Tìm Em Nơi Anh

Lượt đọc: 15 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CADENZA

❊ ❊ ❊

Image

“Cậu đang đỏ mặt,” anh nói.

“Không, tôi không có.”

Anh nhìn tôi ngờ vực, thích thú từ bên kia bàn. “Cậu chắc chứ?”

Tôi nghĩ một lúc rồi đành bỏ cuộc. “Tôi cho là vậy, phải không?”

Tôi còn trẻ và ghét bị nhìn thấu dễ dàng, nhất là trong một thoáng yên lặng ngại ngùng với một người gần gấp đôi tuổi mình, nhưng tôi cũng đủ trưởng thành để thoải mái với việc đỏ mặt khi nói điều gì đó mà chính tôi còn lưỡng lự. Rồi tôi nhìn anh.

“Ông cũng đỏ mặt,” tôi nói.

“Tôi biết.”

Đây là chuyện của hai giờ sau.

Tôi gặp anh lúc nghỉ giải lao trong một buổi hòa nhạc thính phòng tại Nhà thờ Thánh U. bên Hữu ngạn sông Seine. Ấy là một hôm Chủ nhật đầu tháng Mười một, chưa se lạnh, nhưng cũng không còn ấm áp, một tối với nét thu tràn đến quá sớm và báo hiệu một tháng đông dài sắp về. Nhiều thính giả đã an vị tại chỗ ngồi và đeo găng tay; một vài người khác còn chưa kịp cởi bỏ mũ. Tuy khí lạnh vẫn ních chật vào không khí xung quanh, nhưng khi mọi người yên lặng ngồi vào các hàng ghế, họ rõ ràng vẫn rất hồi hộp mong chờ buổi biểu diễn. Đây là lần đầu tôi đến nhà thờ này và tôi đã chọn cho mình chỗ ngồi sau cuối, phòng khi âm nhạc không hợp với tôi và tôi muốn rời đi mà không phiền đến người khác.

Tôi tò mò muốn nghe buổi biểu diễn có lẽ là cuối cùng của Tứ tấu Florian. Thành viên trẻ tuổi nhất chắc cũng đã gần tám mươi. Họ thường xuyên chơi trong nhà thờ này, nhưng tôi chưa nghe họ chơi trực tiếp bao giờ và chỉ biết tới nhờ những bản thu âm hiếm hoi, không còn được phát hành và vài buổi diễn khác phát trên website. Họ vừa biểu diễn bản tứ tấu của Haydn và sau thời gian giải lao sẽ chơi bản Đô thăng Thứ của Beethoven. Không như những người khác – mà cũng không có quá bốn mươi người có mặt hôm Chủ nhật đó – tôi tới muộn và mua vé từ một trong những nữ tu ngồi trên chiếc bàn nhỏ cạnh lối ra vào. Gần như mọi thính giả khác đều nhận vé qua thư và vào nhà thờ khi đã cầm sẵn tấm vé bản lớn mà họ sẽ được yêu cầu giữ phẳng khi một nữ tu lưng còng, lớn tuổi sẽ cẩn thận đi chép tên đầy đủ của từng người bằng một chiếc bút máy xanh cũ kỹ. Bà ít nhất cũng đã tám mươi và chắc hẳn đã làm Công việc này hàng thập kỷ, có khi với cùng chiếc bút ấy và theo cùng một vẻ run rẩy, cũ kỹ như thế. Những con số ứng với mã vạch nhỏ trên tấm vé có lẽ là cố gắng để thể hiện một hình ảnh tân thời mà nhà thờ muốn cho các giáo dân chứng kiến, nhưng người nữ tu già đã rất khó khăn chép lại chúng trước khi đóng dấu từng tấm vé. Không ai phàn nàn gì về sự chậm rãi của bà lão và đã có những nụ cười thông cảm trao đi giữa những người chưa đến lượt.

Trong lúc giải lao, tôi xếp hàng để lấy nước quả mà vẫn người nữ tu già vừa rồi đang cẩn thận rót vào những cốc nhựa bằng chiếc muối bà vất vả nhấc lên khi đây. Mọi người đều quyên góp nhiều hơn giá tiền €1 ghi trên mảnh giấy đính ở tấm bảng thông báo được đặt cạnh thùng nước quá lớn. Tôi không thích nước quả lắm, nhưng mọi người khác có vẻ thích, nên tôi cũng đứng đó và chờ tới lượt mình, rồi tôi đặt năm euro vào hộp và bà cảm ơn rối rít. Người nữ tu già tinh ý. Bà lập tức nhận ra đây là lần đầu tôi tới nhà thờ này và hỏi liệu tôi có thích Haydn không. Tôi trả lời ngay là có.

Anh đứng trước tôi trong hàng, và sau khi tôi trả tiền nước quả của mình, anh chỉ quay lại và hỏi, “Tại sao một người trẻ như cậu lại hứng thú với Tứ tấu Florian? Họ già quá rồi.” Rồi, có lẽ nhận ra sự đường đột của câu hỏi, anh nói thêm, “Người chơi vĩ cầm thứ hai – chắc hẳn phải tám mươi. Những người còn lại cũng không thể trẻ hơn được.”

Anh cao, mảnh khảnh và lịch thiệp, một bờm tóc xám trên cổ áo khoác blazer xanh.

“Tôi đã luôn tò mò về người chơi trung hồ cầm và nghe đồn rằng cuối năm nay họ sẽ đi lưu diễn và sau đó có thể là thôi chơi, và cơ hội nghe tận nơi biết đâu sẽ không bao giờ tới nữa. Nên tôi đã đến.”

“Không phải người tuổi cậu có nhiều thứ hay hơn để làm sao?”

“Người tuổi tôi á?” tôi hỏi, giọng ra ý ngạc nhiên và trớ trêu.

Một thoáng yên lặng ngại ngùng giữa chúng tôi. Anh nhún vai, có lẽ đây là cách anh xin lỗi mà không cần nói ra, và có vẻ như anh định quay đi và tới chỗ cổng nơi người ta hút thuốc, một vài người đang tán dóc và giãn gân giãn cốt. “Chân ta thường sẽ bị lạnh khi ngồi lâu trong nhà thờ,” anh nói khi quay lại và đi tới chỗ cửa. Đấy là một câu chào bâng quơ.

Rồi nhận ra có lẽ tôi đã hắt hủi anh bằng giọng điệu của mình, tôi hỏi, “Ông thích nhóm Florian phải không?”

“Không hẳn. Tôi còn không thích âm nhạc thính phòng. Nhưng tôi cũng biết kha khá về họ vì cha tôi thích nhạc cổ điển và đã hỗ trợ kinh phí cho những buổi diễn ở nhà thờ này, và giờ thì tôi cũng làm vậy, dù thật lòng thì tôi thích jazz hơn. Nhưng tôi tới đây vì trước tôi hay theo ông tới vào những tối Chủ nhật khi tôi còn trẻ, và giờ cách vài tuần tôi lại tới để nghe, có lẽ là để tưởng tượng được cạnh ông ấy một lúc – nhưng tôi chắc đây hẳn là một lý do ngớ ngẩn để tới nghe họ chơi.”

Cha ông từng chơi nhạc cụ gì, tôi hỏi.

Dương cầm.

“Cha tôi không bao giờ chơi ở nhà. Nhưng mỗi cuối tuần, khi chúng tôi còn ở trong nước, lúc tối muộn ông sẽ đến góc nhà và từ phòng ngủ của tôi trên gác, tôi có thể nghe tiếng đàn như thể nó được chơi bởi một người bơ vơ, lén lút và luôn sẵn sàng dừng ngay khi anh ta nghe thấy có bước chân từ trên lầu. Ông không bao giờ kể gì về chuyện ấy, và mẹ tôi cũng chưa từng nhắc tới, và điều tốt nhất tôi có thể làm vào mỗi sáng là nói rằng con lại mơ về cây dương cầm tự chơi khi không có người. Tôi nghĩ ông ấy ước rằng mình đã tiếp tục chơi nhạc chuyên nghiệp, cũng như chắc hẳn ông muốn tôi cũng sẽ yêu âm nhạc cổ điển. Ông là người hiếm khi áp đặt ý mình lên người khác, chứ chưa nói là nói chuyện với một người lạ – hoàn toàn không như con trai mình, chắc cậu cũng để ý.” Lúc ấy anh cười. “Ông rất tế nhị nên không mời tôi đến xem những buổi biểu diễn cùng ông vào Chủ nhật, và chấp nhận đi một mình. Nhưng mẹ tôi không muốn ông ra ngoài lúc khuya mà không có ai đi cùng, nên bà bảo tôi đi theo. Cuối cùng thì chuyện ấy trở thành một thói quen. Sau buổi diễn ông sẽ mua cho tôi bánh ngọt. Chúng tôi sẽ ngồi với nhau một chỗ gần đây thôi, và, khi tôi lớn hơn một chút, hai cha con sẽ cùng đi ăn tối. Nhưng ông không bao giờ kể về thời còn chơi dương cầm, và hơn nữa, tâm trí tôi cũng luôn thơ thẩn đâu đâu vào những năm tháng ấy. Tối Chủ nhật luôn luôn là lúc để hoàn thành bài tập vào phút chót, nên tới đây cùng ông nghĩa là tôi sẽ phải thức khuya để làm bài mà đáng lẽ tôi có thể đã xong từ trước. Nhưng tôi mừng khi được ở bên ông, hơn là được nghe nhạc, và cậu thấy đấy, tôi vẫn men theo thói quen ấy. Tôi nói nhiều quá rồi, phải không?”

“Ông có chơi nhạc không?” tôi hỏi, để anh biết rằng tôi không thấy phiền khi anh nói.

“Không hẳn. Tôi nối nghiệp cha mình. Ông ấy là luật sư, cha của ông cũng là luật sư, và rồi tôi cũng vậy. Cả hai cha con tôi đều không muốn làm cái nghề này, nhưng vậy đấy... đời mà!” Anh cười đắm chiêu. Đây là lần thứ hai anh cười và rồi lại nhún vai. Nụ cười ấy tươi tắn, đáng mến và đột ngột sẽ khiến ta như mất cảnh giác, nhưng với sự trớ trêu ẩn dưới từ đời mà, xem ra có rất ít niềm vui trong đó. “Thế còn cậu chơi gì?” anh hỏi, đột nhiên quay sang tôi. Tôi không muốn cuộc trò chuyện kết thúc và lấy làm bất ngờ khi nhận ra anh cũng vậy.

“Dương cầm,” tôi đáp.

Công việc hay thú vui?”

“Công việc. Mong là vậy.”

“Đừng từ bỏ, chàng trai, đừng.” Nói vậy rồi anh đặt một cánh tay nhẹ nhàng lên vai tôi như thể chiếu lệ. Tôi không biết vì sao, nhưng tôi với tới bàn tay đang đặt lên vai mình và chạm vào nó. Mọi chuyện thật tự nhiên, tôi quay lại nhìn anh và cả hai mỉm cười, thế có nghĩa là bàn tay anh, đúng ra nên rời đi, thì có thể nán lại một lúc. Anh quay đi nhưng rồi lại nhìn tôi, và bỗng nhiên tôi thấy có gì như thôi thúc mình lao vào lòng anh và quàng tay ôm eo anh ngay bên dưới lớp áo khoác. Chắc hẳn anh cũng cảm thấy gì đó, vì trong sự yên lặng ngại ngùng sau điều anh vừa nói, anh nhìn tôi chăm chú và tôi cũng vậy, không nao núng, tới khi tôi nhận ra biết đâu mình đã hiểu lầm tất cả những tín hiệu này và bắt đầu muốn quay đi. Dẫu vậy, tôi thích khi mắt anh vẫn còn ngắm nhìn mình, chúng khiến tôi cảm thấy mình thật đẹp đẽ và làm mê đắm, có gì đó mềm mại, nựng nịu mà tôi muốn níu lấy và không muốn thoát khỏi trừ phi là để vùi vào ngực anh. Tôi như một lời hứa, trong cách anh nhìn, về một thứ gì đó thật tốt đẹp và chân thành.

Nhưng rồi, có lẽ để vội vàng biện minh cho nụ cười ấy, anh bảo, “Cậu tới đây vì âm nhạc còn tôi tới vì cha mình. Ông mất đã gần ba mươi năm, nhưng rồi nơi này chẳng thay đổi gì.” Anh cười. “Vẫn món nước quả ấy, vẫn mùi hương, những bà nữ tu già, vẫn những đêm tháng Mười một ngột ngạt. Cậu thích tháng Mười một chứ?”

“Đôi khi, nhưng không phải mọi lúc.”

“Tôi cũng vậy. Tôi còn không thích nhà thờ, dù cho tôi thích tới đây vào những tối thế này... và, chà, me voici, tôi đã tới.” Tôi nhận thấy anh đã hết thứ để nói và đang mò mẫm kéo dài câu chuyện. Yên lặng. Một lần nữa lại là nụ cười ấm áp, quyến rũ, pha trộn giữa khôn ngoan, trớ trêu, và một chút buồn để nhắc tôi rằng chẳng có gì vui tươi về người đàn ông lịch thiệp, và có thể là không hạnh phúc này.

Khi chúng tôi thấy nhóm tứ tấu trở vào vị trí và đã đến lúc cho Beethoven, anh hỏi tôi đang ngồi đâu. Tôi không hiểu anh hỏi để làm gì, nhưng rồi cũng chỉ về chỗ ở góc dưới những hàng ghế cuối nơi tôi để ba lô và áo khoác.

“Lựa chọn khôn ngoan.” Anh hiểu. “Nhưng đừng lẻn đi đấy,” và nói thêm. Tôi nghĩ anh đang thuyết phục mình hãy cho nhóm tứ tấu thêm một cơ hội trước khi chọn rời đi vội vàng nhưng tôi đã đổi ý ngay sau Haydn và không hề muốn ra về trước khi buổi hòa nhạc kết thúc. Nhưng rồi để làm rõ mọi thứ nên tôi đã hỏi thẳng: “Ông muốn tôi chờ không?” Sự thay đổi trong giọng điệu của tôi có thể hoàn toàn là sai lầm. Tôi nghe như thể đang hỏi thăm xem một người đứng tuổi có cần mình giữ cửa cho khi ông lão khó khăn lê bước qua không. Nên tôi nói lại: “Tôi sẽ đợi ông bên ngoài.”

Anh không nói gì, chỉ đơn giản gật. Nhưng đó không phải cái gật của sự xác nhận, ý là có; đó là một cái gật trầm ngâm, mơ hồ, bộ tịch của một người thường sẽ chọn cách không tin bất cứ điều gì chính mình nói ra.

“Được, sao lại không, chờ tôi,” cuối cùng anh nói. “Và tôi là Michel.” Tôi bảo anh tên mình. Chúng tôi bắt tay.

Tôi đã nghĩ anh sẽ rời đi sau khi phần đầu tiên kết thúc, nhưng nửa tiếng sau chúng tôi gặp nhau trên bậc cầu thang của nhà thờ, như đã hứa, trừ việc tôi cảm tưởng như anh đã quên mất về cuộc gặp. Anh đang nói chuyện với một cặp, và cả ba có vẻ đang định cùng đi đâu đó. Nhưng ngay khi thấy tôi, anh quay lại, rồi nhanh chóng kết thúc câu chuyện và bắt tay tạm biệt họ. Anh xin lỗi vì không giới thiệu tôi. Tôi còn loay hoay quàng khăn quanh cổ, đấy là cách tôi cố đổi hướng lời xin lỗi. Tôi nhận ra mình đã cố tỏ vẻ ngạc nhiên vì anh đã đợi hoặc vì anh nhớ rằng chúng tôi có hẹn nhau. Hay thực ra anh chỉ đợi để nói lời tạm biệt một lần nữa trước khi cả hai đều ra về?

Thay vì vậy, anh gợi ý chúng tôi nên đi ăn gì đó Ở một quán đêm nhỏ không xa bên kia cầu. Tôi bảo anh mình đã khóa chiếc xe đạp gấp được gần đây. Có phiền nếu tôi đi lấy và dắt nó theo? Không hề.

Lúc ấy khoảng mười giờ vào một đêm Chủ nhật, và đường phố đã vãn gần hết. “Và tôi mời,” anh nói, để đảm bảo với tôi tiền nong không phải vấn đề. Tôi chấp nhận. Tôi thích đi bộ thế này, nhất là vì lúc buổi hòa nhạc diễn ra trời đã mưa và giờ những phiến gạch lát lấp lánh dưới ánh đèn đường. “Như thể một bức ảnh của Brassai vậy. “Tôi bảo. “Phải, thật vậy,” anh nói thêm. “Và cậu làm gì khác ngoài chơi dương cầm?”

Tôi nhận ra anh hay bắt đầu nói bằng từ và, có lẽ là để làm dịu đi sự đường đột hoặc chuyển tiếp vu vơ giữa những chủ đề chẳng liên quan với nhau, nhất là khi nhắc đến những điều dò hỏi, cá nhân hơn. Tôi bảo anh mình đang dạy Ở nhạc viện. Tôi có thích dạy học không? Rất nhiều. Rồi tôi bảo mỗi tuần một lần tôi cũng chơi miễn phí và cũng là vì vui thích tại một khách sạn lớn. Anh không hỏi tên nơi ấy. Tinh ý đấy, tôi nghĩ, hoặc đó chỉ là cách anh thể hiện mình không phải người thích dò hỏi hay quan tâm.

Khi tới cầu, chúng tôi gặp một nhóm biểu diễn người Brazil, một nam một nữ, hát trước một đám đông những người vây quanh họ. Giọng của người đàn ông cao, của người phụ nữ thì khỏe. Cùng nhau, họ hát rất tuyệt. Tôi dừng và đứng lại một lúc, một tay giữ ghi đông. Anh cũng đứng lại, giữ đầu còn lại của ghi đông, như muốn giúp tôi cân bằng chiếc xe. Tôi có thể thấy anh hơi ngại ngùng. Khi người ca sĩ trẻ hơn kết thúc bài hát, mọi người quanh cầu đều vỗ tay và tán dương, và hai người tiếp tục phần song ca tiếp theo. Tôi muốn nghe phần đầu của bài hát thứ hai và không nhúc nhích, nhưng ngay khi họ vừa bắt đầu hát thì chúng tôi quyết định đi tiếp, khi đến bờ bên kia, tôi nghe thấy đám đông lại vỗ tay khi họ hát xong. Anh thấy tôi ngoái nhìn, rồi quay lại nhìn người ca sĩ nam hạ cây guitar xuống, khi cô gái chậm rãi lướt về phía đám đông, tay cầm mũ. Tôi có nhận ra bài hát không, anh hỏi. Có, tôi nói. Còn anh? “Có lẽ, tôi nghĩ vậy.” Nhưng tôi biết là anh không biết, vì anh có vẻ lúng túng khi nghe nhạc Brazil trên cầu, hoặc ở bất cứ đâu.

“Bài hát nói về một chàng trai trở về nhà sau khi bận rộn với công việc và bảo tình nhân của mình hãy sửa soạn rồi cùng ra ngoài và nhảy múa cùng chàng. Giai điệu hạnh phúc của họ như tràn ra khắp con đường và cuối cùng cả thành phố ngập trong niềm vui thú.”

“Bài hát hay đấy,” anh bảo. Tôi muốn anh thấy đỡ ngượng ngùng và siết chặt lấy vai anh một thoáng.

Nhưng anh dường như hoàn toàn thoải mái khi mở cửa vào quán. Nơi đây thực sự rất nhỏ, như anh đã bảo, nhưng cũng rất sang trọng. Đáng ra tôi nên biết. Chiếc áo khoác Forestière xanh, chiếc khăn lớn, in họa tiết mượt mà, và đôi giày Corhay làm tôi cứ lồ lộ. Đi ăn nhẹ của chúng tôi hóa ra lại là một bữa trang trọng. Anh gọi một chai whiskey đơn cất, Caol Ila là loại anh thích nhất, anh bảo. Anh hỏi tôi có muốn một chút không. Tôi bảo vâng dù chẳng hề biết “đơn cất” là cái gì. Tôi thấy anh có vẻ nhìn ra, và có lẽ đã nhìn ra nhiều lần trước kia. Tôi thích cách anh hành xử, nhưng nó khiến tôi đôi chút áy náy. Anh giải thích thực đơn. “Ở đây không có nhiều món thịt,” anh bảo. “Nhưng họ có một hầm rượu vang rất tuyệt, và tôi thích các món rau. Cá cũng rất ngon.” Anh gấp thực đơn ngay khi vừa ở nó ra. “Tôi luôn gọi như mọi lần, nên tôi chẳng buồn nhìn đâu.” Anh đợi tôi gọi món. Tôi không thể chọn gì. Rồi tôi làm một chuyện hoàn toàn bốc đồng. “Gọi cho tôi đi,” tôi bảo. Tôi thích cách này, và hình như anh cũng vậy. “Dễ thôi. Tôi sẽ chọn món tôi hay gọi cho cậu.”

Anh gọi phục vụ và đặt món. Rồi sau khi nhấn nháp ly whiskey, anh nói rằng cha mình, người đã đưa anh tới đây lần đầu, cũng thích gọi những món giống nhau. “Ông bị tiểu đường,” anh giải thích, “nên tôi học cách tránh những món người bệnh này không nên ăn.” Khi nói, anh phết bơ và rắc muối lên cuộn bánh pain Poilane nhỏ, cười rồi đưa lên miệng. “Tôi thường không đi lên vết xe đổ của cha mình, nhưng cái bóng của ông thì khó mà tránh được. Chính tôi cũng đầy mâu thuẫn.”

Dừng lại một lát. Anh nói tiếp về việc ăn uống của cha mình, nhưng tôi muốn biết về những mẫu thuẫn của anh, chúng khiến tôi tò mò và có lẽ sẽ cho tôi biết thêm về con người anh và cách anh nhìn nhận bản thân mình. Anh có vẻ lưỡng lự giữa việc mở lòng và tiếp tục nói về những món và chế độ ăn. Thậm chí còn có một thoáng căng thẳng, như thể cả hai chúng tôi đều nhận ra hai người chỉ đang cố tạo dựng một cuộc hội thoại và có thể dễ dàng kẹt trong những câu chuyện phiếm. Để vượt qua được sự ngượng ngùng này, tôi kể cho anh nghe về hai ông báo của mình, dẫu tôi chưa từng gặp họ nhưng họ nổi danh là những thợ bánh mì hiểu biết và đã mở ba tiệm bánh lớn ở Milan để rồi cuối cùng bị bắt như những người theo chủ nghĩa xã hội trong chiến tranh. “Họ bị đưa tới trại tập trung Birkenau. Mẹ tôi luôn kể về họ suốt thời niên thiếu của tôi. Họ cũng thế, giống như cha ông, phủ một cái bóng lớn lên gia đình mẹ tôi.”

“Bóng thế nào?” anh hỏi, không hiểu ý tôi.

“Rằng bà ấy có thể nướng bánh rất ngon.”

Anh bật cười. Tôi thấy vui vì anh hiểu câu đùa. “Nhưng tôi biết: có những cái bóng không bao giờ phải đi,” tôi nói thêm.

“Cậu đúng. Cái bóng của cha tôi không bao giờ mờ đi. Ông mất hai năm sau khi tôi kế thừa nghề luật của ông. Lúc ấy tôi mới bằng tuổi cậu.”

Nhưng rồi anh lại dừng lại và nghĩ ngợi, như thể anh bất chợt nhận thấy một liên kết vô hình giữa điều anh vừa nói và điều mà, có lẽ tôi đã không nhận ra, đang đè nặng lên tâm trí anh. “Và cậu biết rằng tôi gần gấp đôi tuổi cậu.”

Đây là khi tôi đỏ mặt. Một khoảnh khắc căng thẳng và khó xử, một phần có lẽ là vì anh đã để cập về một chuyện chừng như quá sớm và quá gần với điều cả hai đang cẩn trọng lảng tránh, vượt qua những điều mà thậm chí chưa được viết ra và tốt hơn hết nên giữ im lặng, ít nhất là trong một thời gian dài nữa. Nhưng điều anh nói cũng khiến tôi ngơ ngác không biết trả lời gì, và, khi tôi lục lọi tâm trí mình để tìm những từ ngữ phù hợp, sự đỏ mặt chắc hẳn đã thể hiện nỗi khó xử ấy. Có lẽ đây là cách anh mở lời về cái muốn nói và khiến tôi nói ra gì đó để xoa dịu nỗi lo lắng của chính anh. Tôi cố xua đi sự yên lặng ấy nhưng không thể. Cuối cùng thì, “Ông chưa đến tuổi đấy đâu,” tôi bảo, cách tôi Cố lảng tránh câu đáp.

“Ý tôi không phải vậy” là câu đáp lại tức khắc của anh.

“Tôi biết ý ông là gì.” Và để cho thấy chẳng có gì hiểu lầm giữa chúng tôi: “Đáng lẽ tôi đã không ngồi đây với ông, phải không?” Tôi có lại đỏ mặt không? Tôi hy vọng là không. Sự yên lặng kẹt giữa hai người không khiến anh nản lòng, và anh lại gật, vẫn cái gật bộ tịch và ngẫm nghĩ, theo sau là điệu bộ lắc đầu nhẹ mơ màng, không phải để phản đối mà là vẻ gì đó gần như không tin và sự tự vấn câm lặng về cái cách cuộc đời đôi khi cũng hùa theo trò đùa. “Tôi không có ý khiến mọi chuyện ngượng ngùng cho cậu.”

