Chính em, người chị họ thân mến, là người phải tường thuật cho chị nghe về buổi opera kiểu Pháp; bởi vì, mặc dù chị không đả động gì đến nó trong các bức thư của chính mình, và Eloisa đã giữ bí mật hộ chị trong thư của cô ấy, em thừa biết nên gán sự tò mò đó cho ai. Em đã đến nhà hát opera một lần để tự mình kiểm chứng, và hai lần để làm vừa lòng chị, nhưng dẫu sao, em vẫn hy vọng bức thư này sẽ là cái cớ để em không phải đến đó lần nào nữa. Quả thực, nếu chị ra lệnh, em vẫn có thể chịu đựng thêm lần nữa; em có thể chịu khổ, có thể ngủ ở đó vì lợi ích của chị; nhưng việc giữ cho tỉnh táo và chăm chú thì hoàn toàn là điều bất khả thi.
Thế nhưng, trước khi kể cho chị nghe cảm nhận của em về nhà hát nổi tiếng này, em sẽ thuật lại những gì người ta bàn tán về nó ở đây; ý kiến của những bậc sành sỏi có lẽ sẽ uốn nắn lại ý kiến của em, trong những trường hợp em lỡ nhầm lẫn. Opera Pháp tại Paris được coi là loại hình giải trí lộng lẫy nhất, thú vị nhất, và kỳ diệu nhất từng được tạo nên bởi sức mạnh hợp lực của trí tuệ con người. Người ta đồn rằng đó là một tượng đài tối thượng cho sự tráng lệ của Louis XIV. Thực tế, không phải ai cũng có được sự tự do bày tỏ quan điểm về một chủ đề vô cùng nghiêm túc như chị vẫn tưởng. Mọi thứ ở đây đều có thể trở thành đối tượng tranh biện, ngoại trừ âm nhạc và opera; nhưng xét riêng về hai thứ này, việc không che giấu suy nghĩ thực sự của mình có thể mang lại hiểm nguy, bởi âm nhạc Pháp được bảo bọc bởi một tòa án dị giáo chẳng kém phần độc đoán lẫn nghiêm khắc. Quả thực, bài học vỡ lòng mà mọi người khách lạ được dạy chính là việc người nước ngoài trên khắp thế giới đều công nhận rằng chẳng có gì trên đời tinh tế bằng opera ở Paris. Sự thật là những con người khôn ngoan đều giữ im lặng về chủ đề này, bởi họ chẳng dám cười, ngoại trừ khi ở một mình.
Dẫu vậy, phải thừa nhận rằng tại nhà hát opera, với một khoản chi phí khổng lồ, người ta không chỉ tái hiện lại tất cả những kỳ quan trong tự nhiên, mà còn cả nhiều thứ kỳ diệu hơn thế nữa, những thứ mà tự nhiên chưa bao giờ sản sinh ra. Về phần mình, em không tài nào cưỡng lại được suy nghĩ rằng ông Pope đã ám chỉ nhà hát này, khi ông nói rằng người ta có thể nhìn thấy ở đó, trộn lẫn trong một khung cảnh hỗn độn duy nhất: các vị thần, quỷ dữ, quái vật, vua chúa, mục đồng, tiên nữ, cơn điên cuồng, niềm vui, ngọn lửa bất kham, vũ điệu giga, một trận chiến, và một buổi vũ hội.
Cuộc hội ngộ lộng lẫy và được sắp đặt công phu nhường ấy lại được các khán giả nhìn nhận cứ như thể toàn bộ sự vật và nhân vật được bày giăng ra đều là thật. Khi chứng kiến cảnh tượng tái hiện một ngôi điều ngoại đạo, họ chìm đắm trong sự tôn kính sâu sắc; và nếu nữ thần trông có vẻ xinh xắn đôi chút, thì một nửa số đàn ông ngồi ở khu ghế dành cho khán giả bình dân lập tức biến thành những kẻ ngoại đạo.
