
“Sao lại là Alexandria?” Oliver hỏi khi chúng tôi đứng lại ở quảng trường, ngắm hoàng hôn từ đê chắn sóng vào buổi tối đầu tiên cả hai ở đó. Mùi của cá, của muối, và nước lợ từ bờ biển tràn ngập vào, nhưng chúng tôi vẫn đứng trên lối đi đối diện ngôi nhà của người chủ gốc Alexandria Hy Lạp, ngắm nhìn vào nơi mà mọi người bảo từng có một ngọn hải đăng ở đó. Người chủ nhà của chúng tôi đã sống Ở đó qua tám thế hệ – nên ngọn hải đăng, họ khẳng định, không thể nằm ở đâu khác ngoài trên pháo đài Qaitbey này. Nhưng không ai biết chắc. Lúc ấy, mặt trời dần mờ đi trước mắt chúng tôi, và màu sắc của nó nhuộm lên khoảng không bằng một nét cọ không phải màu hồng hay phơn phớt cam mà là một màu đào sáng rực rỡ. Cả hai đều chưa từng thấy gam màu như vậy trên bầu trời bao giờ.
Sao lại là Alexandria: có thể mang rất nhiều ý nghĩa: từ Sao nơi này lại là trung tâm lịch sử phương Tây cho tới Sao ta lại tới đây? Tôi muốn đáp rằng, Bởi vì tất cả mọi thứ có ý nghĩa với một trong bai ta - Ephesus, Athens, Syracuse – chắc hẳn đã nằm lại ở đây. Tôi đang nghĩ về những người Hy Lạp, về Alexander Đại Đế và chàng nhân tình Hephaestion, về Library, và Hypatia, và cuối cùng là nhà thơ Hy Lạp hiện đại Cavafy. Nhưng tôi cũng biết vì sao anh hỏi.
Chúng tôi rời ngôi nhà ở Italy để tham gia chuyến đi kéo dài ba tuần tới Địa Trung Hải. Con tàu dừng Alexandria hai đêm và chúng tôi đang tận hưởng nốt những ngày cuối cùng trước khi trở về. Chúng tôi đã luôn muốn được bên nhau một mình. Có quá nhiều người ở nhà. Mẹ tôi đã tới sống cùng chúng tôi và không thể dùng cầu thang nữa, nên giờ sống tại căn phòng dưới tầng trệt không xa phòng của cả hai. Và còn những y tá chăm nom bà. Rồi Miranda, chị ở tại phòng ngủ cũ của tôi khi không đi du lịch đây đó. Và cuối cùng là Ollie Nhỏ, phòng của thằng bé ngay cạnh phòng chị, nơi từng là phòng của ông tôi. Chúng tôi ở tại phòng ngủ cũ của cha mẹ tôi. Tôi chắc ban đêm chỉ cần ho một tiếng là ai cũng sẽ nghe thấy.
Lúc đầu chúng tôi không mong mọi chuyện dễ dàng như ở Italy. Chúng tôi biết mọi chuyện sẽ thay đổi nhưng cũng không thể hiểu tại sao khát khao được lao thẳng vào những gì cả hai từng có nhiều năm trước lại có thể dẫn đến sự miễn cưỡng ở trên giường. Chúng tôi ở trong ngôi nhà nơi mọi chuyện bắt đầu – nhưng cả hai có còn như trước không? Anh trách tại lệch múi giờ, và tôi không phản bác, khi anh quay lưng lại lúc tôi tắt đèn trước khi cởi đồ. Tôi đã nhầm lẫn nỗi sợ sẽ thất vọng với một nỗi sợ còn hãi hùng hơn chính là làm anh thất vọng. Tôi biết anh cũng đang nghĩ tương tự khi cuối cùng anh quay lại và nói, “Elio, anh đã không làm tình với một người đàn ông quá lâu rồi,” nói thêm, rồi anh bật cười, “Có lẽ anh đã quên phải làm thế nào.” Chúng tôi đã mong ham muốn sẽ giảm bớt sự lúng túng của cả hai, nhưng sự ngượng ngùng vẫn không thể xua tan. Trong bóng tối, cảm thấy sự căng thẳng dâng trào, tôi thậm chí còn gợi ý rằng trò chuyện có lẽ sẽ giúp giảm bớt điều đang kìm hãm hai ta lại. Có phải tôi đang vô tình xa lánh anh không, tôi hỏi. Không, không xa cách chút nào. Tôi có đang làm khó anh không? Làm khó sao? Không hề. Thế thì là gì?
