Bọn Rợ Rình Trước Cổng

Lượt đọc: 88 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 2

❊ ❊ ❊

Hãy tưởng tượng bạn từng sống trong một ngôi nhà vĩ đại, cổ kính. Đó là nơi bạn lớn lên với những nỗi nhớ, niềm vui, bạn yêu thương, gìn giữ, bảo vệ nó cho con cháu đời đời. Rồi một ngày, trở về nhà, bạn đau đớn nhận ra ngôi nhà thân yêu đó nay đã về tay bọn nhà thổ. Đó là cảm nhận của tôi về RJR.

— Một cựu nhân viên của RJR Nabisco tại Winston-Salem

Hãy ngắm nhìn đường chân trời của thành phố Winston-Salem, Bắc Carolina, tuy không thật lộng lẫy nhưng để có quang cảnh nên thơ hôm nay, công đầu phải thuộc về công ty Thuốc lá RJ Reynolds có trụ sở lâu năm đặt tại thành phố với tòa nhà xây bằng đá 22 tầng. Khi hoàn thành vào năm 1929, tòa nhà đó được coi như vật báu kiến trúc. Người ta đã đưa thiết kế này đến New York nhưng xây dựng với quy mô lớn hơn cho Tòa nhà Empire State, và tòa nhà này trở thành Tòa tiểu Empire State.

Ở một bên Tòa tiểu Empire State là trụ sở chính của ngân hàng Wachovia Bank & Trust. Với các hầm chứa chất đầy cổ phiếu và tiền gửi của Reynolds, Wachovia trở thành một trong những ngân hàng lớn nhất miền Nam. Phía bên kia là tòa nhà cao hơn, hiện đại hơn, bên trong chứa đầy nhân viên làm việc cho các công ty đặt trụ sở ở đó. Cách đó hai tòa nhà là một tòa nhà chọc trời, cao nhất thành phố, bao quanh toàn bằng kính. Điều đáng chú ý là trong tòa nhà đó có trụ sở chính của công ty luật Womble, Carlyle, Sandridge & Rice lớn nhất Bắc Carolina. Hoạt động của công ty này có liên hệ chặt chẽ với công ty thuốc lá RJ Reynolds.

Nếu không có Reynolds, Winston-Salem sẽ giống như rất nhiều thành phố nhỏ ở miền Nam khác với 140.000 cư dân. Ngoại trừ các tòa nhà nửa chọc trời, phần lớn trung tâm thành phố lôi thôi lếch thếch với những cửa hàng cũ kỹ, nhàm chán và những con người già nua, mệt mỏi. Reynolds làm cho Winston-Salem trở nên khác biệt.

Bắt đầu từ trung tâm thành phố, ảnh hưởng của Reynolds lan tỏa theo mọi hướng. Đi về phía tây, dọc theo xa lộ Liên tiểu bang 40, người ta sẽ thấy 30% các biển quảng cáo là dành cho các nhãn hiệu của Reynolds. Ngoài ra còn có Đại học Y Bowman Grey, một bệnh viện thực hành kiêm trung tâm nghiên cứu nổi tiếng mang tên một cựu chủ tịch của Reynolds, và chính ông đã truyền nó lại cho đời sau. Đi xa hơn về phía tây sẽ thấy lối ra công viên Tanglewood rộng lớn. Ngài William, anh trai của R. J. Reynolds, đã tặng nó cho thành phố. Bốn mươi năm sau khi qua đời, “Ngài Will” như người ta vẫn gọi cung kính như thế, nói rõ rằng Tanglewood thuộc về những người da trắng của thành phố.

Đi về hướng bắc, dọc theo đường Reynolda, sẽ đến dinh thự của R. J. Reynolds. 70 năm sau khi ông qua đời, người ta vẫn gọi ông là “Ngài RJ”. Dinh thự Reynolda rộng lớn có một trong những bộ sưu tập tranh đẹp nhất cả nước. Khuôn viên của nó là nơi tụ họp của câu lạc bộ Golf Old Town, với những thành viên chọn lọc nhất thành phố. Dinh thự còn có chỗ dành cho khuôn viên của Đại học Wake Forest. Vào những năm 1950, gia đình Reynolds đã chuyển nó đến Winston-Salem từ nơi cách đó 100 dặm. Đi tiếp, ta sẽ thấy có trang trại kiểu mẫu một thời do bà RJ, vợ của R. J. Reynolds, tạo dựng, nay được chuyển đổi thành một loạt các cửa hàng trang nhã cùng văn phòng. Các văn phòng đó quản lý phần đóng góp cho dịch vụ công trong khối tài sản của gia đình Reynolds. Quỹ Z. Smith Reynolds đóng góp hàng triệu đô-la mỗi năm cho các công việc từ thiện ở Bắc Carolina, Quỹ Mary Reynolds Babcock cũng vậy. Có một nhà hàng Pháp cao cấp tên là La Chaudière được đặt trong phòng lò hơi cũ của trang trại Reynolds. Nhà hàng cung cấp miễn phí thuốc lá Winston và Salem cho thực khách. Nhiều người đã hút chúng. Xét cho cùng, thành phố này là nơi duy nhất có tấm biển đặc biệt ghi: “Cảm ơn vì đã hút thuốc.”

Ảnh hưởng của nhà Reynolds cũng lan tỏa đến khu vực nghèo khó của thành phố. Ngài Will có thể nhớ nhiều hơn đến người da trắng, nhưng ông cũng đã quyên góp tiền để mở bệnh viện Kate Bits Reynolds cho người da đen. (Bệnh viện đó giờ không còn, nhưng tập đoàn Kate B. Reynolds Trust vẫn phân phối 25% thu nhập từ 2,4 triệu cổ phiếu RJR của họ cho người nghèo và những người cần giúp đỡ trong thành phố). Trường trung học R.J. Reynolds, nằm trong một khu phố giàu có, là trường trung học tốt nhất ở thành phố. Nhưng trường trung học James A. Gray, mang tên một cựu chủ tịch của RJR, là trường học tốt cho các tầng lớp thấp hơn trong nhiều năm. Khuôn viên của trường giờ là trường Mỹ thuật Bắc Carolina. Các khoản đóng góp của RJR giúp duy trì học viên đào tạo mỹ thuật được đánh giá rất cao này.

Trong buổi sáng mùa hè ẩm ướt, khi không có nổi một làn gió giúp xua tan cái ẩm thấp đó, thì mùi thuốc lá vẫn nồng nặc ở trung tâm thành phố Winston-Salem. Khói thuốc bay ra từ nhà máy thuốc lá lâu đời nhất của công ty. Nhà máy này vẫn hoạt động bên dưới Tòa tiểu Empire State. Nó luôn nhắc ta nhớ tại sao lại có một Winston-Salem ở đây. Cách đó vài tòa nhà, trước Tòa thị chính, là một kiến trúc khác: Bức tượng Richard Joshua Reynolds cưỡi trên lưng ngựa đang tiến vào thành phố.

-

Richard Joshua Reynolds cưỡi ngựa tiến vào Winston-Salem năm 1874. Chàng trai 24 tuổi người Virginia này bị hấp dẫn bởi những vùng đất trồng thuốc lá tốt nhất trong nước. Với chiều cao 1m88, R. J. Reynolds khắc họa nên dáng vẻ hiên ngang khi anh đi qua những con phố bụi bặm của một thành phố đang phát triển mạnh mẽ. Anh lớn lên ở Rock Springs, cách đó 60 dặm về phía bắc, ngay bên kia ranh giới của bang. Cha anh sở hữu một nhà máy thuốc lá nhai ở đó. Reynolds đã dành cả tuổi trẻ để học kinh doanh. Làm kinh doanh không hề dễ dàng, nhất là trong thời buổi thóc cao gạo kém ở miền Nam hậu Nội chiến. Tiền mặt khan hiếm và con người ta cần phải làm việc cần cù, chi tiêu khéo léo. Chàng trai trẻ Reynolds có những đức tính đó. Anh thể hiện tài năng tuyệt vời trong nền kinh tế hàng hóa. Anh xuất phát với một xe hàng chở đầy thuốc lá nhai, và khi anh quay về, hàng hóa đổi được thậm chí còn chất đầy hơn: sáp ong, da bò, xương cừu, nhân sâm, thảm và các đồ đạc khác, với ba hoặc bốn con ngựa và con la buộc phía sau. Trở về Rock Springs, anh bán đấu giá tất cả số hàng đó, thu về lợi nhuận 25%.

R. J. Reynolds lớn lên ở miền Nam nước Mỹ trước Nội chiến, khi còn nhỏ, anh đã phải giấu những con ngựa của gia đình vào trong rừng để tránh sự cướp bóc của quân đội Liên minh. Anh là công dân của một miền Nam mới nổi: Đất nông nghiệp ít đi và nhiều nhà máy mọc lên, bớt trì trệ và năng động hơn. Vào cái ngày cưỡi ngựa tới thị trấn, Reynolds đã có những kế hoạch lớn. Anh biết những chiếc lá được sấy bằng khí nóng ở các cánh đồng gần đó ngày càng được những người nhai thuốc lá ưa thích. Anh biết thị trấn có nhà đấu giá sẽ cho phép anh đến với nguồn cung. Anh biết ở đây có tuyến đường sắt dẫn đến các chợ. Chỉ trong vài ngày, anh đã mua một mảnh đất từ nhà thờ của người Moravia với giá 388 đô-la và bắt đầu xây dựng nhà máy. Một năm sau, vào năm 1875, công ty Thuốc lá RJ Reynolds đi vào hoạt động, phân chia thị phần cùng các đối thủ cạnh tranh. Trong thị trấn nhộn nhịp với 2.500 cư dân này có tới 15 công ty thuốc lá.

Ngay cả trong lĩnh vực rất đông đối thủ này, R. J. Reynolds vẫn rất xuất sắc. Ông đã rất sáng tạo. Ông là người đầu tiên nghĩ ra cách làm cho thuốc lá nhai ngọt hơn bằng cách trộn nó với đường saccharin. Ông xông xáo mở rộng kinh doanh, luôn giữ công suất nhà máy cao hơn sản lượng hiện tại. Ông cũng chơi hết mình, uống rất nhiều rượu, đánh bạc liên miên, tán tỉnh nhiều phụ nữ. Ông tự mình đánh xe ngựa và chạy rất nhanh. Khi chạy qua vùng nông thôn, ông dùng hai hàng ngựa kéo để xe chạy nhanh hơn. (Trong một cuộc họp hội đồng quản trị của Reynolds vào năm 1890, các giám đốc đã đồng ý chi 240 đô-la một năm cho đội ngựa của Reynolds, tương đương giá trị của một chiếc máy bay phản lực thời nay). Điều duy nhất R. J. Reynolds làm chậm là nói. Suốt đời, ông phải cố gắng để khắc phục tật nói lắp.

Sự nhạy bén trong kinh doanh của Ngài RJ kết hợp với đức tính làm việc bền bỉ của người Moravia đã đặt nền tảng cho văn hóa của công ty Reynolds trong nhiều thập kỷ sau đó. Người Moravia đến đây năm 1753, định cư trên mảnh đất rộng 40.468 ha mà họ đã mua từ Huân tước Granville của Anh. Những người nhập cư Tiệp Khắc này không chỉ theo đuổi tự do tôn giáo trong khu vực Piemonte ở trung tâm Carolina, mà còn độc lập về kinh tế. Họ là một dân tộc bướng bỉnh, cần cù, có kỹ năng sản xuất, buôn bán và thích nghi tốt. Họ đã biến Salem trở thành một khu vực quan trọng. Nhờ thế, vào những năm 1800, đã có một tuyến đường sắt chạy theo hướng tây về đây từ thị trấn Raleigh lớn hơn. Các chính sách của công ty Thuốc lá Reynolds phản ánh rất rõ nét các giá trị mạnh mẽ của người Moravia. Người Moravia tin rằng mỗi cá nhân nên tự coi mình có đóng góp cho cộng đồng, rằng họ nên thận trọng trong quan hệ cá nhân cũng như tiền bạc. Họ thành lập một ngân hàng vững mạnh tên là Wachovia. Ngân hàng này được đặt tên theo một vùng ở đất nước cũ của họ. Và khi hai thành phố sáp nhập vài năm sau đó, họ mang đến cho Winston-Salem cảm giác rằng nó không giống với các thành phố khác nằm trong Vành đai kinh thánh[1], ở đây tiến bộ hơn, vì người Moravia có niềm tin tuyệt vời vào giáo dục. Họ xây dựng Học viện nữ giới Salem, học viện đầu tiên trong khu vực dành cho phụ nữ. R. J. Reynolds và các công nhân Moravia của ông đã tạo nên một đội ngũ tuyệt vời. Đến những năm 1890, công ty của họ đã tuyệt đối dẫn đầu trong khu vực.

Trên thực tế, công ty thuốc lá Reynolds đã phát triển nhanh đến mức nhiều người thèm muốn có nó. Điều này xảy ra một thế kỷ sau đó, bởi một kẻ tham lam đến từ phương Bắc. Những năm 1890 chứng kiến sự trỗi dậy của tập đoàn thuốc lá quốc gia của James B. Duke (còn gọi là Buck). Họ phát triển bằng cách mua các công ty thuốc lá trong khu vực như RJ Reynolds. Xuất phát điểm của Buck Duke là trên đường Durham, Bắc Carolina. Nhưng ông ta đã chuyển công ty American Tobacco của mình đến New York để mở rộng các quan hệ tài chính để ông có thể phát triển cơ ngơi ra toàn quốc. Khi đã có tiếng tăm hơn, Duke xây dựng tập đoàn của mình theo mô hình công ty Standard Oil của John D. Rockefeller. Ông nhanh chóng kiểm soát rất hiệu quả thị trường thuốc lá non trẻ của đất nước. Sau đó, Buck Duke tập trung sang thâu tóm công việc kinh doanh thuốc lá nhai.

R. J. Reynolds đã nhận thấy mối đe dọa và thề sẽ chiến đấu. Ông thề rằng: “Nếu cố nuốt chửng chúng ta, Buck Duke sẽ phải đánh đổi bằng cuộc sống của mình”. Sau đó, vào năm 1899, không hiểu vì lý do gì, Ngài RJ thực hiện một chuyến đi bí mật tới New York. Ông đã có một thỏa thuận với tập đoàn Duke: Chuyển nhượng 70% cổ phần của công ty Thuốc lá Reynolds với giá 3 triệu đô-la. Rõ ràng, Reynolds đồng ý bán cổ phần vì ông cảm thấy cần thêm vốn để phát triển và vì ông đảm bảo kiểm soát được hoạt động của công ty mình. Buck Duke có thể nghĩ rằng R. J. Reynolds đang làm việc cho ông ta, nhưng Ngài RJ đã có những ý tưởng khác. Dưới sự kiểm soát của tập đoàn, ông liên tiếp mua vào, thâu tóm một loạt đối thủ cạnh tranh ở địa phương, và trở thành ông chủ lớn nhất Bắc Carolina. Cái giá của sự bành trướng đó là chế độ báo cáo hằng quý cho người của Buck Duke, “đám người New York” đáng ghét.

Có thể Reynolds ghét sự kiểm soát của đám người miền Bắc, nhưng chắc chắn một điều là ông phát đạt nhờ họ. Bây giờ, ông mơ ước sẽ phân phối thuốc lá hút tẩu trên toàn quốc. Sau khi giám sát bí quyết pha trộn, ông chọn cho nó cái tên Prince Albert, tên vị hoàng tử nổi tiếng xứ Wales, người sẽ trở thành Vua nước Anh, Edward VII. Ông đích thân săn lùng một bức ảnh của hoàng tử (trong bữa tiệc trà với Mark Twain). Một bức ảnh thích hợp để có thể sử dụng làm biểu tượng cho nhãn hàng. Lần đầu tiên, công ty thuê một hãng quảng cáo lớn ở New York, N.W Ayer, để thực hiện chiến dịch quảng cáo trên phạm vi toàn quốc. Trên tờ The Saturday Evening Post, Collier’s, và trên các tạp chí khác, thuốc lá Prince Albert được quảng cáo như sau: “Hãy thưởng thức loại thuốc lá không làm bạn rát lưỡi.” (“Joy Smoke” that “can’t bite your tongue”.) Để khuyến khích các nhà phân phối và bán lẻ, Reynolds đưa ra những khuyến mãi giảm giá hấp dẫn để họ ưu tiên hình ảnh của Prince Albert. Ông đe dọa bằng những hậu quả thảm khốc nếu họ không làm như vậy. Công ty cảnh báo rằng khách hàng sẽ rất không hài lòng nếu họ không tích trữ loại thuốc lá này, bởi “chúng tôi kiểm soát được quy trình, loại bỏ thành phần gây rát lưỡi khỏi thuốc lá nên không thể có loại nào thay thế gần giống như vậy”. Giống như những gì đã xảy ra với bánh quy Uneeda, kế hoạch bành trướng ra toàn quốc của Ngài RJ thành công rực rỡ. Sản lượng hằng năm của Prince Albert đã tăng từ 112.000 tấn vào năm 1907 lên hơn 6,3 triệu tấn vào năm 1911.

Cùng năm đó, tin tức về sự sụp đổ của kẻ đầu cơ Buck Duke cũng lan truyền. Sau nhiều năm cố gắng phá vỡ sự kìm hãm của Duke đối với ngành công nghiệp thuốc lá, cuối cùng, “nhóm chống độc quyền” của Teddy Roosevelt đã thành công. Khi Tòa thượng thẩm Mỹ công bố quyền độc lập cho công ty Thuốc lá Reynolds, niềm vui đã vỡ òa ở Winston-Salem. Các nhân viên bán hàng của Reynolds nhận được thông báo về sự tan rã của đối thủ trong một lá thư có tiêu đề “Tin tức về Tự do”.

