Bong bóng độc
Hãy tránh xa Orion Lake.
Công bằng mà nói thì hầu hết những người mộ đạo hay sùng đạo mà tôi biết có hai loại, một là kiểu người sống trong một cộng đồng có hơi hướng ngoại đạo tại xứ Wales, hai là một đám nhóc phù thủy mang dáng vẻ sợ hãi bị nhét vào một ngôi trường đang cố cướp đi sinh mạng của chúng. Những người này thường cầu nguyện một đấng khoan dung và toàn tri nào đó để xin những lời khuyên hữu ích thông qua những dấu hiệu hay điểm báo. Là con gái của Mẹ, tôi khá chắc rằng những người đó không hề thích chút nào khi nhận được những lời khuyên như vậy. Bạn không muốn một lời khuyên bí ẩn không kèm lời giải thích từ một người biết bạn, mong muốn điều tốt nhất cho bạn, đồng thời có con mắt phán xét chính xác đến tuyệt đối, hợp tình hợp lý đến mức bạn không thể phản bác. Họ có thể sẽ cho bạn biết điều mà đằng nào bạn cũng làm, mà trong trường hợp đó thì bạn đã chẳng cần đến lời khuyên của họ. Hoặc họ sẽ bảo bạn làm điều ngược lại, và khi ấy bạn sẽ phải lựa chọn giữa việc ủ rũ tuân theo lời khuyên, hệt như một đứa trẻ bị ép đi đánh răng và đi ngủ đúng giờ, hoặc là phớt lờ lời khuyên và tiếp tục làm theo cách của mình trong khi biết rõ rằng hành động của bản thân chắc chắn sẽ dẫn đến khổ đau và bất tường.
Nếu bạn đang tự hỏi tôi lựa chọn như thế nào, xem ra bạn không hiểu gì về tôi, vì tôi chẳng cần nghĩ cũng biết khổ đau và bất tường hiển nhiên là số phận của mình. Tờ giấy nhắn mà Mẹ gửi tất nhiên là muốn tốt cho tôi, nhưng nó lại chỉ vỏn vẹn: Con gái yêu. Mẹ yêu con, hãy dũng cảm, và tránh xa Orion Lake. Tôi liếc một cái, thu hết những gì được ghi trên đó vào trong mắt và lập tức xé nó ra thành từng mảnh trong khi đứng giữa một đám nhóc năm nhất đang bối rối như gà lạc mẹ. Tôi bỏ mẩu giấy có tên Orion vào miệng rồi chia phần còn lại ra.
“Gì vậy?” Aadhya hỏi. Cô nàng vẫn đang nhìn tôi với cái nheo mắt đầy vẻ bất mãn.
“Nó giúp phấn chấn lên đó.” Tôi đáp “Mẹ mình yểm bùa lên giấy.” “Phải rồi, mẹ cậu, Gwen Higgins,” Aadhya rõ là đang nói mát. “Người mà cậu thường xuyên nhắc đến với bọn này.”
“Thôi nào, cứ ăn đi,” tôi đáp với vẻ khó chịu nhất có thể, sau khi đã nuốt mẩu giấy. Thứ khiến tôi giận dữ như thế cũng không khó tìm như tôi tưởng. Tôi sao có thể không nghĩ đến những gì tôi đã bỏ lỡ trong thời gian ở nơi này: ánh mặt trời ấm áp, làn gió mát, hay một đêm ngon giấc, tôi luôn nghĩ về chúng nhiều không thua kém gì nỗi nhớ dành cho Mẹ. Thì ra công dụng của bùa chú đó là: cảm giác được cuộn tròn trên giường Mẹ, đầu gối lên đùi trong khi bàn tay Mẹ nhẹ lướt trên mái tóc tôi, mùi thảo mộc phảng phất nơi Mẹ, tiếng ếch văng vẳng đâu đây bên ngoài khung cửa sổ và mùi ẩm ướt của mặt đất vào mùa xuân xứ Wales. Tôi lẽ ra đã có thể cảm thấy phấn chấn hơn nhiều nếu như lúc này tôi không phải lo lắng xem bà muốn nói với tôi điều gì về Orion.
Để mà nghĩ xem điều ấy là gì thì có vô vàn khả năng hay ho, mà hay nhất là tên đó sẽ chết trẻ và chết một cách kinh khủng. Điều này thật dễ đoán khi nhìn vào cái thói thích làm trò anh hùng của hắn. Nhưng không may là Mẹ sẽ không cảnh báo tôi tránh xa chuyện gì đó như là việc vướng vào hết mớ rắc rối này đến mớ rắc rối khác với một người hùng bị nguyền rủa. Bà là kiểu người với tư tưởng sống cho trọn vẹn mọi khoảnh khắc của hiện tại hơn.
Mẹ sẽ chỉ cảnh báo tôi tránh khỏi chuyện chẳng lành chứ không phải mấy chuyện đau khổ. Chắc chắn Orion là một tên Thực Ma Thuật Sư xuất sắc nhất từ xưa đến nay và đang che giấu kế hoạch xấu xa ghê tởm của mình bằng cách cứu mang tất cả mọi người hết lần này đến lần khác để sau cùng hắn có thể làm gì đó, ví dụ như giết sạch bọn họ chẳng hạn. Hoặc có thể Mẹ đang lo lắng tên đó đáng ghét đến mức sẽ ép tôi trở thành Thực Ma Thuật Sư xuất sắc nhất? Giả thuyết này thì hợp lý hơn nhiều vì nó vốn dĩ là kết cục của tôi.
Tất nhiên, khả năng cao nhất ở đây là chính Mẹ cũng không biết mình đang cảnh báo điều gì cụ thể. Có lẽ bà chỉ có linh cảm xấu về Orion mà thôi, bởi bà chẳng có lý do gì mà có thể biết được, dù cho bà có viết cho tôi một lá thư dài mười trang giấy kín cả hai mặt đi nữa. Có lẽ linh cảm đó tệ đến mức khiến bà đi bộ tới tận Cardiff để tìm một học viên năm nhất ở gần nhất, nhờ cha mẹ của nhóc đó gửi cho tôi mẩu giấy nhắn lèo tèo này. Tôi vươn tay, chọc vào bờ vai gầy nhẳng nhỏ xíu của Aaron. “Này, Mẹ chị đã đưa bố mẹ nhóc cái gì để họ chuyển tin nhắn của bà ấy thể?”
Aaron quay lại đáp với giọng mơ hồ, “Hình như là không có? Bà ấy nói là không có gì để trả cả, nhưng bà ấy đề nghị nói chuyện riêng với họ một lát, rồi bà ấy đưa cho em còn mẹ em thì bóp một ít kem đánh răng ra để có chỗ nhét mẩu giấy vào.”
Điều này nghe có vẻ vô nghĩa, nhưng ai lại nhét một tuýp kem đánh răng thường vào đống hành lý bốn năm đầy eo hẹp mà họ có thể mang theo như thế; tôi đánh răng bằng loại thuốc muối có trong tủ đồ dự trữ của phòng giả kim. Nếu Aaron mang theo một tuýp kem đánh răng vào đây, nó hẳn đã được yểm bùa bằng cách nào đó: rất hữu ích khi bạn sẽ không được đến gặp nha sĩ trong bốn năm tới. Cậu nhóc hoàn toàn có thể bóp một ít kem đánh răng ra và bán cho ai đó bị bệnh răng miệng để đổi lấy một tuần được thêm đồ ăn tối. Và món hời đó đã bị họ tước đi – và Mẹ chính là người đã yêu cầu cha mẹ cậu làm điều đó – chỉ để gửi lời cảnh báo này đến tôi.
“Tuyệt thật,” tôi nói, giọng chua chát. “Đây, làm một miếng đi.” Và đưa cậu nhóc một mảnh của mẩu giấy nhắn. Có lẽ Aaron sẽ cần nó trong đời hơn bao giờ hết một khi đã bị cuốn vào Scholomance. Chuyện này nếu so với án tử gần như chắc chắn dành cho đám nhóc phù thủy còn ở bên ngoài kia thì vẫn tốt hơn, dẫu chẳng hơn được bao nhiêu.
Vừa lúc ấy, quầy thức ăn mở ra, và vẻ ủ dột của tôi bị át đi trong hàng dài hỗn loạn đang chờ đợi, nhưng Liu vẫn lặng lẽ hỏi tôi, “Mọi chuyện ổn cả chứ?” khi cả hai đang xếp hàng.
