(7.12.1941)
Trong những năm 30 thế kỷ XX, đặc biệt khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, cả hai nước Mỹ và Nhật Bản đều duy trì kế hoạch phòng bị cho một cuộc chiến tranh nổ ra tại Thái Bình Dương khi nơi này luôn là tâm điểm căng thẳng giữa hai quốc gia. Đòn tấn công của người Nhật được trù tính sẽ nhằm vô hiệu hóa Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, bảo vệ kế hoạch xâm lược Malaysia và khu vực Đông Ấn thuộc Hà Lan, nơi người Nhật đang tìm kiếm các nguồn nguyên liệu thiên nhiên như dầu mỏ, cao su. Vào đầu năm 1940, dựa vào điều khoản trong Đạo luật kiểm soát xuất khẩu, Mỹ hoãn lại mọi chuyến hàng xuất khẩu máy bay, linh kiện, máy công cụ và xăng máy bay, điều mà phía Nhật Bản xem là hành động không thân thiện.
Chính sách cấm vận tăng dần của Mỹ là một trong những nguyên nhân đưa đến việc Nhật Bản đẩy nhanh tiến độ xâm lược xuống các nước vùng Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương. Sau khi đánh chiếm được phần lớn Trung Quốc và thành công khi kéo quân vào Đông Dương (9.1940) cùng với việc phát xít Đức tiến công Liên Xô (22.6.1941) đã tạo thời cơ cho Nhật tiến xuống phía Nam và Đông Nam châu Á - Thái Bình Dương vốn là thuộc địa và khu vực ảnh hưởng của các nước Anh, Hà Lan, Mỹ. Thực hiện ý đồ này, Nhật Bản quyết định tiến công chớp nhoáng vào căn cứ Trân Châu Cảng, nơi tập trung chủ yếu Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ nhằm giành quyền chủ động không chế vùng biển, tạo điều kiện mở các chiến dịch đánh chiếm Philippines, Malaysia và Indonesia.
Trân Châu Cảng là căn cứ hải quân lớn trên đảo Oahu trong quần đảo Hawaii[1]. Quần đảo Hawaii của Mỹ ở giữa Thái Bình Dương là một chuỗi đảo dài nối tiếp nhau theo hướng từ Tây - Tây Bắc sang Đông - Đông Nam, có diện tích tổng cộng gần 17.000m2 với khoảng nửa triệu người (tại thời điểm diễn ra Chiến tranh thế giới thứ hai). Đảo Hawaii có diện tích lớn nhất (trên 10.000km2) nhưng quan trọng nhất lại là đảo Oahu với diện tích khoảng 1.500km2, nằm cách Hawaii khoảng 140 dặm về phía Tây Bắc. Trên bờ biển phía Nam đảo Oahu có thành phố Honolulu (200.000 dân), thủ phủ của quần đảo. Cũng trên bờ biển phía Nam đảo, cách Honolulu về phía Tây chừng 6 dặm là Trân Châu Cảng, căn cứ chính của Hạm đội Thái Bình Dương (kể từ năm 1940). Trân Châu Cảng được dựng trên một vịnh biển ăn sâu vào đất liền của đảo Oahu rồi chia thành nhiều vụng biển và luồng lạch kín đáo lại có một cù lao ở giữa vịnh, được gọi là "đảo Ford" như một cầu tàu tự nhiên. Trân Châu Cảng có điều kiện tự nhiên lý tưởng để bảo vệ hạm đội chống lại mọi sự tấn công từ bên ngoài. Việc bố phòng ở cảng hết sức cẩn mật với một hệ thông lưới thép đặc biệt chống ngư lôi và tàu ngầm. Ngoài Trân Châu Cảng, hạm đội còn có một căn cứ khác là cảng Lahaina trên đảo Maui, một đảo nằm ở khoảng giữa đảo Oahu và Hawaii.
Nằm ở hòn đảo lớn thứ ba của nhóm đảo phía Tây quần đảo Hawaii, Trân Châu Cảng có vị trí chiến lược quan trọng đối với toàn bộ vùng bắc Thái Bình Dương. Với khoảng cách tương ứng với một tầm bay tối đa của các "pháo đài bay" B-17 từ Oahu đến bờ biển phía Tây nước Mỹ, Trân Châu Cảng có thể trở thành căn cứ triển khai các hoạt động không quân oanh tạc ở Tây Thái Bình Dương. Do vị trí gần như ở giữa vùng Bắc Thái Bình Dương, Trân Châu Cảng vừa là căn cứ chỉ huy, hậu cần, vừa là cơ sở bảo dưỡng, sửa chữa các chiến hạm của Hạm đội Thái Bình Dương. Từ căn cứ này, Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ có thể khống chế toàn bộ vùng Bắc Thái Bình Dương bằng các lực lượng tàu nổi, tàu ngầm và không quân. Nếu như với Mỹ, Trân Châu Cảng và Midway là hai bàn đạp quan trọng nối tiếp nhau để vươn sang lục địa châu Á, thì đối với Nhật Bản, Trân Châu Cảng là bàn đạp để tiến đến Mỹ và toàn bộ lục địa Bắc Mỹ. Tuy nhiên, vào những năm 1941-1942, lục quân và hải quân Nhật Bản không có tham vọng đánh chiếm hoàn toàn quần đảo này như họ đã làm với quần đảo Midway. Với trận tấn công Trân Châu Cảng, Nhật Bản chỉ đủ sức làm tê liệt Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ trong một khoảng thời gian vừa đủ để họ có thể rảnh tay đánh chiếm toàn bộ vùng bờ biển và các quần đảo Tây Thái Bình Dương, uy hiếp Ấn Độ và Australia, đẩy lùi ảnh hưởng của Mỹ khỏi châu Á, chia đôi Thái Bình Dương với một thế cân bằng chiến lược mới ở đại dương rộng nhất thế giới này, tiến tới hiện thực hóa học thuyết "Đại Đông Á".
Cuộc tấn công của Nhật vào Trân Châu Cảng có nhiều mục đích. Trước tiên, người Nhật hy vọng sẽ tiêu diệt được các đơn vị của Hạm đội Mỹ và ngăn cản được Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ can thiệp vào việc chinh phục Đông Ấn của Nhật. Tiếp đó, Nhật tranh thủ thời gian để củng cố vị thế của họ và tăng cường sức mạnh hải quân trước khi các tàu chiến mới của Mỹ được chế tạo. Cuối cùng, cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng sẽ là một đòn mạnh giáng vào tinh thần của người Mỹ khiến họ phải nản lòng; cho phép Nhật tiếp tục chinh phục Đông Nam Á mà không bị can thiệp[2].
