Chân dung nghệ sĩ thời trẻ

Lượt đọc: 13 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

Hắn cạn sạch chén trà nhạt thứ ba đến tận cặn rồi ngồi nhai những mẩu bánh mì rán vương vãi gần đó, thẫn thờ nhìn vào vũng nước sẫm màu trong chiếc hũ. Lớp mỡ vàng đã bị khoét lõm đi trông như một hũng bùn lầy, và vũng nước bên dưới gợi lại trong trí nhớ hắn làn nước sẫm màu có màu bùn của bồn tắm ở Clongowes. Hấp bánh cầm cố để bên khuỷu tay vừa bị lục lọi, và hắn thẫn thờ cầm từng chiếc thẻ nhận đồ màu xanh và trắng bằng những ngón tay dính mỡ của mình—những tấm thẻ chi chít chữ viết nguệch ngoạc, rắc cát, nhàu nát và mang tên người đi cầm đồ như Daly hay MacEvoy.

1 Đôi ủng cao cổ.

1 Áo khoác nam.

3 Món đồ và Đồ trắng.

1 Quần nam.

Rồi hắn đặt chúng sang một bên, đăm đăm nhìn chiếc nắp hộp lấm tấm dấu vết của rận chí, và hỏi một cách bâng quơ:

—Bây giờ đồng hồ chạy nhanh bao nhiêu rồi?

Mẹ hắn dựng thẳng chiếc đồng hồ báo thức bị móp méo đang nằm nghiêng ở giữa bệ lò sưởi cho đến khi mặt số chỉ mười hai giờ kém mười lăm, rồi lại đặt nó nằm nghiêng xuống như cũ.

—Nhanh một tiếng hai mươi lăm phút, bà đáp. Giờ chuẩn bây giờ là mười giờ hai mươi. Chúa mới biết được là con có thể cố gắng đến dự các buổi giảng đúng giờ hay không.

—Đổ nước ra chậu cho con rửa mặt đi, Stephen nói.

—Katey, đổ nước ra chậu cho Stephen rửa mặt đi.

—Boody, đổ nước ra chậu cho Stephen rửa mặt đi.

—Em chịu, em đang đi mua bột giặt xanh. Chị đổ đi, Maggy.

Khi chiếc chậu tráng men đã được đặt gọn vào lòng bồn rửa và miếng giẻ rửa mặt cũ kỹ được vắt lên thành chậu, hắn để mặc mẹ cọ cổ, thọc vào các nếp tai và những khe hốc ở hai bên cánh mũi mình.

—Thật là một hoàn cảnh đáng buồn, bà nói, khi một sinh viên đại học mà bẩn thỉu đến mức mẹ phải rửa mặt cho.

—Nhưng điều đó làm mẹ vui mà, Stephen bình thản đáp.

Một tiếng còi nhức óc vang lên từ trên lầu và mẹ hắn nhét một chiếc áo choàng ẩm ướt vào tay hắn, bảo:

—Lau người rồi mau ra ngoài đi, vì tình thương của Chúa.

Tiếng còi thứ hai chói tai, kéo dài đầy bực dọc, khiến một trong hai cô con gái chạy ra chân cầu thang.

—Dạ, thưa bố?

—Cái thằng con trời đánh lười nhác của mày đã biến đi chưa?

—Dạ rồi, thưa bố.

—Chắc chắn chưa?

—Dạ rồi, thưa bố.

—Hừ!

Cô con gái quay lại, ra hiệu cho hắn nhanh chân và lặng lẽ đi ra bằng cửa sau. Stephen bật cười và nói:

—Bố có một quan niệm kỳ lạ về giống ngữ pháp nếu lão nghĩ "con chó cái" lại là giống đực.

—À, thật là một nỗi hổ thẹn đáng xấu hổ cho con đấy, Stephen, mẹ hắn nói, rồi con sẽ phải sống để mà hối hận cái ngày con đặt chân đến cái xó đó. Mẹ biết nó đã làm con thay đổi thế nào rồi.

—Chào mọi người nhé, Stephen mỉm cười nói và hôn những đầu ngón tay chào tạm biệt.

Con hẻm đằng sau dãy nhà ngập nước, và khi hắn chậm rãi bước đi, dò dẫm từng bước giữa những đống rác ướt, hắn nghe thấy tiếng một nữ tu điên đang gào thét trong nhà thương điên của các nữ tu ở bên kia bức tường.

—Chúa ơi! Ôi Chúa ơi! Chúa ơi!

Hắn lắc đầu giận dữ để xua đi âm thanh đó khỏi tai rồi rảo bước, vấp váp qua những thứ phế thải đang mục rữa, trái tim đã sớm bị gặm nhấm bởi nỗi đau đớn của sự chán ghét và cay đắng. Tiếng còi của cha hắn, những lời lẩm bẩm của mẹ hắn, tiếng gào thét của một kẻ mất trí vô hình giờ đây đối với hắn chẳng khác nào những thứ âm thanh xúc phạm và đe dọa làm nhụt đi niềm kiêu hãnh của tuổi trẻ. Hắn xua đuổi cả những âm vang ấy khỏi trái tim mình bằng một lời nguyền rủa; nhưng khi hắn bước đi dọc theo đại lộ và cảm nhận ánh sáng ban mai xám xịt rơi rớt quanh mình qua những tán cây đẫm nước, ngửi thấy mùi hương hoang dã kỳ lạ của lá ướt và vỏ cây, tâm hồn hắn đã được giải thoát khỏi những khổ đau.

Những hàng cây trĩu nặng nước mưa của đại lộ gợi lên trong lòng hắn, như mọi khi, những ký ức về các thiếu nữ và người phụ nữ trong các vở kịch của Gerhart Hauptmann; và ký ức về nỗi buồn nhợt nhạt của họ cùng hương thơm rơi xuống từ những cành cây đẫm nước hòa quyện vào nhau trong một tâm trạng niềm vui tĩnh lặng. Cuộc đi bộ buổi sáng qua thành phố của hắn đã bắt đầu, và hắn biết trước rằng khi đi ngang qua vùng bãi sình Fairview, hắn sẽ nghĩ đến thứ văn xuôi đan cài ánh bạc mang đậm nét tu viện của Newman; rằng khi bước đi dọc theo Đường Bắc Strand, thẫn thờ nhìn qua những khung cửa sổ của các tiệm tạp hóa, hắn sẽ hồi tưởng lại sự hài hước đen tối của Guido Cavalcanti và mỉm cười; rằng khi đi qua xưởng đẽo đá của Baird ở Quảng trường Talbot, tinh thần của Ibsen sẽ thổi qua hắn tựa như một cơn gió sắc lạnh, một tinh thần đầy vẻ đẹp trai trẻ ngỗ ngược; và rằng khi đi ngang qua một cửa hàng đồ cũ dơ dáy ở bên kia sông Liffey, hắn sẽ lẩm đọc bài thơ của Ben Jonson bắt đầu bằng câu:

Ta nào có mệt mỏi hơn khi nằm nơi chốn ấy.

Tâm trí hắn khi mệt mỏi vì mải miết tìm kiếm bản chất của cái đẹp giữa những từ ngữ ma quái của Aristotle hay Aquinas thường tìm đến niềm vui trong những khúc ca thanh tao của thời đại Elizabeth. Tâm trí hắn, trong vỏ bọc của một tu sĩ hoài nghi, thường đứng trong bóng râm dưới những khung cửa sổ của thời đại ấy, để lắng nghe âm nhạc trang nghiêm và chế nhạo của những người chơi đàn luýt hay tiếng cười sảng khoái của đám người diện áo gile, cho đến khi một tiếng cười quá đỗi khôi hài, một cụm từ bị thời gian làm vấy bẩn về chuyện buồng the và danh dự huyễn hoặc đâm chọc vào niềm kiêu hãnh tu sĩ của hắn và xua hắn rời khỏi chỗ nấp.

Kho tàng tri thức mà người ta vẫn đinh ninh rằng hắn dành trọn cả ngày để nghiền ngẫm đến mức khiến hắn tách rời khỏi bè bạn tuổi trẻ kỳ thực chỉ là một nhúm câu văn mảnh mai rút từ các tác phẩm về thi pháp và tâm lý học của Aristotle cùng cuốn Synopsis Philosophiæ Scholasticæ ad mentem divi Thomæ. Tư duy của hắn là một chập chạng hoài nghi và tự ti, thỉnh thoảng được thắp sáng bởi những tia chớp trực giác—nhưng là những tia chớp rực rỡ đến mức trong khoảnh khắc ấy, thế giới quanh chân hắn lụi tàn như thể đã bị lửa thiêu rụi; và sau đó, lưỡi hắn trở nên nặng nề và hắn đối mặt với ánh mắt của người khác bằng đôi mắt vô cảm, bởi hắn cảm thấy tinh thần của cái đẹp đã quấn lấy hắn như một tấm choàng và rằng ít nhất trong những giấc mơ màng, hắn đã từng quen thuộc với sự cao quý. Nhưng khi niềm kiêu hãnh ngắn ngủi của sự im lặng ấy không còn nâng đỡ hắn nữa, hắn lại vui mừng khi thấy mình vẫn đang ở giữa những cuộc đời bình dị, tiếp tục bước đi giữa cảnh tượng nghèo nàn, ồn ào và lười nhác của thành phố một cách không sợ hãi và với một tâm hồn nhẹ nhõm.

Gần những tấm bảng quảng cáo bên bờ kênh, hắn gặp người đàn ông mắc bệnh lao với khuôn mặt búp bê và chiếc mũ không vành đang bước về phía mình xuống con dốc của cây cầu bằng những bước chân nhỏ, chiếc áo khoác màu sô-cô-la cài cúc chặt, tay cầm chiếc ô gấp sát người như một chiếc gậy tầm long. Chắc là mười một giờ rồi, hắn nghĩ thắc mắc, và ngó vào một tiệm bán sữa để xem giờ. Chiếc đồng hồ trong tiệm cho hắn biết rằng lúc đó là năm phút nữa là đến năm giờ, nhưng khi hắn quay đi, hắn nghe thấy tiếng đồng hồ ở đâu đó gần đó, dù không thấy mặt, điểm mười một tiếng với độ chính xác nhanh gọn. Hắn bật cười khi nghe thấy tiếng chuông ấy bởi nó làm hắn nhớ đến MacCann; và hắn nhìn thấy lão ta, một gã thấp lùn mặc áo khoác săn và quần ống lâu cùng chòm râu dê vàng nhạt, đứng trong gió ở góc đường Hopkins, và nghe lão ta nói:

—Dedalus, anh là một kẻ phi xã hội, chỉ biết thu mình lại. Tôi thì không. Tôi là một người theo chủ nghĩa dân chủ và tôi sẽ làm việc và hành động vì tự do xã hội và sự bình đẳng giữa mọi tầng lớp và giới tính trong Hợp chủng quốc Châu Âu của tương lai.

Mười một giờ! Thế thì hắn đã đến lớp giảng đó muộn mất rồi. Hôm nay là thứ mấy nhỉ? Hắn dừng lại trước một tiệm báo để đọc dòng tựa đề trên một tấm áp phích. Thứ Năm. Mười giờ kém mười môn Tiếng Anh; mười một đến mười hai giờ môn Tiếng Pháp; mười hai đến một giờ môn Vật lý. Hắn tự tưởng tượng ra buổi giảng môn Tiếng Anh và cảm thấy, ngay cả từ khoảng cách đó, sự bồn chồn và bất lực. Hắn nhìn thấy đầu những người bạn học cúi xuống ngoan ngoãn khi họ viết vào vở những điểm mà họ được yêu cầu ghi nhớ, các định nghĩa danh nghĩa, định nghĩa bản chất và các ví dụ hoặc ngày sinh ngày mất, những tác phẩm chính, một lời phê bình thuận lợi và một lời phê bình bất lợi đặt cạnh nhau. Đầu hắn thì không cúi xuống bởi tâm trí hắn lang thang đi đâu mất, và dù hắn nhìn quanh lớp học nhỏ bé hay nhìn qua cửa sổ ra khu vườn hoang vắng của khoảng sân xanh, một thứ mùi ẩm mốc lạnh lẽo và mục rữa từ dưới hầm xộc thẳng vào hắn. Một cái đầu khác không phải của hắn, ngay trước mặt hắn ở những hàng ghế đầu, ngẩng cao bệ vệ phía trên những người bạn cùng cúi đầu giống như cái đầu của một vị linh mục đang tha thiết hướng về nhà tạm để cầu xin cho những tín đồ khiêm nhường quanh mình. Tại sao lại thế nhỉ, mỗi khi nghĩ đến Cranly, hắn chẳng bao giờ có thể hình dung ra toàn bộ cơ thể của bạn mình trong tâm trí mà chỉ thấy mỗi cái đầu và khuôn mặt? Ngay lúc này đây, tựa như tấm màn xám xịt của buổi ban mai, hắn nhìn thấy nó trước mặt mình như bóng ma của một giấc mơ, khuôn mặt của một chiếc đầu bị chặt đứt hoặc chiếc mặt nạ tử thi, đội trên trán mái tóc đen cứng ngược lên như một chiếc vương miện bằng sắt. Đó là khuôn mặt giống linh mục, giống linh mục ở độ tái nhợt, ở chiếc mũi cánh rộng, ở những vùng bóng tối bên dưới đôi mắt và dọc theo phần hàm, giống linh mục ở đôi môi dài không chút máu và mỉm cười nhạt; và Stephen, chợt nhớ lại cách mình từng kể cho Cranly nghe về mọi sự hỗn độn, bất an và khao khát trong tâm hồn mình, ngày này qua ngày khác, đêm này qua đêm khác, để rồi chỉ nhận lại sự im lặng lắng nghe từ người bạn, suýt tự nhủ rằng đó là khuôn mặt của một vị linh mục tội lỗi đang lắng nghe lời xưng tội của những kẻ mà hắn không có quyền ban ơn tha thứ, nhưng rồi hắn lại cảm nhận được trong ký ức cái nhìn từ đôi mắt đen đậm chất nữ tính của nó.

Thông qua hình ảnh này, hắn có được một cái nhìn thoáng qua về cái hang động suy tư kỳ lạ tăm tối nhưng lập tức quay đi, cảm thấy rằng chưa phải lúc để bước vào đó. Thế nhưng bóng tối từ sự thờ ơ của người bạn dường như đang lan tỏa vào bầu không khí quanh hắn một thứ hơi thở mỏng manh và chết chóc, và hắn thấy mình đang lướt nhìn từ từ khóa bất cẩn này sang từ khóa khác ở bên phải hay bên trái với sự kinh ngạc đờ đẫn rằng chúng đã bị rút ruột lặng lẽ đến mức nào khỏi thứ ý nghĩa tức thời, cho đến khi mọi câu chữ tầm thường của cửa hiệu trói buộc tâm trí hắn như những lời bùa chú và tâm hồn hắn quắt quay thở dài trong sự già cỗi khi hắn bước đi trong một con hẻm giữa những đống ngôn ngữ đã chết. Nhận thức của chính hắn về ngôn ngữ đang rút dần khỏi bộ não và rỉ máu vào chính những từ ngữ đang tự sắp xếp rồi tan rã trong những nhịp điệu ngẫu hứng:

Dây thường xuân rên rỉ trên tường,

Và rên rỉ rồi quấn quýt trên tường,

Dây thường xuân vàng trên tường,

Thường xuân, thường xuân leo lên tường.

Có ai từng nghe thấy thứ nhảm nhí nào như thế chưa? Lạy Chúa toàn năng! Ai từng nghe thấy thường xuân rên rỉ trên tường bao giờ? Thường xuân vàng; thế thì còn tạm được. Ngà voi vàng cũng thế. Thế còn ngà voi thường xuân thì sao?

Từ ngữ lúc này bừng sáng trong bộ não hắn, rõ ràng và rực rỡ hơn bất kỳ khúc ngà nào được cưa ra từ chiếc ngà loang lổ của loài voi. Ivory, ivoire, avorio, ebur. Một trong những ví dụ đầu tiên hắn được học khi học tiếng Latinh là: India mittit ebur; và hắn nhớ lại khuôn mặt sắc sảo mang nét xứ lạnh của vị hiệu trưởng từng dạy hắn dịch các tác phẩm Metamorphoses của Ovid sang một thứ tiếng Anh tao nhã, trở nên kỳ quặc bởi những câu chuyện nhắc đến heo thịt, mảnh gốm vỡ và những dải thịt xông khói. Hắn đã học được chút ít kiến thức về luật thơ Latinh từ một cuốn sách rách nát do một vị tu sĩ người Bồ Đào Nha viết.

Contrahit orator, variant in carmine vates.

Những cuộc khủng hoảng, chiến thắng và phân ly trong lịch sử La Mã được truyền lại cho hắn qua những từ ngữ sáo rỗng như in tanto discrimine, và hắn từng cố gắng dòm ngó vào đời sống xã hội của thành phố của muôn thành phố thông qua cụm từ implere ollam denariorum mà vị hiệu trưởng đã giảng giải một cách vang dội là việc nhồi đầy một cái vò bằng tiền đinh-ri. Những trang sách Horace sờn cũ của hắn chẳng bao giờ mang lại cảm giác lạnh ngắt khi chạm vào ngay cả khi những ngón tay hắn tê buốt; đó là những trang sách mang tính con người, và năm mươi năm trước chúng đã từng được lật giở bởi những ngón tay phàm trần của John Duncan Inverarity và người em trai ông, William Malcolm Inverarity. Phải, đó là những cái tên cao quý trên trang lót sách sẫm màu, và dẫu cho hắn chỉ là một kẻ dốt đặc cán mai về tiếng Latinh đi chăng nữa, những vần thơ sẫm màu ấy vẫn ngát hương như thể chúng đã nằm suốt những năm tháng ấy giữa hoa sim, oải hương và cỏ roi ngựa; thế nhưng điều đó vẫn nhói buốt tâm can hắn khi nghĩ rằng mình sẽ mãi chỉ là một vị khách rụt rè tại bữa tiệc văn hóa của nhân loại, và rằng học thức của tu sĩ—thứ mà hắn đang dùng để cố gắng tạo dựng một triết lý thẩm mỹ—lại không được thời đại hắn đang sống đánh giá cao hơn những thứ biệt ngữ tinh vi và kỳ quái của thuật gia phả học hay thuật nuôi chim ưng.

Khối đá xám của trường Trinity bên trái hắn, cắm chặt vào sự dốt nát của thành phố giống như một viên đá xỉn màu được đính trên chiếc nhẫn cồng kềnh, kéo tâm trí hắn chùng xuống, và trong lúc hắn đang vùng vẫy tứ phía để giải thoát đôi chân khỏi xiềng xích của lương tâm cải cách, hắn bắt gặp bức tượng kỳ quặc của nhà thơ quốc gia Ireland.

Hắn nhìn nó không một chút giận dữ; bởi vì, dù sự lười nhác của thể xác và tâm hồn đang bò lổm ngổm trên đó như những con ký sinh trùng vô hình, bò qua những bước lê lết và ngược lên các nếp áo choàng rồi quanh cái đầu khom lưng, nó dường như vẫn khiêm nhường nhận thức được sự tủ nhục của mình. Đó là một gã Firbolg khoác chiếc áo choàng đi mượn của một người Milesian; và hắn nghĩ đến người bạn Davin của mình, chàng sinh viên nhà nông. Đó là một cái tên trêu chọc giữa họ, nhưng chàng thanh niên nhà nông đón nhận nó một cách nhẹ nhàng:

—Cứ việc đi, Stevie, anh bảo đầu tôi cứng mà. Cậu muốn gọi tôi thế nào cũng được.

Cách gọi tên thánh thân thuộc từ cửa miệng người bạn đã khiến Stephen cảm thấy ấm lòng khi lần đầu nghe thấy, bởi vì hắn vốn là kẻ ăn nói khách sáo với người khác cũng như họ với hắn. Thường thì, khi hắn ngồi trong căn phòng của Davin ở Phố Grantham, ngạc nhiên trước đôi bốt được đóng khéo léo của người bạn xếp dọc chân tường đôi một và cất lời ngâm nga cho đôi tai mộc mạc của bạn nghe những vần thơ và nhịp điệu vốn là những chiếc khăn che đậy cho nỗi khao khát và chán chường của chính hắn, cái tâm trí Firbolg thô kệch của người nghe lại kéo tâm trí hắn về phía nó rồi hắt ngược trở lại, lôi kéo bằng một vẻ lịch sự bẩm sinh đầy tĩnh lặng trong cách lắng nghe, hay bằng một lối rẽ cổ quái của tiếng Anh cổ, hoặc bằng sức mạnh của niềm vui thích đối với sự khéo léo thể xác thô mộc—bởi Davin từng ngồi dưới chân Michael Cusack, người thuộc xứ Gael—để rồi lại đột ngột và nhanh chóng đẩy lùi bằng sự thô lỗ trong trí tuệ, bằng sự cùn mòn trong cảm xúc hoặc bằng cái nhìn đờ đẫn đầy sợ hãi trong đôi mắt, nỗi sợ hãi tâm hồn của một ngôi làng Ireland nghèo đói nơi lệnh giới nghiêm vẫn là nỗi kinh hoàng mỗi đêm.

Sánh bước cùng ký ức về những chiến tích hào hùng của người bác Mat Davin, một vận động viên, chàng thanh niên nhà nông tôn sùng truyền thuyết bi thảm của Ireland. Những lời bàn tán của đám sinh viên cùng trường—vốn luôn cố gắng tô điểm cho cuộc sống tẻ nhạt của nhà trường bằng mọi giá—rất thích nghĩ về anh ta như một thành viên phong trào Fenian trẻ tuổi. Bà vú nuôi đã dạy anh ta tiếng Ireland và nhào nặn trí tưởng tượng thô sơ của anh ta bằng những ánh sáng chập chờn của thần thoại Ireland. Anh ta đối xử với thần thoại—thứ mà chưa một tâm trí cá nhân nào từng vẽ nổi lấy một đường nét của cái đẹp—cùng những câu chuyện cồng kềnh cứ lặp đi lặp lại qua các chu kỳ bằng thái độ hệt như đối với tôn giáo Công giáo La Mã, thái độ của một tên nô bộc trung thành nhưng đần độn. Bất cứ tư tưởng hay cảm xúc nào đến với hắn từ nước Anh hoặc thông qua con đường văn hóa Anh đều bị tâm trí hắn dựng giáp chống lại để tuân lệnh một mật khẩu; còn về thế giới nằm ngoài nước Anh, hắn chỉ biết mỗi đội quân lê dương nước ngoài của Pháp—nơi hắn từng tuyên bố sẽ gia nhập phục vụ.

Gắn kết tham vọng này với khiếu hài hước của tuổi trẻ, Stephen từng gọi anh ta là một trong những con ngỗng thuần hóa, và thậm chí còn có một chút gai góc trong cái tên đó nhằm chĩa vào chính sự ngượng ngùng trong lời nói và hành động của người bạn—thứ dường như luôn ngáng đường giữa một bên là tâm trí khao khát suy tư của Stephen và một bên là những ngõ ngách ẩn khuất của đời sống Ireland.

Có một đêm, chàng thanh niên nhà nông, với tinh thần bị kích động bởi thứ ngôn ngữ bạo lực hoặc hoa mỹ mà Stephen dùng để trốn chạy khỏi sự im lặng lạnh lẽo của cuộc nổi loạn trí tuệ, đã gợi lên trước tâm trí Stephen một ảo ảnh kỳ lạ. Cả hai đang chậm rãi bước về phòng của Davin qua những con phố hẹp tối tăm của khu người Do Thái nghèo.

—Có một chuyện đã xảy ra với chính tôi, Stevie ạ, vào mùa thu năm ngoái, lúc sắp sang đông, và tôi chưa từng kể nó với bất kỳ ai trên đời, và anh là người đầu tiên tôi đem ra kể đấy. Tôi không nhớ rõ là tháng Mười hay tháng Mười một. Chắc là tháng Mười vì lúc đó là trước khi tôi lên đây để gia nhập lớp dự bị đại học.

Stephen quay đôi mắt đang mỉm cười về phía khuôn mặt người bạn, cảm thấy được nịnh nọt bởi sự tin tưởng và bị lôi kéo về phía sự đồng cảm bởi giọng điệu chân phương của người nói.

—Cả ngày hôm đó tôi đi vắng khỏi xứ của mình ở Buttevant—tôi không biết anh có biết chỗ đó ở đâu không—để xem một trận hurling giữa đội Croke’s Own Boys và đội Fearless Thurles, và thề có Chúa đấy, Stevie, đó là một trận đấu xương máu thực sự. Người anh em họ đời đầu của tôi, Fonsy Davin, ngày hôm đó cởi trần trụi để canh giữ khung thành cho đội Limericks nhưng anh ta cứ lao lên hàng tiền đạo suốt nửa thời gian trận đấu và gào thét như phát cuồng. Tôi sẽ không bao giờ quên ngày hôm đó. Có lần một cầu thủ bên đội Crokes đã vung gậy caman quật một cú trời giáng vào người nó, và tôi xin thưa với Chúa là suýt chút nữa thì gậy trúng vào bên thái dương của nó rồi. Ồ, thề có Chúa đàng hoàng, nếu cái cong của cây gậy mà tóm được nó cúi lúc đó thì coi như nó tiêu đời.

—Tôi mừng vì anh ấy đã thoát nạn, Stephen vừa cười vừa nói, nhưng chắc chắn đó không phải là chuyện kỳ lạ đã xảy ra với anh chứ?

—Ừ, chắc là chuyện đó chẳng làm anh hứng thú gì, nhưng dù sao đi nữa thì sau trận đấu có quá nhiều tiếng ồn nên tôi đã lỡ mất chuyến xe lửa về nhà và tôi chẳng thể tìm được bất kỳ cỗ xe nào cho tôi đi nhờ, vì ngẫu nhiên làm sao, ngày hôm đó lại có một cuộc mít tinh lớn ở tận Castletownroche và tất cả xe ngựa trong vùng đều tập trung ở đó cả. Thế nên chẳng còn cách nào khác ngoài việc ở lại qua đêm hoặc là đi bộ. Thế là tôi bắt đầu đi bộ, cứ thế bước đi và trời bắt đầu tối sầm khi tôi đặt chân đến những ngọn đồi Ballyhoura, cách Kilmallock hơn mười dặm và sau đoạn đó là một con đường dài vắng vẻ. Anh sẽ chẳng thể nhìn thấy dấu hiệu của một ngôi nhà Thiên Chúa nào dọc theo con đường hay nghe thấy bất kỳ âm thanh nào. Trời tối như mực. Có một hoặc hai lần tôi dừng chân dọc đường dưới một lùm cây để châm tẩu thuốc, và nếu không vì sương xuống quá dày thì tôi đã ngả lưng xuống đó ngủ quách đi rồi. Cuối cùng, sau một khúc cua của con đường, tôi lấp ló nhìn thấy một ngôi nhà nhỏ có ánh đèn ở cửa sổ. Tôi bước tới và gõ cửa. Một tiếng nói hỏi ai ở ngoài đó và tôi trả lời rằng tôi vừa đi xem trận đấu ở Buttevant về và đang đi bộ về nhà, và sẽ rất biết ơn nếu được xin một cốc nước. Một lát sau, một phụ nữ trẻ mở cửa và mang ra cho tôi một vại sữa lớn. Cô ấy mặc quần áo dở dang như thể đang chuẩn bị đi ngủ lúc tôi gõ cửa, tóc xõa xuống, và qua vóc dáng cùng ánh mắt của cô ấy, tôi nghĩ chắc chắn cô ấy đang mang thai. Cô ấy giữ tôi đứng nói chuyện khá lâu ở cửa và tôi thấy điều đó thật kỳ lạ bởi vì ngực và vai cô ấy đều để trần. Cô ấy hỏi tôi có mệt không và có muốn ở lại qua đêm ở đó không. Cô ấy nói cô ấy ở nhà một mình và chồng cô ấy đã đi Queenstown từ sáng cùng chị gái để tiễn chị đi. Và suốt quãng thời gian nói chuyện, Stevie, mắt cô ấy cứ dán chặt vào mặt tôi và cô ấy đứng gần tôi đến mức tôi có thể nghe thấy tiếng thở của cô ấy. Cuối cùng khi tôi đưa trả lại cái vại, cô ấy nắm lấy tay tôi để kéo tôi bước qua ngưỡng cửa và nói: "Vào đây và ở lại qua đêm đi chứ. Anh có cần phải sợ gì đâu. Chẳng có ai ở đây ngoài chúng ta cả..." Tôi đã không bước vào, Stevie ạ. Tôi cảm ơn cô ấy rồi lại tiếp tục lên đường, người nóng ran như phát sốt. Ở khúc cua đầu tiên của con đường tôi ngoảnh lại nhìn thì cô ấy vẫn đang đứng ở cửa.

Những lời cuối cùng trong câu chuyện của Davin vang vọng trong ký ức hắn, và hình ảnh người phụ nữ trong câu chuyện hiện lên, phản chiếu qua những hình ảnh khác của những người phụ nữ nhà nông mà hắn từng thấy đứng bên hiên nhà ở Clane khi những cỗ xe của nhà trường chạy ngang qua, như một biểu tượng của chủng tộc cô ấy và của chính hắn, một linh hồn tựa loài dơi đang bừng tỉnh nhận thức về bản thân trong bóng tối, sự bí mật và cô độc, và qua đôi mắt, giọng nói cùng cử chỉ của một người phụ nữ ngây thơ, đang gọi kẻ tha hương bước lên giường mình.

Một bàn tay đặt lên cánh tay hắn và một giọng nói trẻ thơ vang lên:

—Ạ thưa quý ông, cô đào của ngài đây ạ! Mở hàng buổi sáng đi quý ông. Mua giùm bó hoa xinh đẹp này đi. Ngài mua nhé, thưa quý ông?

