(4-7.6.1942)
Giành thắng lợi trong trận Trân Châu Cảng (7-12-1941), Nhật nắm quyền khống chế trên biển và mở rộng bành trướng xuống phía Nam. Ngày 8 tháng 12, Nhật xâm chiếm Thái Lan. Ngày 10 tháng 12, quân Nhật đánh chiếm đảo Guam. Cùng ngày, lực lượng không quân Nhật đánh chìm các thiết giáp hạm của Anh đang neo đậu tại bờ biển Malaysia. Đến ngày 12 tháng 12, lực lượng hải quân Nhật chiếm toàn bộ đảo Wake, sau đó đánh chiếm Hồng Kông (25-12). Từ tháng 1 đến tháng 2 năm 1942, Nhật Bản tiến công đánh chiếm toàn bộ Malaysia, Singapore khiến quân Anh bị mất nhiều căn cứ quan trọng tại vùng Đông Nam Á. Do lực lượng đồng minh không tổ chức phản công nên các mũi tiến công của Nhật tiếp tục phát triển xuống phía Nam, lần lượt đánh chiếm Indonesia thuộc Hà Lan (1-1942), Miến Điện (3-1942), Philippines (5-1942) và các nước Đông Dương.
Như vậy chỉ trong hơn 5 tháng kể từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1942, Nhật Bản đã chiếm xong một vùng đất rộng 3.800.000km2 và một vùng biển rộng lớn thuộc Thái Bình Dương. Nếu tính cả những vùng đất mà người Nhật đã chiếm trước Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó có một phần lãnh thổ của Trung Quốc và Triều Tiên thì đến cuối tháng 5 năm 1942, phát xít Nhật đã khống chế được một vùng đất có diện tích 7.000.000km2 với dân số lên tới 400.000.000 dân[1]. Sau khi hoàn thành việc đánh chiếm phần lớn các nước Đông Á, Đông Nam Á và các quần đảo quan trọng ở Tây Thái Bình Dương, phát xít Nhật thực hiện chiến lược "phòng thủ từ xa" và quyết định đánh chiếm đảo Midway.
Midway là hòn đảo nhỏ với diện tích khoảng 4,7km2 nằm giữa Thái Bình Dương. Đây là vị trí chiến lược hết sức quan trọng đối với cả Nhật và Mỹ.
Đối với Mỹ, Midway là căn cứ chiến lược tiền tiêu được Mỹ xây dựng thành trung tâm hải - lục - không quân mạnh, đồng thời là cửa ngõ, tấm bình phong phía Tây Bắc đảo Hawaii - nơi đóng Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ. Midway còn là hòn đảo án ngữ tuyến hàng hải xuyên Thái Bình Dương, từ bờ biển phía Tây nước Mỹ sang bờ biển phía Đông châu Á. Sau thất bại trong trận Trân Châu Cảng, lực lượng quân Mỹ tại chiến trường Thái Bình Dương bị đẩy lùi một cách nhanh chóng. Nhiều căn cứ quân sự của Mỹ lần lượt bị đánh chiếm hoặc bị uy hiếp. Trong hai tháng 4 và 5 năm 1942, Nhật lần lượt đánh chiếm các căn cứ hải quân của Mỹ tại Guam, Wake, Mariana,... và tiếp tục phát triển tiến công xuống phía Nam cũng như khu vực trung tâm Thái Bình Dương. Mặc dù tiên liệu được âm mưu bành trướng của Nhật, nhưng phía Mỹ vẫn chưa phán đoán được mục tiêu tiến công tiếp theo của họ. Nhiều sĩ quan cấp cao Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương (CINCPAC) khẳng định, tới đây quân Nhật sẽ tiến công xuống Australia để truy kích lực lượng của tướng Mc Arthun. Số khác thì cho rằng họ sẽ phát triển tiến công sang Ấn Độ Dương để đánh chiếm Ấn Độ, v.v... Câu hỏi về hướng tiến công của quân Nhật sau trận Trân Châu Cảng luôn là một ẩn số khiến Mỹ phải tập trung nghiên cứu và theo dõi. Đầu tháng 5 năm 1942, trên cơ sở phân tích động thái chuyển quân của Nhật Bản và các thông tin tình báo thu được, CINCPAC khẳng định, Nhật Bản sẽ tiến công Hawaii và trước hết sẽ đánh chiếm đảo Midway để thực hiện kế hoạch "phòng thủ từ xa", đồng thời tiến hành chiến lược "bóc vỏ" đã được Nhật đề ra từ đầu năm 1941. Với khẳng định đó, trong suốt thời gian còn lại của tháng 5, Mỹ tập trung nhiều sĩ quan tham mưu có kinh nghiệm lên kế hoạch và phương án đối phó. CINCPAC hạ quyết tâm bằng mọi giá phải giữ được Midway để bảo vệ vòng ngoài cho Hawaii, đồng thời tránh thảm họa thứ hai giống Trân Châu Cảng.
Đối với Nhật, đánh chiếm được đảo Midway không chỉ giúp người Nhật mở rộng quyền kiểm soát Thái Bình Dương nhằm bảo vệ cho những nơi đã chiếm được trên lục địa châu Á, mà còn xây dựng được tuyến phòng thủ từ xa cách Nhật Bản hàng nghìn kilômét. Không những vậy, việc làm chủ được Midway còn giúp Nhật có thể dụ Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ ra để tiêu diệt, đồng thời đẩy Mỹ lui về phòng thủ Hawaii và vùng duyên hải phía Tây nước Mỹ. Trong trường hợp đánh chiếm được Midway, Nhật có thể đánh chiếm được Hawaii rồi từ đó tiến đến quân cảng San Francisco, thậm chí có thể đưa quân đổ bộ lên nước Mỹ.
II. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ
Do tầm quan trọng của đảo Midway, cả Nhật và Mỹ đều muốn giành và giữ hòn đảo này. Để thực hiện nhiệm vụ trên, Nhật đề ra kế hoạch: dùng một lực lượng tiến hành đánh chiếm đảo Kiska, Atu (thuộc quần đảo Aleut) nhằm nghi binh thu hút sự chú ý và kéo lực lượng quân Mỹ ra khỏi Midway; sử dụng tối đa lực lượng hạm đội liên hợp đột kích chớp nhoáng vào Midway nhằm tiêu diệt quân Mỹ đang đồn trú tại đây, đồng thời tiêu diệt các tàu chiến Mỹ đến chi viện và ứng cứu. Tiếp đó, lực lượng đổ bộ sẽ đổ quân chiếm đảo, xây dựng căn cứ không quân để các máy bay Nhật thực hiện nhiệm vụ "săn mồi", đánh chìm các tàu chiến Mỹ di chuyển từ Đông sang Tây Thái Bình Dương.
Để thực hiện kế hoạch trên, Nhật huy động hơn 200 tàu, thuyền các loại, trong đó có: 11 thiết giáp hạm, 8 tàu sân bay, 8 tàu vận tải, 22 tàu tuần dương, 66 tàu khu trục, 22 tàu ngầm và một số lượng lớn các tàu, thuyền khác. Ngoài ra, Nhật còn sử dụng 620 máy bay và 7.450 quân để thực hành đổ bộ lên các mục tiêu[2].
Toàn bộ lực lượng trên được triển khai thành 4 hạm đội với 4 mũi tiến công:
Hạm đội thứ nhất, do đích thân Đô đốc Yamamoto, phối hợp với lực lượng của Phó Đô đốc C. Nagumo chỉ huy, gồm 4 tàu sân bay hạng nặng Akagi, Kaga, Hiryu và Soryu, 2 thiết giáp hạm, 3 tàu tuần dương, 11 tàu khu trục. Hạm đội này đảm nhiệm mũi đột kích chủ yếu, có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt Hạm đội Mỹ ở ngoài khơi Midway, mở đường cho lực lượng đổ bộ lên đảo.
Hạm đội thứ hai, do Phó Đô đốc H. Kondo chỉ huy, gồm 15 tàu vận tải (chở 5.000 quân), 1 tàu sân bay hạng nhẹ, 2 thiết giáp hạm, 10 tàu tuần dương và 21 tàu khu trục, có nhiệm vụ đổ bộ đánh chiếm đảo Midway.
Hạm đội thứ ba, do Phó Đô đốc Hosogaya và Cacuta chỉ huy, gồm 2 tàu sân bay hạng nhẹ, 5 tàu tuần dương, 12 tàu khu trục, 6 tàu ngầm, 8 tàu vận tải (chở 1.150 quân) và một số tàu thuyền nhỏ khác. Lực lượng này có nhiệm vụ tiến theo hướng Bắc về phía quần đảo Aleut (ở cực Bắc nước Mỹ, tiếp giáp giữa Mỹ và Liên Xô) nhằm thu hút lực lượng Mỹ tiến về phía đó. Trong điều kiện cho phép, Phó Đô đốc Hosogaya sẽ cho quân đổ bộ lên Aleut, đánh chiếm hai căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ là Kiska và Atu.
Hạm đội thứ tư, do Phó Đô đốc Curita chỉ huy, gồm 7 thiết giáp hạm, 1 tàu sân bay hạng nhẹ, 3 tàu tuần dương, 21 tàu khu trục, có nhiệm vụ bí mật tiến theo hướng Đông Nam, triển khai cách Midway 600 dặm để phục kích, đánh chặn lực lượng tăng viện Mỹ từ Hawaii về Midway.

Triển khai kế hoạch đã đề ra, từ ngày 25 tháng 5 năm 1942 các hạm đội Nhật bắt đầu xuất phát từ quân cảng, Kure và Saipan tiến về hướng Đông và Đông Bắc. Kế hoạch tiến công đã được ấn định rõ, theo đó, ngày N-5 (2.6.1942), lực lượng chặn viện phải có mặt ở vị trí tập kết; ngày N-3 (4.6.1942), lực lượng nghi binh phải tiến vào vùng biển Aleut, sau đó đến ngày N-l (6.6.1942) phải đổ bộ lên đảo Kiska. Sau khi các lực lượng đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, ngày N (7.6.1942) mũi đột kích của Đô đốc Yamamoto và Phó Đô đốc C. Nagumo sẽ tiến hành đổ bộ lên Midway.
