Trong một nghiên cứu tôi đã thực hiện từ lâu, tôi phát hiện thấy những trẻ bền bỉ hơn trong Cuộc thi Đánh vần Quốc gia thường luyện tập nhiều hơn các đối thủ yếu. Những giờ luyện tập như vậy là lời giải thích cho phần thể hiện vượt trội trong vòng thi cuối cùng.
Phát hiện này rất có ý nghĩa. Là giáo viên dạy toán, tôi đã quan sát nhiều nỗ lực của học sinh. Quả thật, một số trẻ chẳng dành chút thời gian nào trong tuần làm bài tập, một số khác lại học nhiều giờ mỗi ngày. Tất cả
các nghiên cứu đều chứng minh người bền bỉ thường có tính cam kết cao hơn, điều này nghe như thể thế mạnh của người bền bỉ chỉ là dành nhiều thời gian hơn cho công việc.
Đồng thời, tôi cũng nghĩ tới nhiều người đã dành bao năm tháng tích lũy kinh nghiệm trong nghề nhưng năng lực vẫn chỉ ở mức trung bình. Tôi chắc chắn bạn cũng nghĩ vậy. Hãy nghĩ về điều này xem sao. Bạn có biết ai từng làm việc gì đó trong thời gian rất dài, có thể là cả cuộc đời họ song điều chính xác nhất để nói về kỹ năng của họ là họ làm khá ổn, không quá tệ đến mức bị phạt. Như một đồng nghiệp của tôi hay đùa: Một số
người có 20 năm kinh nghiệm, trong khi những người khác chỉ có 1 năm kinh nghiệm… được thực hiện lặp đi lặp lại 20 lần.
Người Nhật sáng tạo ra kaizen để chống lại những yếu tố kìm hãm sự
phát triển. Kaizen có nghĩa là: Cải tiến liên tục. Trên thực tế, phương
pháp này đã lập tức thu hút sự chú ý của giới kinh doanh ở Mỹ khi được giới thiệu là nguyên tắc cốt lõi đến từ nền kinh tế sản xuất hiệu quả. Sau khi phỏng vấn rất nhiều người bền bỉ đột phá, tôi có thể nói với bạn rằng họ đều là những kaizen. Tôi không thấy có trường hợp ngoại lệ nào.
Tương tự, khi phỏng vấn những người “thành công rực rỡ”, nhà báo Hester Lacey cho biết, tất cả họ đều thể hiện khao khát lớn lao là vượt qua trình độ vốn đã rất xuất sắc của chính mình. Một diễn viên có thể
nói: “Tôi có thể chưa bao giờ nhập vai hoàn hảo nhất nhưng tôi muốn làm tốt nhất có thể. Và trong mỗi vai diễn, tôi muốn đưa cái gì đó mới lạ
vào. Tôi muốn mình làm tốt hơn nữa.” Một nhà văn lại có thể nói: “Tôi muốn mỗi cuốn sách mình viết ra phải tốt hơn cuốn trước tôi đã viết.”
Hester giải thích: “Làm tốt hơn là khao khát kiên định. Điều đó trái ngược hoàn toàn với cảm giác tự mãn. Nó là trạng thái tích cực của tâm trí, không phải là trạng thái tiêu cực, cũng không phải là việc nhìn lại với thái độ không hài lòng. Đó là việc hướng tới phía trước và khao khát tiến lên.”
***
Khi thực hiện nghiên cứu phỏng vấn, tôi đã tự hỏi: Có lẽ bền bỉ không chỉ
có nghĩa là số lượng thời gian chúng ta dành cho mối quan tâm, nó còn là vấn đề chất lượng của thời gian ấy; không chỉ là thêm thời gian cho công việc, mà phải là thêm thời gian có chất lượng hơn cho công việc.
Tôi bắt đầu đọc mọi thứ có thể về phát triển kỹ năng.
Không lâu sau, công việc này đã dẫn tôi đến trước cửa nhà chuyên gia tâm lý nhận thức Anders Ericsson. Ericsson đã dành cả sự nghiệp để
nghiên cứu những chuyên gia đã hình thành kỹ năng ở trình độ quốc tế
như thế nào. Ông đã nghiên cứu các vận động viên Olympic, kiện tướng cờ vua, nghệ sĩ piano lừng danh, các nữ diễn viên ba-lê chính, vận động viên golf PGA, người vô địch Cuộc thi Giải chữ Scrabble, chuyên gia chẩn đoán và điều trị chấn thương, khám bệnh bằng cách sử dụng hình ảnh kỹ thuật y tế, cùng nhiều ngành nghề khác.
Có thể nói thế này: Ericsson là chuyên gia thế giới chuyên nghiên cứu về
các chuyên gia thế giới.
Dưới đây, tôi sẽ giới thiệu biểu đồ tóm tắt những gì Ericsson đã biết. Nếu bạn theo dõi sự phát triển của các nghệ sĩ biểu diễn nổi tiếng thế giới, bạn sẽ nhận thấy rõ kỹ năng của họ phát triển qua nhiều năm. Khi họ
giỏi hơn, mức độ tiến bộ của họ sẽ chậm đi. Điều này cũng đúng với tất cả chúng ta. Bạn càng hiểu nhiều về lĩnh vực của mình thì khả năng tiến bộ hàng ngày của bạn sẽ càng chậm đi.

