Bóng Lông Quái
“Này, cậu nên biết là mình vốn đã định đồng ý đấy nhé.” Chloe yếu ớt lên tiếng, như thể cô nàng không nghĩ là tôi sẽ lấy làm tin, cũng lúc đó đưa tôi vòng chia sẻ ma lực. “Thật luôn đó El!”
“Tôi biết,” tôi đáp, giọng chán chường, đưa tay nhận lấy cái vòng, nhưng biểu cảm trên mặt Chloe vẫn không đổi, có lẽ là giọng điệu của tôi nghe không được khích lệ cho lắm, nên tôi nói thêm, “Nếu cậu định từ chối thì nó đã không tấn công chúng ta,” giọng điệu có chút châm chọc bởi lẽ đáng ra cô nàng phải hiểu mọi chuyện rồi mới phải. Một con quái đủ thông minh để yên lặng ẩn núp trong đám gối lót sàn phòng, thứ mà cô nàng có lẽ đã nhận được từ một người khác ở New York – hơn nữa còn nhiều năm trời giữ sức và nuốt chửng những người khác thay vì người không may phải ở một mình như cô nàng. Nói đi cũng phải nói lại, đây là điều mà mấy người trong thành bang đều làm khi mời bạn bè đến phòng học nhóm sau bữa tối và ngầm hiểu rằng một trong số họ sẽ đến phòng trước và đảm bảo rằng căn phòng đó hoàn toàn ổn - con quái như thế sẽ không lao đến đòi nuốt chửng bọn tôi chỉ vì đột nhiên mất kiểm soát. Nó sở dĩ hành động như thế vì Chloe khi ấy sắp sửa nhập hội cùng tôi, nghĩa là một mục tiêu đặc biệt ngon lành như tôi sắp sửa trở nên khó nhằn hơn bao giờ hết.
Chloe nhíu mày, có điều cô nàng không ngốc, lại còn tận mắt chứng kiến sự việc ập xuống đầu mình, thế nên sau vài phút bối rối cần bình tĩnh xử lí thông tin thì cô nàng cũng hiểu được ẩn tình phía sau, đủ nhanh để những cảm xúc tương ứng thể hiện rõ lên khuôn mặt. Điều này nghĩa là tôi không hề bịa đặt. Ngôi trường này thực sự muốn bắt tôi, đám quái cũng vậy, và điều đó cũng ám chỉ rằng tôi thật sự rất mạnh. Ánh mắt Chloe liếc qua chồng đầy những phế phẩm gớm ghiếc kia khi đã hiểu ra tất cả, rằng tất cả những ai ở quanh tôi đều sẽ trở thành mục tiêu.
Khi cô nàng đã hiểu chuyện, tôi nói, “Tôi có rất nhiều ngọc dự trữ. Tôi sẽ làm đầy chúng rồi đưa cái này lại cho cậu sau.”
Cô nàng im lặng một lát, vẫn chăm chú nhìn đống phế phẩm trên sàn, sau đó chậm rãi lên tiếng, “Cậu không chứa được ma lực trong cơ thể. Có phải đó là vì…” Cô nàng không nói tiếp vì không cần phải nói thêm gì nữa. Như tôi đã nói, cô nàng không ngốc. Chloe nhìn tôi, cằm hơi nhướng lên và cao giọng như thể muốn tuyên bố cho cả thế giới biết chứ không phải chỉ cho mình tôi, “Giữ nó đi. Cậu có thể sẽ cần nhiều hơn.” Tôi lúc này đang cố áp chế cơn xúc động cuồng bạo muốn nhìn Chloe bằng ánh mắt ghét bỏ như thể tôi là một kẻ xấu xa vô ơn khi cô nàng còn cẩn thận thêm vào, “Cậu – Aadhya và Liu có cần chúng không?”
Đây chẳng khác nào một lời đề nghị được tham gia nhóm bọn tôi cả.
Mà tôi thì không thể buột miệng từ chối khi chưa cân nhắc kỹ càng bởi tôi không thể không bàn với hai người họ trước khi đưa ra câu trả lời. Điều đó nghĩa là tôi có quá nhiều thời gian để nhận ra câu trả lời rõ ràng, hợp lý và thậm chí là công bằng cho cả đám là Có.
Nhưng tôi không muốn trở thành đồng minh với Chloe Rasmussen. Tôi không muốn là một trong những kẻ may mån cùng nhóm của mình được vớt lấy nhờ lòng thương hại của ai đó trong thành bang với dư dả bạn bè và ma lực, hay một chiếc rương chứa đầy đồ dùng hữu ích. Tất nhiên với người khác thì đây là mục tiêu cần nhắm tới khi nhóm của họ không có ai thuộc thành bang. Cho dù đó không phải là ý của chúng tôi hay Chloe thì mọi người đều sẽ nghĩ thế, và họ đúng. Chúng tôi sẽ đưa Chloe thoát khỏi đây, còn ma lực của cô nàng sẽ giải cứu chúng tôi khỏi nơi này và bỏ lại những người không có cơ hội sống sót lại phía sau.
Nhưng Chloe có quyền được hỏi khi tôi tìm đến cô nàng xin giúp đỡ, trong khi chúng tôi có thể không cần dính dáng đến nhau sau khi cô nàng trả ơn tôi vì đã cứu cô nàng khỏi vụ tấn công chỉ xảy ra vì cô nàng sẵn sàng giúp tôi mà không cần nhận lại gì. Cô nàng giúp tôi nhiều hơn cần thiết, dù cho thật không công bằng khi Chloe lại có năng lực đó, và nếu sau tất cả, tôi vẫn muốn từ chối thì Aadhya và Liu hoàn toàn có quyền nói tôi là một đứa đại ngốc.
“Tôi sẽ bàn với họ,” tôi lầm bầm cho có lệ, đương nhiên, kết quả là ba ngày sau tôi phải thêm tên Chloe lên bức tường gần nhà vệ sinh nữ nơi chúng tôi thành lập nhóm. Liu cũng thêm tên mình lên phần dịch tiếng Trung bên cạnh tôi, chiếc vòng tay chia sẻ ma lực trên cổ tay cậu ấy sáng lên, và rồi chúng tôi cùng nhau đi ăn sáng, tôi đã phải nghe ít nhất khoảng hai mươi tỷ tỷ người gì đó chúc mừng “chúng tôi”, ở đây là chỉ tôi, Aadhya và Liu vì đã mời được Chloe gia nhập. Năm ngoái khi chúng tôi viết tên mình thì không được chúc mừng nhiều như bây giờ dù chúng tôi là một trong những nhóm đầu tiên ghi danh trên tường.
Kết thúc vụ việc lần này, Orion không chính thức chúc mừng tôi mà chỉ nói, “Mình mừng vì cậu và Chloe đã trở thành bạn,” bằng giọng điệu hy vọng đến mức báo động, rõ ràng là chỉ thiếu một chút nữa thôi sẽ biến thành đến ở với mình đi, hãy trở thành tình yêu của mình, như thể sắp sửa in cả câu đó lên tấm kim loại với trái tim be bé xung quanh nữa.
“Tôi phải đến lớp rồi.” Tôi đáp và trốn đến chốn an toàn của tôi lúc này – giờ tự học ở dưới đáy của ngôi trường, nơi mà thứ kinh khủng nhất định lao vào tôi là một con quái vật ăn thịt người.
Sau một tháng ở trường, tôi đã dịch được tổng cộng thêm bốn trang nữa trong cuốn Đá Vàng. Trong đó bao gồm một bùa phép ba dòng viết bằng tiếng Phạn cổ mà tôi không đoán được dùng để làm gì. Nó có bảy từ mà tôi chưa từng thấy bao giờ, từ đó dẫn đến nhiều cách dịch khác nhau. Phần còn lại là bình luận bằng tiếng Ả Rập trung đại giải thích lý do việc dùng thần chủ tiếng Phạn hoàn toàn ổn cho dù việc dùng rượu trong quá trình thi triển phép là cấm kỵ. Phần bình luận đó cũng tránh đề cập đến những thông tin hữu ích như giải thích thần chú đó mạnh mẽ thế nào hay rượu được dùng ra sao. Tuy nhiên, nó cũng không hoàn toàn né tránh tất cả, thế nên tôi phải rất vất vả để tìm kiếm nhưng chỉ tìm được được một chút ý nghĩa chính xác từ đó.
Sáng hôm ấy, tôi rốt cuộc đã hiểu được ý nghĩa đúng đắn rút ra được từ bảy bảy bốn chín khả năng ban đầu, và tôi kết luận được rằng thần chú này dùng để tìm đến nguồn nước ở xa và thanh tẩy nó – người sống ở sa mạc hẳn sẽ hứng thú với nó hơn là ai đó sống trong một ngôi trường được yểm phép với hệ thống ống nước tuy cổ lỗ sĩ nhưng vẫn đang vận hành hết mực trơn tru. Tôi nhìn chằm chằm bản dịch hoàn thiện và vô ích trong lúc lò lửa đang réo lên ngay sau lưng, cùng lúc đó, một đống bùi nhùi lông lá cùng vuốt và răng lao thẳng vào người tôi đúng như dự tính.
Con quái nhanh chóng bị đánh bật lại tấm khiên mà tôi còn chẳng cần thi triển vì bộ giữ khiên chắn trên ngực tôi mà Aadhya đã làm có thể tự động lấy ma lực từ bộ chia sẻ để ngăn tác động vật lý. Tôi xoay người thì thấy con Bóng Lông đang trượt dài về phía góc phòng và tự xoắn mình lại bằng mười hai cái chân của nó. Cả hai bên đều kinh ngạc, nhưng nó hồi phục nhanh hơn, lao về phía tôi lần nữa và dừng lại để thử quét một đường lên tấm khiên, tạo ra những tia lửa màu cam sáng.