Về phía Mỹ, sau khi Nhật lên kế hoạch đánh chiếm Midway, lực lượng tình báo dã chiến Mỹ đã giải mã được các bức điện chuẩn bị tiến công mà quân Nhật phát đi. Với nguồn thông tin quý giá đó, Bộ chỉ huy quân Mỹ khẳng định, Nhật sẽ đánh chiếm Midway và cử Chuẩn Đô đốc Nimitz - Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương đến Midway để lên kế hoạch đối phó. Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình mọi mặt, Nimitz đề nghị tăng cường cho Midway 16 máy bay ném bom, 30 thủy phi cơ trinh sát, 18 pháo đài bay BI7 cùng nhiều tàu thuyền các loại. Kế hoạch đối phó với quân Nhật cũng được Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương chuẩn bị một cách kỹ lưỡng. Theo đó, Mỹ sẽ không phản ứng khi quân Nhật thực hiện đòn nghi binh chiến lược tại Aleut và Atu; tập trung lực lượng mạnh, bí mật triển khai trận địa phục kích tại khu vực Đông Bắc Midway, nắm chắc thời cơ đánh bất ngờ tiêu diệt Hạm đội Nhật.
Thực hiện kế hoạch đề ra, ngay từ cuối tháng 5 năm 1942, khi các tàu chiến Nhật xuất phát tiến về mục tiêu, Mỹ đã kịp thời báo động cho lực lượng của mình ở các khu vực Midway, Hawaii và nhiều nơi khác tại Thái Bình Dương sẵn sàng chiến đấu. Đến đầu tháng 6, Mỹ đã huy động hai cụm quân, gồm 3 tàu sân bay hạng nặng (233 máy bay), 8 tàu tuần dương hạng nặng, 14 tàu khu trục. Để phòng ngự Aleut, Mỹ triển khai 5 tàu tuần dương, 14 tàu khu trục, 6 tàu ngầm và nhiều máy bay chiến đấu. Toàn bộ lực lượng trên được chia làm 3 cụm chiến đấu:
Cụm thứ nhất, do Đô đốc Nimitz - Tổng tư lệnh lực lượng hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương chỉ huy gồm: 1 tàu chỉ huy, 1 tàu tuần dương, 1 tàu sân bay và 24 tàu thuyền các loại khác.
Cụm đặc nhiệm 16, do Chuẩn Đô đốc Spruance chỉ huy, có 1 tàu chỉ huy, 2 tàu sân bay, 6 tàu tuần dương và 9 tàu phóng lôi.
Cụm đặc nhiệm 17, do Chuẩn Đô đốc Fletcher chỉ huy, có 1 tàu chỉ huy, 1 tàu sân bay, 2 tàu tuần dương và 6 tàu phóng lôi.
III. DIỄN BIẾN
Thực hiện đòn nghi binh chiến lược, chiều ngày 3 tháng 6 năm 1942, 17 máy bay ném bom và máy bay tiêm kích Nhật cất cánh từ tàu sân bay Junyo tiến hành đợt không kích thứ nhất vào quân cảng Hà Lan (Dutch Harbor) - thủ phủ của đảo Aleut. Tuy nhiên, do thời tiết xấu và sương mù dày đặc nên các máy bay Nhật không phát hiện ra mục tiêu. Không thực hiện được ý định trên, ngày hôm sau, Nhật sử dụng 11 máy bay ném bom cỡ nhỏ, 6 máy bay ném bom cỡ lớn và 9 máy bay chiến đấu Zero tiến hành đợt không kích thứ hai vào Aleut. Trong đợt không kích này, mặc dù điều kiện thời tiết vẫn chưa thuận lợi, nhưng do thực hiện trần bay thấp nên các máy bay Nhật đã phát hiện được các mục tiêu, tiến hành oanh tạc và phá hủy nhiều kho nhiên liệu, bến cảng và tàu vận tải của đối phương. Sau khi hoàn thành việc đánh phá các mục tiêu quan trọng, Bộ chỉ huy quân Nhật quyết định sử dụng 550 quân đổ bộ đánh chiếm đảo Kiska và 1.000 quân đánh chiếm đảo Atu[3]. Sáng ngày 4 tháng 6, khi các đơn vị lính thủy đánh bộ Nhật đang thực hiện kế hoạch đổ bộ lên đảo Aleut thì nhận được lệnh phải rút ra khỏi khu vực chiến sự vì lực lượng không quân Mỹ đã phát hiện ra các tàu đổ bộ. Như vậy, toàn bộ kế hoạch nghi binh chiến lược cũng như kế hoạch đánh chiếm Aleut làm bàn đạp tiến công Midway của quân Nhật hoàn toàn thất bại. Yếu tố bất ngờ cho trận quyết định tại Midway cũng bị bại lộ.
Mặc dù phải chịu nhiều tổn thất tại Aleut, nhưng với ý đồ không tham chiến khi quân Nhật thực hiện đòn nghi binh chiến lược, các tàu chiến Mỹ vẫn án binh bất động. Không thực hiện được âm mưu lôi kéo lực lượng hải quân Mỹ ra khỏi Midway, rạng sáng ngày 4 tháng 6, Bộ chỉ huy quân Nhật đứng đầu là Đô đốc Yamamoto ra lệnh cho 108 máy bay chiến đấu từ các tàu sân bay bất ngờ tiến công Midway nhằm tiêu diệt lực lượng không quân, đồng thời phá hủy các công trình phòng ngự của Mỹ trên đảo. Chỉ ít phút sau khi lực lượng không quân Nhật cất cánh, từ màn hình rađa, Bộ chỉ huy quân Mỹ đã phát hiện ra các tốp máy bay Nhật chỉ còn cách Midway vài chục kilômét. Lập tức Fletcher ra lệnh cho 6 máy bay phóng ngư lôi Avenger, 4 máy bay ném bom kiểu Marauder và 25 máy bay tiêm kích cất cánh đánh chặn máy bay địch đang tiến tới Midway. Trận không chiến trên bầu trời Midway diễn ra ác liệt trong hơn 20 phút. Mặc dù bị lực lượng không quân chặn đánh; lưới lửa phòng không của Mỹ tại Midway chống trả quyết liệt, nhưng các máy bay Zero của Nhật đã vượt qua lưới lửa phòng không, trút bom xuống khu vực trung tâm và phía Đông, phá hủy hàng chục máy bay cùng hệ thống hậu cần và công trình phòng ngự của Mỹ tại đảo Midway. Trong trận không chiến ấy, các máy bay chiến đấu Nhật còn bắn hạ 15 máy bay Mỹ, trong khi đó, họ chỉ bị lực lượng phòng không và không quân Mỹ tiêu diệt 6 chiếc.
