Mối Bất Hòa Truyền Kiếp

Lượt đọc: 138 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 1

❊ ❊ ❊

Không khí trong phòng xử án thật ngột ngạt. Hơi ẩm từ những chiếc áo khoác ướt đẫm nước mưa bắt đầu bay hơi, hòa lẫn hơi thở của hàng trăm người chật ních các hành lang bên ngoài nhiều phòng xử khác nhau. Amaia cởi áo khoác lúc chào trung úy Padua, anh đang len qua đám đông chờ đợi tới chỗ chị, sau khi chào nhanh người phụ nữ đi cùng và đưa chị vào phòng xử án.

– Rất mừng được gặp chị, thanh tra ạ, - anh nói. - Chị khỏe không? Tôi không chắc chị đến đây hôm nay, anh nói thêm và chỉ vào cái bụng lùm lùm của chị.

Amaia đưa tay lên bụng bầu nặng nề ở giai đoạn cuối thai kỳ.

– Tôi ổn, hiện giờ con bé vẫn ngoan. Anh đã gặp mẹ Johana chưa?

– Rồi, bà ta khá căng thẳng. Bà ấy ở trong kia với gia đình. Họ vừa gọi cho tôi từ tầng dưới, báo xe chở Jason Medina đã tới, - Padua nói và bước tới thang máy.

Amaia vào phòng xử và ngồi trên chiếc ghế dài cuối phòng. Từ đây, chị có thể thoáng thấy mẹ Johana vận đồ tang và rõ ràng gầy hơn hồi đám tang con gái. Dường như cảm thấy sự có mặt của chị, bà ta quay nhìn và khẽ gật đầu chào. Amaia gượng cười nhưng không nổi lúc ngắm nét mặt hốc hác của người đàn bà bị giày vò vì biết mình bất lực, không che chở được con gái khỏi tên ác quỷ mà bà đã đưa vào nhà. Lúc thư ký tòa bắt đầu gọi to tên các nhân chứng, Amaia nhận thấy mặt bà ta cứng lại khi nghe thấy tên gã chồng.

–Jasón Medina, - thư ký tòa nhắc lại. - Jason Medina.

Một cảnh sát mặc đồng phục đi vào phòng xử, đến gần viên thư ký và thì thầm gì đó vào tai anh ta. Đến lượt người thư ký quay sang nói với thẩm phán, ông nghe xong bèn gật đầu trước khi gọi luật sư bên nguyên và bên bị tới. Ông nói vắn tắt với họ rồi đứng dậy.

– Phiên tòa tạm hoãn, nếu cần, các vị sẽ lại được triệu tập. - Và không nói thêm lời nào, ông ra khỏi phòng xử.

Mẹ của Johana kêu to, bà quay sang Amaia mong giải thích.

– Không! - Bà hét lên. - Tại sao vậy?

Người phụ nữ đi cùng cố an ủi bà nhưng vô hiệu.

Một cảnh sát khác tiến đến chỗ Amaia.

– Thanh tra Salazar, trung úy Padua hỏi chị có muốn xuống các phòng giam không.

Lúc ra khỏi thang máy, Amaia trông thấy một tốp cảnh sát bên ngoài cửa nhà vệ sinh. Người gác đi cùng ra hiệu cho chị đi vào. Bên trong, một quản tù và một cảnh sát đứng dựa vào tường, mặt họ rầu rĩ. Padua đang thò đầu vào một ô, bàn chân anh ở ngay rìa vũng máu còn tươi đang rỉ ra dưới vách ngăn. Nhìn thấy Amaia tới, anh bước tránh sang bên.

– Hắn nói với người gác là cần đi vệ sinh. Chị thấy đấy, tay hắn bị còng, vậy mà hắn vẫn xoay xở cắt đứt được cổ họng. Mọi việc xảy ra rất nhanh, người gác không rời khỏi đây, nghe thấy tiếng hắn ho bèn bước vào nhưng không thể làm gì được nữa.

Amaia vào trong xem xét hiện trường. Jason Medina ngồi trên bồn cầu, đầu ngật ra sau. Cổ họng hắn bị cắt một vết dài và sâu, đen sẫm. Vạt áo trước của hắn ướt sũng, máu vẫn đang chầm chậm chảy ra giữa hai chân hắn như một chất nhầy màu đỏ, làm vấy bẩn mọi thứ. Xác hắn vẫn còn ấm, không khí lập tức tanh nồng mùi chết chóc.

– Hắn dùng thứ gì? - Amaia hỏi, chị không thấy một đồ vật nào.

– Một con dao rọc giấy. Hắn buông rơi nó lúc kiệt sức; nó ở trong ngăn bên cạnh, - anh ta nói và đẩy cửa ngăn kế bên.

– Làm sao hắn mang qua được kiểm tra an ninh? Kim loại sẽ làm chuông báo động reo.

– Hắn không mang. Chị nhìn đây, - Padua nói và chỉ tay. - Chị có thấy mẩu băng dính to trên tay cầm của con dao không? Ai đó đã mang con dao giấu vào đây, chắc chắn ở đằng sau két nước. Medina chỉ cần bóc nó ra.

Amaia thở dài.

– Còn một việc nữa, - Padua nói, vẻ ghê tởm. - Cái này thò ra túi áo hắn, anh nói và giơ cái phong bì trắng trong bàn tay đeo găng.

– Thư tuyệt mệnh ư?

– Không hẳn, - Padua đưa cho chị đôi găng cùng chiếc phong bì. - Nó đề gửi chị.

– Gửi tôi ư? - Amaia nhăn mặt.

Chị xỏ găng và cầm chiếc phong bì.

– Tôi có thể chứ?

– Chị đọc đi.

Lớp keo rất dễ bóc, chị không cần xé giấy. Bên trong là một tấm thiếp, ở giữa vẻn vẹn một từ, in sẵn.

“Tarttalo”

Amaia cảm thấy bụng mình đau nhói và phải nín thở để giấu cơn đau. Chị lật tấm thiệp để chắc chắn mặt sau không có gì, rồi trả lại Padua.

– Nó có nghĩa gì nhỉ?

– Tôi đang mong chị cho tôi biết.

–Tôi không biết, Padua ạ, chị đáp, bối rối. - Tôi chưa biết nhiều về cái này.

Tarttalo là một sinh vật hoang đường phải không?

– Phải, theo tôi biết thì đây là một loại [1], tồn tại trong thần thoại Hy Lạp - La Mã và Basque. Anh biết gì nữa không?

– Chị đã làm vụ basajaun, cũng là một sinh vật hoang đường, còn bây giờ kẻ giết Johana Márquez đã thú nhận cố bắt chước tội ác của basajaun để che giấu tội lỗi của mình, hắn tự tử và để lại một chữ ký “Tarttalo”. Chị nên công nhận là rất kỳ lạ.

– Anh nói đúng. - Amaia thở dài. - Lạ thật đấy. Tuy nhiên, hồi đó chúng ta đã xác minh Jasón Medina cưỡng hiếp và giết con gái riêng của vợ, sau đó vụng về dàn dựng là tội ác của basajaun. Không chỉ thế, hắn còn thú nhận đầy đủ. Anh định gợi ý hắn không phải là thủ phạm sao?

– Tôi không hề nghi ngờ điều đó, - Padua nói và liếc nhìn cái xác. - Nhưng câu hỏi là cánh tay bị cắt cụt và những cái xương của cô gái xuất hiện trong hang ở Arri Zahar. Bây giờ lại đến chuyện này. Tôi mong chị có thể…

– Tôi chưa biết việc này có ý nghĩa gì hoặc tại sao hắn lại gửi cho tôi.

Padua thở dài, nhìn xoáy vào Amaia.

– Tất nhiên là không rồi, thanh tra ạ.

Amaia ra bằng lối cửa sau, mong không chạm mặt mẹ của Johana. Chị biết nói gì với bà ta đây: rằng tất cả đã chấm dứt, hoặc chồng bà vốn là một kẻ xấu xa đê tiện, đã thoát sang được thế giới bên kia? Chị giơ phù hiệu của mình cho những người gác cửa, và nhẹ người vì ít ra cũng thoát khỏi bầu không khí bên trong. Mưa đã tạnh, và ánh nắng rụt rè xuất hiện qua các đám mây, kiểu thời tiết điển hình ở Pamplona khiến chị chảy nước mắt và phải lục tìm kính râm trong xắc. Lúc trời mưa như thường lệ, bắt được một chiếc taxi đến phòng xử vào giờ cao điểm như sáng nay là việc gần như không thể, nhưng lúc này có tới vài chiếc vắng khách đỗ thành hàng, vì các cư dân của thành phố đều chọn đi bộ. Chị do dự giây lát cạnh chiếc xe đầu tiên. Không, chị chưa muốn về nhà bây giờ, cảnh tượng bà Clarice - mẹ chồng chị - rối rít chạy quanh, hỏi dồn hàng loạt câu rõ ràng chẳng mấy thú vị. Nửa tháng trước, từ lúc ba mẹ chồng chị tới đây, quan niệm về tổ ấm của Amaia bị thử thách nặng nề. Amaia chăm chú nhìn tủ kính đầy mời gọi của các hiệu cà phê đối diện phòng xử án và ở đầu kia đường San Roque, nơi chị có thể ngồi ngắm cây cối trong công viên Media Luna. Chợt nhận thấy đó là một ý tưởng thô lỗ, khi chỉ cách nhà nửa cây số, chị bèn đi bộ. Nếu thấy mệt, chị có thể vẫy taxi.