Tôi nhìn cậu ấy chằm chằm. Không phải là tôi đang đọc suy nghĩ – mà cậu ấy thực sự tinh ý với mấy thứ tiểu tiết và suy luận lắp ráp mọi thứ với nhau. Liu chỉ vào túi tôi, nơi đang để mảnh giấy nhắn cuối cùng – mảnh giấy chứa nội dung thật sự mà tôi không nói với mọi người, dù việc tôi phân phát những mẩu giấy nhỏ có yểm bùa phép đáng lẽ đã có thể che giấu tâm trạng ủ dột của mình rồi mới phải. Tôi cảm thấy bối rối không hiểu vì sao Liu lại hỏi thế. Tôi vốn không quen bị người khác xét hỏi, hay thậm chí là việc bị người khác nhìn ra tôi đang khó chịu, trừ khi cơn khó chịu của tôi đủ lớn khiến tôi bắt đầu thể hiện ra rằng bản thân sắp sửa tung ra một mồi lửa thiêu rụi tất cả mọi người xung quanh, mà chuyện như thế thực chất đã xảy ra với tần suất khá thường xuyên.
Tôi suy nghĩ một chút trước khi cho rằng mình không thực sự muốn nói về mẩu giấy. Tôi không có lựa chọn nào khác. Và điều này có nghĩa là, tôi đã nói sự thật khi gật đầu Ừ mọi chuyện vẫn ổn rồi mỉm cười với Liu, cảm giác thật kỳ lạ khi cơ miệng tôi cong lên. Liu mỉm cười đáp lại, và rồi chúng tôi vào hàng, tập trung lấy thức ăn cho vào khay.
Chúng tôi bỏ lại những đứa năm nhất trong đám đông lộn xộn. Chúng sẽ đi sau cùng, và giờ chúng tôi đã có cái đặc quyền ngầm là được đi trước. Nhưng nếu có thể chiếm ưu thế thì tội gì mà không nhận, ít nhất hôm nay bọn tôi có thể làm thế. Những bức tường của trường vẫn còn hơi ấm sau vụ thanh tẩy cuối học kỳ. Những con quái nào còn chưa bị đốt thành trọ sẽ mò ra khỏi những góc tối mà chúng ẩn nấp, còn thức ăn thì hẳn là không bị ô nhiễm như từ trước đến nay vẫn vậy. Vậy là Liu lấy thêm vài hộp sữa cho mấy đứa em họ, còn tôi, tuy hơi khó chịu nhưng vẫn lấy thêm một phần mỳ Ý cho Aaron. Căn Ý bản thì tôi chẳng nợ nhóc này thứ gì chỉ vì nó đã mang tờ giấy nhắn cho tôi, nếu theo quy tắc ở Scholomance mà nói, mấy việc như thế thì giải quyết ở ngoài. Thế nhưng rốt cuộc thì cậu nhóc cũng chưa nhận được gì từ bên ngoài cả.
Tôi có cảm giác thật lạ khi gần như là người đầu tiên rời hàng để đến nhà ăn đang gần như trống không, với một hàng dài toàn những đứa nhóc đang cố luồn lách bên bức tường. Đám học viên năm hai đang chọt vai mấy đứa năm nhất và chỉ cho chúng thấy những tấm lót trần, đường ống xả thải và lỗ thông khí trên tường; tất cả đều là những điểm mà chúng cần cảnh giác trong tương lai. Những cái bàn gấp cuối cùng được đẩy về vị trí trước đó dùng để đón học viên năm nhất, bật mở ra với những tiếng thịch và cót két. Bạn của tôi, Nkoyo – tôi xem cậu ấy là bạn được chứ nhỉ? Tôi nghĩ là mình có thể, nhưng mà còn chưa nhận được thông báo có đóng dấu hẳn hoi, nên tôi vẫn sẽ giữ thái độ hoài nghi thêm chút nữa – đã lên trước cùng đám bạn thân của cô ấy. Cô nàng đang ở chỗ bàn đắc địa nhất, nằm trong vòng tròn chính giữa hàng và bức tường, bên dưới hai tấm lót trần và cách đường ống thoát nước gần nhất bốn cái bàn. Mặc một chiếc áo mới kèm quần thụng, cô nàng trở nên nổi bật khi đứng lên vẫy tay gọi bọn tôi đến, bộ quần áo có những đường in lượn sóng xen kẽ rất đẹp mà tôi chắc là đã được đan cả bùa phép vào. Hôm nay là ngày mà mọi người được mặc đồ mới — cái tủ được nới rộng của tôi không may đã bị thiêu rụi vào năm nhất – Nkoyo hẳn đã để dành bộ này cho năm cuối của mình. Jowani mang đến hai ca nước lớn còn Cobra thì lo yểm phép bảo vệ xung quanh.
Đi qua nhà ăn để đến ngồi cùng họ mang lại cảm giác thật lạ. Kể cả nếu bọn tôi không được mời đến đi nữa thì vẫn còn cả đống bàn đẹp đang trống, và cả những bàn tệ nữa. Tôi thỉnh thoảng cũng phải lựa chọn chỗ ngồi, nhưng cái việc vừa nguy hiểm lại chẳng hay họ đó đều là kết quả của việc đến nhà ăn quá sớm, thường là do việc tôi tuyệt vọng vì đã quá nhiều lần gặp xui xẻo với mấy bữa ăn của mình. Giờ thì nó đã trở thành chuyện thường nhật rồi. Những người đang đến ngồi ở các bàn xung quanh tôi đều học năm ba hoặc đúng hơn là năm cuối. Tôi đều nhớ họ, không phải nhớ tên thì cũng nhớ mặt. Số lượng học viên ở đây chỉ còn ngót nghét một ngàn từ con số một ngàn sáu trăm trước đó. Điều này nghe thật đáng sợ, ngoại trừ thường thì số học viên còn lại khi bắt đầu năm thứ tư sẽ chỉ còn chưa đến tám trăm mà thôi. Và cũng chỉ còn chưa đến một nửa số này sẽ sống sót cho đến khi tốt nghiệp.
Nhưng khóa năm nay của chúng tôi đã đem một nhân tố quan trọng vào quy trình vốn có, và nhân tố đó đang ngồi ở bàn bên cạnh tôi. Trước khi tôi và Orion kịp ngồi xuống thì Nkoyo đã không nhịn được mà tuôn một tràng, “Được chưa? Các cậu sửa được máy dưới đó chưa?”
“Có bao nhiêu con quái dưới đó thể?” Cora cũng buột miệng cùng lúc, vừa trượt xuống chỗ ngồi vừa thở hổn hển, tay vẫn đang cầm cốc nước nhỏ bằng đất sét mà cô nàng dùng để nhỏ bùa bảo vệ ra xung quanh bàn.
Theo cách ứng xử thường thấy ở Scholomance thì họ không hề bất lịch sự: Họ có quyền được hỏi bọn tôi vì đã nhận bàn cho cả đám; như thế đã quá đủ công bằng để được trao đổi thông tin mới nhất rồi. Những học viên năm cuối khác còn đang bận rộn quây vào các bàn xung quanh – tạo cho chúng tôi một vòng bảo vệ vững chắc – đồng thời bọn họ cũng tiện ghé sang nghe chuyện hơn. Những người ngồi ở những bàn ở xa hơn thậm chí còn không biết xấu hổ mà nghiêng sang phía chúng tôi, dỏng tai nghe ngóng trong khi bạn bè của họ trông chừng.
Mọi người trong trường đều đã biết những chi tiết quan trọng nhất rồi, ví dụ như việc tôi và Orion đã sống sót trở về từ cuộc phiêu lưu kỳ thú đến sảnh tốt nghiệp sáng nay. Trong khi tôi dành phần còn lại của ngày nhốt mình trong phòng, Orion lại chọn né tránh người khác trừ khi có ai đó bị quái vật ăn thịt, thế nên mấy thứ tiểu tiết khác đều đã trải qua vô số cuộc bàn tán to nhỏ trước khi đến tai họ, và không nên được coi là một nguồn thông tin đáng tin cậy, giúp bạn vin vào đó để sinh tồn.
Tôi chẳng hứng thú gì với việc nhớ lại trải nghiệm gần đây của mình, nhưng tôi biết họ có quyền được nghe thông tin mà tôi có thể chia sẻ cho họ. Mà người phải nói ra chắc chắn là tôi bởi trước khi xếp hàng lấy thức ăn, tôi đã nghe một học viên năm cuối của New York hỏi Orion một câu tương tự, và tên đó nói, “Mình nghĩ là ổn thôi? Mình không thấy được gì nhiều lắm. Mình chỉ ngăn đám quái vật lại cho đến khi họ xong việc, thế rồi bọn mình kéo dây quay trở lên thôi.” Cậu ta tuyệt nhiên đã nghĩ như thế về tất cả những gì đã trải qua mà thậm chí không có chút khoa trương nào cả. Đồ sát cả ngàn con quái ở giữa sảnh tốt nghiệp đối với tên đó cũng chỉ như một công việc thường nhật. Tôi gần như đã cảm thấy tiếc cho Jemaine, lúc này đang mang dáng vẻ của một người đang cố nói chuyện quan trọng với một bức tường.