Anh đang xin lỗi. Hoặc có lẽ không. Tới lượt tôi lắc đầu.

“Không phải ngượng ngùng,” tôi bảo. Rồi, dừng một lúc, “Và giờ ông là người đỏ mặt.”

Anh mím môi. Tôi với đến nắm lấy tay anh một lúc như một cử chỉ thân thiện, mong anh thấy thoải mái. Anh không rút tay lại.

“Cậu không tin vào số phận, phải không?” Anh hỏi.

“Tôi không biết,” tôi nói. “Tôi chưa từng thực sự nghĩ về nó.”

Đây là cách trò chuyện không quá quanh co như tôi muốn. Tôi có thể nhận thấy anh đang muốn hướng đến điều gì, và tôi không thấy phiền vì sự thẳng thắn; nhưng tôi cũng không muốn bàn về chuyện đó quá cởi mở. Có lẽ anh thuộc về thế hệ sẽ kiếm tìm những điều khó nói rồi bàn luận về nó, còn tôi thuộc thế hệ không đề cập tới những điều đã đủ rõ ràng. Tôi đã quen cách tiếp cận trực diện không đòi hỏi nói gì thêm cả, hay chỉ cần một cái liếc mắt, một tin nhắn vội vàng. Nhưng lời dài dòng, ẩn giấu lại khiến tôi thấy rối ren.

“Vậy nếu không phải số phận, điều gì đã đưa ông tới buổi diễn tối nay?”

Anh nghĩ, rồi, hạ mắt xuống rồi nhìn xa khỏi tôi, bắt đầu mân mê vẽ những đường vân trên tấm khăn trải bàn bằng chiếc nĩa sạch chưa dùng tới. Chúng nhìn như những luống rãnh nông, tạo ra những vòng xoắn bất chợt xung quanh đĩa bánh mì. Anh như bị cuốn theo những gì đang lướt quanh tâm trí mình đến nỗi tôi chắc rằng anh không còn tập trung vào câu hỏi của tôi nữa, và tôi thấy vui lòng, vì khi nghĩ kỹ ra tôi lại mong rằng anh sẽ bỏ qua những cẩn trọng qua lại ấy. Nhưng rồi anh ngẩng lên nhìn tôi và nói rằng lời đáp cho câu hỏi vừa rồi không thể đơn giản hơn.

“Thế là gì?” tôi hỏi, tin chắc anh sẽ nói điều gì đó về cha mình.

Nhưng thay vì thế anh bảo, “Cậu.”

“Tôi ư?”

Anh gật. “Phải, cậu.”

“Nhưng ông không biết ông sẽ gặp tôi

.”

“Một chi tiết vô nghĩa. Số phận vẫn sẽ như vậy khi tiến lên, bước lùi, rẽ chéo và sẽ chẳng màng tới việc ta nhìn nhận mục đích của nó thế nào với những cái trước đây và sau này mong manh.”

Tôi hiểu điều ấy. “Quá, quá sâu sắc cho tôi.” Lại một thoáng yên lặng nữa giữa hai người.

“Cậu thấy đấy, cha tôi tin vào số phận,” anh nói tiếp.

Quả là một tâm hồn phóng khoáng, tôi nghĩ. Anh cảm nhận được tôi muốn vòng qua chủ đề ấy và đã tinh ý đưa câu chuyện trở lại về người cha. Nhưng rồi quay tôi không thực sự để tâm – và anh nhận ra vậy. Rồi anh dừng lại. Chắc hẳn anh vẫn đang đấu tranh nên đề cập đến những điều không thành lời giữa chúng tôi thế nào, vậy nên anh mới liếc nhìn tôi vương vấn, đi ngay. Cái khiến tôi bất ngờ, dẫu vậy, là điều anh bảo sau khi chúng tôi đứng dậy và chuẩn bị rời đi. “Tôi sẽ gặp lại câu chứ? Tôi rất muốn.”

Điều anh hỏi khiến tôi giật mình. Tôi lẩm bẩm trong yếu đuối nhưng lại quá vội vàng “Có, tất nhiên rồi.” Câu trả lời ấy đến quá nhanh và nghe hoàn toàn không chân thành. Tôi đã mong đợi nhiều hơn rất nhiều so với một lời tạm biệt.

“Nhưng chỉ khi cậu muốn thôi,” anh nói thêm.

Tôi nhìn anh. “Ông biết là tôi muốn mà.” Và đây không phải là rượu đang nói thay tôi đâu.

Anh gật, lại cái kiểu đặc trưng. Nhưng anh không tin. Nhưng cũng không mất lòng.

“Vậy thì vẫn nhà thờ, Chủ nhật này.”

Tôi không liều mình để nói thêm gì cả. Vậy tối nay sẽ không có trong kế hoạch, tôi nghĩ.

Chúng tôi là những người cuối cùng rời đi. Chuyện ấy rất rõ ràng qua cách những người phục vụ như cuống lên vì họ không thể chờ để đóng quán ngay khi chúng tôi bước ra.

Ngoài vỉa hè, chúng tôi theo lệ ôm lấy nhau. Nhưng đó là một cái ôm tạm bợ, vụng về giống như sự do dự hơn là sự âu yếm luyến lưu tôi đã mong chờ được nép trong vòng tay anh lúc trước khi gặp giữa lúc giải lao. Anh dần buông lỏng vòng tay ra. Một lần nữa tôi cảm thấy cái thôi thúc được cuộn vào lòng anh và đặt tay mình quanh anh và, dù cho tôi kìm lại, trong thoáng bối rối tức khắc thôi, tôi hôn anh không phải lên má, mà hoàn toàn vô tình, bên dưới hai tại anh. Lần này chắc chắn là do rượu. Tôi biết anh để ý. Nhưng tôi vẫn thấy thích điều mình vừa làm. Rồi tôi nghĩ kỹ lại về nó. Thế này khó xử quá, tôi nghĩ. Khó xử hơn nữa khi tôi nhận ra ba người phục vụ đang nhìn chằm chằm qua cửa Sổ dưới tấm rèm muslin để mở. Họ biết anh và chắc đã chứng kiến điều tương tự nhiều lần trước kia rồi.

Anh tiên tôi tới chỗ tôi khóa xe, nhìn tôi mở nó, trò chuyện vu vơ về kích thước nhỏ của chiếc xe đạp, thậm chí còn bảo anh đã nghĩ tới sẽ mua một chiếc như vậy. Nhưng rồi, trước khi rời đi, anh nấn ná đặt tay lên má tôi – một cử chỉ hoàn toàn khiến tôi ngỡ ngàng và như run rẩy rồi ngập tràn với những cảm xúc. Nó đến với tôi thật bất chợt. Hãy bên em, được không, chỉ để giúp em không còn bối rối nhiều thế này.

Tôi nhìn anh quay lưng bước đi.

Anh không làm thế mà chi bước đi, tôi nghĩ, và quá cứng nhắc nữa. Tôi muốn anh đưa tay kia lên má và giữ lấy khuôn mặt tôi, giữ lấy khuôn mặt tôi và để tôi được đúng vai người trẻ tuổi hơn giữa cả hai, và rồi hôn thật sâu. Điều này cảm tưởng như chúng tôi vừa cùng lên giường, rồi anh liên lạc với tôi rồi đơn giản chỉ biến tan đi mất.

Cảm giác ấy ở lại với tôi suốt đêm, và tôi cứ thức dậy rồi lại thiếp đi mãi. Đêm vẫn còn chưa muộn và chúng tôi đã có thể dễ dàng đi đâu đó khác để uống gì đó. Tôi đã có thể chạy vội theo anh và mời anh uống gì đó tại một quán cà phê gần đây – chỉ để được bên nhau và không phải tạm biệt quá sớm. Dù vậy đi nữa vẫn có gì đó giữ tôi lại và cuối cùng một giọng nói trong tôi nhắc tôi rằng bản thân tôi không thực sự thất vọng lắm vì cách buổi tối ấy diễn ra sau một ngày Chủ nhật dài nhàm chán chẳng thể ngờ có gì giống chuyện này xảy ra. Có lẽ anh đã thấy rằng đôi khi tốt nhất là nên dừng lại khi chuyện đã hoàn hảo rồi hơn là kéo dài mãi và chứng kiến chúng trở nên tệ đi.

Tôi dắt xe đi giữa đêm tháng Mười một đẹp đẽ ấy: những hè đá vắng người ánh lên lấp lánh, hiệu ứng Brassai chúng tôi từng nói tới, nụ hôn vụng về của tôi dưới tai anh, và cả chuyện tôi gần như trẻ bằng nửa tuổi anh, tất cả khiến tôi phấn chấn lên và gần như là hạnh phúc. Có lẽ anh hiểu chuyện hơn tôi; và nếu anh hiểu, thì anh sẽ biết điều gì đó nơi tôi, mà chính tôi còn chưa thấu ở chính mình: rằng có khi chính tôi mới là người chưa sẵn sàng, chứ không phải anh, không phải tối nay, hay tối mai, hay thậm chí không phải tuần sau, mà chính lúc ấy tôi mới nhận ra có khi anh sẽ không đến buổi hòa nhạc nữa, không phải vì anh không muốn mà là vì anh đã nhận ra rằng, ngay phút cuối trước tối Chủ nhật ấy, tôi mới là kẻ sẽ tìm ra được lý do để không tới nữa.

Hai đêm trôi qua, khi tôi vừa dạy xong một lớp nâng cao về phần kết thúc trong bản sonata Rê thứ của Beethoven thì đột nhiên, chờ ở cửa, anh xuất hiện, đứng đấy với hai tay đút trong túi áo khoác, nhìn thoáng bồn chồn so với bề ngoài quá đỗi lịch lãm, dẫu vậy không chút gượng gạo gì. Anh giữ cửa cho sáu bảy người rời khỏi hành lang, và nhìn họ bước ra mà không màng giữ cửa hay cảm ơn, anh cười với họ, cuối cùng cảm ơn họ vì nhường lối. Tôi hẳn là trông rạng rỡ lên. Thật là một cách đáng yêu để làm ai đó bất ngờ.

“Vậy là cậu không phật ý?”

Tôi lắc đầu. Cần phải hỏi sao?

“Cậu định làm gì sau khi dạy xong?”

“Tôi hay đi uống cà phê hay nước quả đâu đó.” “Phiền không nếu tôi đi với?” .

“Phiền không nếu tôi đi với?” Tôi nhại lại

Tôi dẫn anh tới quán cà phê ưa thích của mình, nơi tôi hay ghé qua sau khi dạy và thỉnh thoảng đi cùng một đồng nghiệp hoặc học sinh rồi chúng tôi sẽ ngồi và ngắm nhìn người ta ngược xuôi trên đường phố tầm giờ ấy – những người bận bịu với những chuyện gấp giờ cuối, một vài mong ngóng được về nhà và khóa trái của tách khỏi thế giới này, và số khác vội vã chạy từ góc này của đời họ sang góc kia. Những bàn quanh chúng tôi đều kín người, và vì vài lý do mà tôi chẳng bao giờ có thể nói rõ ra, tôi thích khi tất cả xúm gần như vậy, tay chạm tay với những người lạ. “Vậy cậu thực sự không phật ý khi tôi đến chứ?” anh hỏi lần nữa. Tôi mỉm cười rồi lắc đầu. Tôi bảo anh mình vẫn chưa thấy hết bất ngờ.

“Thế là một bất ngờ dễ chịu, phải không?”

“Một bất ngờ rất dễ chịu.”

“Nếu tôi không tìm được cậu Ở nhạc viện,” anh bảo, “tôi sẽ tới tất cả những khách sạn cao cấp có dương cầm. Rất đơn giản.”

“Thế thì chắc mất thời gian đấy.”

“Tôi sẽ dành ra bốn mươi ngày đêm, và cuối cùng tôi sẽ tìm tới nhạc viện. Nhưng thay vì vậy tôi đã tìm Ở nhạc viện trước.”

“Nhưng không phải ta hẹn vào Chủ nhật tới sao?”

“Tôi không thực sự chắc.”

Tôi không phản đối hay nói gì đó ngược lại với giá định của anh và điều đó chắc hẳn đã xác định niềm nghi ngờ ấy là đúng. Thật vậy, sự yên lặng của cả hai về buổi hòa nhạc Chủ nhật tới khiến chúng tôi mỉm cười khó xử. “Tôi đã có một đêm Chủ nhật tuyệt vời,” tôi đành lên tiếng. “Tôi cũng vậy,” anh đáp.

“Cô bé đáng yêu tập đàn với cậu là ai vậy?” anh hỏi.

“Cô ấy là một học sinh năm ba tài năng đến từ Thái Lan, rất, rất tài năng.”

“Cách hai người nhìn nhau khi tập rõ ràng gợi lên điều gì đó nhiều hơn tình thân thiết thầy trò.”

“Vâng, cô ấy đến tận đây để học với tôi mà.” Tôi có thể nhận ra anh đang dẫn dắt câu chuyện tới đâu và lắc đầu với ý trách móc hơi giễu cợt.

“Và liệu tôi có thể hỏi lát nữa cậu bận gì không?” Táo bạo đấy, tôi nghĩ.

“Ý ông là tối nay á? Tôi không.”

“Người như cậu không có một người bạn, người yêu, hay ai đó đặc biệt à?”

“Người như tôi á?” Chúng ta sẽ lặp lại cuộc trò chuyện Chủ nhật trước sao?

“Ý tôi là một người còn trẻ, thú vị, rõ ràng rất hấp dẫn, và chưa kể đến rất điển trai nữa.”

“Không có ai cả,” tôi đáp, rồi quay đi.

Tôi đang cố kìm anh lại ư? Hay thực ra rằng chính tôi cũng thích điều ấy mà không muốn thể hiện ra thôi?

“Cậu không thích được khen, phải không

?”

Tôi nhìn anh rồi lại lắc đầu, nhưng lần này không có ý gì đùa cợt cả.

“Vậy không có ai cả?” cuối cùng anh hỏi.

“Không có.”

“Kể cả qua lại...?”

“Tôi không qua lại bao giờ.”

“Không bao giờ sao?” anh hỏi, như giật mình. “Đúng.”

Nhưng tôi biết giọng mình nghe rất cứng nhắc. Anh đang đùa cợt, chọc ghẹo, gần như là tán tỉnh, và tôi thì đang tỏ ra vô hồn, nghiêm khắc, và, tệ hơn là, đạo đức.

“Nhưng chắc hẳn phải từng có một người đặc biệt chứ?”

“Từng có.”

“Sao lại kết thúc?”

“Chúng tôi là bạn, rồi là người tình, rồi nàng rời đi. Nhưng chúng tôi vẫn là bạn.”

“Liệu đã có người đàn ông nào chưa?” “Rồi.”

Chuyện kết thúc thế nào?”

“Anh ấy kết hôn.”

“À, lại là cái mác hôn nhân!”

“Khi ấy tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng họ đã bên nhau nhiều năm rồi. Họ đã yêu nhau từ trước cả lúc xảy đến chuyện giữa anh ấy và tôi.”

Lúc đầu, anh không nói gì cả dẫu anh có vẻ thắc mắc rất nhiều. “Hai người vẫn làm bạn chứ?”

Tôi không chắc liệu có muốn anh hỏi mình vậy không, dù sao thì tôi vẫn thích anh hỏi.

“Chúng tôi không liên lạc lâu lắm rồi, và tôi không biết chúng tôi vẫn là bạn không, dù tôi chắc chắn rằng sẽ luôn như vậy. Anh ấy nhìn thấu tôi rất rõ, và tôi có cảm giác anh ấy ngờ rằng nếu tôi không bao giờ thư từ gì thì không phải vì tôi không quan tâm mà là vì một phần trong tôi vẫn và sẽ luôn quan tâm, cũng như tại sao tôi biết rằng anh cũng quan tâm, và vậy nên anh cũng không viết gì cả, được biết điều ấy thôi với tôi là đủ rồi.”

“Dù cho cậu ấy kết hôn?”

“Dù cho anh ấy kết hôn,” tôi nói. “Và hơn nữa, tôi nói thêm, như có thể sẽ xua tan được những mơ hồ, “anh ấy dạy học ở Mỹ, và tôi Ở đây, Paris – coi như xong chuyện rồi, đúng không? Vô hình nhưng luôn hiện hữu.”

“Không có vẻ như là xong chuyện. Sao cậu không đuổi theo, thậm chí dù cậu ta đã kết hôn chăng nữa? Sao lại từ bỏ dễ dàng vậy?”

Giọng điệu như muốn trách móc của anh khiến tôi khó mà lờ đi được. Sao anh lại trách tôi? Chẳng phải anh không để tâm sao?

“Vậy, chuyện bao lâu rồi?” anh hỏi.

Tôi biết câu trả lời sẽ khiến anh rối lòng. “Mười lăm năm.”

Bỗng anh ngừng hỏi và yên lặng. Như tôi đã nghĩ, anh không lường trước nhiều năm đã trôi qua tới vậy mà tôi vẫn mãi vấn vương một người mà gần như đã thành hư vô.

“Chuyện thuộc về quá khứ rồi,” tôi bảo, cố gắng gỡ gạc.

“Không có gì thuộc về quá khứ cả.” Nhưng rồi lập tức anh hỏi tôi: “Cậu vẫn nghĩ về cậu ấy, phải không?”

Tôi gật đầu vì tôi không muốn nói thành lời.

“Cậu nhớ cậu ấy chứ?”

“Khi tôi cô đơn - đôi lúc, có. Nhưng điều ấy không phiền, không khiến tôi buồn. Tôi có thể trải qua một tuần không hề nghĩ về anh. Đôi khi tôi muốn kể với anh ấy chuyện này chuyện nọ, nhưng rồi lại thôi, và thậm chí tôi tự nhủ như vậy sẽ khiến tôi vui lòng khi không nói, cho dù chúng tôi có thể sẽ không bao giờ nói với nhau gì nữa cả. Anh ấy dạy tôi mọi thứ. Cha tôi nói chẳng có gì là cấm kỵ khi trên giường; người tình của tôi đã giúp tôi tất cả. Anh là người đầu tiên.”

Michel lắc đầu với một nụ cười trìu mến khiến tôi thấy được trấn an. “Bao nhiêu người sau cậu ấy rồi?” anh hỏi.

“Không nhiều. Chỉ toàn ngắn ngủi thôi. Cả nam lẫn nữ.”

“Tại sao?”

“Có lẽ là vì tôi chưa bao giờ thực sự buông bỏ hay để mình đắm chìm vào với họ. Sau những ham muốn nhất thời, tôi luôn trở lại là chính con người đơn độc của mình.”

Anh uống nốt ngụm cà phê cuối.

“Một lúc nào đó trong đời này cậu sẽ cần phải gọi cho cậu ấy. Thời khắc ấy sẽ tới thôi. Nó luôn tới. Nhưng có lẽ tôi không nên nói ra.”

“Tại sao?” tôi hỏi.

“Ồ, cậu biết tại sao mà.”

Tôi thích điều anh vừa bảo, nhưng câu nói lại khiến cả hai im lặng. “Con người đơn độc của cậu, vậy,” cuối cùng anh lên tiếng, trốn tránh điều vừa lướt qua chúng tôi vài giây trước. “Khó khăn lắm, đúng không?”

“Cha tôi cũng từng nói như thế, bởi vì tôi không bao giờ có thể quyết định điều gì cả, làm gì với đời mình, nơi nào để sống, cái gì để học, hay ai để yêu thương. Trung thành với âm nhạc, ông bảo. Sớm hay muộn, những điều khác sẽ tới. Ông bắt đầu sự nghiệp của mình khi đã ba mươi hai – nên tôi vẫn còn thời gian, dẫu không nhiều, nếu như tôi cũng tính thời giờ theo nhịp của ông ấy. Chúng tôi luôn rất thân thiết, từ khi tôi còn là một đứa trẻ. Ông ấy là một triết gia và thường viết những luận văn tại nhà còn mẹ tôi là một bác sĩ trị liệu ở bệnh viện, nên ông sẽ luôn lo chuyện bỉm sữa và mọi thứ khác. Chúng tôi có người giúp việc nhưng tôi luôn dính lấy ông. Ông là người đã dạy tôi yêu âm nhạc - trùng hợp thay, cũng chính là bản nhạc tôi đang dạy khi ông bước vào chiều nay. Khi chơi nó tôi vẫn có thể nghe thấy giọng ông ấy bên mình.”

“Cha tôi cũng dạy tôi nhạc. Nhưng tôi lại là một học sinh tồi.”

Tôi thích những trùng hợp như tụ vào nhau thế này dẫu cho tôi cũng không muốn khiến chúng thành ra quá nhiều. Anh cứ nhìn tôi mãi và không nói gì. Nhưng rồi anh nói điều khiến tôi như mất cảnh giác một lần nữa: “Cậu thật đẹp.” Câu nói ấy nảy ra từ vô thức, nên thay vì phản ứng gì đó, tôi tìm cách đổi chủ đề, chỉ là khi cố làm vậy tôi nghe thấy chính mình lẩm bẩm một điều còn vô thức hơn. “Ông khiến tôi bồn chồn.”

“Sao cậu lại nói vậy?”

“Tôi không biết. Có lẽ là vì tôi không thực sự biết ông, hay lúc nào ông muốn tôi dừng lại và không tiến xa hơn nữa.”

“Đáng ra mọi chuyện nên rất rõ ràng rồi chứ. Nếu có gì thì tôi mới là người phải bồn chồn.”

“Tại sao?”

“Vì có lẽ tôi chỉ là một vui thú bất chợt của cậu, hoặc là một cái gì đó cao hơn một lần qua lại.”

Tôi giễu cười điều anh vừa bảo.

“Và nhân tiện” – dù lưỡng lự trước khi nói ra nhưng tôi chợt thấy như rất cần phải nói – “tôi không giỏi dạo đầu đâu.”

Anh bật cười, “Nói trước điều ấy là vì lợi ích của tôi à?”

“Có thể.”

“Chà, nhưng để quay lại với điều tôi đang nói: Cậu thực sự rất đẹp. Và vấn đề hoặc là chính cậu cũng biết và nhận thức được sức quyến rũ của nó đối với người khác hoặc rằng cậu cần tỏ ra không phải vậy – điều không chỉ khiến cậu khó để thấu hiểu mà là, với một người như tôi, rất nguy hiểm.”

Tôi chỉ gật phỉnh phờ. Tôi không muốn bảo anh rằng điều anh vừa dứt lời là sai lầm. Nên tôi chỉ nhìn anh, mỉm cười, và nếu ở một hoàn cảnh khác có thể tôi đã chạm tay lên hai mí mắt anh trước khi hôn chúng.

Trời dần tối, ánh đèn trong quán chúng tôi ngồi và quán bên cạnh được mở lên. Chúng chiếu một ánh chói lọi, bất định lên nét mặt anh, và lần đầu tiên, tôi được nhìn rõ bờ môi, trán, và đôi mắt anh. Anh mới là người điển trai, tôi nghĩ. Đáng lẽ tôi nên nói, và đó là lúc để nói ra. Nhưng tôi cứ im lặng. Tôi không muốn chỉ nhắc lại lời anh; nói vậy sẽ nghe như một nỗ lực căng thẳng và mưu mô để vẽ ra sự tương thích giữa hai người. Nhưng tôi thực lòng say mê đôi mắt ấy. Và anh vẫn nhìn tôi mãi.

“Cậu khiến tôi nhớ về con trai mình,” cuối cùng anh lên tiếng.

“Chúng tôi nhìn giống nhau à?”

“Không, nhưng cũng trạc tuổi. Thằng bé cũng thích âm nhạc cổ điển. Nên tôi từng hay đưa nó tới nhà thờ mỗi tối Chủ nhật, như cách cha tôi đã làm.”

“Hai người vẫn hay đi chứ?”

“Không. Thằng bé giờ sống ở Thụy Điển, chắc vậy.”

“Nhưng hai người vẫn thân thiết chứ?”

“Tôi ước vậy lắm. Sau khi chúng tôi ly hôn thì dường như mọi thứ giữa hai cha con đều sụp đổ, dẫu tôi chắc rằng vợ tôi không hề gây tổn thương gì đến mối quan hệ ấy. Nhưng thằng bé biết điều tôi đã làm và, tôi nghĩ vậy, nó sẽ không bao giờ tha thứ. Hoặc là nó chọn ấy là cái cớ để xa lánh tôi, điều nó đã luôn muốn kể từ lúc thành niên, Chúa mới biết tại sao.”

“Sao họ lại biết chuyện?”

“Vợ tôi phát hiện ra trước. Một chiều nàng về sớm rồi thấy tôi nằm nghe slow jazz và nhấm nháp rượu trong phòng. Tôi đang một mình và chỉ bằng cách quan sát nét mặt tôi là nàng biết ngay rằng tôi đang yêu. Thật đúng là trực giác phụ nữ! Nàng đặt túi xách bên bàn trà, ngồi xuống cạnh tôi bên sofa, và thậm chí với tay ra rồi uống một hớp rượu của tôi: “Cô ấy có phải ai đó em biết không? nàng hỏi sau một hồi im lặng lâu, rất lâu. Tôi hiểu ý nàng ngay và chẳng có nghĩa lý gì để giấu giếm nữa. Không phải một cô đâu, tôi đáp. À, nàng nói. Tôi vẫn còn nhớ những vụn vỡ cuối cùng của ánh mặt trời vương trên tấm thảm và la liệt trên ghế, mùi khói phảng phất từ ly whiskey, và con mèo nhỏ cuộn lại cạnh chân tôi. Ánh nắng, mỗi khi tôi ngắm nhìn từ phòng khách của mình, vẫn nhắc tôi nhớ về hôm ấy. Vậy thì tệ hơn em tưởng, nàng bảo. “Tại sao?” tôi hỏi. “Vì nếu với một người phụ nữ thì em vẫn còn cơ hội, nhưng với một người giống anh, thì em chẳng thể làm được gì nữa. Em không thể thay đổi anh. Và vậy là kết thúc gần hai mươi năm hôn nhân. Sau đấy thì con trai tôi cũng tìm cách để sớm biết chuyện, và rồi nó đã biết.”