Thường thì trong trường hợp này, chiến lược của tôi là làm nó phân tâm và chạy, nhưng cùng lúc đó tôi nghe được tiếng hét và tiếng rít phát ra từ đường ống thông hơi. Xem ra là có một bầy ở trong này. Bọn Bóng Lông thường không đi săn một mình. Con đang đối mặt với tôi mở ra cái miệng đầy răng, phát ra tiếng gầm gừ như thể một con đà điểu đang nổi giận – tôi chưa nghe tiếng một con đà điểu tức giận bao giờ nhưng tôi mường tượng ra thế – tiếng xoẹt xoẹt lại vang lên trong đường ống và một con khác thò đầu xuống. Nó lao cả người xuống và cả hai bắt đầu trao đổi bằng những tiếng gừ gừ, sau đó giương vuốt lao thẳng về phía tôi, cào thêm nhiều vệt nữa lên tấm khiên.
Tôi nhìn chằm chằm cả hai sau lớp khiên chắn, chậm rãi niệm “Triệt-và-Hạ, lũ quái xấu xa, ra khỏi mặt, ra khỏi đầu và ra khỏi tai ta,” một biến thể nhỏ của một câu thần chú Roman dùng để tiêu diệt một đám phiền toái muốn lao vào bạn nhưng bị cầm chân ví dụ như một đám người giận dữ bao vây tòa tháp xấu xa chứa đầy những trò phù thủy và tra tấn của bạn. Tôi vẫy tay theo một đường quét về phía hai con Bóng Lông, chúng lập tức tan biến và tôi đoán là cả đám bên trong xưởng cũng thế vì tôi có thể nghe thấy tiếng lọc thông qua đường ống thông hơi và rồi mọi thứ trở nên tĩnh lặng đến kỳ lạ.
Sau đó, tôi đến gần và nhìn vào chỗ mà bây giờ là hai đống tro tàn trên sàn nhà, sau đó vì không có gì làm, tôi bèn chậm rãi ngồi xuống ghế và trở lại làm việc. Tôi chẳng có lý do để lao ra hành lang, và vẫn còn hai mươi phút nữa mới tới lúc chuông reo.
Vài phút sau, cánh cửa – lại đóng sập lại lần nữa như thường lệ chỉ vài phút trước khi bọn Bóng Lông xuất hiện – mở ra theo cái cách mà tôi cho là đang phần nào thất vọng. Nó còn chẳng phát ra tiếng đập cửa đinh tai nữa.
Tôi dành thời gian còn lại của tiết học để làm một bản sao bùa phép tiếng Phạn mới tinh cùng phần bình luận của riêng tôi, bao gồm cả phần dịch từng từ một sang tiếng Phạn hiện đại và tiếng Anh để giúp truyền đạt ý nghĩa với rất nhiều biến thể khác nhau, một bản phân tích lời bình tiếng Ả Rập cùng ghi Å chú các cách có thể sử dụng. Đây là một công việc ngớ ngẩn và bày vẽ mà bạn chỉ làm khi đang cố nhắm đến vị trí học viên danh dự hay muốn nó được xuất bản trên tạp chí số đặc biệt, một cách cạnh tranh không quá gay gắt để được các thành bang chú ý đến sau khi tốt nghiệp.
Tôi thì không cần làm mấy chuyện như thế, cũng chẳng có bài tập nào để nộp, và tất nhiên cũng không cần làm bài tập để thi triển bùa phép. Thực tế, tôi chỉ cần biết phát âm là có thể thi triển được phép đó rồi. Tất nhiên, chỉ trừ việc nếu tôi mạo hiểm thi triển bùa phép mà không biết nó được dùng để làm gì thì chắc chắn tôi sẽ làm hại đến rất nhiều người.
Tôi tự bày việc ra, tuy thật ngớ ngẩn nhưng cũng chỉ vì tôi không muốn phải dấn thân vào lĩnh vực nào khác. Chính xác hơn thì tôi không muốn mình có thời gian cho chuyện đó. Rõ ràng là tôi không tiếc gì chuyện dùng ma lực của New York để giết mấy con Bóng Lông và cứu mạng mình, nhưng tôi sẽ không để bản thân lấy đó làm vui. Tôi sẽ không tỏ ra biết ơn và cũng sẽ không cảm thấy quen với chuyện đó. Vai của tôi cứ mềm nhũn ra, và tôi liên tục quên kiểm tra đường ống sau lưng mình như thể đó không phải là thứ quan trọng nhất trong căn phòng này.
Thế rồi chuông vang lên, tôi bước ra hành lang và một đám năm hai học về ma cụ ào ra khỏi xưởng, phấn khích nói về chuyện đã xảy ra với đám Bóng Lông. Tôi nghe thấy một đứa nói trong khi nhún vai. “Làm thế nào mà cô ta có thể bắt hết cả lũ như vậy? Khốn thật, tớ đã nghĩ là cô nàng tiêu rồi cơ, tôi đến lớp Myrddin, lửa giận bùng cháy khi nhận ra Orion ở đó. Tự tôi một tay tiêu diệt mấy con Bóng Lông bằng cách nào đó cứu được mạng hắn. Đúng là tôi vui vì có thể làm được điều đó, nhưng mà tên này làm gì trong xưởng với một đám năm hai vậy chứ?
“Cậu lén lút ở ngoài cửa lớp tôi hay sao thế?” Tôi hỏi vào giờ ăn trưa khi cả hai đang xếp hàng.
“Không” Orion đáp, không giải thích gì thêm. “Mình chỉ… có linh cảm,” là những gì cậu ta nặn ra được, sau đó nghiêng người né tôi, vẻ mặt chua như ngâm giấm và cáu bẳn của cậu ta khiến tôi suýt chút nữa thì bỏ qua luôn, ngoại trừ chuyện đó nghe rất sai nên tôi đã không cho phép mình làm vậy.
“Cậu có linh cảm là cậu cần được cứu mạng khỏi đám Bóng Lông đó à?” Tôi nói bằng giọng ngọt xớt. “Tính đến giờ thì tôi cứu cậu bốn lần rồi nhỉ?”
“Mình không cần cậu cứu! Lúc đó chỉ có tám con thôi, và mình hoàn toàn có thể xử lý chúng” Orion nạt lại. Tên này còn thể hiện ra là đang khó chịu, và điều đó cũng chọc đến tôi.
“Nhưng tôi lại nghe được khác đấy,” tôi đáp, “nếu cậu không thích được người ta cứu thì không còn cái cớ bào chữa hay hơn à?”
Tôi cầm lấy khay và đi dọc nhà ăn đến chỗ bàn Liu đang giữ. Orion lẳng lặng đi theo rồi ngồi xuống cạnh tôi trong khi cả hai vẫn đang tức giận – ở đây thì bạn không chia bàn ra ngồi vì một trận cãi lộn – và cả hai chúng tôi suốt bữa ăn cứ lẳng lặng cho cơn giận nguôi bớt. Chúng tôi dọn khay và rời khỏi nhà ăn vào thời điểm mà theo tôi nghĩ là khác nhau, khi tên đó dường như vội đi trước, thế là tôi cứ đủng đỉnh đi chậm lại. Đến khi ra khỏi nhà ăn thì tôi nhìn thấy hắn đang nói chuyện với Magnus ngay ngoài cửa, sau đó thì Magnus đưa tay ra và tôi nhận ra Orion đang hỏi về ma lực.
“Quỷ tha ma bắt cậu đi, nói là mình thiếu ma lực thì có làm sao,” tôi nói, sau khi thụi vào đầu tên đó một phát khi bắt quả tang hắn ở hành lang ngay trước cầu thang. “Với cả, tìm kiếm lũ quái trong khi thiếu ma lực để bù lại còn ngu ngốc hơn cả việc cậu hay làm. Đây là dấu hiệu đấy.”
“Gì cơ? Không! Mình không có.” Orion vừa lên tiếng, quay lưng lại và bắt gặp tôi đang lườm, hắn liền trở nên ngượng nghịu và chỉ nói, “À,” như thể vừa mới nhận ra bản thân đang làm gì.
Phải, à cơ đấy,” tôi nói. “Cậu chỉ nhận được một phần nhất định ma lực của New York! Chắc cậu đã lấy nhiều hơn mức cho phép trong tuần vừa rồi đúng không?”
“Không” Orion nói cụt lủn. “Mình chẳng lấy thêm chút nào cả.”
“Gì kia?” Tôi nhìn Orion chằm chằm.
“Cả tháng nay mình chưa diệt con quái nào hết,” Orion đáp. “Thậm chí lũ quái duy nhất mình thấy là mấy con cậu đã diệt.”
Đến đây, nếu bạn thấy vẫn tin được thì cậu ta thậm chí còn nói với giọng điệu như đang buộc tội tôi, nhưng tôi lơ đi để nhìn chòng chọc cậu ta. “Cậu đang nói là cậu chưa cứu ai từ đầu năm học đến giờ? Thế sao tôi không nghe thấy tiếng la hét hay hỗn loạn ở xung quanh?”
“Không có đâu!” Cậu ta đáp. “Chúng đều ẩn náu rồi. Có lẽ do chúng ta đã giết quá nhiều dưới sảnh tốt nghiệp.” Cậu ta nói quá nhiều như thể đó là cụm từ cần có trong câu đó vậy, “và những con còn lại thì hầu hết đang lẩn trốn. Tớ có hỏi mọi người nhưng gần như chẳng ai thấy bóng dáng con quái nào cả.”
Tôi bây giờ khó có thể diễn tả rõ ràng mức độ ức chế mà tôi đang trải qua lúc này. Scholomance muốn tôi chết, điều mà tôi nghĩ ai cũng sẽ cảm thấy khi đến ngôi trường này, giờ thì nhà trường chỉ nhắm vào tôi và bỏ qua tất cả những người khác, thậm chí cả Orion, cho dù cơn đói của ngôi trường ngay từ đầu là lỗi của hắn. Dù rằng tôi đã nghĩ họ muốn nhắm vào Orion bằng cách giữ lũ quái vật tránh xa hắn. “Sau giờ thực hành thứ Tư thì cậu có môn gì?” Tôi tra hỏi khi xoay xở bật ra lời để nói giữa cơn giận âm ỉ.