“Rất nhiều,” tôi đáp lời Cora. “Chỗ đó chật kín, đám quái thì khát máu.” Cô nàng nuốt nước bọt, cắn môi, nhưng vẫn gật đầu. Sau đó tôi quay sang Nkoyo, “Đám người bên khoa ma pháp cụ nghĩ bọn họ có thể làm được. Thế rồi bọn họ mất cả tiếng đồng hồ xoay xở, lúc đó mình chỉ mong họ đừng đổ thêm dầu vào lửa mà thôi.”
Nkoyo gật đầu, gương mặt chăm chú. Đây chẳng phải một vấn đề học thuật. Nếu như chúng tôi thực sự đã sửa được thiết bị dưới sảnh tốt nghiệp, vậy thì những cỗ máy thường làm công việc dọn dẹp hai lần một năm, thiêu cháy những con quái sinh sôi trong các hành lang và lớp học cũng đã xuống dưới đó và tiêu diệt một lượng đáng kể những con quái to và đáng sợ hơn nữa đang lảng vảng đâu đó trong sảnh, chờ đợi bữa tiệc tốt nghiệp thịnh soạn của chúng được bày ra. Điều này có nghĩa là vô số học viên khóa vừa rồi đã vượt qua được, và con số đó đủ nhiều để chúng tôi có hy vọng rằng khóa của mình năm nay sẽ có xác suất sống sót lớn hơn nữa.
“Cậu nghĩ mọi người thực sự thoát ra được cả chứ? Clarita và những người còn lại ấy?” Orion hỏi, đồng thời nhíu mày nhìn đống hổ lốn gồm khoai tây cùng đậu bi và thịt bò mà nhà ăn gọi là món ăn của người chăn cừu, may sao chỉ là món thịt bò hầm. Vào một ngày xui xẻo nào đó thì có lẽ nó sẽ được làm từ thịt của người chăn cừu cũng nên. Nhưng dù có tên là gì đi nữa, thì món này vẫn còn đang đủ nóng để tỏa khói nghi ngút hấp dẫn, chứ không phải Orion chỉ đang thích thú với tình trạng khác lạ của nó.
“Chờ đến cuối học kì sẽ biết, khi đó là đến lượt chúng ta rồi,” tôi đáp. Nếu chúng tôi không làm cỗ máy hoạt động lại thì tất nhiên đám học viên vừa rồi đã bị ném vào giữa một bầy quái vật hung hãn đói ngấu và bị xé xác thành từng mảnh trước khi kịp đi tới cánh cổng. Còn khóa bọn tôi thì hẳn là vẫn sẽ ổn, ít nhất là trong vòng 365 ngày tới hoặc hơn. Thật dễ chịu khi nghĩ về điều này. Tôi quay sang nói thêm với Orion, đồng thời cũng tự nhủ với chính mình, “Vì chúng ta chẳng biết được điều gì sẽ đến và chẳng ích gì khi cứ mãi rầu rĩ, vậy nên cậu có thể ngừng chọc phá bữa tối vô tội của cậu đi không? Nó làm tôi chẳng còn hứng ăn phần của mình đấy.”
Orion đảo mắt nhìn tôi, đáp lại bằng cách xúc một muỗng to bự chảng đưa vào miệng một cách phô trương, nhưng điều đó cũng đánh tiếng để hắn nhận ra mình đã đói ngấu, và thế là hắn bắt đầu chú tâm vét sạch đĩa của mình.
“Nếu cỗ máy đã hoạt động lại, vậy cậu nghĩ nó trụ được bao lâu?” Một người bạn của Nkoyo hỏi, là một cô gái từ Lagos, người vừa lấy một chiếc ghế cuối dãy bàn để tham gia vào cuộc trò chuyện. Lại một câu hỏi rất hay khác mà tôi chẳng có câu trả lời vì tôi đâu phải ma cụ sư chứ. Điều duy nhất tôi biết về công việc diễn ra sau lưng mình khi ấy – mà lúc đó mọi người đang nói bằng tiếng Trung, thứ tiếng tôi chẳng biết gì – những từ mà đám bọn họ nói với nhau nghe như đang chửi thề vậy. Orion thì chẳng biết được đến thế vì mải đứng trước đám chúng tôi giết hàng tá con quái vật cùng lúc.
Aadhya trả lời thay tôi. “Hồi Manchester sửa lại máy móc dưới sảnh tốt nghiệp thì chúng trụ được tối thiểu hai năm, đổi lúc là ba. Nên mình cá ít nhất chúng vẫn hoạt động thêm một, có thể là hai năm nữa đó.”
“Nhưng mà… chỉ chừng đó thôi,” Liu nhẹ giọng, nhìn qua bàn về phía các em mình, lúc này đang ngồi ở bàn cùng với Aaron và Pamyla, cô nhóc đã mang đến thư của Aadhya. Cả đám lúc này đang ở giữa một đám đông đầy những đứa nhóc năm nhất – chính là kiểu nhóm mà chỉ những đứa xuất thân thánh bang mới có. Điều này khiến tôi bất ngờ, cho đến khi tôi nhận ra cả đám sẽ được chú ý khi được hưởng chút tiếng tăm của Orion, người hùng của ngày hôm nay. Thế rồi tôi nhận ra rất có thể một chút tiếng tăm cũng đến từ tôi, bởi lẽ đối với đám học viên năm nhất thì tôi đã trở thành một vị tiền bối đáng kính có mặt ở dưới sảnh lúc đó thay vì một kẻ ngoài cuộc dị hợm.
Tôi giờ đây đã không còn là kẻ ngoại lai u ám trong mắt mọi người nữa. Tôi đã lập ra một nhóm với Aadhya và Liu, một trong những nhóm đầu tiên được lập ra trong khóa chúng tôi. Tôi đã được mời đến ngồi tại một trong những bàn an toàn nhất tại nhà ăn, bởi một người hoàn toàn có thể đưa ra những lựa chọn khác nữa. Tôi bây giờ đã có bạn, và điều đó đối với tôi còn kỳ diệu hơn cả việc sống sót đủ lâu để trở thành một học viên năm cuối. Và tôi, từ đầu đến cuối, đều nợ Orion Lake vì phép lạ ấy, và dù lễ tốt nghiệp sinh tử cái giá cho điều đó chắc chắn sẽ có, tôi cũng thực sự chẳng quan tâm mình phải trả ra sao. Mẹ không cảnh báo tôi mà không có lý do, nhưng tôi chẳng quan tâm. Dù cái giá là gì đi nữa, tôi sẽ thanh toán sòng phẳng.
Ngay khi nhồi nhét những ý tưởng đó vào đầu, tôi cũng chẳng còn lo lắng về mẩu giấy nữa, chẳng ước gì Mẹ đã không gửi nó đến. Mẹ làm vậy vì bà yêu tôi và bà chẳng hề biết gì về Orion cả. Bà không thể không cảnh báo tôi nếu bà biết tôi đang hướng đến một tương lai đen tối vì hắn. Tôi vẫn sẽ trân trọng tấm lòng của bà, cảm nhận tình yêu của bà, nhưng vẫn quyết định sẵn sàng trả giá. Tôi cho tay vào túi, cầm lấy mẩu giấy cuối cùng còn giữ lại mà trên đó có ghi hai chữ dũng cảm, rồi nhét vào miệng ngay tối đó trước khi đi ngủ, lúc nằm dài trên chiếc giường hẹp ở tầng thấp nhất tại Scholomance, trước khi chìm vào giấc mơ được bé lại, chạy nhảy trên cánh đồng phủ đầy cây cỏ mọc quá đầu người và những bông hoa cánh tím xung quanh trong khi biết Mẹ đang ở gần đó dõi theo tôi, vui mừng khi thấy tôi đang hạnh phúc.
Cảm giác ấm áp dễ chịu ấy kéo dài năm giây sang đến sáng hôm sau, nghĩa là tôi chỉ mất từng ấy thời gian để dậy. Ở hầu hết các trường, học viên được nghỉ lễ sau khi kết thúc học kỳ, còn ở đây lễ tốt nghiệp diễn ra vào buổi sáng, lễ bổ nhiệm diễn ra vào buổi tối, bạn cùng với những người bạn sống sót khác sẽ cùng nhau ăn mừng, và rồi ngày hôm sau là học kỳ mới. Công bằng mà nói thì Scholomance không có lệ cho học viên nghỉ lễ.
Vào ngày đầu tiên của học kỳ, chúng tôi phải đến phòng chung mới và chuẩn bị lên lịch học trước bữa sáng. Tôi lúc này vẫn đang cảm thấy héo hon như một cái bánh mì mốc vậy: Thường thì khi bạn bị một bùa kéo lôi đi xềnh xệch hay đại loại vậy thì vết thương mới lành một nửa ở bụng trở nên trầm trọng hơn một chút. Tôi cố tình để đồng hồ báo thức kêu năm phút trước khi hết giờ giới nghiêm buổi sáng bởi tôi chắc chắn rằng khi được giao phòng mới, tôi sẽ mất rất lâu mới tới được đó. Như một lẽ hiển nhiên, tờ giấy báo phòng của tôi trượt qua khe cửa lúc 5 giờ 59 phút và trên đó ghi số 5013. Tôi nhìn mẩu giấy chằm chằm. Thường các học viên năm cuối hiếm khi được giao lớp từ tầng ba trở lên, vì lẽ đó bạn có thể nghĩ tôi lẽ ra nên hài lòng. Vấn đề ở chỗ, tôi đang nhận lớp học, và tôi chắc rằng mình không có lớp nào phải học ở nơi cao như thế. Theo như tôi được biết, ở trên đó không có phòng học nào cả vì tầng năm chỉ có thư viện mà thôi. Có lẽ là tôi được gửi đến một căn phòng nào đó sâu trong các kệ đựng sách cùng một đám người lạ xui xẻo khác.
