Bọn Rợ Rình Trước Cổng

Lượt đọc: 76 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 15

❊ ❊ ❊

Ross Johnson và Henry Kravis không phải là những người duy nhất muốn sở hữu RJR Nabisco. Vào hôm thứ Sáu, nhiều hồ sơ thầu đã được gửi đến thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh Federal Express và qua máy fax: những bức thư dự thầu với nội dung lạ lùng, không được mong chờ, những cuộc gọi tương tự như vậy cũng đến từ Phố Wall. Khi cuộc đấu giá RJR Nabisco kết thúc, ủy ban đặc biệt của Hugel truyền tay nhau đọc những hồ sơ đấu giá như trò đùa, tất nhiên, mỗi hồ sơ đó đều được Dillon Read hoặc Lazard kiểm tra. Một người đàn ông ở bang Maryland fax đến hồ sơ dự thầu với giá 126 đô-la/cổ phiếu, tương đương 28,4 tỷ đô-la. Một nhà môi giới chứng khoán ở Winston-Salem trả giá cao hơn chút xíu, 127 đô-la/cổ phiếu. “Mặc dù hiện tại không có ngân hàng đầu tư lớn nào hứa cho tôi vay tiền cho mục đích mua này,” người môi giới viết, “nhưng tôi tin rằng khi đề xuất này được chấp nhận, sẽ có nhiều ngân hàng sẵn sàng phục vụ tôi.”

Hugel thích hồ sơ thầu của một nhân viên ngân hàng ở Toronto. Ông cười lớn khi đưa nó cho các giám đốc và nhân viên ngân hàng đang nhốn nháo trong phòng họp ở tầng 47 vào tối thứ Sáu. Ông này trả giá 123 đô-la/cổ phiếu, nhưng với một đề nghị rất khác người. Ông ta đề nghị trả cho mỗi thành viên của ủy ban đặc biệt 7 triệu đô-la nếu họ bỏ phiếu cho ông ta để tỏ lòng tôn trọng vì những đóng góp của họ cho công ty trong nhiều năm. Các giám đốc khác sẽ nhận được 5 triệu đô-la.

Khi hồ sơ dự thầu đến, mọi người liền vây quanh Peter Atkins ở văn phòng góc của anh, nơi có bộ sưu tập vịt được chạm khắc từ gỗ và bia mộ phủ nhựa Lucite thông thường. Đứng chắn trước mặt Atkins là Mike Mitchell, một luật sư tranh tụng rất giỏi, làm việc ở một văn phòng bình thường, ồn ào, nằm dọc hành lang. Atkins biết rất rõ các sự kiện diễn ra trong đêm nay một ngày nào đó có thể được phát lại trong phòng xử án, và Mitchell phải ở đó để đảm bảo họ đang làm đúng luật.

Mitchell đứng ở một góc, mỉm cười khi những người đưa tin, luật sư, nhân viên ngân hàng và các giám đốc hối hả ra vào văn phòng của Atkins. Cảnh tượng này khiến anh nhớ đến một bộ phim của Charlie Chaplin. Phải mất gần một giờ các tài liệu bên ngân hàng của nhóm quản lý mới đến nơi. Cứ cách khoảng 10 phút, Jim Maher lại gọi và bảo đảm thư dự thầu của anh ta sẽ đến trong vài phút nữa.

Một cảm giác nhẹ nhõm lan nhanh trong đám luật sư đang vây quanh khi cuối cùng họ cũng lén nhìn thấy hai giá thầu.

Chúng thậm chí không sít sao.

Kravis đã trả giá 94 đô-la/cổ phiếu, tương đương 21,62 tỷ đô-la.

Johnson vượt lên hẳn với giá thầu 100 đô-la/cổ phiếu, tương đương 23 tỷ đô-la.

Thật dễ dàng đưa ra quyết định. Đến 9 giờ, Atkins cho giải tán các nhân viên ngân hàng đầu tư và anh cũng nói với các giám đốc rằng họ có thể ra về. Ủy ban sẽ họp vào sáng Chủ nhật để chính thức tuyên bố Johnson là người chiến thắng. Từ giờ đến lúc đó, đại diện của cả hai nhóm đấu thầu sẽ phải đến vào thứ Bảy, để giải thích về chứng khoán trong hồ sơ dự thầu của họ. Cả hai gói thầu đều có một lượng lớn chứng khoán trả lãi bằng hiện vật (PIK), và Atkins yêu cầu hai bên định giá số tiền “giấy” đó trong buổi thuyết trình vào sáng Chủ nhật. Việc này chỉ có tính hình thức, nhưng Atkins kiên quyết thực hiện mọi việc theo đúng thủ tục cần thiết.

Khi nhận được hồ sơ thầu của First Boston, Atkins đã đọc rất kỹ. Anh hy vọng có thể gạt nó đi như đã làm với những hồ sơ thầu như trò đùa khác. Có thể thấy đề xuất của Maher chỉ mới hình thành được một nửa, thực chất nó không khác gì một ý tưởng. Không chứng minh nguồn vốn; thậm chí còn không nói rõ Maher đã có giao dịch với một ngân hàng nào đó hay chưa. Tuy nhiên, First Boston lại đề xuất mức giá cao từ 105-118 đô-la/cổ phần cho quá trình tái cấu trúc bằng chiến lược ghi chú trả góp của Brian Finn.

Điểm mấu chốt của thỏa thuận là thuế, mà Atkins lại không phải là một chuyên gia thuế. Nhìn thoáng qua, anh biết mình không thể dễ dàng bác bỏ luận điểm của họ. Nếu Maher có thể làm những gì anh ta nói — Atkins có rất ít lý do để tin rằng anh ta có thể làm được gì đó — thì phương án của First Boston có thể có trị giá lớn hơn 3 tỷ đô-la so với các đề xuất khác. Vấn đề này sẽ cần đến sự tư vấn của luật sư thuế của Skadden.

Cho đến khi kế hoạch này được kiểm tra, Atkins và khoảng 10 đồng nghiệp tập trung trong phòng hội nghị bao quanh bằng kính để ăn tối, và bàn về ý tưởng khác thường của Maher. Các hộp thức ăn Trung Quốc xếp thành hàng trên chiếc bàn gỗ sồi lớn. Nằm giữa chúng là những hộp tròn nhỏ chứa hàng chục cây bút chì sắc nhọn. Một cây sung ngọt treo lủng lẳng phía trên trong khi họ bàn bạc. Bên ngoài cửa sổ là khu đông thượng Manhattan, và xa hơn là phố Harlem đang hối hả chuẩn bị cho kỳ nghỉ lễ cuối tuần. Đề xuất dài chín trang của Maher được sao thành nhiều bản, và chuyển cho các luật sư; họ đọc lướt qua nó trong khi ăn.

Khoảng 11 giờ, Matthew Rosen, một luật sư về thuế 36 tuổi, đến tham gia cùng họ. Rosen là một luật sư thuộc lớp người mới bước sang tuổi 30: mặc comple kiểu Ý, đi giày lười sang trọng, có một văn phòng treo đầy tranh nghệ thuật đương đại, thuộc tuýp người đầu những năm 1970. Anh đã khiến mọi người ngạc nhiên trong một buổi họp lớp của trường nghệ thuật Swarthmore, họ hiếu kỳ không biết anh đã làm thế nào kiếm được hàng triệu đô-la từ việc phát hiện các lỗ hổng thuế cho các vụ tiếp quản công ty.

“Anh có muốn trở thành nhân chứng số 1 cho vụ kiện không?” Mitchell hỏi Rosen.

“Anh đang nói gì vậy?”

