 10 km về phía bắc.
Khi bước về phía chiến trường, quan binh đại đội Baker đều tin rằng sẽ không có trận đánh lớn nào nữa đâu. MacArthur nói Giáng sinh là có thể về nhà, câu nói này nghe rất hấp dẫn.
Hơn nữa việc MacArthur thân chinh đến vùng trời sông Áp Lục, quan binh đều đã biết, bọn họ nói: "Lão già này vẫn rất khá đấy chứ. Nếu máy bay của lão già mà rơi xuống, người Trung Quốc sẽ đem chiếc tẩu ngô của lão tặng cho Stalin, bởi vì Stalin cũng thích chơi tẩu." Ngày 25 tháng 11 là một ngày đẹp trời giá lạnh, bầu trời rất xanh. Quan binh như thường lệ, vứt bỏ chiếc mũ sắt mà họ cho là nặng nề quá mức, đội những chiếc mũ len vừa nhẹ nhàng vừa ấm áp mới được cấp phát. Bọn họ cũng không muốn mang nhiều đạn dược, mỗi binh sĩ trung bình 1 quả lựu đạn và 16 viên đạn, đạn súng máy cũng chỉ mang 4 hòm, đạn súng cối mang 61 viên – đây là lượng mang theo đạn dược thấp nhất trong quy định. Khoảng một nửa số binh sĩ còn mang theo công cụ tác chiến thổ mộc, nửa còn lại sớm đã vứt bỏ những thứ vướng víu này đi rồi. Balo trống không trên người nhẹ bẫng rất thoải mái, còn về lương thực, đằng nào thì dân phu Hàn Quốc cũng sẽ vác lên thôi. Lính thông tin đại đội Baker sợ phiền phức, ngay cả cuộn dây điện dã chiến duy nhất cũng không nối, anh ta cảm thấy hễ có chuyện gì xảy ra, chỉ cần kẹp đầu dây của máy điện thoại đơn vào đường dây điện thoại phục vụ cho đài quan sát pháo binh được rải trên đường hành quân rồi nói vài câu là được.
Binh sĩ hai trung đại của đại đội Baker ngồi trên 4 chiếc xe tăng M-4 và 2 chiếc xe pháo tự hành nòng đôi M-16, những binh sĩ còn lại đi bộ theo sau.
Đường núi quanh co lởm chởm, đội ngũ lờ đờ uể oải, trên đầu mặt trời chiếu rọi, bốn bề tĩnh lặng...
Cao điểm 219 là một ngọn núi nhỏ hình yên ngựa, trên núi phủ những lùn cây tạp thấp, sườn phía bắc thoai thoải, phía nam là vách đá dựng đứng. Nơi đây là một cao điểm có vị trí quan trọng bên bờ sông Thanh Xuyên, nó khống chế con đường cái đi về phía bắc, là một điểm cao chế ngự bắt buộc phải khống chế trước tiên khi tiến lên phía bắc.
Đại úy Wallace quan sát từ chân núi phía tây lên, trên cao điểm yên tĩnh một mảnh, cây cộ lắc lư trong gió nhẹ, mấy con quạ bị cóng đơ trong đêm đông đang phơi nắng, thế nên đại úy Wallace phán đoán không có tình hình bất thường gì, ra lệnh chiếm lĩnh cao điểm này.
Dọc theo sườn dốc thoai thoải phía bắc, đại đội Baker bắt đầu leo núi. Trung đội 2 tiểu đội 1 với tư cách là tiểu đội tiên phong leo lên ở phía trước nhất, chủ lực đại đội theo sau bọn họ khoảng 10 mét. Leo chậm chạp suốt một tiếng đồng hồ, tiểu đội 1 đã tiếp cận đỉnh núi. Cách đỉnh núi 20 mét, các binh sĩ dừng lại lau mồ hôi, binh nhất Smith và trung đội trưởng trung úy Kichonas trong khoảng trống lau mồ hôi vô tình ngước mắt nhìn lên một cái, trong khoảnh khắc này bọn họ kinh ngạc há hốc mồm: Ngay trên đầu bọn họ, một chùm lựu đạn đang dày đặc bay xuống!
Lựu đạn phát nổ giữa đám lính Mỹ, tiếp theo là đạn súng trường bắn sang.
Binh sĩ đại đội Baker tức khắc máu thịt tung bay, đại đội trưởng Wallace hét lên một tiếng: "Địch!" Toàn đại đội đồng loạt nằm rạp xuống cao điểm 219. Khi Wallace đang bò về phía những binh sĩ tiểu đội 1 đang băng bó vết thương, ông nhìn thấy bóng dáng mấy người lính Trung Quốc lóe lên trong đám cây tạp, Wallace kinh hãi mở trừng to đôi mắt, lính Trung Quốc lại biến mất.
Toàn đại đội Baker không kịp bắn ra nổi một viên đạn.
Thời gian là 10 giờ 30 phút sáng ngày 25 tháng 11.
Tiếng súng đột nhiên dừng lại. Đại đội Baker lập tức chia làm hai đường chuyển sang trạng thái tấn công. Binh sĩ Trung Quốc ở chính diện trung đội 2 hình như đã biến mất, thế nên trung đội 2 leo lên một đường sống núi, bởi vì khắp nơi là đá tảng, xạ thủ súng máy chốc lát không tìm được vị trí để dựng súng máy, xe tăng cũng vì bị sống núi cản trở mà không thể yểm trợ, đang lúc do dự, từ trong lùm cây trên gờ đá cao hơn, tiếng bắn súng của lính Trung Quốc lại bắt đầu, lựu đạn và đạn súng trường ngập trời trút xuống, số binh sĩ thương vong của trung đội 1 thoắt cái tăng thêm 18 người. Trung đội 3 tấn công từ hướng khác còn chưa tiếp cận đỉnh núi, đã bắn sạch số đạn hạn hẹp, thế nên đành tháo lui xuống. Trung sĩ Bố Đốn – trung đội trưởng trung đội 3 là sĩ quan mới nhậm chức ngày hôm nay, anh ta thậm chí còn chưa nhớ nổi tên của những binh sĩ thuộc quyền chỉ huy của mình. Lúc trung đội 3 rút xuống, phó tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 đã mang xe đạn đến, anh ta chỉ huy xe tăng và pháo tự hành dưới núi điều chỉnh vị trí yểm trợ trung đội 3 tấn công trở lại. Bố Đốn bèn chỉ huy trung đội 3 lần nữa xung phong lên đỉnh núi. Ngay lúc trung đội 3 lại một lần nữa tiếp cận đỉnh núi, trung úy Bố Đốn đã nhìn thấy một màn cảnh tượng khiến anh ta suốt đời khó quên: Trong chiến hào trên đỉnh núi, bất ngờ đứng dậy một hàng lính Trung Quốc, "những người lính Trung Quốc này giơ cao hai tay, là dáng vẻ đầu hàng", trung đội 3 xếp đội hình tản chiến đấu ở "khoảng cách có thể nhìn thấy khuy áo của lính Trung Quốc", một tên lính Hàn Quốc biết tiếng Trung bắt đầu hô hào: "Từ trong hào bước ra đầu hàng đi!" Lính Trung Quốc đáp lại: "Đến đây mà bắt!" Khi bắt đầu đối thoại với lính Trung Quốc, lại có rất nhiều lính Trung Quốc gia nhập vào hàng ngũ giơ tay, thế nhưng, "bọn họ đột nhiên cùng lúc ném lựu đạn ra, sau đó chui tuột vào chiến hào".
Trung đội 3 của Bố Đốn tổn thất nặng nề trên cao điểm 219.
Lính Trung Quốc lại một lần nữa biến mất trong lùm cây tạp.
Sau khi đại đội phó người da đen Uyn dẫn 25 người tiến hành đột kích, nhưng lại đổi lấy cái giá thương vong một nửa mà thất bại một lần nữa, đại đội Baker đã hoàn thành việc tu củng trận địa phòng ngự của mình. Thế nên, binh sĩ Trung Mỹ trên cao điểm 219 bước vào thế giằng co đọ súng cho đến tận khi mặt trời lặn.
Đầu đêm ngày 25 tháng 11 năm 1950, nhiệt độ âm 15 độ C, không khí trong lành, ánh trăng vằng vặc.
Màn đêm tĩnh lặng không kéo dài bao lâu, binh sĩ đại đội Baker đã bị tiếng nổ lớn đột ngột truyền đến từ hướng bắc làm cho chết lặng. Nửa bầu trời trong chốc lát bị pháo lửa nhuộm đỏ, tiếng pháo như sấm rền vang vọng cả vòm trời. Tiếng nổ và ánh lửa thoạt đầu ở bờ bên kia sông Thanh Xuyên, chẳng bao lâu sau, phía sau bên phải đại đội Baker đã xuất hiện ánh lửa ngút trời.
Quan binh đại đội Baker đã hiểu ra, trận chiến ác liệt đã diễn ra ở phía trước và sườn sau của họ.
Đại đội trưởng Wallace dùng điện báo hỏi cấp trên rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, câu trả lời của đoàn trưởng đại tá Charles Slone rất đơn giản: "Đây có lẽ là đồ thật rồi."
Wallace hiểu đại ý của câu trả lời này, nhưng ông ta không thể liên tưởng đến việc trận chiến mà đại đội Baker gặp phải ban ngày hôm nay chỉ là sự cản trở của lực lượng trinh sát quân đội Trung Quốc, mà chỉ vài tiếng nữa thôi, ông ta và đại đội Baker của mình sẽ rơi vào một trận chiến còn bi tráng hơn thế.
Đại úy Wallace không thể ngờ tới cũng là điều dễ hiểu, bởi vì giờ phút này ngay cả đại tướng MacArthur cũng không thể ngờ tới, hàng chục vạn quân đội Trung Quốc dưới sự chỉ huy của Bành Đức Hoài đã bắt đầu cuộc tổng tấn công trên toàn tuyến ở chiến tuyến phía tây bán đảo Triều Tiên. Đây là ngày thứ hai sau khi MacArthur bay ra tiền tuyến tuyên bố "để những đứa trẻ về nhà trước lễ Giáng sinh", cũng là ngày thứ hai sau khi ông ta bay lên vùng trời sông Áp Lục quan sát tận mắt rồi tuyên bố "không có bóng dáng quân đội Trung Quốc".
Bốn phía đại đội Baker đâu đâu cũng là tiếng súng pháo, nhưng điều kỳ lạ là họ không bị tấn công.
Cao điểm 219 tĩnh lặng như tờ. Đại đội Baker vô cùng kinh hãi lắng nghe tiếng súng phía sau lưng mình, nhưng không ai biết họ nên làm thế nào. Qua liên lạc điện thoại, Wallace biết được các đại đội khác của tiểu đoàn 3 đều đang hứng chịu tấn công mãnh liệt mà đối mặt với nguy cơ tiêu diệt, tiểu đoàn 2 cũng đã rơi vào vòng vây, tiểu đoàn 1 vì sở chỉ huy tiểu đoàn bị tập tích, tiểu đoàn trưởng và rất nhiều tham mưu đã mất tích. Lúc này, các bộ phận của trung đoàn 9 sư đoàn 2 quân Mỹ đều đang ở trong cuộc chiến đẫm máu. Mà tin tức truyền đến từ trung đoàn 38 phía sau bên phải trung đoàn 9 cho biết, "bọn họ đã bị cuốn vào cuộc hỗn chiến giáp lá cà".
Đại đội Baker nằm ở nơi yết hầu vậy mà không hề chịu bất kỳ sự tấn công từ hướng nào! Điều này còn khiến đại đội Baker kinh sợ hơn là bị tấn công. Quan binh đại đội Baker tâm trạng phức tạp nhìn bầu trời, nhìn vầng trăng giống như ở quê nhà của mình, co ro trong chiến hào cầu nguyện cho vận mệnh của bản thân.
Lúc này, một chi quân đội Trung Quốc sắp đẩy đại đội Baker vào con đường chết – trung đoàn 359 sư đoàn 120 quân đoàn 40 đang từng bước tiếp cận cao điểm 219.
Vị trí tấn công của quân đoàn 40 nằm ở phần giữa chiến tuyến phía tây, nằm giữa quân đoàn 38 và quân đoàn 39. Tối ngày 24 tháng 11, quân đoàn 40 nhận lệnh tiến về hướng Long Xuyên Sơn, Tây Thương. Sáng ngày 25, do biết tin sư đoàn 2 Mỹ đã chiếm lĩnh Tân Hưng Lý,
Tô Dân Lý, Bành Đức Hoài ra lệnh cho quân đoàn 40 dùng một bộ phận tiếp tục thọc sâu về hướng Tây Thương, còn chủ lực của họ phối hợp với quân đoàn 39 tấn công từ chính diện, muốn tiêu diệt sư đoàn 2 Mỹ.
Kế hoạch của quân đoàn 40 là: Dùng sư đoàn 119 tiếp tục thọc sâu về hướng Tây Thương, dùng sư đoàn 118 tấn công hướng Tân Hưng Lý nhắm vào đoàn 9 sư đoàn 2 Mỹ, sư đoàn 120 ở lại bờ tây sông Thanh Xuyên bảo đảm an toàn bên sườn chủ lực quân đoàn, nhưng điều động trung đoàn 359 lập tức vượt sông Thanh Xuyên cường độ cao, thọc thẳng đến Ngư Long Phổ, cắt đứt đường rút lui của sư đoàn 2 Mỹ, đồng thời ngăn chặn địch có thể tăng viện từ hướng Cầu Tràng.
Khi các tiểu đoàn trưởng trung đoàn 359 được triệu tập họp và biết được nhiệm vụ, các tiểu đoàn trưởng đều không hó hé gì. Nhiệt độ lúc đó là âm 25 độ, mặt sông Thanh Xuyên rộng 200 mét, nước giữa sông sâu và chảy xiết, phần giáp bờ đã đóng băng. Mà đối diện bên bờ sông bố trí một đại đội bộ binh và một đại đội pháo binh của quân Mỹ, được trang bị vũ khí hạng nặng bao gồm cả xe tăng, mục tiêu của vũ khí chính là phong tỏa mặt sông. Đồng thời, bờ sông phía này cũng có địch, còn có hơn 20 dặm tuyến phong tỏa. Không có bất kỳ dụng cụ vượt sông nào, toàn bộ trung đoàn phải lội nước qua sông; chẳng những phải chống chọi với hỏa lực bắn phá của địch đối diện, còn phải chịu sự cản trở từ hỏa lực bắn tạt sườn của địch bên phía bờ sông này.
Thế nhưng, trung đoàn 359 buộc phải vượt sông Thanh Xuyên.
Phó sư đoàn trưởng sư đoàn 120 Hoàng Quốc Trung đã tới, ông muốn cùng trung đoàn 359 vượt sông.
Ông là cựu đoàn trưởng của trung đoàn này, quen thuộc từng tiểu đoàn trưởng. Câu nói cuối cùng mà Hoàng Quốc Trung nói với các tiểu đoàn trưởng là: "Chúng ta đồng sinh cộng tử, đều phải bỏ chút sức lực cho tôi!"
Màn đêm buông xuống, trung đoàn 359 xuất phát. Sau cuộc bôn tập 10 km, bọn họ đến địa điểm vượt sông.
Trời lạnh đất cứng, gió bắc buốt thấu xương, có thể nghe thấy tiếng các khối băng va đập trong nước sông.
Khi trinh sát hiện trường, mấy tên tham mưu dẫn mấy binh sĩ mò vào một cái lán tranh tránh gió một lát, lúc ra ngoài một binh sĩ nhìn khẩu súng trong tay mình ngẩn ra: Bản thân sử dụng một khẩu súng trường bán tự động, lúc vào lán tranh thì dựa vào chân tường, sao bây giờ lại biến thành một khẩu súng carbine của Mỹ rồi? Không hiểu ra sao chui ngược lại vào lán tranh và bật đèn pin, tức khắc giật mình thon thót, hóa ra trong góc của cái lán tranh này đang ngủ bảy tên lính Mỹ!
Lính Mỹ bị đánh thức còn chưa hiểu chuyện gì xảy ra, đã bị mấy đôi bàn tay lạnh ngắt ấn chặt vào trong túi ngủ.
20 giờ 30 phút, qua hỏa lực chuẩn bị của đại đội súng cối, dưới sự yểm trợ của súng máy hạng nặng, trung đoàn 359 bắt đầu vượt sông Thanh Xuyên cường độ cao. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 bước phá vỡ lớp băng trước tiên. Những binh sĩ ra một thân mồ hôi hột trong cuộc bôn tập 10 km vừa bước vào dòng nước đá lạnh ngập ngực, tức thì toàn thân đau buốt như dao cắt. Áo bông ngấm nước nặng như chì, chưa bước được mấy bước, hai chân bắt đầu co giật, rồi mất đi tri giác. Khi đến gần giữa dòng sông tăm tối, dòng nước xiết khiến người ta không thể đứng vững, dòng nước dâng ngập đến cổ khiến người ta nghẹt thở. Các chiến sĩ giơ cao súng qua đầu, cơ thể ép sát vào nhau, từng bước di chuyển trong dòng nước sông. Phía trước, dưới ánh trăng là lớp băng trắng và bãi cát.
Địch ở bờ bên kia bắt đầu nổ súng. Bọn họ không ngờ ở nơi không có cầu mà lính Trung Quốc lại lội sông trong làn nước đá, thế nên việc bắn phá trở nên hoảng loạn và dồn dập.
Phó sư đoàn trưởng Hoàng Quốc Trung đi đầu có vóc người thấp, đến giữa sông thì nước sông đã ngập qua đầu, ông uống mấy ngụm nước sông lạnh thấu xương tủy. Cận vệ đỡ ông ra khỏi mặt nước, khuôn mặt và mái tóc của ông lập tức đóng băng, ông muốn nói gì đó, nhưng không nói nên lời.
Trên mặt sông tối tăm vang vọng tiếng hô hỗn tạp của trung đoàn 359: "Xông qua sông chính là chiến thắng!"
"Vì Chủ tịch Mao làm rạng danh!"
"Xông lên bờ, đập nát kẻ địch!"
Liên tục có binh sĩ gục xuống trong tiếng nổ súng từ bờ bên kia và sự va đập của những tảng băng lớn do đạn pháo đánh vỡ rồi trôi xuôi theo dòng nước, thế nhưng, khi chân bọn họ vừa đặt lên mảnh đất bờ bên kia, thế giới tức khắc lại thuộc về họ một lần nữa.