Tôi còn chẳng buồn đi đánh răng mà chỉ súc miệng qua loa bằng nước trong cốc và bắt đầu một ngày vất vả trong khi một vài học viên năm cuối còn đang chen chúc trong nhà vệ sinh. Tôi cũng không buồn hỏi xem có ai đi chung đường với mình không vì biết chắc tôi không quen biết ai đủ để có thể bắt chuyện. Tôi vẫy tay với Aadhya khi đi ngang qua lúc cô nàng ra khỏi phòng với túi đựng đồ dùng cá nhân. Aadhya gật đầu, hiểu ngay vấn đề và bật ngón cái với tôi như để khích lệ trong khi tiếp tục đi gọi Liu: buồn thay, ba chúng tôi đều đã quen với nguy hiểm đến từ việc mò mẫm tới lớp học, và quãng đường của năm nay còn dài nhất nữa.
Hiện giờ đám chúng tôi đã không có đường xuống thêm nữa: mới hôm qua khi sảnh của các học viên năm cuối quay một vòng xuống đến sảnh tốt nghiệp, sảnh của chúng tôi phải thay thế họ trở thành tầng thấp nhất của ngôi trường. Tôi đã phải chạy xuống chỗ bậc thang nghỉ, sau đó lại phải cực kỳ cẩn thận đi qua tầng của phòng thực hành – đúng vậy, hôm đó là sau khi đã dọn dẹp, nhưng là người đầu tiên đến lớp vào buổi sáng chưa bao giờ là dấu hiệu tích cực cả — bắt đầu từ mười bậc thang dốc đi lên.
Tôi có cảm giác chúng phải dài ít nhất gấp đôi so với thông thường. Khoảng cách ở Scholomance cực kỳ linh hoạt. Chúng có thể dài, rất dài, thậm chí gần như vô tận, phụ thuộc vào việc bạn mong nó ngắn đến mức nào. Việc tôi đến sớm chẳng giúp ích gì. Mãi đến khi tôi bở hơi tai mới đi qua sảnh của đám năm hai thì mới thấy có người khác, khi ấy những người dậy sớm đã dần đến cầu thang theo từng nhóm nhỏ, hầu hết là học viên học giả kim và chế tác ma cụ với hy vọng chiếm được chỗ tốt trong phòng thí nghiệm và thực hành. Khi tôi đến được tầng của đám năm nhất thì đám nhóc đã tràn ra đầy hành lang để đi đến lớp học, nhưng vì chúng đều là những người mới, chẳng biết mình đang đi đâu nên việc này không khiến cầu thang di chuyển nhanh hơn chút nào.
Điểm gỡ gạc duy nhất của hành trình đau khổ này là việc tôi nắm chặt viên ngọc tích trữ ma lực trong tay không rời suốt chặng đường và tập trung truyền ma lực vào nó. Khi đã vượt qua bậc thang cuối cùng, khi bụng tôi quặn lên và đùi tôi cọ vào nhau muốn bùng cháy, mỗi một bước đi khiến ánh sáng giữa những ngón tay tôi lại sáng hơn, và khi đến được phòng đọc hoàn toàn trống vắng thì tôi đã đổ đầy một phần tư viên ngọc rồi.
Tôi lúc này rất cần lấy hơi, nhưng khi vừa ngừng lại thì tôi đã nghe thấy tiếng chuông báo năm phút từ bên dưới. Bây giờ mà loanh quanh mấy cái giá sách để tìm một lớp học tôi chưa từng liếc qua thì sẽ muộn mất, và như thế thì không ổn, nên tôi chỉ có thể cắn răng mà dùng một ít ma lực khó khăn lắm mới tích trữ được để niệm phép tìm đường. Nó lập tức chỉ tôi thẳng đến một khu tối om nằm trong những chồng sách. Tôi nhìn lại chỗ cầu thang với một tia hy vọng nhỏ nhoi nhưng quả thực chẳng có ai để đi cùng cả.
Lý do cho chuyện đó trở nên rõ ràng khi tôi đến được lớp học ở phía sau một cách cửa đơn bằng gỗ màu đen gần như vô hình giữa hai chồng tủ đầy những tấm bản đồ đã ố vàng. Tôi mở cửa với tâm thế rằng thứ gì đó kinh khủng đang chực chờ ở phía sau, và bạn thử đoán xem, tôi đã đúng: tám đứa nhóc năm nhất quay đầu lại nhìn tôi chằm chằm như thế một bầy nai nhỏ bé đáng thương sắp bị một chiếc xe tải cỡ lớn cán bẹp vậy. Dường như không có lấy một đứa năm hai nào trong đám này cả. “Một trò đùa ư,” tôi chán ghét nói ra, và rồi lén đi lên dãy bàn trên, chọn chỗ tốt nhất ở đây, bàn thứ tư từ dưới lên. Tôi ngồi xuống một cách dễ dàng mà chẳng cần chen lấn gì cả bởi lẽ đám nhóc đó để hàng ghế trên rộng mở như hồi tiểu học vì sợ trở thành học trò cưng của giáo viên. Nhưng giáo viên ở đây chỉ có đám quái vật thôi, và chúng cần ăn chứ chẳng cần học trò cưng nào cả.
Những chiếc bàn trong lớp đều là đồ chính gốc từ thời Edward, ý tôi ở đây là chúng quá nhỏ và cực kỳ không thoải mái với một đứa cao trên mét bảy như tôi. Chúng được làm từ sắt và sẽ khó mà di chuyển trong trường hợp khẩn cấp. Chiếc bàn nối với ghế của tôi quá nhỏ để nhét vừa một tờ giấy bình thường, nó được đánh bóng sạch sẽ ở đâu đó khoảng 120 năm trước. Còn bây giờ thì nó đã bị vẽ chằng chịt đến mức đám nhóc đã bắt đầu viết đè lên chữ của nhau để bày tỏ những thông điệp tuyệt vọng của chúng. Có một đứa đã viết Thả tôi ra liên tục bằng mực đỏ ở xung quanh mặt phẳng hình chữ L, một đứa khác thì dùng bút đánh dấu vàng đè lên đó.
Chỉ có một cô nhóc ngồi ở hàng ghế trước, dường như đã lấy đi chỗ đáng lẽ là tốt nhất nằm cách lối ra sáu bàn – rất thông minh khi tạo khoảng cách với cửa có điều lỗ thông khí chỉ cách đó hai bàn và đang bị che bởi túi của một đứa ngốc nào đó, vậy nên bạn sẽ không nhận ra có một cái lỗ như thế, trừ khi để ý thấy ba lỗ thông khí khác trên sàn được bố trí theo hình vuông và cần thêm một lỗ nữa. Cô nhóc nhìn tôi đến gần như thể tôi sẽ đá nó ra khỏi chỗ vậy. Người có tuổi thì thường có quyền, và học viên năm cuối thì hầu như chẳng ngại ngùng mà tận dụng điều đó. Khi tôi chọn lấy chỗ tốt nhất, cô bé nhìn ra sau lưng, nhận ra sai lầm của mình rồi vội cầm túi, đi xuống và nói, “Chỗ này có ai ngồi chưa ạ?” đồng thời ra dấu vào chỗ bên cạnh tôi với vẻ lo lắng.
“Chưa,” tôi đáp với giọng cáu kỉnh. Cho con bé ngồi cạnh là hợp tình hợp lý, như thế sẽ tăng xác suất sinh tồn khi có mục tiêu khác ở gần, nhưng tôi không muốn thế. Con bé chắc chắn có xuất thân từ thành bang. Trên cổ tay nó có một dạng khiên phòng hộ, chiếc nhẫn có phần ngớ ngẩn dường như là lớp vỏ ngụy trang cho bộ chia sẻ ma lực. Con bé còn thông thạo chiến lược cơ bản ở Scholomance như việc xác định chỗ tốt nhất trong phòng như thế nào ngay từ ngày đầu tiên đến lớp, vì thường thì vào ngày này, bạn thường sẽ mù mờ khó mà nhớ hết lời bố mẹ dặn và chỉ hùa theo mấy đứa nhóc khác như thể một con ngựa vằn đang cố ẩn mình trong bầy vậy. Ngoài ra, cuốn sách giáo khoa trong túi của con bé được viết bằng tiếng Trung, nhưng tiếng Anh của con bé lại hoàn toàn trôi chảy. Có thể thuần thục hai ngoại ngữ như thế chứng tỏ trình độ con bé đã rất cao bất kể ngôn ngữ mẹ đẻ của nó là gì. Chưa dừng lại ở đó, cuốn vở của con bé có dòng chữ ngoài bìa bằng tiếng Thái, rất có thể nó đã theo học ở những lớp ngoại ngữ đắt đỏ nhất mà một người có điều kiện ở thành bang mới có thể chi trả cho con em mình từ năm chúng lên hai tuổi. Có khi vừa rồi con bé đã định quay lại và nói với đám nhóc kia rằng chúng đang ngồi ở vị trí khá tệ và nguy hiểm để chúng nhận biết được thứ bậc của mình, ở đây là phía dưới con bé cũng nên. Tôi chỉ cảm thấy bất ngờ khi nó vẫn chưa nói thẳng với đám nhóc kia.