Đường biểu diễn quá trình phát triển kỹ năng này không có gì đáng ngạc nhiên. Trong một nghiên cứu của Ericsson, những nghệ sĩ violon giỏi nhất Học viện Âm nhạc Đức cho biết họ đã dành khoảng 10.000 giờ để
luyện tập trong suốt hơn 10 năm trước khi đạt đến trình độ xuất sắc.
Trong khi đó, những học viên kém hơn chỉ dành khoảng ½ thời gian luyện tập trong cùng một khoảng thời gian.
Có lẽ không quá trùng hợp ngẫu nhiên khi nghệ sĩ múa Martha Graham đã nói: “Tôi mất khoảng 10 năm để trở thành diễn viên múa thực thụ.”
Hơn nửa thế kỷ trước, các chuyên gia tâm lý đã nghiên cứu về nhân viên điện tín, họ quan sát thấy rất hiếm người có thể sử dụng thành thạo toàn bộ các mã Moóc-xơ vì nó đòi hỏi “nhiều năm học nghề vất vả”. Vậy là bao nhiêu năm? Các nhà nghiên cứu kết luận: “Theo chứng minh của chúng tôi, phải mất 10 năm mới có thể trở thành điện báo viên thời vụ
cẩn thận, tỉ mỉ.”
Nếu bạn từng đọc nghiên cứu nguyên bản của Ericsson, bạn sẽ biết 10.000 giờ luyện tập trong hơn 10 năm chỉ là con số trung bình. Một số
nghệ sĩ mà ông nghiên cứu đã đạt mức cao nhất về trình độ chuyên môn sau 10 năm luyện tập hoặc còn lâu hơn thế. Nhưng còn lý do đáng kể giải thích tại sao “quy tắc 10.000 giờ” và “quy tắc 10 năm” lại lan truyền nhanh đến như vậy. Không phải vài giờ, không phải vài chục giờ, không phải vài trăm giờ mà là hàng nghìn, hàng nghìn giờ luyện tập trong nhiều năm.
***
Tuy nhiên, điểm quan trọng trong nghiên cứu của Ericsson không phải là việc họ đã dành thêm thời gian để luyện tập. Thật ra, vấn đề chính nằm ở chỗ các chuyên gia đã luyện tập theo cách khác nhau. Không giống đa số chúng ta, các chuyên gia dành hàng nghìn giờ để luyện tập kỹ càng theo cách nói của Ericsson.
Tôi ngờ rằng Ericsson có thể giải thích lý do, bởi nếu việc thực hành quan trọng đến vậy thì kinh nghiệm không phải lúc nào cũng tạo ra hiệu suất.
Vì vậy, tôi quyết định hỏi ông về vấn đề này bằng cách nói về trường hợp của mình.
“Thưa Giáo sư Ericsson, tôi đã luyện đi bộ khoảng một giờ mỗi ngày, liên tục nhiều ngày trong tuần kể từ khi 18 tuổi. Tôi chưa bao giờ đi nhanh hơn đến một giây. Tôi đã chạy vài nghìn giờ song dường như tôi không bao giờ đạt đến trình độ của các vận động viên Olympic.”
Ông trả lời: “Điều đó rất thú vị. Cho phép tôi hỏi cô vài câu nhé?”
“Vâng.”
“Cô có mục tiêu cụ thể cho việc luyện tập đó không?”
“Để giữ gìn sức khỏe? Để mặc vừa quần jeans?”
“Đúng rồi. Tuy nhiên, khi chạy, cô có đặt mục tiêu về tốc độ cô muốn duy trì không? Hay là mục tiêu về quãng đường? Nói cách khác, có khía cạnh cụ thể nào của việc chạy khiến cô muốn cải thiện không?”
“Không. Tôi nghĩ là không.”
Sau đó, ông hỏi tôi nghĩ gì khi đang chạy.
“Ồ, ông biết không, tôi nghe Đài phát thanh Quốc gia. Đôi khi, tôi nghĩ
về những việc cần làm trong ngày. Tôi có thể lên kế hoạch cho bữa tối.”
Sau đó, ông nói tôi không theo dõi việc chạy theo một hệ thống nào, không có nhật ký tốc độ, quãng đường hoặc nhịp độ thực hiện, nhịp tim khi chạy đến cuối đường, khoảng cách chạy nước rút so với khoảng cách chạy theo tốc độ thông thường. Tại sao tôi cần phải làm thế? Việc chạy của tôi không có nhiều khác biệt. Lần chạy nào cũng giống nhau cả.
“Tôi cho rằng cô không có huấn luyện viên đúng không?”
Tôi cười.
“Tôi nghĩ mình đã hiểu rồi. Cô không có tiến bộ vì cô luyện tập không có
chủ đích.”
***
Đây là cách các chuyên gia luyện tập.