Việc Nhật Bản đặt mục tiêu tiến công chính vào những chiếc thiết giáp hạm là một cách đánh vào tinh thần vì chúng là niềm tự hào của mọi lực lượng hải quân vào thời điểm này và theo quan điểm của các quan chức quân sự Mỹ và Nhật đều cho rằng, những chiếc thiết giáp hạm có vai trò quyết định trong các trận hải chiến. Đồng thời, việc tiến công vào các thiết giáp hạm cũng đánh vào sức mạnh tác chiến của Hạm đội Thái Bình Dương và nếu như thành công, điều đó sẽ trì hoãn hoặc ngăn ngừa vĩnh viễn trận chiến Thái Bình Dương tổng lực ("trận đánh quyết định" theo suy nghĩ của hải quân Nhật). Trên thực tế, trận tiến công Trân Châu Cảng đã mở đầu cho chiến tranh Nhật - Mỹ (chiến tranh Thái Bình Dương) trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945).
II. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ
Trên cơ sở phán đoán một cuộc chiến chắc chắn là cuộc đối đầu giữa các thiết giáp hạm, Isoruku Yamamoto, một thủy sư đô đốc đã có 40 năm phục vụ trong Hải quân Hoàng gia Nhật Bản là tác giả chính của ý tưởng kế hoạch tiến công Trân Châu Cảng. Trong những năm 30 thế kỷ XX, khi các tàu sân bay bắt đầu xuất hiện, Isoruku Yamamoto là một trong những sĩ quan hải quân sớm nhận rõ uy lực to lớn của đòn đột kích bằng máy bay xuất phát từ các tàu sân bay nên đã coi tàu sân bay là lực lượng tiến công chủ yếu của hải quân thay cho các tàu thiết giáp hạm trang bị pháo lớn. Ngày 11 tháng 11 năm 1940, hải quân Anh đã sử dụng 21 máy bay phóng ngư lôi trên tàu sân bay (Illustrious) tiến hành không kích căn cứ hải quân Taranto (Italia) và giành thắng lợi. Kinh nghiệm nóng hổi trên chiến trường châu Âu đã giúp Yamamoto cụ thể hóa kế hoạch của mình. Yamamoto và Ban Tham mưu hải quân Nhật đã nghiên cứu sâu sắc sự kiện này nhằm lên kế hoạch cho cuộc tiến công vào căn cứ hải quân Mỹ ở Trân Châu Cảng.
Kế hoạch tập kích Trân Châu Cảng soạn thảo xong vào tháng 1 năm 1941, được Hội đồng nội các Nhật Bản duyệt tháng 9 năm 1941. Theo đó, hải quân Nhật sử dụng một hạm đội đặc nhiệm với 6 tàu sân bay chở 414 máy bay, 2 tàu thiết giáp hạm, 3 tàu tuần dương, 1 phân đội tàu hộ tống gồm 16 tàu khu trục và phóng lôi, 27 tàu ngầm (được bí mật triển khai từ trước ở Hawaii) và một số tàu vận tải do Đô đốc Nagumo Chuichi chỉ huy. Sau khi thành lập, hạm đội đặc nhiệm tiến hành diễn tập sát với điều kiện địa hình khu vực Trân Châu Cảng, đồng thời tổ chức nghiên cứu, chế tạo các loại thủy lôi mới phù hợp với độ sâu của cảng 10-15m. Để đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ của trận đánh, trong quá trình di chuyển, diễn tập, các tàu thuộc hạm đội tuyệt đối không liên lạc bằng vô tuyến mà chỉ dùng cờ, đèn, pháo hiệu...
Đầu tháng 11 năm 1941, một phái đoàn ngoại giao Nhật đến Washington đàm phán với Chính phủ Mỹ về giải quyết những tranh chấp giữa hai nước tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Phía Nhật đưa ra nhiều yêu cầu khiến cho Mỹ khó chấp nhận nên cuộc thương lượng kéo dài, có lợi cho Nhật. Lấy cớ làm cho mối bang giao Mỹ - Nhật bớt căng thẳng, phái đoàn Nhật đề nghị Chính phủ Mỹ cho tàu buôn Nhật cập bến một số cảng ở Mỹ và quần đảo Hawaii. Phía Mỹ chấp thuận đề nghị này. Ngày 1 tháng 11 năm 1941, chiếc tàu buôn Tairo Maru của Nhật được phép cập cảng Honolulu. Tổng lãnh sự Nhật tại Hawaii đã bí mật chuyển về nước các tin tức tình báo, trong đó có bản đồ chi tiết về Trân Châu Cảng, giúp Bộ Tham mưu Nhật củng cố quyết tâm và bổ sung vào phương án tiến công.

Cuộc tiến công dự định được chia làm hai đợt. Đợt thứ nhất sẽ là đòn tiến công chủ lực, trong khi đợt thứ hai sẽ hoàn tất những công việc còn lại. Đợt thứ nhất mang theo phần lớn vũ khí, chủ yếu là ngư lôi để tiến công các tàu chủ lực. Phi công được lệnh phải chọn những mục tiêu có giá trị cao nhất có mặt tại Trân Châu Cảng để tiến công, còn máy bay ném bom bổ nhào được sử dụng để tiến công các mục tiêu mặt đất. Trong khi đó, máy bay tiêm kích được yêu cầu phải bắn phá các sân bay và tiêu diệt số máy bay đậu trên mặt đất càng nhiều càng tốt nhằm đảm bảo chúng không thể cất cánh để phản công lại các máy bay ném bom, đặc biệt là trong đợt đầu tiên. Khi những máy bay tiêm kích bị cạn nhiên liệu, chúng sẽ được tiếp nhiên liệu từ các tàu sân bay rồi quay trở lại chiến đấu, sau này sẽ làm nhiệm vụ tuần tra chiến đấu trên không ở nơi cần thiết, đặc biệt là bên trên các sân bay Mỹ.
Hạm đội đặc nhiệm Nhật Bản (hay còn gọi là lực lượng tiến công Trân Châu Cảng) gồm 6 tàu sân bay, 2 thiết giáp hạm, 3 tàu tuần dương, 9 tàu khu trục, 8 tàu chở dầu, 5 tàu ngầm làm tiền đồn và 414 máy bay do Đô đốc I. Yamamoto chỉ huy[3]. Phối hợp với lực lượng đặc nhiệm còn có một hạm tàu ngầm với 23 chiếc, chia thành 4 đội ở3 căn cứ khác nhau trên biển Nhật Bản. Từ đêm 18 tháng 11, 4 đội tàu ngầm lần lượt xuất phát, tiến về phía quần đảo Hawaii.