Kết thúc đợt không kích thứ nhất, không quân Nhật đã gây cho đối phương không ít tổn thất, nhưng về cơ bản họ vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra; chưa tiêu diệt được lực lượng không quân Mỹ trên đảo do phần lớn máy bay Mỹ đã xuất kích tham chiến. Trước tình hình đó vào 7 giờ ngày 4 tháng 6, Bộ Tư lệnh quân Nhật ra lệnh cho Phó Đô đốc C. Nagumo tiến hành đợt không kích thứ hai vào Midway. Khi công tác chuẩn bị đang được tiến hành thì máy bay trinh sát Nhật phát hiện hàng chục máy bay Mỹ xuất phát từ Midway đang bay về phía Hạm đội Nhật và chuẩn bị tiến công vào các tàu sân bay của Nagumo. Nhật vội vã ra lệnh cho các máy bay từ tàu sân bay xuất kích. Chỉ trong ít phút, những chiếc Zero đã bắn hạ 3 máy bay địch. Lực lượng phòng không trên tàu còn bắn rơi thêm hai chiếc nữa khiến 5 máy bay còn lại của Mỹ buộc phải bay vụt lên cao, vội vã phóng ngư lôi vào tàu Akagi, rồi tẩu thoát. Rất may, các ngư lôi đều được thả trên cao nên bay chệch hướng. Tàu chỉ huy Akagi bình an vô sự.
Sau khi đánh thiệt hại nặng đợt tiến công của đối phương vào tàu Akagi, Nagumo cho rằng, lực lượng không quân trên đảo Midway là nguy cơ chính chứ không phải các tàu sân bay. Với nhận định đó, ông quyết định dùng tất cả máy bay hiện có tiến hành đợt oanh kích lần thứ hai vào Midway. Để gây thiệt hại tối đa cho đối phương, Nagumo ra lệnh thay ngư lôi bằng bom cho các máy bay để đánh các sân bay trên đảo. Khi công việc đang trong giai đoạn hoàn tất thì một máy bay trinh sát Nhật phát hiện hạm đội tăng viện Mỹ gồm 10 tàu chiến xuất phát từ Hawaii đang tiến đến gần Midway. Câu hỏi đặt ra cho Nagumo là nên tiếp tục đánh Midway hay chuyển sang đánh hạm đội địch? Nếu trong Hạm đội Mỹ không có tàu sân bay thì vẫn có thể tiến đánh Midway, sau đó quay lại đánh hạm đội. Nhưng nếu trong hạm đội có các tàu sân bay, thì máy bay địch có thể tiến công các tàu chiến Nhật ngay trong lúc chưa hoàn tất thay ngư lôi bằng bom. Để tránh tình trạng trên và để sẵn sàng tiến công hạm đội địch, Nagumo một lần nữa ra lệnh cho các máy bay chấm dứt việc thay ngư lôi bằng bom và lắp lại những quả ngư lôi đã được tháo ra khỏi máy bay. Ông quyết định thay đổi mục tiêu tiến công, từ oanh kích Midway sang tập trung đánh lực lượng tăng viện. Ngay sau khi mệnh lệnh được phát đi, hàng chục máy bay lần lượt cất cánh, tiếp cận mục tiêu và trút bom, ngư lôi xuống tàu chiến Mỹ. Rất may, do điều kiện thời tiết xấu, cộng vào đó, do các tàu chiến Mỹ giữ khoảng cách xa nhau trong đội hình hành quân nên các đợt ném bom của không quân Nhật không gây tổn thất nhiều cho đối phương.
Nhận được tin máy bay Nhật tiến hành oanh kích vào lực lượng tăng viện, Bộ chỉ huy quân Mỹ ra lệnh cho hơn 20 máy bay ném bom và máy bay phóng lôi từ căn cứ không quân Midway cất cánh tiến đánh Hạm đội Nhật. Đúng 8 giờ ngày 4 tháng 6, các máy bay Mỹ tiếp cận mục tiêu. Tuy nhiên, do không được các máy bay tiêm kích yểm trợ nên các máy bay ném bom Mỹ trở thành mục tiêu tiến công của những chiếc Zero. Kết thúc đợt oanh kích, lực lượng không quân Mỹ không những không tìm và tiêu diệt được các tàu sân bay Nhật mà còn bị lực lượng không quân Nhật bắn hạ 4 chiếc. Khi trận không chiến vừa kết thúc thì quân Nhật phát hiện các tàu sân bay Hornet và Enterprise Mỹ chỉ còn cách Hạm đội Nhật chừng 150 hải lý. Đúng khoảng 8 giờ 30 phút, chỉ huy tàu sân bay Enterprise và tàu Hornet ra lệnh cho máy bay ném bom và máy bay phóng lôi từ hai tàu cất cánh tiến đánh Hạm đội Nhật. Do hai lực lượng phối hợp không ăn ý, cộng vào đó, do không có các máy bay tiêm kích yểm trợ nên một lần nữa các máy bay Mỹ trở thành mục tiêu tiến công của những chiếc Zero.