Khán giả ở đây không hề khó tính như tại nhà hát kịch Pháp. Chính những khán giả từng không thể coi người diễn viên ở đó ra dáng nhân vật mà anh ta thủ vai, thì tại nhà hát opera, lại chẳng thể nhìn nhận anh ta theo bất kỳ cách nào khác. Dường như họ bị sốc trước một màn lừa dối mang tính quốc gia, và chẳng chịu dung thứ cho bất cứ điều gì nếu nó không vô lý một cách thô thiển; hoặc có lẽ họ dễ dàng tưởng tượng các diễn viên hóa thân thành thần linh hơn là thành những bậc anh hùng. Vốn mang một bản chất khác, Jupiter cho phép người ta muốn nghĩ về ngài thế nào cũng được; nhưng Cato là một con người bằng xương bằng thịt, và thử hỏi có mấy ai, nếu căn cứ vào chính bản thân họ, lại có lý do để tin rằng một con người như Cato từng tồn tại trên cõi đời.
Do đó, đoàn opera này không được lập nên, như ở những nơi khác, bởi một nhóm những kẻ hành nghề đánh thuê, được thuê múa hát để mua vui cho công chúng. Sự thật là họ được công chúng trả lương, và việc của họ là có mặt tại nhà hát opera; nhưng bản chất của nó đã hoàn toàn thay đổi khi nó trở thành một hàn lâm viện âm nhạc hoàng gia, một thứ tòa án tối cao tự phán xử những vụ việc liên quan đến chính mình mà không có quyền kháng cáo, và lại chẳng hề nổi danh về sự công minh hay liêm chính. Thế nên chị thấy đấy, ở một số quốc gia, bản chất của sự việc phụ thuộc nhiều đến nhường nào vào những từ ngữ sáo rỗng, và một danh hiệu đáng kính có thể tôn vinh điều ít xứng đáng nhất ra sao.
Các thành viên của hàn lâm viện lừng lẫy ấy không hề bị hạ phẩm bởi nghề nghiệp của họ; bù lại, ngạc nhiên thay, họ lại bị rút phép thông công, điều hoàn toàn trái ngược với tập tục ở tất cả các quốc gia khác; nhưng có lẽ, khi được quyền lựa chọn, họ thà sống trong vinh quang rồi chịu đọa đày còn hơn là cứ đường hoàng bước lên thiên đường theo lối bình dân. Em từng thấy một vị hiệp sĩ thời nay trên sân khấu Pháp, cảm thấy tự hào khôn tả về cái nghề diễn viên, khác hẳn với sự hổ thẹn tột cùng mà kẻ bất hạnh Laberius từng nếm trải thuở trước — dẫu cho người sau bị ép phải bước lên sân khấu theo lệnh của Caesar và chỉ đọc những tác phẩm của chính mình. [34] Nhưng ngặt nỗi vị tiền bối đã bị hạ phẩm ấy sau đó không thể tìm lại chỗ ngồi của mình tại trường đua ngựa giữa vòng vây các hiệp sĩ La Mã; trong khi vị hiệp sĩ thời nay lại tìm thấy chỗ ngồi cho mình mỗi ngày tại nhà hát kịch Pháp, ngay giữa những bậc quý tộc hàng đầu của vương quốc. Và em dám chắc rằng, chưa từng có ai ở thành Rome bàn tán về sự uy nghi của nhân dân La Mã bằng tất cả sự kính trọng nhường ấy, như cách người ta bàn về sự uy nghi của opera tại Paris.
Đó là những điều em thu lượm được chủ yếu từ những cuộc trò chuyện xoay quanh loại hình giải trí tráng lệ này; giờ đây, em sẽ thuật lại cho chị nghe những gì chính mắt em đã mục kích.
