Ngày 25 tháng 5 năm 1994
Sau khi bị xưởng Vĩnh Thông sa thải, may mắn là tiền lương đã được tính toán xong. Trong người chỉ còn hơn một trăm tệ, tôi không hề sợ hãi, nếu nói sợ thì lúc đó cũng có chút lo lắng, dù sao tôi đến chứng minh thư cũng không có. Nhưng đường cùng rồi, đành cầm tấm chứng minh thư năm 69 đi vận may xem sao. Ai ngờ vận may không tệ, cuối cùng cũng trà trộn được vào bộ phận máy ép của xưởng này.
Nghĩ đi nghĩ lại, từ khi đến Quảng Đông tôi đã nhảy việc bốn, năm xưởng rồi, nhưng xưởng sau vẫn tốt hơn xưởng trước. Quan trọng hơn là bất kể lúc nào, tôi cũng luôn dựa vào chính mình, chưa từng cầu xin bất cứ ai. Mặc dù cũng có vài người bạn thân, nhưng chẳng có ai giúp đỡ tôi vào lúc tôi cần giúp nhất.
Nhớ lại lúc trốn từ Thâm Quyến về, đó mới thực sự là hai bàn tay trắng, ngoại trừ bản thân thì chẳng có gì cả. Lang thang ngoài đường một tháng, không xu dính túi, thậm chí nhịn đói suốt hai ngày mà cũng chẳng ai hay biết… Dù anh chị họ đều ở Long Nham, nhưng tôi không muốn tìm họ, vì dù sao họ cũng chẳng giúp được gì. Tôi thường nghĩ, dựa vào người khác là không đáng tin, chỉ có dựa vào chính mình thôi.
Đúng vậy, tôi chỉ có thể dựa vào chính mình.
Ngô Xuân Minh lần đầu tiên ra ngoài mà không nói cho cha mẹ biết. Đó là mùa hè năm 1992, nói đến chuyện đi ra ngoài, vừa liều lĩnh lại vừa nguy hiểm. Ở ngôi làng quê cô tại Hồ Nam, có lời đồn rằng các cô gái vào thành phố sẽ bị lừa vào nhà thổ rồi bặt vô âm tín.
Mùa hè năm đó Xuân Minh mới mười bảy tuổi. Cô tốt nghiệp trung học, bán rau quả ở một thị trấn gần nhà; cô cùng một người chị họ còn đang đi học rủ nhau đến Đông Hoản. Hai cô gái vay tiền mua vé tàu đến Đông Hoản, tìm được công việc trong một xưởng sơn đồ chơi. Mùi hóa chất khiến họ đau đầu, hai tháng sau họ trở về nhà, vẫn hai bàn tay trắng như trước. Mùa xuân năm sau Xuân Minh lại đi tiếp. Cha mẹ phản đối, cãi vã rồi khóc lóc. Nhưng cô đã hạ quyết tâm dù thế nào cũng phải đi, còn có vài người bạn ở làng bên cùng đi, mẹ cô đã giúp cô vay tiền mua vé tàu.
Quảng Đông năm 1993 còn loạn hơn bây giờ. Người lao động ngoại tỉnh từ nông thôn đổ xô đến đường phố Quảng Đông tìm việc, tối đến thì ngủ ở bến xe buýt và dưới gầm cầu. Cách duy nhất để tìm việc là đi gõ cửa các nhà xưởng, Xuân Minh và bạn bè đã ăn không biết bao nhiêu "cái bế môn canh" (bị từ chối), cuối cùng cũng được xưởng đồ chơi Quốc Thông nhận vào. Công nhân phổ thông trong xưởng kiếm được một trăm tệ một tháng; để chống đói, họ mua mì tôm loại siêu lớn, thêm chút muối rồi chế nước sôi ăn. "Chúng tôi nghĩ nếu một tháng kiếm được hai trăm tệ," Xuân Minh sau này kể lại, "thì đã mãn nguyện lắm rồi."
Bốn tháng sau, Xuân Minh nhảy sang một xưởng khác, nhưng khi một đồng nghiệp nói anh họ cô ấy biết ở Thâm Quyến có công việc tốt hơn, cô liền rời đi ngay lập tức. Xuân Minh cùng vài người bạn đến Thâm Quyến, qua đêm dưới gầm cầu vượt, sáng hôm sau gặp anh họ của người đồng nghiệp kia. Hắn dẫn các cô gái đến một tiệm cắt tóc, đưa họ lên lầu, một người phụ nữ trẻ trang điểm đậm đang ngồi trên giường mát-xa chờ khách. Xuân Minh vừa nhìn thấy cảnh này liền sợ hãi. "Nhà chúng tôi rất truyền thống," cô nói. "Tôi cảm thấy tất cả mọi người ở đó đều là kẻ xấu, muốn bắt tôi làm kỹ nữ. Tôi nghĩ một khi đã vào đó, tôi cũng sẽ trở nên hư hỏng."
Có người bảo các cô gái nên ở lại, vào nhà tắm công cộng tắm rửa, nhưng Xuân Minh không chịu. Cô chạy xuống lầu, liếc nhìn ra ngoài cửa chính rồi lập tức bỏ chạy, thậm chí bạn bè và hành lý cũng không màng tới. Trong hành lý có tiền, chứng minh thư và ảnh của mẹ cô. Tiếng bước chân đuổi theo ngày càng gần. Cô rẽ vào một con hẻm, rồi xuyên qua một hẻm khác, tiếng bước chân dừng lại. Xuân Minh lao vào một cái sân, tìm thấy một cái lồng gà bỏ hoang ở phía sau. Cô bò vào trong, trốn ở đó suốt một ngày một đêm. Ngày hôm sau, cánh tay cô đầy vết muỗi đốt, Xuân Minh đi ra phố, quỳ trên mặt đất ăn xin, nhưng không ai cho cô thứ gì. Một người qua đường đưa cô đến đồn cảnh sát; vì cô không có địa chỉ hay tên tiệm cắt tóc, cảnh sát cũng không giúp gì được. Họ đưa cô hai mươi tệ để đi xe buýt về lại xưởng đồ chơi.
Chưa đến Đông Hoản, giữa đường tài xế xe buýt đã đuổi cô xuống xe. Xuân Minh bắt đầu đi bộ, trên đường có một gã đàn ông bám theo cô. Cô thấy một cô gái mặc đồng phục công nhân, liền hỏi cô gái đó có thể giúp cô trà trộn vào xưởng qua đêm hay không. Cô gái kia mượn chứng minh thư của một công nhân khác đưa Xuân Minh vào trong, đêm đó Xuân Minh trốn trong một phòng tắm. Sáng sớm, cô lấy trộm một chiếc quần và áo phông sạch đang phơi bên ngoài phòng tắm, bò ra khỏi cổng xưởng. Lúc đó, cô đã hai ngày không ăn gì. Một tài xế xe buýt mua cho cô một lát bánh mì, cho cô đi nhờ xe về nơi anh họ và chị dâu cô làm việc ở Đông Hoản.
Xuân Minh không nói cho họ biết chuyện gì đã xảy ra. Cô chỉ đi lang thang trên phố. Cô quen một đầu bếp ở công trường, anh ta để Xuân Minh ăn chung với những công nhân khác ở công trường, tối đến cô lẻn vào ký túc xá công nhân của bạn bè để ngủ. Không có chứng minh thư, cô không tìm được việc mới. Lông bông hơn một tháng, Xuân Minh thấy quảng cáo tuyển công nhân dây chuyền của xưởng đồ chơi Ngân Huy. Cô nhặt được một tấm chứng minh thư của người khác làm mất, hoặc có lẽ đã bị vứt bỏ, dùng nó để tìm được việc làm. Xét về mặt pháp lý, cô là Đường Thông Vân, sinh năm 1969. Tuổi này lớn hơn tuổi thật của cô năm tuổi, nhưng không ai soi xét kỹ những thứ này.