Trong lúc quân Nhật hầu như làm chủ các trận không chiến thì lực lượng hải quân Mỹ vẫn chưa tìm ra vị trí của các tàu sân bay Akagi, Kaga, Hiryu và Soryu. Các trận không chiến diễn ra ở Midway và các khu vực lân cận vì vậy vẫn nghiêng về phía do quân Nhật. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy quân Mỹ quyết định dùng hàng chục máy bay tiến hành trinh sát để săn lùng tàu sân bay của đối phương. Vào khoảng 10 giờ ngày 4 tháng 6, trên độ cao chừng 6km, một máy bay ném bom của tàu Enterprise phát hiện 4 chấm nhỏ màu vàng đang di chuyển trên mặt biển với tốc độ rất chậm theo hướng Đông Nam. Trung tá McCluskey quyết định hạ thấp độ cao và phát hiện đó là các tàu sân bay Nhật. Lập tức ông điện về Bộ chỉ huy và chỉ ít phút sau hàng chục máy bay Mỹ đã xuất hiện tại tọa độ xác định. Trận không chiến giữa lực lượng không quân Mỹ và lực lượng không quân từ các tàu sân bay Nhật bắt đầu.
Với kinh nghiệm thu được trong các trận không chiến trước đây, các máy bay ném bom Mỹ bắt đầu trút bom xuống hai tàu sân bay lớn nhất của Nhật là Akagi, Kaga. Kết quả, cả hai tàu sân bay đều bị thương nặng. Hàng chục máy bay Zero trên boong chưa kịp cất cánh đã trúng bom và không còn cơ hội tham chiến. Sau khi đánh thiệt hại nặng tàu Akagi và Kaga, vào lúc 10 giờ 26 phút, được lệnh của Bộ chỉ huy tại Midway, các máy bay ném bom Mỹ tập trung oanh kích vào tàu Soryu. Chỉ sau 6 phút, toàn bộ boong tàu Soryu bốc cháy. Rất may trước khi diễn ra trận ném bom, một số máy bay Nhật đã kịp cất cánh nên không phải chịu chung số phận như tàu Soryu. Như vậy, chỉ trong hơn hai giờ đồng hồ, lực lượng không quân Mỹ đã làm bị thương và đánh chìm 3 tàu sân bay lớn nhất của Nhật. Đây là 3 tàu sân bay chủ lực trong mũi đột kích trên hướng chủ yếu vào Midway. Sau thất bại trên, lực lượng không quân Nhật hầu như mất khả năng chiến đấu, quyền chủ động trên chiến trường chuyển sang quân Mỹ.
Mặc dù đã tiêu diệt 3 trong số 4 tàu sân bay chủ lực của Nhật, nhưng để tránh đòn tiến công bất ngờ của quân Nhật, từ 12 giờ ngày 4 tháng 6, Bộ chỉ huy quân Mỹ quyết định huy động toàn bộ lực lượng không quân tập trung tìm kiếm và oanh kích tàu Hiryu. Trước sự truy kích của đối phương, chỉ huy tàu Hiryu ra lệnh cho tất cả máy bay cất cánh và tiến hành trận cảm tử với lực lượng hải quân Mỹ. Vào khoảng 12 giờ 45 phút, máy bay trinh sát mang ký hiệu Hoàng đế (Imperial) của Nhật phát hiện tàu sân bay Yorktown đang hành trình lên phía Tây và chỉ cách tàu Hiryu 110 hải lý. Ngay lập tức hàng chục chiếc Zero tiếp cận mục tiêu và trút bom. 12 giờ 52 phút tàu Yorktown bị trúng bom, nghiêng mạn trái và mất khả năng cơ động. Sau khi đánh chìm tàu Yorktown, những chiếc Zero nhanh chóng trở lại tàu Hiryu để tiếp nhiên liệu, sau đó tổ chức tiến công tàu Enterprise và Hornet. Tuy nhiên, do tương quan lực lượng quá chênh lệch, cộng vào đó, do nguồn nhiên liệu cạn dần nên lực lượng không quân Nhật không thực hiện được mục tiêu đề ra; không tiêu diệt được tàu Enterprise và Hornet.
Khi biết quân Nhật đang trong cơn khốn đốn, Bộ chỉ huy quân Mỹ ra lệnh cho hàng chục máy bay cất cánh từ tàu sân bay Enterprise và Hornet tập trung tiến công tàu sân bay cuối cùng của mũi tiến công trên hướng chủ yếu. 16 giờ 30 phút ngày 4 tháng 6, 11 oanh tạc cơ mang loại bom 1.000 cân Anh và 13 chiếc mang bom 500 cân cất cánh từ hai tàu sân bay hướng đến mục tiêu. Đến 17 giờ, phi đội đầu tiên tiếp cận mục tiêu và bắt đầu tiến công. 4 trái bom rơi xuống tàu sân bay Hiryu và làm thủng đường băng, gây đám cháy lớn. Tiếp đó, các phi đội máy bay ném bom B17 lần lượt tiếp cận mục tiêu và trút bom xuống Hiryu, khiến tàu này bị hư hỏng nặng. Nhiều giờ sau đó, quân Nhật cố gắng chế ngự hỏa hoạn nhưng do đám cháy lan sang hầm đạn nên đến 9 giờ sáng ngày 5 tháng 6 tàu Hiryu bị nổ tung và chìm xuống đại dương.
