Mối Bất Hòa Truyền Kiếp

Lượt đọc: 394 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 4

❊ ❊ ❊

Mạo phạm một nhà thờ thường không phải loại vụ việc kéo Amaia ra khỏi giường vào lúc sáng sớm, lái xe năm chục cây số về hướng Bắc, nhưng vẻ khẩn cấp trong giọng thanh tra Iriarte làm chị không còn lựa chọn nào khác.

– Thanh tra Salazar, thứ lỗi cho tôi đã đánh thức chị, nhưng tôi nghĩ chị cần xem xét thứ này.

– Một cái xác ư?

– Không hẳn. Có ai đó đã mạo phạm nhà thờ, nhưng… thôi, tôi nghĩ chị nên đến đây và tự xem xét thì hơn.

– Ở Elizondo?

– Không, cách đó vài cây số, ở Arizkun.

Amaia ngắt máy và xem giờ. Bốn giờ một phút. Chị đợi, nín thở vài giây cho đến lúc nghe thấy một chuyển động nhè nhẹ, tiếng sột soạt không thể nhầm lẫn, tiếp theo là một tiếng thở dài rất khẽ, cho thấy con trai chị đã dậy rất đúng giờ để ăn bữa tiếp. Chị bật ngọn đèn bàn cạnh giường được quấn trong chiếc khăn quàng để khuếch tán ánh sáng, và cúi xuống giường cũi. Chị bế cái bọc ấm áp lên tay và hít hà đầu thằng bé. Nâng con tới ngực, chị bắt đầu cảm thấy nó bú mạnh. Chị mỉm cười với James, anh chống khuỷu tay nhìn vợ.

– Có việc à?

– Vâng, em phải đi, nhưng em sẽ về trước giờ cho con bú bữa sau.

– Em đừng lo, Amaia, con sẽ ổn mà. Nếu vì lý do nào đấy em về muộn, anh sẽ pha sữa.

– Em sẽ về đúng giờ, - Amaia nói, vuốt ve đầu con và đặt một nụ hôn vào đỉnh đầu mềm mềm của nó.

Trong thời khắc sớm của của buổi sáng mùa đông, những ngọn đèn sáng trưng trong nhà thờ San Juan Bautista ở Arizkun, tương phản lạ lùng với tháp chuông ảm đạm, nhỏ hẹp và dựng đứng như một lính gác, Vài cảnh sát mặc đồng phục soi đèn pin, bận bịu kiểm tra khóa cửa ở lối vào nhà thờ phía Nam.

Amaia đỗ xe trên phố và đánh thức phó thanh tra Etxaide đang ngủ gà gật ở ghế bên cạnh. Chị khóa xe, rồi đi lang thang, bước qua bức tường thấp bao quanh nghĩa trang của nhà thờ.

Amaia chào vài cảnh sát rồi bước vào nhà thờ. Chị giơ tay tới bình nước thánh nhưng dừng ngay lại khi nhận ra mùi khét trong không khí khiến chị nhớ tới quần áo mới là và vải cháy xém. Chị nhận ra thanh tra Iriarte đang nói chuyện với hai linh mục, họ đứng thất kinh, bàn tay che miệng, mắt nhìn đăm đăm vào ban thờ. Amaia lùi lại, quan sát sự chấn động khi nhà bệnh lý học San Martín và thư ký tòa tới, chị tự hỏi họ làm gì ở đây.

Iriarte vội tới chỗ họ.

– Cảm ơn chị đã đến, thanh tra Salazar, chào Jonan, - anh nói. - Hình như trong vài tuần qua nhiều hành động báng bổ diễn ra tại nhà thờ. Đầu tiên, có kẻ đột nhập vào nhà thờ lúc nửa đêm và đập vỡ bình nước thánh. Một tuần sau, chúng dùng rìu bổ vỡ một cái ghế dài ở hàng trước. Còn bây giờ là chuyện này, anh nói và chỉ lên ban thờ, có nhiều dấu hiệu cố ý gây hỏa hoạn. - có kẻ châm lửa đốt khăn phủ ban thờ, may thay nó bằng lanh nên cháy chậm. Từ khi mọi chuyện này bắt đầu, giáo sĩ sống gần đó đã để mắt đến nhà thờ. Ông ta nhận thấy có đèn sáng bên trong và gọi cảnh sát. Lúc xe tuần tra tới, lửa đã tắt và một hay nhiều tên đã trốn thoát.