“Giờ hãy xem,” Ngài RJ vui sướng nói với các giám đốc điều hành người Moravia của mình, “tôi có thể tống Buck Duke xuống địa ngục không.” Vài ngày sau, khi màn đêm buông xuống Manhattan, một màn hình quảng cáo điện tử mới khổng lồ, được bật lên. Trên đó, ở vị trí cao chót vót trong thành phố, là hình ảnh của Prince Albert trong ánh sáng rực rỡ cùng dòng chữ: Thưởng thức thuốc lá thương hiệu quốc gia, công ty Thuốc lá RJ Reynolds Winston-Salem, NC (The Nations Joy Smoke. RJ Reynolds Tobaco company, Winston-Salem, NC).

Thoát khỏi sự kim kẹp của những kẻ xâm lược phương Bắc, Ngài RJ ngay lập tức hành động để đảm bảo công ty của ông sẽ không bao giờ rơi vào tay “đám người New York” nữa. Ông bắt đầu ép buộc nhân viên mua cổ phiếu của Reynolds. “Các anh nên quan tâm đến công ty.” Ông nói với họ như vậy trong khi sắp xếp các khoản vay ngân hàng để họ mua cổ phiếu. Không đếm xỉa đến những công nhân không muốn đi theo số đông, Ngài RJ nói ông biết điều gì là tốt nhất và ông đã làm được. Khi giá trị của cổ phiếu Reynolds tăng vọt trong những năm sau đó, Winston-Salem được biết đến như thành phố của những triệu phú bất đắc dĩ.

Ngay lập tức, Ngài RJ muốn tiến xa hơn, ông cho phát hành cổ phiếu loại A. Ở đây, nó được biết đến như cổ phiếu ứng trước, được phát hành để trao tất cả quyền biểu quyết vào tay người lao động. Chúng được trả cổ tức rất cao: 10% của toàn bộ lợi nhuận trên 2,2 triệu đô-la. Nhân viên ủng hộ phát hành cổ phiếu mới và nhiều người đã dùng tiền lương để mua tất cả số cổ phiếu loại A mà họ có thể. Ngày trả cổ tức hằng năm đã trở thành ngày hội ở địa phương. Đây là thời điểm mà các đại lý xe hơi và các nhà cung cấp hàng xa xỉ ở đây háo hức chờ đợi. Người ta kể câu chuyện về một đứa trẻ ở Winston-Salem. Nó đã nhận được rất nhiều quà vào buổi sáng ngày Giáng sinh, nhưng nó cứ khóc mà không thể nín. Nó nói rằng mình muốn sở hữu cổ phiếu loại A. Từ đầu những năm 1920 cho đến những năm 1950, khi IRS (Sở Thuế vụ Mỹ) cho dừng phát hành cổ phiếu loại A, nhân viên của Reynolds đã nắm giữ phần lớn cổ phiếu của công ty.

Công ty đã được bảo vệ. Để đền đáp, Reynolds dành sự quan tâm đặc biệt cho nhân viên của mình. Công ty cho nhân viên vay tới 70% giá trị tài sản của họ. Công ty có nhà ăn trưa bán với giá gốc và luôn có sẵn nước đá trong các nhà máy luôn nghi ngút hơi nóng. Họ có dịch vụ trông trẻ vào ban ngày cho con cái của nhân viên nữ. Có một nhà trông trẻ dành cho người da trắng, và một nhà dành cho người da đen. Reynolds thậm chí còn có khu nhà cho thuê có người giám sát cho các cô gái nông thôn đến Winston-Salem làm việc và cung cấp nhà ở cho 180 gia đình khác với giá không tính lãi. Nhiều trong số những cải cách này do một tay người vợ trẻ của RJ, bà Katharine, tổ chức thực hiện.

Trong bối cảnh lúc đó, Reynolds là một công ty đặc biệt. Khi miền Nam đang trong giai đoạn khốn quẫn và sa lầy trong nền kinh tế nông nghiệp, công ty đã biết tận dụng sản phẩm nông nghiệp địa phương và trở thành một doanh nghiệp công nghiệp lớn mạnh. Trong khi các doanh nghiệp miền Nam thường được các chủ ông chủ miền Bắc kiểm soát, và người ta chẳng bao giờ thấy mặt họ, công ty này dưới sự kiểm soát của một người địa phương lại đang kiếm bộn tiền trên chính mảnh đất này. Đến năm 1913, 25% trong số 25.000 cư dân của Winston-Salem làm việc cho RJ Reynolds.

Đó là năm RJ, lúc đó đã 63 tuổi, chơi canh bạc lớn nhất đời mình với một sản phẩm mới: thuốc lá điếu. Lúc đó, nhu cầu về sản xuất thuốc lá gói rất ít vì người hút thích tự cuốn thuốc lá hơn. Trên thị trường chỉ có các nhãn hàng địa phương và người ta cho rằng chúng không ngon. Nhưng RJ, vừa mới thành công với thuốc lá Prince Albert, cho rằng thuốc lá gói có hương vị hấp dẫn có thể bán trên toàn quốc. Tự mình quan sát và thực hiện dự án, ông đã thử rất nhiều loại thuốc lá trước khi đưa ra công thức phù hợp nhất. Một sự pha trộn kỳ diệu giữa thuốc lá trồng tại địa phương, lá thuốc sấy khô bằng khí nóng của vùng Kentucky và thuốc lá của Thổ Nhĩ Kỳ. Để nhấn mạnh sự bí ẩn mang chất phương Đông của thuốc lá Thổ Nhĩ Kỳ, ông đặt cho nó cái tên Camel (Lạc đà). Và năm đó, khi đoàn xiếc Barnum & Bailey đến Winston-Salem, một nhiếp ảnh gia đã chụp ảnh con lạc đà một bướu làm hình nền cho gói thuốc.

Camel có thêm sự quảng cáo rầm rộ của NW. Ayer. Họ áp dụng cùng một phương pháp để thu hút sự thích thú với Camel, giống như cách họ đã làm với thuốc lá Prince Albert và bánh quy Uneeda. Ayer đã giới thiệu thuốc lá tới từng thị trường với một loạt quảng cáo khơi gợi trí tò mò: Đầu tiên là từ “Camel” (lạc đà), sau đó là “The Camels is coming!” (Lạc đà đang đến!) với hình ảnh con lạc đà một bướu. Tiếp đến là: “Tomorrow, there’ll be more Camels in this town than in all Asia and Africa combined!” (Ngày mai, thị trấn này sẽ có nhiều lạc đà hơn cả số lạc đà ở châu Á và châu Phi cộng lại!). Và cuối cùng là: “Camel cigarettes are here!” (Thuốc lá Camel đang ở đây rồi!) cùng mô tả về đặc tính và giá cả. Thật nghẹt thở và trơ trẽn, còn nếu theo tiêu chuẩn hiện đại thì thật rẻ tiền. Nhưng chiến dịch quảng cáo đó đã giúp thuốc lá thương hiệu quốc gia đầu tiên trở thành một hiện tượng lớn. Reynolds đã bán 20 bao Camel với giá một hào, rẻ hơn các thương hiệu khác năm xu. Chẳng bao lâu sau, ba đối thủ cạnh tranh gay gắt nhất với họ đuối dần rồi chết. Camel trở thành một hiện tượng. Chỉ trong vòng một năm, Reynolds đã bán được 425 triệu gói Camel. Camel trở thành thương hiệu thuốc lá đầu tiên được bán theo thùng. Reynolds giành được độc quyền vận chuyển thuốc lá cho quân đội Mỹ đang chiến đấu trong Thế chiến I ở châu Âu. RJ một lần nữa thành công, tái định hình và cách mạng hóa ngành kinh doanh thuốc lá.

Các đối thủ cạnh tranh tức giận, cố dùng mọi cách để giết chết Camel. Người ta nghi ngờ rằng công ty American Tobacco của Buck Duke đã lan truyền tin đồn về việc các công nhân trong nhà máy sản xuất Camel mắc bệnh phong và giang mai. Một tin đồn khác về việc có diêm tiêu trong Camel đã lan truyền rất nhanh. Bị xúc phạm, RJ phản pháo, hứa thưởng 500 đô-la để xác định nguồn gốc câu chuyện. “Ngay cả lỗ mũi của loài chim ăn xác chết Buzzard cũng không chịu được mùi hôi thối của một kẻ vu khống đáng khinh miệt,” ông tuyên bố như vậy trong những áp phích phản đối.

Đó là cuộc chiến vĩ đại cuối cùng của ông. Năm 1918, ông qua đời vì căn bệnh ung thư tuyến tụy. Khi sắp về cõi vĩnh hằng, ông cảm thấy hài lòng với những gì mình đã làm. Ông tự tin rằng nếu vững tay chèo lái, công ty này sẽ không bao giờ rơi vào tay những tên vô lại. “Tôi đã viết cuốn sách này,” ông nói. “Tất cả những gì các anh cần làm là tuân thủ những gì tôi viết.”

-

Rất nhanh sau đó, quyền lãnh đạo công ty không còn nằm trong tay gia đình RJ nữa. Ngài Will trở thành chủ tịch nhưng chỉ thích dành thời gian để nuôi ngựa. Dick, con trai đầu tiên của Reynolds, theo đuổi con đường chính trị thay vì kinh doanh, trở thành thị trưởng của Winston-Salem và là thủ quỹ của Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ. Người con thứ hai, Zachary Smith Reynolds, một tay chơi khét tiếng và là một phi công. Anh kết hôn với một ca sĩ chuyên hát những bài ca về tình yêu ủy mị sướt mướt tên là Libby Holman. Anh bị bắn chết ở tuổi 20, trong một hoàn cảnh kỳ lạ và tai tiếng. Vợ anh bị truy tố tội giết người nhưng vụ án chưa bao giờ được đem ra xét xử. Để tưởng nhớ, tên của anh đã được đặt cho sân bay Winston-Salem.

Gánh nặng điều hành công ty Thuốc lá Reynolds được trao cho thế hệ lãnh đạo kế tiếp sinh ra và lớn lên ở địa phương, một số người được Ngài RJ tuyển chọn kỹ lưỡng trước khi qua đời. Đầu tiên là Bowman Gray, người rất được gia đình RJ ủng hộ. Gray là người làm việc chi tiết, tỉ mỉ, nhưng ông không có sự năng động và trí tưởng tượng phong phú để tạo ra sự kích thích, thúc đẩy công ty phát triển thực sự. Ông đã duy trì RJ ổn định, không vướng vào bất cứ rắc rối nào. Ngày nào cũng vậy, trước khi trời sáng ông đã vào trung tâm thành phố, có mặt ở công ty và ở lại đó đến khi trời tối. Anh trai ông, James Gray, là nhân vật chóp bu ở ngân hàng Wachovia, và lợi ích của ngân hàng này không thể tách rời lợi ích của Reynolds. (Gray sau này chuyển sang điều hành Reynolds.) Ban giám đốc của Wachovia, một nhóm ưu tú gồm các trưởng lão nhà Reynolds, nhà Gray và người Moravia, trở thành nhóm người thống trị thành phố. Các thành viên của nhóm đều có chân trong câu lạc bộ nổi tiếng Old Town Club. Họ nghỉ hè ở Roaring Gap, vùng núi cách thành phố gần 100km. Họ chỉ kết hôn trong giới, cho đến khi nhiều nhánh trong các cây phả hệ đó vướng vào vô số rắc rối.

Tất nhiên, điều này cổ vũ khuynh hướng độc hại của chủ nghĩa địa phương vẫn ám ảnh Winston-Salem cho đến ngày nay. Trong những năm 1930, một giám đốc điều hành hàng đầu của Reynolds có được vị trí đó một phần nhờ vào việc kết hôn với cháu gái của Will Reynolds; sau đó anh ta bị sa thải vì không chịu đến sống ở Winston-Salem. Tự cách ly với thế giới bên ngoài, công ty rất chậm chạp trong việc tiếp nhận các xu hướng mới. Nghiêm trọng nhất là họ đã bỏ qua một thị trường mới nổi: thuốc lá cho phụ nữ (mặc dù nữ tặc cướp ngân hàng Bonnie Parker nổi tiếng là người nghiện thuốc lá Camel. Cô ta đã một lần trốn ở nhà máy sản xuất Camel khi đang trốn chạy sự truy lùng của cảnh sát). Kết quả là, năm 1929, Camel mất vị trí dẫn đầu trong ngành kinh doanh thuốc lá và bị nhãn hàng Lucky Strikes của American Tobacco vượt mặt trong cuộc bầu chọn thuốc lá bán chạy nhất cả nước. Được hậu thuẫn bởi một công ty quảng cáo nhỏ ở New York do William Esty đứng đầu, Reynolds phát động một cuộc phản công dữ dội và chiếm lại vị trí đứng đầu trong những năm 1930. Liên minh Reynolds-Esty duy trì các thương hiệu có vị thế cạnh tranh tốt trong hơn 50 năm.

Thành phố nhỏ bé này vô cùng tự hào vì có một công ty lớn vậy nên họ đã tự gọi mình là “Thành phố Lạc đà”. Người ta thấy những công nhân nhà máy bước vào các công ty môi giới chứng khoán với những chiếc túi giấy đựng đầy tiền mặt và đặt lệnh mua cổ phiếu của công ty Thuốc lá Reynolds. Một công nhân nhà máy có tên Hobert Johnson đã trở thành một trong những cổ đông lớn nhất của công ty trong nhiều năm. Hobert ngay lập tức mua tất cả các cổ phiếu loại A mà anh ta có thể. Cổ phiếu được chuyển giao cho các thế hệ tiếp theo với một lời nhắn gửi: “Đừng bao giờ bán cổ phiếu của Reynolds.”

Các giá trị của cộng đồng người Moravia, nếu có, thậm chí còn thấm đượm hơn trong công ty. Về công việc: Những người mua thuốc lá của công ty đối thủ trở về nhà và không làm bất cứ việc gì sau mùa đấu giá lá thuốc lá kéo dài tám tháng. Những công nhân của Reynolds, được giao nhiệm vụ phân loại lá thuốc lá mà họ đã mua, buộc phải suy ngẫm về chất lượng lao động của mình. Về tiết kiệm: Công nhân Reynolds sẽ phải nộp lại mẩu bút chì để được cấp một cái mới. Một người quản lý trẻ đang dùng một chiếc quạt nhỏ trong phòng làm việc vào ngày hè oi bức bị nhắc nhở nên rút phích cắm ra, làm như vậy là lãng phí điện. Về kỹ thuật: Công ty đã xây dựng phương pháp tái sử dụng phế liệu và cuống lá thuốc, làm tăng đáng kể các phần có thể sử dụng của mỗi lá thuốc, giúp lợi nhuận tăng đáng kể. “Thuốc lá hoàn nguyên” là tư tưởng kinh điển ở Reynolds: một sự pha trộn giữa bí quyết sản xuất và văn hóa, không phung phí, không túng thiếu của công ty.

Công ty này chắc chắn không phải là thiên đường xứ Piemonte. Sau khi Bowman Gray qua đời vào giữa những năm 1930, Reynolds trải qua hơn một thập kỷ dưới tay những người điều hành nhạt nhẽo. Trong đám công nhân luôn xuất hiện những phàn nàn nho nhỏ: W-S, tên viết tắt của Winston-Salem, nghĩa là Work and Sleep (làm việc và ngủ), họ nói đùa như vậy. Trong những năm 1940, lực lượng công nhân tại nhà máy trong một thời gian ngắn đã có công đoàn; Reynolds dành cả thập kỷ để phá vỡ sự hậu thuẫn của công đoàn, họ bất mãn vì giới cộng sản phản đối gay gắt các lãnh đạo công ty. Tuy nhiên, sự mất tập trung đã khiến họ phải trả giá: Doanh số bán hàng giảm, đứng dưới đối thủ cạnh tranh chính trong ngành là American Tobacco.

Không lâu sau đó, dưới sự lãnh đạo của John Whitaker, cháu trai của Ngài Will, Reynolds bước vào thời kỳ hoàng kim mới trong những năm 1950. Whitaker, người từng vận hành một trong những cỗ máy sản xuất thuốc lá đầu tiên của Reynolds từ nhiều năm trước, đã khôi phục cảm giác thân thiết như gia đình trong công ty sau những năm khó khăn với tổ chức công đoàn. Ông thích lang thang trong nhà máy, chào hỏi các công nhân, gọi tên và hỏi thăm gia đình họ. “Tôi vẫn nhớ những buổi sáng chúng tôi kéo nhau đến bên cạnh Ngài Whitaker trong chiếc Studebaker[2] nhỏ màu nâu,” một nhân viên cũ nhớ lại. “Whitaker chào chúng tôi và chúng tôi cũng chào đáp lại ông ấy. Rồi chúng tôi cùng nhau đi vào nhà máy bắt đầu một ngày làm việc. Tất cả chúng tôi đều bình đẳng như nhau. (Có một luật lệ bất thành văn là các giám đốc của Reynolds không được đi xe đắt tiền hơn xe Buick. Thậm chí nhiều năm sau đó, khi David Rockefeller đến Winston-Salem và có một bài phát biểu ở đây, trợ lý của ông đã yêu cầu một chiếc xe limousine. Và người ta đã tìm khắp thành phố mà chẳng thấy chiếc limousine nào.)

Năm 1954, dưới thời Whitaker, Reynolds đưa ra thị trường thuốc lá Winston, loại thuốc lá điếu có đầu lọc quan trọng đầu tiên; 6,5 tỷ bao được bán trong chín tháng đầu tiên. Tiếp theo, Reynolds thu được thắng lợi lớn với thuốc lá hương bạc hà Salem lần đầu tiên được bán trên thị trường với số lượng hàng tỷ bao. Năm 1959, hai nhãn hàng có tên gọi theo tên thành phố nơi chúng được sinh ra đã giúp doanh số của Reynolds vượt qua American Tobacco. Năm đó, ở Winston-Salem, người dân vui mừng nhảy múa trên đường phố.