Trung đội 3 đại đội 8 xông lên bờ sông trước tiên. Chiếc áo bông ướt sũng biến thành ống băng. Các chiến sĩ ra sức bẻ gãy lớp băng trên người, nhưng lúc nổ súng lại phát hiện súng đã đóng băng. Có người bắt đầu tè lên súng, trong cái lạnh cực độ và sự căng thẳng, việc tè ra nước tiểu không hề dễ dàng gì, nhưng hễ tè ra được thì hiệu quả lại rất tốt.
Đại đội 8 đánh sập một trận địa pháo binh của quân Mỹ.
Đại đội 5 chiếm lĩnh Ngư Long Phổ.
Đại đội 6 sau khi vượt sông đã thọc ra cầu đường cái, đụng độ với đội hiến binh thuộc sở chỉ huy sư đoàn 2 Mỹ.
Sau 20 phút chiến đấu kịch liệt, hai trung đội chiến sĩ Trung Quốc đều hy sinh toàn bộ. Người sau này chôn cất thi thể nhìn thấy, hai trung đội chiến sĩ Trung Quốc này toàn thân áo giáp băng, đều duy trì tư thế chiến đấu, nòng súng chĩa về hướng kẻ địch.
Trung đoàn 359 tiếp tục phát triển vào chiều sâu, tiến hành tấn công và bao vây đối với tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 2 trung đoàn 9 sư đoàn 2 Mỹ.
Lúc này, đại đội 8 tiểu đoàn 3 trung đoàn 359 nhận lệnh tấn công cao điểm 219.
Đã là thời điểm nửa đêm. Khi loạt đạn pháo rơi xuống cao điểm 219, quan binh đại đội Baker cuối cùng cũng nhận thức được rằng, tai họa đã đến lượt mình rồi.
Trung đội súng cối của đại đội Baker tan rỗi dưới đợt tấn công của lính Trung Quốc, bị tập trung bao vây ở lưng chừng núi.
Trận chiến cao điểm 219 vì thế trở thành một trận chiến lựu đạn. Bởi vì cả hai bên đều có thể lợi dụng hõm đá núi để yểm trợ, đạn súng gần như vô tác dụng. Lính Mỹ phát hiện, cuộc tấn công của lính Trung Quốc tiến hành có nhịp điệu dưới sự chỉ huy của kèn lệnh, hai tiếng kèn là tiến lên, còn một tiếng kèn thì là ném lựu đạn. Mức độ dày đặc của lựu đạn do lính Trung Quốc ném ra khiến lính Mỹ giống như đang rơi vào địa hình địa ngục. Trong hõm núi chật hẹp, lính Mỹ chen chúc vào nhau không thể né tránh lựu đạn, chỉ đành liều mạng đá văng lựu đạn đi. Crawford – một nhân viên quân khí lúc đó mới 17 tuổi của đại đội Baker sau này nhớ lại, lựu đạn rơi xuống bên cạnh anh ta như mưa, chỉ riêng số lựu đạn mà anh ta đá đi trước khi nó phát nổ đã có "hơn bốn mươi quả".
Trung úy Uyn – phó đại đội trưởng đại đội Baker là một sĩ quan da đen vóc dáng cao lớn, anh ta ra lệnh cho những binh sĩ xung quanh áp sát vào mình trong cuộc đối kháng hỗn loạn, anh liều mình yểm trợ các binh sĩ tập trung lại. Thế nhưng, đạn dược đã cạn sạch. Uyn bắt đầu ném đá, cuối cùng, anh đứng trên chiến hào, ném đồ hộp thực phẩm.
Đại đội Baker quyết định từ bỏ trận địa. Lúc sắp hội quân với trung đội súng cối ở lưng chừng núi, Uyn quay đầu lại vừa định hét trung úy Wen đang rớt lại phía sau, một quả lựu đạn phát nổ ngay trên đỉnh đầu trung úy Wen, mảnh đạn tiện đứt một nửa khuôn mặt của anh ta.
26 tiếng đồng hồ sau khi đại đội Baker bắt đầu tấn công, đại đội Baker hoàn toàn tan rỗi.
Toàn đại đội từ 129 người lúc bắt đầu tấn công, đến lúc rút xuống chỉ còn lại 34 người, trong đó một nửa vẫn là "thương binh có thể tự đi lại".
Sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, trong tất cả các tài liệu chiến tranh, đều có ghi chép về sự kiện chiến sự đại đội Baker ngày 25 tháng 11 năm 1950. Có tài liệu mô tả trận chiến của đại đội Baker trên cao điểm 219 thành một chiến công anh dũng, cũng có tài liệu miêu tả một cách tàn khốc cảnh tượng thảm hại kêu trời trách đất của đại đội Baker trên cao điểm 219. Dù thế nào đi nữa, cuộc tấn công của các chiến sĩ đại đội 8 tiểu đoàn 3 trung đoàn 359 sư đoàn 120 quân đoàn 40 Trung Quốc nhằm vào đại đội Baker tiểu đoàn 3 trung đoàn bộ binh 9 sư đoàn 2 quân Mỹ vào đêm trăng sáng hôm đó, đã khiến cho cả hai phe tham chiến cũng như bất kỳ ai ôn lại trận chiến này đều khó lòng quên được.
Hai trung đoàn của sư đoàn 118 quân đoàn 40 cũng vượt sông Thanh Xuyên vào tối ngày 25, bắt đầu phát động tấn công mãnh liệt vào các trận địa của sư đoàn 2 Mỹ. Trận chiến ở các bộ phận trên chiến trường đều thể hiện tình trạng giống nhau: Quân Mỹ nhờ cậy hỏa lực yểm trợ mạnh mẽ để chống trả ngoan cường, còn quân đội Trung Quốc thì tiến hành tấn công ngoan cường hết đợt này đến đợt khác. Lịch sử chiến tranh của quân Mỹ ghi chép rằng: "Quân đội Trung Quốc bắn phá dữ dội bằng súng trường và súng máy, ném ra những quả lựu đạn có vẻ như dùng mãi không hết. Bọn họ xông lên trận địa quân Mỹ, dùng lưỡi lê đâm chết lính Mỹ trong hố cá nhân."
Binh sĩ Trung Quốc bắt sống một binh nhì quân Mỹ tên là Smedley, sau khi thẩm vấn đã thả anh ta ra. Lúc thả, một phiên dịch viên Trung Quốc nói với anh ta rằng: "Chúng tôi nắm rõ các anh như lòng bàn tay, chúng tôi biết tên của tất cả các sĩ quan thuộc đại đội George nơi anh ở. Anh đi đi. Nói với cấp trên của các anh, đừng dùng đạn cháy, tức là bom na-pan để đánh chúng tôi. Bức tường quân đội của các anh hiện đang ở đằng kia, anh đi đi."
Khi binh nhì Smedley chạy về phía bờ sông, cảm thấy đằng sau lưng chắc chắn sẽ vang lên tiếng súng, thế nhưng người Trung Quốc không hề nổ súng.
Đại đội George nơi Smedley ở là một đại đội thuộc trung đoàn 9 sư đoàn 2 Mỹ. Đại đội trưởng Frank Musson sau khi đại đội sụp đổ, nghe thấy tiếng khóc phát ra từ một ngôi nhà gỗ, đi vào xem thì thấy một binh sĩ co ro người lại ngồi ở góc tường nước mắt đầm đìa.
Musson hỏi: "Cậu đang làm gì thế?"
Binh sĩ nói: "Không biết... Tôi không biết."
Musson nói: "Đi theo tôi!"
Binh sĩ nói: "Đại úy, tôi không muốn đi..."
Musson tóm lấy cánh tay binh sĩ nhắc bổng anh ta lên như nhấc một con gà: "Tôi ra lệnh cho cậu ngồi cái mông của cậu lên xe tăng!"
Musson rút súng lục ra, dẫn dắt số binh sĩ tàn dư trốn thoát khỏi vòng vây của quân đội Trung Quốc.
Đến ngày 26, sư đoàn 2 Mỹ dưới đợt tấn công của các bộ phận thuộc quân đoàn 40 Trung Quốc đã đứng trước nguy cơ sụp đổ toàn tuyến.
Đơn vị phát động tấn công chính diện vào sư đoàn 25 quân Mỹ là quân đoàn 39 Trung Quốc.
Người đầu tiên tiếp xúc với sư đoàn 25 quân Mỹ trong quân đoàn 39 là một đoàn trưởng người Trung Quốc có họ rất kỳ lạ tên là Yêu Thanh Xuyên. Trung đoàn 345 do ông dẫn dắt đã đến Thượng Cửu Động vào rạng ngày 25 để tiếp quản công tác phòng ngự của quân đoàn 40, đã hẹn ở đó có một tiểu đoàn trinh sát của quân đoàn 40 đang đợi họ. Thế nhưng khi đến Thượng Cửu Động thì phát hiện hoàn toàn không có bóng dáng tiểu đoàn trinh sát nào.
Đoàn trưởng trung đoàn 343 Vương Phù Chi cũng đồng thời đến nơi, cũng nói không nhìn thấy người của quân đoàn 40. Đang lúc nói chuyện, đồng bào Triều Tiên nói cho họ biết, phía tây thôn có địch. Đoàn trưởng Yêu Thanh Xuyên đến phía tây thôn nhìn một cái, ông đã nhìn thấy lính Mỹ.
Đây là lực lượng tiên phong của trung đoàn 24 sư đoàn 25 quân Mỹ.
Cũng giống như sư đoàn 2 Mỹ, trung đoàn 24 cũng bắt đầu tiến về phía bắc vào sáng ngày 25.
Yêu Thanh Xuyên lập tức hạ lệnh: "Chiếm lấy cao điểm, chặn đánh địch ở phía nam Thượng Cửu Động, tranh thủ thời gian cho lực lượng sau tiến vào!"
Cứ như thế, sư đoàn 115 quân đoàn 39 Trung Quốc với sư đoàn 25 quân Mỹ đã châm ngòi chiến tranh trong lúc vội vã.
Do trung đoàn 345 của Yêu Thanh Xuyên đã đánh nhau với quân đội Mỹ suốt một ngày, cuộc tấn công ngày 26 liền do trung đoàn 344 đánh chính diện, mà nhiệm vụ của trung đoàn 343 là thọc sâu lên Thượng Cửu Động, cắt đứt đường rút lui của quân Mỹ. Sư đoàn trưởng Vương Lương Thái giao cho đoàn trưởng trung đoàn 343 Vương Phù Chi một "chỉ tiêu" bắt tù binh: 200 người.
Quân Mỹ đã biết đây là cuộc tổng tấn công quy mô lớn của quân đội Trung Quốc rồi, bọn họ bắt đầu rút lui.
Gần Thượng Cửu Động trên đường cái có một cửa ải, chiếm lĩnh và giữ vững cửa ải này, thì có thể chặn đứng được quân Mỹ đang rút lui.
Phòng thủ tử thủ và xông pha quyết liệt, đến đêm ngày 26, các chiến sĩ Trung Quốc và Mỹ trên con đường cái lân cận Thượng Cửu Động đã triển khai cuộc chiến đấu sống mái giữa người với người, người với xe tăng. Lúc tranh giành cao điểm bên đường cái, hỏa lực mạnh mẽ của quân Mỹ khiến trung đoàn 343 tổn thất không nhỏ, nhưng nỗi sợ hãi chiến tranh ban đêm của binh sĩ Mỹ lại càng khiến các chiến sĩ Trung Quốc thêm phần làm càn làm bừa. Bọn họ giơ những chùm lựu đạn, ôm bộc phá, hoặc giơ mấy ống bộc phá buộc chung lại với nhau, lao thẳng về phía chiếc xe tăng cồng kềnh của quân Mỹ, không được lần này lại xông lên lần nữa. Do là ban đêm, lái xe tăng Mỹ nhìn không rõ cuộc tấn công đến từ hướng nào, chỉ đành cuồng cuồng quay tháp pháo bắn bừa bãi, cho đến khi xích xe bị đánh đứt, hoặc bình xăng xe tăng bị đánh nứt toác. Xe tăng bốc cháy chặn nghẽn đường đi, xe tăng đằng sau liền liều mạng đâm sầm vào chiếc xe tăng đã tê liệt, âm thanh va đập này khiến các chiến sĩ Trung Quốc nghe thấy còn kích động tâm can hơn cả tiếng súng pháo.
Đội hình xung phong của các chiến sĩ Trung Quốc hình thành từng đoàn bóng người di chuyển trong bóng tối. Khi xung phong đến khoảng cách gần nhất, phòng tuyến tâm lý của binh sĩ Mỹ sụp đổ, thế là khắp núi đồi chạy trốn tứ tán. Các chiến sĩ Trung Quốc bắt đầu chặn bắt tứ phía, những tốp lính Mỹ dẫu chạy theo bất kỳ hướng nào, cũng đều sẽ vấp phải đợt đả kích đón đầu.
Ban đêm chính là thiên hạ của quân đội Trung Quốc.
Trời vừa sáng, máy bay quân Mỹ lại tới. Từng chiếc F-86 lao xuống từ trên không, mưu đồ tìm kiếm tín hiệu chỉ thị mặt đất mà bộ đội quân Mỹ yêu cầu yểm trợ, đồng thời cũng tìm kiếm tung tích bộ đội Trung Quốc. Thế nhưng phi công không nhìn thấy bóng dáng binh sĩ Mỹ đâu cả, bọn họ đều chạy lên núi rồi. Phi công cũng không nhìn thấy bóng dáng binh sĩ Trung Quốc, bọn họ cũng đều lên núi ẩn nấp cả rồi.
Ngay trong khu rừng cây tạp ẩn chứa các chiến sĩ Trung Quốc và binh sĩ Mỹ, các chiến sĩ Trung Quốc khom lưng càn quét núi, nhằm lôi những tên lính Mỹ trốn trong núi ra ngoài.
Đến khi kiểm điểm tù binh, đoàn trưởng Vương Phù Chi đếm thử, tổng cộng có hơn 180 tên, còn cách "chỉ tiêu" mà sư đoàn trưởng Vương Lương Thái yêu cầu một chút.
Những tên tù binh Mỹ trên cổ treo tấm thẻ đồng khắc phiên hiệu bộ đội, chức vụ, họ tên này, toàn bộ đều là người thuộc sư đoàn 25 quân Mỹ, và hầu như đều là người Puerto Rico.
Trong sư đoàn 25 quân Mỹ có một trung đoàn da đen, đây chính là trung đoàn 24 bị quân đoàn 39 Trung Quốc đả kích.
Trung đoàn 24 là một đội bóng có lịch sử lâu đời, chiến công hiển hách.
Trung đoàn 24 cũng là một đội bóng lâu ngày chịu đựng sự kỳ thị và nhạo báng.
Trung đoàn bộ binh 24 sư đoàn 25 quân Mỹ, được thành lập dựa theo một sắc lệnh do Quốc hội Mỹ thông qua năm 1878. Trong các cuộc chiến tranh chống lại người da đỏ vào những năm 70-80 của thế kỷ 19, phong cách dũng cảm của trung đoàn bộ binh 24 đã được ca ngợi. Thế nhưng, bởi vì đây là một đội ngũ thuần túy do người da đen hợp thành, trong thời đại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc thịnh hành, dẫu bọn họ tác chiến dũng mãnh, nhưng mãi mãi vẫn là "binh sĩ hạng hai". Do đó, quan điểm bám rễ sâu xa trong lòng quan binh da đen trung đoàn 24 là: Đã không coi chúng ta ra gì, hà cớ gì chúng ta phải chết thay cho bọn họ?
Sư đoàn 25 quân Mỹ là một trong những lô quân đội Mỹ đầu tiên được phái đến chiến trường Triều Tiên. Ngày 20 tháng 7 năm 1950, sau khi sư đoàn 25 quân Mỹ lâm trận chiến đấu, nhiệm vụ đầu tiên mà trung đoàn 24 nhận được là tử thủ thành Lễ Tuyền. Ngày đầu tiên chấp hành nhiệm vụ, biểu hiện của trung đoàn 24 đã khiến sư đoàn trưởng William Kean giận tím mặt: Binh sĩ hò hét bắn bừa một trận, rồi bắt đầu hoảng hốt tháo chạy, lý do là "gặp phải quân đội nhân dân Bắc Triều Tiên có ưu thế tuyệt đối". Ngày hôm sau đội tìm kiếm do quân Mỹ phái đi quay về báo cáo rằng, quân Nhân dân chưa từng đặt chân đến cái nơi gọi là Lễ Tuyền này, đám cháy bùng cháy trong thành là do hỏa lực pháo binh của chính quân Mỹ bắn trúng kiến trúc bén lửa gây ra.
Trong trận chiến Thượng Châu sau đó, biểu hiện của trung đoàn 24 càng trở thành nỗi nhục nhã của sư đoàn 25. Lịch sử chiến tranh Lục quân Mỹ ghi chép biểu hiện của trung đoàn 24 tại Thượng Châu như sau: Trong hầu như tất cả các cuộc chiến đấu ở phía tây Thượng Châu, trung đoàn bộ binh 24 đều ở trong trạng thái hoang mang lo sợ không lúc nào yên. Binh sĩ tự ý rời bỏ trận địa, chuồn về hậu phương. Bọn họ vứt vũ khí trên trận địa, có một lần, tiểu đoàn 3 rút khỏi một ngọn núi cao, vứt bỏ mười lăm khẩu súng máy, mười một khẩu súng cối, bốn ống phóng tên lửa và một trăm linh hai khẩu súng trường.
Một lần khác, đại đội L của trung đoàn này khi vào trận địa có tổng cộng bốn sĩ quan và một trăm linh năm binh sĩ, vài ngày sau, khi đại đội này rút khỏi trận địa, trong hố cá nhân chỉ còn lại mười bảy người, trong khoảng thời gian này, chỉ có một sĩ quan và mười bảy binh sĩ là rời khỏi trận địa do thương vong và nguyên nhân khác, ba sĩ quan và tám mươi tám binh sĩ còn lại không rõ đi về đâu.
Trên con đường xuống núi, đội ngũ mười bảy binh sĩ không ngừng phình to, lúc đến chân núi, đã có một sĩ quan và ba mươi lăm binh sĩ rồi.
Các bộ phận khác của sư đoàn 25 đặt cho trung đoàn 24 một ngoại hiệu, gọi là "đào tẩu".
Dù ở đâu, quân hàm trên tay áo của trung đoàn 24 cũng sẽ rước lấy sự nhạo báng. Binh sĩ Mỹ đã biên soạn cho trung đoàn 24 một khúc tiểu điệu gọi là "vũ điệu đào tẩu", tiểu điệu dùng giai điệu của đồng dao da đen: Súng cối của người Trung Quốc gầm ầm ầm, các ông lớn trung đoàn 24 cẳng chân chạy.