Amaia nhìn Inarte, mong đợi. Chị bĩu môi, bối rối.

– Đúng vậy, song hành động cố ý phá hoại tài sản chung, báng bổ nhà thờ hoặc anh muốn gọi là gì cũng được, tôi không biết chúng tôi có thể giúp gì đây.

Iriarte nhướn lông mày lên rất kịch.

– Chị hãy tới và tự xem xét.

Họ tới gần ban thờ, viên thanh tra cúi lom khom và nhấc tấm khăn để lộ một thứ trông giống một cọng trúc khô, màu vàng, một đầu cháy thành than ở nơi phóng hỏa.

Hoang mang, Amaia liếc nhìn San Martín, ông cúi xuống kiểm tra kỹ hơn.

– Trời ạ! - Ông ngạc nhiên nói.

– Cái gì đây? - Amaia hỏi.

– Một mairu-beso, - ông lẩm bẩm.

– Là gì vậy?

San Martín kéo lùi tấm khăn, lộ thêm một mẩu trúc gẫy nữa và những cái xương bàn tay bé tí.

– Lạy Chúa tôi, đây là một cánh tay trẻ con, - Amaia nói.

– Nói đúng hơn là xương cánh tay trẻ con, - San Martín sửa lại. - Chắc là chưa đến một tuổi, xương bé tí xíu.

– Tôi sẽ…

– Một mairu, thanh tra Salazar ạ, mairu-beso là xương cánh tay trẻ con.

Amaia nhìn Jonan, xem anh có xác nhận lời bác sĩ không. Chị thấy mặt anh trắng bệch lúc ngắm những cái xương nhỏ xíu cháy thành than

– Etxaide?

– Đúng, - anh nói, giọng khàn khàn, - đây là một mairu-beso. Nói chính xác, là xương của đứa trẻ chết trước khi rửa tội. Thời xưa, người ta tin rằng xương trẻ con có sức mạnh kỳ diệu, có khả năng bảo vệ con người nếu dùng làm đuốc, khói tỏa ra làm cư dân trong nhà hoặc cả làng ngủ thiếp, trong lúc những người cầm đuốc thực hiện các “phép thuật”.

– Vậy, ở đây chúng ta không chỉ có hành động mạo phạm nhà thờ mà còn một ngôi mộ, - Iriarte tuyên bố.

– Trong một kịch bản tối ưu, - Jonan Etxaide nói khẽ.

Cách Iriarte kéo Jonan sang một bên, cuộc trò chuyện đầy lo âu cùng những cái liếc trộm về phía ban thờ của họ không thoát khỏi mắt Amaia. Trong khi chờ đợi, chị tiếp tục lắng nghe nhận xét của phó thanh tra Zabalza:

– Cùng với các vụ tự sát, các vụ mạo phạm thực hiện bằng xương người thường không được công bố vì những hệ quả về mặt xã hội và có thể gây ra hành động bắt chước mù quáng, nhưng chúng xảy ra nhiều hơn trong các bản tin của truyền thông. Từ khi dân di tản từ Haiti, Cộng hòa Dominican và Cuba cũng như nhiều nơi ở châu Phi tới, những hành lễ tôn giáo xuất phát từ các nước này được dân châu Âu chấp nhận. Ví dụ, [1] đã trở nên phổ biến hơn trong những năm gần đây, trong một số nghi lễ của nó, xương người dùng để gọi hồn người chết, vì thế các vụ mạo phạm mồ mả và các hốc đá tăng đáng kể. Một năm trước, trong một cuộc khám xét ma túy thông thường, phát hiện một chiếc ô tô trên đường tới Paris chứa mười lăm đầu lâu ăn trộm từ nhiều nghĩa trang khác nhau dọc [2]. Hình như chúng bán được giá hời ở chợ đen.