Whitaker tiếp tục truyền thống của gia đình Reynolds, chăm lo cho thành phố và các công nhân của mình. Ông trả lương cho họ cao hơn mức tiền lương công đoàn yêu cầu và thiết lập một trong những chương trình y tế công ty hào phóng nhất cả nước. Chỉ với một khoản phí mang tính hình thức, các nhân viên và gia đình của họ đã được chăm sóc y tế và nha khoa miễn phí tại một phòng khám do công ty tài trợ. Trong những năm 1950, công ty và gia đình Reynolds hợp tác để di chuyển Đại học Wake Forest từ khuôn viên cách đó hơn 160km về phía đông. Những người thừa kế của American Tobacco đã chuyển một trường đại học đến Durham và đổi tên thành Đại học Duke; Reynolds cũng muốn Winston-Salem có được vinh dự này.

Cuộc sống cứ trôi đi êm đềm. Winston, Salem và Camel của Reynolds là ba trong số bốn nhãn hàng thuốc lá điếu bán chạy nhất, Prince Albert vẫn là loại thuốc lá hút tẩu bán chạy nhất và thuốc lá nhai Days Work vẫn giữ ngôi vị đứng đầu. Người Mỹ hút thuốc như thể họ là các ống khói. Năm 1960, ở Mỹ, 58% đàn ông và 36% phụ nữ hút thuốc. Người ta thường nói rằng vấn đề duy nhất của Reynolds là làm thế nào để sản xuất thuốc lá đủ nhanh cho người ta đốt, và làm thế nào để chuyển tất cả số tiền bán thuốc lá trở lại ngân hàng Wachovia.

Xét ở một khía cạnh nào đó, điều này đúng. Theo quan điểm của lãnh đạo công ty, Reynolds có quá nhiều tiền trong tay. Năm 1956, công ty sửa đổi điều lệ, lần đầu tiên cho phép họ mua các công ty không kinh doanh thuốc lá. Hai năm sau, họ gần như đã mua một công ty dược phẩm tên là Warner-Lambert. Nhưng khi Charley Wade, một phó chủ tịch kiêm thành viên hội đồng quản trị, đến thăm trụ sở của Warner ở bang New Jersey, ông đã phát hiện một sự thật gây sốc: Chủ tịch của Warner-Lambert lái một chiếc du thuyền thuộc sở hữu của công ty. “Tôi quay về và nói: ‘Công ty đó không dành cho chúng ta; họ không giống chúng ta,’” Wade nhớ lại. Thương vụ bị hủy bỏ. Những người khác nói lại rằng câu chuyện phức tạp hơn thế. Các giám đốc ở đây lo rằng lực lượng lao động đã tham gia công đoàn của Warner-Lambert sẽ là tai họa đối với Reynolds. Sự việc này phản ánh tư duy thời đó ở Reynolds: tằn tiện, nghi ngờ người ngoài, bảo vệ hiện trạng, chống đối công đoàn sâu sắc. “Họ chỉ có tư duy hạn hẹp trong một thành phố nhỏ,” một giám đốc điều hành đã nghỉ hưu, nói rằng một số giám đốc “không muốn có quan hệ với người miền Bắc và công đoàn”.

Trong suốt những năm 1950, Reynolds là một gia đình lớn hạnh phúc. Các giám đốc điều hành của công ty luôn khắc cốt ghi tâm rằng công ty của họ được điều hành bởi những người hằng sáng thức dậy khi trời vẫn nhá nhem tối ở vùng nông thôn Bắc Carolina, nhảy vào xe bán tải, và lái xe đến các nhà máy của Reynolds. Họ tự hào vì có thể chọn từng lá thuốc lá đạt yêu cầu và thuộc lòng từng bộ phận bên trong của mỗi máy đóng gói. Khi Reynolds được yêu câu trả lời tất cả các câu hỏi nghi vấn quan trọng về việc có phải một loại thuốc lá mới sắp được bán ra hay không, họ sẽ đưa ra một danh sách gồm 250 nhân viên của công ty. Công thức phù hợp cho Winston sẽ được chọn sau khi mỗi công nhân hút thử hơn 250 hỗn hợp thử nghiệm. Cuối cùng, Bowman Gray, Jr, giám đốc bán hàng vào thời điểm đó, sẽ thử lần cuối trước khi đưa ra quyết định. Ông reo lên: “Đây rồi!”

Năm 1959, Gray kế nhiệm Whitaker. Ông là một giám đốc điều hành điển hình của Reynolds thời đó, là con trai của Bowman Sr, cánh tay phải của Ngài RJ. Gray hút bốn gói Winstons mỗi ngày. Ông đã làm việc ở Reynolds từ lúc lên 10 tuổi. Khi đó là mùa hè, công việc của ông là cắt tỉa lá thuốc lá. Sau khi chọn hút Winston, ông tin rằng thị hiếu về thuốc lá của ông rất đặc biệt. “Tôi tin rằng nếu một điếu thuốc hấp dẫn được dân hút thuốc loại thường như tôi, nó có thể thu hút mọi người,” Gray nói như vậy với tạp chí Times vào năm 1960.

Nhưng sang thập kỷ sau người dân buộc phải đặt câu hỏi liệu họ có nên tiếp tục hút thuốc lá không. Ngay từ khi thuốc lá bắt đầu xuất hiện, đã có người phản đối việc hút thuốc. Vua James I của Vương quốc Anh gọi việc hút thuốc là “hình ảnh và mô hình sống động của địa ngục” đồng thời áp dụng thuế nhập khẩu lên thuốc lá. Vua Louis XIII của Pháp và Vua Czar Michael I của Nga ra sắc lệnh về các hình phạt cho việc hút thuốc từ tử hình đến thiến. Giáo hoàng Urban VIII đe dọa rút phép thông công bất cứ ai bị bắt gặp hút thuốc trong nhà thờ hoặc trong khuôn viên nhà thờ. Nhưng tình yêu của người Mỹ với thuốc lá gần như không hề suy giảm, cho đến năm 1964, khi Tổng Y sĩ Mỹ Luther Terry công bố báo cáo mang tính bước ngoặt về mối liên quan giữa khói thuốc lá với bệnh ung thư. Doanh số bán thuốc lá từ trung bình tăng 5% một năm thì nay giảm mạnh.

Doanh thu cuối cùng cũng tăng trở lại, nhưng Reynolds đã nhận thức được tình hình và chú ý đến cảnh báo này. Gray bắt đầu mua các công ty ngoài ngành công nghiệp thuốc lá, chủ yếu là trong ngành kinh doanh thực phẩm. Bằng sự nhạy bén với thị trường, các giám đốc của Reynolds đã nhìn nhận đó là mục tiêu dễ nắm bắt. Họ rất thích câu nói: “Bất cứ ai có thể bán một sản phẩm liên quan đến bệnh ung thư thì đều có khả năng bán bất cứ sản phẩm nào,” Reynolds sưu tầm một mớ hỗn hợp các thương hiệu: Nước ép trái cây Hawaiian Punch, siro lá phong Vermont Maid, bánh tráng miệng My-T-Fine, thức ăn Trung Quốc Chun King, thức ăn Mexico Patio.

Tuy nhiên, bản chất thiển cận, địa phương cục bộ đã ngăn cản Reynolds theo đuổi cơ hội mà đối thủ mới của họ, Philip Morris ở New York, đang bận rộn khai thác: thị trường nước ngoài. Philip Morris đã thu về hàng triệu đô-la tiền bán thuốc lá Marlboro, sản phẩm hàng đầu của họ, trên toàn thế giới. Tự mãn sau nhiều năm thống trị thị trường, các giám đốc của Reynolds thích nói rằng từ tầng 22 ở trụ sở chính của công ty, họ có thể nhìn thấy mọi thứ mà công ty sở hữu. Họ nói đùa: “Nếu ai đó trên thế giới muốn hút Camel, họ sẽ tự gọi cho chúng tôi.”

Tuy nhiên, giai đoạn cuối những năm 1960 là thời điểm sắp kết thúc quãng thời gian dài Reynolds ngủ quên trên chiến thắng. Gray, người cuối cùng có liên hệ trực tiếp với bộ não của Ngài RJ, qua đời năm 1969. Hai giám đốc điều hành cấp cao dự định sẽ kế nhiệm ông cũng qua đời. Vì vậy, người kế nhiệm Gray là anh họ ông, một giám đốc tài chính không có chính kiến tên là Alex Galloway. Galloway bắt đầu dẫn dắt Reynolds vào một chiến dịch đa dạng hóa thảm bại, làm suy giảm các giá trị, tương tự như những gì xảy ra với Nabisco. Điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động kinh doanh thuốc lá cốt lõi của công ty.

Theo đề nghị của một cựu doanh nhân ở Winston-Salem tên là Malcolm McLean, Galloway đã mua Sea-Land, một công ty vận tải đường thủy do McLean sở hữu. McLean có được một ghế trong hội đồng quản trị của Reynolds. Tiếp theo, McLean đề nghị Galloway mua một công ty dầu mỏ nhỏ tên là Aminoil, và một năm sau, thương vụ được thực hiện. Ý tưởng kinh doanh họ nghĩ ra là dầu do Aminoil sản xuất sẽ được vận chuyển ra nước ngoài bằng tàu chở dầu của Sea-Land. Năm sau, nhằm thể hiện sự đa dạng hóa của công ty, Galloway đã đổi tên công ty thành công ty Công nghiệp RJ Reynolds, và trong hơn một thập kỷ sau khi đã rót hơn 2 tỷ đô-la cho Aminoil và Sea-Land, Reynolds xây dựng Sea-Land thành công ty vận tải biển tư nhân lớn nhất thế giới. Không được quan tâm đầu tư nhiều, các nhà máy thuốc lá dần dần suy yếu.

Phần lớn thời gian trị vì ngắn ngủi mình, Galloway như một kẻ trông nom nhà cửa, thuần phục dưới quyền lực của McLean và những kẻ ngoại đạo đầy thế lực khác. Câu hỏi về người kế nhiệm ông trở thành mối quan tâm của một giám đốc ở Reynolds tên là J. Paul Sticht. Sticht là kẻ ngoại đạo hiếm hoi trong hội đồng quản trị: Khi ông tham gia hội đồng quản trị năm 1968, chỉ có hai người ngoại đạo nữa. Hiếm hoi hơn, ông là người miền Bắc, lớn lên trong căn nhà trọ bên ngoài thành phố Pittsburgh. Ông là con trai của một công nhân ngành thép, dân Đức di cư. Khi đang học trung học, Sticht đã làm việc trong các nhà máy, rồi theo học trường đại học khoa học xã hội Grove City College ở gần nhà. Sau khi tốt nghiệp, ông quay về nhà, trở thành người quản lý cửa hàng, tham gia công đoàn và vươn lên vị trí quản đốc. Nhưng đằng sau vẻ bề ngoài nhỏ nhẹ và xuất thân từ tầng lớp lao động chân tay, bên trong con người ông bùng cháy ngọn lửa tham vọng luôn ngày đêm rực cháy trong các lò luyện thép.

Sticht sớm chuyển đến thế giới của dân văn phòng, với chân phụ trách nhân sự ở hãng Hàng không Trans World Airways và sau đó đến làm cho Campbell Soup chuyên về thực phẩm và đồ uống đóng hộp. Ở đó, ông nhanh chóng leo lên nấc thang danh vọng của công ty. Đến cuối những năm 1950, ông gia nhập Federated Department Stores, một nhà bán lẻ lớn ở Cincinnati. Đến giữa những năm 1960, Sticht là Chủ tịch kiêm Giám đốc Điều hành. Sau đó, vào năm 1972, do bị cản trở khi muốn leo lên vị trí đứng đầu, Sticht xin nghỉ hưu sớm ở tuổi 55, nhưng một số người nói rằng ông bị sa thải.

Ông tham gia hội đồng quản trị của Reynolds theo đề nghị của Charley Wade. Họ trở thành bạn vài năm trước khi cùng nhau trao đổi về các sách lược phản đối công đoàn. Năm 1972, Sticht vận động chống lại nhân vật mà mọi người đều biết rõ sẽ kế nhiệm Galloway, giám đốc tài chính David Peoples. Sau khi tham khảo ý kiến ba giám đốc không thuộc hội đồng quản trị, Sticht nói với Galloway rằng tất cả bọn họ sẽ nghỉ việc nếu Peoples được chọn. Một ủy ban được thành lập để tìm kiếm người kế vị mới. Và Sticht, lúc này chưa có chức vụ gì, được đôn lên ghế chủ tịch. Sau nhiều tháng miệt mài tìm kiếm, ủy ban của Sticht đã đưa ra một lựa chọn bất ngờ: Người sẽ dẫn dắt Reynolds bước vào cuối thập kỷ 1970 là Paul Sticht.

Sticht sẽ là giám đốc điều hành số hai của công ty, nhưng trên thực tế, với cơ cấu điều hành mới, có nhiều chi nhánh, thực quyền của ông vượt xa vị trí ông đang nắm giữ. Cấp trên của ông là một người hữu danh vô thực tên là Colin Stokes. Ông này đi lên từ dân trồng thuốc lá, và là một giám đốc điều hành kiểu truyền thống của Reynolds. Cha ông từng là người phụ trách nhà máy sấy lá thuốc dưới thời Ngài RJ. Vị giám đốc kỳ cựu của Reynolds có thâm niên 40 năm và hầu như chưa từng thấy ông ngừng hút thuốc. Stokes đi lên từ địa vị công nhân làm việc trong nhà máy. Ông biết mọi thứ về thuốc lá, nhưng gần như không biết gì về thế giới bên ngoài Bắc Carolina. Stokes được đánh giá sẽ là tay sai của Sticht.

Sự khác biệt ở hai người đàn ông có trọng trách chèo lái Reynolds trong suốt những năm 1970 được thể hiện trong thái độ của họ đối với máy bay phản lực của công ty. Công ty mua hai chiếc từ những năm 1950, một chiếc cùng màu sơn với vỏ gói thuốc Camel và chiếc kia có màu vỏ gói thuốc Salem. Một phi công kỳ cựu nhớ lại: Họ sử dụng chúng tiết kiệm đến nỗi chỉ bay 37 phút một tháng, đủ lâu để một chiếc máy bay phản lực đạt độ cao và đảm bảo nó vẫn hoạt động tốt. Điều này không chỉ phản ánh tính bình quân chủ nghĩa ở Reynolds, mà còn cho thấy các giám đốc điều hành của họ thích ở nhà hơn. Stokes và bạn ông đặc biệt ghét đến New York, còn Larry Wassong, phụ trách quảng cáo của công ty ở New York sẽ sẵn sàng đi một quãng đường rất dài để thư giãn. Ông sắp xếp người đón các giám đốc của Reynolds ở sân bay, đặt chỗ trước ở những nhà hàng yêu thích của họ để chắc chắn họ không bị mụ người đi ở một góc phố nào đó ở Manhattan. Wassong thường tự mình đến Winston-Salem.

Tuy nhiên, Sticht rất mê hai chiếc máy bay này. Ông cho lắp đặt điện thoại và đích thân đảm bảo có nhiều đồ ăn thức uống trên đó. Sticht tự nhận nhiệm vụ giới thiệu cho Stokes những địa danh mới xa xôi như Chicago và Boston. Ông thành lập ban cố vấn quốc tế gồm những người như Bunichiro Tonabe từ công ty Mitsubishi và Hermann Abs từ ngắn hàng Deutsche. Một năm hai lần, họ và những nhân vật khác có tiếng trong giới kinh doanh quốc tế được mời đến để thảo luận cùng các giám đốc của Reynolds về những vấn đề toàn cầu ở các địa điểm mới lạ. Sticht quyết tâm gạt bỏ một vài chủ nghĩa địa phương ở Reynolds.

Quả là giấc mơ trở thành hiện thực với một người đàn ông đầy tham vọng: Ngày hôm trước còn là nhà bán lẻ thất nghiệp, hôm sau đã trở thành lãnh đạo của một công ty lớn. Sticht thích giao du với các giám đốc điều hành danh tiếng trong nhóm Hội nghị bàn tròn doanh nghiệp ở New York và Phòng Thương mại Mỹ ở Washington. Sticht thích nhắc tên của những người mà ông hay bù khú. Một số người truyền tai nhau rằng ông quan tâm đến việc thể hiện mình hơn là làm kinh doanh.

Trong guồng quay hoạt động của mình, Sticht rất hay trì hoãn việc đưa ra quyết định và cố gắng đứng ngoài các cuộc tranh luận của ban giám đốc. Ông luôn muốn kết thúc tranh luận với tư cách người không liên quan: vừa là người lãnh đạo sáng suốt, vừa đưa ra những lời nhắc nhở nghiêm khắc và thẳng thừng. Ông có giọng nói dịu dàng và phong thái dè dặt. Ông nhớ tên các lái xe và thường hỏi thăm vợ của các phi công. Bằng phong cách nhã nhặn và những cách thức khôn ngoan lọc lõi, xét về nhiều mặt thì Sticht là cầu nối hoàn hảo cho một Reynolds lạc hậu, thiển cận ra thế giới bên ngoài phong lưu, hiện đại.

Sticht là một người ngoại đạo, những người lính già ở Winston-Salem không bao giờ chào đón ông. Sticht không hút thuốc, thỉnh thoảng ông mới châm tẩu, nhưng dường như hành động đó nhằm để gây ấn tượng hơn là thích thú. Vào cuối tuần, một chiếc máy bay phản lực của Reynolds sẽ đưa ông đến ngôi nhà ở Palm Beach nếu là mùa đông và đến ngôi nhà ở New Hampshire nếu là mùa hè. Người ta hiếm khi nhìn thấy vợ ông, Feme, ở Winston-Salem. Đó là một điều gì đó xúc phạm đến những người vẫn mong người đứng đầu Reynolds sẽ là trung tâm của đời sống dân sinh và xã hội ở thành phố này. Ban đầu, Sticht không được nhận vào Câu lạc bộ Old Town của giới thượng lưu thành phố, nên thay vào đó, ông chuyển sang giao du với đám người giàu mới nổi ở câu lạc bộ Bermuda Run.