Sự phân biệt chủng tộc nghiêm trọng đã ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần trách nhiệm và tinh thần danh dự của quan binh da đen trung đoàn 24.
Chiến thuật bất thành văn của trung đoàn 24 là: Ban ngày kiên thủ, ban đêm đào tẩu. Trong một trận chiến ngày 29 tháng 7 của chiến dịch thứ nhất, toàn bộ tiểu đoàn 1 trung đoàn 24 chạy sạch không còn tăm hơi trong đêm, vứt toàn bộ pháo binh cho quân đội nhân dân Bắc Triều Tiên. Để ngăn chặn binh sĩ đào tẩu, quân Mỹ đã thiết lập trạm kiểm tra, thiếu tá John Woolrich có quyền giam giữ bất kỳ binh sĩ nào rút lui mà không được phép, kết quả ông ta trung bình mỗi ngày chặn bắt được 75 tên lính đào ngũ, ngày nhiều nhất ông ta bắt được 150 tên lính đào ngũ. Giam giữ cũng vô ích, ngày hôm sau, trung úy Gilbert – một đại đội trưởng của trung đoàn 24 lại dẫn theo hơn chục binh sĩ lâm trận bỏ trốn, sĩ quan kiểm tra ra lệnh cho anh ta lập tức quay về trận địa, anh ta cự tuyệt chấp hành mệnh lệnh. Gilbert sau đó bị phán án tử hình vì tội cự tuyệt chấp hành mệnh lệnh chiến trường. Lời bào chữa của anh ta là: Nếu chấp hành mệnh lệnh thì chẳng khác nào đẩy tôi và 12 binh sĩ khác vào con đường chịu chết. Dưới sự kiến nghị của thẩm phán lục quân, anh ta được đổi án thành 20 năm giam tù.
Tổng thống Truman đã tận tay phê chuẩn bản án quân pháp đối với Gilbert. Một vị tổng thống tận tay phê chuẩn tài liệu kết tội đối với một trung úy, điều này trong lịch sử nước Mỹ xưa nay chưa từng có.
Thời gian văn bản phê chuẩn của Tổng thống Truman là ngày 27 tháng 11 năm 1950.
Đúng vào ngày này, trung đoàn 24 xa xôi ở chiến trường Triều Tiên lại xảy ra một chuyện khiến Truman không biết phải nói thế nào cho phải.
Trung đoàn 347 sư đoàn 116 quân đoàn 39 Trung Quốc, đã bao vây một đại đội của trung đoàn 24 tại một ngôi làng gọi là Thượng Thảo Động. Các sĩ quan Trung Quốc nhìn qua ống nhòm phát hiện, những binh sĩ Mỹ bị bao vây toàn là người da đen. Trải qua chiến dịch thứ nhất, các chiến sĩ Trung Quốc đã biết trong số người Mỹ có một loại người có làn da màu đen, các chiến sĩ Trung Quốc gọi những tên lính Mỹ có màu da kỳ lạ này là "hắc mỹ" – ý chỉ người Mỹ da đen.
Sĩ quan Trung Quốc biết tiếng Anh bắt đầu gọi loa đối thoại với những tên lính Mỹ bị bao vây, bảo bọn họ ra đầu hàng.
Chẳng bao lâu sau, các chiến sĩ Trung Quốc nhìn thấy hai binh sĩ da đen giơ cờ trắng đi ra.
Thế nhưng, khi các chiến sĩ Trung Quốc đứng dậy chuẩn bị tiếp nhận đầu hàng, lính Mỹ đằng sau bất ngờ nổ súng, mấy chiến sĩ Trung Quốc trúng đạn ngã gục tại chỗ.
Các chiến sĩ Trung Quốc phẫn nộ bắt đầu bắn phá dữ dội, trong số lính Mỹ bị bao vây vang lên một trận tiếng kêu thảm thiết.
Quân đội Trung Quốc ngừng bắn súng, lại một lần nữa gọi loa.
Cuối cùng, một sĩ quan da đen đi ra, thứ mà trong tay anh ta giơ cao không phải cờ trắng, mà là một tờ giấy trắng, trên tờ giấy trắng vẽ tư thế một người da đen giơ súng đầu hàng, bên cạnh bức vẽ là số lượng người của đại đội này.
Sĩ quan da đen này chính là Stanley – đại đội trưởng đại đội C trung đoàn 24. Đại đội C có 148 người, toàn bộ đều là người da đen. Stanley đến trước mặt quân đội Trung Quốc giải thích rằng, việc vừa rồi nổ súng vào các chiến sĩ Trung Quốc đang tiếp nhận đầu hàng là do sĩ quan da trắng trong đại đội ép buộc làm thế.
Đại đội C trung đoàn 24 sư đoàn 25 quân Mỹ chính là đại đội Mỹ hoàn chỉnh duy nhất đầu hàng quân đội Trung Quốc trong toàn bộ chiến tranh Triều Tiên.
Không một ai biết phản ứng của Tổng thống Truman và quân đội Mỹ đối với sự kiện này ra sao, cho đến nay tất cả lịch sử chiến tranh của quân Mỹ đều kiêng kỵ sâu sắc đối với sự kiện này.
Ba tháng sau, theo kiến nghị của thiếu tướng Kean – sư đoàn trưởng sư đoàn 25 quân Mỹ, được sự phê chuẩn của đại tướng Marshall – Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, quân Mỹ tuyên bố một kế hoạch cải biên: Giải tán trung đoàn bộ binh da đen 24. Quân Mỹ kể từ thời điểm đó cho đến nay luôn thực hiện chế độ biên chế hỗn hợp người da đen và người da trắng.
Hoàng hôn ngày 26 tháng 11, đại tá George Peplow – đoàn trưởng trung đoàn 38 sư đoàn 2 quân Mỹ đi đến trận địa, trận địa này nằm ở nơi cực hữu của phòng tuyến quân Mỹ, đi tiếp sang bên phải, chính là địa bàn do quân đội Hàn Quốc chịu trách nhiệm. Đại tá Peplow lên tuyến đầu nhìn một cái, cảnh tượng trước mắt khiến ông ta giật mình kinh hãi: Nhìn thế nào ít nhất cũng phải có mấy ngàn tên lính Hàn Quốc ào ạt tràn vào trận địa quân Mỹ như lũ lụt.
Một ý niệm ngay lập tức nảy sinh trong đầu Peplow: Những tên người Hàn này sao lại chạy đến đây? Chẳng lẽ sườn bên phải mà bọn họ chịu trách nhiệm đã xảy ra chuyện gì rồi sao?
Vừa nghĩ đến đây, Peplow tuôn ra một thân mồ hôi lạnh!
Cùng lúc đó, trung tướng Keiser – sư đoàn trưởng sư đoàn 2 khổng lồ của quân Mỹ cũng nhận được điện thoại, điện thoại được gọi đến từ trận địa quân Mỹ ở một hướng khác, trong điện thoại một mảnh tiếng động hỗn tạp: "Một trung đoàn chính quy của quân đội Hàn Quốc đang ồ ạt tràn vào khu vực phòng ngự của chúng ta, chúng ta phải làm sao đây?"
Trung tướng Keiser tức khắc nổi giận lôi đình: "Chỉ huy bọn họ! Sử dụng bọn họ! Đồ khốn!"
Tướng Walker – tư lệnh Tập đoàn quân số 8 quân Mỹ cuối cùng cũng nhận thức được vào lúc trời sáng ngày 27 tháng 11 năm 1950 rằng, do ba sư đoàn quân đội Hàn Quốc sụp đổ hoàn toàn ở hướng cánh phải Liên quân mà họ chịu trách nhiệm, sườn của Liên quân từ đó đã hoàn toàn phơi bày trước đợt đả kích của quân đội Trung Quốc, mà quân Mỹ tác chiến ở phần giữa chiến tuyến lúc này đã không thể chống đỡ nổi nữa rồi. Từ đó, kế hoạch đánh đến bờ sông Áp Lục trước lễ Giáng sinh nhằm kết thúc chiến tranh Triều Tiên của Liên quân đã không còn chút hy vọng nào. Tuyên bố "để những đứa trẻ về nhà trước lễ Giáng sinh" của đại tướng MacArthur – tổng tư lệnh quân Viễn Đông Mỹ sắp sửa trở thành một trò cười trong lịch sử.
Cuộc họp "kỳ lạ nhất" và việc đóng cửa "cánh cửa cống"
Ngày 28 tháng 11, cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc càng thêm dữ dội. Khi chiến sự trên toàn bộ chiến tuyến phía tây đã bước vào giai đoạn nước sôi lửa bỏng, MacArthur đã tổ chức một cuộc họp ở Tokyo được các nhà sử học quân sự thế giới gọi là "cuộc họp kỳ lạ nhất trong chiến tranh Triều Tiên".
Thời gian cuộc họp là 21 giờ 50 phút tối ngày 28 tháng 11 năm 1950.
Lá cờ Mỹ phấp phới tung bay trên dinh thự của MacArthur ở tòa nhà số 1 Tokyo, bên trong dinh thự đèn đuốc sáng trưng. Người Nhật Bản thất trận trong Thế chiến thứ hai dường như đã vứt bỏ cuộc chiến tranh sạch sành sanh, trên những con đường phồn hoa ở Tokyo dòng người tấp nập, nhìn ra ngoài từ khung cửa sổ kính sát đất khổng lồ trong phòng họp của MacArthur, là một cảnh tượng ca múa thái bình. Những người tham dự cuộc họp đã đến đủ, bọn họ là: MacArthur, Hickey, Wright, Willoughby, Whitney cùng với Walker và Almond bị gọi về từ chiến trường một cách vội vã. Đối với điều này, lịch sử chiến tranh của quân Mỹ miêu tả rằng: "Lời nói và việc làm hiện tại của MacArthur lập tức trở nên mâu thuẫn với chính mình, khiến người ta bối rối – những hành vi này cho thấy ông ta vừa bàng hoàng khó hiểu, vừa hoảng loạn rối bời, lại vừa không muốn hiện thực mà ông ta đang đứng giữa tàn phá giấc mơ trong tưởng tượng của mình. Bước đầu tiên trong chuỗi hành động kỳ lạ này là ông ta triệu tập hai vị chỉ huy chiến địa của mình đến Tokyo, tham gia một hội thảo chiến tranh."
Sở dĩ cuộc họp "kỳ lạ", là bởi vì trong lịch sử quân sự thế giới chưa từng có cuộc họp nào như thế này: Tiền tuyến chiến tranh nguy in nhúng nhẩy, các bộ phận tham chiến đã đối mặt với tuyệt cảnh, vào thời điểm chiến tranh cần người chỉ huy đưa ra quyết định và biện pháp nhất, thì các chỉ huy chiến trường lại bị lệnh vứt bỏ các bộ phận ở tiền tuyến, ngồi máy bay đến nơi cách tiền tuyến hàng ngàn km để nghiên cứu vấn đề quân sự.
Vào thời điểm then chốt của chiến dịch thứ hai chiến tranh Triều Tiên, MacArthur vốn vẫn luôn được gọi là "dám xông lên tiền tuyến" lần này lại không ra tiền tuyến mà họp ở hậu phương lớn.
Cuộc họp kéo dài đến tận 1 giờ 30 phút sáng ngày 29.
Vấn đề quân sự được thảo luận trong gần bốn tiếng đồng hồ là: Đối mặt với cuộc tấn công mạnh mẽ của quân đội Trung Quốc, Liên quân phải làm sao đây?
Khi cuộc họp đang diễn ra, những bức điện cầu cứu của chỉ huy tiền tuyến cứ hết bức này đến bức khác được gửi vào, ý nghĩa của các bản báo cáo cơ bản đồng nhất: Không rút lui toàn diện nữa, thì có thể bị tiêu diệt toàn quân.
Tại cuộc họp, Walker và Almond liên tục lặp lại một loại công việc, chính là dùng những từ ngữ hình tượng nhất có thể để miêu tả số lượng khổng lồ và sức chiến đấu kiên cường vô tỷ của quân đội Trung Quốc: "Lần này không phải là cuộc phản công cục bộ, hoàn toàn là một cuộc tấn công quy mô lớn đã được trù mưu từ trước! Quân đội Trung Quốc chỉ huy có phương pháp, kỷ luật nghiêm minh, lúc tấn công hết đợt này đến đợt khác, không dừng lại, không có nhịp điệu, dẫu thương vong vô số, bọn họ vẫn cứ không ngừng xung phong! Xung phong!"
"Quân đội Trung Quốc đều là những đôi chân bay, thường sẽ đột ngột xuất hiện ở nơi mà các anh hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi, hơn nữa thường là cả một sư đoàn chính quy! Binh sĩ Trung Quốc thổi mãi không thôi một loại kèn lệnh đặc chế, hình như còn có còi và những thứ phát ra âm thanh như xào chè nữa, ào ạt tràn lên trận địa của chúng ta như sóng dữ. Bọn họ hoàn toàn không coi sinh mạng ra gì!"
"Bọn họ đặc biệt thích đánh trận ở phía sau trận địa của chúng ta, phát động đột kích vào ban đêm. Thị lực của những người lính Trung Quốc đó cực kỳ tốt, ban đêm không hề ảnh hưởng đến việc tác chiến của bọn họ."
Walker đặc biệt oán trách sự sụp đổ ở cánh phải do quân đội Hàn Quốc phòng thủ đã mang lại mối nguy hiểm khổng lồ cho toàn bộ chiến tuyến: "Chiến tuyến không có sườn là mong manh. Quân đội Trung Quốc giỏi chiến thuật vu hồi, nếu sự thiếu hụt ở cánh phải chặn đánh không có hiệu quả, đường rút lui của Liên quân sẽ bị cắt đứt, đến lúc đó cục diện sẽ không thể tưởng tượng nổi!"
MacArthur lúc bấy giờ quả thực đã rơi vào trạng thái bàng hoàng và sợ hãi tột độ. Sự việc xảy ra quá đỗi đột ngột, vào lúc hành động tổng tấn công của Liên quân toàn tuyến, và lên kế hoạch kết thúc chiến tranh trước lễ Giáng sinh vừa mới bắt đầu, quân đội Trung Quốc lại đột ngột phản công với binh lực khổng lồ mà không hề có bất kỳ dấu hiệu báo trước nào. Tệ hơn nữa là, Liên quân vậy mà lại sụp đổ nhanh đến thế. Là tình báo có vấn đề sao? Ông ta liếc nhìn Willoughby – viên đại thần tình báo này đang nhắm nghiền hai mắt, từ lúc cuộc họp bắt đầu ông ta đã bày ra tư thế thề chết không hò hét lấy một tiếng.
Là Liên quân, cụ thể mà nói là sức chiến đấu của quân Mỹ kém cỏi sao? Thật sự là cuộc sống thoải mái sau Thế chiến thứ hai đã nuôi dưỡng một đám bọn họ thành ra nhát gan sợ chết như chuột sao? Thật sự giống như một số phóng viên nói, quân Mỹ đã biến thành một "quân đội chiếu tatami" rồi sao? Điều càng khiến người ta khó lòng tiếp nhận hơn nữa là, số lượng đại quân Trung Quốc lớn như vậy xuất hiện từ xó xỉnh nào thế? Dưới đợt ném bom quy mô lớn kéo dài hơn hai tuần lễ, bọn họ đã tập kết từ bản thổ Trung Quốc lên đất Triều Tiên bằng cách nào?
Cuộc hành quân của đại quân lớn nhường ấy sao máy bay trinh sát của quân Mỹ lại không hề phát hiện ra? – MacArthur sực nhớ ra: Đây chính là hậu quả của việc đám người Truman không cho phép ném bom triệt để cây cầu sông Áp Lục và trực tiếp ném bom bản thổ Trung Quốc!
MacArthur vì thế sực nhớ đến một phần "tình báo tuyệt mật" mà Willoughby vừa đưa lên bàn làm việc của ông ta, nội dung tình báo nghe nói là một lần trò chuyện của Lâm Biao Trung Quốc với bộ hạ của ông ta: Nếu tôi không biết trước một cách chính xác rằng phía Washington sẽ ngăn chặn đại tướng MacArthur thực hiện các biện pháp trả đũa thỏa đáng đối với tuyến tiếp tế và giao thông của chúng tôi, tôi tuyệt đối sẽ không phát động cuộc tấn công này, mang bộ hạ và danh dự quân sự của tôi ra mạo hiểm.
MacArthur càng thêm khẳng định: Chính Washington đã tiếp thêm can đảm cho người Trung Quốc! Những tên bán nước này!
Kỳ thực, ngay cả các sĩ quan cấp dưới của MacArthur cũng không tin tưởng vào bản "tình báo" này, lý do rất đơn giản, người chỉ huy quân đội Trung Quốc tham gia Chiến tranh Triều Tiên không phải là Lin Biao. Tài liệu này rất có thể là do những tên đặc vụ của Tưởng Giới Sức – những kẻ đã rải khắp chiến trường ngay từ khi chiến tranh bùng nổ – làm ra, việc chúng ném những tài liệu ngụy tạo này cho quân Mỹ là một điều rất dễ dàng, chỉ có Tưởng Giới Thạch mới là kẻ vô cùng mong mỏi Mỹ tiến hành một cuộc ném bom quy mô lớn vào lãnh thổ Trung Quốc.
Đương nhiên MacArthur cũng sẽ không dễ dàng tin tưởng vào thứ "tình báo" như vậy, nhưng điều này không nghi ngờ gì nữa chính là cái cớ tốt nhất có thể tìm thấy cho sự tan rại của Liên quân Liên Hợp Quốc.
Cuộc họp kéo dài bốn tiếng đồng hồ không thảo luận ra bất kỳ phương châm hay biện pháp nào để giải quyết vấn đề, nếu nói cuối cùng đã quyết định được điều gì, thì chỉ có hai chữ: rút lui.
Sau khi cuộc họp kết thúc, MacArthur đã gửi một bức điện về Washington, sử học quân sự Mỹ gọi bản chất của bức điện này là việc MacArthur đang chối bỏ trách nhiệm: Sự phát triển của tình thế do các hành động tấn công của chúng ta dẫn đến nay đã hiện rõ mười mươi. Giờ đây, mọi hy vọng thu hẹp cuộc xung đột Triều Tiên vào các lực lượng địch bao gồm quân đội Bắc Triều Tiên và các yếu tố bên ngoài mang tính biểu tượng, đều nên bị loại bỏ hoàn toàn.