Xuân Minh làm ở xưởng Ngân Huy một năm, trộn nhựa trong chậu lớn rồi đổ vào khuôn đúc thành các linh kiện xe hơi, tàu hỏa và máy bay đồ chơi. Cô gan dạ, thích nói chuyện nên rất dễ kết bạn. Những người bạn mới gọi cô là Đường Thông Vân. Thế là, cô thực sự biến thành một người khác.
Nhiều năm sau khi rời khỏi xưởng này, cô vẫn nhận được thư gửi cho Đường Thông Vân. Xuân Minh chưa bao giờ hiểu rõ Đường Thông Vân là ai.
Khi Xuân Minh kể cho tôi nghe những chuyện này, chúng tôi đã quen nhau được hai năm. Đó là vào một buổi chiều chủ nhật cuối năm 2006, lúc đó cô đang ngồi trong quán nước ép, vừa đi dạo phố cả ngày để mua quà sinh nhật. "Tôi chưa từng nói với ai về chuyện xảy ra lúc đó," cô nhấp ngụm nước ép hỗn hợp nói với tôi. "Bây giờ kể lại chuyện này, cứ như thể nó mới xảy ra ngày hôm qua vậy."
"Sau đó cô có tìm hiểu xem những người bạn bị cô bỏ lại ở tiệm cắt tóc đó ra sao không?" tôi hỏi.
"Không," cô nói. "Tôi không biết đó có thực sự là một nơi xấu xa, hay là một nơi có thể làm mát-xa thuần túy. Nhưng họ không cho chúng tôi đi, điều đó quá đáng sợ."
Trong số những cô gái bị cô bỏ lại phía sau có một người là bạn thân nhất của Xuân Minh. Họ quen nhau trên dây chuyền sản xuất ở Đông Hoản, Xuân Minh không biết tên làng quê của bạn mình, cũng không biết làm sao để tìm lại cô ấy. Vài năm sau, Xuân Minh tình cờ gặp một cô gái quen người bạn đó; cô ấy nói người bạn đó đã về quê, sau đó lại ra ngoài, đến Đông Hoản. Từ lời kể ngắn ngủi này, Xuân Minh suy đoán người bạn đó sau này vẫn ổn. Nhưng cũng không có cách nào biết được rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì; có lẽ cô ấy đã bị lừa vào nhà thổ, rồi bặt vô âm tín, giống như người trong làng vẫn nói. Xuân Minh đã mất liên lạc với người bạn thân nhất của mình, giống như nhiều người khác mà cô quen biết trên đường đời. Một năm ở Đông Hoản thật dài, Xuân Minh đã sống ở thành phố này được mười ba năm.
Ngày 24 tháng 5 năm 1994
Bảy giờ sáng đi làm, chín giờ tối tan làm. Sau đó tắm rửa, giặt quần áo, hơn mười giờ người có tiền thì đi ăn đêm, người không có tiền thì đi ngủ, ngủ đến sáu giờ rưỡi sáng mọi người vẫn chưa muốn dậy, nhưng không còn cách nào khác, bảy giờ phải đi làm, còn hai mươi phút thì bò dậy dụi đôi mắt sưng húp, rửa mặt đánh răng, còn mười phút muốn ăn sáng thì tận dụng nốt mười phút này đi ăn, mà tôi lại thấy rất nhiều người không ăn, không biết là không muốn ăn, hay là để tiết kiệm tiền, hoặc là vì muốn giữ dáng…
Tôi thì không bao giờ vì giữ dáng, vì tiết kiệm tiền mà không màng đến thân thể mình. Rốt cuộc đi làm thuê ngoài này là vì cái gì, chẳng lẽ chỉ vì kiếm mấy đồng tiền này sao?
Xuân Minh đến Đông Hoản không lâu thì bắt đầu viết nhật ký. Trong cuốn sổ tay bìa màu hồng nhạt này, Xuân Minh mô tả cuộc sống làm thuê của mình, sự khắt khe của nhân viên chấm công, những khoảng thời gian nhàn rỗi hiếm hoi dành cho việc buôn chuyện, ăn vặt và mơ mộng về các chàng trai. Bạn phải dùng bút ghi chép lại những điều mình thấy, mình nghe, mình cảm nhận, mình suy nghĩ mỗi ngày, làm như vậy không những có thể nâng cao trình độ viết lách của bản thân, mà còn có thể nhìn thấy dấu chân trưởng thành của chính mình. Trong cùng một cuốn sổ, cô viết ra những kế hoạch nhảy ra khỏi thế giới làm thuê, điều này phải thực hiện thông qua kế hoạch tự nâng cao bản thân đầy kiên trì: đọc tiểu thuyết, luyện thư pháp, học nói chuyện—vừa phải xóa bỏ giọng Hồ Nam, vừa phải học nói tiếng Quảng Đông—ngôn ngữ của ông chủ xưởng. Cô sợ nhất là bị mắc kẹt ở hiện tại. Thời gian là kẻ thù của Xuân Minh, nhắc nhở cô rằng lại một ngày trôi qua, mà mục tiêu của cô vẫn chưa đạt được. Nhưng thời gian cũng là bạn của cô, vì cô vẫn còn trẻ.
Nhật ký thường không ghi ngày tháng, cũng chẳng có trình tự gì. Xuân Minh viết rất nhanh, mô tả cuộc sống của mình, viết nháp thư nhà, chép lại các khẩu hiệu truyền cảm hứng và lời bài hát, thúc giục bản thân làm việc chăm chỉ. Có những lúc cô viết các câu theo đường chéo giữa hai trang, viết xiêu vẹo cho đến khi mỗi chữ to bằng hai cm. Trong tâm trí Xuân Minh, cô đang gào thét.
Tôi không có thời gian phiền muộn vì
Việc tôi phải làm quá nhiều.
"Thời gian là sinh mệnh."
Chúng ta có thể bình thường nhưng không thể tầm thường. —— Ngô Xuân Minh
Hiện tại tôi chẳng có gì cả, vốn liếng duy nhất của tôi là tôi còn trẻ.
Cũng phải một giờ rồi nhỉ! Đọc cuốn "Người lao động nhập cư" này mà không nỡ buông, nhưng tối bảy giờ lại phải đi làm, ngủ thôi, sức khỏe vẫn là quan trọng nhất.
Ai! Tôi thực sự hận thời gian quá ít ỏi, mỗi ngày làm việc mười hai tiếng, mười hai tiếng còn lại phải ăn cơm, tắm rửa giặt quần áo, còn phải ngủ, thì còn lại bao nhiêu thời gian để đọc sách, làm ca đêm như thế này thời gian cứ vụn vặt, tan làm ăn cơm xong, lại phải đợi một tiếng để tắm rửa, chiều ngủ đến sáu giờ lại phải dậy, ăn cơm mất một tiếng thế là lãng phí rồi… Tối đọc đến mười hai giờ, còn có thể ngủ sáu tiếng, còn một tiếng dùng để làm việc khác.
Tôi thất bại rồi, thất bại rồi
Chẳng lẽ trên con đường đời này tôi đã định sẵn là sẽ thất bại sao?
Tôi không tin
Tôi quyết không tin
Ngô Xuân Minh, cô không thể cứ sống thế này mãi được! Cô hãy nghĩ xem cô đến xưởng này đã tròn nửa năm rồi, nhưng rốt cuộc cô có thu hoạch được gì nào, cô đã biết rằng ở bộ phận máy ép này có làm công cả đời cũng chẳng có tiền đồ gì, nhưng cô muốn nhảy việc, lại càng muốn tìm một công việc như ý: trước hết cô phải học được cách nói tiếng Quảng Đông, sao cô lại vô dụng như vậy, rốt cuộc là cô có ngốc lắm không?
Tại sao người khác học được mà cô lại không học được?
Cô cũng là một con người, Ngô Xuân Minh. Chẳng lẽ cô chỉ là một kẻ vô dụng như thế sao?
Cô đã vào đây hơn hai tháng rồi, tiếng Quảng Đông không tiến bộ chút nào, nhớ lại mục đích lúc mới vào xưởng này là phải học nói tiếng Quảng Đông, nếu trong năm nay mà không học được tiếng Quảng Đông, thì cô là con lợn ngốc, con bò ngốc, cũng đừng đi làm ở Quảng Đông nữa, hai ba trăm tệ mỗi tháng này, còn chẳng bằng ở nhà.
