Hoàng hôn tháng Mười hai buông xuống vội vã, vụng về sau một ngày buồn tẻ, và khi cậu đờ đẫn nhìn qua khung cửa sổ vuông vức của phòng học, bụng cậu cồn cào vì đói. Cậu thầm mong bữa tối có món thịt hầm, gồm củ cải trắng, cà rốt, khoai tây bầm nhuyễn và những miếng thịt cừu béo ngậy được chan đầy thứ nước sốt đặc sánh sền sệt pha bột tiêu. Cứ nhét đầy vào bụng đi, cái dạ dày khuyên nhủ cậu.
Đó sẽ là một đêm u ám và đầy bí mật. Khi màn đêm vừa buông xuống, những ngọn đèn vàng sẽ thắp lên, rải rác khắp khu phố ổ chuột của bọn lầu xanh. Cậu sẽ lang thang qua những con hẻm ngoằn ngoèo, vòng đi lộn lại ngày một gần hơn trong nỗi sợ hãi và niềm vui khôn tả, cho đến khi đôi chân bất chợt đưa cậu rẽ qua một góc tối. Mấy ả gái điếm lúc ấy vừa bước ra khỏi nhà để chuẩn bị đón khách, ngáp ngắn ngáp dài đầy lười biếng sau giấc ngủ và sửa lại chiếc kẹp tóc trên búi tóc xù. Cậu sẽ bước lướt qua họ, điềm tĩnh chờ đợi một xung động từ chính ý chí của mình hoặc một tiếng gọi mời hướng về tâm hồn ưa chuộng tội lỗi từ tấm thân mềm mại ngập mùi nước hoa ấy. Thế nhưng, trong lúc cậu lảng vảng để tìm kiếm tiếng gọi ấy, các giác quan vốn chỉ bị sai khiến bởi dục vọng lại sắc sảo ghi nhận mọi điều làm chúng tổn thương hay hổ thẹn; đôi mắt cậu bắt gặp một vành bọt bia trên chiếc bàn không trải khăn, một bức ảnh chụp hai người lính đang đứng nghiêm, hay một tấm áp phích tuồng kịch lòe loẹt; đôi tai cậu nghe thấy những lời chào bợ đỡ, sỗ sàng:
—Này Bertie, có hứng thú gì không em?
—Có phải anh đấy không, cục cưng?
—Phòng số mười. Nelly mới đang chờ anh đấy.
—Chào cưng! Có muốn vào vui vẻ một lát không?
Phương trình trên trang vở nháp bắt đầu tủa ra một chiếc đuôi dài rộng dần, có những con mắt và ngôi sao lấp lánh như đuôi công; và khi những con mắt cùng ngôi sao ở phần số mũ đã biến mất, nó lại từ từ khép cuộn vào. Những con mắt và ngôi sao xuất hiện rồi biến mất ấy chính là những đôi mắt đang mở ra khép lại; và những đôi mắt đóng mở ấy lại là những vì sao đang sinh thành rồi lụi tàn. Vòng tuần hoàn vĩ đại của sự sống tinh tú đưa tâm trí mệt mỏi của cậu trôi dạt ra tận cùng cõi vô biên rồi kéo ngược về tâm điểm, kèm theo một thứ âm nhạc vợi xa vang vọng theo chiều đi lẫn chiều về. Âm nhạc nào vậy? Khúc ca ấy ngày càng đến gần và cậu chợt nhớ ra những câu thơ, trích đoạn thơ của Shelley viết về vầng trăng cô độc lang thang, xanh xao vì kiệt quệ. Các vì sao bắt đầu rệu rã vỡ vụn và một đám mây bụi sao mịn màng rơi lả tả qua không gian.
Ánh sáng mờ ảo càng trở nên nhạt nhòa trên trang giấy nơi một phương trình khác bắt đầu chầm chậm mở ra và tủa rộng chiếc đuôi của nó. Đó chính là tâm hồn cậu đang dấn thân vào trải nghiệm, tự bộc lộ qua từng tội lỗi, lan tỏa ánh hào quang rực cháy của những vì sao rồi lại thu mình khép kín, phai nhạt dần và tự tay dập tắt những ánh sáng cùng ngọn lửa của chính mình. Chúng đã tắt ngấm: và màn đêm giá lạnh lấp đầy cõi hồng hoang.
Một sự dửng dưng lạnh lùng và minh bạch ngự trị trong tâm hồn cậu. Sau tội lỗi bộc phát đầu tiên, cậu từng cảm thấy một làn sóng sinh khí trút cạn khỏi cơ thể và lo sợ thân xác lẫn tâm hồn mình sẽ bị tàn phế vì sự quá trớn đó. Thế nhưng, làn sóng sinh khí ấy thay vào đó lại nâng niu đưa cậu vượt thoát khỏi bản thân rồi kéo trở về khi nó rút đi; và chẳng có phần nào của thân xác hay tâm hồn bị tổn hại, thay vào đó là một sự bình yên tăm tối đã được thiết lập giữa chúng. Cõi hỗn mang nơi ngọn lửa nhiệt thành của cậu lụi tàn chính là sự thấu hiểu lạnh lùng và dửng dưng về bản thân. Cậu đã phạm tội trọng không chỉ một lần mà rất nhiều lần, và cậu thừa biết rằng, trong khi bản thân đã đối mặt với nguy cơ đọa đày đời đời chỉ vì tội lỗi đầu tiên ấy, thì với mỗi tội lỗi tiếp theo, cậu lại nhân đôi tội ác cùng hình phạt của mình. Ngày tháng, công việc và suy nghĩ của cậu chẳng thể chuộc lại lỗi lầm, bởi những nguồn suối ơn thánh hóa đã ngừng vỗ về tâm hồn cậu. Cùng lắm, bằng cách bố thí cho một kẻ ăn mày mà cậu vội vã trốn chạy lời cầu chúc của hắn, cậu chỉ có thể mệt mỏi hy vọng giành lấy đôi chút ơn thực sự. Lòng sùng kính đã vứt bỏ xuống sông xuống biển. Cầu nguyện thì được ích gì khi cậu thừa biết tâm hồn mình đang khao khát sự hủy diệt chính nó? Một niềm kiêu hãnh nào đó, một nỗi kinh sợ nào đó, đã ngăn cản cậu dâng lên Chúa dù chỉ một lời cầu nguyện ban đêm, dẫu cậu biết rõ Chúa hoàn toàn có quyền cướp đi sinh mạng cậu trong lúc ngủ và ném thẳng linh hồn cậu xuống hỏa ngục trước khi cậu kịp cất lời xin thương xót. Niềm tự hào về tội lỗi của chính mình, nỗi kinh sợ vô cảm trước Thiên Chúa, mách bảo cậu rằng xúc phạm của cậu quá ư trầm trọng, không thể được chuộc lại toàn bộ hay một phần bằng thứ lòng tôn kính giả tạo dâng lên Đấng Thấu Suốt và Biệt Trận.
—Này Ennis, tôi dám cá cậu có một cái đầu và cây gậy của tôi cũng thế đấy! Ý cậu là cậu không tài nào giải thích được số vô tỉ là gì sao?
Câu trả lời ngọng ngịu khơi lại đốm than khinh miệt của cậu đối với bạn bè. Trước những người khác, cậu không cảm thấy chút hổ thẹn hay sợ hãi nào. Vào những sáng Chủ nhật, khi đi ngang qua cửa nhà thờ, cậu lạnh lùng liếc nhìn những giáo dân đứng cởi trần, xếp thành bốn hàng dài bên ngoài, hiện diện về mặt tinh thần trong thánh lễ mà họ chẳng thể nhìn hay nghe thấy. Lòng đạo đức u mê của họ cùng mùi hôi ngai ngái của loại dầu chải tóc rẻ tiền mà họ xức lên đầu khiến cậu ghê tởm cái bàn thờ mà họ đang hướng lòng cầu nguyện. Cậu cúi mình trước sự giả hình cùng những kẻ khác, hoài nghi sự ngây thơ của họ—thứ mà cậu có thể dễ dàng phỉnh gác.
Trên tường phòng ngủ của cậu treo một bức tranh khổ lớn được trang trí viền hoa văn, chứng nhận tư cách hội trưởng của cậu trong hội thanh niên Đức Mẹ Maria. Vào những buổi sáng thứ Bảy, khi hội họp trong nhà nguyện để đọc kinh phụng vụ nhỏ, chỗ ngồi của cậu là một chiếc ghế quỳ có đệm ở bên phải bàn thờ, từ nơi đó cậu dẫn dắt tốp nam sinh xướng các lời đáp ca. Sự dối trá trong vị thế của bản thân không hề khiến cậu đau đớn. Nếu có lúc nào đó cậu cảm thấy thôi thúc muốn đứng dậy khỏi chiếc ghế danh dự ấy, và trước mặt tất cả mọi người thú nhận sự bất xứng của mình để rời khỏi nhà nguyện, thì một cái nhìn lướt qua gương mặt họ lại kìm chân cậu lại. Hình ảnh trong các bài thánh vịnh tiên tri xoa dịu niềm kiêu hãnh khô cằn của cậu. Những vinh quang của Đức Mẹ giam cầm tâm hồn cậu: dầu cam tùng, mộc dược và nhũ hương, tượng trưng cho dòng dõi vương giả của Người; những biểu tượng của Người như loài thực vật nở hoa muộn và cái cây đơm trái muộn, tượng trưng cho sự tiến hóa dần dà qua bao thế kỷ của tôn sùng dành cho Người trong nhân gian. Khi đến lượt cậu đọc bài đọc gần cuối giờ kinh, cậu cất giọng khàn đục, dùng giai điệu ấy để ru ngủ lương tâm.
Quasi cedrus exaltata sum in Libanon et quasi cupressus in monte Sion.
Quasi palma exaltata sum in Gades et quasi plantatio rosae in Jericho.
Quasi uliva speciosa in campis et quasi platanus exaltata sum juxta
aquam in plateis. Sicut cinnamomum et balsamum aromatizans odorem dedi
et quasi myrrha electa dedi suavitatem odoris.
Tội lỗi của cậu, thứ đã che khuất cậu khỏi tầm mắt Chúa, lại dẫn cậu đến gần hơn với chốn ẩn náu của những kẻ tội lỗi. Ánh mắt Người dường như nhìn cậu với nỗi xót thương dịu dàng; sự thánh thiện của Người, thứ ánh sáng kỳ lạ rực lên mỏng manh trên tấm thân yếu ớt, không hề hạ nhục kẻ tội lỗi đến cầu khẩn Người. Nếu có khi nào cậu cảm thấy bị thúc giục phải gạt bỏ tội lỗi và sám hối, thì động lực thúc đẩy cậu chính là ước nguyện được làm hiệp sĩ của Người. Nếu có khi nào tâm hồn cậu, sau khi cơn cuồng phong nhục dục dứt hẳn, rụt rè bước trở lại mái nhà của Người—nơi có biểu tượng là sao mai, “rực rỡ và đầy âm hưởng, loan báo thiên đàng và mang lại bình an”—thì đó là lúc những tước hiệu của Người được thì thầm khe khẽ bởi đôi môi vẫn còn vương vấn những lời dơ dáy thấu xương, vương vấn chính vị ngọt của một nụ hôn dâm loạn.
Thật kỳ lạ. Cậu đã cố tự nhủ xem điều đó diễn ra thế nào, nhưng bóng chiều đang buông súm trong phòng học đã che lấp những suy nghĩ của cậu. Tiếng chuông reo vang. Thầy giáo chấm bài toán và những hình học cần giải cho bài học tới rồi bước ra ngoài. Heron, ngồi cạnh Stephen, bắt đầu ngân nga vu vơ không nhịp điệu.
Bạn Bombados xuất sắc của tôi.
Ennis, người vừa chạy ra sân chơi, quay trở lại và nói:
—Cậu học trò trên nhà lớn đang xuống gọi thầy hiệu trưởng đấy.
Một nam sinh cao kều ngồi sau lưng Stephen xoa tay nói:
—Thế là ngon chớn rồi. Chúng ta được nghỉ trọn một tiếng. Thầy chưa vào cho đến tận sau hai giờ rưỡi đâu. Đến lúc đó, cậu có thể đem giáo lý ra hỏi khó thầy đấy, Dedalus.
Stephen ngả người ra sau, thơ thẩn vẽ nguệch ngoạc lên cuốn vở nháp, lắng nghe những lời bàn tán xung quanh mà đôi khi Heron phải chặn đứng bằng cách quát lên:
—Im cái miệng lại coi. Đừng có làm cái trò ầm ĩ chết tiệt ấy nữa!
Cũng thật kỳ lạ khi cậu tìm thấy một niềm vui khô khan trong việc lần theo đến tận cùng những giáo lý cứng nhắc của giáo điều nhà thờ, thâm nhập vào những khoảng lặng tối tăm chỉ để nghe và cảm nhận sâu sắc hơn án phạt dành cho chính mình. Câu nói của thánh James cho rằng kẻ nào phạm vào một điều răn thì hóa ra có tội với tất cả ban đầu từng bị cậu xem chỉ là một lời văn hoa phô trương, cho đến khi cậu bắt đầu mò mẫm trong bóng tối của tình trạng bản thân. Từ hạt giống dục vọng độc hại ấy, mọi trọng tội khác đã nảy sinh: sự kiêu hãnh về bản thân và lòng khinh miệt kẻ khác, sự ham lam tiền bạc để mua chuộc những thú vui bất chính, sự đố kỵ với những kẻ có thói hư tật xấu mà cậu không với tới được cùng những lời lầm bầm phỉ báng nhắm vào người đạo đức, sự tận hưởng ăn uống vô độ, cơn giận dữ lầm lì đen tối ngập tràn trong nỗi khát khao, vũng lầy lười biếng về thể xác lẫn tinh thần mà toàn bộ con người cậu đã chìm nghỉm vào đó.
Khi ngồi trên băng ghế, điềm tĩnh ngắm nhìn gương mặt sắc sảo, khắc nghiệt của thầy hiệu trưởng, tâm trí cậu đan cài vào những câu hỏi oái oăm được đặt ra. Nếu một người trộm một bảng Anh thời trẻ và dùng số tiền đó để tích lũy một gia tài khổng lồ, thì anh ta bắt buộc phải hoàn trả bao nhiêu, chỉ đúng một bảng Anh đã trộm hay một bảng Anh cộng với tiền lãi kép phát sinh theo thời gian, hay toàn bộ cơ nghiệp khổng lồ kia? Nếu một giáo dân khi làm phép rửa tội lại đổ nước trước khi đọc lời kinh thì đứa trẻ đó đã được rửa tội chưa? Phép rửa bằng nước khoáng có hiệu lực không? Tại sao mối phúc thật thứ nhất hứa ban vương quốc thiên đàng cho những ai có tâm hồn khó nghèo, trong khi mối phúc thật thứ hai lại hứa ban đất đai cho những kẻ hiền lành? Tại sao bí tích Thánh Thể lại được thiết lập dưới hai hình hài bánh và rượu, nếu Chúa Giê-su Ki-tô hiện diện cả mình máu, linh hồn và thần tính trong chỉ riêng tấm bánh hoặc chỉ riêng chén rượu? Một mảnh vụn ti ti của tấm bánh thánh đã được truyền phép có chứa trọn vẹn mình và máu Chúa Giê-su Ki-tô hay chỉ chứa một phần? Nếu chén rượu biến thành giấm và tấm bánh thánh vụn nát sau khi đã được truyền phép, thì Chúa Giê-su Ki-tô có còn hiện diện dưới hình hài của chúng với tư cách là Thiên Chúa và con người hay không?
—Kia kìa! Thầy đến kìa!
Một nam sinh canh gác ở cửa sổ đã nhìn thấy thầy hiệu trưởng bước ra từ tòa nhà lớn. Tất cả sách giáo lý đều được mở ra và mọi cái đầu lặng lẽ cúi xuống. Thầy hiệu trưởng bước vào và ngồi lên bục giảng. Một cú đá nhẹ từ cậu học sinh cao kều ở băng ghế phía sau giục Stephen hãy đặt một câu hỏi hóc búa.
Thầy hiệu trưởng không yêu cầu mở sách giáo lý để khảo bài. Thầy đan hai bàn tay vào nhau đặt lên bàn và nói:
—Tuần tĩnh tâm sẽ bắt đầu vào chiều thứ Tư để kính thánh Phan-xicô Xaviê, vị thánh có ngày lễ kính vào thứ Bảy. Tuần tĩnh tâm kéo dài từ thứ Tư đến thứ Sáu. Vào ngày thứ Sáu, việc giải tội sẽ diễn ra suốt buổi chiều sau giờ kinh mân côi. Nếu em nào có cha cố riêng quen thuộc thì tốt nhất đừng thay đổi. Thánh lễ sẽ cử hành vào sáng thứ Bảy lúc chín giờ và rước lễ chung cho toàn bộ nhà trường. Ngày thứ Bảy sẽ là ngày nghỉ. Nhưng vì cả thứ Bảy và Chủ nhật đều là ngày nghỉ, một số em có thể đâm ra lầm tưởng rằng thứ Hai cũng là ngày nghỉ nốt. Hãy cẩn thận đừng để phạm sai lầm đó. Thầy nghĩ em Lawless là kẻ dễ mắc phải sai lầm này nhất đấy.
—Thưa thầy, em á? Sao lại thế ạ, thưa thầy?
Một gợn sóng vui vẻ nhè nhẹ lan tỏa khắp lớp học từ nụ cười nghiêm nghị của thầy hiệu trưởng. Trái tim Stephen bắt đầu chầm chậm co thắt và lụi tàn vì sợ hãi tựa như một bông hoa héo úa.