Chị hãy tưởng tượng bên trong của một chiếc hộp lớn, rộng chừng mười lăm thước, và chiều dài tương xứng: chiếc hộp này chính là sân khấu; hai bên được bố trí các bức bình phong ở những khoảng cách khác nhau, trên đó vẽ cẩu thả các đối tượng của cảnh trí. Xa hơn nữa là một tấm màn lớn, cũng bị bôi bác theo cách tương tự; nó kéo dài từ bên này sang bên kia, và thường bị khoét thủng để tượng trưng cho những hang động trong lòng đất cùng những khoảng trời rộng mở, tùy theo yêu cầu của luật phối cảnh. Thế nên, nếu có ai đó, trong lúc đi lại đằng sau hậu đài, vô tình cọ phải tấm màn, người ấy hoàn toàn có thể gây ra một trận động đất dữ dội đủ sức làm rung chuyển cả... mạn sườn chúng ta vì cười.
Bầu trời được biểu tượng hóa bằng một đám giẻ rách ngả màu xanh lam, được treo lên bằng dây và sào, trông giống hệt mớ quần áo ướt phơi ở nhà người giặt là. Mặt trời — bởi vì vật thể ấy đôi khi cũng xuất hiện ở đây — thực chất là một cây nến lớn đặt trong chiếc lồng đèn. Những cỗ xe của các vị thần và nữ thần được làm từ bốn thanh gỗ, đóng đinh lại với nhau theo hình vuông, và treo lủng lẳng bằng một sợi dây thừng chắc chắn như chiếc xích đu: vắt ngang ở giữa là một tấm ván, trên đó vị thần ngồi dạng chân; và ở phía trước treo một mảnh vải bố thô ráp, được bôi phẩm màu để tượng trưng cho những đám mây chầu chực quanh cỗ xe lộng lẫy này. Phần đáy của cỗ máy này được thắp sáng bởi hai hoặc ba ngọn nến bốc mùi, chưa được hớt bấc, thứ mà mỗi khi vị nhân vật cõi thiên đình cựa quậy và làm rung chuyển chiếc xích đu của ngài, lại tha hồ xông khói ngài bằng một thứ hương trầm xứng tầm với một vị thần linh.
Vì những cỗ xe này là những cỗ máy quan trọng bậc nhất của nhà hát opera, chị có thể qua đó mà suy đoán về phần còn lại. Một vùng biển động được tạo ra từ những trục lăn dài bọc vải canvas hoặc giấy xanh, được đặt song song và quay bởi những lao công bẩn thỉu của nhà hát. Tiếng sấm của họ là một cỗ xe bò nặng nhề, lăn ầm ầm trên phần trần cót ép, và chính là một trong những âm cụ kém phần lay động nhất trong bản hòa âm dễ chịu của họ. Những tia chớp được tạo ra bằng cách ném nhựa thông dạng bột vào ngọn lửa của một ngọn đuốc cầm tay; và thiên thạch rơi xuống là một quả pháo hoa gắn ở đầu một đoạn ngòi nổ.
Sân khấu được trang bị những cánh cửa sập vuông vức nhỏ; khi mở ra lúc cần thiết, chúng báo hiệu rằng các ác quỷ dưới âm phủ đang trồi lên từ căn hầm rượu. Và khi chúng được kéo vút lên không trung, người ta sẽ khéo léo thay thế chúng bằng những con quỷ nhỏ làm bằng vải canvas nâu nhồi rơm, hoặc đôi khi là những cậu thợ nạo ống khói bằng xương bằng thịt, được kéo lên bằng dây thừng và cưỡi oai phong lẫm liệt giữa không trung cho đến khi chúng hiên ngang bước vào những đám mây và biến mất hút giữa đống giẻ rách bẩn thỉu mà em vừa nhắc tới. Nhưng điều bi thảm thực sự là, khi hệ thống ròng rọc không được điều khiển khéo léo, hoặc dây thừng bất ngờ đứt phựt, các hồn ma địa ngục cùng chư thần bất tử sẽ rơi ào xuống cùng một lúc, gãy chân gãy cẳng và đôi khi là cả cổ nữa. Thêm vào tất cả những điều đó là lũ quái vật của họ; thứ chắc chắn khiến một vài phân cảnh trở nên vô cùng não nề, chẳng hạn như rồng, thằn lằn, rùa, cá sấu, và cóc tía khổng lồ, tất cả đều diễu hành hoặc lê lết trên sân khấu với một vẻ mặt đầy đe dọa, gợi ta nhớ đến sự cám dỗ của Thánh Anthony: mỗi một hình nhân trong số đó đều được tiếp sức sống bởi một gã nhà quê xứ Savoy, kẻ chẳng có nổi chút khôn ngoan để diễn cho ra dáng con vật.
