
Erica và Paul.
Hai người chưa từng gặp nhau, nhưng họ vừa bước ra khỏi thang máy cùng một lúc. Em đi giày cao gót, còn cậu đi giày bệt. Khi hướng đến tầng của tôi, họ nhận ra mình đang cùng đến một địa chỉ và thậm chí còn quen cùng một người, cùng một Clive mà tôi không hề biết. Làm thế nào mà họ lại gợi được câu chuyện về anh chàng Clive này khiến tôi thấy lạ, nhưng rồi có gì lạ đâu khi mọi chuyện diễn ra vào một buổi tối đã mang quá nhiều hứa hẹn về những lạ lùng, khi hai người mà tôi hằng mong mỏi được gặp trong tiệc chia tay của mình lại đến nơi cùng một lúc. Cậu đến cùng người bạn trai lớn hơn nhiều tuổi, em đến cùng chồng, nhưng tôi vẫn không thể tin được rằng, sau hàng tháng trời muốn được gần gũi hơn với họ, cuối cùng thì lúc này tôi đã có cả hai bên mình vào những ngày cuối còn ở lại thành phố này. Có nhiều người khác cũng tới nhưng ai quan tâm về họ chư: bạn trai cậu, chồng em, người dạy yoga, người bạn mà Micol liên tục giục tôi phải gặp, cặp đôi tôi quen từ mùa thu năm ngoái tại một hội thảo về người nước ngoài gốc Do Thái từ thời Đế chế thứ ba, người thầy châm cứu lập dị từ phòng 10H, nhà lý luận dở hơi cùng người vợ ăn chay trường, và cả bác sĩ Chaudhuri đáng yêu đến từ Mount Sinai, người đang rất hào hứng để định nghĩa lại thế nào là tiệc nhẹ cho tất cả khách khứa tối nay. Chúng tôi mở chai prosecco và tất cả đều uống mừng sự trở về của gia đình tôi ở New Hampshire. Những lời nâng ly vang vọng khắp và một vài sinh viên tốt nghiệp chúc tụng và trêu đùa tôi cùng sự cảm mến và khôi hài, thêm nhiều khách đến và đi.
Nhưng hai người quan trọng nhất đã ở lại. Có một lúc, khi những người khác quanh quẩn bên trong căn hộ nhàm chán, em bước ra bên ngoài bao lơn và tôi đi theo, rồi cậu cũng vậy, và rồi cả hai dựa vào lan can với ly champagne trong tay, trò chuyện về anh chàng Clive này, em bên trái, cậu bên phải, rồi tôi đặt ly của mình xuống và vòng tay quanh eo họ, thân thiện, gần gũi, hoàn toàn bình thường. Rồi tôi thả tay ra và tựa vào bao lơn, cả ba vai kề vai, cùng nhau ngắm hoàng hôn buông xuống.
Không ai lảng tránh. Cả hai đều kề sát bên tôi. Tôi đã mất hàng tháng trời để mang họ tới. Đó là một khoảnh khắc yên ả từ ban công ngắm nhìn xuống dòng Hudson vào một tối tháng Mười một ấm áp.
Khoa của cậu ở trường đại học năm cùng tầng với tôi, nhưng cả hai lại không hề có bất cứ mối liên hệ học thuật nào với nhau cả. Bằng cách quan sát, tôi cho rằng cậu có thể là một sinh viên tốt nghiệp đã hoàn thành luận án của mình, một nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ hoặc một phó giáo sư mới được bổ nhiệm. Chúng tôi cùng đi chung lối cầu thang và Ở cùng một tầng, thỉnh thoảng chạm mặt nhau ở phòng họp của giảng viên, hoặc thường xuyên hơn là ở tiệm Starbucks cách đó hai dãy nhà trên đường Broadway, thường là chiều muộn trước khi buổi hội thảo cho sinh viên tốt nghiệp bắt đầu. Chúng tôi cũng để ý sự có mặt của người kia khi vô tình gặp nhau vài lần tại một quán salad tự chọn bên kia phố và rồi không thể không mỉm cười với nhau khi bất ngờ gặp lần nữa sau bữa trưa lúc cả hai đánh răng trong nhà vệ sinh. Điều ấy đã trở thành một kiểu cười chào thường trực khi hai người thấy nhau cùng hướng tới nhà vệ sinh nam với bàn chải đã có kem đánh răng sẵn. Cả hai, tôi để ý, đều không mang tuýp của mình vào. Một ngày cậu nhìn tôi và hỏi, “Aquafresh à?” và tôi bảo đúng vậy. Sao biết? Bằng những sọc bạc hà, cậu nói. Và để tiếp tục, tôi hỏi cậu dùng loại gì. “Tom’s of Maine.” Đáng ra tôi nên biết. Cậu chắc chắn là người sẽ sử dụng lăn khử mùi của
Tom, xà phòng của Tom, và những sản phẩm không phổ biến chỉ có thể tìm thấy trong những cửa hàng ưu tiên sức khỏe người tiêu dùng. Đôi khi, lúc nhìn cậu súc miệng xong, tôi bỗng muốn được nếm vị dịu mát của tiểu hồi trong miệng cậu.
Chúng tôi không tán tỉnh nhau nhưng có một thứ gì đó như vô hình lơ lửng giữa cả hai. Mối quan hệ mờ nhạt của chúng tôi được dựng xây trên những buổi chiều vui thú ngượng ngùng và rồi bỗng cắt đứt Vội vàng khi chẳng ai màng nói lời chào một lần nữa vào sáng hôm sau nếu vô tình lại gặp trên cầu thang. Tôi khát khao một điều, và tôi nghi ngờ cậu cũng vậy. Nhưng tôi không bao giờ chắc chắn mình nhìn mọi thứ đủ rõ ràng để lên tiếng hay đẩy mọi chuyện đi xa hơn. Trong một cuộc trao đổi ngắn ngủi, tôi đã nhân cơ hội để nói với cậu rằng mình sắp kết thúc thời gian nghỉ phép và sẽ sớm trở về New Hampshire. Cậu nói rất lấy làm tiếc khi biết vậy; cậu đã định đến dự lớp tôi giảng về Triết học tiền Socrates. “Nhưng thời gian!” cậu nói. “Thời gian!” cùng một nụ cười ngượng ngùng, ân hận và cái thở dài đầy khiêm nhường. Vậy ra cậu đã xem lịch của tôi và biết về lớp tiền Socrates. Điều này thật vinh hạnh. Cậu đang có hạn chót để hoàn thành cuốn sách của mình về một nghệ sĩ dương cầm tên Samuil Feinberg. Tôi chưa từng nghe về Feinberg bao giờ và cảm thấy rằng điều ấy cho tôi biết thêm về một khía cạnh khác của cậu mà tôi ao ước mình đã có thời giờ tìm hiểu. Nếu cậu rảnh và muốn tới bữa tiệc nhỏ tại căn hộ gần như đã dọn sạch đồ – có khi còn không tới bốn chiếc ghế chừa lại, tôi bảo – thì sẽ rất vui. Đến nhé? Đương nhiên rồi, cậu bảo. Câu đáp ấy bật ra nhanh tới nỗi lúc đầu tôi đã không tin.