Trung Quốc đã đưa một lực lượng quân sự lớn vào Bắc Triều Tiên, hơn nữa thực lực vẫn đang không ngừng tăng lên. Bất kỳ cái cớ hỗ trợ nhỏ lẻ nào được ngụy trang dưới danh nghĩa tình nguyện hay các lý do thoái thác khác, giờ đây đều không còn một chút hiệu lực mớn nước nào. Chúng ta đang phải đối mặt với một cuộc chiến tranh hoàn toàn mới.
Hiện tại, do sông Áp Lục đóng băng, người Trung Quốc đã mở ra ngày càng nhiều tuyến đường tăng viện và tiếp tế, khiến cho lực lượng không quân của chúng ta không thể thực hiện việc phong tỏa.
Hiển nhiên, quân lực hiện tại của chúng ta không đủ để đối phó với cuộc chiến tranh không tuyên chiến này của người Trung Quốc, thiên thời địa lợi lại càng có lợi cho họ hơn. Tình thế phát sinh từ đó mang lại một cục diện hoàn toàn mới, cục diện này đã mở rộng khả năng xem xét vấn đề từ phạm vi toàn cầu, vượt ra ngoài phạm vi quyền hạn quyết định của tư lệnh chiến khu này. Bộ Tư lệnh này đã làm hết sức mình trong phạm vi chức trách, nhưng tình thế mà nó phải đối mặt hiện nay lại vượt quá khả năng kiểm soát của Bộ Tư lệnh này.
Khi bức điện này đến tay Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Tướng Bradley, Bradley – người đã nắm bắt được sự đảo ngược của cục diện chiến trường Triều Tiên – vẫn cảm thấy kinh ngạc trước giọng điệu hiện tại của MacArthur, bởi vì hầu như ngay ngày hôm qua, MacArthur vẫn nói rằng ông ta "tràn đầy tự tin sẽ nhanh chóng kết thúc chiến tranh", vậy mà chỉ qua một đêm, chiến tranh đã biến thành "một cuộc chiến tranh hoàn toàn mới", "vượt quá khả năng kiểm soát của Bộ Tư lệnh này". Bức điện đã truyền đạt rõ ràng một thông điệp: MacArthur bắt đầu tìm kiếm cái cớ cho sự thất bại của chiến tranh rồi – đằng nào thì tôi cũng đã làm "hết mọi thứ có thể", nếu Hội đồng Tham mưu trưởng không đưa ra được quyết định gì, thì có tai nạn gì xảy ra tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm.
Bức điện của MacArthur đã được gửi đến tay Truman vào lúc 6 giờ sáng ngày 29. Truman lúc này đang chuẩn bị đi dạo buổi sáng hàng ngày trên Đại lộ Pennsylvania theo lệ thường, thế nhưng cuộc điện thoại của Bradley đã tới: "Người Trung Quốc đã đặt cả hai chân vào Triều Tiên!" Bradley nói, "Tập đoàn quân số 8 đã đụng độ một lượng lớn quân Trung Quốc ở phía bắc sông Thanh Xuyên, cánh phải đã sụp đổ, quân Mỹ đang đại bại!"
Bradley đọc lại bức điện của MacArthur trong điện thoại.
Ý nghĩ đầu tiên của Truman là, lão già từng nói "dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, kết thúc chiến tranh trước lễ Giáng sinh" đó đang thoái thác trách nhiệm – nếu tình hình đã đến mức ngay cả lão già ngạo mạn này cũng sốT sắng tìm bậc thang để bước xuống, thì không còn nghi ngờ gì nữa, nó chứng minh cục diện chiến trường Triều Tiên thực sự đang đối mặt với khủng hoảng.
Tiếp theo, MacArthur liên tiếp gửi các bức điện yêu cầu tăng viện binh, trong đó thậm chí có hai lần yêu cầu cho phép ông ta sử dụng quân đội của Tưởng Giới Thạch trong Chiến tranh Triều Tiên. Lý do của MacArthur là: Yêu cầu trước đây của Tưởng Giới Thạch bị từ chối là vì lo ngại sự tấn công của phe cộng sản vào Đài Loan và tạo cái cớ cho phe cộng sản tham gia Chiến tranh Triều Tiên, hiện nay những cân nhắc đó không còn tồn tại nữa, chiến trường Triều Tiên lại đang vô cùng cần binh lực.
Mang theo tâm trạng cực kỳ tồi tệ, Truman ngay lập tức triệu tập cuộc họp mở rộng đặc biệt của Hội đồng An ninh Quốc gia.
Những người tham dự sau khi nghe giới thiệu về cục diện chiến trường Triều Tiên thì ai nấy đều trừng lớn mắt không nói câu nào.
Bộ trưởng Quốc phòng Marshall kiên trì quan điểm của mình: Mỹ với tư cách là một quốc gia độc lập, hoặc với tư cách là một thành viên của Liên Hợp Quốc, đều không nên vướng vào cuộc chiến tranh toàn diện với Trung Quốc cộng sản, nếu không sẽ rơi vào cái bẫy do người Liên Xô giăng sẵn một cách tinh vi. Cho nên Mỹ không nên bước vào lãnh thổ Trung Quốc, cũng không nên sử dụng quân đội của Tưởng Giới Thạch.
Bradley bổ sung nói: "Nếu chúng ta vướng vào một cuộc chiến tranh với Trung Quốc, lực lượng của chúng ta ở châu Âu sẽ không thể tiếp tục mở rộng."
Phó Tổng thống Barkley không thể kìm nén được cơn giận trong lòng, bèn đưa ra một "vấn đề quan hệ công chúng" mà ông cho là cực kỳ nguy hiểm đối với chính phủ này: Những lời của MacArthur về việc "để lũ trẻ về nhà trước lễ Giáng sinh" đã được truyền thông trích dẫn rộng rãi, vậy Tướng MacArthur rốt cuộc có từng nói những lời như vậy không?
Bradley nói: "Hôm qua MacArthur nói với phóng viên rằng, ông ta chính thức phủ nhận từng nói những lời như vậy."
"Đường đường là một chỉ huy chiến khu, quả thực là trò trẻ con!" Barkley đập bàn, "Nực cười nhất thiên hạ!"
Sau khi những người tham dự đồng thuận cho rằng nên giám sát chặt chẽ thái độ của Liên Xô, vấn đề được đem ra thảo luận chuyển thành: Làm thế nào để rời khỏi Triều Tiên một cách thể diện?
Vấn đề gây lúng túng này kể từ đó đã được đặt ra, và quấn lấy chính phủ Mỹ suốt hai năm ròng.
Cuộc họp ở Washington cũng giống như cuộc họp ở Tokyo, hoàn toàn không có bất kỳ kết quả thực chất nào.
Đã mang tiếng là MacArthur đang sắp xếp việc rút lui của quân đội, vậy thì không cần thiết phải hạ đạt thêm bất kỳ chỉ thị mới nào cho ông ta nữa; hơn nữa, cho dù Washington có chỉ thị mới gì đi nữa, Washington thừa biết lão già đó cũng sẽ không thèm nghe.
Các chỉ huy của Tập đoàn quân số 38 Trung Quốc vào ngày 27 đã vô cùng phấn khởi nhìn thấy bức điện do Mao Trạch Đông gửi tới. Trong bức điện chúc mừng thắng lợi tiêu diệt quân đội Nam Triều Tiên theo hướng Đức Xuyên, đồng thời chỉ rõ, nhiệm vụ tiếp theo càng thêm gian khổ, đó chính là lấy mục tiêu tiêu diệt Sư đoàn số 1 của Mỹ.
Trận chiến lấy chủ lực của Sư đoàn số 2, Sư đoàn số 25 làm mục tiêu. Nếu mục tiêu này đạt được, sự phát triển của cục diện chiến trường sẽ thuận lợi.
Sau khi chiến dịch tiến công toàn tuyến chiến dịch lần thứ hai nổ ra, nhận thức của các chỉ huy Tập đoàn quân số 38 Trung Quốc là: Có thể tiêu diệt được một hoặc hai sư đoàn của Mỹ hay không, có quan hệ đến tương lai của toàn bộ cục diện chiến trường Triều Tiên; mà mấu chốt của việc tiêu diệt sư đoàn Mỹ, nằm ở chỗ Tập đoàn quân số 38 có thể luồn sâu đến đúng vị trí hay không.
Bành Đức Hoài ra lệnh cho Tập đoàn quân số 38 lập tức tiến về hướng Tam Sở Lý, phong tỏa hoàn toàn đường rút lui của quân Mỹ.
Các sĩ binh Tập đoàn quân số 38 vừa mới kết thúc trận chiến Đức Xuyên vô cùng mệt mỏi. Khi tạm thời thả lỏng, cơn đói khát và buồn ngủ lặng lẽ ập đến. Các binh sĩ dù là đào công sự hay di chuyển hành quân, đều có thể ngủ gật bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu. Chu Nguyệt Thanh – đoàn trưởng Trung đoàn 338 thuộc Sư đoàn 113 – vừa bưng lên một bát cháo loãng, lúc dùng đũa khuấy khuấy, liền cắm đầu ngủ thiếp đi, cháo loãng văng đầy người.
Đội quân luồn sâu vào mục tiêu quan trọng nhất là Tam Sở Lý chính là Sư đoàn 113, trung đoàn tiên phong của Sư đoàn 113 chính là Trung đoàn 338 do Chu Nguyệt Thanh dẫn dắt.
Sư đoàn trưởng Sư đoàn 113 Giang Triều nói với Chu Nguyệt Thanh trong điện thoại: "Lệnh cho đoàn các đồng chí lập tức xuất phát! Bên cạnh có bản đồ hay không?"
Chu Nguyệt Thanh dựa theo chỉ thị của sư đoàn trưởng, đánh dấu tuyến đường tiến tiến trên bản đồ. Đo đạc trên bản đồ, từ nơi xuất phát đến Tam Sở Lý, khoảng cách đường chim bay là 72.5 km.
Lúc đó, Trung đoàn 338 không có mấy sĩ quan cấp trung đoàn biết rõ việc bắt họ gấp rút chạy đến Tam Sở Lý rốt cuộc là để làm gì. Mệnh lệnh mà Chu Nguyệt Thanh lập tức hạ xuống cho các tiểu đoàn là: Vừa đi vừa ăn cơm, nhiệm vụ vừa đi vừa hạ đạt, không để một chiến sĩ nào bị rớt lại phía sau.
Trong trận Đức Xuyên, vũ khí nhẹ mà Tập đoàn quân số 38 thu được rất nhiều, rất nhiều binh sĩ Trung Quốc đã đổi sang súng tiểu liên Thompson và súng máy kiểu Mỹ.
13 tù binh biết lái ô tô, bao gồm 8 người Nam Triều Tiên và 5 người Mỹ đã được chọn ra, dưới sự áp giải của binh sĩ Trung Quốc, lái 13 chiếc xe ô tô chở đầy đạn dược thu được, đi theo phía sau Sư đoàn 113.
Trong ánh trăng mờ ảo, đội ngũ Sư đoàn 113 bất chấp tất cả lao về phía mục tiêu đã định. Đội ngũ dài dằng dặc băng qua núi rừng sông ngòi, cố gắng giữ sự im lặng tuyệt đối, nhưng vẫn liên tục có người ngã xuống, phát ra âm thanh rất lớn. Những binh sĩ mệt mỏi cực độ vừa đi vừa lảo đảo, lúc ngã vào khe núi thì tỉnh táo lại, sau đó lại bò lên. Chỉ cần đội ngũ vừa dừng lại, cho dù chỉ là một khoảnh khắc, là có người ngủ thiếp đi, tiếng ngáy lập tức hòa vào thành một mảng. Có người sợ mình ngủ quên bị rớt lại phía sau, lúc nghỉ ngơi dứt khoát nằm giữa đường, như vậy cho dù có ngủ thiếp đi, lúc đội ngũ tiếp tục tiến lên cũng sẽ dẫm anh ta tỉnh lại. Pháo binh lại càng gian nan hơn, họ vác các linh kiện pháo và đạn pháo đi theo bộ binh không bước nào rời, tiếng thở dốc lớn đến mức dọa người. Đội tiên phong Trung đoàn 338 do Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 113 Lưu Hải Thanh dẫn dắt, tại An Sơn Động đã tiêu diệt một trung đội quân Nam Triều Tiên, lại tại Sa Đồn đánh tan một đại đội quân Nam Triều Tiên. Sau đó lúc vượt qua núi Trường An cao hơn 1250 mét, để phòng ngừa những binh sĩ mệt mỏi cực độ vì ngủ gật mà ngã xuống vực sâu, tất cả sĩ quan của trung đoàn này đều đi ở phía trước mở đường, các binh sĩ phía sau nắm lấy dây đạn của binh sĩ phía trước, người này kéo người kia di chuyển về phía trước.
Khi cách Tam Sở Lý còn hơn 30 dặm, trời sáng rồi. Mấy chục chiếc máy bay Mỹ bay dọc theo sông Đại Đồng, lượn lờ trên đội ngũ hành quân dài mấy dặm của Sư đoàn 113. Các binh sĩ nghĩ, kể từ khi vào Triều Tiên theo lệ thường ban ngày là không hành quân, chỉ cần nghe thấy lệnh ẩn nấp là mau chóng trốn đi, sau đó có thể ngủ một giấc thật ngon. Kết quả, mệnh lệnh được truyền đạt xuống trong đội ngũ là: "Tiếp tục tiến lên với tốc độ tối đa!"
Mục tiêu luồn sâu của Sư đoàn 114 là đèo Hạ Nhật. Đèo Hạ Nhật là một bình chướng tự nhiên cách Đức Xuyên 20 km về phía tây nam, trong rừng núi cao hiểm trở, có một khe núi hiểm trở rộng chỉ hơn 10 mét, nó là con đường bắt buộc phải đi của lực lượng luồn sâu hướng về phía Quân Ưu Lý. Thế nhưng, theo tình báo đáng tin cậy, để khôi phục cánh phải đã vỡ nát, Tướng Walker đã hạ lệnh cho lực lượng tiên phong của Lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ xuất phát từ Giá Xuyên hướng về đèo Hạ Nhật mà đến. Từ Giá Xuyên đến đèo Hạ Nhật 30 km, ngồi ô tô chưa mất hai tiếng đồng hồ, mà Sư đoàn 114 còn cách đèo Hạ Nhật 18 km nữa, binh sĩ mệt mỏi dựa vào đi bộ đã không kịp chiếm lấy khe núi đèo Hạ Nhật trước kẻ địch rồi.
5000 sĩ binh của Lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ mới đến Triều Tiên cách đó vài ngày. Walker để lực lượng này đi vá chỗ trống khi cánh phải sụp đổ, sự điều động này đã được sử gia quân sự Mỹ hình dung là "dùng chiếc nút bần của một chai thuốc aspirin để bịt cái miệng của một cái thùng bia". Lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ vừa không nhận được tình báo chiến trường đáng ra phải có, cũng không giống như họ tưởng tượng là Walker sẽ phái cố vấn quân sự Mỹ đến tham gia hành động của họ. Lúc này, quân Mỹ ở chiến tuyến phía tây đang rút lui về phía sau, mà họ lại nhận lệnh tiến ra tuyến đầu. Lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ xuất phát vài tiếng đồng hồ sau thì truyền đến tin tức họ "đại thắng", theo lời họ tự kể, họ đã "chiến đấu kịch liệt với quân Trung Quốc kéo đến như ong", họ đã trải qua "chiến đấu đẫm máu" để giữ vững trận địa, hơn nữa còn bắt giữ được "hàng trăm tù binh".
Các sĩ quan Sư đoàn 2 Mỹ nghe xong mừng rỡ khôn xiết, lập tức phái sĩ quan tình báo và phiên dịch đến để thẩm vấn tù binh, sĩ quan hỏi chưa được mấy câu thì đã hiểu ra, người mà phía Thổ Nhĩ Kỳ đánh tan là một đám binh sĩ Sư đoàn 7 Nam Triều Tiên đang trên đà tan rại, những binh sĩ Nam Triều Tiên này trốn từ Đức Xuyên ra, chạy trốn vào trận địa của người Thổ Nhĩ Kỳ, người Thổ Nhĩ Kỳ mới lên chiến trường vừa không hiểu tiếng Triều Tiên lại vừa không hiểu tiếng Anh, những "lính Trung Quốc" bị họ đánh chết trên trận địa toàn là binh sĩ Nam Triều Tiên.
Sư đoàn trưởng Tập đoàn quân số 38 Lương Hưng Sơ và Chính ủy Lưu Tây Nguyên đã cản tới sở chỉ huy Sư đoàn 114 chỉ cách đèo Hạ Nhật có hai km, Phó sư đoàn trưởng Giang Ung Huy đã có mặt ở đây báo cáo với quân trưởng rằng, một đại đội tăng cường của Lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ quả nhiên đã chiếm lấy đỉnh chính đèo Hạ Nhật trước chúng ta.
Khi màn đêm buông xuống, trên đỉnh chính đèo Hạ Nhật thấp thoáng ánh lửa trại.
Giang Ung Huy và Sư đoàn trưởng Sư đoàn 114 Địch Trọng Vũ cùng những người khác sau khi thảo luận, đã quyết định áp dụng kiến nghị của Đoàn trưởng Trung đoàn 342 Tôn Hồng Đạo và Chính ủy Vương Phì Lễ: Đã thế kẻ địch ở ngoài sáng, chúng ta chơi trò tập kích, lặng lẽ tiếp cận, bất ngờ nổ súng, một trận hạ gục.
Đang bàn bạc, từ nơi không xa truyền đến tiếng đàn phong cầm, tiếng đàn vô cùng lơn trong màn đêm tĩnh lặng, khiến tất cả mọi người giật mình.
Người kéo đàn phong cầm là Diêu Ngọc Vinh – tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 342. Anh ta là chiến sĩ cùng đơn vị với Tào Ngọc Hải – tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 mang theo thư tình vào chiến trường Triều Tiên tham chiến. Chiếc đàn phong cầm là chiến lợi phẩm của Diêu Ngọc Vinh, vì thích nên anh ta vẫn luôn gùi theo vật nặng này hành quân. Mặc dù anh ta kéo không thành giai điệu, nhưng các binh sĩ của anh ta đều cảm thấy rất thú vị. Sư đoàn trưởng Địch Trọng Vũ trong bóng tối lao về phía người tiểu đoàn trưởng lãng mạn này, mắng: "Đồ khốn! Làm kinh động kẻ địch tao bắn chết mày!"