Ngày 22 tháng 3
Ai, việc tôi phải làm thực sự quá nhiều, thời gian lại quá ít, có những người chỉ kêu phiền chết đi được, hây! Người ta phiền, chứ tôi thì không có thời gian để phiền.
Thứ nhất, phải rèn luyện thân thể, quá béo thì không được;
Thứ hai, phải đọc nhiều sách, luyện nhiều chữ, để bản thân sống vui vẻ, sung túc;
Thứ ba, phải học nói chuyện, việc này không thể quá vội vàng, phải từ từ học.
Còn về thời gian ngủ, tối đa chỉ cần ngủ sáu tiếng là đủ.
Ngày 29 tháng 3
Hôm nay phát lương, lĩnh được 365 tệ, trả nợ 50 tệ còn 300 tệ, phải mua đồng hồ, mua quần áo, mua đồ dùng sinh hoạt, lấy đâu ra tiền thừa… Mùa hè đến rồi, một bộ quần áo cũng không có… Còn đồng hồ thì nhất định phải mua, không có đồng hồ, không thể tận dụng thời gian một cách chính xác và hiệu quả hơn.
Còn việc gửi tiền về nhà càng không thể nào, tháng sau phát lương sẽ đi báo danh học đại học hàm thụ ngành thư ký tốc ký, tôi nhất định phải lấy được bằng đại học, tôi đến Quảng Đông tuyệt đối không phải để kiếm hai ba trăm tệ một tháng… Đây chỉ là nơi dừng chân tạm thời của tôi, đây tuyệt đối không phải là nơi tôi ở lại mãi mãi.
Không ai hiểu tôi, và tôi cũng không cần ai hiểu tôi.
Tôi cứ việc đi con đường của mình, để người khác muốn nói gì thì nói!
Ngày 22 tháng 5
Rất nhiều người nói tôi thay đổi rồi, tôi không biết rốt cuộc mình có thay đổi hay không… Bây giờ tôi trầm mặc hơn nhiều, không còn hay cười như trước nữa, đôi khi cười cũng là nụ cười rất gượng gạo, đôi khi tôi thấy bản thân mình tê liệt "tê liệt", tê liệt không phải không phải! Nhưng tôi thực sự không biết nên tìm từ gì để hình dung bản thân hiện tại.
Dù sao, tôi rất mệt, rất mệt, thật đấy, thật sự, cảm thấy rất mệt.
Dù là thể xác hay tinh thần đều cảm thấy rất mệt, như thế này quá mệt, quá mệt, đừng sống như thế này nữa.
Đừng sống thế này nữa, tuyệt đối đừng sống thế này nữa.
Tuyệt đối đừng sống như thế đó.
Rốt cuộc tôi nên sống như thế nào?
Ngay cả khi Xuân Minh lập kế hoạch vươn lên trong thế giới làm thuê, trong thư cô vẫn cố gắng thể hiện mình là một người con gái truyền thống.
Mẹ, con đã đan cho mẹ một chiếc áo len… Nếu con không đan áo len, con có thể dùng cả ngày để đọc rất nhiều sách, nhưng, mẹ ơi, có những lúc con nghĩ: con thà làm một đứa con gái ngoan của mẹ, làm một đứa con có hiếu, thậm chí có thể vứt bỏ những cuốn sách mà con vô cùng muốn đọc.
Mẹ ơi, con đã đan tất cả tình yêu của con dành cho mẹ vào trong chiếc áo len… Mẹ ơi, nhớ khi còn ở nhà, mẹ luôn nói con gái nhà người ta đan áo len giỏi thế nào, mẹ luôn nói con không bao giờ có sự kiên trì đó. Mà giờ đây, mẹ nhìn xem con gái của mẹ chẳng phải cũng biết đan sao? Phải nhớ rằng, con gái của mẹ không bao giờ kém cỏi hơn người khác!
Kỳ vọng của gia đình đang đè nặng lên cô. Các cô gái từ nông thôn lên đặc biệt cảm nhận được áp lực từ gia đình. Nếu họ tiến bộ không đủ nhanh, cha mẹ sẽ giục họ về nhà lấy chồng.
Cuối cùng cũng nhận được một lá thư từ nhà… Người có thể viết thư cho con ngoài bố ra thì còn ai nữa? Mẹ thậm chí còn không nói một lời, rằng mẹ nhớ con… Lần trước lá thư đó còn kèm theo một câu, dặn con không được yêu đương ở ngoài. Mặc dù chỉ câu này thôi cũng khiến con vui mừng, cứ như thể mẹ đang đứng bên cạnh con dạy bảo con vậy.
Con khao khát biết bao được thổ lộ những lời trong lòng với mẹ, nhưng không thể, mẹ ơi! Mẹ của con, tại sao mẹ lại là người mù chữ, mẹ mù chữ cũng không sao, tại sao mẹ đến một lá thư cũng không biết viết, mẹ không biết viết thư cũng không sao, chỉ cần mẹ biết viết vài chữ là được, mẹ cứ viết bừa vài chữ về những điều mẹ muốn nói rồi ghép lại, con cũng sẽ hiểu được tâm ý của mẹ.
Mẹ ơi, con biết mẹ có rất nhiều điều muốn nói với con, chỉ là bố không viết ra thôi… Bố mẹ, xem ra chúng ta không thể giao tiếp với nhau được rồi, bố mẹ sẽ không bao giờ biết cũng sẽ không bao giờ hiểu được những gì thực sự trong lòng con gái, có lẽ điều bố mẹ nghĩ là con đã tìm được xưởng lý tưởng rồi, lương hơn ba trăm tệ một tháng, tưởng rằng con sẽ không bao giờ nhảy xưởng nữa, yêu cầu của bố mẹ có lẽ là đừng bao giờ nhảy xưởng nữa, làm tốt ở xưởng này hai năm rồi về nhà lấy chồng, rồi lại như tất cả các cô gái nông thôn khác xây dựng một gia đình, nhưng những điều này đều không phải là điều con muốn…
Con muốn xông pha tạo dựng một sự nghiệp ở Quảng Đông… Kế hoạch của con là:
Thứ nhất, đi học đại học hàm thụ
Thứ hai, học nói tiếng Quảng Đông
Thứ ba, không có gì cả, không làm nên trò trống gì, tuyệt đối không kết hôn.
Trong ba năm đầu ở Đông Hoản, Xuân Minh chưa từng về nhà một lần nào. Cô nói với bạn bè rằng thời gian nghỉ ở xưởng quá ngắn, nhưng trong nhật ký cô viết: Có ai biết, tại sao tôi không về nhà ăn Tết không? Lý do chủ yếu là, tôi thực sự không muốn lãng phí thời gian. Bởi vì, tôi muốn đọc sách! Cô cũng không nghe lời dặn dò của mẹ, viết thư tình cho một anh chàng đẹp trai trong xưởng. Ở nơi làm việc, các chàng trai rất hiếm, người có ngoại hình khá lại càng thu hút, có rất nhiều cô gái theo đuổi. Anh chàng này không có cảm tình với Xuân Minh, còn đem lá thư tình Xuân Minh gửi cho mình đi cho người khác xem.
Sau nửa năm làm việc trên dây chuyền, Xuân Minh biết được xưởng đang tuyển dụng nhân viên văn phòng nội bộ, cô viết một lá thư cho lãnh đạo bộ phận, bày tỏ ý định ứng tuyển. Ông chủ từng nghe danh tiếng Xuân Minh "cọc đi tìm trâu", liền ra lệnh điều cô sang bộ phận khác. Nhưng lệnh của ông không biết vì sao lại bị hiểu sai, Xuân Minh ngược lại còn được làm nhân viên văn phòng. Sau đó cô thể hiện khá tốt, ông chủ cũng thay đổi cách nhìn về cô. Công việc mới ba trăm tệ một tháng — đây là gấp ba lần lương tháng của Xuân Minh một năm trước.