Thầy hiệu trưởng tiếp tục với giọng nghiêm trang:
—Chắc các em đều đã quen thuộc với câu chuyện cuộc đời thánh Phan-xicô Xaviê, vị thánh bảo trợ của trường chúng ta. Ngài xuất thân từ một dòng dõi quý tộc Tây Ban Nha lâu đời và lừng lẫy, và các em còn nhớ ngài là một trong những môn đệ đầu tiên của thánh I-nhã. Họ gặp nhau tại Paris, nơi Phan-xicô Xaviê là giáo sư triết học tại đại học. Nhà quý tộc trẻ tuổi, tài hoa kiệt xuất kiêm học giả này đã đem cả tâm hồn và trí tuệ hưởng ứng những tư tưởng của vị tổ phụ vinh quang của chúng ta, và hẳn các em biết rằng, theo nguyện vọng của chính mình, ngài đã được thánh I-nhã cử đi giảng đạo cho người da đỏ ở phương Đông. Ngài được mệnh danh là tông đồ xứ Ấn, như các em đều rõ. Ngài đi từ xứ này sang xứ khác ở phương Đông, từ châu Phi sang Ấn Độ, từ Ấn Độ sang Nhật Bản để ban phép rửa cho dân chúng. Người ta kể rằng ngài đã rửa tội cho tới mười vạn kẻ ngoại giáo chỉ trong vòng một tháng. Tương truyền cánh tay phải của ngài đã trở nên tê liệt vì phải giơ lên quá nhiều lần trên đầu những người được ngài rửa tội. Sau đó, ngài muốn sang Trung Quốc để thu phục thêm nhiều linh hồn về với Chúa, nhưng ngài đã qua đời vì bệnh sốt rét trên đảo Sancian. Một vị thánh vĩ đại, thánh Phan-xicô Xaviê! Một chiến binh vĩ đại của Thiên Chúa!
Thầy hiệu trưởng dừng lại một lát, rồi lắc đôi bàn tay đang đan vào nhau trước ngực và nói tiếp:
—Ngài có một đức tin đủ sức dời non lấp biển. Mười vạn linh hồn được thu phục về với Thiên Chúa chỉ trong một tháng duy nhất! Đó mới chính là một nhà chinh phạt thực thụ, đúng với châm ngôn của dòng chúng ta: Vì vinh quang lớn lao hơn của Thiên Chúa! Một vị thánh có quyền năng vô biên trên thiên đàng, các em hãy nhớ lấy: quyền năng bầu cử cho chúng ta trong cơn hoạn nạn; quyền năng ban cho chúng ta bất cứ điều gì ta cầu xin nếu điều đó ích lợi cho linh hồn; và trên hết là quyền năng ban cho chúng ta ơn sám hối nếu chúng ta đang ngập chìm trong tội lỗi. Một vị thánh vĩ đại, thánh Phan-xicô Xaviê! Một người thợ câu linh hồn vĩ đại!
Thầy ngừng lắc đôi bàn tay, áp chúng lên trán và đưa đôi mắt đen sắc lạnh nhìn sang hai bên lớp học.
Trong sự tĩnh lặng, ánh lửa u tối từ đôi mắt ấy thắp bùng bóng chiều thành một thứ ánh sáng vàng sẫm. Trái tim Stephen khô héo lại như bông hoa sa mạc cảm nhận cơn gió lốc simoom đang kéo tới từ đằng xa.
—Hãy luôn ghi nhớ những sự sau hết của đời người và ngươi sẽ không bao giờ phạm tội—những lời trích, hỡi các em nhỏ thân yêu trong Chúa Ki-tô, từ sách Giảng Viên, chương bảy, câu bốn mươi. Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen.
Stephen ngồi ở băng ghế đầu của nhà nguyện. Cha Arnall ngồi bên chiếc bàn ở phía bên trái bàn thờ. Ngài khoác chiếc áo choàng dày; gương mặt tái nhợt hốc hác và giọng nói đứt quãng vì bệnh phong hàn. Hình bóng vị thầy cũ bỗng nhiên xuất hiện trở lại một cách kỳ lạ đã khơi gợi trong tâm trí Stephen ký ức về quãng thời gian ở Clongowes: những sân chơi rộng lớn đông nghẹt nam sinh, con hào vuông, nghĩa trang nhỏ nằm cạnh đại lộ rợp bóng cây đoạn nơi ngài từng mơ được chôn cất, ánh lửa hắt lên bức tường phòng y tế nơi ngài nằm bệnh, gương mặt đượm buồn của Sư huynh Michael. Trái tim cậu, khi những ký ức ấy ùa về, bỗng hóa thành tâm hồn của một đứa trẻ.
—Chúng ta tề tựu nơi đây hôm nay, hỡi các em nhỏ thân yêu trong Chúa Ki-tô, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi rời xa chốn ồn ào náo nhiệt của thế gian bên ngoài để cử hành và tôn vinh một trong những vị thánh vĩ đại nhất, vị tông đồ xứ Ấn, cũng là thánh bảo trợ của trường các em, thánh Phan-xicô Xaviê. Năm này qua năm khác, trong một khoảng thời gian dài hơn bất kỳ em nào ở đây, hỡi các em nhỏ, có thể nhớ được, hoặc dài hơn cả trí nhớ của chính thầy, các thế hệ học sinh của trường này đã tề tựu trong chính nhà nguyện này để thực hiện tuần tĩnh tâm thường niên trước ngày lễ kính vị thánh bảo trợ. Thời gian trôi đi và mang theo những đổi thay. Ngay trong vài năm qua, có mấy em không nhớ nổi những đổi thay đã diễn ra? Nhiều cậu học sinh từng ngồi ở những băng ghế đầu ấy vài năm về trước, nay có lẽ đang ở những xứ sở xa xôi, giữa miền nhiệt đới nắng cháy, hay đang chìm đắm trong công việc chuyên môn, trong các Chủng viện, hoặc đang bôn ba trên biển cả mênh mông, hoặc biết đâu, đã được Thiên Chúa quyền năng gọi về cõi vĩnh hằng để trao lại bản phúc trình về cuộc đời mình. Và dẫu năm tháng cứ cuộn trôi, mang theo bao biến động lành dữ, ký ức về vị thánh vĩ đại vẫn được tôn vinh bởi các thế hệ học sinh của trường này, những người hằng năm đều thực hiện tuần tĩnh tâm vào những ngày trước lễ kính do Hiền Mẫu Giáo Hội định đoạt để lưu truyền danh tiếng của một trong những người con vĩ đại nhất của xứ Tây Ban Nha Công giáo cho muôn đời sau.
—Vậy ý nghĩa của từ tĩnh tâm là gì và tại sao mọi người đều thừa nhận đây là một tập quán vô cùng lành mạnh cho bất cứ ai mong muốn sống một đời sống thực sự theo tinh thần Ki-tô giáo trước mặt Chúa và giữa lòng nhân thế? Tĩnh tâm, hỡi các em thân yêu, nghĩa là tạm thời rút lui khỏi những lo toan của cuộc sống, những bận rộn của thế gian trần tục này, để tra vấn trạng thái lương tâm, suy gẫm về các mầu nhiệm tôn giáo thánh thiện và thấu hiểu rõ hơn lý do tại sao chúng ta hiện diện nơi trần thế này. Trong những ngày ngắn ngủi này, thầy dự định sẽ trình bày với các em một vài suy tưởng xoay quanh bốn sự sau hết. Như các em đều biết từ sách giáo lý, đó là: sự chết, sự phán xét, hỏa ngục và thiên đàng. Chúng ta sẽ cùng nhau tìm cách thấu hiểu trọn vẹn chúng trong những ngày này, để từ sự thấu hiểu ấy mà thu về ích lợi bền vững cho linh hồn. Và hãy nhớ rằng, hỡi các em thân yêu, chúng ta được sinh ra trên cõi đời này chỉ vì một mục đích duy nhất: thi hành thánh ý Chúa và cứu rỗi linh hồn bất tử của mình. Tất cả những thứ khác đều vô giá trị. Chỉ có một điều duy nhất là cần thiết, đó là sự cứu rỗi linh hồn. Được lời lãi cả thế mất linh hồn thì nào ích gì? Hỡi các em thân yêu, hãy tin thầy, chẳng có bất cứ thứ gì trên thế gian khốn cùng này có thể bù đắp nổi cho một sự mất mát như thế.
—Do đó, thầy xin các em, trong những ngày tĩnh tâm này, hãy gác lại mọi suy nghĩ trần tục, dù là chuyện học hành, vui chơi hay tham vọng, để dồn toàn bộ tâm trí cho tình trạng linh hồn mình. Thầy thiết nghĩ chẳng cần phải nhắc nhở rằng trong những ngày tĩnh tâm, mọi học sinh đều phải duy trì tác phong điềm đạm, đạo đức và tránh xa mọi trò vui náo nhiệt lố lăng. Các học sinh lớn tuổi tất nhiên sẽ phải bảo ban nhau không để lề luật này bị vi phạm, và thầy đặc biệt trông cậy vào các hội trưởng cũng như ban cán sự của hội Đức Mẹ và hội các thánh thiên thần làm gương sáng cho các bạn học của mình.
—Vậy chúng ta hãy cùng nhau cố gắng cử hành tuần tĩnh tâm kính thánh Phan-xicô với toàn vẹn trái tim và khối óc. Hồng ân Thiên Chúa khi ấy sẽ ngự trị trên việc học tập suốt năm của các em. Nhưng trên hết mọi sự, nguyện xin tuần tĩnh tâm này sẽ là khoảng thời gian để các em có thể nhìn lại trong những năm tháng sau này—khi mà có lẽ các em đang ở rất xa ngôi trường này và giữa những hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt—nhìn lại với niềm vui và lòng biết ơn, dâng lời tạ ơn Chúa vì đã ban cho các em cơ hội đặt những viên gạch móng đầu tiên cho một đời sống Ki-tô giáo đạo đức, danh dự và nhiệt thành. Và nếu như, điều hoàn toàn có thể xảy ra, ngay lúc này đây trong những hàng ghế này có một linh hồn tội nghiệp nào đó đang gánh chịu bất hạnh khôn tả là đánh mất ơn thánh Chúa và sa ngã vào trọng tội, thầy thành kính hy vọng và cầu xin tuần tĩnh tâm này sẽ là bước ngoặt đổi đời cho linh hồn ấy. Thầy cầu xin Thiên Chúa, nhờ công nghiệp của vị tông đồ nhiệt thành Phan-xicô Xaviê, đưa dắt linh hồn ấy trở về nẻo đường sám hối thành tâm, để lễ rước mình thánh trong ngày lễ thánh Phan-xicô năm nay trở thành một giao ước vĩnh cửu giữa Thiên Chúa và linh hồn đó. Dù là người công chính hay kẻ bất lương, dù là thánh nhân hay tội nhân, nguyện xin tuần tĩnh tâm này sẽ là một cột mốc đáng nhớ đối với tất cả.
—Hãy giúp thầy, hỡi các em nhỏ thân yêu trong Chúa Ki-tô. Hãy giúp thầy bằng sự chú tâm đạo đức, bằng lòng sốt sắng của chính các em, bằng tác phong bên ngoài của các em. Hãy xua đuổi khỏi tâm trí mọi suy nghĩ trần tục và chỉ nghĩ về bốn sự sau hết: sự chết, sự phán xét, hỏa ngục và thiên đàng. Kinh Giảng Viên chép rằng: Kẻ nào ghi nhớ những sự ấy sẽ không bao giờ phạm tội. Kẻ nào ghi nhớ những sự sau hết sẽ hành động và suy tưởng với chúng luôn hiển hiện trước mắt. Người ấy sẽ sống một cuộc đời tốt đẹp và qua đời trong bình an, với niềm tin và sự xác tín rằng, nếu anh ta đã hy sinh nhiều trong đời sống trần thế này, anh ta sẽ được đền bù gấp trăm gấp ngàn lần hơn nữa trong cõi đời sau, nơi vương quốc đời đời chẳng có điểm dừng—đó là lời chúc lành, hỡi các em thân yêu, mà thầy chân thành gửi đến tất cả các em, không trừ một ai, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen!
Khi cậu thui thủi bước về nhà cùng những người bạn đồng hành lặng lẽ, một lớp sương mù dày đặc dường như bao trùm lấy tâm trí cậu. Cậu đờ đẫn chờ đợi nó tan đi để hé lộ những gì nó đang che giấu. Cậu nuốt bữa tối với sự thèm ăn cáu kỉnh, và khi bữa ăn kết thúc, những chiếc đĩa dính đầy mỡ bị bỏ lại ngổn ngang trên bàn, cậu đứng dậy bước ra cửa sổ, dùng lưỡi khều lớp bọt nhầy đặc quánh trong miệng rồi liếm sạch quanh mép. Cậu đã rơi xuống tận cùng trạng thái của một con thú thè lưỡi liếm mép sau bữa ăn. Đó chính là kết cục; và một tia sáng le lói của nỗi sợ hãi bắt đầu xuyên thủng màn sương mù trong tâm trí cậu. Cậu áp mặt vào tấm kính cửa sổ, phóng tầm mắt ra con đường đang tối dần. Những bóng người lúc đi ngang lúc đi lại qua ánh sáng lờ mờ. Và đó chính là cuộc đời. Những chữ cái cấu thành tên gọi Dublin đè nặng lên tâm trí cậu, hằn học xô đẩy nhau trờ đi trờ lại với một sự nài ép chậm chạp, thô lỗ. Tâm hồn cậu đang mập lên và đông đặc lại thành một thứ mỡ màng nhơ nhớp, lao sâu hơn mãi vào nỗi kinh hoàng tối tăm, trong một màn chiều u ám đầy đe dọa, trong lúc thể xác cậu đứng đó, phờ phạc và nhục nhã, trân trân nhìn ra từ đôi hốc mắt tối thầm, bất lực, hoang mang và đầy tính người để cho một vị thần trâu bò mặc sức soi mói.
Ngày hôm sau mang đến cái chết và sự phán xét, đánh thức tâm hồn cậu khỏi vũng lầy tuyệt vọng rũ rượi. Tia sáng loé lên của nỗi sợ hãi đã biến thành nỗi kinh hoàng tột độ khi giọng nói khàn khàn của nhà giảng thuyết thổi sự chết chóc vào tâm hồn cậu. Cậu oằn mình chịu đựng sự thống khổ ấy. Cậu cảm thấy cái lạnh lẽo của cõi chết chạm đến các đầu ngón tay chân rồi ngầm bò ngược về phía trái tim, lớp màng mờ của cái chết đang phủ lấy đôi mắt, những trung tâm rực sáng trong bộ não lần lượt tắt ngấm như những ngọn đèn, giọt mồ hôi cuối cùng rỉ ra trên làn da, đôi chân tay hấp hối trở nên bất lực, tiếng nói lắp bắp, lan man rồi đứt quãng, nhịp tim đập yếu ớt dần rồi lịm hẳn gần như bị khuất phục, hơi thở, hơi thở tội nghiệp, linh hồn con người tội nghiệp bất lực, đang nức nở thở dài, khò khè rên rỉ nơi cổ họng. Không một lối thoát! Không một sự cứu trợ! Cậu—chính cậu—cái thân xác mà cậu từng nuông chiều đang chết dần chết mòn. Ném nó xuống huyệt sâu! Đóng đinh nó vào chiếc quan niệm bằng gỗ, cái thây ma ấy. Khiêng nó ra khỏi nhà trên đôi vai của bọn thuê mướn. Tống nó khỏi tầm mắt người đời vào một cái hố dài dưới đất, xuống lòng mồ, để thối rữa, để làm mồi cho đám giòi bọ lúc nhúc và bị lũ chuột béo múp hốc hác gặm nhấm.
Và trong lúc bạn bè vẫn đang đứng khóc nghẹn bên giường bệnh, linh hồn của kẻ tội lỗi đã chịu phán xét. Vào khoảnh khắc cuối cùng của ý thức, toàn bộ cuộc đời trần thế bỗng lướt qua trước tầm nhìn của linh hồn, và khi chưa kịp định thần suy xét, thể xác đã ngã xuống tử vong còn linh hồn thì run rẩy đứng trước tòa phán xét. Thiên Chúa, Đấng từng bao dung khoan dung, lúc này sẽ trở nên công minh. Ngài đã kiên nhẫn suốt bấy lâu, khẩn khoản nài xin linh hồn tội lỗi, cho nó thời gian sám hối, dung tha nó thêm chút nữa. Nhưng thời gian ấy đã hết. Thời gian để phạm tội và hoan lạc đã qua, thời gian để nhạo báng Chúa cùng những lời cảnh cáo của Hội Thánh thánh thiện đã chấm dứt, thời gian để thách thức uy quyền của Ngài, để bất tuân mệnh lệnh Ngài, để bịp bợm đồng loại, để chồng chất tội lỗi này lên tội lỗi khác và giấu giếm sự mục nát của mình khỏi tầm mắt thế gian đã đến hồi kết. Giờ là lúc của Thiên Chúa: và Ngài không đời nào bị bịp bợm hay lừa dối. Mọi tội lỗi khi ấy sẽ lộ diện khỏi nơi ẩn nấp, từ những kẻ nổi loạn chống lại thánh ý Chúa nhất cho đến những thói hư tật xấu đồi bại nhất đối với bản tính trần trụi nhơ nhuốc của chúng ta, từ khiếm khuyết nhỏ nhặt nhất cho đến tội ác tày trời nhất. Khi ấy, làm hoàng đế vĩ đại, tướng quân lừng lẫy, nhà phát minh kỳ tài hay học giả uyên bác nhất thì có ích gì? Tất cả đều bình đẳng trước tòa phán xét của Thiên Chúa. Ngài sẽ thưởng kẻ lành và phạt kẻ dữ. Chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi là đủ để phán xử linh hồn một con người. Chỉ một khoảnh khắc duy nhất sau khi thân xác qua đời, linh hồn đã được đem lên cân đong đo đếm. Cuộc phán xét riêng tư đã hạ màn và linh hồn đã bước vào chốn hạnh phúc hay ngục tù luyện tội, hoặc bị quăng quật gào thét xuống hỏa ngục.