Về phía Mỹ
Sau khi đại sứ Mỹ tại Nhật báo cáo về nguy cơ xảy ra xung đột Nhật - Mỹ thì Nhật Bản sẽ tiến công bất ngờ vào Trân Châu Cảng bằng tất cả lực lượng và phương tiện của mình, nhưng các giới chức quân sự Mỹ đều khẳng định Nhật Bản không thể tiến công Trân Châu Cảng. Giới lãnh đạo Mỹ cũng tin rằng, có thể tránh được một cuộc chiến tranh với Nhật bởi họ hy vọng Nhật sẽ tiến công Liên Xô, đồng thời tương quan lực lượng Nhật - Mỹ lúc bấy giờ là 1 so với 10 mà ưu thế thuộc về phía Mỹ. Riêng về quân sự, ưu thế đó có phần giảm xuống nhưng cũng vẫn là 5/1 về máy bay và 2/1 về tàu chiến... Vì vậy, Chính phủ Mỹ cho rằng, Nhật sẽ không dám đánh Mỹ nếu như Mỹ không chủ động đánh trước. Mỹ đã liên tiếp nhượng bộ Nhật trong một loạt các sự kiện, chỉ đến khi Nhật chiếm Đông Dương, Mỹ mới tỏ ra cứng rắn và đã cấm xuất khẩu dầu mỏ sang Nhật. Trước đó, Tổng thống Mỹ F. Roosevelt điều Hạm đội Thái Bình Dương đến Hawaii và yêu cầu xây dựng một lực lượng quân sự lớn ở Philippines với hy vọng có thể làm nản lòng Nhật Bản trong việc tiếp tục xâm chiếm miền Viễn Đông. Hành động của Mỹ được giới quân sự Nhật Bản xem là nước này đang chuẩn bị cho một cuộc đối đầu tiềm tàng giữa hai quốc gia. Đến cuối năm 1941, các căn cứ và cơ sở quân sự Mỹ tại Thái Bình Dương đã nhiều lần bị đặt trong tình trạng báo động và nguy cơ xung đột giữa Mỹ và Nhật Bản ngày càng hiện hữu. Tuy nhiên, Mỹ cho rằng, Philippines sẽ bị tiến công trước tiên do mối đe dọa mà nó đặt ra cho con đường vận chuyển trên biển của người Nhật về phía Nam và một phần cũng do sai lầm trong nhận định của người Mỹ rằng, Nhật không có khả năng thực hiện cùng một lúc hai đợt tiến công bằng lực lượng hải quân.
Hạm đội Thái Bình Dương tập trung tại Trân Châu Cảng 96 hạm tàu, nhưng tại thời điểm chuẩn bị diễn ra cuộc tiến công của Nhật, chỉ còn hơn một nửa lực lượng. Tuy nhiên, đó vẫn là một lực lượng rất hùng hậu với 8 tàu thiết giáp, 8 tàu tuần dương, 29 tàu khu trục và phóng lôi, 5 tàu ngầm, 9 tàu rải mìn, 10 tàu quét mìn, 3 tàu sân bay và một số tàu vận tải, 394 máy bay. Lực lượng đồn trú tại căn cứ có 42.959 quân, do Đô đốc Husband Kimmel chỉ huy. Cảng được phòng thủ bằng hệ thống vật cản dưới nước kết hợp với cảnh giới bằng tàu tuần tiễu ở phía nam và máy bay trinh sát thường xuyên trên không phận. Đánh giá về khả năng phòng thủ tại Trân Châu Cảng, cả Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Henry Stimson và Tổng tham mưu trưởng Lục quân G. Marshall đều khẳng định: "Nhờ sự phòng thủ vững chắc của mình, nhờ những lực lượng đồn trú, nhờ những đặc điểm của thiên nhiên, đảo Oahu có thể coi là pháo đài mạnh nhất thế giới"[4].
III. DIỄN BIẾN
Đêm 17 rạng ngày 18 tháng 11 năm 1941, toàn bộ Hạm đội đặc nhiệm Nhật Bản gồm 6 tàu sân bay cùng một số tàu hộ tống và tàu chở dầu tiếp nhiên liệu về tập kết tại căn cứ hải quân Tacon trên quần đảo Curin. Ngày 25 tháng 11 năm 1941, dưới quyền chỉ huy của Phó Đô đốc Nagumo Chuichi, hạm đội bí mật rời căn cứ tập kết, tiến về phía Trân Châu Cảng. Hành trình được lựa chọn đi qua những vùng mây thấp, sương mù và rất ít tàu buôn đi lại. Trên hải trình dài 6.300km, các tàu chiến Nhật giữ bí mật tuyệt đối về thông tin liên lạc, trao đổi bằng vô tuyến giả, như đi trên lãnh hải Nhật. Nhằm đảm bảo bí mật, đoàn tàu được lệnh đánh chìm mọi tàu bè của các nước trung lập, nếu gặp tàu Mỹ trước ngày 6 tháng 12 thì hủy bỏ cuộc hành quân quay trở về, gặp trong ngày 6 thì tùy theo tình hình mà có quyết định thích hợp, còn gặp trong ngày 7 thì tiến công tiêu diệt trong bất cứ tình huống nào. Theo đúng kế hoạch dự tính, trong suốt hành trình hơn 10 ngày, đoàn tàu không gặp một tàu bè nào khác trên đường đi.
Sáng ngày 6 tháng 12, khi đoàn tàu cách đảo Oahu 600 dặm về phía Bắc - Tây Bắc, Phó Đô đốc Nagumo nhận được bức điện: "Hãy trèo lên đỉnh Nitaca", mật ngữ có nghĩa là: Bộ Tham mưu quân Nhật ra lệnh cho hạm đội thực hiện tiến công Trân Châu Cảng theo như dự kiến. Đoàn tàu được tiếp nhiên liệu lần cuối cùng và chuyển hướng Đông Nam, tăng tốc để tiến đến mục tiêu. Trước khi cuộc tiến công được thực hiện, hai máy bay trinh sát được phóng lên từ các tàu tuần dương để thám sát bên trên đảo Oahu và báo cáo về thành phần và vị trí của hạm đội đối phương. Bốn chiếc máy bay thám sát khác sẽ tuần tra trong khu vực đoàn tàu để lực lượng đặc nhiệm không bị phản công bất ngờ.
5 giờ ngày 7 tháng 12, hạm đội đã tới khu vực triển khai tại Bắc đảo Oahu, cách Trân Châu Cảng 200 hải lý. Nagumo ra lệnh chuyển đội hình hành quân thành đội hình chiến đấu. Để đánh lạc hướng đốì phương, đêm 6 rạng ngày 7 tháng 12, Nhật cho tàu khu trục bắn vào đảo Midway và 5 tàu ngầm nhỏ hoạt động ở cảng. Mặc dù đã được thông báo chính thức rằng, Hạm đội Thái Bình Dương hiện đang tập trung ở Trân Châu Cảng, Chỉ huy Hạm đội Nagumo vẫn quyết định kiểm tra lại một lần nữa. 5 giờ 30 phút, 4 chiếc máy bay được lệnh đi trinh sát, trong đó hai chiếc đến Trân Châu Cảng và hai chiếc đến cảng Lahaina trên đảo Maui.