“Bằng cách nào?”

“Tôi nói với nó. Tôi đã nghĩ biết đâu nó sẽ hiểu. Nhưng không.”

“Tôi rất tiếc” là tất cả những gì tôi có thể nói ra.

Anh nhún vai. “Tôi không thấy hối hận về những rẽ ngang trong cuộc đời mình. Nhưng tôi thực sự hối hận vì đã đánh mất thằng bé. Nó không bao giờ liên lạc khi tới Paris, không thư từ gì, và không bao giờ nghe máy khi tôi gọi.”

Anh nhìn đồng hồ. Đã đến lúc phải đi rồi sao?

“Vậy là tôi không sai lầm khi bám theo cậu chứ?” anh hỏi lần thứ ba, có lẽ là vì anh muốn nghe tôi bảo rằng hoàn toàn không đau, và tôi cũng muốn nói như vậy rất nhiều.

“Không hề sai.”

“Và cậu không buồn lòng với tôi về tối nọ chứ?” anh hỏi.

Tôi biết chính xác ý anh là gì.

“Có lẽ là có – một chút.”

Anh mỉm cười. Tôi biết anh có vẻ muốn rời khỏi quán, nên tôi ngồi sát lại cạnh anh, vai chạm vai. Và rồi anh quàng tay quanh tôi và kéo tôi gần kề, như muốn tôi tựa đầu lên vai anh. Tôi không biết rằng anh làm vậy là để trấn an tôi hay đơn giản chỉ là để chiều ý một chàng trai trẻ đã mở lòng ra và nói những điều cảm động với một người già dặn hơn. Hoặc có lẽ đây chỉ là cách anh sẽ ôm chào tạm biệt. Vậy nên, vì sợ rằng sẽ phải nói câu chào không thể tránh được, tôi nói bật ra, “Tối nay tôi không bận gì đâu.”

“Vâng, tôi biết. Cậu bảo tôi rồi.”

Nhưng chắc hẳn anh nhận ra rằng tôi đang hồi hộp hoặc là giọng anh đang kỳ quặc.

“Cậu thật tuyệt vời và...” anh không nói hết câu. Anh định trả tiền nhưng rồi tôi níu tay anh lại. Và khi giữ lấy, tôi bắt đầu chăm chú vào nó.

“Cậu làm gì vậy?” anh hỏi như muốn trách móc. “Trả tiền.”

“Không, cậu nhìn chằm chằm vào tay tôi.

“Tôi đâu có,” tôi phản lại. Nhưng tôi có nhìn thật

” .

“Người ta gọi là tuổi tác,” anh bảo. Rồi một thoáng sau: “Chưa đổi ý đúng không?” Anh khẽ cắn môi dưới nhưng rồi dừng ngay. Anh đang đợi tôi trả lời.

Nhưng bởi vì tôi chẳng nghĩ được gì để nói với anh dù cho nhận thấy sự thôi thúc cần phải nói ra gì đó, gì cũng được, “Hãy đừng chào tạm biệt, chưa phải bây giờ.” Dẫu vậy tôi nhận ra nói như thế có thể sẽ bị hiểu lầm thành một lời van nài được kéo dài thời gian vỏn vẹn ở lại quán, nên tôi quyết định nói một điều khác táo bạo hơn. “Đừng để tôi về nhà tối nay, Michel,” tôi bảo. Tôi biết lúc ấy mình lại đỏ mặt, và đã sẵn sàng soạn ra điều gì đó để nói xin lỗi và rút lại những lời này, thì điều anh trả lời như đã giải thoát cho tôi.

“Tôi cũng đang nghĩ cách để nói ra điều tương tự nhưng mà, một lần nữa, cậu lại nhanh hơn tôi. Thật lòng thì,” anh tiếp tục, “tôi không làm chuyện này thường xuyên. Thực ra, tôi đã không làm lâu lắm rồi.”

“Chuyện này hả?” tôi nói, pha một tí bỡn cợt.

“Chuyện này.”

Chúng tôi rời đi ngay sau đó. Cả hai đã đi bộ và dắt theo chiếc xe đạp của tôi tầm hai mươi hoặc ba mươi phút để tới nhà anh. Anh bảo có khi nên bắt taxi. Tôi bảo thôi, tôi thích đi bộ hơn; hơn nữa, chiếc xe này gấp lại không dễ dàng gì, và mấy người lái taxi luôn phàn nàn. “Tôi thích chiếc xe này. Tôi thích cậu có một chiếc thế này.” Rồi, anh tự nhận ra: “Tôi đang ba hoa rồi, phải không?” Chúng tôi đi gần sát nhau với khoảng cách không bao giờ quá một bước chân và tay của cả hai cứ lướt chạm vào nhau suốt. Rồi tôi với lấy tay anh và nắm nó một lúc. Như vậy sẽ dẹp đi sự ngượng ngùng, tôi nghĩ. Nhưng anh không nói gì. Một vài bước nữa qua những phiến đường lát đá, và tôi thả tay anh ra.

“Tôi thực sự yêu chuyện này,” tôi bảo.

“Chuyện này hả,” anh trêu. “Ý nói hiệu ứng Brassai sao?”

“Không, hai ta cơ. Đây là chuyện đáng lẽ ta phải làm từ hai đêm trước.”

Anh hạ mắt nhìn vỉa hè, mỉm cười. Có phải tôi đang đẩy mọi chuyện quá nhanh không? Tôi thích cuộc đi bộ lần này của hai người là một sự lặp lại của tối ấy. Đám đông và bài hát trên cầu, những phiến đá lát lấp lánh, chiếc xe đạp với túi treo sườn mà sau đấy tôi sẽ khóa vào một cột rào, và những lời bình vụ vợ của anh ước rằng sẽ mua được một chiếc giống thế.

Điều không bao giờ khiến tôi thấy hết ngạc nhiên và phủ một vầng sáng xung quanh buổi tối này là từ khi chúng tôi gặp nhau, cả hai đã luôn suy nghĩ cùng một mạch, và khi mà chúng tôi lo sợ rằng không phải vậy hay cảm thấy bản thân đang hiểu sai ý người kia, thì đó chỉ là vì cả hai đều đã biết rõ ta không nên mong mỏi sẽ tồn tại một người thứ hai cũng có cùng suy nghĩ với mình, và điều đó là lý do tôi luôn thấy lúng túng trước anh và bất bình với tất cả những sự thôi thúc trong tâm trí mình và cảm thấy chẳng thể hạnh phúc hơn khi hai người có thể dẹp bỏ những bức ngăn ấy dễ dàng tới vậy. Tuyệt làm sao khi cuối cùng có thể nói ra điều đã luôn chất chứa trong tôi kể từ Chủ nhật ấy: Xin đừng để em về tối nay. Tuyệt làm sao khi anh nhận ra tôi đã đỏ mặt vào tối nọ và khiến tôi muốn thừa nhận rằng mình thực sự đã vậy, để rồi chỉ lúc ấy anh mới nhận ra rằng chính anh cũng đỏ mặt. Hai người mới ở bên nhau chưa tới bốn giờ đồng hồ có thể có ít bí mật riêng mình đến thế này ư? Tôi tự hỏi cái bí mật đầy tội lỗi mà chính tôi đang nén lại trong những giả dối hèn hạ của mình là gì?

“Tôi dối ông về chuyện qua lại,” tôi bảo.

“Tôi cũng đoán được,” anh đáp, gần như lờ đi sự khó nhọc trong cách tôi bày tỏ.

Khi chúng tôi bước vào thang máy kiểu Pháp nhỏ và chật hẹp đến nỗi cả hai phải ép sát với nhau, “Giờ hãy ôm lấy tôi được chứ?” tôi hỏi. Anh đóng cửa thang máy lại và nhấn nút lên tầng của anh. Tôi lắng nghe tiếng những động cơ ồn ã bắt đầu kéo thang máy lên, rồi bất chợt anh không chỉ ghì lấy mà còn đặt hai bàn tay anh lên má tôi rồi hôn tôi thật âu yếm. Tôi nhắm mắt lại và hôn anh. Tôi đã mong chờ điều này quá lâu rồi. Tất cả những gì tôi nhớ là lắng nghe tiếng thang máy nặng nề và chới với kéo lên tầng trên trong khi tôi thầm mong mỏi rằng âm thanh ấy vĩnh viễn không dứt và thang máy này cứ đi tiếp mãi mãi.

Rồi, khi anh đóng cửa căn hộ của mình lại, đến lượt tôi bắt đầu hôn anh, như anh vừa mới làm. Tôi biết anh cao hơn mình, và tôi biết anh cũng khỏe hơn. Tôi chỉ muốn anh biết rằng tôi đã chẳng còn e dè giữ kẽ gì cả và cũng sẽ không như vậy.

“Có lẽ ta cần gì đó để uống,” anh nói. “Tôi có một ít rượu whiskey. Loại đơn cất em thích, đúng chứ?”

Câu hỏi về đồ uống khiến tôi bất ngờ, nhất là khi tôi đang định cởi ba lô và áo khoác, áo len rồi bảo anh hãy ôm mình lần nữa. Tim tôi loạn nhịp, rồi bỗng tôi thấy xấu hổ, dẫu cho những chuyện thế này chẳng xa lạ với tôi là bao. Tôi cứ mong anh đừng lăng xăng qua lại như vậy nữa. Nhưng tôi không nói gì và nhân lúc ấy cởi ba lô rồi đặt nó lên một chiếc ghế tựa.

“Em muốn cởi áo khoác chứ?” anh hỏi.

“Một lát nữa,” tôi đáp.

“Tôi thích chiếc ba lô đấy,” anh nói, quay lại.

“Nó là một món quà. Từ một người bạn.” – và bởi vì có đôi chút lưỡng lự trong nét mặt anh – “chỉ là bạn thôi.”

Anh chỉ lên sofa bảo tôi ngồi đó và nói rằng anh sẽ mang ly tới. Nên tôi ngồi xuống. Tôi không biết tại sao nhưng tôi bỗng thấy lạnh, nên tôi đứng dậy lần nữa khi anh đang ở sảnh trước và dựa gần máy sưởi. Thấy hơi ấm vẫn chưa đủ, tôi đặt tay lên trên nó.

“Em thấy ổn chứ?”

“Vâng, chỉ lạnh thôi,” tôi nói. Tôi đã suýt nữa nói với anh rằng bỗng nhiên tôi thấy như sắp cóng run lên.

“Vậy để tôi khép cửa sổ.” Và anh đóng lại.

Tôi có muốn thêm ít đá trong rượu của mình không?

Lắc đầu.

Nhưng tôi không rời cái máy sưởi và cứ áp mãi tay và cả thân mình cạnh nó. Anh đặt hai ly rượu lên bàn trà, đến bên từ đằng sau lưng và bắt đầu xoa bóp vai tôi. Tôi yêu cách anh nắn bóp cổ và hai bả vai mình.

“Tốt hơn chưa?” anh hỏi.

“Nữa đi,” tôi nói. Rồi chẳng biết vì sao: “Tôi bảo mình bồn chồn rồi mà.”

“Vì tôi sao?”

Tôi rùn vai xuống, biết rằng anh sẽ hiểu đó nghĩa là Em không biết, có lẽ không phải anh, không phải tối nay, ai mà biết, nhưng đừng dừng lại.

Anh có đôi tay khỏe – và anh biết, như cách tôi muốn anh biết – rằng người tôi như nhũn ra từng chút một mỗi lần anh nắn bóp vào vùng cổ ngay dưới sọ tôi và truyền đi những cơn rùng mình đầy kích thích chạy dọc xuống tủy sống. Khi xoa bóp xong, anh đặt tay quàng quanh tôi và ép sát ngực anh vào lưng tôi, hai tay anh luồn xuống dưới áo. Tôi không thấy phiền đâu nếu anh chạm xuống thấp hơn nữa, nhưng anh không làm vậy, dù tôi biết chắc rằng chuyện ấy đã lướt qua suy nghĩ anh, bởi vì tôi nhận ra trong một phần triệu giây ấy đã có sự lưỡng lự. Thật dịu dàng, anh kéo tôi ngồi về sofa.

Nhưng rồi anh bắt đầu với whiskey, rót một ít vào hai ly của chúng tôi, chợt nhớ ra gì đó và vội đi vào bếp, đem ra hai bát lớn, một đựng hạt dẻ, một đựng những chiếc bánh quy nhỏ rắc muối. Anh ngồi xuống Ở đầu kia sofa, chúng tôi chạm ly, nâng lên, và uống ngụm đầu tiên. Anh muốn biết tôi nghĩ gì. Tôi không biết mình nghĩ gì. Nên tôi nói tôi vẫn còn lạ lẫm với whiskey đơn cất nhưng mà tôi thích chúng. Anh đưa bát mời tôi thử hạt dẻ, nhìn tôi lấy một ít, rồi đặt nó lại trên bàn trà mà không ăn. Tôi nhấp ngụm thứ hai và nói rằng mình vẫn lạnh. “Tôi có thể uống trà thay vì thế này không?” Tôi thích loại nào, nhà có nhiều lắm, anh bảo. Gì cũng được, tôi đáp, chỉ cần nóng là được. Khi đứng dậy để vào bếp, anh chạm nhẹ lên má và dọc xuống cổ tôi. Cảm giác ấy khiến tôi nhớ về mẹ mình khi tôi không khỏe và bà làm vậy để kiểm tra liệu tôi có sốt không. Nhưng cái chạm của anh không phải để kiểm tra bị sốt, và tôi mỉm cười. Và phút sau, ngay sau khi tiếng bíp của lò vi sóng, anh trở ra và tôi giữ chiếc cốc ấm

áp bằng cả hai bàn tay mình. “Tốt hơn nhiều rồi.” tôi bảo, gần như bật cười vì cách tách trà này có thể khiến tôi thấy hạnh phúc tới vậy.

Một lần nữa anh đứng lên, và mở nhạc.

Tôi lắng nghe một lúc. “Brazil?”

“Chính xác.” Anh có vẻ hài lòng. Anh mới mua đĩa CD này hôm nọ, anh nói.

Qua nụ cười của tôi, anh biết tôi hiểu được lý do anh mua nó.

Tôi hiểu tiếng Bồ Đào Nha không, anh hỏi. Cả hai cùng bật cười. Cả hai đang hồi hộp.

Một chút, còn anh?

Không một từ.

Chúng tôi trò chuyện chủ yếu về những người tình cũ. Của anh là một kiến trúc sư người mà cuối cùng đã chuyển về Montreal nhiều năm trước. “Còn em?” anh hỏi. “Và ý tôi không phải về cái cậu kết hôn rồi.” Vậy là anh có nhớ đến người đã rời xa và ném đời tôi vào bất định. Tôi kể với anh về mối tình dài nhất của mình với một cậu bé tôi quen từ hồi tiểu học, chúng tôi gặp lại gần mười lăm năm sau trong một quán bar đồng tính tít tận ngoại ô tồi tàn của Rome. Cậu ấy khiến tôi ngạc nhiên khi thú nhận rằng đã thích thầm tôi từ hồi cả hai mới tám tuổi. Tôi bảo rằng mình đã hoàn toàn bị cậu bỏ bùa khi lên chín. Sao cậu không nói gì? Sao tôi cũng vậy? Sao chẳng ai trong hai ta biết về chính mình?

Tất cả những gì chúng tôi muốn là được bù đắp lại cho khoảng thời gian đã mất ấy. Tôi nghĩ chúng tôi không thể tin được hai người đã may mắn ra sao mới gặp lại được nhau.

“Hai người bên nhau bao lâu?”

“Gần hai năm.”

“Sao lại chia tay?”

“Tôi từng tin rằng cảm giác êm ấm cũ kỹ và tầm thường ấy đã giết chết những gì cả hai có với nhau. Nhưng chuyện không chỉ vậy. Cậu ấy muốn nhận nuôi một đứa trẻ, thậm chí còn muốn tôi sẽ làm cha của nó. Cái cậu muốn là một gia đình.”

“Và em thì không sao?”

“Tôi không biết rằng mình không muốn. Tôi chỉ biết mình chưa sẵn sàng, tôi từng hoàn toàn tận tâm với âm nhạc và giờ vẫn vậy. Sự thật là, tôi cứ mong lại được một mình.”

Anh nhìn tôi như băn khoăn: “Liệu có khi nào đây là một lời cảnh báo dành cho tôi không?” anh hỏi.

“Tôi không biết.” Tôi mỉm cười để giấu đi nỗi xấu hổ. Câu hỏi của anh hoàn toàn làm tôi bất ngờ. Nhưng rồi, nếu là anh, tôi cũng sẽ hỏi điều tương tự như vậy.

“Có lẽ tôi không nên nói gì thì hơn, nhưng tôi đang đứng nhìn mọi chuyện từ một khía cạnh khác cơ. Tuổi tác. Tôi chắc rằng em cũng đã nghĩ về điều ấy rồi.”

“Tuổi tác chẳng phải vấn đề.”

“Vậy sao?”

“Tôi đã nói vậy hôm Chủ nhật rồi mà. Hai ta quên nhanh quá.”

“Tôi không nhớ.”

“Ông đãng trí mất rồi.”

“Tôi bị bối rối thôi.”

“Và tôi thì không vậy sao?”

“Tôi đã luôn nghĩ về em kể từ lúc ta nói tạm biệt ngoài quán ăn. Tôi đi ngủ và nghĩ về em, tỉnh dậy và nghĩ về em, và tương tư về em suốt ngày hôm sau ấy, chỉ là tôi cứ tự trách mình mãi. Bây giờ tôi còn chẳng tin được là em đang ngồi ngay cạnh đây bên tôi.”

Anh ngừng lại, nhìn tôi, và nói, “Và tôi muốn hôn em.”

Tôi thấy ngạc nhiên hơn cả lúc tôi và anh cuốn lấy nhau trong thang máy. Tôi cảm thấy như cả hai chưa từng được hơn trước đây bao giờ và cái bóng của nỗi khó xử khi dạo bước cạnh mà chẳng thể nào nắm tay anh vẫn chưa được xua tan. Anh đặt ly của mình xuống, dịch lại gần tôi, và hôn nhẹ lên môi, gần như lúng túng, cùng lúc, như một bản nhạc nền dịu êm của nụ hôn trước đây, đằng sau tiếng người ca sĩ Brazil mờ ảo ngân lên trong căn phòng tôi cứ nghe thấy âm thanh của chiếc thang máy đang đi xuống để nhắc tôi nhớ rằng khi hôn nhau giữa tiếng thang máy cũ kỹ di chuyển lên và xuống cũng giống như hôn dưới tiếng lộp độp của một cơn mưa rào dưới một mái nhà tại một vùng quê, và rằng tôi thích âm thanh đấy và không muốn nó dừng lại bởi vì tôi cảm thấy thật ấm cúng, được bảo vệ, và an toàn dưới sự mê hoặc của nó, bởi vì, không chỉ không xâm phạm giữa hai chúng tôi, mà nó còn lên tiếng cho cuộc đời tồn tại bên ngoài phòng khách của anh và nhắc tôi rằng tất cả chuyện này không phải chỉ là một giấc chiêm bao mà tôi tự tạo. Cái anh thực sự muốn có lẽ là để hai người được chậm rãi và không vội vàng, và, nếu cần, có thể rút lui nếu chuyện diễn ra nhanh hơn mong muốn. Tôi chưa làm như thế này bao giờ. Rồi anh hôn tôi lần nữa, cũng vẫn thật nhẹ nhàng.

“Khá hơn chứ?” anh hỏi.

“Nhiều rồi. Ôm tôi nữa đi, xin đấy.” Tôi muốn được ôm và quàng tay mình quanh anh. Tôi thích cảm giác chiếc áo len của anh chạm lên mặt mình, mùi của gỗ, và, sau lớp len dưới tay anh, một mùi hương dịu nhẹ chỉ có thể là từ cơ thể anh.

Nên tôi thì thầm những câu trong bài hát Bồ Đào Nha ay:

De que serve ter o mapa se o fim está traçado De que serve a terra à vista se o barco está parado

De que serve ter a chave se a porta está aberta

“Dịch nào,” anh bảo.

Bản đồ để làm gì nếu điểm tận cùng đã biết trước? Bến bờ để làm gì nếu thuyền bè đều vô dụng: Chìa khóa để làm chi nếu cánh cửa kia luôn rộng mở?

Anh yêu câu hát, anh bảo, và bảo tôi đọc lại lần nữa đi, và tôi đọc.

Sau đó, anh nói, “Nằm xuống đi.” Anh dẫn tôi tới phòng ngủ. Tôi định cởi cúc áo mình, nhưng “Đừng,” anh nói, “để tôi.” Tôi muốn trần trụi đứng trước anh nhưng không biết phải nói ra thế nào. Nên tôi để anh cởi đồ mình mà không đụng tới quần áo anh. Anh dường như không bận tâm. “Là vì” – và anh lưỡng lự – “tôi muốn chuyện này thật đặc biệt,” anh bảo.

Và khi nằm xuống, chúng tôi ôm ấp và kiếm tìm môi nhau. Nhưng tôi có thể cảm nhận được hai người vẫn không ổn định và chấp chới. Có thứ gì đó không trọn vẹn. Không phải là thiếu mất đam mê; chúng tôi đang thiếu đi sự quả quyết. Có phải chúng tôi, biết đâu, đã làm chuyện chậm dần đến mức ngừng hẳn? Tôi khiến anh thất vọng rồi sao? Hai ta đang đổi ý ư? Có lẽ anh cũng đang cảm thấy vậy, đó là một cảm giác không ai có thể che đậy đi hoặc phớt lờ đi được. Anh nhìn tôi chăm chú rồi nói rằng, “Em sẽ để tôi khiến em hạnh phúc chứ, hãy để tôi, tôi muốn vậy.”

“Làm bất cứ điều gì ông muốn. Như vậy em sẽ vui lòng.”

Nghe thấy điều ấy và anh chẳng còn chần chừ được và hôn tôi lần nữa rồi bắt đầu cởi hết cúc áo. “Em muốn tôi cởi áo em chứ?” Hỏi kiểu gì vậy, tôi nghĩ rồi gật đầu. Rồi, khi anh giúp tôi: “Tôi yêu da em, ngực em, vai và mùi hương em. Em đỡ lạnh chưa?” anh hỏi, cùng lúc ấy nhẹ nhàng vuốt ve ngực tôi.

“Rồi,” tôi bảo, “giờ thì hết rồi.”

Một lần nữa anh khiến tôi bất ngờ: “Tôi muốn ta hãy đi tắm nước nóng.”

Chắc hẳn tôi đã nhìn anh bằng đôi mắt lúng túng hơn cả. “Sao không, nếu ông muốn.”

Chúng tôi đứng dậy, rồi bước vào nhà tắm của anh. Nó còn lớn hơn cả phòng khách nhà tôi.

Tôi không thể tin vào số lượng chai lọ xếp hàng trên sàn phòng tắm rộng vách kính. “Hai cho tôi, hai cho em,” anh bảo, soạn ra bốn chiếc khăn tắm màu xanh biển đêm được gấp gọn gàng. Với một nỗ lực đem tới một chút hài hước vì cả hai chúng tôi đều đã cởi đồ và đụng chạm, tôi hỏi liệu khách sạn có phục vụ đồ ăn sáng không. “Có chứ,” anh đáp. “Một bữa sáng thịnh soạn luôn được kèm theo cho tất cả khách trọ.” Chúng tôi trần trụi và đang cương khi hôn nhau lần nữa.

“Nhắm mắt lại và tin tôi,” anh nói. “Tôi muốn khiến em hạnh phúc.” Tôi không biết anh có ý định gì nhưng tôi làm theo điều anh bảo. Tôi nghe thấy anh cầm lên một chiếc khăn, và lập tức tôi nhận ra mùi hương của sữa tắm, vì nó có mùi của hoa cúc, gợi nhắc tôi về ngôi nhà của cha mẹ mình và, dầu cho thời tiết ngoài trời đêm nay, hương thơm ấy đưa tôi trở về với mùa hè của mình ở Ý, và làm cho tôi cảm giác như được về nhà ngay tại một nơi không phải nhà của mình. Anh bắt đầu xoa khắp cơ thể tôi, và tôi để mặc bản thân mình hòa với cảm giác ấy. “Đừng mở mắt ra,” anh nhắc khi xoa nhẹ nhàng một lớp bọt lên mặt tôi và hỏi liệu anh có thể gội đầu cho tôi không, rồi tôi bảo đương nhiên, và khi bọt bông lên trên tóc tôi sau khi anh xoa lên, tôi nghe thấy anh tắm cho mình, ngay sau đó lại là cảm giác được những ngón tay anh chà và xoa bóp trên gáy tôi lần nữa. “Đừng có mà lén nhìn đấy,” anh bảo, và tôi biết được qua giọng của anh rằng anh gần như bật cười về chuyện cả hai đang làm trong nhà tắm.