Và đó chưa phải là tất cả. Công lý của Thiên Chúa vẫn cần phải được minh oan trước mặt nhân loại: sau cuộc phán xét riêng vẫn còn lại cuộc phán xét chung. Ngày tận thế đã đến. Ngày phán xử cận kề. Những vì sao trên trời đang rơi xuống mặt đất như những trái vả bị gió quật rụng khỏi cành. Mặt trời, thiên thể vĩ đại của vũ trụ, đã trở nên đen đúa như áo tơi làm bằng lông dê. Mặt trăng đỏ như máu. Vòm trời cuốn tròn lại như một cuốn sách. Tổng lãnh thiên thần Michael, hoàng tử của thiên đinh, hiện ra đầy vinh quang và khủng khiếp giữa bầu trời. Với một chân đạp trên biển và một chân đạp trên đất, ngài thổi khúc nhạc bằng đồng khai tử thời gian từ chiếc kèn thiên sứ. Ba hồi kèn của vị thiên thần vang dội khắp vũ trụ. Thời gian hiện tại, thời gian quá khứ, sẽ không còn thời gian nữa. Ở hồi kèn cuối cùng, linh hồn của toàn nhân loại tuốn về thung lũng Jehoshaphat, giàu sang hay nghèo hèn, quyền quý hay bần tiện, thông thái hay khờ khạo, người lành kẻ dữ. Linh hồn của mọi con người từng sinh ra trên đời, linh hồn của tất cả những ai sắp sửa chào đời, mọi người con của Adam, tất cả đều tề tựu trong ngày tối cao đó. Và kìa, vị Thẩm phán tối cao đang ngự đến! Không còn là Chiên Con khiêm nhường của Thiên Chúa, không còn là Chúa Giê-su hiền lành ở Nazareth, không còn là Người Chịu Sầu Lũy, không còn là Vị Mục Tử Nhân Lành, Ngài giờ đây hiện diện trên những đám mây với quyền năng và vinh quang lớn lao, được hầu hạ bởi chín phẩm thiên thần, các thiên thần và tổng lãnh thiên thần, các quản thần, thế thần và dũng thần, các ngai tòa và chủ quyền, các xê-raphim và kê-rubim, Thiên Chúa Toàn Năng, Thiên Chúa Hằng Hữu. Ngài cất lời: và giọng nói của Ngài vọng thấu đến tận cùng không gian, xuống tận đáy vực thẳm khôn cùng. Là Vị Thẩm Phán Tối Cao, án lệnh của Ngài sẽ không và không thể có bất kỳ sự kháng án nào. Ngài gọi những kẻ công chính về phía mình, phán bảo họ bước vào vương quốc, cõi vĩnh hằng hạnh phúc đã được dọn sẵn cho họ. Còn những kẻ bất lương, Ngài xua đuổi, cút ra xa trong cơn phẫn nộ: Hãy xéo khỏi mặt ta, hỡi những kẻ bị nguyền rủa, vào ngọn lửa đời đời đã dọn sẵn cho ma quỷ và các sứ giả của nó. Ồ, khi ấy sẽ là nỗi thống khổ biết bao cho những kẻ tội nghiệp! Bạn bè bị xé rời khỏi bạn bè, con cái bị tước đoạt khỏi cha mẹ, chồng rời xa vợ. Tên tội nhân khốn khổ đưa đôi tay cầu xin những kẻ từng thân thiết với hắn trong cõi đời trần thế này, xin những kẻ mà sự đạo đức đơn sơ của họ từng bị hắn chế giễu, xin những kẻ từng khuyên răn và tìm cách dẫn dắt hắn đi vào nẻo chính đường ngay, xin người anh nhân hậu, xin người em gái yêu thương, xin người cha người mẹ từng thương yêu hắn vô bờ bến. Nhưng đã quá muộn: những người công chính quay lưng đi trước các linh hồn khốn nạn bị đày đọa, giờ đây phơi bày trước mắt thiên hạ trong hình hài gớm ghiếc và tội lỗi. Hỡi những kẻ đạo đức giả, hỡi những ngôi mộ tô vôi, hỡi những kẻ trưng ra nụ cười mỉm ngọt ngào với thế gian trong khi tâm hồn bên trong lại là một vũng lầy nhơ nhớp tội lỗi, các người sẽ ra sao trong ngày khủng khiếp đó?*
Và ngày này sẽ đến, phải đến, chắc chắn sẽ đến; ngày của cái chết và ngày của sự phán xét. Con người ta đã định sẵn phải chết và sau cái chết là sự phán xét. Cái chết là điều chắc chắn. Thời điểm và cách thức ra đi lại là ẩn số, có thể do bạo bệnh hay tai nạn bất ngờ: Con Người sẽ đến vào giờ các ngươi không ngờ nhất. Do đó, hãy luôn sẵn sàng trong từng khoảnh khắc, bởi các ngươi có thể chết bất cứ lúc nào. Cái chết là điểm dừng của tất cả chúng ta. Cái chết và sự phán xét, do tội lỗi của nguyên tổ mang đến trần gian, chính là cánh cổng tăm tối khép lại sự tồn tại trần thế, cánh cổng mở ra cõi vô định và vô hình, cánh cổng mà mọi linh hồn buộc phải bước qua, cô độc, không một sự trợ giúp nào ngoại trừ những việc lành phúc đức, không bạn bè, không anh em, không cha mẹ hay thầy cô nào cứu giúp nổi, đơn côi và run rẩy. Hãy để ý nghĩ đó luôn hiện hữu trong tâm trí để chúng ta không bao giờ phạm tội. Cái chết, nỗi kinh hoàng đối với kẻ tội lỗi, lại là khoảnh khắc phúc đức cho ai bước đi trên nẻo đường chính trực, hoàn thành phận sự ở đời, chuyên cần kinh nguyện sớm hôm, năng chịu các phép bí tích và hành thiện tích đức. Đối với người Công giáo tôn kính và có đức tin, đối với người công chính, cái chết không phải là nỗi sợ. Chẳng phải Addison, nhà văn vĩ đại người Anh, khi nằm trên giường bệnh, đã cho gọi vị bá tước trẻ tuổi hư hỏng xứ Warwick đến để chứng kiến cách một tín đồ Ki-tô giáo đối diện với sự ra đi như thế nào sao? Chỉ có ông ấy, và một mình ông ấy, người Ki-tô giáo có đạo đức và đức tin, mới có thể thốt lên từ tận đáy lòng:
Hỡi tử thần, sự đắc thắng của ngươi đâu rồi?
Hỡi nọc độc, sự cay đắng của ngươi đâu rồi?
Từng chữ từng lời ấy đều nhắm vào cậu. Chống lại tội lỗi nhơ nhớp và thầm kín của cậu, toàn bộ cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đã giáng xuống. Con dao của nhà giảng thuyết đã khoét sâu vào tận cõi lương tâm bị phanh phui của cậu, và giờ đây cậu cảm thấy linh hồn mình đang mục rữa trong tội lỗi. Phải, nhà giảng thuyết đã nói đúng. Thời của Chúa đã đến. Như một con thú giấu mình trong hang ổ, linh hồn cậu đã nằm lì trong đống nhơ nhớp của chính nó, nhưng những hồi kèn réo rắt của thiên thần đã lùa cậu ra khỏi bóng tối tội lỗi để bước ra ánh sáng. Những lời phán quyết tử hình cất lên bởi vị thiên thần đã đập nát trong chớp mắt sự bình yên ngạo mạn của cậu. Cơn gió của ngày tận thế lướt qua tâm trí cậu; những tội lỗi, những ả gái điếm đeo trang sức ngọc ngà trong tưởng tượng của cậu, tháo chạy tán loạn trước cơn bão lớn, ré lên chít chít như chuột trong nỗi kinh hoàng và túm tụm dưới một mái tóc xù.
Khi bước qua quảng trường để về nhà, tiếng cười khúc khích lanh lảnh của một cô gái lọt vào tai đang bừng nóng của cậu. Âm thanh mỏng manh vui tươi ấy đánh mạnh vào trái tim cậu hơn cả tiếng kèn trận, và không dám ngước mắt lên, cậu lảng sang một bên, vừa đi vừa đăm đăm nhìn vào bóng râm của những lùm cây rậm rạp. Nỗi hổ thẹn chồm dậy từ trái tim bị tổn thương, tràn ngập toàn bộ con người cậu. Hình bóng Emma hiện ra trước mắt, và dưới ánh mắt nàng, dòng thác xấu hổ lại trào dâng từ đáy tim cậu. Giả sử nàng biết tâm trí cậu đã gán cho nàng những điều gì, hay lòng dục vọng thô bỉ của cậu đã xé rách và giày vò sự ngây thơ của nàng ra sao! Đó ư là tình yêu thuở niên thiếu? Đó ư là lòng hiệp sĩ? Đó ư là thi ca? Những chi tiết nhớp nhúa trong các cuộc hoan lạc bốc mùi ngay dưới mũi cậu. Xấp hình ảnh nhọ nhem được giấu trong ống khói lò sưởi, nơi cậu từng nằm rúc rỉ ra vô số giờ để phạm tội trong tư tưởng lẫn hành động trước vẻ dâm loàn trơ trẽn hay ngượng ngùng của chúng; những giấc mơ quái dị với đầy rẫy những sinh vật hình thù giống khỉ và những ả gái điếm với đôi mắt lấp lánh ngọc ngà; những bức thư dài dơ dáy cậu từng viết trong niềm hoan hỉ của việc xưng tội tội lỗi rồi lén lút giấu đi suốt mấy ngày trời chỉ để ném chúng vào lúc đêm khuya xuống đám cỏ nơi góc ruộng hoặc nhét dưới cánh cửa không bản lề ở một hốc cây ven đường để cô gái nào đi qua có thể bắt gặp và đọc trộm chúng. Điên rồ thật! Điên rồ! Lẽ nào cậu đã làm những chuyện đó? Một giọt mồ hôi lạnh túa ra trên trán khi những ký ức nhơ nhớp tụ lại trong đại não.
Khi nỗi thống khổ vì xấu hổ lắng xuống, cậu cố vớt vát tâm hồn khỏi tình trạng bất lực hèn m hạ. Thiên Chúa và Đức Mẹ quá xa vời với cậu: Thiên Chúa quá vĩ đại nghiêm khắc còn Đức Mẹ lại quá thanh cao thánh thiện. Nhưng cậu tưởng tượng ra cảnh mình đứng cạnh Emma trên một cánh đồng rộng lớn và, khiêm nhường trong nước mắt, cúi xuống hôn lên tay áo của nàng.
Trên cánh đồng rộng dưới bầu trời chiều dịu dàng trong trẻo, một đám mây đang trôi dạt về hướng tây giữa vùng biển xanh nhạt của thiên hoàng hôn, họ đứng cạnh nhau, những đứa trẻ đã lầm đường lạc lối. Lầm lỗi của họ đã xúc phạm trầm trọng đến uy nghiêm của Chúa dẫu đó chỉ là sai lầm của hai đứa trẻ; nhưng nó không hề xúc phạm đến Đấng mà vẻ đẹp “không giống vẻ đẹp trần thế, đầy nguy hiểm khi ngắm nhìn, mà giống như ngôi sao mai biểu trưng cho Người, rực rỡ và đầy âm hưởng.” Ánh mắt mà Người nhìn cậu không hề hằn học hay trách móc. Người đan bàn tay họ lại với nhau, tay trong tay, và cất lời thủ thỉ vào trái tim họ:
—Hãy nắm lấy tay nhau, Stephen và Emma. Giờ đây trên thiên đàng là một buổi chiều đẹp trời. Các con đã lầm lỗi nhưng các con mãi mãi là những đứa con của ta. Đó là một trái tim yêu thương một trái tim khác. Hãy cầm tay nhau đi, các con yêu dấu, rồi các con sẽ hạnh phúc bên nhau và trái tim các con sẽ yêu thương nhau.
Nhà nguyện ngập chìm trong thứ ánh sáng đỏ quánh lọc qua những tấm rèm cửa sổ hạ thấp; và qua khe hở giữa chiếc rèm cuối cùng cùng khung cửa sổ, một luồng sáng nhợt nhạt phóng vào như ngọn giáo chạm vào những món đồ đồng dập nổi trên bàn thờ đang lấp lánh như bộ giáp sắt bầm giập chiến trận của các thiên thần.
Trời đang đổ mưa trên nhà nguyện, trên khu vườn, trên trường học. Mưa sẽ rơi mãi không thôi, không một tiếng động. Nước sẽ dâng lên từng inch, nhấn chìm thảm cỏ và bụi cây, nhấn chìm cây cối và nhà cửa, nhấn chìm những tượng đài và đỉnh núi. Mọi sự sống sẽ bị bóp nghẹt, lặng câm: chim chóc, con người, voi vóc, heo nái, trẻ thơ: những cái xác lềnh bềnh lặng lẽ giữa đống đổ nát ngổn ngang của thế giới. Bốn mươi ngày đêm mưa sẽ trút xuống cho đến khi nước ngập kín mặt đất.
Có thể lắm chứ. Tại sao lại không?
—Hỏa ngục đã mở rộng cõi lòng và há miệng vô hạn định—những lời trích dẫn, hỡi các em nhỏ thân yêu trong Chúa Giê-su Ki-tô, từ sách Tiên Tri Isaia, chương năm, câu mười bốn. Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen.
Nhà giảng thuyết lấy từ chiếc túi giấu trong tấm áo thụt ra một chiếc đồng hồ không dây, lặng lẽ ngắm nhìn mặt đồng hồ một thoáng rồi đặt nó xuống bàn ngay trước mặt mình.
Ngài bắt đầu cất giọng điềm tĩnh.
—Adam và Eva, các em thân yêu, như các em đã biết, chính là hai nguyên tổ của chúng ta, và các em còn nhớ họ được Thiên Chúa tạo dựng để lấp đầy những chỗ trống trên thiên đàng do sự sa ngã của Lucifer cùng đám thiên thần nổi loạn để lại. Lucifer, theo lời kể, vốn là một đứa con của ánh mai, một vị thiên thần rạng ngời và hùng mạnh; thế nhưng ngài đã sa ngã: ngài ngã xuống và kéo theo một phần ba thiên binh; ngài ngã xuống và bị quăng xuống hỏa ngục cùng bè lũ nổi loạn. Tội lỗi của ngài là gì, chúng ta không thể tường tận. Các nhà thần học cho rằng đó là tội kiêu mؤnh, tư tưởng tội lỗi vừa nảy sinh trong một chớp mắt: non serviam: Ta sẽ không phục vụ. Khoảnh khắc đó đã hủy diệt ngài.
Ngài đã xúc phạm uy quyền của Chúa chỉ bằng một tư tưởng tội lỗi trong chớp mắt và Chúa đã tống cổ ngài khỏi thiên đàng xuống hỏa ngục đời đời.
—Adam và Eva sau đó được Thiên Chúa tạo dựng và đặt để tại vườn Địa Đàng, nơi đồng bằng Damascus, khu vườn xinh đẹp ngập tràn ánh nắng và sắc màu, trù phú thảm thực vật xanh tươi. Trái đất màu mỡ dâng hiến cho họ mọi sản vật: muông thú chim chóc sẵn sàng làm tôi tớ; họ không hề biết đến những nỗi đau khổ vốn là gia tài của xác thịt chúng ta như bệnh tật, nghèo đói và cái chết: tất cả những gì một vị Chúa vĩ đại và quảng đại có thể làm cho họ đều đã được thực hiện. Thế nhưng có một điều kiện duy nhất bị áp đặt lên họ bởi Thiên Chúa: sự vâng phục lời Ngài. Họ tuyệt đối không được ăn trái của cây cấm.
—Hỡi các em nhỏ thân yêu, tiếc thay, họ cũng đã sa ngã. Ác quỷ, kẻ từng là một thiên thần rạng rỡ, một đứa con của ánh mai, giờ đây đã biến thành một tên quỷ dữ gớm ghiếc, hiện hình thành con rắn, loài tinh ranh nhất trong muôn thú đồng ruộng. Hắn đố kỵ với họ. Kẻ sa cơ thất thế vĩ đại ấy không sao chịu đựng nổi ý nghĩ rằng con người, một sinh vật bằng đất bùn, lại sở hữu phần gia tài mà chính hắn vì tội lỗi đã đánh mất vĩnh viễn. Hắn tiếp cận người phụ nữ, chiếc bình dễ vỡ hơn, và rót thứ nọc độc hùng biện vào tai nàng, hứa hẹn rằng—ôi sự lộng ngôn của lời hứa ấy!—rằng nếu nàng và Adam ăn trái cây cấm, họ sẽ trở nên như các vị thần, thậm chí như chính Thiên Chúa. Eva đã chịu khuất phục trước mưu chước của tên đại cám dỗ. Nàng đã ăn quả táo và đưa cho cả Adam, kẻ không có đủ dũng khí đạo đức để từ chối nàng. Chiếc lưỡi độc dược của Satan đã hoàn thành sứ mệnh. Họ đã sa ngã.