Những bông hoa màu xanh mà cô bé đưa lên trước mặt hắn cùng đôi mắt xanh ngây thơ của cô lúc đó đối với hắn chẳng khác nào những hình ảnh của sự thuần khiết, và hắn khựng lại cho đến khi hình ảnh ấy tan biến và hắn chỉ còn nhìn thấy bộ váy rách rưới cùng mái tóc thô ẩm ướt và khuôn mặt bướng bỉnh của cô bé.

—Mua đi quý ông! Đừng quên cô đào của chính mình chứ thưa ngài!

—Ta không có tiền, Stephen nói.

—Mua mấy bó xinh xắn này đi, thưa ngài? Chỉ một xu thôi mà.

—Cô có nghe thấy ta nói gì không? Stephen vừa cúi người về phía cô bé vừa hỏi. Ta bảo là ta không có tiền. Bây giờ ta nói lại lần nữa đấy.

—Thì ơn Chúa, rồi ngài cũng sẽ có tiền vào một ngày nào đó thôi, thưa ngài, cô bé đáp sau một thoáng.

—Có lẽ vậy, Stephen nói, nhưng ta không nghĩ điều đó dễ xảy ra đâu.

Hắn bỏ đi thật nhanh, sợ rằng sự thân thiết ấy sẽ biến thành những lời chế giễu và mong muốn tránh xa trước khi cô bé kịp nài nỉ bán hàng cho người khác, một du khách đến từ nước Anh hoặc một sinh viên trường Trinity. Phố Grafton, nơi hắn đang đi dọc qua, kéo dài khoảnh khắc nghèo đói đầy chán nản ấy. Ở lòng đường phía đầu phố, một tấm bia được đặt để tưởng nhớ Wolfe Tone và hắn nhớ mình từng có mặt cùng cha trong buổi lễ khánh thành nó. Hắn cay đắng nhớ lại cảnh tượng cúng tế rẻ tiền đó. Có bốn đại biểu người Pháp ngồi trên một chiếc xe ngựa mui trần, và một người trong số họ, một thanh niên mũm mĩm hay cười, tay cầm một chiếc gậy giắt tấm bìa in dòng chữ: Vive l’Irlande!

Thế nhưng những tán cây ở Công viên Stephen’s Green lại ngát hương mưa và mặt đất đẫm nước mưa tỏa ra mùi hương phàm trần của mình, một làn hương trầm thoang thoảng bốc lên từ lòng đất qua bao trái tim. Linh hồn của thành phố hào hoa nhưng nhơ nhớp mà các bậc trưởng bối từng kể cho hắn nghe giờ đây theo thời gian đã thu hẹp lại thành một mùi hương phàm trần thoang thoảng bốc lên từ mặt đất, và hắn biết rằng chỉ một lát nữa thôi, khi bước chân vào ngôi trường u ám, hắn sẽ phải ý thức về một sự mục rữa khác ngoài sự mục rữa của Buck Egan và Burnchapel Whaley.

Đã quá muộn để lên lầu dự giờ lớp tiếng Pháp. Hắn băng qua sảnh và rẽ vào hành lang bên trái dẫn đến nhà hát vật lý. Hành lang tối tăm và tĩnh lặng nhưng không phải là không có sự dòm ngó. Tại sao hắn lại cảm thấy nó không hề vô tri dòm ngó? Phải chăng vì hắn từng nghe nói rằng vào thời của Buck Whaley, nơi đây từng có một cầu thang bí mật? Hay vì ngôi nhà của dòng Tên là một lãnh thổ ngoại giao và hắn đang bước đi giữa những kẻ tha hương? Nước Ireland của Tone và Parnell dường như đã lùi xa trong không gian.

Hắn đẩy cửa phòng học và khựng lại trong ánh sáng xám xịt lạnh lẽo luồn qua những ô cửa sổ đầy bụi. Một bóng người đang lom khom trước lò sưởi lớn, và qua vóc dáng gầy gò cùng sắc xám trên người, hắn nhận ra đó là vị giám thị học vụ đang nhóm lửa. Stephen khép nhẹ cửa lại và bước đến gần lò sưởi.

—Chào buổi sáng, thưa cha! Con có thể giúp gì được không?

Vị linh mục ngẩng phắt đầu lên và nói:

—Chờ một chút đã, anh Dedalus, rồi anh sẽ thấy. Nhóm lửa cũng là một nghệ thuật đấy. Chúng ta có các nghệ thuật tự do và chúng ta có các nghệ thuật thiết thực. Đây là một trong những nghệ thuật thiết thực.

—Con sẽ cố gắng học hỏi, Stephen nói.

—Đừng cho nhiều than quá, vị giám thị vừa bận rộn làm việc vừa nói, đó là một trong những bí quyết.

Lão lấy ra bốn mẩu nến vụn từ túi áo chùng rồi khéo léo đặt chúng vào giữa những viên than và mấy mẩu giấy vo tròn. Stephen im lặng đứng quan sát. Quỳ gối trên phiến đá để nhóm lửa và bận rộn sắp xếp những túm giấy vụn cùng mẩu nến, trông lão lúc này càng ra dáng một kẻ phục dịch khiêm nhường đang chuẩn bị nơi dâng tế trong một ngôi đền trống vắng, một tư tế levite của Chúa. Tựa như chiếc áo choàng vải lanh thô của người levite, tấm áo chùng đã phai màu và sờn cũ khoác lên thân hình đang quỳ của một người mà nếu khoác lên mình bộ lễ phục giáo sĩ hay chiếc áo trước ngực viền chuông chắc chắn sẽ thấy vướng víu và phiền muộn. Chính cơ thể lão cũng đã già cỗi đi trong sự phục vụ thấp hèn đối với Chúa—chăm chút ngọn lửa trên bàn thờ, âm thầm mang tin tức, hầu hạ đám người trần tục, ra đòn chớp nhoáng khi có lệnh—vậy mà vẫn chẳng vương chút vẻ đẹp thánh thiện hay phẩm giá cao sang nào. Thậm chí, chính tâm hồn lão cũng đã già cỗi đi trong sự phục vụ ấy mà chẳng hề vươn tới ánh sáng và cái đẹp hay lan tỏa hương thơm của sự thánh thiện—một ý chí đã bị kiềm chế chẳng còn mỏi mòn rung động trước tiếng gọi của sự vâng phục cũng giống như thân hình đã già nua, gầy gò và gân guốc, phủ một lớp tơ xám bạc lấm tấm của lão trước tiếng gọi của tình yêu hay chiến trận.

Vị giám thị chồm người ngồi bệt trên gót chân và dõi theo nhữngh thanh củi bén lửa. Để lấp đầy sự im lặng, Stephen lên tiếng:

—Con chắc chắn là mình không tài nào nhóm được một đống lửa đâu.

—Anh là một nghệ sĩ cơ mà, phải không anh Dedalus? vị giám thị vừa liếc nhìn lên vừa chớp chớp đôi mắt nhợt nhạt. Mục đích của người nghệ sĩ là sự sáng tạo ra cái đẹp. Còn cái đẹp là gì lại là một câu hỏi khác.

Lão xoa đôi bàn tay khô khốc vào nhau một cách chậm rãi để đối phó với câu hỏi khó khăn.

—Anh có thể giải quyết câu hỏi đó lúc này không? lão hỏi.

—Aquinas, Stephen đáp, đã nói rằng pulcra sunt quæ visa placent.

—Ngọn lửa trước mặt chúng ta đây, vị giám thị nói, sẽ làm vui mắt. Vậy nó có phải là cái đẹp không?

—Chừng nào nó còn được nhận thức bằng thị giác—mà tôi cho là dùng để chỉ sự thấu hiểu thẩm mỹ ở đây—thì nó sẽ là cái đẹp. Nhưng Aquinas cũng nói Bonum est in quod tendit appetitus. Chừng nào nó thỏa mãn cơn khát thèm bản năng về sự ấm áp thì ngọn lửa là một điều thiện. Tuy nhiên, trong địa ngục, nó lại là một điều ác.

—Hoàn toàn chính xác, vị giám thị nói, anh chắc chắn đã gãi đúng chỗ ngứa rồi đấy.

Lão lanh lẹ đứng dậy đi về phía cửa, hé mở nó ra và nói:

—Người ta nói gió lùa là một trợ thủ đắc lực trong những việc thế này.

Khi lão quay lại bên lò sưởi, dáng đi hơi thọt nhưng bước chân vô cùng nhanh nhẹn, Stephen nhìn thấy linh hồn thầm lặng của một tu sĩ dòng Tên đang nhòm ngó hắn từ đôi mắt nhợt nhạt vô cảm. Hắn ta cũng thọt chân giống như Ignatius, nhưng trong đôi mắt lão chẳng hề cháy lên một đốm lửa nhiệt thành nào của Ignatius. Thậm chí cả thứ thủ đoạn truyền thuyết của hội đoàn—một thứ thủ đoạn tinh vi và kín đáo hơn cả những cuốn sách thần bí về sự khôn ngoan tinh tế ẩn giấu—cũng không hề nung nấu tâm hồn lão bằng năng lượng của một tông đồ. Dường như lão chỉ sử dụng những mưu mẹo, tri thức và sự xảo trá của trần thế theo lệnh phải làm, nhằm mưu cầu vinh quang lớn lao hơn cho Thiên Chúa, chứ chẳng hề thấy vui sướng khi vận dụng chúng hay căm ghét những thứ tà ác trong đó, mà chỉ quay lưng lại với chúng bằng một cử chỉ vâng lời cương quyết; và bất chấp mọi sự phục vụ thầm lặng ấy, dường như lão chẳng hề yêu mến người chủ lấy một chút nào và rất ít, hoặc chẳng mảy may, yêu mến những mục đích mà lão đang phục vụ. Similiter atque senis baculus, lão y như lời vị tổ phụ hằng mong muốn, tựa như cây gậy trong tay một ông già, để tì vào khi đi đường lúc chiều tà hay trong lúc giông bão, để nằm hững hờ với bó hoa của một tiểu thư trên ghế đá trong vườn, hay để giơ lên đe dọa.

Vị giám thị quay trở lại bên lò sưởi và bắt đầu xoa cằm.

—Khi nào thì chúng tôi có thể mong đợi được đọc một bài viết của anh về vấn đề thẩm mỹ đây? lão hỏi.

—Từ tôi á! Stephen kinh ngạc thốt lên. May mắn lắm thì hai tuần tôi mới chộp được một ý tưởng.

—Những vấn đề này rất uyên thâm, anh Dedalus ạ, vị giám thị nói. Nó giống như việc nhìn từ vách đá Moher xuống những vực thẳm. Rất nhiều kẻ đã lao xuống vực thẳm và chẳng bao giờ quay trở lại. Chỉ có thợ lặn được huấn luyện bài bản mới có thể lặn xuống những vực thẳm đó để thám hiểm rồi ngoi lên mặt nước.

—Nếu ý ngài là sự suy đoán, thưa cha, Stephen nói, thì con cũng chắc chắn rằng không hề có thứ gọi là tự do tư duy, bởi vì mọi tư duy đều buộc phải bị ràng buộc bởi các định luật của chính nó.

—Hà!

—Đối với mục đích của mình, hiện tại con có thể tiếp tục làm việc dưới ánh sáng của một hoặc hai tư tưởng từ Aristotle và Aquinas.

—Tôi hiểu. Tôi hoàn toàn hiểu ý anh.

—Con chỉ cần chúng cho việc sử dụng và định hướng của riêng mình cho đến khi con tự làm được điều gì đó dưới ánh sáng của chúng. Nếu ngọn đèn có bốc khói hay bốc mùi, con sẽ cố gắng vặn bấc lại. Nếu nó không đủ sáng, con sẽ bán đi và mua cái khác.

—Epictetus cũng có một ngọn đèn đấy, vị giám thị nói, nó đã được bán với giá đắt cắt cổ sau khi ông qua đời. Đó là ngọn đèn mà ông dùng để viết các bài luận triết học. Anh có biết Epictetus không?

—Một ông già, Stephen đáp cộc lốc, người từng nói rằng linh hồn rất giống một gáo nước đầy.

—Ông ấy bảo chúng ta theo một cách bình dị rằng, vị giám thị tiếp lời, rằng ông đã đặt một ngọn đèn sắt trước bức tượng của một vị thần và một tên trộm đã cuỗm đi ngọn đèn đó. Nhà triết học đã làm gì? Ông ấy tự nhủ rằng trộm cắp vốn là bản chất của kẻ trộm và quyết định mua một ngọn đèn đất vào ngày hôm mốt thay vì đèn sắt.

Mùi mỡ động vật nấu chảy bốc lên từ những mẩu nến của vị giám thị và hòa quyện trong ý thức Stephen với âm thanh lanh lảnh của những từ ngữ: cái gáo và ngọn đèn, ngọn đèn và cái gáo. Giọng của vị linh mục cũng mang một âm điệu lanh lảnh cứng nhắc. Tâm trí Stephen khựng lại theo bản năng, bị chặn đứng bởi âm điệu kỳ lạ, bởi hình ảnh tượng trưng và bởi khuôn mặt của vị linh mục trông giống như một ngọn đèn chưa được thắp sáng hoặc một chiếc gương phản xạ bị treo lệch tiêu cự. Điều gì ẩn giấu đằng sau nó hoặc bên trong nó? Sự trì trệ đần độn của tâm hồn hay sự ảm đạm của mây giông, chất chứa tư duy và mang năng lực u ám của Thiên Chúa?

—Con muốn nói đến một loại đèn khác cơ, thưa cha, Stephen nói.

—Dĩ nhiên rồi, vị giám thị đáp.

—Một khó khăn, Stephen nói, trong tranh luận thẩm mỹ là làm sao biết được liệu các từ ngữ đang được dùng theo truyền thống văn chương hay theo truyền thống chợ búa. Con nhớ một câu của Newman trong đó ông nói về Đức Trinh Nữ rằng bà đã bị giam giữ trong toàn thể hội thánh của các thánh. Cách dùng từ đó ở ngoài chợ búa hoàn toàn khác hẳn. Con hy vọng mình không làm phiền thời gian của ngài.

—Đâu có sao, vị giám thị lịch sự đáp.

—Không, không, Stephen mỉm cười nói, ý con là...

—Đúng thế, đúng thế; tôi hiểu, vị giám thị nhanh nhảu nói, tôi hoàn toàn nắm được điểm này: giam giữ (detain).

Lão chìa hàm dưới ra và ho khan một tiếng khô khốc ngắn ngủi.

—Trở lại với ngọn đèn, lão nói, việc cung cấp nhiên liệu cho nó cũng là một vấn đề nan giải đấy. Anh phải chọn loại dầu tinh khiết và phải cẩn thận khi đổ vào để không bị tràn, không được đổ nhiều hơn mức phễu có thể chứa.

—Phễu nào cơ ạ? Stephen hỏi.

—Cái phễu mà qua đó anh đổ dầu vào đèn của mình ấy.

—Cái đó á? Stephen nói. Cái đó gọi là phễu sao? Không phải nó gọi là cái phễu rót (tundish) hay sao?

—Tundish là cái gì?

—Cái đó. Cái... cái phễu ấy.

—Ở Ireland người ta gọi cái đó là tundish à? vị giám thị hỏi. Tôi chưa bao giờ nghe thấy từ đó trong đời.

—Ở vùng Hạ Drumcondra người ta gọi nó là tundish đấy, Stephen cười nói, nơi người ta nói tiếng Anh chuẩn nhất.

—Một chiếc tundish, vị giám thị trầm ngâm nhắc lại. Quả là một từ rất thú vị. Tôi phải tra cứu từ đó mới được. Thề có chúa là tôi phải tra mới được.

Sự lịch sự trong phong thái của lão nghe có vẻ hơi giả tạo và Stephen nhìn kẻ cải đạo người Anh với ánh mắt hệt như người anh cả trong dụ ngôn từng nhìn đứa con hoang đàng. Là một kẻ bám đuôi khiêm nhường sau những cuộc cải đạo ồn ào, một người Anh nghèo khổ ở Ireland, hắn dường như bước lên sân khấu lịch sử dòng Tên khi vở kịch kỳ lạ về âm mưu, đau khổ, đố kỵ, tranh chấp và nhục nhã ấy đã diễn gần xong—một kẻ đến muộn, một linh hồn chậm chân. Lão xuất thân từ đâu nhỉ? Có lẽ lão được sinh ra và lớn lên giữa những tín đồ ly giáo nghiêm khắc, nhìn thấy sự cứu rỗi chỉ nơi Chúa Giê-su và căm ghét những thứ hào nhoáng vô nghĩa của giáo hội chính thống. Phải changk lão từng cảm thấy cần một đức tin tuyệt đối giữa đống hỗn độn của chủ nghĩa giáo phái và thứ biệt ngữ của những cuộc ly giáo hỗn loạn của nó, những con người sáu nguyên tắc, những tín đồ kỳ lạ, những kẻ chủ trương phép báp-têm bằng hạt giống hay con rắn, những kẻ thuyết định mệnh siêu đoạn? Phải changk lão đã tìm thấy chân giáo bỗng chốc khi cuộn tròn lại đến cùng như một cuộn chỉ bông thứ lý luận tinh vi về việc truyền hơi thở hay việc đặt tay hoặc sự tiến phát của Chúa Thánh Thần? Hay Chúa Cất đã chạm vào lão và bảo lão hãy đi theo, giống như vị tông đồ từng ngồi thu thuế, khi lão ngồi bên cánh cửa của một nhà nguyện lợp tôn kẽm, ngáp ngắn ngáp dài và đếm những đồng xu nhà thờ?

Vị giám thị lại lặp lại từ đó một lần nữa.

—Tundish! Chà, đúng là thú vị thật đấy!

—Câu hỏi ngài vừa đặt ra lúc nãy với con có vẻ thú vị hơn nhiều. Cái đẹp mà người nghệ sĩ chật vật vắt kiệt ra từ những khối đất cục mịch rốt cuộc là gì, Stephen lạnh lùng nói.

Từ ngữ nhỏ bé ấy dường như đã lật ngược mũi kiếm nhạy cảm của hắn chĩa vào vị kẻ thù lịch sự và cảnh giác này. Hắn cảm thấy với một nỗi đau buồn nhói buốt rằng người mà hắn đang nói chuyện cùng là đồng hương của Ben Jonson. Hắn nghĩ:

—Ngôn ngữ mà chúng ta đang dùng vốn thuộc về lão trước khi thuộc về tôi. Sự khác biệt làm sao giữa các từ nhà cửa, Chúa Ki-tô, bia ale, người chủ trên môi lão và trên môi tôi! Tôi không thể nói hay viết những từ ngữ đó mà tâm hồn không bứt rứt. Ngôn ngữ của lão, vừa quen thuộc vừa xa lạ, sẽ mãi mãi là một thứ tiếng đi mượn đối với tôi. Tôi chưa từng tạo ra hay chấp nhận những từ ngữ của nó. Giọng nói của tôi kiềm chế chúng. Tâm hồn tôi quắt quay trong bóng râm của ngôn ngữ lão.

—Và để phân biệt giữa cái đẹp và cái siêu việt, vị giám thị nói thêm, để phân biệt giữa vẻ đẹp luân lý và vẻ đẹp vật chất. Và để tìm hiểu xem loại vẻ đẹp nào là phù hợp với từng loại hình nghệ thuật. Đó là một số điểm thú vị mà chúng ta có thể mổ xẻ.

Stephen, bỗng nhiên nản lòng trước giọng điệu cương quyết và khô khan của vị giám thị, đành im lặng; và xuyên qua sự im lặng ấy, âm thanh từ xa của vô số tiếng giày bốt cùng những giọng nói hỗn độn vang vọng lên cầu thang.

—Khi theo đuổi những sự suy đoán này, vị giám thị kết luận, tuy nhiên, vẫn có nguy cơ chết vì kiệt sức. Trước tiên anh phải lấy được bằng cấp đã. Hãy đặt điều đó làm mục tiêu hàng đầu của anh. Rồi từng chút một, anh sẽ thấy con đường của mình. Ý tôi là theo mọi nghĩa, con đường trong cuộc đời và trong tư duy. Ban đầu có thể sẽ rất chật vật như đạp xe lên dốc. Lấy anh chàng Moonan làm ví dụ đi. Cậu ta mất rất nhiều thời gian mới lên được đỉnh. Nhưng cậu ta đã lên đến đỉnh.

—Con e mình không có tài cán như anh ta đâu, Stephen điềm tĩnh nói.

—Cậu chẳng thể biết trước được đâu, vị giám thị tươi tỉnh đáp. Chúng ta không bao giờ có thể nói trước được trong mình chứa đựng những gì. Chắc chắn tôi không hề nản lòng. Per aspera ad astra.

Lão vội vã rời khỏi lò sưởi và đi về phía chiếu nghỉ để giám sát sự xuất hiện của lớp học đại học năm nhất.

Dựa lưng vào lò sưởi, Stephen nghe thấy lão chào hỏi một cách rổn rảng và công bằng với mọi sinh viên trong lớp, và hầu như có thể hình dung ra nụ cười cởi mở của đám sinh viên thô kệch hơn. Một niềm thương hại đến não lòng bắt đầu rơi xuống tựa sương mai trên trái tim dễ cay đắng của hắn dành cho kẻ hầu cận trung thành này của vị hiệp sĩ Loyola, dành cho người anh em họ của giới tu sĩ—kẻ nói năng bợ đỡ hơn họ, kiên định tâm hồn hơn họ, một kẻ mà hắn sẽ chẳng bao giờ gọi là cha linh hồn của mình; và hắn nghĩ về việc người đàn ông này cùng những đồng môn của lão đã kiếm được cái tên những kẻ trần tục không phải từ miệng những người siêu thoát mà từ cả miệng những kẻ phàm tục, vì đã biện hộ, trong suốt lịch sử của họ, trước tòa án công lý của Thiên Chúa cho linh hồn của những kẻ lười nhác, hâm hẩm và khôn ngoan.

Sự xuất hiện của vị giáo sư được báo hiệu bằng vài tràng pháo tay kiểu Kentish phát ra từ những đôi bốt nặng nề của đám sinh viên ngồi trên hàng ghế cao nhất của căn phòng u ám dưới những ô cửa sổ đầy mạng nhện xám xịt. Việc điểm danh bắt đầu và những tiếng đáp lại được cất lên với đủ mọi sắc thái giọng điệu cho đến khi xướng đến tên Peter Byrne.

—Có!

Một nốt trầm vang lên đáp lại từ hàng ghế trên, theo sau là những tiếng ho phản đối dọc theo các dãy ghế khác.

Vị giáo sư ngừng đọc và gọi cái tên tiếp theo:

—Cranly!

Không có tiếng trả lời.

—Anh Cranly!

Một nụ cười lướt qua khuôn mặt Stephen khi hắn nghĩ về việc học hành của bạn mình.

—Thử tìm ở Leopardstown xem sao! một tiếng nói cất lên từ hàng ghế phía sau.

Stephen liếc nhanh lên nhưng khuôn mặt mõm chó của Moynihan phác thảo trong ánh sáng xám xịt vẫn vô cảm. Một công thức được đọc lên. Giữa tiếng sột soạt lật vở, Stephen quay người lại và nói:

—Vì Chúa, cho tôi xin ít giấy đi.

—Cậu tệ đến thế cơ à? Moynihan nhe răng cười rộng miệng hỏi.

Cậu ta xé một tờ giấy từ cuốn sổ nháp chuyền xuống dưới, thì thầm:

—Trong trường hợp cấp bách thì bất kỳ giáo dân nam hay nữ nào cũng làm được cả.

Công thức mà cậu ta chép ngoan ngoãn lên tờ giấy, những phép tính cuộn vào rồi duỗi ra của vị giáo sư, những ký hiệu ma quái về lực và vận tốc vừa làm mê hoặc vừa làm kiệt quệ tâm trí Stephen. Hắn từng nghe ai đó nói rằng vị giáo sư già là một kẻ vô thần theo hội Tam điểm. Ồ, ngày xám xịt buồn tẻ làm sao! Nó trông giống như một chốn limbo của sự tỉnh táo kiên nhẫn không đau đớn, nơi các linh hồn của những nhà toán học có thể lang thang, phác ra những cấu trúc mảnh mai dài từ mặt phẳng này sang mặt phẳng khác của chạng vạng ngày càng nhợt nhạt và mờ ảo hơn, tỏa ra những dòng xoáy chớp nhoáng đến tận rìa xa xôi của một vũ trụ ngày càng bao la, xa vời và vô hình hơn.

—Thế nên chúng ta phải phân biệt giữa đường elip (elliptical) và hình ellipsoid. Có lẽ một số anh ở đây có thể quen thuộc với các tác phẩm của ông W. S. Gilbert. Trong một bài hát của mình, ông nhắc đến tay cao thủ bida bị kết án phải chơi:

Trên một tấm vải lệch

Với chiếc gậy đánh bẹo hình

Và những quả bóng bida hình elip.

—Ông ấy muốn nói đến quả bóng có hình dạng của khối ellipsoid với các trục chính mà tôi vừa đề cập lúc nãy.

Moynihan cúi sát tai Stephen và thì thầm:

—Mấy quả bóng elip đáng giá bao nhiêu chứ! đuổi theo tôi đi mấy cô ơi, tôi thuộc lực lượng kỵ binh đấy!

Khiếu hài hước thô lỗ của người bạn học lướt qua tu viện trong tâm trí Stephen như một cơn gió lốc, làm rung chuyển đến mức sống động những tấm áo lễ linh mục rũ rượi treo trên tường, khiến chúng chao đảo và nhảy múa trong một ngày lễ sabat hỗn loạn. Những hình bóng của cộng đoàn xuất hiện từ tấm áo choàng bị gió thổi bay, vị giám thị học vụ, ngài thủ quỹ mập mạp mặt đỏ phừng phừng với mái tóc xám, ngài viện trưởng, vị linh mục nhỏ con tóc phất phơ hay viết những câu thơ sùng đạo, thân hình lùn tịt nhà nông của vị giáo sư kinh tế học, vóc dáng cao kều của vị giáo sư trẻ môn tâm lý học đang thảo luận trên chiếu nghỉ về một vấn đề lương tâm với lớp học của mình giống như một con hươu cao cổ đang gặm những chiếc lá non trên cao giữa bầy linh dương, vị giám thị nghiêm túc đầy ưu tư của hội đạo đức, vị giáo sư người Ý mập mạp đầu tròn với đôi mắt láu cá. Họ bước đến lúc ì à ì ạch, lúc vấp vả, lúc nhào lộn nhảy múa, xắn váy nhảy cóc, níu kéo lẫn nhau, rung lên những tiếng cười giả tạo trầm đục, vỗ vào mông nhau rồi cười nắc nẻ trước sự ác ý thô thiển của mình, gọi nhau bằng những biệt danh quen thuộc, phản đối bằng sự uy nghiêm đột ngột trước vài hành vi thô lỗ, thì thầm từng đôi một sau bàn tay.

Vị giáo sư đã đi tới những tủ kính ở vách bên, lấy từ một chiếc kệ ra một bộ cuộn dây, thổi bay bụi bám trên nhiều điểm và mang nó cẩn thận đặt lên bàn, giữ một ngón tay lên đó trong lúc tiếp tục bài giảng. Ông giải thích rằng các sợi dây trong cuộn dây hiện đại làm bằng một hợp chất gọi là platinoid mới được F. W. Martino phát hiện.

Ông đọc rõ ràng tên viết tắt và họ của nhà phát hiện. Moynihan thì thầm từ phía sau:

—Lão Martin Nước Ngọt tuyệt vời đây!

—Hỏi lão xem, Stephen đáp lại bằng thứ hài hước mệt mỏi, liệu lão có muốn làm vật thí nghiệm cho việc tử hình bằng điện không. Ta sẵn sàng cho lão mượn thân xác này đấy.

Moynihan, thấy vị giáo sư cúi người lên các cuộn dây, liền đứng phắt dậy trên băng ghế và, khua động những ngón tay phải không phát ra tiếng, bắt đầu cất giọng của một đứa trẻ dãi dớt gọi lớn:

—Thưa thầy! Thằng bé này vừa nói bậy đấy ạ, thưa thầy.

—Chất platinoid, vị giáo sư nghiêm trang nói, được ưa chuộng hơn bạc Đức bởi vì nó có hệ số điện trở thấp hơn đối với sự thay đổi nhiệt độ. Sợi dây platinoid được cách điện và lớp vỏ bọc lụa cách điện được quấn lên các ống tơ ebonite ngay tại chỗ ngón tay tôi đây. Nếu nó được quấn đơn thì một dòng điện phụ sẽ được cảm ứng trong các cuộn dây. Các ống tơ được ngâm đẫm trong sáp parafin nóng...

Một giọng nói sắc sảo xứ Ulster cất lên từ băng ghế bên dưới Stephen:

—Liệu chúng ta có bị hỏi thi về khoa học ứng dụng không ạ?

Vị giáo sư bắt đầu nghiêm túc tung hứng với các thuật ngữ khoa học thuần túy và khoa học ứng dụng. Một sinh viên to con, đeo kính vàng, trân trân nhìn người đặt câu hỏi với vẻ ngạc nhiên. Moynihan lẩm bẩm từ phía sau bằng giọng bình thường:

—Cái lão MacAlister này đúng là ác quỷ đòi một cân thịt nhỉ?

Stephen lạnh lùng nhìn cái đầu sọ hình chữ nhật bên dưới hắn đang mọc đầy tóc rối bời màu dây thừng. Giọng nói, ngữ điệu, tâm trí của kẻ đặt câu hỏi làm hắn chướng tai và hắn để mặc sự khó chịu đó đẩy mình đi tới sự cay nghiệt cố ý, xui xẻo thay khi nghĩ rằng bố của tên sinh viên này lẽ ra nên khôn ngoan gửi con mình tới Belfast học để còn tiết kiệm chút tiền tàu xe.