Vừa bước vào công viên, gạt những tiếng ầm ĩ của xe cộ lại đằng sau, ngay lập tức chị cảm thấy khuây khỏa. Mùi tươi mát của cỏ ướt thay thế cho khói xăng, Amaia theo bản năng thả lỏng bước chân lúc băng qua những con đường mòn lát đá, đi xuyên dưới hàng cây xanh tươi tuyệt hảo. Chị hít vào thật sâu và cố ý thở ra thật chậm. Một buổi sáng ra trò, chị nghĩ; Jasón Medina rất khớp với tiểu sử một tội phạm tự sát trong tù. Bị buộc tội cưỡng hiếp và giết chết con gái riêng của vợ, hắn đã bị biệt giam chờ ngày xét xử, chắc chắn hắn kinh hãi trước viễn cảnh phải sống chung với các tù nhân khác sau khi tòa tuyên án. Amaia nhớ lại hắn trong những cuộc thẩm vấn chín tháng trước, khi họ đang điều tra vụ __basajaun_:_ một kẻ yếu hèn, khóc nức nở và lải nhải rền rĩ lúc thú nhận những hành vi tàn bạo của mình.

Hai vụ không liên quan, nhưng trung úy Padua thuộc Guardia Civil đã mời chị tham gia, vì Medina đã vụng về bắt chước thủ đoạn phạm tội của kẻ giết người hàng loạt mà Amaia đang truy đuổi, dựa vào những tình tiết hắn đã đọc trên báo, Chuyện xảy ra từ chín tháng trước, lúc chị vừa bắt đầu có thai. Từ đó đến nay, nhiều việc đã thay đổi.

– Nhưng bọn chúng thì không, bé nhỉ? - Chị thì thầm và xoa bụng.

Một cơn co thắt dữ dội buộc Amaia phải dừng lại giây lát. Chống cái ô cho vững, chị cúi gập người, chịu đựng cơn đau ở bụng dưới đang lan xuống đùi non khiến chị buột ra một tiếng kêu, vì ngạc nhiên hơn là vì đau. Cơn co thắt giảm nhanh như lúc xuất hiện.

Giờ đây chị mới cảm thấy thế. Biết bao lần, chị tự hỏi đau đẻ sẽ như thế nào, liệu chị có nhận ra những dấu hiệu hay lại giống như một phụ nữ đến bệnh viện với đứa con đã sinh xong, hoặc là sinh ngay trên taxi.

– Ôi chao, con bé bỏng của mẹ! - Amaia ngọt ngào nói với đứa trẻ trong bụng. - con vẫn còn một tuần nữa kia mà. Con có chắc muốn ra bây giờ không?

Cơn đau biến mất, như chưa bao giờ xảy ra. Chị cảm thấy một niềm vui mênh mông cùng với cảm giác bứt rứt lo âu vì đứa trẻ sắp ra đời. Amaia mỉm cười, nhìn quanh như mong được chia sẻ niềm vui của mình. Nhưng công viên ẩm ướt, mát mẻ vắng lặng và cây cối tươi xanh màu ngọc lục bảo vẫn rạng rỡ, đẹp đẽ hơn trong ánh nắng chói chang lọt qua những đám mây trên bầu trời Pamplona. Cảnh vật khiến chị nhớ tới cảm giác khám phá luôn cảm thấy ở Baztán, trong một thành phố giống như món quà tặng bất ngờ. Chị tiếp tục lên đường tới cánh rừng đầy ma lực, có cặp mắt màu hổ phách của vị chúa tể lãnh địa đó. Chỉ chín tháng trước, chị đã điều tra một vụ ở nơi chị sinh ra, nơi chị luôn luôn muốn chạy trốn, nơi chị săn đuổi một kẻ giết người và là nơi chị đã hoài thai một bé gái.

Ý thức đứa trẻ đang lớn lên trong bụng đã mang lại cho chị cảm giác bình tĩnh êm đềm và sự thanh thản với cuộc sống mà chị luôn mơ ước. Trong thời gian đó, nó là thứ duy nhất giúp chị đương đầu với những sự kiện khủng khiếp chị đã trải qua, mới vài tháng trước chị suýt chết. Trở về Elizondo, lật lại quá khứ, và hơn hết thảy là cái chết của Victor đã xoay chuyển đời chị và toàn bộ gia đình chị bị đảo lộn. Bà cô Engrasi là người duy nhất không bị ảnh hưởng, bà vẫn bói bài ta-rô, chiều chiều chơi poker với các bà bạn, tươi cười như một người đã chứng kiến mọi sự trước đó. Flora rất nhanh sau đó đã chuyển đến Zarautz, nại cớ quay một chương trình hằng ngày về nướng bánh cho đài truyền hình quốc gia, và ai mà tin nổi, chị ta đã giao quyền điều hành công ty Mantecadas Salazar cho Ros. Flora đã vô cùng sửng sốt - và càng khẳng định khả năng trực giác của Amaia - té ra Ros là một tay quản lý hạng nhất, tuy mấy tháng đầu chị ấy hơi bị ngợp. Amaia đã đề nghị giúp Ros trong vài tháng, và gần như kỳ nghỉ cuối tuần nào chị cũng về Elizondo, kể cả sau khi chị thấy Ros không cần giúp đỡ nữa. Amaia vẫn tiếp tục về đó, ăn cùng họ, ngủ lại nhà bà cô, cảm thấy như ở nhà mình. Từ khi đứa bé gái lớn dần lên trong cơ thể, Amaia bắt đầu tìm thấy lại cảm giác về gia đình, về cội nguồn, về sự thân thiết mà bao năm qua chị ngỡ mình đã vĩnh viễn mất đi.

Lúc Amaia tới đường Mayor, trời lại lắc rắc mưa. Chị mở ô, len qua những người đi chợ và vài khách bộ hành không có gì che, đang hối hả chạy dưới mái hiên của các tòa nhà hoặc tấm vải bạt của cửa hàng. Amaia dừng lại trước một tủ kính sặc sỡ của cửa hàng quần áo trẻ em, ngắm những chiếc áo hồng xinh xắn thêu hoa tí xíu. Có lẽ bà Clarice nói đúng, chị nên mua những thứ như thế này cho con. Chị thở dài, bất chợt thấy cáu lúc nghĩ đến căn phòng bà Clarice đã trang hoàng cho đứa trẻ. Ba mẹ James từ Mỹ tới trong dịp sinh nở này và chỉ sau mười ngày ở Pamplona, mẹ anh đã phát huy nhiều hơn những khái niệm tệ hại nhất của Amaia về một bà mẹ chồng thích xía vào việc của người khác. Ngay từ hôm đầu tiên, bà đã bày tỏ sự hoang mang vì không có phòng dành riêng cho trẻ mặc dù họ có nhiều phòng thừa.

Amaia đã tận dụng một chiếc giường cũi cũ bằng gỗ cứng trong phòng khách nhà bà Engrasi, nhiều năm nay vẫn dùng để chứa củi. James đã đánh bóng từng thớ gỗ bằng cát rồi phủ một lớp véc ni, trong lúc các bà bạn của Engrasi làm diềm và một bộ ga gối trắng muốt cực đẹp, làm nổi bật tài khéo của thợ và đặc điểm của chiếc giường. Trong phòng ngủ rộng rãi của vợ chồng chị có nhiều khoảng không, ngoài ra bất chấp các chuyên gia nói gì đi nữa, Amaia vẫn không thấy con chị cần có một phòng riêng biệt. Trong mấy tháng đầu cho con bú, chị cần đứa trẻ ở gần để ban đêm tiện cho con ăn, có thể nghe thấy tiếng con khóc hoặc kịp thời dỗ con…

Bà Clarice nổi đóa: “Trẻ sơ sinh cần phải có phòng riêng, với mọi thứ đồ dùng quanh nó. Cứ tin mẹ đi, cả con và cháu bé sẽ ngủ ngon hơn. Nếu con muốn nó ở ngay cạnh, con sẽ lắng nghe từng hơi thở và cử động của nó, đứa trẻ cần không gian riêng của mình và con cũng cần. Đằng nào thì một đứa trẻ ở chung phòng ngủ với ba mẹ cũng không có lợi cho sức khỏe, trẻ sẽ quen đi và không thích có phòng riêng nữa”.

Amaia cũng đọc lời khuyên của một bác sĩ nhi khoa nổi tiếng, hăng hái truyền bá những biện pháp chịu đựng cho một thế hệ trẻ em mới: không bế ẵm trẻ thường xuyên, để trẻ ngủ một mình ngay từ khi mới sinh, không dỗ dành khi trẻ nổi cơn hờn dỗi vì trẻ cần học tính độc lập, đối phó với những sợ hãi và thất bại. Sự ngớ ngẩn như thế khiến dạ dày Amaia rối loạn. Chị biết rằng nếu bất cứ vị bác sĩ lỗi lạc nào buộc phải “đối phó” với nỗi sợ từ khi ra đời như chị, họ sẽ có quan niệm hoàn toàn khác về cuộc đời. Nếu con gái chị muốn ngủ trong phòng của ba mẹ cho đến ba tuổi, thì cứ việc: chị sẽ dỗ dành con, lắng nghe nó, chăm sóc nó nghiêm túc và làm giảm bớt nỗi sợ trẻ con của nó, vì bản thân chị hiểu quá rõ, chúng có thể hiện ra lù lù trong đầu óc trẻ thơ. Nhưng rõ ràng bà Clarice có quan điểm riêng về cách tiến hành mọi việc, và không hề do dự chia sẻ với mọi người.