“Lớp giả kim cho năm cuối,” Orion đáp: bốn tầng dưới thư viện. Vậy là tên này có muốn cũng không thể đến giúp tôi được, điều mà hắn rõ ràng đã làm.
“Thế tiết đầu cậu học gì?”
“Toán và tiếng Trung” Vậy đó là lớp năm cuối ở xa xưởng nhất.
“Tôi ghét mọi thứ,” tôi nói một cách rõ ràng và rành mạch nhất có thể.
“Những người khác ở New York sẽ lên tiếng nếu mọi chuyện cứ tiếp diễn thế này” Chloe nói với giọng bực dọc, khoanh chân trên giường Liu với con chuột gọn lỏn trong lòng bàn tay. Cô nàng đặt tên nó là Mistoffeles vì nó có một cái chấm đen ở cổ trông như một cái nơ, và trong tay Chloe thì trông nó càng giống cái nơ hơn nữa. Ngoài ra thì nó cũng đã biết làm theo mệnh lệnh của cô nàng rồi. Ngày hôm qua thôi, nó nhảy khỏi tay Chloe và chạy tọt xuống đường ống nước và vài phút sau quay lại, mang theo một mảnh vụn long diên hương chỉ mới bị nhai một chút mà không biết nó đã kiếm được bằng cách nào.
Điều này làm tôi khó chịu. Tôi đã cố gắng huấn luyện Precious hơn một tháng rưỡi, cho nó ma lực như một phần thưởng, cố gắng hướng dẫn mà nó vẫn không làm gì nhiều ngoài nhận lấy ma lực và nằm trong lòng bàn tay tôi làm dáng, cho phép tôi vuốt ve nó. “Ít ra bây giờ mày cũng phải tàng hình hay làm gì đó được rồi mới phải chứ?” Tôi làu bàu trước khi ném nó trở vào lồng của Liu. Thế mà nó vẫn ngó lơ tôi. Ngay cả Aadhya cũng đã có thể đưa con Pinky của cậu ấy về phòng, nơi mà cậu ấy làm cho nó một bộ đồ chơi bự chảng với bánh xe và đường ống không ngừng mở rộng ra khắp bức tường. “Chỉ mất chút ít thời gian thôi mà,” Liu nhẹ nhàng bảo tôi, nhưng ngay cả cậu ấy cũng hơi tỏ ra nghi hoặc khi thời gian trôi đi.
Tất nhiên tôi vẫn không từ bỏ giây phút nào để ôm ấp lấy Precious cho dù tôi có thể lấy lại gấp trăm lần thời gian học đi nữa. Trông nó tràn đầy sức sống và sinh động với bộ lông mềm, lá phổi phập phồng và tiếng tim đập khẽ. Nó không thuộc về Scholomance. Nó là một phần của thế giới ngoài kia, thế giới mà đôi khi tôi nghĩ chỉ tồn tại trong giấc mơ mà thỉnh thoảng tôi mơ đến. Chúng tôi đã ở Scholomance được ba năm, một tháng, hai tuần và năm ngày.
Trong vòng một tháng, hai tuần và năm ngày đó, tôi là đứa duy nhất – không ai khác ngoại trừ tôi – bị một con quái vật tấn công, điều này chúng tôi đã kiểm tra kĩ càng để không ai nghi ngờ. Mọi người còn chưa nhận ra vì vài vụ tấn công đều tập trung ở xưởng, nằm ở bên kia phòng tự học của tôi. Hơn nữa thời điểm này trong năm học vẫn còn khá sớm, khiến mọi người đều nghĩ họ đơn thuần chỉ là đang gặp may.
“Nhưng đám nhóc New York sẽ sớm phát hiện nguồn ma lực dự trữ đang giảm,” Chloe lên tiếng. “Hôm trước Magnus đã kéo mình ra hỏi xem mình có đang thực hiện dự án gì lớn hay không. Mình có quyền chia sẻ ma lực cho đồng minh của mình mà không để họ lấy sạch ma lực.”
“Bọn mình vẫn đang bổ sung nhiều hết mức có thể,” Aadhya đáp. “Có bảy học viên năm cuối ở New York. Cậu phải tự bổ sung thêm ma lực mới được. Nguồn dự trữ có thể còn giảm đến mức nào nữa?”
“Thì,” Chloe nói, vẻ bối rối kỳ lạ, liếc nhìn tôi và rồi ngập ngừng, “Bọn mình không… Ý mình là…”
“Họ không có khái niệm bổ sung ma lực.” Tôi nói với giọng đều đều khi nhận ra cô nàng không nói được gì. “Mấy người họ chưa bao giờ bổ sung ma lực vào nguồn dự trữ chung bởi một mình Orion đã đủ rồi.”
Chloe cắn môi, né tránh ánh mắt của cả đám; Aadhya và Liu đang trân trối nhìn cô nàng, rõ ràng là cả hai đang rất sốc. Ở đây ai cũng phải tích lũy ma lực. Đám nhóc có thành bang sau lưng cũng không ngoại lệ. Ưu thế của chúng là có nhiều thời gian và điều kiện để bổ sung tốt hơn, có người trông chừng, làm bài tập cho, tặng quà là ma lực và ti tỉ thứ khác mà thường thì đám còn lại như chúng tôi phải dùng ma lực để đổi lấy. Bọn họ đều có kho dự trữ ma lực tiện dụng của riêng mình cũng như bộ chia sẻ ma lực. Vậy nên đến năm cuối thì họ đã dẫn trước tất cả. Nhưng việc không cần bổ sung chút ma lực nào – không bao giờ phải gập bụng hay vật vã làm mấy con búp bê nhìn phát ớn chỉ bởi bọn họ đổ hết trách nhiệm lên Orion…
Và Orion còn phải đi vay mượn ma lực từ họ khi ma lực của hắn dần cạn kiệt.
Chloe không ngẩng đầu lên, khuôn mặt ngượng ngùng dần chuyển sang màu đỏ. Mistoffeles lo lắng kêu lên những tiếng chít chít trong tay cô nàng. Có lẽ bản thân Chloe thậm chí còn chưa từng nghĩ về chuyện này từ năm nhất, theo cách mà tôi cũng không nghĩ tới cho đến hôm nay. Vậy mà tôi còn châm chọc Orion vì cần đến sự giúp đỡ sau khi tiêu diệt lũ quái bằng ma lực mà cậu ta mạo hiểm tính mạng suốt ba năm qua để tích lũy.
“Thế thì sao chứ?” Orion lên tiếng, cậu ta dường như là có ý đó thật.
Từ học kỳ trước thì tôi không ở gần phòng của Orion. Tôi đã cố tránh ở một mình với cậu ta suốt thời gian qua. Nhưng tôi bỏ Precious xuống, ra khỏi phòng Liu và đi xuống chỗ Orion mà không nói một lời với Chloe. Orion ở đó, rõ ràng là đang mắc kẹt với đống bài tập giả kim về nhà, nhìn vào đống giấy kiểm tra còn trống rỗng trên bàn là biết. Hắn cho tôi vào với vẻ lo lắng lộ rõ đến mức tôi gần như quên mất cơn giận để nghĩ về việc mình tới đây. Nhưng mặc kệ Orion và nỗ lực sắp xếp lại đống quần áo bẩn và chồng sách bám bụi của hắn, cơn giận của tôi vẫn thắng. Thường thì kết quả là thế.
Có lẽ tôi đã không bận tâm, bởi đó hẳn là điều tên đó sẽ làm khi tôi nói chuyện vừa rồi. Tôi lườm Orion, cậu ta cũng lườm lại. Hắn không những thích thú vì có thể giúp đỡ một đám ngốc vô dụng, thậm chí còn có vẻ chẳng hiểu vì sao tôi phải bố công nhắc tới chuyện không liên quan như thế.
“Là ma lực của cậu đấy,” tôi nói qua kẽ răng. “Chính là ma lực của cậu. Cậu có hiểu không, thưa cậu Lake? Đám ký sinh bọn họ bám lấy cậu suốt ba năm và chưa bao giờ bỏ ra một xíu nỗ lực nào để…”
“Mình không quan tâm!” Orion nói. “Vẫn luôn có nhiều nguồn để bổ sung. Sẽ luôn có.” Cậu ta nói thêm, trong lời nói rõ ràng có mang theo cảm xúc, có điều cảm xúc ở đây chỉ là thái độ vùng vằng mà thôi.
“Tôi xin lỗi nhé! Cậu đang thấy chán à?” Tôi nạt. “Cậu đang hoài niệm nỗi vui thú khi cứu mạng người ta sáu lần một ngày, cái cảm giác được ngưỡng mộ đó à?”
“Mình nhớ ma lực!” Orion hét lên với tôi.
“Thế thì lấy lại đi!” Tôi nói, giật bộ chia sẻ ma lực trên cổ tay và dúi vào tay Orion. “Lấy lại hết đi! Cậu muốn thêm ma lực, chúng là của cậu, tất cả đều là của cậu. Đám bọn họ chẳng có quyền động vào dù chỉ một giọt.”
Cậu ta nhìn chiếc vòng chằm chằm, biểu cảm phân nửa giống như một kẻ đang đói lướt qua trên mặt, rồi lắc đầu thật mạnh “Không” và lấy tay vò mái tóc còn chưa mọc lại đủ dài, và rồi lẩm bẩm vô hồn, “Mình không biết phải làm gì với chính mình nữa.”
“Tôi biết phải làm gì với cậu đấy,” tôi nói, và điều mà tôi nhắc đến chính là đập cậu ta một trận tơi bời đến khi hắn tỉnh ngộ, chỉ có điều tên này chỉ ngẩng lên và đáp, “Vậy à?” bằng giọng điệu thách thức, quyến rũ mỉa mai kiểu phỉnh phờ chỉ kéo dài đủ lâu để hắn tự nghe được chính lời mình nói, ngay sau đó thì đỏ bừng mặt vì xấu hổ, liếc quanh căn phòng chỉ có hai người. Tôi thì vọt ra khỏi đó như viên đạn và chạy trốn về phòng của Liu.