Và rồi Erica. Chúng tôi tham gia cùng một lớp yoga, đôi lúc em đến vô cùng sớm – sáu giờ sáng - có khi tôi cũng vậy, đôi lúc khác cả hai lại đến rất muộn, sáu giờ tối. Thậm chí có những hôm chúng tôi đến đó hai lần một ngày, cả sáu giờ sáng và tối, gần như là sẽ tìm kiếm nhau nhưng đều hiểu rằng không nên mong chờ được gặp lại tới hai lần. Em thích góc nhỏ của mình, và tôi luôn cách đó chỉ nửa mét. Kể cả khi em không tới, tôi vẫn sẽ trải thảm tập của mình cách tường một khoảng. Lúc đầu là vì tôi thích chỗ của hai chúng tôi, sau đó tôi nhận ra đó là một cách tinh ý để giữ chỗ cho em. Nhưng cả hai đều không tới đó thường xuyên, đó là lý do tại sao mất nhiều thời gian tới vậy mà hai người mới chỉ gật đầu chào nhau trong một vài lần cuống quýt. Đôi lúc khi nằm xuống và nhắm mắt lại, tôi sẽ bất chợt nghe thấy ai đó ném thảm tập xuống bên cạnh mình. Không cần phải nhìn, tôi biết đó là ai. Kể cả khi em tới bên tôi bằng chân trần, tôi đã học cách nhận ra nhịp thở dịu dàng, nhút nhát ấy, cách em hắng giọng mỗi khi đặt người xuống. Em không cố gắng che giấu khi tỏ ra bất ngờ và vui vẻ nếu thấy tôi ở đấy. Tôi thì cẩn trọng hơn và sẽ VỜ vịt một cái liếc nhìn ngơ ngác đi trời, cô tới đấy à? Tôi không muốn quá lộ liễu, cũng không muốn xông xáo gia cố thêm mối quan hệ tán dóc nhẹ nhàng, qua loa khi gặp nhau ngoài phòng tập lúc chưa mang giày và phải đứng chờ cho những người học viên ca trước rời đi. Có điều gì đó luôn luôn lịch sự dễu thoáng chút trớ trêu khi chúng tôi trò chuyện về những điều tầm thường ở lớp yoga, hoặc phàn nàn về người giáo viên dạy thay dở tệ, hoặc thở dài, chúc nhau có một cuối tuần suôn sẻ khi nghe tin thời tiết được dự báo sẽ có bão. Chúng tôi đều biết những chuyện xoàng ấy sẽ chẳng dẫn tới đâu. Nhưng tôi thích đôi chân mảnh khảnh của em, bờ vai mịn màng như lấp lánh với nét rám nắng của mùa hè có vẻ như còn đọng lại đó mùi hương phảng phất lưu luyến từ kem chống nắng cuối tuần trước. Hơn tất cả tôi thích vầng trán em, nó không phẳng mà tròn, và gợi lên những nghĩ suy mà tôi không thể miêu tả bằng lời nhưng tha thiết muốn được hiểu thêm, bởi vì luôn có một thoáng suy nghĩ lại gượng gạo hiện lên mơ màng trên nét mặt ấy mỗi lần em mỉm cười. Em mặc quần áo bó sát với bắp chân thon gọn lộ ra cho nên, nếu như để tâm trí mình thỏa sức lượn lờ tự do, tôi có thể dễ dàng tưởng tượng hai chân em đặt một góc chín mươi độ trong tư thế viparita karani với gót chân tựa lên ngực tôi, ngón chân chạm tới vai tôi, mắt cá chân khum gọn trong tay tôi khi tôi quỳ xuống. Rồi nếu như em cong chân lại và chậm rãi vòng hai đầu gối quanh eo tôi, tất cả những gì tôi cần sẽ là được nghe nhịp thở và tiếng rên rỉ từ em để biết rằng mình luôn muốn nhiều hơn chỉ là bạn tập yoga.
Tôi định mời giáo viên của ta tới buổi tiệc chia tay, tôi bảo. Em và chồng sẽ ghé qua chứ? Vậy thì tuyệt quá, em nói.
Vậy là cả hai tới. Hôm ấy ấm áp hơn so với một ngày tháng Mười Một, và cửa chớp của chúng tôi rộng mở, một làn gió thổi từ bên sông len lỏi khắp căn phòng, nên ánh nến thêm lung linh hơn trên bầu cửa sổ, và tất cả đều có cảm giác như đang ở trong một bộ phim vào phân đoạn một buổi tối thứ Bảy đầy mê hoặc mà sẽ chẳng có gì có thể phá hỏng. Tất cả những gì tôi cần làm là giới thiệu mọi người với nhau và đặt những câu hỏi, thật khéo léo, để chúng không nghe quá qua loa, và không có vẻ tập dượt trước, nếu tôi nhận ra một cuộc trò chuyện đang cạn chủ đề. Bà đã làm gì với cảnh cuối cùng trong phim: Cô nghĩ gì về bai diễn viên lớn tuổi ấy: Anh thích bộ phim này nhiều như bộ trước của người đạo diễn ấy chứ? Tôi thì thích những bộ phim bất ngờ kết thúc bằng một bài nhạc. Còn ông?
Dẫu đây là tiệc chia tay tôi nhưng tôi vẫn là chủ nhà. Tôi phải chắc chắn rằng prosecco vẫn được đổ đầy ly của mọi người, và tất cả đều hoàn toàn thoải mái. Có thể thấy trong cái cách hai người họ dựa vào tường và tán dóc, và, khi ngẫu nhiên tham gia cùng với họ, tôi biết họ đang gần gũi hơn. Nếu như tất cả có rời đi hết, chúng tôi cũng sẽ chẳng quan tâm tới và tiếp tục trò chuyện về những cuốn sách, những bộ phim hoặc kịch, tất cả những chủ đề nối tiếp nhau mà chẳng bao giờ nảy sinh bất đồng.
Họ cũng đặt những câu hỏi – về tôi, về nhau, và một hoặc hai lần sẽ quay sang người nào đó đến gần để kéo họ trò chuyện. Chúng tôi cười đùa và tôi cầm tay cả hai, và tôi biết họ đều thích như vậy khi đáp lại cái nắm tay này là cử chỉ siết lấy tay tôi nhẹ nhàng, không miễn cưỡng cũng không vì lịch sự đơn thuần. Có một lúc cậu, và sau đó là em, xoa nhẹ lưng tôi, thật dịu dàng, như thể họ thích cảm giác mềm mại từ áo len của tôi và muốn cảm nhận nó thêm lần nữa. Đó là một tối tuyệt vời, mọi người thưởng rượu, và không một ai bạn nghe điện thoại dù chỉ một lần, và món tráng miệng của bác sĩ Chaudhuri sẽ sớm được dọn ra. Bữa tiệc hôm đó được dự kiến kết thúc lúc tám giờ rưỡi nhưng nó kéo dài lâu hơn nhiều và không ai có vẻ như muốn ra về.
Thi thoảng tôi sẽ lén quay lại về phía Micol cùng ánh nhìn bên em mọi thứ ổn chứ? và nhận lại một cái gật đầu vội vã ổn cả – anh thì sao? Khá tốt, tôi sẽ đáp. Chúng tôi là một đội hoàn hảo, và phối hợp chính là cách giữ cả hai bên nhau. Đó là lý do, tôi nghĩ, chúng tôi luôn biết cả hai sẽ là một cặp ăn ý. Biết phối hợp, phải rồi. Và đôi khi cả đam mê nữa.
Hai người đấy là thế nào thế: Nàng ra hiệu bằng một cái nghiêng đầu dò hỏi, ý chỉ hai người khách trẻ nàng chưa từng gặp. Nói cho em sau, tôi đáp. Nàng nhăn mặt và đôi chút nghi ngờ. Tôi biết cái nhìn nghiêm nghị ấy đang nói rằng, Em biết anh đang có âm mưu gì đấy.
Hai người họ đều vui tính và cười rất nhiều, đôi khi là cười nhạo tôi vì hiếm khi cập nhật những thứ mới mà có vẻ ai cũng biết. Nhưng tôi mặc cho họ được vui vẻ.
Có một lúc Erica ngắt lời và thì thầm: “Đừng quay lại, nhưng bạn của vợ anh cứ nhìn ta chăm chăm.”
“Muốn xin việc ở trường đại học đấy, nên tôi mới đang cố tránh mặt cô ta.”
“Không hứng thú à?” câu hỏi cùng một thoáng châm chọc.
“Hay không đủ thuyết phục?” em nói.
“Không ấn tượng,” tôi đáp. “Và ý tôi ở đây là không thấy thu hút.”
“Nhưng cô ấy đẹp mà,” Erica nói. Tôi lắc đầu cười trừ.
“Yên nào! Cô ta biết mình đang nói về ai.”
Cả ba luống cuống nhìn đi chỗ khác. “Còn nữa, người ta tên là Kirin,” tôi nói thêm.
“Không phải, Karen chứ,” cậu nói.
“Tôi nghe là Kirin mà.”
“Thực ra cô ấy nói là Kirin,” em bảo.
“Đấy là vì cô ta nói giọng vùng Michigan.” “Ý anh là giọng Mình-Chí-Gàn hả?”
“Nghe gàn dở thực.” Cả ba bật cười. Chúng tôi không thể kìm bản thân mình lại.
“Người ta đang nhìn nhóm mình đấy,” cậu nói.
Khi chúng tôi đang cố nhịn cười, tâm trí tôi bỗng nhận ra một điều. Tôi muốn có họ trong cuộc đời mình. Với bất cứ giá nào. Tôi muốn họ ngay lúc này, cùng bạn trai cậu, chồng em, gì cũng được, với những đứa con mới sinh hoặc mới nhận nuôi nếu họ có. Họ sẽ được chào mừng đến và đi khi muốn, chỉ cần hãy là một phần trong cuộc đời ảm đạm, ngày-qua-ngày nhàm chán vô vị của tôi ở New Hampshire.
Và nếu như Erica và Paul thích nhau bằng một cách nào đó khác không thể đoán được – mà thực ra lại không hẳn khó đoán chút nào thì sao?