Ba ngày trước, Amaia về tới nhà và phát hiện mẹ chồng đã tặng họ một món quà bất ngờ: một phòng trẻ lộng lẫy với đủ thứ nào tủ áo, chỗ thay tã lót, tủ nhiều ngăn, nhiều thảm và đèn. Những đám mây xốp nhẹ màu hồng quá ư thừa thãi và nhiều chú cừu xinh xắn, tất tật đều quấn ruy băng và đăng ten. Amaia đã đủ cảnh giác khi James mở cửa, hôn chị và thì thầm vẻ xin lỗi: “Mẹ có ý tốt mà”. Nhưng lúc đối mặt với một số lượng lớn màu hồng, nụ cười của chị đông cứng lại lúc chị nhận ra mình trở thành người lạ trong chính ngôi nhà của mình. Trái lại, bà Clarice run lên sung sướng bà lướt đi giữa những đồ đạc như một người dẫn chương trình truyền hình, trong lúc ba chồng Amaia vẫn bình thản như thường lệ, tiếp tục đọc báo trong phòng khách một cách bình tĩnh trước sự nồng nhiệt của vợ. Amaia thấy khó hòa hợp hình ảnh ông Thomas chỉ huy một đế chế tài chính với cách ông cư xử với vợ, vừa phục tùng vừa hờ hững khiến chị kinh ngạc. Hiểu rằng James thấy rất khó xử, nên Amaia cố giữ bình tĩnh hết mức trong lúc mẹ chồng chị ra sức tán dương những thứ kỳ diệu của phòng trẻ mà bà đã mua cho họ.

– Con ngắm cái tủ áo đẹp đẽ này xem, tất cả quần áo xếp vừa trong đó, lại có cả chỗ thay tã lót và đủ thứ khác nữa. Những tấm thảm cỏ xinh không? Còn đằng kia, - bà nói và cười tự mãn, - là chiếc giường cũi cho một công chúa.

Amaia phải thừa nhận rằng chiếc giường cũi màu hồng đồ sộ đó thực sự hoành tráng, và lớn đến mức con gái chị có thể ngủ trong đó cho đến năm lên ba là ít nhất.

– Rất đẹp ạ, - chị gượng nói.

– Nó đẹp mà, vì thế bây giờ con có thể trả lại bà cô cái thùng đựng củi kia.

Amaia rời phòng trẻ không nói một lời và vào phòng ngủ đợi James.

– Em yêu, anh xin lỗi, mẹ không có ý cản trở gì đâu, chỉ vì mẹ là thế. Ba mẹ chỉ ở đây vài ngày nữa thôi. Anh biết em đã nhẫn nại đến không ngờ, và anh hứa sau khi ba mẹ đi rồi, chúng ta sẽ tống khứ mọi thứ em không thích.

Chị ưng thuận vì ích lợi của James, và vì chị không còn đủ sức để tranh cãi với bà Clarice. James nói đúng: chị đã nhẫn nại đến không ngờ, mặc dù trái ngược với bản tính của chị. Đây có thể là lần đầu tiên Amaia để người khác điều khiển, nhưng trong giai đoạn cuối thai kỳ, chị nhận thấy một sự thay đổi bao trùm lên mình; nhiều ngày nay chị cảm thấy không khỏe, mọi sinh lực chị có trong những tháng đầu tiên đã nhường chỗ cho sự thờ ơ khác thường trong chị. Sự hiện diện độc đoán của bà Clarice chỉ làm tăng vẻ mong manh vốn có. Amaia liếc nhìn những quần áo trẻ con trong tủ kính lần nữa và quyết định họ đã có đủ mọi thứ mà mẹ chồng mua cho. Sự hoang phí của Clarice vì được làm bà nội lần đầu khiến Amaia khó chịu, nhưng còn một điều nữa: chị sẽ lẳng lặng cho đi hết mọi thứ vì sự say mê màu hồng thái quá làm khổ mẹ chồng chị.

Từ khi mang thai, Amaia mới mua cho con gái một đôi giày len, vài cái áo phông, mấy chiếc quần bó, một bộ Babygros, tất cả đều là màu trung tính. Chị tự nhủ màu hồng không phải là màu mình thích. Khi lướt qua các tủ bày hàng, thấy những váy yếm, áo len đan và váy trang trí ruy băng cùng những bông hoa thêu, chị nghĩ chúng thật đẹp và đáng yêu, hoàn hảo cho một công chúa nhỏ, nhưng vừa cầm chúng trong tay chị đã cảm thấy rất ác cảm với mọi thứ xếp nếp, tai bèo diêm dúa và rốt cuộc chị bỏ đi, bối rối và bực bội, không mua thứ gì. Chị có thể làm gì đó với sự nhiệt tình mà bà Clarice thể hiện, bà sẽ sung sướng ngất ngây khi thấy một cái váy yếm cùng đôi giày hợp bộ. Amaia biết mình không thể hạnh phúc hơn, chị luôn yêu thương đứa bé này, từ khi còn là một đứa trẻ hay nghĩ ngợi, bất hạnh, mơ có ngày sẽ được làm mẹ, một người mẹ thực sự, niềm khao khát ấy đã kết tinh khi chị gặp James. Khi chức năng làm mẹ đe dọa lẩn tránh chị, dồn đến bao nỗi sợ và nghi ngờ, chị đã cân nhắc đến việc thụ tinh nhân tạo. Nhưng đúng lúc đó, chín tháng trước, trong khi điều tra một vụ quan trọng nhất trong sự nghiệp của mình, chị đã mang thai.

Amaia sung sướng, hoặc ít ra chị tưởng thế, và nó càng khiến chị bối rối hơn. Cho đến gần đây, chị cảm thấy mãn nguyện, hài lòng, tự tin theo kiểu chị đã không có trong nhiều năm; song trong mấy tuần qua, những nỗi sợ mới mẻ, thực sự giống hệt ngày trước bắt đầu trở lại, ngấm vào những giấc mơ của chị, thì thào những lời quen thuộc mà chị không muốn nhận ra.

Một cơn co thắt khác, đỡ đau hơn nhưng kéo dài hơn kẹp chặt lấy Amaia. Chị xem giờ, hai mươi phút kể từ cơn cuối trong công viên.

Amaia tới thẳng nhà hàng đã hẹn trước. Bà Clarice không cho James nấu nướng và luôn gợi ý họ cần người giúp việc. E rằng một ngày nào đó về đến nhà, họ đã có một quản gia người Anh, chị và James quyết định ngày nào cũng ra ngoài ăn trưa và ăn tối.

James chọn một nhà hàng hiện đại trên phố cạnh đường Mercaderes, nơi họ đang ở. Lúc chị tới nơi, Clarice và Thomas lầm lì đang nhấp martini. James đứng dậy ngay khi nhìn thấy vợ.

– Chào Amaia, em thế nào, em yêu? - Anh nói, đặt một nụ hôn lên môi Amaia và kéo ghế cho chị.

– Em ổn, - chị đáp, không biết có nên nhắc tới những cơn co thắt không. Liếc nhìn bà Clarice, chị quyết định im lặng.

– Còn bé con? - James mỉm cười, đặt tay lên bụng vợ.

– Bé con, - bà Clarice lặp lại, nhạo báng. - Các con cho là bình thường khi chỉ còn một tuần nữa là cháu gái ra đời mà vẫn chưa chọn cho nó một cái tên sao?

Amaia giả vờ xem thực đơn trong lúc nhìn James một cách ngờ vực.

– Kìa mẹ, đừng thế nữa. Chúng con thích vài cái tên, nhưng chưa thể quyết định nên cứ đợi đến khi em bé ra đời vậy. Lúc nhìn thấy bộ mặt bé xíu của đứa trẻ, chúng con sẽ biết nên gọi cháu là gì.

– Ôi chao! - Bà Clarice vui vẻ hơn. - Vậy là các con đã nghĩ đến một số tên. Có lẽ trong đó có tên Clarice chăng? - Amaia buột ra một tiếng thở dài. - Nói nghiêm túc đi, các con đã nghĩ đến những cái tên nào? - Bà Clarice dai dẳng.

Amaia rời mắt khỏi thực đơn lúc một cơn đau thắt xuất hiện trong vài giây. Chị xem giờ lần nữa và mỉm cười.

– Thực ra, con đã chọn một cái tên, - chị nói dối, - nhưng con muốn nó là một sự ngạc nhiên. Con có thể nói với mẹ rằng tên cháu sẽ không phải là Clarice: con không thích lặp lại tên trong phạm vi gia đình, con nghĩ mỗi người nên có một nhân dạng riêng của mình.

Bà Clarice nhăn mặt.

Tên đứa trẻ là một quả tên lửa khác mà bà Clarice phóng vào Amaia mỗi khi có dịp. Mẹ James nói đi nói lại chuyện ấy nhiều đến nỗi anh đã gợi ý chọn đại một cái tên để bà im miệng. Amaia phát cáu. Đó là giọt nước tràn ly: tại sao chị buộc phải chọn một cái tên chỉ để vui lòng bà Clarice?

– Không phải để mẹ vui, Amaia, mà vì chúng ta phải đặt tên con là gì chứ, còn em hình như không muốn nghĩ đến việc chọn một cái tên chút nào.

Cũng như quần áo, Amaia biết họ đúng. Ngẫm nghĩ về việc này, chị lo lắng tới mức hỏi ý kiến bà Engrasi.

– Ờ, cô không có con nên không thể nói theo kinh nghiệm cá nhân, nhưng về mặt lâm sàng, cô đã thu thập một số tên khá phổ biến, đặc biệt trong số những người làm cha mẹ lần đầu. Khi có con, họ biết mình mong đợi những gì, và chẳng có gì lạ khi một số phụ nữ mang thai lần đầu mặc dù bụng lớn dần nhưng vẫn khó liên hệ những thay đổi trong cơ thể với thực tế là mình đang mang một đứa con. Ngày nay nhờ siêu âm và nghe tim thai, họ biết được giới tính của thai nhi, những người sắp làm cha mẹ cảm thấy rõ hơn đứa trẻ là có thật, còn trong quá khứ, người ta không thể nhìn thấy đứa trẻ cho đến khi nó chào đời, phần lớn chỉ nhận thức được mình có con khi đu đưa nó trên tay và chăm chú ngắm bộ mặt nhỏ xíu của nó. Những e ngại của cháu là hoàn toàn tự nhiên, bà nói và đặt tay lên bụng Amaia. - Hãy tin cô đi, chẳng có người nào được chuẩn bị để làm cha mẹ, dù một số người thích giả vờ là có.