Lúc này cả ba vẫn ngồi đó, còn vòng tay vẫn trên tay tôi. Chloe ngẩng lên, nhìn tôi lo lắng. Nhưng theo tôi thấy thì cô nàng có thể tự bàn bạc với Orion nếu như muốn biết tên đó nghĩ gì. “Giờ sao đây?” Tôi nói, giơ cái vòng tay ra trước mặt Chloe. “Cậu muốn rút không?”
“Không!” Chloe đáp, Aadhya thì vơ vội một cuốn sách dưới giường, loại sách dày cộm mà bọn tôi hay gọi là đồ để giết ấu trùng, rồi ném tôi thật lực khiến tôi phải nhảy sang một bên mà né không thì nó sẽ đáp trúng gáy tôi mất.
“Dừng lại đi!” Cậu ấy nói. “Tớ nghĩ đây là lần thứ ba cậu yêu cầu hủy nhóm rồi đấy. Cậu đúng là đồ cá nóc, cứ ai động vào cậu không đúng cách là cậu nổ cái bùm luôn.” Aadhya minh họa bằng tay, “cố gắng khiến mọi người rời xa cậu. Bọn này nói cho cậu biết nhé? Sao hả?”
Tôi đeo vòng vào tay, vẫn hơi chút buồn rầu – thật lòng mà nói thì rất mực rầu rĩ và ngồi xuống sàn, tay ôm lấy đầu gối. Một lát sau, Liu lên tiếng, “Vậy vấn đề ở đây không phải là cậu dùng ma lực, mà là Orion không bổ sung thêm ma lực.”
“Phải, chúng ta chỉ cần tìm cách nào đó đảm bảo dụ được mấy con quái cho cậu ta,” tôi lầm bầm. “Giá mà chúng ta có một đám phù thủy choai choai ngon lành ở chung một chỗ. Ấy! Chờ đã!”
“Tớ vẫn còn đồ để ném đấy nhé!” Aadhya nói, tay vẫy vẫy một cuốn sách dày cộm chết người khác – cuốn này có vài vết loang lổ đáng ngờ trên bìa – vẻ đầy đe dọa.
“Có lẽ chúng ta có thể dựng lên một cái mắt ong, giống như người ta làm ở công trường ấy?” Chloe nói.
“Ai làm cái gì cơ?” Aadhya hỏi. Chloe nhìn sang tôi và Liu như hy vọng chúng tôi hiểu chuyện gì đang diễn ra.
“Mắt ong?” Cô nàng lên tiếng, tỏ ra chăm chú hơn. “Có từ nào khác thay thế không nhỉ? Mấy cậu biết đó, mỗi khi một nhóm phù thủy có một dự án lớn và cần thực hiện trong thời gian dài, tính bằng ngày lận, và cậu không muốn quái vật tìm đến? Vậy thì cậu phải dụ hết những con quái gần đó ra chỗ khác và dọn sạch chúng, có thể là một tuần trước đó chẳng hạn? New York từng dùng một cái khi mở rộng Cổng Ba Bang cách đây vài năm.”
Chuyện này nghe không tệ, nhưng rõ ràng khó mà khả thi. “Nếu có thể dụ chúng đến chỗ mình muốn, vậy sao không tiếp tục làm vậy?” Tôi hỏi. “Đặt mồi vào bẫy một lần rồi thì về sau chẳng có con quái nào bén mảng đến nữa.”
“Nhưng vẫn phải làm gì đó với chúng chứ!” Chloe nói. “Có cái bẫy nào giữ nổi một ngàn con quái khổng lồ chứ. Bên tớ phải thuê một đội ba trăm cảnh vệ chỉ trong một tuần thôi đó.” Tới đây thì mọi chuyện bắt đầu khả thi hơn rồi, cũng đáng để cân nhắc, nhưng Chloe nói thêm, “Dù sao thì, cậu không thể vận hành một mồi nhử quá lâu, quá đắt đỏ.”
Chúng tôi nhìn cô nàng chằm chằm, cô nàng cũng nhìn lại. “Quá đắt,” tôi nói, giọng châm chọc. “Đối với New York.” Tôi từng thấy Orion quẳng từng nắm bụi kim cương chứa ma lực vào bài tập điều chế thuốc như thể chúng là bột mì vậy. Cậu ta còn chẳng buồn dọn dẹp phần còn lại trên ghế nữa.
Chloe cắn môi, nhưng Liu lại lên tiếng, “Đám quái không thể khó bị dụ đến thế được. Đằng nào chúng cũng nhắm đến chúng ta. Chỉ là chúng ta củng cố thêm ham muốn của chúng thôi.”
“Mà này,” Aadhya chen ngang. “Thế bên đó dụ lũ quái đi tận đâu vậy?”
“Bọn mình bao trọn công viên Gramecy và một khu nhà ở mỗi hướng” Chloe nói. Với tôi thì nó không có nghĩa gì, còn Aadhya thì gật gù.
“Ừ, rồi,” cậu ấy nói. “Vận hành bất cứ món ma cụ nào cũng sẽ đắt đỏ như thế khi cậu cố để nó ảnh hưởng lên cả sáu khu phố. Nhưng ở đây chúng ta không muốn dụ hết lũ quái trong trường.” Cả đám đều không muốn. Thực tế thì cả đám chúng tôi theo bản năng co rúm người lại khi Chloe nói ra. “Chúng ta chỉ cần vài con cho Orion thôi mà.” Chloe đứng lên, bước lại bàn, cầm lên bản sao của bản vẽ mà cô nàng đã làm vào thời điểm nào đó khi học ở trường. Học viên học về ma cụ thường được giao nghiên cứu chi tiết về trường học vì như thế sẽ giúp hỗ trợ ngôi trường vận hành. “Đây.” Cô nàng chỉ vào tầng một. “Có một chỗ đường ống chính giao nhau chạy qua tường của xưởng. Nếu chúng ta tạo một mồi nhử ở đây và để nó ở gần đường ống xả thải gần nhất và mở nó lên ở đó, mình cá là chúng ta có thể bắt được vô số con quái cho Orion dù chỉ trong phạm vi năm mét.”
“Tuyệt vời,” tôi nói. “Thế cái mồi nhử này vận hành thế nào?”
Cả đám nhìn Chloe. “Ừm, có một cái bể chứa, cậu phải bỏ thứ gì đó xuống làm mồi, sau đó dùng ma cụ thổi mùi hương đi…” Chloe ngừng lại rồi nhún vai. “Xin lỗi, tớ biết chuyện này vì mẹ tớ phải làm thuyết trình để trưng cầu cấp phép.”
“Trưng cầu cấp phép,” tôi nói, không giấu sự châm chọc bởi thứ gì mà New York cần cấp phép thì hẳn phải cực kỳ phức tạp, chưa kể đến chi phí đắt đỏ.
Nhưng Aadhya gạt qua chuyện đó. “Như thế cũng đủ để chúng ta thử một phen. Liu nói đúng, không thể khó đến mức đó được. Mấy cậu sẽ chế ra thứ gì đó làm mồi có mùi như phù thủy vị thành niên. Còn tớ sẽ xem có cách gì để phát tán mùi đó.”
Chloe gật đầu. “Thế cậu nghĩ có thể xong trong bao lâu?”
“Tớ không biết nữa.” Aadhya nhún vai.
“Trong lúc đó thì mọi người ở New York phải tích lũy ma lực đi,” Liu nói. “Nếu Orion không thể cung cấp ma lực nữa mà các cậu cũng thế thì sớm muộn ma lực sẽ cạn sạch mà thôi. Chúng ta không muốn thấy cảnh ba tháng sau mồi nhử không hoạt động được, đến khi đó, chúng ta phải tiến hành chạy thử nghiệm rồi đấy.”
“Nhưng nếu mình nói với mọi người là phải bổ sung ma lực vì Orion không thể làm thế nữa thì điều đầu tiên Magnus sẽ làm là tiến hành thẩm tra bộ lưu chuyển ma lực để xem lượng mỗi người dùng,” Chloe nói. “Vậy thì họ sẽ sớm phát hiện chân tướng mất.”
“Tớ không nghĩ cậu ta sẽ đòi thẩm tra đâu” Liu nói, liếc sang tôi. “Nếu cậu lựa lời khi nói với họ.”
“Nên lựa lời thế nào đây?” Tôi nói, hơi lo lắng.
Cách đúng đắn nhất là, Chloe sẽ thầm thì với đám người ở New York rằng tôi – bạn gái của Orion đang cấm cản hắn đi săn quái vật vì lo hắn sẽ bị thương, và bây giờ thì tôi đang cảm thấy nghi ngờ khi lượng ma lực dự trữ đột nhiên giảm xuống.
Mấy người đó lúc trước đều vui vẻ để tôi biết nguồn ma lực của họ đến từ đâu giống như Chloe đã làm, nên bọn họ cũng thành thật đi bổ sung ma lực – hóa ra là họ đều có thể bổ sung rất nhiều ngay cả khi còn chưa cố gắng hết sức. Tất nhiên chuyện đó cũng không ngăn được họ phàn nàn về việc phải làm. Tôi phải thú nhận là mình thích bắt gặp cảnh Magnus lén đi vào nhà vệ sinh trước cả đám vẫn thường lẽo đẽo đi theo sau, cả người đẫm mồ hôi, mặt đỏ phừng phừng, mà theo tôi đoán thì là do mấy bài tập thể dục khó chịu nhằm bổ sung ma lực gây nên.
Nhưng sau một tháng mà tôi cho rằng họ chịu không nổi, tất cả bắt đầu tra hỏi, buộc tội lẫn nhau về chuyện dùng ma lực, còn chuyện làm mồi nhử cũng đang bị trì hoãn nghiêm trọng. Aadhya đã làm ra một thiết bị đốt hương đặc chế, một bộ ống gồm nhiều kim loại hợp lại với vô số lỗ đục cẩn thận trên mỗi ống để điều khiển khói đi qua. Chloe thì trộn một tá những bó hương nhỏ pha ma lực và để chúng quanh một cái lỗ thoát nước trong phòng thí nghiệm giả kim trong giờ ăn tối. Sau đó, chúng tôi cẩn thận đi xuống trở lại và chọn ra cái có dấu hiệu bị đâm chọt nhiều nhất bởi đủ loại quái vật.