Mitchell đưa cho Rosen hồ sơ thầu của First Boston. “Anh đọc cái này đi, về thuế đấy.”

Matthew Rosen đọc bản đề xuất một lát, sau đó anh lui vào phòng họp để xem xét kỹ hơn đề nghị đấu thầu táo bạo của Maher. Anh có thể thấy điểm mấu chốt của vấn đề trong thư đề xuất của First Boston có chứa những nút thắt khó chịu của các giả định thuế mà tính khả thi của nó là không chắc chắn. Rosen ngay lập tức nhận ra số phận của lời đề nghị cũng như số phận của toàn bộ cuộc đấu giá đều dựa vào đánh giá của anh về mức độ đáng tin cậy của những giả định này. Nó sẽ tùy thuộc vào sự tư vấn của anh cho Atkins và Mitchell, rằng liệu họ có thể thực sự được trả chậm 4 tỷ đô-la tiền thuế không. Các luật sư cấp cao gần như chắc chắn sẽ nghe theo sự cố vấn của anh. Nếu đề xuất của Maher khả thi, Rosen biết một lớp người mới với những dự tính ngông cuồng sẽ xuất hiện, và toàn bộ quá trình này có thể sẽ chìm trong hỗn loạn.

Anh cố gắng gạt bỏ suy nghĩ về tầm quan trọng lớn lao của nhiệm vụ đang thực hiện ra khỏi tâm trí, và tập trung vào bức thư trước mặt. Nhưng khi đọc kỹ các giả định về thuế của Maher, Rosen bắt đầu thấy thật sự choáng váng. Rosen nhận thấy một điều đáng lo ngại hơn nhiều nếu phần góp vốn chưa đủ lớn. Khi xem xét kỹ đề xuất của First Boston, anh phải đối mặt với một thực tế duy nhất không thể né tránh: Một số kết luận cơ bản, bao gồm giả định quan trọng về mức đãi ngộ chính xác của việc trì hoãn thuế, chính là kết luận do anh đưa ra.

Rosen lo sợ điều này sẽ xảy ra. Khi thời hạn 31 tháng Mười hai đang đến gần, việc bán trả góp đã trở nên phổ biến trên Phố Wall. Mỗi ngân hàng đầu tư dường như có một tá các vụ mua bán đang trong quá trình xử lý; Brian Finn sẽ áp dụng ý tưởng đó theo cách tương tự cho ít nhất bốn tình huống tiếp quản lớn khác First Boston. Và luật sư thuế yêu thích của Finn là Matt Rosen.

Hai chàng trai trẻ cùng chung chí hướng trong những năm qua đã trở thành bạn bè thân thiết. Ý tưởng tái cấu trúc theo kiểu Rube Goldberg (sử dụng các thiết bị phức tạp để thực hiện những nhiệm vụ đơn giản) của Finn hóa ra là những chiến lược bí truyền về thuế, và hai người thường thảo luận về chúng liên tục hàng giờ liền. Sau khi Finn mua được một chiếc xe hơi có điện thoại, anh cứ quấy rầy Rosen hàng giờ liền sau khi anh đi làm về vào buổi tối. Finn đánh giá cao Rosen vì các giải pháp sáng tạo cho những vấn đề thuế gai góc nhất; Rosen đánh giá cao đầu óc nhanh nhạy của Finn. Luật sư thuế trẻ tuổi đã làm việc với First Boston về việc bán trả góp của General Cinema, khi công ty này muốn mua một số hoạt động đóng chai của Pepsi. Giờ đây, nỗi sợ hãi của Rosen càng lúc càng tăng, khi anh được yêu cầu đưa ra đánh giá về những ý tưởng mà chính anh đã đặt nền móng hình thành.

Rosen và Finn chưa hề thảo luận về trường hợp cụ thể của RJR Nabisco; họ không làm việc theo cách đó. Finn chỉ bàn về các giả thiết, đưa ra những kịch bản nếu — thì cho Rosen. Giống như trò chơi quần vợt bằng trí não, Rosen trao đổi các ý tưởng qua lại với Finn, thường là không biết bạn mình đang thảo luận về công ty nào. Nhưng khi nhìn vào lời đề nghị của First Boston, Rosen dễ dàng nhận ra đây là kết quả của những cuộc trò chuyện gần đây giữa hai người.

“Xung đột về lợi ích,” Rosen ghét suy nghĩ này. Nhưng anh biết điều này có có thể áp dụng trong trường hợp của anh. Với tính chất khó chịu của cuộc chiến RJR Nabisco, việc ai đó phát hiện ra mối quan hệ giữa anh và Finn chỉ còn là vấn đề thời gian. Trong thâm tâm, Rosen tự nhủ mình có thể đưa ra những nhận xét công bằng, rằng anh sẽ không mạo hiểm sự nghiệp của mình để giúp đỡ một người bạn. Nhưng trong tình thế tranh chấp của một cuộc tiếp quản lớn, sai lầm sẽ gây thiệt hại ở mức độ trầm trọng nhất.

45 phút sau, khi Rosen vẫn đang cân nhắc tình cảnh của mình thì Atkins cắt ngang dòng suy nghĩ của anh. Vị luật sư cấp cao không thể chờ thêm được nữa, Atkins muốn biết ý kiến của anh về tính khả thi của hồ sơ thầu này.

“Anh nghĩ sao?” Atkins hỏi.

Rosen hít một hơi thật sâu: “Vâng, tôi thấy có một số vấn đề kỹ thuật. Tôi cho rằng có một vài điểm đáng lo ngại. Tôi chưa thể kết luận ngay bây giờ, vì hồ sơ này chưa đầy đủ. Peter, nếu anh muốn hỏi tôi, liệu thỏa thuận này có khả thi không, thì sau khi có những điều chỉnh và sửa đổi, tôi phải nói là nó khả thi.”

Sau đó, Rosen đã giải thích vấn đề của mình và Finn. Anh tin tưởng Atkins, chính Atkins đã mời anh đến đám cưới của mình sáu tháng trước. “Peter, anh biết không, những điều này với tôi rất quen thuộc. Chúng tôi đã dành nhiều thời gian, làm việc với First Boston về đề xuất loại này.”

Atkins ngay lập tức gạt những lo ngại của Rosen sang một bên.

“Hãy nói cho tôi biết về đề xuất này,” anh nói, “có những vấn đề gì cản trở việc thực hiện nó?”

Rosen kể ra một số điều. Lý do là First Boston không thể chứng minh được nguồn vốn tài chính trong khi họ sẽ cần phải huy động hàng tỷ đô-la. Có một câu hỏi thực tế hiển nhiên là: Liệu First Boston có thể hoàn thành việc này trước khi lỗ hổng thuế hết hạn vào cuối năm không - họ chỉ còn 42 ngày nữa. Trong khoảng thời gian ngắn như vậy, họ sẽ phải tính từng ngày: Thỏa thuận có thể bị chệch hướng nếu First Boston bị buộc phải trải qua một cuộc đánh giá chống độc quyền kéo dài của Ủy ban Thương mại Liên bang. Vì thế, việc xác định ai sẽ sở hữu công ty nào của RJR cũng không rõ ràng. Đây là những chi tiết ta sẽ phải bàn với First Boston, Rosen nói.

“Điều này cũng không quá bất thường, Peter. Vì trọng tâm của nó là một phân tích cơ bản mà tôi rất quen thuộc.” Quá quen thuộc, Rosen nghĩ. “Nếu họ trả lời được năm hoặc sáu câu hỏi của tôi một cách thỏa đáng, thì xét về mặt pháp lý, đề xuất này có khả thi không?” - Rosen ngừng lại rồi nói tiếp - “Tôi nghĩ là có.”