Điều ấy còn khiến tôi thấy hồi hộp thay họ. Lòng ham mê nhục dục chấp nhận mọi trả giá, và những ham muốn gián tiếp thay người khác có mức trao đổi trực tiếp được coi là đủ tin cậy để cho là thực. Chưa một ai từng đến mức cùng quẫn vì vay mượn ham muốn của người khác cả. Ta chỉ cùng quẫn khi không ham muốn bất cứ ai. “Hai người có nghĩ Cô ấy có thể làm ai đó hạnh phúc không?” Tôi hỏi về người bạn của vợ mình, không thực sự hiểu sao bỗng dưng lại hỏi vậy. “Người như anh á?” cậu lập tức đáp lại như thể phóng đến một mũi tên, trong khi em mỉm cười ranh mãnh đầy ẩn ý, cùng với cậu, nói rằng có lẽ em hiểu ý nghĩa thực sự ẩn trong câu hỏi của tôi. Cả hai đều có vẻ đồng ý rằng tôi không phải người có thể dễ dàng làm cho hạnh phúc. “Giá mà hai người biết những điều tôi muốn đơn giản ra sao.” “Ra sao?” em hỏi, gần như quá đột ngột, như muốn tôi lúng túng hoặc phải xoay xở bịa đặt một lời nói dối. “Có tới hai người đã làm được đấy.” “Thế thì kể xem,” em hỏi, thách thức tôi ngay lập tức mà không nhận ra đã nói một cách quá gấp gáp và rằng câu trả lời mà tôi chuẩn bị đáp lại hoàn toàn không phải là điều em mong đợi. Nhận thấy tôi có vẻ bối rối, cậu bảo, “Có lẽ anh ấy không muốn nói đâu.” “Có lẽ anh ấy muốn lắm,” tôi bảo. Nụ cười bỡn cợt một lần nữa hiện trên môi em. “Hoặc có lẽ không.” Vậy là em biết, chắc chắn em biết. Tôi biết mình đang khiến em thấy hồi hộp. Nhưng bây giờ, qua những kinh nghiệm tôi đã học, chính là lúc những câu hỏi táo tợn được thốt ra, hoặc thậm chí ta chẳng cần phải hỏi, bởi vì câu trả lời sẽ luôn là có. Nhưng em đang hồi hộp. “Dẫu vậy hầu như những điều ta muốn đều là do ta tưởng tượng cả, phải không nào?” Tôi bảo, một lần nữa cố gắng làm dịu lại điều tôi vừa nói để cho em một đường lui nếu như em đang cố thoát ra mà không biết làm thế nào. “Và một vài những ham muốn chân thành nhất của ta hóa ra lại mang nhiều ý nghĩa vô hình hơn ta tưởng - cậu thấy vậy không?”
“Tôi thì không nghĩ mình từng chờ đợi đủ lâu để biết một ham muốn bị kìm hãm là thế nào.” Cậu bật cười.
“Tôi thì rồi, em nói.
Tôi nhìn họ, và họ nhìn lại tôi. Tôi thích những khoảnh khắc ngượng ngùng thế này. Đôi khi tất cả những gì tôi cần làm là gợi ra và không cuống quýt dẹp bỏ chúng đi quá vội vàng. Nhưng sự căng thẳng dường như dần hiện rõ và em bỗng muốn nói gì đó, gì cũng được, và khiến tôi biết em thực sự hiểu những điều tôi đã không nói thành lời: “Tôi chắc chắn rằng phải có ai đó từng khiến anh tổn thương, hoặc sợ hãi chứ.”
“Từng có,” tôi đáp. “Một vài người bỏ ta lại trong đau đớn và tổn thương.” Rồi tôi nghĩ một thoáng. “Dẫu trong chuyện ấy tôi là người đã làm người ta đau khổ, nhưng chính tôi lại không bao giờ bình phục.”
“Thế còn cô ấy?”
Tôi lưỡng lự một lúc. “Cậu ấy,” tôi sửa. “Ở đâu?” “Italy."
“Italy, đương nhiên rồi. Ở đó người ta khác ở đây.”
Em thông minh đấy, tôi nghĩ.
Erica và Paul.
Nên là, có, họ có hợp nhau. Tôi để họ trò chuyện và dạo qua chỗ những người khách khác. Thậm chí còn ra cười đùa một chút với người bạn của Micol, và dẫu có vết bớt, cô nàng không kém đi vẻ xinh đẹp và sự mỉa mai duyên dáng, điều ấy khiến tôi biết nàng là một nhà phê bình tài năng và đầy tham vọng.
Một khoảnh khắc thoáng qua, tâm trí tôi dạo quanh về tất cả các ngày cuối tuần trong năm học vừa rồi khi bạn bè từ trường đại học sẽ thường đến dùng bữa cùng chúng tôi vào mỗi tối Chủ nhật. Chúng tôi sẽ chuẩn bị món gà hầm, bánh quiche – cả hai đều mua sẵn và được hâm nóng lại – cùng với món salad bắp cải chính tôi làm, sử dụng tất cả những nguyên liệu tìm được trong bếp. Một vài người sẽ luôn đem theo pho mát, và một số khác sẽ mang món tráng miệng. Và sẽ có rất nhiều rượu và bánh mì thơm ngon. Chúng tôi sẽ bàn luận về những con tàu trireme của người Hy Lạp, súng lửa của họ, những đối chiếu về sử thi Homer và những hình tượng nhân vật Hy Lạp đã truyền cảm hứng cho nghệ thuật hiện đại. Tôi sẽ đánh mất tất cả những điều ấy, như cách tôi sẽ đánh mất những thói quen vặt vãnh khi rời New York, mất đi lúc nào chẳng hay, và rồi mới nhớ nhung chúng khi đã quá muộn. Tôi sẽ đánh mất đồng nghiệp và những người bạn mới, chưa kể đến hai người họ, nhất là khi giờ chúng tôi đã có những mối liên hệ với nhau ngoài lớp yoga và học viện.
Tôi nhìn quanh và nhận ra nơi này giờ đã trống trải y như lúc Micol và tôi dọn vào tháng Tám năm ngoái. Một chiếc bàn, bốn chiếc ghế xếp quanh, một vài chiếc ghế nhỏ cũ kỹ, một chiếc tủ, những giá sách trống, một chiếc sofa cũ, một chiếc giường, một tủ quần áo với vô vàn những móc treo lủng lẳng như những con chim bị nhồi với đôi cánh vươn ra, và cây dương cầm lớn lẻ loi mà cả tôi và Micol đều chưa từng đụng tới, dán chi chít những poster nhạc kịch mà chúng tôi cứ tự nhủ sẽ mang về New Hampshire dẫu biết sẽ chẳng bao giờ có chuyện đó. Tất cả những đồ đạc khác đều đã được gói ghém và chuyển đi trước. Trường đại học đã kéo dài thời gian cho chúng tôi tới giữa tháng Mười Một, lúc mà người thuê tiếp theo, cũng trong khoa Văn minh cổ, sẽ dọn tới. Maynard và tôi học chung đại học và tôi đã viết cho anh một bức thư chào mừng tới đây. Máy sấy mất thời gian lắm và toi-fi thì kém. Tôi chưa từng thấy ghen tị với anh ấy. Nhưng giờ thì tôi sẵn lòng đổi chỗ cho anh không chút lưỡng lự.
Cuối cùng, đúng như tôi dự đoán, cả hai lại bắt đầu trò chuyện về anh chàng nhà báo Clive, người mà chẳng ai nhớ tên đầy đủ. Paul đang mặc một chiếc áo lanh trắng ngắn tay với các ngực phanh rộng. Khi cậu nâng khuỷu tay đặt lên trán để cố nhớ lại tên họ của Clive, tôi có thể thấy làn da cậu lộ ra tận xuống gần nhúm lông dưới cánh tay. Chắc hẳn cậu đã cạo chỗ đó, tôi nghĩ. Tôi yêu nơi cổ tay như ánh lên lấp lánh của cậu – chúng được tắm nắng cẩn thận. Tôi có thể dành toàn bộ buổi tối còn lại chỉ để cố bắt được khoảnh khắc cậu đặt tay lên trán một lần nữa khi cố nhớ tên ai đó.
Đôi lúc, tôi thấy cậu ngước ánh nhìn gấp gáp và khó hiểu về người bạn trai bên kia căn phòng. Bí hiểm và thân mật – một điều gì đó ngọt ngào trong cách họ như trông chừng lẫn nhau.
Erica mặc một chiếc áo cánh mỏng màu xanh lơ. Tôi không thể cứ nhìn chằm chằm vào ngực em vì đường nét của nó đủ tinh tế để không trở nên quá khêu gợi, nhưng tôi biết rằng em để ý mỗi lần tôi nhìn. Tôi chưa từng gặp em khi không mặc đồ tập. Chính đôi lông mày tối màu và đôi mắt to tròn màu hạt dẻ đã khiến tôi chú ý – chúng không chỉ chăm chú nhìn ta, chúng đang dò hỏi gì đó và rồi nán lại như thể thực lòng chờ đợi một lời hồi đáp, mà cái nhìn ngơ ngác, không biết nói gì hơn của ta bỗng như không đáp lời. Nhưng có lẽ chúng không thực sự hỏi gì cả – đó là ánh nhìn của sự thân quen VÔ cùng từ một người nào đó nhớ ra ta, và đang cố nhớ lại là ở đâu, và sự trêu ngươi trong ánh mắt em chính là cách em nói rằng ta chẳng giúp em nhớ được gì bởi vì em biết là ta nhớ nhưng chỉ vờ là không thôi.