Đột nhiên, một đứa trong đám nhóc nhìn chăm chú tôi rồi kêu lên, “A! Chị El phải không ạ?” Tôi nhận ra nhóc này là một trong những đứa em họ của Liu. “Em là Guo Yi Zheng” cậu nhóc nói thêm, thật đúng lúc, bởi lẽ tôi đã rời đi sau lễ nhập học với lòng tin tuyệt đối rằng mình sẽ không đời nào gặp phải bất cứ đứa nhóc năm nhất nào trừ khi hoàn toàn tình cờ, thế nên tôi không cần cố nhớ tên chúng. Ở Scholomance thì không thường có chuyện học viên các khóa có thể lẫn lộn tiếp xúc với nhau. Lịch trình của Scholomance có thể đảm bảo điều đó. Các học viên năm cuối gần như dành toàn bộ thời gian ở các tầng dưới, còn đám năm nhất thì được học ở các tầng trên an toàn hơn. Nếu bạn là một đứa năm nhất thường dành thời gian lang thang ở chỗ dành cho học viên năm cuối thì chẳng khác nào đang tự chui đầu vào rọ đầy quái vật, và một con quái nào đó sẽ vui vẻ chấp nhận lời mời ấy.
Nhưng mặt khác, nếu bạn đang ở đâu đó với một học viên khóa trên thì tốt nhất bạn nên ở gần họ. Zheng đã gom cái túi của mình và lướt đến chỗ tôi, ổn thôi vì trước đó nhóc ta đang ngồi gần cửa ra vào nhất. “Em ngồi cùng chị được chứ ạ?”
“Ờ, được mà” tôi đáp, cũng không cảm thấy phiền. Chuyện Liu là đồng minh của tôi không khiến Zheng được ưu ái hơn, nhưng cậu nhóc cũng không cần đến nó. Liu chỉ là bạn của tôi. “Cẩn thận lỗ thông khí, ngay cả khi đang ở thư viện,” tôi nói thêm. “Và lúc nãy em ở gần cửa ra vào quá đó.”
“À vâng, tất nhiên rồi, chỉ là em…” cậu nhóc đáp, nhìn về phía đám kia, nhưng tôi cắt ngang.
“Chị không phải mẹ em đâu,” tôi cố ý tỏ ra thô lỗ, để một đứa nhóc tưởng rằng có anh hùng tồn tại ở một nơi như thế này chính là làm hại nó, dù cho có một kẻ là Orion Lake lại đang hành xử như thế thật. Tôi không thể là cứu tinh của cậu nhóc bởi tôi đã đủ bận để tự cứu mình rồi. “Chị không cần biết lý do. Chị nói với em rồi đó. Nghe hay không thì tùy.” Cậu nhóc im lặng và ngồi xuống với vẻ hơi bối rối.
Đương nhiên nhóc ấy không sai khi túm tụm với mấy đứa kia. Không phải tự nhiên mà ngựa vằn sống thành bầy, nhưng sẽ chẳng đáng nếu bị những con khác đẩy vào tình cảnh nguy hiểm. Nếu bạn xui tận mạng, bạn học được điều đó khi trở thành thức ăn trong miệng sư tử chứ không phải đám còn lại trong bầy. Nếu là tôi mà nói, bạn sẽ có được một bài học khi nhìn thấy con sư tử ăn thịt một người khác, một trong những người đỡ thảm hại hơn mình, và vì thế nên người đó mới được phép ngồi cuối hàng ghế, ở giữa cánh cửa và những đứa nhóc quan trọng hơn.
Tên nhóc này không nên để những đứa khác xếp nó ở cuối hàng ghế vì nó là một trong những đứa nhóc quan trọng, hoặc ít ra cũng gần như thế, hơn bất cứ ai ở đây ngoại trừ cô bé kia. Gia đình của Liu nổi tiếng vì họ tự thành lập một thành bang riêng. Họ là một gia tộc lớn tới mức Liu thậm chí còn nhận được một chiếc hộp đựng quần áo thừa kế từ người nhà khi mới nhập học. Còn giờ thì cậu ấy tặng cho Zheng và em sinh đôi Min mỗi người một cái túi đầy quần áo. Tất nhiên, dù những đứa nhóc kia không xuất thân từ thành bang thì chúng cũng không phải một đám thua cuộc. Có điều, hiện tại tên nhóc Zheng này đang hành xử như thể mình chỉ là một người bình thường thay vì là một học viên ở Scholomance.
Đột nhiên có tiếng động phát ra từ chỗ đám nhóc. Trong lúc chúng tôi đang nói chuyện, bản nháp lịch học đã hiện ra trên bàn theo cách thường lệ: bạn chỉ cần quay đi chỗ khác một giây và khi nhìn lại sẽ thấy tờ giấy như thể nó vẫn luôn nằm trên bàn vậy. Nếu bạn nổi máu tài lanh và nhìn xuống bàn không chớp mắt khiến nhà trường không thể lén đưa tờ giấy vào thì chuyện gì đó xui xẻo có thể xảy ra để đánh lạc hướng, ví dụ như là bóng đèn đột nhiên tắt ngóm, rồi mấy đứa nhóc sẽ xô bạn hay bịt mắt bạn nếu chúng nhân lúc đó tóm được bạn. Nếu cân nhắc đến khía cạnh ma lực mà nói thì làm phép trước mặt những người theo bản năng không tin vào ma thuật là một việc vô cùng tốn kém, bởi khi ấy, bạn không những phải cưỡng chế riêng họ mà phải gây ảnh hưởng lên cả vũ trụ. Đó là một trong những lý do người ta không thường làm phép thực sự trước mặt người bình thường. Việc đó sẽ khó khăn hơn rất nhiều trừ khi bạn ngụy trang nó thành một màn biểu diễn hoặc làm phép giữa những người tin tưởng ma thuật bạn thi triển dù nó có là gì đi nữa, ví dụ như Mẹ và mấy chiêu thức chữa lành tự nhiên mà bà hay làm với những người bạn yêu thiên nhiên của mình ở trong rừng vậy.
Cho dù có là phù thủy thì chúng tôi cũng không mong đợi đồ vật có thể được hô biến ra từ hư không. Chúng tôi biết việc này khả thi nên không quá khó khăn để bị thuyết phục, nhưng mặt khác, chúng tôi có nhiều ma lực để theo bản năng cưỡng lại sự thuyết phục ấy. Do đó, nhà trường có thể dễ dàng luồn thứ gì đó lên bàn khi chúng tôi quay đi thay vì để chúng tôi nhìn tờ giấy được sinh ra từ hư vô.
Zheng lúc này đã ngó ngang liếc dọc quanh tôi để đọc mẩu giấy của cô nhóc kia. Tôi thở dài và bực bội nói, “Sang ngồi cạnh em ấy đi”. Tôi không thích điều này, nhưng như thế cũng chẳng thay đổi được sự thật rằng việc nhóc đó muốn làm hòa với cô bé kia là một ý hay. Zheng hơi cự nự, có lẽ đang cảm thấy có lỗi. Tôi thì khá chờ mong là mẹ của nhóc ấy đã dạy nó về vấn đề đó. Sau đó Zheng đứng dậy và bước đến giới thiệu bản thân với cô bé thuộc thành bang Thái Lan.
Để đáp lại, cô bé chắp tay chào lịch sự, sau đó ra dấu bảo cậu ta ngồi bên cạnh. Thông thường, bạn phải nịnh bợ nhiệt tình hơn thì mới có thể tiếp cận một người như thế. Tôi thì cho là nhóc ấy còn chưa có đối thủ cạnh tranh thôi. Sau khi Zheng ngồi xuống, vài đứa khác đứng dậy, chuyển đến ngồi sau lưng cả hai và cả đám bắt đầu so sánh lịch học với nhau. Cô bé kia đã một mình tìm hiểu với tốc độ cho thấy nó biết chính xác mình đang nhắm đến điều gì, sau đó cho những người khác xem lịch học của mình và bắt đầu chỉ ra vấn đề trong lịch học của chúng. Tôi tự nhủ phải nhìn xem lịch học của Zheng sau khi nhóc ấy xong, phòng khi cô bé kia nhiệt tình thái quá chỉ vì lợi ích của bản thân.