-

Peter Atkins tin tưởng Rosen. Anh không lo lắng chút nào về nỗi sợ hãi của vị luật sư trẻ trong việc xung đột lợi ích; đối với anh, đó sẽ là bí mật nhỏ giữa họ. Tuy nhiên, để phần nào giảm bớt sai lầm với bất cứ đề xuất nào, Atkins đề nghị Rosen trình bày ý kiến tư vấn của anh với một trong những luật sư làm việc cho Lazard và Dillon. Rosen hứa sẽ thực hiện điều đó vào đầu giờ sáng hôm sau.

Đầu giờ sáng, Rosen trải qua sự kiểm tra chéo của các đối tác, trong đó có cả Mitchell, luật sư tranh tụng xuất sắc. Mỗi người đều kiểm tra lập luận của Rosen, cố tìm ra những khiếm khuyết, một khe hở, một lý do để phớt lờ bức thư gây rắc rối của First Boston. Nhưng Rosen vẫn giữ vững lập trường của mình; anh không thể nói thẳng là ý tưởng này sẽ không khả thi.

Thứ Sáu trôi qua rồi sang thứ Bảy, từng vị luật sư mệt mỏi về nhà ở vùng ngoại ô. Đến 4 giờ sáng, văn phòng của Skadden vẫn sáng đèn. Bên ngoài đường phố vắng tanh. Trong một phòng họp ở dưới sảnh, những hộp đựng thức ăn Trung Quốc vẫn còn một nửa đã lạnh ngắt.

Atkins và Mitchell là những người duy nhất còn ở lại. Họ ngồi cô đơn giữa những con vịt gỗ trong căn phòng của Atkins. Rosen đã rời đi trước đó, hứa hôm sau sẽ nói chuyện với Brian Finn. Trừ khi Rosen thay đổi ý định sau khi nói chuyện với Finn, hai vị luật sư mới có thể biết họ sẽ đi đâu về đâu.

“Tôi không thấy chúng ta phải làm gì nữa,” Mitchell nói. Anh nhìn chằm chằm vào bản sao lá thư của First Boston đang nằm trên bàn của Atkins. “Làm thế nào để phớt lờ bức thư đó bây giờ?”

Atkins gật đầu. Anh nhìn Mitchell và thở dài. “Ta không thể làm gì để thay đổi thực tế này.”

Họ im lặng trong vài giây. Hai người là bạn cũ, thân nhau nhờ tình yêu với nghề luật. Trong khi chờ Rosen nói chuyện với Finn, họ đã có quyết định; tất cả vấn đề bây giờ nằm ở sự chấp thuận của Ủy ban đặc biệt vào sáng Chủ nhật. Mitchell cảm nhận được tầm quan trọng của thời điểm đó.

“Anh bạn,” anh nói. “Ai lại mong điều này xảy ra chứ.”

-

Tối thứ Sáu, Kravis phấn khích khi nghe tin nhóm của mình được mời đến Skadden Arps vào sáng hôm sau. Không rõ ủy ban muốn gì, nhưng có thể thấy dường như các cuộc đàm phán không chỉ dành cho một mình nhóm của Johnson. Đột nhiên, sự lo lắng về giá thầu 94 đô-la/cổ phiếu được gỡ bỏ. “Chúa ơi,” Kravis nói. “Có lẽ tình hình của chúng ta không đến nỗi nào.”

Có một khoảnh khắc hoảng loạn khi nhóm của Kravis nghe được tin Peter Ackerman, người phụ trách mảng chứng khoán của Drexel, đã lên máy bay trở về Bevery Hills. Ackerman sẽ phải bật loa ngoài điện thoại để tham dự phiên họp này. Có một vấn đề nan giải khác nảy sinh với Bruce Wasserstein. Sau vụ rò rỉ báo chí, Kravis không còn tin tưởng Wasserstein, và không muốn ông ta xuất hiện ở cuộc họp. Ted Ammon giải thích vấn đề đó với Dick Beattie, thể hiện mong muốn để trợ lý của Wasserstein là Mack Rossoff chịu trách nhiệm giải thích các vấn đề về chứng khoán trong gói thầu.

“Ông phải gọi cho Rossoff và nói anh ta đến tham dự cuộc họp mà không có Bruce,” Ammon nói.

“Tôi à? Tại sao tôi phải làm điều đó?”

“Ông phải làm điều đó.”

“Ồ không,” Beattie nói và cười lớn. “Anh làm đi. Ông ta là nhân viên ngân hàng hàng đầu tư của anh. Tôi không muốn can dự vào việc này.” Cuối cùng, Wasserstein được thông báo rằng ông không cần thiết phải dự họp.[1]

Vào 7 giờ sáng thứ Bảy, gần 20 nhân viên ngân hàng đầu tư và luật sư tập trung tại văn phòng của Kohlberg Kravis. Hai giờ sau, Kravis dẫn đầu nhóm đến Skadden Arps. Khi ở trên lầu, họ chú ý mọi nhất cử nhất động của nhóm quản lý. Kravis gặp Ira Harris ở hành lang. Khi hai người trao đổi vài câu, Kravis cố tìm kiếm trên nét mặt của Harris để tìm ra bất kỳ dấu hiệu nào về tình trạng của họ, một nụ cười biết nói, một cái nhún vai hay bất cứ điều gì: Có phải nhóm quản lý cũng được mời không? Tình trạng của chúng tôi thế nào? Nhưng Harris không thể hiện bất kỳ điều gì.

Nhóm của Kravis được đưa vào một phòng họp lớn, ở đó họ gặp hai nhân viên ngân hàng đầu tư, Bob Lovejoy của Lazard và John Mullin của Dillon Read. Trợ lý của Wasserstein, Mack Rossoff, cảm thấy không ổn khi nhìn thấy hai người này. Felix Rohatyn đầu rồi? Ira Harris đâu rồi? Rossoff nghĩ điều này có thể cho thấy họ là đội B. Một dấu hiệu xấu.

Kravis cũng cảm thấy như vậy, anh nhận thấy họ không phải là nhóm đầu tiên được gọi. Anh giật mình trước sự xuất hiện của một luật sư cấp cao tại Skadden Arps tên là Bill Frank. Anh ta biết gì về thỏa thuận của họ? Atkins đang ở đâu? Lần đầu tiên Kravis nhận ra có một cuộc họp với nhóm quản lý đang diễn ra đồng thời. Anh trở nên lo lắng.

Trong hơn một giờ, các nhân viên ngân hàng và luật sư của Kravis giải thích chi tiết từng thành phần trong gói thầu của họ, đặc biệt là các vấn đề về chứng khoán. Đây là công việc rất thực tế ở Phố Wall. Cuộc họp cứ thế diễn ra đều đều, các đại diện từ nửa tá ngân hàng đầu tư và thương mại của Kravis tự hào giải thích về những điểm khác biệt trong kế hoạch của họ.

Sau đó, khi Scott Stuart đọc một loạt dự báo của Kravis, Bob Lovejoy cắt ngang lời anh. Nhân viên ngân hàng Lazard nói dữ liệu mà Stuart đang đọc không khớp với các số liệu trên giấy tờ của Lovejoy. Nếu ủy ban đặc biệt đã hoàn thành công việc của mình, dự đoán của mọi người nên giống nhau.

“Hình như anh không có các thông tin cập nhật mới nhất,” Lovejoy nói, mắt lo lắng nhìn quét qua khuôn mặt của Stuart.

Thôi nào, Stuart phản bác, ủy ban đặc biệt đang sử dụng những con số nào? Hai người so sánh số liệu và cùng tỏ ra rất bối rối.