– Vậy các xương này có thể lấy từ bất kỳ chỗ nào, - San Martín nói liều.

– Không, không phải từ bất kỳ chỗ nào, - Jonan nói, nhập bọn. -Tôi tin rằng chúng lấy trộm ở đây, ở Arizkun hoặc ở một trong các làng lân cận. Trên thực tế, xương người được dùng trong nhiều nghi lễ tôn giáo, nhưng mairu-beso chỉ giới hạn ở Tây Ban Nha, xứ Basque thuộc Pháp và Navarre. Ngay khi bác sĩ San Martín xác định được niên hiệu của xương, chúng ta sẽ biết tìm kiếm ở đâu.

Anh quay người và tới đầu kia của chính điện, trong lúc Amaia ngơ ngác nhìn theo. Chị biết Jonan Etxaide đã ba năm nay, và trong hai năm cuối, sự tôn trọng và thán phục anh tăng lên rất nhanh. Sau khi hoàn thành nghiên cứu - anh có hai bằng khảo cổ học và nhân chủng học - Jonan gia nhập lực lượng cảnh sát và dù anh không phải là một cảnh sát tiêu biểu, Amaia vẫn đánh giá cao quan điểm có phần lãng mạn và cách tiếp cận thận trọng, không đối đầu của anh. Bởi vậy, chị càng ngạc nhiên hơn vì sự khẳng định có phần bướng bỉnh của anh về nơi chốn mà vụ này hướng tới. Giấu vẻ bứt rứt, chị chào tạm biệt San Martín, và vẫn bối rối vì kiểu Iriarte gật gù trong lúc Jonan nói, cả hai ném những cái nhìn lo lắng vào tường nhà thờ.

Vừa xoay chìa khóa trong ổ, chị đã nghe thấy tiếng Ibai. Dựa lưng vào cửa để đóng lại, chị vừa chạy vội lên gác vừa cởi áo khoác. Theo tiếng khóc đòi hỏi của Ibai, chị lao bổ vào phòng ngủ thấy con trai trong giường cũi, đang la hét như xé phổi. Liếc quanh, cơn tức làm bụng chị quặn lại.

– James, - chị quát lúc nhấc con lên. Anh bước vào, tay cầm bình sữa.

– Sao anh có thể để con khóc thế? Nó hét điếc tai. Anh đang làm cái quái gì vậy?

James dừng lại giữa đường, giơ bình sữa.

– Nó ổn mà, Amaia. Nó khóc vì đói, và anh đang giải quyết đây. Đã đến giờ cho con bú, em thừa biết nó đúng giờ thế nào rồi. Anh đợi vài phút, nhưng thấy em chưa về, nó bắt đầu gào to hơn…

Amaia cố không nói ra điều mình nghĩ. Chị biết James không có ý trách móc, nhưng vẫn cảm thấy lời lẽ của anh như một cái tát vào mặt. Chị quay đi, ngồi xuống xích đu và nâng thằng bé sát vào người mình.

– Quẳng cái thứ kinh tởm ấy đi, - chị ra lệnh.

Chị nghe thấy anh thở dài hiền hậu lúc đi ra.

Lưới sắt, chấn song, các cửa sổ kiểu Pháp: đó là mặt tiền tòa nhà ba tầng của Tổng giám mục, với cửa bằng gỗ sồi tàn tạ vì mưa gió, được gọi là lâu đài Santa María. Bên trong, một linh mục mặc trang phục lịch sự có cổ áo trắng của tu sĩ, tự giới thiệu là thư ký của Tổng giám mục, dẫn họ lên một cầu thang rộng rãi tới tầng hai. Sau khi đưa họ vào một căn phòng, anh ta bảo họ đợi trong lúc đi thông báo, rồi lặng lẽ khuất dạng sau một tấm thảm treo. Lát sau, anh ta trở lại.