Nhưng trước tiên thì tôi cần lo lịch trình của mình đã, và nhìn qua tôi đã biết lần này mình phải nghiêm túc rồi. Tôi biết mình sẽ phải tham gia hai lớp nghiên cứu vào năm cuối, đây là cái giá phải trả vì đi học ban bùa chú và dành quá ít thời gian cho các lớp học trong suốt ba năm đầu. Nhưng mà tôi đã bị xếp cho bốn lớp – hoặc là năm nếu bạn đếm hai lần vì trong đó có một lớp kép, luôn phải học từ tiết đầu mỗi ngày. Môn đó tên là Đọc hiểu Nâng cao tiếng Phạn với phần hướng dẫn được soạn bằng tiếng Anh. Tờ thông báo chỉ ra rằng môn này bao gồm cả khóa học tiếng Phạn và Ả Rập, mà như thế thì thật vô lý đến đáng ngờ, trừ phi chúng tôi học bản phục chế của những bản ghi chép bằng tiếng Phạn vào thời kỳ Hồi giáo – ví dụ như một bản mà tôi mới lấy được từ thư viện hai tuần trước. Như thế nghĩa là khóa học này có phạm vi rất nhỏ và tôi sẽ may mắn nếu như có thêm ba đứa nhóc khác trong phòng học khỉ gió này. Tôi lườm tờ thông báo lúc này đang nằm chắn trên tờ lịch học của mình như một thanh chì vậy. Tôi đã mong được học lớp chuyên nghiên cứu Phạn văn dạy bằng tiếng Anh, như thế thì lẽ ra tôi có thể tham dự một lớp rộng hơn trên tầng có phòng giả kim với khoảng một tá đám bạn ma cụ sư hoặc giả kim thuật từ Ấn Độ, những đứa đang học Phạn văn tương ứng với chỉ tiêu ngôn ngữ của chúng.
Tôi bây giờ còn không thể tranh cãi về lịch trình của mình khi mà chẳng có một học viên năm cuối nào khác ở đây để tôi so sánh lịch học. Thường sẽ có ít nhất từ một đến hai đứa nhóc bị cô lập sẽ miễn cưỡng cho tôi xem thử, đổi lại là chúng được xem lịch của tôi, như thế tôi có thể thử buộc nhà trường bỏ phần tệ nhất trong lịch học của mình đi. Ở đây bạn được chỉ định tối đa là ba môn, và miễn là bạn hoàn thành chỉ tiêu thì Scholomance sẽ phải điều chỉnh lại toàn bộ lịch học của bạn xoay quanh chúng. Nhưng nếu bạn không biết các lớp khác là gì hay lịch học của chúng vào lúc nào, đây sẽ là một canh bạc mà bạn nắm chắc phần thua.
Lớp chuyên khóa Đọc hiểu Nâng cao đã thừa đủ khiến lịch học của tôi tồi tệ đến khó tin rồi, nhưng ngoài nó thì tôi còn một lớp tuyệt vời khác tên là Sự phát triển của Số học và Ứng dụng trong Thần chú, đều là những môn cần đến ngoại ngữ chưa rõ – một dấu hiệu xấu cho thấy tôi sẽ phải tìm một đống tài liệu để dịch – cũng như Lịch sử và Toán học. Tôi chưa đăng ký học qua lớp Toán nào khác cả, thế nên khả năng tôi thoát được lớp này gần như bằng không. Ở đây có một lớp mốc meo không ai chọn mà tôi lại mong chọn trúng, ấy là môn Nguồn gốc chung Sơ ngữ Ấn-Âu trong Thần chú học Hiện đại, đáng lẽ không phải là môn dễ nhất của tôi trong số này. Đương nhiên không thể thiếu môn Truyền thống Myrddin, là môn vốn cần đến văn học cổ điển, tiếng La-tinh, tiếng Pháp, Welsh hiện đại cộng với tiếng Anh cổ và trung đại. Và lúc này, tôi biết rằng đến tuần thứ ba của lớp đó thì tôi sẽ chẳng học được gì khác ngoài mấy câu thần chủ bằng tiếng Pháp cổ và tiếng Welsh trung đại.
Phần còn lại của lịch học được lấp đầy bởi những lớp thực hành – những nơi mà lẽ ra tôi có quyền không tham gia vì từ kỳ trước tôi đã làm được một tấm gương ma thuật và thứ đó vẫn thỉnh thoảng lầm bầm mấy điều u ám với tôi, cho dù tôi đã quay mặt nó vào tường – đã thế tôi còn được xếp vào hai lớp giả kim với lịch lẫn vào nhau khi một lớp vào thứ Hai và thứ Năm, còn một lớp vào thứ Ba và thứ Sáu. Mỗi ngày trong tuần tôi sẽ học với một đám khác nhau, do đó việc tìm kiếm ai đó giúp đỡ mấy việc như giữ hộ đồ mà tôi cần hàn hay trông túi khi tôi đi lấy đồ bổ sung sẽ khó khăn hơn gấp đôi.
Đến lúc này, đây có lẽ là lịch trình tệ nhất cho học viên năm cuối mà tôi từng thấy. Ngay cả mấy đứa nhắm tới danh hiệu học viên danh dự cũng không học bốn lớp chuyên khoa một lúc. Chỉ trừ một chuyện, dường như nhà trường cũng muốn phỉnh phờ sự bù đắp nào đó cho lịch học tồi tệ kia bằng việc để cả buổi chiều ngày thứ Tư hoàn toàn trống rỗng khi ghi trên đó duy nhất một chữ “Tự học”, giống như giờ học mà chúng tôi đều có sau giờ ăn trưa, chỉ có điều nó diễn ra tại một phòng ghi trên đây, cụ thể là phòng này.
Tôi nhìn chăm chăm vào ô trong lịch học của mình với vẻ nghi ngờ tột độ, cố gắng để hiểu được đầu cua tai nheo của mọi chuyện đang diễn ra. Cả một buổi chiều rảnh rang ở trong thư viện được công khai dành ra cho tôi để tôi thậm chí còn chẳng cần phải lo việc giữ mạng. Không đọc sách, không câu hỏi, cũng không có bài tập nào cả. Chỉ riêng chuyện đó thôi cũng biến đây là lịch học năm cuối tuyệt nhất tôi từng biết, hoàn toàn xứng đáng sau tất cả những môn học kinh khủng kia. Tôi đã lo không biết làm sao bổ sung đủ lượng ma lực mà tôi đã dùng cuối kỳ trước, nhưng với tiết tự quản dài gấp ba lần bình thường, tôi có lẽ sẽ tích lũy đủ trước Ngày ra trận.
Chắc hẳn, một hệ quả kinh khủng nào đó đang chờ đợi ở phía trước, chỉ là tôi không đoán được đó là gì. Tôi đứng dậy, chọc Zheng một cái. “Để ý đồ giúp chị nhé,” tôi nói với cậu nhóc. “Chị đi kiểm tra phòng một lượt. Mấy đứa muốn học hỏi thì chú ý,” tôi bồi thêm, và cả đám ngẩng đầu lên xem tôi đi vòng quanh căn phòng. Tôi bắt đầu từ lỗ thông khí và đảm bảo tất cả đã được đóng và vít chặt, sau đó vẽ vị trí của chúng trong phòng lên trên một mẩu giấy vụn, phòng khi có thứ gì đó khôn ngoan bất thường đột nhiên lẩn vào và thế chỗ chúng. Tôi đếm toàn bộ bàn ghế và nhìn xuống dưới từng cái một, kéo ra mọi ngăn kéo trong tủ nằm sát bức tường cuối lớp, rồi lại mở tất cả cửa tủ ra và thắp sáng ở giữa. Tôi còn dịch cả chiếc tủ ra khỏi bức tường rồi kiểm tra để chắc chắn cả nó và bức tường đều không có khe hở. Tôi thắp sáng phạm vi xung quanh sàn để tìm lỗ thủng, gõ lên bức tường bao gồm cả chỗ cao nhất mà tôi với tới được, sau đó kiểm tra khung cửa để đảm bảo cả phần trên và dưới vẫn ở nguyên vị trí cũ. Đến khi xem xét tất cả thì tôi đã có thể chắc chắn rằng lớp học này hoàn toàn bình thường.
