(20-25.10.1944)
Giành thắng lợi trong trận Midway, Mỹ dần nắm quyền chủ động trên chiến trường Thái Bình Dương và chuyển sang phản công. Từ đầu năm 1943, quân Mỹ áp dụng chiến lược xung kích hai mũi từ Tây Nam và Trung tâm Thái Bình Dương, lấy Philippines làm trọng tâm, tiến hành các cuộc tiến công giành lại các đảo và phần lãnh thổ đã bị quân Nhật đánh chiếm.
Tại khu vực Tây Nam Thái Bình Dương, từ tháng 6 năm 1943, dưới sự chỉ huy của tướng Mac Arthur, quân Mỹ bắt đầu đổ bộ lên đảo Naxu, sau đó dùng hòn đảo nay để làm bàn đạp tiến công quân Nhật tại quần đảo New Guinea và các hòn đảo lân cận. Tiếp đó, đến tháng 11 năm 1943, lực lượng hải quân Mỹ đổ bộ lên đảo lớn nhất thuộc quần đảo Solomon và đến tháng 8 năm 1944, được sự hỗ trợ của lực lượng Đồng minh, đặc biệt là quân Australia, hàng nghìn lính thủy đánh bộ Mỹ đã đánh chiếm thành công quần đảo New Guinea, quần đảo lớn thứ hai trên thế giới, đồng thời là cửa ngõ Tây Nam để tiến vào Philippines.
Tại khu vực Trung tâm Thái Bình Dương, từ cuối nàm 1943 đến đầu năm 1944, dưới sự chỉ huy của tướng Nimitz, các đơn vị hải quân và không quân Mỹ lần lượt tiến công đánh chiếm các đảo Ginbe (11.1943), Marshall (2.1944), Mariana (6.1944), v.v..., từng bước phá vỡ vành đai phòng thủ từ xa của Nhật.
Đối với Nhật, sau thất bại trong trận Midway, nước này đứng trước vô vàn khó khăn cả về chính trị lẫn quân sự. Về quân sự, do thất bại liên tiếp trên chiến trường, đặc biệt là sau khi mất quần đảo chiến lược New Guinea, thế và lực của Nhật trên chiến trường Thái Bình Dương đã giảm đi đáng kể. Theo ước tính, nếu như trước trận Midway, tương quan lực lượng hải quân và Hạm đội giữa Nhật và Mỹ là 3/1 thì đến cuối năm 1943, tương quan này chỉ còn lại là 1,5/1, thậm chí ở một số khu vực trọng điểm chiến lược, quân Mỹ và Đồng minh còn có ưu thế vượt trội về lực lượng vũ khí và trang bị[1].
Cùng với những thất bại quân sự, thắng lợi của quân Mỹ và Đồng minh trên chiến trường Thái Bình Dương đã khiến bộ máy chiến tranh Nhật rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Thủ tướng Togo bị nhiều chính trị gia và các tướng lĩnh buộc tội bất tài và tiếm quyền khi ông cách chức Tổng tham mưu trưởng lục quân và đảm đương luôn cả chức vụ này vào tháng 2 năm 1943. Sự bất ổn chính trị trong nội các đã làm lung lay bộ máy điều hành chiên tranh. Tháng 8 năm 1943, sau khi Togo từ chức, theo đề nghị của các tướng lĩnh quân đội, Nhật Hoàng thay đổi hàng chỉ huy chiến trường Thái Bình Dương. Theo đó, tướng Yamashita được chọn làm Tư lệnh chiến trường Philippines. Sau khi lên nắm quyền, mặc dù được mệnh danh là "hùm sám" trên chiến trường Malaysia, nhưng do tình thế đã thay đổi, cộng vào đó, do lực lượng quân Mỹ và Đồng minh đã giành lại quyền chủ động trên chiến trường nên bản thân Yamashita cũng như các tư lệnh khác không thể đảo ngược được tình hình. Giữa năm 1943, Bộ Tổng tham mưu Nhật quyết định thay đổi chiến lược "phòng thủ từ xa" với tuyến phòng thủ dài hàng nghìn hải lý, bao trọn khu vực Đông và Đông Nam Thái Bình Dương sang chiến lược "thu hẹp phòng tuyến", với phạm vi chỉ bao gồm khu vực phía Bắc Nhật Bản và vùng biển từ Miến Điện đến Malaysia.
Về phía Mỹ, do nắm quyền chủ động trên chiến trường và có ưu thế về lực lượng, tháng 10 năm 1944, Mỹ quyết định mở chiến dịch Philippines nhằm tiêu diẹt Cụm tập đoàn quân 14 và lực lượng chủ yếu của hạm đội hỗn hợp Nhật Bản đang phòng thủ tại Philippines, phá hoại tuyến giao thông đường thủy huyết mạch nối liền Nhật Bản với các nguồn cung cấp nguyên liệu ở Indonesia (thuộc địa Hà Lan), Miến Điện và một số nơi khác.