Mặc dù nhận được tin toàn bộ các tàu sân bay của mũi tiến công chủ yếu đã bị đánh chìm, nhưng với quyết tâm đánh chiếm Midway, Đô đốc Yamamoto điện cho các mũi tiến công còn lại bằng mọi giá phải tiếp cận Midway càng sớm càng tốt. Khi nhận được bức điện của Tổng chỉ huy Yamamoto, phần lớn các mũi tiến công vẫn còn cách Midway chừng 350 hải lý về phía Đông nên việc tiếp cận mục tiêu là hết sức khó khăn. Bức điện của Yamamoto ra lệnh cho các mũi tiến công quyết tâm đánh chiếm Midway một lần nữa bị quân Mỹ giải mã. Vì vậy, các tàu chiến Nhật một lần nữa lại trở thành mục tiêu tiến công của lực lượng không quân Mỹ.
Sau khi giải mã được bức điện của Yamamoto, 6 giờ ngày 6 tháng 6, hàng chục máy bay ném bom Mỹ cất cánh từ các tàu sân bay Enterprise và Hornet bay về hướng Tây, tiến công các tàu khu trục và tuần dương hạm của Nhật. 8 giờ sáng ngày 6 tháng 6, 4 chiếc B17 tổ chức tiến công hai tàu tuần dương lớn nhất của Nhật là Mogami và Mikuma, khiến hai tàu này bị hư hỏng nặng. Tiếp đó, trong hai ngày 6 và 7 tháng 6, các máy bay Mỹ tiếp tục quần lượn để tìm và tiêu diệt mục tiêu, khiến các mũi tiến công của Nhật bị đánh thiệt hại nặng. Do không còn hy vọng có thể tiêu diệt lực lượng quân Mỹ trong một cuộc tổng công kích trên biển, ngày 7 tháng 6 năm 1942, Đô đốc Yamamoto ra lệnh hủy bỏ kế hoạch đổ bộ lên đảo Midway, đồng thời chuyển lực lượng còn lại rút về phía Tây. Như vậy, toàn bộ kế hoạch đổ bộ đánh chiếm Midway của Nhật đã thất bại. Hải quân Nhật mất đi phần lớn các tàu sân bay và tàu khu trục vốn được coi là quả đấm thép trên chiến trường Thái Bình Dương. Trái lại với người Nhật, sau khi giành thắng lợi trong trận Midway, người Mỹ không chỉ ngăn được cơn "đại phong" của quân Nhật, mà còn bảo vệ được các căn cứ quân sự chiến lược, để từ đó nắm quyền chủ động kiểm soát Thái Bình Dương; khơi thế tiến công vào sâu nội địa Nhật.
IV.KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỂ RÚT RA TỪ TRẬN ĐÁNH
Kết thúc trận Midway, Nhật thiệt hại 2.100 người, mất 4 tàu sân bay hạng nặng cùng 322 máy bay, 1 tàu khu trục, 2 tàu tuần dương, 3 tàu quét mìn và 1 tàu vận tải. Mỹ tổn thất 1 tàu sân bay hạng nặng, 1 tàu khu trục, 150 máy bay (trong đó có 38 máy bay đang đậu tại căn cứ Midway)[4]. Midway là thất bại đầu tiên của Nhật trên chiến trường Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau trận đánh này, Nhật mất dần quyền chủ động và không còn khả năng mở các đòn tiến công chiến lược trên biển Thái Bình Dương. Mỹ phát triển thế tiến công và từng bước giành thắng lợi, góp phần quan trọng vào việc đánh bại lực lượng phát xít Nhật.
Từ trận Midway có thể rút ra một số vấn đề sau:
Thứ nhất, do những thắng lợi dễ dàng trước trận Midway, đặc biệt là trong trận Trân Châu Cảng, người Nhật tỏ ra khinh xuất và coi thường đối phương. Bộ chỉ huy quân Nhật đánh giá không đúng lực lượng hải quân Mỹ nên đã tung toàn bộ lực lượng của mình đặng giành thắng lợi quyết định. Trong trận Midway, Đô đốc Yamamoto đã phản đối đề xuất của các sĩ quan tham mưu dùng 1/3 số lượng tàu chiến làm lực lượng dự bị, đề phòng khi bị đối phương phản công. Ông cũng không chấp nhận giải pháp dùng một bộ phận lực lượng, trong đó có các máy bay chiến đấu Zero tiến hành trinh sát, phát hiện các tàu sân bay Mỹ. Trong quá trình tham chiến, khi phát hiện ra các tàu sân bay đối phương, mũi tiến công chủ yếu do Nagumo chỉ huy không kịp thời tổ chức các đợt không kích nhằm tiêu diệt các tàu sân bay, khiến các máy bay Mỹ trở thành vũ khí chủ lực và hết sức lợi hại trong suốt quá trình diễn ra trận đánh. Sai lầm của quân Nhật không chỉ làm đảo lộn toàn bộ kế hoạch ban đầu, mà còn biến cuộc đổ bộ lên đảo thành trận không chiến trên biển. Trái lại với người Nhật, sau khi giải mã được các bức điện của quân Nhật vể việc đánh chiếm Midway, Bộ chỉ huy quân Mỹ lập tức cử các tốp máy bay, các tàu tuần dương và tàu khu trục tiến hành tuần tra, trinh sát nhằm phát hiện các tàu sân bay Nhật. Khi phát hiện ra mục tiêu, họ chấp nhận bỏ kế hoạch phòng thủ Midway, tập trung toàn bộ lực lượng không quân tiến công, tiêu diệt các tàu sân bay Nhật. Trong trận Midway, Nhật tổn thất hơn 300 máy bay, nhưng trong đó chỉ có khoảng 30 máy bay bị lực lượng phòng không và không quân Mỹ bắn hạ, đa số còn lại đều bị đánh chìm cùng các tàu sân bay Akagi, Kaga, Hiryu, v.v...
