Bản chất của vị Caesar đầu tiên có lẽ chưa bao giờ bị đánh giá thấp hơn mức đúng đắn bằng chính ngòi bút của kẻ, xét theo một nghĩa nào đó, đã miêu tả ông xuất sắc nhất; nghĩa là, với sức mạnh và tài hùng biện lớn nhất ở những nơi hắn thực sự thấu hiểu được ông. Đó chính là Lucan, kẻ chưa từng thể hiện thứ nghệ thuật hùng biện rực rỡ hơn, cũng như chưa từng đi chệch khỏi chân lý xa hơn, so với trong những bức chân dung tương phản giữa Caesar và Pompey. Câu thơ nổi tiếng, "Nil actum reputans si quid superesset agendum" (Không cho là đã làm gì nếu còn việc gì chưa hoàn thành), là một nét đẹp trong bản chất thực sự của ông, được diễn đạt vô cùng tinh tế. Nhưng, nếu mục đích của Lucan (như có thể, xét theo lợi ích của Pompey ở một vài phương diện) là bóp méo một cách triệt để và hoang đường bản chất của vị Đại độc tài, thì chẳng có nét vẽ đơn lẻ nào có thể giúp hắn hoàn thành mục đích ấy một cách hiệu quả hơn, hay bằng ít từ ngữ hơn, so với đoạn văn đầy biểu cảm này: "Gaudensque viam fecisse ruina" (Và hân hoan tạo đường đi trên những đống đổ nát). Một nét tính cách như vậy thậm chí có thể bị coi là phóng đại quá mức khi áp dụng cho cả Marius — kẻ (dù ở nhiều phương diện là một hình mẫu hoàn hảo của sự vĩ đại La Mã: vững chãi, uy nghiêm như cột trụ, bất động, và có lẽ hơn bất kỳ nhân vật nào được ghi chép trong lịch sử, có khả năng minh họa trọn vẹn cho hình ảnh táo bạo của Horace: "Dù bầu trời sụp đổ vỡ tan, những mảnh vụn hoang tàn cũng chỉ đánh vào một kẻ không hề sợ hãi") dẫu sao vẫn mang trong mình sự tàn bạo, một nét quỷ quyệt, vốn rất hiếm khi đi đôi với sự điềm tĩnh và gan góc nhường ấy.
Thế nhưng, đối với Caesar — bậc chính khách tài ba lỗi lạc, nhà hùng biện xuất chúng, người đàn ông với những thói quen tao nhã và gu thẩm mỹ tinh tế, vị ân nhân của nghệ thuật vượt xa mọi tiền lệ của thời đại ông hoặc các thời đại trước, và là một bậc thầy văn chương vượt trội so với các đồng niên (ngoại trừ Cicero) đến mức ông thậm chí coi thường cả Sylla lừng lẫy như một kẻ mù chữ — việc xếp một con người như vậy vào hàng ngũ những kẻ hủy diệt cuồng nộ, những kẻ hân hoan trong sự tàn phá do chúng gieo rắc, không chỉ là lầm lẫn ở một nét tính cách đơn lẻ, mà là lầm lẫn ở cả một giống loài. Những kẻ như Attila hay Tamerlane, những kẻ tự hào nhận mình là ngọn roi của Thượng đế và là công cụ đặc biệt của cơn thịnh nộ từ Ngài, chẳng có điểm chung nào với một vị Caesar tao nhã và nhân hậu; chúng sẽ chẳng thể hiểu được nhân cách của ông cũng như ông chẳng bao giờ tôn trọng bản chất của chúng. Ngay cả Cato, người anh hùng không xứng đáng của Lucan, lẽ ra cũng có thể gợi cho hắn thấy một chút chân lý trong trường hợp này, thông qua một nhận xét nổi tiếng mà ông từng đưa ra về điểm khác biệt đặc trưng của Caesar so với những kẻ gây rối loạn cách mạng khác; bởi vì, theo Cato, trong khi những kẻ khác mưu toan lật đổ nhà nước trong cơn cuồng nộ kéo dài và trong một trạng thái tâm lý giống như cơn say rượu, thì trái lại, Caesar, giữa toàn bộ tầng lớp những kẻ gây rối trị an ấy, là người duy nhất tiếp cận nhiệm vụ lật đổ nền cộng hòa với một tâm thế tỉnh táo và ôn hòa (unum accessisse sobrium ad rempublicam delendam)...
Vĩ đại nhường nào nhờ những ân huệ của bản tính nguyên thủy, Caesar chắc chắn cũng chịu ơn hoàn cảnh như bất kỳ ai khác; và có lẽ trong số những yếu tố thuận lợi nhất cho sự phát triển sớm của lòng tự lập lớn lao, chúng ta phải kể đến cái chết sớm của người cha. Dù sớm hay muộn, việc mồ côi từ thủa nhỏ có thể là một lợi thế, nhưng cũng có thể không, tùy theo bản chất của mỗi người. Có lẽ sự mồ côi toàn diện hiếm khi, hoặc chưa bao giờ, là một lợi thế; nhưng việc mất đi người cha từ khi còn sớm, trong những hoàn cảnh thích hợp, lại có thể mang lại lợi ích to lớn cho một tâm hồn mạnh mẽ. Đối với Caesar, việc mất cha khi chưa đầy mười lăm tuổi là một hồng phúc phi thường. Và có lẽ đó cũng là một may mắn cho người cha khi ông qua đời sớm như vậy. Giờ giả sử ông sống thêm một năm nữa, ông có thể sẽ phải chứng kiến chính mình bị coi thường, bị đánh bại và trở nên lố bịch. Bởi vì thử hỏi, ở bất kỳ thời đại nào, đâu là người cha có đủ khả năng gánh vác trọn vẹn mối quan hệ ấy đối với một Caius Julius độc nhất vô nhị — đối với ông, theo ngôn ngữ thích hợp của Shakespeare:
"Con người lỗi lạc nhất trên cõi đời này?"
Và trong câu thơ tuyệt mỹ mang đậm dấu ấn Caesar ấy, cụm từ "cõi đời này" không chỉ được hiểu theo trật tự của những kẻ cùng thời, mà còn theo trật tự của các thế hệ kế tiếp; ông là con người lỗi lạc không chỉ đối với những người đương thời, mà còn, trong tầng lớp tri thức của chính ông, đối với nhân loại nói chung — của tất cả những ai sẽ sinh ra sau ông, hay sẽ ngự trị trên ngai vàng dưới danh hiệu các Sa hoàng, Kaiser, hay Caesar vùng Bosphorus và Danube; của tất cả những ai trong mọi thời đại sẽ kế thừa sự siêu việt về trí tuệ của ông, hoặc sẽ khuất phục các thế hệ người thường bằng những phẩm chất tương tự như ông. Một phần của sự vượt trội vô biên này phải quy cho việc ông sớm được giải thoát khỏi sự kìm kẹp của cha mình. Có rất nhiều trường hợp mà đơn thuần chỉ vì vấn đề giới tính, một người phụ nữ không thể đứng lên làm gia chủ, hay làm đại diện thích hợp cho gia tộc. Dù họ có là những bà chúa tối cao, ở vào các vị thế chỉ huy đi nữa, họ vẫn là phụ nữ. Quyền trượng không thể xóa nhòa giới tính của họ; và những nỗi e ấp của sự tế nhị nữ nhi luôn cản trở, làm suy yếu và tước đi sức mạnh của vương trượng trong tay họ, dẫu quyền trượng ấy có uy lực đến đâu đi nữa. Do đó, trong các gia đình quý tộc, ta thấy những thiếu niên non choét được đẩy lên làm đại diện cho phẩm giá gia đình, bởi họ là chỗ dựa cho gánh nặng ấy tốt hơn những người mẹ đã trưởng thành. Và về người mẹ của Caesar, dẫu ít ghi chép còn lưu lại, và những điều ít ỏi ấy chỉ xuất hiện tình cờ, chúng ta ít nhất cũng biết được điều này: rằng nếu bà nhìn xuống ông với niềm kiêu hãnh và sự hoan hỉ của người mẹ, thì bà lại ngước lên nhìn ông với tham vọng của người phụ nữ như vị cứu tinh khôi phục lại vinh quang cho người chồng — nhìn với sự kính trọng dành cho một trụ cột của sự vĩ đại La Mã, và với nỗi sợ hãi cùng những bận tâm nữ nhi dành cho một kẻ mà tinh thần đầy hoài bão đã sớm đưa ông vào chốn đấu trường đầy hiểm nguy phiêu lưu. Một phác thảo mỏng manh và thoáng qua về mối quan hệ tồn tại giữa Caesar và mẹ ông, được vớt vác từ đống tro tàn của thời gian, hiện vẫn được lưu giữ bởi cả Plutarch lẫn Suetonius. Ta thấy vào buổi rạng đông, vị patrician trẻ tuổi đang đứng trên bậc thềm hiên nhà gia tộc, người mẹ với đôi tay ôm vòng lấy cổ ông, ngước nhìn gương mặt cao quý của ông, có lúc tìm kiếm nhữngềm hy vọng từ những nét vốn sinh ra để chỉ huy, có lúc lại linh cảm về một sự lụi tàn sớm cho những hứa hẹn đầy nguy hiểm và tráng lệ ấy. Rằng bà mang một phần tính cách đầy hoài bão của con trai, hoặc rằng ông đã kỳ vọng rất nhiều nơi một người mẹ như thế, điều đó chúng ta biết được qua vài lời hiếm hoi còn sót lại từ cuộc trò chuyện của họ. Ông không thốt ra lời nào có thể làm dịu bớt nỗi sợ hãi của bà. Ngược lại, đối với bất kỳ ai không phải là một người mẹ La Mã, những lời từ biệt của ông, đặt trong mối liên hệ với quyết tâm đã rõ của tính cách ông, lại mang một bản chất làm chìm đắm bà trong sự tuyệt vọng khôn cùng, bởi chúng càng làm xá thực những nỗi sợ tồi tệ nhất của bà. Khi ấy, ông chuẩn bị bước vào một cuộc tranh cử bình dân cho chức vụ cao nhất, và lao mình vào những cơn bão táp tại Sân trường Mars. Vào thời kỳ đó, bên cạnh những hiểm nguy khác thông thường hơn, các băng nhóm đấu sĩ được nuôi dưỡng bằng tiền của những quý tộc La Mã đầy tham vọng hoặc ưa nổi loạn đã gieo rắc một bầu không khí bạo tàn và rủi ro cá nhân vào tiến trình của những cuộc tranh đua như thế; và dù là để phủ đầu chiến thắng của đối thủ, hay để trả thù cho thất bại của chính mình, việc một nhóm những kẻ cạnh tranh đầy tức giận chặn đứng chiến thắng cuối cùng của ông bằng ám sát hoàn toàn không phải là điều bất khả. Tuy nhiên, trước mối nguy hiểm này, tâm trí ông chẳng mảy may bận tâm; mối nguy hiểm duy nhất mà ông suy tính, hay cho rằng người mẹ đang lo sợ, chính là nguy cơ thất bại, và ông dành trọn những lời an ủi của mình cho điều đó. Ông giục bà đừng sợ hãi điều gì cả; bởi vì quyết tâm của ông là trở về trong chiến thắng cùng những huy hiệu của chức vụ ông đang mưu cầu, hoặc trở về như một thây ma.
Quả thực, những thử nghiệm của Caesar đã bắt đầu từ rất sớm; và có lẽ, nếu cái chết của người cha không đẩy ông vào hoàn cảnh tự lực cánh sinh từ quá sớm, qua đó sớm phát triển những nét nam tính trong tính cách, ép buộc ông từ khi còn là một thiếu niên phải chịu đựng kỷ luật của xung đột dân sự và ách kìm kẹp của đời sống thực tế, thì năng lượng của chính ông cũng chưa chắc đã đủ để duy trì tất cả những điều ấy. Tuổi của ông không được xác định chính xác; nhưng chắc chắn một điều rằng ông chưa tròn đôi mươi khi đủ can đảm dấn thân vào cuộc đấu tranh với Sylla — kẻ khi đó đang là Độc tài, đang lạm dụng quyền lực vô hạn của chức vụ ấy với sự phóng túng và nghiêm khắc mà lịch sử đã ghi nhớ mãi. Ông chẳng có lấy một cơ sở hy vọng rõ ràng nào, cũng chẳng có tấm gương nổi bật nào vào thời điểm đó để củng cố tinh thần cho mình trong cuộc chiến này — thế mà ông vẫn thúc đẩy nó theo phong cách bất dung thứ nhất và đẩy tới tận cùng của sự thách thức. Chủ đề của cuộc tranh chấp càng làm tăng thêm vẻ hấp dẫn cho nó. Đó là người vợ trẻ tuổi của vị Caesar trẻ tuổi, người đang đứng dưới bóng đen bất bình của vị Đại độc tài; không phải vì bản thân nàng, mà về mặt chính trị, do những mối quan hệ gia tộc của nàng: và chính nàng, Cornelia, con gái của một người từng bốn lần giữ chức quan chấp chính, là người mà Caesar được yêu cầu phải ly hôn. Thế nhưng ông đã khinh bỉ mệnh lệnh ngạo mạn ấy, và theo đuổi quyết định của mình đến cùng một kết cục khải hoàn, bất chấp tính mạng bị đe dọa từng phút, và có lúc chỉ được cứu thoát bằng cách đổi chỗ ẩn náu mỗi đêm; chính người thiếu nữ này sau đó đã trở thành mẹ của người con gái duy nhất của ông. Điều đáng chú ý là cả mẹ lẫn con gái đều sớm qua đời vào những thời điểm bước ngoặt trong cuộc đời Caesar; bởi rất có thể những nhát dao không thể chữa lành vào tình cảm gia đình ấy đã đẩy ông với sự tận tụy độc tôn vào vòng tay của vinh quang và tham vọng, nhiều hơn những gì có thể xảy ra trong một hoàn cảnh đời tư hạnh phúc hơn. Việc Caesar thoát khỏi sự hủy diệt trong cuộc chiến không cân sức với một kẻ khi ấy đang nắm giữ toàn bộ quyền lực sấm sét của nhà nước là một điều có phần đáng ngạc nhiên; và các sử gia đã tìm kiếm lời giải cho điều này trong những lời thỉnh cầu đầy quyền lực của các trinh nữ Vestal, cùng một số nhân vật cao cấp khác có họ hàng với gia tộc hiển hách của ông. Những điều đó có lẽ đã đóng góp phần nào; nhưng chúng ta cũng cần phải ghi nhận Sylla — kẻ vốn có sự đồng cảm với mọi thứ thực sự cao quý — rằng ông hẳn đã vô cùng kinh ngạc trước sự táo bạo của vị quý tộc trẻ tuổi, kẻ vẫn đứng hiên ngang trong sự cô lập khắc nghiệt giữa vô số tấm gương đầu hàng trong sợ hãi; và phần lớn sự khoan dung mà vị Độc tài thể hiện rất có thể thực sự bắt nguồn từ thứ tình cảm hào hiệp ấy. Trên thực tế, theo một số ghi chép, kẻ truy đuổi Caesar không phải là bản thân Sylla, mà là những kẻ tay sai của ông ta (adjutores). Dù sao đi nữa, chúng ta biết rằng Sylla đã đánh giá rất đúng bản chất của Caesar, và từ sắc thái hành vi của ông trong sự kiện đơn lẻ này, vị Độc tài đã đưa ra lời tiên tri nổi tiếng về vận mệnh tương lai của ông; ông dặn dò các chiến hữu hãy đề phòng "gã thiếu niên đi giày lỏng lẻo ấy, bởi ẩn chứa trong hắn là rất nhiều kẻ mang hình bóng của Marius." Không thể tưởng tượng được một minh chứng nào vĩ đại hơn về sự kinh ngạc mà Caesar đã khơi gợi, xuất phát từ một kẻ thấu hiểu tường tận những phẩm chất của con người khổng lồ kiểu Cyclops mà qua lăng kính đó hắn đã đong đếm gã thiếu niên quý tộc.
Chúng ta không có ý định, và cũng không phù hợp với kế hoạch của mình, khi theo chân con người vĩ đại này qua toàn bộ hoàn cảnh của cuộc đời lãng mạn ấy; dẫu chắc chắn rằng nhiều phần trong cuộc đời ông đòi hỏi một sự khảo sát sắc bén hơn bất kỳ nghiên cứu nào từng được áp dụng trước đây, và nhiều sự kiện có thể được đặt dưới một ánh sáng hoàn toàn mới. Thật vậy, toàn bộ phân đoạn tối quan trọng này của lịch sử cổ đại nên được tái tạo lại bằng thái độ hoài nghi mang tính phản biện của một Niebuhr, cùng sự đối chiếu toàn diện tương tự, nếu có thể, dựa trên sự giải thích tài tình các tài liệu lịch sử. Trên thực tế, đây chính là bản lề xoay chuyển vận mệnh tương lai của toàn nhân loại, và do đó, vốn có mối liên hệ chung với mọi quốc gia hiện đại bất kỳ, lẽ ra phải được vun đắp với lòng nhiệt thành vốn thuộc về một vấn đề riêng tư của mỗi cá nhân. Nhìn chung, những giai thoại thể hiện sống động nhất sự vĩ đại trong tính cách của vị Caesar đầu tiên chính là những câu chuyện minh họa cho sự thách thức hiểm nguy của ông trong những tình huống ngặt nghèo: năng lượng phi thường và tốc độ chóng mặt trong các quyết định cũng như hành động của ông nơi chiến trường (chính vì nhìn vào điều đó mà Cicero gọi ông là [Greek: teras] — một sự hiển hiện kỳ lạ); sự uyên bác giúp ông thấu thùy thiết kế của kẻ thù, cùng tốc độ chớp nhoáng để đối phó thảm họa bằng biện pháp khắc phục và sửa chữa, hoặc nơi nào bất khả, thì bằng sự cứu trợ; bản lĩnh phi thường mà ông thể hiện khi biến những điềm gở thành lợi ích cho chính mình, chẳng hạn như khi vấp ngã lúc bước lên bờ (vốn được coi là điềm gở tối kỵ), ông đã biến hóa ý nghĩa của nó ngay trong khoảnh khắc bằng cách kêu lên: "Hỡi Châu Phi, chính bằng cách này và qua sự tiếp xúc với đất mẹ đây, ta chiếm đoạt lấy ngươi!", qua đó gieo vào một tai nạn hình thái của một dụng ý biểu tượng. Cũng nổi bật không kém là sự kiên cường vĩ đại mà ông dùng để đối mặt với toàn bộ sức nặng của một thảm họa khi sự xoa dịu chẳng còn đem lại ích lợi gì, "non negando, minuendove, sed insuper amplificando, ementiendoque" (không phải bằng cách chối cãi hay giảm nhẹ, mà bằng cách phóng đại và thêu dệt thêm); như khi nhận thấy binh lính của mình hoảng sợ trước sự tiến bước của Juba với lực lượng thực sự hùng hậu nhưng lại bị thổi phồng qua nỗi sợ của họ, ông đã hiệu triệu họ bằng một bài diễn văn quân sự với đại ý như sau: —"Hãy biết rằng chỉ trong vài ngày tới, nhà vua sẽ tiến đến chỗ chúng ta, mang theo sáu mươi ngàn lính lê dương, ba mươi ngàn kỵ binh, một trăm ngàn lính nhẹ, bên cạnh ba trăm con voi chiến. Sự việc đã rành rành ra đó, ta không muốn nghe thêm bất kỳ phỏng đoán hay ý kiến nào nữa, vì các ngươi nay đã có lời bảo đảm của ta về sự thật này, kẻ mà tin tức mang tới không còn gì phải nghi ngờ. Do đó, hãy yên tâm; bằng không, ta sẽ tống cổ từng kẻ trong số các ngươi lên một hạm đội rách nát nào đó, rồi thổi các ngươi theo dòng nước cuốn — chẳng màng dưới ngọn gió nào, chẳng màng hướng về bờ bến nào." Cuối cùng, chúng ta cũng có thể tìm kiếm những giai thoại đặc trưng về Caesar qua sự hào phóng vô tiền khoáng hậu và thái độ coi thường tiền tài của ông.