Tiến hành chiến dịch, Bộ chỉ huy quân Mỹ để ra kế hoạch 3 bưốc: Bước thứ nhất, đánh chiếm đảo Mindanao nằm ở phía Nam Philippines. Bước tiếp theo tiến công đánh chiếm Leyte (nằm giữa đảo Luzon và Mindanao) và cuốỉ cùng là đánh chiếm đảo Luzon ở phía Bắc Philippines. Tuy nhiên, từ đầu tháng 10 năm 1944, trong quá trình chuẩn bị chiến dịch, lực lượng không quân và hải quân Mỹ đã phá huỷ và đánh chìm phần lớn máy bay, tàu chiến Nhật ở vịnh Manila và 5 sân bay lớn ở Mindanao, do đó, tướng Mac Arthur nhận thấy không cần thiết phải đánh chiếm Mindanao như kê hoạch đã định, mà đánh thẳng vào Leyte đê rút ngăn thời gian chiến đấu, đồng thời, nhanh chóng đánh chiếm hòn đảo yết hầu nằm giữa Philippines. Theo nhận định của Mac Arthur, nếu quân Mỹ đánh chiếm được Leyte, họ không chỉ khống chế được toàn bộ Philippines mà còn buộc quân Nhật phải huy động lực lượng từ nơi khác tối ứng cứu. Khi đó, với ưu thế về lực lượng và khả năng cơ động, quân Mỹ sẽ tiêu diệt đối phương và sớm kết thúc chiến tranh. Trong trường hợp không tiêu diệt được đối phương bằng đòn tiến công chớp nhoáng, Leyte cũng sẽ đảm bảo nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm dồi dào để cho phép Mỹ có thể tiên hành cuộc chiến tranh lâu dài.
II. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ
Quyết định đánh chiếm Leyte, Bộ chỉ huy quân Mỹ đề ra kế hoạch: dùng toàn bộ lực lượng không quân và hỏa lực hải quân đánh đòn phủ đầu vào các trung tâm đề kháng và sở chỉ huy quân Nhật trên đảo Leyte, sau đó tiến hành đổ bộ đánh chiếm đảo. Thực hiện kế hoạch đã đề ra, Mỹ sử dụng 2 hạm đội, gồm Hạm đội 3 do Đô đốc William Halsey chỉ huy và Hạm đội 7 do Phó Đô đốc Thomas C. Kinkaid chỉ huy (tổng cộng quân Mỹ có 12 tàu thiết giáp, 35 tàu sân bay, 20 tàu tuần dương và 144 tàu phóng lôi). Lực lượng đổ bộ gồm tập đoàn quân 6 và 3 sư đoàn lính thủy đánh bộ.
Nhận định Leyte là nơi diễn ra "trận đánh quyết định", Bộ Tư lệnh Hải quân Nhật sử dụng toàn bộ lực lượng hải quân hiện có ở Leyte. Bên cạnh đó, khi biết Mỹ có ý đồ đổ bộ lên đảo, Nhật còn gấp rút điều thêm lực lượng từ Brunei, Đài Loan và Nhật Bản sang yểm trợ. Đến sáng ngày 20 tháng 10, tổng lực lượng quân Nhật tham gia trận hải chiến Leyte có khoảng 9 tàu thiết giáp, 4 tàu sân bay, 21 tàu tuần dương và 35 tàu khu trục[2].
III. DIỄN BIẾN
Trận Leyte diễn ra trong hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất, từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 10 năm 1944: Hạm đội Nhật tiếp cận Leyte và diễn ra các trận giao tranh trên biển Sibuyan, eo biển Surigao. Giai đoạn thứ hai, ngày 25 tháng 10 năm 1944, Hạm đội Nhật tiếp cận Leyte và diễn ra các trận giao tranh ngoài khơi Samar gần đảo Leyte.
10 giờ sáng ngày 20 tháng 10 năm 1944, sau 5 giờ không kích và pháo kích chuẩn bị, Sư đoàn kỵ binh số 1 của Mỹ đổ bộ lên "Bãi Trắng" ở phía Bắc. Tiếp đó, Sư đoàn bộ binh 24 đổ bộ lên "Bãi Đỏ" và "Bãi Xanh" ở khu vực trung tâm; Sư đoàn 96 cùng lực lượng pháo binh đổ bộ lên "Bãi Cam" ở khu vực phía Nam đảo Leyte. Đến 11 giờ, cả ba sư đoàn cùng tiến về Tacloban - Thủ phủ của Leyte trong sự kháng cự yếu ớt của quân Nhật. Sau khi đặt chân lên đảo, binh lính Mỹ đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của người dân Philippines. Tại Manila, Tổng thống Philippines Romulo kêu gọi người dân hợp tác với Mỹ để đánh đuổi phát xít Nhật, giải phóng đất nước, lập lại nền dân chủ và khôi phục chính phủ hợp pháp của Philippines. Trong cả quá trình đổ bộ, quân Mỹ chỉ tổn thất có 49 người, trong khi đó, hàng chục căn cứ pháo binh và hải quân của Nhật bị tàn phá. Tướng Makino - chỉ huy lực lượng quân Nhật tại Leyte buộc phải ra lệnh dời sở chỉ huy từ Tacloban vào sâu bên trong đảo, đồng thòi ra lệnh cho các lực lượng lui về phía Bắc và quyết tâm cố thủ tại đó.
Đối với Nhật, sau khi nhận được tin quân Mỹ đổ bộ thành công lên đảo, tướng Yamashita - Tư lệnh lực lượng quân Nhật tại chiến trường Philippines ra lệnh cho toàn bộ lực lượng hải quân Nhật đang làm nhiệm vụ chiếm đóng tổ chức cố thủ, đồng thời điều thêm 3 lực lượng đến tăng viện cho Leyte.
-Lực lượng trung tâm do Phó Đô đốc Takeo Kurita chỉ huy gồm 4 thiết giáp hạm, 13 tuần dương hạm và 19 khu trục hạm (không có tàu sân bay), Brunei tiến vào biển Philippines và đảm nhiệm mũi đột kích chủ yếu vào Leyte.
-Lực lượng phía Nam do Phó Đô đốc Shima Kiyohida chỉ huy, xuất phát từ biển Đài Loan, đảm nhiệm mũi đột kích thứ yếu 1 vào khu vực đổ bộ của quân Mỹ tại Leyte.