Và điều này đồng nghĩa với việc đám quái sẽ tìm đủ mọi cách để xâm nhập vào đây, ví dụ như qua lỗ thông khí, dưới cánh cửa, hoặc gặm xuyên tường. Ít ra thì ở lớp này, chúng không thể xâm nhập bằng cách lao từ trần nhà xuống vì ở đây không có cái trần nào cả. Scholomance không có trần nhà vì bạn đâu cần đến nó khi bạn xây ngôi trường ma thuật này tách biệt khỏi thế giới thực. Những bức tường thư viện căn bản là sẽ kéo dài đến khi mất hút trong bóng tối. Về lý thuyết, chúng sẽ dừng lại ở một điểm phía trên, nhưng tôi cũng không định leo lên đó để chứng minh điều gì cả. Dù sao thì căn phòng này không bị lũ quái làm tổ, cũng không có khe hở nào để chúng lợi dụng. Vậy thì ý đồ của trường là gì khi trao cho tôi một món quà to lớn là một buổi chiều hoàn toàn rảnh rang ở nơi đây?
Tôi về chỗ và nhìn vào tờ lịch học. Đương nhiên tôi biết buổi chiều rảnh rang đó chỉ là một miếng mồi trong chiếc bẫy mà thôi. Nhưng miếng mồi này thực sự hấp dẫn, và cái bẫy cũng thế. Tôi không thể đảm bảo có thể thay đổi điều gì đó hữu dụng trong lịch học của mình khi mà tôi không biết các lớp dành cho học viên năm cuối khác được mở khi nào. Giả sử tôi điền khóa tiếng Phạn mà tôi trông mong để xóa sổ lớp Đọc hiểu Nâng cao tồi tệ kia, thì dù Scholomance có làm thế thật đi nữa, họ sẽ có cớ đẩy tôi vào một lớp tiếng Ả Rập vào chiều thứ Tư. Thậm chí nếu tôi cố tình chọn mấy lớp bình thường như lớp thực hành vào chiều thứ Năm thì chắc chắn tôi sẽ bị nhét vào lớp giả kim thuật vào thứ Tư, và lớp nào đó khác vào thứ Sáu. Dẫu tôi có làm gì đi nữa thì cũng đều tiềm ẩn nguy cơ tước đi điều tốt đẹp duy nhất trong lịch học này.
“Cho chị xem tất cả lớp của nhóc đi,” tôi bảo Zheng, trong lòng cũng không hy vọng gì. Dễ thấy là khi bị nhồi vào chung một chỗ với đám năm nhất, bạn sẽ nhận được giấy từ chúng ngay tắp lự mà không phải đánh đổi điều gì. Tôi liếc nhìn, cố
gắng tìm một lớp nào đó mà tôi có thể chọn nhưng vô ích. Tôi chưa từng nghe qua trường hợp học viên năm nhất nào được xếp vào lớp mà học viên năm cuối có thể chọn, và cũng chưa từng có ai làm thế trước đây. Học viên năm nhất đều học mấy môn cơ bản như Giới thiệu về Chế tác, Giới thiệu về Thí nghiệm – cô nhóc kia rất thông minh khi khuyến khích cả đám chuyển lớp trước bữa trưa ngày thứ Ba và thứ Tư, đây là những lớp tốt nhất mà học viên năm đầu có thể chọn, vì học viên khóa trên đều chiếm hết các buổi chiều – cùng với môn Nghiên cứu về Quái vật, đám nhóc sẽ rất vui khi ở đó cho xem, và các lớp còn lại của chúng là Văn, Toán và Lịch sử ở tầng ba và bốn, ngoại trừ một lớp trên tầng năm: chính là lớp tự học vào thứ Tư mà đám vắt mũi chưa sạch này may mắn được ở chung với tôi. Chẳng ai trong số chúng nhận thức được chuyện này kỳ diệu đến thế nào.
Tôi đành lòng từ bỏ và ký tên mình vào dưới cùng tờ lịch học mà không hề mảy may cố thay đổi điều gì, sau đó tôi lên chỗ chiếc bàn thư ký cũ kĩ ngay trước lớp, cẩn thận kéo ngăn kéo — trong đó hiện chưa có gì, nhưng chờ xem – tôi nhét tờ lịch học vào đó. Hầu hết lớp học có một chỗ trang trọng hơn để nộp bài, một cái ô trống vờ như bắn ra giấy tờ của học viên thông qua một mạng lưới ống đến một trung tâm lưu trữ nào đó. Chỉ có điều mấy cái ống đó hỏng từ cuối thế kỷ trước và chỉ được sửa lại bằng bùa vận chuyển, cho nên thực tế những gì bạn cần làm là để bài tập của mình ở chỗ chung, khuất tầm mắt mình và nó sẽ được chuyển đi. Tôi nhìn tờ lịch học của mình lần cuối, hít sâu một hơi rồi đóng ngăn kéo lại.
Tôi chắc chắn bản thân sẽ nhận ra sai lầm nghiêm trọng mà mình đã mắc phải ngay sau bữa sáng khi tới lớp đầu tiên nhưng tôi đã nhầm. Tôi đã nhận ra điều đó chỉ mười lăm phút sau, khi còn chưa rời khỏi căn phòng. Tôi nghiêng người, nghiến răng trước một đống đồ đan móc hỗn độn, cố truyền càng nhiều ma lực càng tốt trước bữa sáng, và trong đầu đã lên dây cót cho mấy bài tập co giãn chán ngắt khi hồi phục trở lại – phải nói thêm là tôi rất ghét tập luyện, nên ép mình tập lại rất tốt cho việc tích lũy ma lực. Chỗ này cũng chẳng rộng rãi gì mà kê lại bàn ghế thì quên đi. Có lẽ tôi phải tập mấy bài chống đẩy trên hai cái bàn. Nhưng ai quan tâm chứ: tôi sẽ có thể làm đầy hai viên ngọc của mình trong vòng hai tuần, tôi cho là thế.
Trong khi đó, đám năm nhất đang chơi đùa ngay trước lớp không biết trời trăng gì, lại còn tám chuyện vui vẻ nữa. Đã thế cả đám này còn nói tiếng Trung, bao gồm một nhóc Ấn Độ, hai nhóc Nga – tôi khá chắc là hai đứa nói tiếng Nga với nhau, nhưng chúng lại tham gia vào cuộc trò chuyện chung một cách dễ dàng. Chắc chắn tất cả đều học lớp căn bản bằng tiếng Trung — ở đây, các môn như Toán hay Sử thường được dạy bằng tiếng Trung hoặc tiếng Anh.
Tôi đã cố hết sức coi những câu chuyện tầm phào của chúng như tiếng ồn bình thường nhưng không được. Một trong những nguy hiểm của việc học quá nhiều ngoại ngữ là đầu tôi mặc định rằng nếu tôi không hiểu thứ mình đang nghe được, đó là do tôi không đủ chú ý, và nếu nghe thật cẩn thận thì bằng cách nào đó tôi sẽ hiểu. Nếu chỉ phải nghe một ngoại ngữ mới trong chừng mười lăm phút thì tôi sẽ ổn thôi bởi lẽ ba tuần trước ngôi trường này đã buộc tôi học tiếng Ả Rập, nhưng ngồi Å trong lớp với một đám nhóc nói tiếng Trung trong suốt hai giờ đồng hồ mỗi thứ Tư hằng tuần cũng đồng nghĩa với việc tôi sẽ sớm học được bùa chú bằng tiếng Trung thôi.
Đấy là trừ khi chúng giúp tôi bằng cách để lũ quái xử đẹp trước khi hết tháng, mà chuyện này hoàn toàn khả thi. Thường thì tuần đầu của học kỳ đều ổn cả, và rồi khi đám năm nhất bị dẫn dụ vào trạng thái ổn định giả tạo, đó là lúc những con quái đầu tiên bò ra từ chỗ ẩn náu, chưa kể lũ quái mới nở bắt đầu tìm được đường mò lên phía trên từ dưới tầng hầm.
Tất nhiên là sẽ luôn có những con vượt quá kỳ vọng. Ví dụ như một con quái lặng lẽ bò qua lỗ thông khí. Nó có lẽ đã tự kéo giãn thân thể vừa dài vừa mỏng để chui rào chắn trong hệ thống thông khí, biến mình thành giọt chất lỏng vô hại, sau đó trườn qua lớp bảo hộ và cuộn mình lại trên sàn phía sau một trong những cái túi để trở về hình dạng ban đầu. Đáng lẽ nó sẽ tạo ra những tiếng nhọp nhẹp, nhưng tiếng trò chuyện từ đám nhóc năm nhất kia đã át đi tiếng ồn, và tôi thì không quá chủ tâm, bởi lần duy nhất trong đời, tôi trở thành mục tiêu tệ nhất mà một con quái có thể chọn trong phòng, không có con nào sẽ chọn tôi giữa đám này. Tôi thậm chí đã bắt đầu xem nơi này như một hầm trú ẩn của riêng mình vậy.