Về chủ đề cuối cùng này, nhận xét xác đáng của Casaubon là một số minh chứng về sự hào phóng của Caesar từng bị coi là ngụy thư, hoặc dựa trên những văn bản đọc sai, đơn thuần chỉ vì sự thiếu hiểu biết về quy mô anh hùng mà những tráng lệ La Mã thời đại ấy tuân theo. Một diễn đàn do Caesar xây dựng từ chiến lợi phẩm của chiến dịch cuối cùng, như một món quà dành tặng cho người dân La Mã, đã ngốn của ông — chỉ riêng tiền mua mảnh đất đặt nó — gần tám trăm ngàn bảng Anh. Tặng cho các công dân Rome trong một lần phát chẩn, ông gửi gắm khoảng hai rưỡi đồng guinea cho mỗi đầu người. Tặng cho quân đội trong một lần ban ơn duy nhất sau khi Chiến tranh Dân sự kết thúc, ông đã trao một số tiền tương đương khoảng hai trăm bảng cho mỗi lính bộ binh, và bốn trăm bảng cho mỗi kỵ binh. Đúng là lực lượng lê dương khi ấy đã bị suy giảm đáng kể bởi gươm giáo của kẻ thù và những gian khổ tột cùng trong các chiến dịch cuối cùng của họ. Tuy nhiên, trong việc này, có lẽ ông chẳng qua chỉ trả lại một món nợ. Bởi đây là một minh chứng về sự gắn bó quân ngũ vượt xa mọi điều mà Wallenstein hay bất kỳ vị tướng nào được quân lính yêu quý nhất từng trải nghiệm: khi Chiến tranh Dân sự bùng nổ, không chỉ các sĩ quan bách phu trưởng của mỗi quân đoàn tự mình trang bị cho một kỵ binh, mà ngay cả các binh sĩ bình thường cũng tình nguyện phục vụ không lương, và (điều có vẻ bất khả thi) không cần cả khẩu phần ăn hằng ngày. Điều này đạt được nhờ những khoản quyên góp giữa họ với nhau, trong đó những kẻ khá giả hơn đứng ra gánh vác việc duy trì cho những người túng thiếu. Tình yêu vô vụ lợi của họ dành cho Caesar còn biểu hiện qua một minh chứng khác, khó khăn hơn: đó là một giai thoại truyền khẩu ở Rome rằng phần lớn những binh sĩ của Caesar không may rơi vào tay kẻ thù đã từ chối nhận sự sống nếu điều kiện đổi lại là phải chiến đấu chống lại ông.
Liên quan đến chủ đề về sự hào phóng phi thường này, có một khía cạnh trong cuộc đời Caesar đã chịu nhiều tổn thất từ những lời xuyên tạc của các sử gia, đó là — những khoản nợ tài chính khổng lồ mà ông phải gánh chịu, cho đến khi lợi nhuận từ chiến tranh xoay chuyển tình thế còn ngoạn mục hơn thế để có lợi cho ông. Vào một giai đoạn trong đời, khi được bổ nhiệm giữ chức vụ ở nước ngoài, các chủ nợ của ông đông đảo và hò hét lớn tiếng đến mức ông không thể rời Rome để thực hiện các nhiệm vụ công công nếu Crassus không đứng ra hỗ trợ bằng tiền mặt hoặc bảo lãnh, với số tiền lên tới gần hai trăm ngàn bảng Anh. Và ở một thời điểm khác, ông từng có thói quen tự giải trí bằng cách tính xem mình cần bao nhiêu tiền để trị giá chính xác bằng không (tức là chỉ để thanh toán sạch nợ nần); theo một bản ghi chép, con số này lên tới hơn hai triệu bảng Anh. Giờ đây, sai lầm của các sử gia là đã miêu tả những khoản nợ này như là cội nguồn ban đầu cho tham vọng và các dự án cách mạng của ông, như thể tình trạng tồi tệ đến cùng cực của đời sống cá nhân đã gợi ý cho các tính toán của ông về một cuộc nội chiến như là phương thức tốt nhất hoặc duy nhất để khắc phục nó. Một chính sách như vậy sẽ giống như nước đi tuyệt vọng cuối cùng của một con bạc vô đạo đức, kẻ khi nhìn thấy ván cờ cuối cùng của mình và những stake tích lũy phụ thuộc vào nó đều đang đứng bên bờ vực hy sinh không thể cứu vãn, liền khéo léo hất tung bàn cờ hoặc dập tắt hết đèn đóm. Thế nhưng Julius, vị ái quốc duy nhất của Rome, chẳng thể tìm thấy chút lợi lộc nào cho các kế hoạch của mình trong bóng tối hay sự hỗn loạn. Nếu được hỗ trợ một cách chân chính, ông đã có thể nghiền nát các tập đoàn tài phiệt của Rome bằng cách đập tan ngay trong sào huyệt của chúng thứ dân chủ đói khát và hám tiền vốn biến oligarchies và cỗ máy của chúng trở nên bất khả chiến bại. Những khoản nợ của Caesar, xa rời việc đóng vai trò là chất kích thích và nguyên nhân kích động tham vọng chính trị của ông, lại đứng trong một mối quan hệ nghịch đảo với tham vọng ấy; chúng là hệ quả của tham vọng và đại diện cho chi phí tự nhiên của nó, được vay mượn từ đầu đến cuối để phục vụ cho các mưu đồ chính trị của ông, nhằm gây dựng và duy trì một lực lượng đảng phái hùng mạnh, cả ở Rome lẫn những nơi khác. Bất kỳ ai chịu khó nghiên cứu tiến trình tham vọng của Caesar từ những tài liệu vẫn còn sót lại cho đến nay đều có thể tự thỏa mãn rằng âm mưu cách mạng hóa nền Cộng hòa, đưa bản thân lên đứng đầu nó, hoàn toàn không phải là sản phẩm của sự ngẫu nhiên hay hoàn cảnh; hơn hết, nó không hề nảy sinh từ một gợi ý nhỏ nhặt và gián tiếp nào như những khoản nợ của ông; mà chính những khoản nợ ấy, ngay từ nguồn gốc ban đầu, hoàn toàn thuần túy phục vụ cho tham vọng khôn ngoan, thiết yếu và yêu nước của ông; và các kế hoạch cách mạng của ông trong mọi thời kỳ của cuộc đời luôn là một mục tiêu trực tiếp và hàng đầu, chứ tuyệt đối không bao giờ dựa trên những xúc cảm ngẫu hứng. Trong điều này không chỉ có lòng yêu nước, mà thực chất đó là con đường yêu nước duy nhất có thể đơm hoa kết trái, hoặc có thể tìm thấy một chiến trường để hoạt động.
Hỡi độc giả cao cả, chớ có bép xép những lời sáo rỗng của lũ đạo đức giả chống lại tham vọng. Trong một số trường hợp, tham vọng là một nhân đức đầy hứa hẹn; trong những trường hợp khác (như ở Rome dưới thời vị Julius rực rỡ của chúng ta), tham vọng chính là nhân đức duy nhất nhờ đó mọi nhân đức khác mới có thể nảy nở. Đã rõ mười mươi với tất cả mọi người rằng Rome, dưới hiến pháp hiện tại, sớm muộn gì cũng phải sụp đổ; và câu hỏi duy nhất đặt ra là — ai sẽ là kẻ làm điều đó? Ngay cả Pompey, bản vốn không phải là kẻ có xu hướng ham trèo cao, và chắc chắn bị thúc đẩy dấn thân vào con đường tham vọng bởi hoàn cảnh cùng những người bạn vây quanh ông, cũng thường xuyên lợ miệng câu nói: "Sylla potuit: ego non potero?" (Sylla làm được: lẽ nào ta không thể?). Làm được cái gì? Là lật đổ hệ thống chính trị của nền Cộng hòa. Hệ thống này đã âm thầm sụp đổ thành một trật tự tồi tệ đến mức, lại càng trượt dài một cách tuyệt vọng vào vũng lầy, khiến tất cả những người yêu nước chân chính đều cầu khẩn một cuộc cách mạng thanh lọc — dẫu phải mua bằng cái giá đắt đỏ là một nền bạo chính — còn hơn là phải đối mặt với sự hỗn loạn của những cuộc tương tàn đẫm máu mà dòng chảy thù hận và cuồng nộ đang bạo liệt trôi về.
Một cuộc cách mạng như thế với cái giá như thế không phải là mục tiêu kém phần quan trọng của Pompey so với Caesar. Do đó, trong một trường hợp mà Rome không được phép lựa chọn về mặt sự việc, mà chỉ được lựa chọn về mặt con người, Caesar có hoàn toàn quyền bước vào võ đài với tư cách là một đấu sĩ hệt như bất kỳ đối thủ nào của ông. Và việc ông thực sự bước vào võ đài ấy một cách có tính toán, bằng những mưu đồ thầm kín, ngay từ khi mới trưởng thành, có thể được suy ra từ điều này — rằng ông không để lọt lưới bất kỳ cánh cửa mở nào hướng tới một cuộc cách mạng, miễn là chúng còn chút hy vọng. Người ta đều quen thuộc với việc ông dúng tay khá sâu vào âm mưu của Catiline, và đã chuốc lấy hiểm nguy không nhỏ trong sự kiện đó; nhưng ít ai biết rằng ông còn là đồng lõa trong ít nhất hai âm mưu khác. Thậm chí còn có một âm mưu thứ tư, do Crassus nhào nặn, mà Caesar đã khích lệ đến mức lặn lội một chuyến về Rome từ một vùng đất rất xa xôi chỉ với hy vọng vào những cơ hội mà nó có thể mang lại; nhưng vì sau khi xem xét, kế hoạch đó có vẻ không mấy triển vọng, ông đã phán đoán tốt nhất là nên giữ thái độ lạnh nhạt, hoặc không dấn thân vào bằng sự hợp tác cá nhân nào. Dựa trên những sự thật này cùng nhiều điều khác, chúng ta rút ra suy luận rằng kế hoạch cách mạng chính là mục đích lớn lao duy nhất của Caesar kể từ khi ông bước chân vào đời sống công cộng. Cũng chẳng có dấu hiệu nào cho thấy ông bận tâm nhiều đến việc ai là kẻ thực hiện nó, miễn là có đủ nguồn lực để đưa nó đi đến cùng và chống đỡ cú va chạm đầu tiên với các lực lượng chính quy của các tập đoàn tài phiệt hiện hành, dù chúng mang hình hài của các chế độ tam hùng hay không. Có vẻ như ông dựa vào sự vượt trội cá nhân của mình để cuối cùng vươn lên đứng đầu triều chính, mặc cho kẻ nào muốn đóng vai trò lãnh đạo danh nghĩa ban đầu.
Chúng ta sẽ thấy dòng chảy khổng lồ của sự hào phóng nơi Caesar cũng hướng về cùng một kết quả đó. Từ nghị viên cho đến tầng lớp khốn cùng nhất của faex Romuli (cặn bã Rome), ông nuôi dưỡng một đội ngũ phụ thuộc được trả lương, cả ở trong lẫn ngoài Rome, đông đảo ngang ngửa một quốc gia. Tại các tỉnh lị và các vương quốc xa xôi, ông theo đuổi những mưu đồ tương tự. Khắp nơi ông đều có lực lượng đảng phas đánh thuê; thậm chí người ta còn biết rõ có cả các vị vua ăn lương của ông. Và điều đáng chú ý là ngay cả trong tư cách tổng tư lệnh, nơi số lượng quân đoàn được giao phó để hoàn thành sứ mệnh xứ Gaul đã nâng ông lên trên mọi nỗi sợ bị kìm kẹp hay kiểm soát trong suốt nhiều năm trời, ông vẫn kiên định theo đuổi kế hoạch chuẩn bị cho tương lai xa — khi ông có thể cần sự trợ giúp, không phải từ nhà nước, mà là chống lại nhà nước. Bởi vì trong số những giai thoại riêng tư bị phơi bày dưới các cuộc nghiên cứu về lịch sử của ông sau khi qua đời, có chi tiết này: chẳng lâu sau khi nắm quyền cai trị ở xứ Gaul, ông đã tự tay gây dựng, trang bị, huấn luyện và duy trì bằng chính quỹ riêng của mình một quân đoàn có lẽ lên tới sáu hoặc bảy ngàn người, những kẻ không bị ràng buộc bởi bất kỳ lời thề tuân lệnh quân sự nào đối với nhà nước, cũng chẳng tạ ơn dưới bất kỳ lá bùa hộ mệnh nào ngoại trừ của riêng Caesar. Quân đoàn này, do kiểu dáng những chiếc mũ giáp có chóp lông vũ trông giống như đầu của một loài chim nhỏ đầy kiêu hãnh, đã được dân gian gọi là quân đoàn Alauda (Chim sơn ca). Thật vô cùng kỳ lạ khi Cato, hay Marcellus, hay những kẻ thù khác của Caesar — những kẻ theo dõi hành vi của ông suốt thời kỳ cai quản xứ Gaul với sự cảnh giác của lòng căm thù cay độc — lại không hề hay biết về sự thật này; nếu không, chúng ta có thể chắc chắn rằng nó đã bị tố cáo trước Viện nguyên lão.
Đó chính là mục đích và động cơ nhất quán đằng sau sự hào phóng khôn ngoan của Caesar. Tách rời khỏi động cơ ấy, xét trong và vì chính nó, đơn thuần quy chiếu về những hình thức tráng lệ mà nó thường mang khoác, sự hào phóng này sẽ đủ nguyên liệu để viết nên cả một tập sách. Các buổi yến tiệc công cộng của Caesar, những màn trình diễn và triển lãm của ông, các trận hải chiến giả naumachiae, và sự uy nghi trong những lễ khải hoàn vô song của ông (những lễ khải hoàn khép lại nền Cộng hòa) từng cái một đều là những tuyệt tác hoành tráng nhất chưa từng có tiền lệ. Các trận hải chiến được tái hiện trên quy mô lớn nhất, tuân thủ mọi biến thể trang thiết bị hàng hải và phương thức giao chiến đã biết, trên một hồ nước khổng lồ được nhân tạo hóa riêng cho mục đích đó. Các trận chiến giả trên cạn được dàn dựng với mọi chi tiết chiến tranh thực tế được diễn tập chân thực đến mức ngay cả những chú voi "mang tháp trên lưng", mỗi bên hai mươi con, cũng tham gia vào cuộc chiến. Các vở kịch được biểu diễn bằng mọi ngôn ngữ được biết đến (per omnium linguarum histriones). Và từ đó (tức là từ thái độ hòa giải được thể hiện đối với các bộ tộc ngoại kiều cư trú tại Rome), một số người đã đưa ra lời giải thích cho một tình tiết vốn dĩ vô cùng bí ẩn trong các nghi thức tang lễ của Caesar — rằng toàn bộ kiều dân nước ngoài lúc bấy giờ đang sinh sống tại Rome đã tự phân biệt mình qua phần tham gia nổi bật trong lễ tang công cộng; và vượt lên trên tất cả mọi người ngoại tộc, người Do Thái đã túc trực canh gác đêm này qua đêm khác bên nấm mồ của vị Hoàng đế. Chưa bao giờ trong lịch sử, theo những truyền thuyết kéo dài qua nhiều thế hệ tại Rome, lại có một dòng chảy khổng lồ của nhân loại tụ tập về một trung tâm duy nhất, vì bất kỳ sức hút kinh doanh hay giải trí nào, sánh bằng Rome nhân dịp các màn trình diễn khải hoàn này do Caesar tổ chức.
Thời đại chúng ta, những buổi tụ họp thỉnh thoảng lớn nhất của loài người diễn ra ở Ấn Độ, đặc biệt là tại hội chợ lớn Hurdwar trên bờ sông Hằng ở miền bắc Hindustan: sự hội tụ của vài triệu người đôi khi được nhìn thấy tại chốn đó, quy tụ dưới ảnh hưởng đan xen của lòng sùng đạo và thương mại, nhưng rồi cũng nhanh chóng giải tán với tốc độ chóng mặt không kém gì lúc họ được triệu tập. Một cảnh tượng tương tự về các quốc gia chen chúc đổ về các quốc gia, và một sự hỗn loạn kiểu Babylon về trang phục, màu da, ngôn ngữ và thổ âm, đã từng được chứng kiến tại Rome khi ấy. Chỗ ở trong nhà, dưới những mái tranh hay mái đền, hoàn toàn là điều bất khả thi. Hàng vạn người dựng lều dọc theo các con đường, các xa lộ, cánh đồng hay khu vườn. Hàng vạn người nằm vắt vẻo trên mặt đất, chẳng có lấy chút bảo vệ mỏng manh nào của lều trại, trong một vành đai khổng lồ bao quanh thành phố. Vô số người, thậm chí cả các nghị viên và những nhân vật thuộc hàng cao quý nhất, đã bị dẫm đạp đến chết trong biển người. Và toàn bộ nhân loại vào thời điểm đó dường như đều quy tụ lại theo tiếng gọi của vị Độc tài đã khuất. Tuy nhiên, những chủ đề này, hay bất kỳ đề tài nào khác gắn liền với đời sống công cộng của Caesar, chúng ta chỉ lưu ý ở những tình tiết đã bị các sử gia bỏ sót hoặc miêu tả phiến diện. Giờ đây, phần kết luận, chúng ta hãy đưa ra ánh sáng — thoát khỏi sự tối tăm mà chúng ẩn náu bấy lâu — những giai thoại miêu tả thói quen đời tư, gu thẩm mỹ và những nét đặc thù cá nhân của ông.
Về ngoại hình, ông cao lớn, da trắng, mảnh khảnh, với những chi nổi bật bởi tỷ lệ thanh thoát. Đôi mắt ông đen và sắc bén. Những đặc điểm này được ghi nhớ trong một thời gian dài, và chắc chắn luôn hiện diện trong tâm trí mọi người tại các cung điện hoàng gia thông qua tranh vẽ, tượng bán thân và tượng toàn thân; bởi chúng ta vẫn tìm thấy miêu tả tương tự về diện mạo cá nhân của ông ba thế kỷ sau đó trong một tác phẩm của Hoàng đế Julian. Ông là một kỵ mã tài ba nhất và là một bậc thầy (peritissimus) trong việc sử dụng vũ khí. Thế nhưng, bất chấp kỹ năng và tài nghệ cưỡi ngựa của mình, có vẻ như khi tháp tùng quân đội hành quân, ông đi bộ thường xuyên hơn là cưỡi ngựa; không nghi ngờ gì nữa, đó là để nêu gương và thể hiện sự đồng cảm với binh lính — điều đã chiếm trọn trái tim họ. Trong những dịp khác, khi di chuyển tách rời khỏi quân đội, ông có vẻ thường ngồi xe ngựa hơn là cưỡi ngựa. Mục đích của sự ưu tiên này chắc chắn là để chở theo hành lý. Chiếc xe ngựa mà ông thường dùng là loại rheda, một thứ xe ngựa hai bánh hoặc đúng hơn là xe rơ-moóc nhẹ; vì nó là xe bốn bánh, thích hợp (như ta thấy từ các quy định hoàng gia dành cho xe công cộng, v.v.) để chở khoảng nửa tấn hành lý. Lượng hành lý cá nhân thuần túy mà Caesar mang theo có lẽ khá đáng kể; bởi ông là một con người với những thói quen tao nhã, và trong mọi khía cạnh của cuộc đời luôn chú ý một cách cẩn trọng đến vẻ lịch lãm cá nhân. Độ dài các chuyến hành trình mà ông thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định ngày nay khiến ngay cả chúng ta cũng phải kinh ngạc, và do đó hoàn toàn có thể khiến những người đương thời của ông phải sững sờ. Khoảng cách một trăm dặm không phải là một chuyến đi ngày vô tiền khoáng hậu đối với ông trên một chiếc rheda như chúng ta vừa miêu tả. Những thói quen của ông tinh tế đến mức, cùng nhu cầu không ngơi nghỉ đối với những tiện nghi xa hoa của đời sống văn minh tồn tại ở Rome lúc bấy giờ, người ta kể rằng ông mang theo — như những phần không thể thiếu trong hành lý cá nhân — những viên ngà voi nhỏ hình thoi, hình vuông, hình tròn hoặc hình bầu dục, cùng các vật liệu đắt tiền khác, cần thiết cho việc lát nền khảm mosaic trong lều của ông. Những thói quen như vậy sẽ dễ dàng lý giải cho việc ông di chuyển bằng xe ngựa thay vì cưỡi ngựa.