- Lực lượng phía Bắc do Phó Đô đốc Jisaburo Ozawa chỉ huy gồm 2 thiết giáp hạm đã được cải tiến thành tàu sân bay, 1 tàu sân bay hạng nặng và 3 tàu sân bay hạng nhẹ với tổng số máy bay 120 chiếc, xuất phát từ biển Nhật Bản, có nhiệm vụ nghi binh kéo lực lượng hải quân Mỹ ra khỏi khu vực Leyte, đồng thời đảm nhiệm mũi đột kích thứ yếu 2.
Ngày 20 tháng 10, khi phát hiện lực lượng bộ binh Mỹ bắt đầu đổ bộ lên Leyte, Bộ chỉ huy quân Nhật lệnh cho lực lượng trung tâm rời căn cứ tại Brunei tiến vào biển Palawan, sau đó tách làm hai bộ phận: bộ phận thứ nhất do Phó Đô đốc Takeo Kurita chỉ huy, hành quân theo hướng Đông Bắc tiến vào eo biển San Bernardio ở phía Bắc Leyte. Bộ phận thứ hai do Teisi Nisimura chỉ huy, hành quân theo hướng Đông Nam tiến vào eo biển Surigao ở phía Nam Leyte. Như vậy, nếu mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch, hai bộ phận này sẽ tạo thành gọng kìm bao vây, tiến đánh vào sau lưng Hạm đội Mỹ ở vịnh Leyte.
Tuy nhiên, mọi việc đã không diễn ra theo dự kiến, đêm 22 tháng 10, khi tiến vào biển Palawan và chỉ còn cách eo biển San Bernardio gần 30 hải lý, bộ phận thứ nhất của lực lượng trung tâm lọt vào ổ phục kích của 2 tàu ngầm Darter và Dace Mỹ. Hai tàu này nhanh chóng di chuyển bám sát mục tiêu. Sau nhiều giờ rượt đuổi và đeo bám, đến 5 giờ 25 phút sáng ngày 23 tháng 10, khi biết đối phương đã di chuyển đến vị trí thuận lợi, chỉ huy tàu Darter ra lệnh phóng 6 quả ngư lôi, đánh chìm kỳ hạm Atago do chính Takeo Kurita chỉ huy. 10 phút sau, tàu ngầm Darter được lệnh bám sát tàu Takao và phóng 4 quả ngư lôi khiến tàu này bị lệch mạn và không còn khả năng chiến đấu. Tiếp đó, đến 5 giờ 56 phút, chiếc tuần dương hạm thứ ba của Nhật là Maya cũng trúng ngư lôi và bị chìm. Như vậy, chỉ trong vài giờ đồng hồ, Nhật Bản đã bị đánh chìm 2 tàu tuần dương. Chiếc Takao được hai tàu khu trục hộ tống trở về căn cứ xuất phát an toàn, nhưng hoàn toàn mất khả năng chiến đấu.
Bị tiến công bất ngờ, Phó Đô đốc Takeo Kurita ra lệnh rút khỏi vùng chiến sự, đồng thời yêu cầu tổ chức lại đội hình hành quân. Ông ra lệnh cho hai thiết giáp hạm hiện đại nhất là Yamato và Mushasi đi giữa, các tàu còn lại đi xung quanh yểm trợ. Họ tiếp tục tiến vào eo biển San Bernardio. Đến 8 giờ sáng ngày 24 tháng 10, khi còn cách San Bernardio khoảng 27 hải lý, đoàn tàu của Kurita bị các máy bay trinh sát thuộc Hạm đội 3 Mỹ phát hiện. Ngay lập tức Đô đốc William Halsey ra lệnh cho các phi đội tiêm kích VF20, phi đội ném bom VB20 và phi đội phóng lôi VT20 từ các tàu sân bay cất cánh, lần lượt trút bom và thủy lôi xuống đội hình hành quân của Nhật. Rất may, trong đợt giao tranh này, lực lượng Hạm đội 3 chỉ có 1/3 lực lượng tham chiến, vì trước đó một ngày, lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay mạnh nhất TF38 đã được lệnh rời vùng chiến sự quay về căn cứ Ulithi để tiếp nhiên liệu.
Khi biết bị lực lượng không quân Mỹ đánh ngăn chặn, Takeo Kurita lập tức gọi điện về Manila yêu cầu lực lượng không quân Nhật trên đảo Leyte tới yểm trợ.
Tuy nhiên, vào thời điểm đó, cả 180 máy bay còn lại của Nhật đã cất cánh đi đánh Hạm đội 3 của Mỹ đang hoạt động ở vùng biển phía Đông Philippines. Vì vậy, đoàn tàu của Kurita không nhận được sự yểm trợ của lực lượng không quân và đã trở thành mục tiêu tiến công của quân Mỹ. Trong hơn hai giờ đồng hồ, 30 máy bay Mỹ cất cánh từ các tàu sân bay liên tiếp mở 4 đợt không kích, đánh chìm thêm 1 thiết giáp hạng nặng, 2 tàu khu trục và 2 tàu tuần dương của Nhật. Takeo Kurita một lần nữa buộc phải ra lệnh cho lực lượng còn lại nhanh chóng thoát ra khỏi khu vực chiến sự và quay trở lại Brunei.