“Thời gian,” anh đáp. Như mọi khi, anh chỉ nói vậy. Anh cần thời gian ư, tôi hỏi, gần như đã sẵn sàng lùi ra xa khỏi anh và bước xuống giường. Không phải, anh nói.
Mất một lúc tôi mới hiểu ý anh rằng đã quá nhiều tháng năm trôi qua mất rồi.
“Hãy ôm em,” cuối cùng tôi nói. לל
“Và để xem sẽ dẫn tới đâu à?” anh lập tức nói, để từng từ ẩn sau nỗi trớ trêu. Tôi biết anh đang bồn chồn.
“Ừ, và xem sẽ dẫn tới đâu,” tôi lặp lại. Tôi nhớ về buổi chiều hôm ấy khi tới thăm lớp anh dạy năm năm trước và anh đặt bàn tay mình lên má tôi. Tôi có thể ngủ với anh ngay nếu anh bảo tôi làm thế. Thế sao anh không nói: “Bởi vì có thể em sẽ cười anh. Bởi vì có thể em sẽ nói không. Bởi vì anh không chắc liệu em có tha thứ cho anh.”
Chúng tôi không làm tình đêm ấy, nhưng được ngủ trong vòng tay anh và lắng nghe từng nhịp anh thở, và nhận ra mùi hương của anh sau bấy lâu nay và biết rằng cuối cùng tôi đã được ở bên Oliver của mình mà sẽ không có ai phải rời đi khi tôi thả tay ra, chính là điều khiến tôi nhận ra rằng dẫu cho hai thập kỷ đã qua, chúng tôi không hề già đi dù một ngày tuổi so với hai chàng trai trẻ từng rất lâu về trước ngay chính tại mái nhà này. Sáng hôm ấy anh nhìn tôi. Tôi không muốn chỉ có lặng yên đọng lại. Tôi muốn nghe anh nói gì đó. Nhưng anh không nói.
“Là vì buổi sáng này... hay là vì em?” Cuối cùng tôi hỏi. “Bởi vì ngay lúc này, với em, là thật.”
“Đây cũng vậy, anh nói.
Và chính là tôi, chứ không phải anh, nhớ ra anh muốn bắt đầu thế nào. “Anh chỉ làm vậy với em.” anh bảo, khẳng định những điều chúng tôi biết sẽ xảy ra với cả hai. “Nhưng anh vẫn hồi hộp,” anh nói thêm.
“Em chưa từng thấy anh thế này.”
“Anh biết.”
“Em cũng muốn nói điều này với anh...” Tôi bắt đầu, vì tôi muốn anh biết.
“Sao?”
“Em luôn dành cho anh.”
“Nhỡ đâu ta không bao giờ bên nhau nữa thì sao?”
“Sẽ không có chuyện đó đâu.” Rồi tôi không thể ngừng lại: “Anh biết em muốn gì mà.”
“Anh biết.”
“Vậy là anh chưa quên.”
Anh mỉm cười. Không, anh không quên.
Bình minh lên, sau khi làm tình, chúng tôi đi bơi như nhiều năm về trước.
Khi trở lại, cả nhà vẫn đang ngủ.
“Em sẽ pha cà phê.”
“Thế thì tuyệt,” anh nói.
“Miranda thích pha kiểu Neapolitan. Chúng em đã luôn quen pha như vậy lâu nay.”
“Được thôi” là câu đáp của anh khi bước về nhà tắm. Sau khi đổ đầy nước vào bình, tôi bắt đầu đun nước để luộc trứng. Tôi đặt xuống hai chiếc khăn ăn, một chiếc bên đầu kia của bàn bếp, chiếc kia Ở đầu còn lại. Rồi tôi đặt bốn lát bánh mì vào máy nướng nhưng không bật nó ngay. Khi anh trở lại, tôi bảo anh để ý món cà phê nhưng không được dốc bình khi cà phê xong. Tôi yêu mái tóc anh khi được chải ra sau nhưng vẫn còn ướt. Tôi đã quên dáng vẻ buổi sáng của anh. Chưa đầy hai giờ trước chúng tôi còn chưa thực sự chắc cả hai có bao giờ làm tình nữa không. Tôi ngừng loay hoay với bữa sáng và nhìn sang anh. Anh biết tôi đang nghĩ gì mà mỉm cười. Vâng, sự không tự nhiên khiến cả hai sợ hãi đã nằm lại phía sau, và như thể để khẳng định điều này, trước khi rời bếp để đi tắm, tôi đặt một nụ hôn lên cổ anh. “Anh đã không được hôn như thế lâu lắm rồi,” anh nói. “Thời gian,” tôi bảo, dùng chính từ anh đã nói để trêu chọc.