Trong khi đó, về phía Mỹ, ngày 26 tháng 11, vài giờ sau khi hạm đội đặc nhiệm của Nhật rời khỏi vịnh Hitokabu, người chịu trách nhiệm theo dõi hoạt động của các chiến hạm Nhật đã mật báo về Phòng Tình báo hải quân Trân Châu Cảng rằng, 6 tàu sân bay của Nhật "vẫn còn ở trong nước". Kể từ đó, hải quân Mỹ hoàn toàn bị mất dấu vết của các tàu sân bay đó, nhưng cũng không có biện pháp đề phòng những con tàu mất tích này. Sáng ngày 5 tháng 12, một tàu khu trục của Mỹ phát hiện được tiếng động cơ tàu ngầm lạ ở gần đảo Oahu. Trưa cùng ngày, một khu trục hạm khác cũng phát hiện như vậy và thuyền trưởng dự định thả bom chìm để đánh tàu ngầm, nhưng cấp trên không chấp thuận vì cho đó là cá voi. Sáng ngày 7 tháng 11 là ngày chủ nhật, hầu hết các sĩ quan và thủy thủ trên tàu chiến Mỹ đều được lên bờ nghỉ cuối tuần từ tối thứ bảy. Đây chính là thời điểm mà người Nhật lựa chọn để bắt đầu cuộc tiến công.
Đúng 6 giờ 20 phút, lệnh xuất kích được ban hành. 7 giờ 30 phút, các máy bay trinh sát báo về kỳ hạm của Phó Đô đốc Nagumo vị trí chính xác của các tàu chiến Mỹ tại Trân Châu Cảng và ở Lahaina không có lực lượng của Hạm đội Thái Bình Dương. Ngay sau đó, cuộc tập kích bắt đầu và diễn ra qua hai đợt.
Đợt 1: từ 7 giờ 55 phút (13 giờ 20 phút giờ Washington)
Không kích các tàu chiến Mỹ và bắn phá các khu vực sân bay, kho tàng trên đảo. Nhật sử dụng 183 máy bay cất cánh từ phía Bắc Oahu do Đại tá Fuchida chỉ huy[5], chia thành ba nhóm:
Nhóm thứ nhất, gồm các máy bay ném bom ngư lôi đánh các mục tiêu thiết giáp hạm và tàu sân bay;
Nhóm thứ hai, gồm các máy bay ném bom cường kích đánh mục tiêu đảo Ford và Wheeler;
Nhóm thứ ha, gồm các máy bay tiêm kích đánh các sân bay ở Oahu và thực hiện kiểm soát trên không.
Mặc dù bị rađa của lục quân Mỹ phát hiện khi còn cách 136 hải lý, nhưng lại nhầm chúng với những máy bay ném bom của không quân Mỹ đến từ lục địa nên việc cất cánh của không quân Nhật diễn ra tương đối an toàn.
Để phát lệnh tiến công, quân Nhật phát đi mật mã "To... To...To" với một phát súng báo hiệu màu đen, đây là hiệu lệnh tiến công trong điều kiện đối phương bị bất ngờ. Đúng 7 giờ 53 phút, ngay trước khi quả bom đầu tiên rơi xuống Trân Châu Cảng, quân Nhật phát đi mật mã thứ hai "Tora... Tora... Tora", có nghĩa là cuộc tiến công đã được đảm bảo hoàn toàn bất ngờ. Hai quả ngư lôi đầu tiên đã đánh trúng thiết giáp hạm Oklahoma. Hai giây sau, thêm hai quả nữa đập mạnh vào sườn tàu và nổ tung. Những loạt ngư lôi tiếp theo đánh trúng chiếc Utah, sau đó là các thiết giáp hạm West Virginia, California, Arizona, Maryland... Người Mỹ cho rằng, độ sâu của vịnh biển chỉ khoảng 10m, không thể phóng ngư lôi được, cho nên họ chỉ đề phòng máy bay ném bom và tàu ngầm mà không thả lưới ngăn ngư lôi quanh các chiến hạm. Họ đã hoàn toàn bất ngờ chứng kiến phát minh mới của người Nhật về cách sử dụng ngư lôi ở biển nông: những chiếc máy bay bay sát mặt biển với tốc độ chậm để phóng ra những quả ngư lôi lướt trên mặt nước với tốc độ cũng rất chậm, chỉ khoảng 30-40 hải lý/giờ.
Khi những chiếc tàu chiến bị đánh chìm, hàng nghìn người hoặc bị chết theo tàu, hoặc cố gắng bơi ra khỏi các con tàu đang bị cháy vào bờ đảo Ford nhưng mặt nước bị ngập dầu hơn 3cm, bắt cháy như một biển lửa. Phần đông những người nhảy xuống nước đều chết cháy.
Sau khi bị đánh trúng trạm hàng không của hải quân trên đảo Ford, đài báo hiệu của Mỹ ở Trân Châu Cảng mới báo động cho Bộ Tư lệnh Hạm đội bằng điện thoại. Ba phút sau, vào lúc 7 giờ 58 phút, quân Mỹ mới phát thanh bằng vô tuyến điện: "Không kích bất ngờ Trân Châu Cảng - không phải là diễn tập". Đến 8 giờ, tin đó được điện về Washington và thông báo cho các hạm tàu trên biển. Hỏa lực phòng không từ các chiến hạm và trên bờ bắn lên mỗi lúc một mạnh. Trên nhiều chiến hạm, người ta buộc phải phá các cửa của hầm chứa vũ khí đạn dược vì không có thời gian để tìm chìa khóa. Những đám khói của đạn phòng không mỗi lúc một dày đặc, phần nào gây khó khăn cho các phi công Nhật. Hỏa lực phòng không của Mỹ bắn lên tuy có mạnh nhưng lại thiếu tổ chức nên kết quả rất hạn chế. Sau 40 phút tiến công mãnh liệt, quân Nhật đã loại khỏi vòng chiến đấu phần lớn các tàu chiến Mỹ; phá hủy, bắn rơi hàng chục máy bay, chết hàng nghìn người.
Đợt 2: từ 8 giờ 40 phút đến 9 giờ 15 phút
Đúng 7 giờ 15 phút, các máy bay của đợt tiến công thứ hai bắt đầu cất cánh, bao gồm 171 máy bay (54 chiếc B5N, 81 chiếc D3A và 36 chiếc A6M)[6], chia thành ba nhóm:
Nhóm thứ nhất, đánh phá các mục tiêu kho và máy bay tại các sân bay Kaneohe, đảo Ford, Barberspoint và Hickam;
Nhóm thứ hai, đánh phá mục tiêu các sân bay và tuần dương hạm, được tổ chức thành 4 đội;
Nhóm thứ ha, đánh phá mục tiêu máy bay tại các sân bay Ford, Hickam, Wheeler, Barberspoint, Kaneohe.