—Và rồi tiếng Chúa vang lên trong khu vườn đó, đòi hỏi tạo vật con người phải giải trình: và Michael, hoàng tử của thiên binh, tay cầm gươm lửa, xuất hiện trước cặp đôi tội lỗi và trục xuất họ khỏi vườn Địa Đàng ra thế giới bên ngoài, thế giới của bệnh tật và tranh đấu, của tàn nhẫn và thất vọng, của lao động và nhọc nhằn, để kiếm ăn bằng giọt mồ hôi trán. Nhưng dẫu vậy, Thiên Chúa vẫn nhân từ biết bao! Ngài thương xót hai bậc nguyên tổ đồi bại của chúng ta và hứa rằng khi thời gian viên mãn, Ngài sẽ sai phái từ trời cao Đấng Cứu Chuộc họ, khiến họ một lần nữa trở thành con cái Thiên Chúa và là những người thừa kế vương quốc thiên đàng: và Đấng ấy, Đấng Cứu Rỗi nhân loại lầm đường lạc lối, chính là Con Một của Thiên Chúa, Ngôi Hai Thiên Chúa Ba Ngôi, Lời Hằng Hữu.
—Ngài đã đến. Ngài sinh ra bởi một trinh nữ tinh tuyết, Maria trinh mẫu. Ngài ra đời trong một cái chuồng bò nghèo nàn xứ Judea và sống cuộc đời của một bác thợ mộc khiêm nhường suốt ba mươi năm cho đến giờ phút thực hiện sứ mệnh. Và rồi, đong đầy tình yêu thương nhân thế, Ngài bước ra kêu gọi muôn người lắng nghe tin mừng mới.
—Họ có lắng nghe không? Có, họ lắng nghe nhưng không chịu thấu hiểu. Ngài bị bắt giữ và trói buộc như một tên tội phạm thông thường, bị nhạo báng như một kẻ ngốc, bị gạt sang một bên để nhường chỗ cho một tên cướp cạn, bị đánh đòn năm ngàn roi, đội mão gai, bị đám đông Do Thái và lính tráng La Mã xô đẩy qua các con phố, bị lột sạch y phục và treo trên thập giá, sườn Ngài bị đâm thấu bằng ngọn giáo và từ thân xác rớm máu của Chúa chúng ta, nước và máu cứ thế tuôn trào không dứt.
—Thế nhưng ngay cả lúc đó, trong khoảnh khắc thống khổ tột cùng ấy, Đấng Cứu Rỗi Nhân Từ của chúng ta vẫn thương xót loài người. Ngay cả ở đó, trên ngọn đồi Calvary, Ngài đã thiết lập Hội Thánh Công giáo thánh thiện, nơi mà theo lời hứa, các cửa hỏa ngục sẽ không thể thắng nổi. Ngài xây dựng nó trên tảng đá muôn đời và ban cho nó ân sủng, các bí tích cùng lễ tế, đồng thời hứa rằng nếu loài người vâng giữ lời giáo hội của Ngài, họ vẫn sẽ được bước vào sự sống đời đời; nhưng nếu sau tất cả những gì đã làm cho họ, họ vẫn ngoan cố trong đường lối gian ác, thì thứ chờ đợi họ chính là cõi đày đọa vĩnh hằng: hỏa ngục.
Giọng nhà giảng thuyết hạ xuống. Ngài dừng lại, chắp hai tay lại trong chốc lát rồi buông ra. Sau đó, ngài tiếp tục:
—Giờ đây, chúng ta hãy thử hình dung trong chốc lát, hết mức có thể, bản chất của cái chốn đọa đày ấy—nơi mà công lý của một vị Chúa bị xúc phạm đã tạo dựng nên để trừng phạt đời đời những kẻ tội lỗi. Hỏa ngục là một ngục thất chật chội, tối tăm và hôi hám, là nơi trú ngụ của quỷ dữ và những linh hồn lầm đường, ngập tràn lửa và khói. Sự chật chội của nhà tù này được Thiên Chúa thiết kế riêng để trừng phạt những kẻ từ chối tuân thủ luật pháp của Ngài. Trong các nhà tù trần gian, người tù tội nghiệp ít ra còn có chút tự do di chuyển, dẫu chỉ trong bốn bức tường phòng giam hoặc góc sân u ám. Ở hỏa ngục thì không. Ở đó, do số lượng đông đảo của các linh hồn bị đày đọa, những tù nhân bị chất đống lên nhau trong nhà tù khủng khiếp có bức tường dày tới bốn ngàn dặm: và các tội nhân bị trói buộc hoàn toàn, bất lực đến nỗi, như một vị thánh đáng kính, thánh Anselm, đã viết trong cuốn sách về các hình bóng, họ thậm chí không thể tự đưa tay gỡ nổi con giòi đang gặm nhấm nhãn cầu mình.
—Họ nằm trong chốn tối tăm bên ngoài. Vì hãy nhớ rằng, lửa hỏa ngục hoàn toàn không phát ra ánh sáng. Giống như theo lệnh Chúa, ngọn lửa trong lò nung Babylon mất đi sức nóng nhưng giữ lại ánh sáng, thì theo lệnh Chúa, ngọn lửa hỏa ngục, dẫu giữ nguyên cường độ nhiệt hỏa, vẫn cháy bùng đời đời trong bóng tối. Đó là cơn bão tố ngút ngàn của bóng tối, của ngọn lửa hắc ám và khói lưu huỳnh mù mịt, nơi những thân xác bị chất chồng lên nhau mà không có nổi một tia không khí. Trong tất cả các tai ương giáng xuống xứ sở Pharaon, chỉ có một tai ương duy nhất, tai ương bóng tối, được gọi là kinh hoàng. Vậy chúng ta phải gọi tên thế nào cho bóng tối của hỏa ngục, thứ sẽ kéo dài không chỉ ba ngày mà cho đến muôn đời?
—Sự kinh hoàng của nhà tù chật hội và tăm tối này càng bị đẩy lên cao bởi mùi hôi thối khủng khiếp của nó. Toàn bộ đồ ô uế của trần gian, toàn bộ rác rưởi và cặn bã của nhân thế, tương truyền, sẽ tuôn chảy về đó như một cống ngầm khốc liệt bốc mùi khi trận hỏa hoạn kinh hoàng của ngày tận thế tẩy uế thế gian. Lưu huỳnh cháy rực với số lượng khổng lồ ở đó cũng lấp đầy hỏa ngục bằng thứ mùi xộc lên nghẹt thở; và bản thân những thê xác tội nhân bị đày đọa cũng tỏa ra một thứ mùi xú uế đến mức, như thánh Bonaventure đã nói, chỉ cần một kẻ trong số họ cũng đủ để làm ô nhiễm cả thế giới này. Ngay cả bầu không khí của thế gian này, nguyên tố tinh khiết ấy, cũng trở nên hôi hám và không thể hít thở khi bị giam hãm lâu ngày. Hãy tưởng tượng xem mùi hôi của bầu không khí hỏa ngục sẽ tồi tệ đến nhường nào. Hãy tưởng tượng một cái xác thối rữa kinh tởm đã nằm mục nát trong mồ, một khối nhầy nhụa gồm toàn những thứ dịch nhầy phân hủy. Hãy tưởng tượng một cái xác như thế trở thành mồi cho ngọn lửa, bị nuốt chửng bởi lưu huỳnh đang cháy và bốc lên những cuồn cuộn khói ngột ngạt của sự phân hủy gớm ghiếc tởm lợm. Và rồi hãy tưởng tượng thứ mùi hôi thối phát ói ấy, được nhân lên gấp triệu lần từ hàng triệu hàng triệu cái xác hôi thối chất đống trong bóng tối hôi tanh, một khối nấm người khổng lồ đang mục rữa. Hãy tưởng tượng tất cả những điều đó, các em sẽ phần nào hình dung được sự kinh hoàng của mùi hôi hối ở hỏa ngục.
—Nhưng dẫu kinh hoàng đến mấy, mùi hôi thối ấy vẫn chưa phải là cực hình thể xác lớn nhất mà các tội nhân phải gánh chịu. Lỗi hình lửa là sự tra tấn lớn nhất mà bạo chúa từng giáng xuống đồng loại. Hãy đặt ngón tay của các em vào ngọn lửa nến trong chốc lát, các em sẽ cảm nhận được cái đau của lửa. Nhưng ngọn lửa trần gian của chúng ta được Thiên Chúa tạo ra vì lợi ích của con người, để duy trì ngọn lửa sự sống và hỗ trợ các ngành nghề hữu ích, trong khi ngọn lửa hỏa ngục lại mang bản chất hoàn toàn khác, được Thiên Chúa sinh ra chỉ để tra tấn và trừng phạt kẻ tội lỗi ngoan cố không chịu sám hối. Ngọn lửa trần gian cũng tiêu thụ nhanh hay chậm tùy thuộc vào việc vật bị đốt dễ bén lửa hay không, thậm chí trí thông minh con người còn phát minh ra các hóa chất để ngăn chặn hoặc vô hiệu hóa nó. Nhưng lưu huỳnh diêm sinh đang cháy trong hỏa ngục lại là một chất liệu được thiết kế riêng để cháy đời đời kiếp kiếp với cơn cuồng nộ khôn tả. Hơn nữa, ngọn lửa trần gian vừa đốt vừa phá hủy, nên càng dữ dội thì thời gian càng ngắn ngủi; ngạc nhiên thay, ngọn lửa hỏa ngục lại có đặc tính bảo tồn những gì nó thiêu đốt, và dẫu cuồng nộ với cường độ phi thường, nó cứ thế cuồng nộ mãi không nguôi.
—Ngọn lửa trần gian của chúng ta một lần nữa, dẫu dữ dội hay lan rộng đến đâu, cũng luôn có giới hạn nhất định: nhưng biển lửa trong hỏa ngục là vô tận, không bờ bến và không đáy. Sách vở ghi lại rằng chính ác quỷ, khi bị một người lính chất vấn, đã buộc phải thú nhận rằng nếu ném cả một quả núi vào đại dương lửa hỏa ngục ấy, nó sẽ bị thiêu rụi trong tích tắc như một mẩu sáp. Và ngọn lửa khủng khiếp này sẽ không chỉ hành hạ thân xác tội nhân từ bên ngoài, mà mỗi linh hồn bị đày đọa sẽ tự biến thành một hỏa ngục cho chính mình, với ngọn lửa vô tận sục sôi ngay trong tâm can chúng. Ồ, số phận của những sinh vật khốn nạn ấy mới bi thảm làm sao! Máu sôi sùng sục trong huyết quản, bộ não sôi lên trong hộp sọ, trái tim bừng cháy nổ tung trong lồng ngực, ruột gan hóa thành một khối bèo nhèo rực đỏ, đôi mắt mỏng manh cháy rực như những hòn bi chì nung chảy.
—Thế nhưng những gì thầy vừa nói về sức mạnh, bản chất và sự vô biên của ngọn lửa này vẫn chẳng thấm vào đâu so với cường độ của nó—một cường độ phát xuất từ việc nó được chọn làm công cụ theo thánh ý để trừng phạt cả linh hồn lẫn thể xác. Đó là ngọn lửa xuất phát trực tiếp từ cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, không hoạt động theo bản năng mà vận hành như một khí cụ trả thù của thần linh. Giống như nước rửa tội gột rửa linh hồn cùng thể xác, ngọn lửa trừng phạt cũng tra tấn tinh thần cùng da thịt. Mọi giác quan của xác thịt đều bị tra tấn và mọi năng lực của linh hồn cũng bị hành hạ tương đương: đôi mắt với bóng tối đặc quánh tuyệt đối, khứu giác với những mùi uế tạp, thính giác với những tiếng gào thét rống rít và nguyền rủa, vị giác với những chất nhơ nhớp, bệnh phong hủi, thứ rác rưởi ngột ngạt không tên, xúc giác với những ngọn giáo và đinh nhọn nung đỏ, với những chiếc lưỡi lửa tàn nhẫn. Và thông qua vô số cực hình của giác quan, linh hồn bất tử bị tra tấn đời đời trong chính bản chất của nó giữa bạt ngàn những ngọn lửa bừng cháy được thắp lên trong vực thẳm bởi uy quyền bị xúc phạm của Thiên Chúa Toàn Năng, được thổi bùng thành cơn cuồng nộ đời đời và ngày một gia tăng bởi hơi thở giận dữ từ thần tính.
—Cuối cùng, hãy suy ngẫm xem nỗi thống khổ của nhà tù địa ngục này còn bị đẩy lên cao bởi chính sự hiện diện của những kẻ bị đày đọa. Thói quen giao du với kẻ xấu trên đời vốn vô cùng độc hại đến nỗi thực vật, dường như theo bản năng, cũng tự tránh xa bất cứ thứ gì gây chết chóc hoặc tổn hại cho chúng. Ở hỏa ngục, mọi kỷ cương bị đảo lộn—không còn chút ý niệm nào về gia đình hay quê hương, về huyết thống, họ hàng. Những kẻ khốn nạn gào thét và rú lên với nhau, nỗi thống khổ và cơn thịnh nộ của chúng càng bị đẩy lên tột độ bởi sự hiện diện của những sinh vật cũng đang quằn quại và gầm thét giống mình. Mọi ý thức về nhân tính đều bị quên lãng. Tiếng thét gào của những tội nhân đau đớn vang vọng đến tận những xó xỉnh xa xôi nhất của vực thẳm bao la. Miệng của những kẻ bị đày đọa tràn ngập những lời lộng ngôn xúc phạm Thiên Chúa, lòng căm thù bạn tù và những lời nguyền rủa nhắm vào những linh hồn từng là đồng lõa phạm tội với chúng. Thời cổ đại, người ta có tục lệ trừng phạt kẻ sát hại cha mình—tên cầm tay sát nhân vấy máu cha—bằng cách nhét hắn vào một chiếc bao tải cùng với một con gà trống, một con khỉ và một con rắn rồi ném xuống đáy biển sâu. Ý đồ của những nhà lập pháp thời đó, dẫu có vẻ tàn nhẫn trong thời đại chúng ta, là trừng phạt tên tội phạm bằng cách bắt hắn sống chung với những loài thú độc hại và đáng ghét. Nhưng sự cuồng nộ của những con thú câm lặng ấy thấm tháp gì so với cơn cuồng nộ nguyền rủa tuôn ra từ đôi môi khô khốc và cổ họng bỏng rát của những kẻ đày đọa trong hỏa ngục khi chúng nhìn thấy những kẻ đồng hội đồng thuyền năm xưa, những kẻ từng tiếp tay xúi giục chúng phạm tội, những kẻ từng gieo mầm mống suy nghĩ đen tối và lối sống đồi bại vào tâm trí chúng, những kẻ có lời lẽ bất nhã dẫn dắt chúng bước vào con đường tội lỗi, những kẻ có ánh mắt cám dỗ lôi kéo chúng khỏi nẻo đức hạnh. Chúng quay sang trừng phạt những kẻ đồng lõa ấy, chì chiết và nguyền rủa họ. Nhưng mọi sự đã vô vọng và bất lực: đã quá muộn để sám hối.
—Hơn hết thảy, hãy nghĩ đến cực hình khủng khiếp dành cho những linh hồn bị đày đọa ấy, cả kẻ cám dỗ lẫn người sa ngã, khi phải sống chung với quỷ dữ. Lũ quỷ này sẽ hành hạ các tội nhân theo hai cách: bằng sự hiện diện và những lời chì chiết của chúng. Chúng ta không thể hình dung nổi lũ quỷ này gớm ghiếc đến nhường nào. Thánh Catarina thành Siena từng nhìn thấy một con quỷ và bà đã viết rằng, thà phải lê bước đến cuối đời trên con đường rải than hồng còn hơn phải nhìn lại dù chỉ một chớp mắt sinh vật quái dị đáng sợ như thế. Lũ quỷ này, những kẻ từng là những thiên thần xinh đẹp, nay đã trở nên ghê tởm xấu xí chẳng kém gì vẻ lộng lẫy thuở ban đầu. Chúng nhạo báng và châm chọc những linh hồn lầm đường mà chúng từng kéo xuống vũng bùn hủy diệt. Chính chúng, những tên quỷ dữ nhơ nhớp ấy, được biến thành tiếng nói của lương tâm trong hỏa ngục. Tại sao các ngươi lại phạm tội? Tại sao các ngươi lại lắng nghe lời cám dỗ của bạn bè? Tại sao các ngươi lại quay lưng với những thực hành đạo đức và việc lành? Tại sao các ngươi không tránh xa dịp tội? Tại sao các ngươi không từ bỏ kẻ bạn xấu xa đó? Tại sao các ngươi không bỏ thói dâm ô, thói bất tịnh đó? Tại sao các ngươi không nghe theo lời khuyên của cha xứ? Tại sao các ngươi, dẫu vấp ngã lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư hay thứ một trăm, vẫn không chịu sám hối đường lui và quay về với Chúa, Đấng chỉ chờ mong sự hối cải của các ngươi để ban ơn tha thứ? Giờ đây thời gian sám hối đã vụt qua. Thời gian hiện tại, thời gian quá khứ, sẽ không còn thời gian nữa! Thời gian để phạm tội trong bí mật, để chìm đắm trong sự lười biếng và kiêu ngạo, để ham hố những thứ bất chính, để nuông chiều bản năng thấp hèn, để sống như loài thú đồng ruộng, thậm chí tệ hại hơn cả loài thú đồng ruộng—bởi chúng dẫu sao cũng chỉ là loài vô tri không có lý trí dẫn dắt: thời gian ấy đã có, nhưng sẽ không còn nữa! Chúa đã gọi mời các ngươi bằng biết bao thanh âm, nhưng các ngươi nào có chịu nghe. Các ngươi không chịu bóp chết niềm kiêu hãnh và cơn thịnh nộ trong lòng, không chịu hoàn trả của gian, không chịu tuân thủ các giới răn của Hội Thánh hay chu toàn bổn phận tôn giáo, không chịu từ bỏ những kẻ bạn xấu, không chịu tránh xa những cám dỗ hiểm nguy. Đó chính là ngôn từ của những tên đao phủ quỷ sứ ấy, những lời mỉa mai chì chiết, đầy căm ghét và ghê tởm. Ghê tởm, đúng vậy! Bởi ngay cả chúng, chính lũ quỷ, khi phạm tội cũng chỉ phạm loại tội tương thích với bản tính thiên thần: sự nổi loạn của trí năng; và chúng, chính chúng, những tên quỷ nhơ nhớp ấy cũng phải quay đi, đầy phẫn nộ và ghê tởm trước sự chiêm nghiệm về những tội ác không thể kể xiết mà con người đồi bại đã dùng để xúc phạm và phỉ báng đền thờ Chúa Thánh Thần, tự bôi nhọ và vấy bẩn chính mình.
