Rip Van Winkle

Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Rip Van Winkle

❊ ❊ ❊

Bất kỳ ai từng ngược dòng sông Hudson hẳn đều nhớ đến dãy núi Kaatskill. Chúng là một nhánh tách rời từ đại gia đình Appalachian, nằm trải dài về phía tây con sông, vươn cao uy nghi và sừng sững cai quản cả vùng đất quanh đó. Mỗi sự đổi thay của mùa, mỗi biến chuyển của thời tiết, thậm chí từng giờ trong ngày, đều mang lại những nét biến hóa kỳ diệu cho sắc màu và hình dáng của chốn núi non ấy; và chúng được tất cả các bà nội trợ gần xa xem như những chiếc phong biểu kế hoàn hảo nhất. Khi thời tiết đẹp và ổn định, chúng khoác lên mình tấm áo màu xanh lam và tía, nổi bật những đường nét táo bạo trên bầu trời chiều quang lãng; nhưng đôi khi, khi phần còn lại của quang cảnh không một bóng mây, chúng lại quấn quanh đỉnh mình một vành khăn mây xám, để rồi dưới những tia nắng cuối cùng của hoàng hôn, chúng sẽ bừng sáng và rực rỡ như một chiếc vương miện vinh quang.

Dưới chân những ngọn núi thần tiên ấy, người lữ khách có lẽ từng thoáng thấy làn khói nhẹ cuộn lên từ một ngôi làng, nơi những mái lấp xấp lấp lánh giữa chòm cây, ngay tại điểm mà sắc lam của vùng cao nguyên hòa lẫn vào sắc xanh tươi của cảnh quan gần hơn. Đó là một ngôi làng nhỏ, có từ rất xưa, do một số kiều dân người Hà Lan lập nên từ thủa ban đầu của xứ sở, vừa đúng lúc khởi đầu triều đại của ngài Peter Stuyvesant nhân đức (cầu mong ngài được yên nghỉ!); và cách đây vài năm, vẫn còn vài ngôi nhà của những người định cư nguyên thủy đứng đó, được xây bằng gạch vàng nhỏ mang từ Holland sang, với ô cửa sổ gắn chấn song và mái hiên hình đầu hồi, phía trên có gắn những con gà tây chỉ hướng gió.

Ngay trong ngôi làng ấy và tại một trong những ngôi nhà đó (mà nói cho đúng sự thật thì đã cằn cỗi và tơi tả vì mưa nắng), cách đây nhiều năm, khi xứ sở vẫn còn là một thuộc địa của Vương quốc Anh, có sinh sống một anh chàng chất phác, tốt bụng tên là Rip Van Winkle. Anh là hậu duệ của dòng họ Van Winkle từng góp mặt đầy hào hiệp trong những ngày tháng thượng võ của Peter Stuyvesant, và đã cùng ngài tham gia cuộc vây hãm pháo đài Christina. Thế nhưng, anh lại thừa hưởng rất ít khí chất thượng võ của tổ tiên mình. Như tôi đã quan sát, anh là một người đơn giản, tốt bụng; hơn thế nữa, anh là một người hàng xóm tử tế và là một người chồng ngoan ngoãn, sợ vợ. Thật vậy, chính hoàn cảnh sau có lẽ đã tạo nên sự điềm đạm trong tâm hồn giúp anh giành được sự mến mộ khắp nơi; bởi những kẻ chịu sự kèm cặp của những người vợ đanh đá ở nhà thường tỏ ra khép nép và dễ dãi khi ra ngoài. Tính khí của họ, không nghi ngờ gì nữa, đã được tôi luyện dẻo dai và mềm mại trong lò lửa của nỗi thống khổ gia đình; và một bài giảng đạo gối chăn còn đáng giá hơn tất cả các bài giảng trên đời trong việc dạy cho người ta đức tính nhẫn nại và chịu đựng. Do vậy, một người vợ ngoa ngoắt có lẽ, xét theo mộth khía cạnh nào đó, được xem là một phúc lành có thể chịu đựng được; và nếu vậy, Rip Van Winkle đã được ban phúc gấp ba lần.

Điều chắc chắn là anh rất được lòng tất cả các bà nội trợ trong làng, những người, theo thói quen của phái thiện lương ấy, luôn đứng về phía anh trong mọi cuộc cãi vã gia đình; và mỗi khi bàn tán về những chuyện đó trong những buổi buôn chuyện buổi tối, họ chưa bao giờ quên trút mọi lỗi lầm lên đầu phu nhân Van Winkle. Trẻ con trong làng cũng hò reo vui sướng mỗi khi anh đến gần. Anh tham gia các trò chơi của chúng, làm đồ chơi cho chúng, dạy chúng thả diều và bắn bi, đồng thời kể cho chúng nghe những câu chuyện dài về ma quỷ, phù thủy và người da đỏ. Bất cứ khi nào anh la cà quanh làng, anh đều bị một lũ trẻ vây quanh, bám lấy vạt áo, leo lên lưng, và chơi hàng ngàn trò nghịch ngợm với anh mà không sợ bị phạt; và chẳng có con chó nào sủa anh trên khắp xóm giang.

Sai lầm lớn nhất trong tính cách của Rip là sự ghét bỏ tận xương tủy đối với mọi loại lao động sinh lợi. Đó không phải vì thiếu sự chuyên cần hay kiên trì; bởi anh có thể ngồi trên một mỏm đá ướt, với chiếc cần câu dài và nặng như ngọn giáo của người Tartar, rồi câu cá suốt cả ngày mà không hề phàn nàn, dẫu cho không được khích lệ lấy một cú cắn câu. Anh có thể vác khẩu súng săn trên vai hàng giờ liền, lê bước qua rừng rậm, đầm lầy, lên núi xuống đèo, chỉ để săn vài con sóc hay bồ câu rừng. Anh chẳng bao giờ từ chối giúp đỡ người hàng xóm ngay cả trong những công việc nặng nhọc nhất, và luôn là người đi đầu trong các cuộc vui hội làng để bóc bắp ngô hay dựng hàng rào đá; phụ nữ trong làng cũng thường thuê anh chạy việc vặt và làm những việc lặt vặt mà những ông chồng kém chu đáo hơn không chịu làm cho họ. Tóm lại, Rip sẵn sàng lo việc cho bất kỳ ai trừ việc của chính mình; nhưng còn việc gia đình và giữ cho điền trang của mình ngăn nắp, thì anh thấy là điều bất khả thi.