8 giờ 50 phút, các máy bay của đợt tiến công thứ hai tiếp cận Oahu theo hướng ngược với đợt 1: vòng qua bờ đông của đảo để tiến tới mục tiêu. Với sự yểm trợ của 36 chiến đấu cơ, 54 máy bay ném bom độ cao hướng tới các sân bay và 78 máy bay ném bom bổ nhào đã ập tới Trân Châu Cảng. 8 giờ 55 phút, cuộc tiến công đợt hai bắt đầu. Tuy nhiên, do khói mịt mù và hỏa lực phòng không cực mạnh của Mỹ đã làm cho các phi công Nhật mới nhập cuộc khó có thể ném bom chính xác. Chỉ huy đợt 1 Fuchida ra lệnh cho các máy bay vừa hoàn thành nhiệm vụ quay trở về, còn mình thì nhập vào đợt 2, đã lập tức bắt liên lạc với Chỉ huy đợt 2 Shimazaki để chỉ dẫn và giao nhiệm vụ cho các phi công mới tới. Các máy bay ném bom bổ nhào đã nhanh chóng xác định được mục tiêu của mình, đánh tiếp vào các thiết giáp hạm còn lại và tiến công các tuần dương hạm, khu trục hạm.
Từ trên không nhìn qua màn khói, các máy bay Nhật thấy rõ chiếc Nevada đang di chuyển. Khi thiết giáp hạm đã tiến vào luồng lạch, máy bay Nhật đã dồn dập tiến công nhằm đánh chìm để bịt kín lối ra vào Trân Châu Cảng. Mặc dù bị 6 quả bom bắn trúng, nhưng chiếc Nevada vẫn ngoan cường bắn trả mãnh liệt và tiếp tục tiến lên. Đến 9 giờ 10 phút thì tàu bị mắc cạn ngay gần lối ra vào cảng. Trong suốt trận đánh, trên chiếc Nevada có 50 người chết và hơn 100 người khác bị thương, nhưng con tàu đã không bị đánh chìm.
Thiết giáp hạm Pennsylvania, kỳ hạm của Hạm đội Thái Bình Dương với hai khu trục hạm đứng sát hai bên cùng đậu ở ụ tàu. Nước trong ụ tàu được hút ra, các chiến hạm được hạ xuống và những tấm chắn cao của ụ tàu khô đã che chở cho các chiến hạm bên trong thoát khỏi đòn giáng của ngư lôi Nhật. Nhưng cũng chính những tấm chắn này lại che khuất tầm nhìn của các xạ thủ phòng không trên tàu, khiến cho họ không quan sát được máy bay địch từ xa và luôn bị tiến công bất ngờ. Nhờ có sự trợ giúp của người thợ lái chiếc cần cẩu gần đó và hai khu trục hạm hứng đạn thay nên thiết giáp hạm Pennsylvania chỉ bị trọng thương mà chưa bị đánh chìm. Theo nhận định về phía Nhật, các máy bay đợt 2 đã lao vào tiến công những chiến hạm có hỏa lực phòng không mạnh nhất, bởi vì những chiến hạm này bị tổn thất ít hơn trong đợt tiến công thứ nhất. Trong đợt 2 này, có thêm 3 tuần dương hạm nhẹ bị đánh trọng thương, còn một chiếc khu trục hạm bốc cháy...[7]
Trong số 5 chiếc "tàu ngầm bỏ túi" của Nhật định bí mật vào cảng, có hai chiếc đã mất tích trong đêm trước, một chiếc bị khu trục hạm Hawk tiêu diệt lúc sáng sớm. Chiếc thứ tư theo đuôi một chiến hạm Mỹ lọt vào được trong cảng làm xong nhiệm vụ, nhưng không hiệu quả đã bị nổ tung vì bom chùm của Mỹ, chỉ còn một chiếc cuối cùng vừa thoát khỏi đòn giáng của khu trục hạm Helm, nhưng lại đụng phải đá ngầm và chìm. Một trong hai thủy thủ bị bắt, trở thành tù binh Nhật Bản đầu tiên của Mỹ.
Ngoài 5 chiếc tàu ngầm cực nhỏ đã bị tiêu diệt, một tàu ngầm lớn khác của Nhật cũng bị chìm ở gần lối vào Trân Châu Cảng. Đó là những thiệt hại về tàu ngầm của Nhật trong cuộc tiến công Trân Châu Cảng.
Nếu như hải quân Mỹ chỉ lo đối phó với tàu ngầm thì lục quân và không quân của lục quân trên đảo chỉ đề phòng lực lượng phá hoại, mà không đối phó với một cuộc tiến công bằng không quân. Theo lệnh của Tướng Short, máy bay trên các tàu sân bay được xếp thành từng tốp sát cánh và thẳng hàng với nhau trên những bãi đậu hoàn toàn trống trải. Việc không quân Mỹ bố trí như vậy là để chống phá hoại máy bay nhưng vô hình chung lại tạo điều kiện lý tưởng để không quân Nhật tiêu diệt chúng. Các thủy phi cơ tại căn cứ Kaneohe của hải quân cũng xếp hàng thẳng tắp. Vì vậy, chỉ ít giây sau khi loạt bom đầu tiên rơi xuống sân bay Wheeler, căn cứ chính của các chiến đấu cơ, khi các sĩ quan không quân đang ngủ choàng tỉnh dậy, tưởng rằng động đất hoặc máy bay hải quân đang diễn tập, nhưng khi ra ngoài, họ đã hiểu: máy bay Nhật đang nối tiếp nhau bổ nhào xuống ném bom sân bay. Những tốp máy bay Mỹ đậu sát nhau trên bãi đã bùng cháy.
Tại sân bay Hickam, căn cứ chính của các máy bay ném bom Mỹ ở cách Wheeler 20km về phía Nam, lúc 7 giờ 55 phút các máy bay ném bom của Nhật thực hành đòn tiến công mãnh liệt, phá hủy hầu hết các máy bay đang đậu trên sân bay đều bị tàn phá. Lục quân và không quân trên đảo được báo động gần như cùng lúc với hải quân. Từ các sân bay, binh lính Mỹ sử dụng bất cứ loại vũ khí nào kiếm được để bắn lên trời từ súng máy, súng trường cho đến súng ngắn, nhưng hỏa lực chủ yếu vẫn dựa vào hơn 100 khẩu pháo phòng không và hơn 100 súng máy cỡ lớn nhưng vì thiếu tổ chức phối hợp nên không gây thiệt hại đáng kể cho máy bay Nhật.
Chỉ trong ít phút đầu, các căn cứ không quân của lục quân ở Wheeler, Hickam, Bellows cũng như các căn cứ không quân của hải quân ở Kaneohe, đảo Ford và sân bay Ewa... Phối hợp với các máy bay bổ nhào, các chiến đấu cơ của Nhật cũng sà xuống xả súng vào các sân bay và các ổ phòng không. Vì vậy, không một máy bay nào của hải quân Mỹ có thể cất cánh, các thủy phi cơ thì bị bắn chìm hoặc bị cháy ngay trong nhà để máy bay. Các phi công của hải quân trên đảo Ford mất hầu hết máy bay, chỉ có thể ẩn nấp đằng sau những cây cọ già để chiến đấu. Trên tất cả các sân bay của lục quân Mỹ chỉ còn 10 máy bay có thể cất cánh. Trong trận không chiến không cân sức trên bầu trời Oahu, các máy bay đã bắn rơi được 11 máy bay Nhật[8].