Sự lịch thiệp và tính tình nhã nhặn của Caesar là điều ai cũng biết; và cả hai phẩm chất ấy đều được minh họa qua một số giai thoại còn tồn tại qua nhiều thế hệ ở Rome. Trong một dịp dùng bữa với tư cách là khách mời tại một bàn tiệc mà người hầu đã vô ý dọn nhầm một loại dầu đèn thô thay cho dầu ô-liu dùng làm xà-lách, Caesar đã không cho phép những vị khách khác chỉ ra sai sót ấy cho chủ nhà, vì sợ làm ông ta tổn thương quá mức khi phơi bày một việc có thể bị coi là thiếu hiếu khách. Trong một lần khác, khi dừng chân tại một quán trọ nhỏ, lúc một thành viên trong tùy tùng của ông đột ngộtổ bệnh, Caesar đã nhường lại chiếc giường duy nhất mà quán trọ có cho người đó sử dụng. Những sự cố nhỏ nhặt như thế bộc lộ sự hào hoa trong bản chất của Caesar; và do đó, người ta càng cảm thấy ngạc nhiên hơn khi thấy sự xa lánh của Viện nguyên lão bị gán ghép, ở một mức độ không hề nhỏ, cho một lỗi lầm thô lỗ và vô cùng đáng trách về mặt phép lịch sự. Người ta cáo buộc rằng Caesar — nhưng liệu chúng ta có dám viện dẫn cổ đại để làm bằng chứng? — đã từ chối đứng dậy khỏi ghế khi họ tiến đến gần để đọc lời chúc mừng. Người ta kể lại, và chúng ta có thể tin điều đó, rằng ông đã gây ra sự phẫn nộ sâu sắc hơn bởi chính thiếu sót đơn lẻ này trong một vấn đề tuân thủ nghi thức, hơn là qua tất cả những cuộc tấn công mang tính bản chất vào các đặc quyền của họ. Điều mà chúng ta thấy khó tin không phải là hậu quả từ sự xúc phạm ấy — điều đó chẳng có gì lạ so với những gì chúng ta đều có thể dự đoán — mà là tính khả thi của chính hành vi xúc phạm ấy, từ một con người ít kiêu ngạo như Caesar và là một người đàn ông từng trải hiểu đời sâu sắc. Ông đã được thông báo về sự ghê tởm mà mình gây ra; và chúng ta buộc phải tin vào lời xin lỗi của ông, trong đó ông quy trách nhiệm cho bệnh tật lúc đó không cho phép ông duy trì tư thế đứng. Chắc chắn toàn bộ tiến trình cuộc đời ông không chỉ nhã nhặn mà còn nhân từ, và đối với kẻ thù thì khoan dung đến mức hàm chứa sự hào hiệp lớn lao vượt quá tầm hiểu biết của người đời, khiến nhiều người quy nó thành sự yếu mềm.
Tuy nhiên, chẳng có chút yếu mềm nào ở Caius Caesar; và để đảm bảo điều đó không xảy ra, thật may mắn khi âm mưu đã cắt đứt cuộc đời ông khi ông đang ở đỉnh cao sung mãn của các năng lực, vào đúng thời điểm hoàng kim của vinh quang, và ngay trước thềm hoàn thành chuỗi thành tựu vĩ đại. Trong số đó phải kể đến: — một bản tổng hợp toàn bộ hệ thống luật pháp, vốn vào thời điểm ấy đã trở nên cồng kềnh và áp bức; việc thiết lập các thư viện công cộng khổng lồ và toàn diện, cả tiếng Hy Lạp lẫn tiếng Latinh; việc trừng phạt xứ Dacia (nơi cần một trận đòn roi vì sự xấc láo cũng giống như Afghanistan từ phía chúng ta vào năm 1840); cuộc chinh phục xứ Parthia; và việc đào một con kênh đào qua Eo biển Corinth. Việc cải cách Lịch pháp thì ông đã hoàn thành. Và đối với tất cả các dự án của ông, có thể nói rằng chúng đều mang tính ái quốc về mục đích và mang tỷ lệ khổng lồ về quy mô.
Với tư cách là một nhà hùng biện, công trạng của Caesar nổi bật đến mức, theo niềm tin chung, nếu ông tìm được thời gian để vun đắp lĩnh vực hoạt động dân sự này, vị thế tối cao được thừa nhận của Cicero sẽ bị đặt dấu hỏi, hoặc vinh quang ấy sẽ bị chia đôi. Bản thân Cicero cũng có chung quan điểm đó, và trong nhiều dịp khác nhau đã áp dụng mỹ từ splendidus (rực rỡ) cho Caesar, như thể theo một nghĩa độc quyền nào đó, hoặc với một sự nhấn mạnh đặc biệt dành riêng cho ông. Gu thẩm mỹ của ông đơn giản hơn rất nhiều, thuần khiết hơn, và ít ngả về lối văn hoa hoa mỹ kiểu châu Á hơn so với Cicero. Ở phương diện đó, trong bối cảnh văn hóa và tâm lý La Mã lúc bấy giờ, ông sẽ ít được công chúng đón nhận hơn; nhưng bù lại, ông sẽ khomp đắp bất lợi ấy bằng nguồn nhiệt huyết tự nhiên và mang đậm chất Demosthenes hơn nhiều.
Trong lĩnh vực văn chương, những công trạng của Caesar quá quen thuộc với phần lớn độc giả. Dưới tựa đề khiêm tốn "Bình thư" (Commentaries), ông có ý định cung cấp các bản ghi chép về các chiến dịch xứ Gaul và Anh quốc của mình đơn thuần như những ghi chú, hoặc tài liệu ghi nhớ, để sau này được các sử gia chính thống nhào nặn thành sách; nhưng, như Cicero nhận xét, giá trị của chúng dưới con mắt của những bậc tinh tế lớn đến mức mọi nhà văn sáng suốt đều chùn bước trước ý định chỉnh sửa chúng. Trong một ví dụ khác về các công trình văn học của mình, ông đã thể hiện một ý thức rất chính xác về phẩm giá đích thực. Nhận thức đúng đắn rằng mọi điều mang tính ái quốc đều cao quý, và việc minh họa hoặc gọt giũa ngôn ngữ mẹ đẻ là một sứ mệnh ái quốc chân chính và tối thượng, ông đã sáng tác một tác phẩm về ngữ pháp và chính tả của tiếng Latinh. Cicero và bản thân ông là những người La Mã xuất chúng duy nhất trong thời đại đó dốc lòng vì nghĩa vụ thanh lọc và tôn vinh tiếng mẹ đẻ. Cả hai đều nhận thức được giá trị siêu việt của văn học Hy Lạp lúc bấy giờ; nhưng ánh hào quang đó không hề dập tắt hy vọng nâng tầm văn học của chính họ lên một mức độ tương đương. Xét về mặt tài nguyên tự nhiên của hai ngôn ngữ, quan điểm riêng của Cicero cho rằng tiếng Latinh có lợi thế hơn; và nếu Caesar không đi xa đến mức ấy — điều mà có lẽ, dưới một số giới hạn, ông nên làm — thì ông vẫn cảm thấy việc khai thác bất kỳ lợi thế đặc biệt hoặc ngoại lệ nào mà nó thực sự sở hữu lại càng trở nên cấp thiết hơn.
Nói tóm lại, phải chăng Caesar là con người vĩ đại nhất? Chúng ta thu hẹp câu hỏi này, tất nhiên, trong các tầng lớp những con người vĩ đại trong hành động: vĩ đại bởi tầm ảnh hưởng của họ đối với các đồng niên trong xã hội; vĩ đại bởi việc mở ra những đại lộ đến những quyền lực rộng lớn vốn trước đó bị khép kín; vĩ đại bởi việc biến những chướng ngại vật từng khổng lồ trở thành tầm thường, hoặc những giải thưởng từng tầm thường trở nên vĩ đại qua sự mở rộng. Augustus Caesar từng nói: "Ta tìm thấy Rome được xây bằng gạch; nhưng ta để lại nó được xây bằng cẩm thạch." Ồ này anh bạn, chúng tôi đáp lại, đối với một gã tí hon kỳ lạ như thế, anh đã làm được việc mà ở Westmoreland gọi là một darroch hay ho (một ngày công tốt lành); và nếu thời đó cần thợ đào đường, chúng tôi chắc chắn sẽ bỏ phiếu cho anh. Thế nhưng Caius Julius, ngay cả dưới sự giới hạn so sánh như vậy, đã làm được một việc vượt xa điều đó ngang bằng với việc vươn Rome vượt qua dãy Alps và Pyrenees — mở rộng nền Cộng hòa vĩ đại thành những tỉnh lị đỉnh cao gồm: 1. Pháp (Gallia), 2. Bỉ, 3. Hà Lan (Batavia), 4. Anh (Britannia), 5. Savoy (Allobroges), 6. Thụy Sĩ (Helvetia), 7. Tây Ban Nha (Hispania) — lớn lao hơn nhiều so với việc trang hoàng một con đường hay xây dựng một nhà hát lớn. Tiến sĩ Beattie từng nhận xét rằng, nếu câu hỏi về con người vĩ đại nhất trong hành động trên các trang sử sách được để cho các phán quyết đã bày tỏ trong sách vở và rải rác khắp văn học của mọi quốc gia thu thập lại, người ta sẽ thấy cán cân nghiêng về phía Caesar một cách phi thường so với bất kỳ đối thủ đơn độc nào; và không còn nghi ngờ gì nữa, ngay cả giữa những đồng bào của chính ông và những người đương thời của ông, phán quyết tương tự cũng sẽ được đưa ra, nếu nó được thu thập dựa trên nguyên tắc nổi tiếng của Themistocles: rằng một người nên được tôn vinh là vĩ đại nhất khi được số lượng giọng nói đối thủ lớn thứ hai ca ngợi.
Các tác phẩm: Bản in folio tiếng Latinh, Rome, 1469; Venice, 1471; Florence, 1514; London, 1585. De Bello Gallico, Esslingen (?), 1473. Các bản dịch của John Tiptoft, Bá tước xứ Worcester (John Rastell), về Bình thư của Julius Caesar — "mới được dịch sang tiếng Anh... liên quan đến vương quốc Anh này" — ấn bản folio 1530; của Arthur Goldinge, The Eyght Bookes of C. Julius Caesar, London, 1563, 1565, 1578, 1590; của Chapman, London, 1604 folio; của Clem. Edmonds, London, 1609; cùng bản đó với Hirtius, 1655, 1670, 1695 folio kèm theo những vần thơ ca ngợi của Camden, Daniel và Ben Jonson (sic). Các tác phẩm: Được dịch bởi W.Duncan, 1753, 1755; bởi M.Bladen, ấn bản lần thứ 8, 1770; MacDevitt, Thư viện Bohn, 1848. De Bello Gallico, dịch bởi R.Mongan, Dublin, 1850; bởi J.B. Owgan và C.W. Bateman, 1882. Caesar's Commentaries on the Gallic War, dịch bởi T. Rice Holmes, London, 1908 (xem thêm Caesar's Conquest of Gaul của Holmes, 1911). Caesar's Gallic War, dịch bởi Linh mục F.P. Long, Oxford, 1911; Quyển IV và V dịch bởi C.H. Prichard, Cambridge, 1912. Về văn bản tiếng Latinh của De Bello Gallico, xem Dòng sách cổ điển minh họa của Bell; Dòng văn bản cổ điển Đền thờ của Dent, 1902; Macmillan and Co., 1905; và Văn bản tiếng Latinh của Blackie, 1905-7.
* * * * *
Toàn bộ xứ Gaul được chia thành ba phần, trong đó người Belgae cư trú ở một phần, người Aquitani ở phần thứ hai, và những người trong ngôn ngữ của họ gọi là người Celt, còn trong ngôn ngữ của chúng ta gọi là người Gaul, ở phần thứ ba. Tất cả những dân tộc này đều khác biệt nhau về ngôn ngữ, phong tục và luật lệ. Sông Garonne ngăn cách người Gaul với người Aquitani; sông Marne và sông Seine ngăn cách họ với người Belgae. Trong số tất cả bọn họ, người Belgae là dũng cảm nhất, bởi vì họ ở xa nền văn minh và sự tinh tế của Tỉnh lị [của chúng ta] nhất, các thương nhân cũng ít lui tới họ nhất và ít nhập khẩu những thứ có xu hướng làm mềm yếu tâm trí con người; và họ lại ở gần người German — những kẻ cư trú bên kia sông Rhine — với những người này họ liên tục tiến òa chiến tranh; chính vì lý do đó mà người Helvetii cũng vượt trội hơn những người Gaul còn lại về lòng dũng cảm, vì họ tranh tài với người German trong những trận chiến gần như diễn ra hằng ngày, khi họ hoặc đẩy lùi chúng khỏi lãnh thổ của chính mình, hoặc tự mình tiến hành chiến tranh tại biên giới của chúng. Một phần trong số này, nơi mà người ta nói rằng người Gaul đang chiếm giữ, bắt nguồn từ sông Rhone; nó được giới hạn bởi sông Garonne, đại dương và lãnh thổ của người Belgae; nó cũng giáp với phía người Sequani và người Helvetii, bên bờ sông Rhine, và trải dài về hướng bắc. Người Belgae xuất phát từ biên giới tận cùng của Gaul, kéo dài đến phần hạ lưu của sông Rhine; và hướng về phía bắc cùng mặt trời mọc. Aquitania kéo dài từ sông Garonne đến dãy núi Pyrenees và phần đại dương nằm gần Tây Ban Nha; nó nhìn về khoảng giữa hướng lặn của mặt trời và sao bắc đẩu.
Trong số người Helvetii, Orgetorix là kẻ nổi bật và giàu có hơn cả. Hắn, khi Marcus Messala và Marcus Piso làm quan chấp chính, bị kích động bởi lòng tham quyền lực, đã hình thành một âm mưu trong giới quý tộc và thuyết phục toàn dân rời khỏi lãnh thổ của họ cùng với toàn bộ tài sản, [nói rằng] sẽ rất dễ dàng, vì họ vượt trội hơn tất cả về lòng dũng cảm, để giành lấy quyền bá chủ trên toàn xứ Gaul. Hắn thuyết phục họ điều này càng dễ dàng hơn, bởi vì người Helvetii bị kìm kẹp ở mọi phía bởi bản chất địa thế của họ; một phía là sông Rhine, một con sông rất rộng và sâu, ngăn cách lãnh thổ Helvetii với người German; phía thứ hai là dãy Jura, một ngọn núi rất cao nằm giữa người Sequani và người Helvetii; phía thứ ba là Hồ Geneva và sông Rhone, ngăn cách Tỉnh lị của chúng ta với người Helvetii. Từ những điều kiện đó dẫn đến kết quả là họ không thể di chuyển rộng rãi bằng, và không thể dễ dàng gây chiến với các láng giềng của mình; chính vì lý do đó mà những kẻ ưa chiến tranh [như họ] vô cùng tiếc nuối. Họ cho rằng, xét về quy mô dân số cùng tiếng tăm về chiến trận và lòng dũng cảm, ranh giới của họ quá ư chật hẹp, dẫu cho lãnh thổ ấy kéo dài 240 dặm và rộng 180 dặm [la mã].
Bị thôi thúc bởi những suy tính này, và chịu ảnh hưởng bởi uy quyền của Orgetorix, họ quyết định chuẩn bị những vật dụng cần thiết cho cuộc viễn chinh — mua sắm số lượng lớn nhất có thể các loài súc vật thồ và xe cộ — mở rộng tối đa diện tích gieo trồng để trên đường hành quân có sẵn lượng lúa gạo dồi dào — đồng thời thiết lập hòa bình và hữu nghị với các quốc gia láng giềng. Họ tính toán rằng thời hạn hai năm là đủ để thực hiện các dự tính của mình; họ hạ lệnh ấn định thời điểm khởi hành vào năm thứ ba. Orgetorix được chọn để hoàn tất các công tác chuẩn bị này. Hắn tự mình đảm nhận chức vụ sứ thần đến các quốc gia: trên hành trình này, hắn thuyết phục Casticus, con trai của Catamantaledes (một người thuộc tộc Sequani, có cha từng nắm giữ vương quyền trong dân tộc này nhiều năm và được viện nguyên lão của nhân dân La Mã gọi là "bạn"), hãy chiếm lấy vương quyền tại nhà nước của chính mình mà cha hắn từng nắm giữ trước đó; đồng thời hắn cũng thuyết phục Dumnorix — một người Aeduan, em trai của Divitiacus, kẻ vào thời điểm đó đang nắm quyền lực cao nhất trong nhà nước và vô cùng được lòng dân — cũng thực hiện điều tương tự, và gả con gái mình cho hắn ta. Hắn chứng minh cho họ thấy rằng để thực hiện những mưu đồ đó là một việc vô cùng dễ dàng, bởi vì bản thân hắn sẽ đoạt lấy quyền cai trị ở quê hương mình; rằng chẳng còn nghi ngờ gì nữa khi người Helvetii là kẻ hùng mạnh nhất trên toàn xứ Gaul; hắn bảo đảm với họ rằng hắn sẽ, bằng chính lực lượng và quân đội của mình, giành lấy vương quyền cho họ. Bị kích động bởi bài diễn văn này, họ trao cho nhau lời thề và tín vật, đồng thời nuôi hy vọng rằng khi đã đoạt được vương quyền, nhờ vào ba quốc gia hùng mạnh và dũng cảm nhất, họ sẽ có đủ khả năng chiếm lấy toàn bộ xứ Gaul.
Khi âm mưu này bị những kẻ chỉ điểm tiết lộ cho người Helvetii, họ, theo phong tục của mình, buộc Orgetorix phải bào chữa cho hành vi của hắn trong xiềng xích; luật pháp quy định rằng hình phạt bị thiêu sống bằng lửa sẽ chờ đợi hắn nếu bị kết án. Vào ngày được ấn định để bào chữa, Orgetorix đã triệu tập từ khắp nơi về tòa án tất cả các chư hầu của mình với số lượng lên tới mười ngàn người; và dẫn đến cùng một nơi tất cả những kẻ phụ thuộc và con nợ bị ràng buộc bởi nô lệ, số lượng mà hắn sở hữu vô cùng lớn; nhờ những kẻ này, hắn đã tự cứu mình khỏi [nghĩa vụ] phải đứng ra bào chữa. Trong lúc nhà nước, phẫn nộ trước hành vi này, đang nỗ lực đòi lại công lý bằng vũ khí, và các quan chức đang tập hợp một lực lượng lớn người từ vùng nông thôn, thì Orgetorix qua đời; và không thiếu những nghi ngờ, theo cách nghĩ của người Helvetii, rằng hắn đã tự sát.