Diêu Ngọc Vinh lập tức biết mình đã làm ra chuyện gì, anh ta ném chiếc đàn phong cầm về phía khe núi, chiếc đàn phong cầm trong lúc lăn xuống, phát ra tiếng đàn càng thêm vang dội. Sư đoàn trưởng Địch Trọng Vũ nhìn ánh mắt của các binh sĩ trong đêm tối đang nhìn chằm chằm vào mình, tức đến mức không biết nên nói gì cho phải.
Các sĩ binh Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 342 rất quen thuộc với địa hình nơi đây, bởi vì trong Chiến dịch lần thứ nhất, họ từng phòng thủ ở đây.
Dưới sự dẫn dắt của Đoàn trưởng Trung đoàn 342 Tôn Hồng Đạo và Chính ủy Vương Phì Lễ lần lượt, Đại đội 7 và Đại đội 8 của Tiểu đoàn 2 đã mò lên đỉnh chính đèo Hạ Nhật. Họ vứt bỏ tất cả những thứ có thể phát ra âm thanh trên người, chỉ mang theo súng ống và lựu đạn. Thế nhưng, lúc tiếp cận đỉnh chính, do đôi giày đang đi là giày da lớn thu được của quân Mỹ, dẫm trên tuyết kêu kẽo kẹt, thế nên những sĩ binh Trung Quốc này bèn cởi giày ra, đi chân trần leo lên trên nền tuyết.
Những binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ trên đỉnh chính trong đêm tối lạnh lẽo chỉ lo sưởi ấm, những khúc gỗ đang cháy phát ra âm thanh nổ lách tách. Lửa trại có hơn chục đống, Chính ủy Vương Phì Lễ chia binh sĩ của mình thành nhiều tiểu nhóm, ra lệnh một tiểu nhóm giải quyết kẻ địch cạnh một đống lửa. Ở khoảng cách chỉ cách kẻ địch 20 mét, các binh sĩ Trung Quốc nổ súng. Trong tiếng nổ của lựu đạn, các binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ lập tức chạy tứ tán, 20 phút sau, đỉnh chính đèo Hạ Nhật đã rơi vào tay các binh sĩ Trung Quốc. Binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ trong lúc hoảng loạn trèo lên ô tô, những chiếc ô tô nối thành chuỗi chạy xuống dưới núi. Đường núi quanh co khúc khuỷu, Đoàn trưởng Tôn Hồng Đạo ra lệnh cho Đại đội 8 chặn kẻ địch lại, các binh sĩ đi đường tắt ngắn nhất lao thẳng xuống phía hạ du của đường núi. Địa thế vô cùng dốc, các binh sĩ cứ thế nhảy thẳng xuống vách đá dốc, người bị thương và người không bị thương đều tiếp tục lao về phía trước, chặn đứng kẻ địch đang trốn chạy ở một đầu đường núi. Trong trận chiến, các binh sĩ Trung Quốc phát hiện ra những binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ đơn độc chui vào kẽ đá và gầm ô tô, dù có hô hào thế nào đi nữa, quyết không chịu đầu hàng, cho đến khi bị đánh chết. Kết quả, dưới sự bao vây tiêu diệt của các binh sĩ Trung Quốc, chỉ có một số ít binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ bị bắt làm tù binh.
Các binh sĩ Trung Quốc nhìn thấy những binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ bị bắt làm tù binh cũng giống như một số lính Mỹ mà họ nhìn thấy trong Chiến dịch lần thứ nhất, trên mông ai nấy đều treo một hoặc thậm chí mấy cái bát đồng Triều Tiên, những cái bát này kêu đinh đang tùng xèng khi họ bước đi. Các nhân viên phiên dịch của Trung Quốc giải thích với họ rằng cái bát này không phải bằng vàng, nhưng binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ nhất quyết không tin, dù thế nào cũng không chịu vứt đi.
Lần này, binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ đã đụng phải quân đội Trung Quốc thật sự rồi. "Các sĩ quan ném mũ xuống đất, lấy đó làm ranh giới, không cho binh sĩ lùi lại nửa bước", lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ với 5000 quân ở hướng đèo Hạ Nhật sau khi trận chiến kết thúc chỉ còn lại chưa đầy hai đại đội binh lực.
Đến sáng ngày 28, cục diện chiến trường chiến dịch mặt trận phía tây đã vô cùng rõ ràng. Sư đoàn 2, Sư đoàn 25 thuộc Quân đoàn 9 Mỹ, Lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ, Sư đoàn Kỵ binh 1 Mỹ cũng như Sư đoàn 1 Nam Triều Tiên, đều đã nằm trong vòng vây ba mặt của quân đội Trung Quốc, cho đến lúc này, chỉ còn lại con đường rút lui chạy trốn về phía nam từ An Châu đi Túc Xuyên là chưa bị cắt đứt, mà Tam Sở Lý chính là nơi cổ họng bắt buộc phải đi qua trên con đường rút lui này. Nếu Tam Sở Lý không chặn được, toàn bộ Chiến dịch lần thứ hai ắt sẽ biến thành một trận chiến đánh tan rại không đạt được mục tiêu tiêu diệt kẻ địch.
Trong sở chỉ huy của Bành Đức Hoài tràn ngập bầu không khí lo lắng bất an: Sư đoàn 113 Tập đoàn quân số 38 chịu trách nhiệm luồn sâu đến Tam Sở Lý hiện tại đã đến nơi nào rồi? Bọn họ có thể đến đúng giờ hay không? Tất cả mọi thứ, không có lấy nửa điểm tin tức!
Liên lạc với sở chỉ huy Tập đoàn quân số 38, câu trả lời là: Máy vô tuyến không gọi thông.
Bành Đức Hoài ra lệnh cho đài vô tuyến của chính mình gọi trực tiếp Sư đoàn 113, chủ nhiệm báo vụ tự mình lên trận địa cẩn thận tìm kiếm tín hiệu đài vô tuyến của sư đoàn này, nhưng Sư đoàn 113 dường như đột nhiên biến mất khỏi toàn bộ chiến trường, bặt vô âm tín!
Theo kế hoạch, Sư đoàn 113 đã nên thâm nhập vào hậu phương của địch 80 km, đơn độc tác chiến ở vùng do lực lượng đối địch chiếm đóng có chiều sâu như vậy, tình huống nào cũng có thể xảy ra!
Đôi mắt Bành Đức Hoài đỏ hoe, môi nứt nẻ, giọng nói khàn đặc khô khốc: "Mẹ kiếp! Sư đoàn 113 rốt cuộc đã chạy đi đâu rồi?!"
Ở chính diện của Liên quân Liên Hợp Quốc, Tập đoàn quân số 40, Tập đoàn quân số 39, Tập đoàn quân số 50,
Tập đoàn quân số 66 đang dốc toàn lực ép sát về phía đó. Tập đoàn quân số 50 hướng về phía tây Bác Xuyên đến Thiên Hóa Động,
Đại Hóa Động phát triển; Tập đoàn quân số 66 tấn công kẻ địch cản trở ở khu vực Phượng Vũ Động; Tập đoàn quân số 40 thì dốc toàn lực tấn công hướng về phía Quân Ưu Lý; Tập đoàn quân số 39 tiến về hướng An Châu.
Mà lúc này Tập đoàn quân số 42 lại đang dốc toàn lực luồn sâu, việc này có tầm quan trọng tương đương với sự chặn đánh của Tập đoàn quân số 38: Nó buộc phải tiến kích không chút chậm trễ, chiếm lấy Thuận Xuyên, Túc Xuyên trước kẻ địch, để cắt đứt hoàn toàn đường rút lui của kẻ địch. Nghiêm mà nói, nhiệm vụ mà Tập đoàn quân số 42 thực hiện so ra còn gian khổ hơn nhiều, bởi vì cự ly luồn sâu của họ xa hơn, sự cản trở phải chịu đựng mãnh liệt hơn.
Vì thế, Mao Trạch Đông vào rạng sáng ngày 28 đã ra điện chỉ thị: "... Sư đoàn Kỵ binh 1 Mỹ (hai trung đoàn) đang điều động hướng về giữa Đức Xuyên, Thuận Xuyên, Thành Xuyên, mục đích là củng cố khu vực Thành Xuyên, Thuận Xuyên, ngăn chặn chúng ta tiến về phía nam. Quân đoàn 42 của chúng ta nên độc lập đảm nhận việc tiêu diệt kẻ địch đó..."
Đêm 28, sự bố trí của Tập đoàn quân số 42 là: Sư đoàn 125 tấn công tiến lên theo tuyến Giá Thương Lý, Nguyệt Phố Lý, sau khi đánh chiếm Nguyệt Phố Lý thì chiếm lấy Thuận Xuyên; Sư đoàn 124 theo sát phía sau Sư đoàn 125 tiến lên, chuẩn bị tham gia trận chiến quyết định phương hướng; Sư đoàn 126 thông qua Tùng Ưu Lý. Long Môn Lý đến vùng Tân Hưng Lý phối hợp với chủ lực tác chiến.
Sư đoàn 125 theo sát phía sau đã gặp phải sự cản trở của Sư đoàn Kỵ binh 1 Mỹ đang tiến lên phía bắc ở Tân Xương Lý.
Ở Tân Xương Lý, đã xuất hiện một trung đội trưởng Trung Quốc anh hùng, tên là An Bính Huân. Trong cuộc tấn công vào trận địa quân Mỹ, anh dẫn dắt một trung đội chiến đấu dũng cảm, liên tiếp đánh hạ ba cao điểm, tạo ra chiến tích lấy binh lực một trung đội tiêu diệt một trung đội quân Mỹ, và đánh tan một trung đội quân Mỹ, từ đó vinh dự giành được danh hiệu "Anh hùng chiến đấu". Trong trận chiến, đùi trái của anh bị đạn bắn thủng, máu chảy đầy mặt, nhưng vẫn kiên trì chỉ huy hành động tấn công, vào thời khắc khó khăn nhất, toàn bộ binh sĩ trong trung đội của anh đã giáp lá cà với quân Mỹ.
Trong nhiều lần phản công của quân Mỹ, Trung đoàn 373 Sư đoàn 125 thương vong vô cùng lớn, để bảo toàn thực lực, Trung đoàn 373 đã rút khỏi trận chiến. Đối mặt với sự cản trở ngoan cường của quân Mỹ, lòng tin của các chỉ huy Tập đoàn quân số 42 đã dao động, sau khi thảo luận nhiều lần về vấn đề "đánh hay không đánh", mãi cho đến ngày 30 mới đạt được quyết tâm đánh, quyết định Sư đoàn 124 và Sư đoàn 125 đồng thời tấn công quân Mỹ. Nhưng trước khi tấn công, quyết tâm của hai sư đoàn lại dao động lần nữa, trong điều kiện không nhận được mệnh lệnh của quân đoàn, Sư đoàn 124 và Sư đoàn 125 đã không phát động tấn công, ngược lại còn lần lượt rút lui 10 km. Trong lúc rút lui, pháo binh bị bỏ lại phía sau, kết quả đã bị máy bay quân Mỹ ném bom, tổn thất nặng nề.
Do Tập đoàn quân số 42 không tấn công một cách quả quyết, cuối cùng đã không thể hoàn thành nhiệm vụ luồn sâu mà Bành Đức Hoài đã hạ đạt, khiến cho Trung đoàn 7 Sư đoàn Kỵ binh 1 Mỹ trốn thoát khỏi vòng vây của quân đội Trung Quốc, đường rút lui của kẻ địch ở toàn bộ hướng Túc Xuyên không bị phong tử.
Lực lượng tiên phong của Tập đoàn quân số 42 từng có lúc thâm nhập sâu đến khu vực Á Ba Lý, đây là nơi xa nhất mà quân đội Trung Quốc thâm nhập sâu vào hậu phương địch trong Chiến dịch lần thứ hai. Thế nhưng, tại Á Ba Lý, Tập đoàn quân số 42 vẫn không quả quyết phát động tấn công đối với quân Mỹ. Trung đoàn 370 đã hứng chịu trận ném bom dữ dội của máy bay quân Mỹ, sự bất lợi trong chỉ huy khiến bộ đội tổn thất vô cùng lớn. Đoàn trưởng Trung đoàn 378 Trịnh Hi Hòa đã hy sinh trong sự tập kích của máy bay quân Mỹ ở bờ đông sông Đại Đồng.
Nguyên nhân khiến Tập đoàn quân số 42 bị giáng đòn trong cuộc luồn sâu có rất nhiều. Lúc đó, thể lực của binh sĩ Trung Quốc đã đến cực hạn, việc thiếu sự bảo đảm hậu cần cơ giới hóa khiến cho đạn dược cực kỳ thiếu thốn.
Quân đội Trung Quốc còn thiếu các phương tiện hiệu quả để tấn công chính diện vào trận địa quân Mỹ, trang bị vũ khí hiện đại của quân Mỹ khiến quân đội Trung Quốc một khi chạm trán chính diện ắt sẽ thương vong quá lớn. Cuối cùng, nhiệm vụ mà Tập đoàn quân số 42 gánh vác cũng đã vượt quá giới hạn của nó.
Ngay lúc Tập đoàn quân số 42 bị cản trở trong cuộc luồn sâu, Sư đoàn 113 khiến Bành Đức Hoài lo lắng vô cùng thực ra vẫn luôn ngoan cường tiến về mục tiêu đã định là Tam Sở Lý.
Tam Sở Lý là một ngôi làng nhỏ nằm ở vùng bụng của Tập đoàn quân số 8 Mỹ ở chiến tuyến phía tây. Nó phía nam giáp sông Đại Đồng, phía bắc dựa vào những dãy núi chập chùng, phía tây ngôi làng có một con đường quốc lộ hướng bắc nam khiến Giá Xuyên thông thẳng tới Bình Nhưỡng. Nơi này là con đường bắt buộc phải đi của Liên quân Liên Hợp Quốc ở chiến tuyến phía tây tiến lên phía bắc; đương nhiên, khi tiến lên phía bắc thất bại thì nó sẽ trở thành một "cánh cửa cống" để chủ lực quân Mỹ chạy trốn về phía nam.
Để đến Tam Sở Lý đúng giờ, giữa ban ngày ban mặt, đại quân của Sư đoàn 113 cứ thế hiên ngang tiến lên trên đường quốc lộ. Không phải họ không sợ máy bay quân Mỹ, mà là họ chỉ có thể làm như vậy. Quan điểm của Phó sư đoàn trưởng Lưu Hải Thanh là: Chúng ta nên yêu thương các chiến sĩ, nhưng nếu không kịp thời đến Tam Sở Lý, thương vong của các chiến sĩ sẽ còn lớn hơn nữa, đây chính là phép biện chứng, là quan niệm quần chúng cao nhất trong chiến đấu.
Sư đoàn trưởng Giang Triều đồng tình với quan điểm này.
Điều kỳ lạ là, máy bay quân Mỹ trên trời mặc dù lượn lờ qua lại, nhưng từ đầu đến cuối không hề ném bom. Lúc đầu, máy bay đến đỉnh đầu, bộ đội còn ẩn nấp một chút, sau đó vì việc này làm chậm trễ hành quân nghiêm trọng, các binh sĩ dứt khoát vứt bỏ ngụy trang, cứ thế hiên ngang đi đường. Kết quả, phi công quân Mỹ đã sập bẫy, họ cho rằng đội ngũ này nhất định là quân Nam Triều Tiên rút lui từ phía bắc xuống. Thế nên các phi công quân Mỹ đã sử dụng vô tuyến, yêu cầu lực lượng trị an Nam Triều Tiên ở Tam Sở Lý chuẩn bị sẵn cơm nước cho "đội quân quốc gia rút lui" này. Những phi công Mỹ tràn đầy tình cảm ngoài việc yêu cầu chuẩn bị cơm gạo, nước sôi ra, còn dặn dò phải chuẩn bị thêm một ít cá muối mà người Triều Tiên thích ăn.
Các binh sĩ Trung Quốc nhanh chóng hiểu ra rằng người Mỹ đã sập bẫy, bèn dứt khoát hô to lên, mượn việc này để cổ vũ tinh thần và xua tan cơn buồn ngủ cực độ: "Đi mau! Đi mau! Sắp tới phía trước rồi!"
Các binh sĩ đang hành tiến trong tay mỗi người đều cầm một nắm cỏ, lót đường cho pháo binh ở phía sau tại những nơi sình lầy.
Khi tiểu đoàn tiên phong của Trung đoàn 338 thuộc Sư đoàn 113 đến Tam Sở Lý, chỉ một đợt xung phong là đã tiêu diệt lực lượng trị an Nam Triều Tiên đang bận rộn nấu cơm. Sau đó, họ nhanh chóng chiếm lĩnh tất cả các cao điểm ở hai bên con đường quốc lộ hướng bắc nam ở Tam Sở Lý đó.
Đoàn trưởng Trung đoàn 338 Chu Nguyệt Thanh mang theo sở chỉ huy cũng đã chạy đến, anh ta vừa trèo lên ngọn núi phía đông Tam Sở Lý, thì nghe thấy phía trung đội tiên phong vang lên tiếng súng. Chu Nguyệt Thanh giơ ống nhòm lên nhìn, không khỏi siết chặt toàn thân: Trên con đường quốc lộ ở phía bắc khói bụi mịt mù, đại quân quân Mỹ đông nghịt không thấy điểm cuối đang rút lui xuống!
Chu Nguyệt Thanh lập tức hạ lệnh bộ đội chạy nhanh tới trước.
Bộ đội phía sau vừa nghe nói đã chặn được quân Mỹ, bèn vắt kiệt chút sức lực cuối cùng bắt đầu chạy. Có chiến sĩ ngã gầm xuống đất, vứt bỏ túi lương khô và ba lô, bò dậy lại chạy; có chiến sĩ ngã xuống, chỉ nhìn về phía trước một cái, rồi không bao giờ bò dậy được nữa.
Trung đoàn 338 Sư đoàn 113 Tập đoàn quân số 38, hành quân cưỡng bức 14 tiếng được 72.5 km, đánh chiếm Tam Sở Lý, đóng chết "cánh cửa cống" quân Mỹ chạy trốn về phía nam – họ đến nơi chỉ sớm hơn quân Mỹ đúng 5 phút.
Trên con đường luồn sâu, sư đoàn này đã thực hiện nghiêm ngặt chế độ vô tuyến điện im lặng.
Tại Tam Sở Lý, Chu Nguyệt Thanh lập tức bảo chủ nhiệm báo vụ của sư đoàn là Trương Phủ phát điện về quân đoàn, sư đoàn.