Mặc dù phải chấp nhận phải quay lại vị trí xuất phát, nhưng Kurita cũng đã kịp ra lệnh cho bộ phận thứ hai phối hợp với lực lượng phía Nam tiếp tục hành trình tới Leyte. 2 giờ 40 phút ngày 24 tháng 10, lợi dụng đêm tối, bộ phận này đã bí mật vượt hệ thống tuần tra của Mỹ và lọt vào vịnh Surigao. Tuy nhiên, khi đang trên đường tiếp cận tới Leyte thì bị lực lượng trinh sát Mỹ phát hiện. 3 giờ sáng ngày 24 tháng 10, Phó Đô đốc Thomas C. Kinkaid ra lệnh cho 6 thiết giáp hạm, 4 tuần dương hạm và 28 tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 tiến về phía Tây chặn đánh quân Nhật. 3 giờ 25 phút, các tàu chiến Mỹ tập trung nhả đạn vào đội hình quân Nhật. Chỉ trong ít phút, hai trong số 4 tàu khu trục của Teisi Nisimura bị đánh chìm, lực lượng còn lại buộc phải rút lui khỏi vịnh Surigao.
Phát hiện đối phương đang trên đường bỏ chạy, chỉ huy Hạm đội 7 ra lệnh cho 6 tàu tuần dương và 4 tàu khu trục truy kích. Đến khoảng 4 giờ sáng ngày 24 tháng 10, tàu khu trục West Virginia của Mỹ phát hiện các tàu bỏ chạy của Nhật ở khoảng cách chừng 40km. Nó tiếp tục đeo bám, đồng thời thông tin cho các tàu khác về vị trí của đối phương. 5 giồ sáng ngày 24 tháng 10, hàng chục tàu chiến Mỹ tập trung bao vây và tiến công lực lượng phía Nam và lực lượng của Teisi Nisimura. Với ưu thế về lực lượng và sức mạnh hỏa pháo, các tàu California, Maryland và Tennessee của Mỹ lần lượt đánh hư hỏng nặng tàu khu trục Yamashiro và tàu tuần dương Mogami, Phó Đô đốc Nisimura bị tử trận. Trong tình trạng bị bao vây và tiến công từ nhiều phía, các tàu còn lại buộc phải mở đường máu thoát khỏi vịnh Surigao. Trên đường thoái lui, lực lượng này tiếp tục bị truy kích và bị đánh thiệt hại nặng. Đến khoảng 7 giờ sáng ngày 24 tháng 10 đại bộ phận lực lượng phía Nam và bộ phận thứ hai của lực lượng trung tâm đã bị tiêu diệt. Cuộc giao tranh trong vịnh Surigao - cửa ngõ bước vào Leyte của Nhật hoàn toàn bị thất bại.
Giống như số phận của lực lượng trung tâm và lực lượng phía Nam, ngày 24 tháng 10, khi đang hoạt động tại khu vực biển cách đảo Luzon gần 500km, lực lượng phía Bắc do Jisaburo Ozawa chỉ huy nhận được tín hiệu cứu trơ. Lập tức ông ra lệnh cho toàn bộ tàu chiến của mình tiến xuống phía Nam yểm trợ cho Hạm đội Trung Tâm. Khi tới khu vực Đông Bắc đảo Luzon, Jisaburo Ozawa ra lệnh cho 76 máy bay cũ kỹ và già nua cất cánh đi tìm và đánh các tàu sân bay Mỹ, nhưng không đạt kết quả. Ngay lập tức ông ra lệnh cho hai tàu sân bay cải tiến Ise và Hyuga cùng 5 tàu ngầm yểm trợ tiến thẳng xuông phía Nam. Khi vừa tiếp cận đến Luzon, cả hai chiếc tàu này đều bị lực lượng Hạm đội 3 đánh chìm, một số khác bị thương. Các tàu ngầm không tìm được sân bay đối phương nên đều trở lại nợi xuất phát.
Như vậy, trong những ngày giao tranh đầu tiên, cả 3 cánh quân của Nhật vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra, chưa tiếp cận được Leyte và cũng chưa gây thiệt hại lớn cho quân Mỹ.
Giai đoạn thứ hai, ngày 25 tháng 10 năm 1944.
Mặc dù bị đánh thiệt hại nặng trong những ngày giao tranh đầu tiên, nhưng với quyết tâm đột kích vào Leyte, đêm 24, rạng ngày 25 tháng 10, Phó Đô đốc Takeo Kurita đã chỉ huy lực lượng còn lại của mình quay lại eo bịển San Bernardio. 3 giờ sáng ngày 25 tháng 10, khi biết đại bộ phận lực lượng Hạm đội 3 đang tiến lên phía Bắc để tiến công tiêu diệt lực lượng của Jisaburô và bỏ trống eo biển San Bernardio, Takeo Kurita đã ra lệnh cho 4 thiết giáp hạm, trong đó có cả siêu thiết giáp hạm Yamato, 6 tàu tuần dương hạng nặng, 2 tàu tuần dương hạng nhẹ và 15 tàu khu trục bí mật di chuyển về phía Nam dọc bờ biển phía Đông Samar. Đến 6 giờ 27 phút, khi đoàn tàu đang tiến vào phía Đông mũi Engano ở gần đảo Samar, quan trắc viên tàu Yamato phát hiện ra 6 tàu sân bay loại nhỏ và 7 tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 Mỹ đang làm nhiệm vụ hộ tống cho đoàn tàu đổ bộ ở vịnh Leyte. Phó Đô đốc Takeo Kurita ra lệnh cho các tàu chiến của mình phân tán đội hình, tập trung hỏa lực tiến công vào các tàu chiến Mỹ, Đúng 6 giờ 58 phút ngày 25 tháng 10, những khẩu pháo trên thiết giáp hạm Yamato bắt đầu khai hỏa, các tàu chiến còn lại của Nhật cũng thi nhau bắn phá các tàu sân bay đối phương. Khi tàu Yamato khai hỏa, tàu khu trục Johnson của Mỹ ở vị trí gần nhất nên bị trúng đạn và bốc cháy. Chỉ huy tàu đã ra lệnh cho các thợ máy mở hết tốc lực, tiến công cảm tử vào tàu tuần dương Kumano của Nhật. Rất may, trước khi tới được tàu đối phương, tàu này trúng ngư lôi, bị thương nặng và bị chìm. Thấy vậy, tướng Sprague ra lệnh tung toàn bộ tàu hộ tống vào giao chiến, các tàu khu trục còn lại thực hiện đòn tiến công cảm tử nhằm thu hút lực lượng về mình, đồng thời phá vỡ đội hình chiến đấu của quân Nhật. Thực hiện đòn tiến công cảm tử, tàu khu trục Hoel mở hết tốc lực tiếp cận tàu đối phương. Khi ở cự ly chừng hơn l00m, tàu này liên tiếp phóng 4 quả ngư lôi vào chiếc Haguro của Nhật, nhưng sau đó trúng hải pháo và bị chìm. Các tàu còn lại cũng thực hiện đòn cảm tử, nhưng do các tàu Nhật nhỏ hơn, tốc độ cao hơn nên đã né tránh được các vụ va đâm.