Khoảng 8 giờ, các pháo đài bay khổng lồ B-17 có 4 động cơ của Mỹ đã tới Oahu sau khi hoàn tất chuyến bay kỷ lục 14 giờ không nghỉ. Phi đội đầu tiên gồm 6 chiếc, quan sát thấy nhiều máy bay lượn vòng trên đảo đều cho rằng, không quân Mỹ ở đảo đang bay lên đón chào đội bay, nhưng khi các chiến đấu cơ của Nhật tiếp cận đến gần các pháo đài bay và bắn xả vào các máy bay Mỹ thì chỉ huy phi đội bay mới nhận rõ tình hình. Các pháo đài bay vội vã thoát khỏi vòng chiến sự để tìm nơi hạ cánh. Dưới làn hỏa lực từ các súng máy của máy bay Nhật và hỏa lực phòng không Mỹ, 5 pháo đài bay lần lượt đáp xuống sân bay Hickam giữa những chiếc máy bay đang bốc cháy trên mặt đất. Chiếc còn lại bay lên phía Bắc và hạ xuống sân bay Bellows đang bị tàn phá.
Phi đội thứ hai gồm 6 chiếc B-17 cũng dự định đáp xuống Hickam, nhưng trước tình hình nguy hiểm ở đây đã buộc các phi công phải bay phân tán đi nhiều hướng. Hai chiếc đến Wheeler nhưng bị bắn mạnh nên phải vòng về Haleiwa và hạ cánh một cách khó khăn trên đường băng quá ngắn của sân bay này. Một chiếc khác bay lên mỏm cực Bắc của đảo Oahu để đáp xuống một bãi đất hoang gần biển. Ba chiếc còn lại liều mạng hạ cánh xuống sân bay Hickam giữa làn đạn phòng không bắn xối xả. Trên thân các pháo đài bay, ngoài phù hiệu không quân còn có hàng chữ "USARMY" viết rất lớn. Trong cơn hoảng loạn, các xạ thủ phòng không Mỹ hoặc đã không nhận thấy hoặc cho rằng, quân Nhật đã sơn lên máy bay để đánh lừa họ. Nhờ có vỏ thép dày và cấu tạo đặc biệt, các pháo đài bay Mỹ không bị đạn súng máy và đạn phòng không hủy diệt. Mặc dù bị một số tổn thương, nhưng tất cả đều hạ cánh an toàn.
Tàu sân bay Enterprise sau khi hoàn tất việc đưa một hạm tàu và các chiến đấu cơ trên đảo Wake, đã trở về căn cứ. Sáng ngày 7 tháng 12, còn cách đảo Oahu khoảng 200 dặm về phía Tây, khi chưa được biết về cuộc tiến công Trân Châu Cảng, Đô đốc tàu Halsey đã phái một đoàn máy bay gồm 19 chiếc bay về phía trước để thăm dò tình hình và báo cáo với Bộ Tư lệnh Hạm đội về nhiệm vụ đã hoàn thành. Gần 8 giờ 30 phút, tốp đầu tiên trong sốđó gồm 6 máy bay phóng ngư lôi đã tiếp cận Trân Châu Cảng và chứng kiến một cảnh tượng mà các phi công của đội bay cho là "cuộc diễn tập ngày chủ nhật"[9]. Khi chuẩn bị hạ cánh xuống sân bay trên đảo Ford, tốp máy bay bị các chiến đấu cơ của Nhật bám đuôi và bắn xối xả đồng thời với hỏa lực phòng không Mỹ cũng tập trung bắn vào họ. Lúc các phi công hiểu rõ sự tình thì đã muộn, 5 chiếc bị bắn rơi, còn một chiếc đáp xuống được sân bay nhưng đầy thương tích.
Tốp máy bay còn lại của phi hành đoàn xuất phát từ tàu sân bay Enterprise đến Trân Châu Cảng lúc 9 giờ và không còn để lại một dấu vết gì. Đó là lúc hỏa lực phòng không Mỹ bắn dữ dội nhất và cũng là lúc các máy bay Nhật thuộc đợt thứ hai bước vào thực hành tiến công.
Giữa lúc cuộc tiến công đang diễn ra sôi động khắp Oahu, tại Honolulu, thủ phủ của Hawaii nằm cách Trân Châu Cảng khoảng 6 dặm về phía Đông, cuộc sống của người dân vẫn diễn ra bình thường, cả thành phố Honolulu chỉ bị một quả bom Nhật lạc hướng rơi trúng. Còn 40 vụ nổ khác trong thành phố là do lực lượng phòng không Mỹ gây ra, làm 68 dân thường chết và bị thương.
Đúng 9 giờ 45 phút, Mitsuo Fuchida ra lệnh cho tất cả các máy bay Nhật quay về mũi đất Kaena để về hạm đội, kết thúc cuộc tiến công. Gần 10 giờ sáng, lần lượt các máy bay phóng ngư lôi, máy bay ném bom và sau cùng là các chiến đấu cơ của đợt tiến công thứ nhất đã quay về đoàn chiến hạm "Kido-Butai". Một giờ sau, đến lượt các máy bay của đợt hai hạ cánh. Các máy bay vừa mới trở về lập tức được sửa chữa, nạp nhiên liệu, lắp vũ khí để chờ lệnh xuất kích. Khoảng giữa trưa, chiếc máy bay cuốỉ cùng - máy bay của Fuchida đáp xuống boong kỳ hạm Akagi. Đúng 13 giờ, Đô đốc Nagumo ra lệnh nhổ neo và toàn thể các chiến hạm của “Kido-Butai” quay sang hướng Tây thẳng tiến về biển Nhật Bản.
IV. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ TRẬN ĐÁNH
Qua 90 phút kể từ khi bắt đầu với hai đợt tiến công vào Trân Châu Cảng, hải quân Nhật giành thắng lợi lớn: đánh chìm và phá hủy 18 tàu chiến, trong đó có toàn bộ thiết giáp hạm đậu tại cảng (5 thiết giáp hạm bị đánh chìm, 3 chiếc khác hư hỏng nặng, 3 tuần dương hạm bị hư hỏng, 3 khu trục hạm bị trọng thương, 4 tàu cứu hộ bị chìm hoặc bị trọng thương), Trong số hơn 400 máy bay Mỹ có mặt tại Hawaii, có 188 chiếc bị phá hủy và 159 chiếc bị hư hỏng. Hầu như không có chiếc máy bay nào thực sự sẵn sàng để cất cánh nhằm bảo vệ căn cứ. Trong số33 chiếc thủy phi cơ PBY ở Hawaii, có 24 chiếc bị phá hủy và 6 chiếc khác bị hư hỏng nặng. Thương vong của Mỹ lên tới 3.684 người, trong đó có 2.345 quân nhân và 57 dân thường thiệt mạng, 1.247 quân nhân và 35 dân thường bị thương (theo số liệu của Mỹ)[10]. May mắn cho Mỹ, các tàu sân bay đã được di chuyển khỏi hạm đội từ trước và không bị hứng chịu đòn tiến công của Nhật. Nếu không, khả năng tiến hành các chiến dịch tiến công của Hạm đội Thái Bình Dương sẽ bị tê liệt trong khoảng một năm. Và đây sẽ là lực lượng chính cùng với tàu ngầm sẽ là những vũ khí chính giúp Mỹ chặn đứng và làm đảo ngược thế thượng phong của Nhật Bản sau này.