Sau khi tắm và trở lại bếp, tôi bỗng bất ngờ khi thấy Oliver và Oliver đang ngồi cạnh nhau trên bàn. Tôi thả sáu quả trứng vào nồi nước cho ba chúng tôi. Khi bàn luận về bộ phim cả nhà xem vừa tối hôm trước, tôi biết rằng Ollie Nhỏ thích Oliver ngay lập tức.
Tôi phết bơ lên lát bánh mì còn ấm cho mọi người và nhìn Oliver đập vỏ trứng cho Ollie Nhỏ và rồi cho anh. “Con biết ai dạy ta làm vậy không?” anh hỏi.
“Ai?” thằng bé nói.
“Anh con đấy. Mỗi sáng anh ấy thường bóc trứng cho ta. Bởi vì trước ta không biết bóc thế nào. Người ta không dạy cái này ở Mỹ. Ta cũng phải bóc trứng cho hai đứa con trai ở nhà nữa.”
“Chú có con trai á?”
“Có, ta có.”
“Họ tên là gì?”
Anh nói với thằng bé.
“Và con biết mình được đặt tên theo ai không?” rồi Oliver hỏi.
“Dạ có.”
“Ai nào?”
“Chú.”
Ngay khi nghe những lời ấy, có gì đó như thắt lại trong cổ họng tôi. Điều này đã nhấn mạnh rất nhiều điều chúng tôi không nói thành lời, hoặc không đủ thời gian để nói, hoặc không đủ từ ngữ để nói, và nó vẫn ở đấy, như một hợp âm cuối cùng chốt lại một bản nhạc còn dang dở. Quá nhiều thời gian đã trôi qua, quá nhiều năm tháng, và ai mà biết được bao nhiêu trong số đó hóa ra lại là những tháng năm phí phạm mà ta đã không nhận ra, rồi cuối cùng lại khiến ta trở nên tốt đẹp hơn. Vậy nên tôi mới cảm động. Đứa trẻ ấy cũng giống như con chúng tôi, và có vẻ như đã được định trước rõ ràng đến nỗi mọi chuyện bỗng như hiện ra trước mắt tôi – bởi vì có một lý do cho cái tên ấy, bởi vì Oliver đã luôn chảy trong huyết quản tôi và đã luôn sống trong ngôi nhà này, thuộc về ngôi nhà này và thuộc về cuộc đời chúng tôi. Anh đã luôn ở đây trước cả khi anh tới, trước khi tôi chào đời, trước khi họ đặt những nền móng đầu tiên nhiều thế hệ trước, và những tháng năm của chúng tôi giữa thuở ấy và nay chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi trong hành trình bất tận của thời gian. Quá nhiều thời giờ, quá nhiều tháng năm, và tất cả những cuộc đời ta đã gặp và bỏ lại phía sau, như thể chúng dễ có khi chưa từng xảy ra, dẫu chúng đã xảy ra rồi – thời gian, như lời anh nói trước khi chúng tôi ôm nhau và đi ngủ rất muộn đêm ấy, thời gian giống như cái giá ta trả cho những cuộc đời không được sống.
Và khi rót cà phê cho anh và mỉm cười nhìn anh từ sau, tôi nhận ra rằng mình không nên tắm sau khi làm tình sáng nay, rằng tôi muốn mọi dấu vết của anh vẫn lưu lại ở tôi, bởi vì chúng tôi vẫn chưa nói về điều cả hai đã làm lúc bình minh và tôi muốn nghe anh nhắc lại điều anh nói khi cả hai làm tình. Tôi muốn kể với anh về đêm của hai người, và rằng tôi chắc chắn cả hai không hề say ngủ như đã bảo. Không nói gì cả, đêm ấy của chúng tôi có thể đã dễ dàng biến mất. Tôi không biết điều gì xui khiến tôi, nhưng sau khi rót cà phê cho anh, tôi nói nhỏ và gần như hôn lên tại anh. “Anh sẽ không bao giờ trở lại.” tôi thì thầm. “Hãy nói anh sẽ không rời đi đi.”