Có gì đó, và tôi đã để ý tới điều ấy quá nhiều, mang một ngụ ý mỗi khi ánh mắt em lướt qua tôi; nó suýt nữa đã khiến tôi phải phá vỡ nỗi lặng yên khi một lần tình cờ gặp em đang đứng xếp hàng ở một rạp phim. Em đi cùng chồng, nói gì đó với anh ta, khi bỗng nhiên quay lại và nhìn tôi, và một thoáng cả hai đã ngừng nhìn cho tới khi nhận ra người kia, lùi lại trong im lặng, và đơn giản gật đầu chào, nghĩa là Yoga, đúng không? Đúng rồi, yoga. Rồi để cho ánh mắt ấy trôi qua.
Lúc này, Micol và người giáo viên yoga quyết định ra ban công để hút thuốc. Anh ta đang khiến nàng cười. Tôi thích khi nghe tiếng cười ấy. Nàng hiếm khi cười – chúng tôi hiếm khi cười. Tôi xin một điếu từ một người khách rồi tham gia cùng họ. “Chúng tôi dọn cả gạt tàn đi rồi, vợ tôi nói, cầm một chiếc cốc nhựa với một nửa và nàng gõ nhẹ điếu thuốc để tàn thuốc bay xuống. “Không có quyết tâm,” người dạy yoga nói về chính bản thân mình. “Đây cũng thế,” nàng đáp, cả hai cùng cười rồi anh ta cũng hứng tàn thuốc rơi vào chiếc Cốc. Chúng tôi trò chuyện vẩn vơ một lúc cho tới khi một điều hoàn toàn bất ngờ xảy đến.
Ai đó đã mở cây dương cầm và đàn bản nhạc mà tôi lập tức nhận ra là một đoạn được cho là của Bach. Khi tôi bước vào phòng, một đám đông những người lộn xộn vây quanh cây dương cầm để nghe tiếng đàn mà đúng ra tôi nên biết là của Paul. Một thoáng trôi qua, và có lẽ bởi không ngờ tới, tôi đứng đó sững sờ. Chúng tôi đã chuyển tấm thảm đi nên âm thanh phát ra trong trẻo, rõ ràng hơn rất nhiều, và nó vang vọng khắp căn hộ trống, mang cảm giác như cậu đang đàn tại một thánh đường rộng lớn nhưng không một bóng người. Tại sao tôi lại không biết cậu có thể bị thu hút bởi cây dương cầm tồi tàn tới vậy, và sao tôi không đoán biết cậu sẽ đang chơi bản nhạc tôi đã không nghe lại nhiều năm rồi.
Tiếng đàn ngân vang vài phút và tất cả những gì tôi muốn làm là tới đằng sau ôm lấy và hôn lên gáy cậu để bảo rằng làm ơn, làm ơn, hãy đàn lại một lần nữa.
Không ai có vẻ như biết bản đó, và sau khi Paul chơi xong, một sự yên lặng đầy tôn trọng bao trùm khắp căn phòng. Bạn trai cậu cuối cùng đi qua đám đông và đặt tay dịu dàng lên vai cậu, chắc hẳn là để bảo cậu ngừng chơi, nhưng Paul bất ngờ đàn một bản của Schnittle khiến mọi người bật cười. Cũng không ai biết bản này cả, nhưng tất cả đều cười khi cậu lập tức chuyển sang một đoạn cao trào trong “Bohemian Rhapsody."
Khi cậu vẫn đang chơi, tôi ngồi xuống tấm kim loại của bộ tản nhiệt đặt dưới bệ cửa sổ và Erica đến ngồi cạnh tôi, lặng lẽ, như một con mèo tìm cách rúc vào một góc chật chội mà không gây phiền hà hay đổ vỡ những đồ sứ. Tất cả những gì em làm là ngó xung quanh tìm chồng mình, và khi làm vậy, em đặt khuỷu tay phải tựa lên vai tôi. Anh ta đang đứng bên kia căn phòng với hai tay cầm một ly vang, có vẻ không tự nhiên. Em mỉm cười. Anh ta gật đầu đáp lại. Tôi tự hỏi về hai người họ. Nhưng khi quay lại nhìn người đang chơi dương cầm, em không nhấc tay khỏi vai tôi. Em biết mình đang làm gì. Táo bạo nhưng chưa chắc chắn. Nhưng tôi không thể tập trung vào điều gì khác. Tôi ngưỡng mộ sự thoải mái vô tư đối với một cơ thể khác xuất phát từ biểu hiện tự tin được dùng để nhận biết một mối tương giao tốt đẹp ở mọi nơi. Nó khiến tôi nhớ về mình thời trẻ khi luôn nghĩ rằng người khác sẽ không ngại mà thực ra lại muốn tôi chạm vào họ. Lòng cảm mến trước sự tin tưởng vô tư ấy thôi thúc tôi chạm lên bàn tay em; nhẹ nhàng và thoáng chốc siết lấy nó như để cảm ơn tình bạn của em, dẫu biết rằng khi làm thế sẽ làm khuỷu tay em dời chỗ. Em không có vẻ gì bận tâm tới điều đó, nhưng rồi cũng rụt tay lại. Micol, lúc ấy đang ở trong bếp, đã ra đứng cạnh tôi và đặt một tay lên bên vai kia của tôi. Khác hẳn với cảm giác từ Erica.
Bạn trai của Paul nói rằng đã tới lúc ngừng đàn và ra về vì hôm nay họ phải về sớm. “Một khi đã bắt đầu chơi là em ấy không chịu ngừng, và rồi tôi phải trở thành kẻ phá đám cuộc vui.” Lúc ấy, tôi đứng dậy và tới chỗ Paul vẫn đang mải mê đàn, quàng tay cậu, và nói rằng tôi nhận ra bản Arioso của Bạch và rằng tôi không hề ngờ cậu sẽ chơi nó.
“Tôi cũng không ngờ vậy,” cậu nói, nét ngạc nhiên trong giọng cậu lúc ấy đây thật thà, quyến rũ và chân thành. Cậu thấy vui vì tôi nhận ra bản Capriccio của Bach. “Đây là một đoạn Bach viết, “Để tiễn biệt người anh trai dấu yêu của mình. Anh sẽ rời đi, nên không phải tự nhiên mà tôi đàn nó. Nếu anh muốn tôi sẽ đàn lại cho anh.”
Chàng trai đáng yêu, tôi nghĩ.
“Vì anh sẽ rời đi,” cậu nhắc lại, và tất cả đều nghe thấy, nét chân thành hiện lên trong giọng cậu như xé tan điều gì đó trong tôi đến nỗi tôi không biết phải nói hay biểu hiện gì giữa bao nhiêu khách khứa.
Vậy nên, một lần nữa, cậu đàn bản Arioso. Và cậu đang đàn nó cho tôi, và mọi người đều biết cậu đàn cho riêng tôi, và điều khiến trái tim tôi như VỠ vụn chính là tôi biết, như cậu chắc chắn cũng biết, rằng điều đáng sợ vô cùng về những lời chia tay và tiễn biệt chính là sự chắc chắn gần như tuyệt đối rằng chúng tôi sẽ không bao giờ gặp lại nhau lần nữa. Những điều mà cậu không biết, và sẽ không thể biết, đó là chính bản Arioso này là những gì tôi đã nghe được nghe hai mươi năm trước, khi mà, chính tôi cũng từng là người phải ra đi.
Em đang nghe cậu ấy đàn chứ? Tôi hỏi một người vắng mặt ở đây, nhưng với tôi thì không bao giờ vắng mặt.
Em đang nghe đây.
Và em biết, biết rõ rằng anh đã luôn lạc lối suốt bao năm qua.
Em biết. Nhưng em cũng vậy.
Tiếng đàn em từng cho anh nghe mới tuyệt diệu làm sao.
Em muốn đàn cho anh.
Vậy là em chưa quên. Tất nhiên rồi,
Khi Paul vẫn đang đàn và tôi ngắm nhìn khuôn mặt cậu, không thể rời đôi mắt vẫn đang chăm chú nhìn lại tôi cùng một vẻ duyên dáng trong vô thức và đầy dịu dàng mà tôi có thể cảm nhận sâu trong tim gan mình, tôi biết rằng những lời ẩn giấu và mê hoặc đang kể về cuộc đời tôi trong quá khứ, hiện tại trước mắt, và về những quá khứ và hiện tại tôi đáng ra đã có thể có nhưng không bao giờ chạm vào được, và rằng lựa chọn nằm lại ngay trên phím đàn và trong chính tay tôi.
Paul vừa chơi xong bản Arioso của Bach khi cậu lập tức giải thích rằng muốn chơi bản dạo đầu được cải biên bởi Samuil Feinberg, “Chưa tới năm phút đâu, em hứa đấy,” cậu bảo, quay sang người bạn trai. “Và khúc dạo ngắn ngủi này,” cậu nói, trước khi bắt đầu cất tiếng đàn, “có thể thay đổi đời anh đấy. Em nghĩ nó thay đổi đời em mỗi lần em đàn nó.”