Nhận thấy cách đánh cảm tử không hiệu quả, Sprague ra lệnh cho 6 tàu sân bay hộ tống tung toàn bộ các máy bay hiện có lên giao chiến bằng tất cả các loại vũ khí được trang bị, kể cả súng máy và mìn sâu chống ngầm. Cuộc không kích phản công diễn ra ác liệt trong hơn một giờ đồng hồ. Các tàu chiến Nhật được trang bị pháo phòng không tương đối hiện đại nên đã bắn cháy nhiều máy bay Mỹ. Tuy nhiên, sau đó Hạm đội 7 đã kịp thời tăng viện, dồn dập tiến công, làm bị thương 3 tàu tuần dương hạng nặng của Nhật, buộc Phó Đô đốc Takeo Kurita phải cho lực lượng trung tâm rút lui, chuẩn bị đánh các tàu tiếp viện của Mỹ.
Trưa ngày 25 tháng 10, khi đang trên đường tiến vào Leyte, Takeo Kurita nhận được thông báo, các tàu chiến Mỹ đang từ Leyte kéo ra. Trên cơ sở phân tích tình hình, ông cho rằng, các tàu vận tải Mỹ đã chuyển hết vũ khi, quân trang, quân dụng lên bờ và nay đang bắt đầu quay trở về. Với nhận định đó, ông ra lệnh cho các tàu chiến Nhật không tham chiên với lực lượng này để bảo toan lực lượng, đồng thời chuẩn bị trận quyết chiến với các tàu sân bay. 12 giờ 35 phút ngày 25 tháng 10 phút cáctàu chiến Nhật được lệnh hành trình lên phía Bắc để tìm các tàu sân bay Mỹ.
Việc Takeo Kurita ra lệnh cho lực lượng của mình không tham chiến với các tàu tiếp viên Mỹ là môt sai lầm chết người. Bởi lẽ: thứ nhất, ông đã bỏ lỡ mất cơ hội có thể lọt vào Leyte; thứ hai, các tàu chiến đó chưa chuyển hết vũ khí trang bị lên bờ. Trong số các tàu tiếp viện kể trên, có 23 các tàu đổ bộ chở xe tăng, 28 tàu vận tải chở các tấm ghi vào Leyte để làm sân bay dã chiến. Đúng như nhận xét tướng Mac Arthur: Vì quân Nhật không đánh chìm các đoàn tàu vận tải nên các đơn vị quân Mỹ vừa đổ bộ lên đảo Leyte có được nguồn cung cấp vũ khí, đạn dược dồi dào. Với các chuyến hàng đó quân Mỹ không chỉ thoát khỏi tình thế nguy ngập, mà còn từng bước nhổ các trận địa phòng ngự mà người Nhật đã xây dựng ở Leyte trong nhiều năm trước đó. Việc người Nhật để thoát các tàu tiếp viện đã làm cho chiến cuộc trên đảo Leyte hoàn toàn đảo ngược và có lợi cho Mỹ[3].
Không chỉ thất bại trong việc tiêu diệt các tàu tiếp viện Mỹ, đoàn tàu của Takeo Kurita tiến lên phía Bắc để tìm các tàu sân bay Mỹ cũng không đạt được mục tiêu đề ra. Khi đang hành trình rong ruổi lên phía Bắc, đoàn tàu này đã bị các máy bạy trinh sát không quân Mỹ phát hiện. Ngay lập tức, 70 máy bay Mỹ cất cánh từ các tàu sân bay tập trung oanh kích đoàn tàu của Takeo Kurita, làm bị thương hai thiết giáp hạm.. Tiếp đó, đến 13 giờ 12 phút, hơn 140 máy bay chia làm nhiều tốp tiếp tục thả bom và ngư lôi vào Hạm đội Trung Tâm, đánh đắm và làm bị thương thêm một số tàu chiến. Đến 6 giờ chiều, do không còn đủ nhiên liệu để tiếp tục truy lùng các tàu sân bay Mỹ, Phó Đô đốc Takeo Kurita buộc phải cho hạm đội thẳng tiến tới eo biển San Bernardio để trở về căn cứ. Trên đường về, lực lượng này tiếp tục bị không quân Mỹ truy kích, đánh đắm thêm 1 thiết giáp hạm và 2 tàu tuần dương ở gần biển Sibuyan.