Câu chuyện của các cô gái làm thuê có những điểm chung. Khi mới đến thành phố luôn có phần mơ hồ, không biết làm thế nào, cũng thường gặp phải những tình tiết bị lừa lọc đủ kiểu. Các cô gái luôn nói họ đi một mình, mặc dù thực tế họ thường đi cùng người khác; họ chỉ cảm thấy cô đơn. Họ sẽ rất nhanh quên tên xưởng, nhưng lại nhớ rất rõ những ngày đặc biệt, ví dụ như ngày rời nhà, hoặc ngày vĩnh biệt một xưởng tồi tệ nào đó. Xưởng làm về cái gì không bao giờ quan trọng; mấu chốt là sự gian nan hoặc cơ hội mà công việc đó mang lại. Bước ngoặt cuộc đời của các cô gái làm thuê luôn là lúc cô đứng lên chống lại ông chủ. Khoảnh khắc đó cô mạo hiểm mất tất cả, tách biệt khỏi đám đông, buộc thế giới phải nhìn nhận cô như một cá thể độc lập.
Trong xưởng bạn rất dễ đánh mất bản thân, ở đó có hàng trăm hàng nghìn cô gái làm thuê có hoàn cảnh giống nhau: sinh ra ở nông thôn, không được học hành gì nhiều, nghèo khó. Bạn buộc phải tin mình là một nhân vật nào đó, dù cho bạn chỉ là hạt cát trong biển người mênh mông.
Ngày 17 tháng 4 năm 1994
Đúng vậy, dù sao tôi cũng là một người bình thường không thể bình thường hơn, một cô gái tầm thường không thể tầm thường hơn, một cô gái cũng giống như tất cả các cô gái khác, thích ăn vặt, thích ham chơi, càng thích làm đẹp.
Đừng ảo tưởng có thể trở thành một siêu nhân.
Bạn chỉ là một cô gái cực kỳ bình thường, cực kỳ tầm thường, cũng tò mò với bất cứ thứ gì đẹp mắt, ngon miệng, vui vẻ.
Vẫn là nên bắt đầu từ sự bình thường, tầm thường đi thôi.
Trong các xưởng ở Đông Hoản, sự phân công nam nữ rất rõ ràng. Phụ nữ làm nhân viên văn phòng, làm ở bộ phận nhân sự và kinh doanh, phần lớn công việc trên dây chuyền sản xuất cũng là của họ; các ông chủ cảm thấy các cô gái trẻ chăm chỉ hơn và dễ quản lý hơn. Đàn ông độc chiếm các công việc kỹ thuật, ví dụ như thiết kế khuôn mẫu và sửa chữa máy móc. Họ thường chiếm các vị trí cấp cao trong xưởng, nhưng cũng xuất hiện ở các vị trí đáy cùng không có lối thoát: bảo vệ, đầu bếp, tài xế. Bên ngoài xưởng, phụ nữ làm phục vụ, bảo mẫu, thợ làm tóc và kỹ nữ. Đàn ông làm việc ở công trường.
Sự phân chia giới tính này cũng phản ánh trong các quảng cáo tuyển dụng:
Xưởng túi xách Cao Bộ tuyển dụng
Kinh doanh: Giới hạn nữ, tiếng Anh trình độ B
Lễ tân: Giới hạn nữ, biết nói tiếng Quảng Đông
Bảo vệ: Nam, dưới 30 tuổi, chiều cao 1m7
trở lên, bộ đội xuất ngũ, biết phòng cháy,
ưu tiên người biết chơi bóng rổ
Điều này đồng thời ám thị không ít thông tin. Các cô gái trẻ có cơ hội việc làm với tính lưu động cao hơn; họ có thể vào xưởng làm công nhân dây chuyền, sau đó thăng chức lên nhân viên văn phòng hoặc kinh doanh. Các chàng trai vào xưởng thì khó hơn, một khi đã vào thường khó mà thay đổi. Phụ nữ dù trong hay ngoài xưởng đều có giao lưu rộng hơn, rất nhanh có thể chấp nhận cách ăn mặc, kiểu tóc và giọng nói của thành phố. Đàn ông thì dễ tự giới hạn mình trong thế giới của những người ngoài cuộc. Phụ nữ dễ hòa nhập vào cuộc sống thành phố hơn, nguyện vọng ở lại cũng mạnh mẽ hơn.
Phụ nữ chiếm một phần ba dân số lưu động của Trung Quốc. Họ thường trẻ hơn nam giới làm thuê, và cũng có khả năng độc thân cao hơn; họ rời nhà xa hơn, thời gian ở ngoài lâu hơn. Họ có động lực tự nâng cao bản thân mạnh mẽ hơn, cũng có khả năng coi làm thuê là cơ hội thay đổi cuộc đời hơn. Một cuộc khảo sát cho thấy, nam giới bày tỏ đạt được thu nhập cao hơn là mục đích chính khi rời nhà đi làm thuê, trong khi phụ nữ lại khao khát "có nhiều trải nghiệm sống hơn". Khác với đàn ông, phụ nữ không có nhà để về. Theo truyền thống Trung Quốc, con trai sau khi kết hôn phải đưa vợ cùng về nhà cha mẹ mình; đàn ông luôn có một ngôi nhà ở ngôi làng nơi mình sinh ra. Con gái, một khi đã trưởng thành, liền sẽ không bao giờ trở về nhà ở — trừ khi họ kết hôn, nếu không thì nơi nào cũng không phải là nơi nương tựa của họ.
Ở một mức độ nào đó, sự phân biệt giới tính thâm căn cố đế này lại có lợi cho phụ nữ. Nhiều cha mẹ nông thôn kỳ vọng con trai ở gần nhà hơn, hoặc là vận chuyển hàng hóa hay bán rau ở thị trấn gần đó. Những chàng trai không có hy vọng gì có thể cứ thế mà sống qua ngày, làm vài công việc tạp nham, hút thuốc uống rượu, nướng sạch tiền lương ít ỏi vào cờ bạc. Những cô gái nhỏ — không được nuông chiều nhiều, cũng chẳng có nhiều người xót — có thể rời xa quê hương, tự mình tính toán. Chính vì không quá quan trọng, họ có thể tự do hơn để làm những việc mình muốn.
Nhưng cái lợi này cũng không vững chắc. Nếu nói đi làm thuê đã giải phóng phụ nữ khỏi nông thôn, nó cũng đồng thời đặt phụ nữ vào môi trường thiếu cơ hội tiếp xúc với người khác giới. Ở nông thôn phần lớn các cô gái ngoài hai mươi tuổi đã kết hôn rồi, nhưng những cô gái làm thuê trì hoãn tuổi kết hôn sẽ đối mặt với nguy cơ vĩnh viễn mất đi cơ hội này. Tỷ lệ giới tính của dân số Đông Hoản không cân bằng, nghe nói bảy mươi phần trăm lực lượng lao động là nữ, rất khó tìm được đối tượng có tố chất cao. Sự lưu động xã hội lại làm chuyện tìm chồng càng thêm phức tạp. Những cô gái bắt đầu vươn lên từ dây chuyền sản xuất coi thường đàn ông nông thôn, nhưng đàn ông thành phố ngược lại lại chẳng coi trọng họ. Giới làm thuê gọi đây là "cao không tới, thấp không thông".
Những cô gái làm thuê mà tôi quen chưa bao giờ phàn nàn về những bất công mà phụ nữ phải đối mặt. Cha mẹ trọng nam khinh nữ, ông chủ thích thư ký xinh đẹp, quảng cáo tuyển dụng công khai phân biệt giới tính, nhưng họ lại thản nhiên đối mặt với những bất công này — trong ba năm ở Đông Hoản, tôi chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ ai nói bất kỳ lời luận điệu nữ quyền nào. Có lẽ họ mặc định rằng mọi người sống đều không dễ dàng gì. Khe rãnh duy nhất quan trọng nằm giữa nông thôn và thành phố: một khi bạn vượt qua được vạch kẻ này, liền có thể thay đổi vận mệnh của mình.