“Tuyệt, đi nào,” Orion nói ngắn gọn; cậu ta định cầm cái ống và đi thẳng ra cửa, nhưng Aadhya đưa tay chặn ngang ngực cậu ta.
“Có lẽ chúng ta không nên thử nó ngay lần đầu ở chỗ giao lớn đi thẳng xuống sảnh tốt nghiệp,” cậu ấy nói. Tất cả chúng tôi đều nhiệt tình hưởng ứng. Khu vực đường ống của trường có thể mở ra dựa trên việc lý giải ý chí của người bên trong ở một mức nhất định, nếu chúng tôi cố tình dụ lũ quái đến, ý niệm đó của chúng tôi có thể thực sự giúp chúng chen qua.
Orion ngồi trên lan can, rõ ràng là đang mất kiên nhẫn, tay tung hứng bó nhang trong khi chúng tôi bàn nhau chọn địa điểm thử nghiệm thích hợp nhất. Cuối cùng, cả đám quyết định thử luôn tại phòng thí nghiệm dựa trên việc nhang đã được đốt tại đây một lúc rồi, mặt khác, chúng tôi cũng không muốn đem nó ra ngoài hành lang để đến chỗ nào khác và tạo ra dấu vết.
Aadhya bỏ nhang vào đầu đốt, loay hoay điều chỉnh lại vị trí của xi-lanh rồi nói, “Được rồi, thử thôi nào.” Sau đó đưa cho Orion.
Chúng tôi lui lại chỗ cửa, giao lại trọng trách cho cậu ta. Orion đốt một nén nhang và khẽ kêu lên vì bị que diêm chọc vào tay, dường như cậu ta cảm thấy lo lắng vì điều đó hơn là con quái vật sắp đến, sau đó hắn nhét vào ngay giữa ống xi- lanh. Rồi hắn đặt đầu đốt lên ghế thí nghiệm và đặt nó ngay gần ống thoát nước.
Tia khói đầu tiên tản ra và có thể nhìn thấy bằng mắt những làn khói luồn lách qua đường ống trước khi tan biến. Orion nhiệt tình dùng tay quạt lấy quạt để cho khói bay vào nhưng chẳng có gì xuất hiện, chúng tôi đợi thêm vài phút nữa. Thế rồi khói bắt đầu tụ hợp, tạo thành một làn hơi mỏng quay vòng quanh đường ống và len vào trong. Vẫn chưa có gì xảy ra.
Đã có vài con tiểu quái trong phòng thí nghiệm, trộm đi những thứ còn sót lại – chúng tôi lờ chúng đi vì chúng khá hữu ích khi trưởng thành, còn không thì hoàn toàn vô hại — lúc này đang bắt đầu lao đến chỗ đường ống để thoát đi khi chúng tôi bước vào phòng. Trong lúc cả đám vẫn đang chờ, chúng đến được chỗ đường ống và chạy qua làn khói đặc nhất, không tỏ ra chút hứng thú nào cả.
Orion nhìn cả đám một lượt. “Cái này không có tác dụng với chúng à? Chúng vẫn là quái vật mà.”
“Ừ, chắc thế đó,” Chloe nói bằng giọng mũi. Đầu đốt hẳn đang có tác dụng; ngay cả chỗ cửa chúng tôi đang đứng thì không khí cũng dần tỏa ra thứ mùi thường thấy ở nhà vệ sinh nam.
Aadhya nhíu mày, cẩn thận bước vài bước đến chỗ đầu đốt. “Có lẽ chúng ta nên,” còn chưa hết lời thì Pinky thò đầu khỏi cái cốc mà nó đang nằm và kêu một tiếng thật to. Aadhya làm cho chúng tôi một cái dây đeo vắt vai với một cái cốc để giữ chuột của mình bên cạnh vì Liu muốn bọn tôi giữ chúng bên mình thường xuyên hơn. Trước khi cậu ấy kịp ngăn lại thì Pinky đã nhảy ra khỏi chiếc cốc trên ngực cậu ấy xuống sàn, chạy thẳng đến chỗ cái ghế, bốn chân của nó chạy điên cuồng, chỉ để lại tàn ảnh như tia chớp màu trắng, lao cả người vào cái xi-lanh và xô nó xuống sàn. Trong khi chúng tôi còn đang kinh ngạc, Mistoffeles và Tiểu Đình nhỏm đầu lên khỏi cốc của chúng và lao theo Pinky.
Rõ ràng là chúng rất hứng thú với chỗ nhang kia. Nửa tiếng sau đó chúng lăn ống xi-lanh qua lại trong niềm vui sướng khôn xiết, hết quăng xuống gầm bàn rồi lại đến gầm tủ, chạy vọt đi mỗi khi chúng tôi muốn bắt cả đám lại. Hóa ra đám chuột ma thuật đang phê pha mùi nhang này lại rất giỏi tránh né. Những tiếng chửi thề và la hét vang lên inh ỏi, còn đầu gối và bắp chân chúng tôi thì trầy xước bầm dập hết cả mới lấy lại được cái xi-lanh từ chúng và dập khói đi. Đến lúc này thì ba con chuột đều sụp xuống thành ba nhúm lông xù tợn, bàn chân chúng cuộn lại và biểu cảm của chúng trông như thể đang say sưa trên chín tầng mây vậy.
Chloe ghi chú từng dòng dày đặc trong sổ về công thức của bó nhang, còn Aadhya thì ném ống xi-lanh vào thùng rác với vẻ mặt ghê tởm. Khi thí nghiệm đầu tiên lệch khỏi kỳ vọng của bạn, bạn không nên mạo hiểm mà tiếp tục. Điều đó nghĩa là bạn đang bỏ lỡ điều gì đó quan trọng, và chúng tôi thì không biết mình đang bỏ lỡ điều gì. Bởi thế, nếu chúng tôi có cố gắng thay đổi đi một chút, và mong đợi thí nghiệm không thành công, thì nó không những không như kỳ vọng mà còn thất bại theo cách đau đớn và thảm hại nhất có thể.
Kết quả tích cực duy nhất thu được là tôi đã nắm bắt được tín hiệu đầu tiên cho thấy Precious thực sự có thể trở thành thú cưng của mình. Nó không tham gia vào cái mớ hỗn độn vừa rồi, trái lại, ngay khi Pinky nhằm đến cái ống đốt, nó chạy lên vai tôi và nhảy lên giá cao trong phòng thí nghiệm, nơi mà nó đổ một cái ống nghiệm trùm lấy mình và ở trong đó quan sát mấy con còn lại với hai chân trước giơ trước mũi, tỏ rõ vẻ không đồng tình. Sau khi chúng tôi dập nhang, nó mò trở lại cái cốc trước ngực tôi, kéo cái nắp che kín mình lại, tỏ rõ là nó sẽ về với tôi mà không ở trong lồng chung với những con chuột khác đã choáng váng.
Mọi chuyện được giải quyết gọn gàng, nhưng dự án làm mồi nhử thì phải quay lại từ đầu.
Trong khi đó đám người ở New York đã không còn là vấn đề duy nhất của tôi nữa. Những người khác cũng bắt đầu điều tra dấu vết sau các vụ tấn công của lũ quái, hay đúng hơn là sự vắng mặt của chúng. Chúng tôi dành nhiều thời gian để nghĩ xem đám quái định làm gì. Gần như một nửa số tiết của học viên năm nhất và năm hai đều dành để nghiên cứu và phân loại hành vi của lũ quái, và quan trọng nhất là cách tiêu diệt chúng. Khi chúng bắt đầu có những hành động bất ngờ, thì đó là một dấu hiệu xấu, cho dù chúng không còn nhảy xổ ra và giết người ngay tắp lự. Điều đó có nghĩa là chúng đang chờ đợi để lao ra và giết bạn vào thời điểm mà chúng thấy phù hợp hơn.
Thứ Tư tuần tiếp theo, cuối giờ học tử thần vui vẻ tại thư viện, Sudarat chờ đến khi đám nhóc bên kia chỗ tôi đứng dậy ra về mới nhẹ giọng nói với tôi khi cả hai thu dọn đồ đạc. “Một bạn ở Thượng Hải hỏi em liệu có phải lớp chúng ta lại bị tấn công nữa không”
Lúc này chúng tôi đang bước vào khoảng thời gian giữa kỳ, và tổng cộng hai mươi ba người đã bị giết. Quá nửa số đó là học viên năm nhất tự làm mình nổ tung trong xưởng hoặc tự hạ độc chính mình trong phòng giả kim; đối với tiêu chuẩn thông thường của chúng tôi thì như thế không được xem là bị giết. Những người còn lại – trừ một người — đều thiệt mạng do sai sót ở nhà ăn. Ngay cả việc chết đi như thế cũng cách xa tiêu chuẩn thông thường, khi mà hầu như mọi người có thể tung bùa đánh hơi và pha chế thuốc giải độc vì họ không còn bị lũ quái vật tấn công nữa.
Người chết số hai mươi ba là một học viên năm trên duy nhất, một học viên chuyên về bùa yểm tên là Prasong, từng là thành viên của Bangkok. Cậu ta rất tức tối khi phát hiện địa vị của mình không còn nữa, và trong những năm tại vị thì cậu ta quá khó ưa đến độ bạn bè của cậu ta không còn nhiều và cũng không mấy ai dành sự cảm thông cho cậu ta nữa. Khi không còn biết làm sao để sống như trước đây – hoặc để đảm bảo bản thân còn sống sót được – cậu ta quyết định trở thành Thực Ma Thuật Sư, cũng là cách tốt nhất và an toàn nhất để cậu ta có thể tích trữ thật nhiều ma lực đủ dùng cho lễ tốt nghiệp, và nạn nhân của cậu ta là một nhóm học viên năm nhất còn ngây thơ và không mảy may nghi ngờ điều gì.