Cùng chung số phận với lực lượng trung tâm, sáng ngày 25 tháng 10, sau khi chiến sự ở vùng biển Leyte đã tạm im tiếng súng, Bộ chỉ huy quân Mỹ quyết định dùng toàn bộ lực lượng Hạm đội 3 tổ chức săn tìm và tiêu diệt cánh quân phía Bắc của Phó Đô đốc Jisaburo. Đến 7 giờ, các máy bay trinh sát Mỹ phát hiện ra đối phương đang ở vùng biển Engano. Đúng 8 giờ, cuộc tiến công mở màn khi các máy bay tiêm kích Mỹ cất cánh và tiêu diệt hơn 30 máy bay tuần tra trên không của Nhật. Cuộc chiến tiếp diễn đến chiều tối. Trong khoảng thời gian đó, các máy bay Mỹ đã thực hiện gần 600 lần xuất kích, đánh chìm 3 tàu sân bay Zuikaku, Chitose và Zuiho; làm bị thương nặng tàu tuần dương Tama và Akishuki của Nhật. Kết thúc các đợt không kích, chiều 25 tháng 10, các tàu chiến Mỹ tổ chức truy kích những chiếc tàu còn lại của lực lượng phía Bắc. Vào lúc 17 giờ, một tàu tuần dương Mỹ phóng lôi 4 quả ngư lôi và đánh chìm tàu sân bay Chiyoda. Tiếp đó, vào lúc 20 giờ, một tàu tuần dương khác đã đánh chìm khu trục hạm Hatsuzuki của Nhật. Nhận thấy không còn khả năng để tiêp tục tham chiến, Phó Đô đôc Jisaburo Ozawa ra lệnh cho các tàu còn lại quay đầu lên phía Bắc với hy vọng có thể trở lại vùng biển Nhật Bản một cách an toàn. Tuy nhiên, quyêt định của ông đã quá muộn. Ngay sau khi mệnh lệnh được phát ra, các tàu ngầm Mỹ đã xuất hiện ngay trước mặt. Vào lúc 23 giờ 10 phút tàu ngầm Jallao phóng ngư lôi đánh chìm chiếc tuần dương Tama đã bị thương trước đó. Đây là trận giao tranh cuối cùng trên biển Engano và cũng là trận giao tranh kết thúc trận hải chiến Leyte.
IV. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỂ RÚT RA TỪ TRẬN ĐÁNH
Kết thúc trận Leyte, quân Nhật bị mất 26 tàu chiến (có 4 tàu sân bay, 3 tàu thiết giáp, 9 tàu tuần dương, 10 tàu khu trục); phía Mỹ mất 8 tàu chiến (có 3 tàu sân bay, 3 tàu khu trục bị đánh chìm và 1 tàu sân bay, 1 tàu khu trục bị thương)[4]. Sau trận hải chiến này, hải quân Nhật mất gần hết số tàu sân bay và phần lớn thiết giáp hạm, tuần dương hạm. Tổn thất đó đã khiến lực lượng hải quân Nhật không còn khả năng nắm quyền chủ động trên biển và trở thành lực lượng thứ yếu trong giai đoạn còn lại của cuộc chiến tranh. Thất bại của Nhật còn làm cho vị thế chiến lược của Nhật giảm đi đáng kể. Sau trận Leyte, lục quân Nhật trên đảo Leyte nói riêng, trên lãnh thổ Philippines nói chung dần rơi vào thế bị động và cô lập do không có lực lượng hải quân yểm trợ. Mất Philippines, Nhật mất tuyến trung chuyển hàng hải chiến lược nối liền Nhật Bản với các nưóc Đông Nam Á. Sau khi mất Philippines, Nhật chỉ còn trông chờ vào các nguồn nguyên liệu chiến lược từ Mãn Châu và Triều Tiên.
Đối với Mỹ, sau trận hải chiến Leyte, lực lượng đổ bộ của họ từng bước làm chủ hòn đảo chiến lược này và sau đó phát triển tiến công làm chủ toàn bộ lãnh thổ Philippines. Không những vậy, quân Mỹ còn làm chủ và khống chế toàn bộ không phận và hải phận xung quanh quần đảo Philippines, để từ đó họ làm chủ khu vực Thái Bình Dương, xây dựng các căn cứ để tiến vào Đài Loan, Hải Nam, Lưu Cầu và mở toang cánh cửa vào lãnh thổ Nhật Bản.
Trận Leyte được xem là trận hải chiến lớn nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai và cũng được coi là một trong những trận hải chiến lớn nhất trong lịch sử chiến tranh. Với quy mô và tầm vóc của nó, trận đánh đã để lại nhiều bài học thành công và thất bại cho cả hai phía.
Đốì với Nhật, thất bại trong trận đánh này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến những nguyên nhân chủ quan và khách quan mang tính quyết định như: tương quan và cách tổ chức lực lượng; khả năng chỉ huy của những người cầm quân, v.v...