Thế nên chị thấy đấy, thưa người chị họ, những thứ bày biện lộng lẫy của nhà hát opera phần lớn bao gồm những gì; ít nhất là bấy nhiêu đó những gì em có thể quan sát được từ khu vực ghế dành cho khán giả phổ thông, nhờ sự trợ giúp của chiếc ống nhòm nhỏ; bởi chị chớ nên tưởng tượng rằng những thủ pháp ấy được che giấu kỹ lưỡng hay tạo ra được ảo ảnh lớn lao nào; ở đây em chỉ kể lại những gì mình đã thấy, và những gì bất kỳ khán giả vô tư nào khác cũng có thể nhìn thấy rõ như em. Dẫu vậy, người ta nói với em rằng một lượng máy móc khổng lồ đã được huy động để tạo ra tất cả những chuyển động ấy, và em đã vài lần được mời đến xem tận mắt; nhưng em chưa từng có chút tò mò nào muốn tìm hiểu xem người ta đã xoay sở bằng cách nào để tạo ra những nỗ lực phi thường nhằm mang lại những kết quả tầm phào đến thế.
Số lượng người tham gia phục vụ cho nhà hát opera là điều không thể tưởng tượng nổi. Dàn nhạc và dàn hợp xướng gộp lại gồm gần một trăm con người: có một đám đông các vũ công, với mỗi vai diễn đều được bố trí người thay thế gấp đôi gấp ba, [35] nghĩa là luôn có một hoặc hai diễn viên hạng dưới túc trực sẵn sàng chiếm lấy vị trí của diễn viên chính, và họ được trả tiền để chẳng làm gì cả, cho đến khi vị diễn viên chính cũng cảm thấy vui lòng chẳng màng làm gì đến lượt mình, và điều đó hiếm khi nào phải đợi lâu mới xảy ra. Sau một vài buổi biểu diễn, những diễn viên chính, vốn là những nhân vật có vị thế vô cùng quan trọng, không còn ban ơn cho công chúng bằng sự hiện diện của họ trong vở diễn đó nữa, mà nhường lại vai diễn của mình cho những kẻ đóng thế, hoặc cho những kẻ đóng thế của những kẻ đóng thế ấy. Họ vẫn nhận được ngần ấy tiền tại cửa ra vào, nhưng khán giả thì không phải lúc nào cũng nhận được ngần ấy niềm vui giải trí. Ai nấy đều mua vé, giống như chơi xổ số vậy, chẳng thể biết trước phần thưởng của mình sẽ là gì; nhưng dù nó là gì đi nữa, chẳng ai dám ho he phàn nàn; vì chị phải biết rằng, các thành viên đáng kính của hàn lâm viện này chẳng hề nợ công chúng chút tôn trọng nào hết, mà chính công chúng mới là kẻ phải nợ họ.