Nếu bạn cho rằng đó là một tội ác kinh khủng, tôi nên nhắc nhở bạn rằng đối với chúng tôi thì nó không hề như vậy. Hầu hết các năm, thường sẽ có khoảng bốn đến tám người chọn con đường tà đạo này, và vì hầu hết họ không lên kế hoạch cẩn thận trước đó và mang vào quá ít động vật nhỏ, việc nhắm vào các học viên khóa dưới chỉ là việc chung ai cũng làm mà thôi. Chúng tôi đều được cảnh báo về điều này rất rõ ràng trong sách hướng dẫn và được khuyên phải dè chừng những người lớn tuổi và thành công khi họ tỏ ra quá mức hứng thú với những việc chúng tôi làm. Và vết sẹo khả ái mà tôi nhận được giữa bụng chính là thành quả của một trong số những kẻ như thế, Jack Westing, kẻ đã sát hại hàng xóm của Orion là Luisa hồi năm thứ hai và đã bỏ mạng mà không ai lấy làm tiếc thương.
Sudarat là học viên năm nhất duy nhất mà Prasong có thể nói chuyện cùng mà không gây nghi ngờ. Cậu ta còn chẳng cần cố gắng tiếp cận vì cô bé đã làm việc đó như một cách để duy trì liên hệ với những người từng thuộc Bangkok giống như mình, cho dù những gì cô bé nhận về là cơ hội được thỉnh thoảng ngồi cùng bàn ăn với họ, hay là người cuối cùng có thể nhận những món đồ dùng rồi mà học viên năm cuối không bán được cho ai khác, như thế vẫn tốt hơn là đem bỏ hết đi. Thế là Prasong chỉ cần đồng ý để cô bé ngồi ăn chung bữa với mình. Hẳn là cô bé đã nói đủ nhiều về lớp học kỳ lạ ở thư viện để thuyết phục cậu ta rằng mình vừa có một bữa ăn hoàn hảo: tám học viên năm nhất trong một căn phòng tách biệt mà không có nhân chứng nào xung quanh. Tôi cho là cô bé không nhắc đến mình.
Vài ngày sau, Prasong lén lên tầng trên ngay trước khi hết giờ ăn trưa, trải ra một vòng tròn phép nguyền để bòn rút ma lực từ người khác trên sàn nhà.
Thủ đoạn này thực tế không hề ổn. Ở thư viện, thường thì người ta không tra được gì về phép nguyền hút cạn ma lực của người khác; để mà nói thì không có văn bản về những thứ hắc ám xấu xa ở trường. Tất nhiên chuyện đó chỉ là chuyện lừa người mà thôi. Tôi đã đụng phải chí ít là hàng trăm tài liệu như thế rồi. Nhưng bất cứ ai đi tìm chúng thì sẽ khó mà thấy được. Dù sao thì Prasong không tham vọng như Jack dễ mến. Phép nguyên của cậu ta đủ mạnh để lột một lớp da đáng kể của nạn nhân, mở thân thể họ ra để cậu ta kéo ra một lượng nhỏ ma lực qua đau đớn và kinh hoàng, và tôi cho là cậu ta chỉ muốn như thế. Tuy nhiên, giết hại tám phù thủy cùng lúc, kể cả khi đó là học viên năm nhất, cũng không phải chuyện đùa đối với một Thực Ma Thuật Sư mới vào nghề; tổn thương tinh thần sẽ khiến cậu ta bị chú ý theo một cách không mấy tốt đẹp, và như thế sẽ khiến các học viên khác – cụ thể là những người ở gần cậu ta nhất – tập hợp một nhóm đủ đông để hạ cậu ta trước khi cậu ta kịp nghĩ ra thêm ý tưởng thiên tài nào đó bao gồm cả việc lấy ma lực từ họ.
Không may cho Prasong, tôi đã để ý thấy phép nguyền trước cả khi đặt chân qua cửa. Tôi đoán tác giả của phép này là một con quái nhân tạo. Một số con tiến hóa hơn có thể vẽ pháp ấn, tuy không được tốt lắm. Trường hợp này cũng không ngoại lệ. Là tôi thì có thể làm được tốt hơn mà chẳng cần dùng một nửa sức, và tôi đã làm như thế: cầm một mảnh phấn từ chiếc bảng gần nhất, viết lại một nửa pháp ấn để chuyển ngược tác động lên kẻ tạo ra nó – tranh thủ sửa nhiều lỗi và cải thiện một chút – kích hoạt phép dễ dàng, hầu như chẳng tốn chút ma lực nào. Thậm chí tôi còn có chút tự mãn khi pha tấn công đầu tiên của buổi chiều lại dễ dàng bị hóa giải như thế.
Đến giờ ăn tối tôi mới biết tác giả của bùa phép đó là ai khi mọi người xì xào bàn tán không ngừng chuyện da của Prasong bị gọt đi sạch sẽ giữa giờ ngoại ngữ và việc cậu ta chạy vòng vòng gào thét thảm thiết cho đến khi chết vì sốc và mất quá nhiều máu.
Tôi sẽ không nói là mình thấy có lỗi. Không đời nào. Sau bữa tối thì tôi nôn ra hết. Sudarat rời khỏi nhà ăn với vẻ khiếp sợ. Cô bé và những người khác trong thư viện đã biết chuyện gì xảy ra vì chính tôi đã nói với họ – một cách tự mãn, kiêu căng và ngạo mạn – khi cho mọi người xem vòng tròn nguyền phép, giải thích cách nó hoạt động và bằng cách nào mà tôi khiến nó tác động ngược lại lên chủ nhân của nó. Vài tuần sau đó cô bé khá im lặng, như một dấu hiệu gì đó. Đây là lần đầu cô bé lên tiếng lại với tôi sau vụ đó.
“Từ Thượng Hải?” Tôi chậm rãi nói.
Sudarat gật đầu, hơi ngẩng đầu lên. “Có vài người ở Bangkok đã nghe nói,” cô bé kể. “Về vụ tấn công chúng ta gặp phải, còn có vài người khác nữa. Khi em nói…” Cô bé ngừng lời, nhưng tôi đã hiểu được tình huống. Khi cô bé nói cho Prasong về vụ tấn công trong thư viện, đám nhóc khóa sau cũng ở đó. Giờ thì những người từng chung thành bang với Sudarat đang dùng cô bé làm chân chạy tin hữu dụng để truyền tai nhau, một trò để lấy tiếng. Điều này giống như đám thua cuộc chúng tôi sẽ làm vì bạn không biết được thông tin nào trong những câu chuyện đó có thể giúp mình vượt qua cánh cổng tốt nghiệp.
“Em đã nói gì?” Tôi hỏi.
Cô bé cúi mặt xuống bàn, phần tóc ngắn ngủn che đi ánh mắt, nhưng tôi vẫn thấy được môi và cổ họng của cô bé còn hoạt động khi cố nuốt nước bọt. “Em nói là em không nhớ gì cả. Rồi em nói không”
Cô bé đang học được một bài học như mọi đứa nhóc thua cuộc năm nhất đều sẽ trải qua. Cô nhóc sẽ hiểu được rằng người khác không hỏi thăm vì cảm thông cho mình mà đang săn tìm thông tin có giá trị cho chúng. Nó hiểu được rằng chúng đang đánh hơi để lần theo tôi. Nhưng cô bé vẫn chưa học được đầy đủ vì nó đã làm sai. Điều mà Sudarat rõ ràng nên làm là tìm hiểu xem thông tin mình nắm giữ có giá bao nhiêu và rồi bán lại cho chúng. Thay vào đó, cô bé lại nói dối để bảo vệ tôi, người mang đến cho nó hy vọng: hy vọng được giúp đỡ, hy vọng về một mái nhà mới.
Cô bé thật hiểu chuyện, dù nếu là tôi thì tôi sẽ vui hơn nếu ai đó ở Thượng Hải không nghi ngờ và hỏi chuyện Sudarat như thế này. Bởi đó là dấu hiệu cho thấy những chuyện không hay sắp đến. Trước hết, đám năm cuối ở Thượng Hải đang ráo riết điều tra chuyện gì đã xảy ra với lũ quái – và ở năm tôi thì bọn họ đã có chín người, chưa kể đến các đồng minh khác. Một vấn đề khác là họ đã biết lớp ở thư viện đã bị lũ quái tấn công ít nhất một lần, điều khiến chúng tôi trở nên bất thường. Họ đang cố chắp nối thông tin với các vụ tấn công khác, có thể chính là vụ một bầy quái đã tràn ra ở lớp thực hành của tôi. Ngay khi có người biết được có một lớp ngôn ngữ cho một người được mở ở nhà xưởng bị tấn công, và người duy nhất trong lớp đó tình cờ lại chính là học viên năm cuối duy nhất trong thư viện bị tấn công kia, mọi chuyện không khó để suy luận cho lắm.
Tôi không biết điều gì sẽ xảy ra khi chuyện lộ ra ngoài. Đám còn lại ở New York có lẽ sẽ quyết định loại bỏ tôi và Chloe. Nếu đằng nào Orion cũng không cấp cho họ ma lực, họ cũng chẳng mất gì khi tống cổ “bạn gái” của cậu ta. Chuyện đó có thể-sẽ-chỉ là phần nhỏ nhất mà thôi. Nếu người ta biết được ngôi trường này đang đặc biệt chĩa mũi dùi vào tôi, họ sẽ muốn biết nguyên nhân, và nếu không tìm được lý do, có lẽ sẽ có ai đó quyết định cho tôi một nhát để ép cung mọi chuyện. Đấy là nếu họ không nghĩ rằng trao cho ngôi trường thứ nó muốn là một ý hay.
Do đó giờ học giữa kỳ của tôi hôm nay vui vẻ đến lạ.