– Xin mời đi lối này.

Tổng giám mục tiếp họ trong một căn phòng nguy nga, Jonan ước tính phải dài hết tầng. Bốn cửa sổ mở ra ban công có chấn song gần nhau, tất cả đóng kín chống lại buổi sáng rét buốt của Pamplona. Tổng giám mục đứng bên bàn chào đón, bắt tay họ nồng nhiệt trong khi chánh thanh tra giới thiệu:

– Thưa đức ông Landero, đây là thanh tra Salazar, phụ trách đội điều tra án mạng thuộc cảnh sát Navarre và phó thanh tra Etxaide. Tôi tin các vị đã gặp cha Lokin, cha xứ Arizkun.

Amaia nhận thấy một người đàn ông trung niên đang đứng, nhìn ra cửa sổ ban công gần nhất. Ông ta mặc com lê đen, nếu so sánh phong cách thì viên thư ký kém hẳn.

– Cho phép tôi giới thiệu cha Sarasola. Cha tham dự cuộc họp này với tư cách là cố vấn.

Sarasola tiến tới, bắt tay họ và nhìn thẳng vào Amaia.

– Tôi đã nghe rất nhiều về cô, thanh tra Salazar.

Amaia không đáp, nhưng hơi cúi đầu thay lời chào, trước khi ngồi. Sarasola trở lại bên cửa sổ, đứng quay lưng lại căn phòng.

Đức ông Landero là người không để yên hai bàn tay trong lúc nói. Giơ cây bút, ngài xoay nó trong những ngón tay xanh xao, mảnh dẻ cho đến lúc mọi con mắt dồn vào ngài. Tuy nhiên, trước sự ngạc nhiên của mọi người, cha Sarasola nói đầu tiên.

– Tôi rất cảm kích vì sự quan tâm của các vị đến vụ này, cả hai chúng tôi đều bận tâm và lo lắng - cha nói và quay mặt lại nhìn mọi người, không rời cửa sổ. - Tôi được biết hôm qua các vị đã đến Arizkun khi “cuộc tấn công” - theo cách chúng tôi gọi sự việc này - xảy ra, nên tôi cho rằng các vị đã được thông báo về những sự việc dồn dập trước đây. Dù sao, cũng cho phép tôi ôn lại lần nữa. Hai tuần trước, vào lúc đêm hôm khuya khoắt giống hệt hôm qua, có kẻ đã đột nhập vào nhà thờ qua cửa phòng để đồ thờ. Nó là một cái cửa bình thường với ổ khóa đơn giản và không có báo động, vì thế đi qua không có gì khó khăn. Tuy vậy, thay vì hành xử như những tên trộm thông thường, lấy cắp tiền trong hòm quyên góp, chúng chỉ đập một nhát làm vỡ đôi bình nước thánh, một tác phẩm nghệ thuật đã hơn bốn trăm năm tuổi. Đêm Chủ nhật trước, chúng lại vào lần nữa, dùng rìu bổ một chiếc ghế dài thành nhiều mảnh chỉ to bằng bàn tay. Hôm qua, chúng mạo phạm thánh thất lần thứ ba, đốt ban thờ và để bên dưới một lễ vật tệ hại.

Amaia nhận thấy cha xứ bồn chồn, lo lắng ngọ nguậy trên ghế, trong lúc phó thanh tra vẫn giữ vẻ mặt tư lự như chị đã thấy sáng nay.

– Chúng ta sống trong những thời kỳ bất an, - cha Sarasola nói tiếp, và tất nhiên nhà thờ phải chịu những hành động mạo phạm nhiều hơn chúng ta muốn, phần lớn không được công bố để tránh mọi hành động bắt chước mù quáng. Tuy cách dàn dựng một số hành động rất ngoạn mục, song ít có yếu tố nguy hiểm như trong vụ gần đây nhất.