Em sẽ không nói gì với chị về âm nhạc của họ nữa, bởi chị đã quá rõ về nó. Nhưng chị sẽ chẳng thể nào hình dung nổi những tiếng gào thét kinh hoàng và rống rống ghê rợn mà nhà hát vang lên trong suốt buổi biểu diễn. Các nữ diễn viên, cứ như thể đang vướng vào những cơn co giật, gào thét đến rách cả phổi: trong lúc đó, với đôi tay nắm chặt vào bụng, đầu ngửa ra sau, mặt đỏ lựng, gân cổ nổi phồng và ngực phập phồng thở dốc, người ta chẳng tài nào biết được giác quan nào bị tra tấn tồi tệ hơn, mắt hay tai. Diễn xuất của họ khiến những kẻ ngồi xem phải chịu đựng sự đày ải chẳng kém gì tiếng hát của họ đối với những ai lắng nghe; thế nhưng điều không thể tưởng tượng nổi là những tiếng tru tréo ấy lại hầu như là thứ duy nhất được khán giả vỗ tay tán thưởng. Qua tiếng vỗ tay rào rào của họ, người ta dễ tưởng lầm họ là một lũ người điếc, vô cùng sung sướng khi thỉnh thoảng được nghe giọng hát vươn đến tận nốt cao chót vót, và họ đang cố gắng khích lệ các diễn viên lặp lại những nỗ lực ấy. Về phần mình, em tin chắc rằng họ vỗ tay tán thưởng tiếng thét chói tai của một nữ diễn viên opera cũng vì lý do tương tự như khi họ cổ vũ những trò hề của một kẻ tung hứng hay uốn dẻo tại hội chợ: thật khó chịu và đau đớn khi phải ngắm nhìn chúng; người ta thấy nhức nhối chừng nào chúng còn kéo dài, nhưng chúng ta lại vui mừng khôn tả khi mọi chuyện trôi qua mà không có tai nạn nào xảy ra, đến mức chúng ta sẵn sàng hoan hô nhiệt liệt.
Hãy thử nghĩ xem lối hát ấy phù hợp đến nhường nào để diễn tả tất cả những gì ngọt ngào và dịu dàng nhất mà Quinault từng viết. Hãy tưởng tượng các nàng thơ, các vị thần ái tình và nữ thần ân huệ, hãy tưởng tượng chính thần Venus đang bày tỏ cảm xúc của mình bằng thứ âm điệu tinh tế ấy, và rồi hãy tự phán xét hiệu quả của nó. Còn về phần lũ quỷ sứ của họ, hãy cứ để mặc âm nhạc của chúng chìm vào chốn âm ty đủ sức đồng điệu với chúng. Cũng giống như âm nhạc của những kẻ phù thủy, pháp sư và mụ phù thủy; dẫu vậy, tất cả những thứ đó đều thu về những tràng pháo tay lớn nhất tại nhà hát opera Pháp.
Sánh bước cùng những âm thanh ngất ngây, du dương đến nao lòng ấy, chúng ta hoàn toàn xứng đáng cộng vào đó những âm thanh từ dàn nhạc. Hãy tự hình dung trong đầu một thứ tiếng va đập liên hồi của các nhạc cụ lạc điệu, kèm theo những tiếng rên rỉ kéo lê thê và bất tận của đàn cello, một thứ âm thanh sầu thảm và kham khổ nhất mà đời này em từng nghe qua, thứ mà em chưa bao giờ có thể chịu đựng nổi quá một khắc đồng hồ mà không bị cơn đau đầu dữ dội bủa vây. Tất cả những thứ đó tạo nên một thứ tụ kinh vịnh mà thoạt nghe chẳng có lấy nhịp hay phách nào. Thế nhưng, tình cờ thay, khi họ bắt được một giai điệu có chút tươi