Bức điện là một chuỗi mật mã đã được biên soạn từ trước.
Trong sở chỉ huy của Bành Đức Hoài, người báo vụ vẫn luôn tìm kiếm tín hiệu đài vô tuyến của Sư đoàn 113 bỗng nhiên kêu lên lớn tiếng: "Thông rồi!"
Đài vô tuyến của Sư đoàn 113 từ lúc bật máy, cho đến khi kết nối với đài của sư đoàn, quân đoàn, tổng bộ chí nguyện quân, tổng cộng chỉ mất năm phút, vì việc này, chủ nhiệm báo vụ Trương Phủ đã lập chiến công.
"Bộ đội chúng tôi đã đến Tam Sở Lý trước!"
"Địch mưu đồ thông qua Tam Sở Lý để rút lui!"
"Bộ đội chúng tôi xin chỉ thị nhiệm vụ!"
Bành Đức Hoài mệt mỏi rã rời mừng rỡ đến mức nhất thời không biết nên nói gì cho phải: "Cuối cùng cũng ra rồi, cuối cùng cũng đến rồi!"
Lúc này, sở chỉ huy Tập đoàn quân số 38 điện báo cho Sư đoàn 113 rằng, ở phía tây bắc Tam Sở Lý có một nơi gọi là Long Nguyên Lý, ở đó có một con đường cũng có thể thông tới Thuận Xuyên, đồng thời cũng là con đường rút lui về phía nam của kẻ địch. Quân đoàn ra lệnh Sư đoàn 113 phải lập tức chiếm lấy Long Nguyên Lý. Thế nhưng, trong bức điện do sở chỉ huy Tập đoàn quân số 38 gửi cho Sư đoàn 113, người báo vụ đã đánh nhầm chữ "Nguyên" trong "Long Nguyên Lý" thành chữ "Tuyền", Sư đoàn 113 sau khi nhận được bức điện, tìm trên bản đồ thế nào cũng không thấy "Long Tuyền Lý" nằm ở vị trí nào. Thời gian không đợi người, dù sao phương hướng đại khái cũng đã rõ ràng, thế nên Sư đoàn 113 ra lệnh cho Trung đoàn 337 gấp rút tấn công hướng về nơi đó, rạng sáng ngày 29, Trung đoàn 337 đã chiếm lấy Long "Tuyền" Lý.
Đồng thời, Sư đoàn 113 còn phái ra một tiểu đoàn tiến về hướng An Châu, hoàn thành nhiệm vụ phá hoại đường xá và đánh sụp cầu cống.
Đường rút lui của Liên quân Liên Hợp Quốc chạy trốn về phía nam đã bị phong tỏa hoàn toàn.
Thế nên, Bành Đức Hoài đã hạ đạt một mệnh lệnh nghiêm khắc cho Tập đoàn quân số 38: "Hãy đóng đinh ở đó cho ta giống như một chiếc đinh thép!"
Tập đoàn quân số 38 muôn năm!
Quân đội Trung Quốc chiếm lấy Tam Sở Lý và Long Nguyên Lý, đã làm chấn động toàn bộ chiến tuyến của Liên quân Liên Hợp Quốc. Việc thất thủ bộ phận then chốt ở hậu phương lớn của Liên quân Liên Hợp Quốc khiến cho Sư đoàn số 2, Sư đoàn số 25, Sư đoàn số 24 của Mỹ và Lữ đoàn số 27 của Anh, Sư đoàn số 1 của Nam Triều Tiên cùng tàn bộ Lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ đang vất vưởng ở bờ bắc sông Thanh Xuyên đều rơi vào vòng vây của quân đội Trung Quốc. Lúc này, chỉ huy trưởng tối cao chiến tuyến phía tây của Liên quân Liên Hợp Quốc, Tư lệnh Tập đoàn quân số 8 Mỹ Walker mới thực sự thể nghiệm được, quyết định sử dụng Lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ để bịt khoảng trống cánh phải là một hành động thiếu suy nghĩ biết bao. Mà hiện nay lực lượng duy nhất có thể cơ động trong tay Walker chỉ có Sư đoàn Kỵ binh số 1 Mỹ ở Thuận Xuyên mà thôi. Nhưng do hướng Giá Thương Lý truyền đến báo cáo "phát hiện quân đội Trung Quốc vận động hướng về Thuận Xuyên", Walker liền hoàn toàn rơi vào một tình thế cực kỳ khó khăn: Việc đưa lực lượng dự bị vào lúc này đã không còn ý nghĩa, việc duy nhất có thể làm, chính là để cho các bộ đội đã nằm trong vòng vây mau chóng rút về.
Vào sáng ngày 29 tháng 11, MacArthur đã phát hành một tuyên bố ở Tokyo, nói rằng: "Do quân đội Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến lớn về phía nam, rất khó trông mong Chiến tranh Hàn Quốc sớm kết thúc."
Liên quân Liên Hợp Quốc bắt đầu rút lui quy mô lớn về bờ nam sông Thanh Xuyên.
Mục tiêu rút lui của Liên quân Liên Hợp Quốc là tuyến Thuận Xuyên, Túc Xuyên, Thành Xuyên, nơi đây là phần eo ong hẹp nhất giữa phía đông và phía tây lãnh thổ Triều Tiên.
Nhìn từ bản đồ, Liên quân Liên Hợp Quốc rút lui về phía nam chỉ có bốn con đường có thể đi, đây cũng là bốn con đường mà Liên quân Liên Hợp Quốc tiến lên phía bắc, lần lượt từ tây sang đông là: Đường quốc lộ từ Bác Xuyên đến Túc Xuyên, đường quốc lộ từ Giá Xuyên qua Tân An Châu đến Túc Xuyên, đường quốc lộ từ Giá Xuyên qua Long Nguyên Lý đến Thuận Xuyên, và còn một con đường chính là từ Giá Xuyên qua Tam Sở Lý đến Thuận Xuyên.
Quân đội Mỹ không giống như quân đội Trung Quốc và quân đội Nam Triều Tiên, các bộ đội cơ giới hóa khổng lồ của họ hành động bắt buộc phải dựa vào đường quốc lộ.
Quân đoàn 1 Mỹ ở cực tây nhanh chóng rút lui từ bờ bắc sông Thanh Xuyên đến khu vực Tân An Châu, Quân đoàn 9 Mỹ cũng co cụm về khu vực Giá Xuyên.
Để nhanh chóng thoát khỏi sự ép sát ngày càng mãnh liệt của quân đội Trung Quốc, quân Mỹ đã vứt bỏ một lượng lớn trang bị thiết bị vật chất, dọc theo con đường từ Giá Xuyên qua hướng Tân An Châu mà rút lui đến. Ở Tam Sở Lý, Long Nguyên Lý, dưới sự yểm trợ của máy bay và xe tăng, họ đã phát động các cuộc tấn công mãnh liệt vào trận địa mà quân đội Trung Quốc đã chiếm đóng, mưu đồ nhanh chóng mở thông con đường rút lui về phía nam.
Walker đặt hy vọng duy nhất để rút các bộ đội bị vây hãm ở chiến tuyến phía tây ra vào một giả thiết, đó là: Quân đội Trung Quốc ở Tam Sở Lý, Long Nguyên Lý có lẽ chỉ là một bộ đội luồn sâu vội vã đến đây, binh lực và chiều sâu phòng ngự của họ hẳn đều rất mỏng manh, quân Mỹ có binh lực và hỏa lực chiếm ưu thế mở thông con đường mặc dù có chút phiền phức, nhưng chắc là sẽ không có vấn đề gì.
Vào cái buổi sáng mà MacArthur mơ hồ thừa nhận kế hoạch tiến lên phía bắc của Liên quân Liên Hợp Quốc đã phá sản hoàn toàn, sở chỉ huy Sư đoàn 2 Mỹ chạy xộc vào một tên lính Thổ Nhĩ Kỳ mình đầy máu, hắn thở hồng hộc báo cáo rằng, hắn thuộc đại đội tiếp tế của Lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ, đại đội của bọn họ lúc tiến lên phía bắc dọc theo đường quốc lộ từ Thuận Xuyên đến Giá Xuyên, đã gặp phải một lượng lớn quân đội Trung Quốc ở gần trạm Thanh Long, toàn đại đội đã hứng chịu tập kích bất ngờ, hiện tại đã chẳng còn lại mấy người.
Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 Mỹ Kaiser nhận thức được rằng: Quân đội Trung Quốc cắt đứt đường rút lui có lẽ không phải là một bộ đội nhỏ.
Cuộc kẹp công nam bắc mà Sư đoàn 2 hứng chịu vào ban ngày đã để lại ấn tượng sâu sắc cho Sư đoàn trưởng Kaiser. Các cuộc tấn công liên tiếp không ngừng nghỉ của quân đội Trung Quốc ở chính diện của ông ta khiến sức chiến đấu của Sư đoàn 2 đã giảm đi một nửa, đặc biệt là các tiểu đoàn bộ binh, có tiểu đoàn nhân số giảm xuống còn 200–250 người, mà có đại đội bộ binh thậm chí chỉ còn lại hơn 20 người. Dù là vậy, Kaiser cũng không dám từ bỏ chiến thuật chống trả từng lớp một, bởi vì nếu không làm như vậy, Sư đoàn 2 thực sự sẽ tan rại.
Sau khi nghe báo cáo của tên lính Thổ Nhĩ Kỳ hoảng sợ đó, Kaiser quyết định phái một tiểu đội cảnh sát quân sự đi dò đường ở phía nam trước, nhưng kể từ lúc tiểu đội này xuất phát, Sư đoàn trưởng Kaiser liền không bao giờ nghe thấy tin tức gì về họ nữa.
Lúc 8 giờ, Kaiser đang không biết nên làm thế nào cho phải thì nhận được điện thoại của Tướng Milburn – Tư lệnh Quân đoàn 1 Mỹ: "Tình hình thế nào?"
Kaiser trả lời: "Không tốt, thậm chí sở chỉ huy của tôi cũng bị tập kích!"
Milburn nói: "Thực sự không được thì hãy áp sát về phía tôi đi, đi đường chỗ chúng tôi có lẽ an toàn hơn."
Sư đoàn 2 Mỹ gánh vác nhiệm vụ yểm trợ cánh phải của toàn bộ chiến tuyến, làm sao có thể vứt bỏ toàn tuyến để chạy về phía tây chứ? Hơn nữa, lại sao có thể lúc này nghe theo sự chỉ huy của một người không phải là cấp trên trực tiếp của mình chứ? Sư đoàn trưởng Kaiser quyết định tự mình đến sở chỉ huy quân đoàn một chuyến. Ông ta đi bằng xe Jeep, sở chỉ huy quân đoàn nằm ở vị trí cách phía tây Quân Ưu Lý bốn cây số. Kaiser đến đó, mới phát hiện ra trong sở chỉ huy quân đoàn căn bản không có ai, chỉ có một trưởng phòng tác chiến đang cúi gằm mặt sát bản đồ nhíu chặt mày nhưng không quyết định được bất cứ điều gì. Kaiser nhìn khu vực tác chiến của sư đoàn mình trên bản đồ tác chiến quân đoàn này, và quyết định lấy đó làm chỉ thị, thế nên ngồi xe quay người trở về. Xe Jeep vừa lên đường quốc lộ thì phát hiện ra, trên đường quốc lộ chật cứng các phương tiện trang bị vận tải rút lui xuống, xe Jeep căn bản không thể lưu thông được. Thế nên Kaiser tạm thời đổi sang đi trực thăng. Lúc trực thăng bay dọc theo đường quốc lộ hướng về sở chỉ huy sư đoàn, Kaiser nhìn thấy trên đường quốc lộ bên dưới máy bay có hàng ngàn người tị nạn đang đen nghịt ùn ùn kéo về phía nam. Kaiser dựa theo kinh nghiệm chiến trường của mình cho rằng, phàm là khi xuất hiện người tị nạn, quân đội Trung Quốc chắc chắn là vẫn chưa tới, bởi vì thường thức trong chiến tranh là, sự trốn chạy của người tị nạn luôn diễn ra trước quân đội.
Sự thật sau đó đã chứng minh một cách tàn khốc nhất cho Sư đoàn trưởng Kaiser thấy rằng, dòng người hàng ngàn người mà ông ta nhìn thấy đó, hoàn toàn không phải là người tị nạn gì cả, mà chính là quân đội Trung Quốc đang tiến về phía nam chuẩn bị cắt đứt đường rút lui của ông ta.
Binh sĩ Trung Quốc hành quân đi bộ có phù hiệu quân phục không rõ ràng, trong cuộc chạy đua khó khăn vấp váp lại hoàn toàn không thể lo nổi dung mạo quân ngũ, điều này khiến cho sự trinh sát phán đoán của quân Mỹ sai lầm hết lần này đến lần khác.
Đã cho rằng chủ lực quân đội Trung Quốc vẫn chưa đến, Sư đoàn 2 Mỹ vẫn còn thời gian để rút lui dọc theo đường quốc lộ từ Giá Xuyên đến Thuận Xuyên – trên trực thăng, Sư đoàn trưởng Kaiser đã quyết đoán như vậy.
Sau chiến tranh, quãng đời còn lại mỗi khi nhớ lại màn này Kaiser đều vô cùng hối hận vì sự ngu ngốc của mình.
Lúc quay về sở chỉ huy sư đoàn, Kaiser được biết không chỉ tiểu đội cảnh sát quân sự được phái đi không có tin tức, mà tiểu đoàn xe tăng được phái đi sau đó cũng một đi không trở lại. Lúc này, áp lực ở chính diện Sư đoàn 2 ngày càng lớn, Sư đoàn trưởng Kaiser mang tâm trạng lo âu lại phái ra một đại đội trinh sát để thăm dò con đường rút lui về phía nam, đại đội trinh sát tiến đến gần trạm Thanh Long thì hứng chịu tập kích của quân đội Trung Quốc đột ngột xuất hiện, khi một đại đội tăng cường thuộc Trung đoàn 9 Sư đoàn 2 Mỹ tìm thấy đại đội trinh sát này, toàn bộ sĩ binh còn sống của đại đội trinh sát chỉ còn lại hơn 20 người.
Để mở ra một con đường máu cho quân Mỹ đang rút lui về phía nam, toàn ngày 29 Quân đoàn 9 Mỹ đã phát động tổng tấn công toàn diện nhắm vào quân đội Trung Quốc. Thế nhưng, điều khiến họ bất ngờ là, quân đội Trung Quốc kiên cường một cách kỳ lạ, nó căn bản không phải là một phân đội nhỏ như trong tưởng tượng, mà là một đại đội chủ lực tinh nhuệ.
Đội quân tinh nhuệ này chính là Sư đoàn 113 Tập đoàn quân số 38 Trung Quốc đã luồn sâu thần tốc đến Tam Sở Lý, và "đóng đinh ở đó giống như một chiếc đinh thép".
Đại đội trinh sát mà Sư đoàn trưởng Kaiser phái đi gặp phải ở Long Nguyên Lý chính là Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 337 thuộc Sư đoàn 113.
Khi Trung đoàn 337 lấy Đại đội 3 làm tiên phong chiếm lấy Long Nguyên Lý vào lúc 4 giờ sáng ngày 29, vừa vặn có một đội xe ô tô của quân Mỹ đi qua nơi này, dưới sự dẫn dắt của Đại đội trưởng Trương Hữu Hỉ, Đại đội 3 lập tức phát động tấn công vào quân Mỹ, kết quả chiến đấu là, phá hủy 7 chiếc ô tô, bắt sống 15 tù binh Mỹ. Sau khi thẩm vấn, mới biết họ là bộ đội tiên phong của Trung đoàn 5 Sư đoàn Kỵ binh số 1 Mỹ.
Sau trận chiến, sự tĩnh lặng tạm thời xuất hiện, thế nên các binh sĩ Trung Quốc bắt đầu ăn thực phẩm thu được từ xe ô tô của quân Mỹ. Sau khi trời sáng hẳn, lính canh nói có địch tình, Trương Hữu Hỉ nhìn dọc theo đường quốc lộ về phía bắc, dần dần nhìn rõ, đó là một chiếc xe Jeep và mấy chiếc xe tải lớn hợp thành một đội xe nhỏ. Đợi đội xe đến gần, Đại đội 3 với một đợt xuất kích bất ngờ không tốn chút sức lực nào đã giải quyết xong trận chiến. Điều khiến các binh sĩ Trung Quốc phấn khích là, đội xe của quân Mỹ lần này vận chuyển không còn là "whisky" khó uống nữa, mà là bột mì và bơ!
Các binh sĩ Đại đội 3 chưa vui mừng được bao lâu, một lượng lớn quân Mỹ đã kéo đến.
Cả ngày 29 các cuộc tấn công của Trung đoàn 9 Sư đoàn 2 Mỹ, đều lấy xe tăng làm dẫn đầu, thế nên, cuộc cản trở ngày hôm nay thực chất là cuộc đấu tranh giữa thân xác thịt máu của binh sĩ Trung Quốc với xe tăng thép. Một chiến sĩ thuộc Tiểu đội 3 Đại đội 3 mang tên Từ Hán Dân đã dùng lựu đạn làm nứt đứt xích của một chiếc xe tăng, không lâu sau, phát hiện ra chiếc xe tăng bị xích đứt do chính mình gây ra lại "sống" lại. Hóa ra lái xe tăng của quân Mỹ đã chui xuống gầm xe tăng, vậy mà đã sửa được chiếc xe tăng này. Từ Hán Dân nhìn thấy thì nổi giận lôi đình, đuổi theo nhảy lên chiếc xe tăng đó. Các binh sĩ Trung Quốc khác vừa nhìn thấy cảnh tượng này, liền lớn tiếng hô lớn: "Có chí khí! Làm tốt lắm!" Từ Hán Dân trên xe tăng quân Mỹ không biết nên ra tay từ đâu. Kiến thức đánh xe tăng của binh sĩ Trung Quốc cực kỳ hạn chế. Xe tăng chở theo chiến sĩ Trung Quốc này chạy ra xa hơn 100 mét, những binh sĩ Trung Quốc reo hò lúc này lại bắt đầu lo lắng, hô lớn: "Mau quay về! Mau quay về!" Lúc này, chỉ nhìn thấy Từ Hán Dân đột nhiên lăn xuống từ trên xe tăng, tiếp theo chính là một tiếng nổ lớn, hóa ra Từ Hán Dân đã nhét một chùm lựu đạn vào tháp pháo của xe tăng.