Amaia chăm chú lắng nghe, cố kiềm chế để không ngắt lời. Tuy cố hết sức, chị vẫn không hiểu tầm quan trọng của vụ này, ngoài việc phá hủy một đồ vật tế lễ bốn trăm năm tuổi. Chị càng tò mò thấy chiều hướng cuộc họp bất thường này, sự tham dự của những người có quyền lực cao nhất của cảnh sát thành phố và Giáo hội, cho thấy họ nhìn nhận sự việc xảy ra nghiêm trọng biết chừng nào. Vị linh mục này - cha Sarasola - có vẻ là người chỉ đạo, dù có mặt Tổng giám mục, hầu như cha không hề để ý tới.

– Chúng tôi tin rằng những hành động này chứng tỏ lòng căm hận với Giáo hội dựa trên việc hiểu sai các khái niệm lịch sử. Thực tế là vụ tấn công gần đây nhất đã dùng đến hài cốt người, khiến chúng tôi không thể nghi ngờ bản chất phức tạp của vụ việc. Chắc không cần phải nói, chúng tôi tin cậy vào sự suy xét chín chắn của các vị; theo kinh nghiệm của chúng tôi, công bố những việc như thế chẳng có lợi gì. Chưa kể đến sẽ dấy lên nỗi lo âu của các giáo dân xứ đạo San Juan Bautista, họ đủ sắc sảo để hiểu ý nghĩa của những vụ tấn công này và có thể rất bất an.

Chánh thanh tra phát biểu:

– Tôi xin cam đoan với các vị rằng chúng tôi sẽ tiến hành điều tra một cách kỹ lưỡng với sự thận trọng tối đa. Thanh tra Salazar là một thám tử tài năng và rất am hiểu vùng này, cô ấy là người chỉ huy xứng đáng nhất cho cuộc điều tra và sẽ cùng toàn đội xem xét kỹ vụ việc.

Amaia bứt rứt liếc nhìn cấp trên, cố kìm nén sự phản đối.

– Tôi chắc chắn là cô sẽ làm được, - cha Sarasola đáp và quay sang Amaia. - Tôi đã nghe nhiều chuyện về cô, rất xuất sắc. Tôi biết cô sinh ra ở thung lũng và cô là người thích hợp nhất để điều tra vụ này. Tôi tin cô sẽ nhạy cảm và quan tâm trong lúc giải quyết sự việc tế nhị này.

Amaia không đáp, nhưng tận dụng cơ hội quan sát kỹ hơn vị linh mục mặc đồ hiệu Armani này, chị ít bị tác động vì ông ta biết nhiều về chị hơn là ảnh hưởng mà ông ta tác động lên tất cả, kể cả Tổng giám mục, ngài ấy hoàn toàn nhất trí với mọi lời cha Sarasola phát biểu, không cần quay sang ngài lần nào để mong được tán thành.

Họ vừa bước qua cửa lâu đài Santa María, Amaia đã nói với cấp trên:

– Thưa Chánh thanh tra, tôi nghĩ…

– Xin lỗi Salazar, - ông ngắt lời. - Tôi biết cô định nói gì, nhưng tôi bị khống chế mất rồi. Cha Sarasola có vị thế cao ở Vatican. Thế nên hãy tìm hiểu ngọn nguồn của vụ này càng nhanh càng tốt và tiến lên thôi.

– Tôi hiểu điều đó thưa Chánh thanh tra, nhưng tôi không biết bắt đầu từ đâu hoặc trông đợi những gì. Tôi chỉ không hiểu vì sao lại giao vụ này cho đội tôi.

– Cô đã nghe ông ta nói rồi đấy, họ muốn cô làm.

Chánh thanh tra vào xe, để chị lại nhăn nhó và nhìn Jonan chằm chằm, còn anh cười thầm.