vui, đôi chân của khán giả lập tức cựa quậy, và toàn bộ nhà hát rung chuyển rền vang bởi tiếng dậm chân lộp cộp của họ. Riêng khu ghế phổ thông, với không ít nhọc nhằn và tiếng động ầm ĩ, luôn cố gắng bắt chước một nghệ sĩ nào đó trong dàn nhạc. [36] Vô cùng sung sướng khi thoáng nhận ra cái nhịp phách mà họ hiếm khi nào cảm nhận được ấy, họ rướn cả tai, giọng nói, bàn tay, bàn chân, tóm lại là toàn bộ cơ thể để giữ cho bằng được nhịp điệu chực chờ tuột khỏi tầm tay họ bất cứ lúc nào. Trái lại, người Ý và người Đức, những người dễ bề rung cảm trước nhịp điệu âm nhạc của họ, cứ thế xuôi theo chúng một cách tự nhiên chẳng chút nhọc nhằn, và chưa bao giờ phải bận tâm nhịp chân hay vỗ tay. Ít nhất, Regianino từng nhiều lần bảo em rằng, tại nhà hát opera ở Ý, nơi âm nhạc vô cùng lay động và tươi vui, chị sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy hay nghe thấy, dẫu chỉ là một cử động nhỏ của bàn tay hay bàn chân, dù là trong dàn nhạc hay giữa đám đông khán giả. Nhưng ở đất nước này, mọi thứ đều minh chứng cho sự u mê của cơ quan cảm thụ âm nhạc nơi họ; giọng hát của họ chói tai và khó chịu, âm điệu giả tạo và kéo lê, còn các nhịp chuyển quãng thì thô kệch và nghịch tai; chẳng hề có chút tiết tấu hay giai điệu nào trong các khúc ca của họ; những nhạc cụ quân đội, tiếng sáo của bộ binh, tiếng kèn kỵ binh, kèn sừng, kèn oboe, những kẻ hát rong trên đường phố, hay những tay kéo vĩ cầm trong các quán rượu bình dân, tất cả đều mang thứ âm thanh chói tai đến rợn người đủ sức làm tổn thương cả đôi tai kém nhạy cảm nhất. [37] Đâu phải mọi tài năng đều được ban phát cho cùng một người, và người Pháp nói chung là những kẻ kém khiếu âm nhạc nhất trong số tất cả các dân tộc ở châu Âu. Lãnh chúa B—— cho rằng người Anh cũng kém cỏi chẳng kém, nhưng sự khác biệt là họ tự biết thân biết phận và chẳng thèm bận tâm đến điều đó, trong khi người Pháp lại từ bỏ hàng ngàn tiền đề chính đáng và thà chịu chỉ trích ở bất kỳ điểm nào khác còn hơn là thừa nhận mình không phải là những nhạc sĩ đệ nhất thiên hạ. Tại Paris thậm chí có những kẻ xem việc vun xới cho âm nhạc là trọng trách của quốc gia, có lẽ bởi vì sự cải tiến chiếc đàn lia của Timotheus từng được nhìn nhận như thế ở Sparta. Dẫu thế nào đi nữa, nhà hát opera ở đây, xét cho cùng, có lẽ cũng là một thể chế chính trị hay ho, ở chỗ nó chẳng làm vừa lòng những kẻ có gu thẩm mỹ là bao. Nhưng xin trở lại với phần miêu tả của em.
Các vở múa ba-lê, vốn là phần rực rỡ nhất của opera, nếu đứng độc lập, mang lại một hình thức giải trí dễ chịu, bởi chúng vô cùng tráng lệ và đậm chất sân khấu; thế nhưng, khi chúng hòa lẫn vào cấu trúc của vở kịch, đó lại là lăng kính mà ta phải nhìn nhận chúng.