Cậu đang nói với tôi ư?
Làm thế nào mà cậu biết về cuộc đời tôi? Nhưng rồi, chắc hẳn cậu đã biết – và tôi muốn cậu ấy biết. Cách âm nhạc đã thay đổi đời tôi mang một ý nghĩa rõ ràng tới không thể diễn tả nổi ngay khoảnh khắc cậu nói với tôi những lời ấy, và dẫu tôi đã nhận ra chính những từ ngữ ấy sẽ trốn chạy khỏi tôi chỉ trong chốc lát, như thể ý nghĩa của chúng sẽ vĩnh viễn mắc kẹt vào những giai điệu, vào một đêm Upper West Side khi một chàng trai trẻ đàn cho tôi nghe một đoạn nhạc tôi chưa từng biết và giờ thì ước ao giai điệu ấy sẽ mãi ngân vang. Hay là bởi một đêm mùa thu được thắp sáng lên bởi nhạc của Bach, hay là sự mất mát một căn nhà trống chứa đầy những người tôi đã dần trở nên thân thiết và thậm chí còn yêu quý hơn ngay lúc này nhờ có sự an ủi của âm nhạc? Hay âm nhạc chỉ là một điềm báo trước cho một điều được gọi là cuộc đời, cuộc đời trở nên rõ ràng hơn, chân thực hơn – hay dân không thực nữa - bởi vì những giai điệu và bùa mê đã bị nhốt lại trong những khuông nhạc ấy? Hay chính bởi gương mặt cậu, chính gương mặt cậu khi nhìn lên tôi và nói rằng, Nếu anh muốn thì em sẽ đàn lại cho anh?
Hoặc có lẽ ý cậu là thế này: Nếu âm nhạc không thể thay đổi anh, ít nhất nó sẽ nhắc anh nhớ một điều sẽ luôn luôn thuộc về anh và dẫu có vô tình để lạc mất, nhưng thực ra nó sẽ không bao giờ biến mất và vẫn sẽ đáp lại khi được chào đón bằng những nốt nhạc đúng, như một linh hồn nhẹ nhàng khuấy động một giấc ngủ quá sâu chỉ bằng cái chạm nhẹ của đầu ngón tay và những khoảng lặng yên đúng đắn nằm giữa những nốt nhạc. Em sẽ đàn lại cho anh. Một người đã nói những lời ấy hai thập kỷ trước: Đây là Bach được cải biên bởi em.
Khi tôi nhìn sang Erica đang ngồi cạnh mình trên vỏ của bộ tản nhiệt và rồi nhìn sang Paul bên cây dương cầm, tôi cũng muốn cuộc đời họ sẽ thay đổi vì đêm nay, vì âm nhạc, vì tôi. Hoặc có lẽ tất cả những gì tôi khát khao là nhờ họ mang lại chút gì đó từ quá khứ của tôi, bởi vì nó là quá khứ, hoặc thứ gì đó như quá khứ, như ký ức, hoặc có lẽ không chỉ là ký ức, mà ẩn dưới những tầng và những lớp sâu hơn, như một dấu chìm vô hình của cuộc đời mà tôi mãi vẫn không thể nhìn thấy được.
Một lần nữa em lên tiếng. Là em, phải không, chính là em mà anh đang kiếm tìm, là em mà âm nhạc đêm nay đã gọi về.
Tôi nhìn hai người và biết rằng họ không hiểu. Chính tôi cũng không thể hiểu. Tôi biết cây cầu nối liền cả ba đã được định trước sẽ mong manh và dễ dàng sụp đổ rồi bị cuốn theo dòng nước ngay sau đêm nay, tất cả những thân thiết và gắn kết bởi prosecco, âm nhạc, và các món ăn nhẹ của bác sĩ Chaudhuri sẽ tiêu tan. Mọi thứ sẽ trở lại với nguyên trạng trước kia khi chúng tôi bàn về kem đánh răng và cười đùa về giáo viên yoga xấu tính, người có hơi thở không dễ chịu chút nào, phải không, Erica đã nói vậy, ngay khi chúng tôi gặp lại nhau sau buổi tập.
Bây giờ, khi Paul vẫn đang đàn, tôi nghĩ về ngôi nhà của chúng tôi ở New Hampshire và mọi thứ sẽ trở nên xa cách và buồn bã nhường nào khi tôi nhìn ra cảnh đêm bên dòng Hudson và nghĩ về những đồ đạc chúng tôi sẽ phải dỡ xuống ngay khi về nhà, và vẻ bụi bặm trống rỗng của căn nhà, và tất cả những bữa tối cuối tuần vội vã mặt đối mặt với nhau vì mấy đứa trẻ phải ở lại trường. Chúng tôi gần gũi, nhưng cũng thật xa lạ, những nồng nàn liều lĩnh, những nhiệt thành, cười cợt điên cuồng, những lần chạy đua tới quán rượu đêm Arrigo chỉ để gọi khoai chiên và hai ly martini, cách chúng biến mất nhanh thế nào những năm qua. Tôi đã nghĩ hôn nhân sẽ mang cả hai lại với nhau và tôi sẽ bắt đầu thay đổi để trở nên tốt đẹp hơn. Tôi cũng nghĩ sống một thời gian ở New York mà không vướng bận con cái sẽ mang cả hai trở lại như xưa. Nhưng tôi lại gần gũi với âm nhạc, với dòng Hudson, với hai người họ, với người tôi không hề quen biết, và cũng chẳng quan tâm về đời họ thế nào, anh chàng Clive ra sao, về nhân tình hay chồng con họ. Thay vì thế, khi khúc nhạc dạo đầu như lấp đầy căn phòng và gắn kết tất cả lại, tâm trí tôi trôi về nơi nào đó khác, như nó vẫn thường như vậy khi tôi quá chén và nghe được tiếng dương cầm ngang qua đại dương và biển cả và những năm tháng đã qua về lại bên một cây Steinway cũ được đàn bởi một người mà, như một linh hồn được mang về bởi Bach đêm nay, sẽ mãi lang thang trong phòng khách trơ trọi này để nhắc tôi một điều: Hai ta vẫn vậy, chưa hề đổi thay. Đây chính là điều em luôn nói với tôi vào những lúc như bây giờ, Ta vẫn mãi vậy, chẳng hề đổi thay – với một chút trớ trêu nhẹ nhàng hiện trên nét mặt. Suýt nữa em đã nói ra điều ấy năm năm trước, khi tới thăm tôi ở New Hampshire.
Mỗi lần tôi đều cố gắng nhắc em nhớ rằng em không có lý do gì để tha thứ cho tôi.
Nhưng em chỉ bật cười, lảng tránh sự phản kháng của tôi và, không bao giờ tức giận, mỉm cười, cởi áo mình, ngồi vào lòng tôi, áp đùi em lại với tôi và vòng hai tay qua eo tôi khi tôi cố gắng tập trung vào giai điệu và người phụ nữ bên cạnh mình, rồi ngước lên nhìn tôi như thể muốn hôn lên môi, thì thầm, Đồ ngốc, cần tới hai người bọ để tạo ra em. Em có thể là người đàn ông và phụ nữ, hoặc cả hai, vì với em, anh cũng vậy.
Tìm em, Oliver. Hãy tìm em.
Em đã tới thăm tôi nhiều lần trước kia nhưng không như thế này, không như đêm nay.
Nói gì đi, làm ơn hãy nói gì thêm với anh, tôi muốn nói. Tôi có thể, nếu như thay mặc chính mình, ấp ủ em bằng những lời vỗ về và tới bên em bằng những cách khác. Tôi đã uống đủ say đêm nay để tin rằng em sẽ chẳng cần gì hơn là được nghe tin tôi. Ý nghĩ ấy khiến tôi phấn khích, và âm nhạc khiến tôi phấn khích, và người nghệ sĩ dương cầm trẻ khiến tôi phấn khích, Tôi muốn dẹp bỏ sự lặng yên này.
Em luôn lên tiếng trước. Nói gì với anh đi. Gần ba giờ sáng rồi, ở chỗ em. Em đang làm gì? Em có một mình không?
Hai từ em nói thôi và tất cả mọi người sẽ trở nên vô nghĩa, kể cả anh, đời anh, công việc, nhà cửa, bạn bè, vợ anh, những đứa trẻ, súng lửa và thuyền Hy Lạp, và mối tình nhỏ nhoi với chàng Paul và nàng Erica này, mọi thứ sẽ trở thành một bức màn, cho tới khi chính cuộc đời hóa thành một lần lạc lối.
Và tất cả còn lại chỉ là, mình em thôi. .
Tất cả những gì anh nghĩ tới là em
Em có đang nghĩ về anh đêm nay không? Anh có đánh thức em không?
Nhưng không có ai trả lời.
“Em nghĩ anh nên gặp Karen bạn em,” Micol bảo. Tôi đùa cợt về sự hiện diện của cô nàng Karen này. “Em cũng nghĩ anh uống đủ rồi đấy,” nàng đang bực.