Amaia gọi món cá, song hầu như không đụng đến. Chị nhận thấy những cơn co thắt ngày càng mau và khi chị yên tĩnh sẽ đỡ đau hơn.

Vừa dùng bữa xong, Clarice lại tấn công.

– Các con đã xem xét nhà trẻ chưa?

– Chưa mẹ ạ, - James nói, đặt tách xuống bàn và nhìn mẹ anh chăm chăm, mệt mỏi. - Vì chúng con sẽ không gửi trẻ.

– Mẹ biết, thế nên các con sẽ tìm người trông trẻ khi Amaia trở lại làm việc.

– Khi Amaia đi làm lại, con sẽ tự chăm sóc cháu.

Bà Clarice mở to mắt. Bà nhìn chồng cầu cứu nhưng chẳng nhận được gì từ Thomas, ông mỉm cười và lắc đầu lúc nhấp từng ngụm trà Nam Phi.

– Clarice… - Ông cảnh báo. Những lần nhắc tên vợ bằng giọng trách móc này chứng tỏ Thomas sắp phản đối đến nơi.

Bà phớt lờ ông.

– Con đừng đùa. Làm sao con trông nom con bé được? Con không biết tí gì về trẻ con hết.

– Con sẽ học, - James đáp và mỉm cười.

– Học ư? Lạy Chúa tôi! Con sẽ cần giúp đỡ.

– Con có một người quét dọn đến thường xuyên mà.

– Mẹ không nói đến người quét dọn mỗi tuần đến làm bốn giờ, mẹ nói đến một bảo mẫu, một người trông trẻ, một ai đó có thể chăm sóc đứa bé.

– Con sẽ chăm sóc cháu. Chúng con sẽ cùng chăm sóc cháu, bọn con đã quyết định thế.

Qua nét mặt, James có vẻ thích thú, cả Thomas cũng vậy. Bà Clarice thở dài, cười thiểu não và chọn giọng bình tĩnh, dường như là nỗ lực hết sức để tỏ ra biết điều và kiên nhẫn.

– Phải, mẹ biết mọi thứ về việc nuôi nấng con cái thời hiện đại này, cho con bú đến khi mọc răng, cho con ngủ chung giường, không cần bảo mẫu, nhưng con trai ơi, con cũng phải làm việc, sự nghiệp của con đang ở giai đoạn then chốt và trong năm đầu tiên của đứa trẻ, con sẽ không có cả thời gian mà thở nữa kia.

– Con vừa làm xong bộ sưu tập bốn mươi tám tác phẩm cho cuộc triển lãm ở Guggenheim năm tới, và con có đủ sản phẩm dự phòng để có thể toàn tâm toàn ý chăm lo cho con của mình. Ngoài ra, Amaia không phải lúc nào cũng bận. Cô ấy có những thời kỳ rất bận việc, nhưng thường về nhà sớm.

Amaia cảm thấy bụng mình căng lên dưới áo, lúc này đau hơn. Chị thở chầm chậm, che giấu lúc liếc nhìn đồng hồ. Mười lăm phút.

– Trông em xanh quá, Amaia, em cảm thấy ra sao?

– Em mệt. Em nghĩ nên về nhà nằm nghỉ một lát.

–Tốt, Thomas và mẹ sẽ đi mua sắm, - bà Clarice tuyên bố. - Nếu không bọn con sẽ dùng lá nho thay cho chăn đắp của trẻ. Chúng ta sẽ gặp nhau ăn tối nhé!

– Không ạ, - Amaia phản đối. - con sẽ làm bữa ăn nhẹ ở nhà và cố nghỉ ngơi. Con định ngày mai sẽ đi mua sắm, con trông thấy một cửa hàng bán nhiều váy áo rất xinh.

Clarice cắn câu ngay: viễn cảnh đi mua sắm thỏa thích với con dâu khiến bà thoải mái ngay lập tức, bà tươi hẳn lên, hài lòng.

– Ồ tất nhiên rồi, con yêu, con sẽ thấy chúng ta có một thời gian thoải mái. Từ khi đến, mẹ đã thấy nhiều thứ đẹp huy hoàng. Con phải nghỉ đi, con yêu, - bà nói và đi ra cửa.

Thomas cúi xuống hôn Amaia trước khi rời đi.

– Chơi hay lắm, - ông thì thầm và nháy mắt với chị.

Từ bên ngoài, căn nhà của họ trên đường Mercaderes không để lộ một sự tráng lệ nào: trần cao, các cửa sổ lớn, tường ốp gỗ, những đường phào tuyệt đẹp trang trí cho hầu hết các căn phòng và tầng trệt, trước kia là xí nghiệp sản xuất ô và hiện giờ là xưởng điêu khắc của James.

Amaia tắm xong nằm duỗi trên sofa, một tay cầm cuốn sách mỏng, tay kia cầm đồng hồ.

– Hôm nay trông em mệt hơn thường ngày. Anh thấy suốt bữa ăn em chẳng chú ý nhiều đến những lời ngớ ngẩn của mẹ.

Amaia cười.

– Ở tòa án có chuyện gì sao? Em kể phiên xử bị hoãn nhưng chưa nói lý do.

– Sáng nay Jasón Medina đã tự sát trong nhà vệ sinh ở tòa. Ngày mai sự việc đó sẽ tràn lan trên các mặt báo.

– Ờ, - James nhún vai. - Anh không thể nói là tiếc được.

– Em cũng vậy. Hắn chẳng phải là mất mát to lớn gì, nhưng em hình dung gia đình nạn nhân chắc phải thất vọng vì hắn không bị đưa ra xét xử. Bù lại, họ sẽ không phải chịu đựng nỗi đau khi nghe hắn thuật lại những chi tiết hãi hùng.

James trầm tư gật đầu.

Amaia cân nhắc có nên kể về tấm thiếp Medina để lại cho chị không, nhưng chị thấy nó chỉ làm anh hoang mang mà thôi. Chị không muốn phá hỏng khoảnh khắc đặc biệt này vì tin đó.

– Vâng, hôm nay em mệt hơn vì mải nghĩ nhiều việc khác nữa.

– Như là? - Anh hỏi.

– Lúc mười hai rưỡi em bắt đầu có những cơn co thắt, cứ hai mươi phút một cơn. Ban đầu chỉ kéo dài vài giây, bây giờ mỗi lúc một đau hơn và cứ mười hai phút một cơn.

– Ôi Amaia, tại sao lúc trước em không nói với anh? Em chịu đựng suốt bữa ăn ư? Có đau lắm không?

– Không đau lắm, - Amaia đáp và mỉm cười, - Giống như bị chèn ép rất mạnh, vả lại em không muốn mẹ cuống lên vì em. Bây giờ em cần yên tĩnh một chút. Em sẽ nghỉ và kiểm tra tần số các cơn co. Lúc nào em sẵn sàng, chúng ta sẽ đến bệnh viện.

Bầu trời Pamplona vẫn u ám, và những ngôi sao mùa đông nhấp nháy xa xa chỉ vừa đủ nhìn thấy.

James đã ngủ say, nằm úp mặt, tay chân dang rộng chiếm một khoảng lớn hơn phần của mình trên giường, anh ngủ đúng kiểu thoải mái, thanh thản của mình khiến Amaia luôn ghen tị. Ban đầu anh còn do dự về việc đi nằm, nhưng Amaia thuyết phục anh nghỉ ngơi trong lúc có thể, vì sau này chị cần anh tỉnh táo.

– Em có chắc sẽ ổn không? - Anh nhấn mạnh.

– Em chắc, James à. Em chỉ cần kiểm tra tần số các cơn đau. Khi đến lúc phải đi, em sẽ gọi anh.

Vừa đặt đầu xuống gối, James đã ngủ ngay lập tức và ngôi nhà trở nên tĩnh lặng, ngoài tiếng thở đều đặn của anh và tiếng sột soạt nhè nhẹ khi chị giở sang trang.

Amaia ngừng đọc lúc cảm thấy một cơn co thắt nữa. Thở hổn hển, chị nắm lấy tay ghế xích đu đã ngồi suốt giờ qua, đợi cơn đau dịu đi.

Thất vọng, Amaia đặt sách xuống không buồn đánh dấu trang, vì nhận ra mặc dù đọc nhiều song chị chẳng tiếp thu được tí gì. Trong nửa giờ qua, các cơn co ngày càng đau hơn, khiến chị suýt hét lên. Tuy vậy, chị cố đợi thêm lúc nữa. Nhoài ra ngoài cửa sổ, chị chăm chú nhìn xuống đường phố náo nhiệt trong đêm thứ Sáu, bất chấp trời rét, thỉnh thoảng có mưa phùn và lúc này đã quá nửa đêm.

Nghe thấy tiếng động ở hành lang, chị đến bên cửa phòng ngủ và lắng nghe.

Là ba mẹ chồng chị trở về sau bữa tối và cuộc dạo chơi. Chị liếc nhìn ngọn đèn đọc sách đang bật và định tắt đi, song thấy không cần; mặc dù bà Clarice hay xía vào mọi nếp sinh hoạt, song bà không dám đột nhập vào phòng ngủ của họ.

Tiếp tục theo dõi các cơn co mỗi lúc một gần nhau hơn, Amaia lắng nghe mọi âm thanh trong nhà, ba mẹ James đi nằm, và mọi thứ như ngừng lại, nhường chỗ cho sự tĩnh lặng, chỉ có tiếng cót két và tiếng thì thầm của các cư dân trong tòa nhà rộng lớn, quen thuộc như hơi thở của chị vậy. Bây giờ chị chẳng còn gì phải lo; ông Thomas ngủ rất say, còn bà Clarice đêm nào cũng uống thuốc nên không thể tỉnh giấc trước rạng đông.