Ở đầu bên kia phòng họp, chuông cảnh báo vang lên trong đầu Dick Beattie. Ông viết nguệch ngoạc một lời nhắn cho Cliff Robbins, một cộng sự đang ngồi bên cạnh: “Số liệu của chúng ta không chính xác, chúng ta phải làm gì đó với điều này.” Robins gật đầu.

Sau đó, sự giận dữ bùng nổ trong nhóm của Kravis. Khi họ đi xuống sảnh, trong thang máy đầy những lời nguyền rủa và la hét. “Họ đã chơi trò gian lận với những con số!” Những người khác cũng hét lên. “Họ đã đưa ra các con số dối trá!” Beattie điên tiết. “Thật quá đáng. Khốn kiếp, họ đã không cung cấp thông tin chính xác cho chúng ta. Chúng ta bị lừa rồi.”

Dừng lại ở sảnh, Kravis, Roberts và Beattie suy nghĩ xem sẽ phải làm gì. Trước đó, họ đã thảo luận về các khả năng trong trường hợp thất thế trước nhóm quản lý. Vấn đề về thông tin họ nhận được, tuy phiền phức, sẽ là con át chủ bài cho họ cái cớ để phản đối. Nếu Kohlberg Kravis không được cung cấp thông tin chính xác, cuộc đấu giá này sẽ được xem là không hợp lệ. Nếu vậy, họ phải ngăn chặn quá trình này lại trước khi mọi việc đi quá xa.

Beattie quay trở lại văn phòng của mình ở đối diện nhà ga Grand Central, ông đọc cho thư ký viết một lá thư ngắn, và ngay lập tức gửi nó cho Peter Atkins. Trong đó viết: Thông qua John Mullin và Bob Lovejoy chúng tôi nhận ra có thể mình đã nhận được những thông tin không chính xác từ nhóm quản lý của RJR về một số khía cạnh tài chính nhất định… [Nếu vậy] có lẽ chúng tôi sẽ muốn thảo luận với ông về đề nghị đấu thầu của mình, với điều kiện chúng tôi phải nhận được các thông tin mới hoặc chính xác hơn.”

Từng câu chữ nghe thật dễ chịu nhưng ẩn giấu một thông điệp sắc sảo. Không lâu sau, Atkins gọi điện cho Beattie tỏ rõ vẻ cáu kỉnh. Anh không thể bỏ qua cảnh báo từ phía Henry Kravis, nhưng anh cũng cáu kỉnh không kém khi sự phản đối của Beattie sẽ là một vết đen trên hồ sơ của cuộc đấu giá cho đến lúc này vẫn không hề có chút tì vết nào. “Giá mà ông đến nói chuyện với tôi, và không viết ra như thế này,” Atkins nói với Beattie. “Tuy nhiên, tôi sẽ nghiêm túc xem xét vấn đề này.”

Dù vậy, hiện tại, Atkins vẫn chưa sẵn sàng chuyển bất kỳ thông tin mới nào cho Kohlberg Kravis. Các nhân viên ngân hàng đầu tư của Lovejoy và Mullin, đều có thư riêng trả lời cho Beattie cho rằng không có vấn đề gì với luồng thông tin bên Kravis nhận được. Dù bối rối và tức giận, nhóm của Kravis cũng chẳng thể làm gì ngoài việc chờ đợi quyết định của hội đồng quản trị.

Cuối buổi chiều hôm đó, Beattie nhận được cuộc gọi thứ hai từ Atkins. Anh nói: “Dick, đêm nay chúng tôi sẽ không cần bên ông. Ông và cả nhóm có thể về nhà.”

Nỗi lo sợ trào dâng trong lòng Beattie. “Anh có nói như vậy với các bên khác không?”

“Có.”

Beattie thở phào nhẹ nhõm. Hú hồn.

-

Nhóm của Peter Cohen cũng phải trải qua quá trình tương tự vào sáng hôm đó ở Skadden Arps. Bộ ba cố vấn của ủy ban do Ira Harris đứng đầu đặt ra các câu hỏi cho người của bên Cohen nhằm mục đích xác định chính xác giá trị chứng khoán của nhóm. Khi cuộc họp kết thúc, Luis Rinaldini của Lazard đã hỏi Tom Hill về các bản sao dự báo dòng tiền mặt của nhóm. Rinaldini nói rằng các dự báo đó, có thể là vô giá trong việc định giá chứng khoán.

“Không thể như vậy được,” Hill nói. “Các dự đoán là vũ khí bí mật của nhóm quản lý, là trọng tâm khiến Johnson có giá trị đối với họ.”

“Tại sao không?” Rinaldini băn khoăn.

“Chúng tôi coi dự đoán của mình là độc quyền,” Hill nói. “Có điều gì ngăn cản các anh đưa chúng cho KKR không?”

“Ông nói gì vậy…” Rinaldini nói.

-

Jim Maher thức dậy vào thứ Bảy với một chút ảo tưởng về cơ hội thành công của nhóm mình. Anh biết đề xuất của First Boston ít có khả năng được chấp nhận như một hồ sơ thắng thầu. Maher nghĩ tối đa nhất là anh sẽ có một cơ hội hiếm hoi gây sự chú ý của hội đồng quản trị, đủ để kéo dài thêm quá trình đấu thầu.

Cả buổi sáng hôm đó, anh đi đi lại lại trong căn hộ của mình, chờ đợi một cuộc gọi. Khoảng 11 giờ, chuông điện thoại reo. “Jimmy, anh sẽ nhận được một bức thư,” Peter Atkins thông báo. “Chúng tôi có một số câu hỏi về đề xuất của anh. Chúng tôi cần làm rõ một số vấn đề.”

Vẫn như mọi lần, Atkins khiến người khác bối rối. Maher gác máy và cho rằng cuộc gọi là một dấu hiệu tốt. Anh ta sẽ không gọi để hỏi thăm sức khỏe của mình. Mặt khác, Maher lý luận Atkins có thể đang cố gắng tìm ra các căn cứ để từ chối lời đề nghị của họ.

Người đưa thư chuyển lá thư đến sau đó ít phút. Các câu hỏi rất cơ bản, máy móc, chủ yếu là về thuế. Maher biết nếu bên anh không có quá trình thẩm định, anh sẽ không thể trả lời hầu hết các câu hỏi. Đơn giản là First Boston phải có nhiều thông tin hơn trước khi có thể đảm bảo kế hoạch của họ có khả thi không.

Atkins thực hiện thêm nhiều cuộc gọi vào chiều hôm đó với nhiều câu hỏi hơn, tất cả vẫn rất phức tạp và tập trung vào thuế, những vấn đề mà Maher cảm thấy nên có các buổi đàm phán về chúng. “Peter, chúng tôi không thể bị dồn ép với những câu hỏi như thế này,” Maher nhắc đi nhắc lại. “Chúng tôi sẽ phải ngồi lại với người bên anh để làm rõ những vấn đề đó.”

Đến nước này, Maher đành gọi cho Brian Finn, và đọc cho anh nghe lá thư từ Atkins. Finn không thích những gì được nghe.

“Có vẻ như họ đang cố tạo ra ấn tượng để chúng ta thấy lý do tại sao họ không hợp tác với chúng ta,” Finn nói.

“Tôi không nghĩ như vậy,” Maher nói. “Từ những cuộc trò chuyện của tôi với Atkins, tôi không nghĩ vậy.”