Sau khi xong, và khi tôi vẫn phải nhắm mắt, anh mở cánh cửa kính và giúp tôi từ từ bước ra ngoài, rồi nhất quyết muốn lau người, lau tóc, lưng và nách cho tôi, và rồi dắt tôi vào phòng ngủ và bảo tôi nằm lên giường anh. Tôi yêu chuyện không mặc gì cả và được ngắm nhìn, yêu chuyện chiều chuộng thế này, yêu khi anh bắt đầu thoa kem dưỡng lên tôi và mỗi lần anh đổ ra nhiều hơn vào lòng bàn tay rồi chạm lên khắp người tôi. Tôi thấy mình như một đứa bé được tắm táp và chăm nom bởi cha mẹ mình, điều ấy lại mang tôi về với thời ấu thơ khi cha tôi tắm cho tôi trong vòng tay ông. Chắc hẳn tôi đã từng vậy – tại sao mọi chuyện lại ùa về ngay lúc này, và tại sao nó bỗng nhiên như giải thoát tôi khỏi chiếc hộp với cái nắp đóng chặt đã tước đi của tôi không khí và ánh sáng và âm thanh và tước cả mùi hương thơm ngát của hoa và cỏ cây mùa hè? Tại sao tôi như thể được thoát khỏi chính mình và rằng tôi chính là người khổ sai với nơi tù đày không đâu khác là chính tôi đây và chỉ mình tôi thôi? Và kem dưỡng này mà tôi chưa từng cảm nhận được nó trước đây trên da mình là gì vậy? Tôi mong muốn điều gì từ người đàn ông này và tôi sẽ phải đem trao lại cho người ta những gì? Có phải tất cả điều anh làm là vì tôi đã nói với anh rằng mình bồn chồn, là vì tôi đã cảnh báo anh mình rất tệ những lúc dạo đầu không? Tôi để anh làm những gì anh muốn, vì tôi thực sự thích thế này, cảm thấy mình được khao khát và ngược lại càng thêm khao khát anh nhiều hơn, hơn cả khi tôi gặp anh ở nhà thờ và kìm lại không ôm dụi vào ngực anh. Tôi tưởng mình đã biết anh sẽ làm gì tiếp theo, nhưng điều anh làm, một lần nữa, tôi không hề lường được, vậy nên khi anh cuối cùng cũng bảo tôi mở mắt và nhìn thẳng vào anh, tôi đã hoàn toàn thuộc về anh và khi anh hôn tôi lần nữa và lần nữa thì tôi không cần nói hay nghĩ gì cả, tôi không cần phải làm gì ngoài dâng hiến bản thân mình cho một người dường như biết tôi, biết cơ thể tôi và biết điều nó khát khao rõ hơn cả chính tôi biết, bởi vì có lẽ anh đã biết ngay từ lúc bắt chuyện trong nhà thờ và tôi khẽ chạm lên tay anh, biết khi anh bảo tôi đợi bên ngoài và rồi mời tôi đi ăn tối, biết khi chúng tôi dừng lại nơi mà đáng ra tối đó cả hai có thể tới thay vì vội vàng nói chúc ngủ ngon, biết tất cả về tôi khi anh thấy tôi đỏ mặt dễ dàng và rồi nói mãi về người cha tuyệt vời để xem tôi sẽ phản ứng thế nào, biết rằng tôi đã đánh mất linh hồn mình quá lâu rồi và giờ thì nhận ra rằng bấy lâu nay nó vẫn luôn quanh quẩn đây thôi nhưng tôi chẳng biết tìm nó nơi đâu hay bằng cách nào khi không có anh – Lạc mất linh hồn mình, lạc mất linh hồn mình, tôi muốn nói, và rồi nghe thấy chính mình lẩm bẩm từng lời, Lạc mất linh hồn mình, bao năm nay. “Đừng,” anh nói, như thể sợ rằng tôi sẽ bật khóc. “Hãy nói là tôi không làm em đau đi,” anh bảo. Và tôi gật. “Không, nói ra đi em, nói Ông không khiến em tổn thương, nói ra lời vì em thực sự thấy như thế.” “Ông không khiến em tổn thương,” tôi nói. “Hãy nói lại, lặp lại nữa đi em.” Và tôi nói, “Ông không khiến em tổn thương,” bởi vì tôi thực sự thấy thế, “Ông không tổn thương em, ông không tổn thương em, không hề, không hề,” rồi nhận ra dẫu tôi lặp lại những lời ấy nhiều lần hơn anh bảo, điều anh làm cũng đã khiến tôi bỏ lại mọi thứ tôi đã đem theo đêm ấy, suy nghĩ của tôi, nhạc của tôi, giấc mơ của tôi, tên tôi, tình yêu của tôi, sự ngần ngại đè nặng tôi, xe đạp của tôi, và mọi thứ khác trong áo khoác và ba lô của tôi đặt ở phòng khách hoặc trong túi treo sườn mắc vào chiếc xe đạp bị khóa vào một cột trụ chỉ đường tít tận dưới tầng kia trước khi chúng tôi vào thang máy, thứ mà một lần nữa, giờ khi chúng tôi làm tình, phát ra âm thanh kể chuyện của nó, bởi vì ai mà biết được người thuê nhà nào đã nhấn nút kéo thang máy từ tầng dưới lên và sẽ sớm thôi bước vào trong, nhấn đóng lại cánh cửa mỏng sau lưng mình, và đi một chuyến chơi vơi xuống nơi chẳng ai biết là tầng nào, và tôi cũng không cần biết, bởi vì tôi cứ ngẫm nghĩ mãi về những điều hỗn loạn ấy chính là vì tôi đang cố và vẫn đang thất bại mỗi khi tự nhủ rằng tôi không hề mất kiểm soát khi tôi biết rõ rằng tôi đang ra sức nắm chặt từng mảnh thực tại và cảm nhận chứng cứ tuột khỏi mình, và ngất ngây mỗi lần như vậy, bởi vì tôi yêu việc anh chứng kiến điều đang xảy đến với tôi, và tôi muốn anh thấy cảm giác ấy trên gương mặt tôi trong khi anh thực hiện việc hào hiệp nhất thế gian này, đó là đợi và vẫn chờ đợi trong khi tôi vẫn lặp lại rằng anh không khiến tôi đau, không khiến tôi thương tổn, như anh vừa bảo tôi nói thế, cho tới khi tôi nhận ra mình đang cầu xin anh đừng đợi nữa, bởi vì đây là một yêu cầu lịch sự, mong rằng anh cũng sẽ quyết hộ cho tôi, bởi vì lúc này cơ thể anh biết rõ cơ thể tôi hơn là tôi biết về chính mình.

Chỉ có một vài vấp váp ngại ngùng ngắn ngủi xảy ra trong khoảnh khắc gần gũi hoàn hảo giữa hai người đàn ông mà trước lúc ấy vẫn chưa thấy nhau trần trụi. Nó xảy ra trong nhà tắm khi anh nắm lấy dương vật tôi và mắt tôi vẫn nhắm chặt tránh bọt xà bông. “Tôi không biết phải hỏi thế nào,” anh đã bảo vậy, “nhưng...” Và rồi anh lại chần chừ.

“Sao?” Anh đã khiến tôi bồn chồn và giờ tôi lại chẳng thể mở mắt nữa.

“Em là người Do Thái à?” cuối cùng anh lên tiếng. “Thật ư?” tôi đáp, suýt phá ra cười. “Ông không nhận ra à?”

“Tôi đã cố phỏng đoán dựa trên những sự thật khác chứ không phải điều hiển hiện trước mắt.”

“Điều hiển hiện khẳng định khá rõ ràng đấy. Ông đã thấy bao nhiêu người Do Thái và Hồi giáo trần truồng rồi?”

“Chưa một ai,” anh đáp. “Em là người đầu tiên.” Sự thật thà vô tư của anh kích thích tối hơn nữa, và rồi tôi ép người anh sát lại thân mình.

“Fabiola,” anh giải thích khi chúng tôi giật mình tỉnh dậy bởi tiếng sập cửa buồng cho phục vụ phòng.

“Bà ấy luôn để cửa mở rồi gió thổi sập thế đấy.” Tôi nhìn đồng hồ, đã quá tám giờ sáng rồi và tôi có lớp vào mười một giờ. Nhưng tôi thấy thật biếng lười quá. Còn anh, dẫu vậy, đã thả tôi ra khỏi vòng tay mình và ngồi dậy, khi bàn chân anh, tôi nghĩ, khùa khoảng khắp nơi tìm dép đi trong nhà.

“Quay lại giường đi,” tôi nói.

“Gì, nữa á?” anh hỏi, làm bộ ngỡ ngàng. Tôi yêu cảm giác được ôm gọn trong vòng tay và áp lưng lại với anh khi hơi thở anh luồn vào gáy mình. Tôi không kìm nén điều gì cả.

Đã có một thoáng lưỡng lự ngay sau khi chúng tôi làm tình đêm qua khi tôi bỗng thấy có lẽ mình nên mặc lại đồ và rời đi. “Em không định rời giường đấy chứ?” anh đã hỏi.

“Đi vệ sinh mà,” tôi bảo.

Tôi đã dối anh.

“Vậy là không rời đi.”

“Không đi.” Nhưng câu này tôi cũng đã dối.

Tôi đã muốn rời đi, kể cả nếu tôi làm vậy theo thói quen của mình. Tôi đã định giải thích rằng tôi thường luôn như vậy sau khi làm tình, là bởi vì tôi muốn thể hoặc tôi nhận ra người còn lại sốt ruột cho thấy tôi rời đi, bởi vì sau cùng chính tôi cũng luôn muốn những lần qua lại ấy biến đi ngay. Xỏ tất nhanh lên, nhét đại vào túi cũng được, nhưng mà nhanh đi đi. Thậm chí tôi đã thành thạo vô cùng cái nghệ thuật tỏ ra lịch lãm một cách chiếu lệ chỉ để trì hoãn sự ra đi vội vàng của mình, cách mà sẽ khiến người chủ nhà đôi khi phải vờ như ngỡ ngàng khi thấy ta từ chối một ly nước hoặc đi ăn nhẹ đâu đó trong khi ta chỉ đang cố gắng trốn chạy khỏi thế giới của người, đồ đạc của người, khỏi mùi hương trên tóc, ga giường và khăn tắm của người. Không khí lúc này bỗng hơi lạ lùng, và tôi không nói gì cả. Tôi thực lòng không muốn rời khỏi giường nhưng lại không đọc thấu anh, càng ít tin vào vẻ đầy ngạc nhiên của anh. Và tuy vậy, tôi đã nhận ngay ra từ lúc hai người dạo bước cạnh nhau trên đường tới nhà anh và thấy thích thú với cái cách bàn tay chúng tôi luôn lướt qua nhau dẫu có lạc nhịp, đây không phải là thứ dục tình giữa hai kẻ xa lạ.

Sau khi làm tình đêm qua, anh nói rằng hai chúng tôi nên đi ăn gì đó. “Tôi đói meo rồi.” “Em cũng thế,” tôi đáp lại. “Nhưng ta nên nhanh lên.” Chúng tôi đều không để ý đã quá nửa đêm rồi. “Chúng ta có nhìn giống như vừa phang phịch gì không?” “Có,” tôi bảo. “Có khi người ta sẽ biết.” “Tôi muốn họ biết.” “Em cũng vậy.”

Chúng tôi ăn tối ở một quán ăn nhỏ nhưng luôn ồn ào và thường mở cửa muộn. Những phục vụ nơi ấy biết anh, và một vài khách quen cũng biết anh. Điều này khiến hai chúng tôi bỗng rùng mình khi nhận ra rằng họ đang nghi ngờ chuyện cả hai vừa làm chưa đầy mười lăm phút trước.

“Em muốn một cái ôm nữa,” sáng hôm ấy tôi đã nói vậy.

“Chỉ ôm thôi à?”

Trước khi tôi nhận ra, hai chân tôi đã quắp lại và quàng quanh eo anh.

“Và liệu tôi có thể hỏi em chuyện này chứ?” anh bảo, gương mặt anh chỉ cách tôi chưa tới vài phân, anh áp tay lên trán và vuốt những sợi tóc khỏi vương vào mắt tôi.

Tôi chẳng thể biết anh đã nghĩ điều gì – có lẽ, tôi tưởng tượng, là điều gì đó về cơ thể cả hai hay gì đó gợi ra sự ngại ngùng, là về một sự phô diễn, hay là ấp ôm bảo vệ:

“Tối nay em bận không?”

Câu hỏi ấy khiến tôi bật cười. “Rất rảnh,” tôi đáp. “Thế thì tới nhà hàng nhỏ của mình đi?”

“Mấy giờ?”

“Chín?”

Tôi gật.

Tôi quên mất địa chỉ chính xác của nơi ấy. Anh đã nhắc tên phố. Rồi, khi cố gắng để nghe không quá tự đắc, anh bảo họ thường dành một bàn riêng cho anh ở chỗ ấy. “Tôi thường mời khách hàng tới đó ăn trưa hoặc ăn tối.”

“Và cả người khác nữa à?”

Anh cười.

“Giá mà em biết.”

Người giúp việc chắc hẳn đã được báo là anh có khách – có thể là lúc tôi đang tắm – bởi vì khi anh dẫn tôi tới phòng ăn, bữa sáng cho hai người đã được dọn. Cà phê và nhiều thứ chu đáo khác, bánh mì, pho mát, và mứt đều có vẻ là nhà làm. Anh bảo mình thích mứt mộc qua và mứt sung. Thường mọi người thích dâu và cam. “Nhưng cứ tự nhiên nhé.”

Anh phải vội tới văn phòng. “Chín giờ nhé?”

Chúng tôi rời đi cùng nhau. Tôi bảo anh tôi sẽ đạp xe về nhà để thay đồ rồi tới nhạc viện, sau đó là lịch trình buổi trưa với một người đồng nghiệp. Tôi không hiểu tại sao mình lại đưa ra nhiều thông tin về ngày của tôi tới vậy. Anh lắng nghe, nhìn tôi mở khóa chiếc xe, khen ngợi chiếc khung của nó lần nữa, bảo tôi lần sau hãy gập nó lại đem vào nhà, rồi anh đứng đó, và, khác với lần đầu, anh nhìn tôi rời đi.

Nhưng lúc ấy vẫn còn sớm. Nên tôi đạp xuống dọc hết con phố này tới con phố khác, băng qua cầu, chẳng màng tới chuyện đi đâu, nóng lòng muốn tìm một tiệm bánh để có thể dừng chân, ngồi xuống, uống thêm một ly cà phê nữa và nghĩ về anh, tôi không muốn những lịch trình buổi sáng xua đi cảm xúc hoặc ký ức về đêm qua, về cách chúng tôi ôm hôn nồng nàn lúc cuối khi tất cả những gì tôi muốn nghe là sự yên ắng và âm thanh đầy trấn an từ chiếc thang máy cũ đang đi lên và xuống mà mỗi lần như vậy đều khiến tôi biết rằng hai chúng tôi không còn là những người cuối cùng dùng nó nữa.

Thường thì, tôi sẽ quên, hoặc cố dẹp đi những gì đã xảy ra đêm trước, và thường sẽ chẳng khó khăn gì vì mọi thứ hiếm khi kéo dài hơn một hoặc hai giờ. Đôi khi mọi chuyện cảm giác như chưa từng xảy ra, và tôi sẽ thấy vui vẻ khi không nhớ nhung gì.

Ngồi xuống vào một sáng trời trong thế này, tôi thích quan sát người ta bận bịu tới chỗ làm trong khi tôi thì thấy như mình đang trong những ngày nghỉ thêm cho Giáng Sinh. Tình dục đã không có gì lạ lùng cả, nhưng tôi thích cách anh để ý đến mọi chuyện, từ khoảnh khắc anh đưa cho tôi khăn tắm tới lúc anh quan tâm tới cơ thể tôi, khoái cảm của tôi, quan tâm tới mọi chuyện, và luôn luôn chu đáo và tử tế, với gì đó như trân quý dành cho một cơ thể trẻ hơn anh nửa số tuổi. Kể cả cái cách anh xoa và vuốt ve bàn tay và cổ tay tôi, để tôi tin cậy anh, rồi khi mắt tôi nhắm lại, anh cứ xoa xát cổ tay rồi nhẹ nhàng áp nó xuống giường, cử chỉ tử tế nhất mà một người đàn ông có thể biết. Tại sao chưa từng có ai nắm tôi như vậy và khiến tôi hạnh phúc đến thế chỉ với những nâng niu nhỏ bé và dường như tầm thường vô cùng? Nếu như anh quên, tôi sẽ bảo anh hãy chạm vào cổ tay tôi lần nữa như cái cách anh đã làm trước đó. tay

Tôi đặt tờ báo xuống rồi vô thức bẻ CỔ áo khoác lên và cảm nhận nó chạm lên da mình. Nó khiến tôi nhớ về đôi má chưa cạo của anh sáng nay, khi cả hai làm tình lần nữa. Tôi muốn áo khoác mình có mùi của anh. Anh dùng kem cạo râu gì vậy? Mùi thật nhạt nhẹ, nhưng mà tôi muốn biết. Tôi sẽ học cách cọ má tôi lên má của anh vào sáng mai.

Và rồi tôi nhớ cha tôi đã nói rằng ông sẽ ở Paris vào mùa Giáng Sinh này trong vài tuần. Tôi tự hỏi đến lúc đấy Michel và tôi còn bên nhau không. Tôi muốn cha mình gặp anh và tự hỏi ông sẽ nghĩ gì. Ông và Miranda đã hứa lần này sẽ đưa cả thằng bé theo – đây sẽ là lần đầu tôi gặp lại em trai mình, ông bảo. Tôi sẽ dẫn họ tới quán cà phê của mình ở đây, và nếu Michel vẫn còn hiện diện trong đời tôi khi ấy, Miranda và tôi đơn giản sẽ ngồi đó quan sát hai người đàn ông cố đoán trong hai người bọn họ ai là người trẻ tuổi hơn.

Phần còn lại của ngày hôm ấy trong tôi trải qua trong cảm giác say say lâng lâng. Ba học sinh công thêm một bài giảng được soạn trong mười lăm phút trước khi lên lớp. Lúc ăn trưa tất cả những gì tôi nghĩ tới là bữa tối nọ, whiskey đơn cất, hạt dẻ và bánh quy muối, và khoảnh khắc anh lấy hai chiếc khăn tắm cho tôi và hai cho anh. Đêm nay liệu anh có chu đáo vậy nữa không hay anh sẽ trở thành một con người khác mà tôi không hề quen biết? Tôi mong rằng chiếc áo đẹp nhất của mình được là lụa cẩn thận, và, khi tôi kiểm tra, thì đúng là vậy. Tôi đã định đeo caravat nhưng lại thôi. Tôi chải tóc dầu cho tôi nóng lòng đợi anh vuốt trán mình bằng bàn tay của anh. Rồi trên đường rời đi, tôi rẽ qua chỗ người thợ giày để đánh bóng đôi giày.

Em nghĩ mình hạnh phúc. Tôi sẽ nói với anh như vậy. Em nghĩ em hạnh phúc. Tôi biết nên tránh nói như thế sau chỉ ba tối bên nhau, nhưng tôi không quan tâm. Tôi muốn nói ra.

Khi đến nhà hàng tối đó, tôi không thể tìm thấy anh và nhận ra một nỗi nhục nhã vô cùng rằng tôi chẳng hề biết tên họ anh là gì. Điều ấy khiến tôi cảm giác hoàn toàn bối rối. Tôi sẽ chẳng bao giờ dám nói rằng mình tới đây để gặp Michel hay Monsieur Michel. Nhưng trước khi tôi có thể nói gì đó khiến chính mình mất mặt, một người bồi bàn nhận ra tôi và đưa tôi tới bàn hai người đã ngồi ba đêm trước. Tôi hiểu ra rằng, dẫu Michel phủ nhận, tôi không phải chàng trai trẻ đầu tiên bước vào quán cùng vẻ ngượng ngùng mà những người phục vụ đã học được cách nhận ra rằng đây là chính một trong những người khách của anh. Tôi bỗng thấy chạnh lòng, nhưng rồi quyết định sẽ không để bụng hay ấp ủ nó thành niềm ganh ghét. Có lẽ tất cả là do tôi tưởng tượng ra thôi. Và có khi là vậy thật, bởi vì khi tôi được đưa tới bàn chỉ cách của chưa đầy dăm bước chân, anh đã ngồi ngay đó, nhấm nháp ly rượu khai vị. Giữa lúc bối rối ấy tôi không nhận ra rằng anh đã quan sát mình từ nãy đến giờ.

Chúng tôi ôm nhau. Và rồi, không thể ngừng lại được, tôi bảo anh, “Em vừa mới có ngày tuyệt vời nhất năm.”

“Vì sao?” anh hỏi.

“Em cũng không biết,” tôi nói, “nhưng có thể nó dính dáng tới đêm qua.”

“Với tôi là đêm qua và sáng nay nữa.” Anh mỉm cười. Tôi thích cách anh không tỏ ra miễn cưỡng khi mang ý rằng anh trân trọng chút vội vã dư âm ban sáng. Tôi thích tâm trạng anh, nụ cười của anh, thích tất cả mọi thứ. Thoáng lặng im trôi qua và tôi không thể không bảo anh rằng: “Ông thật tuyệt vời, em đã muốn nói với ông, ông thật tuyệt!”

Ngay khi tôi giở khăn ăn, tôi mới cảm thấy nó ập đến. Tôi mất hứng dùng bữa rồi. “Em không thấy đói,” tôi bảo.

“Giờ thì em mới là người tuyệt vời.”

“Tại sao?”

“Tại vì tôi cũng không đói nhưng tôi không định lên tiếng đâu. Về nhà thôi. Có lẽ là nhấm nháp gì đó. Whiskey đơn cất nhé?”

“Vâng. Hạt dẻ và bánh gì đó nữa?”

“Chắc chắn là hạt dẻ và bánh gì đó.”

Anh bảo với người bồi bàn: “Xin cáo lỗi với đầu bếp nhé, nhưng chúng tôi đổi ý rồi. À demain – hẹn gặp vào ngày mai.”

Khi tới nhà anh, chúng tôi mặc kệ mối bận tâm về đồ ăn thức uống. Cả hai cởi đồ, ném chúng ngay xuống sàn, chẳng tắm, và đến thẳng giường.

Thứ Năm tuần đó chúng tôi gặp lại lúc chín giờ cũng tại nhà hàng ấy.

Ăn trưa thứ Sáu.

Và rồi cả ăn tối.

Sau bữa sáng vào thứ Bảy, anh bảo anh sẽ về thăm vùng quê và muốn tôi đi cùng anh – nếu tôi rảnh, anh nói thêm cùng nỗi cẩn trọng và khiêm nhường thường thấy, sự trớ trêu ẩn trong giọng điệu của anh ngụ ý anh hoàn toàn thông cảm và chấp nhận rằng tôi có cuộc sống của mình phải lo ngoài quãng thời gian bên anh và rằng anh sẽ không bao giờ hỏi tại sao, nơi đâu, khi nào, hay với ai. Nhưng khi nói ra, chắc hẳn anh cũng thấy cần phải nói đến cùng: “Ta có thể quay về vào tối Chủ nhật vừa kịp giờ cho buổi hòa nhạc kỷ niệm một tuần của cả hai.” Tôi không biết điều gì đã khiến anh bỗng như đang khó xử, lời mời dành một cuối tuần cùng anh hay niềm ý thức rằng chúng tôi đã có cả một ngày để kỷ niệm với nhau. Để gỡ rối bằng sự cẩn trọng thường thấy anh nhanh chóng nói thêm rằng, nếu tôi muốn đi cùng, anh sẽ đưa tôi ghé qua nhà tôi, chờ trong xe khi tôi vào lấy một ít quần áo ấm – vì trời trở lạnh về đêm - và chúng tôi sẽ đi xa.

“Đi đâu?” tôi hỏi, cũng là cách tối nhanh chóng bày tỏ, Đương nhiên là em sẽ đi rồi.

“Tôi có một ngôi nhà cách thành phố một giờ lái xe.”

כל Tôi đùa rằng cảm tưởng như mình là Lọ Lem vậy. “Sao lại thế?”

“Khi nào thì đồng hồ điểm? Khi nào thì tuần trăng mật kết thúc?”

“Khi nào kết thúc thì sẽ kết thúc thôi.”

“Có hạn sử dụng không?”

“Nhà sản xuất vẫn chưa quyết. Nên ta đành tự lo thôi. Và hơn nữa, chuyện này khác,” anh nói.

“Ông nói vậy với tất cả mọi người đúng không?”

“Đúng. Tôi đã nói thật. Nhưng em và tôi có gì đó rất đặc biệt, và đối với tôi điều này thực sự bất thường. Nên nếu em cho phép, tôi muốn chứng minh cho em thấy qua cuối tuần này.”

“Chắc em tin,” tôi bảo. Chúng tôi bật cười.

“Trớ trêu thay chính là biết đâu khi tôi chứng minh được nó – và rồi ta sẽ ra sao?” Anh nhìn tôi. “Và đó – nếu em muốn biết – là phần khiến tôi sợ hơn một chút.”