Có điều nó đúng là vui thật. Niềm vui khi học cùng bạn bè mình chưa bao giờ vơi trong tôi cả. Chúng tôi cùng dọn dẹp căn phòng rộng gấp đôi bình thường của Chloe và tìm thấy ruột gối mới để thay – nếu bạn nghĩ chúng tôi sẽ cảm thấy ghê rợn trước ý tưởng tái sử dụng những cái gối hoàn toàn bình thường và thoải mái chỉ vì trước đây chúng là tổ cho một đám quái vật và một học viên nào đó bị ăn mất một nửa, vậy thì bạn chưa chú ý lắm rồi – và cả đám tụ tập ở đó mỗi tối cùng một cái chậu ở giữa để đám chuột của chúng tôi có thể lăn ra ngủ trong khi được vuốt ve, thậm chí còn được bất cứ ai chúng tôi mời đến cho ăn.
Hầu như luôn có người tham gia cùng chúng tôi. Dù cả đám muốn làm môn gì thì gần như chắc chắn đều có thể nhờ được người đến giúp. Tôi được nhiều người giúp đỡ môn Ả Rập, Ibrahim và vài người bạn của cậu ấy vui lòng đến và cho tôi lời khuyên xem như thù lao cho việc thu nhận họ. Nkoyo hầu như tối nào cũng đến, cậu ấy cũng đang học lớp tiếng Phạn mà tôi dự định tham gia. Nhờ họ giúp đỡ mà tôi đã có tiến triển đáng kể với cuốn Đá Vàng, cụ thể là chỉ trong tuần đó tôi đã đến được phần đầu tiên của mục bùa phép quan trọng. Ngoại trừ một chuyện, thực ra đó là một lời nói dối, chúng tôi không hẳn đã nhờ đến sự giúp đỡ từ họ.
Thực tế là nhờ quãng thời gian tôi có khi không phải vất vả giữ mạng mỗi ngày, nhờ nỗ lực của tôi khi không phải cày cuốc tích lũy ma lực. Tất nhiên những người khác cũng giúp đỡ phần nào, nhưng thời gian, nỗ lực và sự giúp đỡ của họ đều chung một khởi điểm, đó là do Chloe tham gia, là sự hào phóng của cô nàng, và tôi thì không thích thế. Tất nhiên là tôi rất lấy làm thích thú, nhưng nó cũng khiến tôi cảm thấy đôi chút khó chịu.
Nhưng tất cả những nỗi bực dọc ấy đã không còn vào ngày tôi giở trang sách và nhìn thấy một dòng tiêu đề được viết thật đẹp mà tôi không cần dịch cũng hiểu được “Bước đầu tiên trên con đường Hoàng Kim.” Dòng chữ ấy được viết bằng tiếng Phạn nổi bật trong một ô ngay ngắn, mỗi chữ đều được viết bằng vàng lá và tô màu ở những nét chính. Ngay từ cái nhìn đầu tiên tôi có thể thấy dấu vết của các bùa phép khác mà tôi đã học cho đến giờ: bùa thao túng vật chất, bùa tập hợp nước, và một loại bùa khác tôi mới nghiên cứu ra tác dụng là phân tách đất khỏi đá. Chúng đều có liên hệ với nhau và có thể được thi triển như một phần của phép tổng thể.
Giờ thì tôi không những không còn cảm thấy khó chịu mà còn không hề lo lắng chút nào về chuyện ma lực, về những chuyện sắp xảy ra, khi nào thì chuyện của tôi bại lộ và hậu quả ra sao. Tôi cũng dừng làm bài tập giữa kỳ và ngó lơ tất cả những lớp còn lại. Suốt cả tuần liền, cứ khi nào không bị kẹt với việc ở trên lớp hay tiêu diệt lũ quái, tôi lại nghiên cứu cuốn sách. Tôi cũng cắm mặt vào từ điển ngay cả khi đang ăn.
Tôi biết việc này thật ngớ ngẩn. Bài tập cuối kỳ môn Myrddin của tôi là một đoạn thơ dài bằng tiếng Pháp cổ chứa trong đó ít nhất ba bùa phép hữu dụng trong chiến đấu mà tôi có thể sử dụng vào lễ tốt nghiệp. Trong khi đó thì đại bùa chú của Purochana có quy mô lớn và có lẽ cần đến một nhóm phù thủy mới có thể thi triển. Cuốn Đá Vàng vốn để dành xây dựng thành bang chứ không phải để tiêu diệt quái vật. Nó sẽ chỉ có ích nếu tôi sống đủ lâu để thoát khỏi nơi này.
Nhưng nếu có thể sống sót thì tôi cũng có thể trao nó cho những nhóm giống như gia đình Liu chẳng hạn, hay thành bang mà bạn của Ibrahim là Yaakov là một thành viên ở đó, hoặc bất cứ thành bang phù thủy nào muốn tạo dựng một nơi sinh sống an toàn cho mình. Cuốn Đá Vàng có thể không phải là cách tốt nhất để kiến tạo thành bang nữa vì nếu có thì nhiều bùa phép khác từ đây đã có thể tồn tại cho đến ngày nay giống như bùa thao túng vật chất. Nhưng có được nó thì vẫn tốt hơn là phải khăn gói đưa cả gia đình mình đến một thành bang khác trong ; ba đời tiếp theo chỉ để được tiếp cận bùa phép, chưa nói đến tài nguyên cần tiêu hao nữa. Bùa phép từ thành bang của Purochana có lẽ sẽ không đắt đỏ như bùa phép hiện đại. Ngày xưa ở Ấn Độ không ai xây thành bang theo kiểu tòa nhà chọc trời cả. Bạn không thể gọi mấy người thợ xây quanh vùng đến để đặt mua giàn thép hay xi măng.
Thế nên thành bang của tôi sẽ không hoành tráng như một thành bang hiện đại, nhưng ai quan tâm chứ? Nó vẫn sẽ ngăn lũ quái làm hại con của bạn. Chỉ cần có một chốn an toàn thì ít ra bạn vẫn có lựa chọn, một lựa chọn mà ai đó có thể đưa ra mà không cần phải là Mẹ. Bạn không phải nịnh nọt đút lót gì cho đám nhóc khác cả. Chúng vẫn sẽ có ưu thế, vẫn có quần áo cũ và nhiều ma lực hơn. Sẽ vẫn có người nhờ cậy chúng, nhưng không ai phải vật lộn để sinh tồn nữa. Chúng sẽ không được giúp đỡ miễn phí rồi sau đó gieo hy vọng mong manh được gia nhập nhóm cho người khác, cũng như hy vọng được gia nhập thành bang vốn dĩ còn mong manh hơn.
Tôi thích ý tưởng đó. Thực sự thì tôi yêu nó. Nếu đây là cách tôi sẽ hủy diệt các thành bang trên thế giới thì tôi sẵn lòng làm như lời tiên tri của bà cố. Tôi sẽ lấy bùa phép của Purochana rồi phân tán chúng khắp thế giới, dạy mọi người cách thi triển chúng. Có lẽ họ sẽ không thích tôi, nhưng vì nó mà họ cũng sẽ nghe lời tôi nói, sẽ để tôi ở trong thành bang mà tôi giúp họ xây dựng. Và tôi sẽ yêu cầu họ giúp đỡ những người khác như một phần thù lao. Sau đó họ có thể quyên góp tài nguyên, làm ra các bản sao của bùa chú và truyền lại cho những người khác.
Còn về hiện tại thì tôi còn đang mải mê suy nghĩ về viễn cảnh trở thành một người hùng giải cứu thế giới, tôi lại không hề làm bài tập gì cả. Cụ thể là tôi hoàn toàn quên mất bài tập giữa kỳ của lớp Sơ ngữ Ấn-Âu. Đáng lẽ tôi sẽ trượt môn nếu không nhờ có Ibrahim: Khi tôi chợt nhớ ra bài tập phải làm vào tối thứ Hai ngay trước hạn nộp bài, khi đó chỉ còn một tiếng là tới giờ giới nghiêm. Cậu ta làm trung gian giúp tôi trao đổi cấp tốc với một người ở thành bang Dubai mà cậu ta chơi thân, cũng là do kỳ trước tối với cậu ta ngồi chung với đám nhóc từ Dubai vào một buổi tối nọ trong thư viện. Bọn họ vẫn ném cho tôi ánh mắt không mấy thân thiện nếu tình cờ đi ngang qua tôi. Về phần Ibrahim thì cậu ta chơi thân với một người bên đó và bốn người khác thì chỉ quen biết ở mức độ gật đầu chào hỏi mà thôi. Đó là câu chuyện của cuộc đời tôi. Nhưng giờ tôi lại được lợi bởi tối đó khi tôi đang hốt hoảng trong phòng Chloe thì Ibrahim nói, “Này, Jamaal có lẽ đã làm bài tập đó đấy.” Hóa ra Jamaal là con út trong gia đình năm anh chị em và được kế thừa một bộ sưu tập vô giá tài liệu và bài tập cũ của gần như mọi lớp cậu ta đã tham gia. Hơn nữa, tôi đưa cho cậu ta một bản sao bài làm của tôi viết về bùa triệu hồi nước và nhận lại một bài luận văn chỉn chu được nộp cho lớp Sơ ngữ Ấn-Âu mười năm về trước.
Tôi vẫn cần tự tay viết lại bài luận, trong quá trình đó tôi cảm thấy không thoải mái với vài thứ ngớ ngẩn được nhắc đến trong bài và cuối cùng thay đổi một nửa nội dung và thức đến đêm. Tôi ngủ gật ngay trên bàn và phải làm nốt vào hôm sau trong giờ tự học. Sau đó tôi chạy thốc tháo đến lớp Sơ ngữ Ấn- Âu, lòng đầy căm phẫn không biết phải trút ở đâu. Trong khi đặt bài vào chỗ và miệng thì còn đang ngáp, một con kỳ quái vọt ra và bay tọt vào cái miệng đang há ra của tôi.