Trên thực tế, anh tuyên bố rằng làm việc trên điền trang của mình chẳng ích gì; đó là mảnh đất tai hại nhất trong cả vùng; mọi thứ ở đó đều hỏng bét, bất chấp sự ngăn cản của anh. Hàng rào của anh liên tục đổ nát; con bò của anh thế nào cũng đi lạc hoặc sẫm vào vườn bắp cải; cỏ dại chắc chắn mọc nhanh hơn ở bất cứ nơi nào khác trong ruộng của anh; cơn mưa luôn chực chờ đổ xuống ngay khi anh có việc phải làm ngoài trời; thế nên dẫu cho sản nghiệp gia truyền của anh cứ lụi tàn dần dưới bàn tay quản lý của anh, từng sào từng mẫu, cho đến khi chẳng còn lại gì hơn ngoài một khoảng ngô khoai còi cọc, thì đó vẫn là điền trang tồi tàn nhất trong vùng.

Con cái anh cũng rách rưới và hoang dã như thể chúng chẳng thuộc về ai cả. Cậu con trai Rip, một đứa nhóc sinh ra giống hệt bố, hứa hẹn sẽ kế thừa những thói quen cùng những bộ quần áo cũ của cha mình. Người ta thường thấy nó lẽo đẽo theo gót mẹ như một con ngựa non, mặc một chiếc quần rộng thùng thình bỏ đi của cha, mà nó phải vất vả lắm mới giữ nổi bằng một tay, hệt như một quý bà nâng tà áo trong những ngày mưa gió.

Tuy nhiên, Rip Van Winkle lại là một trong những kẻ phàm trần hạnh phúc có tính khí dại khờ, trơn tru, xem nhẹ thế sự, ăn bánh mì trắng hay bánh mì đen, miễn là kiếm được với ít suy nghĩ hoặc phiền muộn nhất, và thà chịu đói với một xu còn hơn làm việc kiếm một bảng. Nếu để mặc anh một mình, anh sẽ huýt sáo trôi qua cuộc đời trong sự mãn nguyện tuyệt đối; nhưng vợ anh cứ ra rả bên tai anh về sự lười biếng, sự bất cẩn và sự sụp đổ mà anh đang mang lại cho gia đình. Sáng, trưa, chiều, tối, cái lưỡi của bà không ngừng hoạt động, và mọi điều anh nói hay làm đều chắc chắn tạo ra một tràng hùng biện gia đình. Rip chỉ có một cách duy nhất để đáp lại mọi lời quở trách kiểu đó, và qua việc sử dụng thường xuyên, nó đã trở thành một thói quen. Anh nhún vai, lắc đầu, ngước mắt lên trời, nhưng không nói gì cả. Tuy nhiên, điều này luôn kích động một tràng pháo mới từ vợ anh; khiến anh đành phải rút lui và ra ngoài hiên nhà – nơi duy nhất thực sự thuộc về một người chồng sợ vợ.

Người phò tá gia đình duy nhất của Rip là con chó Wolf, nó cũng sợ vợ chẳng kém gì chủ; bởi phu nhân Van Winkle coi chúng là những kẻ đồng hành trong sự lười biếng, thậm chí còn nhìn Wolf bằng con mắt ác cảm, xem nó là nguyên nhân khiến chủ nhân hay đi lạc. Sự thật là, về mọi mặt tinh thần xứng đáng với một chú chó đáng kính, nó là một con vật dũng cảm như bất kỳ con nào từng săn lùng trong rừng — nhưng sự dũng cảm nào có thể chống lại những hành vi tội lỗi và nỗi kinh hoàng bủa vây từ cái lưỡi của một người đàn bà? Khoảnh khắc Wolf bước vào nhà, lồng ngực nó xọp xuống, cái đuôi cụp sát đất hoặc cuộn giữa hai chân, nó lủi thủi với dáng vẻ tội lỗi, liếc xéo phu nhân Van Winkle, và chỉ cần một cử động nhỏ của chiếc chổi hay cái vá là nó sẽ chạy thục mạng ra cửa với những tiếng kêu ẳng ẳng.

Thời gian ngày càng trở nên tồi tệ hơn đối với Rip Van Winkle khi những năm tháng hôn nhân trôi qua; một tính khí cau có không bao giờ dịu đi theo tuổi tác, và một cái lưỡi sắc bén là công cụ bén duy nhất càng trở nên sắc hơn khi sử dụng liên tục. Trong một thời gian dài, mỗi khi bị đuổi khỏi nhà, anh thường tự an ủi bằng cách lui tới một thứ câu lạc bộ thường trực gồm các nhà thông thái, triết gia và những kẻ nhàn rỗi khác trong làng, nhóm họp trên một chiếc ghế dài trước một quán trọ nhỏ, được nhận diện bằng bức chân dung đỏ rực của Hoàng thân George Đội. Tại đây, họ thường ngồi trong bóng râm suốt một ngày hè dài dềnh dàng, lười biếng bàn chuyện làng xóm, hay kể những câu chuyện buồn ngủ bất tận về những chuyện không đâu. Nhưng sẽ đáng giá bất kỳ số tiền nào của một chính khách nếu được nghe những cuộc thảo luận uyên bác đôi khi diễn ra, khi tình cờ một tờ báo cũ rơi vào tay họ từ một người qua đường nào đó. Họ lắng nghe nội dung một cách trang nghiêm biết bao, khi được cất giọng uể oải bởi Derrick Van Bummel, người thầy giáo, một người đàn ông nhỏ nhắn, bảnh bao và uyên bác, không hề nao núng trước từ ngữ khổng lồ nhất trong từ điển; và họ cân nhắc các sự kiện công cộng một cách khôn ngoan biết bao vài tháng sau khi chúng diễn ra.