Phía Nhật mất 29 máy bay (phần lớn do bị tai nạn khi trở về hạ cánh trên tàu sân bay, gồm 9 chiếc trong đợt tiến công thứ nhất, 20 chiếc trong đợt thứ hai) và 74 chiếc khác bị hư hỏng do hỏa lực phòng không Mỹ từ mặt đất, 5 tàu ngầm bé (trong đó có 4 chiếc bị đánh chìm, 1 chiếc bị mắc cạn), thương vong 65 quân nhân, 1 quân nhân bị bắt làm tù binh[11].
Thắng lợi của Nhật ở Trân Châu Cảng đã làm tê liệt Hạm đội Thái Bình Dương trong nhiều tháng, tạo điều kiện cho Nhật giành quyền khống chế trên biển, mở rộng địa bàn xâm lược ra các nước Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương, đánh chiếm Malaysia, Singapore (2.1942), Indonesia (3.1942), Myanmar, Philippines, uy hiếp Ấn Độ, Australia ở giai đoạn đầu Chiến tranh Thái Bình Dương trong Đại chiến thế giới lần thứ hai.
Sau thất bại trong trận Trân Châu Cảng, Mỹ buộc phải trực tiếp tham gia chiến tranh chống phát xít. 12 giờ 30 phút ngày 8 tháng 12, Tổng thống Mỹ Roosevelt đọc Tuyên cáo chiến tranh của Mỹ đối với Nhật Bản. Như thế, Mỹ đã chính thức bước vào cuộc chiến tranh tổng lực với Nhật Bản. Trong ngày 7 tháng 12, Australia cũng tuyên chiến với Nhật và một ngày sau đến Hà Lan. Tiếp đó là New Zealand, Canada... với tất cả 20 nước cũng lần lượt tuyên chiến với Nhật.
Từ những thất bại của Mỹ và thắng lợi của Nhật Bản trong trận Trân Châu Cảng có thể rút ra một số vấn đề sau:
Thứ nhất, thất bại của Mỹ là một bài học về mất cảnh giác, không sẵn sàng chiến đấu và chủ quan khinh địch, việc tiến hành trinh sát và phòng thủ không hợp lý.
Hầu như tất cả các lực lượng hải quân của Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ tại Trân Châu Cảng đều không nắm được toàn bộ hoạt động của hải quân Nhật Bản, mà họ đã và đang tiến hành hết sức chặt chẽ, bí mật để chuẩn bị cho một cuộc tiến công bất ngờ vào Trân Châu Cảng. Đến cuối năm 1941, mặc dù các căn cứ và cơ sở quân sự Mỹ tại Thái Bình Dương đã nhiều lần đặt trong tình trạng báo động; trên các máy bay trinh sát vô tuyến của Mỹ cũng đã thu được các bài sao chép của ngoại giao và nhiều lần phát hiện tàu ngầm của Nhật ở khu vực quần đảo Hawaii; đồng thời, nhiều quan sát viên cũng dự đoán việc Nhật chuẩn bị tiến công và sẽ có cuộc xung đột giữa Mỹ và Nhật, nhưng đã không có sự chuẩn bị cần thiết để tăng cường phòng thủ căn cứ chính của hạm đội và nâng mức sẵn sàng chiến đấu cho các lực lượng trên đảo, coi thường những bài học kinh nghiệm của chiến tranh trên biển.
Thất bại to lớn của Mỹ tại Trân Châu Cảng cũng xuất phát từ nguyên nhân chính, đó là công tác tổ chức trinh sát chiến trường kém, lực lượng phòng thủ sẵn sàng chiến đấu thấp, cũng như sự lúng túng của tư lệnh căn cứ trong phản kích máy bay địch. Mặc dù phát hiện thấy các hoạt động của sĩ quan tham mưu Nhật tại Hawaii nhưng Mỹ lại đánh giá Nhật chưa thể tiến hành tấn công vào Trân Châu Cảng.
Khi Nhật thực hành tiến công Trân Châu Cảng, số lượng pháo và súng máy phòng không Mỹ tại căn cứ tương đối nhiều, nhưng lại thiếu đạn dự trữ ở trận địa và thiếu người sử dụng. Ngay cả pháo phòng không của tàu nói chung cũng không có chuẩn bị trong hệ thống phòng không của căn cứ. Máy bay tiêm kích thì ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu thấp, ở Trân Châu Cảng có 8 trạm rađa, nhưng chỉ có 2 trạm hoạt động, lại không làm việc cả ngày lẫn đêm. Do vậy, khâu yếu nhất trong tổ chức phòng thủ căn cứ chính của Mỹ là phòng không bởi lực lượng này không hề có sự chuẩn bị để sẵn sàng chiến đấu và phản kích máy bay đối phương.
Ngày nay, khi nói đến danh từ Trân Châu Cảng, giới quân sự nước ngoài thường dùng với ý nghĩa "thất bại nặng nề và thảm hại do mất cảnh giác và lơ là, không sẵn sàng chiến đấu". Đó chính là vấn đề lớn nhất đối với quân đội Mỹ trong trận Trân Châu Cảng.
Thứ hai, thắng lợi của Nhật Bản là kết quả của công tác chuẩn bị lâu dài, chu đáo. Công tác chuẩn bị của Hạm đội Nhật để tiến công vào Trân Châu Cảng được thực hiện từ rất lâu và nghiêm túc. Trước lúc thực hiện trận tiến công, Bộ chỉ huy Nhật đã thu được những tin cụ thể về các lực lượng hoạt động ở Trân Châu Cảng và hệ thông phòng thủ căn cứ, nghiên cứu một cách sâu sắc sự kiện Anh tấn công Hạm đội Italia tại cảng Taranto vào năm 1940. Hải quân Nhật cũng đã tiến hành diễn tập kiểm tra tính toán chiến thuật, chiến dịch với sự tham gia của các sĩ quan được cử ra để thực hiện trận đánh. Tất cả những hoạt động này đã giúp cho Nhật lập kế hoạch chính xác và tổ chức tiến công có hiệu quả trong thời gian nhanh chóng.