Về tương quan lực lượng, trong trận Leyte, tương quan lực lượng, đặc biệt là tàu sân bay và tàu ngầm nghiêng hẳn về phía Mỹ. Không những vậy, do liên tiếp giành thắng lợi trong các trận hải chiến trước đây, đặc biệt là sau trận Midway, lực lượng hải quân Mỹ đã có những bước cải thiện đáng kể. Họ cũng đã cơ bản nắm được phương thức tác chiến của hải quân Nhật. Vì vậy, trong trận đánh này, phía Mỹ gần như nắm quyền chủ động cả về chiến lược và chiến thuật. Trái lại, khi bước vào trận Leyte, lực lượng tàu chiến Nhật đã giảm đi đáng kể. Các tàu sân bay phần lớn đều là những tàu cũ hoặc tàu đã cải tiến. Số lượng máy bay trên các tàu sân bay cũng chỉ bằng 1/2 của Mỹ. Mặc dù biết lực lượng yếu kém hơn so với Mỹ, nhưng vào thời điểm quyết định, Nhật không thể không tham chiến. Khi đề ra kế hoạch đối phó, bộ máy điều hành chiến tranh Nhật đang trong giai đoạn khủng hoảng. Vì vậy, việc đề ra kế hoạch và cách tổ chức lực lượng cũng chưa phù hợp.
Như trên đã nêu, khi biết Mỹ quyết định mở chiến dịch Philippines và đổ bộ lên đảo Leyte, Bộ chỉ huy quân Nhật đã tranh luận trong nhiều ngày để tìm ra phương án tác chiến. Không ít sĩ quan tham mưu đề nghị dùng cách đánh cảm tử như trận Trân Châu Cảng để tiêu diệt Hạm đội Mỹ và giành lại thế chủ động trên chiến trường. Một số sĩ quan khác thì cho rằng, do tương quan lực lượng của Nhật đã yếu đi nhiều. Vì vậy, Nhật nên bỏ chiến lược "phòng thủ từ xa", thay vào đó, nên tập trung lực lượng để củng cố vành đai phòng thủ trong vùng nội hải Nhật Bản. Sau nhiều ngày tranh luận và để dung hòa các quan điểm, cuối cùng Bộ chỉ huy quân Nhật quyết định chọn kế hoạch mang mật danh "Chiến thắng" (Sho Go) với 4 phương án tác chiến. Phương án 1, mở một chiến dịch lớn đánh vào Philippines, trong đó tập trung lực lượng hải quân ngăn chặn khả năng đổ bộ của Mỹ lên đảo Leyte; phương án 2, huy động lực lượng tàu chiến tiến hành cuộc tiến công vào Đài Loan; phương án 3, tiến công Lưu cầu; phương án 4, tiến công vào quần đảo Kuril. Các phương án 2, 3 và 4 là nhằm lôi quân Mỹ ra khỏi vùng biển Philippines, buộc họ phải đánh ở những vùng biển vốn không phải sở trường của họ. Như vậy, cho đến thời điểm quyết định, Nhật vẫn không có một kế hoạch chung và thống nhất. Kế hoạch Sho Go trên thực tế không hoàn toàn tương thích với lực lượng hiện có của Nhật Bản. Trong cuốn "Trận Leyte: Kế hoạch của Đồng minh và Nhật Bản, quá trình chuẩn bị và thực hiện" (Battle ofLeyte; Allied and Japanese Plans, Preparations and executions)", tác giả Vego Millan viết: Kế hoạch Sho Go là một kế hoạch ấu trì và đầy tham vọng. Khi lực lượng đã yếu đi nhiều so với những ngày đầu chiến tranh, Nhật Bản lại đem tác chiến rải chúng ra một chiến trường rộng hơn. Thất bại của Nhật trong trận Leyte nói riêng, chiến dịch Philippines nói chung chưa hẳn là do trình độ tác chiến hay ưu thế về vũ khí trang bị của đối phương mà phần nhiều là do kế hoạch[5].
Sự lúng túng và bị động của người Nhật không chỉ thể hiện ở khâu kế hoạch mà còn cả ở cách tổ chức lực lượng. Đầu tháng 9 năm 1944, khi biết Mỹ đang thực hiện "khúc dạo đầu" cho chiến dịch Philippines, Bộ chỉ huy quân Nhật vội vã huy động lực lượng từ ba chiến trường cách xa nhau là Brunei, Đài Loan và Nhật Bản đến đối phó. Trên thực tế, 3 lực lượng này chưa có một lần phối hợp tác chiến. Những người chỉ huy thậm chí còn chưa có thời gian để bàn bạc kế hoạch một cách cụ thể. Điều đáng nói là thành phần của từng lực lượng không phù hợp và không có khả năng hỗ trợ cho nhau. Nếu như lực lượng trung tâm của Phó Đô đốc Takeo Kurita chỉ gồm thiết giáp hạm, tuần dương hạm và khu trục hạm, thì lực lượng phía Bắc của Phó Đô đốc Jisaburo Ozawa lại chủ yếu là các tàu sân bay; lực lượng phía Nam của Phó Đô đốc Shima Kiyohida chỉ có vài tàu tuần dương và tàu hộ tống cũ kỹ, lạc hậu. Trong điều kiện tác chiến không đối hạm, cách tổ chức lực lượng như vậy là không hợp lý. Thực tế trận Leyte cũng đã chứng minh, khi bị lực lượng không quân Mỹ oanh kích, lực lượng trung tâm của Takeo Kurita đã nhiều lần cầu cứu lực lượng không quân yểm trợ nhưng đều không có kết quả. Cuối cùng, toàn bộ những tàu chiến hiện đại nhất của mũi đột kích chủ yếu đã bị "phơi áo" trước lực lượng không quân đối phương.
Tương tự như vậy, mặc dù mũi tiến công phía Bắc do Phó Đô đốc Jisaburo Ozawa chỉ huy có trong tay phần lớn các tàu sân bay, nhưng các tàu sân bay này lại không được trang bị hệ thông phòng không và hệ thống chống ngầm hiệu quả. Vì vậy, chúng đã bị đối phương vô hiệu hóa trong các trận giao tranh trên biển Engano. Nói tóm lại, cách tổ chức lực lượng theo lối "đặc binh, đặc chủng" của Nhật trong trận Leyte không chỉ làm cho lực lượng của họ yếu đi mà còn tạo điều kiện cho Mỹ giành thắng lợi một cách dễ dàng và ít tổn thất.