Ngay lúc Sư đoàn 113 cản trở quân Mỹ chạy trốn về phía nam ở Tam Sở Lý, Long Nguyên Lý, Bành Đức Hoài đã hạ lệnh cho toàn bộ quân đội Trung Quốc ở chiến tuyến phía tây ép sát tấn công mãnh liệt vào quân Mỹ.
Trong phạm vi mười mấy cây số vuông lấy Giá Xuyên làm trung tâm, quân đội Trung Quốc chia thành vô số bộ đội, chia cắt quân Mỹ ra, khiến khu vực Giá Xuyên trở thành nơi máu chảy thành sông quy mô lớn trong lịch sử chiến tranh thế giới.
Các sư đoàn của Tập đoàn quân số 39 hung hăng ép sát về phía Quân Ưu Lý, ngoan cường đột phá vào trận địa phòng ngự do quân Mỹ tạm thời cấu trúc. Các binh sĩ quân Mỹ hoảng sợ nhìn thấy một chiến sĩ Trung Quốc bế súng máy đứng thẳng ném bắn về phía họ, chiến sĩ đó vẫn không ngã xuống dù trên người trúng mấy phát đạn; chiến sĩ Trung Quốc này tên là Dương Ngọc Đỉnh, thuộc Trung đoàn 349 Sư đoàn 117. Khi đại đội tiên phong Trung đoàn 350 Sư đoàn 117 đuổi đến một nơi gọi là Tam Phổ Lý, liền chạm trán trực diện với một đội quân Mỹ có xe tăng và máy bay yểm trợ trốn chạy từ Quân Ưu Lý ra. Các binh sĩ Trung Quốc của Trung đoàn 350 hoàn toàn quên mất sự an nguy sinh mệnh của chính mình, trung đội trưởng Nhan Hoài Hữu chạy lên đường quốc lộ, chặn đứng đường rút lui của quân Mỹ. Các binh sĩ Trung Quốc khác cũng đều giống như anh ta, họ đuổi các binh sĩ quân Mỹ vào một cánh đồng lúa nước để tiến hành bao tiêu diệt, kết quả đám quân Mỹ này không một ai thoát khỏi số phận thảm khốc.
Sư đoàn 114 thuộc Tập đoàn quân số 38 sau khi đột phá phòng tuyến của Lữ đoàn Thổ Nhĩ Kỳ, nhận lệnh bất chấp kẻ địch trước mặt nhanh chóng tiến về hướng Tam Sở Lý, áp sát về phía Sư đoàn 113 đang gánh chịu áp lực vô cùng lớn. Sư đoàn 114 đột tiến ngoan cường và chớp nhoáng, cuối cùng đã áp sát Long Nguyên Lý.
Họ chính là hàng ngàn "người tị nạn" mà Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 Mỹ Kaiser nhìn thấy trên trực thăng.
Sư đoàn 112 Tập đoàn quân số 38 đến Phượng Minh Lý lúc 16 giờ ngày 29. Sư đoàn 25 của Mỹ ở đây tử thủ cản trở. Sau trận chiến tàn khốc, hai tiếng đồng hồ sau, Sư đoàn 112 chiếm lấy Phượng Minh Lý.
Sư đoàn 118 Tập đoàn quân số 40 phá vỡ sự ngăn chặn của quân Mỹ, chiếm lấy Quân Ưu Lý, truy kích thẳng đến khu vực Tân An Châu. Lúc rạng đông, sư đoàn trưởng trẻ tuổi Đặng Nhạc cảm thấy rất phiền lòng bởi máy bay quân Mỹ bay lượn trên đỉnh đầu, bởi vì những chiếc máy bay đó liên tục dùng loa phóng thanh phát ra tiếng Anh và tiếng Triều Tiên hô hào điều gì đó dưới mặt đất. Đặng Nhạc hỏi người phiên dịch: "Máy bay đang là hét cái gì không dứt thế?" Người phiên dịch nghe một lúc, nói: "Nó đang thông báo cho quân Mỹ và binh sĩ Nam Triều Tiên, tất cả tập hợp tại Bình Nhưỡng."
Sư đoàn 119 Tập đoàn quân số 40 nhận lệnh thọc thẳng đến Thanh Cốc Lý. Đây là một vị trí trọng yếu trên đường quốc lộ nằm ở phía bắc Long Nguyên Lý. Sư đoàn 119 là bộ đội tấn công chính diện vào quân Mỹ, sự tiến sát của họ về phía Tam Sở Lý và Long Nguyên Lý, chứng minh quân Mỹ đã bị ép thành một cục. Đường quốc lộ bị xe ô tô, xe tăng và đại bác do quân Mỹ vứt bỏ chặn tắc nghẽn, Đại đội 6 xông lên phía trước nhất phát hiện ra ở gần một hầm đường sắt có hơn 300 chiếc xe ô tô và xe tăng quân Mỹ tụ tập ở đó. Các binh sĩ Trung Quốc dùng ống phóng rúng thu được của quân Mỹ bắn trúng một chiếc xe chở dầu, khu vực gần hầm đường sắt lập tức lửa cháy ngút trời, ánh lửa soi rọi màn đêm sáng như ban ngày. Sau trận ném bắn dữ dội, các binh sĩ Trung Quốc xông lên đường quốc lộ, trên đường quốc lộ thây quân Mỹ dày đặc, những binh sĩ quân Mỹ còn sống đó chạy tứ tán. Lúc này, phía trước đường quốc lộ đột nhiên tiếng súng ác liệt, đó chính là phía tây Thanh Cốc Lý, tức là trận địa do Tập đoàn quân số 38 chiếm đóng và cản trở ngoan cường – đỉnh Tùng Cốt, quân Mỹ rút lui về phía nam đến đỉnh Tùng Cốt bị Tập đoàn quân số 38 chặn đánh thì không còn đường để trốn chạy nữa.
Đỉnh Tùng Cốt, một ngọn đồi nhỏ vô cùng bình thường ở phía tây Bắc Triều Tiên, thế nhưng do những gì xảy ra ở đây được một nhà văn Trung Quốc viết thành một bài thông tấn, cho nên rất nhiều rất nhiều người trưởng thành ở Trung Quốc ngày nay vẫn biết đến đỉnh Tùng Cốt, biết rằng ở đó từng xảy ra cuộc chiến đấu một mất một còn giữa binh sĩ Trung Quốc và binh sĩ Mỹ.
Ngày 30 tháng 11 năm 1950, là ngày máu thịt bay tung tóe tại cái nơi gọi là đỉnh Tùng Cốt này.
Mặc dù trong bài thông tấn của nhà văn Trung Quốc, đỉnh Tùng Cốt mọc đầy thông xanh, nhưng thực tế đỉnh Tùng Cốt là một ngọn đồi nhỏ nửa đất nửa đá. Đỉnh Tùng Cốt nằm ở phía đông bắc Long Nguyên Lý, hình thành thế chân vạc với Tam Sở Lý, Long Nguyên Lý. Phía bắc của nó thông với Quân Ưu Lý, phía tây bắc có thể đến Giá Xuyên. Đỉnh chính của nó có độ cao 288.7 mét, từ đỉnh núi kéo dài về phía đông khoảng hơn 100 mét chính là đường quốc lộ.
Bộ đội Trung Quốc kiên thủ đỉnh Tùng Cốt là Trung đoàn 335 Sư đoàn 112 Tập đoàn quân số 38, đoàn trưởng là Phạm Thiên Ân – người vừa đánh xong trận chiến cản trở Phi Hổ Sơn.
Trung đoàn 335 của Phạm Thiên Ân được định sẵn là sẽ liên tục đánh những trận ác chiến trên chiến trường Triều Tiên.
Khi Chiến dịch lần thứ hai bắt đầu, Trung đoàn 335 vẫn đang thực hiện nhiệm vụ "dụ địch đi sâu". Các sĩ binh của trung đoàn này dưới sự dẫn dắt của Phạm Thiên Ân, đã tiến hành cản trở ngoan cường đối với Liên quân Liên Hợp Quốc tiến lên phía bắc ở Phi Hổ Sơn, sau đó họ vừa đánh vừa rút lui, lúc chủ lực quân đoàn đã bắt đầu tấn công Đức Xuyên, Trung đoàn 335 vẫn đang cản trở một bộ đội quân Mỹ tiến lên phía bắc ở trạm Hoa Bình cách Đức Xuyên hơn 100 km. Đêm hôm đó, Phạm Thiên Ân nhận được mệnh lệnh mới, mệnh lệnh chỉ có một câu: Phát động tấn công vào kẻ địch trước mặt. Lúc này, đài vô tuyến liên lạc với sư đoàn đã hỏng, Phạm Thiên Ân lập tức tìm tuyến đường tiến tiến trên bản đồ, quyết định đánh thẳng vào cái nơi gọi là Tân Hưng Lý đó. Lúc này, một tham mưu của Tập đoàn quân số 40 tìm đến anh, nói là đến tiếp quản trận địa của Trung đoàn 335, từ miệng của các chỉ huy Tập đoàn quân số 40, Phạm Thiên Ân mới biết Tập đoàn quân số 38 đánh Đức Xuyên trong Chiến dịch lần thứ hai. Phạm Thiên Ân cảm thấy đi theo Tập đoàn quân số 40, chắc chắn sẽ không có trận đánh thực sự nào cả, chi bằng đuổi theo chủ lực quân đoàn của mình thì hơn. Sau khi quyết định, toàn đoàn Trung đoàn 335 tiến hành trang bị nhẹ, ngoài những thứ cần thiết cho chiến đấu ra, các trang bị khác đều giấu trong một khe núi nhỏ, phái một tiểu đội canh gác. Phạm Thiên Ân tính toán một ngày đi 60 km hai ngày là có thể đuổi kịp chủ lực.
Trung đoàn 335 không có hướng dẫn viên, hoàn toàn dựa vào một tấm bản đồ và một chiếc la bàn, họ bắt đầu cuộc hành quân gian khổ vượt núi băng đèo trong giá rét băng giá. Mục tiêu chỉ có một: Đuổi kịp chủ lực, tranh thủ theo kịp chỉ đánh. Đi hai đêm, đến một ngôi làng nhỏ cách Đức Xuyên còn mười mấy km, toàn thể sĩ binh trong đoàn bao gồm cả Phạm Thiên Ân thực sự không thể đi nổi nữa, Phạm Thiên Ân ra lệnh cho một tham mưu dẫn người đi trinh sát phương vị của bộ đội chủ lực, đồng thời cho bộ đội nghỉ ngơi trong làng một lát. Các nhân viên cảnh vệ lúc tìm kiếm nơi có thể phòng không, bất ngờ bắt được hơn chục tên lính Nam Triều Tiên trong một hầm rau, hỏi ra mới biết, trận chiến ở Đức Xuyên đã kết thúc rồi. Chẳng bao lâu sau, tham mưu ra ngoài trinh sát đã quay về, nói chủ lực đã tiến về phía đèo Hạ Nhật rồi. Phạm Thiên Ân lập tức ra lệnh cho bộ đội tiếp tục đuổi theo. Ở gần đèo Hạ Nhật, Trung đoàn 335 cuối cùng đã đuổi kịp chủ lực quân đoàn vừa mới đánh hạ đèo Tinh Nhật, Phạm Thiên Ân nhân tiện còn kiếm được một chiếc đài vô tuyến từ chiếc xe ô tô của quân Mỹ nằm trên đường quốc lộ. Lúc này, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 112 Dương Đại Dịch vừa nhận được chỉ thị của quân đoàn, bảo họ lập tức chiếm lấy đỉnh Tùng Cốt. Sư đoàn trưởng đang đau đầu vì trong tay không còn bộ đội nào có thể điều động nữa, nhìn thấy Trung đoàn 335 đến, Dương Đại Dịch mừng rỡ đến mức kêu lên: "Đúng là thiên binh thiên tướng!"
Mệnh lệnh mà Dương Đại Dịch giao cho Phạm Thiên Ân là: Thọc thẳng đến đỉnh Tùng Cốt, chặn đứng quân Mỹ đang chạy trốn về phía nam ở đó.
Phạm Thiên Ân mang theo những binh sĩ mệt mỏi cực độ của mình, lập tức chạy gấp về phía đỉnh Tùng Cốt.
Trong màn đêm tối đen như mực, Trung đoàn 335 phá vỡ sự phong tỏa pháo hỏa của quân Mỹ, triển khai bộ đội quanh khu vực trạm Thư Đường. Phạm Thiên Ân ra lệnh cho Tiểu đoàn 1 chiếm lấy đỉnh Tùng Cốt.
Đại đội tiên phong của Tiểu đoàn 1 là Đại đội 3. Đại đội 3 leo lên đỉnh Tùng Cốt vào lúc trời sáng, còn chưa kịp cấu trúc công sự, một lượng lớn quân Mỹ đã kéo đến dọc theo đường quốc lộ.
Đội quân ùn ùn rút lui về phía nam chính là Sư đoàn 2 Mỹ.
Đối mặt với quân Mỹ dài dằng dặc không thấy điểm cuối trên đường quốc lộ, các binh sĩ Đại đội 3 sau mấy ngày hành quân lập tức vứt bỏ cơn đói khát và mệt mỏi ra sau đầu.
Tuyến đầu của Đại đội 3 là Tiểu đội 8. Khi quân Mỹ cách trận địa Tiểu đội 8 chỉ còn 20 mét, xạ thủ trung liên của Tiểu đội 8 là Dương Văn Minh nổ súng trước tiên, lập tức bắn cháy chiếc xe ô tô đầu tiên. Tiếng súng vừa vang lên, Trung đội trưởng Vương Kiến Hậu dẫn theo năm binh sĩ xông thẳng lên mặt đường, xạ thủ súng chống tăng áp sát bắn vào xe tăng, đồng thời lựu đạn bay xối xả về phía xe ô tô. Lúc này, tổ bộc phá của Tiểu đội 5 cũng đã bắn cháy chiếc xe tăng thứ hai, xe ô tô và xe tăng đã chặn nghẽn quốc lộ, những binh sĩ Mỹ trên xe quay đầu chạy ngược lại.
Chỉ một lát sau, quân Mỹ tổ chức tấn công lên đỉnh Tùng Cốt Phong. Nếu muốn sống sót, bọn chúng buộc phải mở tung con đường qua Tùng Cốt Phong.
Một trong những trận chiến khốc liệt nhất trong Chiến tranh Triều Tiên cứ thế bắt đầu.
Sau khi trận chiến nổ ra, Phạm Thiên Ân lo lắng công sự trên trận địa chưa kịp đào, thương vong của binh sĩ sẽ rất lớn, liền mở bộ đàm gọi cho Tiểu đoàn 1. Kết quả là trong bộ đàm toàn phát ra tiếng Anh, các chỉ huy quân Mỹ ở đầu dây bên kia đang cãi nhau hỗn loạn. Phạm Đại Tư đành ra lệnh cho Tiểu đoàn 2 dùng hỏa lực súng máy yểm trợ hướng Tiểu đoàn 1 và Đại đội 3, nhằm giảm bớt áp lực ở tuyến đầu.
Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 là Vương Túc Khải càng thêm bồn chồn lo lắng không yên, không biết Đại đội 3 có trụ vững được trước kẻ địch trên cái gò núi sát quốc lộ và hoàn toàn không có chỗ dựa này hay không. Ông ra lệnh cho Đại đội 1 ở bên trái và Đại đội 2 ở bên phải trận địa Đại đội 3 đều phải lắp sẵn lê.
Cuộc xung phong thứ ba của quân Mỹ bắt đầu.
Lúc này là ban ngày.
Máy bay quân Mỹ điên cuồng sà sát đỉnh đầu những người lính Trung Quốc, ném xuống một lượng lớn bom và bom cháy. Pháo binh quân Mỹ cũng phát cuồng, pháo thủ nào cũng biết rằng nếu không phá vây thoát ra thì sẽ tiêu đời, vì vậy đạn pháo rót xuống trận địa quân đội Trung Quốc dày đặc như mưa. Trên trận địa tuyến đầu của Đại đội 3, mảnh đạn bay ngang trời, lửa cháy ngùn ngụt.
Binh sĩ Mỹ xông lên.
Tiểu đoàn trưởng Vương Túc Khải lập tức ra lệnh cho Đại đội 1 ở bên trái giương lê xuất kích từ bên sườn. Sau màn cận chiến giáp lá cà, binh sĩ Mỹ bị lưỡi lê đẩy lùi, thế là chúng đổi sang tấn công từ sườn phải của Đại đội 3, nhưng Đại đội 2 ở sườn phải cũng giương lê lao vút lên.
Cứ như vậy, Đại đội 3 chặn đánh ở chính diện, Đại đội 1 và Đại đội 2 yểm trợ ở hai bên sườn. Trong những hiệp đấu lê đâm gươm chém, thương vong của Đại đội 1 và Đại đội 2 vô cùng lớn.
Binh lực tấn công hướng tuyến đầu Tùng Cốt Phong của quân Mỹ vẫn đang tăng lên gấp bội.
Sư đoàn trưởng Dương Đại Dịch lo lắng dõi theo hướng của Đại đội 3. Ông đứng trên ngọn đồi ở sở chỉ huy sư đoàn, nhìn thấy từ Dược Thuỷ Động đến Long Nguyên Lý, trên quốc lộ toàn là xe ô tô và xe tăng của quân Mỹ, nhiều đến mức hoàn toàn không thấy điểm cuối.
Cuộc xung phong thứ tư của quân Mỹ bắt đầu vào lúc ngọn lửa trên trận địa bùng cháy dữ dội nhất. Binh sĩ Mỹ đã xông lên trận địa của Tiểu đội 4, các chiến sĩ Tiểu đội 4 thét lên: "Súng máy! Bắn mau!" Súng máy vì nòng đã bị bắn cong nên không thể khai xỏa được nữa. Xạ thủ súng máy Lý Ngọc Dân nhặt khẩu súng trường từ thi thể đồng chí của mình rồi lao về phía lính Mỹ. Đùi anh bị đạn xuyên thủng một lỗ, anh dùng một viên đạn nhét vào vết thương để cầm máu, rồi lao vào giáp lá cà với kẻ địch. Các chiến sĩ Tiểu đội 4 xông tới, lính Mỹ vứt bỏ anh rồi quay đầu chạy. Trung đội trưởng Trung đội 3 bị mù hai mắt bò tới, định cõng Lý Ngọc Dân đi, Lý Ngọc Dân nói: "Cậu mau đi chỉ huy đi, địch sắp pháo kích rồi!"