Thứ nhất, họ đặt mục tiêu lớn, bắt đầu từ điểm 0 trong từng khía cạnh nhỏ của phần trình diễn chung. Thay vì tập trung vào việc đã làm tốt, các chuyên gia cố gắng cải thiện những hạn chế. Họ chủ động tìm kiếm những thách thức họ chưa gặp phải. Ví dụ, Rowdy Gaines, vận động viên bơi lội đạt huy chương vàng Olympic, nói: “Trong mỗi buổi luyện tập, tôi sẽ cố gắng phá vỡ kỷ lục của mình. Nếu huấn luyện viên giao chỉ tiêu 100m trong 1,15 phút, tôi sẽ cố gắng bơi trong 1,14 phút.” Nghệ sĩ violon bậc thầy Roberto Diaz cho rằng hãy “làm việc để tìm ra gót chân Asin của mình – tức là phát hiện ra khía cạnh nào đó trong âm nhạc cần được cải thiện.”
Sau đó, các chuyên gia cố gắng đạt mục tiêu lớn với toàn bộ sự tập trung và nỗ lực. Thật thú vị là nhiều người chọn cách làm như vậy dù chẳng ai xem họ luyện tập cả. Vận động viên bóng rổ vĩ đại Kevin Durant nói: “Có lẽ, tôi đã dành 70% cuộc đời mình để luyện tập một mình, cố gắng hoàn thiện mọi khía cạnh trong môn thể thao này.” Tương tự, thời lượng các nghệ sĩ chơi đàn dành để luyện tập một mình là chỉ số đáng tin cậy hơn nhiều để dự đoán họ đã tiến bộ như thế nào chứ không phải thời gian họ
luyện tập với những nghệ sĩ khác ra sao.
Các chuyên gia thường nóng lòng tìm kiếm phản hồi về việc luyện tập
của họ. Tuy nhiên, đa số phản hồi lại mang tính tiêu cực. Điều này có nghĩa là các chuyên gia quan tâm đến những gì họ làm sai – để họ có thể
sửa chữa – hơn là những gì họ làm đúng. Việc xử lý tích cực đối với phản hồi này cũng quan trọng như việc tìm kiếm góp ý ngay tức khắc.
Dưới đây là cách Ulrik Christensen đã học hỏi về bài học này.
Christensen là doanh nhân xuất thân từ bác sĩ, phần mềm luyện tập do ông viết dựa trên nguyên tắc luyện tập kỹ càng. Một trong những dự án ban đầu của ông là trò chơi thực tế ảo, mục đích là hướng dẫn bác sĩ cách xử lý các tình huống khẩn cấp, phức tạp về tim mạch như đột quỵ, nhồi máu cơ tim. Trong suốt giờ học, ông thấy mình đơn độc bên cạnh một bác sĩ không có khả năng hoàn thành công việc.
Christensen nói với tôi: “Tôi không thể hiểu nổi tại sao. Anh ta không phải là người kém cỏi nhưng sau nhiều giờ góp ý từng chi tiết về những việc anh ta làm sai, anh ta vẫn không thể làm đúng. Tất cả mọi người đã về hết, chỉ còn lại chúng tôi, bế tắc làm sao.” Bực mình, Christensen ngăn anh ta lại ngay trước khi anh ta định làm tiếp. Christensen nói: “Hết giờ
rồi. Anh có nghi ngờ điều gì khi điều trị cho bệnh nhân này không? Anh có chắc là mình đã làm đúng theo hướng dẫn mới không?”
Vị bác sĩ suy nghĩ một lát rồi liệt kê ra một loạt quyết định anh ta chắc chắn; sau đó, anh ta nêu ra một vài lựa chọn về những điểm anh ta không rõ. Nói cách khác, anh ta đã đánh giá nhanh lại những việc mình biết và không biết.
Christensen gật đầu, lắng nghe và khi vị bác sĩ kết thúc, ông để anh ta
xem lại màn hình với phản ứng tương tự đã được chiếu nhiều lần trước đó. Trong lần thử lại, vị bác sĩ kia đã thực hiện quy trình rất chuẩn xác.
Phản hồi tiếp theo là gì?
Các chuyên gia sẽ làm đi làm lại nhiều lần cho đến khi nắm chắc những việc họ phải làm; cho đến tận khi cuộc vật lộn trước giờ trở nên nhuần nhuyễn và hoàn hảo, không sai sót; cho đến khi sự bất lực có ý thức trở
thành năng lực vô thức.
Trong câu chuyện về vị bác sĩ cuối cùng đã dành một phút để nhìn lại những việc mình làm sai, Christensen cứ để cho anh ta luyện tập cho đến khi thực hiện được quy trình mà không mắc sai sót nào. Sau bốn lần anh ta làm đi làm lại liên tục, không hề sai sót, Christensen nói: “Tốt rồi.
Chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ của ngày hôm nay.”
Và… sau đó? Cần phải làm gì sau khi đã đạt được mục tiêu?
Các chuyên gia lại bắt đầu từ đầu với mục tiêu mới.
Sau mỗi lần, sự tinh luyện sẽ tạo nên kỹ năng hoàn hảo.
***
Luyện tập kỹ càng lần đầu tiên được nghiên cứu ở các vận động viên cờ
vua, rồi đến nghệ sĩ chơi đàn và vận động viên thể thao. Nếu bạn không phải vận động viên cờ vua, nghệ sĩ hay vận động viên thể thao, bạn có thể thắc mắc liệu các nguyên tắc chung của việc luyện tập kỹ càng có áp
dụng được cho mình không.