Lấn lướt Colin Stokes, Sticht chèo lái con thuyền Reynolds qua những năm 1970 đầy biến động, giai đoạn này công ty gần như đã chuyển mình từ công ty gia đình trở thành một tập đoàn hiện đại. Ông củng cố quyền lực của mình bằng cách hất cẳng ba giám đốc điều hành hàng đầu trong vụ bê bối Watergate liên quan đến những hoạt động chính trị bất hợp pháp. Sticht kiểm soát được tình hình hỗn độn lúc đó và một vụ khác đánh trúng điểm yếu của công ty - thu hồi 19 triệu đô-la chi tiêu bất hợp pháp của Sea-Land ở nước ngoài. Quá trình này đã củng cố vững chắc quyền kiểm soát công ty của ông.

Đã có những dự báo khủng khiếp về sự sụp đổ các chuẩn mực tốt đẹp của người Moravia mà công ty vẫn duy trì, và sự trỗi dậy của Paul Sticht, tất cả chúng đồng nghĩa với một sự thay đổi mang tính hủy diệt. “Hãy cảnh giác,” Stewart Robertson, một nhà môi giới chứng khoán địa phương, cảnh báo, “sắp xuất hiện bè lũ đầu cơ chính trị đến từ miền Bắc. Bọn họ chưa bao giờ nhìn thấy nhiều tiền như thế và sẽ không biết phải làm gì với chúng.”

Tiếp theo như mọi người đều biết, Reynolds tràn ngập đám người miền Bắc. Công ty đã phải chịu áp lực ngày càng tăng trong những năm 1970 từ Philip Morris. Đối thủ chính của họ có thương hiệu Marlboro đang phát triển vượt bậc, và Sticht tin chắc các nhà marketing khôn ngoan sẽ không dại gì đối đầu trước thách thức này. Đầu tiên, ông đưa một loạt kẻ ngoại đạo đến Winston-Salem như Jim Peterson, cựu Chủ tịch của Pillsbury, để đứng đầu mảng thuốc lá trong nước; Morgan Hunter, Phó Chủ tịch cấp cao của American Cyanamid, làm Tổng Giám đốc Thuốc lá Reynolds; Bob Anderson, một Giám đốc Điều hành của Lever Brothers, đứng đầu bộ phận marketing thuốc lá; và J. Tylee Wilson, Phó Chủ tịch của Chesebrough-Pond, ông này trước mắt sẽ điều hành mảng thực phẩm, sau đó phụ trách mảng thị trường nước ngoài mà công ty vẫn mong thực hiện nhưng tiến độ quá chậm chạp.

Rõ ràng, những kẻ mới đến, hầu hết là người miền Bắc, là nỗi đau ở Reynolds. “Nơi đây chưa phải là tận cùng Trái đất,” họ đã nói đùa về Winston-Salem, “nhưng từ đây có thể nhìn thấy nó.” Họ đã lầm lẫn sự cao quý với yếu đuối, những bước đi chậm chạp với sự thiếu nhạy bén và giọng nói miền Nam với sự tối dạ. “Họ đối xử với những con người sáng láng ấy như những kẻ quê mùa thô kệch, thiển cận,” Larry Wassong, giám đốc điều hành mảng quảng cáo nhớ lại.

Dù rất tự tin, Đội cận vệ mới tỏ ra vô cùng kém cỏi trong việc kinh doanh thuốc lá. Khi quảng cáo thuốc lá bị cấm phát sóng vào năm 1971, Reynolds phải thu lại câu quảng cáo rất lôi cuốn người nghe: “Thuốc lá ngon thì nên có hương vị như Winston.” (Winston tastes good like a cigarette should.) Trong nhiều năm, đội ngũ mà Sticht mới thuê về đã rất cố gắng nhưng vẫn thất bại trong việc tìm ra một câu thay thế thích hợp, sau nhiều đắn đo, họ viết thế này: “Có nhiều điều hay cần nói giữa ‘Winston’ và ‘nên’ (There’s a lot of good between ‘Winston and ‘should.’). Bob Anderson làm mọi việc trở nên tệ hơn khi loại bỏ các nhãn hiệu của Reynolds khỏi bảng quảng cáo — nguồn quảng cáo quan trọng của thuốc lá.

Một loạt hãng quảng cáo cùng tham gia giải quyết vấn đề, mỗi bên đều có ý tưởng riêng, mỗi bên đều có hướng đi mới, nhưng tất cả đều ngậm ngùi thất bại. Thuốc lá bán được nhờ hình ảnh thương hiệu. Trong nhiều năm, các giám đốc điều hành của Reynolds đã gìn giữ hình ảnh thương hiệu của họ bất khả xâm phạm. Philip Morris đã có được hàng triệu người hút thuốc Marlboro bằng cách duy trì hình ảnh gã cao bồi từ những năm 1950. Giờ thì Reynolds thử một cuộc phản công bằng hình ảnh nam nhi đại trượng phu với các chiến dịch khắc họa hình ảnh những gã tiều phu và thủy thủ. Họ thử tiến hành một chiến dịch nhắm đến “những người lao động Mỹ”, cố gắng tán dương họ với hình ảnh thương hiệu mới này. Nhưng thất bại.

Marlboro cũng chiến thắng với trận chiến trong nhà máy. Những truyền thống ăn sâu giúp Reynolds duy trì trên đỉnh vinh quang 20 năm nay khiến nó không thể thay đổi theo thời cuộc. Thuốc lá hoàn nguyên được các giám đốc sản xuất của Reynolds hăng hái thực hiện từ lâu, tuy tiết kiệm tiền nhưng chất lượng lại không tốt. Loại thuốc lá này có hương vị nóng, gắt, rất được giới lao động ưa chuộng cho đến những năm 1970. Nhưng nay nó đã mất chỗ đứng vì người ta ưa chuộng hương vị trẻ trung và tinh tế hơn. Marlboro có công thức pha trộn tạo ra hương vị mượt mà hơn, đánh trúng khẩu vị của mọi người hơn. Philip Morris đã thắng khi mạnh tay đổ tiền vào các nhà máy và thiết bị mới, trong khi Reynolds lại bảo thủ, không chịu đổi mới. Sau một thời gian quá dài thống trị ngành thuốc lá, các giám đốc điều hành của Reynolds trở nên tự mãn. Họ nói: “Mấy gã trên đại lộ Park thì biết gì về thuốc lá?” Họ luôn nghi ngờ đánh giá của bất cứ ai sống xa các nhà máy và cánh đồng trồng thuốc lá.

Đến giữa những năm 1970, cả Philip Morris và Reynolds đều nhắm mua các thế hệ đầu tiên của máy móc điện tử để tăng mạnh tốc độ sản xuất. Nhưng nhiều thợ máy của Reynolds không đủ chữ nghĩa và trình độ để nắm bắt chúng nên họ chọn gắn bó với những cỗ máy cũ kỹ và đáng tin mà họ có thể tháo rời và lắp ráp lại dễ dàng. Còn Philip Morris lại nắm bắt được cơ hội với các thiết bị mới. Vào thời điểm Reynolds nhận ra sai lầm, tất cả các nhà sản xuất thiết bị đã hoàn tất hợp đồng với những nhà máy của Philip Morris. Cọng rơm cuối cùng tuột mất. Năm 1976, Marlboro vượt qua Winston trở thành thuốc lá bán chạy nhất nước Mỹ, và ở luôn vị trí cho đến ngày nay. Reynolds chỉ giữ được vị trí dẫn đầu về doanh thu bán hàng trong thời gian rất ngắn sau đó.

Rắc rối không chỉ đến với các nhãn hàng truyền thống, nhiều sản phẩm mới thất bại khiến Reynolds chao đảo mạnh hơn. Đó là khi các sản phẩm hoàn toàn từ thiện nhiên trở nên phổ biến, và ngay sau khi mất vị trí số 1 vào tay Marlboro, công ty quyết định tung ra một loại thuốc lá mới hoàn toàn từ thiện nhiên. Họ đặt tên nó là Real. Như thường lệ, họ phớt lờ ý kiến của những kẻ hoài nghi cục bộ. Một kẻ ngoại đạo càu nhàu: “Có phải ta nên bán thứ gì đó cho những người có nhận thức về sức khỏe không? Những người hút thuốc không quan tâm mấy đến sức khỏe.” Nhưng do rất tin tưởng vào sự thành công của Real, các giám đốc điều hành của Reynolds đã bỏ qua thử nghiệm trên thị trường và bán luôn Real trên toàn quốc. Họ chi hàng triệu đô-la cho các quảng cáo thể hiện hình ảnh những người trẻ tuổi da đẻ hồng hào đang thưởng thức thuốc lá Real và truyền tay nhau những gói thuốc với số lượng lớn trên các góc phố. Tất nhiên, Real là một thảm họa thực sự.

Cuối những năm 1970, Sticht chính thức trở thành Tổng Giám đốc Điều hành khi Stokes nghỉ hưu, và Reynolds rời trụ sở khỏi tòa nhà ở trung tâm thành phố, nơi họ đã gắn bó 50 năm đến một tòa nhà bề thế bao quanh hoàn toàn bằng kính cách đó vài dặm. Một giám đốc điều hành tuyên bố Reynolds đã đến với thời đại của di cư, giao tiếp và nhà kính. Nhưng những mưu đồ sớm xuất hiện trong tòa nhà mới đã cho nó một biệt danh màu mè hơn nhiều: Bầy thú thủy tinh.

-

Sau này, Paul Sticht nói sai lầm duy nhất của ông là già quá sớm. Ông đã ngoài 60 khi trở thành tổng giám đốc điều hành, và ngay sau khi ông lên nắm quyền cũng là lúc bắt đầu có những đồn đoán về người kế nhiệm. Người đầu tiên thích hợp là Tylee Wilson, với hai năm kinh nghiệm điều hành mảng kinh doanh ở nước ngoài và là người duy nhất xuất thân từ Đội cận vệ mới sẽ đưa công ty vào thập kỷ 1980. Sticht bổ nhiệm Wilson làm Tổng giám đốc vào năm 1979. Khi Sticht còn là nhân vật số hai, Wilson chịu trách nhiệm toàn bộ mảng kinh doanh thuốc lá của công ty. Ban đầu, ông ta được Sticht chú ý vì đã chăm lo cho mảng thực phẩm đang thua lỗ, èo uột, đưa nó vào khuôn khổ và mang về lợi nhuận. Với tư cách là Tổng giám đốc, Wilson bắt đầu rót hàng tỷ đồng vào nhiệm vụ to lớn là hồi sinh các nhà máy đã già nua của Reynolds.

Wilson đã sớm làm mếch lòng Sticht trưởng giả theo cách sai lầm. Ông là một chiến thuật gia và kỹ thuật viên lạnh lùng, có tính tình ngay thẳng của một quản trị viên, là người biết cân nhắc giữa khả năng và mục tiêu hiện tại. Khi còn trẻ, ông từng là trợ giảng trong quân đội, và ông đã mang phong cách thẳng thắn đó của người Phổ đến ban điều hành. Wilson không biết cười khi chẳng có gì đáng cười và không giỏi nói những lời cay nghiệt. Ông thường bắt đầu nói: “Tôi cho là…”

Rõ ràng, việc kế nhiệm Sticht sẽ là một cuộc đua gay cấn. Nhân vật thứ hai tham gia là Edward A. Horrigan, Jr., Tổng Giám đốc mảng kinh doanh thuốc lá chính của Reynolds. Ed Horrigan, người sẽ để lại vết nhơ không thể xóa nhòa ở Reynolds, là một kẻ hiếu chiến không biết kiềm chế. Ông ta thường khoe khoang mình là người bẩm sinh có lập trường vững vàng. Ông ta điều hành một công ty sản xuất thuốc lá mà chưa bao giờ hút thuốc. Ông từng làm công việc tiếp thị rượu, gia nhập Reynolds vào những năm 1970, và không giống như nhiều người trong Đội cận vệ mới, ông hòa nhập rất tốt ở Winston-Salem.

Horrigan sinh ra ở Brooklyn, là con trai của một kế toán viên. Horrigan đã trải qua tuổi thơ trong thời kỳ khủng hoảng và bố ông phải chịu rất nhiều áp lực tìm việc làm. Ông vào Đại học Connecticut bằng học bổng bóng đá; đù chỉ cao 1m65, ông thừa nhận mình “thích đánh người”. Horrigan làm công việc xây dựng trong kỳ nghỉ hè để có tiền trả học phí đại học, sau đó ông gia nhập quân đội. Ở Triều Tiên, ông chỉ huy một trung đội 200 lính trong trận Old Baldy. Người Bắc Triều Tiên đào công sự trên một ngọn đồi, đẩy lùi quân Mỹ khi họ cố gắng đánh chiếm. Nhưng viên trung úy trẻ vẫn tiếp tục tập hợp tàn quân, và cuối cùng lãnh đạo đơn vị đã hy sinh phân nửa tiến hành cuộc tấn công có tính quyết định. Horrigan tự mình tiêu diệt một ổ súng máy, và trung đội của ông chiếm được ngọn đồi. Ông được tặng huân chương bạc cho tinh thần chiến đấu dũng cảm, nhưng bị thương nên không thể tham gia hết cuộc chiến.

Quay về Mỹ, Horrigan trải qua nhiều công việc liên quan đến marketing, cho đến khi Tylee Wilson thiết tha mời ông đến Reynolds, do thành tích đứng đầu công ty rượu Buckingham của tập đoàn công nghiệp Northwest Chicago. Ở Reynolds, hai người lính già trở thành đồng minh rất tự nhiên, ít nhất là thời gian đầu. Họ cùng cảm thấy xót xa vì đồ uống mang thương hiệu Reynolds đang quá trì trệ. Horrigan phát cáu với kiểu cách lịch lãm, đạo đức làm việc của người miền Nam ở Reynolds. Ông nói với bộ sậu của mình: “Chúng ta cần có một cảm giác mạnh hơn về tính cấp bách ở đây.” Horrigan vẫn quen kiểu nói ngắn gọn như ra lệnh với cấp dưới mà ông thường sử dụng trong quân đội: Họ sẽ đánh bại Philip Morris trên bãi biển, trên không, trên các giá hàng của cửa hàng tiện lợi, khắp mọi nơi. Khi công việc của họ bắt đầu có tiến triển, Horrigan cũng có được sự tín nhiệm nhất định. Khi cấp dưới muốn hỏi ông điều gì nghĩa là họ đã mạo hiểm sẽ bị mắng. Sau lưng, họ gọi ông là Caesar thứ hai. Đây không phải là phẩm chất quý ông mà Sticht thích. Tuy nhiên, Horrigan vẫn là một ứng cử viên.

Ứng cử viên thứ ba cho vương miện do Sticht đang nắm giữ là Joe Abely, một giám đốc tài chính có tài ăn nói đến từ General Foods. Abely trông rất có dáng một tổng giám đốc điều hành với mái tóc bạc đạo mạo. Ông cũng là người có thân thế tốt nhất trong ba ứng viên với tấm bằng luật và kinh doanh Harvard. Ông cũng có chân trong Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, hợp với phe chính khách của Sticht. Nhưng Abely có một phẩm chất dường như sẽ khiến Wilson mếch lòng. Dù không qua được bài kiểm tra về mức độ quý ông, nhưng Abely đã hợp tác chặt chẽ với Sticht trong việc mua lại và cho thấy hiệu quả công việc khi đưa hệ thống tài chính ra khỏi thời kỳ đen tối. (Họ đã phát hiện ra hệ thống kế toán Sea-Land có đầy những hóa đơn chưa thanh toán.)

Sau một thế kỷ với tinh thần “một vì tất cả” thì nay, một cuộc tranh giành vị trí kế nhiệm Sticht đã chia rẽ Reynolds thành nhiều phe tranh đấu. Không còn cái thời mọi người cùng nhau hợp lực vì công ty. Bây giờ, họ chỉ quan tâm đến lợi ích từ chiếc ghế tổng giám đốc điều hành mà vận động cho ngôi sao của họ: Wilson, Horrigan hoặc Abely. Khi chuẩn bị cho một cuộc họp của các nhà phân tích tài chính, Wilson và Abely đã cãi nhau ầm ĩ về việc ai sẽ phát biểu trước đến mức Sticht phải can thiệp. Trong một buổi tập dượt trước cho cuộc họp toàn công ty, Abely đã sử dụng quá thời gian được phân bổ trong khi Horrigan hằm hằm đi vào trong phòng. “Tên nịnh hót đó đang làm cái quái gì vậy,” ông ta cố tình làm to chuyện, “đến lượt tôi rồi”. Abely yêu cầu có nghiên cứu khả thi về việc chia tách Sea-Land. Wilson, người nhận báo cáo từ Sea-Land, biết được điều đó nên đã đến hỏi John Dowdle, thủ quỹ được giao thực hiện nghiên cứu đó. Dowdle nói: “Xin lỗi, tôi không thể nói cho ngài biết. Abley sẽ sa thải tôi nếu tôi nói.” Horrigan thuê một công ty quan hệ công chúng để giúp ông ta được để cử các loại giải thưởng về kinh doanh và giải thưởng vì con người để làm đẹp lý lịch. Horrigan thắng lớn, đoạt giải Horatio Alger.

Sự lộn xộn tiếp sau đó sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến công việc kinh doanh, khơi mào cho âm mưu xảo quyệt tích trữ hàng. Tích trữ hàng không phải là vấn đề của riêng Reynolds; mọi công ty thuốc lá đều làm điều đó ở một mức độ nhất định. Trước các đợt tăng giá thường xuyên nửa năm một lần, Reynolds thường cung cấp một lượng thuốc lá khổng lồ cho khách hàng, các nhà bán buôn và chuỗi siêu thị với giá cũ. Khách hàng thích điều này, vì họ có thể mua vào với giá rẻ, rồi bán ra với giá mới cao hơn. Reynolds cũng thích điều đó vì họ sẽ giải phóng được lượng lớn hàng tồn kho không mong muốn, giữ cho các nhà máy liên tục hoạt động, và quan trọng nhất là tạo ra khoản lợi nhuận lớn giả tạo vào cuối quý.