Xuân Minh thăng tiến rất dễ dàng. Năm 1995, cô nhảy việc sang một xưởng làm súng nước và súng BB ở nơi hẻo lánh hơn của Đông Hoản. Cuối cùng cô cũng học được tiếng Quảng Đông. Trong vòng một năm, lương của cô tăng từ ba trăm tệ một tháng lên sáu trăm năm mươi tệ, rồi lên tám trăm tệ, sau đó là một nghìn tệ. Cô phát hiện ra các lãnh đạo bộ phận làm cùng công việc với cô, nhưng lại nhận nhiều lương hơn cô. Nếu ông không tăng lương cho tôi lên một nghìn năm trăm tệ một tháng, cô viết thư cho ông chủ, tôi sẽ không làm nữa. Cuối cùng cô cũng đạt được mục đích; xưởng này trước đây chưa từng có ai được tăng năm trăm tệ lương một lần. Nhưng Xuân Minh không thỏa mãn với việc thăng chức tăng lương. Cô bước vào một thế giới mới, ở đó cô còn phải học nhiều hơn.
Việc đối nhân xử thế lập tức trở nên phức tạp. Ở làng, mối quan hệ giữa người với người được quyết định bởi quan hệ huyết thống và lịch sử gia tộc chung. Ở trường, trên dây chuyền sản xuất, địa vị mọi người đều thấp như nhau. Nhưng một khi ai đó thăng tiến trong giới làm thuê, sự cân bằng quyền lực thay đổi, sẽ gây ra bất an. Bạn bè có thể trở thành ông chủ; cô gái trẻ có thể được cất nhắc trước cả bạn trai.
Ngày 26 tháng 3 năm 1996
Từ sự thăng tiến lần này của tôi, khiến tôi nhìn thấy muôn mặt nhân sinh, có người vỗ tay tán thưởng, có người ghen tị, có người chúc mừng, có người chúc phúc, cũng có người đố kỵ, cũng có người không phục…
Còn những người ghen tị với tôi đó… thì coi nó như hòn đá cản đường trên hành trình tiến tới mà đá bay nó đi, tiếp tục đi thôi. Sau này còn có những kẻ đố kỵ hơn nữa!
Để lại ấn tượng tốt đầu tiên cho người lạ trở nên quan trọng. Xuân Minh nghiên cứu những người cấp cao trong xưởng, chăm chú như nhà sinh vật học nghiên cứu tiêu bản. Khi người đứng đầu bộ phận nhân sự phát biểu, Xuân Minh quan sát thấy ông ta rất căng thẳng, tay run rẩy. Trong dịp Tết, một quản lý xưởng giả vờ không nhìn thấy Xuân Minh, cho đến khi cô dũng cảm tiến lên chúc ông năm mới vui vẻ; người quản lý phản hồi nhiệt tình, còn đưa cho cô một phong bao lì xì mười tệ. Từ chuyện này… tôi hiểu ra: một số người mà bạn luôn nghĩ là khó gần, thực ra không phải vậy, chỉ cần bản thân bạn trở nên dễ gần hơn một chút là được.
Kế hoạch tái tạo bản thân của Xuân Minh lại nâng lên một tầm cao mới. Trong nhật ký, cô không còn ghi chép chi tiết trong cuộc sống nữa, mà chép lại những danh ngôn khiến mình biến thành một người khác, để hoàn thành nhiệm vụ này cô đọc rất rộng, ngay cả khi đôi khi những thứ đọc được không mấy thống nhất trước sau.
Tự tin, tinh tế, đoan trang, thanh lịch, là hình tượng mà phụ nữ nghề nghiệp nên xây dựng.
Mười ba nguyên tắc đạo đức của Franklin
1. Tiết độ: Ăn không quá no, uống không quá độ.
2. Tĩnh lặng: Với người không có ích thì cấm nói chuyện vụn vặt.
3. Trật tự: Đặt vật có vị trí, làm việc có thời gian.
4. Quyết đoán: Quyết định làm việc cần làm, không khuất phục khó khăn.
5. Giản dị: Không tiêu tiền lãng phí, tiêu tiền nên vào việc có ích cho bản thân và người khác.
Tiếp nhận phê bình
1. Người khác phê bình bạn, bạn phải bình tâm, hơn nữa hiểu rõ biểu đạt rằng bạn đang lắng nghe. Còn việc bạn có đồng ý hay không, đợi sau khi họ nói xong rồi bạn hãy nói.
2. Mắt nhìn vào người đang nói chuyện với bạn.
3. Đối với người vừa phê bình bạn, dù thế nào bạn cũng không được phê bình ngược lại họ.
4. Đừng ủ rũ, điều này sẽ làm người khác không biết phải làm sao.
5. Đừng đùa cợt.
Lý tưởng trong nhật ký của Xuân Minh hoàn toàn đảo ngược với thế giới cô đang sống. Trong bảng truyền cảm hứng của cô có một mục "Mười lăm đặc điểm của lãnh đạo không đủ năng lực" hoàn toàn có thể thay bằng tiêu đề khác là "Làm thế nào để làm ông chủ ở Đông Hoản", ví dụ như điều thứ ba:
Bận rộn với chuyện nhỏ, tham gia vào tất cả mọi việc.
Cũng như điều thứ mười lăm:
Khi tập thể được trao thưởng hoặc khen thưởng, ông ta là người đầu tiên trong danh sách, ngồi ở vị trí hàng đầu trên sân khấu.
Cô báo danh một lớp hàm thụ để học thư ký, nhưng bỏ dở giữa chừng, vì sách giáo khoa trông quá khó. Kế hoạch học quan hệ công chúng cũng thất bại.
Bạn dự định học quan hệ công chúng như thế nào?
Đáp: Muốn học tốt quan hệ công chúng, trước hết phải học cách làm người.
Xuân Minh từng quyết định tự học tiếng Anh. Cô lập một bảng từ vựng —
ABLE: có năng lực
ABILITY: năng lực
ADD: thêm vào
AGO: trước đây
ALWAYS: luôn luôn
AGREE: đồng ý
AUGUST: tháng tám
BABY: trẻ sơ sinh
BLACK: màu đen
BREATH: hơi thở
— nhưng đã bỏ cuộc trước khi học đến chữ C.
Việc phải học quá nhiều, quy tắc tiến bộ trong nhật ký rối bời thành một đống. 60% người không có mục tiêu. Vẽ phấn mắt, rực rỡ ánh hào quang: phối hợp với màu đen xám, vàng kim, xanh bảo thạch, đỏ tươi. Có thể giặt khô: "A" đại diện cho tất cả chất tẩy rửa đều có thể dùng. Hỏi thăm lẫn nhau là chất xúc tác và dầu bôi trơn của trò chuyện. Khi uống súp đừng để thìa va chạm vào đĩa. Người không đọc sách thì ngôn từ nhạt nhẽo, diện mạo đáng ghét.
Vì mẹ không ở bên cạnh, giới làm thuê sẽ tìm kiếm lời khuyên và chỉ dẫn từ những nơi khác. Các tạp chí dành cho giới làm thuê xuất hiện vào giữa thập niên 90, đặc biệt là ở các thành phố sản xuất ở miền Nam Trung Quốc. Tạp chí được in trên giấy tin tức thô ráp, giá khoảng bốn tệ một tờ. Tạp chí dành cho người làm thuê khảo sát điều kiện làm việc của người lao động ngoại tỉnh, và cung cấp các đề xuất tư vấn về mặt pháp lý, tìm việc và tình cảm. Dùng ngôi thứ nhất để mô tả lại những trải nghiệm cuộc đời của từng người làm thuê, câu chuyện luôn theo một mô típ: một cô gái đến thành phố, chịu thương chịu khó đạt được thành công, hoặc là tự mở công ty, hoặc là mua được nhà. Hoặc, một cô gái đến thành phố, rơi vào bể khổ, điển hình là đi theo một người đàn ông vừa lười vừa không chung thủy, hoặc đã kết hôn và có con. Nhân vật nữ chính như được lấy cảm hứng từ các tác phẩm của các tiểu thuyết gia đặt nền móng cho truyền thống văn học phương Tây đương đại như Theodore Dreiser, Edith Wharton và Henry James. Nhưng giữa những dòng chữ của tạp chí dành cho người làm thuê, ẩn ý của những câu chuyện này luôn giống nhau: Bạn chỉ có thể dựa vào chính mình.