Khả năng điều hành của những người cầm quân cũng là nguyên nhân khiến Nhật phải chấp nhận thất bại trong trận Leyte. Khi tổ chức 3 mũi tiến công, người Nhật đã không có một vị chỉ huy chung nhằm điều hành và phối hợp chiến đấu. Không những vậy, trong quá trình tác chiến, từng vị chỉ huy cũng đã không ít lần đưa ra các quyết định sai lầm. Trước hết, phải kể đến sai lầm của Takeo Kurita khi ông quyết định không tiến công đoàn tàu tiếp viện Mỹ đang từ vịnh Leyte kéo ra vào trưa ngày 25 tháng 10. Do bỏ lỡ cơ hội, Takeo Kurita không chỉ tạo cho đơn vị quân Mỹ vừa đổ bộ lên đảo Leyte có được nguồn cung cấp vũ khí, đạn dược dồi dào mà còn làm cho tình hình cuộc chiến trên đảo Leyte bị đảo ngược hoàn toàn và có lợi cho Mỹ.
Tương tự như sai lầm của Takeo Kurita, cánh quân phía Bắc của Jisaburo Ozawa được biên chế chủ yếu các tàu sân bay, nhưng trong quá trình tác chiến, do hoạt động không thông nhất và không có sự điều hành chung nên toàn bộ máy bay của cánh quân này không yểm trợ được cho lực lượng trung tâm và lực lượng phía Bắc. Trong suốt những ngày diễn ra chiến sự, Jisaburo Ozawa chỉ loay hoay đi tìm các tàu sân bay Mỹ, mà bỏ qua nhiệm vụ chính là thực hiện đòn nghi binh chiến lược nhằm lôi quân Mỹ ra khỏi khu vực Leyte. Một sai lầm nữa là vào ngày 24 tháng 10, khi nhận được bức điện giả của Mỹ mô tả việc lực lượng trung tâm bị đánh bại và buộc phải rút lui, Jisaburo Ozawa đã vội vã cho toàn bộ lực lượng của mình tiến xuống phía Nam để yểm trợ cho Hạm đội Trung Tâm. Quyết định của ông đã trúng kế của người Mỹ và rơi vào bẫy phục kích của những chiếc tàu ngầm Hạm đội 3, khiến cả hai tàu sân bay Ise và Hyuga bị đánh chìm, một sô chiếc khác bị thương và mất khả năng chiến đấu.
Về phía Mỹ, thắng lợi của họ trong trận Leyte không phải do binh hùng, tướng mạnh mà do họ đã tích lũy, đúc rút được những bài học kinh nghiệm trong các trận hải chiến với Nhật trưóc đây. Trong trận Leyte, nếu chỉ xét trên tương quan lực lượng tàu chiến thì hải quân Mỹ có phần yếu hơn hải quân Nhật. Tuy nhiên, đó là các tàu chiến tương đối hiện đại và đã được cải tiến để phù hợp với cách đánh cảm tử của người Nhật. Bên cạnh đó, khi phát hiện ra lực lượng không quân Nhật đặc biệt là những chiếc máy bay Zero và Kamikaze, Mỹ đã sử dụng hiệu quả lực lượng tàu ngầm để săn lùng và tiêu diệt các tàu sân bay. Trong trận Leyte, các tàu ngầm Mỹ đã đánh chìm nhiều tàu sân bay khiến những chiếc Zero và Kamikaze không có cơ hội thực hiện các đòn tiến công cảm tử.
Một nguyên nhân khác khiến Mỹ giành thắng lợi dễ dàng trong trận Leyte là do xu thế của cuộc chiến. Vào những năm 1943, 1944, Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu đi vào giai đoạn kết. Ớ châu Âu, Liên Xô hoàn toàn giành quyền chủ động ở Mặt trận phía Đông và lần lượt đánh bại quân Đức. ở Mặt trận Bắc Phi, lực lượng đồng minh đánh bại các đạo quân Ý. Bên cạnh đó, phong trào chống phát xít giải phóng dân tộc ở các nước Á - Phi phát triển mạnh mẽ và rộng khắp. Tất cả những nhân tô đó đã tạo điều kiện để Mỹ tập trung lực lượng tiến công quân Nhật ở khu vực Thấi Bình Dương. Đối với Nhật, sau hơn 4 năm tiến hành chiến tranh phi nghĩa, thế và lực của họ đã dần cạn kiệt, bộ máy điều hành chiến tranh rơi vào khủng hoảng, phong trào phản chiến trong nước bắt đầu dâng cao, v.v... Tất cả những điều đó đã khiến Nhật phải chấp nhận hết thất bại này đến thất bại khác và buộc phải chấp nhận đầu hàng vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Người viết: Thượng tá, TS LÊ ĐỨC HẠNH
[1] David Sear, Leyte - The last epic naval battle, Greenwood Press, 2005, p.203.
[2] Almanach - Những nền văn minh thể giới, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1996, tr.203.
[3] Woodward c. Vann, The battle of Leyte, Skyhouse Publishing, 2007. p.214.
[4] Lê Quốc Vinh, Huỳnh Văn Tòng, Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945), Sđd, tr.259.
[5] Vego Millan, Battle of Leyte: AHied and Japanese Plans, Preparations and executions, us Naval Institute, 2006, p.135.