Tất nhiên, điều này cũng làm nảy sinh vấn đề: tích trữ hàng cũng gây nghiện như nicotine. Để đạt được lợi nhuận cao nhất nhờ tích trữ, công ty cũng phải tích trữ thêm nhiều hơn nữa… và thế là tích trữ không giới hạn. Điều này tạo ra lượng hàng tồn kho lớn ở các nhà bán buôn và bán lẻ. Khi số hàng tồn kho đó không thể bán hết, một trong hai trường hợp sẽ xảy ra, và cả hai đều không tốt. Thuốc lá có thể được chuyển trở lại Reynolds để giảm nợ và công ty phải chịu chi phí chế biến lại thuốc lá cũ thành thuốc lá mới đồng thời rất có thể lại tiếp tục tích trữ. Hoặc họ có thể để thuốc lá trả về vài tháng ở trong kho, khiến chúng mốc meo. Reynolds càng nghiện tích trữ, càng có nhiều người phải hút thuốc lá Winston mốc. Nhiều người có thể chuyển sang hút thuốc Marlboro.

Thấy Reynolds bị hút vào cuộc xung đột chính trị đầy cay đắng, Sticht chật vật tìm một người kế vị xứng đáng để ông có thể giới thiệu cho hội đồng quản trị. Một giám đốc tên là Ronald Grierson đã hiến kế cho ông. Grierson là một nhân vật nổi tiếng người Anh, Phó Chủ tịch của British General Electric. Grierson nói với Sticht ở châu Âu, các công ty thường tìm đến các chuyên gia về chữ viết tay khi phải đối mặt với những quyết định khó khăn như thế này. Đã có người xin ý kiến của một nhà tiên tri ở Thụy Sĩ về những vấn đề như vậy. Bà ta nhìn vào mẫu viết tay của các ứng cử viên kế nhiệm và lắc đầu một cách thất vọng về từng người: không đủ năng lực, không đáng tin, và cứ tiếp tục như vậy.

Sticht vẫn trì hoãn. Một số người tin rằng ông không muốn đưa ra quyết định. Ông đã ở tuổi 60, nhưng người ta có cảm giác như ông mới bắt đầu sự nghiệp thăng hoa muộn màng. Trong khi một số người trong công ty nín thở chờ đợi quyết định cuối cùng của ông, Sticht đưa ra một thông báo thậm chí còn gây sốc hơn: Ông đã đồng ý mua một công ty có tên Heublein với giá 1,2 tỷ đô-la. Những gì ông nhận được là một công ty rượu tốt (Smirnov, Inglenook Wine), một công ty thức ăn nhanh hạng trung (Kentucky Fried Chicken — KFC), và Giám đốc Điều hành của Heublein, Hicks Waldron, ứng cử viên kế nhiệm thứ tư. Waldron đã dành phần lớn sự nghiệp của mình ở General Electric, cái nôi của các nhà quản lý hiện đại. Ông sở hữu nên tảng sáng láng mà Sticht không thấy ở những ứng viên khác. Waldron cũng không hẳn thờ ơ với cuộc chiến kế nhiệm ở Reynolds. Theo Waldron, có một vài điều khoản quan trọng liên quan đến việc bán Heublein: mức giá 63 đô-la/cổ phiếu và lời hứa rằng Tylee Wilson sẽ không trở thành tổng giám đốc điều hành.

Bây giờ, vấn đề người kế nhiệm ngày càng phức tạp hơn. Tháng Mười năm 1982, Sticht bước sang tuổi 65. Ông nói với hội đồng quản trị rằng ông vẫn chưa thể đề xuất một ứng viên nào thay thế. Thay vào đó, ông yêu cầu được tại vị thêm một năm và được chấp thuận. Đã có chút nghi ngờ rằng yêu cầu của ông sẽ không được chấp thuận, vì ở tuổi 65, Sticht khó giành được sự ủng hộ của hội đồng quản trị.

Trong thời đại mà nhiều công ty Mỹ ưa thích những hội đồng quản trị nhu nhược, ra quyết định như cái máy thì ban giám đốc của Reynolds lại mạnh mẽ một cách bất thường. Một trong những thành viên thẳng thắn nhất là John Macomber, Tổng Giám đốc Điều hành của công ty hóa chất Celan. Macomber cũng là Chủ tịch ủy ban lương thưởng của hội đồng quản trị, phụ trách vấn đề tìm ra người kế nhiệm. Ông thuộc tầng lớp có ảnh hưởng ở miền Đông — chưa tốt nghiệp Đại học Yale, tốt nghiệp trường Kinh doanh Harvard, là thành viên trong hội đồng quản trị Trung tâm Lincoln, thành viên Phòng thương mại quốc tế và thân thiết với Sticht. Sticht là thành viên hội đồng quản trị ở Celan và có chân trong ủy ban tìm kiếm người kế vị, nên ông đã mời Macomber đến làm việc.

Từ khi xuất hiện vấn đề về người kế thừa ở Reynolds, Macomber thể hiện ra mặt rằng ai cũng được miễn là không phải Wilson. Celan có quan hệ làm ăn trị giá 25 triệu đô-la/năm với Reynolds. Họ bán nguyên liệu sản xuất thuốc lá, nhưng Reynolds cũng mua nguyên liệu của Eastman Kodak với trị giá gấp đôi. Và khi Macomber vận động để Wilson tăng doanh số thu mua, thì Wilson, vì không phải là người có tài ăn nói trong công ty, đã nói thẳng: “Các anh là nhà cung cấp lớn thứ hai vì hai lý do: chất lượng và dịch vụ.” Macomber tức giận tuyên bố: “Tôi sẽ không tham gia hội đồng quản trị của công ty do Tylee Wilson điều hành.”

Vernon Jordan, cựu Tổng Giám đốc của Urban League, một giám đốc nữa có liên hệ ngành dọc với Macomber-Sticht. Ông cũng là thành viên hội đồng quản trị Celan. Là đối tác trong công ty luật Washington của Akin, Gump, Strauss, Hauer và Feld, Jordan sẵn sàng ủng hộ bất kỳ chủ tịch nào đưa ông vào hội đồng quản trị. Sticht thường mời Jordan đến Bohemian Grove, khu nhà nghỉ của công ty dành riêng cho ông ở Bắc California, một nơi tuyệt vời để vị luật sư tiếp các khách hàng đặc biệt.

Juanita Kreps cũng mang ơn Sticht. Là một giáo sư kiêm hành chính lâu năm ở Đại học Duke, Kreps là người phụ nữ không có thực quyền trong hội đồng quản trị của Reynolds dù trước kia bà cũng có danh tiếng khiêm tốn: thư ký thương mại của Jimmy Carter. Sticht đưa bà vào hội đồng quản trị của Chrysler khi ông là giám đốc của công ty. Sticht thông qua Reynolds đóng góp hậu hĩnh cho Đại học Duke, nơi Kreps là ủy viên quản trị. Nhờ đó, uy tín của Kreps ở Duke được nâng cao. Tên của Sticht gắn liền với sự hào phóng. Ở Đại học Duke có Chủ tịch J. Paul Sticht chuyên tài trợ cho các nghiên cứu quốc tế và học bổng J. Paul Sticht dành cho nghiên cứu sau đại học ở trường kinh doanh, dành tặng một nam sinh xứng đáng ở trường nơi ông từng theo học, Đại học Grove City College.

Một người nữa ủng hộ Sticht là Grierson, người cũng được Sticht dẫn dắt vào hội đồng quản trị Chrysler. Sticht cũng có thể đặt niềm tin vào Albert Butler, người Winston-Salem, đứng đầu một công ty dệt gia đình và phụ trách quỹ từ thiện Moravia trong nhiều năm. Butler là một thành viên của giới quyền lực địa phương. Ông nghỉ hè ở Roared Gap, chơi golf ở Old Town, có chân trong hội đồng quản trị của ngân hàng Wachovia và Đại học Wake Forest. Butler rất hài lòng khi được mời vào hội đồng quản trị của Reynolds, và là một nhân vật hoàn toàn bị động trong đó.

Bill Anderson, Chủ tịch tập đoàn NCR, là kiểu doanh nhân quốc tế mà Sticht chỉ có thể giả bộ giống ông. Anderson lớn lên ở Thượng Hải và nói một số phương ngữ Trung Quốc. Ông phải làm tù binh chiến tranh ở Nhật Bản trong bốn năm thời Thế chiến II, sau đó là nhân chứng quan trọng trong một phiên tòa xét xử tội ác chiến tranh. Vụ án kết thúc với bản án cho 30 người Nhật từng giam giữ ông. Anderson từng chứng kiến những hoàn cảnh hoang tàn hơn nhiều so với thứ lộn xộn của việc tìm người kế nhiệm, nên với việc này, ông cũng chỉ tỏ vẻ hơi ngạc nhiên.

Đó là thái độ của những người có thế lực trong hội đồng quản trị chắc chắn sẽ ủng hộ Sticht. Nhưng nếu các vị giám đốc đó bợ đỡ Sticht, họ sẽ cảm thấy không có nghĩa vụ phải đối xử tương tự với cấp dưới của ông hay người sẽ kế nhiệm ông. Những giám đốc điều hành của Reynolds rất giận dữ về cách họ bị các thành viên hội đồng quản trị cho vào loại thứ yếu. Nhiều năm sau, Ed Horrigan nhớ lại: “Paul có một bầy giám đốc tay chân, họ biết tất cả mọi thứ và ban giám đốc thì chẳng biết gì cả.” Ông và đám tay chân ấy sử dụng công ty như một phương tiện tự để cao bản thân. Thái độ chống đối của Horrigan - một số thành viên hội đồng quản trị gọi ông là tay bán rượu whisky hung hăng — rõ ràng sẽ ảnh hưởng lớn đến cơ hội ông vươn lên dẫn đầu. “Hãy luôn nhớ rằng họ tham gia hội đồng quản trị chỉ vì lợi ích của riêng mình,” Trưởng phòng nhân sự Rodney Austin nói với các đồng nghiệp, “đa số bọn họ là gái điếm, ma cô và những kẻ bỉ ổi”.

Cuộc tranh giành vị trí kế nhiệm kéo dài suốt hai năm cho đến một buổi sáng thứ Bảy đầu năm 1983. Từ sáng sớm, Austin đã đánh thức Horrigan bằng một cú điện thoại, truyền đạt trò chơi khăm của một người trong ban giám đốc. Người đó là Stuart Watson, cựu chủ tịch của Heublein và hiện là một giám đốc ở Reynolds. Ông này ra trước Ủy ban về người kế nhiệm và để cử người của mình, Hicks Waldron, ủy ban đã chấp nhận, Austin nói; có vẻ như Waldron, con ngựa ô đó, đã được chọn.

Horrigan thực sự nổi giận trước diễn biến này, Austin cho rằng vẫn chưa quá muộn để giành giật. “Nhưng hy vọng duy nhất của ông là ngay lập tức kết hợp với Ty và Jerry Long (nhân vật số hai ở mảng thuốc lá) để ngăn điều đó xảy ra.

Cuối tuần đó, Horrigan, Long và Wilson họp với nhau và nhất trí phải chặn Waldron lại. Họ lý luận rằng cách tốt nhất để làm điều đó là sử dụng bản thân để gây ảnh hưởng. Nếu có thể kết hợp với nhau và tạo thành mặt trận đoàn kết đứng sau Wilson hoặc Horrigan, họ có thể hất cẳng Waldron.

Vào thứ Hai, Wilson gặp Sticht và gửi cho ông ta một lá thư viết tay. Wilson thay mặt cho ba người viết: “Chúng tôi không thể chấp nhận Hicks Waldron làm chủ tịch hay tổng giám đốc điều hành. Chúng tôi tin việc lựa chọn Waldron làm người kế vị của ông là sự phản bội không cần thiết. Chúng tôi cho rằng ủy ban tin việc có được các giám đốc điều hành chủ chốt với thành công đã được chứng minh rất quan trọng đối với tương lai của công ty. Tuy nhiên, nếu Waldron được chọn, cả ba chúng tôi sẽ rời công ty”. Lá thư viết tiếp: “Ông ta không xứng đáng. Ông ta không hề có chút kinh nghiệm gì về thuốc lá. Ông ta không thể đảm nhận vị trí này.” Wilson viết: “Đặc biệt là khi ứng cử viên tốt nhất đang ở ngay trước mắt các vị. Chúng tôi trân trọng kết luận rằng tôi là ứng cử viên sáng giá nhất để kế nhiệm ông.”

Cho dù Sticht ghét cay ghét đắng yêu cầu của họ, nhưng bộ ba đó đã dồn ông vào thế khó. Ông không thể mất ba giám đốc điều hành thuốc lá hàng đầu của mình, nhất là khi Philip Morris luôn sẵn sàng vượt qua Reynolds để trở thành công ty thuốc lá hàng đầu đất nước. Sticht gửi bản sao bức thư đó cho các nhân vật trong ủy ban người kế nhiệm. Một số ít người biết về nó đã gọi đó là “bức thư lúc nửa đêm”. Các giám đốc cũng rất tức giận, và họ cũng bị dồn vào thế khó.

Trong khi ba ứng viên đứng ngồi không yên chờ đợi câu trả lời, Macomber thậm chí còn xung phong trở thành một ứng cử viên thỏa hiệp tiềm năng, đó không phải là lần cuối cùng ông làm như vậy. Tranh cãi diễn ra trong nhiều tuần. Trong suốt quá trình đàm phán kéo dài sau cuộc họp thường niên tháng Tư năm đó, Waldron vẫn dành được sự ủng hộ mạnh mẽ. Cuối cùng vào tháng Năm, trong một cuộc họp diễn ra vào thứ Bảy của ủy ban người kế nhiệm ở Winston-Salem, Sticht đã tiến cử người kế nhiệm ông. Hội đồng quản trị miễn cưỡng đồng ý. Sticht bay đến đến trụ sở Heublein ở Hartford, Connecticut để báo tin cho Waldron. “Hicks, chúng tôi đã quyết định điều mà tôi e là không phù hợp với lợi ích cao nhất của các cổ đông, nhưng tôi đã phải làm điều đó.” Sticht nói: “Tôi đã đề cử Ty làm tổng giám đốc điều hành.”

-

Năm 1983, Tylee Wilson được thăng chức làm Tổng Giám đốc Điều hành, và ông đã bắt tay ngay vào công việc tái định hình Reynolds. Giống như nhiều người trong Đội cận vệ mới, xuất phát của Wilson là từ các sản phẩm tiêu dùng, và ông tin rằng các sản phẩm này cũng nằm trong tương lai hoạt động của công ty. Năm 1984, ông tách Sea-Land cho các cổ đông quản lý và cử Joe Abely ra biển, thoát khỏi một kẻ đối đầu tiềm năng. Cùng năm đó, Wilson bán Aminoil với giá 1,7 tỷ đô-la ngay trước khi giá dầu rơi tự do. Các nhà phân tích Phố Wall ca ngợi những thay đổi này và đưa ra các khuyến nghị mua cổ phiếu Reynolds. Tờ Business Week cũng hùa vào tán dương bằng một câu chuyện trang bìa tuyên bố: “Người tiêu dùng một lần nữa lại chèo lái R.J. Reynolds.”

Họ đã có những bước đi thông minh. Sau các rắc rối kéo dài trong suốt những năm 1970, Thuốc lá Reynolds bắt đầu thời kỳ suy giảm kéo dài. Năm 1983, doanh số bán thuốc lá đạt đỉnh và sau đó giảm đều 2% mỗi năm trong những năm tiếp theo. Sự trỗi dậy của phong trào hạn chế hút thuốc lá cũng đóng góp nhiều vào sự suy giảm này. Những người ủng hộ Reynolds gọi họ là “Những kẻ chống đối”. Đến đầu những năm 1980, chưa đến 1/3 người Mỹ hút thuốc. Thuế tiêu thụ đặc biệt của liên bang đánh vào thuốc lá tăng gấp đôi vào năm 1983 lên 16 xu/gói. Thuốc lá vẫn là ngành kinh doanh mang lại lợi nhuận khổng lồ — giá thuốc lá vẫn tăng đều đặn hai lần một năm — nhưng ngay cả những người ủng hộ thuốc lá đến cùng cũng đã nhìn thấy sự thoái trào. Bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, Wilson chỉ đơn giản là đang chuẩn bị sẵn sàng để Reynolds đón nhận điều không thể tránh khỏi.

Horrigan được bổ nhiệm là Tổng Giám đốc của Wilson kiêm Giám đốc điều hành. Liên minh giữa họ thật lỏng lẻo, nhưng Wilson nợ Horrigan vì vai trò của ông ta trong việc soạn thảo “bức thư lúc nửa đêm”. Giờ Wilson khó chịu với Sticht thế nào, thì Horrigan ghét Wilson như thế. Khi có vấn đề về mảng kinh doanh thuốc lá, Wilson không thèm hỏi Horrigan mà đến gặp tay chân của mình là Jerry Long. Ông này thay Horrigan làm Tổng Giám đốc mảng thuốc lá trong nước. Là một người khắt khe đến từng chi tiết, Wilson chỉ trích Horrigan về những chuyến đi cuối tuần của ông ta đến Palm Springs, Horrigan có một ngôi nhà ở đó. Mặc dù Horrigan thường mang theo các giám đốc điều hành khác, Wilson vẫn cho rằng các chuyến đi này mang tính cá nhân hơn là vì công việc. Ông ta chính thức phản đối việc Horrigan sử dụng máy bay phản lực của công ty cho những chuyến đi như vậy.

“Ed, anh đang lạm dụng quá mức đấy,” Wilson nói.

Horrigan nhảy dựng lên. “Ông đang nghi ngờ sự trung thực của tôi à.” Sau đó, khi các kiểm toán viên nội bộ yêu cầu Horrigan phải bồi hoàn cho Reynolds toàn bộ chi phí của một số chuyến đi — với giá vé gấp đôi giá vé máy bay hạng nhất — Tiểu Caesar đã rất tức giận.