Ý kiến của nhóm này hoàn toàn bị chi phối bởi Nicholas Vedder, một bô lão trong làng và là chủ quán trọ, người ngồi trước cửa từ sáng đến tối, chỉ dịch chuyển đôi chút để tránh nắng và ở trong bóng râm của một tán cây lớn; nhờ đó mà hàng xóm có thể đoán giờ qua các cử động của ông chính xác như qua một chiếc đồng hồ mặt trời. Sự thật là người ta hiếm khi nghe ông nói, nhưng ông hút tẩu không ngừng nghỉ. Tuy nhiên, những người ủng hộ ông (vì bất kỳ người vĩ đại nào cũng có những người ủng hộ) hiểu ông rất rõ, và biết cách thu thập ý kiến của ông. Khi có điều gì được đọc hoặc kể làm ông khó chịu, người ta quan sát thấy ông hút tẩu một cách kịch liệt, và phả ra những làn khói ngắn, thường xuyên và đầy tức giận; nhưng khi hài lòng, ông sẽ hít khói từ từ và điềm tĩnh, rồi thở ra thành những làn mây nhẹ nhàng và phẳng lặng; và đôi khi, rút tẩu ra khỏi miệng, để làn khói thơm cuộn tròn quanh mũi, ông sẽ nghiêm nghị gật đầu như một dấu hiệu hoàn toàn đồng tình.

Ngay cả từ thành trì này, bất hạnh cho Rip là cuối cùng anh cũng bị đánh đuổi bởi người vợ đanh đá, người thường xông vào sự yên bình của nhóm họp và mắng mỏ tất cả mọi thành viên; thậm chí nhân vật uy nghi ấy, bản thân Nicholas Vedder, cũng không được an toàn trước cái lưỡi táo bạo của mụ mụ dữ dằn này, kẻ đã thẳng thừng buộc tội ông là kẻ dung túng cho chồng mình những thói quen lười biếng.

Tội nghiệp Rip cuối cùng đã rơi vào cảnh tuyệt vọng; và cách duy nhất để thoát khỏi công việc đồng áng và tiếng hò hét của vợ là xách súng lên và lang thang vào rừng. Tại đây, đôi khi anh ngồi xuống gốc cây, chia sẻ phần ăn trong túi với Wolf, kẻ mà anh đồng cảm như một người bạn cùng cảnh ngộ trong sự bách hại. “Tội nghiệp Wolf,” anh thường nói, “mụ chủ của mày bắt mày sống một cuộc đời chó má; nhưng mặc kệ đi, anh bạn nhỏ, chừng nào ta còn sống, mày sẽ không bao giờ thiếu một người bạn đứng bên cạnh!” Wolf sẽ vẫy đuôi, nhìn đăm đăm vào mặt chủ; và nếu loài chó có thể cảm nhận sự thương xót, tôi thực sự tin rằng nó đã đáp lại tình cảm đó bằng tất cả trái tim mình.

Trong một buổi dạo chơi dài như thế vào một ngày mùa thu đẹp trời, Rip đã vô thức leo lên một trong những phần cao nhất của dãy núi Kaatskill. Anh đang theo đuổi môn thể thao yêu thích là săn sóc, và chốn tịch mịch tĩnh lặng đã vang vọng những tiếng súng của anh. Thở hổn hển và mệt mỏi, vào cuối buổi chiều, anh ngả mình trên một gò đất xanh phủ đầy cỏ núi, ngự trị trên đỉnh một vách đá. Từ một khoảng trống giữa các tán cây, anh có thể phóng tầm mắt bao quát toàn bộ vùng đất thấp bên dưới với ngập tràn những dải rừng phong phú. Anh nhìn thấy từ xa dòng sông Hudson uy nghi, ở rất, rất xa bên dưới, đang trôi theo dòng chảy tĩnh lặng nhưng hùng vĩ, với hình ảnh phản chiếu của một đám mây tía, hay cánh buồm của một chiếc thuyền tụt hậu, chập chờn ngủ quên trên bầu ngực phẳng lặng như gương của nó, và cuối cùng hòa mình vào vùng cao nguyên xanh thẳm.

Bên phía bên kia, anh nhìn xuống một thung lũng núi sâu thẳm, hoang vắng, cô độc và gồ ghề, đáy thung lũng chứa đầy những mảnh vỡ từ các vách đá cheo leo, và hầu như không được chiếu sáng bởi những tia nắng chiều phản chiếu. Trong chốc lát, Rip nằm trầm ngâm trước phong cảnh này; màn đêm đang dần buông xuống; những ngọn núi bắt đầu đổ chiếc bóng dài màu xanh lam lên các thung lũng; anh nhận ra trời sẽ tối lâu trước khi anh có thể về đến làng, và anh thở dài một tiếng nặng nề khi nghĩ đến việc phải đối mặt với nỗi kinh hoàng từ phu nhân Van Winkle.

Khi anh chuẩn bị xuống núi, anh nghe thấy tiếng ai đó gọi từ xa: “Rip Van Winkle! Rip Van Winkle!” Anh ngoảnh lại nhìn nhưng chẳng thấy gì ngoài một con quạ đang bay đơn độc ngang qua ngọn núi. Anh nghĩ trí tưởng tượng đã đánh lừa mình và quay người định bước xuống, thì lại nghe thấy tiếng gọi ấy vang lên giữa bầu không khí chiều tĩnh lặng: “Rip Van Winkle! Rip Van Winkle!” Cùng lúc ấy, lông lưng Wolf dựng đứng lên, và phát ra một tiếng gầm gừ trầm thấp, nó lủi về phía chủ, sợ hãi nhìn xuống khe núi. Rip lúc này cảm thấy một nỗi hoang mang mơ hồ đang len lỏi vào tâm trí; anh lo lắng nhìn theo hướng đó, và nhận ra một hình thù kỳ lạ đang ì ạch leo lên những tảng đá, oằn mình dưới sức nặng của thứ gì đó hắn mang trên lưng. Anh ngạc nhiên khi thấy một con người ở chốn hoang vắng và ít dấu chân người này; nhưng cho rằng đó là một người hàng oóm nào đó đang cần sự giúp đỡ của mình, anh vội vã đi xuống để trợ giúp.