Hai người thảo luận tiếp về những việc họ nên làm. Thông thường, họ sẽ trả lời thư của Atkins bằng văn bản, hoặc yêu cầu có cuộc gặp giữa các luật sư thuế của First Boston và Skadden. Không có lựa chọn nào có vẻ hợp lý. Các cuộc họp sẽ mất thời gian, và bây giờ thời gian rất quý giá.

Finn cảm thấy con át chủ bài của First Boston đang nằm trong tay Matthew Rosen. Vị luật sư thuế này rất quen thuộc với ý tưởng của Finn, đó phải là một lợi thế, chưa nói đến mối quan hệ cá nhân giữa họ. Anh nói: “Tại sao ta không gọi cho Rosen và bàn trước về các câu hỏi của họ?” Anh cảm thấy một cuộc gọi sẽ nhanh hơn, và bỏ qua được các thủ tục lòng vòng mất thời gian. Maher đồng ý.

Finn gọi được cho Rosen ở Skadden vào khoảng giữa trưa. Vị luật sư thuế có vẻ mệt mỏi. “Tôi sẽ nói với anh điều gì làm tôi lo lắng, Matt,” Finn nói, muốn dò xét thái độ của Rosen. “Có vẻ như bên anh đang muốn chúng tôi hiểu lý do tại sao chúng tôi không được chào đón với đề xuất này.”

“Này,” Rosen nói, “tôi không thể nói cho anh biết chuyện gì đang xảy ra. Nhưng không phải như vậy đâu. Nói vậy thật không công bằng.”

Finn thấy nhẹ cả người. Anh không nghĩ Rosen sẽ nói dối mình. Luật sư thuế đã có hàng tá câu hỏi cho Finn. Finn xin được bỏ qua hầu hết chúng. “Rõ ràng là tôi không thể trả lời các câu hỏi đó mà không có quá trình thẩm định,” anh nhắc lại. “Tôi không thể.”

Finn cố gắng nói trong hơn một giờ để Rosen hiểu. “Này, Matt, chúng ta biết rõ nhau mà,” Finn nài nỉ. “Anh cũng biết rằng chúng ta không ở đây để nói về những chủ đề đâu đâu. Anh phải để chúng tôi vào cửa. Anh phải hiểu điều đó. Tôi không thể trả lời bên anh rõ hơn nếu không có một quá trình thẩm định.”

Khi gác máy, Finn vẫn còn lo lắng. Anh biết Rosen hiểu những lợi thế trong đề xuất của họ. Nhưng anh ta có đứng lên bảo vệ một dự án trị giá trị 20 tỷ đô-la không?

-

Thứ Bảy là sinh nhật lần thứ 53 của Jim Robinson, và gia đình Robinson lui về trang trại rộng hơn 14 hecta ở Connecticut để chờ kết quả đấu thầu. Khoảng 3 giờ chiều, Jim Robinson ngạc nhiên khi thấy Ross và Laurie Johnson lái xe đến.

Thật vui khi thấy gia đình Johnson, thậm chí còn vui hơn khi thấy tất cả bọn họ cùng lúc rời khỏi thành phố. Laurie tham gia cùng gia đình Robinson trong phòng tập giảm cân được trang trí bằng một bức ảnh của Jim Robinson thời trẻ đang nâng một thanh tạ với nét mặt nghiêm nghị. Johnson ngồi lù lù trên một chiếc ghế dài đọc báo và xem trận bóng đá của sinh viên đại học trên tivi. Cả bốn người đều không thể nghĩ gì ngoài sự cân nhắc của ủy ban đặc biệt. Từ chiều đến tối, họ chờ đợi một cuộc điện thoại, và nó không bao giờ đến.

Bữa tối tại nhà Robinson đêm đó có món ăn Trung Quốc và ống nghe điện thoại. Gia đình Robinson có năm, và Linda có ba đường dây điện thoại riêng biệt, tất cả đều được mang đến bàn ăn tối. Trong suốt bữa ăn, Johnson và hai người nhà Robinson kiểm tra các nguồn tin của họ. Tin đồn về hồ sơ thầu của First Boston đang lan truyền nhanh chóng, mặc dù họ không thể nói tác động của nó là gì, nếu có.

Cuối cùng, chính Johnson là người có được thông tin quan trọng. Họ đã biết trước rằng cả ủy ban đặc biệt và đầy đủ hội đồng quản trị sẽ họp vào ngày mai; ủy ban sẽ bỏ phiếu cho mỗi đề xuất, và rất có thể hội đồng sẽ phê duyệt điều đó. Với hy vọng tìm hiểu thêm về các cuộc họp, Johnson đã gọi cho người phụ trách các hoạt động bay của RJR Nabisco, một nhân viên trung thành, đã làm việc bên cạnh lão trong nhiều năm. Từ nguồn tin của nhân viên này, Johnson biết rằng các máy bay thường dành riêng cho giám đốc bay tới New York vẫn đang nằm ở sân bay. Rõ ràng là cuộc họp toàn thể hội đồng quản trị đã bị hủy.

“Thật buồn cười,” Johnson nói. “Thế quái nào mà họ lại hủy cuộc họp?”

Johnson đoán hoặc là một trong những khuyến nghị của ủy ban đặc biệt đã bị trì hoãn, hoặc là họ hoàn toàn không có đề xuất nào. Điều này có nghĩa là đã xảy ra một trong hai trường hợp: Giá thầu của các bên quá sít sao hoặc không có người chiến thắng. Johnson và gia đình Robinson tranh luận về các yếu tố có thể làm hỏng quá trình đấu thầu, về đề xuất kỳ lạ của First Boston, và một khả năng xa hơn là ủy ban đã từ chối tất cả hồ sơ dự thầu để tự thực hiện quá trình tái cơ cấu.

“Có điều gì đó rất, rất khác thường,” Johnson phán đoán. Nhưng cho dù lý do của sự chậm trễ là gì, lão nói với gia đình Robinson: “Đây là tin xấu đối với chúng ta.”

Linda Robinson truyền đạt tin tức đó cho Cohen, anh đang ở nhà một mình ở Manhattan, còn vợ anh đã đi thăm bạn bè ở Florida. Cho dù Johnson bi quan, thì nhóm ở trang trại nhà Robinson vẫn hết sức lạc quan. Họ nhất trí là còn quá sớm để rút ra kết luận cuối cùng, từ tin tức về lịch trình bay của hội đồng quản trị.

Sau bữa tối, Linda Robinson tươi cười rạng rỡ mang ra chiếc bánh sinh nhật của chồng mình do cô chính cô thiết kế. Một chiếc bánh cà rốt phủ kem trắng, tô điểm bằng những chiếc bánh Oreo; bánh quy xốp giòn; và mật ong, quế cùng sô-cô-la Teddy Grahams, một loại bánh quy mới, nổi tiếng của Nabisco. Nhưng điều thú vị nhất là những ngọn nến, hay những gì thoạt nhìn tưởng là những ngọn nến. Khi kiểm tra kỹ hơn, chúng thực ra là những điếu thuốc lá Winston và Salem, mỗi người đều vui vẻ châm lửa trên chiếc bánh và ngắm nhìn những vệt khói thuốc bay lên.

-

Khi Hugel yêu cầu mọi người trong phòng họp giữ trật tự vào lúc 10 giờ 15 phút sáng Chủ nhật, họ đều đã biết mình sẽ phải làm gì. Ý kiến tư vấn về thuế của Matt Rosen đồng nghĩa với việc họ không thể bỏ qua đề xuất của First Boston và triển vọng giá thầu lên tới 118 đô-la/cổ phiếu. Để đội của Maher có thêm thời gian chuẩn bị, củng cố thêm các giả thiết của họ, ủy ban tuyên bố tiến hành vòng đấu giá thứ hai. Tất cả hồ sơ thầu, bao gồm cả hồ sơ thầu có giá cao hơn của nhóm quản lý, 100 đô-la/cổ phiếu, sẽ bị loại bỏ.