Sau cái chết của hắn, người Helvetii vẫn cứ tiến hành những gì họ đã quyết định, đó là rời khỏi lãnh thổ của mình. Khi họ cho rằng bản thân cuối cùng đã sẵn sàng cho cuộc viễn chinh này, họ phóng hỏa thiêu rụi tất cả các thị trấn của mình — tổng cộng khoảng mười hai thị trấn — cùng các ngôi làng khoảng bốn trăm — và những ngôi nhà riêng lẻ còn sót lại; họ thiêu rụi toàn bộ lúa gạo, trừ phần họ định mang theo bên mình, để sau khi dập tắt mọi hy vọng quay về quê hương, họ sẽ càng sẵn sàng hơn trong việc đương đầu với mọi hiểm nguy. Họ ra lệnh cho mỗi người tự chuẩn bị và mang theo từ nhà lượng lương thực đủ dùng trong ba tháng, đã được xay sẵn. Họ thuyết phục những người láng giềng là Rauraci, Tulingi và Latobrigi áp dụng kế hoạch tương tự, và sau khi thiêu rụi thị trấn cùng làng mạc của họ, hãy lên đường cùng họ; đồng thời họ thu nạp vào phe mình và liên minh với người Boii — những kẻ từng sinh sống bên kia sông Rhine, đã vượt qua lãnh thổ Norican và tấn công Noreia.
Tổng cộng có hai tuyến đường để họ có thể rời khỏi quê hương — một tuyến đi qua xứ Sequani, hẹp và khó khăn, nằm giữa dãy núi Jura và sông Rhone (nơi mà hiếm hoi lắm mới dắt qua được một chiếc xe bò mỗi lần; hơn nữa lại có một ngọn núi rất cao sừng sững bên trên, khiến chỉ một vài kẻ cũng có thể dễ dàng chặn đứng họ); tuyến thứ hai đi qua Tỉnh lị của chúng ta, dễ dàng hơn nhiều và không vướng bận chướng ngại vật, bởi vì sông Rhone chảy giữa ranh giới của người Helvetii và người Allobroges — những kẻ vừa mới bị khuất phục — và tại một số nơi có thể lội qua bằng cách dò dẫm. Thị trấn xa nhất của người Allobroges, và gần lãnh thổ của người Helvetii nhất, là Geneva. Từ thị trấn này có một cây cầu bắc sang xứ Helvetii. Họ nghĩ rằng họ sẽ hoặc thuyết phục được người Allobroges — bởi vì những kẻ này có vẻ chưa có thiện cảm lắm với nhân dân La Mã — hoặc dùng vũ lực ép họ phải cho phép đi qua lãnh thổ của mình. Sau khi đã chuẩn bị mọi thứ cho cuộc viễn chinh, họ ấn định ngày tất cả sẽ tề tựu bên bờ sông Rhone. Ngày đó là ngày thứ năm trước lịch calends tháng Tư [tức ngày 28 tháng Ba], dưới thời quan chấp chính Lucius Piso và Aulus Gabinius [năm 58 TCN].
Khi tin tức báo về cho Caesar rằng chúng đang mưu toan mở đường đi qua Tỉnh lị của chúng ta, ông vội vã lên đường rời khỏi thành Rome, hành quân với tốc độ nhanh nhất có thể để tiến về xứ Further Gaul (Gaul Ngoại), và đến Geneva. Ông hạ lệnh cho toàn bộ Tỉnh lị [cung cấp] số lượng binh lính lớn nhất có thể, vì toàn bộ xứ Further Gaul lúc bấy giờ chỉ có đúng một quân đoàn; ông ra lệnh phá sập cây cầu tại Geneva. Khi người Helvetii hay tin về sự xuất hiện của ông, họ cử đến gặp ông những sứ thần là những nhân vật lẫy lừng nhất trong nhà nước của họ (trong phái đoàn đó Numeius và Verudoctius nắm giữ vị trí chủ chốt), để truyền đạt rằng "ý định của họ là tiến quân qua Tỉnh lị mà không gây bất kỳ tổn hại nào, bởi vì họ" [theo như lời tự thuật của họ] "không có tuyến đường nào khác; — họ khẩn khoản xin phép được làm như vậy với sự đồng thuận của ông." Caesar, do vẫn ghi nhớ việc Lucius Cassius, vị quan chấp chính, đã bị sát hại, quân đội của ông bị đánh tan tác và buộc phải chui qua ách nhục nhã bởi người Helvetii, nên không cho rằng [yêu cầu của bọn họ] đáng được chấp thuận; ông cũng không cho rằng những kẻ mang tâm địa thù địch, nếu được trao cơ hội hành quân qua Tỉnh lị, sẽ chịu từ bỏ bạo hành và quậy phá. Tuy nhiên, để có thời gian trì hoãn cho đến khi số binh lính ông ra lệnh [cung cấp] tập hợp đủ, ông trả lời các sứ thần rằng ông sẽ cần thời gian suy xét; nếu họ có điều gì muốn yêu cầu, hãy quay lại vào ngày trước ides tháng Tư [ngày 12 tháng Tư].
Trong lúc đó, với quân đoàn ông đang mang theo bên mình và số binh lính tập hợp từ Tỉnh lị, ông cho xây dựng một bức tường cao mười sáu thước cùng một con hào, kéo dài suốt mười chín dặm [la mã, chưa đầy mười tám dặm Anh], từ hồ Geneva — nơi chảy đổ vào sông Rhone — cho đến dãy núi Jura — ranh giới tách biệt lãnh thổ của người Sequani và người Helvetii. Khi công trình ấy hoàn thành, ông bố trí các đồn gác và gia cố chặt chẽ các thành lũy nhỏ, để có thể dễ dàng chặn đứng chúng hơn nếu chúng mưu toan vượt qua trái ý ông. Khi ngày hẹn với các sứ thần đến và họ quay lại gặp ông, ông tuyên bố rằng ông không thể, chiếu theo phong tục và tiền lệ của nhân dân La Mã, cho phép bất kỳ ai đi qua Tỉnh lị; đồng thời ông ngầm ra hiệu cho họ hiểu rằng nếu họ dám dùng vũ lực, ông sẽ kiên quyết chống lại. Người Helvetii, vỡ mộng trước hy vọng này, đã thử xem họ có thể ép buộc mở đường hay không (một số bằng cầu phao và vô số bè gỗ được dựng lên riêng cho mục đích đó; số khác qua các khúc sông cạn của sông Rhone nơi độ sâu ít nhất, đôi khi vào ban ngày, nhưng thường xuyên hơn là vào ban đêm); thế nhưng, bị chặn đứng bởi sức mạnh của các công trình phòng thủ của chúng ta, bởi dòng người lính đông đảo tụ tập và những làn tên giáo dồn dập, họ đành từ bỏ ý định này.
Chỉ còn sót lại một lối đi duy nhất, [tức là] đi qua xứ Sequani, nơi mà vì sự chật hẹp của nó, họ không thể qua lại nếu không có sự đồng ý của người Sequani. Do bản thân không thể thuyết phục nổi họ, họ cử sứ thần đến gặp Dumnorix người Aeduan, để nhờ sự trung gian của hắn mà xin được sự chấp thuận từ người Sequani. Dumnorix, nhờ uy tín và lòng hào phóng của mình, có ảnh hưởng rất lớn đối với người Sequani, và lại có thiện cảm với người Helvetii vì hắn đã lấy con gái của Orgetorix từ quốc gia đó; bên cạnh đó, bị kích động bởi lòng tham quyền lực, hắn khát khao một cuộc cách mạng, và muốn kết thân với càng nhiều quốc gia càng tốt bằng những ân huệ của mình. Do đó, hắn đứng ra nhận lấy vụ việc, thuyết phục người Sequani cho phép người Helvetii hành quân qua lãnh thổ của họ, đồng thời dàn xếp để họ trao đổi con tin cho nhau — người Sequani cam kết không cản trở cuộc hành quân của người Helvetii, còn người Helvetii hứa đi qua mà không gây ra bạo hành hay tổn hại.
Lại có tin báo về cho Caesar rằng người Helvetii dự định hành quân qua lãnh thổ của người Sequani và người Aedui để tiến vào vùng đất của người Santones, vốn nằm không xa ranh giới của người Tolosates — một nhà nước nằm trong Tỉnh lị [tức Tolosa, Toulouse]. Nếu điều này xảy ra, ông nhìn thấy rõ nó sẽ mang lại hiểm họa lớn cho Tỉnh lị khi phải kề cận với những kẻ hiếu chiến, kẻ thù của nhân dân La Mã, ngay cạnh một vùng đất rộng mở và vô cùng phì nhiêu. Vì những lý do này, ông giao quyền chỉ huy công trình phòng thủ đã dựng cho Titus Labienus, cấp tướng của ông. Bản thân ông thì hành quân gấp về Ý, tại đó chiêu mộ hai quân đoàn, rút từ các doanh trại mùa đông ba quân đoàn đang đóng quân quanh Aquileia, rồi cùng năm quân đoàn này nhanh chóng hành quân theo con đường ngắn nhất băng qua dãy Alps để tiến vào xứ Further Gaul. Tại đây, cư dân các xứ Centrones, Graioceli và Caturiges đã chiếm giữ các vùng cao và mưu toan cản trở cuộc hành quân của quân đội. Sau khi đánh tan tác đám người này trong vài trận chiến, ông đặt chân đến lãnh thổ của người Vocontii tại Tỉnh lị Ngoại vào ngày thứ bảy tính từ Ocelum — thị trấn xa xôi nhất của Tỉnh lị Nội; từ đó ông dẫn quân đội tiến vào xứ sở của người Allobroges, và từ người Allobroges tiến đến xứ Segusiani. Đây là những cư dân đầu tiên nằm ngoài Tỉnh lị ở phía bên kia sông Rhone.
Lúc này người Helvetii đã dẫn lực lượng của mình vượt qua khe núi hẹp cùng lãnh thổ của người Sequani, tiến đến vùng đất của người Aedui và đang tàn phá ruộng đồng của họ. Người Aedui, vì không thể tự bảo vệ bản thân và tài sản trước kẻ thù, liền cử sứ thần đến gặp Caesar để cầu cứu, [biện minh rằng] họ từ trước đến nay vẫn luôn có công lao to lớn với nhân dân La Mã, thế nên ruộng đồng của họ không đáng bị tàn phá — con cái họ không đáng bị bắt làm nô lệ — các thị trấn của họ không đáng bị tấn công chớp nhoáng, ngay trước mắt quân đội của chúng ta. Cùng lúc đó, người Ambarri — những người bạn và họ hàng của người Aedui — báo cho Caesar biết rằng thật chẳng dễ dàng gì cho họ, nay khi ruộng đồng đã bị tàn phá, có thể chống đỡ bạo lực của kẻ thù khỏi các thị trấn của mình; người Allobroges tương tự cũng vậy, có các ngôi làng và tài sản bên kia sông Rhone, đã tháo chạy đến chỗ Caesar và bảo đảm với ông rằng họ chẳng còn lại gì ngoài mảnh đất cắm dùi. Caesar, bị thôi thúc bởi những hoàn cảnh ấy, quyết định rằng ông không nên chờ đợi cho đến khi người Helvetii, sau khi hủy diệt mọi tài sản của các đồng minh, tiến đến xứ Santones.
Có một con sông [tên là] Saone, chảy xuyên qua lãnh thổ của người Aedui và Sequani đổ vào sông Rhone với tốc độ chậm đến khó tin, đến mức bằng mắt thường không thể nhận ra nó đang chảy về hướng nào. Con sông này đang được người Helvetii vượt qua bằng bè và thuyền kết nối với nhau. Khi Caesar được thám tử báo tin rằng người Helvetii đã đưa được ba phần lực lượng vượt sông, nhưng phần thứ tư vẫn còn lại ở bờ bên này sông Saone, ông liền xuất phát từ doanh trại với ba quân đoàn vào canh ba, và đuổi kịp cánh quân chưa vượt sông ấy. Tấn công khi chúng còn đang vướng víu hành lý và hoàn toàn bất ngờ, ông chém giết phần lớn bọn chúng; số còn lại tháo chạy thục mạng và ẩn náu vào những khu rừng gần nhất. Cánh quân [bị tàn sát ấy] được gọi là Tigurini; bởi vì toàn bộ nhà nước Helvetii được chia thành bốn cánh. Cánh quân đơn độc này, rời khỏi quê hương trong ký ức của cha ông chúng ta, từng sát hại vị quan chấp chính Lucius Cassius và bắt quân đội của ông phải chui qua ách nhục nhã [năm 107 TCN]. Do đó, dù là do ngẫu nhiên, hay do sự sắp đặt của các vị thần bất tử, phần đó của nhà nước Helvetii — kẻ từng gây ra thảm họa khốc liệt cho nhân dân La Mã — lại là kẻ đầu tiên phải trả giá. Trong việc này, Caesar không chỉ rửa hận cho công ích mà còn cho cả những nỗi nhục cá nhân của chính mình, bởi vì người Tigurini đã sát hại Lucius Piso, vị phó tướng [của Cassius] — ông nội của Lucius Calpurnius Piso, nhạc phụ của ông [Caesar] — trong chính trận chiến đã lấy mạng Cassius.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XIII
Trận chiến này kết thúc, để có thể bắt kịp lực lượng còn lại của người Helvetii, ông cho bắc cầu qua sông Saone và qua đó dẫn toàn bộ quân đội sang. Người Helvetii, hoang mang trước sự xuất hiện đột ngột của ông, khi phát hiện ra rằng ông đã thực hiện được trong đúng một ngày điều mà chính họ phải vất vả lắm mới hoàn thành trong hai mươi ngày, đó là việc vượt sông, liền cử sứ thần đến gặp ông; đứng đầu phái đoàn ấy là Divico, người từng làm tư lệnh cho người Helvetii trong cuộc chiến chống lại Cassius. Hắn thương lượng với Caesar rằng: "nếu nhân dân La Mã chịu ký hòa ước với người Helvetii, họ sẽ đi đến vùng đất đó và ở lại nơi mà Caesar chỉ định và mong muốn họ có được; nhưng nếu ông vẫn khăng khăng bức hại họ bằng chiến tranh, ông nên nhớ lại cả nỗi nhục nhã cổ xưa của nhân dân La Mã lẫn lòng dũng cảm đặc trưng của người Helvetii. Còn việc ông bất ngờ đánh úp một cánh quân [vào thời điểm] mà những kẻ đã vượt sông không thể mang lại sự trợ giúp cho đồng đội, ông không nên vì thế mà ảo tưởng quá nhiều về lòng dũng cảm của bản thân, hay khinh miệt họ; họ đã được dạy dỗ từ các bậc cha ông và tổ tiên rằng hãy dựa dẫm vào lòng dũng cảm nhiều hơn là mưu mẹo hay chiến thuật. Do đó, xin chớ để nơi họ đang đặt chân này phải gánh chịu một cái tên bắt nguồn từ thảm họa của nhân dân La Mã và sự hủy diệt của quân đội họ, hay truyền lại ký ức [về một sự kiện như thế cho hậu thế]. "
Đáp lại những lời đó, Caesar tuyên bố rằng: "chính vì lý do đó mà ông cảm thấy ít do dự hơn, bởi vì ông vẫn ghi nhớ những tình tiết mà các sứ thần Helvetii vừa nhắc tới, và ông càng cảm thấy phẫn nộ với chúng bao nhiêu, khi chúng xảy ra một cách bất công đối với nhân dân La Mã bấy nhiêu: bởi vì nếu họ có ý thức về việc mình đã gây ra bất kỳ điều sai trái nào, việc đề phòng sẽ không phải là điều khó khăn, nhưng chính vì lý do đó mà họ đã bị đánh lừa, bởi vì họ vừa không hay biết rằng mình đã phạm bất kỳ hành vi xúc phạm nào khiến họ phải sợ hãi, lại vừa không nghĩ rằng bản thân phải sợ hãi mà không có lý do. Nhưng ngay cả khi ông sẵn sàng quên đi hành vi tàn bạo trước đó của họ, liệu ông có thể gạt sang một bên ký ức về những tội ác gần đây, khi họ chống lại ý nguyện của ông mà mưu toan mở đường đi qua Tỉnh lị bằng vũ lực, khi họ quấy rối người Aedui, người Ambarri và người Allobroges? Còn về việc họ ngạo man khoang khoang về chiến thắng của mình, và việc họ tỏ ra kinh ngạc khi đã nhởn nhơ phạm tội mà không bị trừng phạt trong suốt thời gian dài như vậy — [cả hai điều này] đều hướng về cùng một điểm; bởi vì các vị thần bất tử có thói quen dung túng cho những kẻ mà họ muốn trừng phạt tội ác, đôi khi ban cho chúng sự thịnh vượng lớn hơn và thời gian nhởn nhơ dài hơn, để rồi chúng phải gánh chịu sự trừng phạt càng thảm khốc hơn khi vận mệnh đảo chiều. Mặc dù sự tình là thế, nhưng nếu họ chịu trao cho ông con tin để ông được bảo đảm rằng họ sẽ thực hiện những gì họ hứa hẹn, và với điều kiện họ phải đền bù thỏa đáng cho người Aedui về những tội ác mà họ đã gây ra đối với người Aedui và đồng minh của họ, cũng như đối với người Allobroges, thì ông [Caesar] sẽ ký hòa ước với họ." Divico đáp lại rằng: "người Helvetii đã được tổ tiên huấn luyện theo cách thức là họ quen nhận con tin, chứ không quen trao đi con tin; nhân dân La Mã chính là nhân chứng cho thực tế đó." Sau khi đưa ra câu trả lời này, hắn cáo lui.
Ngày hôm sau, họ nhổ trại rời khỏi nơi đó; Caesar cũng làm điều tương tự, và phái đi trước toàn bộ kỵ binh của mình, với số lượng lên tới bốn ngàn người (được ông tập hợp từ khắp các nơi trong Tỉnh lị, từ người Aedui và các đồng minh của họ), để quan sát xem kẻ thù đang hướng cuộc hành quân về phía nào. Đám kỵ binh này, vì quá hăng hái truy đuổi hậu quân của kẻ thù, đã đụng độ với kỵ binh Helvetii tại một địa hình bất lợi, và một số ít người của chúng ta đã ngã xuống. Người Helvetii, hân hoan trước trận chiến này vì họ đã dùng năm trăm kỵ binh để đẩy lùi một lực lượng kỵ binh đông đảo như vậy, bắt đầu đối đầu với chúng ta bạo dạn hơn, đôi khi còn từ hậu quân khiêu khích người của chúng ta bằng những đợt tấn công. Caesar [tuy nhiên] vẫn kiềm chế không cho quân sĩ giao chiến, vì cho rằng việc ngăn chặn kẻ thù cướp bóc, kiếm củi và tàn phá trong lúc này là đủ. Họ hành quân trong khoảng mười lăm ngày sao cho khoảng cách giữa hậu quân của kẻ thù và tiền quân của chúng ta không quá năm hoặc sáu dặm.