Khi đến gần hơn, anh càng ngạc nhiên hơn trước vẻ bề ngoài kỳ lạ của kẻ xa lạ. Hắn là một lão già thấp lùn, người vuông vức, với mái tóc dày rậm và bộ râu hoa râm. Trang phục của hắn mang mốt Hà Lan cổ: một chiếc áo chẽn bằng vải được thắt lưng quanh eo — mấy lớp quần, chiếc quần bên ngoài phồng to, được trang trí bằng hàng cúc chạy dọc hai bên và những chùm tua rua ở đầu gối. Hắn vác trên vai một cái thùng mập dường như chứa đầy rượu, và ra hiệu cho Rip lại gần giúp hắn mang gánh nặng. Dù khá rụt rè và ngờ vực người quen mới, Rip vẫn vui vẻ tuân theo như thường lệ; và vừa giúp đỡ lẫn nhau, họ vừa leo lên một khe núi hẹp, vốn dĩ là lòng khô của một dòng súc núi. Khi họ leo lên, chốc chốc Rip lại nghe thấy những tiếng nổ vang rền kéo dài như tiếng sấm từ xa, dường như phát ra từ một khe vực sâu, hay đúng hơn là một khe nứt giữa những vách đá cao ngất, hướng mà con đường mòn gập ghềnh của họ dẫn tới. Anh khựng lại trong giây lát, nhưng cho rằng đó chỉ là tiếng gầm của một trong những cơn giông ngang qua thường xảy ra trên đỉnh núi, nên anh lại tiếp tục bước. Đi qua khe vực, họ đến một khoảng trũng giống như một nhà hát vòng tròn nhỏ, được bao quanh bởi những vách đá dựng đứng, trên mép vực những tán cây cheo leo vươn cành ra, khiến người ta chỉ có thể thoáng thấy bầu trời xanh thẳm và đám mây chiều rực rỡ. Suốt quãng thời gian đó, Rip và người đồng hành đã lầm lũi tiến bước trong im lặng; bởi dù người trước vô cùng kinh ngạc không hiểu mục đích của việc vác một thùng rượu lên ngọn núi hoang dã này là gì, nhưng ở kẻ vô danh ấy có một điều gì đó kỳ lạ và khó hiểu, khơi gợi sự kính sợ và kìm hãm sự thân mật.

Khi bước vào nhà hát vòng tròn, những điều kỳ diệu mới xuất hiện trước mắt họ. Trên một khoảng đất bằng phẳng ở trung tâm là một nhóm nhân vật kỳ lạ đang chơi trò ném pin. Họ ăn mặc theo kiểu cách cổ xưa, kỳ dị; một số mặc áo đúp ngắn, số khác mặc áo chẽn với những con dao dài giắt ở thắt lưng, và hầu hết họ đều mặc chiếc quần phồng khổng lồ tương tự như kiểu của người dẫn đường. Gương mặt của họ cũng rất đặc biệt; người thì có bộ râu lớn, khuôn mặt rộng và đôi mắt nhỏ húp híp; mặt của người khác dường như chỉ toàn là mũi, và đội một chiếc mũ chóp trắng hình đường phèn, điểm xuyết một chiếc lông gà trống đỏ nhỏ. Tất cả bọn họ đều có râu với đủ hình dáng và màu sắc khác nhau. Có một kẻ trông có vẻ là chỉ huy. Ông là một lão quý nhân mập mạp, khuôn mặt sạm nắng vì gió mưa; ông mặc chiếc áo đúp viền ren, thắt lưng bản rộng và đeo gươm ngắn, đội chiếc mũ cao chóp có đính lông chim, mang tất đỏ và giày cao gót có đính hoa hồng trên giày. Toàn bộ nhóm người gợi cho Rip nhớ đến các nhân vật trong một bức tranh sơn dầu cổ của người Flemish treo trong phòng khách của mục sư Dominie Van Shaick, vị mục sư của làng, và đã được mang từ Holland sang từ thời điểm lập làng.

Điều làm Rip thấy kỳ lạ nhất là những con người này rõ ràng đang giải trí, thế nhưng họ lại giữ những khuôn mặt nghiêm nghị nhất, sự im lặng bí ẩn nhất, và hơn hết, họ là hội vui buồn thảm nhất mà anh từng chứng kiến. Không có gì làm gián đoạn sự tĩnh lặng của khung cảnh ngoại trừ tiếng những quả bóng, mỗi khi chúng được lăn đi, lại vang vọng dọc theo các dãy núi như những tiếng sấm gầm rầm rì.

Khi Rip và người đồng hành tiến lại gần, họ đột ngột dừng trò chơi và nhìn chằm chằm vào anh với ánh mắt bất động, giống như tượng, cùng những gương mặt lạ lùng, kỳ quặc và vô hồn đến mức tim anh thắt lại và đầu gối va cập vào nhau. Người đồng hành của anh lúc này trút hết nội dung trong thùng vào những chiếc bình lớn, và ra hiệu cho anh phục vụ nhóm người đó. Anh tuân lệnh trong sự sợ hãi và run rẩy; bọn họ tu ừng ực thứ rượu trong sự im lặng tuyệt đối, rồi lại quay trở lại trò chơi.

Dần dần, sự kinh sợ và lo lắng của Rip cũng lắng xuống. Anh thậm chí còn đánh bạo nếm thử thứ đồ uống đó khi không có ánh mắt nào dán chặt vào mình, và anh nhận thấy nó có rất nhiều hương vị của rượu Hollands tuyệt hảo. Bản tính anh vốn là kẻ ham uống, và chẳng mấy chốc anh bị cám dỗ lặp lại ly rượu. Hết ngụm này đến ngụm khác kích thích nhau; và anh cứ quay lại với cái bình ấy thường xuyên đến nỗi cuối cùng các giác quan của anh bị tê liệt, đôi mắt mờ đi trong đầu, đầu từ từ gục xuống, và anh chìm vào một giấc ngủ sâu.