Cái hộp sọ hình chữ nhật bên dưới không hề ngoảnh lại để đón nhận mũi tên tư tưởng ấy vậy mà mũi tên vẫn quay trở lại dây cung của nó; bởi vì hắn thoáng thấy khuôn mặt trắng bệch như váng sữa của nam sinh viên.

—Ý nghĩ đó không phải của tôi, hắn tự nhủ nhanh chóng. Nó xuất phát từ gã người Ireland hài hước ở băng ghế phía sau. Kiên nhẫn nào. Cậu có thể khẳng định chắc chắn rằng linh hồn của chủng tộc cậu đã bị đem bán và những người ưu tú của nó bị phản bội bởi ai không—bởi kẻ đặt câu hỏi hay bởi kẻ chế nhạo? Kiên nhẫn nào. Hãy nhớ đến Epictetus. Có lẽ bản chất của cậu ta là sẽ đặt câu hỏi như thế vào một thời điểm như thế với một giọng điệu như thế và phát âm từ "science" thành một từ đơn âm.

Giọng rền rĩ của vị giáo sư tiếp tục chậm chạp quấn quanh các cuộn dây mà ông đang nói tới, gấp đôi, gấp ba, gấp bốn lần năng lượng buồn ngủ của nó khi cuộn dây nhân lên các ôm điện trở của mình.

Giọng của Moynihan gọi từ phía sau hưởng ứng một tiếng chuông ở xa:

—Đến giờ đóng cửa rồi các bác ơi!

Sảnh vào đông nghịt và náo nhiệt những tiếng nói chuyện. Trên một chiếc bàn gần cửa có hai bức ảnh lồng khung và ở giữa chúng là một cuộn giấy dài mang một cái đuôi lộn xộn những chữ ký. MacCann nhanh nhẹn đi lại giữa đám sinh viên, nói năng huyên thang, đáp lại những lời từ chối và kéo từng người một lại bàn. Ở sảnh trong, vị giám thị học vụ đang đứng nói chuyện với một vị giáo sư trẻ, nghiêm nghị xoa cằm và gật đầu.

Stephen, bị đám đông chặn lại ở cửa, ngập ngừng dừng bước. Từ dưới vành rộngụp xuống của chiếc mềm, đôi mắt đen của Cranly đang dõi theo hắn.

—Cậu đã ký chưa? Stephen hỏi.

Cranly khép lại cái miệng mỏng manh dài ngoằng, tự chiêm nghiệm lấy bản thân một thoáng rồi đáp:

—Ego habeo.

—Cái đó là để làm gì thế?

—Quod?

—Cái đó là để làm gì?

Cranly quay khuôn mặt tái nhợt về phía Stephen và điềm đạm lẫn cay đắng đáp:

—Per pax universalis (Vì nền hòa bình phổ quát).

Stephen chỉ vào bức ảnh của Sa hoàng và nói:

—Lão ta có khuôn mặt của một tên Chúa Ki-tô say khướt.

Sự khinh miệt và giận dữ trong giọng nói của hắn đã kéo ánh mắt Cranly rời khỏi việc quan sát bình lặng các bức tường ở sảnh.

—Cậu đang bực mình à? hắn hỏi.

—Không, Stephen đáp.

—Cậu đang tâm trạng tồi tệ à?

—Không.

—Credo ut vos sanguinarius mendax estis, quia facies vostra monstrat ut vos in damno malo humore estis (Ta tin rằng các ngươi là những kẻ nói dối đẫm máu, bởi vì khuôn mặt các ngươi phơi bày rằng các ngươi đang mang tâm trạng tồi tệ tồi tơi), Cranly tuôn một tràng tiếng Latinh.

Moynihan, trên đường tiến ra bàn, thì thận vào tai Stephen:

—MacCann đang ở phong độ đỉnh cao đấy. Sẵn sàng hy sinh giọt máu cuối cùng. Thế giới hoàn toàn mới. Không chất kích thích và bầu cử cho mấy con chó cái.

Stephen mỉm cười trước thái độ tâm sự này và, khi Moynihan đã đi qua, lại quay người đối mặt với ánh mắt của Cranly.

—Có lẽ cậu có thể nói cho tôi biết, hắn nói, tại sao lão ta lại trút bầu tâm sự vào tai tôi phóng khoáng đến thế? Cậu biết không?

Một vẻ cau có đần độn xuất hiện trên trán Cranly. Lão trân trân nhìn chiếc bàn nơi Moynihan vừa cúi xuống ký tên mình vào cuộn giấy, rồi lạnh lùng thốt lên:

—Đồ rửng mỡ!

—Quis est in malo humore, ego aut vos? (Ai mới là kẻ mang tâm trạng tồi tệ, tôi hay anh?), Stephen hỏi.

Cranly không tiếp lời châm chọc ấy. Lão đăm đăm suy tư đầy cay độc về phán quyết của mình và lặp lại với cùng một vẻ cục cằn lạnh lùng:

—Đúng là một thứ rửng mỡ khốn kiếp khét tiếng, lão ta như thế đấy!

Đó là văn bia của lão dành cho mọi tình bạn đã chết và Stephen tự hỏi liệu nó có bao giờ được thốt lên với cùng một giọng điệu ấy cho ký ức của chính mình không. Cụm từ nặng nề cục mịch chìm dần khỏi tầm nghe giống như một hòn đá rơi tõm qua vùng đầm lầy. Stephen nhìn nó chìm xuống hệt như từng chứng kiến bao thứ khác, cảm nhận sức nặng của nó đè nặng lên trái tim mình. Lời nói của Cranly, không giống như Davin, chẳng có lấy những cụm từ hiếm hoi của tiếng Anh thời Elizabeth hay những bản dịch kỳ quái mang âm hưởng ngữ điệu Ireland. Giọng kéo dài của nó là tiếng vang từ những bến tàu ở Dublin dội lại từ một thị trấn cảng quạnh hiu đang mục rữa, năng lượng của nó là tiếng vang từ sự hùng biện linh mục của Dublin dội lại một cách phờ phạc từ chiếc bục giảng ở hạt Wicklow.

Vẻ cau có nặng nề phai nhạt dần trên khuôn mặt Cranly khi MacCann sải những bước nhanh nhẹn tiến về phía họ từ phía bên kia sảnh.

—Cậu đây rồi! MacCann vui vẻ nói.

—Tôi đây! Stephen nói.

—Lại muộn như mọi khi. Cậu không thể kết hợp khuynh hướng tiến bộ với sự tôn trọng giờ giấc được sao?

—Câu hỏi đó lạc đề rồi, Stephen nói. Công việc tiếp theo đi.

Đôi mắt đang mỉm cười của hắn dán chặt vào một thanh sô-cô-la sữa bọc giấy bạc đang ló ra từ túi áo ngực của nhà tuyên truyền. Một vòng tròn nhỏ những kẻ hò reo khép lại xung quanh để nghe cuộc đấu khẩu trí tuệ. Một sinh viên gầy gò da ngăm đen tóc đen thẳng đuột chường mặt chen vào giữa hai người, liếc từ người này sang người khác theo mỗi câu nói và dường như cố gắng tóm bắt từng câu chữ đang bay qua trong cái miệng há hốc ẩm ướt của mình. Cranly rút từ trong túi ra một quả bóng ném nhỏ màu xám rồi bắt đầu săm soi nó thật kỹ, lật qua lật lại.

—Công việc tiếp theo à? MacCann nói. Hừm!

Lão ho hắng một tiếng cười lớn, nhe rộng nụ cười và giật giật hai cái vào chòm râu dê màu rơm đang thòng xuống từ chiếc cằm bạnh.

—Công việc tiếp theo là ký vào bản kiến nghị.

—Cậu có trả tiền cho tôi nếu tôi ký không? Stephen hỏi.

—Tôi cứ nghĩ cậu là một kẻ mộng mơ chứ, MacCann nói.

Tên sinh viên trông như dân Digan đảo mắt nhìn quanh rồi hướng về phía những kẻ đứng xem bằng một giọng lí nhí không rõ lời.

—Thề có chúa, đó là một ý tưởng kỳ cục thật. Tôi cho rằng ý tưởng đó là một ý tưởng mang tính vụ lợi.

Giọng hắn chìm dần vào im lặng. Chẳng ai thèm bận tâm đến lời hắn nói. Hắn quay khuôn mặt da ngăm, có nét giống loài ngựa, về phía Stephen, mời gọi hắn nói tiếp.

MacCann bắt đầu tuôn trào năng lượng lưu loát về sắc lệnh của Sa hoàng, về Stead, về việc giải trừ quân bị toàn diện, về trọng tài trong các tranh chấp quốc tế, về những dấu hiệu của thời đại, về nhân loại mới và tôn giáo sống mới—thứ sẽ biến mục tiêu của cộng đồng thành việc bảo đảm với chi phí rẻ nhất có thể niềm hạnh phúc lớn nhất có thể cho số đông lớn nhất có thể.

Tên sinh viên gốc Digan hưởng ứng đoạn kết của bài thuyết trình bằng cách hét lớn:

—Ba hoan hô cho tình huynh đệ toàn cầu!

—Thôi đi Temple, một sinh viên mập mạp mặt đỏ phừng phừng đứng gần đó nói. Lát nữa tôi sẽ đãi anh một vại.

—Tôi là một kẻ tin tưởng vào tình huynh đệ toàn cầu, Temple nói, đảo đôi mắt hình ô-va đen láy nhìn quanh. Marx chỉ là một thằng lừa đảo khốn kiếp.

Cranly nắm chặt lấy cánh tay Temple để kìm cái lưỡi cậu ta lại, cười ngượng nghịu và lặp lại:

—Từ từ, từ từ, từ từ thôi!

Temple giãy giụa để gỡ tay ra nhưng vẫn tiếp tục, miệng sủi bọt trắng xóa:

—Chủ nghĩa xã hội được sáng lập bởi một người Ireland và người đầu tiên ở châu Âu rao giảng tự do tư tưởng chính là Collins. Hai trăm năm trước. Lão ta đã lên án tệ nạn tu sĩ, nhà triết học xứ Middlesex. Ba hoan hô cho John Anthony Collins!

Một giọng nói mảnh dẻ từ rìa đám đông đáp lại:

—Chít! chít!

Moynihan thì thầm sát tai Stephen:

—Thế còn cô em gái tội nghiệp của John Anthony thì sao nhỉ:

Lottie Collins đánh rơi sịp rồi;

Bộ anh không mượn giùm cô ấy được sao?

Stephen bật cười và Moynihan, tỏ ra hài lòng với kết quả, lại thì thầm:

—Chúng ta sẽ đặt năm si-linh cho mỗi cửa của John Anthony Collins nhé.

—Tôi đang chờ câu trả lời của anh đấy, MacCann cộc lốc nói.

—Chuyện đó chẳng mảy phong lưu gì đến tôi cả, Stephen mệt mỏi đáp. Cậu thừa biết điều đó mà. Sao cứ phải làm rùm beng lên làm gì?

—Tốt! MacCann nói, chép miệng. Vậy cậu là một kẻ phản động à?

—Cậu có nghĩ là cậu gây được ấn tượng với tôi không, Stephen hỏi, khi cậu múa may cái thanh kiếm gỗ của mình?

—Toàn là ẩn dụ! MacCann cục cằn đáp. Hãy quay về thực tế đi.

Stephen đỏ bừng mặt và quay đi. MacCann vẫn đứng sững ở đó và nói bằng một giọng điệu đầy ác ý:

—Tôi đoán là mấy tay nhà thơ hạng xoàng thì đứng trên cả những câu hỏi tầm thường như vấn đề hòa bình thế giới nhỉ.

Cranly ngẩng đầu lên và giơ quả bóng ném giữa hai sinh viên như một vật biểu trưng cho hòa bình, miệng nói:

—Pax super totum sanguinarium globum (Hòa bình trên toàn bộ quả địa cầu đẫm máu).

Stephen gạt đám đông xung quanh ra, giận dữ giật mạnh vai về phía bức hình của Sa hoàng, nói:

—Cất cái tượng thần của các cậu đi. Nếu chúng ta bắt buộc phải có một Chúa Giê-su thì hãy chọn một Chúa Giê-su hợp pháp ấy.

—Thề có chúa, câu đó hay đấy! tên sinh viên gốc Digan nói với những kẻ xung quanh, đó là một cách diễn đạt tuyệt vời. Tôi cực kỳ thích cách diễn đạt đó.

Hắn nuốt khan bọt trong cổ họng như thể đang nuốt trôi câu nói ấy và, luống cuống với vành chiếc mũ vải tu-e-d, quay sang Stephen, nói:

—Xin lỗi ngài, ngài có ý gì qua câu nói vừa thốt ra lúc nãy vậy?

Cảm thấy bị đám sinh viên xung quanh xô đẩy, hắn nói với họ:

—Bây giờ tôi rất tò mò muốn biết ngài ấy có ý gì qua câu nói đó.

Hắn quay lại phía Stephen lần nữa và thì thầm:

—Ngài có tin vào Chúa Giê-su không? Tôi thì tin vào con người. Tất nhiên, tôi không biết ngài có tin vào con người không. Tôi ngưỡng mộ ngài, thưa ngài. Tôi ngưỡng mộ trí tuệ của con người độc lập với mọi tôn giáo. Đó có phải là quan điểm của ngài về trí tuệ của Chúa Giê-su không?

—Thôi đi Temple, chàng sinh viên mập mạp mặt đỏ quay lại với ý định ban đầu của mình nói, vại bia đó vẫn đang đợi cậu đấy.

—Hắn nghĩ tôi là một thằng đần, Temple giải thích với Stephen, bởi vì tôi là một kẻ tin vào sức mạnh của trí tuệ.

Cranly luồn tay ôm lấy cánh tay của Stephen và kẻ ái mộ hắn rồi nói:

—Nos ad manum ballum jocabimus (Chúng ta sẽ chơi ném bóng bằng tay).

Stephen, trong lúc đang bị lôi đi, chợt bắt gặp khuôn mặt đỏ bừng nét bạnh của MacCann.

—Chữ ký của tôi chẳng có giá trị gì đâu, hắn lịch sự nói. Cậu cứ đi theo con đường của cậu đi. Hãy để tôi đi con đường của tôi.

—Dedalus, MacCann sắc sảo nói, tôi tin cậu là một người tốt nhưng cậu vẫn chưa học được phẩm giá của chủ nghĩa vị tha và trách nhiệm của cá nhân con người.

Một giọng nói vang lên:

—Thứ chủ nghĩa lập dị trí tuệ thà đừng có trong phong trào này còn hơn là có.

Stephen, nhận ra giọng điệu gay gắt của MacAlister, không ngoảnh đầu về phía phát ra giọng nói ấy. Cranly lầm lì bước xuyên qua đám đông sinh viên, kẹp Stephen và Temple ở giữa giống như một vị chủ tế được các tu sĩ tháp tùng trên đường bước lên bàn thờ.

Temple háo hức rướn người qua ngực Cranly và nói:

—Anh có nghe thấy lão MacAlister nói gì không? Tên thanh niên đó đang ghen tị với anh đấy. Anh có thấy thế không? Tôi cá là Cranly không thấy điều đó đâu. Thề có chúa, tôi nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên đấy.

Khi họ băng qua sảnh trong, vị giám thị học vụ đang tìm cách chuồn khỏi vị sinh viên mà lão vừa trò chuyện cùng. Lão đứng ở chân cầu thang, một chân đặt lên bậc thấp nhất, chiếc áo chùng sờn rách túm lại quanh người để bước lên với vẻ cẩn trọng hệt đàn bà, liên tục gật đầu và lặp đi lặp lại:

—Không còn nghi ngờ gì nữa, anh Hackett! Quá tuyệt vời! Không thể chối cãi được!

Ở giữa sảnh, vị giám thị hội đạo đức của nhà trường đang lớn tiếng nói chuyện một cách nhiệt tình bằng một giọng ré lên nhỏ nhẹ với một nam sinh nội trú. Vừa nói, lão vừa nhăn nhẹ vầng trán tàn nhang và cắn cắn vào một chiếc bút chì bằng xương bé xíu giữa các câu nói.

—Tôi hy vọng đám sinh viên dự bị sẽ đến đông đủ. Đám năm nhất thì chắc chắn rồi. Cả năm hai nữa. Chúng ta phải đảm bảo lôi kéo được đám tân sinh viên mới.

Temple lại rướn người qua Cranly khi họ đang bước qua khung cửa, và thì thầm chớp nhoáng:

—Anh có biết gã đó đã có vợ chưa? Lão ta đã có vợ trước khi bọn họ cải đạo cho lão đấy. Lão có vợ con ở xó xỉnh nào đó cơ. Thề có chúa, tôi nghĩ đó là ý tưởng kỳ cục nhất mà tôi từng nghe thấy đấy! Hả?

Tiếng thì thầm của cậu ta nhỏ dần thành một tiếng cười khúc khích ranh mãnh. Ngay khoảnh khắc họ bước qua khung cửa, Cranly thô bạo túm lấy cổ Temple và xóc mạnh, quát:

—Thứ ngu ngốc quẫy đạp khùng điên này! Tao thề có kinh thánh là không có một con khỉ khốn nạn nào to xác hơn mày trên cái thế giới khốn nạn ngập tràn lửa này đâu, mày biết không!

Temple giãy giụa trong tay lão, miệng vẫn cười với vẻ thỏa mãn ranh mãnh, trong khi Cranly lặp lại một cách cộc cằn sau mỗi cái xóc người thô bạo:

—Đồ đần độn khốn nạn ngập tràn lửa và hỏa mù!

Họ cùng nhau băng qua khu vườn cỏ dại. Vị viện trưởng, quấn một chiếc áo choàng rộng thùng thình nặng nề, đang đi về phía họ dọc theo một lối đi, tay cầm cuốn kinh nguyện đọc lẩm bẩm. Ở cuối lối đi, lão dừng lại trước khi quay người và ngẩng mắt lên. Đám sinh viên chào, Temple vẫn luống cuống đưa tay lên vành mũ như trước. Họ tiếp tục bước đi trong im lặng. Khi đến gần sân bóng, Stephen có thể nghe thấy tiếng vỗ tay của mấy người chơi và tiếng bòm bộp ướt át của quả bóng cùng giọng Davin hò hét đầy phấn khích theo mỗi cú đánh.

Ba sinh viên dừng chân quanh chiếc thùng gỗ mà Davin đang ngồi để theo dõi trận đấu. Temple, sau vài thoáng, lân la lùi đến gần Stephen và nói:

—Xin lỗi ngài, tôi muốn hỏi điều này, ngài có tin Jean Jacques Rousseau là một người thành thật không?

Stephen bật cười thành tiếng. Cranly, nhặt một khúc gậy gỗ mục từ bãi cỏ dưới chân, quay phắt người lại và nghiêm nghị nói:

—Temple, tao thề với Chúa hằng sống là nếu mày còn thốt ra một lời nào nữa, mày biết đấy, với bất kỳ ai về bất kỳ chủ đề gì, tao sẽ giết mày su-per spot-tum (ngay tại chỗ) cho mày xem.

—Hắn ta cũng giống anh thôi, tôi tưởng thế, Stephen nói, một con người đầy cảm xúc.

—Mặc kệ hắn, đồ khốn kiếp! Cranly quát lớn. Đừng nói chuyện với hắn nữa. Thật đấy, thề có Chúa là mày nói chuyện với một cái bô đái còn hơn là nói chuyện với Temple. Cút về nhà đi, Temple. Vì Chúa, về nhà đi.

—Tôi chẳng thèm quan tâm quái gì đến anh đâu, Cranly, Temple vừa đáp vừa lách người ra khỏi tầm với của thanh gậy đang giơ lên và chỉ tay về phía Stephen. Hắn là kẻ duy nhất tôi thấy trong cái cơ sở này có một tư duy độc lập.

—Cơ sở! Độc lập! Cranly hét lên. Cút về nhà mau, đồ khốn, vì mày đúng là một thằng vô phương cứu chữa.

—Tôi là một người nhiều cảm xúc, Temple nói. Câu đó diễn đạt chuẩn xác đấy chứ. Và tôi tự hào vì mình là một kẻ chuộng cảm xúc.

Cậu ta lỉnh ra khỏi sân bóng, cười ranh mãnh. Cranly trân trân nhìn theo với một khuôn mặt đờ đẫn vô biểu cảm.

—Nhìn nó kìa! lão nói. Mày đã bao giờ thấy một kẻ bợ đỡ nào như thế chưa?

Câu nói của lão được chào đón bằng một tràng cười kỳ lạ từ một sinh viên đang lười biếng dựa lưng vào tường, chiếc mũ có vành kéo sụp xuống tận mắt. Tràng cười vút cao và phát ra từ một khung xương vạm vỡ, nghe hệt như tiếng hí của một con voi. Toàn thân nam sinh viên rung lên bần bật và, để giải tỏa cơn phấn khích, cậu ta dùng cả hai tay sung sướng xoa xoa vào phần háng của mình.

—Lynch tỉnh ngủ rồi đấy, Cranly nói.

Lynch đáp lại bằng cách đứng thẳng người dậy và ưỡn ngực ra trước.

—Lynch đang ưỡn ngực kìa, Stephen nói, như một lời bình phẩm về cuộc đời.

Lynch tự đấm thình thịch vào ngực mình một cách vang dội và nói:

—Có ai có ý kiến gì về vòng ngực của tôi không?

Cranly chớp lấy cơ hội đó và cả hai lao vào vật lộn. Khi khuôn mặt họ đã đỏ bừng vì vật lộn, họ mới tách ra, thở hồng hộc. Stephen cúi người về phía Davin—kẻ từ nãy đến giờ mải theo dõi trận đấu nên chẳng thèm đếm xỉa gì đến câu chuyện của những người khác.

—Còn con ngỗng thuần hóa nhỏ bé của tôi thì sao nào? hắn hỏi. Cậu ta cũng ký chứ?

Davin gật đầu và nói:

—Còn cậu thì sao, Stevie?

Stephen lắc đầu.

—Cậu đúng là một kẻ cứng đầu, Stevie, Davin vừa nói vừa lấy chiếc tẩu ngắn ra khỏi miệng, lúc nào cũng thui thủi một mình.

—Bây giờ cậu đã ký vào bản kiến nghị đòi hòa bình toàn cầu rồi đấy, Stephen nói, chắc là cậu sắp đem đốt cuốn vở nhỏ tôi từng thấy trong phòng cậu chứ nhỉ.

Vì Davin không đáp lời, Stephen bắt đầu ngâm nga:

—Bước dài nào fianna! Nghiêng phải nào fianna! Fianna, theo nhịp đếm, chào, một, hai!

—Đó là chuyện khác, Davin nói. Tôi là một người theo chủ nghĩa dân tộc Ireland, trước hết và trên hết. Nhưng cậu lúc nào cũng thế. Cậu sinh ra đã là một kẻ chuyên chế giễu, Stevie ạ.

—Khi nào cậu làm cuộc nổi loạn tiếp theo bằng gậy hurling, Stephen nói, và cần đến tên chỉ điểm không thể thiếu, hãy bảo tôi nhé. Tôi có thể tìm cho cậu vài tên như thế ngay trong cái trường này đấy.

—Tôi không thể hiểu nổi cậu, Davin nói. Có lúc tôi nghe cậu nói đả kích văn học Anh. Giờ thì cậu lại đả kích những kẻ chỉ điểm người Ireland. Nào là tên họ của cậu rồi những tư tưởng của cậu... Cậu có thực sự là người Ireland không đấy?

—Đi với tôi ra văn phòng phả hệ ngay bây giờ đi rồi tôi sẽ cho cậu xem cây gia phả nhà tôi, Stephen nói.

—Thế thì hãy hòa mình vào chúng tôi đi, Davin nói. Sao cậu không chịu học tiếng Ireland? Sao cậu lại bỏ lớp tiếng Ireland ngay sau buổi học đầu tiên?

—Cậu biết một lý do mà, Stephen đáp.

Davin hất đầu và cười lớn.

—Ồ, thôi nào, anh bạn, anh ta nói. Có phải vì cô tiểu thư nào đó và cha Moran không? Nhưng tất cả chỉ là do cậu tự tưởng tượng ra thôi, Stevie ạ. Họ chỉ nói chuyện và cười đùa thôi mà.

Stephen khựng lại và đặt một bàn tay thân thiện lên vai Davin.

—Cậu có nhớ, hắn nói, hồi chúng ta mới quen nhau không? Sáng đầu tiên gặp mặt, cậu đã nhờ tôi chỉ đường tới lớp dự bị đại học, nhấn mạnh rất nặng vào âm đầu tiên. Cậu còn nhớ không? Sau đó cậu toàn gọi đám linh mục dòng Tên là "thưa cha", cậu còn nhớ chứ? Tôi tự hỏi về cậu thế này: Liệu cậu có ngây thơ như lời ăn tiếng nói của mình không?

—Tôi là một người đơn giản, Davin nói. Cậu biết điều đó mà. Đêm hôm đó ở Phố Harcourt, khi cậu kể cho tôi nghe những chuyện về đời tư của mình, thề có Chúa đấy, Stevie, tôi chẳng tài nào nuốt nổi bữa tối. Tôi thấy khá tệ. Tôi đã thao thức suốt một quãng thời gian dài đêm hôm đó. Sao cậu lại kể cho tôi nghe những chuyện đó làm gì?

—Cảm ơn nhé, Stephen nói. Ý cậu là tôi là một con quái vật chứ gì.

—Không, Davin nói. Nhưng tôi ước gì cậu đừng kể thì hơn.

Một con sóng bắt đầu trào dâng bên dưới lớp vỏ tĩnh lặng của sự thân thiện từ Stephen.

—Chủng tộc này, đất nước này và cuộc đời này đã sinh ra tôi, hắn nói. Tôi sẽ bộc lộ bản thân đúng như những gì tôi có.

—Hãy cố gắng hòa mình vào chúng tôi đi, Davin lặp lại. Trong thâm tâm cậu là một người Ireland nhưng sự kiêu hãnh của cậu quá lớn.

—Tổ tiên tôi đã vứt bỏ ngôn ngữ của họ để nhận lấy ngôn ngữ khác, Stephen nói. Họ để cho một nhúm kẻ ngoại kiều ngự trị mình. Cậu tưởng tôi sẽ phải trả giá bằng chính cuộc đời và thể xác mình cho những món nợ do họ gây ra chắc? Để làm gì chứ?

—Vì tự do của chúng ta chứ sao, Davin nói.

—Chưa từng có một người đàn ông tôn nghiêm và thành thật nào, Stephen nói, dâng hiến cuộc đời, tuổi trẻ và tình cảm của mình cho các cậu từ thời Tone đến thời Parnell, mà các cậu không đem bán hắn cho kẻ thù, hoặc phản bội hắn lúc lâm nguy, hoặc lăng mạ rồi ruồng bỏ hắn để theo kẻ khác. Và rồi các cậu mời gọi tôi trở thành một trong số các cậu ư. Tôi thà chống mắt lên nhìn các cậu xuống địa ngục trước còn hơn.

—Họ đã chết vì lý tưởng của mình, Stevie ạ, Davin nói. Thời của chúng ta rồi cũng sẽ tới thôi, hãy tin tôi đi.

Stephen, chìm đắm trong suy nghĩ của riêng mình, im lặng một thoáng.

—Linh hồn được sinh ra, hắn bâng quơ nói, trước hết trong những khoảnh khắc mà tôi đã kể cho cậu nghe. Nó trải qua một cuộc sinh nở chậm chạp và tăm tối, bí ẩn hơn cả sự sinh ra của thể xác. Khi linh hồn của một con người được sinh ra trên đất nước này, có biết bao tấm lưới được tung ra để níu giữ nó lại khỏi cất cánh bay lên. Cậu cứ nói với tôi về chủ nghĩa dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo. Tôi sẽ cố gắng bay xuyên qua những tấm lưới đó.

Davin gõ tàn thuốc ra khỏi tẩu.

—Quá sâu xa đối với tôi rồi, Stevie, anh ta nói. Nhưng đất nước của một người phải đặt lên hàng đầu. Ireland trên hết, Stevie ạ. Cậu có thể làm nhà thơ hay nhà huyền học sau cũng được.

—Cậu có biết Ireland là gì không? Stephen lạnh lùng cất lời phẫn nộ. Ireland là con lợn sề già ăn thịt chính bầy con của nó.

Davin đứng dậy khỏi chiếc thùng gỗ và đi về phía những người chơi, buồn rầu lắc đầu. Nhưng chỉ một thoáng sau, nỗi buồn tan biến và anh ta lại đang tranh cãi nảy lửa với Cranly cùng hai người chơi vừa kết thúc trận đấu. Một trận đấu bốn người được sắp xếp, tuy nhiên Cranly khăng khăng đòi phải dùng quả bóng của mình. Lão để nó nảy lên nảy xuống hai ba lần vào lòng bàn tay rồi đánh mạnh và nhanh về phía cuối sân bóng, thốt lên đáp lại tiếng bộp của quả bóng:

—Linh hồn của cậu đấy!

Stephen đứng cùng Lynch cho đến khi tỷ số bắt đầu tăng lên. Sau đó hắn kéo tay áo Lynch đòi đi. Lynch vâng lời, nói:

—Chúng ta xéo thôi, như cách nói của Cranly ấy.

Stephen mỉm cười trước cú châm chọc bên lề này.

Họ quay trở lại qua khu vườn và đi ra hướng sảnh nơi gã gác cổng lú lẫn đang đính một thông báo lên khung bảng tin. Ở chân bậc thềm, họ dừng lại và Stephen rút một bao thuốc lá từ túi ra mời bạn.

—Tôi biết cậu nghèo mà, hắn nói.

—Mẹ kiếp cái thói xấc xược vàng vọt của cậu chứ, Lynch đáp.

Bằng chứng thứ hai này về phông văn hóa của Lynch lại làm Stephen mỉm cười.