Tôi đã có thể bảo anh hãy nói kỹ hơn đi, nhưng, một lần nữa, nhận ra rằng điều ấy có thể sẽ dẫn cả hai dấn thân vào cái lãnh địa mà không ai trong chúng tôi muốn có mặt ở đó cả.

Ngôi nhà ấy, chúng tôi tới nơi sau hơn một giờ lái xe, không phải tòa Brideshead nhưng cũng không phải Howards End. “Tôi lớn lên ở đây,” anh bảo. “Nó đồ sộ, già cỗi, và luôn luôn, luôn luôn lạnh. Kể cả những chiếc xe đạp cũng cũ mèm và gỉ sét, không như chiếc của em. Có một cái hồ bên kia khu rừng và tôi mê nơi ấy lắm. Đó là nơi để tôi phục hồi. Lát tôi sẽ dẫn em đi xem quanh. Còn nữa, ở đây có một cây Steinway cũ đấy.”

“Tuyệt vời. Nhưng nó được lên dây chưa?”

Anh bỗng thoáng ngượng ngùng. “Tôi mời thợ chỉnh rồi.”

“Khi nào thế?”

“Hôm qua.”

“Không vì lý do gì, em cho là vậy.”

“Không vì gì cả.”

Chúng tôi mỉm cười với nhau. Những khoảnh khắc thân mật bất chợt và ấm rực thế này khiến tôi muốn hét lên, Bao năm trôi qua rồi em mới có cảm giác như vậy với ai đó.

Tôi đặt tay mình quanh vai anh. “Vậy là ông biết em sẽ tới.”

“Không biết. Mà hy vọng.”

Anh dẫn tôi đi xem quanh, rồi vào bên trong phòng khách lớn.

Chúng tôi không bước hẳn vào trong mà nán lại ngoài hành lang như hai vị quân chủ trong bức họa của Velázquez. Sàn gỗ không tuổi trải rộng quanh những tấm thảm Ba Tư lớn đang lấp lánh ánh vàng sau hàng năm trời được chải chuốt và đánh bóng. Có tấm còn tỏa mùi sáp đánh thảm. “Tôi luôn luôn nhớ,” Michel nói, “rằng nơi đây thường trở nên cô đơn ra sao vào mùa thu lúc thời điểm tựu trường gần kề và chúng tôi dành cuối tuần ở tại đây. Những ngày tháng ấy cảm tưởng như những chủ nhật mưa dầm lê thể được bắt đầu từ chín giờ sáng và cứ như vậy cho tới khi đông sang và bốn chúng tôi mới được quay lại Paris cùng sự yên lặng ảo não trong xe trước bốn giờ chiều. Cha mẹ tôi căm ghét nhau nhưng không bao giờ nói ra cả. Điều duy nhất gợi lên sự vui tươi – và nó mang cảm giác giải thoát hơn là vui - là tối Chủ nhật khi chúng tôi về tới nhà và mở khóa cửa, bật hết đèn nọ đèn kia, cho tới khi cuộc đời như được nối nhịp lại với cái hứa hẹn về buổi diễn, mà đó là lúc đời tôi như được cất cánh khỏi những bàng hoàng lắt léo của chuyện học hành, bài tập, bữa cơm tối, mẹ tôi, nỗi lặng yên cô độc, và, tệ nhất chính là, một thời thơ ấu đằng đẵng. Tôi ước không một ai phải dành thêm một tuổi thơ hay thời niên thiếu nào tại ngôi nhà này. Cuộc đời tại đây giống như ở một phòng chờ tại bệnh viện và lượt của tôi chẳng bao giờ đến.”

Anh nhìn tôi mỉm cười. “Tất cả những gì tôi từng làm ở đây là bài tập và thủ dâm. Tôi nghĩ chẳng có căn phòng nào trong dinh thự này tôi chưa ngồi làm bài tập cả.”

“Và thủ dâm.”

Câu nói khiến cả tôi và anh bật cười.

Chúng tôi ăn một bữa trưa đơn giản, gần như là đạm bạc trong phòng ăn. Từ những phỏng đoán, tôi cho rằng anh hay tới đây vào gần trưa thứ Bảy và sẽ về vào chiều hôm sau. “Thói quen,” anh bảo.

Ngôi nhà chữ L rộng lớn, với mặt tiền được thiết kế theo phong cách Palladian cuối thế kỷ 18: rất tối giản và không khoa trương, gần như nhạt nhòa trong sự đối xứng không mấy bất ngờ, điều mà chắc hẳn đã giải thích cho vẻ duyên dáng tuy bị đè nén nhưng vẫn vô cùng chan hòa của nó. Tiếp đó là bên chái nhà bên phải đầy bí ẩn, tạo nên một không gian ấm cúng nối liền với một khu vườn phong cách Italy bán lộ thiên. Mái nhà mansard với cửa sổ im lìm lập tức khiến tôi nghĩ tới một căn phòng lạnh lẽo nơi một cậu bé lẻ loi mà một ngày nọ trở thành nhân tình của tôi đang ngồi trên bàn và cẩn thận làm bài tập khi trong đầu lại ấp ủ đủ mọi thứ suy nghĩ luẩn quẩn. Tôi thương thay cho cậu bé ấy. Người mẹ luôn bắt anh mang theo bài tập; nên anh cũng ít có thời gian làm gì khác ở đây, nói gì là chơi đùa vui vẻ, anh bảo.

Tôi hỏi anh về trường lớp. Anh theo học ở Lycée J. “Tôi ghét nơi ấy,” anh bảo, “nhưng cha tôi thỉnh thoảng sẽ ghé vào thăm và sắp xếp để đưa tôi ra khỏi đó trong vài giờ. Đó là bí mật của chúng tôi. Ông cũng từng học ở đó, nên được dạo quanh với ông dọc khu dân cư vào những ngày trong tuần rồi thăm thú các cửa hàng giống như được chu du trong một thế giới sống động, chín chắn mà tôi chưa từng được chạm vào, trong khi tôi chắc rằng dạo quanh thế giới nhỏ bé của tôi lại là cách ông sống lại những tháng năm của một lycéen, một người học trò, chỉ để có thể cảm ơn ngôi sao may mắn của mình đã gác chúng lại mãi mãi vào quá khứ. Ông sẽ không lấy làm ngạc nhiên, ông nói, nếu tôi ghét trường lớp. Một buổi chiều tôi dẫn ông tới xem gian phòng học trống không của mình, ông đã ngỡ ngàng khi thấy mọi thứ chẳng đổi thay chút nào kể từ những ngày trước khi chiến tranh nổ ra. Mùi hương nồng nặc từ những chiếc bàn gỗ cũ vẫn ám trong căn phòng, ông bảo, và rằng những đổ bóng mờ ảo của ánh chiều ta có thể bóp chết tất thảy những suy nghĩ không đoan chính trong tâm can của một cậu bé vẫn đang quét qua lớp bụi bặm vương trên tất cả những thứ đồ đạc nâu tối trong căn phòng học nâu tối hôi hám ở Lycée J.”

“Anh nhớ ông ấy chứ?”

“Nhớ ư? Không hẳn. Có lẽ bởi vì, không như mẹ tôi, bà mất tám năm trước, ông ấy đối với tôi sẽ không bao giờ mất. Ông chỉ vắng mặt thôi. Đôi khi cảm giác như thể một lúc nào đó ông sẽ đổi ý và lẻn vào nhà qua đường cửa sau. Vì thế mà tôi chưa bao giờ thực sự khóc thương cho ông. Ông vẫn vô sự chỉ là ở nơi nào đó khác.” Anh thoáng ngẫm nghĩ.

“Tôi vẫn luôn giữ hầu như mọi thứ của ông, nhất là những chiếc cà vạt, súng trường, bộ gậy golf, kể cả cái vợt đánh tennis cũ bằng gỗ. Tôi đã nghĩ mình sẽ giữ chúng như những kỷ niệm, như cách tôi cất hai chiếc áo của ông vào túi nhựa dán kín hy vọng chúng có thể lưu lại mùi ông ấy. Sự chết không phải là điều tôi khước từ, mà là sự tuyệt diệt. Tôi sẽ chẳng bao giờ dùng đến cái vợt cong queo được đan bằng chỉ cát-gút cũ gin ấy. Lý do lớn nhất làm tôi đau lòng khi chẳng thể ở bên con trai mình khi thằng bé giờ có cả con cái, không phải là vì tôi biết mình sẽ là một người ông tuyệt vời, mà là vì tôi ước thằng bé có thể gặp cha tôi, và thương yêu ông như tôi đã yêu, để rồi hai cha con có thể ngồi xuống cùng nhau vào những ngày tháng Mười một thế này và tưởng nhớ về ông. Tôi chẳng có ai để cùng nhớ về ông cả.”

“Em được không?” tôi hỏi hoàn toàn ngây ngô.

Anh không đáp.

“Nhưng để tôi nói em hay, nếu có một điều duy nhất khiến tôi hối hận ngay lúc này sau hơn ba mươi năm thì chính là ông ấy sẽ không bao giờ gặp được em. Hôm nay điều này đè nặng lên tôi, như thể đời tôi đã mất đi một mạch nối, tôi không biết tại sao nữa. Có lẽ đây là lý do tôi muốn mang em tới đây cuối tuần này.”

Tôi định hỏi có khi không phải là quá sớm để ra mắt cha mẹ anh đâu – và ý nghĩ ấy khiến tôi mỉm cười – nhưng tôi quyết định không nói gì cả, không phải là vì một câu đùa sẽ không hợp vào lúc này, mà bởi vì có một giọng nói bỗng nói với tôi rằng không phải quá sớm nữa rồi, và thực sự đây là lúc để tôi được gặp hoặc, nghe về cha mẹ anh.

“Ông khiến em hơi sợ đấy,” tôi bảo, “bởi vì như vậy có nghĩa là em sẽ chẳng bao giờ xứng đáng trừ phi được cha ông chấp thuận, và vì ông ấy sẽ không bao giờ biết em, nên ông sẽ không bao giờ chấp thuận phải không?”

“Sai rồi. Tôi biết ông ấy sẽ ủng hộ. Nhưng vấn đề không phải vậy. Tôi nghĩ ông sẽ hạnh phúc lắm nếu biết cả tuần qua tôi đã hạnh phúc thế nào.” Anh ngừng lại một hồi. “Hay thế này là quá nhiều áp lực cho những người thế hệ em?”

Tôi lắc đầu và cười, nghĩa là Ông nghĩ sai về em và thế hệ này quá!

“Tôi đã ba hoa quá nhiều về cha mình rồi và tôi biết em chắc đang nghĩ tôi hẳn phải bị ám ảnh bởi điều đó. Tôi ít khi nghĩ đến ông lắm. Nhưng tôi có nằm mơ về ông. Những giấc mơ đó thường rất dịu dàng và an yên. Và buồn cười là đây này: ông ấy còn biết về em nữa. Chính ông trong một cơn mơ đã dẫn dắt tôi thay vì tìm em ở những khách sạn hãy hướng thẳng đến nhạc viện trước. Tuy rõ ràng đó là tiềm thức tôi đã lên tiếng thông qua ông ấy.”

“Nếu không phải thì liệu ông có tìm em không?” “Chắc là không.”

“Nếu vậy thì thật uổng.”

“Liệu em có tới buổi hòa nhạc vào Chủ nhật không?”

“Ông đã hỏi câu này rồi.” “Nhưng em chưa trả lời.” “Em biết.”

Anh gật, nghĩa là Tôi cũng nghĩ vậy đấy. Sau khi ăn trưa anh hỏi tôi có muốn thử cây dương cầm không. Tôi ngồi xuống, đàn một đoạn ngắn để thử âm, làm dáng điệu hết sức nghiêm trọng, và rồi bắt đầu chơi bản “Chopsticks” Anh bật cười. Trước khi tôi biết cái gì đã ám mình, tôi bắt đầu biến tấu bản “Chopstick” tới khi tôi dừng và chơi sang một bản chaconne mới được hòa âm gần đây theo một phong cách cũ. Tôi chơi nó rất khó vì đây là bản tôi đánh cho anh, vì nó hợp với mùa thu, vì nó như chuyện trò với ngôi nhà cổ, với cậu bé sẽ luôn sống bên trong anh, và với những năm tháng giữa hai chúng tôi mà tôi ước có thể xóa nhòa.

Khi dừng lại tôi hỏi anh chính xác đang làm gì khi bằng tuổi mình bây giờ.

“Chắc là làm việc tại công ty luật của cha tôi, hoàn toàn khổ sở, vì tôi ghét nó, nhưng cũng là bởi vì hồi ấy chẳng có ai, không một ai đặc biệt trong đời tôi ngoại trừ những... qua lại.”

Rồi, bỗng nhiên, anh hỏi tôi lần cuối làm tình là khi nào.

“Không được cười nhé?”

“Ừ.”

“Tháng Mười một năm ngoái.”

“Nhưng đây là một năm trước rồi.”

“Và dẫu vậy...”

Nhưng tôi không nói hết câu.

“Chà, lần cuối tôi đưa ai đó tới đây chắc phải là khi tôi bằng tuổi em và cậu ấy dành một đêm ở đây rồi cả hai không bao giờ gặp lại nữa.” Anh ngừng lại mà không nói hết điều anh định nói. Chắc anh đã lập tức nhận ra điều vừa hiện lên trong suy nghĩ tôi: rằng khi anh mang nhân tình của mình tới đây thì tôi còn chưa sinh ra. Rồi, để chuyển chủ đề, anh nói thêm, “Tôi chắc chắn cha mình sẽ mê bản em vừa chơi lắm.”

“Sao ông ấy lại ngừng chơi nhạc?”

“Tôi không bao giờ biết. Ông ấy chỉ đàn cho tôi nghe đúng một lần. Lúc ấy tôi khoảng mười lăm, mười sáu. Ông bảo đó là một đoạn rất khó chơi. Bấy giờ ông đã hoàn toàn không trông mong gì vào khiếu âm nhạc của tôi rồi. Ông ngồi ngay trên cây dương cầm này vào một ngày Mẹ phải tới Paris và rồi nó đã xảy đến: một bản rất ngắn, mà theo tôi, tuyệt mỹ vô cùng, La Chapelle de Guillaume Tell của Liszt. Tôi biết ngay, chẳng nghi ngờ gì, rằng cha mình là một nghệ sĩ dương cầm tài hoa. Tôi đã được thấy rất nhiều ảnh của ông mặc áo đuôi tôm ngồi bên cây dương cầm hoặc sau khi cúi chào khán giả. Nhưng tôi chưa từng thực sự được chạm mặt cuộc đời một người nghệ sĩ của ông. Đó là một cánh cửa đóng chặt. Câu hỏi mà tôi mãi không thể trả lời chính là tại vì sao ông lại ngừng chơi, hoặc lý do ông không bao giờ nhắc đến chuyện đó. Thậm chí lần tôi nói với ông rằng mình nghe thấy ông đàn lúc đêm và âm nhạc đã vang vọng lên phòng tôi từ tít nơi chái nhà xa xôi, ông cũng phủ nhận. Chắc hẳn đó là đĩa nhạc, ông bảo. Sau khi ông đàn xong bản của Liszt lần đó ông chỉ đơn giản hỏi tôi, Con thích nó không? Tôi không biết đáp lại thế nào. Tất cả những gì tôi có thể thầm thì là, Con tự hào vì cha quá đi. Ông chưa bao giờ ngờ rằng tôi sẽ nói vậy. Tuy chỉ gật đầu một vài cái, nhưng tôi biết là ông cảm động. Rồi ông đóng phím đàn lại, và không bao giờ chơi cho tôi nghe nữa.”

“Lạ lùng thật.”

“Dẫu vậy ông không phải người khép kín đầu. Ông thích trò chuyện về phụ nữ, nhất là khi tôi Ở giai đoạn gần cuối tuổi thiếu niên và sau những buổi hòa nhạc ở nhà thờ. Ông sẽ nói về âm nhạc nhưng đôi khi sẽ đổi hướng và rồi là về tình yêu, về người phụ nữ ông đã gặp khi còn trẻ, và ông sẽ nói về cái thứ VÔ hình gọi là khoái cảm ấy, cái mà phần lớn không ai biết phải mở lời thế nào, và điều này là lý do tôi học được nhiều về cả khoái cảm và ham muốn từ ông khi hai cha con trở về từ buổi hòa nhạc hơn là từ những người đứng ra phải giúp tôi khám phá chúng. Ông là người luôn nuôi dưỡng khoái cảm, dù tôi nghi ngờ không biết có phải là với mẹ tôi không. Chính ông đã bảo vậy một lần rằng dành nửa tiếng tốt đẹp với một người phụ nữ ta có thể chẳng bao giờ gặp lại còn hơn là dành thì giờ cho người sẽ chỉ khiến ta thấy cô đơn sau vài ba phút tán tinh giữa hai chân nàng. Ông đã nói kiểu đấy. Ông hài hước lắm.

“Một hôm sau buổi hòa nhạc tối Chủ nhật ông bảo rằng nếu tôi muốn thì ông biết một nơi mà một phụ nữ sẽ dễ dàng dạy tôi điều mà người lớn làm với nhau. Tôi đã tò mò và sợ, nhưng ông chỉ tôi chỗ nào, phải hỏi ai, và đưa cả tiền nữa.

“Một tuần sau, cũng vào tối Chủ nhật thường lệ cùng nhau, hai cha con cùng cười đùa trên đường. “Thế đã làm chưa?” là tất cả những gì ông hỏi. Làm rồi, tôi đáp. Điều ấy khiến chúng tôi thân thiết hơn. Một vài tuần sau nữa tôi tìm ra được một kiểu khoái cảm khác mà ông sẽ không bao giờ biết. Nghĩ lại thì, tôi hối hận vì đã không nói. Nhưng mà thời ấy...” Anh không nói hết.

Tôi có muốn đi dạo không, anh hỏi.

Có chứ.

Michel nói anh từng nuôi một con cún, và họ sẽ cùng nhau đi bộ rất lâu, chỉ trở lại khi trời đã tối. Nhưng từ khi nó mất anh không muốn nuôi thêm con gì nữa. “Nó phải vật vã nhiều trước khi chết hẳn, nên tôi cho nó thuốc ngủ, nhưng tôi sẽ không bao giờ trải qua cảm giác mất mát như vậy thêm một lần nào nữa đâu.”

Tôi không hỏi. Nhưng vì tôi không hỏi nên anh càng biết rằng tôi rất muốn hỏi.

Một lúc sau chúng tôi tới bìa rừng. Anh nói sẽ dẫn tôi đi xem bờ hồ. “Nó nhắc tôi nhớ đến Corot. Nơi đây luôn là buổi chiều tà và vĩnh viễn không hửng nắng. Corot luôn chấm một vệt đỏ trên cái nón người lái thuyền trong tranh của mình – như thể đó là một mạch nhỏ của niềm vui tươi trên một cánh đồng tháng Mười Một ảm đạm nơi chưa từng có tuyết. Nhắc tôi nhớ về mẹ mình – luôn luôn ngấn lệ nhưng không bao giờ nức nở thành tiếng. Nơi này khiến tôi hạnh phúc, có lẽ bởi vì nó mang cảm giác ủ rũ hơn cả chính tôi.” Khi hai chúng tôi tới bên hồ: “Đây là nơi anh phục hồi à?” tôi hỏi.

“Chính tại đây!” Anh biết tôi đang trêu chọc anh. Chúng tôi định ngồi lên cỏ, nhưng đất ẩm nên cả hai lang thang dọc bờ hồ một lúc, rồi quay lại.

“Tôi không biết phải nói với em thế nào, nhưng có một lý do tôi đưa em đến đây.”

“Ý ông là chuyện này không liên quan gì tới ngoại hình, tuổi trẻ của em hay trí tuệ khôn ngoan xuất chúng của em, chưa nói đến cả cơ thể bị xé toạc này ư?”

Anh ôm tôi vào lòng và âu yếm hôn lên môi.

“Chắc chắn là liên quan tới em – nhưng tôi hứa còn điều này nữa sẽ khiến em bất ngờ.”

Trời bắt đầu dày mây. “Đây quả thực là vùng quê của Corot, phải không - bị ai xưa giờ. Nhưng nơi đây lại khiến tôi thấy phấn chấn. Hoặc có thể là bởi vì có em bên cạnh,” anh nói.

“Rõ ràng là bởi vì có em bên cạnh.” Anh biết tôi lại đang trêu chọc anh lần nữa. “Hoặc có thể bởi vì em cũng đang hạnh phúc.”

“Thật không?”

“Em đang cố giấu đây, anh không thấy sao?”

Anh quàng tay ôm lấy tôi, rồi hôn tôi lên má. “Có lẽ ta nên quay lại. Một chút rượu Calvados sẽ rất tuyệt.”

Tên đường trở về, anh bảo đến lượt tôi nói về gia đình mình. Có lẽ anh muốn tôi biết anh sẽ không nói mãi về gia đình anh mà không cho tôi thời gian tương đương để kể về chuyện nhà tôi. Nhưng chẳng có gì nhiều để kể, tôi bảo. Cha mẹ tôi đều là những nhạc sĩ nghiệp dư, nên tôi giống như giấc mơ thành sự thật đối với họ. Cha tôi, một giáo sư đại học, là thầy dạy nhạc đầu tiên của tôi nhưng không được lâu, khi tôi lên tám, ông nhận ra khả năng của tôi đã sớm vượt xa ông. Ba chúng tôi thân thiết vô cùng. Họ chẳng bao giờ bất đồng với tôi, và trong mắt họ tôi chưa bao giờ làm điều gì sai trái. Tôi là một đứa trẻ kiệm lời và trước khi mười tám hoặc tầm ấy, khuynh hướng của tôi đã bộc lộ ra hoàn toàn. Lúc đầu tôi không nói gì cả, nhưng tôi luôn luôn thấy biết ơn bởi cha tôi đã khiến bộc bạch ra dễ dàng hơn nhiều cái vấn đề mà đa số phụ huynh sẽ luôn lưỡng lự khi nhắc tới. Sau khi tôi lên đại học thì họ ly hôn. Tôi nghĩ có lẽ họ không biết, nhưng tôi là chính mối ràng buộc họ với nhau, khi họ luôn có những vui thích khác, sống những cuộc đời khác, và có những người bạn khác. Rồi một ngày mẹ tôi gặp lại một người bà quen trước khi gặp cha tôi và quyết định chuyển đến Milan với người đó. Cha tôi sau đó đã hoàn toàn từ bỏ ý định tìm kiếm ai khác nhưng vài năm sau ông gặp một người, trên một chuyến tàu VÔ tình, và giờ thì tôi vừa là người đỡ đầu vừa là anh cùng cha khác mẹ với con của hai người. Có thể nói rằng, mọi người đều khá hạnh phúc.”

“Họ có biết về tôi không?” anh hỏi.

“Có chứ. Em kể với cha hôm thứ Năm khi ông ấy gọi. Miranda cũng biết.”

“Họ biết tôi lớn tuổi hơn em rất nhiều chứ?”

“Họ biết. Cha em, tình cờ là, cũng gần gấp đôi tuổi Miranda.”

Anh dừng lại và lặng im một hồi.

“Sao em lại kể?”

“Bởi vì nó quan trọng, vậy thôi. Và đừng hỏi em sao lại vậy.”

Chúng tôi dừng chân. Anh cụ giày mình vào một cành cây rơi, trước một chồi non để làm sạch nốt chiếc giày kia, rồi nhìn sang tôi.

“Có lẽ em là người đáng yêu nhất tôi từng biết. Và điều ấy cũng có nghĩa em có thể tổn thương tôi, hủy hoại tôi. Những người thế hệ em có nói thế này không?”

“Nói về thế hệ em đủ rồi! Và đừng nhắc chuyện thế này nữa. Những chuyện này khiến em buồn đấy.”

“Thế thì tôi không nói nữa. Những người em biết Có bao giờ dùng từ ngữ to tát không?”

Tôi biết nó đang tới. “Hãy ôm em, chỉ ôm em thôi.” Anh đặt tay quanh tôi rồi siết nhẹ tôi vào lòng.

Chúng tôi dạo bước trong yên lặng, tay trong tay, cho tới khi đến lượt tôi phải cạ giày mình. “Vùng quê của Corot thế đấy!” Tôi rủa. Cả hai chúng tôi bật cười.

Trở lại nhà: “Tôi muốn cho em xem căn bếp. Hàng thế kỷ rồi nó vẫn chẳng khác gì.” Chúng tôi bước vào gian bếp nơi rõ ràng chưa bao giờ dành cho chủ nhà ngồi uống trà hay ăn nhẹ. Nồi và chảo đủ loại được treo trên tường, chứ không như phong cách miền-quê-Pháp để trưng lộn xộn cho đẹp mắt như trong các tạp chí và mục trang trí nhà cửa. Nó cổ kính và vô dụng, và không ai cố gắng che giấu điều ấy cả. Khi quan sát căn bếp tôi đã nghĩ chắc chắn tại đây sẽ có nhiều dây điện, ống gas hay ống nước từ vài thập kỷ trước, có khi nhiều thế hệ trước rồi, rất cần được tháo ra và thay mới.

Chúng tôi rời khu bếp và hướng tới phòng khách rồi anh mở tủ trưng bày đồ cổ bằng gỗ, lấy một chai rượu, và hai ly snifter anh cầm trên một tay với những ngón tay kẹp vào thân chúng. Tôi thích cách anh làm vậy.