Trong khi đó, Caesar hằng ngày vẫn liên tục giục giã người Aedui giao nộp số lúa gạo mà họ đã hứa hẹn nhân danh nhà nước của mình; bởi vì, do thời tiết lạnh giá (như đã nói, xứ Gaul nằm ở hướng bắc), không những lúa gạo ngoài đồng chưa chín, mà người ta cũng không tích trữ đủ lượng cỏ cho súc vật: thêm vào đó, ông cũng không thể sử dụng số lúa gạo đã chở ngược dòng sông Saone bằng thuyền, bởi vì người Helvetii — những kẻ mà ông không muốn rời xa — đã đổi hướng hành quân tránh xa sông Saone. Người Aedui cứ khất lần khất lữa từ ngày này sang ngày khác, viện cớ rằng chúng "đang được thu gom — đang được mang tới — đang trên đường vận chuyển." Khi nhận thấy mình bị hoãn lại quá lâu, và ngày phát lúa gạo cho binh sĩ đã cận kề — ông liền triệu tập các thủ lĩnh của họ, những kẻ có mặt rất đông trong doanh trại của ông, trong đó có Divitiacus và Liscus — kẻ đang nắm giữ chức vị thủ hiến tối cao (được người Aedui gọi là Vergobretus, được bầu chọn hằng năm và có quyền sinh sát đối với đồng bào mình) — ông nghiêm khắc quở trách họ, vì không chịu hỗ trợ ông trong một hoàn cảnh cấp bách như thế, khi kẻ thù đang ở ngay sát sườn, và khi [lúa gạo] không thể mua được cũng chẳng thể cướp từ ngoài đồng về, nhất là khi ông đã phát động cuộc chiến này phần lớn do những lời khẩn cầu của chính họ; do đó, ông càng phẫn nộ cay đắng hơn bội phần vì bị bỏ rơi.
Lúc bấy giờ Liscus, chịu tác động bởi bài diễn văn của Caesar, mới bộc lộ điều mà từ trước đến nay hắn vẫn giấu kín: — rằng "có một số kẻ có sức ảnh hưởng vô cùng lớn đối với quần chúng, dù chỉ là thường dân nhưng lại nắm giữ quyền lực lớn hơn cả các quan chức: những kẻ này bằng ngôn ngữ kích động và bạo lực đang ngăn cản dân chúng đóng góp số lúa gạo mà đáng ra họ phải cung cấp; [bằng cách rỉ tai họ rằng] nếu họ không còn có thể giữ vững quyền bá chủ xứ Gaul nữa, thì thà chịu khuất phục trước sự cai trị của người Gaul còn hơn là của người La Mã, và họ không được phép nghi ngờ rằng, nếu người La Mã đánh bại được người Helvetii, họ sẽ tước đoạt tự do của người Aedui cùng phần còn lại của xứ Gaul. Chính những kẻ này [hắn nói] là những kẻ đã tuồn các kế hoạch của chúng ta cũng như mọi hoạt động trong doanh trại cho kẻ thù hay; bản thân hắn không tài nào kiềm chế được chúng; hơn thế nữa, hắn thừa hiểu rằng, dẫu bị ép buộc bởi tình thế ngặt nghèo mà phải hé lộ sự việc này với Caesar, hắn đã mạo hiểm đến mức độ lớn nhường nào; và vì lý do đó, hắn đã giữ im lặng chừng nào còn có thể."
Caesar nhận thức được rằng, qua lời phát biểu này của Liscus, Dumnorix — em trai của Divitiacus — chính là kẻ đã bị chỉ mặt đặt tên; nhưng vì không muốn những vấn đề này bị mổ xẻ khi có quá đông người tham dự, ông nhanh chóng giải tán hội đồng, nhưng giữ Liscus lại; ông gặng hỏi riêng hắn về những điều hắn vừa trình bày trong cuộc họp. Liscus bèn nói một cách cởi mở và bạo dạn hơn. Bản thân [Caesar] cũng tiến hành gặng hỏi những người khác về các điểm tương tự một cách kín đáo, và phát hiện ra mọi chuyện đều là sự thật: rằng "Dumnorix chính là kẻ đó, một con người cực kỳ liều lĩnh, rất được lòng dân nhờ lòng hào phóng, một kẻ khát khao cuồng nhiệt một cuộc cách mạng: rằng trong suốt nhiều năm trời, hắn có thói quen thầu trọn các loại thuế quan và tất cả các sắc thuế khác của người Aedui với giá rẻ mạt, bởi vì khi hắn ra giá, chẳng một ai dám bước ra cạnh tranh với hắn. Bằng những thủ đoạn này, hắn vừa làm giàu cho tài sản cá nhân vừa tích lũy nguồn lực lớn để ban phát ân huệ; hắn liên tục duy trì bằng chi phí riêng và giữ bên mình một lực lượng kỵ binh hùng hậu, và không chỉ ở quê nhà mà ngay cả trong các quốc gia láng giềng, hắn cũng có sức ảnh hưởng to lớn, và để củng cố sức ảnh hưởng ấy, hắn đã gả mẹ mình tại xứ Bituriges cho một người quý tộc và có thế lực nhất ở đó; bản thân hắn cũng cưới một người vợ trong số người Helvetii, đồng thời gả người chị em cùng mẹ khác cha cùng các nữ thân nhân của mình sang các quốc gia khác; rằng hắn ủng hộ và có thiện cảm với người Helvetii vì mối quan hệ thông gia này; và rằng hắn căm ghét Caesar cùng người La Mã vì lợi ích riêng của chính mình, bởi vì sự xuất hiện của họ đã làm suy yếu quyền lực của hắn, đồng thời đưa anh trai hắn là Divitiacus trở về vị thế có ảnh hưởng và phẩm giá như trước: rằng, nếu bất kỳ điều gì không hay xảy ra với người La Mã, hắn ôm ấp niềm hy vọng lớn lao nhất là sẽ đoạt lấy vương quyền thông qua sự trợ giúp của người Helvetii, nhưng dưới ách cai trị của nhân dân La Mã thì hắn tuyệt vọng không chỉ đối với ngai vàng mà ngay cả với thứ quyền lực hắn đang nắm giữ." Caesar cũng phát hiện ra, khi điều tra về trận chiến kỵ binh thất bại diễn ra cách đó vài ngày, rằng khởi đầu của cuộc tháo chạy ấy chính là do Dumnorix và đám kỵ binh của hắn (bởi vì Dumnorix nắm quyền chỉ huy cánh kỵ binh mà người Aedui đã cử đến để viện trợ cho Caesar); chính vì cuộc tháo chạy của bọn chúng mà phần còn lại của lực lượng kỵ binh đã bị hoảng loạn.
Sau khi nắm bắt những tình tiết này, vì những nghi ngờ trên nay đã đi kèm với các sự kiện rành rành không thể chối cãi, đó là: hắn đã dẫn đường cho người Helvetii đi qua lãnh thổ của người Sequani; hắn đã dàn xếp để các bên trao đổi con tin cho nhau; hắn đã làm tất cả những điều này không chỉ mà không có bất kỳ lệnh nào từ phía ông [Caesar] hay nhà nước của chính hắn, mà thậm chí còn qua mặt cả [người Aedui]; rằng hắn [Dumnorix] đã bị quở trách bởi vị thủ hiến [tối cao] của người Aedui; Caesar xét thấy đã có đủ lý do để hoặc tự mình trừng phạt hắn, hoặc ra lệnh cho nhà nước làm điều đó. Có một điều duy nhất [tuy nhiên] ngáng đường tất cả những việc này — đó là ông đã học được qua thực tế về sự kính trọng vô bờ bến mà người anh trai Divitiacus dành cho nhân dân La Mã, tình cảm sâu sắc của ông ấy dành cho ông, cùng sự trung thực, công minh và ôn hòa xuất chúng; bởi vì ông sợ rằng việc trừng phạt kẻ này sẽ làm tổn thương tình cảm của Divitiacus. Do đó, trước khi mưu tính bất cứ điều gì, ông ra lệnh triệu tập Divitiacus đến gặp mình, và sau khi cho các thông dịch viên thông thường lui ra, ông trò chuyện với ông ấy thông qua Caius Valerius Procillus, thủ lĩnh tỉnh lị Gaul, một thân cận chí thiết của ông và là người mà ông đặt trọn niềm tin trong mọi chuyện; đồng thời ông nhắc nhở ông ấy về những điều người ta bàn tán về Dumnorix trong hội đồng của người Gaul khi chính ông ấy có mặt, đồng thời phơi bày những gì mỗi người từng nói về Dumnorix trước mặt chính [Caesar]; ông khẩn khoản và nài nỉ ông ấy rằng, miễn là không làm tổn hại đến tình cảm của mình, ông ấy hãy tự mình đưa ra phán quyết xét xử đối với [Dumnorix], hoặc ra lệnh cho nhà nước [Aeduan] làm điều đó.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XX
Divitiacus, ôm chầm lấy Caesar, bắt đầu khóc lóc thảm thiết và nài nỉ ông rằng: "xin đừng đưa ra bất kỳ hình phạt nào quá khắc nghiệt đối với em trai mình; ông nói rằng ông thừa biết những [cáo buộc] đó là sự thật, và không ai đau đớn vì chuyện đó hơn chính bản thân ông; bởi vì trong khi bản thân ông có thể ảnh hưởng rất lớn ở quê nhà cũng như trên khắp xứ Gaul, còn [Dumnorix] thì chẳng có mấy tiếng nói vì tuổi đời còn trẻ, thì kẻ sau này lại trở nên có thế lực nhờ vào sự hậu thuẫn của ông, và thế lực cùng sức mạnh đó đã được hắn sử dụng không chỉ để làm suy giảm uy tín của [Divitiacus] mà suýt chút nữa còn đẩy ông đến bờ vực diệt vong; tuy nhiên, ông vẫn bị chi phối bởi cả tình cảm anh em lẫn dư luận công chúng. Nhưng nếu một hình phạt quá khắc nghiệt từ Caesar giáng xuống đầu [Dumnorix], sẽ chẳng có ai nghĩ rằng điều đó diễn ra mà không có sự đồng thuận của ông, một khi bản thân ông giữ một vị trí quá ư thân thiết trong lòng Caesar; từ hoàn cảnh đó sẽ dẫn đến hệ quả là tình cảm của toàn xứ Gaul sẽ quay lưng lại với ông." Trong lúc ông vừa khóc lóc vừa van xin Caesar bằng rất nhiều lời lẽ như thế, Caesar liền nắm lấy bàn tay phải của ông, an ủi, nài nỉ ông hãy dừng việc cầu xin lại, đồng thời bảo đảm với ông rằng tình cảm ông dành cho ông ấy lớn lao đến mức ông sẵn sàng bỏ qua cả những tổn hại đối với nước cộng hòa lẫn những xúc phạm cá nhân, tất cả chỉ vì mong muốn và lời thỉnh cầu của ông ấy. Ông cho gọi Dumnorix đến; ông dẫn người em trai vào; ông chỉ ra những điểm ông khiển trách ở hắn; ông bày tỏ những gì bản thân tự nhận thức được và những gì nhà nước đang khiếu nại; ông cảnh cáo hắn từ nay về sau phải tránh xa mọi nguyên nhân có thể dẫn đến nghi kỵ; ông tuyên bố tha thứ cho quá khứ vì nể tình người anh trai Divitiacus. Ông cắt cử người giám sát Dumnorix để có thể nắm bắt được mọi hành tung cũng như những kẻ hắn tiếp xúc.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXI
Cùng ngày hôm đó, được các thám tử báo tin rằng kẻ thù đã đóng trại dưới chân một ngọn núi cách doanh trại của ông tám dặm, ông liền phái người đi khảo sát bản chất của ngọn núi ấy cũng như độ dốc ở các hướng ra sao. Tin báo về cho biết đường lên rất dễ dàng. Vào canh ba, ông ra lệnh cho Titus Labienus, viên phó tướng mang quyền hạn pháp quan, dẫn theo hai quân đoàn và những người từng khảo sát đường đi làm hướng dẫn, hãy leo lên sườn núi cao nhất; ông giải thích rõ kế hoạch của mình cho họ. Bản thân ông, vào canh tư, vội vã tiến về phía họ theo đúng con đường mà kẻ thù đã đi, đồng thời phái toàn bộ kỵ binh đi trước mở đường. Publius Considius — người nổi tiếng là giàu kinh nghiệm quân sự, từng phục vụ trong quân đội của Lucius Sulla và sau đó là của Marcus Crassus — được cử đi tiên phong cùng lực lượng thám tử.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXII
Vào lúc bình minh, khi đỉnh núi đã nằm trong quyền kiểm soát của Titus Labienus và bản thân ông cách doanh trại kẻ thù không quá một dặm rưỡi, đồng thời — như sau đó ông được biết từ những tù binh — sự xuất hiện của cả ông lẫn Labienus vẫn chưa bị phát hiện; thì Considius thúc ngựa phi nước đại đuổi kịp ông — hớt hải báo tin rằng ngọn núi mà ông [Caesar] muốn Labienus chiếm giữ hiện đã rơi vào tay kẻ thù; rằng hắn nhận ra điều đó thông qua vũ khí và hiệu kỳ của người Gaul. Caesar liền dẫn lực lượng rút lui sang ngọn đồi kế cận; [đồng thời] dàn trận sẵn sàng chiến đấu. Về phần Labienus, do được Caesar ra lệnh không được giao chiến trừ khi lực lượng của [Caesar] xuất hiện gần doanh trại kẻ thù, nhằm mục đích có thể đồng thời tấn công kẻ thù từ mọi phía, nên sau khi chiếm được ngọn núi, ông vẫn đang kiên nhẫn chờ đợi người của chúng ta và kiềm chế không giao chiến. Đến khi trời đã đứng bóng, Caesar mới qua đường thám tử hay tin ngọn núi thực chất đang nằm trong tay người của chúng ta, rằng người Helvetii đã nhổ trại rời đi, và rằng Considius do quá hoảng sợ nên đã báo cáo với ông những gì mắt chưa từng thấy. Ngày hôm đó, ông tiếp tục bám theo kẻ thù ở khoảng cách quen thuộc và hạ trại cách doanh trại của chúng ba dặm.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXIII
Hôm sau (do chỉ còn đúng vỏn vẹn hai ngày nữa là đến thời hạn ông phải phân phát lúa gạo cho quân đội, và ông lại cách Bibracte — thị trấn lớn nhất và trữ lượng dồi dào nhất của người Aedui — không quá mười tám dặm), ông cho rằng mình phải lo giải quyết nguồn cung cấp lương thực; vì thế ông quyết định đổi hướng hành quân tránh xa người Helvetii và tiến gấp về Bibracte. Sự việc này bị một số kẻ đào ngũ dưới quyền Lucius Aemilius — một đội trưởng kỵ binh Gaul — tiết lộ cho kẻ thù hay. Người Helvetii, hoặc vì cho rằng người La Mã vì hoảng sợ nên đang tháo lui khỏi họ, nhất là khi ngày hôm trước, dù đã chiếm được vùng cao nhưng họ lại không chịu giao chiến; hoặc vì ảo tưởng rằng họ có thể bị cắt đứt nguồn lương thực, liền thay đổi kế hoạch và đổi hướng tuyến đường, bắt đầu bám theo quấy rối hậu quân của chúng ta.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXIV
Khi nhận ra điều đó, Caesar bèn rút lực lượng về ngọn đồi kế cận và phái kỵ binh ra để chặn đứng các đợt tấn công của kẻ thù. Trong khi đó, bản thân ông tiến hành bố trí một đội hình ba lớp gồm bốn quân đoàn cự binh ngay giữa sườn đồi, đồng thời đặt phía trên ông — ngay trên đỉnh đồi — hai quân đoàn mới được tuyển mộ gần đây ở xứ Hither Gaul cùng toàn bộ lực lượng hỗ trợ; ông ra lệnh phải phủ kín toàn bộ ngọn núi bằng quân lính, trong khi hành lý phải được tập trung vào một khu vực duy nhất và vị trí đó phải được bảo vệ bởi những kẻ đóng ở tuyến trên. Người Helvetii kéo theo toàn bộ xe cộ của họ, tập trung hành lý về một mối; bản thân họ, sau khi đánh lui kỵ binh của chúng ta và lập thành đội hình phalanx khít khao, liền tiến đánh tuyến phòng thủ phía trước của chúng ta với cự ly vô cùng sát sao.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXV
Caesar cho dời khuất tầm mắt trước tiên là kỵ binh của chính mình, rồi đến kỵ binh của tất cả các bên, nhằm cào bằng mức độ hiểm nguy cho mọi người và dập tắt hoàn toàn hy vọng tháo chạy; sau khi khích lệ quân sĩ, ông ra lệnh giao chiến. Những người lính của chúng ta, phóng lao từ trên cao xuống, đã dễ dàng đập tan đội hình phalanx của kẻ thù. Khi đội hình đó tan rã, họ rút gươm xông lên giáp lá cà. Một trở ngại lớn cho người Gaul trong chiến đấu là khi có nhiều chiếc khiên của họ bị đâm thủng và ghim chặt vào nhau chỉ bằng một nhát lao duy nhất của người La Mã, vì mũi sắt đã bị quặp cong nên họ không tài nào rút ra được, cũng chẳng thể chiến đấu thuận lợi với cánh tay trái vướng víu; kết quả là rất nhiều người, sau hồi lâu quơ quào cánh tay mỏi nhừ, đành chọn cách buông luôn khiên xuống và chiến đấu với thân hình hoàn toàn không tấc sắt bảo vệ. Cuối cùng, kiệt sức vì chi chít vết thương, họ bắt đầu lùi bước, và vì ở vùng lân cận có một ngọn núi cách đó chừng một dặm, họ liền tháo chạy về hướng đó. Khi ngọn núi đã bị chiếm giữ và quân ta đang tiến lên, hai tộc Boii và Tulingi — những kẻ đoạn hậu với khoảng 15.000 quân đóng vai trò bảo vệ hậu phương — liền bất ngờ đánh vào sườn hở của quân ta khi họ đang tiến lên với ý định bao vây; nhìn thấy cảnh tượng đó, người Helvetii vừa rút lui lên núi liền quay đầu hòng phản công tái chiến. Người La Mã lập tức quay người, chia thành hai mũi tiến công: tuyến một và tuyến hai để đối phó với những kẻ vừa bị đánh bại và quét sạch khỏi chiến trường, còn tuyến ba để đón nhận những kẻ vừa mới kéo đến.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXVI
Thế là trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt và kéo dài với cục diện thắng bại dằng co. Khi không thể tiếp tục chống đỡ các đợt tấn công của quân ta nữa, một cánh quân tháo chạy ngược lên núi như dự tính ban đầu, trong khi cánh còn lại quay về khu vực hành lý và xe cộ. Bởi vì trong suốt cuộc chiến này, dẫu giao tranh kéo dài từ giờ thứ bảy [tức 12 giờ trưa — 1 giờ chiều] cho đến tận chạng vạng tối, chẳng một ai có thể nhìn thấy bóng dáng kẻ thù quay lưng tháo chạy. Giao chiến tại khu vực hành lý thậm chí còn tiếp diễn đến tận đêm khuya, vì chúng đã dùng xe ngựa dựng thành chiến lũy chắn ngang đường, từ những vị trí cao hơn liên tục ném vũ khí xuống đầu quân ta khi họ tiến đến, thậm chí một số kẻ còn luồn lách giữa các thân xe và bánh xe để phóng lao, ném giáo từ bên dưới lên nhằm sát thương quân ta. Sau khi trận chiến kéo dài một hồi lâu, quân ta cuối cùng cũng chiếm được khu vực hành lý và doanh trại của chúng. Tại đó, người con gái và một người con trai của Orgetorix đã bị bắt sống. Sau trận chiến ấy, có khoảng 130.000 quân [của kẻ thù] sống sót, liên tục hành quân suốt cả đêm đó mà không nghỉ ngơi nửa khắc, để rồi đặt chân đến lãnh thổ của người Lingones vào ngày thứ tư — trong khi quân ta, vì phải dừng lại ba ngày để chữa trị thương tích cho binh sĩ và mai táng người chết, đã không thể bám theo họ ngay lập tức. Caesar liền phái thư tín và sứ giả đến xứ Lingones [với lệnh] cấm họ không được hỗ trợ lương thực hay bất kỳ vật phẩm nào cho tàn quân địch; nếu dám giúp đỡ, ông sẽ coi họ chẳng khác nào người Helvetii. Sau khoảng thời gian ba ngày gián đoạn, bản thân ông bắt đầu dẫn toàn bộ lực lượng ráo riết truy đuổi phía sau.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXVII
Người Helvetii, bị bủa vây bởi nạn thiếu thốn trăm bề, liền cử sứ thần đến gặp ông để xin đầu hàng. Khi đoàn sứ thần giáp mặt ông dọc đường, sụp lạy dưới chân ông, dùng giọng điệu khẩn cầu đẫm nước mắt để van xin hòa bình, và khi ông ra lệnh họ hãy chờ đợi sự xuất hiện của ông tại chính nơi họ đang đứng, họ đã tuân thủ mệnh lệnh đó. Khi Caesar đến nơi, ông đòi hỏi phải giao nộp con tin, vũ khí và những kẻ nô lệ đã đào ngũ sang phe chúng. Trong lúc những thứ ấy đang được lùng sục và tập hợp, sau một đêm trôi qua, khoảng 6.000 quân thuộc cánh tộc gọi là Verbugene — hoặc vì khiếp sợ rằng sau khi nộp vũ khí họ sẽ phải chịu hình phạt, hoặc vì nuôi hy vọng sống sót nhờ suy nghĩ rằng giữa một đám đông khổng lồ những kẻ đã đầu hàng, cuộc trốn chạy của họ có thể sẽ bị che giấu hoặc hoàn toàn bị phớt lờ — đã thừa lúc chập tối lẻn khỏi doanh trại Helvetii, vội vã tháo chạy về hướng sông Rhine và lãnh thổ của người German.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXVIII
Nhưng khi Caesar phát hiện ra sự việc này, ông lập tức ra lệnh cho cư dân các vùng đất mà chúng đi qua phải lùng sục cho bằng được và áp giải chúng trở lại, nếu họ muốn được ông tha tội; đồng thời ông coi những kẻ bị bắt lại chẳng khác gì kẻ thù; còn toàn bộ số còn lại, ông chấp thuận cho đầu hàng sau khi họ giao nộp con tin, vũ khí và kẻ đào ngũ. Ông ra lệnh cho người Helvetii, người Tulingi và người Latobrigi phải quay trở về lãnh thổ nguyên thủy của họ; và vì tại quê nhà chẳng còn thứ gì để họ có thể chống chọi với cơn đói, khi mọi hoa màu đều đã bị tàn phá, ông hạ lệnh cho người Allobroges phải cung cấp cho họ một lượng lúa gạo thật dồi dào, đồng thời bắt họ phải xây dựng lại các thị trấn và làng mạc đã bị thiêu rụi. Ông làm điều này chủ yếu là vì không muốn vùng đất mà người Helvetii rời bỏ trở thành chốn hoang vu không người ở, sợ rằng người German — những kẻ cư trú bên kia sông Rhine — vì thèm thuồng độ phì nhiêu của thổ nhưỡng sẽ vượt sông từ lãnh thổ của họ sang đất Helvetii, rồi trở thành láng giềng giáp ranh với tỉnh lị Gaul và người Allobroges. Ông cũng chuẩn y thỉnh cầu của người Aedui, cho phép họ định cư tộc Boii trên lãnh thổ của chính họ (tức là lãnh thổ Aeduan), vì đây là những người nổi tiếng với lòng dũng cảm xuất chúng; ông cấp đất cho họ và sau đó ban cho họ quyền lợi cùng sự tự do tương đương như thần dân của chính mình.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXIX
Trong doanh trại của người Helvetii, người ta tìm thấy những bản danh sách được viết bằng ký tự Hy Lạp và đem nộp cho Caesar, trong đó ghi chép chi tiết từng tên một số lượng những kẻ đã rời khỏi quê hương có khả năng mang vũ khí, đồng thời thống kê riêng biệt cả trẻ em, người già và phụ nữ. Tổng cộng tất cả các mục đó cho ra những con số sau:
Người Helvetii [nguyên văn: số đầu người Helvetii]: 263.000
Người Tulingi: 36.000
Người Latobrigi: 14.000
Người Rauraci: 23.000
Người Boii: 32.000
Tổng cộng tất cả lên tới: 368.000
Trong số đó, những kẻ có khả năng mang vũ khí [chiếm] khoảng 92.000. Khi tiến hành kiểm kê số người quay trở về quê hương theo đúng lệnh của Caesar, con số được tìm thấy là 110.000.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXX
Khi cuộc chiến với người Helvetii kết thúc, các sứ thần từ hầu khắp các vùng của xứ Gaul — các thủ lĩnh của các quốc gia — tề tựu lại để chúc mừng Caesar, [nói rằng] họ thừa biết rằng, dẫu ông đã trừng phạt người Helvetii trong chiến tranh vì những tội lỗi cũ mà họ gây ra cho nhân dân La Mã, thì hoàn cảnh đó cũng mang lại lợi ích cho xứ Gaul chẳng kém gì nhân dân La Mã, bởi vì người Helvetii lúc đang ở thời kỳ hưng thịnh nhất đã rời bỏ quê hương với mưu đồ phát động chiến tranh trên toàn cõi Gaul, chiếm đoạt chính quyền nơi đây, rồi lựa chọn trong số vô vàn vùng đất một chốn an cư mà họ đánh giá là thuận lợi nhất, phì nhiêu nhất của toàn xứ Gaul, đồng thời biến các quốc gia còn lại thành chư hầu nộp cống. Họ thỉnh cầu được phép triệu tập một hội đồng toàn xứ Gaul vào một ngày cụ thể, và thực hiện điều đó với sự cho phép của Caesar, [bày tỏ rằng] họ có một số vấn đề muốn thỉnh nguyện ông dựa trên sự đồng thuận chung. Sau khi thỉnh cầu này được chấp thuận, họ ấn định ngày họp hội đồng và thề nguyền cùng nhau rằng không ai được phép tiết lộ [những nội dung thảo luận] ngoại trừ những người được hội đồng chung phân công nhiệm vụ đó.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXXI
Khi hội đồng ấy giải tán, chính những thủ lĩnh các quốc gia từng gặp Caesar trước đó lại quay trở lại, khẩn khoản xin phép được đàm phán riêng tư (trong vòng bí mật) với ông về sự an toàn của chính họ và của tất cả mọi người. Thỉnh cầu đó vừa được chấp thuận, tất cả liền sụp xuống đẫm nước mắt dưới chân Caesar, [nói rằng] họ khao khát và thiết tha mong mỏi những điều họ sắp nói ra không bị tiết lộ chẳng kém gì mong muốn đạt được những điều họ hằng ước ao; bởi vì họ thấy rằng nếu bí mật bị rò rỉ, họ sẽ phải hứng chịu những cực hình tồi tệ nhất. Đại diện cho họ, Divitiacus người Aeduan cất lời trần tình với ông rằng: — "Toàn cõi xứ Gaul chia làm hai thế lực: người Aedui đứng đầu một bên, người Arverni đứng đầu bên kia. Sau khi hai bên kịch liệt tranh giành quyền bá chủ trong nhiều năm trời, kết cục là người German đã được thuê mướn bởi người Arverni và người Sequani. Ban đầu có khoảng 15.000 người trong số họ [tức người German] vượt sông Rhine; nhưng sau khi những con người hoang dã và man rợ này trở nên mê đắm đất đai, sự tinh tế cùng sự trù phú của xứ Gaul, người ta đã đưa sang nhiều hơn, khiến cho hiện nay có tới 120.000 tên ngự trị ở Gaul: người Aedui cùng các chư hầu của họ đã nhiều lần giao tranh đẫm máu với chúng, để rồi bị đánh tan tác và gánh chịu thảm họa kinh hoàng — mất hết giới quý tộc, toàn bộ viện nguyên lão, toàn bộ kỵ binh. Bị suy sụp bởi những trận chiến và thảm họa đó, dẫu trước đây họ từng vô cùng hùng mạnh ở Gaul nhờ lòng dũng cảm của chính mình cũng như sự hiếu khách và tình hữu nghị từ nhân dân La Mã, nay họ buộc phải trao những nhà quý tộc hàng đầu của quốc gia làm con tin cho người Sequani, đồng thời ràng buộc nhà nước của mình bằng lời thề không bao giờ đòi lại con tin, không bao giờ cầu cứu nhân dân La Mã, và không được từ chối việc mãi mãi làm thần dân dưới quyền bính và đế chế của chúng. Chỉ duy nhất một mình ông trong toàn bộ nhà nước Aeduan là không bị thuyết phục để đọc lời thề hay trao con cái làm con tin. Chính vì thế mà ông đã trốn khỏi quê hương, tìm đến viện nguyên lão ở Rome để cầu cứu, bởi ông là kẻ duy nhất không bị ràng buộc bởi cả lời thề lẫn con tin. Thế nhưng một thảm kịch thậm chí còn tồi tệ hơn đã giáng xuống đầu những kẻ chiến thắng là người Sequani so với kẻ bại trận Aedui, bởi Ariovistus — vị vua của người German — đã đến định cư trên lãnh thổ của họ, cướp đoạt một phần ba đất đai vốn là vùng tốt nhất toàn xứ Gaul, và nay đang hạ lệnh bắt họ phải dời khỏi một phần ba tiếp theo, vì cách đó vài tháng có 24.000 quân tộc Harudes đã kéo đến chỗ hắn, đòi hỏi phải được cung cấp chỗ ở và định cư. Hệ quả tất yếu là chỉ trong vài năm tới, tất cả bọn họ sẽ bị quét sạch khỏi lãnh thổ xứ Gaul, và toàn bộ người German sẽ lũ lượt vượt sông Rhine; bởi vì đất đai của xứ Gaul không thể đem ra so sánh với đất đai của người German, và lối sống của tộc người sau cũng chẳng thể đặt lên bàn cân cùng lối sống của xứ Gaul. Hơn thế nữa, [về phần] Ariovistus, ngay khi đánh bại các lực lượng của người Gaul trong một trận chiến diễn ra tại Magetobria, [hắn bắt đầu] ngạo mạn và tàn bạo xưng hùng xưng bá, đòi con cái của toàn bộ các quý tộc chủ chốt làm con tin, trút lên đầu họ đủ loại cực hình dã man nếu mọi việc không được thực hiện theo đúng cái gật đầu hay sở thích của hắn; hắn là một kẻ hoang dã, dễ nổi giận và liều lĩnh, và những mệnh lệnh của hắn đã vượt quá sức chịu đựng. Trừ khi có sự cứu giúp từ Caesar và nhân dân La Mã, người Gaul sẽ buộc phải làm đúng cái điều mà người Helvetii từng làm, [tức là] di tản khỏi quê hương, tìm kiếm một chốn dung thân khác, những vùng định cư xa lánh người German, và phó mặc cho số phận định đoạt. Nếu những điều này bị tiết lộ cho Ariovistus, [Divitiacus nói thêm] ông không mảy may nghi ngờ rằng hắn sẽ trút hình phạt tồi tệ nhất lên đầu toàn bộ con tin đang nằm trong tay hắn, [và thỉnh cầu rằng] Caesar có thể, bằng chính uy tín cùng lực lượng quân đội của mình, hoặc nhờ chiến thắng vừa qua, hay danh nghĩa của nhân dân La Mã, đe dọa hắn để ngăn chặn không cho thêm nhiều người German vượt sông Rhine nữa, qua đó bảo vệ toàn bộ xứ Gaul khỏi những hành vi bạo tàn của Ariovistus."
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXXII
Khi bài phát biểu của Divitiacus vừa dứt, tất cả những người có mặt đều bật khóc nức nở, van xin Caesar rủ lòng thương cứu giúp. Caesar nhận ra rằng người Sequani là nhóm người duy nhất trong số tất cả những người có mặt không làm bất kỳ hành động nào giống như những người khác, mà chỉ cúi gằm đầu, đăm đăm nhìn xuống đất với vẻ mặt đầy u sầu. Lấy làm lạ trước nguyên nhân của hành vi kỳ lạ này, ông trực tiếp gặng hỏi chính họ. Thế nhưng người Sequani chẳng đáp lại nửa lời, cứ tiếp tục giữ im lặng trong nỗi buồn rầu ấy. Khi ông gặng hỏi họ nhiều lần mà không tài nào nặn ra được một câu trả lời nào, chính Divitiacus người Aeduan đã thay mặt trả lời rằng: — "Số phận của người Sequani bi thảm và cay đắng hơn những tộc người khác ở chỗ này, bởi vì chỉ có một mình họ là không dám ngay cả trong bóng tối cất lên lời than vãn hay cầu cứu; họ run rẩy trước sự tàn bạo của Ariovistus [ngay cả khi] hắn vắng mặt, hệt như thể hắn đang đứng lù lù trước mặt họ vậy; bởi vì đối với những người khác, dẫu thế nào đi nữa, vẫn còn có một con đường tháo chạy; nhưng người Sequani — những kẻ từng rước Ariovistus vào lãnh thổ của mình và có các thị trấn nằm trọn trong lòng bàn tay hắn — thì buộc phải cắn răng gánh chịu mọi thứ cực hình tồi tệ nhất."
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXXIII
Caesar, sau khi nắm bắt những sự việc này, liền dùng những lời lẽ kiên quyết trấn an tinh thần người Gaul và hứa hẹn rằng vấn đề này sẽ là trọng tâm trong các mối bận tâm của ông, [nói rằng] ông nuôi dưỡng niềm hy vọng lớn lao là Ariovistus, bị khuất phục bởi cả ân huệ lẫn sức mạnh của ông, sẽ phải chấm dứt hành vi áp bức. Sau khi đọc xong bài diễn văn này, ông tuyên bố giải tán hội đồng; bên cạnh những lời trần tình đó, vô số hoàn cảnh đã thúc đẩy ông suy tính rằng vụ việc này phải được ông đứng ra gánh vác và giải quyết triệt để; đặc biệt khi ông nhìn thấy người Aedui — những kẻ được viện lão gọi là "huynh đệ" và "kỵ sĩ" hết lần này đến lần khác — nay lại đang bị kìm kẹp trong ách nô dịch và thống trị của người German, đồng thời thấu hiểu rằng con tin của họ đang nằm trong tay Ariovistus và người Sequani, một thực tế mà trong một đế chế hùng mạnh [như thế] của nhân dân La Mã, ông coi là nỗi nhục nhã tột cùng cho bản thân và cho nền cộng hòa. Thêm vào đó, việc người German dần dà quen thói vượt sông Rhine, và một lực lượng khổng lồ của họ kéo sang xứ Gaul, ông nhìn thấy rõ [sẽ là] mối họa hiểm nghèo cho nhân dân La Mã, và phán đoán rằng những con người man rợ, hoang dã ấy sẽ chẳng đời nào chịu kiềm chế bản thân sau khi đã chiếm trọn xứ Gaul, mà sẽ tràn ra các tỉnh lị rồi từ đó tiến đánh nước Ý (hệt như tộc Cimbri và Teutones từng làm trước kia), nhất là khi sông Rhone [lại là rào cản duy nhất] tách biệt xứ Sequani khỏi tỉnh lị của chúng ta. Chống lại những nguy cơ đó, ông cho rằng mình phải hành động càng sớm càng tốt. Hơn nữa, bản thân Ariovistus, phần hắn, đã tự đắp lên mình sự kiêu ngạo và xấc láo đến mức hắn trở thành một kẻ hoàn toàn không thể dung thứ.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXXIV
Do đó, ông quyết định phái sứ thần đến gặp Ariovistus để đòi hỏi hắn phải chọn một địa điểm trung gian làm nơi hội kiến giữa hai bên, [nói rằng] ông muốn thương lượng với hắn về các công việc quốc gia và những vấn đề tối quan trọng đối với cả đôi bên. Đáp lại phái đoàn này, Ariovistus tuyên bố rằng nếu bản thân hắn cần bất cứ điều gì từ Caesar, hắn đã tự tìm đến gặp ông; và nếu Caesar muốn điều gì từ hắn, chính Caesar mới là kẻ phải lặn lội đến gặp hắn. Hơn nữa, ngoài hắn ra, chẳng có ai dám bước chân không có quân đội bảo vệ vào những vùng đất xứ Gaul mà Caesar đang kiểm soát, cũng chẳng đời nào hắn có thể tập trung quân đội về một mối mà không tốn kém tiền bạc và phiền toái lớn lao; đối với hắn, việc Caesar hay nhân dân La Mã có bất kỳ công chuyện gì bén mảng đến vùng đất Gaul của chính hắn — nơi hắn đã chinh phạt được trong chiến tranh — mới là điều lạ lùng kỳ quặc.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXXV
Khi những lời đáp trả này được báo cáo lại cho Caesar, ông liền cử phái đoàn sứ thần lần thứ hai mang theo thông điệp này: — "Vì sau khi được đối đãi bằng vô vàn ân huệ từ chính bản thân ông và nhân dân La Mã (khi mà trong năm chấp chính của mình [năm 59 TCN], hắn từng được viện nguyên lão phong danh hiệu 'vua và người bạn'), hắn lại đáp đền [Caesar] cùng nhân dân La Mã bằng cách này: — khi được mời hội kiến thì chối quanh chối co, không cho rằng việc bàn bạc và tìm hiểu về một mục tiêu chung là việc đáng quan tâm; đây là những điều ông yêu cầu hắn: thứ nhất, tuyệt đối không được đưa bất kỳ lực lượng người nào vượt sông Rhine sang xứ Gaul nữa; thứ hai, phải trả lại số con tin đang cầm giữ của người Aedui, đồng thời cho phép người Sequani được quyền trả lại cho họ số con tin mà họ đang giữ với sự đồng thuận của hắn, và hắn không được phép quấy rối người Aedui bằng bạo hành cũng như không được gây chiến với họ hoặc đồng minh của họ; nếu hắn chịu tuân thủ những điều đó theo đúng thỏa thuận," [Caesar tuyên bố] rằng "bản thân ông và nhân dân La Mã sẽ nuôi dưỡng tình cảm ưu ái và hữu nghị vĩnh cửu dành cho hắn; nhưng nếu ông [Caesar] không đạt được [những mong muốn của mình], thì (với tư cách là một kẻ mà trong năm chấp chính của Marcus Messala và Marcus Piso [năm 61 TCN], viện nguyên lão từng ra sắc lệnh rằng bất kỳ ai nắm quyền cai quản tỉnh lị Gaul đều phải, trong khả năng cho phép của mình phù hợp với lợi ích nước cộng hòa, bảo vệ người Aedui cùng các đồng minh khác của nhân dân La Mã) ông sẽ không nhắm mắt làm ngơ trước những bất công giáng xuống đầu người Aedui."