Lặng lẽ, anh nắm lấy tay tôi và kéo tôi ngồi vào ghế. “Anh không đi. Đừng nghĩ như thế.”
Tôi muốn kể anh nghe điều đã xảy ra hai mươi năm trước, những điều tốt, xấu, rất tốt, và tồi tệ. Sẽ có đủ thời giờ để nói về chúng. Tôi muốn anh biết, muốn anh biết mọi thứ, như cách tôi muốn biết tất cả về anh. Tôi muốn nói với anh khi thấy chỗ da trắng mịn màng trên tay anh vào ngày đầu tiên, tất cả những gì tôi muốn là được ấp ôm bởi chúng và cảm nhận chúng chạm lên da thịt mình. Tôi đã nói với anh một chút những điều ấy khi nằm trên giường buổi sớm nay. “Anh trở về từ lần khai quật khảo cổ ở Sicily, và tay anh đã rám nắng quá, em để ý lần đầu trong phòng ăn – nhưng phần da mặt dưới tay anh của anh thì trắng trẻo, và nhìn được cả gân, như cẩm thạch vậy, và chúng thật mong manh. Em đã muốn hôn lên chúng, liếm từng bên một.” “Dẫu thế nào?” “Dẫu thế nào. Giờ anh sẽ ôm em chứ?” “Và xem mọi chuyện sẽ dẫn tới đâu?” anh hỏi, và thật tuyệt vì chúng tôi chỉ ôm lấy nhau mà không làm gì hơn vào đêm ấy. Chắc hẳn anh đã hiểu ý tôi, vì đó là lúc anh đặt tay quanh vai tôi, kéo tôi lại gần với anh, và, quay lại với thằng bé, nói: “Anh trai con là một người tuyệt vời.”
“Thằng bé nhìn chúng tôi. “Chú nghĩ thế sao?”
“Con không nghĩa vậy à?”
“Có, con cũng nghĩ vậy.” Nó mỉm cười. Thằng bé biết, như tôi và Oliver biết, rằng nỗi trớ trêu chính là ngôn ngữ của ngôi nhà này.
Và rồi chẳng cảnh báo trước, thằng bé hỏi: “Chú cũng là người tốt chứ?”
Thậm chí cả Oliver cũng rung động và bất ngờ. Đứa trẻ này là con của chúng tôi. Cả hai đều biết. Và cha tôi, dẫu không còn sống nữa, cũng biết vậy, và đã luôn biết bấy lâu nay.
“Em tin được rằng ngọn hải đăng nằm ngay đây, rằng ta chỉ cách nó chưa tới mười phút đi bộ không?”
Chúng tôi ở lại Alexandria một đêm nữa, rồi đi tới Naples – một món quà cả hai tự thưởng, hoặc như cách Miranda gọi, nơi trăng mật của hai người, trước khi Oliver bắt đầu dạy học ở Sapienza, Rome. Nhưng khi đứng ngắm ánh dương và nhìn về phía những gia đình, bạn bè, và mọi người dạo quanh quảng trường, tôi muốn hỏi liệu anh còn nhớ lúc cả hai ngồi trên tảng đá đêm ấy và ngắm ra biển vài ngày trước khi anh trở về New York. Có, anh nhớ, anh bảo, tất nhiên là anh nhớ. Tôi hỏi liệu anh nhớ về lần chúng tôi lang thang khám phá Rome suốt đêm đến tận sáng không. Có, anh cũng nhớ. Tôi định bảo chuyến đi ấy đã thay đổi cuộc đời tôi, không chỉ vì chúng tôi đã dành thời gian hoàn toàn được tự do bên nhau, mà bởi vì Rome đã cho cả hai được nếm hương vị cuộc đời của người nghệ sĩ, điều mà tôi luôn khát khao nhưng không hề hay biết mình phải sống chính cuộc đời ấy. Cả hai đã say tới nỗi không ngủ được là bao ngay đêm đầu tiên ở Rome. Và chúng tôi đã gặp rất nhiều nhưng nhà thơ, nghệ sĩ, người biên tập, diễn viên. Nhưng rồi anh ngắt lời tôi. “Ta sẽ không bám lấy quá khứ, phải không?” anh hỏi với phong thái ngắn gọn như mọi khi của mình để nói với tôi rằng mình đã lạc vào lãnh địa không mang chút hứa hẹn gì cho tương lai. Anh không thể đúng hơn. “Anh đã phải cắt đứt và đạp đổ nhiều thứ mà anh biết mình sẽ phải trả giá đắt, nhưng anh không muốn nhìn lại. Anh đã có Micol, em đã có Michel, như anh đã yêu chàng trai Elio và em yêu anh khi còn trẻ. Họ giúp ta trở thành chính mình. Hãy đừng coi như họ chưa từng tồn tại, nhưng anh không muốn nhìn lại.”