Khi tỉnh dậy, anh thấy mình đang ở trên gò đất xanh nơi anh lần đầu nhìn thấy lão già trong khe núi. Anh dụi mắt — đó là một buổi sáng đầy nắng rực rỡ. Những chú chim đang nhảy nhót và hót líu lo giữa những lùm cây, còn chú đại bàng đang bay lượn trên cao, đón lấy làn gió núi trong lành. “Chắc chắn là,” Rip nghĩ, “mình không ngủ ở đây suốt đêm qua.” Anh nhớ lại những sự kiện trước khi chìm vào giấc ngủ. Người đàn ông kỳ lạ với thùng rượu — khe núi — nơi ẩn náu hoang dã giữa những tảng đá — nhóm người buồn bã chơi ném pin — chiếc bình — “Ôi! Cái bình đó! Cái bình độc ác đó!” Rip nghĩ, — “mình sẽ lấy lý do gì để giải thích với phu nhân Van Winkle đây?”

Anh nhìn xung quanh tìm khẩu súng, nhưng thay vì khẩu súng săn sạch sẽ, được tra dầu cẩn thận, anh lại tìm thấy một cây súng hỏa mai cũ nằm cạnh mình, nòng súng phủ đầy rỉ sét, ổ khóa súng rơi ra, và báng súng mọt ăn. Lúc này anh nghi ngờ rằng những kẻ ăn chơi trang nghiêm trên núi đã chơi khăm mình, và sau khi cho anh uống rượu, chúng đã cướp mất khẩu súng. Wolf cũng biến mất, nhưng có lẽ nó đã đi lang thang theo một con sóc hay gà gô. Anh huýt sáo gọi nó và hét tên nó, nhưng tất cả đều vô ích; tiếng vang lặp lại tiếng huýt sáo và tiếng thét của anh, nhưng chẳng thấy bóng dáng con chó nào.

Anh quyết định quay lại khung cảnh cuộc vui tối qua, và nếu gặp bất kỳ ai trong nhóm, anh sẽ đòi lại chó và súng. Khi đứng dậy đi, anh thấy các khớp xương cứng đờ và không còn sự linh hoạt quen thuộc. “Những chiếc giường trên núi này không hợp với mình,” Rip nghĩ, “và nếu trò vui này khiến mình mắc bệnh thấp khớp, mình sẽ có một khoảng thời gian tuyệt vời với phu nhân Van Winkle đây.” Với chút ít khó khăn, anh mò xuống khe núi; anh tìm thấy con lạch mà anh và người đồng hành đã leo lên vào tối hôm trước; nhưng ngạc nhiên thay, một dòng suối núi giờ đây đang sủi bọt chảy ào ạt qua đó, nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác, lấp đầy khe núi bằng những tiếng rì rầm róc rách. Tuy nhiên, anh cũng xoay xở leo lên các sườn dốc của nó, nhọc nhằn rẽ qua những bụi cây bulô, sassafras và cây phỉ phù thủy, đôi khi bị vấp ngã hoặc vướng vào những dây nho rừng quấn quẻo những vòng hay tua cuốn từ cây này sang cây khác, giăng một thứ mạng nhện dọc con đường anh đi.

Cuối cùng anh cũng đến được nơi khe vực mở ra qua những vách đá để vào nhà hát vòng tròn; nhưng không còn dấu vết nào của lối mở đó nữa. Những khối đá tạo thành một bức tường cao, không thể vượt qua, nơi dòng suối tuôn chảy ào ạt thành một lớp bọt trắng xóa như lông vũ, rồi rơi xuống một cái vũng rộng và sâu, đen kịt vì bóng râm của khu rừng xung quanh. Đến đây, tội nghiệp Rip đành chịu bó tay. Anh lại gọi và huýt sáo gọi con chó của mình; anh chỉ nhận lại tiếng quạ kêu của một bầy quạ nhàn rỗi đang bay lượn vui đùa trên cao quanh một thân cây khô nhô ra trên vách đá đầy nắng; và chúng, an toàn trong độ cao của mình, dường như nhìn xuống và chế giễu sự bối rối của người đàn ông tội nghiệp. Phải làm gì đây? buổi sáng đang trôi qua, và Rip cảm thấy đói cất cổ vì không có bữa sáng. Anh đau lòng khi phải từ bỏ con chó và khẩu súng; anh sợ phải đối mặt với vợ mình; nhưng cứ chết đói giữa núi non thì không ổn. Anh lắc đầu, vác khẩu súng hỏa mai rỉ sét lên vai, và với một trái tim đầy rẫy rắc rối và lo âu, anh quay bước trở về nhà.

Khi đến gần ngôi làng, anh gặp một số người nhưng chẳng quen ai, điều này khiến anh hơi ngạc nhiên, vì anh cứ nghĩ mình quen thuộc với tất cả mọi người trong vùng. Trang phục của họ cũng theo mốt khác với những gì anh quen thuộc. Tất cả bọn họ đều nhìn anh với vẻ ngạc nhiên ngang ngửa nhau, và bất cứ khi nào họ hướng ánh mắt về phía anh, họ lại bất giác vuốt cằm. Sự lặp lại liên tục của cử động này khiến Rip, một cách vô thức, làm theo, để rồi đến sự ngạc nhiên tột độ của mình, anh phát hiện ra râu mình đã mọc dài tới một thước!

Lúc này anh đã bước vào vùng ngoại vi của làng. Một lũ trẻ lạ mặt chạy theo gót anh, la ó chế nhạo và chỉ trỏ vào bộ râu xám của anh. Mấy con chó, mà chẳng con nào được anh nhận ra là quen cũ, cũng sủa anh khi anh đi qua. Ngôi làng đã đổi khác; nó lớn hơn và đông dân hơn. Có những dãy nhà mà anh chưa từng thấy trước đây, và những nơi từng là chốn quen thuộc của anh nay đã biến mất. Những cái tên lạ hoắc xuất hiện trên các ô cửa — những khuôn mặt lạ lẫm bên khung cửa sổ — mọi thứ đều lạ lẫm. Tâm trí anh lúc này chùng xuống; anh bắt đầu nghi ngờ liệu cả bản thân và thế giới xung quanh có bị bỏ bùa hay không. Chẳng phải đây là ngôi làng quê hương mà anh chỉ mới rời đi vào ngày hôm trước sao? Kia là dãy núi Kaatskill — kia là dòng sông Hudson bạc màu chảy ở đằng xa — kia là mọi ngọn đồi thung lũng y hệt như nó vẫn luôn thế. Rip vô cùng bối rối. “Cái bình tối qua,” anh nghĩ, “đã làm mụ mẫm cái đầu tội nghiệp của ta một cách tồi tệ rồi!”