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXXVI
Đáp lại điều này, Ariovistus tuyên bố rằng: — "luật chiến tranh quy định rằng kẻ chiến thắng có quyền cai trị những kẻ bại trận theo bất kỳ cách thức nào chúng muốn; theo đúng cách thức đó, nhân dân La Mã vẫn thường cai trị các quốc gia mà họ chinh phục, không phải theo mệnh lệnh của bất kỳ kẻ nào khác, mà dựa trên sự phán đoán của chính họ. Nếu bản thân hắn không thèm chỉ đạo nhân dân La Mã cách thức họ phải thực thi quyền lực của mình, hắn cũng không được phép bị cản trở bởi nhân dân La Mã trong việc thực thi quyền lực của chính hắn; người Aedui, do đã thử thách vận may chiến tranh, dấn thân vào binh đao và cuối cùng bị đánh bại, nên đã trở thành chư hầu nộp cống cho hắn; Caesar đang phạm phải một sự bất công lớn, bởi vì sự xuất hiện của hắn đang làm suy giảm giá trị các khoản cống nạp của hắn; hắn sẽ không trả lại con tin cho người Aedui, nhưng sẽ không gây chiến một cách vô lý với họ hay đồng minh của họ, miễn là họ tuân thủ những gì đã được thỏa thuận và nộp cống hằng năm: nếu họ không tiếp tục làm điều đó, danh hiệu 'huynh đệ' của nhân dân La Mã sẽ chẳng mang lại chút ích lợi gì cho họ. Còn về việc Caesar đe dọa rằng ông sẽ không làm ngơ trước những bất công của người Aedui, [hắn nói rằng] chưa từng có một ai dám bước vào cuộc chiến tay đôi với hắn [Ariovistus] mà không rước lấy sự diệt vong hoàn toàn. Rằng Caesar muốn bước vào đấu trường lúc nào tùy thích; hắn sẽ cho ông nếm mùi sức mạnh của những chiến binh German bách chiến bách thắng, những kẻ được huấn luyện [vượt trội] hơn tất cả mọi người đối với binh khí, những kẻ suốt mười bốn năm qua chưa từng biết đến một mái nhà che đầu, có thể đạt được những gì bằng lòng dũng cảm của họ."
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXXVII
Cùng lúc thông điệp này được chuyển đến Caesar, các sứ thần từ xứ Aedui và Treviri lại kéo đến; phái đoàn Aedui đến để than phiền rằng tộc Harudes — những kẻ mới được đưa sang xứ Gaul cách đó không lâu — đang tàn phá lãnh thổ của họ, và họ thậm chí chẳng thể mua nổi sự bình yên từ Ariovistus dẫu đã dâng hiến cả con tin; còn phái đoàn Treviri [thông báo rằng] một trăm liên minh tộc Suevi đã hạ trại bên bờ sông Rhine và đang tìm cách vượt sông, do hai anh em Nasuas và Cimberius cầm đầu. Vô cùng lo lắng trước những tin tức này, Caesar cho rằng mình phải dùng đến mọi biện pháp cấp tốc, kẻo nếu lực lượng Suevi mới mẻ này hợp sức với tàn quân lão luyện của Ariovistus, việc chống lại [Ariovistus] sẽ trở nên khó khăn hơn bội phần. Do đó, sau khi nhanh chóng chuẩn bị một nguồn cung cấp lúa gạo, ông vội vã hành quân gấp để tiến đánh Ariovistus.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXXVIII
Khi ông đã đi được chặng đường ba ngày, tin báo lại cấp tốc rằng Ariovistus đang hộc tốc dẫn toàn bộ lực lượng tiến chiếm Vesontio — thị trấn lớn nhất của người Sequani — và đã tiến sâu được ba ngày đường khỏi lãnh thổ của hắn ta. Caesar cho rằng ông phải áp dụng những biện pháp phòng ngừa cao độ nhất để ngăn chặn việc này xảy ra, bởi vì trong thị trấn đó có một nguồn dự trữ vô cùng phong phú mọi thứ phục vụ cho chiến tranh; và nó được củng cố vững chắc bởi địa thế tự nhiên đến mức tạo ra sự thuận lợi lớn trong việc kéo dài chiến tranh, khi mà dòng sông Doubs uốn lượn ôm trọn gần như toàn bộ thị trấn, hệt như được vẽ bằng một cặp compa. Một ngọn núi cao chót vót chặn đứng phần không gian còn lại — không dài quá 600 sải — nơi con sông để lại một khoảng trống, theo cách mà các chân núi kéo dài tới tận bờ sông ở cả hai phía. Một bức thành bao quanh biến ngọn núi này thành một pháo đài và kết nối nó với thị trấn. Tới đây, Caesar hằng ngày hằng đêm thúc quân hành quân ép tốc độ, và sau khi chiếm được thị trấn, ông liền bố trí một lực lượng đồn trú tại đó.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XXXIX
Trong lúc ông đang nán lại Vesontio vài ngày vì lý do lúa gạo và lương thực; qua những câu hỏi thăm dò của quân ta cũng như lời kể của người Gaul và các thương nhân (những kẻ quả quyết rằng người German là những tên khổng lồ, với lòng dũng cảm khó tin và kỹ năng chiến đấu thành thạo, rằng mỗi khi giáp mặt với chúng, họ thậm chí không dám nhìn thẳng vào nét mặt lẫn ánh mắt hung ác của chúng) — một sự hoảng loạn tột độ bỗng chốc bao trùm toàn bộ quân đội, làm lung lay tinh thần và tâm trí của tất cả mọi người ở mức độ không hề nhỏ. Biến cố này khởi nguồn từ các quan quân tribuno militis, các sĩ quan chỉ huy và những người khác — những kẻ đi theo Caesar rời khỏi thành Rome [Rome] vì tình thân hữu nhưng lại thiếu thốn kinh nghiệm trận mạc. Mỗi kẻ viện ra một lý do, kẻ này nối tiếp kẻ kia, mà họ bảo rằng buộc họ phải rời đi, rồi khẩn khoản xin phép ông cho phép được rút lui; một số người, vì lòng tự trọng chi phối, đành ở lại phía sau để né tránh sự nghi ngờ hèn nhát. Những kẻ này chẳng thể giấu nổi nét mặt thất thần, thậm chí đôi khi không kìm nén được những giọt nước mắt; ẩn mình trong lều trại, họ hoặc than khóc cho số phận, hoặc cùng các chiến hữu thở dài ngao ngán trước hiểm họa chung. Di chúc được lập và niêm phong la liệt khắp toàn doanh trại. Dưới biểu hiện và sự hèn nhát của những kẻ đó, ngay cả những người sở hữu bề dày kinh nghiệm trong quân ngũ, từ binh lính cho đến các quan bách phu trưởng, lẫn những người [các decurion] chỉ huy kỵ binh, cũng dần dần bị dao động tâm lý. Những kẻ muốn ra vẻ ít hoảng sợ hơn thì tuyên bố rằng họ không hề khiếp sợ kẻ thù, mà chỉ ái ngại sự chật hẹp của các cung đường cùng độ sâu thẳm của những khu rừng nằm giữa họ và Ariovistus, hoặc lo rằng nguồn lương thực không thể được vận chuyển lên kịp thời. Thậm chí một vài kẻ còn lớn tiếng tuyên bố với Caesar rằng khi ông ra lệnh nhổ trại và tiến quân, binh lính sẽ chẳng đời nào tuân lệnh, cũng chẳng chịu nhích chân bước lên vì quá khiếp sợ.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XL
Khi Caesar quan sát thấy những điều đó, ông liền triệu tập một hội đồng, cho vời các quan bách phu trưởng của mọi đại đội đến, rồi nghiêm khắc quở trách họ: "đặc biệt vì họ dám cho rằng việc dò la hay phỏng đoán xem họ đang hành quân về hướng nào, hay với mục đích gì là việc thuộc quyền hạn của họ. Rằng Ariovistus, trong nhiệm kỳ chấp chính của [Caesar], từng vô cùng tha thiết tìm kiếm tình hữu nghị với nhân dân La Mã; tại sao bất kỳ ai lại đi phỏng đoán rằng hắn sẽ dễ dàng phản bội bổn phận một cách vô nguyên tắc như thế? Về phần mình, ông tin chắc rằng khi các yêu sách của ông được công khai và sự công bằng trong các điều khoản được cân nhắc, hắn sẽ chẳng từ chối ân huệ của ông lẫn của nhân dân La Mã. Nhưng giả sử, bị thúc đẩy bởi cơn thịnh nộ và sự điên rồ, hắn dám phát động chiến tranh chống lại họ, thì rốt cuộc họ phải sợ hãi điều gì? — hay tại sao họ lại phải tuyệt vọng về lòng dũng cảm của chính mình hoặc sự nhiệt thành của ông? Kẻ thù đó từng được thử thách trong ký ức của cha ông chúng ta, khi người Cimbri và Teutones bị đánh bại bởi Caius Marius, quân đội khi đó được coi là chẳng kém phần vinh quang so với chính vị tư lệnh của họ. Nó cũng vừa mới được thử thách tại Ý; trong cuộc nổi loạn của đám nô lệ, những kẻ mà dẫu sao kinh nghiệm và sự huấn luyện họ nhận được từ chúng ta cũng đã hỗ trợ phần nào. Từ đó người ta có thể rút ra phán quyết về những lợi thế mà sự quyết tâm mang lại — bởi vì những kẻ mà suốt một thời gian dài họ từng vô cớ khiếp sợ khi chưa có vũ khí, hóa ra sau đó đã bị họ đánh bại khi đã trang bị đầy đủ vũ khí và ngập tràn hưng phấn chiến thắng. Tóm lại, đây chính là những kẻ mà người Helvetii, trong những lần chạm trán thường xuyên không chỉ trên lãnh thổ của chính họ mà còn trên đất [German], vẫn thường đánh bại, thế mà những kẻ đó lại chẳng thể xứng tầm làm đối thủ của quân đội chúng ta. Nếu trận chiến thất bại và cuộc tháo chạy của người Gaul làm ai đó bất an, những kẻ ấy, nếu chịu tìm hiểu, sẽ phát hiện ra rằng khi người Gaul đã kiệt sức vì cuộc chiến kéo dài, Ariovistus — kẻ suốt nhiều tháng trời cố thủ trong doanh trại và vùng đầm lầy, không hé lộ cơ hội giao chiến nào — đã bất ngờ đánh úp vào lúc họ đã tuyệt vọng về một trận chiến và đang tản mác khắp nơi, và chiến thắng của hắn đến từ mưu mẹo và quỷ quyệt nhiều hơn là lòng dũng cảm. Nhưng dẫu có chỗ cho thứ mưu mẹo đó chống lại những kẻ man rợ và thiếu hiểu biết, ngay cả [Ariovistus] cũng chẳng mảy mang hy vọng có thể bẫy được quân đội của chúng ta bằng cách đó. Những kẻ quy chụp nỗi sợ hãi của chúng vào cái cớ ngụy tạo về sự thiếu hụt lương thực và sự chật hẹp của đường xá là những kẻ xấc láo, vì chúng dường như hoặc không tin tưởng vào cách vị tướng của mình thực hiện bổn phận, hoặc đang muốn lên lớp chỉ đạo ông. Những vấn đề đó là trách nhiệm của ông; người Sequani, Leuci và Lingones có trách nhiệm cung cấp lúa gạo; và lúa gạo ngoài đồng đã chín vàng; còn về con đường hành hành quân, họ chẳng mấy chốc sẽ tự mình có câu trả lời. Còn việc có tin đồn rằng binh lính sẽ không tuân lệnh hoặc không chịu tiến bước, ông hoàn toàn chẳng mảy may bận tâm đến điều đó; bởi vì ông thừa biết rằng đối với tất cả những kẻ có quân đội không chịu tuân lệnh, vận may đã quay lưng do một số sai lầm quản lý, hoặc sự tham lam đã bị chứng minh rõ ràng sau khi một tội ác bị phơi bày. Sự liêm khiết của ông đã được minh chứng qua toàn bộ cuộc đời, và vận may của ông đã được khẳng định trong cuộc chiến với người Helvetii. Do đó, ông sẽ lập tức tiến hành những gì từng định hoãn lại đến một thời điểm xa hơn, và sẽ nhổ trại vào đêm tới, ngay trong canh tư, để có thể xác định nhanh nhất có thể xem tinh thần danh dự và bổn phận hay sự sợ hãi mới là thứ chiếm ưu thế trong họ. Và rằng, nếu không một ai chịu bước theo, ông vẫn sẽ cất bước chỉ với duy nhất quân đoàn thứ mười — đội quân mà ông hoàn toàn không mảy may nghi ngờ, và nó sẽ đóng vai trò là đội cận vệ praetorian của ông." — Quân đoàn này từng được Caesar vô cùng sủng ái và đặt trọn niềm tin nhờ vào lòng dũng cảm xuất chúng của nó.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XLI
Ngay sau khi bài phát biểu này được đọc lên, tâm lý của tất cả mọi người đã xoay chuyển một cách ngoạn mục, lòng nhiệt thành cùng khát khao tột độ muốn tiếp tục chiến tranh lập tức sục sôi; và quân đoàn thứ mười là đơn vị đầu tiên đứng ra gửi lời cảm ơn đến ông thông qua các quan quân tribuni militis vì ông đã dành cho họ một đánh giá tốt đẹp đến thế; họ bảo đảm với ông rằng họ hoàn toàn sẵn sàng dấn thân vào cuộc chiến. Tiếp đó, các quân đoàn còn lại tìm cách tạ lỗi với Caesar thông qua các quan quân tribuni militis và các bách phu trưởng của các đại đội chủ chốt, [nói rằng] họ chưa bao giờ mảy may nghi ngờ hay sợ hãi, cũng chẳng bao giờ cho rằng quyền quyết định điều hành chiến tranh thuộc về họ chứ không phải vị tư lệnh. Sau khi chấp nhận lời cáo lỗi của họ và cho thám sát kỹ lưỡng con đường nhờ sự trợ giúp của Divitiacus — bởi trong số tất cả mọi người, ông đặt niềm tin lớn nhất vào ông ấy — [ông phát hiện ra rằng] thông qua một tuyến đường vòng dài hơn năm mươi dặm, ông có thể dẫn quân đội đi qua những vùng đất quang đãng; thế là ông hạ lệnh nhổ trại vào canh tư đúng như lời đã nói [rằng ông sẽ làm]. Vào ngày thứ bảy, do không ngừng nghỉ bước chân, ông được thám tử báo tin rằng lực lượng của Ariovistus chỉ còn cách quân ta vỏn vẹn hai mươi bốn dặm.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XLII
Được thông báo về sự xuất hiện của Caesar, Ariovistus liền phái sứ thần đến gặp ông, [nói rằng] điều mà trước đây hắn từng yêu cầu về một cuộc hội kiến nay đã có thể diễn ra, chừng nào còn có sự cho phép từ hắn, bởi vì ông [Caesar] đã tiến lại gần hơn và hắn cho rằng mình có thể thực hiện điều đó mà không gặp nguy hiểm. Caesar không hề từ chối đề xuất này và bắt đầu nghĩ rằng nay hắn đã trở lại với một tâm trí tỉnh táo, khi hắn tự nguyện đề nghị điều mà trước đây từng cự tuyệt khi ông cất lời thỉnh cầu; đồng thời ông nuôi hy vọng lớn lao rằng, để đền đáp những ân huệ to lớn của bản thân ông và nhân dân La Mã dành cho hắn, kết cục sẽ là hắn từ bỏ sự bướng bỉnh một khi các yêu sách của ông được bày tỏ. Ngày thứ năm sau đó được ấn định làm ngày hội kiến. Trong lúc đó, các phái đoàn sứ thần liên tục qua lại tấp nập giữa hai bên, Ariovistus đưa ra yêu sách rằng Caesar không được mang theo bất kỳ tên lính bộ binh nào đến buổi hội kiến, [nói rằng] hắn "sợ bị bẫy trải bởi mưu mô phản trắc của ông; cả hai bên đều phải đến cùng với lực lượng kỵ binh; hắn sẽ không đến với bất kỳ điều kiện nào khác." Caesar, vì không muốn buổi hội kiến bị phá hỏng bởi một cái cớ được ném ra cản đường, lại càng không dám phó mặc tính mạng cho đám kỵ binh người Gaul, liền quyết định phương án hợp lý nhất là tước toàn bộ ngựa của kỵ binh Gaul, rồi dùng chúng để bố trí cho những người lính bộ binh thuộc quân đoàn thứ mười — đơn vị mà ông đặt trọn niềm tin; nhằm mục đích có được một đội ngũ cận vệ đáng tin cậy nhất có thể, phòng hờ trường hợp nổ ra giao tranh. Và khi việc này được thực hiện xong, một người lính thuộc quân đoàn thứ mười đã thốt lên, không giấu vẻ dí dỏm: "rằng Caesar đã làm cho họ nhiều hơn những gì ông từng hứa; ông từng hứa sẽ dùng quân đoàn thứ mười thay cho đội cận vệ praetorian của mình; nhưng nay ông lại biến họ thành kỵ binh."