—Đó là một ngày vĩ đại cho nền văn hóa châu Âu, hắn nói, khi cậu quyết định thề thốt bằng màu vàng.

Họ châm thuốc lá và rẽ phải. Sau một khoảng lặng, Stephen cất lời:

—Aristotle chưa định nghĩa về lòng thương hại và nỗi kinh hoàng. Tôi đã định nghĩa rồi. Tôi nói rằng...

Lynch khựng lại và cộc lốc nói:

—Dừng lại! Tôi không nghe đâu! Tôi đang mệt lử đây. Tối qua tôi vừa đi nhậu một chập bét nhè màu vàng với Horan và Goggins đấy.

Stephen vẫn tiếp tục:

—Lòng thương hại là cảm xúc kìm hãm tâm trí trước sự hiện diện của bất cứ điều gì trang nghiêm và bất biến trong những nỗi thống khổ của nhân loại, đồng thời gắn kết nó với con người đang chịu đựng. Nỗi kinh hoàng là cảm xúc kìm hãm tâm trí trước sự hiện diện của bất cứ điều gì trang nghiêm và bất biến trong những nỗi thống khổ của nhân loại, đồng thời gắn kết nó với nguyên nhân thầm kín.

—Nhắc lại xem nào, Lynch nói.

Stephen chậm rãi lặp lại các định nghĩa.

—Vài ngày trước ở London, hắn tiếp tục, một cô gái bước lên xe hăng-xôm. Cô ấy đang trên đường đi gặp mẹ mình—người mà cô đã nhiều năm không gặp. Ở góc phố, càng xe tải đã đập vỡ kính xe hăng-xôm văng ra hình ngôi sao. Một mảnh thủy tinh sắc nhọn đâm xuyên qua trái tim cô ấy. Cô ấy chết ngay tức khắc. Phóng viên gọi đó là một cái chết bi thảm. Không phải đâu. Nó xa vời với nỗi kinh hoàng và lòng thương hại theo đúng các điều khoản trong định nghĩa của tôi.

—Cảm xúc bi thảm, thực chất là một khuôn mặt nhìn về hai hướng, hướng về nỗi kinh hoàng và hướng về lòng thương hại, cả hai đều là các giai đoạn của nó. Cậu thấy đấy, tôi dùng từ "kìm hãm" (arrest). Ý tôi là cảm xúc bi thảm mang tính tĩnh (static). Hoặc đúng hơn là cảm xúc kịch nghệ mang tính tĩnh. Những cảm xúc do nghệ thuật đồi trụy kích thích mang tính động (kinetic), đó là ham muốn hoặc chán ghét. Ham muốn thôi thúc chúng ta chiếm hữu, hướng đến một thứ gì đó; chán ghét thôi thúc chúng ta từ bỏ, rời xa một thứ gì đó. Các loại hình nghệ thuật kích thích chúng—như khiêu dâm hay giáo huấn—do đó là những loại hình nghệ thuật không đúng đắn. Do đó, cảm xúc thẩm mỹ (tôi dùng thuật ngữ chung) mang tính tĩnh. Tâm trí bị kìm hãm và được nâng lên cao hơn ham muốn và sự chán ghét.

—Cậu nói rằng nghệ thuật không được kích thích ham muốn đúng không, Lynch nói. Tôi từng kể với cậu rằng có lần tôi viết tên mình bằng bút chì lên mặt sau bức tượng thần Vệ Nữ của Praxiteles trong Viện Bảo tàng rồi đấy. Đó không phải là ham muốn sao?

—Tôi đang nói đến bản chất bình thường, Stephen nói. Cậu cũng từng kể với tôi rằng khi còn là một cậu bé ở ngôi trường dòng Carmel đáng yêu đó, cậu đã ăn từng miếng phân bò khô mà lị.

Lynch lại bật lên tràng cười hí hửng và tiếp tục dùng cả hai tay xoa bóp vùng háng nhưng không rút tay ra khỏi túi.

—Ôi, tôi có làm thế thật! Tôi có làm thế thật đấy! cậu ta kêu lên.

Stephen quay sang nhìn người bạn, bạo dạn đối diện thẳng vào mắt cậu ta một thoáng. Lynch, sau cơn cười cợt, dùng đôi mắt đầy vẻ khiêm nhường nhìn lại hắn. Cái đầu sọ dài, dẹt và thuôn dưới chiếc mũ dài nhọn gợi lên trong tâm trí Stephen hình ảnh của một loài bò sát có mũ trùm. Đôi mắt ấy, cũng mang vẻ bò sát từ ánh chớp cho đến cái nhìn. Thế nhưng ngay khoảnh khắc đó, dẫu khiêm nhường và cảnh giác trong ánh nhìn, chúng lại được thắp sáng bởi một đốm sáng nhỏ bé mang tính con người, chiếc cửa sổ của một tâm hồn đang héo mòn, đầy nhức nhối và tự oán trách chính mình.

—Về chuyện đó, Stephen lịch sự chêm vào, tất cả chúng ta đều là động vật cả thôi. Tôi cũng là một loài động vật.

—Cậu đúng là thế, Lynch nói.

—Nhưng chúng ta hiện đang ở trong một thế giới tinh thần, Stephen tiếp lời. Ham muốn và sự chán ghét do các phương tiện thẩm mỹ không đúng đắn kích thích thực chất không phải là cảm xúc thẩm mỹ, không chỉ vì chúng mang tính động về mặt bản chất mà còn vì chúng chẳng qua chỉ mang tính thể xác. Da thịt chúng ta co rúm lại trước thứ nó khiếp sợ và phản ứng lại kích thích của thứ nó thèm muốn bằng một phản xạ thuần túy của hệ thần kinh. Mí mắt chúng ta khép lại trước cả khi chúng ta kịp nhận thức rằng con ruồi sắp sửa bay vào mắt mình.

—Không phải lúc nào cũng thế đâu, Lynch bắt bẻ.

—Cũng theo cách đó, Stephen nói, da thịt cậu phản ứng lại kích thích của một bức tượng khỏa thân, nhưng tôi phải nói rằng, đó đơn thuần chỉ là một phản xạ thần kinh. Vẻ đẹp được người nghệ sĩ thể hiện không thể đánh thức trong chúng ta một cảm xúc mang tính động hay một cảm giác hoàn toàn mang tính thể xác. Nó đánh thức, hoặc đáng lẽ ra phải đánh thức, hoặc xúi giục, hoặc đáng lẽ ra phải xúi giục, một trạng thái tĩnh thẩm mỹ (esthetic stasis), một nỗi thương hại lý tưởng hoặc một nỗi kinh hoàng lý tưởng—một trạng thái tĩnh được khơi gọi, kéo dài và cuối cùng được dung giải bởi cái mà tôi gọi là nhịp điệu của cái đẹp.

—Chính xác thì cái đó là gì? Lynch hỏi.

—Nhịp điệu, Stephen nói, là mối quan hệ thẩm mỹ hình thức đầu tiên giữa phần này với phần khác trong bất kỳ tổng thể thẩm mỹ nào, hoặc giữa một tổng thể thẩm mỹ với phần hoặc các phần của nó, hoặc giữa bất kỳ phần nào với tổng thể thẩm mỹ mà nó là một phần trong đó.

—Nếu đó là nhịp điệu, Lynch nói, hãy cho tôi nghe cái mà cậu gọi là cái đẹp xem nào; và xin hãy nhớ cho, dẫu tôi từng ăn một miếng bánh phân bò thật, tôi cũng chỉ ngưỡng mộ cái đẹp mà thôi.

Stephen ngẩng mũ lên như thể đang chào hỏi. Rồi, hơi đỏ mặt, hắn đặt tay lên tay áo vải tu-e-d dày của Lynch.

—Chúng ta đúng, và những kẻ khác đã sai, hắn nói. Nói về những điều này, cố gắng thấu hiểu bản chất của chúng và, sau khi đã thấu hiểu, cố gắng một cách chậm rãi, khiêm nhường và kiên trì để biểu đạt, để vắt kiệt ra lần nữa, từ lớp đất thô cằn hoặc từ những gì nó sinh sôi, từ âm thanh, hình dáng và màu sắc—vốn là những cánh cửa nhà tù giam cầm linh hồn chúng ta—một hình ảnh về cái đẹp mà chúng ta đã thấu hiểu—đó chính là nghệ thuật.

Họ đã đến cây cầu bắc qua kênh nước và, rẽ khỏi con đường đang đi, tiếp tục bước dọc theo hàng cây. Một thứ ánh sáng xám xịt thô ráp phản chiếu trên mặt nước lững lờ cùng mùi hương của những cành cây đẫm nước trên đầu họ dường như đang chống lại mạch suy nghĩ của Stephen.

—Nhưng cậu vẫn chưa trả lời câu hỏi của tôi, Lynch nói. Nghệ thuật là gì? Cái đẹp mà nó thể hiện là gì?

—Đó chính là định nghĩa đầu tiên mà tôi đã đưa cho cậu, cái đồ đầu đất ngủ gật này, Stephen nói, hồi tôi bắt đầu tự mình nghiền ngẫm về vấn đề này. Cậu còn nhớ đêm hôm đó chứ? Cranly nổi giận đùng đùng và bắt đầu bàn chuyện thịt xông khói Wicklow.

—Tôi nhớ chứ, Lynch nói. Lão ta kể cho chúng ta nghe về mấy con lợn béo ú ụ khốn kiếp đó.

—Nghệ thuật, Stephen nói, là sự sắp đặt của con người đối với vật chất cảm nhận được hoặc hiểu được nhằm hướng tới một mục đích thẩm mỹ. Cậu nhớ mấy con lợn mà lại quên mất điều đó. Cậu đúng là một cặp đôi khiến người ta phát bực, cậu và cả Cranly nữa.

Lynch làm bộ mặt xấu xí hướng về bầu trời xám xịt và nói:

—Nếu tôi phải nghe triết học thẩm mỹ của cậu thì ít nhất hãy cho tôi thêm một điếu thuốc đi. Tôi chẳng thèm quan tâm đến nó đâu. Thậm chí tôi còn chẳng màng đến phụ nữ nữa là. Mẹ kiếp cậu và mẹ kiếp tất cả mọi thứ. Tôi chỉ muốn tìm một công việc lương năm trăm bảng thôi. Mà cậu thì chẳng kiếm nổi cho tôi công việc đó đâu.

Stephen đưa cho cậu ta bao thuốc lá. Lynch rút điếu cuối cùng còn sót lại, cộc lốc nói:

—Nói tiếp đi!

—Aquinas, Stephen nói, cho rằng cái đẹp là sự nhận thức mang lại niềm vui.

Lynch gật đầu.

—Tôi nhớ điều đó, cậu ta nói, Pulcra sunt quæ visa placent.

—Ông ấy dùng từ "visa", Stephen nói, nhằm bao trùm sự nhận thức thẩm mỹ dưới mọi hình thức, dù là thông qua thị giác, thính giác hay bất kỳ giác quan nhận thức nào khác. Từ này, dẫu có vẻ mơ hồ, nhưng lại đủ rõ ràng để loại trừ cái thiện và cái ác—những thứ vốn kích thích ham muốn và sự chán ghét. Nó chắc chắn ngụ ý về một trạng thái tĩnh (stasis) chứ không phải trạng thái động (kinesis). Thế còn chân lý thì sao? Nó cũng tạo ra một trạng thái tĩnh cho tâm trí. Cậu sẽ không đời nào viết tên mình bằng bút chì lên cạnh huyền của một tam giác vuông đâu nhỉ.

—Không chứ, Lynch nói, đưa cạnh huyền của bức tượng thần Vệ Nữ của Praxiteles cho tôi còn hơn.

—Do đó nó mang tính tĩnh, Stephen nói. Plato, tôi tin là vậy, từng nói rằng cái đẹp là ánh quang của chân lý. Tôi không nghĩ câu đó có ý nghĩa gì sâu xa, nhưng chân lý và cái đẹp có họ hàng với nhau. Chân lý được nhìn nhận bởi trí tuệ—thứ được làm cho thỏa mãn bởi những mối quan hệ thỏa đáng nhất của những gì có thể nhận thức được; cái đẹp được nhìn nhận bởi trí tưởng tượng—thứ được làm cho thỏa mãn bởi những mối quan hệ thỏa đáng nhất của những gì có thể cảm nhận qua giác quan. Bước đầu tiên hướng tới chân lý là thấu hiểu khuôn khổ và tầm vóc của chính trí tuệ, là lĩnh hội bản thân hành động nhận thức. Toàn bộ hệ thống triết học của Aristotle nằm trọn trong cuốn sách tâm lý học của ông, và tôi nghĩ nó dựa trên khẳng định của ông rằng cùng một thuộc tính không thể cùng một lúc và trong cùng một mối liên hệ vừa thuộc về vừa không thuộc về cùng một chủ thể. Bước đầu tiên hướng tới cái đẹp là thấu hiểu khuôn khổ và tầm vóc của trí tưởng tượng, lĩnh hội bản thân hành động nhận thức thẩm mỹ. Cậu hiểu chưa?

—Nhưng cái đẹp rốt cuộc là gì? Lynch thiếu kiên nhẫn hỏi. Phải phun ra thêm một định nghĩa nữa chứ! Một thứ gì đó chúng ta nhìn thấy và thích thú! Đó là điều tốt nhất mà cậu và Aquinas có thể làm thôi sao?

—Hãy lấy phụ nữ làm ví dụ đi, Stephen nói.

—Lấy cô ta đi! Lynch nhiệt tình thốt lên.

—Người Hy Lạp, người Thổ Nhĩ Kỳ, người Trung Hoa, người Copt, người Hottentot, Stephen nói, tất cả đều ngưỡng mộ những kiểu vẻ đẹp nữ tính khác nhau. Điều đó có vẻ là một mê cung mà chúng ta chẳng thể nào trốn thoát. Tuy nhiên, tôi nhìn thấy hai lối thoát. Lối thứ nhất là giả thuyết này: rằng mọi phẩm chất thể chất được đàn ông ngưỡng mộ ở phụ nữ đều có mối liên hệ trực tiếp với các chức năng đa dạng của phụ nữ trong việc duy trì nòi giống. Có thể là vậy. Có vẻ như thế giới này còn ảm đạm hơn cả những gì cậu, Lynch, từng tưởng tượng. Về phần mình, tôi không thích lối thoát đó lắm. Nó dẫn đến phong trào ưu sinh (eugenics) nhiều hơn là thẩm mỹ học. Nó dẫn cậu ra khỏi mê cung để bước vào một phòng giảng lòe loẹt mới, nơi MacCann, một tay cầm Nguồn gốc các loài và một tay cầm cuốn tân ước, bảo rằng cậu ngưỡng mộ cặp hông lực lưỡng của thần Vệ Nữ bởi vì cậu cảm thấy mụ ta sẽ đẻ ra cho cậu những đứa con vạm vỡ, và ngưỡng mộ bộ ngực căng đầy của mụ vì cậu cảm thấy mụ sẽ cung cấp dòng sữa ngọt lành cho những đứa con của mụ và của cậu.

—Thế thì MacCann đúng là một thằng lợn dối trá vàng khè, Lynch hằn học nói.

—Vẫn còn một lối thoát khác, Stephen vừa cười vừa nói.

—Cụ thể là gì? Lynch hỏi.

—Giả thuyết này, Stephen bắt đầu.

Một chiếc xe ngựa chở đầy sắt vụn ì à ì ạch đi vòng qua góc bệnh viện Sir Patrick Dun, che lấp đoạn cuối câu nói của Stephen bằng tiếng ầm ầm chói tai của kim loại va chạm lách cách. Lynch bịt hai tai lại và tuôn ra hết lời nguyền rủa này đến lời nguyền rủa khác cho đến khi chiếc xe ngựa đi qua. Sau đó cậu ta hầm hầm quay ngoắt gót chân lại. Stephen cũng quay người theo và đứng chờ vài thoáng cho đến khi cơn bực dọc của bạn mình trút xong.

—Giả thuyết này, Stephen lặp lại, chính là lối thoát thứ hai: rằng, dẫu cùng một đối tượng có vẻ không đẹp trong mắt tất cả mọi người, nhưng tất cả những ai ngưỡng mộ một đối tượng đẹp đều tìm thấy ở đó những mối quan hệ nhất định thỏa mãn và trùng khớp với chính các giai đoạn của mọi nhận thức thẩm mỹ. Do đó, những mối quan hệ cảm giác này—có thể hiển hiện với cậu qua hình thức này và với tôi qua hình thức khác—ắt phải là những phẩm chất tất yếu của cái đẹp. Giờ thì chúng ta có thể quay lại với người bạn già thánh Thomas của chúng ta để xin thêm một xu khôn ngoan nữa.

Lynch bật cười.

—Tôi thấy cực kỳ buồn cười, cậu ta nói, khi nghe cậu trích dẫn lão ta lần này qua lần khác hệt như một vị tu sĩ mập mạp vui tính. Cậu đang cười thầm trong bụng phải không?

—MacAlister, Stephen đáp, sẽ gọi lý thuyết thẩm mỹ của tôi là triết học Aquinas ứng dụng. Chừng nào còn xét về khía cạnh triết học thẩm mỹ này, Aquinas sẽ chống lưng cho tôi trên toàn tuyến. Còn khi chúng ta bước sang các hiện tượng của sự thụ thai nghệ thuật, sự hoài thai nghệ thuật và sự tái sản xuất nghệ thuật, tôi đòi hỏi một hệ thống thuật ngữ mới và một trải nghiệm cá nhân mới.

—Dĩ nhiên rồi, Lynch nói. Rốt cuộc thì Aquinas, bất chấp trí tuệ của mình, vẫn chính xác là một vị tu sĩ mập mạp tốt bụng. Nhưng cậu sẽ kể cho tôi nghe về trải nghiệm cá nhân mới và thuật ngữ mới đó vào một ngày khác đi. Mau lên và kết thúc phần đầu đi thôi.

—Ai mà biết được chứ? Stephen mỉm cười nói. Có lẽ Aquinas sẽ hiểu tôi rõ hơn cậu đấy. Bản thân ngài ấy cũng là một nhà thơ. Ngài từng viết một bài thánh ca cho ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Nó bắt đầu bằng những từ Pange lingua gloriosi. Người ta bảo đó là vinh quang cao cả nhất của sách thánh ca. Đó là một bài thánh ca tinh vi và xoa dịu. Tôi thích nó; nhưng chẳng có bài thánh ca nào có thể được đặt lên bàn cân sánh ngang với khúc ca diễu hành tang thương và hùng tráng ấy, bài Vexilla Regis của Venantius Fortunatus.

Lynch bắt đầu khẽ cất giọng ca trầm ấm, trang nghiêm bằng chất giọng nam trầm sâu thẳm:

Inpleta sunt quæ concinit

David fideli carmine

Dicendo nationibus

Regnavit a ligno Deus.

—Tuyệt thật đấy! cậu ta vô cùng đắc ý nói. Âm nhạc đỉnh cao!

Họ rẽ vào Phố Lower Mount. Cách góc phố vài bước chân, một thanh niên mập mạp đeo khăn choàng cổ bằng lụa chào họ rồi khựng lại.

—Các cậu đã nghe kết quả thi cử chưa? cậu ta hỏi. Griffin bị trượt rồi. Halpin và O’Flynn đậu kỳ thi công chức trung ương. Moonan đứng thứ năm ngạch Ấn Độ. O’Shaughnessy đứng thứ mười bốn. Đám sinh viên Ireland ở trường Clark vừa tổ chức một buổi tiệc khoản đãi bọn họ tối qua. Tất cả bọn họ đều ăn cà ri.

Khuôn mặt nhợt nhạt phù thũng của cậu ta bộc lộ vẻ ác ý từ thiện, và khi cậu ta say sưa tuôn ra tin chiến thắng, đôi mắt nhỏ húp híp mỡ của cậu ta biến mất tăm và giọng nói khò khè yếu ớt chìm nghỉm khỏi tầm nghe.

Đáp lại một câu hỏi từ Stephen, đôi mắt và giọng nói của cậu ta lại lòi ra khỏi chỗ nấp.

—Ừ, MacCullagh và tôi, cậu ta nói. Cậu ấy thi toán thuần túy còn tôi thi lịch sử hiến pháp. Có tới hai mươi môn thi cơ. Tôi còn thi cả thực vật học nữa. Cậu biết đấy, tôi là thành viên của câu lạc bộ điền kinh.

Cậu ta lùi lại phía sau hai người kia với dáng điệu đường bệ và đặt một bàn tay mập mạp đeo găng len lên ngực, từ đó phát ra ngay những tiếng cười khò khè lẩm bẩm.

—Lần tới đi chơi mang về cho chúng tôi vài củ cải và hành tây nhé, Stephen khô khan nói, để nấu món hầm.

Cậu sinh viên mập mạp cười xòa rộng lượng và nói:

—Tất cả chúng ta trong câu lạc bộ điền kinh đều là những người cực kỳ đáng kính đấy nhé. Thứ Bảy tuần trước chúng tôi vừa đi Glenmalure, bảy người chúng tôi cơ đấy.

—Đi cùng phụ nữ à, Donovan? Lynch hỏi.

Donovan lại đặt tay lên ngực và nói:

—Mục đích của chúng tôi là thu nạp tri thức.

Rồi cậu ta nói tiếp một cách nhanh chóng:

—Tôi nghe nói cậu đang viết vài bài luận về thẩm mỹ phỏng?

Stephen có động tác phủ nhận bâng quơ.

—Goethe và Lessing, Donovan nói, đã viết rất nhiều về chủ đề đó, trường phái cổ điển rồi trường phái lãng mạn này nọ. Cuốn Laocoon làm tôi rất hứng thú khi đọc nó. Dĩ nhiên là nó mang tính duy tâm, kiểu Đức, siêu uyên thâm.

Không ai trong hai người kia lên tiếng. Donovan lịch sự chào từ biệt họ.

—Tôi phải đi đây, cậu ta mềm mỏng và từ thiện nói, tôi có một mối hoài nghi lớn, gần như đã thành niềm tin chắc chắn, rằng chị tôi định làm bánh kếp vào ngày hôm nay cho bữa tối của gia đình Donovan đấy.

—Tạm biệt nhé, Stephen cất lời sau lưng cậu ta. Đừng quên củ cải cho tôi và bạn tôi đấy nhé.

Lynch ngước nhìn theo bóng cậu ta, khóe môi cong lên vẻ khinh miệt chậm rãi cho đến khi khuôn mặt trông giống như mặt nạ ác quỷ:

—Nghĩ đến việc cái thứ phân bánh kếp vàng vọt đó có thể kiếm được một công việc ngon lành, cậu ta lầm bầm, trong khi tôi lại phải phì phèo mấy điếu thuốc lá rẻ tiền!

Họ quay mặt hướng về Phố Merrion và bước đi trong im lặng một lúc.

—Để nói nốt những gì tôi đang dang dở về cái đẹp, Stephen bắt đầu, những mối quan hệ thỏa đáng nhất của các giác quan do đó phải tương ứng với các giai đoạn thiết yếu của nhận thức thẩm mỹ. Tìm ra những điều đó là cậu tìm ra phẩm chất của cái đẹp phổ quát. Aquinas nói: Ad pulcritudinem tria requiruntur integritas, consonantia, claritas. Tôi dịch nó thế này: Ba điều cần thiết cho cái đẹp là tính toàn vẹn (wholeness), tính hài hòa (harmony) và tính rạng rỡ (radiance). Liệu những điều này có tương ứng với các giai đoạn nhận thức không? Cậu có đang theo dõi không đấy?

—Dĩ nhiên là có chứ, Lynch nói. Nếu cậu nghĩ tôi sở hữu một trí tuệ bài tiết thì hãy chạy theo Donovan mà bảo cậu ta nghe cậu giảng giải kìa.

Stephen chỉ vào chiếc giỏ mà một cậu bé bán thịt đang treo lộn ngược trên đầu.

—Nhìn chiếc giỏ kia kìa, hắn nói.

—Tôi thấy nó rồi, Lynch nói.

—Để nhìn thấy chiếc giỏ đó, Stephen nói, trước hết tâm trí cậu phải tách chiếc giỏ ra khỏi phần còn lại của vũ trụ hữu hình—thứ vốn không phải là chiếc giỏ. Giai đoạn nhận thức đầu tiên là một đường ranh giới được vạch ra bao quanh đối tượng cần nhận thức. Một hình ảnh thẩm mỹ được trình bày trước chúng ta hoặc trong không gian hoặc trong thời gian. Những gì nghe được được trình bày trong thời gian, những gì nhìn thấy được trình bày trong không gian. Nhưng dù là thời gian hay không gian, hình ảnh thẩm mỹ trước tiên được nhận thức một cách rạng rỡ như là tự giới hạn và tự chứa đựng trên nền tảng vô tận của không gian hoặc thời gian—thứ vốn không phải là nó. Cậu nhận thức nó như một thể thống nhất. Cậu nhìn nhận nó như một thể toàn vẹn. Cậu nhận thức tính toàn vẹn của nó. Đó chính là integritas.

—Trúng hồng tâm! Lynch vừa cười vừa nói. Nói tiếp đi.

—Sau đó, Stephen nói, cậu dịch chuyển từ điểm này sang điểm khác, được dẫn dắt bởi các đường nét hình thức của nó; cậu nhận thức nó như sự cân bằng giữa phần này với phần khác trong giới hạn của nó; cậu cảm nhận được nhịp điệu trong cấu trúc của nó. Nói cách khác, sự tổng hợp của nhận thức tức thời được nối tiếp bởi sự phân tích của sự nhận thức. Sau khi đã cảm nhận trước tiên rằng nó là một thể thống nhất, giờ đây cậu cảm nhận rằng nó là một vật thể. Cậu nhận thức nó như một thực thể phức tạp, đa dạng, có thể chia tách, có thể phân định, được cấu thành từ các bộ phận của nó, là kết quả của các bộ phận và tổng hòa của chúng, vô cùng hài hòa. Đó chính là consonantia.

—Lại trúng hồng tâm lần nữa! Lynch dí dỏm nói. Bây giờ hãy nói cho tôi nghe claritas là gì đi rồi cậu sẽ giành được điếu xì-gà.

—Ý nghĩa hàm ẩn của từ này, Stephen nói, có phần khá mơ hồ. Aquinas dùng một thuật ngữ có vẻ không chính xác lắm. Nó đã làm tôi bối rối trong một thời gian dài. Nó sẽ dẫn cậu đến chỗ tin rằng ông ấy đang mang trong đầu tư tưởng tượng trưng hoặc chủ nghĩa duy tâm, với phẩm chất tối cao của cái đẹp là một thứ ánh sáng từ một thế giới khác nào đó—thứ mà vật chất chỉ là cái bóng, thứ mà thực tại chỉ là biểu tượng. Tôi từng nghĩ ông ấy có lẽ ngụ ý rằng claritas chính là sự khám phá và biểu hiện mang tính nghệ thuật về mục đích thần thánh trong bất kỳ vật gì, hoặc một lực khái quát hóa nhằm biến hình ảnh thẩm mỹ thành một hình ảnh phổ quát, khiến nó tỏa sáng vượt lên trên các điều kiện thông thường của chính nó. Nhưng đó chỉ là thứ ngôn ngữ văn chương. Tôi hiểu nó thế này. Khi cậu đã nhận thức chiếc giỏ đó như một thể thống nhất rồi sau đó phân tích nó theo hình thức của nó và nhận thức nó như một vật thể, cậu thực hiện phép tổng hợp duy nhất được cho phép về mặt logic và thẩm mỹ. Cậu thấy rằng nó chính là cái vật thể đó, chính là nó chứ không phải bất kỳ vật thể nào khác. Ánh hào quang mà ông ấy nhắc đến chính là quidditas theo thuật ngữ kinh viện, bản chất đích thực (whatness) của một sự vật. Phẩm chất tối cao này được cảm nhận bởi người nghệ sĩ khi hình ảnh thẩm mỹ lần đầu tiên được hoài thai trong trí tưởng tượng của anh ta. Khoảnh khắc huyền bí ấy được Shelley ví von một cách tuyệt đẹp hệt như một mẩu than đang lụi tàn. Khoảnh khắc mà trong đó phẩm chất tối cao của cái đẹp—ánh quang trong trẻo của hình ảnh thẩm mỹ—được nhận thức rạng rỡ bởi tâm trí vốn đã bị kìm hãm bởi tính toàn vẹn và bị mê hoặc bởi tính hài hòa của nó, chính là trạng thái tĩnh lặng rạng rỡ và thầm lặng của niềm vui thẩm mỹ, một trạng thái tinh thần rất giống với tình trạng tim mạch mà nhà sinh lý học người Ý Luigi Galvani—khi sử dụng một cụm từ đẹp gần bằng của Shelley—đã gọi là sự mê hoặc của trái tim.

Stephen dừng lời và, dẫu người bạn không lên tiếng, hắn cảm thấy những lời mình vừa thốt ra đã khơi gợi xung quanh họ một khoảng lặng đẫm tư tư duy.

—Những gì tôi vừa nói, hắn bắt đầu lại, đề cập đến cái đẹp theo nghĩa rộng hơn của từ này, theo nghĩa mà từ đó mang trong truyền thống văn chương. Ngoài chợ búa, nó lại mang một nghĩa khác. Khi chúng ta nói về cái đẹp theo nghĩa thứ hai của thuật ngữ này, phán quyết của chúng ta trước hết bị chi phối bởi chính nghệ thuật đó và bởi hình thức của nghệ thuật đó. Rõ ràng là hình ảnh phải được đặt ở giữa tâm trí hoặc các giác quan của chính người nghệ sĩ và tâm trí hoặc các giác quan của những người khác. Nếu cậu ghi nhớ điều này, cậu sẽ thấy nghệ thuật tất yếu tự chia thành ba hình thức tiến triển từ hình thức này sang hình thức tiếp theo. Các hình thức đó là: hình thức trữ tình (lyrical), hình thức mà trong đó người nghệ sĩ trình bày hình ảnh của mình trong mối quan hệ trực tiếp với chính anh ta; hình thức sử thi (epical), hình thức mà trong đó anh ta trình bày hình ảnh của mình trong mối quan hệ gián tiếp với chính anh ta và với những người khác; hình thức kịch nghệ (dramatic), hình thức mà trong đó anh ta trình bày hình ảnh của mình trong mối quan hệ trực tiếp với những người khác.