Phố Wall có thể thích những ý tưởng của Wilson trong việc định hình lại Reynolds, nhưng Paul Sticht chào đón chúng theo cách ít nhiệt tình hơn: Rốt cuộc, Wilson đã hủy hoại một thập kỷ làm việc của ông ta. Khi nghỉ hưu, Sticht vẫn là thành viên có thể lực của hội đồng quản trị — có lẽ là bởi người có thế lực nhất và luôn theo sát các công việc nội bộ của Reynolds. Wilson đã làm mọi thứ có thể để loại trừ Sticht. Cuộc sống của Sticht xoay quanh những chiếc máy bay phản lực của công ty, nhưng khi Wilson cảm thấy những chuyến đi của ông ta là vì công việc cá nhân, ông kiên quyết đòi Sticht phải trả phí cho chúng. Khi một chủ tịch nghỉ hưu, ông ta sẽ được hưởng một văn phòng làm việc và một thư ký riêng. Sticht có văn phòng, nhưng nó lại ở trụ sở cũ, trung tâm thành phố, cách xa tòa nhà Glass Menagerie mà ông rất yêu quý. Người ta nghe thấy Wilson nói: “Sticht sẽ trở thành cố vấn tình dục cho tôi. Khi nào cần lời khuyên về vấn đề chết tiệt đó, tôi sẽ hỏi ông ta.”

Nhưng Sticht đơn giản là không buông tay. Ông gọi các trưởng phòng tới để hỏi han hoặc thăm dò. Hicks Waldron gọi điện cho ông, nói lại những lời phàn nàn của đồng nghiệp cũ ở Heublein. Một trong những người bất mãn nhất là Sammy Gordon, người đứng đầu bộ phận trái cây tươi của Del Monte. Ông là người được Sticht ủng hộ. Sticht thích ngành kinh doanh này và con trai ông làm việc cho Gordon. Sticht sử dụng kẻ lắm lời Gordon để moi những tin đồn từ những người chống đối Wilson, Wilson nghĩ vậy. Sticht bảo vệ Gordon vì ông ta điều hành công việc kinh doanh này, giống như mấy người bán chuối tự do trên xe đẩy, như ông từng làm.

Phong cách làm việc của Gordon đi ngược lại với niềm tin vững chắc của Wilson vào thứ mà ông ta gọi là “quy trình và thủ tục”. Wilson có lý do chính đáng để tin vào các quy trình quan liêu. Khi công ty ra quyết định về một vấn đề đó, ông tin rằng nếu ai đó tuần thủ đúng các bước công việc và được phê duyệt, họ sẽ đưa ra các kết luận đúng đắn. Wilson nói với các giám đốc điều hành tề tựu quanh ông ngay sau khi nhậm chức: “Quy trình có thể đẩy nhanh tốc độ một cách có trật tự và êm đềm cho các công việc thường ngày, cho phép chúng ta dành thời gian quý báu của ban giám đốc cho các mối quan tâm khác ngoại lệ và đột xuất.” Bài phát biểu đầu tiên đó là một tuyên bố cứng rắn về cung cách làm việc có nguyên tắc. Nhưng nó đã bộc lộ sự cứng nhắc và lạnh lùng, điều này sẽ làm mất đi sự ủng hộ dành cho Wilson khi ông cần nó nhất.

Đôi khi Wilson đi lang thang quanh trụ sở công ty, cố gắng nói đôi câu với các quản lý cấp trung, nhưng vẫn cảm thấy ngại ngùng. Nhưng ông không thể bỏ được bản chất thô lỗ, cục cằn của mình. Khi cho rằng phòng ăn của các giám đốc điều hành quá ồn ào do có quá nhiều quản lý cấp thấp hơn, ông yêu cầu các tiêu chuẩn cao hơn cho những người được vào phòng ăn đó. Ông giải thích một cách sinh động là “R.H.I.P”, sau đó dịch thành: “Rank has its privileges” (Thứ hạng nào đặc quyền ấy).

Ngay từ đầu, mối quan hệ của Wilson với hội đồng quản trị của Reynolds đã không mấy gắn kết. Các giám đốc không thể tha thứ cho chiến thuật thô bạo của ông để giành chức Chủ tịch, và họ không đánh giá cao cách ông đối xử với ông bạn Sticht của họ. Wilson đã cố gắng xây dựng các mối quan hệ theo cách của mình. Ông gửi cho các giám đốc giấy tờ ghi sẵn những chỉ thị trong khoảng thời gian giữa các cuộc họp hội đồng quản trị. Ông lên kế hoạch ăn trưa với từng giám đốc một năm một lần. Trong bữa ăn, ông ghi chép rất nhiều điều vị khách đó thổ lộ, bất cứ điều gì có trong đầu ông; Wilson giữ các ghi chú với từng giám đốc trong những cuốn sổ nhỏ.

Nhưng có một vấn đề quan trọng nhất khiến Wilson cảm thấy bất lực, không giải quyết được. John Macomber vẫn khiến ông khó chịu trong công việc và kiên quyết không hợp tác. Khi Vernon Jordan cố gắng làm các công việc liên quan đến pháp luật, Wilson lạnh lùng đáp trả rằng ông ta không phải là luật sư nên không thể đánh giá liệu mọi việc có phù hợp hay không; ông đề nghị Jordan đến gặp trưởng bộ phận tư pháp của công ty. Trái ngược với các tổng giám đốc điều hành như Paul Sticht và Ross Johnson, những người điều khiển hội đồng quản trị như điều khiển giàn nhạc giao hưởng của riêng họ, Wilson lại không có khả năng cảm thụ âm nhạc.

Ông càng trở nên xa lánh Sticht và hội đồng quản trị khi cắt giảm thể chế mà họ rất yêu quý: hội đồng tư vấn quốc tế. Từ khi thành lập vào những năm 1970, hội đồng này là cái cớ cho các các giám đốc của Reynolds đi chơi đâu đó. Wilson cắt giảm số cuộc họp từ hai xuống một trong một năm, và cách chức chủ tich hội đồng của Sticht, chuyển công việc đó cho nhân viên giúp việc. Wilson biết tất cả những thay đổi này không làm hài lòng Sicht và những người bạn thân thiết của ông trong hội đồng quản trị, nhưng việc cả lợi nhuận và giá cổ phiếu đều tăng khiến ông cho rằng sẽ không có ai phàn nàn về các kết quả ông đạt được.

Sau khi trút bỏ gánh nặng Aminoi Sea-Land, Wilson bắt đầu chuẩn bị cho kế hoạch lớn nhất, một vụ thu mua để hoàn thiện tầm nhìn vĩ đại của ông: nhào nặn Reynolds thành công ty siêu cường trong lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng để cạnh tranh với P&G. Ông thành lập lực lượng tác nghiệp gồm các đại diện của Reynolds và ngân hàng đầu tư Phố Wall của công ty, Dillon Read & Co, để nghiên cứu kỹ và xếp hạng các ứng cử viên. Sau nhiều tháng làm việc với vô số các nghiên cứu trên máy tính, họ đề xuất ba ứng cử viên.

Ứng viên về ba là Pepsi Co, đạt 75 điểm trong bảng xếp hạng thu mua của Wilson. Wilson tiếp cận với công ty này trước một phần vì ông quen Tổng Giám đốc Điều hành Wayne Calloway. Nhưng Wilson thấy Wayne Calloway cũng lạnh như đá, giống một lon Pepsi. Ông ta nói: “Tôi không có cách nào để thảo luận vấn đề này với anh. Nếu anh là kẻ thù của tôi, tôi sẽ đánh bại anh bằng mọi giá.” Wilson từ bỏ ý định với Pepsi.

Ứng cử viên về nhì, với điểm số 76, là Kellogg, người khổng lồ trong ngành thức ăn ngũ cốc. Tuy nhiên, một nửa số cổ phiếu của họ được kiểm soát bởi một công ty ủy thác, và ông nghi ngờ việc có thể bán các cổ phiếu này. Công ty còn lại với 81 điểm đã bị Wilson từ chối với chỉ vài từ ngắn ngủi, vì ông không quen tổng giám đốc điều hành bên đó. Theo như nhóm tác nghiệp, cuộc hôn nhân phù hợp nhất với Reynolds là Nabisco Brands được dẫn dắt bởi một người Canada có tính tình vui vẻ dễ gần tên là Ross Johnson.

-

“Ồ, tôi có biết ông,” Johnson nói, ông đã tình cờ gặp Wilson vài lần trong những năm qua.

Hai giám đốc điều hành gặp nhau vào tuần sau đó để bàn về kế hoạch sáp nhập tại văn phòng của Johnson ở trung tâm thành phố Manhattan, và Wilson trình bày kế hoạch của mình. Ông giải thích Reynolds cần một vụ thu mua lớn để giảm bớt sự phụ thuộc vào thuốc lá và nghĩ rằng Nabisco là lựa chọn hoàn hảo. Trong khi nói chuyện, hai người đọc qua các báo cáo hằng năm của nhau.

Họ thư thả tán gẫu, Johnson tỏ thái độ rụt rè, không trả lời ngay. Wilson nghi ngờ khả năng Johnson sẽ chấp nhận. Ông đã nghe được các tin đồn về việc Nabisco và Philip Morris đang thăm dò nhau và nghĩ Johnson sẽ cần có động lực để bán. Để chắc chắn, Wilson cố gắng thuyết phục bằng một đề nghị. Hai người họ bằng tuổi nhau và Wilson không có ý định giữ chức vụ tổng giám đốc điều hành đến 65 tuổi. Ông nói với Johnson ý định sẽ nghỉ hưu sau hai hoặc ba năm, và gợi ý chắc chắn Johnson sẽ là lựa chọn đầu tiên thay thế ông làm người đứng đầu công ty sau sáp nhập. Hai người thảo luận về các điều khoản và đồng ý rằng nếu chọn theo đuổi vụ sáp nhập này, họ sẽ thực hiện hoán đổi cổ phiếu không tính thuế. Họ chia tay và hẹn gặp lại sau vài tuần nữa. Trong thời gian đó, cả hai sẽ có các cuộc họp với hội đồng quản trị của mỗi bên để quyết định xem thương vụ này có thể tiến hành hay không.

Wilson rời văn phòng ở tòa nhà chọc trời của Johnson, tầm nhìn vĩ đại của ông gần như đã đạt được, nhưng khi họp với các giám đốc vào cuối tháng Tư năm 1985, ông thấy họ rất lạnh nhạt với ý tưởng sáp nhập với Nabisco. Một số người vô cùng tức giận. Đây sẽ là thỏa thuận lớn nhất trong lịch sử của Reynolds: Tại sao trước đó hội đồng quản trị không được thông báo về điều này? Wilson gắt gỏng nêu lý do ông và Johnson mới chỉ có cuộc trò chuyện sơ bộ nhất: không bàn đến chuyện tiền nong, chưa bàn đến nghĩa vụ của các bên. Thế còn việc ông hứa hẹn với Johnson về chức chủ tịch thì sao? Các thành viên trong hội đồng phản đối. Kế nhiệm là đặc quyền của họ. Các giám đốc cũng không thích ý tưởng sáp nhập miễn thuế; nếu có bất kỳ thỏa thuận nào được thực hiện, Reynolds phải là bên mua. Họ quở trách nghiêm khắc, yêu cầu Wilson từ bỏ ý định.

Wilson vẫn kiên định: “Thương vụ này vẫn sẽ được thực thiện. Chắc chắn như vậy.” Ông bảo đảm với Horrigan trong lúc hai người ăn trưa. “Nhưng trong lần gặp tới, Ross Johnson sẽ không có nhiều quyền lực như vậy. Chúng ta sẽ là người thâu tóm. Ông ấy sẽ chỉ được giao chức phó chủ tịch.”

Trên thực tế, các cuộc đàm phán đã nhen nhóm vài tuần sau đó. Một đội quân nhỏ gồm các luật sư và nhân viên ngân hàng đầu tư ở Phố Wall đã tham gia đàm phán. Các giám đốc đã bị thuyết phục, Reynolds đồng ý với nguyên tắc mua Nabisco bằng tiền mặt. Điểm duy nhất bế tắc là giá cả. Sau đó, trong khi họ tiến hành các cuộc đàm phán, cổ phiếu của Nabisco bắt đầu tăng giá, một dấu hiệu chắc chắn cho thấy nội dung đàm phán đã bị rò rỉ[3]. Johnson coi đó là cơ hội để moi thêm tiền từ Wilson. Khi giá cổ phiếu tăng lên 80 đô-la, Wilson cho biết ông không thể trả hơn nữa. “Được thôi,” Johnson nói, “ông sẽ không có thỏa thuận nào ở mức 80 đô-la.” Bế tắc được khơi thông khi Wilson đồng ý trả thêm cho họ cổ phiếu ưu đãi, đưa giá lên 85 đô-la/ cổ phiếu, tức là thương vụ này có trị giá 4,9 tỷ đô-la. Vào thời điểm đó, đây là vụ sáp nhập lớn nhất, ngoại trừ các vụ sáp nhập trong ngành dầu khí.

Cảm thấy Wilson rất muốn thực hiện vụ sáp nhập này, Johnson đã khéo léo mặc cả để có được điều khoản phụ. Bất chấp tình yêu của Sticht với các máy bay phản lực, những đặc quyền của Reynolds vẫn kém hơn hẳn của Nabisco. Hầu hết mọi thứ đều có thể thương lượng, Johnson nói, nhưng các đặc quyền thì không thể. Wilson cho rằng việc tất cả nhân vật hàng đầu của một công ty bánh quy đều có căn hộ của công ty là vô lý, nhưng ông lại không thể từ bỏ giấc mơ vì những mối quan tâm nhỏ nhặt của Johnson nên cuối cùng, Wilson đã nhượng bộ. Johnson khăng khăng đòi được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc kiêm giám đốc điều hành, nhân vật số hai sau Wilson. Ông mô tả nó như một tín hiệu cho người của Nabisco thấy họ sẽ không bị lãng quên; Wilson cũng nhượng bộ với yêu cầu đó luôn.

Tất nhiên, vấn đề là khi nâng Johnson lên, Wilson sẽ buộc phải hạ bệ Horrigan kiêu hãnh, nóng nảy. Ông nhẹ nhàng thông báo tin tức này với Horrigan, hứa sẽ trao cho ông ta một thỏa thuận hấp dẫn, chức phó chủ tịch và một văn phòng làm việc mới trong văn phòng dành cho ba vị chủ tịch. Horrigan không có sự lựa chọn nào khác nên đã mủi lòng, tự an ủi với thực tế rằng ông ta sẽ trở thành một phần trong bộ ba cai trị đế chế mới khổng lồ.

Vào một ngày cuối tháng Năm năm 1985, hội đồng quản trị của Reynolds họp bàn qua điện thoại để hoàn tất các chi tiết. Horrigan, lúc này đang trên đường tới Australia để kiểm tra tình hình của Reynolds ở đó, đã dừng lại ở Del Monte, San Francisco để tham gia họp. Wilson đang ở New York để đàm phán, đánh dấu vào từng mục của các điều khoản cuối cùng, sau cùng là cơ cấu lại ban giám đốc. “Ross Johnson sẽ trở thành tổng giám đốc kiêm giám đốc điều hành,” Wilson nói, “Ed đã đồng ý chấp nhận vị trí phó chủ tịch.”

“Tôi muốn nghe chính Ed nói điều này,” John Johnley ở Monsanto hỏi. “Ông có chấp nhận điều này không?”

Horrigan đã có một bài phát biểu ngắn với thái độ ôn hòa - một số người nghĩ rằng nó hoàn toàn khác với cá tính của ông - nói rằng ông nên viết bài phát biểu này ra giấy trong một dịp như thế này. Trong vài phút, ông nói một cách tự hào về sự cần thiết phải hy sinh các tham vọng cá nhân cho những điều tốt đẹp hơn. Sau đó, Wilson tiếp lời, tuyên bố sẽ có một “văn phòng chủ tịch”, nơi làm việc của Wilson và Johnson. Ông không hề đả động gì đến Horrigan.

Ở San Francisco, Horrigan chết lặng. Wilson đã đợi cho đến khi ông ta kết thúc bài phát biểu tự kết liễu rồi mới ra đòn. Horrigan cảm thấy mình là vật hy sinh trong toàn bộ thỏa thuận này. Horrigan lắng nghe trong tâm trạng hoang mang, phẫn nộ cho đến khi các giám đốc kết thúc cuộc họp. Ông nói: “Ty, khi cuộc gọi này kết thúc, tôi muốn ông gọi cho tôi.”

“Được thôi, Ed,” Wilson trả lời cụt ngủn.

Trong một phút, Horrigan ngồi một mình. Ông bắt đầu khóc, cơn giận dữ điên cuồng và nỗi thất vọng làm nước mắt ông trào ra, chảy thành những giọt dài trên má, cuối cùng Wilson cũng gọi lại.

“Tôi không tin vào những gì ông vừa nói trong cuộc gọi chết tiệt đó,” Horrigan tấn công luôn. “Chúng ta đã có thỏa thuận rằng tôi sẽ làm việc trong văn phòng đó.” Ông nổi giận khi bị ép phải từ chức. Wilson là một kẻ khó ưa, dối trá. Làm sao ông ta có thể chơi xỏ ông như thế ngay trước toàn bộ hội đồng quản trị.

“Nào, bình tĩnh đi, Ed, hãy bình tĩnh.”

“Tôi không thể bình tĩnh,” Horrigan hét lên. “Trừ khi ông thay đổi và để tôi làm việc trong văn phòng chủ tịch, nếu không tôi sẽ công khai tất cả những gì tôi vừa nói với hội đồng quản trị. Tôi sẽ hủy hoại tất cả. Tôi sẽ không rời khỏi điện thoại cho đến khi ông gọi lại và thực hiện thỏa thuận giữa chúng ta.”