Mỗi câu chuyện thành công đều kết thúc bằng thắng lợi của cá nhân, hơn nữa đều có thể định lượng hóa thành sổ sách kế toán: doanh thu hàng tháng của công ty bao nhiêu, hoặc nhà có mấy mét vuông. Trong một câu chuyện "Tham vọng tạo nên tôi", một cô bảo mẫu tự học đọc viết, dựa vào việc bán kem que, vận chuyển hàng hóa, cắt tóc cho người khác và bán bảo hiểm để nuôi bản thân và em trai học xong đại học. Khi câu chuyện kết thúc, cô đã là một trưởng bộ phận kinh doanh của công ty bảo hiểm, còn có một căn nhà một trăm hai mươi mét vuông. Một bài khác "Làm chủ bản thân", một cô gái làm thợ làm tóc hai năm mà không nhận một xu tiền lương, chỉ để học cho thành nghề, cuối cùng mở tiệm làm tóc của riêng mình. Doanh thu hàng tháng ba nghìn tệ, tiền thuê sáu trăm, thuế một trăm, còn lại đều là của cô ấy. Còn một bài "Cô gái muốn quay phim truyền hình", một cô gái bắt đầu từ những việc vặt thấp kém nhất ở văn phòng, cần cù chăm chỉ — cô thường xuyên gõ máy liên tục mười tiếng không nghỉ — cuối cùng trở thành phó tổng của một công ty giải trí, còn sở hữu một căn nhà bảy mươi mét vuông.
Con đường thành công dài đằng đẵng và gian nan, nhiều người bị lạc phương hướng trên đường. Một cô gái có thể mơ ước tìm được một người đàn ông yêu cô, ủng hộ cô. Nhưng đây luôn là đường tà.
Tôi về nhà, khóc rống lên, không dám tin người yêu đích thực của mình lại là một kẻ lừa đảo đại tài.
Hắn nhắm vào việc tôi dễ bị lừa như thế nào.
Nếu bây giờ tôi rời xa hắn trong bộ dạng này, ai còn muốn tôi nữa đây?
Bài viết cũng mô tả những nỗi khổ đủ kiểu của cuộc sống làm thuê. Một cô gái lẻn vào nhà vệ sinh của McDonald’s, vì nhà cô cơ sở vật chất quá tồi tàn: môi trường nhà vệ sinh của McDonald’s quá tốt. Không chỉ cực kỳ sạch sẽ, còn có giấy vệ sinh và máy sấy tay. Một người làm thuê xấu hổ không dám nói với ông chủ là mình không mua nổi điện thoại di động. Mà những người may mắn tìm được công việc văn phòng lại phát hiện ra những gì sâu xa bên trong cũng tàn khốc như những gì Darwin mô tả:
Vì một số khách hàng của tôi không thanh toán hết tiền, công ty bắt tôi phải chịu trách nhiệm thu tiền, ba mươi phần trăm lương hàng tháng của tôi phải ký gửi ở công ty, cho đến khi khách hàng thanh toán hết tiền. Điều này có hợp lý không?
Công ty chúng tôi quy định mỗi tháng sa thải người có thành tích kinh doanh kém nhất. Điều này có hợp pháp không?
Có những lúc, ẩn ý về việc tự dựa vào bản thân này hơi quá đà. Có một bài viết nói về một cô bảo mẫu bị phạt thể xác, nhưng không tập trung vào tình cảnh yếu thế của người giúp việc gia đình, mà lại ca ngợi lòng dũng cảm khi cô trốn khỏi nhà chủ. Người duy nhất có thể cứu Vương Lệ chính là Vương Lệ. Có một bài báo khi viết về một vụ hỏa hoạn chết người trong trung tâm thương mại đã né tránh những chủ đề quan trọng hơn — chất lượng tòa nhà thấp kém và thiếu biện pháp phòng chống thiên tai — tránh không bàn tới, mà lại dạy người ta những mẹo nhỏ để sống sót trong lửa: khi lửa cháy trên người thì phải cởi quần áo hoặc lăn lộn trên đất để dập lửa.
Trái ngược với kiểu giáo điều không thay đổi của truyền thông Trung Quốc, tạp chí dành cho giới làm thuê đã khai phá một mảnh đất mới. Họ không kiên trì với những cái kết viên mãn đó. Nhiều câu chuyện kết thúc bằng nỗi buồn hoặc sự bối rối. Trong thế giới họ mô tả, con người lừa gạt lẫn nhau, đối với những người cô đơn hoặc lạc lối, họ đứng ngoài cuộc. Họ chưa bao giờ đề cập đến những luật lệ nào cần sửa đổi, những hành vi nào cần cải thiện, họ cũng chưa bao giờ nhắc đến chính phủ. Điều họ viết, chính là phải sống như thế nào trong một thế giới như vậy.
Mùa hè năm 1996, Xuân Minh viết trong nhật ký:
Bạn à, chúng ta khi sinh ra nghèo khó, không phải là lỗi của chúng ta. Nhưng nghèo đến chết là tội lỗi.
Trong quá trình sống, chúng ta đã nỗ lực chưa, đã kiên trì phấn đấu chưa? Muốn trở thành một người bán hàng đa cấp thành công, phải thực hiện thật tốt bốn điều dưới đây:
1. Phải có quyết tâm.
2. Phải có một mục tiêu rõ ràng.
3. Phải nghiên cứu sâu sắc và hiểu thấu đáo kiến thức sản phẩm và kế hoạch kinh doanh của công ty.
4. Phải học kỹ năng bán hàng đa cấp.
Mùa hè năm đó, một người bạn ở xưởng đưa Xuân Minh tham gia một buổi diễn thuyết đã thay đổi cuộc đời cô. Người diễn thuyết làm việc cho một công ty có tên là "Nhật dụng Hoàn Mỹ". Hoàn Mỹ bán thực phẩm chức năng tốt cho sức khỏe, nhưng những gì nó thực sự cung cấp, là giấc mơ về sự giàu có và thành tựu cá nhân được đóng gói trong hai chữ thần kỳ "đa cấp". Đa cấp không phân biệt rõ ràng giữa bán hàng trực tiếp hợp pháp và lừa đảo kim tự tháp. Tham nhũng, thứ đôi khi dường như tồn tại trong không khí mà con người hít thở hàng ngày, cũng dần dần thấm vào ngôn ngữ họ sử dụng.
Xuân Minh bắt đầu bán sản phẩm sức khỏe Hoàn Mỹ để bù đắp thu nhập, phần lớn bán cho đồng nghiệp trong xưởng. Cô mua băng ghi âm của công ty Hoàn Mỹ, tham gia các buổi diễn thuyết của Hoàn Mỹ. Nhật ký của cô biến thành sổ tay bán hàng Hoàn Mỹ, xen lẫn những phương pháp dưỡng sinh kỳ lạ.
Thành bại của một vụ làm ăn nằm ở ba giây đầu tiên khi gặp mặt.
Khi nói chuyện phải chú ý mắt của đối phương.
Một ngày làm quen ba người.
Khoáng chất lô hội có thể điều chỉnh năm hệ thống lớn của cơ thể con người.
Rụng tóc là do trong cơ thể thiếu đồng.
Cuối năm 1996, Xuân Minh đã làm một công việc có ảnh hưởng rất lớn trong xưởng, làm trưởng bộ phận tổng vụ, nhưng cô từ chức công việc này, toàn tâm toàn ý dấn thân vào bán sản phẩm Hoàn Mỹ. Cô chi mười nghìn tệ tiền tiết kiệm để thuê phòng họp và thiết bị cho các khóa đào tạo. Cô thuê các đồng nghiệp cũ ở xưởng tham gia vào mạng lưới của mình, hứa hẹn họ sẽ cùng nhau làm giàu. Trong những trang cuối của cuốn nhật ký, Xuân Minh liệt kê danh sách các nhân viên bán hàng mà cô chiêu mộ được. Nhiều người còn chưa đầy hai mươi tuổi; người lớn nhất trong mạng lưới của cô mới hai mươi lăm tuổi.