—Cậu đã kể cho tôi nghe điều đó vài đêm trước rồi, Lynch nói, và chúng ta đã bắt đầu cuộc tranh luận nổi tiếng đó.

—Tôi có một cuốn sách ở nhà, Stephen nói, trong đó tôi đã ghi chép lại những câu hỏi còn thú vị hơn cả của cậu nữa. Khi tìm ra câu trả lời cho chúng, tôi đã tìm ra lý thuyết thẩm mỹ mà tôi đang cố gắng giải thích đây. Dưới đây là một số câu hỏi tôi tự đặt cho mình: Một chiếc ghế được chế tác tinh xảo thì mang tính bi kịch hay hài kịch? Bức chân dung nàng Mona Lisa có tốt không nếu tôi thèm muốn được ngắm nó? Bức tượng bán thân của Sir Philip Crampton mang tính trữ tình, sử thi hay kịch nghệ? Nếu không thì tại sao không?

—Tại sao không chứ, quả thật vậy, Lynch vừa cười vừa nói.

—Nếu một người đang đục đẽo cuồng nộ vào một khối gỗ, Stephen tiếp tục, tạo ra ở đó hình ảnh của một con bò, liệu hình ảnh đó có phải là một tác phẩm nghệ thuật không? Nếu không thì tại sao không?

—Câu đó hay tuyệt, Lynch vừa cười vang vừa nói. Mang nặng cái mùi hôi hám đặc trưng của triết học kinh viện đấy.

—Lessing, Stephen nói, đáng lẽ không nên chọn một nhóm các bức tượng để viết luận bàn. Thể loại nghệ thuật đó, vốn kém cỏi hơn, không thể trình bày các hình thức mà tôi vừa nói một cách tách bạch rõ ràng với nhau. Ngay cả trong văn chương—loại hình nghệ thuật cao cả và tâm linh nhất—các hình thức đôi khi vẫn bị lẫn lộn với nhau. Hình thức trữ tình thực chất là lớp áo ngôn từ đơn giản nhất của một khoảnh khắc cảm xúc, một tiếng kêu nhịp nhàng hệt như tiếng hô hào từ nhiều thời đại trước từng cổ vũ những kẻ kéo mái chèo hay kéo những khối đá lên dốc. Kẻ thốt ra tiếng kêu ấy nhận thức về khoảnh khắc cảm xúc rõ hơn là nhận thức về bản thân mình như là kẻ đang cảm nhận cảm xúc. Hình thức sử thi đơn giản nhất xuất hiện khi trỗi dậy từ văn học trữ tình lúc người nghệ sĩ kéo dài và đăm đăm suy tưởng về bản thân như là tâm điểm của một sự kiện sử thi, và hình thức này tiến triển cho đến khi tâm điểm của trọng lực cảm xúc cách đều cả chính người nghệ sĩ lẫn những người khác. Tác phẩm tự sự không còn thuần túy mang tính cá nhân nữa. Nhân cách của người nghệ sĩ thấm đượm vào chính tác phẩm tự sự, tuôn chảy cuồn cuộn quanh các nhân vật và hành động hệt như một đại dương đầy sinh khí. Cậu sẽ dễ dàng nhìn thấy tiến trình này trong bản ballad cổ của người Anh Turpin Hero—bắt đầu bằng ngôi thứ nhất và kết thúc bằng ngôi thứ ba. Hình thức kịch nghệ đạt tới khi sinh khí từng tuôn chảy và cuộn xoáy quanh từng nhân vật làm cho mọi nhân vật tràn đầy sức sống đến mức mỗi người tự đảm nhận cho mình một đời sống thẩm mỹ riêng biệt và vô hình. Nhân cách của người nghệ sĩ—ban đầu chỉ là một tiếng kêu, một tiết tấu hay một tâm trạng, rồi sau đó trở thành một dòng tự sự linh hoạt và rực rỡ—cuối cùng tự tinh chế cho đến khi biến mất hoàn toàn, có thể gọi là tự phi cá nhân hóa. Hình ảnh thẩm mỹ trong hình thức kịch nghệ chính là cuộc đời được thanh lọc bên trong và được phóng chiếu trở lại từ trí tưởng tượng của con người. Sự huyền bí của thẩm mỹ, cũng giống như sự sáng tạo vật chất, đã được hoàn thành. Người nghệ sĩ, giống như vị Chúa sáng thế, vẫn ở bên trong hoặc đằng sau hoặc vượt lên trên hoặc ở trên tác phẩm của chính mình, vô hình, tự tinh chế cho đến khi biến mất, dửng dưng, thảnh thơi dũa móng tay.

—Cố gắng dũa luôn cả sự tồn tại của mình cho biến mất luôn, Lynch nói.

Một làn mưa mịn bắt đầu lất phất rơi từ bầu trời cao bị che khuất và họ rẽ vào bãi cỏ của công tước để kịp đến thư viện quốc gia trước khi cơn mưa rào kéo tới.

—Cậu có ý gì cơ chứ, Lynch bực dọc hỏi, khi cứ huyên thuyên bàn về cái đẹp và trí tưởng tượng ở cái hòn đảo khốn khổ bị Chúa bỏ quên này? Chẳng trách mà người nghệ sĩ lại rút lui vào bên trong hoặc đằng sau tác phẩm của mình sau khi đã gây ra cái đất nước này.

Mưa rơi càng lúc càng nhanh. Khi bước qua lối đi bên cạnh tòa nhà Kildare, họ thấy rất nhiều sinh viên đang đứng trú dưới mái hiên của thư viện. Cranly, đang tựa lưng vào một cây cột, dùng một que diêm vót nhọn để xỉa răng, vừa lắng nghe vài người bạn. Một vài cô gái đang đứng gần cửa ra vào. Lynch thì thầm với Stephen:

—Người trong mộng của cậu ở kìa.

Stephen lặng lẽ bước vào vị trí trên bậc thềm ngay dưới nhóm sinh viên, mặc kệ làn mưa rơi nặng hạt, thỉnh thoảng lại hướng đôi mắt về phía cô. Nàng cũng đứng lặng lẽ giữa những người bạn của mình. Cô ấy chẳng có vị linh mục nào để mà ve vả cả, hắn thầm nghĩ với sự cay đắng có ý thức, nhớ lại lần cuối cùng hắn nhìn thấy nàng. Lynch nói đúng. Tâm trí hắn trống rỗng các lý thuyết và lòng dũng cảm, lại chìm đắm trở lại vào sự bình yên dửng dưng.

Hắn nghe thấy đám sinh viên đang trò chuyện rôm rả với nhau. Họ bàn về hai người bạn vừa vượt qua kỳ thi y khoa cuối khóa, về cơ hội kiếm được việc làm trên các con tàu du lịch đại dương, về việc hành nghề y giàu có hay nghèo khổ.

—Toàn là bong bóng xà phòng cả thôi. Hành nghề ở vùng quê Ireland vẫn tốt hơn.

—Hynes từng ở Liverpool hai năm và cậu ấy cũng nói thế. Một cái ổ khốn nạn, cậu ta bảo vậy. Toàn là mấy ca đỡ đẻ chứ chả có quái gì khác.

—Ý cậu là làm một công việc ở đây, vùng nông thôn, tốt hơn là ở một thành phố thương mại giàu có như thế á? Tôi biết một gã...

—Hynes chẳng có tí não trạng nào. Cậu ta vượt qua được là nhờ cày cuốc, toàn cày cuốc thuần túy.

—Đừng để ý đến lão ta. Kiếm bộn tiền ở một thành phố thương mại lớn thì có khối cách.

—Còn tùy thuộc vào việc hành nghề thế nào nữa chứ.

—Ego credo ut vita pauperum est simpliciter atrox, simpliciter sanguinarius atrox, in Liverpoolio (Tôi tin rằng đời sống của những kẻ nghèo khổ ở Liverpool đơn giản là tàn bạo, đơn giản là tàn bạo đẫm máu).

Giọng nói của họ vọng đến tai hắn từ đằng xa trong những nhịp đập ngắt quãng. Nàng đang chuẩn bị rời đi cùng những người bạn của mình.

Cơn mưa rào nhanh chóng đã tạnh, lưu lại những chùm lấp lánh như kim cương giữa những tán cây bụi trong khoảng sân khi một làn hơi thở bốc lên từ mặt đất đen kịch. Tiếng giày bốt gọn gàng của họ lốc cốc vang lên khi họ đứng trên các bậc thềm của hàng cột hiên, trò chuyện khẽ khàng và vui vẻ, liếc nhìn những đám mây, cầm ô ở những góc độ khéo léo để che vài giọt mưa cuối cùng, rồi lại cụp ô xuống, điềm đạm khép vạt váy lại.

Và nhỡ đâu hắn đã phán xét nàng quá khắc nghiệt thì sao? Nếu cuộc đời nàng chỉ đơn thuần là một chuỗi hạt mân côi của những giờ phút, cuộc đời đơn giản và kỳ lạ như đời của một loài chim, vui tươi vào buổi ban mai, bồn chồn suốt cả ngày, mệt lử khi hoàng hôn buông xuống? Trái tim nàng đơn giản và bướng bỉnh hệt như trái tim loài chim?

Gần rạng sáng, hắn bừng tỉnh. Ồ, thứ âm thanh ngọt ngào làm sao! Tâm hồn hắn ướ đẫm sương mai. Lướt qua các chi hắn trong giấc ngủ là những con sóng ánh sáng mát lạnh nhợt nhạt. Hắn nằm im lìm, như thể linh hồn hắn đang nằm giữa làn nước mát rượi, ý thức được thứ âm thanh ngọt ngào mờ ảo. Tâm trí hắn đang chậm rãi tỉnh giấc trước một tri thức ban mai rưng rưng run rẩy, một cảm hứng ban mai. Một thứ tinh thần tràn ngập trong hắn, thuần khiết như làn nước trong trẻo nhất, ngọt ngào như sương mai, uyển chuyển hệt như âm nhạc. Nhưng sao nó lại được hít vào mỏng manh biết bao, sao mà lãnh đạm đến thế, hệt như chính các bậc xê-ra-fim đang thở phả vào hắn vậy! Tâm hồn hắn đang chậm rãi thức giấc, sợ hãi việc phải tỉnh giấc hoàn toàn. Đó là khoảng khắc không gió của buổi bình mai khi sự điên loạn trỗi dậy và những loài thực vật kỳ lạ hé nở đón ánh sáng cùng loài bướm lặng lẽ bay ra.

Sự mê hoặc của trái tim! Đêm qua thật sự bị bỏ bùa mê. Trong một giấc mơ hay một thị kiến, hắn đã tường tận sự ngây ngất của đời sống các xê-ra-fim. Đó chỉ là một khoảnh khắc mê hoặc ngắn ngủi hay là suốt những giờ dài, năm tháng và thời đại? Khoảnh khắc cảm hứng giờ đây dường như đang được phản chiếu từ mọi phía cùng lúc từ một đám mây mù những hoàn cảnh về những gì đã xảy ra hoặc những gì có thể đã xảy ra. Khoảnh khắc ấy chớp lóe lên như một điểm sáng và giờ đây từ đám mây này đến đám mây khác của những hoàn cảnh mơ hồ, hình hài hỗn độn đang mềm mại che khuất ánh hào quang rực rỡ còn vương lại của nó. Ồ! Trong cung lòng trinh nguyên của trí tưởng tượng, ngôi lời đã trở thành xác thịt. Gabriel vị xê-ra-fim đã đến căn phòng của trinh nữ. Một ánh hào quang rực rỡ còn sót lại sâu thẳm trong tâm hồn hắn, nơi ngọn lửa trắng vừa vụt qua, sâu thẳm dần thành một thứ ánh sáng hồng hào và nồng nhiệt. Ánh sáng hồng hào và nồng nhiệt ấy chính là trái tim bướng bỉnh kỳ lạ của nàng—kỳ lạ ở chỗ chưa từng có người đàn ông nào thấu hiểu hoặc sẽ thấu hiểu, bướng bỉnh từ trước khi thế giới khởi nguyên; và bị dụ dỗ bởi ánh hào quang đỏ thắm tựa hoa hồng ấy, các phẩm trù xê-ra-fim đang rơi lả tả từ thiên đàng xuống.

Cậu có ngán ngẩm những con đường nồng nhiệt,

Cám dỗ của bầy xê-ra-fim sa ngã?

Đừng kể nữa những ngày tháng say đắm.

Những vần thơ rời khỏi tâm trí hắn để đến trên môi và, khi lẩm nhẩm nhẩm lại chúng, hắn cảm nhận được chuyển động nhịp nhàng của một thể thơ villanelle lướt qua. Ánh sáng tựa hoa hồng phóng thích những tia vần điệu của nó: ways, days, blaze, praise, raise. Những tia sáng của nó thiêu rụi thế giới, tiêu hủy trái tim của con người và các thiên thần: những tia sáng tỏa ra từ đóa hồng chính là trái tim bướng bỉnh của nàng.

Đôi mắt cậu đã khiến tim người bùng cháy,

Và cậu đã đạt được ý nguyện trên người ấy.

Cậu không ngán ngẩm những con đường nồng nhiệt sao?

Và rồi? Nhịp điệu lụi tàn, ngưng bặt, rồi lại bắt đầu chuyển động và đập nhịp. Và rồi? Khói, hương trầm bốc lên từ bàn thờ của thế giới.

Phía trên ngọn lửa, làn khói tụng ca

Bay lên từ bờ đại dương này đến bờ đại dương khác

Đừng kể nữa những ngày tháng say đắm.

Khói bốc lên từ khắp mặt đất, từ những đại dương bốc hơi, khói tụng ca nàng. Trái thế giới tựa như một chiếc bình xông hương đang đung đưa ngả nghiêng, một quả cầu hương trầm, một quả bóng hình ellipsoid. Nhịp điệu lập tức lụi tàn; tiếng kêu gào của trái tim hắn đã tan vỡ. Môi hắn bắt đầu lẩm nhẩm đi lẩm nhẩm lại những câu thơ đầu tiên; rồi vấp váp qua những nửa câu, lắp bắp và bế tắc; rồi dừng hẳn. Tiếng kêu của trái tim đã đứt đoạn.

Khoảng khắc không gió bị che khuất đã qua đi và sau ô cửa kính của khung cửa sổ trần trụi, ánh sáng ban mai đang tụ hội. Một hồi chuông điểm khẽ từ nơi rất xa. Một chú chim hót líu lo; hai chú, ba chú. Tiếng chuông và tiếng chim im bặt; và thứ ánh sáng trắng đục trải rộng từ đông sang tây, bao trùm thế giới, bao trùm cả ánh hồng trong lồng ngực hắn.

Sợ đánh mất tất cả, hắn đột ngột chồm người tì khuỷu tay tìm giấy và bút chì. Trên bàn chẳng có thứ gì cả; chỉ có chiếc đĩa súp mà hắn vừa ăn cơm tối và cây nến với những giọt mỡ quấn quít cùng đế giấy, bị cháy xém bởi ngọn lửa cuối cùng. Hắn mệt mỏi với tay về phía cuối giường, khua khoắng tìm kiếm trong các túi chiếc áo khoác đang treo ở đó. Những ngón tay hắn chạm vào một bút chì rồi đến bao thuốc lá. Hắn ngả người ra sau và, xé toạc bao thuốc, đặt điếu thuốc cuối cùng lên bệ cửa sổ rồi bắt đầu viết các khổ thơ của thể villanelle bằng những nét chữ nhỏ nhắn gọn gàng trên bề mặt bìa cứng thô ráp.

Viết xong, hắn ngả đầu lên chiếc gối lổn nhổn bông, lẩm nhẩm đọc lại chúng. Những cục bông vo cục dưới đầu gợi cho hắn nhớ đến những cục lông ngựa vo cục trong chiếc ghế sô-fa ở phòng khách của nàng—nơi hắn từng ngồi, khi thì mỉm cười khi thì đăm chiêu, tự hỏi tại sao mình lại đến, bất mãn với nàng và với chính mình, bối rối trước bức tranh Thánh Tâm treo trên chiếc tủ chén trống không. Hắn thấy nàng tiến đến gần mình trong lúc cuộc trò chuyện chùng xuống và nài nỉ hắn hát một trong những bài hát kỳ lạ của mình. Rồi hắn thấy mình ngồi bên chiếc đàn piano cũ kỹ, khẽ gảy những hợp âm từ các phím đàn đốm đốm và cất tiếng hát giữa không gian trò chuyện đã râm ran trở lại trong phòng, hướng về phía nàng—người đang tựa người bên bệ lò sưởi—một khúc ca thanh tao thời Elizabeth, một khúc từ biệt buồn bã ngọt ngào, khúc ca khải hoàn của Agincourt, giai điệu vui tươi của Greensleeves. Trong lúc hắn hát và nàng lắng nghe, hoặc giả vờ lắng nghe, trái tim hắn được bình yên nhưng khi những bài hát cổ kỳ quái ấy kết thúc và hắn lại nghe thấy những giọng nói trong phòng, hắn nhớ lại sự châm biếm của chính mình: cái ngôi nhà mà ở đó đám thanh niên được gọi bằng tên thánh sớm hơn một chút.

Vào những khoảnh khắc nhất định, đôi mắt nàng có vẻ như sắp sửa đặt niềm tin vào hắn nhưng hắn đã chờ đợi trong vô vọng. Nàng giờ đây đang nhảy múa nhẹ nhàng lướt qua ký ức của hắn hệt như đêm tiệc hóa trang hôm ấy, chiếc váy trắng hơi nhấc cao, một nhành hoa trắng khẽ gật gù trên mái tóc. Nàng nhảy múa nhẹ nhàng theo vòng tròn. Nàng đang nhảy về phía hắn và khi tiến đến, đôi mắt nàng hơi né tránh và một vầng sáng nhạt vương trên má nàng. Trong khoảnh khắc dừng lại của chuỗi tay đan, bàn tay nàng đã nằm trong tay hắn một thoáng, một món hàng hóa mềm mại.

—Bây giờ anh đã thành một vị khách vô cùng xa lạ rồi đấy.

—Phải. Tôi sinh ra để làm tu sĩ mà.

—Tôi e là anh là một kẻ dị giáo đấy.

—Cô có sợ lắm không?

Đáp lại, nàng đã nhảy múa rời xa hắn dọc theo chuỗi tay đan, uyển chuyển và kín đáo, chẳng trao mình cho ai. Nhành hoa trắng gật gù theo nhịp múa và khi nàng chìm vào bóng râm, ánh hào quang trên má nàng càng sâu thắm hơn.

Một tu sĩ! Hình ảnh của chính hắn bật ra—một kẻ mạo phạm chốn tu viện, một tu sĩ dòng Phan-xicl-cô dị giáo, vừa muốn vừa không muốn phục vụ, đang quay cuồng như Gherardino da Borgo San Donnino, giăng một tấm mạng ngụy biện uyển chuyển và thì thầm vào tai nàng.

Không, đó không phải hình ảnh của hắn. Nó giống hình ảnh của vị linh mục trẻ tuổi mà hắn từng nhìn thấy nàng đi cùng lần cuối, đang nhìn hắn bằng đôi mắt bồ câu, đùa nghịch với những trang sách học tiếng Ireland của nàng.

—Đúng thế, đúng thế, các tiểu thư đang dần về với chúng ta. Tôi có thể thấy điều đó mỗi ngày. Các tiểu thư đứng về phía chúng ta. Những trợ thủ đắc lực nhất của ngôn ngữ.

—Và cả giáo hội nữa phải không, cha Moran?

—Cả giáo hội nữa chứ. Cũng đang quay về với chúng ta. Công việc ở đó cũng đang tiến triển. Đừng có lo lắng về giáo hội.

Xì! Hắn đã làm đúng khi rời khỏi căn phòng với vẻ khinh miệt. Hắn đã làm đúng khi không chào nàng trên bậc thềm thư viện. Hắn đã làm đúng khi để mặc nàng đi ve vả với vị linh mục của nàng, đùa giỡn với một giáo hội vốn chỉ là căn phòng rửa bát đĩa của thế giới Thiên Chúa giáo.

Cơn giận dữ thô bạo bạo tàn đã quét sạch khoảnh khắc ngây ngất còn vương vấn cuối cùng khỏi tâm hồn hắn. Nó xé nát bét hình ảnh tốt đẹp của nàng và văng tung tóe các mảnh vỡ đi muôn nơi. Từ mọi hướng, những hình ảnh phản chiếu méo mó về nàng bỗng trỗi dậy từ ký ức: cô bé bán hoa mặc chiếc váy rách rưới với mái tóc thô ẩm ướt và khuôn mặt bướng bỉnh từng tự nhận mình là cô đào của hắn và xin tiền mở hàng, cô bé làm bếp ở ngôi nhà bên cạnh vừa cất tiếng hát át tiếng lanh canh của đĩa bát với giọng kéo dài của một ca sĩ nhà quê mấy câu đầu của bài By Killarney’s Lakes and Fells, một cô bé từng cười rúc rích khi thấy hắn vấp ngã lúc tấm lưới sắt trên vỉa hè gần đồi Cork vướng vào phần đế giày bị rách, một cô bé mà hắn từng liếc nhìn—bị thu hút bởi cái miệng nhỏ nhắn mọng nước—khi nàng bước ra từ nhà máy bánh quy Jacob, kẻ từng hét lên với hắn qua bờ vai:

—Cậu có thích những gì thấy ở tôi không, tóc thẳng và lông mày uốn?

Và thế mà hắn cảm thấy rằng, dù hắn có lăng mạ và chế nhạo hình ảnh của nàng đến đâu đi nữa, cơn giận dữ của hắn cũng chính là một hình thức tôn sùng. Hắn đã rời khỏi phòng học với sự khinh miệt không hoàn toàn chân thành, cảm thấy rằng có lẽ bí mật về chủng tộc của nàng ẩn giấu đằng sau đôi mắt tối sẫm nơi hàng mi dài đang quăng một cái bóng chớp nhoáng. Hắn đã cay đắng tự nhủ khi bước đi qua những con phố rằng nàng chính là hình ảnh thu nhỏ cho người phụ nữ của đất nước nàng, một linh hồn tựa loài dơi đang bừng tỉnh nhận thức về bản thân trong bóng tối, sự bí mật và cô độc, nấn ná một lúc—không tình yêu và không tội lỗi—cùng người tình hiền lành của mình để rồi mặc kệ anh ta lẩm bẩm những tội lỗi vô hại vào chiếc tai có chấn song của một vị linh mục. Cơn giận dữ của hắn chĩa vào nàng tìm thấy lối thoát qua những lời lăng mạ thô tục nhắm vào tình nhân của nàng—kẻ mà tên tuổi, giọng nói và đường nét khuôn mặt đã xúc phạm niềm kiêu hãnh bế tắc của hắn: một gã nhà nông làm linh mục, có một người anh làm cảnh sát ở Dublin và một người em làm chân rót rượu ở Moycullen. Hắn sẽ là kẻ mà nàng vén bức màn khỏa thân ngượng ngùng của tâm hồn cho thấy, trước một kẻ chỉ được huấn luyện về việc cử hành một nghi lễ hình thức hơn là trước hắn—một vị tu sĩ của trí tưởng tượng vĩnh cửu, đang chuyển hóa chiếc bánh mì hằng ngày của trải nghiệm thành thân xác rạng rỡ của sự sống vĩnh hằng.

Hình ảnh rạng rỡ của bí tích Thánh Thể lại một lần nữa hợp nhất trong một khoảnh khắc những suy nghĩ cay đắng và tuyệt vọng của hắn, những tiếng kêu của chúng trào lên không đứt đoạn trong một bài thánh ca tạ ơn.

Những tiếng kêu đứt đoạn và khúc ca tang thương của chúng ta

Vút lên trong một bài thánh ca tạ ơn duy nhất

Cậu không ngán ngẩm những con đường nồng nhiệt sao?

Trong khi đôi bàn tay dâng tế nâng cao

Chén thánh tràn trề đến vành miệng

Đừng kể nữa những ngày tháng say đắm.

Hắn cất tiếng ngâm to những vần thơ từ những dòng đầu tiên cho đến khi âm nhạc và nhịp điệu thấm đẫm tâm trí, biến nó thành sự nuông chiều tĩnh lặng; rồi cặm cụi chép lại chúng để cảm nhận chúng rõ hơn qua việc nhìn ngắm; rồi ngả người ra sau gối.

Ánh sáng ban mai tràn ngập đã tới. Chẳng có âm thanh nào vang lên; nhưng hắn biết rằng xung quanh mình sự sống sắp sửa thức giấc trong những tiếng động thông thường, những giọng ngáy ngủ, những lời cầu nguyện ngái ngủ. Ghê sợ cuộc sống đó, hắn quay mặt vào tường, trùm chiếc chăn lên đầu làm mũ trùm tu sĩ và trân trân nhìn những bông hoa màu đỏ sẫm to tướng nở bung trên lớp giấy dán tường tả tơi. Hắn cố gắng sưởi ấm niềm vui đang lụi tàn của mình trong ánh hồng rực rỡ của chúng, tưởng tượng ra một con đường hoa hồng từ chỗ hắn nằm ngược lên thiên đàng đều được rải đầy hoa đỏ sẫm. Ngán ngẩm thay! Ngán ngẩm thay! Bản thân hắn cũng đã chán ngấy những con đường nồng nhiệt rồi.

Một hơi ấm dần lan tỏa, một sự mệt mỏi rã rời trùm lấy hắn, lan dọc theo sống lưng từ cái đầu đang trùm kín mũ tu sĩ. Hắn cảm nhận nó lan xuống và, khi nhìn thấy chính mình đang nằm đó, hắn mỉm cười. Chẳng mấy chốc hắn sẽ chìm vào giấc ngủ.

Hắn lại viết thơ cho nàng sau mười năm. Mười năm trước nàng từng trùm chiếc khăn choàng quanh đầu như mũ tu sĩ, phả những hơi thở ấm áp vào bầu trời đêm, nhịp chân gõ xuống mặt đường láng bóng. Đó là chuyến xe điện cuối cùng; những con ngựa nâu cao kều biết điều đó và lắc những chiếc chuông kêu lanh canh vào màn đêm trong trẻo để nhắc nhở. Người soát vé trò chuyện với người đánh xe, cả hai liên tục gật đầu trong ánh đèn xanh mướt. Họ đứng trên bậc thềm xe điện, hắn đứng ở bậc trên, nàng ở bậc dưới. Nàng bước lên bậc của hắn rất nhiều lần giữa các câu chuyện rồi lại bước xuống và có một hai lần nán lại bên hắn quên mất không xuống rồi mới chịu bước xuống. Thôi kệ đi! Thôi kệ đi!

Mười năm trôi qua từ sự khôn ngoan của trẻ thơ đến sự ngu ngốc của hắn. Nếu hắn gửi những vần thơ đó cho nàng? Chúng sẽ được đọc lên vào bữa sáng giữa tiếng lách cách gõ vỏ trứng. Ngu ngốc thật đấy! Mấy người anh của nàng sẽ cười và tranh nhau giật lấy tờ giấy từ tay đối phương bằng những ngón tay vạm vỡ cứng cáp của họ. Vị linh mục ngọt ngào, người bác của nàng, ngồi trên chiếc ghế bành, sẽ giơ tờ giấy ra xa bằng một cánh tay, mỉm cười đọc nó và tán thưởng hình thức văn chương.

Không, không; đó là sự ngu ngốc. Ngay cả khi hắn gửi những vần thơ ấy cho nàng thì nàng cũng sẽ chẳng đem khoe chúng với ai đâu. Không, không; nàng không thể thế được.

Hắn bắt đầu cảm thấy mình đã đối xử bất công với nàng. Một cảm giác về sự ngây thơ của nàng khiến hắn gần như động lòng thương hại nàng—một sự ngây thơ mà hắn chưa từng thấu hiểu cho đến khi hắn vấp ngã để thấu triệt nó qua tội lỗi, một sự ngây thơ mà chính nàng cũng chưa từng thấu hiểu khi còn ngây thơ hoặc trước khi sự sỉ nhục kỳ lạ về bản chất của nàng lần đầu giáng xuống đời nàng. Khi ấy, lần đầu tiên linh hồn nàng bắt đầu sinh sôi sự sống hệt như linh hồn hắn khi hắn phạm tội lần đầu, và một niềm trắc ẩn dịu dàng tràn ngập trái tim hắn khi hắn nhớ lại sắc nhợt nhạt mỏng manh cùng đôi mắt nàng, đầy vẻ khiêm nhường và đượm buồn bởi nỗi ô nhục tăm tối của nữ tính.

Trong lúc linh hồn hắn chuyển từ sự ngây ngất sang sự dật dờ rã rời thì nàng đang ở đâu? Phải chăng, theo những con đường bí ẩn của đời sống tâm linh, linh hồn nàng vào chính những khoảnh khắc ấy cũng đã ý thức được sự tôn sùng của hắn? Có thể lắm chứ.