—Hỡi các em nhỏ thân yêu trong Chúa Ki-tô, nguyện xin điều đó đừng bao giờ rơi vào số phận của chúng ta! Nguyện xin đừng để điều đó xảy ra, thầy xin các em! Trong ngày phán quyết kinh hoàng cuối cùng, thầy thành tâm cầu xin Thiên Chúa để không một linh hồn nào của những ai có mặt trong nhà nguyện hôm nay lại bị xếp vào nhóm những sinh vật khốn nạn bị Vị Thẩm Phán Tối Cao phán lệnh xéo khỏi mặt Ngài đời đời, để không một ai trong chúng ta phải nghe thấy bên tai án phạt chối từ khủng khiếp: Hãy xéo khỏi mặt ta, hỡi những kẻ bị nguyền rủa, vào ngọn lửa đời đời đã dọn sẵn cho ma quỷ và các sứ giả của nó!
Ngài bước xuống lối đi giữa hai hàng ghế nhà nguyện, đôi chân run lẩy bẩy và da đầu tê dại như thể vừa bị những ngón tay vô hình chạm vào. Ngài bước lên cầu thang dọc theo hành lang, nơi những chiếc áo khoác và áo mưa treo sát tường trông giống hệt như những tên tử tội bị treo cổ trên giá, không đầu, rỏ nước và nham nhở hình thù. Và trong từng bước đi, ngài nơm nớp lo sợ rằng mình đã chết từ lúc nào, rằng linh hồn đã bị giật phăng khỏi cái vỏ bọc thân xác, rằng ngài đang rơi cắm đầu xuống khoảng không vũ trụ.
Cậu không thể bấu víu đôi chân xuống sàn nhà và nặng nề ngã người ngồi xuống ghế, lật đại một cuốn sách đọc ngấu nghiến. Mọi chữ nghĩa đều dành cho cậu. Điều đó là sự thật. Chúa thật toàn năng. Chúa có thể gọi cậu ngay lúc này, gọi cậu khi cậu đang ngồi trên bàn học, trước khi cậu kịp nhận thức được lời triệu hồi. Chúa đã gọi cậu. Gì cơ? Cái gì? Gì chứ? Da thịt cậu co rúm lại khi cảm nhận sự tiếp cận của những chiếc lưỡi lửa tham lam, khô khốc khi cảm nhận luồng không khí ngột ngạt xoáy quanh mình. Cậu đã chết. Đúng vậy. Cậu đã bị phán xét. Một làn sóng lửa quét qua cơ thể cậu: đợt đầu tiên. Lại một đợt sóng nữa. Đại não cậu bắt đầu bốc hỏa. Thêm một đợt nữa. Não bộ đang sôi sùng sục bên trong cái hộp sọ sắp nứt toác. Ngọn lửa bùng phát từ hộp sọ như một đài hoa, réo rít như những giọng nói:
—Hỏa ngục! Hỏa ngục! Hỏa ngục! Hỏa ngục! Hỏa ngục!
Những tiếng nói cất lên gần đó:
—Về hỏa ngục đấy.
—Chắc ổng răn đe cho một trận tơi bời hoa lá rồi còn gì.
—Chứ sao nữa. Làm tụi mình sợ xanh mặt cả ra.
—Tụi cậu cần phải thế đấy: phải cho thật nhiều vào thì mới chịu học hành đàng hoàng.
Cậu kiệt sức ngả người ra sau ghế. Cậu chưa chết. Chúa vẫn còn dung tha cho cậu. Cậu vẫn đang ở trong thế giới quen thuộc của phòng học. Thầy Tate và Vincent Heron đang đứng bên cửa sổ, trò chuyện, đùa cợt, ngắm nhìn cơn mưa ảm đạm và lắc đầu.
—Tớ ước gì trời ngớt mưa. Tớ tính cùng mấy đứa bạn đạp xe ra Malahide lượn một vòng. Nhưng chắc đường sá ngập đến đầu gối rồi.
—Trời có khi tạnh đấy, thưa thầy.
Những giọng nói quá đỗi quen thuộc, những từ ngữ bình dị, sự yên ắng của phòng học khi tiếng nói ngớt đi và khoảng lặng được lấp đầy bởi tiếng gia súc thong thả gặm cỏ từ đám học sinh đang mải nhai bữa trưa, đã ru ngủ tâm hồn đang đau nhức của cậu.
Vẫn còn kịp chán. Ôi Đức Mẹ, chốn nương thân cho kẻ có tội, xin cầu cho cậu! Ôi Trinh Nữ Vẹn Tròn, xin cứu cậu khỏi vực thẳm tử thần!
Giờ học lịch sử bắt đầu với phần kiểm tra bài cũ. Những nhân vật hoàng gia, sủng thần, kẻ mưu lược, giám mục, lướt qua như những bóng ma câm lặng đằng sau lớp màn tên tuổi. Tất cả đều đã chết: tất cả đã chịu phán xét. Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào ích gì? Cuối cùng cậu đã thấu hiểu: và đời người hiện ra quanh cậu, một bình nguyên bình yên nơi những con người nhỏ bé như loài kiến cùng nhau lao động trong tình huynh đệ, những người đã khuất ngủ yên dưới những nấm mồ lặng lẽ. Khuỷu tay người bạn bên cạnh chạm vào cậu và trái tim cậu rung lên: và khi cậu cất lời trả lời câu hỏi của thầy, cậu nghe thấy giọng nói của mình tràn ngập sự tĩnh lặng của lòng khiêm nhường và thống hối.
Tâm hồn cậu chìm sâu hơn vào cõi bình an thống hối, không còn phải chịu đựng nỗi đau đớn kinh hoàng, và gửi gắm, theo nhịp chìm xuống ấy, một lời cầu nguyện yếu ớt. A phải, cậu vẫn sẽ được dung tha; cậu sẽ thành tâm sám hối và được tha thứ; và khi đó những đấng trên cao, những vị trên thiên đàng, sẽ thấy cậu làm gì để bù đắp cho quá khứ: cả một cuộc đời, từng giờ từng phút của cuộc đời. Chỉ cần chờ đợi.
—Lạy Chúa! Tất cả, tất cả!
Một sứ giả bước tới cửa thông báo rằng việc giải tội đang diễn ra trong nhà nguyện. Bốn nam sinh rời khỏi phòng; và cậu nghe thấy những người khác đang rảo bước dọc hành lang. Một cơn lạnh run rẩy thổi quanh tim cậu, chẳng mạnh hơn một cơn gió thoảng, thế nhưng, khi lắng nghe và chịu đựng trong thầm lặng, cậu dường như đang áp tai vào chính cơ tim của mình, cảm thấy nó co thắt và run rẩy, lắng nghe tiếng đập phập phồng của các tâm thất.
Không có đường trốn chạy. Cậu buộc phải xưng tội, phải thốt lên bằng lời những gì mình đã làm và suy nghĩ, hết tội này đến tội khác. Bằng cách nào? Bằng cách nào?
—Lạy cha, con...
Ý nghĩ ấy lướt qua như một mũi kiếm sáng lạnh lẽo đâm vào da thịt mỏng manh: việc xưng tội. Nhưng không phải ở đó, trong nhà nguyện của trường. Cậu sẽ xưng thú mọi thứ, mọi tội lỗi trong hành động lẫn tư tưởng, một cách thành khẩn; nhưng không phải ở đó, giữa những người bạn học. Ở một nơi thật xa, trong một xó xỉnh tối tăm nào đó, cậu sẽ thầm thì nỗi hổ thẹn của mình; và cậu thành khẩn nài xin Thiên Chúa đừng giận nếu cậu không dám xưng tội trong nhà nguyện của trường, và trong nỗi nhục nhã ê chề của tinh thần, cậu câm lặng cầu xin sự tha thứ từ những trái tim thanh thiếu niên xung quanh.
Thời gian trôi đi.
Cậu lại ngồi ở băng ghế đầu trong nhà nguyện. Ánh ban ngày bên ngoài đã bắt đầu nhạt nhòa và, khi nó lững thững rọi qua những tấm rèm đỏ xỉn màu, có cảm giác như mặt trời ngày tận thế đang lặn xuống và mọi linh hồn đang được tụ tập lại để phán xét.
—Con bị hắt hủi khỏi tầm mắt Ngài: những lời trích dẫn, hỡi các em nhỏ thân yêu trong Chúa Ki-tô, từ sách Thánh Vịnh, chương ba mươi, câu hai mươi ba. Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen.
Nhà giảng thuyết bắt đầu cất giọng bằng âm điệu thân thiện, nhẹ nhàng. Gương mặt ngài hiền từ và ngài khẽ đan các ngón tay của hai bàn tay lại, tạo thành một chiếc lồng mong manh bằng cách chạm nhẹ các đầu ngón tay vào nhau.
—Buổi sáng hôm nay, chúng ta đã nỗ lực, qua phần suy gẫm về hỏa ngục, để thực hiện điều mà tổ phụ thánh thiện của chúng ta gọi trong cuốn sách các bài tập linh thao là sự dựng cảnh. Nghĩa là, chúng ta đã cố gắng tưởng tượng bằng các giác quan của trí tuệ, trong trí tưởng tượng của mình, bản chất vật chất của chốn khủng khiếp đó cùng những cực hình thể xác mà tất cả những ai ở trong hỏa ngục phải gánh chịu. Buổi tối nay, chúng ta sẽ dành chút thời gian suy ngẫm về bản chất của những cực hình tinh thần nơi hỏa ngục.
—Tội lỗi, hãy ghi nhớ, là một sự tày trời mang tính kép. Đó là sự thỏa hiệp đê hèn trước những xúi giục của bản tính đồi bại, trước những bản năng thấp hèn, trước những gì thô tục và thú tính; đồng thời đó cũng là sự quay lưng lại với lời khuyên răn của phần cao cả trong bản tính chúng ta, khỏi mọi điều thanh khiết thánh thiện, khỏi chính Thiên Chúa Thánh Thiện. Vì lý do này, trọng tội bị trừng phạt trong hỏa ngục bằng hai hình thức trừng phạt khác nhau, thể xác lẫn tinh thần.
Giờ đây, trong tất cả những nỗi đau tinh thần ấy, lớn hơn cả chính là nỗi đau mất mát, lớn đến nỗi tự thân nó đã là một cực hình vượt trội hơn tất cả những thứ khác. Thánh Thomas, vị tiến sĩ vĩ đại nhất của giáo hội, vị tiến sĩ thiên thần như người ta vẫn gọi, nói rằng sự đọa đày tồi tệ nhất nằm ở việc trí năng con người bị tước đoạt hoàn toàn ánh sáng thần linh và tình cảm của nó bị quay lưng một cách ngoan cố khỏi lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Thiên Chúa, hãy nhớ rằng, là một đấng nhân hậu vô hạn, và do đó sự mất mát một đấng như thế chắc chắn là một mất mát đau đớn vô cùng. Ở cuộc đời này, chúng ta không có ý niệm quá rõ ràng về một sự mất mát như thế sẽ ra sao, nhưng những kẻ bị đày đọa trong hỏa ngục, để gia tăng cực hình, lại có sự thấu hiểu trọn vẹn về những gì chúng đã đánh mất, và hiểu rằng chúng đánh mất nó chính vì tội lỗi của mình và mất đi vĩnh viễn. Ngay tại khoảnh khắc tử vong, xiềng xích thể xác bị đứt đoạn và linh hồn lập tức bay về phía Thiên Chúa như hướng về tâm điểm sự tồn tại của nó. Hãy nhớ rằng, hỡi các em nhỏ thân yêu, linh hồn chúng ta khát khao được ở bên Chúa. Chúng ta xuất thân từ Chúa, chúng ta sống nhờ Chúa, chúng ta thuộc về Chúa: chúng ta là của Ngài, thuộc về Ngài không thể tách rời. Thiên Chúa yêu thương bằng tình yêu thần linh mọi linh hồn con người và mọi linh hồn con người đều sống trong tình yêu đó. Làm sao có thể khác được? Mỗi hơi thở chúng ta hít vào, mỗi tư tưởng trong trí não, mỗi khoảnh khắc sự sống đều xuất phát từ lòng nhân từ vô tận của Thiên Chúa. Và nếu việc lìa con là nỗi đau của người mẹ, việc bị lưu đày khỏi quê hương là nỗi đau của kẻ lữ hành, việc xa cách bạn bè là nỗi đau của tri kỷ, ồ, hãy nghĩ xem đó sẽ là nỗi đau xiết bao, là sự thống khổ dường nào khi linh hồn khốn khổ bị hắt hủi khỏi sự hiện diện của Đấng Tạo Hóa tối cao nhân lành, Đấng từng gọi linh hồn ấy từ cõi hư vô bước ra tồn tại và duy trì nó trong sự sống, yêu thương nó bằng một tình yêu vô bờ bến. Do đó, việc bị tách rời vĩnh viễn khỏi điều thiện vĩ đại nhất của mình, khỏi Thiên Chúa, và cảm nhận nỗi thống khổ của sự chia ly đó, với nhận thức rõ ràng rằng nó không thể đảo ngược: đây chính là cực hình lớn nhất mà linh hồn được tạo dựng có khả năng gánh chịu, pœna damni, hình phạt mất mát.
Nỗi đau thứ hai sẽ hành hạ các linh hồn bị đày đọa trong hỏa ngục chính là nỗi đau lương tâm. Giống như trong xác chết, giòi bọ sinh sôi từ sự phân hủy, trong linh hồn những kẻ lạc lối cũng nảy sinh một sự cắn rứt vĩnh viễn từ sự mục rữa của tội lỗi, sự châm chích của lương tâm, con giòi, theo cách gọi của Giáo hoàng Innôcentê III, của ngòi châm bộ ba. Mũi châm đầu tiên do con giòi tàn nhẫn này gây ra chính là ký ức về những niềm vui hoan lạc trong quá khứ. Ồ, đó sẽ là một ký ức kinh hoàng làm sao! Trong hồ lửa nuốt chửng vạn vật, vị vua kiêu hãnh sẽ nhớ lại những buổi tráng lệ chốn triều đình, người khôn ngoan nhưng gian ác sẽ nhớ lại những thư viện và công cụ nghiên cứu, kẻ đắm mình trong thú vui nghệ thuật sẽ nhớ lại những bức tượng cẩm thạch, tranh ảnh cùng các bảo vật nghệ thuật khác, kẻ mê mẩn tiệc tùng sẽ nhớ lại những yến tiệc xa hoa, những món ăn được chế biến tinh tế, những chai rượu thượng hạng; kẻ keo kiệt sẽ nhớ lại đống vàng tích trữ, tên cướp nhớ lại khối tài sản bất chính, những kẻ căm phẫn thù hận và nhẫn tâm nhớ lại những hành động bạo lực đẫm máu mà chúng từng say sưa tận hưởng, kẻ dâm ô ngoại tình nhớ lại những thú vui bỉ ổi không thể gọi tên. Chúng sẽ nhớ lại tất cả những điều đó và ghê tởm chính mình cùng tội lỗi của bản thân. Bởi vì tất cả những hoan lạc ấy sẽ trở nên thảm hại biết bao đối với linh hồn bị kết án chịu đựng trong lửa hỏa ngục qua bao đời bao kiếp. Chúng sẽ giận dữ và phẫn uất biết bao khi nghĩ rằng mình đã đánh mất hạnh phúc thiên đàng vì những thứ rác rưởi trần gian, vì dăm ba nén kim loại, vì những danh hưng hão huyền, vì sự thoải mái thể xác, vì một chút râm ran của các dây thần kinh. Chúng thực sự sẽ sám hối: và đây là mũi châm thứ hai của con giòi lương tâm, một nỗi buồn muộn màng và vô ích cho những tội lỗi đã phạm. Công lý thần linh đòi hỏi trí năng của những kẻ khốn nạn ấy phải liên tục dán chặt vào những tội lỗi mà chúng từng phạm phải, hơn thế nữa, như thánh Augustinô đã chỉ ra, Chúa sẽ ban cho chúng sự hiểu biết của chính Ngài về tội lỗi, khiến tội lỗi hiện lên trước mắt chúng trong toàn bộ sự tàn ác gớm ghiếc hệt như cách nó xuất hiện trước nhãn quan của chính Thiên Chúa. Chúng sẽ nhìn ngắm tội lỗi của mình trong toàn bộ sự nhơ nhớp và sám hối nhưng đã quá muộn, và khi ấy chúng sẽ tiếc nuối những cơ hội tốt đẹp mà mình đã bỏ lỡ. Đây là mũi châm cuối cùng, sâu thẳm nhất và tàn nhẫn nhất của con giòi lương tâm. Lương tâm sẽ cất lời: Ngươi từng có thời gian và cơ hội để sám hối nhưng không muốn. Ngươi từng được cha mẹ giáo dưỡng theo tôn giáo. Ngươi có các bí tích, ơn sủng và ân xá của giáo hội để hỗ trợ. Ngươi có vị thừa tác viên của Chúa đến giảng đạo, kêu gọi ngươi quay về khi lạc lối, tha thứ mọi tội lỗi cho ngươi, dẫu có bao nhiêu, có gớm ghiếc đến đâu, miễn là ngươi chịu xưng tội và sám hối. Không. Ngươi không chịu. Ngươi nhạo báng những người phục vụ tôn giáo thánh thiện, ngươi quay lưng với tòa giải tội, ngươi lún sâu hơn mãi vào vũng lầy tội lỗi. Chúa đã kêu gọi ngươi, đe dọa ngươi, nài xin ngươi quay về với Ngài. Ồ, sự xấu hổ và khốn cùng biết bao! Đấng Cai Quản vũ trụ đã nài xin ngươi, một tạo vật bằng đất bùn, hãy yêu thương Đấng đã tạo ra ngươi và giữ gìn luật pháp của Ngài. Không. Ngươi không chịu. Và giờ đây, dẫu ngươi có thể làm ngập lụt toàn bộ hỏa ngục bằng nước mắt nếu ngươi còn có thể khóc, thì cả biển nước sám hối ấy cũng không thể mua chuộc lại cho ngươi những gì mà dù chỉ một giọt nước mắt sám hối chân thành rơi trong đời sống trần thế có thể mang lại. Giờ đây ngươi khẩn cầu một khoảnh khắc đời sống trần thế để sám hối: hoàn toàn vô ích. Thời gian ấy đã mất: mất đi vĩnh viễn.