Thứ hai, trong trận Midway, tương quan lực lượng giữa Mỹ và Nhật nghiêng về quân Nhật. Tuy nhiên, với tham vọng giành chiến thắng nhanh, Bộ chỉ huy quân Nhật đã triển khai lực lượng trên một chiến trường rộng lớn và hết sức phân tán; kéo dài từ khu vực trung tâm đến Bắc Thái Bình Dương. Trong khi đó lực lượng quân Mỹ tập trung hầu hết ở Midway với các tàu sân bay, tàu khu trục và các lực lượng phòng thủ tại chỗ. Việc quân Nhật triển khai đội hình bất hợp lý đã làm cho khả năng yểm trợ và bọc lót cho nhau trong chiến đấu trở nên hết sức khó khăn. Thực tế cho thấy, khi phát hiện các tàu sân bay thuộc mũi tiến công chủ yếu bị tiến công vào sáng ngày 4 tháng 6, Đô đốc Yamamoto đã nhiều lần ra lệnh cho các mũi tiến công khác đến yểm trợ. Tuy nhiên, do ở khoảng cách quá xa, cộng vào đó, do tầm bay của các máy bay ném bom, máy bay phóng lôi chỉ có hạn, nên việc yểm trợ hầu như không thực hiện được.
Một điểm bất hợp lý khác trong cách bố trí đội hình của quân Nhật là tập trung phần lớn tàu sân bay chiến lược vào môt mũi tiến công. Nếu như trong mũi tiến công chủ yếu, Nhật tập trung cả 4 tàu sân bay hạng nặng với phần lớn các máy bay chiến đấu hiện đại, thì ở 3 mũi tiến công khác chỉ có một vài tàu sân bay hạng nhẹ với những chiếc máy bay cũ kỹ và lạc hậu. Việc phân bố lực lượng không hợp lý cùng với việc không có lực lượng dự bị đã khiến trận Midway thực chất trở thành trận chiến giữa mũi tiến công chủ yếu với lực lượng quân Mỹ. Bởi vậy, khi các tàu sân bay ở mũi tiến công chủ yếu bị đánh chìm, quân Nhật hầu như bị tê liệt. Hàng chục tàu tuần dương, tàu khu trục cùng hàng trăm tàu, thuyền còn lại đều hầu như vô dụng.
Không chỉ bất hợp lý trong việc bố trí lực lượng, việc phân công nhiệm vụ cho các mũi tiến công cũng còn nhiều điểm phải bàn. Trong cuốn: "Những trận đánh làm thay đổi thế giới" (The battles that changed the world), tác giả Richard Worth khẳng định: việc Đô đốc Yamamoto tập trung quá nhiều binh lực và giao cho mũi đột kích của Phó Đô đốc C.Nagumo cùng một lúc hai nhiệm vụ: vừa tiêu diệt các tàu sân bay Mỹ, vừa đánh chiếm Midway là điều hiếm thấy trong chiến tranh. Có lẽ do quá tin tưởng vào khả năng cầm quân và tài thao lược của Nagumo nên Yamamoto đã quên mất vai trò của các mũi tiến công khác, trong đó có cả mũi tiến công đánh chiếm Midway do H. Kondo chỉ huy. Một sai lầm nữa mà Yamamoto mắc phải là ông chưa sử dụng hợp lý thủy lôi và bom trong đánh tàu sân bay. Trong phần lớn các lần đánh tàu sân bay Mỹ, các máy bay Nhật chủ yếu dùng bom thay vì phải dùng thủy lôi. Điều đó đã làm giảm đáng kể hiệu quả chiến đấu[5].
Thứ ba, nguyên nhân thất bại của quân Nhật trong trận Midway được sử sách nhắc nhiều đó là người Nhật không thực hiện được yếu tố bất ngờ do không bảo mật được thông tin. Ngay sau thất bại trong trận Trân Châu Cảng, Bộ chỉ huy quân Mỹ đã nhanh chóng thành lập Đơn vị tình báo thông tin (IIU) do Trung tá Joseph Rochefort chỉ huy. Đơn vị này có nhiệm vụ phát hiện, nghiên cứu và giải mã các thông tin của đối phương. Trong hai tháng 4 và tháng 5 năm 1942, IIU bắt đầu giải mã được phần lớn nội dung các bức điện được phát đi từ Bộ chỉ huy Trung tâm của Nhật. Đầu tháng 5 năm 1942, trước khi quân Nhật tiến hành đánh chiếm đảo Moresby ở New Guinea, các nhân viên IIU đã kịp đưa ra cảnh báo, giúp tướng Nimitz nhanh chóng triển khai lực lượng tới khu vực chiến sự và tránh được đòn tiến công bất ngờ của đối phương. Tiếp đó, đến ngày 3 tháng 5, IIU lại một lần nữa giải mật được kế hoạch đánh chiếm đảo San Hô của Nhật và đã kịp thời lên phương án đối phó, khiến quân Nhật không thực hiện trọn vẹn được kế hoạch đề ra.