Không ngần ngại, tôi có thể trả lời bạn ngay: CÓ. Ngay cả năng lực phức tạp và sáng tạo nhất của con người cũng có thể được phân chia thành các kỹ năng nhỏ, mỗi kỹ năng ấy lại có thể luyện tập được.
Ví dụ, luyện tập kỹ càng là cách Benjamin Franklin đã mô tả để cải thiện khả năng sáng tác của mình. Trong hồi ký, Franklin nhắc đến việc ông đã sưu tầm các bài luận hay nhất từ cuốn tạp chí yêu thích, Spectator.
Ông đã đọc nhiều lần, ghi chép rồi cất bài gốc vào trong ngăn kéo. Rồi, ông viết lại các bài luận ấy. “Sau đó, tôi so sánh bài viết của tôi với bài gốc, phát hiện vài điểm sai sót và sửa lại.” Cũng giống các nghiên cứu của Ericsson về các chuyên gia trong đời sống hiện đại, Franklin chú trọng đến từng điểm yếu và rèn luyện nghiêm khắc để cải thiện chúng.
Ví dụ, để nâng cao khả năng đưa ra những tranh luận lô-gíc, Franklin đưa mọi ghi chép vào bài luận rồi cố gắng sắp xếp nó theo một trật tự
nào đó: “Đây là cách dạy tôi phương pháp sắp xếp các suy nghĩ của mình.” Cũng như vậy, để nâng cao khả năng ngôn ngữ, Franklin viết văn rồi chuyển thành thơ và ngược lại, viết thơ rồi chuyển thành văn, ông làm đi làm lại nhiều lần việc này.
Giọng văn hóm hỉnh của Franklin khiến người ta khó tin ông không phải là nhà văn “thiên bẩm” ngay từ khi mới bắt tay vào nghề. Nhưng có lẽ
chúng ta nên để chính Franklin nói ra những lời cuối cùng về vấn đề này:
“Không có thành công nào không đi cùng nỗi đau.”
Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu bạn không phải là nhà văn?
Nếu bạn kinh doanh, hãy lắng nghe điều nhà quản lý xuất sắc Peter Drucker đã nói sau cả cuộc đời tư vấn cho các CEO. Quản lý hiệu quả “đòi hỏi phải làm một số việc hết sức đơn giản. Trong đó có cả một số ít việc luyện tập…”
Nếu bạn là bác sĩ phẫu thuật, hãy lắng nghe điều Atul Gawande nói:
“Người ta thường cho rằng bạn phải có bàn tay khéo léo mới trở thành bác sĩ phẫu thuật, nhưng điều đó không đúng.” Điều quan trọng nhất Gawande đã nói là “luyện tập việc khó khăn này cả ngày lẫn đêm trong nhiều năm liên tục”.
Nếu bạn muốn phá kỷ lục thế giới như ảo thuật gia David Blaine khi anh nín thở dưới nước trong 17 phút, hãy theo dõi buổi trò chuyện của anh trên TED. Khi mỗi buổi trình diễn kết thúc, vị ảo thuật gia có khả năng kiểm soát mọi khía cạnh sinh học của cơ thể mình bộc bạch: “Là nhà ảo thuật, tôi luôn cố gắng thể hiện những gì người ta nghĩ là không thể. Tôi nghĩ thật kỳ diệu khi tôi có thể nín thở hoặc xáo bài khá đơn giản đến vậy. Đó là do luyện tập, do luyện tập cả thôi” – anh nói – “đồng thời đẩy nỗi đau lên mức cao nhất mình có thể chịu đựng. Và điều đó thật kỳ diệu đối với tôi…”
***
Sau khi quen thân hơn, Ericsson và tôi đã thiết kế một nghiên cứu để tìm hiểu chính xác làm thế nào mà những trẻ bền bỉ giành chiến thắng tại Cuộc thi Đánh vần Quốc gia.
Tôi biết những thí sinh bền bỉ hơn của cuộc thi đã luyện tập nhiều hơn và thể hiện tốt hơn các đối thủ của mình. Điều tôi không biết là liệu việc luyện tập kỹ càng có góp phần cải thiện kỹ năng không và liệu có phải đức tính bền bỉ đã thúc đẩy trẻ luyện tập nhiều hơn nữa.
Với sự giúp đỡ của các sinh viên do Ericsson giới thiệu, chúng tôi tiến hành phỏng vấn các thí sinh nhằm biết họ đã làm gì để chuẩn bị cho vòng chung kết. Đồng thời, chúng tôi còn nghiên cứu thêm những cuốn sách đã xuất bản về chủ đề này, trong đó có cuốn How to Spell like a Champ (tạm dịch: Để đánh vần như một nhà vô địch) của Paige Kimble, Giám đốc Quốc gia của chương trình.
Chúng tôi biết có 3 nhóm hoạt động mà những thí sinh có kinh nghiệm, cha mẹ họ và các huấn luyện viên đề cập đến gồm: Thứ nhất, đọc cho vui và chơi các trò đố chữ, ví dụ như đố chữ kiểu Scabble. Thứ hai, chơi đố
chữ với người khác hoặc chương trình lập trình. Thứ ba, luyện tập một mình, trong đó, trẻ học thuộc lòng từ mới có trong từ điển, ôn lại các từ
đã ghi chép trong cuốn vở đánh vần, học thuộc lòng các từ có gốc La-tinh, Hy Lạp. Trong số này, chỉ có hoạt động của nhóm ba đáp ứng tiêu chí về luyện tập kỹ càng.