Hãy quên hết những gì bạn biết trước đây về những quái vật khổng lồ đáng sợ kiểu Cthulhu đi, những con kỳ quái thực tế khá mong manh. Chúng đi săn bằng cách khiến người ta phát điên bởi khí mê hoặc, loại khí này sẽ lấp đầy giác quan của bạn bằng những nỗi kinh hoàng không thể thốt nên lời. Trong khi bạn giãy giụa la hét và cầu xin mọi chuyện ngừng lại, con quái sẽ bò ra khỏi chỗ trốn và cố rút não bạn ra từ mũi với hai bàn tay được thực thể hóa một phần.
Vấn đề khi chúng sử dụng chiến thuật tinh quái này với tôi là không nỗi kinh hoàng nào mà não bộ con người trải qua lại có thể sánh với việc bị một con Khẩu Nha nuốt vào bụng. Thế nên con kỳ quái làm tôi nhớ lại trải nghiệm đó, và tôi phản ứng lại giống như lúc đó, nói ngắn gọn thì tôi ĐÃ hét lên chết đi đồ quái vật ghê tởm với ác ý mạnh mẽ. Có điều nó không phải là một con Khẩu Nha. Nó chỉ là một đám mây trong suốt nhỏ nước tong tong, tôi thì tấn công nó bằng bùa tất sát toàn lực như thể một người dùng súng phun lửa để đốt một que diêm vậy.
Bùa giết chóc hữu dụng nhất của tôi không giết người bằng cách hủy hoại cơ thể mà xóa bỏ hoàn toàn sự sống. Tóm lại, tôi để con quái biết được nỗi sợ rằng nó không tồn tại, và tôi dùng chính ý niệm đó để trấn áp nó mạnh đến mức sự hiện diện của nó ngay lập tức bị xóa sổ trong thực tại. Sau đó tôi cố áp đặt ý niệm rằng những thứ xung quanh nó cũng nên chấm dứt sự tồn tại dối trá đến kệch cỡm của chúng đi.
Điều này thật kỳ lạ khi mà nhiều nơi của Scholomance thậm chí không hề tồn tại. Scholomance được tạo nên bằng vật liệu thật, nhưng quy luật vật lý bị bẻ cong khá nhiều trong chân không, dẫn đến hầu hết vật liệu bị kéo mỏng hơn cần thiết, việc kiến tạo lại không hợp với chuẩn, và thứ quan trọng nhất giúp nó vẫn hiện diện là việc chúng tôi tin tưởng vào sự tồn tại của nó như cái cách mà chúng tôi vẫn thường chăm chú nhìn. Và đó là điều mà tôi lấy đi: trong một khoảnh khắc kinh khủng, tôi khiến bốn đứa khác trong lớp nhận thức được thứ duy nhất ngăn giữa chúng và hư không là một cái hộp thiếc chứa đựng những suy nghĩ hạnh phúc và bụi tiên. Chúng hét lên và trốn đi, chỉ có điều chúng không thể làm thế vì đã đánh mất niềm tin, và rồi căn phòng và hành lang bắt đầu tách ra khỏi chúng.
Thứ duy nhất ngăn chúng tôi tước đi một phần đáng kể của ngôi trường là bởi tôi chưa bao giờ ngừng tin tưởng chính mình. Lúc này khi còn hơi mơ hồ với hình ảnh mà con quái tạo nên, tôi loạng choạng đi theo cả đám đến một hành lang bắt đầu vặn xoắn như cuộn giấy nhôm dưới sức nặng của toàn bộ ngôi trường bên trên. Trong lúc vẫn bối rối, tôi nghĩ chỉ có mình đang mắc bẫy, thế là tôi nhắm mắt và tự nhủ chắc nịch với bản thân rằng hành lang không hề uốn éo và đưa tay lên tường với hy vọng bức tường sẽ vững chắc ở đó, và nó ở đó thật. Tôi hét với đám nhóc, “Không sao hết! Là khói của con quái thôi! Đừng chạy nữa!” đến khi cả đám nhìn lại và thấy hành lang xung quanh tôi vẫn bình thường thì chúng mới tin tôi đã đúng và bắt đầu đặt niềm tin trở lại ngôi trường.
Một lát sau, tôi nhận ra mình đã sai vì ngay khi hành lang ổn định lại, Scholomance đóng sập cửa phòng và phong ấn nó sau bức tường vĩnh cửu, nơi thường được dành cho phòng thí nghiệm trên tầng hai, tại đây từng xảy ra một vụ tai nạn giả kim kinh khủng đến mức dư âm chết người của nó sẽ không biến mất trong hơn một thập niên nữa. Khi bức tường đóng sập từ trên trần bên cạnh, suýt cửa đứt ngón cái của tôi, tôi mới giật mình và nhìn lại đủ lâu để thấy một thoáng hình ảnh chân thật quá mức của bức tường ở lớp học phía trên sụp đổ thành từng nếp gấp như cây đàn accordion. Đó là khi tôi biết mình đã làm gì.
Tôi thực sự không biết đứa nhóc nào trong lớp này. Chúng đều học ngôn ngữ như tôi, và một trong số chúng là Ravi thuộc thành bang Jaipur. Ba đứa nhóc khác vây xung quanh giúp thằng nhóc chuyện bài tập và tài liệu. Không có đứa nào từng nói chuyện với tôi. Tôi chỉ biết đến cái tên Ravi nhờ một đứa khác trong nhóm này là một cô nàng tóc vàng người Đức tên Liesel cứ luôn miệng thì thầm “Ravi, xuất sắc quá,” mỗi khi cậu ta để cô nàng sửa bài tập cho. Nó khiến tôi muốn quăng cuốn từ điển vào đầu cả hai, và tôi càng có lý do muốn làm thế vì tôi từng thấy Liesel nộp bài một lần – đó cũng là cách tôi biết tên cô nàng – một lần đó là đủ để tôi biết cô nàng này thông minh gấp mười lần tên kia và có lẽ muốn nhắm tới danh hiệu học viên tiêu biểu, bởi Ravi thậm chí không đủ thông minh để ngộ ra Liesel mới là người giỏi nhất trong lớp; thường cậu ta đưa bài cho một đứa khác để phung phí thời gian đùa giỡn với Liesel và nhìn chăm chăm vào ngực cô nàng.
Tất nhiên nhìn chung thì bộ não không phải tất cả. Ravi có thể thuyết phục chính mình rằng mọi thứ đã ổn nhanh hơn những người khác. Đến khi tôi qua chỗ chúng thì cậu ta đã bình phục và nói với giọng chắc nịch, “Chúng ta đến thư viện đi. Chúng ta sẽ không bị hạ điểm nếu lớp học đóng cửa. Cậu cũng có thể tới đó,” cậu ta nói thêm với tôi bằng giọng điệu hào phóng trịch thượng, thậm chí còn làm dấu hướng ra cửa, ý là để tôi đi trước nhờ sự thương hại của kẻ bề trên là mình. Tệ hơn nữa là mới mấy tuần trước khi không có vòng tay chia sẻ ma lực của Chloe thì tôi đã phải làm vậy và cảm thấy biết ơn khi may mắn có người đi cùng.
“Nếu tôi được điểm vì đi ra ngoài giữa giờ, tôi sẽ đi một mình,” tôi thô lỗ đáp. “Nhất là khi không ai ở đây nghĩ đến việc nhắc nhở tôi cẩn thận con quái.” Cả đám đều đến lớp trước tôi. Vì không có ai bị tấn công trong giờ, chúng chắc chắn đã nhìn ra được dấu hiệu – có một vệt sáng mờ trong không khí gần con quái mà thường tôi sẽ không để lỡ – và đẩy bài tập của mình từ xa đến. Không có đứa nào lên tiếng khi tôi bước trúng chỗ đó.
“Chị phải có người trông chừng cho mình mới phải chứ” một đứa nhóc bướng bỉnh với tôi.
“Đúng rồi đó.” Tôi đáp. “Giờ nhóc có người trông cho mình rồi nhé.”
“Cái gì kia?” Liesel đột ngột lên tiếng. Cô nàng nãy giờ chăm chú quan sát bức tường lúc này đã được ổn định lại và cửa chắn ngăn nguy hiểm, tỏ ra ngờ vực hơn hẳn đám còn lại, và giờ thì nhìn sang tôi “Bùa phép chị đã dùng. Có phải nó là La Main de la Mort?”
Quả thực đúng là nó. Cô nàng này hẳn đã học tiếng Pháp, nếu như từ bé không phải là dân song ngữ. Với lại phép này cũng dễ nhận biết khi không có nhiều bùa giết chóc chỉ có ba từ. Cái khó khi thi triển không phải là học được ba từ đó, chỉ là nó cần rất nhiều je ne sais qua, điều thường thấy trong bùa phép tiếng Pháp: bạn cần có khả năng thi triển nó thật nhẹ nhàng mà không chút tốn sức. Phép La Main de la Mort sẽ giết bạn thay vì mục tiêu nếu bạn làm sai dù chỉ một chút, rất ít người dám vô tư lự thử bùa phép này trừ khi họ đang ở trong miệng một con Khẩu Nha chẳng hạn, khi mà cái chết lúc đó có lẽ là kết cục không tránh khỏi. Ngoài ra bạn còn cần có khả năng vận chuyển một lượng ma lực cực lớn mà không tỏ ra là đang tốn sức, điều này khá khó với hầu hết những người không được sinh ra để trở thành nữ hoàng phù thủy hắc ám hay đại loại thể.
“Muốn biết thì tra thử xem.” Tôi đáp, không ngần ngại bày ra thái độ thô lỗ hơn nữa và rời đi về phía cầu thang nhanh nhất có thể, nhưng ngay cả Ravi lúc này cũng đang trợn mắt nhìn tôi.
Đến lúc này thì chẳng khó để biết được điều gì đó trọng đại và kinh khủng mà tôi đang che giấu. Khi đến nhà ăn vào bữa trưa, tôi thấy Liesel dừng lại nói gì đó với Magnus ở bàn New York, cậu ta vẫy tay ra hiệu đã dành một chỗ cho cô nàng ngồi cạnh. “Chà, phen này tớ tiêu rồi.” Tôi nói ngắn gọn với Aadhya và Liu ngay khi đến ngồi xuống cùng cả hai. Và quả nhiên là tôi đã đúng.