Chị còn nhớ những vở opera của Quinault chứ; chị biết các màn giải trí được lồng ghép vào đó theo cách nào rồi đấy; với những người kế nhiệm ông ta thì cũng y như vậy, hoặc thậm chí còn tệ hơn. Trong mỗi màn kịch, mạch truyện bị chặn đứng ngay tại thời điểm gay cấn nhất bởi một màn đan xen được biểu diễn ngay trước mặt các diễn viên, những người đang ngồi trên sân khấu trong khi khán giả ở khu ghế phổ thông phải đứng. Từ những ngắt quãng ấy, thường xuyên xảy ra chuyện các nhân vật trong vở kịch hoàn toàn bị bỏ quên, và các khán giả thì lúc nào cũng phải dán mắt nhìn những diễn viên đang bận ngắm nghía thứ khác. Mốt của những màn đan xen này rất đơn giản. Nếu vị vương công đang có tâm trạng vui vẻ, nó sẽ mang chút hào hứng từ tâm trạng ấy và trở thành một điệu nhảy; nếu ngài đang khó chịu, nó được thiết kế để đưa ngài trở lại trạng thái bình tâm, và đó cũng lại là một điệu nhảy. Em chẳng biết liệu ở triều đình có mốt tổ chức vũ hội để giải khuây cho nhà vua khi ngài bực dọc hay không, nhưng điều này thì em biết, xét trên cương vị những ông vua opera của chúng ta, người ta không khỏi thán phục sự kiên định và triết lý khắc kỷ của họ, khi họ vẫn có thể ngồi điềm tĩnh đến thế để xem những điệu nhảy hài hước và thưởng thức các khúc ca, trong khi số phận vương quốc, vương miện và sinh mạng của họ đôi khi đang được định đoạt ở đằng sau hậu đài. Nhưng họ còn có vô vàn dịp khác để nhồi nhét các vũ điệu vào; những nghi thức trang trọng nhất của đời người đều được trình diễn qua một điệu nhảy ở đây. Các mục sư nhảy múa, lính trát nhảy múa, các vị thần nhảy múa, lũ quỷ nhảy múa, những kẻ đưa tang nhảy múa tại đám tang, tóm lại là tất cả các nhân vật của họ đều nhảy múa trong mọi hoàn cảnh.
Cứ thế, nghệ thuật múa trở thành bộ môn nghệ thuật thứ tư góp phần cấu thành nên kịch trữ tình: ba môn kia là nghệ thuật mô phỏng; nhưng thứ gì được mô phỏng trong vũ đạo? Chẳng có gì cả... Do đó nó hoàn toàn lạc lõng, bởi nhẽ đâu có chỗ cho những điệu minuet hay rigadoon trong một vở bi kịch? Hơn thế nữa, em dám cả gan khẳng định rằng, vũ đạo thậm chí sẽ vô lý y như vậy trong những tác phẩm kịch nói, dẫu cho có điều gì đó được mô phỏng qua nó đi chăng nữa; bởi trong tất cả các nguyên tắc thống nhất của kịch nghệ, điều không thể thiếu sót nhất chính là ngôn ngữ hoặc sự biểu đạt; và một vở opera được cấu thành một nửa từ ca hát, một nửa từ vũ đạo thậm chí còn nực cười hơn cả thứ opera hát một nửa tiếng Pháp, một nửa tiếng Ý.
Chưa chịu dừng lại ở việc đưa vũ đạo vào như một phần cốt lõi của tác phẩm, họ thậm chí còn mưu cầu biến nó thành yếu tố chủ đạo, khi cho ra đời những vở opera mà họ gọi là ba-lê, thứ đi ngược lại cái tên của chúng đến mức vũ đạo trở nên lạc điệu chẳng kém gì so với toàn bộ phần còn lại. Hầu hết các vở ba-lê ấy bao gồm từng ấy chủ đề khác nhau hệt như số màn kịch; các chủ đề ấy được kết nối với nhau bằng một số mối liên hệ siêu hình nào đó, mà khán giả sẽ chẳng bao giờ mảy may nghi ngờ hay đoán ra được, nếu tác giả không chu đáo báo trước cho họ trong phần mở đầu. Các mùa trong năm, các độ tuổi, các giác quan, các nguyên tố, đều là chủ đề của một vũ điệu; nhưng em rất muốn biết sự thỏa đáng trong tất cả những điều ấy nằm ở đâu, hay những tư tưởng nào có thể qua phương tiện ấy mà truyền tải đến tâm trí người xem? Một số vở trong số đó lại mang tính ngụ ngôn thuần túy, chẳng hạn như lễ hội hóa trang, sự lố bịch, và chúng chính là những thứ khó lòng chịu đựng nổi nhất, bởi dù chứa đựng không ít sự thông minh và tinh tế, chúng lại hoàn toàn không có tình cảm, sự miêu tả, cốt truyện, sự kiện, hay bất cứ thứ gì có thể làm khán giả thấy hứng thú, làm nổi bật âm nhạc, đánh trúng tâm lý, hay củng cố ảo ảnh sân khấu. Trong những vở ba-lê mạo danh ấy, hành động của vở kịch được truyền tải bằng tiếng hát, trong khi các vũ công liên tục tìm cơ hội chen ngang vào những ca sĩ, dù chẳng mang ý nghĩa hay dụng ý nào.