Nhiều tháng trước vòng thi chung kết, thí sinh nhận được câu hỏi qua e-mail. Ngoài thang đo Grit Scale, chúng tôi đề nghị các em ghi nhật ký số
giờ mỗi tuần đã dành ra để luyện đánh vần. Chúng tôi cũng đề nghị các em đưa ra cảm nhận của chính mình – về mức độ thích thú và nỗ lực –
khi đang thực hiện những hoạt động này.
Tháng 5, cuộc thi chung kết được chiếu trên kênh ESPN, Anders Ericsson và tôi cùng theo dõi.
Kerry Close, cô bé 13 tuổi, đã giành được cúp. Đó là năm thứ 5 liên tiếp cô bé dự thi và dựa vào nhật ký cô bé đã ghi lại trong nghiên cứu của chúng tôi, tôi ước lượng cô bé đã dành ít nhất 3.000 giờ để luyện đánh vần. Từ cuối cùng Kerry chiến thắng được cô bé đọc to trong micro một cách tự tin với nụ cười rạng rỡ: “Ursprache. U-R-S-P-R-A-C-H-E.
Ursprache (ngôn ngữ gốc).”
Kerry đã nói với một nhà báo, người theo dõi quá trình chuẩn bị của cô bé như sau: “Cháu học chăm chỉ hết mức từ suốt năm ngoái để chuẩn bị
cho cuộc thi. Cháu cố gắng học các từ thông thường, học thêm các từ ít dùng có thể nằm trong đề thi.” Năm trước đó, cũng nhà báo này đã nhận thấy Kerry “tự học nhiều từ hơn. Cô bé đọc thêm nhiều tài liệu hướng dẫn đánh vần, lập danh sách các từ thú vị trong khi đọc và tra thêm từ
điển”.
Khi phân tích dữ liệu, chúng tôi lần đầu tiên khẳng định những điều mình đã phát hiện trước đó: Những thí sinh bền bỉ luyện tập nhiều hơn những thí sinh kém bền bỉ. Nhưng phát hiện quan trọng nhất là cách thức luyện tập có ảnh hưởng rất lớn. Luyện tập có tính toán có thể dự
đoán được ưu thế ở các vòng trong của cuộc thi chung kết rõ rệt hơn bất kỳ sự chuẩn bị nào.
Khi tôi chia sẻ những phát hiện này với phụ huynh và thí sinh, tôi phải bổ sung ngay việc nhận lời thách đố với người khác đem lại nhiều lợi ích.
Lợi ích thứ nhất là nó góp phần làm sáng tỏ điều bạn nghĩ bạn biết nhưng thực ra lại chưa nắm chắc. Ngoài ra, quán quân Kerry Close sau đó đã nói với tôi rằng em sử dụng câu đố để xác định điểm yếu của mình – để phát hiện ra một số từ hoặc loại từ em thường đánh vần sai, từ đó hiểu chắc chắn hơn. Mặt khác, thách đố có thể là sự khởi đầu cần thiết để luyện tập có mục đích hơn và hiệu quả hơn.
Thế còn việc đọc cho vui thì sao? Khá nhiều trẻ tham gia Cuộc thi Đánh vần Quốc gia quan tâm đến ngôn ngữ nhưng không hề có chi tiết nào cho thấy mối quan hệ giữa đọc cho vui – tức là trẻ cảm thấy thích và thấy hấp dẫn – với việc đánh vần.
***
Nếu bạn đánh giá việc luyện tập qua mức độ cải thiện kỹ năng của bản thân thì việc luyện tập kỹ càng sẽ giúp bạn giành chiến thắng. Bài học này dường như càng rõ ràng hơn ở những thí sinh dành nhiều thời gian thi đấu hơn. Với kinh nghiệm nhiều năm liên tiếp, các thí sinh dành thêm thời gian để luyện tập kỹ càng hơn. Thậm chí, xu hướng này càng rõ ràng hơn trong một tháng trước các vòng thi cuối cùng, khi đó, các thí sinh sẽ
dành khoảng 10 giờ mỗi tuần để luyện tập thật kỹ.
Tuy nhiên, nếu bạn đánh giá việc luyện tập thông qua tiêu chí cảm giác, bạn có thể đưa ra kết luận khác. Nhìn chung, các thí sinh cho rằng luyện tập cẩn thận gian nan hơn và cũng ít thú vị hơn bất kể các em đã làm gì để chuẩn bị cho cuộc thi. Ngược lại, các thí sinh đọc sách cho vui và chơi đố chữ kiểu Scabble vì thấy việc đó không mệt mỏi, và còn thú vị như
được “thưởng thức món ăn mình thích”.
Vũ công Martha Gramham đã mô tả sống động, có thể hơi cường điệu về
cái gọi là luyện tập kỹ càng: “Nghề múa có vẻ hấp dẫn, dễ dàng và vui vẻ
nhưng con đường đến với sự thành công của nghề này không dễ hơn các nghề khác chút nào. Cảm giác cơ thể mệt mỏi, kiệt sức ngay cả khi ngủ.