Wilson gọi cho Johnson và nói rằng cần phải để Họrrigan làm việc trong văn phòng chủ tịch. Johnson hoàn toàn không biết gì về sự lừa dối của Wilson và các vấn đề nội bộ ở Reynolds nói chung nên sẵn sàng đồng ý.

Wilson chuyển lời cho Horrigan, đồng thời ca ngợi sự sẵn sàng thỏa hiệp của Johnson. Nhưng Horrigan cho rằng Johnson cũng là đồng lõa trong vụ dối lừa này; ông biết tất cả những mánh khóe của Johnson để nắm trọn quyền lực ở Standard Brands và Nabisco. Horrigan bảo đảm Johnson đang cố gắng loại bỏ Wilson trước khi việc sáp nhập hoàn tất. “Chúc ông gặp nhiều may mắn,” Horrigan nói. “Ross Johnson sẽ chiếm lấy vị trí của ông trong vòng 18 tháng. Hãy nhớ lấy điều đó.”

“Ông ấy sẽ làm thế,” Wilson đáp trả, “chúng tôi đã có thỏa thuận. Ông ấy sẽ nắm vị trí này khi tôi nghỉ hưu.”

“Thỏa thuận chết tiệt,” Horrigan cười phá lên.

Khi việc sáp nhập hoàn tất vài ngày sau đó, Wilson hớn hở đến Washington để tham dự buổi dạ tiệc ở nhà hát Ford. Tại đây, ông được gặp người bạn tốt của Johnson, Jim Robinson của American Express. Robinson sinh ra và lớn lên ở Atlanta. Thỉnh thoảng, ông đến nghỉ hè ở nhà mẹ ở Roaring Gap. Ông hiểu rõ cả Nabisco và Reynolds; trên thực tế, Johnson đã hỏi ý kiến của Robinson trong quá trình đàm phán sáp nhập kéo dài. “Ông sẽ thích Rawss,” Robinson nói bằng giọng miền Nam nhẹ nhàng. “Ông ấy là người tốt, và tôi nghĩ hai người sẽ hòa hợp với nhau.”

Có thể nói mọi việc diễn ra suôn sẻ trong tuần đầu tiên sau khi sáp nhập, dù những khó chịu ngấm ngầm rồi sẽ xuất hiện trở lại. Bởi Reynolds đã mua Nabisco, nên tin tức về vụ sáp nhập được chào đón đầy thiện ý ở Winston-Salem. Mọi người dân địa phương đều tự hào vì họ đã giành được quyền kiểm soát một công ty lớn ở miền Bắc. Bất đồng duy nhất đến từ Horrigan, người luôn kinh sợ những kẻ ngoại đạo. Horrigan liên tục càu nhàu với Wilson về những đặc quyền của các giám đốc điều hành Nabisco, về việc tại sao Laurie Johnson cứ luôn đi cùng Ross, trong khi điều đó lại bị cấm theo chính sách của Reynolds. “Ross Johnson là một con rắn, một kẻ hạ lưu.” Ông ta tuyên bố với những người chịu nghe ông nói, “sẽ có ngày chúng ta hối tiếc vì đã đâm đầu vào mấy gã này”. Khi Ty và Pat Wilson tổ chức một bữa tiệc trưa chào mừng Johnson đến Winston-Salem, Ed và Betty Horrigan đều vắng mặt.

Johnson cũng sớm tỏ ra không mấy thiện cảm với Horrigan, dù ông không có khả năng ghét ai đó như kiểu của Horrigan. “Tôi không có cách nào yêu cầu Ed Horrigan báo cáo điều gì cho mình,” ông nói với bạn bè. “Tôi không thích và cũng không tin ông ta.” Đôi khi Johnson suy nghĩ xa xôi về việc liệu Horrigan có nhận hối lộ từ những tay phân phối rượu có quan hệ làm ăn với Heublein không, công ty này có phải báo cáo cho Horrigan không. Càng biết nhiều về Horrigan, Johnson càng ít sử dụng ông ta. “Ed đã chết từ khi tôi điều hành công ty này,” Johnson tuyên bố.

Ngoại trừ Horrigan, ban đầu Johnson rất được mọi người chào đón ở Reynolds. Chỉ có một mình Johnson trong số các giám đốc điều hành của Nabisco chuyển đến Winston-Salem. Ông mua một ngôi nhà lớn ngay bên ngoài sân golf của Old Town. Nhiều người nói rằng ông rất quyến rũ, luôn cười tươi, khác hẳn với Wilson, tay người Phổ luôn cau có. “Tôi biết những gì họ nói về ông ta, nhưng tất cả đều không đúng,” Rodney Austin thổ lộ. “Tôi nghĩ ông ấy rất tuyệt.” Trong những tuần đầu tiên ở Winston-Salem, Johnson nỗ lực hết sức để hòa đồng. Ông tự lái một chiếc Jeep Wagoneer đi vòng vòng, mời mọi người ăn tối và tham gia hội đồng quản trị của Hiệp hội Động vật học Bắc Carolina. Hầu hết mọi người ở Winston-Salem đều có ấn tượng tốt với ông, nhưng không phải tất cả. Ginny Dowdle, vợ của John Dowdle, một thủ quỹ ở Reynolds, sau khi quan sát đã nói về Johnson bằng một cụm từ duy nhất: “Gã không đáng tin”.

Bên dưới các nhân vật chóp bu, sự khác biệt giữa hai công ty là quá lớn, chẳng bao lâu sau điều này đã được bộc lộ rõ. Khi Reginald Starr, người đứng đầu bộ phận phục vụ cổ đông của Reynolds, đến New Jersey trong cuộc họp đầu tiên với các đối tác Nabisco, họ đón ông trong nhà chờ máy bay Morristown với hai chiếc limousine màu trắng có kính mờ. “Tôi không biết nữa, với tôi, trông họ như mafia vậy.” Starr, một nhân viên kỳ cựu đã làm ở Reynolds 30 năm, nói: “Thật phô trương. Tôi đã rất bối rối khi thấy mình được đón tiếp như vậy.”

Cuộc đón tiếp đầu tiên với Wilson ở Nabisco chẳng khá hơn. Khi bước ra khỏi chiếc máy bay phản lực của Reynolds để đi vào nhà ga Morristown, Wilson đã hút thuốc. Giám đốc điều hành hoạt động bay của Nabisco tên là Linda Galvin quát lên: “Này! Không được hút thuốc ở đây.” Giật mình, Wilson bỏ điếu thuốc xuống và rụi nó đi. Nếu điều đó vẫn chưa đủ, thì đội Reynolds còn phát hiện ra đám người của Nabisco rất khệnh khạng. Trong chuyến bay trở về, Nancy Holder, người lên kế hoạch cho các cuộc họp của Reynolds, kéo Wilson ra một nơi nói: “Hãy cẩn thận, Ty. Standard Brands đã sáp nhập với Nabisco, và bây giờ chẳng còn ai là người của Nabisco.” Paul Bott, một nhà lập kế hoạch hàng đầu, chế giễu: “Đừng lo, Ty thừa thông minh để biết phải làm gì.”

Ngay cả các sản phẩm của hai công ty cũng không dễ hòa trộn với nhau, một số người còn nói như vậy thật gượng ép. Ngay từ đầu, Horrigan đã biết một trong những thương hiệu của Nabisco, bơ thực vật Fleischmann, đã phát triển chiến dịch tiếp thị chung với Hiệp hội Tim mạch Mỹ, và một số hoạt động khác nữa, kêu gọi người tiêu dùng không hút thuốc. Horrigan rất bực mình vì điều đó; ngay sau đó, chiến dịch đã bị hủy bỏ. Tất nhiên, Johnson lại tỏ thái độ giễu cợt về sự kết hợp giữa các sản phẩm bổ dưỡng của Nabisco với “những tay buôn bán thần chết” ở Reynolds. Mẹ và bánh táo kết hợp với hộp sọ và xương chéo,” ông cười khúc khích. Nhưng với Đội cận vệ cũ của Nabisco, chuyện này chẳng gây cười chút nào. Nếu các thợ làm bánh lạnh lùng của Nabisco từng chế giễu các nhà quản lý rượu Standard Brands là những “cậu bé say rượu”, giờ họ thậm chí còn thấy kinh khủng hơn khi gia nhập một công ty thuốc lá. Ở Washington, RJR Nabisco thành lập hai ủy ban hành động chính trị, một cho Reynolds, một cho Nabisco. Các nhân viên của Nabisco không muốn góp công vận động hành lang cho thuốc lá.

Johnson, người nhìn chung có quan hệ tốt với hội đồng quản trị của Nabisco và Standard Brands, ngay lập tức cảm nhận được sự căng thẳng giữa Wilson và các giám đốc ở Reynolds. Sau cuộc họp đầu tiên của hội đồng quản trị sau sáp nhập, ông đã có ấn tượng rất mạnh về tính bè phái và dễ nổi nóng của mọi người ở đây. Một bên là Sticht, Macomber, Jordan và Kreps túm tụm để thảo luận điều bí mật gì đó. Bên kia cách xa bọn họ, Wilson phàn nàn về các giám đốc, cho rằng họ đang xem thường mình. “Wilson không thích họ và họ cũng chẳng thích ông ta,” Johnson nhớ lại. “Rõ ràng là ở đây có rất nhiều mô sẹo.”

Năm giám đốc của Nabisco, gồm cả Andy Sage, có tên trong hội đồng quản trị 20 người của RJR Nabisco. Charles Hugel, một tổng giám đốc hòa nhã của Combustion Engineering có trụ sở tại Connecticut, khi đi ăn trưa với Wilson sau khi gia nhập hội đồng quản trị đã sững sờ khi nghe Wilson công khai chỉ trích các giám đốc khác. Wilson chửi bới từng giám đốc trong khi Hugel nhìn ông chằm chằm đầy kinh ngạc. Tại sao ông ấy lại nói với mình điều này? Hugel nghĩ. Làm sao mình có thể tin tưởng ông ta khi ông ta cho mình thấy hội đồng quản trị chỉ toàn là lũ ngốc? Không hiểu đó có phải là bản năng của ông ta không?

Xét về mặt kinh doanh, lý thuyết đằng sau vụ sáp nhập này là việc kết hợp danh mục khổng lồ các sản phẩm của Reynolds và Nabisco, công ty mới thành lập có thể có số lượng người mua lớn hơn, đáp ứng nhiều nhu cầu hơn, chiếm được những vị trí tốt hơn trong các gian hàng ở siêu thị và chiết khấu tốt hơn cho người bán buôn. Wilson chắc chắn bằng cách tuân theo quy trình và thủ tục mà ông yêu thích, thành công là điều không phải bàn. Ông thành lập các lực lượng chuyên biệt để nghiên cứu những chương trình marketing chung, quản lý chéo và nhiều phương cách khác để khai thác những thứ mà theo ông có tiềm năng to lớn. Nếu khát vọng của Stick là được đi dạo với các vị vua, thì khát vọng của Wilson là trở thành anh hùng, được sinh viên trường Kinh doanh Harvard lấy làm khuôn mẫu nghiên cứu học tập.

Tất nhiên, Hội anh em vui vẻ của Johnson thì cho rằng Wilson là đồ dở hơi. Tất cả bọn họ đồng lòng ở lại Nabisco tại New York khi thấy bản thân bất lực, không địch nổi những ông chủ ở Winston-Salem xa xôi. Dưới sự lãnh đạo của Wilson, bất kỳ động thái chiến lược nào, từ quảng cáo đến thay đổi hộp bánh quy, đều phải trải qua nhiêu lượt phê duyệt và hàng tuần chờ đợi. Người của Nabisco không thể tin cả việc Wilson có rất nhiều nhân viên cũng như sự chậm chạp trong cách thực hiện công việc. Một nhóm đặc nhiệm đã nghiên cứu cách lắp đặt một hệ thống viễn thông và máy tính để gắn kết toàn bộ để chế này. Đối với Wilson, đó là một phương tiện quy mô lớn để tăng hiệu quả làm việc. Đối với Nabisco, đó là một cơn ác mộng. John Gora, một giám đốc điều hành bộ phận kẹo Nabisco cho biết: “Cứ như thể chính phủ liên bang đã mua chúng tôi vậy.”

Bị tách khỏi Johnson, nhiều trợ thủ lâu năm của ông trở nên bồn chồn, lo lắng. Chỉ sau sáu tháng dưới chế độ Wilson, một số người đã sẵn sàng ra đi. Ed Robinson, Giám đốc Tài chính của Nabisco, đã có cơ hội đảm nhận một chức vụ cấp cao ở A&P, chuỗi cửa hàng bách hóa. Peter Rogers cũng quyết định sẽ từ chức, và Andy Barrett, Giám đốc Nhân sự của Nabisco, đã xúc tiến tìm công việc mới ở nước Anh, quê hương ông. Bob Carbonell thì phàn nàn về cung cách phải giơ tay xin phép khi muốn đi vào nhà vệ sinh. Martin Emmett đã rời đi trước khi sáp nhập dù ông vẫn còn đang trong biên chế với tư cách là chủ tịch của Nabisco Canada.

Johnson bay đến New York và kêu gọi bạn bè hãy kiên nhẫn. Ông an ủi họ rằng mọi thứ sẽ thay đổi. Nhưng ông biết chẳng dễ gì giữ họ ở lại lâu hơn; họ hầu như không cố gắng che giấu sự xa cách và cảm giác của một thực thể tách rời. Tại Giải đấu Dinah Shore Golf Tournament, có người giới thiệu giám đốc điều hành của Del Monte đã nghỉ hưu cùng Ed Robinson và ông này đang cố gắng làm cho buổi nói chuyện trở nên thoải mái:

“Anh ở phe RJR hay phe Nabisco?” ông ta hỏi.

“Chẳng phe nào hết,” Robinson trả lời. “Tôi là người của Standard Brands.”

Khi cảm giác tuyệt vọng của Hội anh em vui vẻ tăng lên, Johnson chỉ đạo người phụ trách quan hệ công chúng, Mike Masterpool, tổ chức một bữa tiệc kỷ niệm 10 năm lật đổ Henry Weigl. Bữa tiệc được tổ chức vào tháng Năm năm 1986 tại Câu lạc bộ Brook ở New York, tập hợp hàng tá những kẻ âm mưu cùng Johnson, và những người trong hội đồng quản trị đã ủng hộ họ trong cái ngày định mệnh năm 1976. Những người trong Hội anh em vui vẻ thay phiên nhau đọc các biên bản cuộc họp hội đồng quản trị, lớn tiếng chúc mừng, xung phong kể những câu chuyện về Weigl, rồi cười lớn; và, tất nhiên, họ uống rất nhiều. Johnson kỷ niệm buổi tối hôm đó bằng cách trao cho mọi người một cái chặn giấy, trên đó khắc các con số: 10-5-1. Ý nghĩa của chúng là: 10 năm kể từ khi Standard Brands bị lật đổ, năm năm kể từ khi sáp nhập Nabisco, một năm kể từ khi sáp nhập Reynolds. Kết luận là: Sự nô dịch hóa này rồi cũng sẽ qua.

Trong khi đó, Johnson đã làm hết sức mình để lấy lòng Tylee Wilson. Việc này không hề dễ dàng. Hai người họ hoàn toàn đối lập nhau, và không giống như Bob Schaeberle, Wilson không phải là người dễ bị chơi xỏ. Wilson yêu cầu mỗi giám đốc điều hành phải nộp lịch trình làm việc hằng ngày của họ cho ba tháng tới; bản thân Wilson cũng lên kế hoạch cho mình đến từng phút cho quý tiếp theo. Lịch trình của Johnson có thể thay đổi từng phút. Ông có thể bất thình lình rời Winston-Salem vào cuối buổi chiều và bay đến New York để ăn tối. Những ngày cuối tuần, Wilson thích thư giãn một mình trên thuyền riêng còn Johnson thích tụ tập quanh những người bạn nổi tiếng, tổ chức một bữa tiệc suốt cuối tuần, mời một hoặc hai giám đốc bách hóa đến, vui chơi nhảy nhót, quên hết mọi thứ.

Wilson xét nét chi phí công tác của Johnson. Khi ông nhận được hóa đơn chi tiêu cuối tuần trị giá 13.000 đô-la tại một câu lạc bộ đồng quê ở bang Colorado, ông đã hỏi Johnson rằng tiệc tùng om sòm có thực sự cần thiết không. Johnson có thể luôn phải bịa ra một lý do tuyệt vời, về mức độ chi phí tương đối nhỏ đó so với thiện cảm mà phe mình nhận được, từ các giám đốc điều hành công ty bách hóa. Lão châm chọc: “Một giây qua đi, vài triệu đô-la đã là quá khứ xa vời.”

Về phần mình, Wilson lo rằng Johnson có phong cách giống những người bán hàng rong vẫn thấy trên tivi và họ thường hét lên: “Chúng tôi không thể bán rẻ hơn.” Ông ta cứ luôn đề ra các ý tưởng mới không thuộc vấn đề mà Wilson quan tâm. Một số ý tưởng cũng hấp dẫn dù Johnson có thể sẽ chuyển nó thành một khái niệm hoàn toàn khác vào ngày hôm sau.

Ít nhất cũng đã có một ý tưởng của Johnson, điều này khiến Wilson thấy không an tâm. Ngay sau khi việc sáp nhập hoàn tất, có một loạt các vụ kiện mới chống lại những công ty thuốc lá, buộc tội họ đã gây ra cái chết cho người hút thuốc. Cổ phiếu của Reynolds vốn luôn tăng đều đặn đã giảm hơn 10 điểm, chỉ còn khoảng 25-26 đô-la. Johnson xông vào văn phòng của Wilson. “Ông biết đấy, Ty, ta phải suy nghĩ nghiêm túc về việc thực hiện LBO.”

Wilson lạnh lùng nhìn Johnson. Ông biết nhiều vụ LBO và không thích chúng một chút nào. “Ross,” ông nói, “tôi không nghĩ nhiều về điều đó đâu.” Ông cho Johnson một bài về việc tại sao thuốc lá thắng các vụ kiện, và cách thức để các cổ phiếu thuốc lá phục hồi. “Tôi biết thời gian này thực sự khó khăn,” ông nói, “nhưng đó chỉ là một khoảng lặng tạm thời mà thôi.”