Tuy nhiên, kết cục của tất cả những điều đó là, vì những vở ba-lê này kém phần hấp dẫn hơn các vở bi kịch của họ, những khúc ngắt quãng của chúng ít bị người ta để tâm hơn. Giả sử bản thân vở kịch lay động hơn, khán giả hẳn đã cảm thấy phật ý hơn nhiều; nhưng nhược điểm này lại đóng vai trò che lấp nhược điểm kia, và để ngăn chặn việc khán giả cảm thấy mệt mỏi vì vũ đạo, các tác giả đã khéo léo xoay sở để họ có thể kiệt sức sâu sắc hơn nữa vì chính bản thân vở kịch.
Điều này sẽ dẫn dắt em một cách vô thức đi đến một số câu hỏi về bản chất thực sự của kịch trữ tình, nhưng chúng sẽ quá rườm rà để có thể cô đọng lại trong bức thư này; vì thế em đã viết một bài tiểu luận ngắn về chủ đề đó, thứ mà chị sẽ tìm thấy ở phần đính kèm, và có thể chuyển nó cho Regianino. Em chỉ xin nói thêm, liên quan đến nhà hát opera Pháp, rằng nhược điểm lớn nhất mà em nhận thấy ở nó chính là một gu thẩm mỹ sai lầm về sự tráng lệ; từ đó họ mưu cầu tái hiện lại những điều kỳ diệu, vốn chỉ là đối tượng của trí tưởng tượng, vì thế việc đưa nó vào một sử thi thì hợp lý bao nhiêu, thì việc ngớ ngẩn cố gắng đem nó lên sân khấu lại kệch cỡm bấy nhiêu. Em hẳn đã chẳng thể tin nổi, nếu không tận mắt chứng kiến, rằng lại có thể tìm thấy những nghệ sĩ kém cỏi đến mức dám thử nghiệm việc mô phỏng cỗ xe của mặt trời, hay những khán giả ngây thơ đến mức cất công đến xem nó. La Bruyère từng không thể hiểu nổi tại sao một cảnh tượng đẹp đẽ như opera lại có thể gây nhàm chán đến thế. Về phần em, một kẻ chẳng phải La Bruyère, em hiểu điều đó rất rõ, và xin khẳng định rằng, đối với bất kỳ ai có gu thẩm mỹ thực sự dành cho các bộ môn nghệ thuật tinh tế, sự kết hợp giữa âm nhạc Pháp, vũ đạo của họ, và những phép mầu trong cảnh trí của họ đã tạo nên một màn biểu diễn tẻ nhạt nhất trên đời. Rốt cuộc, có lẽ người Pháp không xứng đáng với một hình thức giải trí hoàn mỹ hơn, đặc biệt là xét trên phương diện biểu diễn — không phải vì họ thiếu đi năng lực đánh giá cái hay, mà bởi vì cái dở lại làm họ thỏa mãn hơn. Bởi vì, dường như họ thích chỉ trích hơn là tán thưởng, niềm vui sướng khi được bới lông tìm vết bù đắp cho mọi khiếm khuyết, và họ thà cười cợt sau khi đã về nhà còn hơn là cảm thấy hài lòng với vở kịch trong suốt buổi biểu diễn.