– Cậu có tin chuyện này không? - Chị kêu lên. - Thanh tra Salazar là một thám tử tài năng và rất am hiểu vùng này, cô ấy là người xứng đáng nhất cho cuộc điều tra phá hoại tài sản công cộng tầm thường này. Ai có thể giải thích cho tôi có chuyện gì xảy ra ở đó không?

Jonan vẫn cười lúc họ đi đến xe tuần tra.

– Không đơn giản thế đâu, sếp ạ. Ngoài ra, VIP ở Vatican đã đích thân yêu cầu chị. Cha Sarasola cũng là bác sĩ Sarasola, đồng thời là tùy viên bảo vệ đức tin của Vatican đấy.

– Cậu định nói ông ta là một quan tòa dị giáo?

– Tôi nghĩ ngày nay người ta không thích bị gọi như thế. Tôi lái xe hay chị đây?

– Tôi sẽ lái. Tôi muốn cậu cho tôi biết nhiều hơn về bác sĩ Sarasola. Chính xác là bác sĩ chuyên ngành gì?

– Tôi nghĩ là tâm thần học; có thể là nhiều thứ khác. Tôi biết ông ta là giáo sĩ cấp cao của [3] có nhiều ảnh hưởng ở Rome, ông ta đã làm việc nhiều năm với Giáo hoàng John Paul II, từng là cố vấn cho người tiền nhiệm của Giáo hoàng khi còn là hồng y giáo chủ.

– Tại sao một tùy viên bảo vệ đức tin của Vatican lại quan tâm tới một vụ việc ở địa phương như thế này? Và ông ta nghe nói về tôi bằng cách nào?

– Tôi nói rồi, ông ta là một nhân vật quan trọng của Opus Dei, vì thế nhận được những báo cáo thường xuyên về mọi thứ diễn ra Navarre. Còn việc ông ta quan tâm tới vụ này thì có lẽ đúng như ông ta nói, là vì lo lắng có yếu tố căm hận hoặc trả thù Giáo hội, mà theo ông ta miêu tả là do hiểu sai khái niệm lịch sử.

– Một khái niệm mà hình như cậu tán thành…

Jonan nhìn chị, giật mình.

– Sáng hôm qua, tôi đã để ý cách cậu và thanh tra Iriarte phản ứng với vụ này. Hình như cậu lo lắng hơn cả cha xứ và giáo sĩ.

– Đó là vì mẹ Iriarte và bà ngoại tôi đều là dân Arizkun, và bất cứ ai có nguồn gốc ở đó đều coi việc xảy ra ở nhà thờ là rất nghiêm trọng…

– Phải, tôi đã nghe Sarasola nói các giáo dân đều hiểu ý nghĩa và bất an, nhưng ông ta định ám chỉ gì vậy?

– Chị là người sinh ra ở thung lũng, chắc chị đã nghe về các agote.

– Các agote ư? Cậu định nói là những người đã sống ở Bozate?

– Họ sinh sống ở khắp thung lũng Baztán và ở Roncal, nhưng phần lớn tập trung trong một biệt khu ở Arizkun, hiện giờ là một phần của vùng lân cận Bozate. Chị biết gì nữa về họ?

– Nói thật là không nhiều. Họ là thợ thủ công và chưa bao giờ thực sự đồng hóa.

– Lái vào lề đường - Jonan ra lệnh.

Amaia nhìn anh, ngạc nhiên nhưng không nói gì. Chị tìm ra một khoảng trống ven lề, đỗ xe và quay nhìn phó thanh tra Etxaide chăm chú, anh thở dài to rồi bắt đầu:

