
Ngày mình học ở Xuân Hoà, suốt 4 năm, cả một thời trai trẻ chứ có ít đâu.
Mình thuộc diện ít tuổi nhất lớp, do ngày bé đi học sớm nên phải khai tăng một tuổi. Lớp học có đến hơn một nửa là các anh/chị bộ đội vừa bước ra khỏi chiến tranh rồi về học, hoặc thêm một vài anh/chị giáo viên dạy cấp hai cũng theo lên.
Ngày ấy lớp mình được cô Hoà chủ nhiệm. Cô dạy ngôn ngữ học. Khổ, khu ký túc xá thường xuyên mất điện. Đã mất điện ai lại ngồi học bao giờ. Thế mà có hôm buổi tối cô lên ký túc xá kiểm tra. Hôm sau cô cho gọi lên bảo đề nghị anh phải sắm cái đèn dầu, phòng khi mất điện còn có cái để học nhé. Cô lại còn bảo cậu lên tôi cho cái đèn về mà dùng, chứ không chịu học rồi thi cử thế nào. Mình cung cúc mua cái đèn dầu về. Những hôm mất điện, ngồi trong giường, buông màn xuống tránh muỗi, thắp đèn lên đọc. Sáng hôm sau rửa mặt, ôi chao, cái khăn mặt đen kịt. Thì ra muội đèn bám vào hai lỗ mũi, hai mắt, cả áo cả quần khét lẹt. Đứa nào cũng vậy.
Ở Xuân Hoà chả có gì đáng kể, chỉ có tình người và... sắn thôi.
Ra chợ cơ man là sắn. Có cả mía nữa. Ai ít tiền thì mua sắn. Ai khá khá hơn thì mua mía. Mình thuộc loại con nhà nghèo, ít khi ra chợ, nếu có đi chợ chỉ dám mua chút sắn về luộc. Đối với cái bụng kinh niên lép kẹp của sinh viên thì sắn luôn luôn được coi là một món sơn hào hải vị. Trong ký ức của nhiều người, bây giờ nhớ về Xuân Hoà, có khi chỉ còn là... sắn. Sắn như một ám ảnh thân thương và buồn tủi.
Ngày ấy, những năm 76, ngoài các thầy cô rất trẻ mới tốt nghiệp Sư phạm Hà Nội (SPHN) lên cắm chốt, còn hàng loạt các thầy cô từ khoa Văn SPHN lên thỉnh giảng. Cái sự dạy này hình như là nhiệm vụ phân công thì phải. Hà Nội1 phải dìu dắt Hà Nội 2 đàn em non trẻ mới có một tuổi mà. Bọn mình được học thầy “Hoàng Dung vừa dạy vừa quát”. Khiếp, trông thầy cứ như vị tướng Kutudov trong Chiến tranh và Hoà bình. Việc đầu tiên vào lớp, cụ lấy ra cái phích nước nhỏ, rót một cốc, nhấp một ngụm, rồi bắt đầu “chửi”. Hết chửi cái chủ trương đưa ngôi trường này lên nơi đèo heo hút gió này, rồi chửi sang điện, nước, phòng ở, nơi tắm giặt... Chửi chán, chưa đủ, cụ lại chửi văn chương thời nay nó bạc, nó nghèo, nó khổ... Cả đám ngồi nghe vừa hãi vừa thích thú. Ghê thế, phải là cụ mới dám chửi, chứ cánh giáo viên trẻ trên này đố dám. Cụ cứ ca đi ca lại mấy câu phỏng thơ Tố Hữu: “Đời dạy học Xuân Hoà từ khi tôi mới hiểu/Dấn thân vô là phải chịu tù đầy/Dù gươm không kề cổ súng chẳng kề tai/Nhưng thân sống chỉ coi còn một nửa”...