Cơn co tiếp theo thực sự dữ dội, mặc dù tập trung hít vào, thở ra đúng cách đã học trong các lớp tiền sản, Amaia cảm thấy dường như chị đang đeo một cái nịt ngực bằng thép, siết vào thận và phổi chặt đến mức khiến chị hoảng hốt. Sinh nở không làm chị sợ nhiều, mặc dù chị công nhận có cảm giác rung chuyển nào đó trong lúc nhận thấy đây là hoàn toàn bình thường. Không chỉ biết thứ làm chị sợ là một thứ sâu sắc và ngấm ngầm hơn, vì đây không phải là lần đầu tiên chị đối mặt với nỗi sợ. Chị đã mang nó suốt nhiều năm ròng như một bạn đồng hành vô hình, không mong muốn, chỉ xuất hiện mỗi khi chị ở tình trạng suy sụp nhất.

Nỗi sợ như một con ma cà rồng già nua lù lù trên giường trong lúc chị ngủ, nấp trong bóng tối, lấp đầy những giấc mơ của chị bằng những bóng ma hãi hùng. Chị bỗng nhớ ra bà nội Juanita gọi nó là gaueko, “vị khách đêm”. Một vị khách rút lui vào bóng tối bất cứ khi nào chị mở được một lỗ hổng trên hàng rào phòng ngự của mình, lỗ thủng để ánh sáng hiểu biết lọt qua, lộ ra sự tàn ác của những sự kiện khủng khiếp ghi dấu đời chị mãi mãi, xuyên qua ý chí mạnh mẽ chị vẫn chôn sâu trong lòng. Bước đầu tiên là hiểu, nhận biết được sự thật và đương đầu với nó. Tuy nhiên, ngay trong trạng thái phấn khích khi lần đầu tiên chiến thắng nỗi sợ, chị nhận ra mình không thắng cuộc chiến, một cuộc chiến vẻ vang, nhưng lúc nào cũng như nhau. Từ đó trở đi, chị đã làm việc chăm chỉ để giữ cho lỗ hổng luôn mở, cho phép ánh sáng ùa vào tràn ngập, củng cố mối quan hệ của chị với James cũng như hình ảnh bản thân mà chị đã xây dựng suốt bao năm qua. Như một dòng tái bút, lần mang thai này, đứa trẻ lớn dần lên trong chị đã mang lại cho chị cảm giác thanh thản mà trước kia chị chưa bao giờ hình dung nổi. Suốt thai kỳ, Amaia cảm thấy sửng sốt: chị không buồn nôn vào buổi sáng, không khó chịu, giấc ngủ của chị thảnh thơi và êm ả, thoát hẳn những cơn ác mộng và những cú giật mình đột ngột, ban ngày chị tràn đầy sinh lực đến mức chính chị cũng ngạc nhiên. Một thai kỳ hoàn hảo, cho đến một tuần trước, ban đêm tai họa đã trở lại.

Hằng ngày, chị đến đồn cảnh sát như thường lệ, họ đang điều tra vụ một phụ nữ mất tích, bạn tình của bà ta là nghi phạm chính. Trong nhiều tháng, vụ mất tích bị coi là có chủ đích, nhưng các con gái của bà ta khăng khăng rằng mẹ họ không tự ý ra đi khiến Amata chú ý, và chị mở lại cuộc điều tra. Ngoài hai con gái và ba cháu ngoại, người phụ nữ trung niên dạy giáo lý vấn đáp ở nhà thờ địa phương, hằng ngày đến nhà dưỡng lão thăm bà mẹ già cả. Quá nhiều bổn phận, bà ta không thể biến mất không để lại một lời nào như vậy. Ngay từ đầu, họ đã xác minh va li, quần áo, giấy tờ tùy thân và tiền của bà ta đều bị mất. Tuy nhiên, khi Amaia tiếp nhận cuộc điều tra, chị kiên quyết trở lại nơi đó. Ngôi nhà của Lucía Aguirre gọn gàng và ngăn nắp y hệt bức ảnh chủ nhân tươi cười, kiêu hãnh treo trên tường. Trong phòng khách nhỏ, một sản phẩm móc tay trải bàn nước, phủ kín những ảnh của các cháu ngoại.

Amaia lục soát căn bếp và buồng tắm, tất thảy đều sạch sẽ tinh tươm. Trong phòng ngủ của chủ nhân, giường đã dọn, chỉ còn ít quần áo trong tủ và ngăn kéo. Trong căn phòng thừa có nhiều giường đơn.

–Jonan, cậu nhận thấy ở đây có gì lạ không?

– Các tấm phủ giường khác nhau, phó thanh tra Etxaide nói.

– Chúng tôi đã nhận thấy điều đó khi khám xét lần đầu. Khăn phủ giường hợp bộ ở trong tủ áo, - viên cảnh sát cùng đi vừa giải thích vừa kiểm tra những ghi chép.

Amaia mở tủ và tìm thấy tấm khăn trải màu xanh lơ cùng bộ, gấp gọn để trong túi nylon trong suốt.

– Cậu không thấy lạ khi người phụ nữ ngăn nắp, tự hào về nhà cửa này lại không buồn dùng đồ trải giường cùng bộ trong khi có nó?

– Sao bà ta lại thay khăn phủ nếu dự định biến mất? - Viên cảnh sát nhún vai nói.

– Vì chúng ta là nô lệ cho thói quen của mình. Anh có biết một số phụ nữ ở Đông Berlin còn lau sàn nhà trước khi chạy trốn sang Tây Berlin không? Họ từ bỏ đất nước, nhưng vẫn không muốn có người nói mình không phải là người nội trợ tốt.

Amaia kéo cái gói cồng kềnh ra khỏi tủ áo và đặt lên một cái giường trước khi kéo khóa. Mùi thuốc tẩy hăng nồng tỏa khắp căn phòng. Dùng bàn tay đeo găng, Amaia kéo mép khăn trải giường, mở nó ra để lộ một vết bẩn ở giữa, nơi thuốc tẩy làm bạc màu.

– Anh thấy chưa, nó không dùng được, - chị nói và quay sang viên cảnh sát, anh ta gật đầu, không nói gì.

– Kẻ sát nhân của chúng ta đã xem các chương trình tivi về điều tra hiện trường gây án đủ để biết rằng thuốc tẩy làm sạch vết máu, nhưng hắn là một ông chồng kinh khủng vì hắn không tính đến thuốc tẩy cũng làm mất màu. Gọi pháp y làm xét nghiệm máu, vết này rất lớn.

Sau khi đội pháp y lục soát kỹ càng, nhiều dấu vết được phát hiện mặc dù đã được cố lau chùi, lộ ra một lượng lớn máu bị mất, dẫn đến mất mạng: cơ thể con người chứa năm lít máu, mất năm trăm mi li lít đã gây choáng, và các xét nghiệm cho thấy có hơn hai lít máu tràn ra. Họ bắt được nghi phạm trong cùng ngày: một kẻ rỗng tuếch, vênh váo, tóc dài quá mức có nhiều vệt hoa râm, sơ-mi mở khuy đến tận ngực. Từ căn phòng kế bên, Amaia cố nín cười khi nhìn thấy hắn.

– Sự trở về của El Macho, - phó thanh tra Etxaide nói. - Ai sẽ thẩm vấn hắn?

– Thanh tra Fernández, họ làm vụ này từ đầu…

– Tôi tưởng là chúng ta, bây giờ là thẩm vấn một vụ án mạng. Nếu không phải là chị, thì họ vẫn đợi bà ta gửi bưu thiếp từ Cancún.

– Đây là vấn đề lịch sự thôi, Jonan. Hơn nữa, tôi không thẩm vấn các nghi phạm trong tình trạng này, - Amaia nói và chỉ vào bụng mình.

Thanh tra Fernández vào phòng thẩm vấn và Jonan bật máy ghi âm.

– Chào ông Quiralte. Tôi là thanh tra thám tử Fer…

– Gượm đã, - Quiralte ngắt lời. Hắn giơ đôi tay bị còng, hất tóc như một diva trong tạp chí những người nổi tiếng. - Tôi không được cảnh sát hạng sao thẩm vấn sao?

– Ý ông là gì vậy?

– Ông biết thừa đi rồi, nữ thanh tra từ FBI ấy?

– Sao ông biết điều đó? - Fernández hỏi, giật mình. Amaia tặc lưỡi bực bội. Quiralte cười khẩy.

– Vì tôi thông minh hơn ông.

Trông Fernández căng thẳng. Anh ít có kinh nghiệm thẩm vấn những kẻ sát nhân, và nghi phạm đã thành công trong việc làm anh lúng túng.

– Đừng để hắn giữ ưu thế, - Amaia lẩm bẩm.

Dường như có thể nghe thấy chị, Fernández làm chủ cuộc thẩm vấn.

– Tại sao ông muốn được thanh tra ấy thẩm vấn?

– Vì người ta bảo tôi cô ta rất hot, tôi thà được một nữ thanh tra xinh đẹp thẩm vấn còn hơn ông, - hắn nói và dựa vào lưng ghế.

– Ông sẽ phải làm việc với tôi thôi. Vị thanh tra ông nhắc tới đang nghỉ phép.

Quiralte cười đểu giả, quay nhìn thẳng vào tấm gương hai chiều, dường như hắn có thể nhìn thấu qua nó.

– Ờ, tiếc thật, tôi sẽ phải đợi cho đến khi cô ta trở lại làm việc.

– Ông không định khai ư?