– Các nhà sử học bất đồng về gốc gác của các agote. Họ được coi là đã băng qua dãy Pyrénées vào Navarre thời Trung cổ, trốn tránh chiến tranh, nạn đói, bệnh dịch và sự khủng bố tôn giáo. Hầu hết chấp nhận giả thuyết họ là người Cathar, một giáo phái bị Tòa án Dị giáo ngược đãi. Một giả thuyết khác cho họ là lính [4] đào ngũ, tìm nơi trú ngụ trong các khu cách ly người hủi ở miền Nam nước Pháp và bị nhiễm căn bệnh khủng khiếp này, đó là một trong các nguyên nhân họ bị sợ hãi. Kiểu giải thích thứ ba họ là kẻ cướp và bị xã hội ruồng bỏ, bị ép làm nông nô cho một lãnh chúa trong vùng, hồi đó là Pedro de Ursua. Cho đến ngày nay, vẫn còn dấu tích một trong các pháo đài của lãnh chúa ở Arizkun. Điều đó giải thích vì sao phần lớn các agote sống ở Bozate.

– Phải, tôi nghĩ gần như thế: một nhóm người bị xã hội ruồng bỏ, người hủi hoặc người Cathar chạy trốn đã định cư trong thung lũng từ thời Trung cổ, Nhưng lý do gì khiến họ mạo phạm nhà thờ ở Arizkun?

– Nhiều lắm. Các agote sống ở Bozate đã nhiều thế kỷ mà chưa bao giờ được phép hòa nhập vào xã hội. Họ bị đối xử như các công dân hạng hai, bị cấm định cư ngoài Bozate, cấm làm nhiều nghề và không được kết hôn với người ngoài nhóm. Là thợ thủ công, họ làm gỗ và thuộc da sống vì những nghề này bị coi là bẩn thỉu và nguy hiểm. Họ bị buộc phải đeo những dấu hiệu nhận dạng khâu vào quần áo, thậm chí phải rung chuông như người hủi để báo cho khách qua đường về sự hiện diện của mình. Nói chung, có nhiều giai đoạn trong suốt quá trình lịch sử, Giáo hội không hề khuyến khích họ hòa nhập, mà còn ngược lại. Chúng ta biết họ là giáo dân, họ tôn trọng và tuân theo các nghi lễ Công giáo, song Giáo hội đối xử với họ như những người hạ đẳng. Họ có bình nước thánh riêng, và nước họ dùng là thứ bỏ đi. Họ bị cấm đến gần ban thờ, thường bị buộc ngồi ở cuối chính điện và vào nhà thờ qua một cửa khác, nhỏ hơn. Ở Arizkun, họ bị cách ly với các giáo dân khác bằng một tấm lưới sắt, sau này được bỏ đi khi nhận ra hồi ức của kiểu đối xử này đã khuấy động trong dân chúng Arizkun nỗi nhục sâu xa, thậm chí đến tận ngày nay.

– Để xem tôi hiểu chuyện này có đúng không nhé. Cậu kể về những kiểu loại trừ một nhóm sắc tộc thời Trung cổ mà cha Sarasola gọi là hiểu sai lịch sử, nhằm giải thích vụ mạo phạm vừa rồi ở nhà thờ Arizkun phải không?

– Phải. - Jonan gật đầu.

– Dân Do Thái, Moor, Gypsy, phụ nữ, các pháp sư, người nghèo khổ… phải chịu đựng sự loại bỏ tương tự. Nếu đúng như cậu nói, đỉnh cao của mọi sự này là họ bị nghi lan truyền bệnh hủi, và chẳng có gì lạ khi họ bị xua đuổi. Chỉ nhắc tới căn bệnh khủng khiếp ấy là đủ dấy nên nỗi kinh hoàng trong tim toàn thể dân chúng. Tôi biết hàng chục phụ nữ ở thung lũng Baztán bị kết tội sử dụng ma thuật và bị thiêu trên giàn lửa, nhiều người trong đó bị hàng xóm là những người sinh trưởng trong thung lũng tố giác. Bất cứ việc gì chệch quy chuẩn đều bị coi là công việc của ma quỷ, vì thế rất nhiều người thiểu số và nhóm sắc tộc khắp châu Âu phải gánh chịu như một hậu quả. Không lịch sử nước nào thoát khỏi những sự kiện như thế. Tôi không phải là nhà sử học, Jonan ạ, nhưng tôi biết trong thời Trung cổ toàn bộ châu Âu nồng nặc mùi thịt người bị thiêu trên giàn lửa.