Sớm hôm ấy chúng tôi tới ngôi nhà của Cavafy một thời từng có tên là Rue Lepsius, sau này đổi thành Rue Sharm el Sheikh, và giờ được biết tới với cái tên Rue C. P. Cavafy. Chúng tôi bật cười trước cách đổi tên của đường phố, và cách nơi đây, mơ màng khôn nguôi kể từ khi ánh hoàng hôn của nó chiếu rội hơn ba trăm năm trước Công Nguyên, vẫn chẳng thể định nổi nên gọi tên những con đường của mình là gì. “Mọi thứ ở đây dựng xây từ tàn dư quá khứ,” tôi bảo. Anh không đáp.
Điều khiến tôi ngạc nhiên ngay khi bước vào căn nhà oi ả nơi từng là nhà của một vị thi nhân vĩ đại chính là nghe Oliver cất tiếng chào người phục vụ bằng chất giọng Hy Lạp hoàn hảo. Khi nào và làm thế nào anh học được tiếng Hy Lạp hiện đại vậy? Và bao nhiêu điều nữa tôi không biết về cuộc đời anh, và bao nhiêu điều anh đã không biết về cuộc đời tôi? Anh đã học một khóa ngắn, anh nói, nhưng thực sự đã giúp anh rất nhiều trong thời gian nghỉ phép Ở Hy Lạp cùng vợ con. Mấy thằng bé tiếp thu ngôn ngữ mới ngay lập tức, trong khi vợ anh thì chủ yếu Ở nhà, đọc sách của anh em Durrell và học một vài câu giao tiếp từ người dọn phòng không biết chút tiếng Anh nào.
Căn hộ của Cavafy, giờ trở thành một bảo tàng tạm, mang cảm giác ảm đạm và lộn xộn dẫu những cửa sổ được mở toang. Khu phố quanh đấy cũng chán. Ánh sáng chỉ len lỏi khi chúng tôi bước vào và, ngoại trừ những âm thanh rải rác từ dưới phố, sự im làm chết chóc từ ngôi nhà đè nặng lên những đồ nội thất cũ kỹ, giản đơn mà chắc hẳn đã được chọn từ một nhà kho bỏ hoang nào đó. Dẫu vậy ngôi nhà gợi nhắc tôi về những bài thơ tôi thích nhất của người thi sĩ, về một dải nắng chiều rơi trên chiếc giường mà thời chàng còn trẻ thường nằm ngủ cạnh nhân tình của mình. Bây giờ, khi người thi sĩ thăm lại nơi đây sau nhiều năm, tất cả đồ đạc đã biến mất, chiếc giường không còn, và căn nhà đã bị biến thành một nơi để kinh doanh. Nhưng dải nắng đã từng tràn trên chiếc giường ấy vẫn chưa rời bỏ chàng, và mãi mãi sẽ sống lại trong ký ức. Người chàng yêu đã nói anh sẽ quay về với chàng ngay trong tuần ấy thôi, nhưng anh không bao giờ trở lại. Tôi cảm nhận được nỗi bị thương ấy. Một nỗi niềm không bao giờ bình phục.