“Và anh thì nghĩ mình sẽ uống thêm chút nữa, tôi bảo, quay sang nói chuyện với cặp chuyên gia về người nước ngoài gốc Do Thái từ thời Đế chế thứ ba và, chẳng biết tại sao, bắt đầu cười không ngừng. Hai người này đang làm cái quái gì ở nơi sẽ sớm trở thành nhà cũ của tôi thế này?
Tay cầm một ly prosecco khác, tôi bước tới và trò chuyện với người bạn của Micol. Nhưng rồi khi quay lại và thấy những học giả về người nước ngoài gốc Do Thái từ thời Đế chế thứ ba, tôi lại cười không ngừng một lần nữa.
Quả thực tôi đã uống quá nhiều.
Tôi lại nghĩ về vợ mình và mấy đứa trẻ ở trường. Ở nhà, mỗi ngày, nàng sẽ ngồi đọc sách. Rồi nàng sẽ để tôi đọc, và bảo, khi cả hai trở về thị trấn với ngôi trường đại học nhỏ cùng ủng đi tuyết, với những bữa tối, với những buổi gặp mặt cùng giảng viên, với nhà tắm, với chiếc giường của chúng tôi khi mà chưa kịp tháo ủng đi tuyết ra, và tất cả mọi thứ đêm nay sẽ là một ảo ảnh từ một cuộc đời khác. Erica sẽ thuộc về quá khứ, Paul cũng sẽ bị nhốt lại nơi đó, và tôi không gì hơn sẽ chỉ là một cái bóng níu chặt vào bức tường này, nó sẽ không còn gặp lại tôi vào ngày mai, nhưng vẫn sẽ không buông bỏ, như một con ruồi vật lộn với miếng dán sẽ cuốn nó theo. Liệu họ sẽ nhớ chứ?
Paul hỏi sao tôi lại cười.
“Chắc vì vui,” tôi đáp. “Hoặc quá nhiều prosecco.” “Đây cũng thế.”
Cả ba cùng cười.
Tôi nhớ rằng sau bản Arioso và khúc dạo đầu, sau những lời chúc nâng ly vô kể và rất nhiều rượu prosecco, đã có một thoáng ngại ngùng xảy đến khi tôi giúp Erica tìm áo khoác trong phòng khách. Hai người khách đã ra về, những người khác vẫn nán lại ở hành lang, chờ đợi. Chỉ còn chúng tôi trong phòng, và, khi tôi bảo em đến làm tôi vui biết bao, tôi đã để sự yên lặng giữa cả hai kéo dài quá lâu. Tôi biết em không thấy thoải mái nhưng em vẫn sẽ không phiền nếu nó kéo dài thêm vài giây nữa. Nhưng tôi quyết định sẽ không đẩy mọi chuyện quá xa và thay vì vậy tôi nhận ra mình hôn em tạm biệt không phải lên má mà lên vùng cổ hở ra của em. Em mỉm cười, khi tôi cũng cười. Tôi cười để xin thứ lỗi, còn em là để bỏ qua.
Khi đến lúc chào tạm biệt Paul, tôi đưa tay ra định bắt tay, nhưng cậu ôm lấy tôi trước cả khi tay chúng tôi chạm nhau. Tôi thích với cậu ấp vào mình khi cả hai ôm nhau. Rồi cậu hôn tôi lên hai má. Bạn trai cậu cũng hôn chào tôi như vậy.
Tôi đang mơ màng, hồi hộp, và tan nát. Tôi đứng lại bên cửa và nhìn bốn người bọn họ bước dọc xuống hành lang. Chúng tôi không bao giờ gặp lại.
Tôi muốn gì ở họ? Muốn họ trở nên thân thiết để tôi có thể ngồi xuống, nhâm nhi prosecco, và rồi quyết định có nên tham gia vào bữa tiệc của họ không ư? Hay có phải tôi đều thích cả hai và không thể quyết định tôi khao khát ai hơn? Hay thực ra tôi chẳng thích ai cả nhưng cần phải nghĩ rằng mình có thích, vì nếu không tôi sẽ phải nhìn lại cuộc đời mình để chứng kiến những hố sâu khổng lồ, trống rỗng dọc con đường trở lại nơi tình yêu bị thương tổn, hủy hoại mà tôi đã kể với họ lúc trước.
Micol và cô nàng Karen đang dọn dẹp trong bếp. Tôi bảo họ cứ để bát đĩa đấy. Karen thẳng thắn rằng muốn nói chuyện với tôi một lần nữa. “Có lẽ sớm nhé?” cô bảo. “Ngay khi tôi quay về thành phố,” tôi đáp. Tôi nói dối.
Micol tiễn người bạn tới thang máy rồi trở lại, định giúp tôi dọn dẹp một chút trước khi đi ngủ. Tôi bảo nàng cứ để tôi.
“Tiệc vui đấy,” nàng nói.
“Rất vui.”
“Thế, hai người đấy là ai?”
“Trẻ con ấy mà.”
Nàng mỉm cười tinh ý. “Em đi ngủ đây, anh ngủ luôn chứ?”
Anh cần phải dọn nốt, tôi bảo, nhưng sẽ vào ngay. Tôi cất gọn những chiếc đĩa nhựa vào hai túi để đồ còn thừa lại sau lần dọn nhà và, khi đang định tắt đèn trong phòng khách, tôi bỗng thấy một bao thuốc lá nằm trên bàn gần chiếc gạt tàn duy nhất còn lại trong căn hộ, chắc hẳn là của Karen. Tôi lấy một điếu, châm nó, tắt hết đèn, đặt chiếc gạt tàn cạnh mình trên chiếc sofa cũ không còn thuộc sở hữu của chúng tôi nữa, gác chân lên một trong bốn chiếc ghế sẽ ở lại với người chủ mới của chúng, và bắt đầu ngẫm nghĩ về bản Arioso mình đã nghe từ rất lâu về trước. Rồi khi ngồi trong căn phòng nhập nhoạng, tôi nhìn ra ngoài và nhận ra hôm nay là trăng tròn. Lạy Chúa, mới đẹp làm sao. Và càng ngắm nhìn, tôi càng tha thiết muốn được chuyện trò cùng nó.
Ta không thay đổi được cuộc đời cậu, phải không? Ông nhạc sĩ già khôn ngoan Johann Sebastian lên tiếng.
E rằng là vậy.
Và tại sao?
Âm nhạc không đưa ra câu trả lời cho một câu hỏi chính tôi cũng không biết đặt ra thế nào. Nó không cho tôi biết mình muốn gì. Nó nhắc nhở tôi rằng có lẽ mình vẫn yêu, dù cho tôi không còn biết yêu là gì. Tôi luôn nghĩ về mọi người, dẫu cho người tội đã tổn thương nhiều hơn những người tôi quan tâm rất nhiều. Tôi còn không biết mình đang cảm thấy gì, dù đôi lúc tôi vẫn luôn cảm thấy gì đó, giống như một cảm giác thiếu thốn và mất mát, có lẽ cả thất bại, chai sạn, hoặc gì đó hoàn toàn vô bình. Tôi đã từng chắc chắn về chính mình, tôi đã nghĩ mình hiểu chuyện, biết mình, và mọi người yêu cái cách tôi với ra để chạm vào bộ khi lướt qua cuộc đời bọ mà chẳng màng xin phép bay nghi ngờ liệu có được chào đón không. Âm nhạc nhắc tôi về một cuộc đời đáng lẽ tôi đã có. Nhưng nó không thể thay đổi điều gì.
Có lẽ, những thiên tài đã nói, âm nhạc không đổi thay ta nhiều tới vậy, thậm chí cả những tác phẩm nghệ thuật vĩ đại cũng không. Thay vì vậy, nó nhắc ta nhớ về những người, mà dẫu cho chối bỏ hay phủ nhận, ta sẽ luôn luôn biết chúng ta đã từng và sẽ mãi thuộc về. Nó nhắc ta về những mốc đường mà ta đã chôn giấu và rồi đánh mất, về những người và những vật sẽ luôn quan trọng dẫu cho những dối trá, những tháng năm đã qua. Âm nhạc không gì hơn chính là âm thanh của sự hối tiếc ta đặt trong một giai điệu có thể khuấy động lên những ảo mộng về hạnh phúc và hy vọng. Nó chính là lời nhắc nhở xác đáng nhất rằng ta chỉ ở lại đây một thời gian rất ngắn ngủi và rằng ta đã bị bỏ rơi hoặc phản bội hoặc, tệ hơn là, không thể sống chính cuộc đời mình. Âm nhạc là một cuộc đời không được sống qua. Cậu đã sống sai một cuộc đời, bạn thân mến, và gần như đã hủy hoại cuộc đời mà cậu đáng ra nên sống.
Tôi nên làm gì? Ông có biết câu trả lời không, Herr Back? Liệu có gì là đúng hay sai trên đời này không?