—Đó chính là ngòi châm bộ ba của lương tâm, con độc xà gặm nhấm tận tâm can những kẻ khốn khổ trong hỏa ngục, khiến chúng chìm trong cơn cuồng nộ địa ngục tự nguyền rủa sự dại dột của bản thân, nguyền rủa những kẻ bạn xấu đã đẩy chúng đến bước đường cùng, nguyền rủa lũ quỷ từng cám dỗ chúng sinh thời nay lại nhạo báng chúng trong cõi vĩnh hằng, thậm chí phỉ báng và nguyền rủa cả Đấng Tối Cao mà lòng nhân hậu cùng sự kiên nhẫn của Ngài từng bị chúng khinh thường, phớt lờ, trong khi công lý và uy quyền của Ngài thì chúng đời nào trốn thoát.
—Nỗi đau tinh thần tiếp theo mà những kẻ đày đọa phải gánh chịu là nỗi đau khuếch đại. Con người trong cuộc đời trần thế này, dẫu có khả năng gây ra nhiều điều ác, lại không thể làm tất cả cùng một lúc, bởi vì điều ác này kìm hãm và trung hòa điều ác kia, hệt như một thứ độc dược thường triệt tiêu một độc dược khác. Ngược lại, ở hỏa ngục, cực hình này thay vì triệt tiêu cực hình kia lại tiếp sức mạnh lớn hơn cho nó; hơn thế nữa, vì các năng lực nội tâm hoàn hảo hơn các giác quan bên ngoài, nên chúng càng có khả năng chịu đựng đau đớn hơn. Giống như mọi giác quan đều bị hành hạ bởi một cực hình tương xứng, mọi năng lực tinh thần cũng chịu cảnh ngộ y hệt; trí tưởng tượng với những hình ảnh kinh hoàng, khả năng cảm thụ với sự khao khát luân phiên giận dữ, tâm trí và trí tuệ với một thứ bóng tối nội tâm thậm chí còn khủng khiếp hơn cả bóng tối ngoại tâm đang ngự trị trong nhà tù tồi tệ đó. Sự hiểm ác, dẫu bất lực đến đâu, ngự trị trong những linh hồn quỷ quái ấy là một cái ác có sự khuếch đại vô biên, có thời hạn vô tận, một trạng thái wickedness đáng sợ mà chúng ta khó lòng nhận thức nổi trừ khi ta ghi nhớ sự tàn trọng của tội lỗi và lòng căm thù mà Chúa dành cho nó.
—Đối lập với nỗi đau khuếch đại này nhưng lại đồng hiện hữu với nó chính là nỗi đau cường độ. Hỏa ngục là tâm điểm của mọi điều ác và, như các em biết, vạn vật ở tâm điểm bao giờ cũng có cường độ mạnh mẽ hơn ở những vùng xa xôi nhất. Không có bất kỳ sự đối lập hay pha trộn nào có thể làm dịu bớt dù chỉ chút ít những đau đớn ở hỏa ngục. Ngay cả những thứ tự thân vốn tốt đẹp cũng hóa thành tồi tệ trong hỏa ngục. Bè bạn, nơi vốn mang lại sự an ủi cho kẻ khốn khổ ở trần gian, sẽ trở thành một nỗi thống khổ liên tục ở đó; sự hiểu biết, thứ từng được khát khao như điều thiện tối thượng của trí năng, sẽ bị căm ghét tột cùng hơn cả sự ngu dốt; ánh sáng, thứ được muôn loài khát khao từ Chúa tể sáng thế cho đến loài thực vật khiêm nhường nhất trong rừng sâu, sẽ bị ghê tởm mãnh liệt. Ở cõi đời này, nỗi buồn của chúng ta hoặc không quá dài hoặc không quá lớn bởi bản chất con người hoặc vượt qua chúng bằng thói quen hoặc chấm dứt chúng khi gục ngã dưới sức nặng của chúng. Nhưng ở hỏa ngục, những cực hình không thể bị đánh bại bởi thói quen, bởi trong khi chúng mang cường độ khủng khiếp, chúng đồng thời mang theo sự đa dạng liên tục, mỗi nỗi đau tựa như bén lửa từ nỗi đau khác và tiếp sức cho cái đã châm ngòi cho nó một ngọn lửa dữ dội hơn nữa. Bản thân tự nhiên cũng không thể trốn chạy khỏi những tra tấn khốc liệt và đa dạng ấy bằng cách gục ngã trước chúng, bởi linh hồn được duy trì và gìn giữ trong cái ác để nỗi đau đớn của nó càng lớn hơn nữa. Sự khuếch đại vô biên của cực hình, cường độ khó tin của sự thống khổ, sự đa dạng không ngừng nghỉ của sự tra tấn—đó là những gì uy nghiêm thần linh, bị xúc phạm bởi tội lỗi, đòi hỏi; đó là những gì sự thánh thiện trên thiên đàng, bị phớt lờ và gạt bỏ vì những thú vui dâm dọa thấp hèn của xác thịt đồi bại, yêu cầu; đó là những gì dòng máu của Chiên Con vô tội, đổ ra để cứu chuộc tội lỗi, bị giày xéo bởi những kẻ thấp hèn nhất trong các loại thấp hèn, khăng khăng đòi hỏi.
—Sự tra tấn đỉnh cao và cuối cùng trong số mọi cực hình của chốn kinh hoàng đó chính là sự vĩnh hằng của hỏa ngục. Vĩnh hằng! Ồ, từ ngữ đáng sợ và nghiệt ngã biết bao. Vĩnh hằng! Trí óc con người nào hiểu thấu? Và hãy nhớ rằng, đó là một cõi vĩnh hằng của đau đớn. Ngay cả khi những đau đớn của hỏa ngục không khủng khiếp đến thế, chúng vẫn trở thành vô tận, bởi chúng được định sẵn kéo dài đời đời. Nhưng trong khi chúng kéo dài đời đời, chúng đồng thời, như các em biết, có cường độ không chịu nổi, mức độ lan rộng không thể kham. Chịu đựng dù chỉ vết cắn của côn trùng cho đến muôn đời cũng đã là một cực hình khủng khiếp. Vậy thì việc chịu đựng muôn vàn hình thức tra tấn của hỏa ngục mãi mãi sẽ ra sao? Mãi mãi! Cho đến muôn đời! Không phải một năm hay một kỷ nguyên mà là đời đời. Hãy thử tưởng tượng ý nghĩa khủng khiếp của điều này. Các em đã từng nhìn thấy cát trên bờ biển. Những hạt cát ấy mới nhỏ bé làm sao! Và biết bao hạt cát li ti như thế tụ lại để tạo nên một nắm cát nhỏ trong lòng bàn tay đứa trẻ chơi đùa. Giờ hãy tưởng tượng một quả núi cát lớn như thế, cao một triệu dặm, kéo dài từ mặt đất lên đến tận tầng trời xa xôi nhất, rộng một triệu dặm, trải dài đến tận cùng không gian, và dày một triệu dặm; và hãy tưởng tượng một khối lượng khổng lồ gồm vô số hạt cát ấy được nhân lên nhiều lần bằng số lượng lá cây trong rừng, giọt nước trong đại dương bao la, lông chim, vảy cá, lông thú, các nguyên tử trong không gian bao la của bầu khí quyển: và hãy tưởng tượng cứ sau một triệu năm lại có một chú chim nhỏ bay đến ngọn núi ấy và dùng mỏ quắp đi một hạt cát tí xíu. Sẽ có bao nhiêu triệu triệu thế kỷ trôi qua trước khi chú chim ấy quắp đi nổi dù chỉ một foot vuông của ngọn núi đó, bao nhiêu kỷ nguyên nối tiếp kỷ nguyên trôi qua trước khi nó quắp sạch tất cả? Thế nhưng khi khoảng thời gian vô biên ấy chấm dứt, người ta vẫn không thể nói rằng dù chỉ một khoảnh khắc của cõi vĩnh hằng đã qua đi. Vào cuối của hàng tỷ hàng nghìn tỷ năm ấy, cõi vĩnh hằng hầu như chỉ vừa mới bắt đầu. Và nếu ngọn núi ấy mọc lại sau khi đã bị quắp sạch hoàn toàn, và nếu chú chim lại đến và quắp sạch nó lần nữa từng hạt một, và nếu nó cứ mọc lên rồi biến mất số lần bằng số ngôi sao trên trời, số nguyên tử trong không khí, số giọt nước trong biển, số lá trên cây, số lông chim, vảy cá, lông thú, thì vào cuối của vô số lần mọc lên và biến mất của ngọn núi khổng lồ vô lượng ấy, người ta vẫn không thể nói rằng dù chỉ một khoảnh khắc đơn độc của cõi vĩnh hằng đã kết thúc; thậm chí khi ấy, vào cuối của một khoảng thời gian mà chỉ ý nghĩ về nó thôi cũng khiến đại脳 chúng ta quay cuồng chóng mặt, cõi vĩnh hằng vẫn chưa thực sự bắt đầu.
—Một vị thánh nhân (hình như là một trong các vị cha xứ của chúng ta) từng được ban cho một thị kiến về hỏa ngục. Ngài thấy mình đứng giữa một đại sảnh lớn, tối tăm và tĩnh lặng ngoại trừ tiếng tích tắc của một chiếc đồng hồ lớn. Tiếng tích tắc cứ vang lên không ngừng nghỉ; và vị thánh có cảm giác rằng âm thanh tích tắc ấy chính là sự lặp đi lặp lại không dứt của hai từ: mãi mãi, không bao giờ; mãi mãi, không bao giờ. Mãi mãi ở trong hỏa ngục, không bao giờ được ở thiên đàng; mãi mãi bị cắt đứt khỏi sự hiện diện của Thiên Chúa, không bao giờ được tận hưởng thị kiến phúc lạc; mãi mãi bị thiêu đốt bởi ngọn lửa, bị gặm nhấm bởi sâu bọ, bị chích bằng đinh sắt nung đỏ, không bao giờ được giải thoát khỏi những nỗi đau ấy; mãi mãi để lương tâm cắn rứt, ký ức hành hạ, tâm trí ngập tràn bóng tối và tuyệt vọng, không bao giờ trốn chạy được; mãi mãi nguyền rủa và phỉ báng lũ quỷ nhơ nhớp đang hả hê cười cợt trên nỗi thống khổ của những kẻ sập bẫy, không bao giờ được nhìn thấy y phục rạng ngời của các linh hồn phúc đức; mãi mãi cất tiếng kêu gào từ vực thẳm lửa đỏ xin Thiên Chúa dù chỉ một khoảnh khắc, một khoảnh khắc nghỉ ngơi ngắn ngủi khỏi cực hình khủng khiếp ấy, không bao giờ nhận được, dù chỉ một giây, sự tha thứ của Thiên Chúa; mãi mãi chịu đựng, không bao giờ được tận hưởng; mãi mãi bị đày đọa, không bao giờ được cứu rỗi; mãi mãi, không bao giờ; mãi mãi, không bao giờ. Ồ, một hình phạt khủng khiếp làm sao! Một cõi vĩnh hằng của sự thống khổ tận cùng, của cực hình thể xác lẫn tinh thần không lối thoát, không một tia hy vọng, không một khoảnh khắc dừng chân, của nỗi đau đớn vô hạn về cường độ, của hình phạt biến hóa vô cùng, của sự tra tấn đời đời nuôi dưỡng những gì nó đời đời thiêu đốt, của sự u sầu đời đời giày vò tinh thần trong lúc hành hạ thể xác, một cõi vĩnh hằng mà từng khoảnh khắc của nó tự thân đã là một cõi vĩnh hằng đau khổ. Đó chính là hình phạt khủng khiếp được sắc phong cho những ai chết trong trọng tội bởi một vị Thiên Chúa toàn năng và công minh.
—Phải, một vị Thiên Chúa công minh! Con người, luôn suy luận theo lối con người, cảm thấy kinh ngạc khi Thiên Chúa lại giáng một hình phạt đời đời và vô hạn trong ngọn lửa hỏa ngục chỉ vì một trọng tội duy nhất. Họ suy luận như vậy bởi vì, bị che mờ bởi ảo tưởng thô thiển của xác thịt và bóng tối của trí năng con người, họ không tài nào thấu hiểu nổi sự hiểm ác tột cùng của trọng tội. Họ suy luận như vậy bởi vì họ bất lực trong việc thấu hiểu rằng ngay cả tội nhẹ cũng mang bản chất gớm ghiếc và thối nát đến mức, giả sử Đấng Tạo Hóa toàn năng có thể chấm dứt mọi sự dữ và khốn khổ trên đời, mọi cuộc chiến tranh, bệnh tật, trộm cắp, tội ác, cái chết, mưu sát, với điều kiện Ngài cho phép một tội nhẹ duy nhất trôi qua mà không bị trừng phạt, dù chỉ một tội nhẹ, một lời nói dối, một cái liếc mắt giận dữ, một khoảnh khắc lười biếng cố ý, thì Ngài, vị Thiên Chúa toàn năng vĩ đại ấy cũng không thể làm thế, bởi vì tội lỗi, dù trong tư tưởng hay hành động, chính là sự vi phạm luật pháp của Ngài và Thiên Chúa sẽ không còn là Thiên Chúa nếu Ngài không trừng phạt kẻ vi phạm.
—Một tội lỗi, một khoảnh khắc kiêu hãnh nổi loạn của trí năng, đã khiến Lucifer và một phần ba đoàn tùy tùng thiên thần rơi khỏi vinh quang. Một tội lỗi, một khoảnh khắc dại dột yếu mềm, đã đuổi Adam và Eva ra khỏi Địa Đàng và mang cái chết cùng sự đau khổ đến cho thế gian. Để cứu vãn hậu quả của tội lỗi ấy, Con Một của Thiên Chúa đã giáng thế, sống, chịu đựng và chết một cái chết đau đớn tột cùng, bị treo suốt ba giờ trên thập giá.
—Hỡi các em nhỏ thân yêu trong Chúa Giê-su Ki-tô, lẽ nào chúng ta lại đi xúc phạm vị Cứu Chúa nhân từ ấy và khiêu khích cơn giận của Ngài? Lẽ nào chúng ta lại giày xéo lên cái thân xác bầm giập rách nát ấy một lần nữa? Lẽ nào chúng ta lại nhổ nước bọt vào gương mặt chan chứa đau thương và tình yêu ấy? Lẽ nào chúng ta cũng giống như những tên Do Thái tàn nhẫn và binh lính dã man, nhạo báng vị Cứu Thế hiền lành trắc ẩn, Đấng đã một mình bước qua cõi bồn nho sầu khổ vì lợi ích của chúng ta? Từng lời tội lỗi là một vết thương bên sườn Ngài. Từng hành động tội lỗi là một chiếc gai đâm thủng đầu Ngài. Từng tư tưởng bất tịnh, cố tình buông thả, là một mũi giáo sắc nhọn đâm xuyên qua trái tim thánh thiện và đầy ắp tình yêu ấy. Không, không. Con người đời nào lại đi làm chuyện xúc phạm trầm trọng đến uy nghiêm thần linh như thế, điều bị trừng phạt bằng cõi vĩnh hằng đau đớn, điều đóng đinh Con Thiên Chúa một lần nữa và biến Ngài thành trò hề.
—Thầy cầu xin Thiên Chúa để những lời lẽ nghèo nàn của thầy hôm nay có thể hữu ích trong việc củng cố sự thánh thiện cho những ai đang ở trong ơn sủng, tiếp sức cho những kẻ còn dao động, đưa những linh hồn lầm đường lạc lối trở về với ơn sủng nếu có ai trong số các em rơi vào hoàn cảnh đó. Thầy cầu xin Thiên Chúa, và xin các em hãy cầu nguyện cùng thầy, để chúng ta biết sám hối tội lỗi của mình. Thầy xin tất cả các em, hãy cùng thầy lặp lại kinh ăn năn tội, quỳ gối nơi nhà nguyện khiêm nhường này trước tôn nhan Thiên Chúa. Ngài đang ngự ở đó trong nhà tạm, bừng cháy tình yêu nhân loại, sẵn sàng an ủi kẻ khốn khổ. Đừng sợ hãi. Dù tội lỗi có nhiều hay gớm ghiếc đến đâu, miễn là các em thật lòng hối cải, chúng sẽ được tha thứ. Đừng để chút xấu hổ trần thế nào cản trở các em. Chúa vẫn là vị Chúa nhân từ, Đấng không muốn cái chết vĩnh hằng của kẻ tội lỗi mà muốn hắn ăn năn sám hối và được sống.