“Tôi sẽ cho em xem một thứ mà tôi tin chưa ai từng thấy bao giờ. Nó đến tay cha tôi không lâu sau khi lính Đức rời căn nhà này. Lúc ấy tôi gần ba mươi, và chỉ vài ngày trước khi cha tôi hôn mê – ông biết thời khắc đã tới, và chẳng ai ngu ngốc mà phủ nhận điều đó nữa – ông bảo tôi, khi chỉ có hai cha con, mở cái hộp lưu niệm bé và lấy ra cái phong bì lớn bằng da này.

“Cha tôi nói phong thư đến tay ông khi ông còn trẻ hơn tôi lúc bấy giờ.”

“Bên trong là gì?” tôi hỏi, cầm lấy nó.

“Mở ra đi.”

Tôi cho là một dạng chứng thư, di chúc, hay chúc thư, hay một tập tài liệu quan trọng gì đó. Thay vì vậy, khi tôi mở tấm giấy da ra thì bên trong là một bản nhạc được ghi kín hai mặt trên tám tờ giấy pơ luya. Những đường kẻ được vạch ra run rẩy bởi một người không dùng tới thước. Mặt trước ghi: Léon gửi Adrien, 18 tháng 1, 1944.

“Adrien, cha tôi, không bao giờ giải thích. Tất cả những gì ông nói là, Đừng hủy nó, đừng đưa cho thư viện hay nhà lưu trữ, hãy chuyển lại cho người biết phải làm gì với nó. Trái tim tôi đã nhói đau bởi ánh nhìn trên gương mặt ông khi ông nói những lời ấy, tôi biết rằng chẳng còn ai khác trong đời ông hay cả đời tôi để trao nó lại. Tôi cũng nghĩ ông biết, chỉ biết thôi – về tôi, vậy đấy. Và lạ lùng là, khi nhìn tôi với ánh mắt sâu lắng, mong mỏi của một người biết rằng mình sắp chết, thì tất cả mọi thứ giữa chúng tôi, tất cả những giây phút thương yêu, những thất vọng, hiểu lầm, những ánh nhìn ẩn ý đều biến tan hết. Tìm ai đó, ông nói.

“Tất nhiên ngay khi nhìn vào bản nhạc, tôi đã hoàn toàn mất phương hướng. Ngoài vài năm học dương cầm, tôi chẳng biết chút nào và âm nhạc cổ điển, và ông, về phần mình, chưa từng ép buộc tôi. Nên tôi chẳng bao giờ bận tâm về bản nhạc này.

“Nhưng có một lý do khác khiến tôi thực sự bối rối khi xem xét nó. Tôi được sinh ra hai mươi năm sau ngày tháng được ghi trên bản nhạc và dẫu vậy đây lại là một người tôi chưa từng gặp, chưa từng nghe nói, một người mang tên đệm của tôi, Léon. Tôi hỏi cha mình người này là ai, nhưng ông chỉ nhìn tôi vô thức, đưa tay xua đi, và bảo sẽ mất rất nhiều thời gian, thêm nữa ông đang mệt và không muốn nói, không muốn nghĩ, “Con khiến ta nhớ lại, và ta thì không muốn nhớ.” ông nói. Tôi không thể biết liệu đây là tác dụng của morphine đang bao trùm lên tâm trí ông hay là vì ông đang cậy vào câu cửa miệng của mình – Ta không nên nói thì bạn – khi muốn lần tránh một chủ đề tế nhị, nhất là khi ông muốn ta biết rằng nếu thốt ra thêm một từ nào nữa thì chiếc hộp của Pandora sẽ bật nắp. Nếu như tôi cứ nằng nặc hỏi, chắc hẳn tôi sẽ nhận lại sự cục cằn, không động lòng thương của ông mà cũng chính là cách ông đối xử với những người ăn xin khi ông không thể kiên nhẫn thêm với họ. Nhưng tôi vẫn định sẽ hỏi ông tới cùng, nhưng bản nhạc đã lướt khỏi tâm trí tôi vì phải bận bịu chăm nom ông, tình trạng khi ấy của ông ngày càng tệ. Bây giờ nhìn lại, tôi gần như nhận ra điều duy nhất giữ ông sống sót suốt thời gian đau ốm là sự cấp thiết nhân lúc cơ hội tới để đưa tôi bản nhạc khi mẹ tôi không để ý. Vài tháng sau khi ông mất, tôi dò hỏi xung quanh và biết được rằng chẳng có họ hàng bên nội hay ngoại nào có tên Léon cả. Cuối cùng tôi đành hỏi mẹ mình, “Léon là ai?” Bà nhìn tôi bằng sự ngơ ngác và thích thú: Con, chứ còn ai nữa. Ngoài ra có Léon nào khác nữa không, tôi hỏi. Không. Léon là ý tưởng của cha tôi. Họ cãi nhau vì cái tên mãi. Bà ấy muốn là Michel, theo tên ông nội tôi, người đã nhượng lại cho chúng tôi toàn bộ tài sản. Cha tôi nằng nặc muốn là Léon. Mẹ tôi thắng, như mọi khi. Léon được đặt là tên đệm của tôi như một cách nhượng bộ. Nhưng không một ai gọi tôi như thế cả.

“Khi ấy tôi mới hiểu rằng có khi mẹ tôi cũng không hề hay biết về sự tồn tại của Léon hay bản nhạc. Nếu bà từng thấy bản nhạc, bà cũng sẽ thắc mắc ai là Léon và sẽ không bỏ cuộc cho tới khi xới tung tất cả lên. Mẹ tôi là vậy đấy – quấy rầy đến không thể hiểu được khi bà muốn biết một chuyện gì đó. Bà khăng khăng tôi phải trở thành luật sư – và không được trái ý bà dù một ly.

“Cuối cùng sau nhiều lần dò hỏi những người giúp việc chăm lo hậu sự cho cha tôi, một người giúp việc gia đã nhớ ra một Léon cụ thể. Léon le juif, gã Léon Do Thái, họ gọi ông ấy như vậy, bắt đầu từ ông tôi, ông ghét người Do Thái lắm, rồi tới đầu bếp và các hầu gái. Nhưng, như lời kể của người đầu bếp già, “chuyện ấy từ lâu lắm rồi, trước cả khi cha mẹ cậu gặp nhau? Tôi biết chắc phải vặt răng ông ta thì lão mới nói thêm, nên tôi để mọi chuyện lắng xuống, nhận ra rằng tôi nên hỏi vào lúc khác và không để ông lão nghĩ tôi đang nóng lòng được biết câu trả lời. Tôi hỏi lão về những người lính Đức từng đóng chiếm ngôi nhà, nghĩ rằng gợi chuyện về thời ấy biết đâu có thể liên quan ít nhiều đến Léon, nhưng lão chỉ kể rằng lính Đức thực ra là de vrais gentlemen, những quý ông đích thực luôn boa tiền cho người hầu rất hậu và cư xử với gia đình tôi hết mực tôn kính, không như tên Do Thái kia, lão nói, nhớ ra rằng tôi đã hỏi về Léon. Ông lão là người cuối cùng trong gia đình tôi biết về Léon, nhưng sau khi cha tôi mất thì lão nghỉ việc và chuyển lên miền bắc, rồi cũng mất tăm luôn. Nên manh mối tới đó là kết thúc.

“Khi mẹ tôi mất, tôi quyết định sẽ xem qua giấy tờ trong gia đình – nhưng cũng chẳng tìm được gì liên quan tới cậu Do Thái. Điều tôi không thể hiểu được là vì sao cho tôi lại giữ kín bản nhạc trong một hộp khóa chặt và tại sao tôi lại được đặt tên theo Léon. Chuyện gì đã xảy ra với ông ta? Tôi đã mong có thể tìm thấy một cuốn nhật ký hoặc theo dõi lý lịch tại trường cha tôi học nhiều năm trước. Nhưng cha tôi không bao giờ viết nhật ký. Tôi có tìm được một vài bằng khen và chứng chỉ cùng vô số những bản nhạc trong chỗ giấy tờ của ông, một vài được viết trên giấy giòn đến nỗi chúng vụn ra ngay khi chạm tay vào. Lạ ở chỗ, dẫu vậy, tôi chưa một lần thấy ông xem qua chỗ giấy tờ ấy. Một vài dịp, khi ông tình cờ nghe tiếng dương cầm phát trên đài, ông sẽ chỉ trích cách họ chơi, thường sẽ luôn bảo, Nhấn phím đàn như thế thì thà bóp cò súng đi làm ơn. Hoặc là về một nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng khác, Đàn thì khá đấy nhưng soạn nhạc thì kinh khủng.

“Tôi không thể hiểu trở thành một luật sư đã thay đổi ông ra sao, hoặc nói chung, tại sao ông lại bỏ dở nghiệp nghệ sĩ. Hoặc, nói trắng ra là, tôi chưa bao giờ được biết về người đàn ông ẩn sau người tôi ngỡ là cha mình. Tôi chỉ biết về người luật sư nhưng chưa một lần trông thấy, gặp gỡ hay được sống cạnh người nghệ sĩ cả. Người tôi quen biết là thân phận thứ hai của ông. Tôi ngờ rằng ta có bản thể thứ nhất rồi theo sau là bản thể thứ hai, thậm chí thứ ba, bốn, và năm rồi nhiều sau nữa.”

“Thế em đang trò chuyện với ai,” tôi hỏi, biết rằng anh đang xúc động, “thứ hai, ba hay bản thể đầu tiên?”

“Thứ hai. Tôi nghĩ vậy. Tuổi tác, em ạ. Nhưng một phần trong tôi sẵn sàng chết ngay nếu có thể mang em tới gặp một tội trẻ tuổi, để có em ở đây trong ngôi nhà này khi tôi bằng tuổi em. Trớ trêu thay khi bên em tôi cảm nhận được tuổi trẻ của em, chứ không phải tôi bây giờ. Chắc chắn điều này cuối cùng cũng phải trả một cái giá thôi.”

“Ông bị quan quá.”

“Có lẽ vậy. Nhưng bản thể trẻ tuổi của tôi đã chùn bước và lỡ mất quá nhiều điều. Con người thứ hai giản dị hơn, cẩn trọng hơn, và do vậy miễn cưỡng - hoặc là vô vọng hơn – khi lao vào điều mà anh ta sợ rằng sẽ không bao giờ tìm lại được nữa.”

“Nhưng ông có em tại đây và ngay lúc này.”

“Ừ, nhưng trong bao lâu?”

Tôi không đáp. Tôi đang cố lẩn tránh nhắc về tương lai, nhưng hóa ra câu đáp lại nghe khờ dại hơn cái anh mong đợi.

“Bây giờ, hôm nay, như hôm qua,” anh bảo, “như thứ Năm, hay thứ Tư, là một món quà. Tôi có thể dễ dàng không bao giờ tìm ra em, hay vô tình gặp được em một lần nữa.”

Tôi không biết phải nói gì, nên tôi mỉm cười.

Và rồi anh rót cho chúng tôi thêm Calvados. “Tôi hy vọng em thích.”

Tôi gật, như tôi đã gật với món rượu whiskey đơn cất.

“Số phận, nếu như nó thực sự tồn tại,” anh nói, “có một cách riêng để cười nhạo ta bằng những khuôn mẫu có khi còn chẳng phải là khuôn mẫu nhưng lại ẩn giấu những tàn tích của ý niệm vẫn đang được vận hành. Cha tôi, cha em, cây dương cầm, luôn là cây dương cầm, và rồi em, như con trai tôi, nhưng không giống nó, và cả niềm kết nối của Do Thái chạy dọc đời cả hai ta, tất cả nhắc nhở tôi rằng đời này không gì hơn chỉ là những đào bới khai quật những điều luôn luôn bén rễ sâu hơn ta tưởng. Hoặc có lẽ chúng chẳng là gì, chẳng là gì.

“Dù sao thì, tôi sẽ để em lại với bản nhạc. Tôi sẽ đi xem họ chuẩn bị gì cho bữa tối. Trong lúc đó, hãy để tôi biết em nghĩ gì. Nhớ đấy, em là một trong số ít, rất ít người từng thấy nó.”

Anh đóng cửa thật nhẹ, như thể hiện rằng việc tôi chuẩn bị làm yêu cầu một sự tập trung căng thẳng và anh tuyệt đối sẽ không làm phiền.

Tôi thích ở một mình trong căn phòng này. Nó mang cảm giác ấm cúng, dẫu cho rất rộng. Tôi còn thích cả mùi hương của tấm rèm treo tường cũ dày cốp sau lưng mình, thích tấm gỗ gụ lâu đời trên tường cùng chiếc thảm trải sàn đỏ sẫm, thậm chí cả chiếc ghế bành bằng da cũ đến nỗi chỗ ngồi bị lún xuống, và cả ly Calvados tuyệt hảo. Mọi thứ đều có cảm giác cổ kính, được truyền lại với thời gian, và sắp xếp từ nhiều thế kỷ trước để nhiều thế kỷ sau nối tiếp trôi qua. Chiến tranh hay cách mạng sẽ chẳng bao giờ có thể thay đổi nơi này vì những di sản bướng bỉnh và tuổi thọ của nó dường như đã vĩnh viễn hẳn những dấu ấn lên khắp xung quanh tòa dinh thự, lên cả ly rượu tao nhã tôi đang cầm trong tay. Michel đã lớn lên ở đây, được che chở ở đây, bị kìm nén cũng ở đây. Tôi tự hỏi liệu anh có ngồi trên chính chiếc ghế này khi lật giở mấy tấm ảnh gợi dục trên tạp chí khi còn là một cậu thiếu niên hay không.

Anh kỳ vọng tôi sẽ làm gì với bản nhạc này - nói với anh nó có hay hay không, nói rằng người Do Thái này quả là một thiên tài? Hay là một tên ngốc? Hay có phải anh đang kiếm tìm người đàn ông trước khi trở thành cha anh rốt cuộc là ai và hy vọng tôi có thể giúp cứu anh ra khỏi đống vụn vỡ từ những nốt nhạc này?

Tôi bắt đầu lướt qua bản nhạc, và càng nhìn vào trang thứ hai tôi càng thắc mắc tại sao những khuông nhạc lại được vẽ run tay tới vậy. Chỉ có thể là lúc viết chúng, người soạn đã không có bên mình đầy đủ dụng cụ. Hơn nữa, Léon hẳn đã nghĩ rằng Adrien sẽ lập tức nhận ra những nốt nhạc, hoặc ít ra sẽ biết phải làm gì với chúng.

Nhưng rồi tôi bắt đầu để ý một điều khác nữa. Bản nhạc không có phần dạo đầu thường thấy, có nghĩa hoặc nó chưa được hoàn thiện hoặc bản này được viết trong thời kỳ đỉnh cao của chủ nghĩa tân thời. Không chỉ vậy, nó vay mượn chắp nối, tôi nghĩ, sự trớ trêu khiến tôi phải mỉm cười. Tôi nhìn sang trang cuối của bản nhạc, cũng không mong đợi tìm được một khúc kết rõ ràng, và thật vậy, phần cuối không có gì hơn ngoài một âm láy rền chẳng dẫn tới đâu. Quá dễ đoán, tôi nghĩ, và quá nhạt nhẽo! Một kết thúc bất tận – tân thời một cách thô thiển.

Một phần trong tôi không nỡ nói với Michel về những điều này một chút nào. Tôi không muốn bảo rằng bản nhạc cha anh gìn giữ trung thành lâu đến như thế còn không đáng giá bằng tấm kẹp tài liệu Cartier bằng da bọc ngoài đặt trong tủ khóa. Tốt hơn hết nên để nó ngủ yên.

Rồi khi tiếp tục lật giở qua ba trang đầu, tôi dần nhận ra điều thực sự khiến trái tim mình thấp thỏm. Tôi đã từng đọc qua những nốt ấy. Lạy Chúa, tôi thậm chí còn đàn chúng năm năm trước ở Naples! Nhưng không hẳn là theo thứ tự này. Chẳng mất quá nhiều thời gian để tôi nhận ra. Ông bạn tội nghiệp đang chép nhạc của Mozart. Sáo rỗng làm sao! Và rồi, tệ hơn – tôi không thể tin nổi – cách vài khuông nhạc sau, chẳng cần tinh tế lắm mới nhận ra một đoạn rondo du dương đặc trưng được lấy từ bản Sonate Waldstein của Beethoven. Léon tội nghiệp đang ăn cắp và chắp vá từ mọi nơi.

Tôi nhìn nét mực nâu đỏ đã phai. Có thể nó bị phai dần theo thời gian hoặc người soạn đã dùng mực pha loãng. Nó có vẻ được nguệch ngoạc ghi xuống cùng sự liều lĩnh và hấp tấp, mà qua đó tôi có thể tưởng tượng Léon gửi nó đi từ Gare du Nord khi chuyến tàu dần nhích về nơi Chúa biết là đầu vào năm 1944. Tác giả của nó có khiếu hài hước chăng, tôi nghĩ, khi đi chôm chỉa từng nốt nhạc một: Ông ta có thông minh không, hay là một kẻ đần độn? Liệu có thể nói điều gì đó qua bút tích này không? Và khi soạn bản này thì ông đã bao nhiêu tuổi? Một kẻ chơi khăm ngoài hai mươi giống như Michel bấy giờ, hay liệu còn trẻ hơn?

Khi tôi đang cố đoán xem Léon thực ra là ai, tôi bỗng nhận ra lý do mình có thể nhận biết những nốt đầu dễ dàng như vậy. Chúng đã được biên soạn, hoặc biên một phần, bởi Mozart. Nhưng đây không phải một bản sonata, dạo đầu, khúc phóng túng hay tẩu pháp. Đây là một đoạn cadenza được soạn cho bản concerto dương cầm Rê thứ của Mozart, do đó cũng đã truyền cảm hứng cho Léon để lặp lại một vài đoạn từ bản sonata Waldstein. Léon đang chơi đùa. Tất cả những gì ông đã làm là biên lại những phần Adrien chắc hẳn đã ứng biến sau cuối chương đầu tiên, sau khoảnh khắc huy hoàng khi dàn giao hưởng dừng lại để người chơi dương cầm được chơi tự do theo ý muốn, đó chính là lúc mà trí tưởng tượng, niềm táo bạo, tình yêu, tự do, lòng dũng cảm, tài năng và hiểu biết sâu rộng về điều ẩn chứa trong trái tim của bản concerto của Mozart có thể hét lên tình yêu dành cho âm nhạc và tạo tác được đặt trong một bản cadenza.

Người viết cadenza đã tiên đoán được điều Mozart chưa biên soạn xong và điều Mozart bỏ ngỏ để những người nối tiếp ông hoàn thiện nó, kể cả nếu người đó soạn nó sống trong một thời đại hoàn toàn khác khi âm nhạc có đổi thay ra sao. Điều ta cần để khám phá niềm bí ẩn trong sáng tác của Mozart không phải là đặt mình vào vị trí của ông, lặp lại điều ông làm hay nhắc lại những câu, giọng điệu, niềm rung động, hay phong cách của ông; mà là có thể tái tạo lại ông theo một cách mà chính Mozart sẽ không bao giờ có thể ngờ tới, để dựng xây tiếp tại nơi ông dang dở, chứ không phải tạo nên một công trình tiếp theo mà Mozart vẫn sẽ nhận ra sự rung cảm của chính ông và chỉ thuộc về mình ông.

Khi Michel trở lại tôi lập tức nói với anh về bản nhạc. “Đây không phải một bản sonata, mà là cadenza...” tôi bắt đầu.

“Thịt gà hay thịt bò?” anh ngắt lời. Bữa khuya và niềm vui thú giữa hai người lấn át mọi thứ khác.

Tôi yêu điều ấy khi là anh làm vậy. “Mình đang trên máy bay hay sao?” tôi hỏi.

99 “Ở đây chúng tôi cũng phục vụ đồ chay nữa, anh tiếp tục, bắt chước dáng điệu một tiếp viên hàng không Pháp. “Và cả vang đỏ hảo hạng đây này.” Anh ngừng lại một chút. “Thế em đang nói gì?”

“Không phải sonata mà là cadenza.”

“Cadenza. Tất nhiên rồi! Lâu nay tôi cũng nghĩ mãi.” Anh lại ngừng một lúc. “Thế nó là cái gì?” Tôi bật cười.

“Một chương ngắn khoảng một đến hai phút trong một bản concerto dương cầm khi nghệ sĩ solo sẽ ứng biến dựa trên nội dung của chính bản concerto. Thường thì, dấu hiệu để dàn nhạc biết đến lúc trở lại và kết thúc một chương là một đoạn dương cầm ngân dài ngày cuối bản cadenza. Lúc đầu nhìn đoạn ngân em không nhận ra nhưng giờ thì mọi thứ đều hợp lý cả. Tuy vậy, bản cadenza này được lặp đi lặp lại, em không chắc là trong bao lâu, nhưng chắc chắn là dài hơn năm đến sáu phút.”

“Vậy đây chính là bí mật động trời của cha tôi ư? Sáu phút chơi nhạc, và chỉ vậy thôi?”

“Em cho là thế.”

“Ngoài ra không có gì thêm sao?”

“Em không chắc. Em phải nghiên cứu nó thêm. Léon liên tục lặp lại bản Waldstein.”

“Waldstein.” Anh lập lại và cười. Một phải mất một lúc và rồi, một lần nữa, tôi hiểu vì sao anh cười. “Đừng nói là anh gấp đôi tuổi em mà chưa từng nghe Waldstein sonata đấy nhé.”

“Tôi thuộc lòng nó là đằng khác đấy.” Rồi lại cười.

“Ông đùa em. Em biết ngay mà.”

“Tất nhiên là tôi đùa rồi.”

Tôi đứng dậy, đến bên cây đàn, và bắt đầu chơi đoạn đầu của bản Waldstein.

“Waldstein, tất nhiên rồi,” anh nói.

Có phải anh vẫn đang đùa không?

Tôi ngừng lại rồi chuyển sang đoạn rondo. Anh nói anh cũng biết đoạn này. “Vậy thì hát đi,” tôi nói.

“Tôi không hát được đâu.”

“Hát với em,” tôi bảo.

“Không.”

Tôi bắt đầu hát và, sau một thoáng dỗ dành bằng cách nhìn anh nài nỉ từ phía cây đàn, tôi bắt đầu nghe tiếng anh cất lên ngập ngừng theo giai điệu. Tôi chơi chậm lại, và rồi bảo anh hát lớn hơn một chút, cho tới khi đoạn cuối cả hai cùng đồng thanh hát. Anh đặt hai tay lên vai tôi, tôi nghĩ làm vậy để ra hiệu tôi ngừng lại, nhưng rồi anh nói, “Đừng ngừng,” nên tôi tiếp tục đàn và hát. “Giọng em hay thật,” anh nói. “Nếu có thể, tôi muốn hôn lên nó.”

“Hát tiếp đi,” tôi bảo. Và anh tiếp tục hát. Khi kết thúc, tôi quay lại và nhận ra anh đang khóc. “Sao vậy?” tôi hỏi.

“Tôi không biết. Có lẽ là vì tôi chưa từng hát bao giờ. Hoặc có thể chỉ là: được bên em. Tôi muốn hát.” “Ông không hát trong khi tắm sao?” “Chưa bao giờ.” Tôi đứng dậy, đưa ngón tay cái lau nước mắt trên má anh. “Em thích khi ta hát,” tôi bảo. “Tôi cũng vậy,” anh nói. “Ông có buồn không?” “Không hề. Tôi chỉ xúc động thôi, như thể em đẩy tôi thoát khỏi chính mình. Tôi thích điều em làm: giúp tôi thoát ra khỏi chính tôi. Hơn nữa tôi thấy ngượng quá vì mình mau nước mắt như ai kia dễ đỏ mặt vậy.”

“Ông, ngượng á? Em không nghĩ ông ngượng ngùng chút nào.”

“Em không biết đâu.”

“Bỗng dưng ông bắt chuyện với em, còn chủ động nữa, ở nhà thờ và những chỗ khác, và rồi ông mời em đi ăn. Người hay ngượng không làm được thế đâu.”

“Mọi chuyện xảy ra như vậy là vì tôi không có kế hoạch gì cả, thậm chí còn không suy nghĩ. Tất cả cứ ập đến bất chợt, có lẽ nhờ em giúp đấy. Tất nhiên đêm ấy tôi cũng muốn mời em về nhà mình, nhưng tôi có dám đâu.”

“Vậy nên ông để em lang thang với cặp sách, xe và mũ bảo hiểm thui thủi một mình đi về. Cảm ơn nhé!”

“Em nói không để tâm mà.”

“Em có. Em thấy tổn thương.”

“Và dẫu vậy giờ em đang ở bên tôi trong căn phòng này.” Anh dừng lại một lúc. “Như thế này có quá nhiều với em không?”

“Lại là về thế hệ của em à?”

Chúng tôi cười.

Trở lại với Léon, tôi cầm bản nhạc lên.

“Để em giải thích cho ông về bản cadenza này.” Tôi lướt qua chỗ băng đĩa của anh – toàn nhạc jazz – nhưng rồi cũng tìm được một bản concerto của Mozart. Rồi tôi hướng về dàn phát nhạc nhìn rất phức tạp và đắt tiền đặt trên một chiếc bàn trà của thế kỷ mười tám. Khi tôi loay hoay xem nó hoạt động ra sao, tôi tránh ánh mắt anh để khiến cho điều tôi chuẩn bị hỏi không có vẻ gì quá quan trọng. “Ai bảo ông mua cái này đấy?”

“Không ai cả. Tôi tự bảo. Được chưa?”