Lúc bấy giờ các thầy dưới SPHN lên dạy gồm những thầy Trần Đức Ngôn môn Văn học dân gian; thầy Đinh Trọng Lạc môn Ngôn ngữ; thầy Nguyễn Văn Hậu, thầy Thành Thế Thái Bình môn Lý luận văn học; thầy Nguyễn Văn Long, thầy Nguyễn Đăng Mạnh môn Văn học Việt Nam hiện đại, thầy Phùng Văn Tửu môn Văn học phương Tây; thầy Lương Duy Thứ, thầy Nguyễn Khắc Phi môn Văn học Trung Quốc, cô Diệu môn Ngôn ngữ... Trên Xuân Hoà tác chiến thiện nghệ có những thầy Tiến, thầy Tựu, thầy Quang, thầy Lan, thầy Duy Đức, thầy Lê Hữu Tỉnh, cô Hoà, cô Thức, thầy Thi, thầy Bùi Quang Thanh, thầy Trần Hoà Bình... (Mình là loại chúa hay quên tên, có khi gương mặt thì nhớ mà tên thì quên tiệt, thật chả ra làm sao).
Ngày ấy, Trần Hoà Bình đã nổi tiếng với Thêm một, Mùa thu ở ngoại thành, Khi mùa mưa đến, Sơn Tây một phía... Bài thơ Với dòng sông ấy của thi sĩ họ Trần khiến dân Xuân Hoà chúng tôi thêm yêu thêm thương mảnh đất này nhiều lắm: “Cái tên âm âm một thời Việt cổ/Cà Lồ ơi sông chảy trước nhà tôi/Bờ cỏ ấy một con thuyền ngủ đỗ/Phố lên đèn, tôi hát tiễn sông trôi…”. Đi đâu Trần thi sĩ cũng cặp kè với thầy Bùi Quang Thanh. Các em sinh viên chết mê chết mệt. Những lòng yêu viết, theo đuổi nghề viết sau này của mình có một phần lớn được gợi hứng, tiếp sức từ ông thầy/ông anh Trần Hoà Bình này đấy.
Bây giờ Xuân Hoà thật sầm uất. Cách đó vài cây số là Đại Lải sinh thái Đảo Ngọc, Flamingo, bơi thuyền, bãi tắm, và cả nhà nghỉ miên man. Sầm uất thì vui, nhưng kèm theo nó cũng nhiều phiền toái. Xuân Hoà cũng góp phần biến con sông Cà Lồ “chảy trước nhà tôi” xanh trong là thế, thơm tho là thế thành một con sông chết. Một cái thị trấn chưa phải đã to mà có lúc cũng tắc đường…
Nhưng bất chấp tất cả, ngôi trường của tôi, khoa Ngữ văn của tôi vẫn ngày càng đông lên, mạnh lên và giỏi lên trông thấy.
Bây giờ, các thầy cô độ ấy tuổi đã cao cao, nhưng chưa hẳn đã già. Trên “phây”, vẫn thấy các thầy cô gặp gỡ nhau, rủ nhau đi vui chơi đây đó, có bức ảnh toàn đội còn đồng phục vàng tươi, trông vẫn còn xoan lắm. Cũng có một vài thầy đã thành người thiên cổ. Đời người như nước mây trôi...
Nhà văn Phạm Duy Nghĩa cũng học từ đây ra. Gã học sau mình đến chừng dăm bảy khoá, có thể còn hơn. Thấy bảo ngày ấy gã học thì ít chơi thì nhiều, anh hùng hảo hớn. Đã từng vướng vào chuyện oánh nhau chí tử cũng chỉ vì “Giữa đường thấy chuyện bất bằng mà tha”, rồi lĩnh án kỷ luật lưu ban. Thấy bảo gã tình tang cũng lắm (chả bù cho bây giờ!). Thỉnh thoảng cái chất liệu Xuân Hoà, cái sinh thái Xuân Hoà một thuở vẫn nghèn nghẹn trong những trang văn họ Phạm.
Hôm nọ đã hẹn dời non lấp biển với “hào kiệt Xuân Hoà” Phùng Gia Thế rằng sẽ hội quân bên rìa nước cùng nâng chén rượu đoàn viên. Hôm nay Phạm Duy Nghĩa nhắn tin mai có lên Xuân Hoà kỷ niệm 50 năm khoa không? Bạn mình cùng lớp gọi điện bảo mày có đi thì tao mới đi..
Giời ạ, hội ngày nào chẳng hội, lại hội đúng vào cái ngày mình phải đi công tác miền Nam, tiếc ơi là tiếc...
Hà Nội một ngày rét mướt, 15/12/2017