– Đúng thế, nhưng các agote bị xua đuổi đã nhiều thế kỷ. Hết thế hệ này đến thế hệ khác bị tước đoạt những quyền lợi cơ bản nhất; trên thực tế, họ phải chịu đối xử tồi tệ như thế suốt một thời gian dài, đến nỗi Giáo hoàng ở Rome đã ban bố một sắc lệnh ban cho họ quyền bình đẳng và yêu cầu chấm dứt mọi sự phân biệt. Nhưng cái ác đã xong việc của nó, truyền thống và niềm tin đều ngoan cố chống lại logic và lẽ phải, nên các agote vẫn là đối tượng bị phân biệt trong nhiều năm.

– Đúng vậy, ở thung lũng Baztán, phải một thời gian dài nhiều sự việc mới thay đổi. Giờ đây sống ở đó cảm thấy như một đặc ân, nhưng hồi ấy cuộc sống hẳn là khắc nghiệt lắm. Tuy nhiên..

– Sếp ạ, các mục tiêu báng bổ ám chỉ rõ ràng tới việc bị loại bỏ của các agote: bình nước thánh họ không được rửa tội, chiếc ghế ở hàng đầu trong nhà thờ dành riêng cho các quý tộc và cấm ngặt với các agote. Mảnh vải phủ ban thờ họ bị cấm tới gần…

– còn những cái xương thì sao? Mairu-beso ấy?

– Đó là sản phẩm cũ của ma thuật, cũng liên quan tới các agote.

– Phải, tất nhiên rồi, ma thuật… Dù sao đi nữa, tôi thấy nó có vẻ khoa trương. Tôi không phủ nhận vấn đề những cái xương trong vụ mới nhất là tách rời, nhưng các việc trước chỉ là cố ý phá hoại tài sản công cộng. Cậu sẽ thấy trong vài ngày tới, chúng ta sẽ bắt giam vài thanh thiếu niên phê thuốc đột nhập vào nhà thờ như một trò tai quái, và sự việc sẽ ra khỏi tay ta. Điều khiến tôi tò mò là ngay cả Tổng giám mục cũng quan tâm đến vụ này.

– Đấy là một ý kiến. Nếu ai đó có thể và nên nhận ra một tội ác có động cơ lịch sử, thì đó là Giáo hội. Chị đã thấy vẻ mặt của cha xứ rồi đấy: ông ta vô cùng kích động.

Amaia thở dài, bực bội.

– Có thể cậu đúng, nhưng cậu thừa biết tôi căm ghét mọi chuyện về quá khứ đen tối của thung lũng biết chừng nào. Dường như lúc nào cũng có kẻ háo hức lợi dụng việc đó, - chị nói và liếc đồng hồ.

– Chúng ta mất nhiều thời gian quá, - Jonan an ủi chị.

– Không hẳn, tôi phải ghé qua nhà trước đã, cần cho Ibai ăn, chị nói và mỉm cười.

[1] Tôn giáo kết hợp tín ngưỡng Yoruba của Tây Phi với Thiên Chúa giáo La Mã.

[2] Khu nghỉ dưỡng thuộc miền Nam Tây Ban Nha, ven bờ Địa Trung Hải.

[3] Opus Dei (tiếng Latin), có nghĩa là “Công việc của Chúa”, do một linh mục Tây Ban Nha thành lập năm 1928, được Giáo hoàng chuẩn y năm 1950. Opus Dei điều hành nhiều trung tâm văn hóa, trường học, ký túc xá, trường dạy nghề cấp quốc tế và nhiều tổ chức từ thiện…, có quyền lực lớn, hiện có 85.000 thành viên và đại diện ở 60 nước.

[4] Một dân tộc cổ đại ở Đức, từ thế kỷ V đến đầu thế kỷ VIII từng xâm chiếm nhiều nước, trong đó có Tây Ban Nha.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.