Anh khó khăn lắm mới tìm được đường về nhà mình, nơi anh đến với sự kính sợ thầm lặng, giây phút nào cũng mong chờ nghe thấy giọng hét eo éo của phu nhân Van Winkle. Anh thấy ngôi nhà đã đổ nát — mái nhà sập xuống, cửa sổ vỡ nát và cửa ra vào tuột bản lề. Một con chó đói lả trông giống hệt Wolf đang lảng vảng quanh đó. Rip gọi tên nó, nhưng con chó ghẻ gầm gừ, nhe nanh rồi lướt qua. Quả là một đòn đau điếng. “Ngay cả con chó của ta,” tội nghiệp Rip thở dài, “cũng quên mất ta rồi!”

Anh bước vào ngôi nhà mà, nói cho đúng sự thật, phu nhân Van Winkle vẫn luôn giữ gìn ngăn nắp. Nó trống hoác, cô quạnh và có vẻ như đã bị bỏ hoang. Sự hoang vu này vượt qua mọi nỗi sợ hãi gia đình của anh — anh gọi lớn tên vợ và các con — những căn phòng cô quạnh vang lên tiếng gọi của anh trong chốc lát, rồi tất cả lại chìm trong im lặng.

Bây giờ anh vội vã chạy ra ngoài, hướng đến chốn lui tới cũ của mình, quán trọ của làng — nhưng nó cũng đã biến mất. Một tòa nhà gỗ lớn lập cập đứng thay vào đó, với những khung cửa sổ há hốc, một số bị vỡ được vá lại bằng những chiếc mũ cũ và váy đầm, và trên cửa có sơn dòng chữ: “Khách sạn Union, do Jonathan Doolittle quản lý.” Thay vì cái cây lớn từng che chở cho quán trọ nhỏ yên bình của người Hà Lan thuở nào, giờ đây mọc lên một cái cột cao, trơ trọi với thứ gì đó trên đỉnh trông giống như chiếc mũ đêm màu đỏ, và từ đó bay phấp phới một lá cờ mang một tập hợp kỳ lạ gồm các ngôi sao và sọc; — tất cả điều này thật lạ lẫm và khó hiểu. Tuy nhiên, trên tấm biển hiệu, anh vẫn nhận ra khuôn mặt đỏ rực của Vua George, nơi anh từng hút biết bao điếu tẩu bình yên; nhưng ngay cả điều này cũng đã biến đổi một cách kỳ lạ. Chiếc áo khoác đỏ đã được đổi thành màu xanh lam và da bò, một thanh kiếm được cầm trên tay thay vì vương trượng, cái đầu được trang trí bằng một chiếc mũ chéo, và phía dưới được sơn bằng những chữ cái lớn: “Tướng quân Washington.”

Như thường lệ, có một đám đông tụ tập trước cửa, nhưng không có ai mà Rip nhớ mặt. Bản chất của những con người dường như đã thay đổi. Có một giọng điệu bận rộn, hối hả, thích tranh cãi thay cho vẻ điềm tĩnh và sự yên bình buồn ngủ quen thuộc. Anh vô ích tìm kiếm nhà thông thái Nicholas Vedder, với khuôn mặt rộng, cằm đôi và chiếc tẩu dài đẹp đẽ, phả ra những làn khói thuốc lá thay vì những lời nói vô nghĩa; hay Van Bummel, người thầy giáo, đang ra rả nội dung của một tờ báo cổ. Thay vì những người này, một kẻ gầy gò, có vẻ mặt bệnh gan, túi đầy những tờ rơi, đang say sưa hùng biện về các quyền của công dân — bầu cử — các thành viên quốc hội — tự do — Đồi Bunker — những anh hùng năm 76 — và những từ ngữ khác, vốn là một thứ tiếng lóng Babylon hoàn hảo đối với Van Winkle đang bối rối.

Vẻ ngoài của Rip với bộ râu dài hoa râm, khẩu súng săn rỉ sét, trang phục kỳ quặc và một đội quân phụ nữ trẻ em theo sau, chẳng mấy chốc đã thu hút sự chú ý của những kẻ hay bàn chuyện chính trị ở quán rượu. Họ xúm lại xung quanh anh, săm soi anh từ đầu đến chân với sự tò mò lớn. Người hùng biện hối hả tiến lại gần, kéo anh sang một bên và hỏi: “Anh bỏ phiếu cho phe nào?” Rip đơ mặt ngây ngốc. Một gã ngắn người khác nhưng bận rộn không kém kéo tay anh, rướn người nhón gót, thì thầm vào tai anh: “Anh là người theo phái Liên bang hay Dân chủ?” Rip cũng lúng túng chẳng kém khi hiểu câu hỏi; lúc bấy giờ một lão quý ông khôn ngoan, tự mãn đội chiếc mũ chéo nhọn, rẽ đám đông đi tới, dùng cùi chỏ gạt họ sang hai bên khi đi qua, đứng sững trước Van Winkle, một tay chống nỉa, tay kia tựa vào gậy, đôi mắt sắc bén và chiếc mũ nhọn như đâm xuyên vào tận tâm hồn anh, cất giọng nghiêm khắc hỏi: “Cái gì đã đưa anh đến cuộc bầu cử với khẩu súng trên vai và một đám đông bạo loạn theo gót; và có phải anh định gây bạo loạn trong làng không?” “Khốn khổ cho tôi, thưa các ngài!” Rip kêu lên, có phần hoảng sợ, “Tôi là một người nghèo hiền lành, dân bản xứ ở đây, và là một thần dân trung thành của nhà vua, Chúa phù hộ ngài!”