Ta là một nghệ sĩ, bạn thân mến, ta không đưa ra câu trả lời. Nghệ sĩ chỉ đặt ra câu hỏi thôi. Và còn nữa, chính cậu đã biết câu trả lời rồi.
Trong một thế giới tốt đẹp hơn, Erica sẽ ngồi trên sofa bên trái tôi, và Paul sẽ ngay bên phải, cách đó không xa là chiếc gạt tàn. Em sẽ tháo giày ra và đặt chân lên cạnh chân tôi, gác trên chiếc bàn trà. Chân em, em lên tiếng, biết rằng chúng tôi đang chăm chú nhìn chúng. Xấu xí, đúng không? em nói. Không xấu chút nào, tôi nói. Tôi đang cầm tay em. Vẫn rảnh một tay, nhưng rồi cũng sẽ đặt nó lên trán cậu. Khi em tựa vào vai tôi, cậu quay lại, nhìn tôi, rồi hôn tôi lên môi. Một nụ hôn nồng nàn và chân thành. Chúng tôi không thấy ngại khi em đang nhìn. Tôi muốn em nhìn. Lúc đầu em yên lặng, rồi, Em cũng muốn cậu ấy bôn em. Cậu mỉm cười với em, và gần như với qua người tôi để hôn em lên môi. Sau cùng em sẽ bảo em thích cậu hôn. Đúng vậy, tôi nói. Nhưng cậu ấy có mùi thuốc lá. Tại tôi đấy, tôi nói. Em không thích mùi thuốc à? câu hỏi. Em có thích, em đáp. Tôi hôn em. Em không bận tâm gì vì tôi mang mùi thuốc. Tôi đang nghĩ, hương tiểu hồi. Tôi muốn em nếm vị hồi hương của cậu, từ miệng cậu tới môi em rồi tới môi tôi, rồi trở lại khuôn miệng cậu.
Đêm ấy, tôi đi ngủ và nghĩ về cả ba trần trụi trên giường. Chúng tôi ôm ấp, nhưng rồi cuối cùng cả hai cuộn lại vào tôi, áp sát đùi vào với tôi. Mọi thứ có thể diễn ra dễ dàng thế nào, và tự nhiên ra sao, như thể cả hai đều đã tới ăn tối đơn giản thế thôi. Tại sao quá nhiều dự tính, và quá nhiều kế hoạch, và cả những lo sợ khi mà, mới vài giờ trước, tôi chỉ có thể bất lực đứng nhìn. Tôi yêu ý nghĩ về những giọt mồ hôi của cậu và em hòa quyện với mồ hôi tôi. Dẫu vậy tất cả những gì tôi tập trung vào là gót chân của họ. Chân em, khi tháo giày và gác chúng lên bàn, chân cậu khi bước vào ngay khi buổi tối bắt đầu và tôi nhận thấy cậu đi giày bệt nhưng không mang tất. Tôi không hề biết bàn chân ấy nhỏ nhắn, mịn màng và nhẹ nhàng ra sao. Sau đó, cậu cũng sẽ cởi giày trước khi gác chân lên bàn trà, một bên mắt cá chân thon thả, rám nắng hơn bên còn lại. Nhìn này, cậu sẽ nói, ngọ nguậy những ngón chân. Chúng tôi bật cười. Chân con trai, em nói. Em biết, cậu đáp. Một lần nữa cậu dịch người gần lại, cuộn đầu gối vào bên trong đùi tôi, và hôn tôi.
Tôi không nhớ đêm ấy mình đã mơ về điều gì, nhưng tôi biết rằng, suốt đêm và suốt những lần chập chờn bật dậy vô kể, tôi đã yêu cả hai bọn họ, cùng nhau hay riêng lẻ từng người tôi cũng không rõ, bởi vì có gì đó quá đỗi chân thành trong cách họ chẳng rụt rè hiện diện trong vòng tay tôi tới nỗi khi tỉnh dậy lúc nửa đêm ôm lấy vợ mình, tôi biết, ngay từ lúc tôi cảm nhận được tối ấy, rằng sẽ chẳng có gì là khó tin khi bắt đầu chuẩn bị bữa sáng cho bốn chúng tôi trong một căn bếp sẽ gợi nhắc tôi về một ngôi nhà ở Italy.
Tôi nghĩ về Micol. Nàng sẽ không có chỗ Ở đấy. Italy là một chủ đề chúng tôi sẽ không bao giờ nói tới. Nhưng nàng biết. Biết về một ngày định mệnh - nàng luôn biết vậy, và chắc chắn là biết rõ hơn tôi. Tôi đã từng muốn kể với nàng về những người bạn cũ của mình, về ngôi nhà của họ bên bờ biển, và về căn phòng tôi đã ở, và về một người phụ nữ nơi đó, người mà những năm tháng ấy đã giống như mẹ của tôi nhưng giờ lại mắc bệnh đãng trí và khó có thể nhớ tên chính mình, về chồng của bà, người mà, trước khi qua đời, đã sống chung mái nhà với một người phụ nữ khác, người vẫn còn sống ở đấy với đứa con trai bảy tuổi mà tôi tha thiết muốn gặp.
Anh cần trở lại, Micol ạ.
Tại sao?
Bởi vì cuộc đời anh đã dừng lại ở đấy. Bởi vì thực ra anh chưa từng rời đi. Bởi vì những gì anh có ở nơi này giống như một chiếc đuôi bị cắt lìa từ một con thằn lằn thay da và nó đang giãy giụa, trong khi cơ thể nó nằm lại bên kia Đại Tây Dương, ngay cạnh ngôi nhà xinh đẹp nhìn ra biển. Anh đã ra đi quá lâu rồi.
Anh đang rời bỏ em sao?
Anh nghĩ vậy.
Và cả mấy đứa trẻ nữa?
Anh sẽ luôn là cha chúng.
Và chuyện sẽ xảy ra khi nào? Anh không biết. Sớm thôi. Em không thể nói là mình thấy ngạc nhiên. Anh biết.
Đêm ấy, khi khách khứa đã về hết và Micol đã ngủ, tôi tắt hết điện ở lối vào và đang định khép lại cửa chớp hướng ra bao lớn thì nhớ ra cần phải tắt nến. Tôi lại bước ra ngoài, nhìn ra bờ sông, đặt hai tay lên lan can nơi mới vừa rồi còn đứng cạnh Erica và Paul, và ngắm nhìn về phía dòng nước. Tôi thích ánh sáng rọi từ bên kia dòng Hudson, thích làn gió nhẹ trong lành, thích Manhattan vào thời điểm này trong năm, thích cảnh tượng của cây cầu George Washington, những điều mà tôi biết mình sẽ nhung nhớ khi trở về New Hampshire dẫu cho ngay lúc này, ngay đêm nay, vẫn gợi nhắc tôi về Monte Carlo khi những ánh sáng lấp lánh của nó rọi về Italy đêm ấy. Sớm thôi, trời sẽ trở lạnh ở Upper West Side và sẽ có những ngày mưa, nhưng cuối cùng thì thời tiết nơi đây sẽ luôn quang đãng và mọi người vẫn sẽ dạo quanh phố phường lúc đêm muộn se lạnh ở thành phố không bao giờ say ngủ này.
Tôi đẩy những chiếc ghế gọn lại, với lấy ly rượu với một nửa trên sàn, và thấy một ly khác được dùng để làm gạt tàn và đầy những mẩu thuốc. Đã bao nhiêu điếu được hút bên ngoài kia rồi? Người giáo viên yoga, Karen, Micol, cặp vợ chồng tôi gặp Ở hội thảo về người nước ngoài gốc Do Thái từ thời Đế chế thứ ba, hai ông bà ăn chay trường, và ai nữa?
Giờ, khi tôi ngắm nhìn cảnh vật và hai chiếc tàu kéo lặng lẽ ngược dòng, tôi nghĩ về một ngày năm mươi năm sau này, một ai đó khác chắc chắn sẽ đứng ở ngay bao lơn đây ngắm nhìn chính cảnh vật này, nghĩ suy những nỗi niềm giống như tôi, nhưng đó sẽ không phải tôi. Người đó sẽ mới tuổi thiếu niên hay đã ngoài tám mươi, hay sẽ bằng tuổi với tôi bây giờ, và liệu anh, có như tôi, vẫn mòn mỏi về một mối tình xa xăm và duy nhất, cố gắng không nghĩ về một linh hồn vô danh mà, như tôi đêm nay năm mươi năm trước, đã khát khao về một người dấu yêu và cố gắng, như tôi đã cố và luôn thất bại bao năm qua, cố không trăn trở về điều đó.
Quá khứ, tương lai, điều gì khiến chúng như vậy.
Và hai người họ sẽ ở màn nào, Erica và Paul. Mọi thứ đều chỉ là một bức màn, và chính cuộc đời này là một lần lạc lối.
Điều quan trọng bây giờ lại không được sống.