Hôm nay, tất cả chúng ta tụ họp ở đây để làm gì? Chẳng qua là để tất cả chúng ta cùng nhau thảo luận một chút: "Con người cả đời rốt cuộc nên sống như thế nào?"
Hãy nghĩ xem, tại sao chúng ta cứ mãi bình thường? Tại sao biết bao nhiêu người vất vả cả đời, cuộc sống trải qua lại không phải là cuộc sống mà mình muốn. Chúng ta từng có ước mơ, cũng từng phấn đấu, nỗ lực, nhưng tại sao những gì chúng ta bỏ ra và thu hoạch lại không cân bằng như vậy? Trên người chúng ta đã xảy ra bao nhiêu điều đáng tiếc!
Sau khi tổng kết và suy ngẫm, chúng ta dần dần hiểu ra một đạo lý, con người muốn phát triển chỉ có thể dựa vào việc nắm bắt cơ hội. Chỉ có ước mơ, có quyết tâm là không đủ… Lựa chọn môi trường không tốt thì sẽ bận rộn vất vả cả đời. Giống như cha mẹ chúng ta đã chọn nghề làm ruộng, vì vậy, bận rộn vất vả cả đời, đến khi đầu bạc trắng, vẫn phải chắt chiu từng đồng tiền mua dầu muối.
Các bạn, chúng ta còn muốn đi lặp lại con đường của cha mẹ không?
Không!
Hãy dành cho chính các bạn một tràng pháo tay!
Công ty bán hàng trực tiếp cất cánh từ Mỹ trong thời kỳ kinh tế bùng nổ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Khác với các nhà bán lẻ truyền thống, các công ty bán hàng trực tiếp như tập đoàn Amway và Avon, bán sản phẩm của họ thông qua các nhà phân phối độc lập thay vì thông qua trung tâm thương mại. Những nhà phân phối này kiếm tiền qua hai kênh: một là thông qua việc tự bán sản phẩm để kiếm lợi nhuận, hai là thông qua việc thuê mạng lưới nhân viên bán hàng, những người này dựa vào thành tích bán hàng để nhận tiền thưởng.
Vào giữa thập niên 90, cơn sốt bán hàng theo mạng càn quét Trung Quốc, một số công ty đa cấp mô phỏng mô hình bán hàng của Mỹ. Một số khác thì thuần túy thu phí gia nhập khổng lồ từ các tuyến dưới mới tuyển vào, và hứa hẹn nếu họ có thể chiêu mộ thêm nhiều thành viên mới, thì có thể phát tài. Đây chính là những vụ lừa đảo kim tự tháp: tiền của họ không phải kiếm được từ việc bán sản phẩm thực thể, mà chỉ dựa vào việc thu phí gia nhập cao. Kiểu lừa đảo này có thể giúp những người vào cuộc sớm nhất kiếm được tiền, nhưng một khi tuyến dưới không đủ thì sẽ sụp đổ, nhiều người vì thế mà mất sạch tiền tiết kiệm.
Bán hàng theo mạng dường như là mô hình lý tưởng được thiết kế riêng cho xã hội Trung Quốc, vì đạo đức truyền thống của xã hội đã sụp đổ, chỉ còn những quy tắc tàn khốc nhất — không tin ai cả, mau kiếm tiền — mới còn tác dụng. Công ty dựa vào mạng lưới quan hệ giữa họ hàng và bạn bè trong gia tộc lớn truyền thống; việc đầu tiên người bán hàng đa cấp làm, thường là dụ dỗ từng người bạn và người thân mua chút đồ. Đảm bảo bạn hài lòng, đảm bảo bạn kiếm được tiền. Họ còn chỉ cho bạn một lộ trình thành công rõ ràng: một ngày làm quen ba người. Ngành nghề này hưng thịnh lên trong các thị trấn nhỏ ở Đồng bằng sông Châu Giang và cộng đồng người làm thuê. Nơi thế giới nông thôn và thế giới thành thị giao nhau, mọi người đều ghen tị với sự thành công của người khác, khao khát chính mình cũng có thể phát đạt. Nếu có một người quen đảm bảo với họ có phương thuốc tiên phát tài ngay lập tức, họ rất dễ sập bẫy.
Sự nở rộ của các công ty đa cấp khiến chính phủ trung ương cảm thấy lo ngại. Một số công ty mua bán hàng giả, hàng lậu thậm chí là hàng kém chất lượng. Trong các buổi đào tạo của họ, những người đứng đầu có sức hút cá nhân thúc đẩy các thành viên lao vào cơn sốt bán hàng như giảng đạo, trông đáng sợ như tà giáo. Một số hành động cực đoan hơn thậm chí đe dọa đến trật tự xã hội. Năm 1994, sau khi một vụ lừa đảo kim tự tháp bán kim cương đến từ Đài Loan sụp đổ, công an đã huy động lực lượng cảnh sát giải tán hàng trăm nhà phân phối đang tức giận. Trung ương cũng thông qua nhiều luật lệ để kiểm soát ngành bán hàng theo mạng, nhưng chính quyền địa phương lại rất ít khi thực thi. Một phần nguyên nhân là vì các công ty này mang lại nguồn thu thuế và cơ hội việc làm rất được chào đón tại địa phương, phần khác là vì làm thêm nghề bán hàng đa cấp cũng là nghề tay trái phổ biến của các cán bộ địa phương.
Đối với Xuân Minh, các buổi họp mặt bán hàng là sân tập để học diễn thuyết. Truyền thống Trung Quốc cho rằng tài ăn nói không phải là kỹ năng quan trọng gì — viết một bài văn hay bằng nét chữ đẹp mới là quan trọng — ở Trung Quốc diễn thuyết thường khiến người ta không dám khen ngợi. Người diễn thuyết thường chỉ đọc bản thảo, mà nội dung thì thường nhạt nhẽo vô vị. Những người như Xuân Minh — trẻ tuổi, từ nông thôn lên, lại là phụ nữ — trước mặt những người có điều kiện tốt hơn mình thì có quá nhiều lý do để giữ im lặng. Nhưng trong một Trung Quốc hiện đại được thúc đẩy bởi thương mại và cạnh tranh, biết cách nói chuyện đã trở thành một kỹ năng bắt buộc.
Các công ty đa cấp truyền thẳng tư duy và cách làm của bản địa Mỹ cho tầng lớp dưới đáy của Trung Quốc. Phong cách diễn thuyết của họ kết hợp giữa cách đọc theo của các nhà truyền giáo ngày xưa và sự ba hoa chích chòe của các diễn giả truyền cảm hứng. Họ lan truyền thông điệp: cá nhân là quan trọng, mỗi người đều là người chiến thắng. Họ cũng mang đến niềm tin rất kiểu Mỹ, đó là sự giàu có và đạo đức có thể cùng song hành.
Trong nhật ký, Xuân Minh thu thập các bản thảo diễn thuyết của mình:
Tôi họ Ngô, tên Ngô Xuân Minh, tên rất phổ biến, cũng rất bình thường, nhưng tôi tin, tôi sẽ khiến tên của mình từ một ngày nào đó trong tương lai trở nên không còn bình thường nữa…
Tôi có một câu hỏi muốn hỏi tất cả mọi người: Bạn à, tương lai bạn muốn trở thành một người như thế nào? Câu hỏi này xứng đáng để chúng ta suy nghĩ một chút. Vậy, hôm nay chúng ta là người như thế nào, có quan trọng không?
Không quan trọng!
Quan trọng là, tương lai bạn muốn trở thành một người như thế nào? Trong số các bạn có rất nhiều người từ nội địa đến Quảng Đông, cũng bao gồm cả bản thân tôi. Chúng ta vượt ngàn dặm, ly hương, ra ngoài làm thuê là vì cái gì?