Đến đây, một tiếng hò reo vang lên từ đám đông đứng xem — “Một kẻ phản bội! một kẻ phản bội! một tên gián điệp! một kẻ tị nạn! bắt lấy hắn! tống cổ hắn đi!” Phải khó khăn lắm người đàn ông tự mãn đội mũ chéo mới vãn hồi được trật tự; và sau khi mang vẻ mặt nghiêm nghị gấp mười lần, ông ta lại hỏi tên tội phạm xa lạ rằng hắn đến đây để làm gì, và đang tìm kiếm ai? Người đàn ông tội nghiệp khiêm nhường đảm bảo rằng ông không có ý định xấu, mà chỉ đến đây để tìm kiếm một số người hàng xóm từng hay la cà quanh quán rượu.

“Được rồi — họ là ai? — hãy kể tên ra.”

Rip suy nghĩ một lúc và hỏi: “Nicholas Vedder đâu rồi?”

Có một khoảng lặng trong chốc lát, rồi một ông già trả lời bằng giọng mảnh khảnh, lanh lảnh: “Nicholas Vedder! Ồ, ông ấy đã chết và đi khuất mười tám năm nay rồi! Có một tấm bia mộ bằng gỗ ngoài nghĩa trang từng kể tất cả về ông ấy, nhưng cái đó cũng mục nát và biến mất lâu rồi.”

“Brom Dutcher đâu rồi?”

“Ồ, anh ấy đã gia nhập quân đội từ đầu cuộc chiến; người ta nói anh ấy đã tử trận trong cuộc tấn công đồn Stony Point — kẻ khác lại nói anh ấy chết đuối trong một trận cuồng phong dưới chân Antony’s Nose. Tôi không biết — anh ấy chưa bao giờ quay trở lại.”

“Thầy giáo Van Bummel đâu rồi?”

“Ông ấy cũng đi lính, là một vị tướng dân quân lớn, và bây giờ đang ở trong quốc hội.”

Trái tim Rip chùng xuống khi nghe về những thay đổi buồn bã này ở nhà cửa và bạn bè, và thấy mình bơ vơ giữa thế gian. Mỗi câu trả lời cũng làm anh bối rối khi nhắc đến những khoảng thời gian trôi qua quá lớn và những vấn đề mà anh không thể hiểu nổi: chiến tranh — quốc hội — Stony Point; — anh không còn can đảm để hỏi thêm về những người bạn nào khác, mà kêu lên trong tuyệt vọng: “Không có ai ở đây biết Rip Van Winkle sao?”

“Ồ, Rip Van Winkle!” hai hoặc ba người kêu lên, “ồ, chắc chắn rồi! đó là Rip Van Winkle đằng kia, đang dựa vào gốc cây.”

Rip nhìn theo và thấy một bản sao chính xác của chính mình khi anh đi lên núi; trông có vẻ lười biếng như vậy, và chắc chắn là cũng rách rưới không kém. Anh chàng tội nghiệp lúc này hoàn toàn hoang mang. Anh nghi ngờ chính thân phận của mình, không biết mình là chính mình hay là một người khác. Giữa lúc bối rối, người đàn ông đội mũ chéo hỏi anh là ai và tên gì.

“Chúa mới biết!” anh kêu lên, cùng đường; “Tôi không phải là tôi — tôi là người khác — đó là tôi đằng kia — không — đó là kẻ khác đã xỏ chân vào giày của tôi — tối qua tôi là chính mình, nhưng tôi đã ngủ quên trên núi, và họ đã đổi súng của tôi, và mọi thứ đã thay đổi, và tôi không thể biết tên mình là gì, hay tôi là ai!”

Những người đứng xem bắt đầu nhìn nhau, gật đầu, nháy mắt có ý và búng ngón tay lên trán. Cũng có những lời thì thầm về việc giữ khẩu súng lại, và ngăn chặn lão già làm điều dại dột, ngay từ gợi ý đó, người đàn ông tự mãn đội mũ chéo đã rút lui với một chút vội vã. Vào thời điểm nguy cấp này, một người phụ nữ tươi tắn, xinh xắn chen qua đám đông để ngó nhìn người đàn ông râu xám. Cô đang bế một đứa trẻ bụ bẫm trên tay, vì sợ hãi vẻ ngoài của anh nên bắt đầu khóc. “Im nào, Rip,” cô kêu lên, “im nào, đồ ngốc nhỏ; ông lão sẽ không làm hại con đâu.” Cái tên của đứa trẻ, dáng vẻ của người mẹ, tông giọng của cô, tất cả đã đánh thức một loạt ký ức trong tâm trí anh. “Tên cô là gì, thưa cô gái hiền lành?” anh hỏi.

“Judith Gardenier.”

“Và tên cha cô?”

“À, tội nghiệp ông ấy, Rip Van Winkle là tên ông ấy, nhưng đã hai mươi năm từ khi ông ấy bỏ nhà đi với khẩu súng và không bao giờ có tin tức gì từ đó đến nay — con chó của ông ấy chạy về nhà mà không có chủ; nhưng liệu ông ấy tự bắn mình hay bị người da đỏ bắt đi, chẳng ai có thể nói được. Lúc đó tôi chỉ là một cô bé.”

Rip chỉ còn một câu hỏi nữa muốn hỏi; nhưng anh cất lời với giọng run rẩy:

“Mẹ cô đâu rồi?”

“Ồ, bà ấy cũng vừa mới qua đời cách đây không lâu; bà ấy bị đứt mạch máu trong một cơn giận dữ với một gã bán hàng rong người New-England.”

Ít nhất cũng có một giọt an ủi trong thông tin này. Người đàn ông trung thực không thể kìm nén thêm được nữa. Anh ôm chầm lấy con gái và đứa cháu vào lòng. “Ta là cha của con!” anh kêu lên — “Rip Van Winkle trẻ tuổi ngày xưa — Rip Van Winkle già nua bây giờ! — Không ai nhận ra tội nghiệp Rip Van Winkle sao?”

Tất cả đều kinh ngạc đứng nhìn, cho đến khi một bà lão, lững thững bước ra từ đám đông, đưa tay lên trán, nheo mắt nhìn vào mặt anh một lúc rồi kêu lên: “Quả thực vậy! chính là Rip Van Winkle — đích thị là ông ấy! Chào mừng trở về nhà, người hàng xóm cũ. Chà, ông đã đi đâu suốt hai mươi năm ròng rã thế này?”