“Được rồi,” tôi nói.

Anh biết tôi thích câu trả lời ấy. “Và tự tôi cũng biết nó hoạt động thế nào. Em chỉ cần nhờ thôi.”

Mất một lúc, và chúng tôi bắt đầu nghe được tiếng vĩ cầm từ bản concerto của Mozart. Tôi để anh nghe một phần của chương đầu tiên rồi nhấc đầu kim của đĩa tới phần tôi cho là lúc đoạn cadenza sẽ bắt đầu. Bản cadenza này được soạn bởi chính Mozart. Chúng tôi lắng nghe nó cho tới khi tôi chỉ cho anh phần âm rung ngân dài báo hiệu trở lại cho toàn bộ dàn nhạc.

“Đoạn này được chơi bởi Murray Perahia. Rất tinh tế, mạch lạc, chỉ có thể nói là xuất sắc. Yếu tố quan trọng cho bản cadenza này là một vài nốt được lấy từ chủ đề chính. Em sẽ hát cho ông rồi ông hát nhé.”

“Hoàn toàn không được!”

“Đừng làm nũng chứ.”

“Không đâu!”

Tôi đàn những nốt chính trước, rồi bắt đầu hát và tiếp tục chơi, có ý khoe khoang một chút. “Đến lượt ông đấy,” tôi nói khi lặp lại những nốt ấy một lần nữa, và rồi quay về phía anh ra hiệu. Lúc đầu anh vẫn còn lưỡng lự nhưng rồi làm theo và bắt đầu ngâm nga. “Giọng ông tốt đấy,” tôi bảo. Rồi, vì thấy hào hứng, tôi đàn một lần nữa rồi bảo anh hát lại, nói rằng, “Đi mà, em sẽ thấy vui lắm.”

Và anh hát lại, cho tới khi cả hai chúng tôi cùng hát. “Tuần sau tôi sẽ bắt đầu học đàn,” anh nói. “Tôi muốn dương cầm trở lại với cuộc đời mình. Có lẽ tôi sẽ học cả soạn nhạc nữa.”

Tôi không biết liệu có phải anh đang chọc tôi không.

“Ông sẽ để em dạy ông chứ?” tôi hỏi.

“Đương nhiên rồi. Hỏi lạ thật. Điều cần phải hỏi là...”

“Ôi, trật tự nào!”

Rồi tôi bảo anh ngồi xuống khi tôi chơi hai bản cadenza của Beethoven và rồi là của Brahm viết cho bản concerto của Mozart. “Tuyệt vời,” tôi nói, khi bắt đầu đàn, cảm thấy rằng mình đang chơi rất khá. “Còn nhiều nữa cơ. Một bản còn được viết bởi chính con trai của Mozart,” tôi nói.

Tôi đàn. Anh lắng nghe.

Và rồi, bởi tôi thấy hào hứng, tôi đàn cho anh nghe đoạn ứng biến của chính tôi ngay lúc ấy. “Cứ như vậy có thể kéo dài mãi, nếu anh muốn.”

“Giá mà tôi có thể đàn như vậy.”

“Ông sẽ đàn được. Em có thể chơi tốt hơn nếu vẫn tập thêm sáng nay, nhưng có người lại kéo em đi làm việc khác.”

“Em có thể từ chối mà.”

“Nhưng em muốn đi.”

Rồi, bỗng nhiên: “Em đàn bản em chơi cho cô học trò từ Thái Lan được không?”

“Bản này hả?” tôi nói, biết chính xác anh có ý gì.

“Điều thú vị ở đây là sau khi ông bạn Léon soạn ra một bản cadenza với một vài trích đoạn được lấy từ bản sonata Waldstein, một chuyện điên rồ đã xảy ra.”

“Sao?” anh hỏi, gần như bị nhấn chìm bởi quá nhiều lý thuyết âm nhạc trong một ngày.

Tôi nhìn vào bản nhạc và rồi một lần nữa, để chắc chắn rằng tôi không nhầm lẫn gì. “Theo em thì, và em chưa hoàn toàn chắc đâu, sau khi trích dẫn bản Waldstein, Léon đã lúng túng một hồi cho đến khi quyết định chuyển từ Beethoven tới một bản mà rất có thể đã truyền cảm hứng cho một bản khác của. Beethoven, được gọi là Kol Nidre.”

“Tất nhiên rồi,” anh nói, như đang bật cười.

“Kol Nidre là một bài kinh cầu của người Do Thái. Ông thấy đấy, nhạc của người Do Thái thường được giữ kín đi nhưng nó lại được mang vào đây... và linh cảm của em là trừ phi một người được đào tạo về âm nhạc bài bản, thì chỉ có người Do Thái đọc bản nhạc này mới có thể nhận ra cao trào trong bản cadenza này không phải là Beethoven mà là Kol Nidre. Cách này được lặp lại bảy lần, có nghĩa Léon biết chính xác mình đang làm gì. Rồi, tất nhiên, ông ấy trở lại với Waldstein, và rồi là đoạn ngân báo hiệu cho cả dàn nhạc.”

Để anh hiểu ý mình, tôi đàn đoạn cadenza và rồi bản Kol Nidre thật chậm rãi cho anh nghe.

“Kol Nidre là gì?”

“Đó là một bài kinh cầu tiếng Aram mở đầu cho Lễ chuộc tội, ngày lễ linh thiêng nhất trong lịch của người Do Thái, và tượng trưng cho sự trì tụng của tất cả những lời tuyên thệ, thề nguyền, nguyền rủa, mọi nghĩa vụ đối với Chúa. Giai điệu ấy đã thu hút người soạn nhạc. Em nghĩ rằng Léon biết cha ông sẽ nhận ra điều ấy. Nên đây giống như một thông điệp ngầm giữa họ.”

“Nhưng tôi biết giai điệu này,” đột nhiên anh nói.

“Ông nghe ở đâu?”

“Tôi không nhớ. Tôi chỉ không thể nhớ được. Nhưng tôi biết nó, có lẽ đã từ lâu, rất lâu rồi.”

Michel nghĩ một hồi, rồi, như thể sực nhớ ra, nói rằng, “Tôi nghĩ mình nên đi ăn tối thôi.”

Nhưng tôi cần tìm ra ngọn ngành mọi chuyện.

“Có hai cách mà cha ông có thể biết về âm điệu này. Hoặc là Léon ngâm nga hoặc chơi nó cho ông ấy – tại sao, em không biết, trừ phi để chứng minh rằng lễ nghi của Do Thái giáo có âm nhạc tuyệt vời - hoặc cha ông đã tham dự Lễ chuộc tội, điều đó có lẽ thể hiệu một mối quan hệ thân thiết giữa hai người bọn họ. Ngày lễ đó không phải một dịp để du khách đến xem người Do Thái thực hiện ra sao đâu.”

Michel ngẫm nghĩ, rồi anh bảo, “Nếu em mời, tôi sẽ tới.” Tôi cầm tay anh, nắm lấy và hôn lên nó.

Suốt bữa tối chúng tôi bàn về những lý do vì sao bản cadenza lại được giấu kín. Một trò đùa ẩn ý? Hay là một tinh hoa nghệ thuật chưa được hoàn thiện? Một thử thách dành cho người nghệ sĩ dương cầm? Có lẽ là một thông điệp giữa người với người, một lời chào, lời tưởng nhớ về một tình bạn có thể đã mất, ai mà biết được. “Có quá nhiều điều em chưa có thời gian để xem xét hết,” tôi nói. “Trừ phi bản cadenza này được viết ra trong một hoàn cảnh tàn khốc và một người Do Thái đang phải trốn tránh đã soạn nó từ địa ngục theo nghĩa đen.”

“Có phải ta đã đọc quá nhiều không?” “Có lẽ.”

“Trong thị trấn có quầy bán thịt xuất sắc, nên món thịt hôm nay rất ngon. Và đầu bếp của ta rất thích rau, có thể là măng tây đấy nếu bà ấy tìm được vào mùa này, và bà nấu rất ngon dẫu bà bị dị ứng. Tôi thích gạo Ấn, ngửi xem này,” anh nói, khéo léo quạt hương thơm của cơm về phía tôi. Anh biết anh đang trêu tôi.

Nhưng rồi tôi nói tiếp, vẫn còn thiếu chi tiết gì đó.

“Léon là người Do Thái, bị các ông bà của anh căm ghét, có thể họ coi đó là một ảnh hưởng tiêu cực tới sự nghiệp của cha ông, và những người giúp việc khác nghĩ rằng ông ấy thấp kém hơn họ. Pháp bấy giờ đã bị chiếm và sớm thôi lính Đức sẽ sống dưới mái nhà này, nếu không phải chính họ đã ngồi ăn ngay trên chiếc bàn này, ông đã kể với em như thế. Léon không thể sống trong căn nhà này, trừ phi là trốn trên gác mái, điều mà không một ai trong gia đình này chấp nhận được. Vậy làm thế nào mà bản nhạc lại đến tay cha ông được?”

Tôi đã mang nó lên bàn ăn cùng với mình.

“Thử vang này đi. Ở đây tôi có ba chai. Chúng đã được mở nắp cho thở trước từ trong bếp rồi.”

“Ông tập trung được không?”

“Được, tất nhiên. Em thấy rượu được không?”

“Nó rất ngon. Nhưng sao ông cứ cắt ngang thế

“Bởi vì tôi yêu cách em tập trung thế này và yêu cách em trở nên vô cùng nghiêm túc. Tôi vẫn chưa thể tin em đang ở đây cạnh tôi. Tôi không thể đợi được có em trên giường với mình – không đợi được.”

Tôi nhấp một ngụm rượu, rồi anh rót thêm cho tôi.

Khi bắt đầu cắt thịt, tôi không thể không nói thêm: “Ta vẫn cần phải tìm hiểu xem bản nhạc vào tay ông ấy bằng cách nào. Ai đã mang nó đến? Và bao giờ? Để một người Do Thái tới đây và trao bản nhạc vào năm 1944 có vẻ là bất khả thi. Thực chất, cách nó đến được đây có thể tiết lộ mọi điều cần biết về bản nhạc. Có thể còn nhiều hơn những gì âm nhạc nói.”

“Nghe vô lý quá. Như thể nói rằng một bài thơ nổi tiếng đến với nhà in bằng cách nào quan trọng hơn chính nội dung bài thơ ấy vậy!”

“Trong trường hợp này thì có khi là vậy đấy.”

Michel nhìn tôi với sự lúng túng, như thể anh chưa từng nghĩ về chuyện này một cách rối ren đến vậy.

?”

“Nó được đưa đến qua thư à,” tôi hỏi, “chuyền tay, hay chính Adrien đã đi lấy nó? Có bên thứ ba liên quan không? Một người bạn, hay một người y tá từ bệnh viện, ai đó trong trại? Đây là 1944 và người Đức vẫn đang đóng chiếm Pháp. Nên có thể ông ấy đã chạy trốn hoặc bị bắt. Nếu ông ấy ở trong trại, thì đó là trại nào? Hay ông ấy đã trốn? Và liệu có sống sót không?”

Tôi ngẫm nghĩ về những chuyện này.

“Có hai điều có thể cho ta biết thêm. Và cả hai đều bị thiếu. Tại sao người soạn nhạc lại vẽ tay những khuông nhạc? Và tại sao những nốt nhạc lại sít với nhau như vậy?”

“Sao điều ấy lại quan trọng?”

“Bởi vì em đoán là có lẽ những nốt này không hẳn là được soạn ra trong vội vã.” Tôi lướt qua những trang giấy một lần nữa. “Để ý sẽ thấy, trên đây không có một dấu gạch xóa nào, không phần nào bị sửa vì người soạn đổi ý trong khi viết nó. Những nốt này được đã được chép lại, và tại một nơi mà không thể kiếm được giấy chép nhạc, nơi mà có khi tìm giấy bình thường để viết còn khó. Những nốt này quá sít với nhau – như thể ông ấy sợ mình sẽ hết giấy để viết.”

Tôi giơ tờ đầu tiên lên trước cây nến đặt giữa bàn. “Em đang làm gì vậy?” anh hỏi.

“Tìm dấu chìm trên giấy. Nếu có một dấu chìm thì sẽ nói cho ta biết nhiều điều lắm: nơi tờ giấy này được làm ra, chỗ nào ở Pháp. Hoặc đâu đó khác, nếu anh vẫn đang nghe em.”

Michel nhìn tôi. Tôi vẫn nghe em.”

Không may là trên giấy không có dấu chìm nào cả. “Tất cả những gì em suy ra được là đây là một loại giấy pơ luya rẻ tiền. Vậy là, người soạn bản cadenza này đã biết về nội dung và chép lại những nốt một cách nén sít với nhau. Ông ấy muốn cha ông có bản cadenza này. Đây là tất cả những gì ta biết.”

“Không, ta còn biết một thứ khác. Cha tôi từ bỏ chơi dương cầm và bắt đầu học luật. Thế giới về âm nhạc đã hoàn toàn đóng lại với ông ấy. Nhưng sao lại giữ nó nếu như ông ấy sẽ không bao giờ chơi nó, tại sao lại khóa chặt nó trong tủ bấy lâu nay – trừ phi ông hứa chỉ đàn cho Léon nghe? Hoặc trừ phi ông giữ kín nó để ai đó khác có thể cụ thể hóa và chơi nó? Ai đó như em, Elio ạ!”

Điều anh nói tâng bốc tôi nhưng tôi không muốn thể hiện ra rằng mình thừa nhận điều mà anh ám chỉ. “Anh có nghĩ liệu chủ ý của ông ấy là đem trao lại cho Léon hoặc ai đó thân thiết của Léon không? Hay chỉ đơn giản ông ấy không biết làm gì với nó và cũng không nỡ hủy đi – giống như cách ông vẫn luôn giữ chiếc vợt tennis của cha mình?”

“Có lẽ điều quan trọng nhất là phải tìm ra Léon là ai.”

Sau khi ăn tối, bằng máy tính của anh tôi nhập tên đầy đủ của Adrien và tìm được năm ông theo học tại nhạc viện. Cả ảnh của ông ấy cũng tìm lại được. “Bánh bao và lịch lãm đấy,” tôi nói, “và điển trai.” Tội tìm kiếm tên thầy dạy trước, trong, và sau những năm ấy. Những hồ sơ tìm được đều rời rạc và không rõ ràng, và không một ai có tên là Léon cả. Tôi tra tất cả những tên họ của người Do Thái, Đức, và Slay hay bất kỳ cái tên nào có chữ cái đầu là L. Không một kết quả. Tôi tra những học sinh có tên Léon. Không có gì. Chỉ có thể là ông đã dùng một tên khác hoặc thông tin về ông đã bị xóa khỏi hồ sơ trường. Hoặc ông ấy chưa từng học ở nhạc viện. “Không có Léon nào cả,” cuối cùng tôi đành lên tiếng.

“Vậy là kết thúc công việc thám tử của ta tại đây.” Lúc ấy, chúng tôi đang ngồi cạnh nhau trên sofa, ánh đèn mờ ảo, cùng uống thêm Calvados.

“Có lẽ cha ông học chung với Alfred Cortot. Nhưng em không chắc Léon cũng vậy.”

“Tại sao, em nghĩ vậy à?”

“Cortot là người bài xích Do Thái và ông ta trở nên tiêu cực hơn trong thời kỳ bị chiếm đóng. Em tin rằng nghệ sĩ vĩ cầm Thibaud, người mà Cortot thân thiết, đã chơi cho Quốc trưởng.”

“Thời kỳ tồi tệ.”

“Em còn nghĩ ra gì thêm về chuyện ấy không?” anh hỏi.

“Sao anh hỏi vậy?”

Anh lắc đầu mơ màng. “Chẳng sao cả. Tôi yêu chuyện được bên em như thế này. Trò chuyện như bây giờ, khi trời tối, trong căn phòng này, trên chiếc sofa này, dính lấy nhau khi em vợc cái máy tính, và hơn tất cả, yêu tháng Mười một này. Thật tuyệt khi em chăm chú vào việc ấy như vậy.”

“Em cũng yêu thế này, rất nhiều.”

“Và em còn không tin vào số phận.”

“Em nói với ông rồi, em không suy nghĩ theo cách ấy.”

“Vậy có lẽ khi em đến tuổi tôi và sự thiếu hụt những điều cuộc đời này bạn cho càng hiện rõ hơn mỗi ngày, có lẽ lúc ấy em sẽ bắt đầu để ý hơn những Vô tình nhỏ bé hóa ra lại là những nhiệm màu và chúng có thể định hình lại đời ta và chiếu một ánh sáng chói lòa lên những điều mà, khi xem xét trong một tổng thể to lớn, có thể dễ dàng bị coi là vô nghĩa. Nhưng điều này thì không hề vô nghĩa.”

“Đêm nay điều này thật tuyệt vời.”

“Đúng, thật tuyệt.” Nhưng anh nói ra bằng một giọng buông bỏ đầy hoài niệm và chan chứa sự bị ai, như thể tôi là một món anh phải chứng kiến bị dọn đi trước khi kịp lấy phần. Liệu đây có phải chuyện sẽ xảy ra khi một người gần gấp đôi tuổi người còn lại không: họ đánh mất người kia trước cả khi kịp lạc lòng?

Chúng tôi cứ ngồi như vậy mà không nói gì. Tôi trao anh một cái ôm nhẹ nhàng, nhưng đáp lại anh ôm lấy tôi thiết tha, âu sầu và vô vọng tới cùng cực.

“Sao vậy?” Tôi hỏi, lưỡng lự không muốn nghe điều tôi nghĩ có thể sẽ là câu trả lời từ anh.

“Không sao. Nhưng rồi đây là điều đáng sợ nhất - nếu em hiểu ý tôi – chính xác là vì chẳng sao cả.” “Rót cho em thêm rượu đi.”

Anh làm theo. Rồi anh đứng dậy, đến bên chiếc tủ nhỏ đằng sau dàn loa, và lấy thêm một chai nữa. “Loại này ngon hơn nhiều.”

Anh biết tôi đã đổi chủ đề. Tôi mong có gì đó sẽ xua đi điều đang bất ngờ đè nặng giữa hai người, nhưng không có gì xảy đến cả, và cả anh và tôi cũng đều không làm dịu nó đi, có lẽ là vì cả hai đều không chắc điều gì sẽ ẩn nấp đằng sau nó. Vậy nên anh nói với tôi về Calvados và lịch sử của của loại rượu ấy, và tôi lắng nghe, và rồi đọc dòng chữ viết tay nhỏ trên nhãn chai rượu về nơi sản xuất. Đó là lúc anh nảy ra một ý tưởng bất ngờ, và dùng cách nói mà đã trở thành câu cửa miệng của cả hai: “Tôi muốn làm em hạnh phúc.” Tôi biết chính xác anh đang có ý gì. “Vậy nên, cứ đọc nhãn chai nhé, tôi không muốn em mất tập trung. Tôi cũng không muốn em nhìn đâu.”

Anh nâng ly Calvados và nhấp một hơi. Rồi tôi cảm nhận được nó, cảm nhận được miệng anh, cảm nhận sự kích thích nhẹ nhàng. “Em yêu điều ông làm,” cuối cùng tôi nói, nhắm mắt lại, cố gắng đặt chai rượu xuống đâu đó rồi quyết định đặt nó trên tấm thảm, ngay dưới chân sofa.

Tôi chợt nhớ ra người giúp việc.

“Về rồi. Em không nghe thấy tiếng xe sao?”

Chúng tôi dành ngày Chủ nhật trong nhà. Đúng như Michel nhớ, trời luôn mưa vào Chủ nhật, và khu rừng, nơi chúng tôi định đi dạo, qua mỗi giờ sẽ dần tối và ảm đạm hơn. Cuối buổi sáng hôm ấy tôi tập đàn một vài giờ trong khi anh xem qua vài giấy tờ trong văn phòng. Nhưng phần lớn chúng chỉ là những hoạt động miễn cưỡng, và cuối cùng cả hai đều thấy nhẹ nhõm khi người kia khéo léo gợi ý tốt hơn nên trở lại Paris trước khi tình trạng giao thông trở nên quá căng thẳng ngày cuối tuần. Khi đến gần thành phố, có một thoáng ngượng ngùng hiện ra khi rõ ràng anh định đưa tôi qua nhà mình trước – và anh làm vậy là vì anh không muốn tôi thấy quá áp lực khi phải tới thẳng nhà anh hoặc là vì anh nghĩ tôi có một vài chuyện riêng phải làm trước buổi hòa nhạc tối nay của chúng tôi. Hoặc, tôi nghĩ, anh cần thời gian một mình. Dù sao thì, anh có thói quen trở lại Paris vào Chủ nhật, và ai mà biết được, có lẽ đây là điều anh đã làm hàng năm trời và không muốn thay đổi nó. Khi đỗ trước tòa nhà tôi ở, anh không tắt máy. Tôi bước ra. “Gặp lại sau nhé,” tôi bảo, anh không đáp lại gì mà chỉ yên lặng gật đầu cùng sự trầm ngâm như mọi khi. Và rồi tôi bỗng lấy hết dũng cảm. “Em không cần về nhà. Em không muốn về.” “Vào lại đi,” anh nói. “Tôi mê đắm em, Elio, tôi tôn thờ em.” Chúng tôi tới thẳng nhà anh. Chúng tôi làm tình, ngủ mơ màng một lúc, rồi đi vội tới buổi hòa nhạc, uống nước quả lúc nghỉ giải lao, rồi ăn tối, và suốt thời gian ấy anh nắm tay tôi. “Mai là thứ Hai,” anh bảo. “Thứ Hai tuần trước chỉ toàn khổ sở.” Tại sao, tôi hỏi. Nhưng tôi biết tại sao. “Vì tôi cảm thấy như đã lạc mất em – và vì sao chứ? Vì tôi sợ em sẽ từ chối và cố tỏ ra không có ác ý.”

Anh nhìn tôi một lúc. “Tối nay em phải về nhà không?”

“Ông có muốn em về không?”

“Ta sẽ vờ như vừa gặp tối nay và thay vì phải rời đi, em sẽ nói, “Em muốn ngủ với anh, Michel. Em sẽ vậy chứ?”

“Em đã muốn nói vậy lắm. Nhưng không! Chính ông nhé, thưa ông, đã rời đi!”

Sáng thứ Hai tôi quyết định bắt taxi và về nhà thay đồ. Nơi ấy nhìn thoáng chút xa lạ, như thể tôi đã không ở đó hàng tháng, hàng năm trời. Lần cuối tôi ở đây là sáng thứ Bảy khi vội lên tầng, lấy một ít quần áo, và chạy xuống khi anh đợi trong xe. Chiều hôm ấy, sau khi dạy xong, tôi hướng thẳng đến văn phòng của nhạc viện để tìm bất kỳ thứ gì có thể liên quan tới Léon.

Khi gặp Michel ở nhà hàng của chúng tôi tối ấy, tôi nói với anh rằng manh mối này không lần ra được điều gì cả. Không một dấu vết về Léon. Anh thất vọng hơn tôi tưởng, và vì vậy tôi có một kế hoạch khác cho thứ Ba. Tôi thử tới hai trường dạy nhạc và tìm trong hồ sơ hàng năm của họ. Nhưng một lần nữa, không có gì.

Chúng tôi đều đưa ra những phỏng đoán xác đáng rằng có thể Léon đã học ở nước ngoài hoặc, giống như những gia đình Do Thái khá giả thế kỷ trước, ông được theo học một gia sư.

Hai ngày trôi qua theo hướng đó. Tôi đã cạn manh mối.

Vào thứ Sáu, tuy vậy, tôi đã khám phá được danh tính của Léon trong những hồ sơ của trường trung học nơi cả Michel và cha anh từng theo học và người thư ký đã tìm trong chỗ hồ sơ ấy trước sự quan sát của tôi khi tôi nhận là một người cháu của Michel. Trên xe trở về vùng quê ấy ngày hôm đó, tôi không thể kìm được và báo cho anh ngay. “Em còn tìm được địa chỉ cũ nữa. Tên họ là Deschamps. Vấn đề duy nhất là Deschamps không thực sự là một cái tên Do Thái.”

“Có thể là tên giả hoặc được đổi. Giống như Feldmann, Fledenstein, Feldenblum, hoặc chỉ Feld thôi.”

“Có thể lắm. Nhưng có rất nhiều Léon Deschamps trên mạng, có thể họ vẫn còn sống, thậm chí sống ngay tại Pháp. Việc tìm ra có thể mất hàng tháng.”

Anh như bối rối. Điều tôi không thể ngừng nghĩ là vì sao anh không tự lần theo những mối liên hệ này. Cuối cùng, tôi hỏi anh tại sao sau chừng ấy năm anh vẫn muốn tìm ra Léon.

“Điều ấy có thể nói cho tôi biết điều gì đó về cha mình mà tôi không bao giờ biết. Tôi cũng muốn biết Léon biến mất khi nào và như thế nào.”

“Nhưng tại sao?”

“Tôi không biết tại sao. Có lẽ đó là một cách để tôi kết nối với cha mình, để biết điều gì khiến ông từ bỏ điều ông yêu thích nhất, và để hiểu tình bạn hoặc tình yêu của ông dành cho Léon, nếu đó là tình bạn hoặc tình yêu. Đó là một điều cha tôi không bao giờ đề cập và thậm chí cả lúc tôi đã lớn và ông có thể dễ dàng mở lòng với tôi. Hoặc có lẽ tôi cũng không khác con trai mình là bao khi cố khiến cả hai phải xa cách. Hoặc đây là cách của tôi để chuộc lỗi lại vì không cố gắng thấu hiểu một người đàn ông đã từ bỏ đam mê của mình. Nhưng được bao nhiêu người trong chúng ta dành thời gian để tìm hiểu cha mẹ mình thực sự là ai cơ chứ? Có bao nhiêu bí mật ẩn dưới người ta tưởng mình luôn hiểu thấu chỉ đơn giản vì ta đã yêu thương họ?”