[TIÊU ĐỀ]: Chương XLIII
Có một vùng đồng bằng rộng lớn, và giữa đó nổi lên một gò đất có kích thước đáng kể. Địa điểm này nằm ở khoảng cách xấp xỉ đều nhau từ cả hai doanh trại. Tới đó, đúng như đã hẹn, họ tề tựu để tiến hành hội kiến. Caesar bố trí quân đoàn mà ông mang theo [bên mình] trên lưng ngựa cách gò đất đó 200 bước. Lực lượng kỵ binh của Ariovistus cũng đứng vào vị trí ở khoảng cách tương đương. Ariovistus sau đó yêu cầu hai bên phải đàm phán trên lưng ngựa, và ngoài bản thân họ ra, mỗi bên phải dẫn theo mười người tham gia hội kiến. Khi họ đã đến đúng địa điểm, Caesar mở đầu bài diễn văn bằng cách liệt kê những ân huệ của bản thân ông và viện nguyên lão dành cho hắn [Ariovistus], "rằng hắn từng được phong vua, rằng hắn [từng được phong] bạn bởi viện nguyên lão — rằng vô số món quà vô cùng giá trị đã được gửi tặng hắn; hoàn cảnh mà ông thông báo cho hắn biết rằng không phải ai cũng có được, và thường chỉ được ban tặng để đáp lại những chiến công cá nhân trọng đại; rằng ông, dẫu chẳng có chút nền tảng hay cơ sở chính đáng nào cho thỉnh cầu đó, vẫn đoạt được những vinh danh ấy nhờ lòng tốt và sự hào phóng của chính bản thân ông [Caesar] cùng viện nguyên lão. Ông cũng thông báo cho hắn biết những cơ sở lâu đời và chính đáng cỡ nào của mối quan hệ gắn kết tồn tại giữa họ [người La Mã] với người Aedui, những sắc lệnh nào của viện nguyên lão từng được thông qua để ủng hộ họ, chúng thường xuyên và cao quý ra sao; từ thời hồng hoang người Aedui đã nắm giữ quyền bá chủ toàn cõi xứ Gaul như thế nào; ngay cả [Caesar nói] trước khi họ tìm kiếm tình hữu nghị của chúng ta; rằng phong tục của nhân dân La Mã là không chỉ mong muốn các đồng minh và bạn bè của mình không bị mất mát bất kỳ tài sản nào, mà còn phải được nâng cao về tầm ảnh hưởng, phẩm giá và danh dự: vậy thì kẻ nào có thể dung thứ cho việc những thứ họ từng mang theo khi đến với tình hữu nghị của nhân dân La Mã lại bị tước đoạt?" Sau đó ông lặp lại chính những yêu sách từng ủy thác cho các sứ thần, rằng [Ariovistus] không được gây chiến chống lại người Aedui hay đồng minh của họ, rằng hắn phải trả lại con tin, rằng nếu hắn không thể tống cổ bất kỳ phần nào của người German về nước, ít nhất hắn cũng không được phép để bất kỳ tên nào trong số chúng vượt sông Rhine thêm lần nào nữa.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XLIV
Ariovistus đáp lại ngắn gọn các yêu sách của Caesar; nhưng mổ xẻ dài dòng về những đức tính của chính mình: "rằng hắn vượt sông Rhine không phải theo ý nguyện tự thân, mà do được mời gọi và thỉnh cầu bởi người Gaul; rằng hắn rời bỏ quê hương và họ hàng không phải không đi kèm những kỳ vọng lớn lao và phần thưởng lớn lao; rằng hắn sở hữu những vùng định cư tại Gaul được ban tặng chính bởi người Gaul; rằng các con tin được dâng hiến bằng chính thiện chí của họ; rằng hắn tước đoạt cống nạp bằng quyền chiến thắng mà những kẻ chinh phục thường áp đặt lên kẻ bại trận; rằng hắn không gây chiến với người Gaul, mà là người Gaul gây chiến với hắn; rằng tất cả các quốc gia ở Gaul đã kéo đến tấn công hắn, đồng thời hạ trại vây hãm hắn; rằng toàn bộ lực lượng của chúng đã bị hắn đánh tan tác và đè bẹp trong một trận chiến đơn độc; rằng nếu chúng chọn thử thách lần thứ hai, hắn sẵn sàng đương đầu với chúng lần nữa; nhưng nếu chúng muốn tận hưởng hòa bình, việc từ chối nộp cống — thứ mà chúng đã tự nguyện thanh toán cho đến tận thời điểm đó — là điều bất công. Rằng tình hữu nghị của nhân dân La Mã phải chứng tỏ là một món trang sức và sự bảo hộ cho hắn, chứ không phải là một sự tổn hại; và hắn tìm kiếm nó với kỳ vọng đó. Nhưng nếu vì nhân dân La Mã mà cống nạp phải bị bãi bỏ, và những kẻ đã đầu hàng bị xúi giục phản bội hắn, hắn sẽ từ bỏ tình hữu nghị của nhân dân La Mã quyết liệt chẳng kém gì lúc hắn từng tha thiết tìm kiếm nó. Còn về việc hắn dẫn đầu một đạo quân người German sang xứ Gaul, hắn làm điều đó với mục đích tự vệ chứ không phải để tấn công xứ Gaul: minh chứng rõ ràng cho điều này là hắn không hề bước chân đến nếu không được mời gọi, và hắn không gây chiến mà chỉ tự vệ. Hắn đã đặt chân đến xứ Gaul trước cả nhân dân La Mã. Chưa từng có một lần nào trước thời điểm này mà một đội quân La Mã dám vượt qua biên giới tỉnh lị Gaul. [Hắn nói] [Caesar] muốn cái gì? — tại sao lại bước chân vào lãnh thổ của hắn [Ariovistus]? — rằng đây là vùng đất Gaul của hắn, hệt như xứ đó là của chúng ta. Hắn không nên bị tha thứ nếu dám tấn công lãnh thổ của chúng ta; tương tự như vậy, chúng ta cũng thật bất công khi cản trở đặc quyền của hắn. Còn về việc Caesar nói người Aedui từng được viện nguyên lão gọi là 'huynh đệ', hắn không hề kém văn minh hay thiếu hiểu biết đến mức không nhận ra rằng trong cuộc chiến tột cùng với người Allobroges vừa qua, người Aedui chưa từng hỗ trợ người La Mã, cũng chẳng nhận bất kỳ sự trợ giúp nào từ nhân dân La Mã trong những cuộc chiến đấu mà người Aedui duy trì với hắn và người Sequani. Hắn buộc phải nghi ngờ rằng Caesar, dẫu ngụy trang tình hữu nghị làm lý do để duy trì một đội quân ở Gaul, thực chất đang giữ nó lại với mưu đồ nghiền nát hắn. Và rằng nếu ông không chịu rút lui và cút khỏi những vùng đất này, hắn sẽ không coi ông là bạn, mà là kẻ thù; và ngay cả khi hắn có ra tay tước đoạt tính mạng ông đi nữa, hắn cũng đang làm một việc làm hài lòng rất nhiều quý tộc và nhân vật chóp bu của nhân dân La Mã; hắn được bảo đảm về điều đó từ chính miệng họ thông qua các sứ giả, và hắn có thể mua chuộc sự sủng ái cùng tình hữu nghị của tất cả bọn họ bằng chính cái chết của [Caesar]. Nhưng nếu ông chịu rút lui và nhường lại quyền sở hữu tự do ở Gaul cho hắn, hắn sẽ đền ơn ông bằng một phần thưởng hậu hỉnh, đồng thời kết thúc bất kỳ cuộc chiến nào ông muốn mà không gây ra bất kỳ phiền toái hay rủi ro nào cho ông."
[TIÊU ĐỀ]: Chương XLV
Nhiều điều đã được Caesar trình bày nhằm mục đích [chứng minh]: "tại sao ông không thể từ bỏ vụ việc này, và cả thói quen của ông lẫn nhân dân La Mã đều không cho phép ông bỏ rơi những người đồng minh có công trạng xuất sắc nhất, đồng thời ông cũng không cho rằng xứ Gaul thuộc về Ariovistus hơn là thuộc về nhân dân La Mã; rằng người Arverni và Ruteni từng bị khuất phục trong chiến tranh bởi Quintus Fabius Maximus, nhưng nhân dân La Mã đã khoan dung tha thứ cho họ chứ không biến họ thành tỉnh lị hay áp đặt cống nạp lên đầu họ. Và nếu thời kỳ cổ đại nhất được đem ra xem xét — khi ấy quyền bá chủ của nhân dân La Mã tại Gaul mới là chính đáng nhất: nếu sắc lệnh của viện nguyên lão phải được tuân thủ — khi ấy xứ Gaul phải được tự do, vùng đất mà họ [người La Mã] từng chinh phạt trong chiến tranh và đã cho phép tự do tận hưởng luật lệ của chính mình."
[TIÊU ĐỀ]: Chương XLVI
Trong lúc những việc này đang diễn ra tại buổi hội kiến, tin báo về cho Caesar hay rằng kỵ binh của Ariovistus đang tiến đến gần gò đất hơn, phi ngựa xông về phía quân ta và ném đá cùng vũ khí vào họ. Caesar lập tức chấm dứt bài diễn văn của mình, rút lui về với quân sĩ; và ra lệnh cho họ tuyệt đối không được ném trả bất kỳ thứ vũ khí nào về phía kẻ thù. Bởi vì dẫu nhìn thấy rõ một trận đụng độ với kỵ binh sẽ chẳng mang lại hiểm nguy nào cho quân đoàn được chọn lọc của mình, ông vẫn không cho rằng việc giao chiến là thỏa đáng, kẻo sau khi kẻ thù bị đánh tan, người ta lại có cớ để đồn đại rằng chúng đã sập bẫy do chính ông giăng ra dưới vỏ bọc của một cuộc hội kiến. Khi tin tức lan truyền rộng rãi trong đám binh lính bình thường rằng Ariovistus đã hành xử ngạo mạn nhường nào tại buổi hội kiến, rằng hắn đã hạ lệnh cho người La Mã cút khỏi xứ Gaul ra sao, kỵ binh của hắn đã tấn công quân ta thế nào và điều đó đã phá nát cuộc hội kiến ra sao, thì sự hăng hái cùng khát khao chiến đấu trào dâng mạnh mẽ bội phần đã được bơm vào tâm trí quân đội của chúng ta.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XLVII
Hai ngày sau, Ariovistus phái sứ thần đến gặp Caesar để thông báo rằng "hắn muốn thương lượng với ông về những vấn đề từng được khởi xướng đàm phán giữa đôi bên nhưng vẫn chưa đi đến hồi kết"; [đồng thời khẩn khoản] xin ông "hoặc tiếp tục ấn định một ngày hội kiến mới; hoặc nếu không muốn làm điều đó, hãy phái một trong số các [sĩ quan] của ông đến làm sứ thần gặp hắn." Caesar hoàn toàn không nhìn thấy lý do chính đáng nào để tổ chức một cuộc hội kiến nữa; nhất là khi ngày hôm trước người German không thể kiềm chế được việc ném vũ khí vào quân ta. Ông cho rằng việc phái một sĩ quan [La Mã] nào đó đến gặp hắn với tư cách sứ thần là hành động rước lấy hiểm nguy to lớn, chẳng khác nào ném người đó vào tay bọn man rợ tàn bạo. Do đó [ông] thấy phương án thích hợp nhất là cử C. Valerius Procillus — con trai của C. Valerius Caburus, một thanh niên có lòng dũng cảm và tài năng kiệt xuất (người có cha từng được ban quyền công dân bởi C. Valerius Flaccus) — cả vì sự trung thành lẫn am hiểu sâu sắc ngôn ngữ Gaul, thứ ngôn ngữ mà Ariovistus qua thời gian dài thực hành nay đã nói một cách trôi chảy; và bởi vì trong trường hợp của anh ta, người German sẽ chẳng có động cơ nào để giở trò bạo lực; cùng đi với anh ta [với tư cách đồng nghiệp] là M. Mettius, người từng chia sẻ tình thân hiếu khách với Ariovistus. Ông ủy thác cho họ tìm hiểu xem Ariovistus muốn nói gì và báo cáo lại cho ông. Nhưng khi Ariovistus nhìn thấy họ đứng trước mặt mình trong doanh trại, hắn hét lớn trước mặt toàn quân rằng: "Các ngươi đến gặp ta làm gì? có phải với mục đích làm gián điệp hay không?" Hắn cắt đứt lời họ khi họ đang cố mở miệng thanh minh, rồi tống cổ cả hai vào xiềng xích.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XLVIII
Cùng ngày hôm đó, hắn nhổ trại tiến lên phía trước và hạ trại dưới chân một ngọn đồi cách doanh trại Caesar sáu dặm. Ngày hôm sau, hắn dẫn lực lượng vượt qua doanh trại Caesar và hạ trại cách ông hai dặm về phía bên kia; với mưu đồ — nhằm cắt đứt nguồn cung cấp lúa gạo và lương thực có thể được vận chuyển từ xứ Sequani và Aedui đến cho Caesar. Suốt năm ngày liên tiếp tính từ ngày đó, Caesar đều đặn kéo quân ra trước doanh trại, dàn trận sẵn sàng chiến đấu để nếu Ariovistus có nhã ý giao chiến, cơ hội sẽ không bị bỏ lỡ. Ariovistus suốt khoảng thời gian đó vẫn giam chân quân đội trong trại; nhưng hằng ngày vẫn tiến hành các trận kỵ binh chạm trán nhỏ. Phương thức giao chiến mà người German tự luyện tập cho mình như sau. Có 6.000 kỵ binh, và số lượng tương đương những tên bộ binh vô cùng linh hoạt và dũng cảm, mỗi tên bộ binh được mỗi kỵ binh lựa chọn từ toàn bộ quân đội để làm người bảo vệ riêng cho mình. Họ luôn được [bộ binh] tháp tùng trong mọi cuộc giao chiến; kỵ binh rút lui về phía những tên bộ binh này; bộ binh sẽ lao lên trong mọi tình huống khẩn cấp; nếu có ai, sau khi lĩnh trọn vết thương chí mạng, ngã ngựa xuống đất, họ sẽ đứng vây quanh che chở; nếu cần phải tiến xa hơn bình thường, hoặc rút lui nhanh chóng hơn, tốc độ của họ nhờ luyện tập mà nhanh đến mức, bám vào bờm ngựa, họ có thể bắt kịp tốc độ phi nước đại của loài ngựa.
[TIÊU ĐỀ]: Chương XLIX
Nhận thấy Ariovistus cứ khăng khăng giam mình trong trại, Caesar, để không bị cắt đứt nguồn lương thực nữa, liền lựa chọn một địa điểm thuận lợi để lập trại ở phía bên kia khu vực người German đóng quân, cách họ khoảng 600 bước, rồi dàn trận ba lớp tiến về vị trí đó. Ông ra lệnh cho tuyến một và tuyến hai ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu; tuyến ba tiến hành đắp lũy xây trại. Địa điểm này cách kẻ thù khoảng 600 bước như đã tuyên bố. Tại đó, Ariovistus phái lực lượng lính nhẹ, số lượng khoảng 16.000 người cùng toàn bộ kỵ binh, đến quấy rối quân ta và cản trở công cuộc xây dựng công sự. Tuy nhiên, Caesar, đúng như kế hoạch đã định từ trước, ra lệnh cho hai tuyến đầu đánh bật kẻ thù, còn tuyến thứ ba thi công công trình. Khi doanh trại đã được củng cố kiên cố, ông để lại tại đó hai quân đoàn cùng một phần lực lượng hỗ trợ, rồi dẫn bốn quân đoàn còn lại rút về doanh trại lớn.
[TIÊU ĐỀ]: Chương L
Ngày hôm sau, theo lệ thường, Caesar dẫn toàn bộ lực lượng từ cả hai doanh trại ra ngoài, tiến lên một chút từ doanh trại lớn, dàn trận chiến đấu và tạo cơ hội cho kẻ thù giao tranh. Khi nhận thấy chúng vẫn chẳng thèm bước chân ra [khỏi chiến lũy], ông liền dẫn quân đội rút về trại vào khoảng giữa trưa. Lúc bấy giờ Ariovistus mới chịu cử một phần lực lượng đến tấn công doanh trại nhỏ. Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt từ cả hai phía cho đến tận chạng vạng tối. Lúc hoàng hôn buông xuống, sau khi vô số vết thương đã được gây ra và hứng chịu, Ariovistus mới chịu dẫn lực lượng rút về trại. Khi Caesar gặng hỏi những tù binh rằng tại sao Ariovistus không chịu ra trận giao chiến, ông phát hiện ra nguyên nhân là: — theo phong tục của người German, các nữ tư tế của họ có nhiệm vụ dựa vào điềm quẻ và bói toán để phán quyết xem có nên tiến hành giao chiến hay không; họ đã tuyên bố rằng: "ý trời không muốn người German giành chiến thắng nếu họ bước vào trận chiến trước kỳ trăng non."
[TIÊU ĐỀ]: Chương LI
Ngày hôm sau, Caesar để lại lực lượng đủ để làm nhiệm vụ canh gác cho cả hai doanh trại; [rồi sau đó] dàn toàn bộ lực lượng hỗ trợ ngay trước tầm mắt kẻ thù, phía trước doanh trại nhỏ, bởi vì số lượng lính lê dương của ông không lấy gì làm dồi dào nếu so với quân số của kẻ thù; qua đó ông muốn [dùng cách này] tận dụng lực lượng hỗ trợ để làm uy thế bề ngoài. Bản thân ông, với đội hình ba lớp được dàn trận cẩn thận, tiến thẳng đến doanh trại kẻ thù. Lúc bấy giờ, người German rốt cuộc cũng buộc phải kéo lực lượng ra khỏi doanh trại, bố trí quân ngũ theo từng cụm liên minh ở khoảng cách đều đặn nhau: người Harudes, Marcomanni, Tribocci, Vangiones, Nemetes, Sedusii, Suevi; đồng thời bao vây toàn bộ quân đội của họ bằng xe bò và xe cộ, nhằm không chừa lại chút hy vọng tháo chạy nào. Trên những cỗ xe đó, họ đặt các phụ nữ của mình, những người với mái tóc bù xù đẫm nước mắt đang khẩn khoản van xin binh lính khi họ tiến ra chiến trường, đừng giao nộp họ làm nô lệ cho người La Mã.
[TIÊU ĐỀ]: Chương LII
Caesar cắt cử một vị phó tướng và một quan tài chính cho mỗi quân đoàn, để mọi người có thể dùng họ làm chứng nhân cho lòng dũng cảm của mình. Bản thân ông trực tiếp xông lên chiến đấu ở cánh phải, vì ông nhận thấy phần đó của kẻ thù kém kiên cố nhất. Căn cứ theo đó, quân ta, ngay khi hiệu lệnh vang lên, liền dũng mãnh xông vào tấn công kẻ thù, còn kẻ thù lao về phía trước đột ngột và nhanh chóng đến mức không còn khoảng thời gian nào để phóng lao vào họ nữa. [Do đó, họ] vứt bỏ lao giáo, giáp lá cà bằng gươm giáo. Nhưng người German, theo đúng phong tục của họ, nhanh chóng dựng thành đội hình phalanx để chống đỡ các đợt tấn công bằng gươm của chúng ta. Vô số binh sĩ của chúng ta đã nhảy xổ lên đội hình phalanx ấy, dùng tay không giật tung những chiếc khiên ra và tấn công kẻ thù từ trên cao xuống. Dù cánh trái của quân địch đã bị đánh tan tác và tháo chạy, chúng [vẫn] dùng số lượng quân đông đảo áp đảo cánh phải của chúng ta. Nhận thấy cảnh tượng đó, P. Crassus — một thanh niên trẻ tuổi chỉ huy lực lượng kỵ binh — vì rảnh rỗi hơn những người đang bận rộn chiến đấu trực diện, liền phái tuyến thứ ba đến cứu viện cho những người của chúng ta đang gặp nguy khốn.
[TIÊU ĐỀ]: Chương LIII
Thế là trận giao chiến được tái diễn, toàn bộ kẻ thù quay lưng tháo chạy, và chúng không ngừng chạy cho đến khi đặt chân đến sông Rhine, cách địa điểm đó khoảng năm mươi dặm. Tại đó, một số ít kẻ, dựa vào sức lực của mình, cố bơi qua sông, hoặc tìm được thuyền để cứu lấy sự an toàn. Nằm trong số những kẻ sau là Ariovistus, kẻ đã bắt gặp một chiếc thuyền nhỏ buộc bên bờ và trốn thoát bằng phương tiện đó: kỵ binh của chúng ta truy đuổi và tiêu diệt toàn bộ số còn lại. Ariovistus có hai người vợ, một người thuộc tộc Suevan được hắn mang theo từ quê nhà; người kia là người Norican, em gái của vua Vocion, được hắn cưới ở xứ Gaul sau khi được anh trai nàng phái [đến mục đích đó]. Cả hai đều bỏ mạng trong cuộc tháo chạy ấy. Trong số hai người con gái của họ, một người bị giết, người kia bị bắt sống. C. Valerius Procillus, trong lúc đang bị đám cận vệ lôi đi trong cuộc tháo chạy với ba lớp xiềng xích trói buộc, đã rơi vào tay chính Caesar khi ông đang cùng kỵ binh truy đuổi kẻ thù. Sự kiện này quả thực mang lại cho Caesar niềm vui chẳng kém gì chiến thắng tự thân; bởi vì ông nhìn thấy một nhân vật hàng đầu ở tỉnh lị Gaul, người quen thân và là bạn chí thiết của ông, đã được cứu thoát khỏi bàn tay kẻ thù và trao trả lại cho ông, đồng thời vận may không hề tước đi dù chỉ một chút niềm vui và sự hân hoan [của ngày hôm đó] qua cái chết của anh ta. Anh ta [Procillus] kể rằng ngay trước mặt mình, các quẻ bói đã được tung ba lần để định đoạt xem anh ta có nên bị thiêu sống ngay lập tức hay bị giữ lại cho dịp khác: ơn nhờ sự may mắn của các quẻ bói, anh ta vẫn bình an vô sự. M. Mettius cũng được tìm thấy và áp giải trở lại dâng lên ông [Caesar].
[TIÊU ĐỀ]: Chương LIV
Trận chiến này vừa được loan truyền qua bên kia sông Rhine, người Suevi — những kẻ từng kéo đến bờ sông — liền bắt đầu quay gót hồi hương, trong khi người Ubii cư trú gần sông Rhine nhất đã bám sát truy đuổi họ lúc đang hoảng loạn tột độ và tàn sát vô số kẻ. Caesar, sau khi kết thúc hai cuộc chiến vô cùng trọng đại chỉ trong một mùa chiến dịch, liền dẫn quân đội vào doanh trại mùa đông tại xứ Sequani sớm hơn một chút so với thời điểm ngặt nghèo của năm yêu cầu. Ông trao quyền chỉ huy các doanh trại mùa đông cho Labienus và tự mình lên đường trở về xứ Hither Gaul để mở các phiên tòa xét xử.