Câu chuyện của Rip nhanh chóng được kể lại, vì toàn bộ hai mươi năm đối với anh chỉ giống như một đêm. Những người hàng xóm trố mắt khi nghe chuyện; một số người nháy mắt với nhau và châm chọc; và người đàn ông tự mãn đội mũ chéo, sau khi cơn hoảng loạn qua đi, đã quay lại đám trường, mím các khóe miệng lại và lắc đầu — ngay sau đó là một cái lắc đầu đồng loạt của toàn bộ đám đông.

Tuy nhiên, người ta quyết định tham khảo ý kiến của cụ Peter Vanderdonk, người đang từ từ tiến lên con đường. Cụ là hậu duệ của nhà sử học mang cái tên đó, người từng viết một trong những tài liệu sớm nhất về tỉnh này. Peter là cư dân cao tuổi nhất trong làng, và rất uyên bác về tất cả các sự kiện kỳ diệu cũng như truyền thuyết của vùng lân cận. Cụ nhận ra Rip ngay lập tức và xác nhận câu chuyện của anh một cách thỏa đáng nhất. Cụ đảm bảo với mọi người rằng đó là một sự thật được truyền lại từ tổ tiên là nhà sử học của cụ, rằng dãy núi Kaatskill từ lâu vẫn luôn bị ám bởi những sinh vật kỳ lạ. Rằng người ta khẳng định vị đại danh nhân Hendrick Hudson, người phát hiện ra con sông và đất nước này đầu tiên, vẫn giữ một dạng thức canh thức ở đó mỗi hai mươi năm một lần với thủy thủ đoàn tàu Half-moon; được phép làm như vậy để ghé thăm lại những khung cảnh của cuộc thám hiểm của mình và giữ ánh mắt bảo hộ đối với dòng sông cùng thành phố lớn mang tên ông. Rằng cha cụ đã từng nhìn thấy họ trong những bộ trang phục Hà Lan cũ đang chơi ném pin trong một thung lũng của ngọn núi; và bản thân cụ từng nghe thấy, vào một buổi chiều mùa hè, âm thanh những quả bóng của họ như những tiếng sấm vang từ xa.

Nói tóm lại, đám đông giải tán và quay trở lại với những mối quan tâm quan trọng hơn của cuộc bầu cử. Con gái của Rip đưa anh về nhà sống cùng cô; cô có một ngôi nhà ấm cúng, được trang bị đầy đủ và một người chồng nông dân vạm vỡ, vui tính, người mà Rip nhận ra chính là một trong những đứa nhóc từng leo lên lưng anh. Về phần cậu con trai và người thừa kế của Rip, kẻ giống hệt anh như đúc được nhìn thấy đang dựa vào cây, cậu ta được thuê làm việc trong trang trại; nhưng lại bộc lộ bản tính di truyền là lo đủ mọi việc trừ công việc của mình.

Rip giờ đây tiếp tục những cuộc dạo chơi và thói quen cũ; chẳng mấy chốc anh tìm lại được nhiều người bạn cũ của mình, dẫu cho tất cả đều có phần tơi tả hơn vì sự bào mòn của thời gian; và anh thích kết bạn với thế hệ trẻ hơn, và nhanh chóng được họ yêu mến.

Không có việc gì phải làm ở nhà, và đã đạt đến cái tuổi hạnh phúc khi một người có thể rảnh rỗi mà không sợ bị quở trách, anh lại một lần nữa ngồi vào chiếc ghế dài trước cửa quán trọ, và được tôn kính như một trong những vị bô lão của làng và là một cuốn biên niên sử về những thời điểm cũ “trước chiến tranh.” Phải mất một thời gian anh mới có thể bắt nhịp lại với dòng buôn chuyện thông thường, hoặc có thể hiểu được những sự kiện kỳ lạ đã diễn ra trong thời gian anh ngủ mê. Nào là đã có một cuộc chiến tranh cách mạng — rằng đất nước đã rũ bỏ ách thống trị của nước Anh cũ — và rằng thay vì là thần dân của Quốc vương George Đội, giờ đây anh là một công dân tự do của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Thực ra, Rip không phải là một chính trị gia; những thay đổi của các quốc gia và đế chế hầu như không tạo ra ấn tượng gì với anh; nhưng có một loại hình độc tài mà anh đã phải rên siết từ lâu, và đó chính là — chính quyền váy vóc. May mắn thay điều đó đã chấm dứt; anh đã rút được cổ mình khỏi cái ách hôn nhân, và có thể ra vào bất cứ khi nào anh muốn mà không phải sợ hãi sự bạo ngược của phu nhân Van Winkle. Tuy nhiên, bất cứ khi nào tên bà được nhắc đến, anh đều lắc đầu, nhún vai và ngước mắt lên trời; điều này có thể xem như biểu hiện của sự cam chịu số phận, hoặc niềm vui mừng vì được giải thoát.

Anh thường kể câu chuyện của mình cho mọi vị khách đến khách sạn của ông Doolittle. Ban đầu, người ta nhận thấy anh thay đổi một số điểm mỗi khi kể, điều này chắc chắn là do anh vừa mới tỉnh giấc. Cuối cùng nó cũng ổn định lại chính xác thành câu chuyện mà tôi vừa kể, và không một người đàn ông, phụ nữ hay trẻ em nào trong vùng không thuộc nằm lòng nó. Một số người luôn giả vờ nghi ngờ tính chân thực của nó, và khẳng định rằng Rip đã bị mất trí, và đây là một điểm mà anh luôn giữ vẻ thất thường. Tuy nhiên, những cư dân gốc Hà Lan hầu như hoàn toàn tin tưởng tuyệt đối. Thậm chí cho đến ngày nay, mỗi khi họ nghe thấy một trận giông bão vào một buổi chiều mùa hè quanh vùng Kaatskill, họ lại bảo rằng Hendrick Hudson và thủy thủ đoàn của ông đang chơi trò ném pin; và đó là một ước nguyện chung của tất cả những người chồng sợ vợ trong vùng, khi cuộc sống trở nên nặng nề, giá mà họ có được một ngụm rượu bình yên từ chiếc bình của Rip Van Winkle.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Washington Irving

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.