—Ngài đang gọi các em về với Ngài. Các em là của Ngài. Ngài tạo ra các em từ cõi hư vô. Ngài yêu thương các em bằng tình yêu duy chỉ có Thiên Chúa mới có. Vòng tay Ngài rộng mở đón nhận các em dẫu các em từng phản bội Ngài. Hãy đến với Ngài, hỡi kẻ tội nhân khốn khổ, kẻ tội nhân lầm đường kiêu căng hư vinh. Giờ đây là lúc thuận tiện. Giờ đây là giờ phút ấy.
Vị linh thần bước xuống lối đi giữa các hàng ghế, quay về phía bàn thờ và quỳ xuống bậc thềm trước nhà tạm trong màn chiều buông xuống. Ngài đợi cho đến khi tất cả mọi người trong nhà nguyện đều quỳ xuống và mọi âm thanh nhỏ nhặt nhất đều chìm vào tĩnh lặng. Sau đó, ngẩng đầu lên, ngài đọc kinh ăn năn tội, từng câu từng chữ, với tất cả sự nhiệt thành. Lũ trẻ đáp lại ngài từng câu từng chữ. Stephen, chiếc lưỡi dính chặt vào vòm họng, cúi gằm đầu, thành tâm cầu nguyện bằng cả trái tim.
—Lạy Chúa con!—
—Lạy Chúa con!—
—Con thực lòng ăn năn—
—Con thực lòng ăn năn—
—vì đã xúc phạm đến Chúa—
—vì đã xúc phạm đến Chúa—
—và con ghê tởm tội lỗi con—
—và con ghê tởm tội lỗi con—
—trên hết mọi sự—
—trên hết mọi sự—
—bởi vì chúng làm mất lòng Chúa—
—bởi vì chúng làm mất lòng Chúa—
—là Đấng trọn tốt trọn lành—
—là Đấng trọn tốt trọn lành—
—xứng đáng cho con kính mến—
—xứng đáng cho con kính mến—
—trên hết mọi sự—
—trên hết mọi sự—
—và con dốc lòng—
—và con dốc lòng—
—nhờ ơn Chúa giúp—
—nhờ ơn Chúa giúp—
—sẽ chừa cải tội lỗi—
—sẽ chừa cải tội lỗi—
—và năng chịu các phép bí tích—
—và năng chịu các phép bí tích—
Cậu bước lên phòng sau bữa tối để được ở một mình với tâm hồn mình, và trên từng bước chân, tâm hồn cậu dường như đang thở dài; trên từng bước đi, tâm hồn cậu cùng đôi chân leo lên, thở dài trong nhịp bước, xuyên qua một vùng không gian u ám nhớp nhúa.
Cậu khựng lại ở chiếu nghỉ trước cửa phòng, rồi nắm lấy tay nắm bằng sứ, giật mạnh cửa mở ra. Cậu đứng khựng lại trong sợ hãi, tâm hồn héo hắt bên trong, thầm cầu nguyện xin cái chết đừng chạm vào vương trán khi bước qua ngưỡng cửa, xin lũ quỷ xứ ngự trị trong bóng tối đừng được trao quyền hành hạ mình. Cậu vẫn đứng chần chừ ở ngưỡng cửa như trước lối vào một cái hang tối tăm. Những gương mặt ở đó; những đôi mắt: chúng đang đợi chờ và dõi theo.
—Tất nhiên chúng ta thừa biết rằng dẫu nó thế nào cũng sẽ lộ ra ánh sáng, nó sẽ gặp vô vàn khó khăn khi cố gắng tự thuyết phục bản thân nhằm mưu toan nỗ lực xác định vị sứ thần tối cao tinh thần và do đó tất nhiên chúng ta thừa biết—
Những gương mặt thì thầm đang đợi chờ và dõi theo; những giọng nói rì rầm lấp đầy lớp vỏ tối tăm của hang động. Cậu vô cùng sợ hãi cả về tinh thần lẫn thể xác, nhưng ngẩng cao đầu một cách dũng cảm, cậu sải bước vào phòng một cách kiên quyết. Một ô cửa, một căn phòng, vẫn căn phòng đó, chiếc cửa sổ đó. Cậu tự nhủ điềm tĩnh rằng những lời lẽ vừa rồi hoàn toàn chẳng có nghĩa lý gì, thứ vốn dĩ dường như cất lên rì rầm từ bóng tối. Cậu tự nhủ đó đơn giản chỉ là căn phòng của mình với cánh cửa đang mở toang.
Cậu khép cửa lại, sải bước nhanh đến bên chiếc giường, quỳ sụp xuống cạnh đó và dùng hai tay che kín mặt. Bàn tay cậu lạnh ngắt và ẩm ướt, các khớp xương nhức mỏi vì tê buốt. Sự bất an của thể xác cùng cái lạnh và sự mệt mỏi ập đến, đánh tan những suy nghĩ trong đầu. Sao cậu lại quỳ ở đó như một đứa trẻ đọc kinh tối? Để được ở một mình với tâm hồn, để tra vấn lương tâm, để đối mặt trực diện với tội lỗi, để gợi nhớ thời điểm, cách thức và hoàn cảnh của chúng, để khóc thương chúng. Cậu không thể khóc. Cậu không tài nào triệu hồi chúng vào ký ức. Cậu chỉ cảm thấy một nỗi nhức nhối của thể xác lẫn tâm hồn, toàn bộ con người, từ trí nhớ, ý chí, trí tuệ đến da thịt đều tê dại và mệt mỏi.
Đó là trò của quỷ dữ, làm phân tán suy nghĩ và che mờ lương tâm, tấn công cậu ở những cổng thành của lớp da thịt hèn nhát và nhơ nhuốc: và thầm thì cầu xin Thiên Chúa dung thứ cho sự yếu đuối của mình, cậu bò lên giường, kéo chăn trùm kín người và lại dùng hai tay che mặt. Cậu đã phạm tội. Cậu đã phạm tội quá nặng nề với trời cao và trước tôn nhan Chúa đến mức không xứng đáng được gọi là con Chúa.
Lẽ nào chính cậu, Stephen Dedalus, đã làm những chuyện đó? Lương tâm cậu thở dài đáp lại. Phải, cậu đã làm chúng, một cách thầm kín, nhớp nhúa, hết lần này đến lần khác, và chai sạn trong sự ngoan cố tội lỗi, cậu từng dám mang chiếc mặt nạ thánh thiện trước chính nhà tạm trong khi tâm hồn bên trong lại là một khối sống ngập tràn mục rữa. Sao Chúa lại không đánh sét đánh chết cậu ngay lập tức? Đoàn quân phong tình của tội lỗi bao vây lấy cậu, thở phì phò vào người, chồm lên cậu từ mọi phía. Cậu vùng vẫy tìm cách quên đi chúng bằng một kinh nguyện, rúc người lại chặt hơn và nhắm nghiền đôi mắt: nhưng các giác quan của tâm hồn nhất quyết không chịu bó tay và, dẫu đôi mắt nhắm tịt, cậu vẫn nhìn thấy những nơi mình từng phạm tội và, dẫu đôi tai bị bịt kín, cậu vẫn nghe thấy. Cậu khao khát bằng toàn bộ ý chí của mình để không phải nghe hay thấy. Cậu khao khát đến mức khung xương rung lên bần bật dưới sức ép của khát vọng và cho đến khi các giác quan của tâm hồn khép lại. Chúng khép lại trong một chớp mắt rồi lại mở ra. Cậu nhìn thấy.
Một cánh đồng cỏ dại xơ xác, đầy cây kế và những cụm tầm ma tua tủa. Lẫn khuất dày đặc giữa những búi cỏ mọc hoang rậm rạp ấy là những chiếc hộp đựng rỉ sét, những cục và cuộn phân đặc quánh. Một ánh sáng đầm lầy le lói nhô lên từ đống phân qua lớp cỏ xanh xám tua tủa. Một mùi hôi thối, mờ nhạt và tanh tưởi hệt như ánh sáng, uể oải bốc lên từ những chiếc hộp và từ đám phân ngựa cũ kỹ đóng váng.
Có những sinh vật đang ở trên cánh đồng; một, ba, sáu: những sinh vật đang di chuyển quanh cánh đồng, lăng xăng khắp chốn. Những sinh vật hình thù giống dê với gương mặt người, trán có sừng, lơ thơ râu và xám xịt như cao su lưu hóa. Sự hiểm ác của cái ác lấp lánh trong đôi mắt sắc lạnh của chúng khi chúng di chuyển khắp nơi, lê theo chiếc đuôi dài đằng đẵng. Một nụ cười toe toét đầy ác độc tàn nhẫn thắp sáng xám xịt những gương mặt xương xẩu già nua. Một tên đang quấn quanh lồng ngực chiếc áo lê-gê nát bươm, một tên khác lầm bầm phàn nàn khi bộ râu vướng vào đám cỏ dại lởm chởm. Những lời lẽ ngọt ngào thốt ra từ đôi môi không giọt nước bọt của chúng khi chúng lượn thành những vòng tròn chậm chạp quanh cánh đồng, len lỏi qua đám cỏ dại, lê cái đuôi dài giữa những chiếc hộp khua lách cách. Chúng di chuyển theo những vòng tròn chậm chạp, vòng lại ngày một gần hơn để vây hãm, để vây hãm, những lời ngọt ngào thốt ra từ đôi môi, chiếc đuôi dài quẫy nước bám đầy phân cũ, ngẩng phắt những gương mặt kinh hoàng lên...
Cứu với!
Cậu điên cuồng hất tung tấm chăn ra để giải thoát khuôn mặt và cổ. Đó chính là hỏa ngục của cậu. Chúa đã cho phép cậu nhìn thấy hỏa ngục dành riêng cho tội lỗi của mình: hôi thối, thú tính, hiểm ác, một hỏa ngục của những tên quỷ dâm ô hình thù dê chồn. Dành cho cậu! Dành cho cậu!
Cậu chồm dậy khỏi giường, thứ mùi xú uế xộc thẳng xuống cổ họng, bóp nghẹt và làm lộn mửa ruột gan. Không khí! Không khí của thiên đàng! Cậu loạng choạng bước về phía cửa sổ, rên rỉ và suýt ngất vì buồn nôn. Ngay cạnh bồn rửa mặt, một cơn co thắt ập đến bên trong; và, hoảng loạn ôm lấy vương trán lạnh ngắt, cậu nôn thốc nôn tháo trong sự đau đớn.
Khi cơn nôn lịm dần, cậu lả lơi bước tới bên cửa sổ, đẩy khung cửa lên, ngồi thụp xuống một góc hốc tường và tỳ khủy tay lên bệ. Cơn mưa đã ngớt; và giữa những đám mây đang di chuyển từ điểm sáng này sang điểm sáng khác, thành phố đang tự dệt quanh mình một lớp kén mềm mại bọc màn sương mù ngả vàng. Bầu trời tĩnh lặng và sáng mờ dịu, không khí trong lành dễ thở như trong một lùm cây sẫm đẫm sương mưa; và giữa sự bình yên, ánh sáng lấp lánh cùng hương thơm dịu mát, cậu đã lập một giao ước với trái tim mình.
Cậu cầu nguyện:
—Ngài từng có ý định giáng sinh xuống trần gian trong vinh quang thiên quốc nhưng chúng ta đã phạm tội: và khi ấy Ngài không thể an toàn viếng thăm chúng ta nếu không mang theo một lớp uy nghi che đậy cùng ánh hào quang mờ ảo bởi Ngài là Thiên Chúa. Thế nên Ngài đã tự mình đến trong sự yếu đuối thay vì quyền năng và Ngài đã sai phái ngươi, một tạo vật thay thế Ngài, với vẻ đẹp và sự lộng lẫy xứng hợp với hoàn cảnh của chúng ta. Và giờ đây chính gương mặt và vóc dáng của ngươi, hỡi người mẹ thân yêu, đang thì thầm với chúng ta về cõi Vĩnh Hằng; không giống vẻ đẹp trần thế, đầy nguy hiểm khi ngắm nhìn, mà giống như ngôi sao mai biểu trưng cho ngươi, rực rỡ và đầy âm hưởng, phả ra sự thanh khiết, loan báo thiên đàng và mang lại bình an. Ôi sứ giả của ngày mới! Ôi ánh sáng của người hành hương! Xin tiếp tục dẫn dắt chúng ta như ngươi từng dẫn dắt. Trong đêm tối tăm, xuyên qua miền hoang mạc tiêu điều, xin dẫn dắt chúng ta đến với Chúa Giê-su, xin dẫn dắt chúng ta về nhà.
Đôi mắt cậu nhòe đi vì lệ và, thành khẩn ngước nhìn bầu trời, cậu khóc thương cho sự ngây thơ đã đánh mất.
Khi màn đêm buông xuống, cậu bước ra khỏi nhà, và cái chạm đầu tiên của bầu không khí tối tăm ẩm ướt cùng tiếng đóng cửa phía sau lưng lại làm nhức nhối thêm lương tâm vốn đã được ru ngủ bởi kinh nguyện và nước mắt. Xưng tội! Xưng tội! Chẳng đủ để ru ngủ lương tâm bằng một giọt nước mắt và một lời kinh. Cậu bắt buộc phải quỳ trước vị thừa tác viên của Chúa Thánh Thần và kể lại rành mạch, thành khẩn những tội lỗi thầm kín của mình. Trước khi cậu nghe thấy tiếng bản lề cửa nhà khép lại ở ngưỡng cửa khi mở ra đón cậu vào, trước khi cậu nhìn thấy chiếc bàn ăn dọn sẵn trong bếp, cậu sẽ phải quỳ xuống và xưng tội. Mọi chuyện thật đơn giản.
Cơn nhức nhối lương tâm dứt hẳn và cậu rảo bước nhanh qua những con phố tối tăm. Có biết bao nhiêu viên đá lát trên vỉa hè con phố ấy và bao nhiêu con phố trong thành phố đó và bao nhiêu thành phố trên thế giới này. Thế nhưng cõi vĩnh hằng lại chẳng có điểm dừng. Cậu đang ở trong trọng tội. Dù chỉ một lần cũng là trọng tội. Nó có thể xảy ra trong một chớp mắt. Nhưng sao lại nhanh thế? Bằng cách nhìn hoặc ý nghĩ muốn nhìn. Đôi mắt nhìn thấy sự việc mà chưa từng có ý định nhìn trước đó. Rồi trong tích tắc nó xảy ra. Nhưng phần thể xác đó có hiểu biết gì không hay thế nào? Con rắn, loài tinh ranh nhất trong muôn thú đồng ruộng. Nó ắt phải có hiểu biết khi nó khao khát trong một khoảnh khắc rồi cứ thế kéo dài khát khao của chính mình qua từng khoảnh khắc, một cách tội lỗi. Nó cảm nhận, thấu hiểu và khát khao. Thật là một điều khủng khiếp! Ai đã tạo ra nó thành ra thế, một phần thể xác thú tính có khả năng thấu hiểu theo lối thú tính và khao khát theo lối thú tính? Đó là cậu hay một sinh vật vô nhân tính bị giật dây bởi một bản năng thấp hèn? Tâm hồn cậu lợm giọng trước ý nghĩ về một sự sống bò sát lờ đờ đang tự nuôi dưỡng mình từ tủy sống mỏng manh của cậu và béo lên nhờ vũng bùn nhơ nhớp của dục vọng. Ôi sao lại thế nhỉ? Ôi tại sao?
Cậu co rúm lại trong bóng tối của suy nghĩ, hạ mình trước nỗi kinh sợ của Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên muôn vật muôn người. Điên rồ thật. Ai có thể nghĩ ra một ý nghĩ như thế? Và, co ro trong bóng tối đầy tủi nhục, cậu thầm cầu xin thiên thần hộ mệnh dùng gươm xua đuổi con quỷ đang thì thầm vào đại não mình.
Tiếng thì thầm dứt hẳn và cậu nhận thức rõ ràng rằng chính tâm hồn mình đã phạm tội trong tư tưởng, lời nói và việc làm một cách cố ý thông qua thân xác mình. Xưng tội! Cậu buộc phải xưng thú mọi tội lỗi. Làm sao cậu có thể thốt lên bằng lời với linh thầy tu những gì mình đã làm? Phải, bắt buộc. Hoặc làm sao có thể giải thích mà không chết vì xấu hổ? Hoặc làm sao cậu lại có thể làm những chuyện như thế mà không thấy ngượng ngùng? Đúng là một kẻ điên! Xưng tội! Ồ, cậu thực sự muốn thế để được tự do và vô tội trở lại! Biết đâu vị linh mục sẽ hiểu. Ôi lạy Chúa tôi!
Cậu cứ bước đi mãi đi mãi qua những con phố lèo tèo ánh sáng, sợ hãi đứng lại dù chỉ một chớp mắt kẻo trông có vẻ như cậu đang chùn bước trước những gì đang chờ đợi, sợ hãi khi tiến đến đích điểm mà cậu vẫn hướng về với niềm khát khao. Một linh hồn ở trong ơn sủng khi Chúa nhìn ngắm với tình yêu thương hẳn sẽ đẹp đẽ biết nhường nào!
Những ả gái điếm luộm thuộm ngồi bệt dọc lề đường trước những chiếc giỏ hàng. Mái tóc ẩm ướt rũ rượi xõa trước trán. Trông họ chẳng đẹp đẽ gì khi cúi gập người trong bùn nhơ. Nhưng linh hồn họ được Thiên Chúa nhìn thấy; và nếu linh hồn họ đang ở trong ơn sủng, chúng sẽ rực rỡ biết bao: và Chúa yêu thương họ khi nhìn thấy họ.