Có nhiều thời điểm căng thẳng cực độ. Có những sự hy sinh thầm lặng vẫn diễn ra từng ngày.”
Không phải ai cũng sẽ mô tả cường độ làm việc vượt quá khả năng chịu đựng bằng những lời nói cực đoan như vậy, nhưng Ericsson lại phát hiện thấy việc luyện tập kỹ càng đòi hỏi sự cố gắng cực kỳ lớn. Để dẫn ra bằng chứng cho thấy làm việc quá khả năng chịu đựng đòi hỏi sự tập trung cao độ dẫn đến tình trạng suy kiệt, ông đã chỉ ra rằng các vận động viên, nghệ sĩ đẳng cấp quốc tế khi ở đỉnh cao của sự nghiệp chỉ có thể tập nặng tối đa một tiếng rồi cũng cần nghỉ giải lao, họ chỉ luyện tập như vậy trong khoảng 3-5 giờ một ngày.
Người ta cũng thấy có sự liên quan với việc nhiều vận động viên và nghệ
sĩ chơi đàn thường ngủ trưa sau các giờ luyện tập cường độ cao. Tại sao vậy? Nghỉ ngơi và hồi phục là điều đương nhiên phải có đối với các vận động viên. Tuy nhiên, cả những ngành nghề khác cũng nói điều tương tự
về sự cố gắng cao nhất, họ cho rằng lao động trí tuệ cũng như sự căng thẳng về thể chất làm cho việc luyện tập kỹ càng trở nên tiêu cực. Ví dụ, dưới đây là ý kiến của đạo diễn Judd Apatow khi ông làm một bộ phim:
“Mỗi ngày là một thử nghiệm. Mỗi cảnh quay có thể không hiệu quả và
vì vậy, bạn phải tập trung – Nó có hiệu quả không? Tôi có nên sửa thêm dòng nữa không? Tôi sẽ thay đổi gì nếu phải làm như vậy, nếu tôi ghét việc này trong vòng 3 tháng, tại sao tôi lại ghét nó? Và khi tập trung, bạn sẽ kiệt sức… Điều này cực kỳ rõ ràng.”
Và cuối cùng, những chuyên gia đẳng cấp thế giới giờ đã nghỉ hưu thường không duy trì lịch luyện tập cường độ cao như khi còn đang làm việc. Nếu quả thật việc luyện tập thú vị và vui đến vậy, hẳn bạn nghĩ họ
vẫn sẽ tiếp tục luyện tập cật lực.
***
Năm tiếp theo kể từ khi Ericsson và tôi bắt đầu cùng nhau hợp tác, Mihaly Csikszentmihalyi21 đã dành cả mùa hè ở trường đại học của tôi với tư cách là một học giả nội trú. Csikszentmihalyi là nhà tâm lý học xuất sắc giống như Ericsson và cả hai đã dành cả sự nghiệp để nghiên cứu về các chuyên gia. Tuy nhiên, sự mô tả của họ về đẳng cấp thế giới không hề khác nhau.
21 Tên này được đọc là cheecks-sent-me-high. Và trong nhiều năm, Mihaly chuyển thành “Mike”. (TG)
Đối với Csikszentmihalyi, trải nghiệm dạo đầu của các chuyên gia là sự
nhuần nhuyễn, trạng thái tập trung hoàn toàn “dẫn đến cảm giác tự
nhiên”. Nhuần nhuyễn là khả năng thực hiện ở mức độ thử thách cao mà không cảm thấy bị đuối sức, như thể “bạn không cần phải nghĩ mà cứ
thế làm thôi”.
Ví dụ, một chỉ huy dàn nhạc giao hưởng nói với Csikszentmihalyi: Khi đạt tới trạng thái xuất thần, anh cảm thấy như thể mình không tồn tại… Tôi dường như không còn cảm giác ở đôi tay, tôi chẳng có gì để làm với những gì đang diễn ra. Tôi chỉ ngồi đó để theo dõi với tâm trạng kính phục và ngạc nhiên. Và [âm nhạc] cứ trôi qua thôi.
Một vận động viên trượt băng nghệ thuật thi đấu đã mô tả trạng thái nhuần nhuyễn như sau:
Đó là một trong những buổi biểu diễn ấn tượng. Ý tôi là mọi thứ diễn ra suôn sẻ, mọi thứ đều tốt… nó là sự gấp gáp, giống như bạn có thể cảm thấy nó tiếp diễn không ngừng, như là bạn không muốn nó dừng lại vì nó đang diễn ra quá tuyệt vời. Nó như thể bạn không phải nghĩ, mọi thứ
cứ tự động diễn ra…
Csikszentmihalyi đã tập hợp được những thông tin giống nhau từ hàng trăm chuyên gia. Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu, ông thấy họ đều mô tả
những trải nghiệm tuyệt vời nhất theo cách khá giống nhau.