Atkins và Mitchell đã đưa ra quyết định cuối cùng vào chiều thứ Bảy sau khi Rosen nói chuyện với Finn. Không phải ai cũng hài lòng về điều đó: Fritz Hobbs của Dillon Read cho rằng đề nghị của Maher có những hạn chế và đã nói ra ý kiến của mình. Nhưng như mọi khi, không ai dám mạnh miệng tranh luận với các luật sư, càng không khi các vụ kiện như đang treo trên lơ lửng trên đầu họ. Nếu Atkins cần thêm bất kỳ sự thuyết phục nào, thì lá thư đầy tức giận của Beattie đã làm điều đó. Một số đồng nghiệp của anh bày tỏ sự nhẹ nhõm, vì bằng cách buộc phải có vòng đấu thầu thứ hai, đề xuất của First Boston cho phép họ tránh được một thách thức pháp lý từ phe Kravis.

Charlie Hugel cũng không hài lòng với ý tưởng đấu thầu vòng hai. Lời đề nghị của First Boston không chắc sẽ là tốt nhất, nhưng ông vẫn tin Johnson sẽ hợp tác với Kravis. Hugel nói: “Nếu chúng ta gia hạn thời gian, First Boston sẽ bỏ cuộc, hai người bọn họ sẽ kết hợp với nhau và sau đó chúng ta có gì? Chúng ta sẽ quay lại 93 đô-la.”

Hugel nhận được sự phản bác mạnh mẽ từ Marty Davis. Davis lập luận rằng hội đồng quản trị được lợi nhất khi kéo dài cuộc đua này: khiến các bên đấu thầu toát mồ hôi hột, đẩy họ vào một cuộc cạnh tranh điên cuồng, cho chúng ta thời gian nghiên cứu lựa chọn tái cấu trúc.

Vấn đề này đã làm nảy sinh mối bất hòa giữa hai người. Davis đã rất tức giận khi vào chiều thứ Năm, ông nghe được một tuyên bố từ Hugel trên bản tin tài chính Reuters, nêu rõ thời hạn chót đấu thầu vào thứ Sáu đã được xác định, và sẽ không gia hạn về thời gian. Davis lập tức quay số của Hugel. “Ông nói cái quái gì trên Reuters vậy?” Davis vồ vập, rồi cảnh báo. “Đây không phải là quan điểm của chúng tôi; điều đó không đúng.”

“Tôi không nói như vậy,” Hugel cãi.

Davis không tin ông ta. Ông nghĩ Hugel hoặc là quá ngây thơ hoặc là một con tốt của Johnson. Có thể là cả hai. Còn Marty Davis chắc chắn không phải là loại người đó. Ông đang đứng đầu phe hiếu chiến trong ủy ban đặc biệt - ủng hộ tất cả những gì cần thiết để có được giá thầu cao nhất, và không nương tay với nhóm quản lý. Ông cũng đã sẵn sàng lập luận rằng, chỉ riêng bức thư của Beattie cũng đủ làm căn cứ để gia hạn thêm thời gian cho cuộc đấu giá này.

Các giám đốc đã nhất trí mà không cần tranh luận nhiều: kéo dài thời gian đấu giá là rủi ro mà họ sẽ phải chấp nhận. Rosen sẽ phải đứng trước hội đồng và giải thích các vấn đề về thuế. Tuy nhiên tình bạn của anh với Brian Finn không được đề cập tới.[2] Hugel và các giám đốc khác đã hỏi Rosen rất kỹ, nhưng cuối cùng họ cũng nghe theo lời tư vấn của anh. Dù mong muốn giải quyết dứt điểm cuộc đấu giá đến đâu chăng nữa, có vẻ như họ vẫn chưa thể làm vậy. Trước khi cuộc họp kết thúc lúc 1 giờ, Atkins rời khỏi phòng để hỏi xem Maher sẽ cần bao nhiêu thời gian.

Đến đêm thứ Bảy, Maher chẳng thấy có gì phải suy nghĩ. Từ giọng điệu trong những câu hỏi của Atkins, có thể nói First Boston bằng cách nào đó đã đặt được một chân vào cửa. Anh không ngạc nhiên khi Atkins gọi lại vào sáng Chủ nhật.

Hội đồng quản trị sẽ cung cấp thông tin nếu các anh đã sẵn sàng, Atkins nói. “Các anh đã có sẵn nguồn lực chưa? Anh cần bao nhiêu thời gian?”

Maher muốn hai tuần, nhưng anh biết điều đó là không thể. Atkins đề nghị kéo dài thời hạn đấu thầu thêm một tuần nữa bắt đầu từ thứ Hai, nghĩa là còn tám ngày nữa. Maher lưu ý rằng kỳ nghỉ lễ Tạ ơn sắp tới có thể khiến việc đạt được các cam kết tài trợ trở nên đặc biệt khó khăn, anh đề nghị được gia hạn thêm 10 ngày. Atkins đồng ý với yêu cầu đó. Thứ Ba ngày 29 tháng Mười một, hạn chót 5 giờ chiều.

Khi đặt ống nghe xuống, Maher mỉm cười nghĩ: Tôi sẽ cho anh xem Chuột Mickey.

-

Sáng Chủ nhật, Jerry Seslowe đang đọc báo tại nhà ở Long Island, cố gắng không nghĩ đến Skadden Arps. Mưa bão quần thảo bên ngoài làm anh vui mừng vì được ở trong nhà.

Chuông điện thoại reo. Đó là Scott Lindsay, một trong những trợ lý của Maher. “Peter Atkins muốn anh đến, và ký thỏa thuận bảo mật. Chúng ta đã đặt chân vào cửa!”

Hớn hở, Seslowe chẳng mất nhiều thời gian chui vào chiếc BMW 325i của mình, chiếc xe lao xuống những con đường ngập nước. Một giờ sau, anh gặp Brian Finn ở Skadden Arps, ở đó anh thấy tâm trạng của Atkins rất phù hợp với thời tiết bão tố. Vị luật sư trông hết sức thù địch. Seslowe cảm thấy có lỗi vì đã khiến cuộc đấu giá phải gia hạn thêm thời gian, và làm cho công việc của Atkins trở nên phức tạp.

Rõ ràng là Atkins đã mệt muốn chết và chỉ muốn về nhà. Hẳn là anh ta đã làm việc suốt 72 giờ liền, Seslowe nghĩ, ở một góc, trợ lý Mike Gizang của Atkins trông giống như con búp bê nhồi giẻ rách.

“Bây giờ, các ông đã tham gia vào thỏa thuận,” Atkins giảng giải. “Chúng tôi rất coi trọng các ông. Ông hiểu không? Cái chúng tôi không muốn thấy là một Forstmann Little nữa. Họ khiến mọi thứ trở nên ồn ào nhưng không bao giờ làm điều gì đến nơi đến chốn. Chúng tôi trông cậy vào các ông bằng cách đón chào các ông, một cách nghiêm túc.”

Seslowe gật đầu. Họ cũng sẽ nghiêm túc.

“Hãy ký vào đây.” Atkins đặt thỏa thuận bảo mật trước mặt Seslowe.

“Tôi không thể ký vào bất cứ thứ gì nếu không có luật sư của tôi xem trước,” viên kế toán nói.

“Được thôi,” Atkins xấc xược nói. “Tôi sẽ rời đi bây giờ.”

“Tôi không thể ký được,” Seslowe phản đối. “Tôi không thể.”