Một luồng ham muốn lại bùng lên thiêu đốt tâm hồn hắn, nung nấu và thỏa mãn toàn bộ thể xác hắn. Ý thức được khao khát của hắn, nàng đang bừng tỉnh từ giấc ngủ ngát thơm, nàng kỹ nữ trong khúc villanelle của hắn. Đôi mắt nàng, tối sẫm và mang vẻ dật dờ, đang hé mở nhìn vào mắt hắn. Thân xác khỏa thân của nàng chịu khuất phục trước hắn, rạng rỡ, ấm áp, thơm ngát và ngập tràn những đường cong đầy đặn, ôm trọn lấy hắn như một đám mây tỏa sáng, ôm trọn lấy hắn như làn nước mang sự sống lỏng; và tựa như một đám mây hơi nước hoặc làn nước vây quanh trong không gian, những con chữ lỏng của ngôn ngữ, những biểu tượng của yếu tố huyền bí, tuôn trào tràn ngập đại não hắn.

Cậu không ngán ngẩm những con đường nồng nhiệt,

Cám dỗ của bầy xê-ra-fim sa ngã?

Đừng kể nữa những ngày tháng say đắm.

Đôi mắt cậu đã khiến tim người bùng cháy,

Và cậu đã đạt được ý nguyện trên người ấy.

Cậu không ngán ngẩm những con đường nồng nhiệt sao?

Phía trên ngọn lửa, làn khói tụng ca

Bay lên từ bờ đại dương này đến bờ đại dương khác.

Đừng kể nữa những ngày tháng say đắm.

Những tiếng kêu đứt đoạn và khúc ca tang thương của chúng ta

Vút lên trong một bài thánh ca tạ ơn duy nhất.

Cậu không ngán ngẩm những con đường nồng nhiệt sao?

Trong khi đôi bàn tay dâng tế nâng cao

Chén thánh tràn trề đến vành miệng.

Đừng kể nữa những ngày tháng say đắm.

Và cậu vẫn níu giữ cái nhìn khát khao của chúng ta

Bằng ánh mắt dật dờ và thân thể ngập tràn!

Cậu không ngán ngẩm những con đường nồng nhiệt sao?

Đừng kể nữa những ngày tháng say đắm.

Chúng là loài chim gì nhỉ? Hắn đứng trên các bậc thềm của thư viện để ngắm nhìn chúng, mệt mỏi tì người vào cây gậy tầm ma. Chúng bay vòng tròn liên tục qua phần gờ nhô ra của một ngôi nhà ở Phố Molesworth. Bầu không khí của buổi chiều muộn tháng Ba làm rõ nét đường bay của chúng, những thân hình tối màu lao đi vút, run rẩy hiện rõ mồn một trên bầu trời hệt như một tấm vải treo rủ màu xanh lam mỏng manh khói thuốc.

Hắn dõi theo đường bay của chúng; con chim này nối tiếp con chim khác: một vệt chớp tối màu, một cú lượn ngoặt, một nhịp đập cánh phành phạch. Hắn cố gắng đếm chúng trước khi tất cả những thân hình lao vút run rẩy ấy bay qua hết: sáu, mười, mười một: và tự hỏi số lượng của chúng là chẵn hay lẻ. Mười hai, mười ba: vì có hai con đang liệng vòng từ bầu trời cao phía trên xuống. Chúng bay cao rồi bay thấp nhưng cứ mãi lượn tròn theo những đường thẳng và đường cong, mãi mãi bay từ trái sang phải, lượn quanh một ngôi đền bằng không khí.

Hắn lắng nghe những tiếng kêu: giống như tiếng chuột chít sau vách tường: một nốt âm kép lanh lảnh. Nhưng các nốt âm ấy kéo dài, chói tai và vo ve, không giống tiếng kêu của loài côn trùng gặm nhấm, trầm xuống một quãng ba hoặc quãng bốn và reo rít khi những chiếc mỏ đang bay rẽ đôi bầu không khí. Tiếng kêu của chúng lanh lảnh, trong trẻo, mảnh mai và rơi rớt xuống hệt như những sợi tơ ánh sáng được tháo ra từ những chiếc ống chỉ đang vo ve quay cuồng.

Đám âm thanh náo động vô nhân tính ấy vỗ về đôi tai hắn—nơi những tiếng nức nở và trách cứ của mẹ hắn vẫn đang lầm rầm đeo bám—và những thân hình gầy gò tối tăm run rẩy đang lượn vòng, vỗ cánh, ngoặt góc quanh một ngôi đền lơ lửng giữa bầu trời mỏng manh đã xoa dịu đôi mắt hắn—nơi vẫn còn vương vãi hình ảnh khuôn mặt mẹ mình.

Tại sao hắn lại ngước mắt lên nhìn từ các bậc thềm của hiên nhà, lắng nghe tiếng kêu kép lanh lảnh của chúng, dõi theo đường bay của chúng? Để tìm một điềm báo cát hung ư? Một câu vụn vặt của Cornelius Agrippa xẹt qua tâm trí hắn và rồi những tư tưởng vô định từ Swedenborg bay lượn tứ tung về sự tương ứng giữa loài chim với những thứ thuộc về trí tuệ, và về việc các sinh vật của bầu trời có tri thức của chúng và biết rõ thời điểm cùng mùa màng của chúng bởi vì chúng, không giống như con người, sống trong trật tự của đời sống mình và chưa từng đảo lộn trật tự đó bằng lý trí.

Và từ bao đời nay con người vẫn ngước mắt nhìn lên như hắn đang nhìn những cánh chim đang bay lượn. Hàng cột phía trên làm hắn mơ hồ liên tưởng đến một ngôi đền cổ kính và cây gậy tầm ma mà hắn đang mệt mỏi tì vào giống như cây gậy cong của một vị tiên tri đoán điềm. Một cảm giác sợ hãi trước những điều vô định chuyển động trong cõi lòng đầy mệt mỏi của hắn, nỗi sợ hãi trước những biểu tượng và điềm báo, trước kẻ mang hình dáng chim ưng mà hắn mang tên đang tung cánh bay vút ra khỏi chốn giam cầm trên đôi cánh đan bằng liễu gai, trước Thoth, vị thần của giới cầm bút, đang dùng cây sậy viết lên một tấm bảng và đội trên cái đầu cò quặp thuôn dài của mình vầng trăng khuyết.

Hắn mỉm cười khi nghĩ đến hình ảnh của vị thần bởi nó làm hắn nhớ đến một vị thẩm phán mũi củ hành đội tóc giả, đang đặt những dấu phẩy vào một tài liệu mà hắn cầm giơ ra xa bằng một cánh tay, và hắn biết rằng hắn sẽ chẳng đời nào nhớ nổi tên vị thần đó nếu nó không giống như một lời thề nguyền tiếng Ireland. Thật là ngu ngốc. Nhưng có phải vì sự ngu ngốc này mà hắn sắp sửa rời bỏ mãi mãi ngôi nhà của sự cầu nguyện và sự khôn ngoan nơi hắn được sinh ra và trật tự cuộc đời mà từ đó hắn bước ra?

Chúng quay trở lại với những tiếng kêu lanh lảnh bay qua phần gờ nhô ra của ngôi nhà, lướt qua tối tăm chống lại bầu trời đang phai nhạt. Chúng là loài chim gì nhỉ? Hắn nghĩ chắc hẳn đó là những con én vừa từ phương nam trở lại. Vậy là hắn phải ra đi bởi chúng là những loài chim luôn bay đi và trở về, luôn xây dựng một tổ ấm vô thường dưới mái hiên nhà người và luôn rời bỏ những tổ ấm chúng đã tạo dựng để lang thang.

Hãy cúi đầu xuống nào, hỡi Oona và Aleel.

Ta ngắm nhìn chúng như loài én ngắm nhìn

Tổ ấm dưới mái hiên trước khi

Nó lang thang qua những vùng nước ồn ào.

Một niềm vui mềm mại tựa dòng nước rào rạt như tiếng muôn trùng sóng nước tuôn trào qua ký ức hắn và hắn cảm nhận trong tim mình sự bình yên dịu êm của những khoảng không tĩnh lặng của bầu trời mỏng manh đang phai màu bên trên mặt nước, của sự tĩnh lặng đại dương, của những cánh én bay xuyên qua chạng vạng biển trên dòng nước đang cuồn cuộn chảy.

Một niềm vui mượt mà tựa dòng nước tuôn chảy xuyên qua những từ ngữ nơi các nguyên âm mềm mại kéo dài va đập không tiếng động rồi tan đi, vỗ mạn rồi trôi ngược lại và liên tục lay động những chiếc chuông trắng của con sóng kêu vang trong tiếng ngân câm lặng và tiếng chuông câm lặng, cùng tiếng kêu ngất ngây trầm đục dịu êm; và hắn cảm thấy rằng điềm báo mà hắn vẫn hằng tìm kiếm nơi đàn chim đang bay lượn lao vút và khoảng trời nhợt nhạt phía trên hắn đã bừng nở từ trái tim mình hệt như một chú chim bay vút ra từ tháp pháo, thật lặng lẽ và chớp nhoáng.

Biểu tượng của sự chia ly hay của nỗi cô độc? Những vần thơ được ngân nga trong tai ký ức của hắn từ từ bồi đắp trước đôi mắt đang hồi tưởng khung cảnh của sảnh đường vào đêm khai mạc nhà hát quốc gia. Hắn đứng cô độc ở một góc ban công, đưa đôi mắt mệt mỏi nhìn ra tầng lớp văn hóa của Dublin ở khu ghế ngồi và mấy tấm phông nền rẻ tiền cùng những con búp bê bằng xương bằng thịt được đóng khung bởi ánh đèn lòe loẹt của sân khấu. Một tên cảnh sát vạm vỡ đang đẫm mồ hôi đứng đằng sau hắn và dường như chực chờ hành động bất cứ lúc nào. Những tiếng la ó, tiếng huýt sáo và tiếng réo gọi chế nhạo vang lên thành từng tràng thô bạo quanh sảnh từ đám bạn học tản mác của hắn.

—Một bài báo phỉ báng Ireland!

—Hàng sản xuất tại Đức.

—Sự phạm thượng!

—Chúng ta chưa từng bán rẻ đức tin của mình!

—Chẳng có người phụ nữ Ireland nào làm thế cả!

—Chúng ta không cần những kẻ vô thần nghiệp dư.

—Chúng ta không cần những Phật tử tập sự.

Một tiếng rít sắc lẹm bất chợt lọt xuống từ những khung cửa sổ phía trên hắn và hắn biết rằng đèn điện trong phòng đọc sách đã được bật lên. Hắn rẽ vào sảnh có hàng cột, giờ đây đã được thắp sáng điềm tĩnh, bước lên cầu thang và đi xuyên qua cánh cửa xoay lách cách.

Cranly đang ngồi sát cạnh khu vực để từ điển. Một cuốn sách dày, mở ở trang bìa minh họa, nằm trước mặt hắn trên chiếc giá gỗ. Lão ngả người ra sau ghế, nghiêng tai hệt như một vị linh mục giải tội hướng về phía khuôn mặt của sinh viên y khoa đang đọc cho hắn nghe một bài toán cờ vua từ chuyên mục của một tờ báo. Stephen ngồi xuống bên phải lão và vị linh mục ở phía bên kia bàn gấp phựt cuốn The Tablet lại với vẻ giận dữ rồi đứng phắt dậy.

Cranly điềm đạm và thẫn thờ nhìn theo. Cậu sinh viên y khoa tiếp tục bằng một giọng dịu dàng hơn:

—Tốt hơn là chúng ta nên đi thôi, Dixon, Stephen cất lời cảnh báo. Lão ta đã đi mách lẻo rồi đấy.

Dixon gấp tờ báo lại và uy nghi đứng dậy, nói:

—Đội ngũ của chúng ta đã rút lui trong trật tự tốt.

—Cùng với súng ống và gia súc, Stephen nói thêm, chỉ tay vào trang bìa cuốn sách của Cranly trên đó in dòng chữ Các bệnh về loài bò.

Khi họ bước qua lối đi giữa các dãy bàn, Stephen lên tiếng:

—Cranly, tôi muốn nói chuyện với cậu.

Cranly không đáp lời cũng không ngoảnh lại. Lão đặt cuốn sách lên quầy và bước ra ngoài, đôi bốt được đóng chắc chắn của lão nện những bước chắc nịch xuống sàn nhà. Trên cầu thang, lão khựng lại và thẫn thờ nhìn Dixon lặp lại:

—Tốt nhất là nước đi mã ra ô vua khốn kiếp.

—Cứ gọi thế nếu cậu thích, Dixon nói.

Cậu ta có một chất giọng đều đều tĩnh lặng và phong thái lịch thiệp, trên ngón tay của bàn tay mập mạp sạch sẽ thỉnh thoảng lại lấp lánh một chiếc nhẫn gia huy.

Khi họ băng qua sảnh, một người đàn ông lùn tịt tiến về phía họ. Dưới mái vòm của chiếc mũ tí xíu, khuôn mặt chưa cạo râu bắt đầu mỉm cười sung sướng và người ta nghe thấy tiếng lão lẩm bẩm. Đôi mắt buồn bã hệt như mắt một con khỉ.

—Chào buổi chiều các quý ông, khuôn mặt đầy râu tua tủa trông giống khỉ cất giọng.

—Thời tiết tháng Ba ấm áp đấy chứ, Cranly nói. Họ mở tung cửa sổ trên lầu kìa.

Dixon mỉm cười và xoay xoay chiếc nhẫn trên tay. Khuôn mặt đen đúa nhăn nhúm như khỉ mím cái miệng phàm tục lại với niềm vui nhẹ nhàng và giọng nói cất lên rừ rừ:

—Thời tiết tháng Ba tuyệt vời. Đơn giản là tuyệt vời.

—Có hai cô tiểu thư xinh xắn đang chờ ở trên lầu kìa đại úy, chán ngấy cảnh phải đợi chờ rồi đấy, Dixon nói.

Cranly mỉm cười và ân cần nói:

—Đại úy chỉ có một tình yêu duy nhất thôi: ngài Walter Scott. Có phải vậy không thưa đại úy?

—Bây giờ đại úy đang đọc gì thế? Dixon hỏi. Cuộc đời cô dâu xứ Lammermoor à?

—Tôi yêu lão Scott lắm, đôi môi mềm mại thốt lên, tôi nghĩ lão viết hay lắm. Chẳng có nhà văn nào sánh được với ngài Walter Scott cả.

Lão khẽ cử động bàn tay gầy gò teo tóp màu nâu trong không trung theo nhịp điệu của lời tán dương và đôi mí mắt mỏng giật liên hồi trên đôi mắt buồn bã.

Điều buồn bã hơn đối với tai Stephen chính là lời ăn tiếng nói của lão: một chất giọng quý phái, trầm ấm và ẩm ướt, bị làm hỏng bởi những lỗi sai, và khi lắng nghe nó, hắn tự hỏi liệu câu chuyện đó có thật không và dòng máu gầy cạn đang chảy trong thể hình teo tóp ấy có cao quý và bắt nguồn từ một mối tình loạn luân hay không?

Những tán cây trong công viên nặng trĩu nước mưa; và mưa vẫn rơi mãi không dứt trên mặt nước hồ, tĩnh lặng nằm xám ngắt hệt như một chiếc khiên. Một đàn thiên nga bay lượn ở đó và mặt nước cùng bờ hồ bên dưới bị vấy bẩn bởi lớp chất nhầy trắng xanh của chúng. Chúng quấn quýt âu yếm nhau, bị thúc đẩy bởi ánh sáng mưa xám xịt, những hàng cây ướt át tĩnh lặng, hồ nước tựa chiếc khiên làm chứng, bầy thiên nga. Chúng ôm lấy nhau không chút niềm vui hay đam mê, vòng tay hắn ôm lấy cổ em gái mình. Một chiếc áo choàng len màu xám được quàng chéo từ vai xuống eo và mái cúi đầu ngoan ngoãn trong nỗi thẹn thùng tự nguyện. Hắn có mái tóc hung đỏ bồng bềnh cùng đôi bàn tay mạnh mẽ, đẹp đẽ, đầy tàn nhang. Khuôn mặt? Chẳng thấy khuôn mặt nào cả. Khuôn mặt người anh đang cúi úp xuống mái tóc thơm ngát mùi mưa của em gái. Bàn tay tàn nhang, mạnh mẽ, đẹp đẽ và đầy âu yếm ấy chính là bàn tay của Davin.

Hắn giận dữ cau mày xua đi suy nghĩ của mình và gạt bỏ gã người lùn còi cọc vừa khơi gợi nó. Những lời chế nhạo của cha hắn nhắm vào đám người Bantry bỗng chốc bật ra từ ký ức. H hắn giữ chúng ở một khoảng cách và bất an đăm đăm suy ngẫm về suy nghĩ của chính mình một lần nữa. Tại sao đó không phải là đôi bàn tay của Cranly? Phải chăng sự đơn giản và ngây thơ của Davin đã đâm chọc hắn một cách kín đáo hơn?

Hắn tiếp tục bước đi băng qua sảnh cùng Dixon, để mặc Cranly đứng lại chào tạm biệt lão lùn một cách tỉ mỉ.

Dưới mái hiên hàng cột, Temple đang đứng giữa một nhóm nhỏ sinh viên. Một người trong số họ hét lớn:

—Dixon, qua đây nghe đi. Temple đang ở phong độ đỉnh cao đấy.

Temple quay đôi mắt đen kiểu Digan về phía hắn.

—Cậu là một kẻ đạo đức giả, O’Keeffe, cậu ta nói. Còn Dixon là một kẻ chuyên cười trừ. Thề có chúa, tôi nghĩ đó là một cách diễn đạt văn chương tuyệt cú mèo.

Cậu ta cười ranh mãnh, nhìn vào mặt Stephen, lặp lại:

—Thề có chúa, tôi cực kỳ khoái cái biệt danh đó. Một kẻ chuyên cười trừ (A smiler).

Một sinh viên mập mạp đứng bên dưới họ trên bậc thềm nói:

—Quay lại chuyện tình nhân đi, Temple. Bọn tôi muốn nghe về vụ đó đấy.

—Hắn ta có đấy, thề có chúa, Temple nói. Và lão ta cũng có vợ rồi cơ đấy. Và tất cả bọn linh mục đều hay đến ăn tối ở đó. Thề có chúa, tôi nghĩ tất cả bọn họ đều có phần cả đấy.

—Chúng ta sẽ gọi đó là cưỡi ngựa thồ để tha cho ngựa chiến, Dixon nói.

—Nói cho bọn tôi nghe xem, Temple, O’Keeffe nói, trong bụng cậu nốc bao nhiêu lít bia porter rồi hả?

—Toàn bộ tâm hồn trí tuệ của cậu chỉ nằm gọn trong câu nói đó thôi sao, O’Keeffe, Temple khinh bỉ nói.

Cậu ta lê la bước đi với dáng điệu xộc xệch vòng quanh nhóm người rồi cất tiếng với Stephen.

—Cậu có biết gia tộc Forster là những vị vua của nước Bỉ không? cậu ta hỏi.

Cranly bước ra từ cánh cửa sảnh lớn, chiếc mũ đẩy tạc về phía gáy và tay thong thả xỉa răng.

—Và đây là vị quân sư quạt mo đây, Temple nói. Cậu có biết chuyện đó về nhà Forster không?

Cậu ta dừng lại chờ câu trả lời. Cranly gắp một hạt vả ra khỏi kẽ răng bằng đầu chiếc tăm xỉa răng thô kệch rồi đăm đăm nhìn nó.

—Gia tộc Forster, Temple nói, là hậu duệ của Baldwin đệ nhất, vua xứ Flanders. Lão được gọi là Người làm rừng (The Forester). Forester và Forster vốn là một cái tên. Một hậu duệ của Baldwin đệ nhất, đại úy Francis Forster, đã định cư ở Ireland và kết hôn với con gái của tù trưởng cuối cùng xứ Clanbrassil. Sau đó còn có dòng Blake Forster. Đó là một nhánh khác.

—Từ cái đầu hói Baldwin, vua xứ Flanders, Cranly lặp lại, tiếp tục thong thả chọc ngoáy vào hàm răng trắng trồi ra của mình.

—Mày vớ được đống lịch sử đó ở xó nào thế hả? O’Keeffe hỏi.

—Tôi cũng biết tuốt lịch sử gia tộc cậu đấy, Temple nói, quay sang Stephen. Cậu có biết Giraldus Cambrensis nói gì về gia tộc cậu không?

—Hắn ta cũng là hậu duệ của Baldwin nốt à? một sinh viên cao gầy ốm nghén với đôi mắt đen hỏi.

—Đầu hói, Cranly lặp lại, mút chụt một kẽ răng.

—Pernobilis et pervetusta familia (Gia phả vô cùng cao quý và cổ xưa), Temple nói với Stephen.

Cậu sinh viên mập mạp đứng dưới bậc thềm đột ngột xì hơi một tiếng ngắn ngủi. Dixon quay sang phía hắn, cất giọng dịu dàng:

—Vừa có một thiên thần lên tiếng phải không nhỉ?

Cranly cũng quay người lại và phừng phừng phẫn nộ nhưng không giận dữ nói:

—Goggins, mày đúng là con quỷ bẩn thỉu khốn nạn nhất mà tao từng gặp đấy, mày biết không.

—Tôi lỡ nhịp buột miệng nói ra thôi mà, Goggins kiên quyết đáp. Nó có hại gì ai đâu cơ chứ?

—Chúng ta hy vọng rằng, Dixon nhã nhặn nói, đó không phải là thể loại mà khoa học gọi là "sẽ xảy ra trong tương lai gần" (paulo post futurum).

—Tao đã bảo hắn là một kẻ chuyên cười trừ mà lỵ? Temple nói, quay đầu sang trái rồi sang phải. Tao đặt cho hắn cái tên đó cơ mà?

—Đúng thế. Bọn tôi có điếc đâu, cậu sinh viên cao gầy ốm nghén đáp.

Cranly vẫn cau mày lườm cậu sinh viên mập mạp bên dưới. Rồi, với một tiếng khịt mũi đầy ghê tởm, lão xô đẩy bạo lực cậu ta lăn nhào xuống các bậc thềm.

—Cút ngay khỏi đây, lão thô lỗ quát. Cút đi, đồ hôi thối. Mày đúng là thứ hôi thối.

Goggins nhảy tót xuống bãi sỏi và ngay lập tức vui vẻ quay trở lại vị trí cũ. Temple quay lại phía Stephen và hỏi:

—Cậu có tin vào định luật di truyền không?

—Cậu say xỉn hay bị điên hay đang cố lảm nhảm cái quái gì thế hả? Cranly quát lên, quay phừng lại với vẻ mặt đầy kinh ngạc.

—Câu nói sâu sắc nhất từng được viết ra, Temple hào hứng nói, chính là câu nói ở cuối sách động vật học. Sự sinh sản chính là khởi đầu của cái chết.

Cậu ta rụt rè chạm vào khuỷu tay Stephen và hào hức hỏi:

—Cậu có cảm nhận được câu nói đó uyên thâm đến nhường nào không bởi vì cậu là một nhà thơ?

Cranly giơ ngón trỏ dài ngoằng ra.

—Nhìn nó kìa! lão khinh bỉ nói với những người khác. Hãy nhìn niềm hy vọng của đất nước Ireland đi!

Họ cười rộ lên trước lời nói và cử chỉ của lão. Temple can đảm quay lại phía lão, nói:

—Cranly, lúc nào anh cũng chế nhạo tôi. Tôi thấy thừa sức nhận ra điều đó. Nhưng tôi chẳng kém cạnh gì anh đâu nhé. Cậu có biết bây giờ tôi nghĩ gì về anh so với bản thân tôi không?

—Anh bạn thân mến ạ, Cranly nhã nhặn nói, cậu không có khả năng, cậu biết đấy, hoàn toàn không có khả năng tư duy.

—Nhưng anh có biết, Temple tiếp tục, tôi nghĩ gì về anh và về tôi khi đặt lên bàn cân so sánh không?

—Phun ra đi, Temple! Cậu sinh viên mập mạp hét lên từ bậc thềm. Phun ra từng mẩu một đi chứ!

Temple quay trái quay phải, thực hiện những cử chỉ yếu ớt đột ngột khi nói.

—Tôi là một thằng khốn, cậu ta nói, tuyệt vọng lắc đầu. Đúng thế và tôi thừa biết mình là thế. Và tôi thừa nhận mình là thế đấy.

Dixon vỗ nhẹ lên vai cậu ta và dịu dàng nói:

—Và điều đó rất đáng ghi nhận đấy, Temple ạ.

—Nhưng hắn ta, Temple vừa nói vừa chỉ tay về phía Cranly, hắn ta cũng là một thằng khốn giống như tôi thôi. Chỉ có điều hắn không tự nhận thức được điều đó. Và đó là điểm khác biệt duy nhất tôi nhận thấy.

Tràng cười phá lên nhấn chìm lời cậu ta. Nhưng cậu ta lại quay sang Stephen và hào hức nói:

—Từ đó là một từ cực kỳ thú vị. Đó là số kép (dual number) duy nhất trong tiếng Anh đấy. Cậu có biết không?

—Thế à? Stephen mơ hồ đáp.

Hắn đang dõi theo khuôn mặt chịu đựng với những đường nét kiên định của Cranly—giờ đây được thắp sáng bởi một nụ cười kiên nhẫn giả tạo. Cái tên thô tục ấy đã lướt qua nó hệt như dòng nước bẩn hắt lên một bức tượng đá cổ, nhẫn nhục chịu đựng những tổn thương; và trong lúc ngắm nhìn lão, hắn thấy lão ngẩng mũ chào và để lộ phần mái tóc đen đang dựng ngược lên trên trán như một chiếc vương miện bằng sắt.

Nàng bước ra từ hiên thư viện và cúi đầu chào hướng qua phía Stephen để đáp lại lời chào của Cranly. Cả hắn nữa ư? Phải chăng có một vầng hồng nhạt vương trên má Cranly? Hay nó xuất hiện từ những lời của Temple? Ánh sáng đã lụi tàn. Hắn không thể nhìn rõ.

Điều đó có giải thích cho sự im lặng dửng ngôn của người bạn, những lời bình phẩm khắc nghiệt, những lần chen ngang thô bạo bằng lời ăn tiếng nói đã bao lần phá hỏng những lời xưng tội nồng nhiệt ngẫu hứng của Stephen? Stephen đã tha thứ hào phóng bởi vì hắn cũng tìm thấy sự thô lỗ này trong chính bản thân mình. Và hắn nhớ đến buổi chiều tối khi hắn dắt chiếc xe đạp kẹt cứng mượn tạm xuống để cầu nguyện với Chúa trong một khu rừng gần Malahide. Hắn từng giơ cao tay và cất lời ngâm nga đầy ngây ngất với vòm cây u tối, biết rằng mình đang đứng trên mảnh đất thánh và trong một giờ phút linh thiêng. Và khi hai viên cảnh sát xuất hiện ở khúc cua con đường u ám, hắn đã ngắt lời cầu nguyện để huýt sáo thật to một giai điệu trong buổi kịch câm cuối cùng.

Hắn bắt đầu dùng phần đuôi tưa của cây gậy tầm ma gõ gõ xuống chân cột. Chẳng lẽ Cranly không nghe thấy hắn sao? Vậy mà lão có thể chờ đợi. Cuộc trò chuyện xung quanh im bặt trong chốc lát và một tiếng rít mềm mại lại lọt xuống từ khung cửa sổ phía trên. Nhưng chẳng còn âm thanh nào khác trong không trung và bầy én mà hắn vừa dõi theo đường bay bằng đôi mắt thẫn thờ đang chìm vào giấc ngủ.

Nàng đã bước đi xuyên qua chập chạng. Và vì thế bầu không khí tĩnh mịch ngoại trừ một tiếng rít mềm mại rơi rớt. Và vì thế những chiếc lưỡi quanh hắn đã dứt đứt tiếng luyên thuyên. Bóng tối đang buông xuống.

Bóng tối rơi xuống từ bầu trời.

Một niềm vui run rẩy, rực rỡ lấp lánh hệt như thứ ánh sáng mong manh, bay lượn như một bầy tiên quanh hắn. Nhưng tại sao chứ? Việc nàng bước đi xuyên qua bầu không khí tối dần hay câu thơ với những nguyên âm đen thẫm cùng âm thanh mở đầu, giàu có và vang vọng âm sắc đàn luýt?

Hắn chậm rãi bước đi về phía những bóng râm sâu hơn ở cuối hàng cột, khẽ khàng dùng gậy gõ xuống phiến đá để che giấu mộng tưởng của mình khỏi đám sinh viên mà hắn vừa bỏ lại sau lưng: và để tâm trí triệu hồi trở lại thời đại của Dowland, Byrd và Nash.

Đôi mắt, mở ra từ bóng tối của ham muốn, đôi mắt làm lu mờ cả bình minh đang ló rạng. Vẻ duyên dáng dật dờ của chúng nào khác gì sự mềm mại của chốn buồng the? Và ánh lấp lánh của chúng nào khác gì ánh lấp lánh của lớp váng đặc quánh bao phủ cống rãnh nơi triều đình của một gã Stuart nước dãi tòng tòng. Và hắn nếm trải trong thứ ngôn ngữ của ký ức những giọt rượu hổ phách, khúc chuyển nhịp lụi tàn của những điệu ca ngọt ngào, điệu nhảy pavan kiêu hãnh, và nhìn bằng đôi mắt ký ức những người phụ nữ dịu dàng nhân hậu ở Covent Garden đang chèo kéo từ các ban công bằng những cái chóp miệng mút mát và bọn gái điếm nhơ nhớp bệnh giang mai ở các quán rượu cùng những người vợ trẻ—vui vẻ hiến dâng cho những kẻ cưỡng đoạt mình—đang ôm siết lấy nhau hết lần này đến lần khác.

Những hình ảnh mà hắn vừa triệu hồi chẳng mang lại niềm vui sướng nào. Chúng thật thầm kín và kích động nhưng hình ảnh của nàng không vướng bận vào đó. Đó không phải là cách để nghĩ về nàng. Thậm chí đó còn chẳng phải là cách mà hắn vẫn dùng để nghĩ về nàng. Phải chăng tâm trí hắn không thể tin tưởng được chính mình? Những cụm từ cũ kỹ, chỉ ngọt ngào với một thứ ngọt ngào bị đào bới lên hệt như những hạt vả mà Cranly dùng tăm khều ra khỏi hàm răng trắng trẻo của mình.