Ericsson thắc mắc không biết luyện tập kỹ càng có thể đem lại cảm giác thoải mái như trạng thái nhuần nhuyễn hay không. Theo ông, “những người có kỹ năng đôi khi có thể trải nghiệm cảm giác thoải mái cao độ
(‘nhuần nhuyễn’ được Mihaly Csikszentmihalyi mô tả hồi năm 1990) trong suốt quá trình trình diễn. Tuy nhiên, những trạng thái này lại không tương thích với việc luyện tập kỹ càng…” Tại sao? Bởi việc luyện tập kỹ càng được lập kế hoạch cẩn thận còn trạng thái nhuần nhuyễn
mang tính tự nhiên. Vì việc luyện tập kỹ càng đòi hỏi hoạt động ngay cả
khi thách thức lớn hơn kỹ năng, còn sự nhuần nhuyễn thường xảy ra khi thách thức và kỹ năng ngang bằng nhau. Điều quan trọng cần biết nhất là: Luyện tập kỹ càng đòi hỏi sự cố gắng lớn trong khi nhuần nhuyễn lại chẳng mất mấy sức lực.
Csikszentmihalyi đưa ra quan điểm ngược lại: “Các nhà khoa học nghiên cứu về sự phát triển của tài năng đã kết luận việc học bất kể kỹ năng phức tạp nào đều mất khoảng 10.000 giờ luyện tập… Việc luyện tập như vậy có thể rất buồn tẻ. Mặc dù điều này hoàn toàn đúng song hệ quả của nó lại cực kỳ rõ ràng.” Csikszentmihalyi kể rằng trên chiếc cổng gỗ ở lối vào của trường tiểu học địa phương có treo tấm biển: Cái rễ của tri thức thì đắng cay nhưng quả của nó thì ngọt ngào. Ông cho rằng đây là một triết lý sai lầm: “Ngay cả khi học hành là việc vô cùng khó khăn thì cũng không có gì là cay đắng nếu bạn cảm thấy nó đáng phải mất công đến vậy, bạn nhận ra mình có thể làm chủ được nó, thực hành điều đã học được sẽ thể hiện con người bạn và giúp bạn đạt được điều mình mong muốn.” Vậy ai đúng, ai sai?
Như thể có duyên với nhau, mùa hè Csikszentmihalyi đến thăm thành phố, Ericsson cũng có mặt ở đây. Tôi đã sắp xếp cuộc tọa đàm cho hai nhà khoa học về chủ đề “đam mê và trình độ đẳng cấp quốc tế” trước khoảng 80 nhà giáo dục.
Khi họ ngồi xuống cạnh nhau trong phòng học lớn, tôi chợt nhận thấy hai người đàn ông này đúng là bản sao hoàn hảo của nhau. Cả hai cùng
cao và cân đối. Cả hai đều đến từ châu Âu, phát âm vẫn còn rõ tiếng địa phương khiến họ thêm phần đặc biệt. Cả hai đều có râu quai nón, ngoại trừ râu của Csikszentmihalyi đã bạc trắng, còn lại thì cả hai đều rất hợp với vai ông già Nô-en.
Vào ngày diễn ra buổi tọa đàm, tôi hơi hồi hộp. Tôi không thích xung đột
– ngay cả khi đó không phải là cuộc xung đột của chính tôi.
Thực tế lại cho thấy tôi chẳng có gì để lo lắng cả. Người ủng hộ quan điểm luyện tập hay người theo quan điểm nhuần nhuyễn cũng đều cư xử như
hai quý ông hoàn hảo. Không có lời nói nặng nề nào. Thậm chí nửa lời thiếu tôn trọng cũng không có.
Ngược lại, Ericsson và Csikszentmihalyi ngồi cạnh nhau, mỗi người cầm micro khi đến lượt mình, tóm tắt lại quá trình nghiên cứu kéo dài hàng thập kỷ để ủng hộ cho hai quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau. Khi người này nói, người kia lắng nghe chăm chú. Sau đó, micro sẽ được chuyển sang người kia. Cứ thế, buổi trao đổi đã diễn ra trong vòng 90
phút.
Tôi muốn biết liệu các chuyên gia có phải chịu đựng điều gì không hay là họ hoàn toàn ở trong trạng thái xuất thần?
Tôi đã nghĩ buổi tọa đàm giải đáp các câu hỏi hóc búa này sẽ diễn ra với hai nội dung hoàn toàn khác biệt – một là về luyện tập kỹ càng và một là về trạng thái nhuần nhuyễn – nhưng lại rất ăn khớp với nhau.
Khi buổi tọa đàm kết thúc, tôi hơi thất vọng. Không phải vì tôi đã lỡ mất vở kịch mà là vì tôi vẫn chưa có được câu trả lời cho câu hỏi tự đặt ra: Thành quả của một chuyên gia đến từ sự cố gắng cao độ và không mấy vui vẻ với việc đó hay là do công việc vừa không mệt lại vừa vui? Nhiều năm sau buổi tọa đàm ấy, tôi đã đọc và suy nghĩ rất nhiều về vấn đề này.
Cuối cùng, vì tin rằng không thể loại bỏ yếu tố này và lựa chọn yếu tố kia nên tôi quyết định thu thập vài dữ liệu. Tôi đã đề nghị hàng nghìn người trưởng thành từng kiểm tra bằng Thang đo tính bền bỉ trực tuyến trả lời phiếu câu hỏi thứ hai nhằm đánh giá trạng thái nhuần nhuyễn. Những người tham gia nghiên cứu này gồm nữ giới và nam giới thuộc mọi lứa tuổi, đại diện cho tất cả các ngành nghề như: Diễn viên, thợ làm bánh, nhân viên giao dịch, thợ cắt tóc, bác sĩ nha khoa, bác sĩ, công an, thư ký, giáo viên, bồi bàn, thợ hàn…
Trong số rất nhiều ngành nghề này, những người bền bỉ hơn cho biết họ
trải nghiệm trạng thái nhuần nhuyễn nhiều hơn. Nói cách khác, nhuần nhuyễn và bền bỉ không tách rời nhau.