–Tất nhiên là có. - Rõ ràng hắn rất khoái chí. - Đừng có dài mặt ra như thế, nếu cảnh sát hạng sao không ở đây, hãy đưa tôi đến trước thẩm phán và tôi sẽ khai với ông ta tôi đã giết con bò cái ngu ngốc ấy.

Hắn làm đúng như thế. Hắn thú nhận ngay lập tức, lại còn trâng tráo nhắc thẩm phán rằng nếu không có xác thì không có tội, và hắn chưa định khai với họ cái xác ở đâu. Một trong những thẩm phán trẻ nhất tòa, thẩm phán Markina có ngoại hình nổi bật, mặc đồ jeans mài, thỉnh thoảng lừa được vài gã phạm trọng tội khai báo quá nhiều, như trường hợp với Quiralte. Ông tặng hắn nụ cười rạng rỡ, nụ cười từng hạ gục đám nữ thư ký, trước khi ra lệnh tống giam hắn.

– Vậy không có xác, hở ông Quiralte? Chúng tôi sẽ phải đợi cho đến khi nó xuất hiện. Tôi e rằng ông đã xem quá nhiều phim Mỹ. Riêng việc ông biết nơi giấu xác mà không chịu tiết lộ thông tin đã đủ lý do giam giữ ông vô thời hạn. Ngoài ra, ông đã thú nhận một vụ giết người. Một thời gian trong tù có thể làm đầu óc ông tỉnh táo lại. Tôi sẽ nói chuyện lần nữa khi ông có điều muốn nói với tôi. Cho đến lúc đó…

Amaia đi bộ về nhà, cố gạt mọi chi tiết của vụ án ra khỏi tâm trí, như một bài tập tự chủ và cũng lấy lại tâm trạng mừng ngày làm việc cuối cùng với James. Còn hai tuần nữa mới đến ngày dự sinh, mặc dù chị cảm thấy hoàn toàn có thể làm việc đến lúc cuối, James đã thuyết phục chị xin nghỉ phép năm vì hôm sau, bố mẹ anh sẽ đến. Sau bữa tối, chị đi nằm, mệt lả, và ngủ thiếp ngay mà không nhận ra. Chị chỉ nhớ nói chuyện với James được một phút rồi sau đó chẳng nhớ gì nữa.

Chị nghe thấy trước khi nhìn thấy người đàn bà. Bà ta run rẩy vì lạnh, răng đánh vào nhau lập cập to đến nỗi làm Amaia mở mắt. Lucía Aguirre mặc đúng chiếc áo len đan sọc đỏ-trắng như trong bức ảnh treo ở hành lang nhà bà ta, cây thánh giá vàng đeo cổ, mái tóc vàng hoe cắt ngắn, chắc chắn là nhuộm để che giấu những chỗ hoa râm. Diện mạo của bà ta chẳng có gì giống người phụ nữ vui vẻ, tự tin đang cười trước ống kính. Lucía Aguirre không khóc, than vãn hay nức nở, trong đôi mắt xanh biếc của bà ta chỉ có nỗi đau sâu sắc, lo âu khiến vẻ mặt bà vô cùng hoang mang, dường như bà chẳng hiểu gì, dường như không thể chấp nhận việc đang xảy ra với mình. Lucía Aguirre đứng lặng lẽ, mất phương hướng, lắc lư vì một luồng gió không ngừng, hình như thổi từ mọi hướng làm bà đu đưa nhịp nhàng, càng tăng thêm vẻ vô vọng. Cánh tay trái của bà siết chặt vào eo, trong cử chỉ tự vệ khiến bà ít thoải mái và thỉnh thoảng cái nhìn của bà ngơ ngác như thăm dò, tìm kiếm cho đến lúc gặp cái nhìn chằm chặp của Amaia. Bà ta há miệng, ngạc nhiên như một bé gái trong dịp sinh nhật, rồi bắt đầu nói. Amaia quan sát đôi môi người đàn bà, xanh tái vì rét nhưng không thốt ra âm thanh nào. Chị ngồi trên giường, tập trung hết mức, cố hiểu bà ta nói gì, nhưng luồng gió chói tai từ xa đã chặn hết mọi âm thanh xuất phát từ môi bà, những từ có ngữ điệu lặp đi lặp lại mà Amaia không thể nghe ra. Chị tỉnh giấc trong trạng thái bàng hoàng, tràn ngập nỗi thống khổ của người đàn bà và cảm giác thất vọng ngày càng tăng của chính mình. Giấc mơ này, sự xuất hiện của bóng ma này, đã đập tan tành trạng thái khoan dung, thoát khỏi nỗi sợ mà chị có từ khi mang thai con gái, một khoảng thời gian yên bình khi những cơn ác mộng, những gaueko, những bóng ma bị xua đuổi sang một thế giới khác.

Vài năm trước, ở New Orleans, vào một buổi chiều ngồi uống bia lạnh trong quán rượu trên phố St Louis, một đặc vụ vui tính thuộc FBI đã hỏi Amaia:

– Thanh tra Salazar, hãy cho tôi biết, ban đêm các nạn nhân bị giết có xuất hiện ở chân giường cô không?

Mắt Amaia mở to vì sửng sốt.

– Đừng cố lừa tôi, Salazar. Tôi có thể nói một sĩ quan cảnh sát trông thấy những bóng ma mà người khác không thể thấy.

Amaia lặng lẽ nhìn anh ta chằm chằm, không biết anh ta đùa hay thật, nhưng đặc vụ kia vẫn nói, nụ cười bí hiểm nở trên môi.

– Tôi biết, vì chúng vẫn làm thế với tôi nhiều năm qua.

Amaia mỉm cười, nhưng đặc vụ cao cấp Aloisius Dupree nhìn thẳng vào mắt chị và chị biết anh rất nghiêm túc.

– Ý anh là…

– Thanh tra ạ, ý tôi là tỉnh dậy lúc nửa đêm và thấy nạn nhân trong vụ cô đang điều tra đứng cạnh giường cô. - Nụ cười của Dupree tắt ngấm.

Chị bứt rứt nhìn anh chằm chặp.

– Đừng coi thường tôi, Salazar. Cô sắp nói với tôi là không trông thấy ma chứ gì? Tôi sẽ thất vọng lắm.

Chị cảnh giác, nhưng chưa đủ liều để ra vẻ là một kẻ ngốc.

– Thanh tra Dupree, làm gì có ma quỷ, chị nói và lẳng lặng giơ cốc lên.

– Lẽ tất nhiên là chúng không có, thanh tra ạ, nhưng nếu tôi không nhầm thì hơn một lần thức giấc giữa đêm khuya, cô có cảm giác một trong những nạn nhân mất tích ấy ở bên giường mình. Tôi có nhầm không đấy?

Amaia uống một ngụm bia, quyết không nói gì, nhưng mời anh nói tiếp.

– Cô không nên cảm thấy ngượng, thanh tra ạ… Hay cô thích tôi gọi là cô “mơ” về các nạn nhân?

Amaia thở dài.

– Tôi e rằng những âm thanh ấy chỉ là vì lo lắng, đáng ngờ và loạn trí.

– Đúng, có câu này, thanh tra: nó bị gán cho là loạn trí.

– Hãy giải thích như thế với bác sĩ tâm thần FBI hoặc người tương tự ở sở cảnh sát Navarre xem, - chị vặn.

– Chà, nói tiếp đi, Salazar! Chẳng ai trong chúng ta lại ngu xuẩn để phơi mặt ra cho một bác sĩ tâm thần nghiên cứu khi cả hai đều biết rằng đây là việc mà ông ta hoặc bà ta không thể hiểu. Hầu hết mọi người cho rằng một cảnh sát gặp ác mộng về một vụ án là lúc ít căng thẳng nhất hoặc tệ hơn, là vì quá xúc động.

Đặc vụ Dupree ngừng lại, uống cạn cốc rồi giơ tay gọi thêm hai cốc nữa. Amaia định phản đối, nhưng cái nóng ngột ngạt ở New Orleans, tiếng dương cầm thánh thót mà ai đó đang lướt trên phím đàn ở tận cuối phòng, chiếc đồng hồ cổ chết ở lúc mười giờ kiêu hãnh treo bên trên quán khiến chị đổi ý. Dupree đợi đến lúc người phục vụ đặt hai cốc bia tươi trước mặt họ.

– Vài lần đầu nó khiến cô sợ hết hồn, cho tới khi cô tưởng mình bắt đầu phát điên. Nhưng thế là không đúng, Salazar ạ. Ngược lại, một thám tử điều tra án mạng giỏi không được có đầu óc đơn giản hoặc những suy nghĩ đơn giản. Chúng ta mất nhiều giờ cố hình dung kẻ giết người hành động ra sao, hắn nghĩ gì, cảm thấy gì. Tiếp theo, ta tới nhà xác, xem xét tác phẩm của hắn, mong tử thi sẽ cho ta biết lý do, vì khi biết động cơ của kẻ giết người, chúng ta mới có cơ hội bắt được hắn. Nhưng trong phần lớn các vụ, thi thể chưa đủ nói lên tất cả vì người đã chết chỉ là một cái vỏ đã gẫy vỡ. Có lẽ các cuộc điều tra hình sự kéo dài quá lâu, tập trung nhiều vào việc tìm hiểu suy nghĩ của tội phạm hơn là của nạn nhân. Trong nhiều năm, các nạn nhân bị giết chưa được coi là sản phẩm cuối cùng của một quá trình nham hiểm, nhưng chí ít khoa nạn nhân học cũng thực sự xứng đáng, cho thấy sự lựa chọn nạn nhân không bao giờ hú họa ngay cả khi có vẻ như thế, cung cấp cho ta quá nhiều manh mối. Trong khi mơ về các nạn nhân, chúng ta tiếp cận các hình ảnh được tiềm thức hướng dẫn, nhưng không làm chúng bớt ý nghĩa. Nó chỉ là một dạng khác của quá trình suy nghĩ. Trong một thời gian, sự xuất hiện của các nạn nhân bên giường giày vò tôi. Tôi thường thức dậy người đẫm mồ hôi, sợ hãi và lo âu. Tôi cảm thấy như thế trong nhiều giờ liền, trong lúc cố luận ra đang hổng chỗ nào. Hồi đó tôi là đặc vụ mới tinh, là cộng sự của một người từng trải. Có lần, trong một cuộc giám sát dài, buồn tẻ, tôi chợt tỉnh giấc vì những cơn ác mộng. “Trông cậu như nhìn thấy ma vậy”, cộng sự của tôi nói. Tôi lạnh cứng người. “Có lẽ thế”, tôi đáp. “Vậy là cậu đã thấy những bóng ma”, anh ta hỏi. “Lần sau, cậu nên chú ý hơn xem chúng nói gì, thay vì hét toáng lên hoặc cố cưỡng lại”. Đó là một lời khuyên hữu ích. Qua nhiều năm, tôi đã học được rằng khi mơ về một nạn nhân, một phần não của tôi được thông tin đã có hướng dẫn, nhưng tôi không thể trông thấy.