“Ông phải ký.”

Seslowe xin phép được fax một bản sao của thỏa thuận cho luật sư của Pritzker tên là Hank Handelsman ở Chicago. Atkins nói rõ rằng anh phải nhanh lên.

Handelsman nghe điện thoại rất nhanh, và yêu cầu có những thay đổi trong tài liệu. Seslowe nhìn mặt Atkins, rồi cắt ngang lời ông ta. “Hank, hãy nói điều gì thực tế đi, chúng ta hoặc là phải ký ngay bây giờ hoặc là ra về… Không, Hank, ngay bây giờ. Anh có 3 giây. Peter Atkins đang đứng ngay bên cạnh tôi. Chúng ta phải ký.”

-

Đến trưa, cả nhóm đã tập trung ở văn phòng của Kravis. Không có gì để làm ngoài chờ đợi. Hầu hết các nhân viên ngân hàng và luật sư đang tập trung trong phòng họp để cổ vũ cho đội New York Jets trong một trận bóng chày với đội Buffalo. Ai đó đã làm bỏng ngô và phát cho mọi người. Peter Ackerman của Drexel, phải trở về New York ngay sau khi hạ cánh xuống Los Angeles, bước ra ngoài và quay lại với một đống sách. Kravis dành cả ngày để đi tới đi lui trong phòng.

“Đến khi nào chúng ta mới có tin tức đây ?” anh liên tục hỏi. “Chết tiệt, khi nào thì chúng ta mới có thông tin đây?”

Hết lần này đến lần khác, Paul Raether gọi cho Dick Beattie, ông vẫn đang ở nhà, cố gắng tập trung đọc cuốn sách The Making of the Atomic Bomb (tạm dịch: Sản xuất bom nguyên tử) của Richard Rhodes.

“Có chuyện gì xảy ra vậy?” Raether hỏi

“Tôi không biết,” Beattie nói. “Anh muốn tôi làm gì, gọi đến đó đi.”

“Không, tôi sẽ không gọi cho họ,” Raether nói. Điều cuối cùng họ muốn làm là gây rắc rối.

-

Tại trang trại của Robinson, ngày có ý nghĩa quyết định với Johnson cứ chầm chậm trôi qua. Dường như lão là người duy nhất trong số bốn người ở đó không bị ám ảnh bởi các cuộc thảo luận của ủy ban đặc biệt. Hầu như cả ngày, lão ngồi trên ghế sofa đọc báo. Khi buổi chiều dài lê thê qua đi mà không có tin tức gì, Johnson vẫn giữ được nét mặt vui vẻ ngay cả khi Linda Robinson lo lắng gọi điện khắp nơi nhằm tìm kiếm dấu hiệu của kết quả đấu giá.

“Đừng lo lắng, Linda,” lão khuyên nhủ chủ nhà. “Cuối cùng, họ cũng phải nói với chúng ta thôi.”

Tuy vậy, trong thâm tâm, Johnson càng lúc càng trở nên bi quan. Việc hủy bỏ cuộc họp hội đồng quản trị đè nặng lên tâm trí lão. Chỉ riêng tin tức đó thôi cũng đủ để chứng tỏ không có giải pháp rõ ràng nào cho cuộc đấu thầu, ít nhất là không phải hôm nay. Lão đoán chừng việc đấu thầu hẳn đã vướng phải tình huống khó đỡ, cùng với việc thỏa thuận quản lý bị công khai thì đó là một tin xấu.

Lão dự đoán: “Nếu các hồ sơ dự thầu có giá sít sao, thì chúng ta tiêu rồi.” Hội đồng quản trị sẽ không bỏ phiếu cho chúng ta.”

Khoảng 4 giờ, hai cặp vợ chồng chuẩn bị trở lại New York. Bên ngoài, trời mưa tầm tã. Thời tiết xấu đến nỗi các máy bay trực thăng họ muốn thuê để quay trở lại thành phố đều không thể cất cánh. Khi mưa vẫn dồn dập trút xuống, mọi người dồn vào hai chiếc xe, vợ chồng Robinson ngồi ở xe trước cùng tài xế. Ngày hôm đó, John Martin đến trang trại trong chiếc Range Rover màu trắng, và vợ chồng Johnson lên xe của anh để cùng trở về thành phố.

Đoàn lữ hành nhỏ tiến lên chậm chạp, trong khi thời tiết xấu khiến giao thông tắc nghẽn trên đường Hutchinson Parkway. Trong chiếc xe dẫn đầu, Linda ôm lấy tai nghe điện thoại di động, miệt mài dò hỏi tin tức. Khi hai chiếc xe vượt qua đường ranh giới với bang New York, chuông điện thoại reo lên. Đó là một phóng viên với một bản sao thông cáo báo chí sắp được công bố. Linda Robinson lắng nghe bản thông cáo với sự hoài nghi ngày càng tăng. Vài phút sau, cô đặt điện thoại xuống và quay sang chồng.

“Anh sẽ không bao giờ tin điều này…”

Trong 15 phút, Linda Robinson cố gắng gọi điện thoại cho chiếc Range Rover của Martin, nhưng cơn bão hoành hành đã làm tắc nghẽn đường truyền. Cuối cùng, khi vừa qua Mamaroneck, cô gọi được cho họ.

Những tiếng la hét giận dữ nổ ra trong chiếc Range Rover.

“Chúng ta bị nẫng tay trên!” Martin hét lên. “Chúng ta đã bị nẫng tay trên!”

Trong nháy mắt, Johnson thấy mọi hy vọng chiến thắng đã tan thành mây khói. “Xong rồi,” lão lặng lẽ nói với vợ. “Tạm biệt.”

-

Linda Robinson chuyển tin tức cho một phóng viên thứ hai, người này nhanh chóng chuyển tin đến nhà cho Dick Beattie. Beattie lắng nghe và ngạc nhiên khi biết Kohlberg Kravis đứng thứ ba trong cuộc đua. “Đồ khốn kiếp!” Ông kêu lên.

Khi phóng viên kết thúc cuộc gọi, Beattie nghe thấy tiếng lách tách báo hiệu có người đang chờ ở một đường dây khác. Ông cúp máy, nhấc điện thoại ở đường dây thứ hai, ngắt lời Peter Atkins trước khi anh ta có thể nói lời nào. “Peter,” ông nói. “Để tôi nói cho anh nghe những gì anh sắp nói với tôi.” Ông thông báo thứ hạng ba của nhóm mình, và thời hạn đấu thầu mới. Lần đầu tiên trong một tháng, Beattie nghe thấy giọng nói mất bình tĩnh của Atkins. “Chết tiệt,” Atkins nói. “Làm thế nào mà ông biết vậy?”

Sau khi cất đồ, Johnson và vợ chồng Robinson liền nhập hội với những người khác trong nhóm quản lý đang tập hợp tại công ty luật của Jack Nusbaum có tên Willkie Farr & Gallagher, ở đó, họ thấy đám đông nhân viên ngân hàng đầu tư của Salomon đang giận dữ. Chuỗi Xúc Xích chửi rủa đồng nghiệp cũ của họ, Ira Harris, đổ lỗi cho ông ta về việc đã đưa nhóm First Boston-Pritzker vào tham gia đấu thầu, và giành lấy chiến thắng của họ. “Kẻ chết tiệt đó! Hắn chỉ muốn loại bỏ chúng ta!”