Kiếm tiền.
Đúng vậy, kiếm tiền. Nhưng, cho đến tận hôm nay, chúng ta đã kiếm được số tiền mà chúng ta muốn kiếm chưa?
Chưa.
Hôm nay cuộc sống chúng ta trải qua là cuộc sống chúng ta muốn trải qua hay là cuộc sống chúng ta có thể trải qua?
Đúng vậy, hôm nay cuộc sống chúng ta trải qua là cuộc sống chúng ta có thể trải qua…
Bạn à, bạn muốn trở thành người như thế nào? Điều này hoàn toàn nằm ở chính bạn. Nếu bạn chưa bao giờ dám nghĩ mình sẽ thành công, thì bạn vĩnh viễn không thể thành công… Quan trọng là bạn phải dám nghĩ, dám muốn…
Thực ra, mỗi người chúng ta đều là sinh mệnh độc nhất vô nhị trên thế giới, cũng không phải sinh ra đã định sẵn là sẽ thất bại, bởi vì chúng ta đều là những người chiến thắng bẩm sinh.
Vì vậy, bạn à, hãy tin tôi! Nhưng quan trọng hơn là phải tin chính bạn. Bởi vì bạn nhất định làm được.
Tại công ty Hoàn Mỹ, Xuân Minh nhanh chóng thăng tiến từ thực tập sinh lên quản lý. Năm 1997, cô từ chức ở Hoàn Mỹ, gia nhập một công ty Đài Loan có tên là Công ty Phát triển Công viên Linh tháp Đường Kinh. Công ty này chuyên xây dựng các tòa nhà cao tầng để đặt tro cốt. Những tòa nhà cao tầng này được gọi là "linh tháp", còn chiêu bài bán hàng của họ với nhu cầu tinh thần và vật chất của con người cũng như niềm đam mê bất động sản của người Trung Quốc quả thực là một cặp trời sinh. Đối với người đã khuất, Công viên Linh tháp Đường Kinh đảm bảo một nơi phong thủy an nghỉ vĩnh hằng. Đối với người còn sống, mấu chốt nằm ở vị trí của công viên tháp cực kỳ tuyệt vời, số lượng chỗ hạn chế, và dân số tăng vọt ở Đồng bằng sông Châu Giang. Nhà đầu tư có thể mua cả tòa linh tháp, rồi phân phối lại cho từng người mua để kiếm lợi nhuận.
Công việc của Xuân Minh là dạy các khóa đào tạo cho nhân viên kinh doanh của công ty. Cô đã học được cách nói chuyện rồi, giờ còn có thể xoay sang dạy người khác — giống như ở xưởng, sản phẩm mà doanh nghiệp bán ra luôn là mặt ít quan trọng nhất. Luận điệu tiếp thị của Xuân Minh kết hợp giáo lý Phật giáo, lợi ích của hỏa táng đối với môi trường, và lợi nhuận chắc chắn gấp ba lần. Cái chết, nói cách khác, là khoản đầu tư dài hạn tốt nhất.
Để tổ tiên chúng ta hoàn thành chặng đường cuối cùng của cuộc đời một cách văn minh, trang nghiêm và tôn kính nhất.
Chỉ riêng Quảng Đông mỗi năm có gần một triệu người qua đời.
Giá vị trí trong tháp loại bình thường của công ty chúng tôi đã tăng từ 3500 tệ vào tháng 7 năm 1995 lên 5600 tệ hiện nay.
Dịch vụ trọn gói (từ hỏa táng đến vào tháp, trải qua siêu độ, v.v.).
Thời hạn kinh doanh: từ ngày 11 tháng 7 năm 1994 đến ngày 10 tháng 7 năm 2044.
Thời gian kinh doanh của Xuân Minh rõ ràng ngắn hơn một chút. Năm 1997 cô lại nhảy việc. Công ty đa cấp mới bán cho hội viên mới mỗi hộp thuốc tạng truyền thống giá một nghìn tệ. Đây là lừa đảo kim tự tháp thuần túy, hoàn toàn triệt để, Xuân Minh vào đúng lúc, kiếm được một khoản tiền thật. Cô phát triển hơn chục tuyến dưới, đều là những người biết kiếm tiền, trong vòng mấy tháng cô đã là tuyến trên của mười nghìn người. Lúc này Xuân Minh kiếm bốn mươi nghìn tệ một tháng, ở Đồng bằng sông Châu Giang năm 1998 là một con số thiên văn. Công ty bắt đầu ép nhựa bản sao lương tuần của cô thành phiên bản phóng to trong suốt, như vậy cô có thể trưng bày nó như một công cụ tạo động lực cho tuyến dưới xem. Xuân Minh về nhà một chuyến, đưa cha mẹ ba mươi nghìn tệ để sửa sang lại ngôi nhà, dán gạch men, mua vài món đồ gia dụng mới và một chiếc tivi 29 inch. Sự thành công của Xuân Minh ở thành phố khiến cô nổi tiếng ở quê nhà. "Ở chỗ chúng tôi ai cũng từng nghe danh tôi," cô nói.
Nhưng ngành bán hàng đa cấp dần mất kiểm soát. Ở Đạm Thủy, cách Đông Hoản sáu mươi cây số, một công ty đa cấp Đài Loan bán máy mát-xa rung chân là cuồng quyết nhất. Để tham gia doanh nghiệp này, mỗi người tham gia phải bỏ ra ba nghìn chín trăm tệ để mua một chiếc máy mát-xa rung chân, giá này gần gấp tám lần giá thị trường. Công ty nói với người tham gia rằng mỗi lần họ phát triển được một tuyến dưới, thì có thể trích bốn mươi phần trăm tiền hoa hồng từ phí gia nhập. Giới làm thuê ồ ạt đổ xô đến Đạm Thủy; có người bán nhà, đồ đạc và bò trong nhà để gom tiền đóng phí gia nhập. Kết quả chứng minh rằng việc bán máy rung chân giá ba nghìn chín trăm tệ ở một huyện nghèo khó không phải là chuyện dễ dàng, chưa kể có hàng nghìn người đều đang làm cùng một việc như thế.
Sau khi trò lừa đảo bị phơi bày, một số hội viên bị lừa đã sử dụng vũ lực với những người lôi kéo họ tham gia, trong khi những người khác lại biểu tình trước các tòa nhà chính phủ để đòi lại tiền. Công an đã điều động lực lượng để trấn an đám đông gây rối, lập lại trật tự và đưa những người lao động về nhà. Lúc này, những kẻ tổ chức đã sớm chuyển đến nội địa, tiếp tục nghề cũ tại một huyện ở Hồ Nam, lôi kéo thêm khoảng ba mươi ngàn hội viên trước khi trò lừa đảo một lần nữa sụp đổ.
Tháng 4 năm 1998, nội các của Thủ tướng Chu Dung Cơ ra lệnh cho tất cả các công ty bán hàng đa cấp phải ngừng hoạt động. Hơn hai ngàn công ty đóng cửa, một ngành nghề vốn chống lại sự giám sát của chính phủ suốt nhiều năm trời bỗng chốc sụp đổ hoàn toàn. Xuân Minh nhận ra mình đã thất nghiệp; cuộc sống giàu sang của cô chỉ vừa mới kéo dài được đúng hai tháng. Biến cố lần này đã giáng một đòn mạnh vào cô, và cô cũng biết phải đổ lỗi cho ai. "Sau khi Chu Dung Cơ lên nắm quyền," cô nói, "ông ấy không cho phép làm đa cấp nữa, thế nên tôi không làm nữa." Ở vùng Châu thổ sông Châu Giang không gì kiêng dè, nơi mà Xuân Minh học cách ăn nói, nơi mà thương mại là vua, nơi mà ai ai cũng là người chiến thắng và nghèo đói là một cái tội, thì cánh tay vươn dài của chính phủ cuối cùng cũng đã chạm đến cuộc sống của cô, và điều đáng ngạc nhiên là, đây lại chính là lần đầu tiên.