Amaia chậm rãi gật đầu.

– Vậy thì chúng là những bóng ma hay là những hình ảnh trong tâm trí của người điều tra?

– Tất nhiên là những hình ảnh. Mặc dù…

– Mặc dù gì?

Đặc vụ Dupree không đáp. Anh nâng cốc lên và uống cạn.

Chị đánh thức James, cố không làm anh hoảng. Anh giật mình ngồi dậy, và dụi mắt.

– Đến lúc tới bệnh viện rồi ư?

Amaia vỗ nhẹ đầu mình, mặt chị tái nhợt lúc cười yếu ớt. James mặc vội quần jeans, áo len dài tay anh đã xếp sẵn ở cuối giường.

– Anh gọi cô Engrasi nhé? Em đã hứa sẽ báo để cô biết.

– Ba mẹ anh về nhà chưa?

– Rồi, nhưng anh đừng gọi họ, James ạ. Bây giờ là hai giờ sáng. Em chưa sinh ngay bây giờ đâu. Hơn nữa, chắc chắn người ta không cho họ vào. Em không muốn ba mẹ phải ngồi trong phòng đợi nhiều giờ liền.

– Vậy sao lại gọi cho cô em chứ không phải là ba mẹ anh?

–James à, anh thừa biết cô Engrasi không ở đây, nhiều năm nay bà không rời thung lũng. Em đã hứa với cô khi nào đi bệnh viện sẽ báo, thế thôi.

Bác sĩ Villa khoảng năm mươi, nhưng tóc sớm hoa râm nên bà cắt ngắn quá vai, tóc rơi qua mặt lúc bà cúi xuống. Nhận ra Amaia, bà liền đến bên giường chị.

– Chào Amaia, chúng ta có tin tốt và không tốt lắm.

Amaia đợi bà nói tiếp, chị chìa tay ra cho James, anh siết chặt bàn tay vợ.

–Tin tốt là lúc này cô đang đau đẻ, đứa trẻ khỏe, dây rốn không quấn quanh bé, tim bé đập đều và mạnh trong các cơn co. Tin không tốt lắm là mặc dù cô đau đã lâu, nhưng không tiến triển nhiều. Tuy tử cung đã mở nhưng đứa bé không ở đúng vị trí trong đường dẫn sinh. Song điều tôi lo nhất là trông cô rất mệt. Cô ngủ có ngon không?

– Không, mấy ngày qua tôi ngủ không ngon giấc.

Đây là nói cho nhẹ đi. Từ khi những cơn ác mộng trở lại, Amaia cứ ngủ chập chờn được vài phút rồi trôi vào trạng thái tỉnh nửa vời, lúc thức dậy chị mệt lử và cáu kỉnh.

– Chúng tôi sẽ ở bên cô, Amaia ạ, nhưng tôi không muốn cô nằm. Tôi cần cô đi bộ, sẽ giúp cho đầu đứa trẻ quay xuống. Lúc cảm thấy cơn co sắp đến, cố ngồi xổm sẽ làm cô đỡ khó chịu và tử cung mở rộng.

Chi khẽ thở dài.

– Tôi biết cô mệt, bác sĩ Villa nói tiếp, nhưng không còn lâu nữa đâu. Con gái cô đang cần cô giúp.

Amaia gật đầu.

Suốt hai giờ sau đó, chị đi tới đi lui trong hành lang bệnh viện vắng tanh vào giờ sớm sủa này. James đi cạnh vợ, hình như anh rất bối rối, và cảm thấy bất lực lúc thấy vợ đau đớn mà không thể làm được gì.

Trong vài phút đầu, anh cứ hỏi chị có ổn không, anh có giúp được gì không, chị muốn anh mang tới gì không, vân vân. Chị không đáp, cố hết sức điều khiển cơ thể và cảm thấy nó không còn thuộc về mình nữa. Cơ thể mạnh mẽ, khỏe khoắn luôn cho chị cảm giác tự tin dễ chịu, nay không hơn gì một đống da thịt đau đớn. Chị suýt bật cười vì niềm tin ngớ ngẩn đã có từ lâu rằng chị có ngưỡng chịu đau cao.

Rốt cuộc, James nhượng bộ và giữ im lặng. Chị nhẹ người. Chị đã nỗ lực như một siêu nhân để không bảo anh xéo đi, mỗi lần anh hỏi chị có đau không. Đau đớn đã gây ra cơn giận bản năng trong chị, kết hợp với tình trạng kiệt sức và thiếu ngủ che mờ tâm trí, cho đến khi chị chỉ tập trung vào một ý nghĩ mình chỉ muốn việc này chấm dứt.

Bác sĩ Villa ném đôi găng tay, hài lòng.

– Cô làm tốt lắm, Amaia, cô cần mở thêm chút nữa, nhưng đứa trẻ đã ở đúng vị trí, vấn đề bây giờ là các cơn co và thời gian thôi.

– Bao lâu? - Amaia hỏi, lo âu.

– Làm mẹ lần đầu nên có thể nhiều phút hoặc nhiều giờ, nhưng bây giờ cô có thể nằm xuống, cô sẽ thấy dễ chịu hơn. Chúng tôi sẽ giám sát và chuẩn bị cho cô sinh.

Lúc Amaia nằm xuống, cơn buồn ngủ trùm lên chị như một tảng đá nặng khép mắt lại, chị không thể mở ra được nữa.

– Amaia, Amaia, dậy đi.

Mở mắt, chị thấy chị gái Rosaura lên mười, tóc rối bù, mặc áo ngủ màu hồng.

– Gần sáng rồi Amaia, về giường đi. Nếu Ama thấy em ở đây, mẹ sẽ mắng cả hai chị em.

Vụng về kéo trả những tấm chăn, Amaia đặt bàn chân nhỏ của cô bé lên năm lên sàn nhà lạnh ngắt. Em cố mở mắt để nhìn thấy hình dáng lờ mờ của giường mình giữa những cái bóng, cái giường em không muốn ngủ vì nếu em ngủ ở đó, bà ta sẽ tới trong đêm, quan sát em bằng cặp mắt đen lạnh lẽo, cái miệng méo đi thành một nếp nhăn nhó ghét bỏ. Dù không mở mắt, Amaia vẫn có thể thấy bà rất rõ, cảm thấy nỗi căm hận đã kiềm chế trong hơi thở đều đặn của bà lúc bà theo dõi em giả vờ ngủ, thừa biết em vẫn thức. Sau đó, chỉ đến khi em cảm thấy mình yếu hẳn, các cơ bắt đầu cứng đờ vì căng thẳng dồn nén, khi bàng quang bé nhỏ của em đòi trút mọi thứ trong đó ra giữa đôi chân, mắt nhắm chặt, em cảm nhận mẹ từ từ cúi xuống bộ mặt căng lên của em, một lời cầu nguyện giống như câu thần chú vang lên trong đầu em, nhắc đi nhắc lại, ngăn em ngay trong những lúc kinh hãi đen tối nhất này cũng không bị rơi vào sự cám dỗ không tuân theo mệnh lệnh.

Đừng mở mắt-đừng mở mắt-đừng mở mắt-đừng mở mắt-đừng mở mắt.

Em không mở mắt, và mặc dù nhắm chặt, em vẫn cảm thấy chuyển động chậm rãi, chính xác lúc mẹ đến gần, nụ cười băng giá trên môi lúc bà thì thào:

– Ngủ đi, con sói cái bé nhỏ. Hôm nay Ama không ăn thịt mày đâu.

Amaia biết mẹ sẽ không đến gần nếu em ngủ cùng các chị. Vì thế, đêm nào cũng vậy, khi cha mẹ đã đi nằm, em lại năn nỉ các chị, hứa làm mọi thứ nếu họ cho em ngủ cùng giường. Flora thỉnh thoảng mới cho phép, đổi lấy sự quy phục của em ngày hôm sau, trong khi Rosaura mủi lòng khi thấy Amaia khóc, khóc để dịu bớt khi hoảng sợ.

Mò mẫm tìm đường qua căn phòng tối tăm, lờ mờ nhận ra đường nét cái giường hình như cứ lùi xa dần, đất dưới chân mềm đi, mùi xi đánh sàn khác hẳn, hăng hơn, như mùi đất của nền rừng ẩm ướt. Amaia lách qua cây cối dường như được những cây cột cổ xưa che chở, nghe thấy tiếng nước róc rách của dòng sông Baztán chảy băng băng gần đó. Đến gần bờ sông nhiều đá, chị thì thầm: dòng sông. Tiếng chị biến thành một tiếng vang, đập vào tảng đá lâu đời tạo thành đường đi của dòng sông. Dòng sông, chị thì thầm lần nữa.