Dù có phong cách sống hoàn toàn khác biệt, nhưng Wilson và Johnson hiếm khi bất đồng với các vấn đề kinh doanh. Wilson bắt đầu đánh giá cao tư duy nhạy bén của Johnson. Johnson đặc biệt hữu ích với sếp mình khi xử lý việc hợp nhất Nabisco và Del Monte theo kế hoạch. Johnson cũng đã ghi điểm trong việc sa thải Sammy Gordon, nhân viên phụ trách mảng kinh doanh chuối, người rất thân với Paul Sticht. Sau hầu hết các vụ sáp nhập lớn, một số công ty con sẽ bị bán. Johnson và Wilson dễ dàng thống nhất sẽ bán công ty nào. Một trong số đó là Canada Dry. Một công ty nữa là thực phẩm đông lạnh Del Monte. Vẫn như mọi khi, Johnson là người thực hiện công việc mà ông rất thành thạo.

Thật ra, Wilson rất hài lòng với Johnson, đến mức ông còn khuyến khích Johnson làm quen với các thành viên của hội đồng quản trị. Sticht, người ban đầu gán cho Johnson tính cách của kẻ lươn lẹo, đã đi cùng chuyến bay xuyên Đại Tây Dương với ông và sau này nói một người bạn trong buổi tiệc trưa: “Ông ấy cũng không đến nỗi nào.” Các giám đốc khác thậm chí còn thân với ông hơn. Cũng giống như với Henry Weigl 10 năm trước, sự hấp dẫn rất dễ chịu của Johnson hoàn toàn trái ngược với tính cách cáu kỉnh của Wilson. Wilson cấp tốc chuẩn bị bài diễn văn năm điểm về lý do tại sao Canada Dry không còn phù hợp với kế hoạch chiến lược của công ty, do đó công ty phải thoái vốn khỏi nó. Johnson chỉ đơn giản nói với các giám đốc: “Các anh có thể làm nên chuyện ở bên đó! Người của Coke và Pepsi đang đợi các anh đó.”

Sau lưng Wilson, Johnson lại chọc quê ông ta, gọi ông là “Jiggerballs”. Không ai biết chính xác điều đó có nghĩa là gì, nhưng rõ ràng biệt hiệu đó không thể hiện sự trìu mến. Trong các chuyến đi đến New York, Johnson bịa ra những câu chuyện tuyệt vời về Wilson, và ấp úng nói về công việc kinh doanh thuốc lá cho những người bạn đang tuyệt vọng của ông. “Này, nếu nghe theo những gã đó, các anh sẽ nghĩ rằng chúng ta đang tấn công Philip Morris,” Johnson nói với họ. “Chuyện này làm tôi nhớ đến một võ sĩ, anh ta tấn công đối thủ dữ dội, cuối hiệp anh ta quay lại chỗ huấn luyện viên ở góc sàn đấu và nói: ‘Anh ta không bao giờ đánh trả tôi’. Huấn luyện viên còn nói: ‘Chà, hãy để mắt tới trọng tài, bởi có ai đó đang tấn công ông.”’

Sau tám tháng ở Winston-Salem, Johnson hăng hái tạo ra những sự hào nhoáng giả tạo như trước đây, ông cũng sắp xếp để có được một cú đúp vào tháng Ba ở Palm Springs. Đối với các giám đốc điều hành và giám đốc ở Reynolds, ban đầu giải đấu Dinah Shore khiến họ rất thích thú. Những người đến đây được chấp nhận tham gia sự kiện bằng cách mỗi người phải khoe một chiếc đồng hò Gucci trị giá 1.500 đô-la. Năm đó, “Đêm với Dinah” có sự tham gia của ca sĩ nhạc trữ tình Frank Sinatra, diễn viên hài Bob Hope và người dẫn chương trình Don Meredith. “Có một lỗ thủng khủng khiếp ở đây,” Meredith nói, ám chỉ đài phun nước ở phía trước. “Tuy nhiên, đừng lo lắng; Ross sẽ ném đủ số tiền vào đó để gắn nó lại.” Albert Butler, người có gia đình bề thế ở Winston-Salem, thấy mình được ghép đôi với ngôi sao golf Pat Bradley và huyền thoại bóng chày Johnny Bench, đã cầu nguyện ông sẽ không đánh bóng vào đám đông giống như cựu Chủ tịch Gerald Ford, người cũng đang chơi ở đó.

Người của Reynolds chưa bao giờ thấy bất cứ điều gì như thế. Trong những năm qua, công ty đã tài trợ cho các sự kiện thể thao, nhưng phần nhiều là về đua xe ô tô không chuyên. Cuộc vui với những trận golf kéo dài cả tuần và kết thúc đầy mê hoặc với nhiều quà tặng: giày chơi golf và áo phông tennis của Nabisco, máy ảnh Polaroid và máy nghe đĩa loại nhỏ — tất cả những gì mà va li của người được mời có thể chứa được. “Tất cả chúng tôi đều vô cùng kinh ngạc,” Butler nhớ lại. Chính tại Dinah Shore, mối quan hệ vốn căng thẳng giữa Wilson và Sticht đã đi đến chỗ đổ vỡ, khi Sticht không thể dành được một ghế trên máy bay phản lực của RJR để về nhà. Ông ta đổ lỗi cho Wilson. Ba tháng sau, khi Sticht vẫn còn tức giận thì vào một buổi sáng, khi đang trên ô tô đi vào trung tâm thành phố Winston-Salem, ông nhìn thấy một tòa nhà mới xây gần nhà máy thuốc lá Whitaker Park. “Cái gì kia?” ông hỏi người tài xế tên là Eddie.

“Đó là nơi họ sẽ sản xuất thuốc lá không khói,” Eddie trả lời.

“Cái gì?” Sticht kinh ngạc hỏi.

Sticht ngay lập tức đi gặp Wilson. Wilson thừa nhận công ty đang bí mật phát triển một sản phẩm đột phá, một loại thuốc lá công nghệ cao mới, thuốc lá không khói. Wilson cho biết ông đã lên kế hoạch để sớm thông báo đến hội đồng quản trị. Sticht thất kinh, không thể tưởng tượng nổi Wilson sẽ phát triển một sản phẩm như vậy mà không cần tham khảo ý kiến của hội đồng quản trị.

“Ông tiến hành được bao lâu rồi?” Sticht hỏi.

“Từ năm 1981,” Wilson nói. Vậy là được năm năm rồi.

“Tại sao ông không thông báo với tôi sớm hơn?” Sticht hỏi.

“Vì phải trải qua nhiều năm thử nghiệm mới đến thời điểm đi đến kết luận điều này là khả thi,” Wilson trả lời.

Wilson không nói ra sự thật rằng ông không thấy tin tưởng hội đồng quản trị nên phải giữ bí mật dự án. Ông cũng không nói đến việc cấp vốn từ tiền lãi ít và nhỏ giọt để phát triển dự án này đủ để tránh phải thông qua hội đồng quản trị.

Project Spa, tên mã hóa của dự án, thực sự là một sản phẩm mang tính cách mạng. Thuốc lá không khói Premier (tên gọi sau này) là vũ khí bí mật của Wilson để đảo ngược tình hình trước phong trào chống hút thuốc lá đang tăng mạnh, nhằm đánh bại Marlboro và đẩy lùi sự suy giảm của ngành công nghiệp thuốc lá. Premier cũng giống như điếu thuốc lá bình thường. Tuy nhiên, bên trong nó chỉ chứa một mẩu nhỏ thuốc lá. Người hút thuốc châm đầu ngâm carbon của điếu thuốc, chỉ hơ nóng chứ không đốt cháy thuốc lá và “hạt thơm” ở bên trong. Quá trình hút hầu như không tạo ra khói và không có tàn thuốc lá, trên thực tế, chỉ có một phần rất nhỏ các hợp chất có liên quan đến ung thư. Wilson hy vọng nó sẽ ngăn những người hút thuốc lá bỏ thuốc và lôi kéo những người đã bỏ thuốc trở lại với Reynolds.

Dù nhìn thấy cơ hội thành công của dự án, nhưng hội đồng quản trị vẫn điên tiết tuyên bố rằng Wilson đã tiến hành dự án lớn như vậy mà không nhận được sự chấp thuận của hội đồng. Họ triệu tập ông để giải thích cụ thể hành động này trong cuộc họp hội đồng quản trị vào tháng Bảy năm 1986 ở New York. Wilson đã chuẩn bị rất kỹ cho buổi họp. Các giám đốc điều hành mảng thuốc lá đã chuẩn bị bài phát biểu đầy đủ về tất cả tính năng của Premier. Wilson đề nghị các giám đốc hút thử. Albert Butler hút thử và nói hương vị cùng mùi vị không ngon. Nhưng ngay sau đó, mọi việc đã trở nên rõ ràng: Vấn đế của Wilson nghiêm trọng hơn nhiều so với việc thuốc không được thơm.

“Tại sao ông không thông báo điều này sớm hơn?” Juanita Kreps hỏi. Wilson lặp lại lời giải thích với Sticht, nhưng Kreps vẫn không chịu buông tha cho ông. “Ông có thể tin tưởng hàng trăm người làm việc trong dự án này; tin tưởng hàng chục người ở một công ty quảng cáo mà ông là đối tác. Ông có thể tin tưởng người ngoài, các nhà cung cấp và nhà khoa học. Nhưng ông không tin tưởng chúng tôi,” bà nói. “Cá nhân tôi rất phẫn nộ với điều này.”

Các giám đốc khác hưởng ứng điều quan ngại của Kreps, và bổ sung thêm ý kiến của mình. Chẳng hạn như Stuart Watson ở Heublein còn nổi đóa lên, rằng Wilson đang lập kế hoạch bán KFC. Ông ta cũng không thấy cần hỏi ý kiến của hội đồng quản trị về việc đó. “Ông có tin tưởng chúng tôi không?” Watson hỏi. “Ông có tin tưởng chúng tôi không?”

Một cặp đồng minh của Sticht, Ron Grierson và John Macomber cũng phụ họa theo bằng các số liệu của ủy ban kiểm toán. Wilson đã bí mật đầu tư khoản tiền trị giá 68 triệu đô-la để phát triển Premier, vượt xa giới hạn chi tiêu của ông do hội đồng quản trị đặt ra. “Tại sao,” hai người hỏi đó hỏi, “khoản đầu tư này không được trình cho ủy ban kiểm toán.” Ngay sau đó, Sticht cũng nhảy vào công kích. Cuộc họp kéo dài đến mức cảnh sát New York phải yêu cầu di chuyển những chiếc xe limousine đang đỗ dọc theo quảng trường Grand Army Plaza của các giám đốc. Cuối cùng, cuộc họp cũng kết thúc, hội đồng quyết định tiếp tục dự án Project Spa, nó đã đi xa đến mức dường như không đáng bị hủy bỏ. Tylee Wilson đã sử dụng hết số vốn thuộc thẩm quyền với vai trò là thành viên ban giám đốc.

Sau một năm làm việc bên cạnh Wilson, Johnson thấy như bị sét đánh ngang tai. Quá bất ngờ, ông gọi điện cho một số giám đốc và nói rằng mình có dự định rời khỏi RJR Nabisco, có thể là để đứng đầu một công ty thực phẩm của Anh có tên là Beecham PLC. “Không” Johnson nói với từng thành viên hội đồng quản trị, đừng cố ngăn tôi. Họ chẳng thể ngăn được ông; ông cảm thấy công việc của mình đã hoàn thành sau khi sáp nhập thành công hai công ty. Chỉ có một người có thể là giám đốc điều hành, Johnson rụt rè nói, và Wilson rõ ràng là sự lựa chọn của hội đồng quản trị. Đã đến lúc ông phải ra đi.

“Đừng có vội vàng thế” Charlie Hugel, một giám đốc nói, vừa hay Johnson biết ông sẽ làm điều này. “Ông có thể điều hành nơi này.”

Hugel mời Ross và Laurie Johnson đến nơi nghỉ hè của ông ở New Hampshire, bên hồ Winnipesaukee. Hai người đã ngồi nói chuyện ở hiên nhà gần như suốt đêm. Họ kiểm tra tất cả các lựa chọn cho Johnson. Họ phân tích từng thành viên hội đồng quản trị. Họ nhấm nháp đồ uống. Lúc 4 giờ sáng, họ quyết định rằng Johnson nên tấn công Tylee Wilson.

Cuối tuần tiếp sau đó, Hugel mời Paul Sticht đến nhà, ông này cũng ở gần đó. Họ cũng có buổi nói chuyện dài, thẳng thắn ở hiên sau. Hugel không ngạc nhiên khi thấy Sticht cũng đồng ý. Johnson cũng thực hiện một chuyến hành hương cá nhân đến New Hampshire, theo sau Sticht, trong một chiếc máy bay phản lực mượn của American Express để tránh bị Wilson chú ý. Khi Johnson bước vào, Sticht nói: “Ồ, chúng tôi đang tự hỏi tại sao ông lại đi lâu thế.”

Ngay sau đó, Sticht kết nạp Macomber. Người này nghĩ rằng việc hất cẳng Wilson là ý tưởng bắt nạt rõ ràng. Ông ta và Sticht sẽ theo sát các thành viên hội đồng quản trị có ý ủng hộ Johnson. Hugel sẽ phụ trách phe Nabisco, mặc dù những người như Andy Sage, Bob Schaeberle và Jim Welch hầu như không cần phải thuyết phục. Họ là bè đảng cũ của Johnson.

Sau khi chuẩn bị lực lượng, Johnson yên tâm quan sát. Sticht và Macomber hành động đầy trách nhiệm, đưa vụ việc ra bàn với các giám đốc khác. “Chúng ta không thể mất Ross,” Macomber chỉ ra nếu không có Johnson, công ty chỉ còn trông cậy vào Ed Horrigan trong trường hợp khẩn cấp. “Nếu làm vậy, sao ta có thể hất cẳng Ty?” Sau đó, vào tuần đầu tiên của tháng Tám, Johnson nói với Wilson rằng mình định từ chức. Wilson lo lắng dù với ý đồ xấu. Ông cũng không muốn mất Johnson. Suy nghĩ nhanh, Wilson thông báo họp ủy ban lương thưởng vào tuần sau, khi đó, ông nói sẽ vui mừng thảo luận về việc chuyển ngày nghỉ hưu của mình đến giữa năm 1988 thay vì cuối năm 1987 nếu cần thiết. Sau đó, thỏa mãn với vấn đề sẽ được giải quyết trong một tuần nữa, Wilson bay về nhà ở Florida Keys để nghỉ ngơi vài ngày.

Ở đó, Wilson bắt đầu nhận được các cuộc gọi đầy lo lắng từ các đồng minh ở Winston-Salem. Ông nghe nói kẻ thù của mình đang tập trung cho một cuộc tấn công để đưa Johnson lên. Lo lắng, Wilson gọi điện cho John Medlin, Chủ tịch ngân hàng Wachovia, một trong hai giám đốc mà Wilson đã đưa vào hội đồng quản trị. “Vâng, có điều gì đó đang diễn ra,” Medlin nói. “Tôi ước mình có thể giúp, nhưng ông thật sự đang gặp vấn đề.”

Tiếp theo, Wilson gọi cho Hugel, ông biết người này đang dàn dựng phong trào ủng hộ Johnson. Có nên gọi cho Sticht không? Wilson băn khoăn.

“Ông ấy sẽ không giúp được gì đâu,” Hugel nói một cách khó hiểu. Macomber thì sao? “Không ích gì đâu,” Hugel nói. Ông ta nói thẳng với Wilson: “Ông không được ủng hộ đâu.”

Wilson thử lần cuối, gọi cho Vernon Jordan, nhưng không có tác dụng. “Ông thua rồi,” Jordan nói. “Ông nên chấp nhận một thỏa thuận và ra đi.”

Wilson biết điều gì sẽ phải đến. Trong cuộc họp tuần sau đó, ông từ chức. Lặng lẽ ra đi, Wilson nhận được một thỏa thuận hào phóng: thanh toán một lần 3,25 triệu đô-la, tiếp tục trả lương hằng năm và tiền thưởng 1,3 triệu đô-la cho đến khi nghỉ hưu chính thức vào cuối năm 1987, sau đó là tiền lương hưu hằng năm khoảng 600.000 đô-la. Các giám đốc thậm chí còn cho ông thêm một số đặc quyền: một văn phòng làm việc và thư ký riêng, một hệ thống an ninh cho ngôi nhà của ông, điện thoại trên xe hơi và sử dụng căn hộ của công ty. Các giám đốc dựng lên một câu chuyện đăng trên trang bìa. Họ tuyên bố sự ra đi này phù hợp với mong muốn từ lâu của ông là được nghỉ hưu sớm.

Sau cuộc họp đó, toàn bộ hội đồng quản trị chính thức có quyết định thay đổi nhân sự trong một cuộc họp trên điện thoại. Chẳng cần mấy nỗ lực, Ross Johnson đã được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc Điều hành của RJR Nabisco, công ty công nghiệp lớn thứ 19 của Mỹ. Sau này, Ty Wilson vẫn lẩm bẩm: “Họ chơi tôi.”

[1] Tên một vùng đất ở miền Nam nước Mỹ. (BTV)

[2] Hãng sản xuất ô tô của Mỹ, đã ngừng sản xuất vào năm 1966. (BTV)

[3] Sau này, Johnson và Wilson mới biết, họ rất xấu hổ vì đã bị chơi xỏ. Một nhân viên ngân hàng đầu tư tham gia vào các cuộc đàm phán đã tuồn thông tin cho Ivan Boesky, một kẻ buôn chứng khoán nhờ chênh lệch giá. Ông này châm ngòi cuộc đua bằng cách mua số lượng lớn cổ phiếu của Nabisco. (TG)

HoHoàng Thị Ngọc dịch • Barbarians at the gate •
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.