Từ kinh nghiệm của trận đánh này cho thấy:
Một là, Nhật đã làm tốt công tác tình báo, trinh sát, nắm vững tình hình, bố trí lực lượng của đốì phương. Hầu như mọi diễn biến, quy luật hoạt động của các lực lượng Hạm đội Mỹ tại Trân Châu Cảng đều được chuyển về Nhật kịp thời và bí mật cao, giúp cho quá trình chuẩn bị và triển khai chiến dịch tiến công của Đô đốc Yamamoto diễn ra hết sức chặt chẽ và phù hợp. Nhật Bản đã cài cắm thành công điệp báo tại Honolulu, nên đã thường xuyên cập nhật tình hình đốỉ tượng tác chiến, thực hiện công tác phản gián hiệu quả, làm đối phương không nắm được thông tin về hoạt động thực tế của Hạm đội Nhật. Trinh sát chiến dịch đã làm tốt nhiệm vụ dẫn đường cho hạm đội hành quân tiếp cận và tiến công bằng máy bay vào các mục tiêu của Mỹ. Trinh sát chiến lược nắm chắc quy luật hoạt động của các đài, trạm rađa, nắm chính xác khu vực tuần tra và khu vực trông của không quân Mỹ tại căn cứ và lịch bay cụ thể của các phi đội B-17 từ lục địa ra đảo Oahu.
Hai là, về việc lựa chọn lực lượng, vũ khí tiến công trong trận chiến cho thấy, Nhật đã sử dụng lực lượng máy bay trên các tàu sân bay để thực hiện đòn đánh chủ yếu vào các căn cứ của Mỹ rất có hiệu quả. Đây là một lựa chọn chính xác, xuất phát từ ưu thế của không quân hải quân so với tàu mặt nước và tàu ngầm của Nhật Bản, cũng như đánh giá về đốì phương từ các thông tin do trinh sát, tình báo báo về. Nhật Bản đã thành công trong việc tổ chức công kích các mục tiêu của Mỹ tại Trân Châu Cảng bằng nhiều tốp nhỏ máy bay trên nhiều hướng và ở độ cao khác nhau. Đợt thứ nhất là đòn tiến công chủ lực, trong khi đợt thứ hai sẽ hoàn tất những việc còn sót lại. Các phi công được lệnh phải chọn những mục tiêu có giá trị cao nhất có mặt tại Trân Châu Cảng để tiến công. Máy bay ném bom bổ nhào được sử dụng để tiến công các mục tiêu mặt đất, trong khi đó máy bay tiêm kích được yêu cầu phải bắn phá các sân bay và tiêu diệt số máy bay đậu trên mặt đất càng nhiều càng tốt nhằm đảm bảo chúng không thể cất cánh để phản công lại các máy bay ném bom, đặc biệt là trong đợt đầu tiên. Bên cạnh đó, hải quân Nhật cũng đã nghiên cứu cải tiến ngư lôi để phù hợp với việc phóng từ máy bay trong điều kiện độ sâu có giới hạn của khu vực cảng nhằm đảm bảo các ngư lôi không bị mắc cạn.
Ba là, cuộc tiến công của Nhật vào Trân Châu Cảng diễn ra hết sức bất ngờ và không có bất cứ một lời tuyên chiến chính thức nào được đưa ra. Trong quá trình chuẩn bị, hành quân và triển khai lực lượng tiến công, đoàn tàu chiến của Nhật đã giữ được bí mật tuyệt đối. Về chọn thời gian tiến công, theo kế hoạch, máy bay của hạm đội sẽ tiến công Trân Châu Cảng trước lúc rạng đông nhưng Bộ chỉ huy Hạm đội đã quyết định lùi thời gian lại hai tiếng đồng hồ vào thời điểm ngày chủ nhật là ngày nghỉ, vì vậy, người Mỹ hết sức lơ là, mất cảnh giác. Đồng thời, để bảo đảm bí mật của công tác chuẩn bị và triển khai lực lượng của hạm đội và làm cho Mỹ mất cảnh giác, Chính phủ Nhật đã cử đến Mỹ đoàn ngoại giao để đàm phán về các điều khoản mà hai bên đang cố gắng đạt được.
Từ trận chiến Trân Châu Cảng, có thể khẳng định, thắng lợi to lớn của hải quân Nhật Bản là kết quả của quá trình chuẩn bị và tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động tác chiến chặt chẽ, hiệu quả cùng với nghệ thuật tổ chức đội hình hành quân với đầy đủ các dạng phòng vệ của hạm đội tàu đặc nhiệm lớn và binh đoàn tàu ngầm các loại, bí mật bao vây và tiến công căn cứ hải quân chính của Mỹ trên đảo cách xa hàng nghìn kilômét mà không bị phát hiện. Thất bại của Mỹ là do sự chủ quan, mất cảnh giác, không coi trọng công tác sẵn sàng chiến đấu tại căn cứ.
Trận Trân Châu Cảng mở đầu thời đại của tàu sân bay, một loại hình phương tiện chiến đấu hiện đại của hải quân với nhiều lợi thế mà cho đến ngày nay ngày càng được phát huy tối đa và sử dụng rộng rãi trong mọi loại hình chiến tranh.
Người viết: Thượng tá PHÙNG THỊ HOAN
[1] Do Mỹ chiếm đóng, từ năm 1959 trở thành một bang của nước Mỹ.
[2] Willmott H.P, The Barrier and the Javelin: Japanese and Allied Pacific Strategies, February to June 1942, Annapolis, MD: Naval Institute Press, 1983, p.14.
[3] Nguyễn Huy Quý, Chiến tranh thế giới thứ hai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.96.
[4] Lê Vinh Quốc, Huỳnh Văn Tòng, Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945), Nxb Văn nghệ Thành phố Hổ Chí Minh, 2002, tr.47.
[5] Trong đó có 6 chiếc không thể cất cánh do trục trặc kỹ thuật.
[6] Trong đó có 4 máy bay không thể cất cánh do trục trặc kỹ thuật.
[7] Lê Vinh Quốc, Huỳnh Văn Tòng, Cuộc chiến tranh Thài Bình Dương (1941-1945), Sđd tr.61.
[8] Lê Vinh Quốc, Huỳnh Văn Tòng, Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945), Sđd, tr.66.
[9] Lê Vinh Quốc, Huỳnh Văn Tòng, Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945), Sđd, tr.67.
[10] Conn, Stetson; Fairchild, Byron; Engelman, Rose C; "7- The Attack on Pearl Harbor, Guarding the United States and Its Outposts" Center of Military History United States Army, Washington D.C. 2000 p.194 và "Document text", Peace and War, United States Foreign Policy 1931-1941, Washington D.C.: United States Government Printing Office, 1943, p. 64-65.
[11] Ofstie, Ralph, A., RADM USN, Naval Analysis Division, United States Strategic Bombing Survey (Pacific), The Campaigns of the Pacific War, United States Government Printing Office, Washington, 1946, p.18.