Đúng lúc đó Amaia nhìn thấy cái xác. Một thiếu nữ khoảng mười lăm nằm chết trên những hòn cuội tròn bên bờ sông. Mắt mở trừng trừng nhìn vào nơi vô tận, mái tóc trải thành hai món hoàn hảo ở hai bên đầu, bàn tay như những cái vuốt bắt chước tư thế hiến dâng, lòng bàn tay ngửa, trình diễn cảm giác mất mát.

– Không, - Amaia hét lên.

Lúc nhìn quanh, chị thấy không chỉ một mà hàng chục cái xác xếp thành hàng ở hai bờ sông, giống như những bông hoa rùng rợn của mùa xuân ở địa ngục.

– Không - chị nhắc lại, lúc này thành tiếng cầu xin.

Những bàn tay của các xác chết nhất loạt giơ lên, những ngón tay chỉ vào bụng chị.

Cơn rùng mình đưa chị trở lại ý thức nửa vời trong khi các cơn co thắt kéo dài… sau đó chị trở lại bên sông.

Những cái xác lại bất động, nhưng một cơn gió mạnh hình như xuất phát từ dòng sông làm rối tóc họ, nâng họ lên không trung như những dây diều, trong lúc quất mặt nước trong trẻo thành những cuộn xoáy trắng xóa, sủi bọt. Át tiếng gió gầm rú, Amaia nghe thấy tiếng nức nở của một bé gái là chị, hòa lẫn với những âm thanh khác hình như từ các xác chết. Tiến đến gần hơn, Amaia thấy việc này là thật. Những thiếu nữ đang khóc than, nước mắt để lại những vệt óng ánh như bạc trên má họ, lấp lánh dưới ánh trăng.

Nỗi đau đớn của những linh hồn đó xé rách trái tim bé gái của chị.

– Mẹ không thể làm gì được, - chị hét lên, bất lực.

Gió bỗng tắt lặng, và lòng sông chìm trong sự im lìm tuyệt vọng. Rồi tiếng nước vỗ nhẹ, nhịp nhàng.

Bõm, bõm bõm…

Giống tiếng vỗ tay theo nhịp chạm từ dòng sông. Bõm, bõm bõm.

Giống lúc chị chạy qua những vũng nước do trận mưa để lại. Sau những âm thanh đầu tiên, chúng xuất hiện nhiều hơn.

Bõm, bõm bõm, bõm, bõm…

Và nhiều hơn. Bõm, bõm, bõm… nhiều hơn nữa, cho đến lúc giống như mưa đá, hoặc như thể nước sông đang sôi.

– Mẹ không thể làm gì được, - chị lại hét, điên lên vì sợ.

– Thanh tẩy dòng sông, - một tiếng thét to.

– Dòng sông.

– Dòng sông.

– Dòng sông. - Nhiều giọng khác dội lại.

Amaia cuống cuồng tìm nguồn gốc những tiếng la hét từ mặt nước.

Những đám mây tách ra bên trên Baztán, ánh trăng như bạc lọt qua lần nữa, chiếu sáng các trinh nữ ngồi trên những tảng đá trồi lên, đập những bàn chân có màng lên mặt nước, những suối tóc dài lắc lư, những câu thần chú giận dữ dâng lên từ những khuôn miệng đỏ, môi dầy, đầy răng nhọn như kim của họ.

– Thanh tẩy dòng sông.

– Thanh tẩy dòng sông.

– Dòng sông, dòng sông, dòng sông.

– Amaia, tỉnh dậy! - Tiếng bà đỡ lanh lảnh, đưa chị trở về thực tại. - Nào Amaia, đứa bé ở đây rồi. Giờ đến lượt cô.

Nhưng Amaia không thể nghe thấy, vì tiếng ầm ĩ của các trinh nữ vẫn lấp đầy tai chị, át tiếng bà đỡ.

– Tôi không thể, - chị khóc.

Nhưng vô ích, họ không nghe, chỉ ra lệnh.

– Thanh tẩy dòng sông, thanh tẩy dòng sông, rửa sạch tội ác… - Họ quát lên, tiếng họ hòa vào tiếng khóc phát ra từ trong họng chị, lúc chị cảm thấy đau nhói vì một cơn co khác.

– Amaia, tôi cần cô đây, - bà đỡ nói. - Lúc cơn đau tiếp theo xuất hiện, cô phải rặn, tùy thuộc cô rặn mạnh chừng nào, cô có thể rặn trong hai hoặc mười con co. Tùy thuộc vào cô, hai hoặc mười.

Amaia nắm chặt những thanh ngang để nhấc mình lên, trong lúc James đứng đằng sau đỡ chị, lặng lẽ và căng thẳng, nhưng chắc chắn.

– Tuyệt lắm, - bà đỡ động viên. - Cô sẵn sàng chưa?

Amaia gật đầu.

– Đúng, cơn nữa này, bà nói, mắt nhìn màn hình. - Rặn đi, cô bạn.

Chị ép xuống mạnh hết sức, nín thở lúc cảm thấy cái gì đó rách toang trong người.

– Xong. Làm tốt lắm, Amaia, rất tốt. Ngoài ra, cô cần thở, vì cô và vì đứa bé. Lần sau, thở nhé, hãy tin tôi, nó sẽ kết thúc nhanh hơn.

Amaia ngoan ngoãn tuân theo, trong lúc James lau mồ hôi trên mặt vợ.

– Tốt, cơn khác đến rồi. Rặn đi, Amaia, để chấm dứt việc này, giúp con cô nào, đưa nó ra đời.

Hai hoặc mười hai hoặc mười, một tiếng nói nhắc lại trong đầu chị.

– Không mười đâu, - chị lẩm bẩm.

Tập trung vào thở, chị rặn cho đến lúc cảm thấy sức sống như rút hết khỏi người, và một cảm giác trống rỗng choán ngợp toàn bộ cơ thể chị.

Có lẽ mình chảy máu đến chết mất, chị nghĩ. Chị ngẫm nghĩ, nếu có chảy máu chị cũng không cần, vì chảy máu là yên bình và êm ả. Chị chưa bao giờ chảy máu như thế này, nhưng đặc vụ Dupree gần chết vì một viên đạn bắn vào ngực, anh kể với chị rằng mặc dù bị bắn là đau đớn, chảy máu lại là yên bình và êm ả, giống như biến thành dầu và chảy nhỏ giọt đến hết. Máu chảy càng nhiều, bạn càng ít quan tâm.

Lúc đó, Amaia nghe thấy một tiếng rền rĩ. Mạnh mẽ và đầy quyền lực, một lời tuyên bố thực sự hăng hái.

– Ôi trời đất, thằng bé xinh quá! - cô y tá xuýt xoa.

– Thằng bé tóc vàng, giống cô, - bà đỡ nói thêm.

Amaia quay nhìn James, anh cũng hoang mang như chị.

– Thằng bé ư? - Chị hỏi.

Tiếng cô y tá từ bên kia phòng vọng tới chỗ họ.

– Vâng, một bé trai nặng 3,2 ký và đẹp như tranh vẽ.

yo

– Nhưng… họ bảo tôi là một bé gái, - Amaia lắp bắp.

– Ồ, họ nhầm. Thỉnh thoảng xảy ra như thế, nhưng thông thường thì ngược lại, bé gái trông giống bé trai ở nơi dây rốn.

– Cô chắc chứ? - James dai dẳng, anh vẫn đỡ Amaia từ đằng sau.

Amaia cảm nhận hơi ấm của tấm thân bé xíu mà cô y tá vừa đặt lên người mình, quấn trong cái khăn mặt và ngọ nguậy không ngừng.

– Một cậu bé, chắc chắn rồi, - cô y tá nói và nâng cái khăn tắm, để lộ tấm thân trần truồng của đứa trẻ.

Amaia choáng váng.

Bộ mặt bé bỏng của con trai chị vặn vẹo thành những cái nhăn nhó quá mức, nó quằn quại như muốn tìm thứ gì đó. Đưa một nắm tay lên miệng, nó mút chùn chụt rồi hé mở đôi mắt và nhìn chằm chằm.

– Lạy Chúa tôi, James ơi, là con trai, - chị cố nói. Chồng chị duỗi tay và đưa các ngón tay vuốt ve bầu má mềm mại của đứa trẻ sơ sinh.

– Nó xinh quá, Amaia… - Anh nói, giọng nghẹn lại lúc cúi xuống hôn vợ. Nước mắt chảy trên mặt anh và môi anh có vị mằn mặn.

– Làm tốt lắm, em yêu.

– Anh cũng làm tốt lắm, Aita, - chị nói và đăm đăm nhìn đứa trẻ, nó có vẻ thích thú những ngọn đèn ở trên đầu, mắt nó mở to.

– Cô không biết bé là con trai thật sao? - Bà đỡ ngạc nhiên hỏi. - Tôi chắc là cô biết, vì cô nhắc đi nhắc lại tên bé trong lúc sinh. Ibai, Ibai. Có phải cô đặt tên bé như thế không?

– Ibai… dòng sông, - Amaia lẩm bẩm.

Chị chăm chú nhìn James, anh đang cười toe toét, rồi nhìn con trai.

– Vâng, đúng thế! - Amaia tuyên bố. - Ibai là tên cháu bé. - Rồi chị cười vang.

James nhìn vợ, cười tươi vì vẻ mãn nguyện của chị.

– Tại sao em cười?

Chị vẫn cười, không nén được và không thể ngừng.

– Em… em hình dung khuôn mặt mẹ anh lúc phát hiện ra bà phải lấy lại mọi thứ.

[1] Trong thần thoại Hy Lạp, Cyclops là người khổng lồ chỉ có một mắt ở giữa trán.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.