Tôi nhìn lên mặt trăng và định hỏi về cuộc đời mình. Nhưng câu trả lời của nàng đến trước cả khi tôi kịp đặt ra câu hỏi gì. Suốt hai mươi năm qua anh đã sống như một người chết. Ai cũng biết. Kể cả vợ con anh và những người bạn của bọ, cặp đôi anh gặp ở hội thảo về người nước ngoài gốc Do
Thái từ thời Đế chế thứ ba cũng có thể thấy điều ấy hiện trên gương mặt anh. Erica và Paul biết điều ấy, và những bọc giả nghiên cứu súng lửa và thuyền trireme Hy Lạp, kể cả những triết gia tiền Socrates, dẫu đã chết bại ngàn năm trước, cũng biết. Người duy nhất không biết chính là anh. Nhưng giờ thì cả anh cũng biết rồi.
Anh đã dối lừa.
Với cái gì, với ai?
Với chính mình.
Tôi còn nhớ vài ngày trước, khi đi mua hộp đóng đồ và băng dính, tôi đã thấy ai đó mình quen bên kia phố. Tôi vẫy chào nhưng anh không đáp và cứ bước đi, dẫu cho có nhìn thấy tôi. Có lẽ anh giận tôi gì đó. Nhưng mà giận gì? Lát sau tôi gặp một người khác rời đi từ khóa của mình và hướng về hiệu sách. Chúng tôi ngang qua nhau gần một hàng hoa quả bên vỉa hè và, dẫu ông nhìn thấy, nhưng lại không đáp lại nụ cười chào hỏi của tôi. Một lát sau nữa tôi gặp một người hàng xóm từ tòa nhà của mình đang đi dạo; chúng tôi thường chào nhau trong thang máy, nhưng bà không nói gì hay gật đầu lại khi tôi nói xin chào. Tôi bỗng nhận ra rằng chỉ có thể là tôi đã chết và đây chính là cái chết: ta thấy mọi người nhưng họ thì không, và tệ hơn, ta kẹt lại vào chính mình ngay thời khắc ta chết – khi đi mua hộp các tông và ta sẽ không bao giờ trở thành người mà đáng ra đó mới là chính mình và biết rằng đó vẫn mãi là chính mình bấy lâu nay, và ta sẽ không bao giờ có thể sửa chữa một sai lầm đã khiến đời ta rơi vào bất định và giờ thì ta đã kẹt lại với việc làm ngu xuẩn này mãi mãi, đi mua hộp đóng đồ và băng dính. Tôi đã bốn mươi tư. Tôi đã chết – và chết quá trẻ, quá trẻ để chết.
Sau khi khép cửa chớp, tôi lại nghĩ về bản Arioso của Bạch và bắt đầu ngâm nga nó trong đầu. Ngay lúc ấy, khi chúng tôi một mình và tâm trí thì lang thang ở một nơi khác, đối mặt với sự vĩnh cửu và sẵn sàng cân nhắc về cuộc đời này và về tất cả những điều chúng tôi đã làm, gần xong hoặc đã bỏ cuộc, câu trả lời của tôi cho tất cả những câu hỏi mà ông bạn già Bach nói rằng tôi đã biết lời đáp là gì.
Một người, một cái tên – em biết, tôi nghĩ. Ngay bây giờ, em biết, em luôn biết.
Tìm em, em bảo.
Anh sẽ tìm, Oliver, anh sẽ tìm, tôi nói. Em còn nhớ không?
Nhưng em luôn nhớ những gì tôi nói. Em nhìn tôi, không bảo gì, tôi biết em cảm động.
Và bỗng nhiên, với giai điệu Arioso vẫn ngân nga trong tâm trí và thêm một ly nữa và một điều nữa của Karen, tôi muốn em đàn bản Arioso ấy cho tôi, rồi tiếp theo là khúc dạo đầu, bản trước kia em chưa từng đàn, và hãy đàn nó cho tôi, cho riêng tôi thôi.
Và càng nghĩ về tiếng đàn của em, càng nhiều nước mắt trào ướt má tôi, và chẳng quan trọng nếu đó là hơi men đang lên tiếng hay là trái tim tôi, cho tất cả những gì tôi muốn nghe từ em, bản Arioso này từ cây Steinway nhà cha mẹ em vào một đêm mưa rả rích mùa hè trong ngôi nhà bên bờ biển, và tôi sẽ ngồi gần lại cây dương cầm với một ly vang và tôi sẽ bên em và không còn cô đơn cùng cực như bao nhiêu, bao nhiêu năm qua, cô đơn giữa những người lạ không hề hay biết dẫu chỉ một chút về tôi hay em. Tôi sẽ bảo em hãy đàn bản Arioso và nhờ vậy sẽ nhắc nhở tôi về đêm nay khi tôi đã dập tắt hết những ngọn nến ngoài bao lơn kia, tắt hết đèn phòng khách, châm một điếu thuốc, và lần đầu tiên trong đời, tôi biết mình thuộc về đâu và phải làm gì.
Chuyện sẽ xảy ra như lần đầu, lần thứ hai lần thứ ba. Bịa ra một lý do đủ đáng tin cho mọi người và cho chính tôi, mua vé máy bay, thuê một chiếc xe, hoặc thuê ai đó để đưa tôi tới, lái về con đường cũ quen thuộc mà chắc hẳn đã ít nhiều đổi thay sau bao năm qua, và rằng chúng vẫn nhớ tôi là ai vì tôi luôn nhớ chúng, và trước cả khi tôi nhận ra, mọi thứ sẽ hiện trước mắt: hàng thông già, tiếng sỏi lạo xạo dưới lốp khi chiếc xe di chuyển chậm lại rồi đỗ hẳn, và rồi ngôi nhà. Tôi nhìn lên, tưởng rằng không có ai, họ không biết tôi tới, dẫu tôi đã viết thư trước, nhưng chắc chắn thôi, em sẽ ở đấy, chờ đợi. Tôi đã dặn em không cần đợi. Tất nhiên em sẽ đợi, em đáp, và trong cái Tất nhiên ấy, tất cả những năm tháng đã qua của chúng tôi sẽ ùa về, bởi vì đã có một dấu vết của niềm trớ trêu câm lặng, nhưng rồi em sẽ nói ra những lời từ đáy tim mình khi chúng tôi bên nhau, nghĩa là Anh biết em sẽ luôn đợi, kể cả nếu anh tới lúc bốn giờ sáng. Bao năm qua, em đã đợi, anh nghĩ em sẽ không đợi thêm chỉ vài tiếng nữa sao?
Chờ đợi là điều ta đã làm suốt đời mình, chờ đợi đã cho anh đứng ở đây và nhớ về giai điệu của Bach ngân nga ở cuối tinh cầu của ta và để những nghĩ suy của anh trôi về với em, vì tất cả những gì anh muốn nghĩ về là em, và đôi khi anh còn không đó biết là suy nghĩ của ai, em hay là anh.
Em đây, em sẽ nói.
Anh đã đánh thức em sao?
Đúng vậy.
Em phiền không?
Không.
Em có đang một mình không? Em sẽ bảo mình đã thay đổi. Nhưng không hề. Anh vẫn chạy. Em cũng thế. Và anh uống nhiều hơn. Cũng vậy.
Quan trọng sao? Nhưng có.
Nhưng ngủ rất ít.
Cũng vậy. Lo lắng, và một chút muộn phiền. Cũng vậy, cũng vậy. Anh sẽ quay lại, phải không?
Sao em biết?
Em luôn biết, Elio a.
Khi nào? Elio hỏi.
Vài tuần tới.
Em muốn anh tới.
Em nghĩ vậy à?
Em biết vậy.
Anh sẽ không tới con đường giữa hàng cây như dự tính. Thay vì vậy, chuyến bay sẽ đáp tại Nice. Vậy em sẽ tới đón anh bằng xe. Lúc ấy sẽ là xế trưa. Giống như lần đầu tiên.
Em còn nhớ.
Em nhớ.
Và anh muốn gặp thằng bé.
Em đã nói với anh tên của nó chưa: Cha em đặt theo tên anh. Oliver. Ông ấy không bao giờ quên anh.
Bấy giờ trời sẽ nắng và không có một bóng râm. Nhưng mùi hương thảo sẽ ngập tràn khắp nơi, và tôi sẽ nhận ra tiếng chim cu gáy và sau nhà sẽ có một vườn hoa oải hương và hướng dương dại ngẩng cao đầu về phía mặt trời. Bể bơi, ngọn tháp chuông được đặt tên là Xứng-đáng-để-chết, tượng đài tưởng niệm những người lính Piave, sân quần vợt, cánh cổng rỉ sét mở lối xuống bãi biển lởm chởm đá, bể tắm đá ướt át vào mỗi chiều, tiếng ve sầu kêu không ngớt, anh và em, cơ thể hai ta.
Nếu em hỏi tôi định ở lại bao lâu, tôi sẽ nói thật. Nếu em hỏi tôi định ngủ chỗ nào, tôi sẽ nói thật. Nếu em hỏi.
Nhưng em sẽ không hỏi. Em không cần hỏi. Em luôn biết.