Lúc này, điện thoại của Quân trưởng Quân 38 Lương Hưng Sơ gọi đến, Quân trưởng nổi giận mắng Phạm Vô Ân trong điện thoại, lý do là báo cáo trinh sát cho biết, tại khu vực phòng thủ của Trung đoàn 335, có bốn chiếc xe pháo của quân Mỹ đã chạy qua quốc lộ trốn về phía nam.
"Đuổi theo bắt về cho tôi! Nhớ kỹ, không cho phép một tên lính Mỹ nào chạy thoát về phía nam!"
Phạm Vô Ân lập tức phái hai đại đội của Tiểu đoàn 3 đi truy đuổi. Để tiêu diệt bốn chiếc xe pháo mà phải rút ra hai đại đội bộ binh từ trong lực lượng vốn đã vô cùng căng thẳng, đủ để thấy quyết tâm tiêu diệt gọn gàng không để sót một tên quân Mỹ nào của quân đội Trung Quốc. Hai đại đội bộ binh của Phạm Đại Ân vượt núi băng ngàn đi đường tắt, truy đuổi ròng rã suốt một ngày, cuối cùng cũng đuổi kịp và tiêu diệt được bốn chiếc xe pháo của quân Mỹ.
Vào buổi trưa, Đại đội 3 kiên thủ Tùng Cốt Phong chỉ còn lại chưa đầy một nửa số người.
Đại đội trưởng Đới Như Nghĩa và Chính trị viên Dương Thiếu Thành sau khi thiêu hủy toàn bộ tài liệu và sổ tay của mình, cùng với những binh sĩ còn có thể chiến đấu ôn lại đủ loại danh hiệu mà đại đội này từng giành được trong lịch sử chiến tranh của mình: Đại đội Mô phạm Chiến đấu, Đại đội Ba tốt, Đại đội Anh hùng Vượt sông Trường Giang... Cuối cùng, quyết tâm của họ là: Nơi nào nguy hiểm nhất, hai người chúng ta sẽ có mặt ở nơi đó.
Đúng vào lúc trận chiến ngăn chặn tại các trận địa Tùng Cốt Phong, Long Nguyên Lý, Tam Sở Lý bước vào giai đoạn ác liệt nhất, điện thoại của Bành Đức Hoài đã gọi đến sở chỉ huy Sư đoàn 113, ông hỏi Chính ủy sư đoàn Vu Kính Sơn: "Địch đã rút xuống hết, cùng lúc ùn ùn kéo về hướng các cậu, rốt cuộc các cậu có chặn nổi hay không?"
Vu Kính Sơn trả lời: "Chúng tôi chặn nổi!"
Lực lượng làm nhiệm vụ ngăn chặn ở Long Nguyên Lý là một Đại đội 3 khác, thuộc Trung đoàn 337, Sư đoàn 113, Quân 38. Lực lượng tấn công chính diện vào đại đội này ngoài lực lượng của Sư đoàn 2 Mỹ ra, còn có Sư đoàn 25 Mỹ và Lữ đoàn 27 Anh. Những người lính Trung Quốc thuộc Đại đội 3 dựa vào địa hình nham thạch kiên cố trên trận địa, ăn những chiếc bánh rán làm từ bơ và bột mì thu được của địch, thề chết không lùi một bước. Để thông tuyến đường này, vào thời điểm chiến đấu khốc liệt nhất, quân Mỹ đã huy động tới hàng trăm máy bay, toàn bộ trận địa Long Nguyên Lý lở đất rung cây, pháo tăng, pháo lựu, pháo cối và bom không quân đã “cày xới” lại những mỏm đá cứng trên trận địa nhiều lần. Những binh sĩ Mỹ vốn vô cùng cuồng tín vào hỏa lực của bản thân đã sinh ra một thứ “tâm lý tôn giáo” đầy kinh sợ trước khả năng có thể sống sót sau những đợt oanh tạc như vậy của người Trung Quốc. Khi nghe tin địch đến viện trợ ở phía bắc đã chiếm được trận địa tuyến đầu của Trung đội 1, Đại đội trưởng Đại đội 3 Trương Hữu Hỉ dẫn theo mười binh sĩ lập tức phát động tấn công kẻ địch, dùng lưỡi lê đẩy lùi bọn chúng. Quân Mỹ thất bại nhiều lần thậm chí đã nghĩ ra cách này: Giả vờ đầu hàng. Một nhóm quân Mỹ ngồi trên ô tô giơ cờ trắng, ra hiệu đầu hàng. Thế là binh sĩ Trung Quốc cử người xuống tiếp nhận đầu hàng, kết quả là khi binh sĩ Trung Quốc đến gần, lính Mỹ trên xe đột nhiên nổ súng, sau đó ô tô rồ ga chạy trốn thục mạng. Lính Mỹ không hề biết rằng, hành động này của chúng lại càng khiến binh sĩ Trung Quốc củng cố thêm niềm tin đồng tâm hiệp lực, một khi ngọn lửa nhiệt huyết trong tính cách của người Trung Quốc bị khơi dậy, họ sẽ càng trở nên hung mãnh và kiên cường hơn nữa.
Trận địa của Đại đội 3 vẫn luôn nằm trong vòng kẹp công nam bắc của quân Mỹ, quân Mỹ chạy trốn về phía nam và quân Mỹ từ phía bắc lên tăng viện có lúc suýt chút nữa đã “hội sư”. Sau chiến tranh, sĩ quan Sư đoàn 2 Mỹ hồi tưởng lại: “Chúng tôi thậm chí còn nhìn thấy những ngôi sao màu trắng trên những chiếc xe tăng của quân Thổ Nhĩ Kỳ đến viện trợ.” Thế nhưng, trong tình cảnh Đại đội 3 chiến đấu đến mức quan binh toàn đại đội chỉ còn lại lác đác vài người, đạn dược đã cạn kiệt, quân Mỹ ở cả hai đầu nam bắc rốt cuộc vẫn không thể hội quân với nhau.
“Cửa cống” ở Long Nguyên Lý vẫn đóng chặt.
13 giờ chiều, quân Mỹ tấn công trận địa Tùng Cốt Phong bắt đầu đợt xung phong thứ năm.
Do vòng vây của quân đội Trung Quốc siết ngày càng chặt, vận mệnh của quân Mỹ đã bước vào thời khắc cuối cùng. Số quân Mỹ tham gia xung phong lên Tùng Cốt Phong tăng lên tới hàng ngàn người, quân Mỹ huy động máy bay, xe tăng và pháo binh, tiến hành oanh tạc mãnh liệt suốt 40 phút đồng hồ vào ngỏm gò núi nhỏ bên quốc lộ này. Các chiến sĩ Đại đội 3 nấp trong các hố đạn trên trận địa hoàn toàn không có công sự che chở, rồi đột ngột xông ra nã đạn vào quân Mỹ đang leo lên.
Theo từng đợt xung phong của quân Mỹ bị đánh lui, binh lực quân Mỹ tung vào xung phong ngày càng nhiều, trong khi những người có thể chiến đấu thuộc Đại đội 3 trên trận địa Tùng Cốt Phong lại ngày càng ít đi. Trung đội trưởng hy sinh, tiểu đội trưởng chủ động thay thế; tiểu đội trưởng hy sinh, chiến sĩ chủ động tiếp quản; anh nuôi và liên lạc viên cũng tham gia chiến đấu. Đạn của Chính trị viên Dương Thiếu Thành đã cạn sạch, anh giương lê xông về phía kẻ địch. Khi bị số đông lính Mỹ gấp nhiều lần vây kín ở giữa, anh giật chốt quả lựu đạn cuối cùng còn lại trên người, thét lên một tiếng: “Các đồng chí, kiên quyết giữ vững trận địa!” rồi ôm chặt lấy kẻ địch trong khoảnh khắc quả lựu đạn phát nổ. Những người lính Trung Quốc nhìn thấy chính trị viên của mình hy sinh như vậy, họ nén giọt lệ gò thét: “Xung phong! Đánh bọn chúng đi!” Các chiến sĩ lao về phía biển người quân Mỹ đang tràn lên trận địa.
Đây là thời khắc cuối cùng của Đại đội 3, cũng là thời khắc khắc sâu vào ký ức của những người Mỹ tận mắt chứng kiến trận chiến Tùng Cốt Phong. Những người lính Trung Quốc không còn đạn, bên hông giắt lựu đạn, tay giương những lưỡi lê sáng loáng không chút sợ hãi lao thẳng về phía trước. Lưỡi lê gãy đứt, họ ôm lấy kẻ địch vật lộn, dùng quyền cước, dùng răng cắn, cho đến khi họ cho rằng nên kết thúc thì họ giật chốt lựu đạn trên người. Đảng viên Trương Học Vinh bò lên tấn công kẻ địch, anh đã bị thương nặng, không còn sức để giương lưỡi lê nữa, anh bò vào giữa đám lính Mỹ rồi giật phăng bốn quả lựu đạn nhặt được từ thi thể người đồng chí hy sinh. Một chiến sĩ người Trung Quốc tên là Hình Ngọc Đường bị bom na-pan của quân Mỹ bắn trúng, toàn thân bốc cháy ngùn ngụt, anh mang theo ngọn lửa đang kêu phần phật lao về phía quân Mỹ, giữa một biển lửa quân Mỹ chỉ có thể nhìn thấy lưỡi lê đầu nhọn dính đầy máu tươi đó. Binh sĩ Mỹ vì quá sợ hãi mà trở nên cứng đờ trước “người lửa” này, Hình Ngọc Đường liên tiếp đâm gục mấy tên địch, vào thời khắc cuối cùng của cuộc đời, anh ôm chặt lấy một tên lính Mỹ, cắn vào tai tên lính Mỹ ấy, đôi tay như chiếc kìm sắt siết chặt lấy thể xác kẻ địch, cho đến khi cả hai hóa thành than cháy đen.
Đợt xung phong thứ năm của quân Mỹ cuối cùng đã thất bại. Trên trận địa Đại đội 3 ở Tùng Cốt Phong chỉ còn lại bảy người lính Trung Quốc sống sót.
Trận địa Tùng Cốt Phong vẫn nằm trong tay những người lính Trung Quốc.
Khi trận chiến Tùng Cốt Phong kết thúc, một nhà văn từ Trung Quốc sang Triều Tiên tên là Ngụy Vi cùng với Sư đoàn trưởng Sư đoàn 112 Dương Đại Dịch đã bước lên trận địa của Đại đội 3. Trên trận địa, giữa hàng trăm thi thể binh sĩ Mỹ và đống súng ống bị đánh gãy văng tung tóe, họ nhìn thấy những người lính Trung Quốc hy sinh vẫn duy trì tư thế sục sôi khí huyết trước lúc chết. Lực lượng quả lựu đạn trong tay họ dính đầy óc của lính Mỹ, miệng vẫn ngậm một nửa cái tai của lính Mỹ. Thi thể của người chiến sĩ tên là Hình Ngọc Đường vẫn bốc khói âm ỉ, những ngón tay của anh đã cắm sâu vào da thịt tên lính Mỹ dưới thân mình. Nhà văn Ngụy Vi đã viết trận chiến Tùng Cốt Phong thành bài tường thuật nổi tiếng mang tên: 《Ai là người đáng yêu nhất》.
Đúng vào buổi hoàng hôn ngày hôm đó, Trung đoàn 335 của Phạm Đại Ân chuyển từ phòng ngự sang phản công, toàn trung đoàn xuất kích.
Đồng thời, quân đội Trung Quốc bao vây tiêu diệt quân Mỹ ở khắp các hướng cũng đã bắt đầu đợt tấn công cuối cùng.
Dưới ánh hoàng hôn rực đỏ, giữa khu vực Cửu Mưu Lý, Phượng Minh Lý, Long Nguyên Lý, quân Mỹ bị vây hãm bị chia cắt thành từng nhúm nhỏ, hứng chịu các đợt truy sát của binh sĩ Trung Quốc từ bốn phía áp lên. Máy bay quân Mỹ có ý định giải cứu lính Mỹ bay rất thấp, lính Mỹ bốn bề trốn chạy giơ những chiếc khăn tay trắng về phía bầu trời, nhưng binh sĩ Trung Quốc cũng bắt chước bọn chúng giơ khăn tay trắng lên, thế là phi công Mỹ chỉ có thể chìm đắm trong một trạng thái hoảng loạn không biết phải làm sao, liên tục báo cáo đại bản doanh một câu: “Tiêu rồi, bọn chúng tiêu rồi màn màn.”
Màn đêm buông xuống.
Đêm tối trên chiến trường Triều Tiên chính là cỗ quan tài được chuẩn bị sẵn cho quân Mỹ.
Phó quân trưởng Quân 38 Giang Ung Huy leo lên điểm cao nhất của sở chỉ huy, ông nhìn thấy một cảnh tượng khiến bất kỳ vị chỉ huy dạn dày sương gió nào cũng phải kinh tâm động phách: Tôi đứng ở nơi cao, phóng tầm mắt nhìn về phía nam, chiến trường được soi sáng bởi vầng trăng lạnh và những vì sao buốt giá, từng đợt sấm sét xé toạc bầu trời, tiếng “ầm ầm, ầm ầm” liên hồi không dứt. Trên chiến tuyến dài tới mấy chục cây số, từng chuỗi đạn vạch đường, đạn sáng, đạn tín hiệu đan xen bay lượn trên không trung, tiếng rít sắc lanh của đạn pháo, tiếng nổ đục ngầu phát ra từ lựu đạn, ống bộc phá, thủ dược bao vang vọng mãi trong các hẻm núi. Trận chiến kịch liệt đan xen như răng lược giữa ta và địch dọc theo tuyến quốc lộ, đó là khung cảnh hùng vĩ, hoành tráng chưa từng thấy trong mấy chục năm tòng quân của tôi. Đại pháo, xe tăng, xe bọc thép và đủ loại xe lớn nhỏ bị quân địch vứt bỏ kéo dài vô tận, nhìn không thấy điểm cuối, đâu đâu cũng là tài liệu, giấy tờ, ảnh chụp, đạn pháo, cờ quân Mỹ, “bát quái kỳ” của quân ngụy và các vật tư quân sự khác vương vãi khắp nơi…
Đêm hôm ấy cũng là một đêm căng thẳng nhất của Bộ Tư lệnh Chí nguyện quân. Bành Đức Hoài khoác áo đại cán, suốt đêm không ngừng phác thảo điện văn, vốn không hút thuốc nhưng ông bắt đầu chìa tay xin thuốc nhân viên tham mưu. Ông đã liên tục sáu ngày đêm không chợp mắt, nét mặt hốc hác, mắt thâm quầng, môi nứt nẻ, nhưng khi tin chiến thắng từ tiền tuyến truyền tới, ông tỏ ra vô cùng phấn khích, trực tiếp phác thảo một bức điện khen thưởng: Gửi Lương, Lưu chuyển toàn thể đồng chí Quân 38: Chiến dịch lần này đã khắc phục được một số tư thế lo lắng quá mức của một số đồng chí trong chiến dịch trước, phát huy tác phong chiến đấu xuất sắc của Quân 38, đặc biệt Sư đoàn 113 hành động thần tốc, chiếm lĩnh Tam Sở Lý, Long Nguyên Lý trước kẻ địch, chặn đứng địch trốn chạy về phía nam và tăng viện phía bắc.
Mỗi loại máy bay và xe tăng địch có tới hơn trăm chiếc ngày đêm oanh tạc, liên tục phá vây nhưng cuối cùng không thành. Cho đến ngày hôm qua (ngày 30) chiến quả huy hoàng, tính riêng xe tăng và ô tô thu được đã gần một ngàn chiếc, số quân địch bị vây vẫn còn nhiều. Mong khắc phục khó khăn, dũng khí dâng cao, tiếp tục tiêu diệt toàn bộ số địch bị vây, đồng thời chú ý chặn địch tăng viện phía bắc, đặc biệt ra lệnh thông cáo biểu dương, chúc các đồng chí tiếp tục giành thắng lợi! Tình nguyện quân Nhân dân Trung Quốc muôn năm! Quân 38 muôn năm!
Trong kho từ vựng tiếng Trung, từ “muôn năm” có ý nghĩa đặc biệt của nó, không thể tùy tiện sử dụng, đó là từ vựng chuyên dụng chỉ có thể dùng cho những nhân vật và sự vật chí cao vô thượng.
Trong lịch sử chiến tranh Trung Quốc trước đây chưa từng có, hiện tại vẫn không có bất kỳ đội quân nào có thể được gọi là “muôn năm”. Bức điện khen thưởng này sau khi được phác thảo xong, ngay cả mấy vị phó tư lệnh cũng đưa ra ý kiến dị nghị về cách gọi “muôn năm” này, trong tiếng Trung các từ vựng ca ngợi rất nhiều, có thể đổi một từ khác được không, nhưng Bành Đức Hoài vẫn kiên quyết dùng từ “muôn năm”.
Tương truyền rằng, Quân trưởng Quân 38 Lương Hưng Sơ – người từng bị Bành Đức Hoài mắng cho tơi bời sau Chiến dịch lần thứ nhất, khi nhận được bức điện này của Bành Đức Hoài ở tiền tuyến, đã rơi nước mắt.
Khi bức điện của Tổng bộ Chí nguyện quân được phát đi, những người lính Quân 38 đang dọn dẹp vật tư quân sự Mỹ thu được trên quốc lộ. Theo hồi ức của Phó quân trưởng Giang Ung Huy, lúc đó, khi một người lính Trung Quốc đang mày mò một chiếc đài thu thanh của quân Mỹ, một bài hát phát ra từ chiếc đài thu thanh đã khiến tất cả những người lính Trung Quốc có mặt chết lặng.
Phát thanh viên trong đài thu thanh nói tiếng Trung: “Đây là Đài Phát thanh Nhân dân Trung ương, hiện tại phát quốc ca nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.”
Những người lính Quân 38 đã chiến đấu giữa lằn ranh sinh tử kể từ khi xuất ngoại, trên khuôn mặt lấm lem khói lửa, trên người là những bộ quần áo rách rưới, họ quây quần quanh chiếc đài thu thanh đứng bất động trên con quốc lộ ngập tràn khói súng.
“Đứng lên, những con người không muốn làm nô lệ!
Dùng máu thịt của chúng ta, xây nên trường thành mới của chúng ta!
Dân tộc Trung Hoa đã đến lúc nguy vong nhất,
Mỗi người bị ép phát ra tiếng gầm thét cuối cùng!
Đứng lên! Đứng lên! Đứng lên!
Chúng ta triệu người một lòng, xông qua làn đạn của quân thù, tiến lên!
Xông qua làn đạn của quân thù, tiến lên! Tiến lên!!
Tiến lên lên lên!!!”