Cả hai chúng tôi đều thất vọng vì những bức ảnh chân dung rẻ tiền về một Cavafy nhìn thật ảo não treo trên tường. Để kỷ niệm chuyến đi, chúng tôi mua một tập thơ tiếng Hy Lạp. Khi cả hai ngồi cạnh nhau tại một cửa hàng bánh ngọt cổ kính nhìn ra vịnh, Oliver bắt đầu đọc cho tôi nghe một bài, lần đầu là bằng tiếng Hy Lạp rồi sau đó là bản dịch vội vàng của chính anh. Tôi không thể nhớ đã đọc bài ấy bao giờ chưa. Nó viết về một thuộc địa Hy Lạp Italy mà người Hy Lạp gọi là Poseidonia và sau đó được đổi tên thành Paistos bởi người Lucani, và rồi sau đó là Paestum bởi người La Mã. Qua nhiều thế kỷ và nhiều thế hệ sinh sống tại đó, những người Hy Lạp ấy dần quên đi những di sản và ngôn ngữ Hy Lạp, và thay vì vậy tiếp thu nền văn hóa Italy - ngoại trừ một ngày mỗi năm, vào ngày kỷ niệm ấy, người Poseidonia sẽ ăn mừng một ngày lễ Hy Lạp dưới nền nhạc Hy Lạp và những tập tục Hy Lạp để nhớ lại, càng nhiều càng tốt những truyền thống và ngôn ngữ đã bị lãng quên của tổ tiên họ, nhận ra trong nỗi thống khổ sâu sắc rằng đã mất đi những di sản tráng lệ của Hy Lạp và thành ra chẳng hơn gì người Barbari mà họ vốn căm ghét. Khi mặt trời lặn, họ sẽ nâng niu từng chút một những bản sắc về thân phận Hy Lạp của mình chỉ để nhìn nó biến mất ngay thời khắc hừng đông vào hôm sau.
Lúc ấy, khi cả hai ăn bánh ngọt, tôi nhận ra rằng Oliver cũng giống như người Poseidonia, một vài vẫn còn sống tại Alexandria Greek ngày nay – chủ nhà của chúng tôi, những người tham quan bảo tàng, những người bồi bàn gia trong tiệm bánh này, người đàn ông bán cho chúng tôi tờ báo bằng tiếng Anh sáng nay - tất cả đã tiếp thu một nền văn hóa mới, thói quen mới, và nói thứ ngôn ngữ khác hẳn những gì người Hy Lạp đang sử dụng trên đại lục.
Nhưng rồi Oliver đã nói một điều tôi sẽ không bao giờ quên: Vào mùng sáu tháng Mười một hàng năm – sinh nhật tôi – dẫu đã kết hôn và là cha của hai đứa trẻ, anh vẫn sẽ dành thời gian để nhớ về một người Poseidonia bên trong mình và hình dung xem cuộc đời sẽ ra sao nếu chúng tôi chọn nhau. “Anh đã sợ mình sẽ bắt đầu quên mất gương mặt em, giọng em, và cả mùi hương của em,” anh nói. Suốt những năm ấy anh đã tìm thấy một nơi để nhớ nhung cách không xa văn phòng của mình, nhìn ra hồ, nơi anh sẽ dành thời gian ngày hôm ấy để nghĩ về cuộc đời không được sống của chúng tôi, cuộc đời mà anh có tôi. Lễ vọng, như cách cha tôi sẽ gọi, chưa từng kéo dài đủ lâu và chẳng thay đổi được điều gì. Nhưng gần đây, anh nói tiếp, và có lẽ bởi vì anh đã trôi dạt đến nơi khác vào năm ấy, anh bỗng nhận ra mọi chuyện hóa ra hoàn toàn ngược lại, rằng anh luôn luôn là một người Poseidonia chỉ trừ một ngày trong năm và sự quyến luyến những tháng ngày đã qua chưa từng rời bỏ anh, rằng anh chưa từng quên gì cả và cũng không muốn quên, và rằng nếu thậm chí anh không viết hay gọi để xem tôi có quên không, là vì anh biết dẫu cả hai đều không đi tìm nhau, thì lý do chính là chúng tôi thực ra chưa từng xa cách, và dẫu ở nơi nào, với ai, và điều gì đang ngăn trở, tất cả những gì anh cần làm khi đến đúng thì đúng lúc chỉ đơn giản là tới và tìm tôi.
“Và anh đã tìm.” “Em ước cha em còn ở đây hôm nay.”
“Và anh đã tìm,” anh nói.
Oliver nhìn tôi, im lặng một lúc, rồi bảo “Anh cũng vậy, cũng vậy.”