Jim Robinson như mọi khi vẫn giữ được phẩm chất của một chính khách, cố gắng làm dịu những cái đầu nóng. Nusbaum cố gắng khiến tình hình trở nên lạc quan hơn. “Thôi nào, rõ ràng chúng ta đã có vị trí tốt,” vị luật sư của Shearson nói. “First Boston rồi sẽ chẳng đi đến đâu, và chúng ta vẫn sẽ dẫn đầu.”

“Tôi không tin vào điều đó,” Johnson nói. “Bây giờ, họ biết giá thầu cao nhất của chúng ta. Họ đã biết chúng ta đang ở đâu.” Không, Johnson nói với nhóm, diễn biến này cho thấy có rất nhiều điểm gở trong cách làm việc của các thành viên hội đồng quản trị. Lão dự đoán: “Dù thế nào, nhóm quản lý cũng sẽ không nhận được gói thầu này. Điều đó đã quá rõ ràng.”

Johnson đã sẵn sàng từ bỏ và trở về nhà. “Chúng ta luôn dự tính được các phương án, nhưng không phải là đấu thầu lại,” lão nói với cả nhóm. “Mẹ kiếp! chúng ta đã hoàn thành phần việc của mình. Chúng ta đã chơi trung thực với họ. Mẹ kiếp! Chúng ta đã bị bêu rếu, chọc giận, và những thứ chết tiệt khác. Cứ mặc họ thôi. Hãy để họ giải thích điều đó với các cổ đông.”

Thật ngoa ngoắt. Nhưng khi nghe Johnson nói, Peter Cohen sợ rằng lão đã đúng. Lần đầu tiên Cohen nhận ra nguy cơ đã trở nên hiện hữu với Johnson. Có lẽ các giám đốc sẽ thực sự không giao công ty cho lão nữa.

“Ross,” John Gutfreund hỏi, “giờ ông có nghĩ rằng có thể hội đồng quản trị đang thực sự chống lại ông không?”

“Phải, mối quan hệ này đã đi quá xa,” Johnson nói. Nỗi lo sợ các vụ kiện luôn có xu hướng phá hỏng những tình bạn tốt đẹp nhất. “Họ không chống lại tôi,” lão giải thích, “họ chỉ đang hành động vì chính bản thân. Đó lại là một điều hoàn toàn khác.”

-

Ở số 9 khu Tây, Kravis không biết nên tự đá vào mình hay hét lên “Chúa ơi!” - công bằng mà nói họ đã thua. Đơn giản là Johnson và Cohen đã đánh bại họ quá dễ dàng. Ngay cả trong những giấc mơ điên rồ nhất, Kravis cũng không thể tưởng tượng nhóm quản lý sẽ nhảy lên mức giá 100 đô-la/cổ phiếu. Tuy nhiên, sự tức giận của anh nhanh chóng nhường chỗ cho sự nhẹ nhõm khi anh hiểu hết được tầm quan trọng của đề xuất dự thầu không có cơ hội thành công của First Boston. “Chúa ơi,” Kravis nói. “Chúng ta vừa được tái sinh.”

Chiều hôm đó, anh và Roberts khẩn trương tìm hiểu thêm chi tiết về đề xuất của First Boston. Đó là một cú sốc mạnh. Những kẻ này đến từ nơi quái quỷ nào vậy? Kravis băn khoăn hỏi rõ to. Lúc đầu, họ không thể hiểu Maher định làm gì. Sau đó, khi nắm được thông tin chi tiết về gói thầu, Kravis thấy ý tưởng này thật quá hời hợt. Anh không thể tin hội đồng quản trị lại chấp nhận nó, và cho Maher một cơ hội. Theo đánh giá của anh, First Boston không thể hoàn thành kế hoạch này vào cuối năm. Tuy nhiên, sự việc đã xảy ra rồi, và vì điều đó, Kravis sẽ mãi mãi biết ơn họ. Anh gọi Roehm và nói với cô bằng giọng nhẹ nhõm: “Ít nhất, chúng ta vẫn còn sống.”

Chiều muộn hôm đó, Kravis, Roberts và Beattie tập trung tại văn phòng của Kravis để bàn về hành động tiếp theo. Họ nhất trí rằng nhìn bề ngoài, họ đang ở thế bất lợi.

“Chờ đã,” Roberts nói. Anh phát biểu suy nghĩ về hoàn cảnh hiện tại, và cho rằng không chắc vị trí thứ ba đã là quá tồi tệ. “Trên thực tế, chúng ta đang ở chính xác nơi chúng ta muốn.”

Tuyên bố trên khiến mọi người nhìn anh với những ánh mắt đầy nghi ngờ.

“Nghe này,” anh nói, “chúng ta hãy án binh bất động, hãy nói chúng ta không biết mình sẽ làm gì. Đó là sự thật. Không có lý do gì để nói chúng ta thực sự sẽ làm gì sau diễn biến này. Hãy cho cả thế giới biết rằng chúng ta có thể sẽ không ở đó.”

Kravis hiểu được suy nghĩ của người anh họ. Điều cần làm nhất bây giờ là xuất hiện trước bàn dân thiên hạ và lan truyền thật nhanh tin tức, đặc biệt là việc họ có tham gia đấu giá nữa không. Thật hợp lý đến hoàn hảo: Nếu họ trở lại mạnh mẽ hơn trong vòng hai, tại sao phải bộc lộ sớm làm gì? Và vì khả năng họ sẽ rút lui là rất thấp, nên tại sao không tự bảo vệ mình khỏi tình huống nguy hiểm?

Roberts mỉm cười khi phác thảo kế hoạch đã hình thành trong đầu. Anh có một địa chỉ hoàn hảo để từ đó khởi động một chiến dịch nhỏ, truyền đi thông tin sai lệch: Wasserstein và các nhân viên ngân hàng đầu tư luôn có xu hướng rò rỉ thông tin. Anh nói: “Tôi nghĩ chúng ta nên nhân dịp này để lừa Bruce.”

Bước đầu tiên là một thông cáo báo chí. “Chúng tôi phải xem xét cẩn thận các khả năng,” công ty công bố vào tối Chủ nhật, “trên cơ sở các thông tin mới mà chúng tôi sẽ nhận được trước khi có quyết định về các bước đi tiếp theo, nếu chúng tôi có cơ hội nhận được các thông tin đó.”

Về đến nhà, Kravis tỏ ra mệt mỏi, chán chường và nói muốn từ bỏ cuộc chiến. Carolyne Roehm, người rất tin vào trực giác của phụ nữ, cố gắng tìm trên gương mặt của chồng mình các dấu hiệu cảm xúc thật sự của anh. Có phải anh có ý định đó không? Anh có thực sự nghiêm túc khi nói muốn để xổng con mồi lớn nhất đời mình không?

Chẳng có chút nào giống với một Kravis đang sợ hãi, muốn trốn chạy để khỏi bị xấu mặt. Ẩn sau những lời nói có phần mệt mỏi, cô cảm nhận được quyết tâm mới của chồng mình. Không, Roehm quả quyết, không có chuyện anh từ bỏ vòng đấu thầu thứ hai này. Cô suy nghĩ sâu thêm một chút, và cuối cùng chắc chắn rằng: Henry Kravis đã có kế hoạch mới.

[1] Wasserstein phủ nhận điều này, nói rằng ông không có lý do gì để tham gia nhóm kỹ thuật được cử đến Skadden Arps sáng hôm đó. (TG)

[2] Mối liên hệ giữa Finn và Rosen được đề cập trở lại vào tuần sau, khi First Boston đề nghị thuê Rosen trong một thỏa thuận riêng. Theo Finn và Rosen, Atkins đã từ chối việc thuê Rosen để tránh bất kỳ sai lầm nào. (TG)

HoHoàng Thị Ngọc dịch • Barbarians at the gate •
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.