“Dẫu sao,” tôi nói, ngắt lời anh, “Em tìm được cả

ảnh của Léon trong album ảnh cuối năm. Đây, nhìn này.” Tôi đưa anh xem tấm ảnh tôi chụp lại hôm ấy tại văn phòng. “Ông ấy rất điển trai. Và nhìn có vẻ là người Công giáo, rất chỉnh tề.”

“Thật vậy. Rất điển trai,” Michel nói.

“Ông có nghĩ giống em không?” tôi hỏi.

“Tất nhiên là tôi nghĩ giống em. Đó là điều lâu nay ta luôn nghĩ, phải không?”

Khi tới nơi, điều đầu tiên anh làm sau khi cất túi và chào người đầu bếp là hướng thẳng tới phòng khách, mở ngăn kéo tủ dưới một chiếc bàn nhỏ bên cửa chớp, và lấy ra một phong thư lớn. “Nhìn này,” anh nói.

Đó là một tấm ảnh phóng to về một lớp học cũ, được chụp một hoặc hai năm trước bức tôi tìm được. Anh chỉ vào Adrien bằng ngón út; ông ấy nhìn trẻ hơn trong tấm này. Cả hai chúng tôi đều cố tìm Léon.

“Thấy không?” anh hỏi. Tôi lắc đầu. Nhưng rồi ông ấy ở đó, đứng ngay cạnh Adrien. Sự tương đồng của hai khuôn mặt trong tâm của tôi và tấm chụp lớp học cũ gần như khó tin. “Vậy lâu nay ông luôn biết!” tôi nói.

Anh lắc đầu với nụ cười như hối lỗi. “Tôi biết về tấm ảnh. Nhưng tôi cần ai đó khác xác nhận nó.” Tôi ngẫm nghĩ điều ấy một lúc.

“Đó là lý do anh đưa em tới đây tuần trước sao?” “Tôi biết em sẽ hỏi vậy. Và câu trả lời là không.

Có một lý do khác, và tôi chắc chắn em đã đoán ra. Tôi muốn tặng em bản nhạc. Bằng cách trao nó cho em, và không ai khác, tôi sẽ hoàn thành ý nguyện cuối cùng của cha mình. Tất cả những gì tôi muốn là em hãy chơi nó trong một buổi diễn.”

Một sự yên lặng nặng nề bao trùm lấy chúng tôi. Tôi muốn từ chối và nói điều người ta thường nói khi được tặng một món quà quá quý giá. Em không thể nhận nó – và cũng có nghĩa là Em không xứng đáng với nó. Nhưng tôi biết nói vậy sẽ tổn thương anh.

“Em vẫn nghĩ khám phá của ta quá nhanh gọn, quá đơn giản.” tôi nói. “Một phần em vẫn không tin. Hãy đừng vội kết luận điều gì.”

“Tại sao?”

“Bởi vì em không thể hiểu tại sao một người Công giáo giàu có theo học tại Lycée J. Với cha mẹ người đó có lẽ còn tham gia vào Hành động Pháp lại liên quan tới Kol Nidre.”

“Ý em là gì?”

“Rằng có thế Léon ta cần tìm không phải Léon Deschamps."

Để không bỏ sót bất cứ bí mật nào, tôi dành cả tuần sau đó tìm kiếm thêm các manh mối.

Có thêm nhiều ngõ cụt, nhiều thất bại nữa, nhưng rồi, chiều thứ Bảy hôm ấy trong căn nhà cổ của anh, nó bất ngờ ập đến với tôi.

“Có gì đó cứ làm em bứt rứt. Đầu tiên là cha ông tiếp tục đến nhà nhờ Thánh U. để xem hòa nhạc mỗi Chủ nhật. Liệu nhà thờ ấy bằng cách nào đó có một mối liên hệ bí ẩn với Léon không? Có lẽ chính nhà thờ ấy có gì đó liên quan tới Tứ tấu Florian. Em biết họ đã chơi ở đó hàng năm trời và chính ông đã nói rằng cha ông đã trợ cấp kinh phí cho họ. Nên em đã tìm kiếm họ trên mạng và nhìn này, đúng như em nghi ngờ, không chỉ có một hoặc hai, mà tới ba thế hệ của nhóm Tứ tấu này. Florian đầu tiên được thành lập giữa thập niên 20, không phải tứ tấu mà là tam tấu: vĩ cầm, trung hồ cầm, và dương cầm. Và giờ là phần cho ông thấy rằng em thực sự là một thiên tài đấy. Người chơi dương cầm cho nhóm tam tấu bấy giờ không phải Léon Deschamps, như chúng ta lầm tưởng, mà là người đã tham gia nhóm tam tấu trong suốt mười năm, người vừa chơi dương cầm và vĩ cầm. Tên người đó là Ariel Waldstein. Nên em đã tìm hiểu về Ariel Waldstein và chắc chắn rằng ông ấy là một người nghệ sĩ Do Thái, một người không chi qua đời trong trại mà còn bị đánh tới chết bởi sở hữu một cây vĩ cầm Amati và nhất quyết không chịu giao nộp nó. Lúc ấy ông sáu mươi hai tuổi.”

“Nhưng tên ông ấy là Ariel chứ không phải Léon,” Michel nói.

“Em ghép những mảnh ghép ấy lại sáng sớm nay - bằng cách nào, em cũng không chắc. Trong tiếng Hebrew, Ariel nghĩa là “con hổ của Chúa”: gọi tắt là, Léon. Nhiều người Do Thái có một cái tên tiếng Do Thái hoặc Latinh. Trong những năm hai mươi, người chơi vĩ cầm này được gọi là Ariel; những năm đầu thập niên ba mươi ông ấy trở thành Léon, có lẽ là vì sự căng thẳng gia tăng của chủ nghĩa bài Do Thái. Cách dễ nhất để tìm hiểu thêm về ông ấy là đi hỏi thăm ở khu tưởng niệm Yad Vashem ở Jerusalem.”

Tôi cảm thấy mình cần phải nói thêm gì đó, như thể tất cả việc đào bới và khai quật về cuộc đời của Ariel Waldstein cũng đang dần làm tỏ tường một điều có vẻ hoàn toàn ngẫu nhiên nhưng tôi biết rằng sẽ chỉ có một mối liên quan vô hình nếu như nó bao gồm quãng thời gian đã qua và sự khám phá lại về một người yêu dấu. Tôi như có thể cảm nhận được điều này sẽ dẫn tới đâu và chần chừ xem có nên khám phá thêm nữa vì sợ rằng những suy nghĩ của Michel sẽ dần hướng về điều đó. Anh không nhắc về nó, tôi cũng không. Nhưng tôi chắc chắn rằng nó đã lướt qua tâm trí của anh.

Chúng tôi tắm cùng nhau sáng Chủ nhật ấy, rồi ra ngoài đi dạo một lúc, đi bằng đường cửa sau, cánh cửa mà trước đó tôi chưa thấy bao giờ. Mọi người trong làng đều biết Monsieur Michel và vẫy chào mỗi khi thấy anh. Anh dẫn tôi tới quán cà phê ở góc phố mà nếu nhìn qua thì chẳng có gì đặc biệt về nó, nhưng ngay khi vừa đặt chân vào, tôi lập tức cảm nhận được sự ấm áp và được chở che. Quán kín những người đỗ ô tô và xe van ghé vào để thưởng thức chút gì đó ấm áp trước khi tiếp tục hành trình. Chúng tôi gọi hai ly cà phê và bánh sừng bò. Ba cô nàng khoảng gần ba mươi ngồi cạnh chúng tôi, càu nhàu về những người đàn ông trong cuộc đời họ. Tôi bật cười khi Michel, đang mải nghe lén, mỉm cười rồi nháy mắt với tôi. “Đàn ông tệ lắm,” anh nói với mấy cô gái. “Quá tệ. Bọn em không hiểu làm sao đàn ông các anh có thể nhìn được mình trong gương mỗi sáng nữa.” “Không dễ dàng gì, nhưng bọn tôi phải cố thôi,” Michel nói. Mọi người đều cười. Người bồi bàn tình cờ nghe được, nói rằng phụ nữ tốt hơn đàn ông nhiều và vợ của anh ta là người hoàn hảo nhất thế gian. “Tại sao thế?” một cô lên tiếng khi đang châm một điếu thuốc rồi phải ngừng lại để hỏi. “Sao ư? Vì nàng biến tôi thành một người tốt đẹp hơn. Và để tôi nói cô nghe, với tôi thì việc đó chỉ có thần thánh mới làm được.” “Vậy có lẽ Cô ấy là thánh thần rồi.” “Đừng phóng đại chứ. Ai lại muốn ngủ với một vị thánh bao giờ.” Mọi người cùng cười lớn.

Sau khi uống cà phê, Michel duỗi thẳng chân dưới bàn và có vẻ hết sức hài lòng với bữa sáng. “Nữa không?” anh hỏi. Tôi gật đầu, có chứ. Michel gọi thêm hai ly cà phê nữa. Chúng tôi không nói gì.

“Ba tuần,” cuối cùng anh lên tiếng, có lẽ để lấp đầy im lặng. Tôi lặp lại lời anh. Rồi, bỗng dưng, anh với tới nắm lấy tay tôi. Tôi để yên như vậy, cảm thấy lúng túng vì nơi ấy có rất đông những người đang đứng bên quầy rượu. Chắc hẳn anh nhận ra sự bất an của tôi, và thả tay ra. “Tối nay họ sẽ chơi lại Beethoven.” Anh nói vậy như muốn âm thầm cố dỗ dành tôi.

“Em tưởng tối mình sẽ đi hẹn hò.”

“Chà, tôi không muốn đánh đồng vậy,” anh nói. “Thôi đi!”

“Tôi không ngừng được.”

“Nhưng tại sao?

”

“Bởi vì một cậu bé vẫn còn nán lại trong tâm hồn tôi, và đôi lúc sẽ thốt ra vài câu, rồi lặn mất và trốn đi ngay. Bởi vì nó sợ phải hỏi, bởi vì cậu ta nghĩ em sẽ cười nếu cậu hỏi, bởi vì thậm chí tin tưởng còn quá khó. Tôi xấu hổ, sợ hãi, và tôi già rồi.”

“Đừng nghĩ như vậy. Chúng ta đã gần như đã giải mã được một bí ẩn trong hôm nay. Tất cả những gì ta cần phải làm tiếp theo là hỏi người chơi hồ cầm xem ông ấy có nhớ gì về Ariel không. Ông ấy có thể quên, nhưng dẫu thế nào, ta cũng sẽ hỏi.”

“Làm vậy có đưa cha tôi trở lại không?”

“Không, nhưng điều này sẽ khiến ông ấy hạnh phúc, và rồi chính ông sẽ hạnh phúc.”

Anh ngẫm nghĩ điều tôi nói, rồi gật đầu như cách anh thường làm, để bộc lộ một niềm thấu hiểu lặng yên và chấp nhận. Rồi, như thể vượt qua tất cả những điều vô hình giữa chúng tôi: “Em hứa là hãy chơi bản cadenza kia – một ngày nào đó, nhé?”

“Em sẽ chơi nó vào đầu mùa xuân này khi đi lưu diễn ở những tiểu bang, và cả vào mùa thu khi em trở lại Paris. Em hứa.”

Anh bỗng lưỡng lự và rồi tôi nhận ra vì sao. Giờ là lúc để nói ra.

“Tới Mỹ, em định sẽ gặp một người em đã không gặp lâu lắm rồi.”

Tôi nhìn anh suy ngẫm về chuyện ấy.

“Vậy em đi một mình à?”

Tôi gật đầu.

Một lần nữa tôi nhìn anh đắn đo từng lời tôi nói. “Cái cậu đã kết hôn sao?” cuối cùng anh lên tiếng. Tôi gật đầu. Tôi yêu cách anh có thể nhìn thấu tôi như vậy, và rồi tôi sợ điều anh đang nhìn ấy. “Bên cạnh ông khiến em nhớ về anh ấy,” tôi nói. “Nếu em gặp anh ấy, điều đầu tiên em muốn làm là kể cho anh nghe về ông.”

“Sao, vì tôi không đạt được như tiêu chuẩn đề ra à?”

“Không, bởi vì ông và anh ấy đều là chuẩn mực. Giờ khi em suy nghĩ lại, bấy lâu nay chỉ có hai người thôi. Tất cả những người khác đều chỉ là tạm bợ. ông đã cho em những ngày biện minh cho những năm dài em đánh mất anh ấy.”

Tôi nhìn anh, lần này là tôi với đến và nắm lấy tay anh.

“Đi bộ không?” tôi nói.

“Đi.”

Chúng tôi đứng dậy và anh nói rằng nên quay lại qua khu rừng để tới bên bờ hồ.

“Điều em nghĩ ta nên làm là cố tìm ra Ariel Waldstein là ai. Có lẽ có ai đó sẽ biết thêm thông tin về ông ấy.”

“Có lẽ vậy. Nhưng khi mất ông ấy đã sáu mươi hai, vậy nên những người họ hàng nếu còn sống chắc chắn đã rất, rất lớn tuổi rồi.”

“Vậy nên Ariel có lẽ phải gấp đôi tuổi cha ông bấy giờ.”

Anh đột nhiên nhìn tôi và mỉm cười.

“Đồ đen tối!”

“Tôi không biết giữa bọn họ là thế nào. Có lẽ đây chính là điều thôi thúc ta phải tìm ra tới cùng.”

“Ý ông là cả hai ta?”

“Có lẽ. Nếu như nhà thờ có hồ sơ lưu trữ, ta sẽ biết. Ta thậm chí có thể tìm địa chỉ của Ariel, có lẽ là trong một cuốn sổ liên lạc cũ. Và nếu ta tìm được nơi ông ấy Ở, điều ta cần làm đặt một tấm đá tưởng niệm - Stolpersteine khắc tên ông ấy.”

“Nhưng nhỡ đâu ông không còn con cháu gì, nhỡ đâu gia đình ông không còn lại ai, chẳng một dấu vết gì về ông ấy và chẳng còn lại gì để biết cả thì thế nào?”

“Thì ta đã làm một điều đúng đắn. Tấm đá sẽ là vật để tưởng nhớ tất cả những người đã nằm xuống và thậm chí không được thốt lên những lời cuối cùng để cảnh báo hoặc nói lời yêu thương hay thậm chí gọi tên của người họ yêu trước khi vào hầm khí độc. Ngoại trừ một bản nhạc với những lời cầu nguyện tiếng Hebrew. Gia đình em có ai từng qua đời trong cuộc thảm sát ấy không?”

“Ông biết về những ông bác của em rồi. Em cũng nghĩ rằng cụ ngoại của mình đã chết tại trại tập trung Auschwitz. Nhưng em không rõ. Ta chết và không ai nói gì về điều ấy nữa, và trước cả khi ta nhận ra, không một ai hỏi, không một ai nói, thậm chí không một ai biết hay muốn được biết. Ta bỗng tuyệt diệt, chưa từng được sống, chưa từng yêu hay được yêu. Thời gian chưa từng rọi sáng lên ta và ký ức thì không bao giờ vương lại chút tro bụi.”

Tôi nghĩ về Ariel. Bản nhạc của ông là một bức thư tình gửi tới người nghệ sĩ dương cầm trẻ, một bí mật của ông. Hãy đàn nó bộ ta. Cầu Kaddish bộ ta. Nhớ giai điệu chứ? Nó ẩn mình ở đó, bên dưới Beethoven, ngay cạnh Mozart, hãy tìm ta. Ai mà biết được dưới thực tại khủng khiếp, không thể tưởng tượng nổi, gã Léon Do Thái ấy đã viết lên bản cadenza để nói rằng, Ta đang nghĩ về em. Ta yêu em, bãy đàn nó.

Tôi nghĩ về ông Ariel Do Thái già tới thăm nhà của Adrien dẫu ông biết mình không được chào đón, Ariel tìm một nơi ẩn náu nhưng lại bị phát hiện ra hoặc, tệ hơn, bị tố cáo bởi người cha hoặc mẹ hoặc bởi những người hầu, có thể dưới sự ra lệnh của những người chủ. Tôi nghĩ về Ariel cố chạy trốn tới Bồ Đào Nha, hoặc Anh, hoặc tệ hơn nữa, bị bắt bởi quân Milice trong một cuộc đột kích kinh hoàng khi những người Do Thái già và trẻ bị lôi đi khỏi căn nhà của chính mình lúc nửa đêm và bị ép lên những chuyến xe tải chật ních. Rồi Ariel soạn nhạc ở nơi nào đó, Ariel trong xe chở gia súc, và cuối cùng là Ariel bị đánh đập tới chết bởi vì không giao nộp cây vĩ cầm, vật có lẽ giờ đang nằm trong một ngôi nhà của người Đức nào đó không hề hay biết cây đàn ấy đã bị cướp đi sau khi người chủ của nó chết trong trại tập trung. Liệu có phải cha của Michel đã muốn đến tội vì không thể cứu Ariel không? Vì em không thể cho người và những người dấu yêu một chỗ trú ẩn, em sẽ vĩnh viễn không chơi dương cầm nữa. Hoặc: Sau những điều bọ làm với người, âm nhạc với em đã chết. Tôi có thể nghe được những lời Léon đau đớn khẩn cầu: Nhưng em phải đàn. Đàn cho tình yêu của tôi, không bao giờ dừng lại, hãy đàn nó.

Và một lần nữa tôi nghĩ về cuộc đời mình. Liệu có ai đó một ngày sẽ gửi cho tôi bản một cadenza và nói, Anh đã mất đi, nhưng hãy đi tìm anh, đàn cho anh nhé:

“Tên bài kinh cầu Do Thái ấy là gì?”

“Kol Nidre.”

“Nó được đọc cho người đã mất à?”

“Không, bài kinh đó là Kaddish.”

“Em có biết nó không?

”

“Tất cả những đứa trẻ Do Thái đều học nó. Bọn em được dạy để tập dượt cho cái chết của những người mình thương yêu trước cả khi bọn em biết cái chết là gì. Trớ trêu thay, Kaddish lại là bài kinh duy nhất ta không thể tự đọc cho chính mình.”

“Sao lại vậy?”

“Vì ta không thể vừa đọc nó và vừa chết cùng một lúc được.”

“Mấy người thật là!”

Chúng tôi cười. Rồi tôi nghĩ một lúc. “Anh biết đấy, gần như chắc chắn rằng tất cả chuyện về Léon Ariel này không gì hơn chỉ là tưởng tượng.”

“Ừ, nhưng đây là câu chuyện thuộc về chúng ta. Tôi biết chính xác ta sẽ làm gì tối nay. Ta sẽ trở lại thành phố, tôi sẽ giống như cha mình, và em sẽ là chàng trai từng là tôi của những năm tháng ấy, hoặc em có thể là đứa con trai tôi chưa từng được gặp, và chúng ta sẽ ngồi bên nhau lắng nghe Tứ tấu

Florian, có lẽ giống như cách cha tôi đã làm, khi

ông ấy bằng tuổi em còn tôi là Léon. Em biết đấy, hóa ra cuộc đời không hề nguyên bản tới vậy. Nó có những cách riêng đầy lạ lùng để nhắc ta nhớ rằng, kể cả không có Chúa chăng nữa, sẽ luôn có một tia sáng rực rỡ trong cách số phận chơi ván bài của nó. Nó sẽ không phát cho ta năm mươi hai lá; mà chỉ là bốn hoặc năm, và chúng tình cờ lại là những lá mà chính cha mẹ, ông bà, những thế hệ đi trước của ta đã được nhận. Những lá ấy đều sờn rách và nhăn nhúm cả. Lựa chọn để đánh một dây thì luôn bị hạn chế: đến một thời điểm những lá bài ấy sẽ tự động lặp lại, hiếm khi theo thứ tự của ván chơi lắm, nhưng luôn luôn theo một mẫu có vẻ như là quen thuộc lạ thường. Đôi khi lá cuối cùng không hề được tung ra bởi một người mà đời họ đã kết thúc. Số phận không phải lúc nào cũng tuân theo cái mốc tận cùng của cuộc đời mà ta chọn. Nó sẽ phát ra lá bài cuối cùng cho những người tiếp sau. Đó cũng là lý do tôi nghĩ rằng mọi cuộc đời đều chịu cái án dở dang. Đây chính là sự thật bi thảm mà ta phải chấp nhận. Ta tiến tới điểm kết thúc thế mà không cách nào xong việc được với cuộc đời, dù cố vươn người ra hết cỡ! Có những kế hoạch ta chưa kịp bắt đầu, những vấn đề do dự phải bỏ lại ở một nơi nào đó. Sống có nghĩa là chết dần trong những điều hối tiếc không thể chịu đựng được. Như một nhà thơ Pháp từng nói, Le temps d'apprendre à vivre il est déjà trop tard, ngay khi ta học được cách sống, thì đã quá muộn rồi. Và dẫu vậy vẫn có những vui thú bé nhỏ trong việc nhận ra rằng mỗi chúng ta được đặt vào vị trí để hoàn thành một cuộc đời của người khác, để đóng lại những dang dở và đánh lá bài cuối cùng thay cho họ. Còn gì hài lòng hơn khi biết rằng sẽ luôn phụ thuộc vào một người khác để hoàn thành và kết thúc đời ta? Một người ta yêu thương và cũng thương yêu ta không kém. Đối với tôi, tôi muốn nghĩ đó là em, kể cả khi ta không còn bên nhau. Giống như được biết rằng ai sẽ là người sẽ vuốt mắt cho tôi. Tôi muốn đó là em, Elio ạ.”

Trong khoảnh khắc đó, ngay khi tôi nghe những gì Michel nói, tôi bỗng nhận ra rằng chỉ có một người trên đời này tôi muốn sẽ vuốt mắt cho tôi. Và anh, tôi hy vọng, dẫu không nói với tôi một lời nào bấy lâu nay, sẽ bước qua một vòng trái đất để đặt tay anh lên mắt tôi, như tôi cũng sẽ làm với anh như vậy.

“Vậy,” Michel nói, “ta sẽ gặp người lớn tuổi nhất trong nhóm tứ tấu, như em rất muốn nghe ba tuần trước, và ta sẽ hỏi liệu ông ấy có nhớ. Nhưng trước lúc ấy, trong khi giải lao, ta sẽ mua nước quá nóng từ bà nữ tu già lụ khụ, có lẽ một lần nữa vờ như không quen biết nhau, hẹn sẽ gặp lại sau buổi diễn, biết rằng sau đấy cả hai sẽ cùng nhau đi ăn nhẹ.”

“Chúa ạ, em đã kể ông nghe em muốn ông ôm em và mời em về nhà đêm ấy chưa? Em suýt nữa đã nói ra nhưng rồi lại thôi.”

“Có lẽ lá bài đó không phải dành cho đêm ấy.” Anh mỉm cười.

“Có lẽ thế.”

Anh nhìn tôi khi quàng khăn quanh cổ mình. “Em lạnh không?” anh hỏi.

“Một chút,” tôi đáp. Tôi có thể cảm nhận được anh đang lo lắng về tôi nhưng không thể hiện ra. “Muốn về nhà không?”

Tôi lắc đầu. “Em sẽ lạnh khi hồi hộp.”

“Sao em lại hồi hộp chứ?”

“Em không muốn điều này kết thúc.”

“Sao phải như vậy?”

“Không sao cả.”

“Em là lá bài tôi suýt nữa đã bỏ lỡ suốt đời mình. Tối nay sẽ là ba tuần, và nó có thể đã dễ dàng không bao giờ xảy đến. Tôi cần...” Nhưng rồi anh dừng lại. “Cần gì?”

“Tôi cần một tuần nữa, một tháng nữa, một mùa nữa, nghĩa là cả một cuộc đời nữa. Hãy cho tôi mùa đông. Xuân đến, em sẽ đi lưu diễn. Dưới tất cả những vỏ bọc ta đã khám phá hôm nay, tôi biết có một người dành cho em, và tôi không tin đó là mình.”

Tôi không nói gì cả. Anh mỉm cười đăm chiêu.

“Có lẽ là cái cậu đã kết hôn kia.” Rồi anh ngập ngừng một hồi, tôi nghe giọng anh thắt lại. “Điều duy nhất tôi muốn trong cuộc đời này dành cho em là tìm được hạnh phúc. Còn lại thì...” Anh không thể nói hết câu. Anh lắc đầu ngụ ý rằng những điều còn lại chẳng quan trọng nữa.

Không ai trong chúng tôi nói thêm gì cả. Tôi ôm lấy anh và anh cũng vậy, và chúng tôi giữ nhau trong lòng mãi cho tới khi anh chỉ lên những con nhạn nhỏ bay trên trời. “Nhìn kìa!” anh nói. Nhưng tôi không buông tay ra.

“Tháng Mười một,” tôi bảo.

“Ừ. Không phải đông hay thu. Tôi luôn yêu tháng Mười một ở miền quê Corot.”

Nguyên tác Find Me - Dịch giả Serena Dang
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của André Aciman

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.