Thế rồi một đứa năm nhất nhìn thấy và hét lên cảnh báo, tôi còn chả buồn nhìn xem chúng đang hét vì điều gì, tôi lập tức rời khỏi ghế, khoác túi lên vai và đang đi nửa đường đến cửa – tên nhóc kia đang nhìn về góc lớp – trước cả khi tôi nhìn ra con quái đó, lúc này đã phồng lên, bao trùm lên hàng ghế thứ tư như thể một quả bóng bay đỏ thẫm mà ai đó vẽ lên theo phong cách Jackson Pollock cùng những mảng màu xanh dương loang lổ. Đường ống thổi bắt đầu phình lên. Những đứa nhóc khác thì la hét, túm lấy nhau hoặc cúi xuống trốn dưới chiếc bàn lớn, đúng là một sai lầm kinh điển: rốt cuộc chúng tính ở lại đó đến khi nào chứ? Con Bong Bóng Độc đó sẽ chẳng đi đâu được với thân thể phình ra như thế, và ngay khi mấy đứa nhóc thò đầu ra nhìn thì nó sẽ tóm được cả đám ngay.
Tất nhiên đây là vấn đề của chúng, và nếu chúng không tự tìm ra cách thì cả đám sẽ không thể thoát khỏi lớp học ngay ngày đầu lên lớp, điều đó nghĩa là chúng có lẽ sẽ chẳng thể sống sót ở đây lâu được. Chuyện này chẳng liên can gì đến tôi cả. Vấn đề của tôi là được xếp vào bốn lớp học vô cùng nguy hiểm, và tôi thì đã và đang thiếu rất nhiều ma lực cho buổi tốt nghiệp. Tôi sẽ cần đến mọi giây trong căn phòng này để tạo đủ ma lực bù đắp cho lượng còn thiếu. Dù chỉ một tia ma lực nhỏ xíu như cái mũi đan len thì tôi cũng chẳng hề muốn chia sẻ với đám năm nhất lạ hoắc mà tôi chẳng hề để tâm này.
Đương nhiên là ngoại trừ một đứa trong số đó. Sau khi đá bật mở cánh cửa, tôi vẫn quay lại hét lớn, “Zheng! Ra ngoài! Mau!” Cậu ta lượn một vòng chữ U qua cái bàn lớn và chạy về phía tôi. Mấy đứa còn lại dường như không hiểu, nhưng vẫn đủ thông minh để chạy theo nhóc Zheng cũng như bỏ lại túi của mình, trừ cô nhóc kia. Cô nàng hoàn toàn kiếm lại được những thứ đang mang theo, chỉ cần tán tỉnh mấy tay năm trên trong thành bang của mình là xong, nhưng cô nàng lại với lấy chiếc túi trước khi chạy đi, điều này đã đánh động đến con quái khiến ba cuống mắt của nó lồi ra và bắt đầu truy theo mục tiêu đang di chuyển sau cùng. Ngay khi nó bắt được con bé, những người còn lại sẽ thoát. Con quái vật chỉ to hơn quả bóng đá vì nó mới nở, có lẽ nó sẽ dừng lại nhấm nháp con mồi ngay lập túc.
Tôi đang ở ngay cửa và sắp sửa chuồn ra để giữ mạng, chính xác là điều mà tôi đáng lẽ nên làm và đã làm nhiều lần trước đây. Điều luật số một: điều duy nhất bạn cần lo lắng khi đối mặt với chuyện gì đó không ổn ở nơi này chính là tránh tiếp xúc trực tiếp với nó. Chuyện này chẳng liên quan gì đến tính ích kỷ cả. Nếu giúp người khác thì bạn chẳng khác nào tự sát và phá hỏng nỗ lực tự cứu chính mình của người khác khi họ đang cố gắng. Nếu có đồng minh hay bạn bè thì bạn có thể ra tay giúp họ trước, như là chia sẻ một chút ma lực, cho họ một vài bùa chú, làm giúp một món ma cụ hay một loại thuốc để dùng khi gặp nguy hiểm. Nhưng quan trọng hơn cả là bất cứ ai không thể tự thân sống sót trước một vụ tấn công thì sẽ không thể sinh tồn ở đây. Mọi người đều biết điều đó, và ngoại lệ duy nhất mà tôi biết là Orion, hắn là một tên ngốc, còn tôi thì không.
Chỉ ngoại trừ một chuyện là tôi không đi qua cửa, mà đứng ở bên cạnh và để cả đám năm nhất ào qua trước mình. Con Bong Bóng Độc biến thành màu hồng nhạt khi nó sắp sửa bắn Quý cô Thành bang kia, thế rồi nó đổi hướng bằng một cú bật về phía cửa khi Orion – nói đến tên ngốc thì tên ngốc tới thật – lao thẳng qua nó theo hướng không thể nào sai hơn được. Tên đó đáng lẽ đã dính độc và chết chắc trong vòng hai giây mới phải.
Thế nhưng tôi đã thi triển phép.
Thần chú tôi dùng là một lời nguyển bằng tiếng Anh cổ khá ít người biết. Có lẽ trên đời này chỉ có tôi biết tới nó. Vào hồi đầu năm hai, khi mới bắt đầu học tiếng Anh cổ, tôi đã tình cờ bắt gặp ba học viên năm cuối dồn một cô bé năm dưới vào một góc giá sách trong thư viện. Lại là một kẻ thua cuộc khác như tôi, ngoại trừ việc đám con trai chưa bao giờ làm trò đó với tôi cả. Có điều gì đó ở trong khí tức của một nữ đại phù thủy hắc ám là tôi hẳn đã khiến chúng mất hứng. Tôi buộc chúng tránh xa khỏi cô bé kia chỉ bằng sự hiện diện của mình dù khi ấy tôi chỉ là một đứa học viên năm hai gầy nhẳng. Chúng lẩn đi mất, còn cô nhóc kia vội chạy theo hướng ngược lại, tôi nắm lấy cuốn sách đầu tiên, lôi ra với cơn giận bùng cháy. Thế là tôi không lấy được cuốn sách mình cần, thay vào đó tôi rời đi với một tập giấy nhàu nhĩ được gia công với chi chít lời nguyền mà một phù thủy quyến rũ nào đó đã viết tay từ ngàn năm về trước. Cuốn sách mở ra trên tay tôi, chỉ vào lời nguyền nọ và tôi nhìn thấy nó trước khi gấp lại và đặt lại trên giá sách.
Hầu hết mọi người phải học một bùa phép thật lâu mới ghi nhớ được, cả tôi cũng thế, nếu bùa phép đó có ích. Nhưng nếu đó là bùa để hủy diệt thành phố, tàn sát quân đội hay tra tấn người khác hoặc, lấy ví dụ, biến những phần quan trọng trên thân thể một kẻ nào đó thành một đống bùi nhùi đau đớn — vậy thì chỉ cần liếc một cái là nó đã vĩnh viễn in vào đầu tôi.
Trước giờ tôi chưa từng dùng đến, nhưng nó rất hiệu quả trong tình huống lúc này. Con quái lập tức bị thu lại vừa bằng kích thước của một hạt dẻ. Nó rơi thẳng từ trên không xuống, va loảng xoảng trên sàn một lát rồi rơi tọt xuống như thể một viên bị trôi tuột xuống đường ống cống, ma lực tích lũy cả buổi sáng của tôi cũng vì thế mà tiêu biến.
Orion dừng giữa cửa và nhìn nó biến mất trong khi xiu xuống. Tên này sắp sửa phóng ra một đòn công phá bằng lửa hay đại loại vậy mà chỉ một chiêu đó cũng có thể tiêu diệt hoàn toàn con quái cùng ba chúng tôi và cả một phần căn phòng, bởi lẽ khi gas bên trong căn phòng rất bắt lửa. Cô bé thành bang ném cho chúng tôi ánh nhìn như một chú thỏ con sợ hãi và lướt nhanh qua tên kia về phía cửa, cho dù không cần phải chạy nữa. Orion nhìn theo một thoáng rồi nhìn lại tôi. Tôi tràn đầy thất vọng nhìn xuống viên ngọc ma lực chỉ còn sáng le lói – phải rồi, hoàn toàn ảm đạm không còn chút ánh sáng – và thả rơi nó. “Rốt cuộc cậu làm gì ở đây?” Tôi hỏi với giọng khó chịu, chen qua cậu ta về phía giá sách và đi thẳng đến cầu thang.
“Cậu không đến ăn sáng” Orion đáp khi rảo bước cùng tôi.
Đó là khi tôi biết mình không nghe được tiếng chuông báo khi ở trong thư viện, điều này đồng nghĩa với việc tôi có thể lỡ bữa sáng hoặc đến muộn tiết đầu của lớp chuyên khóa dở tệ nhất, nơi mà tôi không có lấy một tia hy vọng nhỏ nhoi nào về việc kiếm được ai đó giúp mình điểm danh tiết đầu tiên.
Tôi nghiến răng, lê từng bước nặng nề lên cầu thang. “Cậu ổn chứ?” Orion hỏi sau một lát, dù tôi mới là người cứu mạng cậu ta. Tôi cho là cậu ta còn chưa lĩnh hội được chuyện vừa xảy ra.
“Không” tôi cay đắng đáp. “Tôi là một đứa ngốc.”