Một luồng hơi tàn nhẫn của sự nhục nhã thổi lạnh ngắt qua tâm hồn cậu khi nghĩ về việc bản thân đã sa ngã ra sao, khi cảm thấy những linh hồn kia lại đáng yêu trước mặt Chúa hơn cả mình. Cơn gió thổi qua cậu và tiếp tục lướt đi đến muôn vàn linh hồn khác, những kẻ mà ơn sủng Chúa lúc tỏ lúc mờ, những vì sao lúc sáng lúc mờ, được duy trì rồi lụi tàn. Và những linh hồn lấp lánh ấy trôi đi, được duy trì rồi tàn lụi, hòa quyện vào một luồng gió chuyển dời. Một linh hồn đã mất; một linh hồn nhỏ bé: linh hồn cậu. Nó lóe lên một cái rồi tắt ngấm, bị lãng quên, bị mất hút. Kết cục: khoảng không đen ngòm, lạnh lẽo, trống rỗng.
Ý thức về không gian chậm chạp bò trở lại tâm trí cậu qua một khoảng thời gian mênh mông không ánh sáng, không cảm giác, không sự sống. Cảnh tượng nhếch nhác tái hiện xung quanh cậu; những giọng điệu quen thuộc, những ngọn đèn gas bừng cháy trong các cửa hàng, mùi cá, rượu mạnh và mùn cưa ẩm ướt, những người đàn ông và phụ nữ đang di chuyển. Một bà lão đang định băng qua đường với chiếc bình đựng dầu trên tay. Cậu cúi xuống hỏi xem có nhà nguyện nào gần đây không.
—Nhà nguyện ư, thưa cậu? Có chứ, thưa cậu. Nhà nguyện đường Church.
—Nhà thờ á?
Bà ta chuyển chiếc bình sang tay kia và chỉ đường cho cậu; và khi bà giơ bàn tay gầy guộc hôi hám dưới lớp tua rua khăn choàng ra, cậu cúi gập người hơn nữa về phía bà, cảm thấy buồn bã nhưng được vỗ về bởi giọng nói của bà.
—Cháu cảm ơn bà.
—Không có gì đâu, thưa cậu.
Những ngọn nến trên bàn thờ lớn đã tắt nhưng hương thơm của trầm hương vẫn lững thững bay dọc theo gian giữa mờ ảo. Những người thợ râu ray với gương mặt đạo đức đang dìu chiếc lọng che đi ra qua cửa hông, vị tu sĩ phụ trách nhà thờ phụ giúp họ bằng những cử chỉ và lời nói khẽ khàng. Một vài tín đồ vẫn nán lại cầu nguyện trước một trong các bàn thờ phụ hoặc quỳ gối trên băng ghế gần các tòa giải tội. Cậu rụt rè tiến đến quỳ xuống ở hàng ghế cuối cùng trong gian chính, thầm tạ ơn vì sự bình yên, tĩnh lặng cùng bóng râm thơm ngát của ngôi thánh đường. Tấm ván gỗ cậu quỳ lên thật chật hẹp và mòn vẹt, những người quỳ gần cậu đều là những tín đồ khiêm nhường của Chúa Giê-su. Chúa Giê-su cũng sinh ra trong cảnh nghèo khó và từng làm việc trong xưởng của một người thợ mộc, cưa và bào những tấm ván, rồi lần đầu tiên cất lời nói về vương quốc Thiên Chúa với những người đánh cá nghèo khổ, dạy dỗ muôn người sống hiền lành và khiêm nhường trong lòng.
Cậu cúi đầu lên hai bàn tay, tự nhủ trái tim mình phải thật hiền lành và khiêm nhường để được giống như những người đang quỳ cạnh bên và lời cầu nguyện của cậu cũng được đón nhận như của họ. Cậu cầu nguyện cạnh họ nhưng thật khó khăn. Tâm hồn cậu vấy bẩn tội lỗi và cậu không dám xin ơn tha thứ với niềm tin đơn sơ của những người từng được Chúa Giê-su, theo những đường lối huyền nhiệm của Thiên Chúa, gọi đến bên Ngài đầu tiên: những người thợ mộc, những ngư dân, những con người nghèo khổ chất phác mưu sinh bằng nghề hạ tiện, chạm tay vào thợ mộc gỗ cây, kiên nhẫn vá lưới.
Một bóng người cao kều bước xuống lối đi và những người xưng tội động đậy; và vào phút chót, liếc nhanh lên, cậu nhìn thấy bộ râu xám dài và tu phục nâu của một tu sĩ dòng Capuchin. Vị linh mục bước vào tòa giải tội và khuất bóng. Hai hối nhân đứng dậy bước vào hai buồng xưng tội ở hai bên. Tấm ván gỗ được kéo ra và tiếng thì thầm mờ ảo làm xáo trộn sự tĩnh lặng.
Máu trong huyết quản cậu bắt đầu râm ran, rầm rì như một thành phố tội lỗi được gọi dậy khỏi giấc ngủ để nghe án tử hình. Những mảng lửa li ti rơi xuống và tro bụi mịn màng rơi nhè nhẹ, đậu lên những mái nhà con người. Họ cựa mình, tỉnh giấc vì bầu không khí nóng bức.
Tấm ván được đẩy sập lại. Hối nhân bước ra từ một bên buồng. Phía bên kia được mở ra. Một người phụ nữ lặng lẽ và khéo léo bước vào nơi hối nhân đầu tiên vừa quỳ. Tiếng thì thầm mờ ảo lại bắt đầu.
Cậu vẫn có thể rời khỏi nhà nguyện. Cậu có thể đứng dậy, bước chân này lên trước chân kia rồi lững thững đi ra ngoài và sau đó chạy, chạy thật nhanh qua những con phố tối tăm. Cậu vẫn có thể trốn chạy khỏi nỗi hổ thẹn. Giá mà đó là một tội ác khủng khiếp nào khác ngoài tội lỗi đó! Giá mà là tội giết người! Những mảnh lửa li ti rơi xuống và chạm vào cậu ở mọi ngóc ngách, những suy nghĩ hổ thẹn, những lời nói hổ thẹn, những hành động hổ thẹn. Nỗi hổ thẹn bao trùm lấy cậu trọn vẹn như lớp tro rực hồng liên tục rơi xuống. Thốt chúng thành lời! Tâm hồn cậu, ngột ngạt và bất lực, sẽ chấm dứt sự tồn tại.
Tấm ván được đẩy sập lại. Một hối nhân bước ra từ phía bên kia buồng. Tấm ván gần được kéo ra. Một hối nhân bước vào nơi hối nhân kia vừa bước ra. Một âm thanh thì thầm dịu êm lững thững bay ra từ buồng xưng tội thành từng đám mây hơi nước mỏng manh. Đó là người phụ nữ: những đám mây thì thầm dịu êm, hơi nước thì thầm dịu êm, thì thầm rồi tan biến.
Cậu đấm vào ngực mình một cách khiêm nhường, thầm kín dưới lớp che của thanh vịnh tay bằng gỗ. Cậu sẽ hòa làm một với mọi người và với Chúa. Cậu sẽ yêu thương người láng giềng. Cậu sẽ yêu mến Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên và yêu thương cậu. Cậu sẽ quỳ gối cầu nguyện cùng mọi người và hạnh phúc. Chúa sẽ nhìn xuống cậu và họ để yêu thương tất cả.
Làm người tốt thật dễ dàng. Ách của Chúa thật ngọt ngào và nhẹ nhàng. Giá mà chưa từng phạm tội, giá mà mãi mãi là một đứa trẻ thì tốt biết mấy, bởi Chúa yêu thương trẻ nhỏ và cho phép chúng đến với Ngài. Phạm tội là một điều khủng khiếp và đau buồn. Nhưng Chúa vô cùng nhân từ với những kẻ tội nhân nghèo khổ thực lòng ăn năn. Điều đó mới chuẩn xác làm sao! Đó mới thực sự là lòng nhân hậu.
Tấm ván được đẩy sập phắt lại. Hối nhân bước ra. Đến lượt cậu. Cậu đứng dậy trong nỗi sợ hãi và bước vào buồng xưng tội một cách mù quáng.
Cuối cùng thì khoảnh khắc ấy cũng đến. Cậu quỳ trong bóng tối tĩnh lặng và ngước mắt nhìn cây thánh giá trắng treo lơ lửng phía trên. Chúa có thể nhìn thấy cậu đang ăn năn. Cậu sẽ kể hết mọi tội lỗi. Buổi xưng tội của cậu sẽ dài, rất dài. Mọi người trong nhà nguyện khi ấy sẽ biết cậu từng là một tội nhân thế nào. Cứ để họ biết. Đó là sự thật. Nhưng Chúa đã hứa tha thứ nếu cậu biết hối cải. Cậu thực lòng hối cải. Cậu đan chặt hai bàn tay lại và giơ chúng lên hướng về phía hình hài trắng muốt, cầu nguyện với đôi mắt nhắm nghiền trong bóng tối, cầu nguyện bằng toàn bộ thân xác run rẩy, đung đưa cái đầu qua lại như một sinh vật lạc lối, cầu nguyện với đôi môi nức nở.
—Ăn năn! Ăn năn! Ôi xin ăn năn!
Tấm ván khẽ kêu cạch một tiếng và trái tim cậu đập thình thịch trong lồng ngực. Gương mặt của một vị linh mục già đang áp sát lưới sắt, hướng mặt đi nơi khác, tựa cằm lên bàn tay. Cậu làm dấu thánh giá và xin vị linh mục ban phép lành cho mình vì đã phạm tội. Sau đó, cúi gằm đầu, cậu run rẩy đọc kinh Cáo Mình. Đến câu lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng, cậu khấp khởi đứt quãng, thở không ra hơi.
—Lần xưng tội trước của con cách đây bao lâu rồi, hỡi con?
—Đã lâu lắm rồi, thưa cha.
—Một tháng phải không con?
—Lâu hơn thế, thưa cha.
—Ba tháng phải không con?
—Lâu hơn thế nữa, thưa cha.
—Sáu tháng ư?
—Tám tháng rồi, thưa cha.
Cậu đã bắt đầu. Vị linh mục hỏi:
—Và con nhớ được những gì từ khoảng thời gian đó?
Cậu bắt đầu xưng tội: bỏ lễ thánh lễ, không đọc kinh, nói dối.
—Còn gì nữa không con?
Tội giận hờn, đố kỵ người khác, ăn uống vô độ, kiêu ngạo, bất tuân.
—Còn gì nữa không con?
Không thể chối cãi. Cậu thì thầm:
—Con... đã phạm tội bất tịnh, thưa cha.
Vị linh mục không quay đầu lại.
—Một mình con phải không con?
—Và... với người khác.
—Với phụ nữ phải không con?
—Dạ phải, thưa cha.
—Họ là phụ nữ có gia đình phải không con?
Cậu không biết. Tội lỗi rỉ ra từ đôi môi, từng chút một, rỉ ra thành những giọt hổ thẹn từ tâm hồn, mưng mủ và rỉ máu như một vết lở loét, một dòng suối đồi bại nhơ nhớp. Những tội lỗi cuối cùng rỉ ra, uể oải, dơ dáy. Chẳng còn gì để kể nữa. Cậu cúi gằm đầu, hoàn toàn kiệt sức.
Vị linh mục im lặng. Sau đó ngài hỏi:
—Năm nay con bao nhiêu tuổi, hỡi con?
—Thưa cha, con mười sáu tuổi.
Vị linh mục đưa tay vuốt mặt mấy bận. Sau đó, chống trán lên bàn tay, ngài nhoài người về phía ô cửa sắt và, với ánh mắt vẫn quay đi nơi khác, chậm rãi cất lời. Giọng ngài già nua và mệt mỏi.
—Con còn quá trẻ, hỡi con, ngài nói, và hãy để cha khẩn khoản nài xin con hãy từ bỏ tội lỗi đó. Đó là một trọng tội khủng khiếp. Nó giết chết thân xác và giết chết linh hồn. Nó là nguyên nhân của biết bao tội ác và bất hạnh. Hãy từ bỏ nó, hỡi con, vì tình yêu Thiên Chúa. Nó vừa đồi bại vừa không xứng mặt nam nhi. Con không thể biết thói quen khốn nạn đó sẽ dẫn con đi đến đâu hay nó sẽ quật ngã con ở xó xỉnh nào đâu. Chừng nào con còn phạm tội đó, hỡi đứa con tội nghiệp của cha, con sẽ chẳng bao giờ có được chút giá trị nào trước mặt Chúa. Hãy cầu nguyện với Mẹ Maria để xin Người giúp đỡ. Người sẽ giúp con, hỡi con. Hãy cầu nguyện với Đức Mẹ khi tội lỗi đó hiện lên trong tâm trí con. Cha chắc chắn con sẽ làm thế, phải không nào? Con ăn năn mọi tội lỗi đó. Cha chắc chắn là thế. Và con sẽ hứa với Chúa ngay bây giờ rằng nhờ ơn thánh Ngài, con sẽ không bao giờ làm Ngài buồn phiền thêm nữa bằng tội lỗi tồi tệ ấy. Con sẽ hứa một cách long trọng với Thiên Chúa điều đó chứ, phải không con?
—Dạ, thưa cha.
Giọng nói già nua mệt mỏi rơi xuống như cơn mưa ngọt ngào tưới mát trái tim đang run rẩy khát khô. Thật ngọt ngào và đượm buồn làm sao!
—Hãy làm thế đi, đứa con tội nghiệp của ta. Ác quỷ đã dẫn dụ con lầm đường lạc lối. Hãy đánh đuổi hắn về hỏa ngục khi hắn cám dỗ con làm nhục thân xác bằng cách đó—tên quỷ nhơ nhớp kẻ thù ghét Chúa chúng ta. Hãy hứa với Chúa ngay bây giờ rằng con sẽ từ bỏ tội lỗi ấy, cái tội lỗi khốn nạn khốn nạn ấy.
Bị che khuất bởi nước mắt và bởi ánh sáng từ lòng thương xót của Thiên Chúa, cậu cúi gằm đầu lắng nghe những lời xà tội nghiêm trang được cất lên, nhìn thấy bàn tay vị linh mục giơ lên trên đầu mình như một biểu trưng của sự tha thứ.
—Chúa ban phúc cho con, hỡi con. Hãy cầu nguyện cho cha.
Cậu quỳ xuống để làm việc đền tội, cầu nguyện ở một góc gian chính tối tăm; và những lời cầu nguyện bay vút lên thiên đàng từ một trái tim đã được gột rửa tựa như hương thơm tỏa ngút ngát từ đài hoa hồng trắng.
Những con phố bùn lầy bỗng trở nên vui tươi. Cậu sải bước về nhà, ý thức được một ơn sủng vô hình đang bao trùm và làm đôi chân nhẹ bẫng. Bất chấp tất cả, cậu đã làm được. Cậu đã xưng tội và Thiên Chúa đã tha thứ cho cậu. Tâm hồn cậu lại trở nên trong sáng và thánh thiện một lần nữa, thánh thiện và hạnh phúc.
Sẽ thật đẹp đẽ nếu được chết đi vào lúc này nếu Chúa muốn thế. Thật tuyệt vời khi được sống trong ơn sủng, trong một đời sống bình yên, đức hạnh và dung thứ với tha nhân.
Cậu ngồi bên đống lửa trong bếp, không dám cất lời vì quá đỗi hạnh phúc. Cho đến khoảnh khắc đó, cậu chưa từng biết cuộc đời có thể đẹp đẽ và bình yên đến nhường nào. Tờ giấy vuông màu xanh dán quanh chiếc bóng đèn hắt xuống một thứ ánh sáng dịu dàng. Trên tủ đựng chén là đĩa dồi trắng cùng xúc xích, và trên kệ có cả trứng. Chúng sẽ dành cho bữa sáng vào buổi sáng hôm sau sau lễ rước mình thánh trong nhà nguyện trường. Dồi trắng, trứng, xúc xích và những tách trà. Cuộc đời hóa ra lại đơn giản và đẹp đẽ biết bao! Và cuộc đời đang trải dài thênh thang trước mắt cậu.
Trong giấc mơ, cậu chìm vào giấc ngủ. Trong giấc mơ, cậu thức dậy và nhận ra trời đã sáng. Trong giấc mơ tỉnh táo, cậu bước đi giữa buổi sáng tĩnh lặng để đến trường.
Bọn trẻ đều ở đó cả, quỳ gối ở chỗ ngồi của mình. Cậu quỳ giữa bọn chúng, hạnh phúc và rụt rè. Bàn thờ chất ngập những khóm hoa trắng ngát hương; và dưới ánh ban ngọc ngưa, những ngọn lửa nến nhạt nhòa giữa đám hoa trắng thật trong trẻo và tĩnh lặng hệt như tâm hồn cậu.
Cậu quỳ trước bàn thờ cùng các bạn cùng lớp, cùng họ cầm tấm khăn trải bàn thờ tạo thành một hàng rào sống động của đôi bàn tay. Đôi tay cậu đang run rẩy và tâm hồn cậu run lên khi nghe tiếng vị linh mục cầm bình thánh đi từ người rước lễ này sang người rước lễ khác.
—Corpus Domini nostri.
Lẽ nào lại thế? Cậu quỳ ở đó vô tội và rụt rè; và cậu sẽ giữ tấm bánh thánh trên lưỡi mình để Chúa bước vào thân xác đã được gột rửa.
—In vitam eternam. Amen.
Một cuộc đời khác! Một cuộc đời của ơn sủng, đức hạnh và hạnh phúc! Đó là sự thật. Đó không phải là giấc mơ để rồi tỉnh giấc. Quá khứ đã là quá khứ.
—Corpus Domini nostri.
Bình thánh đã đến trước mặt cậu.