Đó không phải là suy nghĩ cũng chẳng phải thị kiến dẫu hắn mơ hồ biết rằng dáng hình nàng đang bước về nhà xuyên qua thành phố. Mơ hồ trước rồi sắc nét hơn sau, hắn ngửi thấy mùi hương cơ thể nàng. Một sự bứt rứt có ý thức sục sôi trong dòng máu hắn. Phải, chính là mùi hương cơ thể nàng hắn ngửi thấy, một mùi hương hoang dã và dật dờ, đôi chân ấm áp đẫm đượm thứ âm nhạc của hắn từng tuôn chảy qua với niềm khát khao và lớp vải lanh mềm mại thầm kín nơi da thịt nàng tỏa ra mùi hương cùng sương mai.

Một con rận bò lổm ngổm qua gáy hắn, và khéo léo luồn ngón cái cùng ngón trỏ xuống dưới cổ áo lỏng lẻo, hắn bắt được nó. Hắn vo tròn thân hình nó—mềm mại nhưng giòn tan như một hạt gạo—giữa ngón cái và ngón trỏ trong một thoáng trước khi thả nó rơi xuống và tự hỏi liệu nó sẽ sống hay chết. Một câu cụm từ kỳ lạ của Cornelius a Lapide chợt lóe lên trong đầu hắn, nói rằng loài rận sinh ra từ mồ hôi con người không được tạo ra bởi Chúa cùng các loài động vật khác vào ngày thứ sáu. Nhưng cảm giác ngứa ngáy trên da cổ khiến tâm trí hắn trở nên nhức nhối và đỏ tấy. Đời sống của thể xác hắn—mặc kém, ăn kém, bị rận cắn—khiến hắn nhắm nghiền mi mắt trong một cơn co giật tuyệt vọng bất chợt và trong bóng tối, hắn nhìn thấy những thân hình sáng giòn của loài rận rơi rớt xuống từ bầu trời và lật lọng liên tục khi rơi. Phải, và thứ rơi xuống từ bầu trời không phải là bóng tối. Đó là ánh sáng rực rỡ.

Ánh sáng rực rỡ rơi xuống từ bầu trời.

Hắn thậm chí còn chẳng nhớ đúng câu thơ của Nash. Tất cả những hình ảnh nó đánh thức đều là giả dối. Tâm trí hắn sinh sôi côn trùng. Suy nghĩ của hắn chính là loài rận sinh ra từ mồ hôi của sự lười nhác.

Hắn nhanh chóng bước ngược lại dọc theo hàng cột về phía nhóm sinh viên. Thôi được rồi, cứ để nàng đi và mặc kệ quái quỷ gì đời nàng chứ! Nàng có thể yêu một gã vận động viên sạch sẽ nào đó—kẻ tắm táp mỗi sáng đến ngang thắt lưng và có bộ lông ngực đen nhánh. Cứ để nàng thế đi.

Cranly vừa lấy thêm một quả vả khô từ túi ra ăn chậm rãi và ồn ào. Temple ngồi trên bệ đá của một cây cột, ngả người ra sau, chiếc mũ kéo sụp xuống đôi mắt đang ngái ngủ. Một thanh niên thấp lùn bước ra từ mái hiên, kẹp một chiếc cặp da dưới nách. Cậu ta tiến về phía nhóm người, nện gót bốt và đuôi chiếc ô nặng nề xuống các phiến đá. Rồi, giơ chiếc ô lên chào, cậu ta nói với tất cả:

—Chào buổi chiều các ngài.

Cậu ta lại nện chân xuống đá và cười khúc khích trong lúc cái đầu rung rẩy theo một cử động mất kiên nhẫn nhỏ nhẹ. Cậu sinh viên cao gầy ốm nghén cùng Dixon và O’Keeffe đang nói chuyện bằng tiếng Ireland nên không đáp lại cậu ta. Rồi, quay sang Cranly, cậu ta nói:

—Chào buổi chiều, đặc biệt là với anh nhé.

Cậu ta khua chiếc ô ra hiệu rồi lại cười khúc khích. Cranly, kẻ vẫn đang nhai quả vả, đáp lại bằng những cử động nhai hàm lớn tiếng.

—Chào à? Ừ. Buổi chiều tốt lành.

Cậu sinh viên thấp lùn nghiêm túc nhìn lão và khẽ khàng quở trách lắc lắc chiếc ô.

—Tôi có thể thấy rằng, cậu ta nói, anh sắp sửa thốt ra những lời nhận xét hiển nhiên đấy.

—Ừm, Cranly đáp, chìa ra phần còn lại của quả vả bị nhai dở và hất nó về phía miệng cậu sinh viên thấp lùn như một dấu hiệu bảo cậu ta ăn đi.

Cậu sinh viên thấp lùn không ăn mà, vẫn chìm đắm trong sự hài hước quái dị của mình, nghiêm túc nói, miệng vẫn cười khúc khích và dùng ô chọc chọc vào câu nói:

—Anh có ý định rằng...

Cậu ta bỏ lửng câu nói, chỉ thẳng vào phần bã vả bị nhai nát, và lớn tiếng nói:

—Tôi đang ám chỉ cái đó đấy.

—Ừm, Cranly đáp lại như trước.

—Cậu có định làm thế bây giờ không, cậu sinh viên thấp lùn nói, kiểu như ipso facto hay có thể nói là, kiểu như thế?

Dixon quay người khỏi nhóm mình, nói:

—Goggins đang đợi cậu đấy, Glynn. Cậu ta đã vòng qua khách sạn Adelphi để tìm cậu và Moynihan rồi. Cậu cầm cái quái gì thế kia? cậu ta hỏi, vỗ vào chiếc cặp da kẹp dưới nách Glynn.

—Bài kiểm tra, Glynn đáp. Tôi bắt họ kiểm tra hàng tháng để xem họ có tiến bộ nhờ sự kèm cặp của tôi không.

Cậu ta cũng vỗ vào chiếc cặp da, khẽ ho khan và mỉm cười.

—Kèm cặp! Cranly thô lỗ nói. Chắc ý cậu là mấy đứa trẻ đi chân trần được dạy dỗ bởi một con khỉ khốn nạn như cậu chứ gì. Chúa phù hộ chúng nó!

Lão cắn nốt phần vả còn lại và ném phăng mẩu cuống đi.

—Tôi cho những đứa trẻ nhỏ đến với tôi, Glynn ôn hòa nói.

—Một con khỉ khốn nạn, Cranly nhấn mạnh lặp lại, và là một con khỉ khốn nạn phạm thượng!

Temple đứng dậy và, lách qua người Cranly, hướng về phía Glynn:

—Cái câu mà cậu vừa nói lúc nãy ấy, cậu ta nói, là từ trong tân ước về câu "hãy để những đứa trẻ đến với ta".

—Đi ngủ lại đi, Temple, O’Keeffe nói.

—Thế thì được thôi, Temple tiếp tục, vẫn hướng về Glynn, và nếu Chúa đã để những đứa trẻ đến với Ngài thì tại sao giáo hội lại tống tất cả bọn chúng xuống địa ngục nếu chúng chết mà chưa được rửa tội? Tại sao lại thế?

—Bản thân cậu đã được rửa tội chưa hả, Temple? cậu sinh viên ốm nghén hỏi.

—Nhưng tại sao chúng lại bị đày xuống địa ngục nếu Chúa đã bảo tất cả bọn chúng hãy đến? Temple nói, đôi mắt dò xét nhìn sâu vào mắt Glynn.

Glynn húng hắng ho và ôn hòa nói, khó khăn kìm nén tiếng cười khúc khích thần kinh trong giọng nói và khua chiếc ô theo từng từ:

—Và, như cậu vừa nhận xét, nếu sự thể là thế, tôi dõng dạc đặt câu hỏi rằng nguyên nhân nào dẫn đến sự thể này.

—Bởi vì giáo hội tàn nhẫn hệt như mọi kẻ tội đồ già nua khác, Temple nói.

—Cậu có hoàn toàn chính thống về điểm đó không đấy, Temple? Dixon nhã nhặn nói.

—Thánh Augustinô đã nói về việc trẻ em chưa rửa tội xuống địa ngục, Temple đáp, bởi vì lão ta cũng là một kẻ tội đồ già tàn nhẫn.

—Tôi xin bái phục cậu, Dixon nói, nhưng tôi có ấn tượng rằng chốn limbo sinh ra là dành cho những trường hợp như thế.

—Đừng tranh cãi với hắn, Dixon, Cranly tàn nhẫn nói. Đừng nói chuyện hay nhìn mặt hắn nữa. Dắt hắn về nhà bằng một sợi dây thừng bện hệt như dắt một con cừu non đang kêu be be ấy.

—Limbo! Temple hét lên. Đó cũng là một phát minh hay ho đấy. Hệt như địa ngục vậy.

—Nhưng đã được lược bớt đi phần khó chịu, Dixon nói.

Cậu ta mỉm cười quay sang những người khác và nói:

—Tôi nghĩ mình đang nói thay cho quan điểm của tất cả mọi người có mặt ở đây khi thốt lên điều đó.

—Đúng thế, Glynn kiên quyết nói. Về điểm đó Ireland hoàn toàn đoàn kết.

Cậu ta nện đuôi ô xuống sàn đá của hàng cột.

—Địa ngục, Temple nói. Tôi có thể tôn trọng phát minh đó của mụ vợ xám xịt thuộc về Satan. Địa ngục mang phong cách La Mã, giống như những bức tường của người La Mã, kiên cố và xấu xí. Nhưng limbo là cái quái gì cơ chứ?

—Nhét nó lại vào chiếc xe nôi đi, Cranly, O’Keeffe gọi lớn.

Cranly bước nhanh tới chỗ Temple, khựng lại, dậm chân, quát hệt như đang dọa gà:

—Suỵt! Suỵt!

Temple lanh lẹ tránh đi.

—Cậu có biết limbo là cái gì không? cậu ta hét lên. Cậu có biết chúng tôi gọi một ý tưởng như thế ở Roscommon là gì không?

—Suỵt! Mẹ kiếp nhà mày! Cranly hét lên, vỗ tay bốp bốp.

—Chẳng bằng cái thốn gì của tao cả! Temple khinh bỉ hét lên. Và đó là những gì tôi gọi là limbo đấy.

—Đưa cái gậy đó đây mau, Cranly nói.

Lão thô bạo giật phăng cây gậy tầm ma khỏi tay Stephen và lao vút xuống bậc thềm: nhưng Temple, nghe tiếng lão đuổi theo, liền chạy trốn xuyên qua chập chạng như một con thú hoang, nhanh nhẹn và thoăn thoắt đôi chân. Tiếng đôi bốt nặng nề của Cranly vang lên ầm ầm lao qua khoảng sân rồi quay trở lại nặng nề, hụt hẫng và hằn học hất tung sỏi đá theo mỗi bước chân.

Bước đi của lão đầy giận dữ và với một cử chỉ giận dữ đột ngột, lão thọc trả cây gậy vào tay Stephen. Stephen cảm thấy cơn giận của lão có một nguyên nhân khác nhưng, ra vẻ kiên nhẫn, hắn khẽ chạm vào tay lão và điềm đạm nói:

—Cranly, tôi đã bảo là tôi muốn nói chuyện với cậu mà. Đi ra chỗ khác đi.

Cranly nhìn hắn vài thoáng và hỏi:

—Bây giờ á?

—Ừ, bây giờ, Stephen nói. Chúng ta không thể nói chuyện ở đây được đâu. Đi thôi.

Họ cùng nhau băng qua khoảng sân mà chẳng nói lời nào. Tiếng chim hót trích đoạn từ vở Siegfried lanh lảnh vang lên bám theo họ từ các bậc thềm hiên nhà. Cranly quay người lại, và Dixon—kẻ vừa huýt sáo—gọi lớn:

—Mấy cậu chuồn đi đâu đấy? Còn trận đấu thì sao hả Cranly?

Họ đôi co bằng những tiếng hét vọng qua bầu không khí tĩnh mịch về một trận bida sắp diễn ra ở khách sạn Adelphi. Stephen thầm lặng bước đi một mình và ra tới khung cảnh yên bình của Phố Kildare đối diện khách sạn Maple’s, hắn đứng chờ, lại tiếp tục kiên nhẫn. Tên của khách sạn—một lớp gỗ xỉn màu được đánh bóng—cùng mặt tiền đơn sắc đâm chọc hắn hệt như một cái nhìn khinh miệt lịch sự. Hắn giận dữ trừng mắt nhìn lại phòng khách được thắp sáng dịu êm của khách sạn nơi hắn mường tượng ra đời sống xa hoa hào nhoáng của tầng lớp thượng lưu Ireland đang trú ẩn trong bình yên. Họ nghĩ đến việc mua tước vị quân đội và các đặc quyền đất đai; nông dân chào họ dọc các con đường ở vùng quê; họ biết tên một vài món ăn Pháp và ra lệnh cho mấy kẻ đánh xe ngựa bằng chất giọng tỉnh lẻ the thé chọc thủng lớp phương ngữ bám sát da thịt họ.

Làm thế nào hắn có thể tấn công vào lương tâm của họ hay gieo rắc bóng tối của mình lên trí tưởng tượng của các tiểu thư nhà họ, trước khi đám nam nhân của họ kịp gieo giống trên thân xác họ, để rồi họ có thể sinh ra một chủng tộc bớt đê tiện hơn chính họ? Và dưới lớp chập chạng sẫm màu hơn, hắn cảm nhận được những tư tưởng và khát khao của chủng tộc mà hắn thuộc về đang bay lượn như bầy dơi băng qua những con đường làng tăm tối, dưới những tán cây ven suối và gần những vùng đầm lầy loang lổ vũng nước. Một người phụ nữ từng đứng đợi ở hiên nhà khi Davin đi ngang qua vào ban đêm và, chìa ra một cốc sữa, suýt chút nữa đã lôi kéo anh ta lên giường mình; bởi vì Davin sở hữu đôi mắt hiền lành của kẻ biết giữ bí mật. Nhưng với hắn, chẳng có đôi mắt của người phụ nữ nào ve vả cả.

Cánh tay hắn bị siết chặt bởi một lực mạnh mẽ và giọng nói của Cranly cất lên:

—Chúng ta xéo thôi.

Họ lầm lũi bước về hướng nam trong im lặng. Rồi Cranly cất lời:

—Cái tên đần độn lẩm cẩm Temple đó! Thề có Moses, tao biết chắc có ngày tao sẽ tống khứ cái thằng đó xuống mồ mất thôi.

Nhưng giọng nói của lão không còn giận dữ nữa và Stephen tự hỏi liệu lão có đang nghĩ đến lời chào của nàng dành cho mình dưới mái hiên không.

Họ rẽ trái và tiếp tục bước đi như trước. Khi đi được một quãng khá xa như thế, Stephen cất lời:

—Cranly, chiều nay tôi đã có một cuộc cãi vã khó chịu.

—Với người nhà à? Cranly hỏi.

—Với mẹ tôi.

—Về tôn giáo phỏng?

—Ừ, Stephen đáp.

Sau một thoáng lặng im, Cranly hỏi:

—Mẹ cậu bao nhiêu tuổi rồi?

—Không già lắm, Stephen nói. Bà muốn tôi hoàn thành bổn phận lễ Phục sinh.

—Và cậu sẽ làm thế chứ?

—Tôi sẽ không làm đâu, Stephen đáp.

—Tại sao lại không? Cranly hỏi.

—Tôi sẽ không phục tùng, Stephen đáp.

—Câu nói đó từng được thốt lên trước đây rồi, Cranly bình thản nói.

—Bây giờ người ta lén lút thốt lên ở đằng sau đấy, Stephen hằn học nói.

Cranly siết chặt tay Stephen, bảo:

—Bình tĩnh nào, anh bạn thân mến. Cậu đúng là một gã nóng nảy khốn kiếp đấy, cậu biết không.

Lão cười hì hì đầy căng thẳng khi nói và, ngước nhìn lên khuôn mặt Stephen với đôi mắt đầy xúc động và thân thiện, bảo:

—Cậu có biết là cậu là một gã nóng nảy không hả?

—Chắc là vậy rồi, Stephen nói, cũng bật cười theo.

Tâm trí họ, vốn vừa mới xa cách, bỗng chốc dường như lại xích lại gần nhau hơn.

—Cậu có tin vào bí tích Thánh Thể không? Cranly hỏi.

—Tôi không, Stephen đáp.

—Thế cậu không tin à?

—Tôi không tin mà cũng chẳng không tin, Stephen đáp.

—Rất nhiều người hoài nghi, thậm chí cả những người theo đạo, nhưng họ vượt qua hoặc gạt chúng sang một bên, Cranly nói. Những hoài nghi của cậu về vấn đề đó quá lớn sao?

—Tôi không muốn vượt qua chúng, Stephen đáp.

Cranly, thoáng chút bối rối, rút ra một quả vả khác từ túi và toan bỏ vào miệng thì Stephen ngăn lại:

—Đừng, làm ơn đấy. Cậu không thể thảo luận vấn đề này với cái miệng nhồm nhoàm bã vả được đâu.

Cranly săm soi quả vả dưới ánh đèn đường nơi lão khựng lại. Rồi lão ngửi nó bằng cả hai bên mũi, cắn một miếng nhỏ, nhổ phắt ra và thô bạo ném quả vả xuống rãnh nước. Hướng về phía nó khi nó đang nằm đó, lão phán:

—Hãy cút khỏi ta, hỡi những kẻ bị nguyền rủa, vào ngọn lửa đời đời!

Nắm lấy cánh tay Stephen, lão tiếp tục bước đi và nói:

—Cậu không sợ những lời đó sẽ được thốt lên với cậu vào ngày phán xét sao?

—Mặt khác thì tôi nhận lại được gì chứ? Stephen hỏi. Một cõi vĩnh hằng hạnh phúc bên cạnh vị giám thị học vụ à?

—Hãy nhớ rằng, Cranly nói, khi đó cậu sẽ được hiển vinh.

—Ừ, Stephen hơi cay đắng nói, rạng rỡ, nhanh nhẹn, vô cảm và trên hết là tinh vi.

—Thật là một điều kỳ lạ, cậu biết đấy, Cranly dửng dưng nói, tâm trí cậu bị bão hòa quá mức bởi tôn giáo mà cậu tuyên bố là không tin. Cậu có tin vào nó khi còn đi học không? Tôi cá là có đấy.

—Tôi có, Stephen đáp.

—Và khi đó cậu hạnh phúc hơn chứ? Cranly dịu dàng hỏi, hạnh phúc hơn bây giờ chẳng hạn?

—Nhiều lúc hạnh phúc, Stephen nói, và nhiều lúc bất hạnh. Khi đó tôi là một kẻ khác cơ.

—Khác thế nào? Ý cậu là gì khi thốt ra câu đó?

—Ý tôi là, Stephen nói, tôi không phải là chính mình như bây giờ, như cái cách tôi buộc phải trở thành.

—Không như bây giờ, không như cái cách cậu buộc phải trở thành, Cranly lặp lại. Để tôi hỏi cậu một câu nhé. Cậu có yêu mẹ mình không?

Stephen chậm rãi lắc đầu.

—Tôi không hiểu từ ngữ của cậu có ý nghĩa gì cả, hắn đơn thuần đáp.

—Cậu chưa từng yêu ai bao giờ sao? Cranly hỏi.

—Ý cậu là phụ nữ à?

—Tôi không nói về chuyện đó, Cranly nói với giọng lạnh lùng hơn. Tôi hỏi cậu là cậu đã bao giờ cảm thấy tình yêu đối với bất kỳ ai hay bất kỳ thứ gì chưa?

Stephen bước đi bên cạnh người bạn, đăm đăm nhìn xuống vỉa hè với vẻ mặt u sầu.

—Tôi đã cố gắng yêu Chúa, cuối cùng hắn nói. Giờ xem ra tôi đã thất bại. Thật là quá khó khăn. Tôi đã cố gắng hợp nhất ý chí của mình với ý chí của Thiên Chúa từng khoảnh khắc một. Về điều đó có lẽ tôi không phải lúc nào cũng thất bại. Có lẽ tôi vẫn có thể làm thế...

Cranly cắt ngang lời hắn bằng câu hỏi:

—Mẹ cậu đã có một cuộc đời hạnh phúc chứ?

—Sao tôi biết được? Stephen nói.

—Bà ấy sinh được mấy đứa con?

—Chín hoặc mười gì đó, Stephen đáp. Vài đứa đã mất.

—Bố cậu có.... Cranly ngập ngừng chốc lát, rồi nói tiếp: Tôi không muốn xía vào chuyện gia đình cậu. Nhưng bố cậu có phải là người được gọi là khá giả không? Ý tôi là, khi cậu lớn lên ấy?

—Có chứ, Stephen nói.

—Ông ấy làm nghề gì? Cranly hỏi sau một khoảng lặng.

Stephen bắt đầu trơn mồm liệt kê những đặc điểm của cha mình.

—Một sinh viên y khoa, một tay chèo thuyền, một ca sĩ ten-o, một diễn viên nghiệp dư, một tay chính trị gia hay hò hét, một chủ đất nhỏ, một nhà đầu tư nhỏ, một tay bợ nhậu, một người bạn tốt, một kẻ chuyên kể chuyện, thư ký của ai đó, làm gì đó trong xưởng chưng cất rượu, một tên thu thuế, một kẻ phá sản và hiện tại là một kẻ chuyên ca tụng quá khứ của chính mình.

Cranly cười lớn, siết chặt cánh tay Stephen hơn, và nói:

—Cái vụ xưởng chưng cất rượu nghe hay phết đấy.

—Cậu còn muốn biết gì nữa không? Stephen hỏi.

—Hoàn cảnh hiện tại của cậu có khá giả không?

—Trông tôi có vẻ giống kẻ khá giả không? Stephen cộc lốc hỏi.

—Thế nên, Cranly tiếp tục trầm ngâm, cậu đã được sinh ra trong nhung lụa cơ mà.

Lão sử dụng cụm từ đó một cách chung chung và lớn tiếng hệt như cách lão hay dùng các thuật ngữ chuyên môn như thể muốn người nghe hiểu rằng chúng được lão dùng mà chẳng có chút niềm tin nào.

—Mẹ cậu chắc hẳn đã phải trải qua rất nhiều đau khổ, sau đó lão nói. Cậu sẽ không cố gắng cứu bà khỏi những nỗi đau đớn hơn nữa sao... dẫu có thế nào đi nữa... hay cậu vẫn mặc kệ?

—Nếu tôi có thể, Stephen nói, điều đó sẽ chẳng tốn của tôi mấy sức lực đâu.

—Vậy thì hãy làm thế đi, Cranly nói. Hãy làm theo những gì bà ấy muốn. Cậu mất gì nào? Cậu không tin vào nó cơ mà. Đó chỉ là một hình thức: chẳng là gì sất. Và cậu sẽ làm tâm trí bà ấy được bình yên.

Lão ngừng lại và, vì Stephen không đáp lời, bầu không gian chìm vào im lặng. Rồi, như thể đang thốt lên chuỗi tiến trình tư duy của chính mình, lão nói:

—Dù bất cứ điều gì có bấp bênh trên cái đống phân thối hoắc của thế giới này đi chăng nữa thì tình mẫu tử vẫn là thứ không bao giờ bấp bênh. Mẹ cậu đưa cậu đến thế giới này, mang nặng đẻ đau cậu trong cơ thể bà. Chúng ta biết gì về những gì bà ấy cảm nhận cơ chứ? Nhưng dù bà ấy cảm thấy thế nào đi nữa, thì điều đó ít nhất cũng phải là thật. Nó phải là thật chứ. Những ý tưởng hay tham vọng của chúng ta là gì nào? Trò trẻ con cả. Ý tưởng á! Mới hay cái gã dê mập mạp khốn kiếp Temple kia cũng có ý tưởng đấy. MacCann cũng có ý tưởng. Mọi thằng đần chạy ngoài đường kia đều nghĩ mình có ý tưởng cả.

Stephen—kẻ nãy giờ vẫn đang lắng nghe những lời không được thốt ra đằng sau câu chữ—với vẻ dửng dưng giả tạo lên tiếng:

—Pascal, nếu tôi nhớ không lầm, từng không chịu để mẹ hôn mình vì sợ sự tiếp xúc từ giới tính của bà.

—Pascal là đồ lợn, Cranly nói.

—Aloysius Gonzaga, tôi nghĩ cũng có cùng suy nghĩ đó, Stephen nói.

—Và hắn cũng là một con lợn nốt, Cranly nói.

—Giáo hội gọi hắn là thánh đấy thôi, Stephen phản bác.

—Tôi đéo thèm quan tâm mẹ gì đến việc ai gọi hắn là gì sất, Cranly thô lỗ cục cằn nói. Tôi gọi hắn là đồ lợn.

Stephen, đang nhẩn nha chuẩn bị câu chữ thật gọn gàng trong đầu, tiếp tục:

—Chúa Giê-su xem ra cũng đối xử với mẹ mình chẳng mấy khách sáo ở nơi công cộng nhưng Suarez—một nhà thần học dòng Tên đồng thời là một quý tộc Tây Ban Nha—đã lên tiếng bào chữa cho Ngài đấy thôi.

—Cậu đã bao giờ lóe lên ý nghĩ rằng, Cranly hỏi, Chúa Giê-su không phải là kẻ như Ngài vẫn hay ra vẻ chưa?

—Người đầu tiên lóe lên ý nghĩ đó trong đầu, Stephen đáp, chính là bản thân Chúa Giê-su.

—Ý tôi là, Cranly nói với giọng điệu đanh lại, cậu đã bao giờ có ý nghĩ rằng Ngài tự bản chất là một kẻ đạo đức giả có ý thức, kẻ mà Ngài từng gọi đám người Do Thái thời bấy giờ là mồ mả tô vôi chưa? Hay nói một cách rõ ràng hơn, rằng Ngài là một kẻ vô lại?

—Ý nghĩ đó chưa từng xuất hiện trong đầu tôi, Stephen đáp. Nhưng tôi tò mò muốn biết là cậu đang cố biến tôi thành một kẻ cải đạo hay biến chính cậu thành một kẻ phản đạo thế?

Hắn quay sang nhìn khuôn mặt người bạn và bắt gặp ở đó một nụ cười gượng gạo mà một lực lượng ý chí nào đó đang cố gắng gồng lên để làm cho nó mang ý nghĩa sâu sắc.

Cranly đột ngột hỏi bằng một giọng điệu bình thường, hợp lý:

—Nói thật cho tôi nghe đi. Cậu có bị sốc chút nào trước những gì tôi vừa nói không?

—Hơi hơi, Stephen nói.

—Và tại sao cậu lại bị sốc, Cranly tiếp tục thúc ép bằng cùng một giọng điệu, nếu cậu cảm thấy chắc chắn rằng tôn giáo của chúng ta là giả dối và Chúa Giê-su không phải là Con Thiên Chúa?

—Tôi hoàn toàn không chắc chắn về điều đó, Stephen nói. Ngài giống Con Thiên Chúa hơn là con trai của Mary.

—Và đó có phải là lý do tại sao cậu không chịu làm lễ hiệp thông không, Cranly hỏi, bởi vì cậu cũng không chắc chắn về điều đó, bởi vì cậu cảm thấy rằng tấm bánh thánh kia cũng có thể là thân xác và máu của Con Thiên Chúa chứ không phải là một mẩu bánh mì wafer vô tri? Và bởi vì cậu sợ rằng nó thực sự là thế?

—Đúng vậy, Stephen điềm đạm nói, tôi cảm thấy điều đó và tôi cũng sợ nó nữa.

—Tôi hiểu rồi, Cranly nói.

Stephen, bị chấn động bởi giọng điệu kết thúc vấn đề của lão, lập tức mở lại cuộc tranh luận bằng cách nói:

—Tôi sợ rất nhiều thứ: chó, ngựa, súng ống, biển cả, giông bão, máy móc, những con đường làng lúc đêm về.

—Nhưng tại sao cậu lại phải sợ một mẩu bánh mì cơ chứ?

—Tôi tưởng tượng rằng, Stephen nói, có một thực thể đầy ác ý ẩn giấu đằng sau những thứ mà tôi nói là mình sợ hãi.

—Thế cậu sợ rằng, Cranly hỏi, Chúa của người Công giáo La Mã sẽ đánh chết tươi và đày đọa cậu xuống địa ngục nếu cậu thực hiện một buổi lễ hiệp thông phạm thượng ư?

—Chúa của người Công giáo La Mã hoàn toàn có thể làm điều đó ngay bây giờ, Stephen nói. Điều tôi sợ hãi còn lớn hơn thế, đó là phản ứng hóa học sẽ được khởi phát trong linh hồn tôi bởi sự tôn sùng giả tạo dành cho một biểu tượng ẩn giấu đằng sau đó là hai mươi thế kỷ uy quyền và tôn kính.

—Cậu có sẵn sàng, Cranly hỏi, trong những tình huống nguy hiểm cực độ, phạm phải sự phạm thượng đó không? Chẳng hạn như, nếu cậu sống trong thời kỳ trừng phạt đạo?

—Tôi không thể thay mặt quá khứ mà trả lời được, Stephen đáp. Có lẽ là không.

—Vậy thì, Cranly nói, cậu không có ý định trở thành một tín đồ Kháng cách sao?

—Tôi đã nói rằng mình đã đánh mất đức tin, Stephen đáp, chứ không nói rằng mình đã đánh mất lòng tự trọng. Đó sẽ là sự giải thoát kiểu quái gì khi ruồng bỏ một điều vô lý mang tính logic và mạch lạc để ôm ấp một điều vô lý phi logic và thiếu mạch lạc chứ?