Từ sau trận San Hô, nhiều sĩ quan tham mưu Nhật đã nhận thấy sự bất thường trong vấn đề bảo mật thông tin. Họ cũng đã nhiều lần yêu cầu Đô đốc Yamamoto phải thay đổi bộ mã truyền tin mỗi tháng một lần. Tuy nhiên, với thái độ tự tin vào những chiến thắng, cộng vào đó, ông cho rằng, bộ mã mà người Nhật đang sử dụng không ai có thể "bẻ khóa" nên vẫn ra lệnh sử dụng cho trận Midway. Với sai lầm đó, ngày 26 tháng 5 năm 1942, khi lực lượng hải quân Hoàng gia Nhật phát đi Mệnh lệnh số JN25, các nhân viên IIU đã tập trung nghiên cứu và giải mã được phần lớn nội dung bức điện. Trên cơ sơ phân tích bức điện và so sánh với các thông tin do máy bay trình sát Mỹ thu được, Bộ chỉ huy quân Mỹ khẳng định: mục tiêu tiến công tiếp theo của Nhật trên chiến trường Thái Bình Dương là Midway. Từ những thông tin đó, Mỹ tập trung củng cố Midway, đồng thời huy động lực lượng từ các căn cứ khác đến tăng viện cho hòn đảo chiến lược này. Cũng nhờ giải mật được kế hoạch của đối phương, Bộ chỉ huy quân Mỹ tại Midway không những biết rõ thời gian, địa điểm diễn ra trận đánh, mà họ còn biết rõ cả cơ cấu và tổ chức lực lượng của đối phương để từ đó đưa ra kế sách đối phó phù hợp. Đúng như Nimitz - Tư lệnh lực lượng quân Mỹ tại Midway thừa nhận: thông tin tình báo mà Mỹ có được trước trận Midway đã cho ông cơ hội có một không hai trong cuộc đời binh nghiệp. Các thông tin đó đã biến quân Mỹ từ yếu thành mạnh, từ bị động sang chủ động; quân Nhật từ mạnh sang yếu, từ chủ động sang bị động. Nó còn tạo nên bước ngoặt của Mỹ trong cuộc chiến với Nhật ở Thái Bình Dương[6].
Đối với Mỹ, mặc dù nắm được thông tin và giữ quyền chủ động trên chiến trường, nhưng lực lượng hải quân của họ cũng mắc phải không ít sai lầm. Trước hết, đó là mạng lưới trinh sát không hiệu quả. Trong quá trình chuẩn bị cho trận Midway, Bộ chỉ huy quân Mỹ tập trung phần lớn thời gian và sức lực cho việc xây dựng hệ thống phòng ngự trên đảo để đối phó với cuộc đổ bộ của quân Nhật nên ít tổ chức các hoạt động trinh sát nhằm phát hiện và đánh chặn các tàu sân bay Nhật từ xa. Với sai lầm đó, quân Mỹ đã tạo cơ hội để lực lượng không quân Nhật đánh thiệt hại nặng nhiều cơ sở vật chất trên đảo vào rạng sáng ngày 4 tháng 6 năm 1942. Một sai lầm nữa là quân Mỹ không tiến hành truy kích đối phương khi họ đang trên đường tháo chạy. Ngày 7 tháng 6 năm 1942, khi Đô đốc Yamamoto hủy bỏ kế hoạch đổ bộ lên đảo và rút chạy về phía Tây, quân Mỹ không tiến hành truy kích. Thay vào đó, họ quay lại tiếp tục củng cố trận địa phòng ngự trên đảo, khiến hàng trăm tàu chiến Nhật có cơ hội tẩu thoát, bảo toàn được lực lượng, sau đó tái tổ chức và tiếp tục các trận đánh trên biển Thái Bình Dương. Tuy còn một số sai lầm, nhưng với thắng lợi trong trận Midway, quân Mỹ đã làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường Thái Bình Dương, đặc biệt là tương quan về hàng không mẫu hạm giữa Nhật và Mỹ. Sau trận đánh này, quân Nhật mất dần quyền chủ động chiến lược ở Thái Bình Dương và bắt đầu quay về phòng thủ khu vực nội hải.
Midway là một trong những trận hải chiến lớn trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong trận đánh này, vai trò của lực lượng không quân trên các tàu sân bay một lần nữa được khẳng định. Từ sau trận Midway, tàu sân bay cùng với những máy bay ném bom và máy bay phóng lôi hiện đại được Mỹ và các nước phương Tây tập trung nghiên cứu, sản xuất và chế tạo. Điều đó đã tạo nên bước ngoặt lớn trong các trận hội chiến trên biển và trên không gian đại dương rộng lớn trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Người viết: Thượng tá, TS LÊ ĐỨC HẠNH
[1] Từ Thiên Ân, Hứa Bình, Vương Hồng Sinh, Lịch sử thế giới hiện đại (1990-1995), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr.752.
[2] Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Sđd, tr.184.
[3] Kiska và Atu là hai hòn đảo lớn thuộc quần đảo Aleut.
[4] Richard Worth, The battles that changed the world, Chelsea House Publishers, p.92.
[5] Richard Worth, The battles that changed the world, Sđd, p.93.
[6] Richard Worth, The battles that changeơ the vvorld, Sđd, p.15.