Họ đã bước đi đến vùng ngoại ô Pembroke và giờ đây, khi họ chầm chậm tiến bước dọc theo các đại lộ, những hàng cây cùng ánh đèn lấp lánh rải rác trong các biệt thự xoa dịu tâm trí họ. Bầu không khí giàu sang và tĩnh mịch lan tỏa xung quanh dường như đang vỗ về sự thiếu thốn của họ. Phía sau hàng rào nguyệt quế, một ánh đèn lấp ló bên khung cửa sổ nhà bếp và giọng hát của một cô người làm cất lên lanh lảnh trong lúc cô mài dao. Cô hát, bằng những nhịp ngắt quãng ngắn ngủi:

Rosie O’Grady—

Cranly dừng lại lắng nghe, nói:

—Mulier cantat (Phụ nữ đang hát).

Vẻ đẹp mềm mại của từ tiếng Latinh chạm đến màn đêm buông xuống bằng một xúc cảm mê hoặc, dịu nhẹ và thuyết phục hơn cả âm thanh của tiếng đàn hay bàn tay người phụ nữ. Cuộc tranh chấp trong tâm trí họ đã được dập tắt. Hình bóng của một người phụ nữ xuất hiện trong nghi thức phụng vụ của giáo hội bước lặng lẽ xuyên qua bóng tối: một nhân vật mặc y phục trắng, nhỏ bé và mảnh dẻ như một thiếu niên, với chiếc đai lưng buông thõng. Giọng nói của nàng, mong manh và cao vút hệt như giọng thiếu niên, cất lên ngâm nga từ một dàn hợp xướng xa xôi những từ ngữ đầu tiên của một người phụ nữ xuyên thủng bóng đêm và tiếng hò hét của buổi xướng âm đầu tiên về sự thương khó:

—Et tu cum Jesu Galilæo eras (Cả anh nữa, anh từng ở cùng Giê-su người Galileo).

Và mọi trái tim đều rung động và hướng về giọng nói ấy, tỏa sáng rực rỡ như một ngôi sao non trẻ, tỏa sáng rõ nét hơn khi giọng nói ngâm nga âm tiết gần cuối và mờ dần khi nhịp điệu lụi tàn.

Tiếng hát dứt bặt. Họ tiếp tục bước đi cùng nhau, Cranly lặp lại với nhịp điệu được nhấn mạnh mạnh mẽ ở phần cuối của điệp khúc:

Và khi chúng ta kết hôn,

Ôi, chúng ta sẽ hạnh phúc nhường nào

Bởi anh yêu nàng Rosie O’Grady ngọt ngào

Và Rosie O’Grady cũng yêu anh.

—Đó mới là thơ ca thực sự dành cho cậu đấy, lão nói. Đó mới là tình yêu đích thực.

Lão liếc ngang sang Stephen với một nụ cười kỳ lạ và bảo:

—Cậu có coi đó là thơ không? Hay cậu có hiểu nghĩa của những từ đó là gì không?

—Tôi muốn gặp Rosie trước đã, Stephen nói.

—Tìm cô ấy dễ ợt mà, Cranly nói.

Chiếc mũ của lão đã sụp xuống trán. Lão đẩy ngược nó lên và trong bóng râm của hàng cây, Stephen nhìn thấy khuôn mặt tái nhợt của lão, được khung viền bởi bóng tối, cùng đôi mắt đen to lớn. Đúng thế. Khuôn mặt lão khôi ngô và thân hình lão vạm vỡ, cứng cáp. Lão từng nói về tình mẫu tử. Khi ấy lão cảm nhận được những nỗi đau khổ của phụ nữ, những sự yếu đuối trong thể xác và tâm hồn họ: và sẽ che chở họ bằng một cánh tay mạnh mẽ, kiên quyết đồng thời cúi đầu khuất phục trước họ.

Vậy thì đi thôi: đã đến lúc phải đi rồi. Một giọng nói thì thầm dịu dàng vào trái tim cô độc của Stephen, giục giã hắn hãy đi và bảo rằng tình bạn của hắn sắp đi đến hồi kết. Phải; hắn sẽ đi. Hắn không thể đấu tranh chống lại người khác. Hắn thừa biết vai diễn của mình.

—Có lẽ tôi sẽ rời đi, hắn nói.

—Đi đâu? Cranly hỏi.

—Đến nơi nào tôi có thể, Stephen nói.

—Ừ, Cranly nói. Bây giờ có lẽ sẽ khó khăn cho cậu để sống ở đây đấy. Nhưng có phải điều đó khiến cậu phải đi không?

—Tôi buộc phải đi, Stephen đáp.

—Bởi vì, Cranly tiếp tục, cậu không cần phải tự coi mình là kẻ bị xua đuổi nếu cậu không muốn đi hay là một kẻ dị giáo hay tội phạm ngoài vòng pháp luật. Có rất nhiều tín đồ thuần thành suy nghĩ giống như cậu. Điều đó làm cậu ngạc nhiên chứ? Giáo hội không phải là tòa nhà bằng đá hay thậm chí là giới giáo sĩ và các giáo lý của họ. Nó là toàn bộ khối quần chúng được sinh ra trong lòng nó. Tôi không biết cậu muốn làm gì trong đời. Có phải là điều cậu từng kể với tôi đêm chúng ta đứng bên ngoài ga Phố Harcourt không?

—Đúng vậy, Stephen nói, mỉm cười bất chấp chính mình trước cách Cranly ghi nhớ những tư tưởng gắn liền với các địa điểm. Đêm cậu mất nửa giờ đôi co với Doherty về con đường ngắn nhất từ Sallygap đi Larras.

—Thằng đần độn! Cranly điềm tĩnh khinh bỉ nói. Nó biết gì về con đường từ Sallygap đi Larras chứ? Hay nó biết cái quái gì về bất cứ thứ gì trên đời này cơ chứ? Với cái đầu mập mạp bợ đẻ dãi dớt của nó thế đấy!.

Lão bật lên một tràng cười lớn và kéo dài.

—Thế nào? Stephen nói. Cậu có nhớ phần còn lại không?

—Ý cậu là điều cậu đã nói phỏng? Cranly hỏi. Có, tôi nhớ chứ. Khám phá ra phương thức sống hoặc nghệ thuật mà qua đó tinh thần của cậu có thể tự do biểu đạt chính mình trong sự tự do không bị xiềng xích.

Stephen ngẩng mũ tỏ ý ghi nhận.

—Tự do! Cranly lặp lại. Nhưng cậu vẫn chưa đủ tự do để phạm phải một tội phạm thượng đâu. Nói tôi nghe xem, cậu có dám cướp bóc không?

—Tôi sẽ đi ăn mày trước, Stephen nói.

—Và nếu chẳng kiếm được gì, cậu sẽ cướp chứ?

—Cậu muốn tôi phải trả lời rằng, Stephen đáp, quyền sở hữu tài sản chỉ mang tính tạm thời, và trong những hoàn cảnh nhất định thì cướp bóc không phải là hành vi phi pháp. Mọi người đều sẽ hành động theo niềm tin đó. Thế nên tôi sẽ không đưa cho cậu câu trả lời đó đâu. Hãy đến hỏi nhà thần học dòng Tên Juan Mariana de Talavera—người cũng sẽ giải thích cho cậu biết trong những hoàn cảnh nào cậu có thể hợp pháp giết chết vị vua của mình và liệu cậu nên đưa thuốc độc cho lão ta trong một chiếc chén hay bôi nó lên áo choàng hoặc yên ngựa của lão. Thay vào đó, hãy hỏi tôi rằng tôi có để cho người khác cướp bóc mình không, hoặc nếu họ làm thế, liệu tôi có gọi xuống đầu họ thứ mà người ta vẫn gọi là sự trừng phạt của thế quyền hay không?

—Và cậu sẽ làm thế chứ?

—Tôi nghĩ rằng, Stephen nói, việc làm điều đó sẽ khiến tôi đau đớn hệt như việc bị cướp vậy.

—Tôi hiểu rồi, Cranly nói.

Lão rút que diêm ra và bắt đầu cạo sạch kẽ giữa hai chiếc răng. Rồi lão hờ hững nói:

—Nói tôi nghe xem, ví dụ như, cậu có cướp đi sự trong trắng của một trinh nữ không?

—Xin lỗi nhé, Stephen lịch sự nói, đó chẳng phải là hoài bão của hầu hết các nam thanh niên sao?

—Vậy quan điểm của cậu rốt cuộc là gì? Cranly hỏi.

Câu nói cuối cùng của lão, ngăm ngẩn mùi khói than củi và làm nhụt chí, kích thích bộ não Stephen—nơi khói thuốc của nó dường như đang trùm phủ.

—Nghe này, Cranly, hắn nói. Cậu đã hỏi tôi những gì tôi sẽ làm và những gì tôi sẽ không làm. Tôi sẽ nói cho cậu biết tôi sẽ làm gì và sẽ không làm gì. Tôi sẽ không phục tùng thứ mà tôi không còn tin tưởng nữa, dù nó tự gọi mình là mái nhà của tôi, là tổ quốc của tôi, hay là giáo hội của tôi: và tôi sẽ cố gắng thể hiện bản thân trong một phương thức sống hoặc nghệ thuật nào đó tự do nhất có thể và trọn vẹn nhất có thể, sử dụng để phòng thủ thứ vũ khí duy nhất mà tôi cho phép bản thân sử dụng—sự im lặng, sự lưu đày và sự xảo quyệt.

Cranly tóm lấy cánh tay hắn và quay người hắn lại để dẫn hắn đi ngược về phía Leesons Park. Lão cười gần như ranh mãnh và bóp chặt cánh tay Stephen bằng sự trìu mến của một bậc trưởng bối.

—Xảo quyệt cơ đấy! lão nói. Cậu á? Cậu nhà thơ nghèo túng kia ạ!

—Và cậu đã bắt tôi phải xưng tội với cậu, Stephen nói, rung động trước cái chạm của lão, hệt như cách tôi đã xưng tội với cậu trong rất nhiều chuyện khác, phải không?

—Đúng vậy, đứa con ngoan của ta, Cranly nói, vẫn vô cùng vui vẻ.

—Cậu đã bắt tôi phải xưng thú những nỗi sợ hãi mà tôi mang. Nhưng tôi cũng sẽ nói cho cậu biết những gì tôi không sợ. Tôi không sợ phải cô độc hay bị ruồng bỏ để nhường chỗ cho người khác hay phải rời bỏ bất cứ thứ gì tôi buộc phải rời bỏ. Và tôi không sợ phải mắc sai lầm, dẫu là một sai lầm lớn, một sai lầm suốt đời, và có lẽ kéo dài đằng đẵng đến cõi vĩnh hằng nữa.

Cranly, lúc này đã trở lại vẻ nghiêm nghị, chậm bước chân lại và nói:

—Cô độc, hoàn toàn cô độc. Cậu không hề sợ điều đó sao. Và cậu có biết từ đó có ý nghĩa gì không? Không chỉ là bị tách biệt khỏi tất cả mọi người mà còn chẳng có lấy nổi một người bạn.

—Tôi sẽ chấp nhận rủi ro đó, Stephen nói.

—Và chẳng có lấy một cá nhân nào, Cranly nói, người sẽ vượt qua cả một người bạn, thậm chí vượt qua cả người bạn cao quý nhất và chân thành nhất mà một người từng có.

Những lời của lão dường như đã chạm đến một dây cung sâu thẳm trong chính bản thân lão. Phải chăng lão đang nói về chính mình, về bản thân lão như lúc này hay như lão hằng ao ước? Stephen dõi theo khuôn mặt lão trong vài thoáng im lặng. Một nỗi buồn lạnh lẽo đọng lại ở đó. Lão đang nói về chính mình, về sự cô độc của bản thân mà lão hằng khiếp sợ.

—Cậu đang nói về ai thế? Stephen cuối cùng cất tiếng hỏi.

Cranly không đáp lời.

Ngày 20 tháng 3. Trò chuyện dài với Cranly về chủ đề cuộc nổi loạn của tôi.

Lão ra dáng vẻ bề thế lắm. Tôi thì dẻo dai và mềm mỏng. Tấn công tôi bằng lý do tình yêu dành cho mẹ. Cố gắng tưởng tượng ra mẹ lão: không tài nào tưởng tượng nổi. Từng kể với tôi một lần, trong một phút lỡ lời, rằng bố lão sáu mươi mươi mốt tuổi khi lão ra đời. Có thể hình dung ra ông ta. Kiểu nông dân lực điền. Bộ đồ màu muối tiêu. Bàn chân vuông vức. Bộ râu xám xịt bù xù. Chắc hay tham gia mấy cuộc đua chó săn. Đóng góp hội phí đều đặn nhưng không quá hào phóng cho cha xứ Dwyer ở Larras. Thỉnh thoảng trò chuyện với mấy cô gái sau khi trời tối. Còn mẹ lão thì sao? Rất trẻ hay rất già? Chắc không phải vế đầu. Nếu thế thì Cranly đã chẳng nói năng như vậy. Vậy là già rồi. Có lẽ vậy, và bị bỏ bê. Do đó mà tâm hồn Cranly mới tuyệt vọng đến thế: đứa con của những tinh trùng đã kiệt quệ.

Ngày 21 tháng 3, buổi sáng. Đã nghĩ về điều này trên giường tối qua nhưng quá lười biếng và rảnh rỗi nên không viết thêm. Rảnh rỗi, đúng thế. Những tinh trùng kiệt quệ đó chính là của Elizabeth và Zacchary. Thế thì hắn chính là kẻ tiền hô. Thêm mục nữa: hắn ăn chủ yếu thịt lợn xông khói phần bụng và vả khô. Đọc về châu chấu và mật ong rừng. Ngoài ra, khi nghĩ về hắn, lúc nào cũng nhìn thấy một cái đầu bị chặt đứt nghiêm nghị hoặc chiếc mặt nạ tử thi hệt như được phác thảo trên một tấm màn xám hoặc khăn tang Veronica. Bọn chúng gọi đó là trảm quyết trong giáo phái. Thoáng bối rối vì thánh Gio-an ở cổng La-tinh. Mình nhìn thấy cái gì nhỉ? Một kẻ tiền hô bị chặt đầu đang cố dò dẫm mở ổ khóa.

Ngày 21 tháng 3, ban đêm. Tự do. Tự do tâm hồn và tự do tưởng tượng. Hãy để kẻ chết chôn người chết. Phải. Và hãy để kẻ chết kết hôn với kẻ chết.

Ngày 22 tháng 3. Cùng Lynch bám theo một cô y tá bệnh viện khá to con. Ý tưởng của Lynch. Tôi không thích. Hai con chó săn xám gầy đói khát đi lủi thủi sau một con bò cái.

Ngày 23 tháng 3. Chưa gặp lại nàng từ đêm đó. Không khỏe chăng? Có lẽ đang ngồi sưởi bên lò sưởi với chiếc khăn choàng của mẹ trên vai. Nhưng chắc không cáu kỉnh đâu. Một bát cháo yến mạch ngon lành chăng? Không thưởng thức chút đi sao?

Ngày 24 tháng 3. Bắt đầu bằng một cuộc tranh cãi với mẹ. Chủ đề: Đức Trinh Nữ. Bị bất lợi bởi giới tính và tuổi tác của mình. Để trốn tránh, tôi bèn đem mối quan hệ giữa Chúa Giê-su và Bố ra đối lập với mối quan hệ giữa Mary và con trai bà. Nói rằng tôn giáo không phải là một bệnh viện hộ sản. Mẹ tôi tỏ ra khoan dung. Nói rằng tôi có một bộ não kỳ cục và đọc sách quá nhiều. Không đúng. Đọc rất ít mà hiểu thì còn ít hơn. Sau đó bà nói tôi sẽ quay lại với đức tin bởi vì tôi có một tâm trí bất an. Điều này có nghĩa là rời khỏi giáo hội bằng cửa sau của tội lỗi và bước trở lại qua giếng trời của sự ăn năn. Không thể ăn năn nổi. Đã nói thế với mẹ và xin sáu xu. Nhận được ba xu.

Sau đó đến trường đại học. Một cuộc đấu khẩu khác với gã đầu tròn mắt láu cá Ghezzi. Lần này bàn về Bruno người Nola. Bắt đầu bằng tiếng Ý và kết thúc bằng tiếng Anh bồi. Lão nói Bruno là một kẻ dị giáo khủng khiếp. Tôi nói lão ta bị thiêu cháy một cách khủng khiếp. Lão đồng ý với điều này kèm theo chút đau lòng. Sau đó chỉ cho tôi công thức làm món mà lão gọi là risotto alla bergamasca. Khi phát âm nguyên âm o trầm, lão chìa đôi môi phàm tục đầy đặn của mình ra hệt như đang hôn nguyên âm đó. Lão từng làm thế chưa? Và lão có thể ăn năn không? Có, lão có thể chứ: và rơi hai giọt nước mắt láu cá tròn xoe, mỗi bên mắt một giọt.

Khi băng qua công viên Stephen’s—ý tôi là Công viên của tôi—sực nhớ ra rằng đồng bào của lão chứ không phải đồng bào của tôi đã phát minh ra thứ mà Cranly đêm nọ gọi là tôn giáo của chúng ta. Một bộ tứ gồm bọn họ, những người lính thuộc trung đoàn bộ binh số chín mươi bảy, đã ngồi dưới chân cây thập giá và tung xúc xắc để tranh chiếc áo khoác của kẻ bị đóng đinh.

Đến thư viện. Cố gắng đọc ba bài bình luận. Vô ích. Nàng vẫn chưa ra. Mình đang hoảng hốt à? Về chuyện gì cơ? Rằng nàng sẽ chẳng bao giờ bước ra nữa.

Blake từng viết:

Tôi tự hỏi liệu William Bond có chết không

Bởi vì chắc chắn anh ấy đang rất ốm.

Than ôi, William tội nghiệp!

Tôi từng xem một buổi chiếu tranh toàn cảnh ở Rotunda. Cuối buổi là hình ảnh của mấy nhân vật tai to mặt lớn. Trong số đó có William Ewart Gladstone, vừa mới qua đời lúc đó. Dàn nhạc tấu bài Ôi, Willie, chúng tôi rất nhớ anh.

Đúng là một lũ nhà quê cục mịch!

Ngày 25 tháng 3, buổi sáng. Một đêm ác mộng đầy bận tâm. Muốn trút bỏ chúng khỏi lồng ngực.

Một hành lang dài uốn lượn. Từ sàn nhà bốc lên những cột hơi sương tối tăm. Nơi đó đầy rẫy những hình ảnh của các vị vua thần thoại, được khắc bằng đá. Hai tay họ đan vào nhau trên đầu gối như một biểu thị của sự mệt mỏi và đôi mắt họ tối sầm lại bởi những lầm lỗi của con người bay vụt qua trước mặt họ đời đời kiếp kiếp như những làn hơi sương tăm tối.

Những hình bóng kỳ lạ tiến bước hệt như từ một hang động. Chúng không cao lớn bằng con người. Người này trông không có vẻ hoàn toàn tách biệt khỏi người kia. Khuôn mặt chúng phát quang lân tinh, với những vệt sẫm màu hơn. Chúng nhìn trân trân vào tôi và đôi mắt chúng dường như muốn hỏi tôi điều gì đó. Chúng không nói năng gì.

Ngày 30 tháng 3. Chiều nay Cranly đứng ở hiên thư viện, đặt ra một bài toán cho Dixon và em trai cô ấy. Một người mẹ làm rơi con xuống sông Nile. Lại tiếp tục lải nhải về người mẹ. Cá sấu tóm lấy đứa trẻ. Người mẹ đòi lại con. Con cá sấu nói được nếu cô ta đoán đúng nó sẽ làm gì với đứa trẻ, ăn thịt hay không ăn thịt.

Tư duy kiểu này, Lepidus sẽ nói, thực chất được sinh sôi từ bùn của các anh nhờ sự tác động của mặt trời các anh.

Còn tôi thì sao? Chẳng lẽ cũng thế sao? Thế thì tống cổ nó xuống bùn sông Nile luôn đi!

Ngày 1 tháng 4. Không đồng tình với câu cúi này.

Ngày 2 tháng 4. Nhìn thấy nàng đang uống trà và ăn bánh ở tiệm Johnston, Mooney và O’Brien’s. Chính xác hơn là tay Lynch mắt cú vọ nhìn thấy nàng khi chúng tôi đi ngang qua. Cậu ta bảo tôi Cranly đã được em trai nàng mời đến đó. Lão có mang theo con cá sấu của mình không nhỉ? Phải chăng lão giờ là ngôi sao sáng chói? Chà, chính tôi là kẻ phát hiện ra lão. Tôi xin thề là chính tôi đấy. Lẫn quất lặng lẽ đằng sau củ cải đường vùng Wicklow.

Ngày 3 tháng 4. Gặp Davin ở tiệm xì-gà đối diện nhà thờ Findlater’s. Anh ta mặc áo len đen và cầm gậy hurling. Hỏi tôi có phải thực sự tôi sắp đi xa không và lý do tại sao. Bảo anh ta con đường ngắn nhất đi Tara là qua Holyhead. Ngay lúc đó bố tôi đi tới. Giới thiệu. Bố lịch sự và sắc sảo. Hỏi Davin có muốn dùng chút giải khát không. Davin từ chối, đang bận đi họp. Khi chúng tôi đi xa, bố bảo tôi anh ta có một đôi mắt chân thật, đáng tin. Hỏi tôi sao không gia nhập câu lạc bộ chèo thuyền. Tôi vờ như đang suy nghĩ về điều đó. Sau đó kể cho tôi nghe cách ông làm tan nát trái tim Pennyfeather. Muốn tôi học luật. Bảo tôi sinh ra là để dành cho nghề đó. Lại bùn lầy, lại cá sấu.

Ngày 5 tháng 4. Mùa xuân hoang dã. Mây bay cuồn cuộn. Ồ cuộc đời! Dòng suối nước đầm lầy cuồn cuộn tối sẫm nơi những cây táo trút xuống những đóa hoa mỏng manh. Đôi mắt thiếu nữ ẩn hiện sau những tán lá. Các thiếu nữ thẹn thùng và đùa giỡn nghịch ngợm. Toàn tóc vàng hoặc hung đỏ: chẳng có đứa nào tóc đen cả. Tụi nó đỏ mặt trông đẹp hơn hẳn. Húp-la!

Ngày 6 tháng 4. Chắc chắn nàng nhớ về quá khứ. Lynch nói mọi phụ nữ đều thế. Thế thì nàng nhớ về thời thơ ấu của mình—và của tôi nếu tôi từng có tuổi thơ. Quá khứ bị tiêu hủy trong hiện tại và hiện tại chỉ sống vì nó sinh ra tương lai. Bức tượng phụ nữ, nếu Lynch đúng, lúc nào cũng nên được quấn vải che kín mít, một tay phụ nữ ngượng ngùng sờ soạng phần mông của chính mình.

Ngày 6 tháng 4, muộn hơn. Michael Robartes nhớ về vẻ đẹp đã bị lãng quên và, khi đôi vòng tay ôm trọn lấy nàng, ông ôm siết vào ngực mình nét kiều diễm đã phai mờ từ lâu khỏi thế gian này. Không phải thế này. Hoàn toàn không. Tôi khao khát ôm siết vào ngực mình nét kiều diễm chưa từng xuất hiện trên thế gian này.

Ngày 10 tháng 4. Thấp thoáng, bên dưới màn đêm nặng nề, xuyên qua sự tĩnh lặng của thành phố vừa xoay mình chuyển từ những giấc mơ sang giấc ngủ không mộng mị hệt như một kẻ tình nhân mệt mỏi mà chẳng vuốt ve nào lay chuyển nổi, tiếng móng ngựa nện trên đường. Giờ đây không còn mơ hồ nữa khi chúng đến gần cây cầu; và trong một thoáng, khi chúng lướt qua những khung cửa sổ tối thui, sự tĩnh lặng bị xé toạc bởi tiếng báo động hệt như một mũi tên. Giờ đây người ta nghe thấy chúng ở đằng xa, tiếng móng ngựa lóe sáng giữa màn đêm nặng nề như những viên ngọc quý, vội vã lao đi vượt qua những cánh đồng đang ngủ say đến tận tận cùng chuyến hành trình nào—trái tim nào?—mang theo tin tức gì?

Ngày 11 tháng 4. Đọc lại những gì tôi viết tối qua. Những từ ngữ mơ hồ cho một cảm xúc mơ hồ. Nàng sẽ thích nó chứ? Tôi nghĩ là có. Thế thì tôi cũng phải thích nó nữa.

Ngày 13 tháng 4. Cái món tundish đó đã ám ảnh trong đầu tôi suốt một thời gian dài. Tôi đã tra cứu và thấy nó là từ tiếng Anh, một từ tiếng Anh thô mộc chuẩn chỉnh chính hiệu. Mẹ kiếp cái lão giám thị học vụ và cái phễu của lão! Lão đến đây để dạy chúng ta ngôn ngữ của lão hay để học nó từ chúng ta cơ chứ. Mẹ kiếp lão theo cách này hay cách khác đi!

Ngày 14 tháng 4. John Alphonsus Mulrennan vừa trở về từ miền tây Ireland. Các tờ báo châu Âu và châu Á xin vui lòng sao chép lại điều này. Cậu ta kể với chúng tôi đã gặp một lão già ở đó trong một túp lều trên núi. Lão già mắt đỏ hoe và ngậm tẩu ngắn. Lão già nói tiếng Ireland. Mulrennan nói tiếng Ireland. Rồi lão già và Mulrennan nói tiếng Anh. Mulrennan nói với lão về vũ trụ và các vì sao. Lão già ngồi, lắng nghe, hút thuốc, khạc nhổ. Rồi nói:

—Chà, chắc phải có mấy sinh vật kỳ quái lắm ở tận cùng thế giới.

Tôi sợ lão ta. Tôi sợ đôi mắt viền đỏ chai sạn của lão. Chính với lão ta tôi phải đấu tranh suốt đêm nay cho đến khi bình minh ló rạng, cho đến khi lão hoặc tôi nằm xuống chết đi, bóp chặt lấy cái cổ gân guốc của lão cho đến khi... Cho đến khi cái gì? Cho đến khi lão chịu khuất phục trước tôi? Không. Tôi chẳng có ý hại ai đâu.

Ngày 15 tháng 4. Hôm nay chạm mặt nàng trực diện ở Phố Grafton. Đám đông xô đẩy chúng tôi lại gần nhau. Cả hai đều khựng lại. Nàng hỏi sao tôi chẳng bao giờ đến chơi, bảo rằng nàng nghe đủ thứ câu chuyện đồn thổi về tôi. Đây chỉ là cách để kéo dài thời gian. Hỏi tôi có đang viết thơ không? Về ai cơ? Tôi hỏi lại nàng. Điều này làm nàng càng bối rối hơn và tôi cảm thấy tồi tệ và xấu xa. Lập tức khóa chặt cái van đó lại và bật hệ thống làm lạnh anh hùng-tâm linh lên, được phát minh và đăng ký bản quyền ở mọi quốc gia bởi Dante Alighieri. Huyên thuyên nói về bản thân và các dự định của mình. Giữa lúc đó vô phúc thế nào tôi lại thực hiện một cử động đột mang tính cách mạng. Chắc lúc đó trông tôi hệt như một gã ném nắm hạt đậu lên không trung. Mọi người bắt đầu đổ dồn mắt nhìn chúng tôi. Nàng bắt tay tôi một thoáng sau đó và, khi bước đi, nói hy vọng tôi sẽ làm được những gì đã nói.

Bây giờ tôi gọi đó là thân thiện, các cậu thấy sao?

Ừ, hôm nay tôi có thiện cảm với nàng. Một chút hay nhiều? Không biết nữa. Tôi thích nàng và có vẻ đó là một cảm xúc mới mẻ đối với tôi. Thế thì, trong trường hợp đó, tất cả những chuyện còn lại, tất cả những gì tôi tưởng mình đã nghĩ và những gì tôi tưởng mình đã cảm nhận, toàn bộ những thứ trước đây trên thực tế... Ồ, dẹp đi anh bạn trẻ ơi! Hãy ngủ một giấc cho quên đi!

Ngày 16 tháng 4. Đi thôi! Đi thôi!

Bùa chú từ những vòng tay và giọng nói: những vòng tay trắng ngần của những con đường, lời hứa hẹn về những cái ôm siết chặt và những cánh tay đen thẫm của những con tàu cao chót vót sừng sững trước ánh trăng, câu chuyện của chúng về những quốc gia xa xôi. Chúng vươn tay ra để nói: Chúng ta cô độc—hãy đến đây. Và những giọng nói cất lên cùng chúng: Chúng ta là đồng bào của anh đây. Và bầu không khí đặc quánh sự hiện diện của họ khi họ gọi tôi, người đồng bào của họ, đang chuẩn bị cất bước lên đường, vẫy gọi đôi cánh của tuổi trẻ đầy hân hoan và khủng khiếp.

Ngày 26 tháng 4. Mẹ đang sắp xếp lại những bộ quần áo mua lại đồ si mới của tôi. Bây giờ bà nói bà cầu nguyện cho tôi, rằng tôi có thể tự học hỏi được trong chính cuộc đời mình và khi rời xa gia đình cùng bạn bè xem trái tim là gì và nó cảm nhận ra sao. A-men. Cứ thế đi. Chào mừng, ôi cuộc đời! Tôi ra đi để đối mặt lần thứ triệu với thực tế của những trải nghiệm và để rèn giũa trong lò rèn của linh hồn mình thứ lương tâm chưa từng được tạo ra của chủng tộc tôi.

Ngày 27 tháng 4. Hỡi người cha già, hỡi người thợ thủ công già, hãy luôn che chở và phù trợ cho con bây giờ và mãi mãi về sau.

Dublin, 1904.

Trieste, 1914.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.