Tóm lại, tôi đã rút ra được kết luận từ nghiên cứu này về các ứng viên dự
thi vòng chung kết Cuộc thi Đánh vần Quốc gia và cuộc khảo sát kéo dài tới 10 năm về các tài liệu liên quan rằng: Người bền bỉ luyện tập có chiến lược thường xuyên hơn và họ cũng trải nghiệm cảm giác nhuần nhuyễn nhiều hơn. Không có gì mâu thuẫn ở đây vì hai lý do. Thứ nhất, luyện tập chiến lược là hành vi, còn nhuần nhuyễn là trải nghiệm. Anders Ericsson nói về công việc mà các chuyên gia làm, còn Mihaly Csikszentmihalyi lại nói về cảm nhận của họ. Thứ hai, bạn không thể luyện tập chiến lược và
trải nghiệm cảm giác nhuần nhuyễn cùng lúc. Trên thực tế, tôi nghĩ đối với hầu hết các chuyên gia, hai yếu tố này hiếm khi đi cùng nhau.
Cần phải có thêm nhiều nghiên cứu để trả lời câu hỏi này và trong những năm tới hy vọng rằng Ericsson, Csikszentmihalyi và tôi có thể hợp tác cùng nhau để tìm ra câu trả lời.
Hiện tại, tôi quan niệm động cơ chính để luyện tập kỹ càng là nhằm nâng cao kỹ năng. Bạn tập trung hoàn toàn và xác định mức độ thử thách để
vượt qua trình độ kỹ năng hiện tại. Bạn đang ở tâm thế “giải quyết vấn đề”, phân tích mọi thứ bạn làm để tiến gần hơn đến mục tiêu đã xác định lúc đầu. Bạn nhận được rất nhiều phản hồi về những gì bạn làm sai rồi sử dụng phản hồi đó để điều chỉnh và làm lại.
Ngược lại, động cơ chiếm ưu thế trong trạng thái nhuần nhuyễn lại hoàn toàn khác. Trạng thái nhuần nhuyễn cực kỳ dễ chịu. Bạn không cần quan tâm liệu mình có đang cải thiện khía cạnh nhỏ nào của kỹ năng hay không. Dù tập trung hoàn toàn, bạn vẫn không có tâm thế “đang giải quyết vấn đề”. Bạn không phân tích việc đang làm; bạn chỉ làm thôi. Bạn nhận được phản hồi nhưng vì mức độ thách thức chỉ vừa tầm với trình độ kỹ năng, nên phản hồi ấy nói rằng bạn đã làm đúng. Bạn cảm thấy như thể bạn hoàn toàn kiểm soát được vì đúng như vậy. Bạn đang bay bổng. Bạn mất kiểm soát về thời gian. Không có vấn đề gì về việc bạn đang làm nhanh hay bạn đang suy nghĩ căng thẳng đến nhường nào, khi bạn nhuần nhuyễn, mọi thứ đều khiến bạn cảm thấy không phải mất chút sức lực nào.
Nói cách khác, luyện tập kỹ càng là để chuẩn bị, còn nhuần nhuyễn là để
thể hiện.
Chúng ta hãy quay trở lại trường hợp của vận động viên bơi lội Rowdy Gaines.
Gaines nói với tôi rằng anh từng lập bảng ghi lại việc luyện tập để cải thiện thể lực, kỹ thuật, sự tự tin và đánh giá nhằm giành được huy chương vàng Olympic. Trong 8 năm chuẩn bị cho kỳ thế vận hội năm 1984, anh đã bơi các vòng 46m với tổng độ dài đường bơi ít nhất là 32km.
Tất nhiên, nếu bạn cộng thêm cả những năm trước và sau đó, quãng đường sẽ còn dài hơn thế.
Anh vừa nói vừa cười với tôi: “Tôi đã bơi vòng quanh thế giới cho cuộc đua kéo dài 49 giây.”
Tôi hỏi: “Anh có thích quãng đường đó không? Ý tôi là anh có thích được luyện tập không?”
Anh đáp: “Tôi sẽ không nói dối đâu. Tôi không bao giờ thích luyện tập, rõ ràng là tôi không thích việc luyện tập hồi ấy. Trên thực tế, có những lúc tôi bước chân ra bể bơi vào lúc 4 giờ hoặc 4 giờ 30 phút sáng, khi người còn đau ê ẩm và nghĩ: ‘Trời ơi, mình có đáng phải làm vậy không?’”
“Vậy tại sao anh không từ bỏ?”
Gaines đáp: “Rất đơn giản. Vì tôi thích bơi… Tôi đam mê thi đấu, vì kết quả luyện tập, vì cảm giác có thân hình chuẩn, vì chiến thắng, vì được du
lịch, vì được gặp gỡ bạn bè. Tôi ghét phải luyện tập nhưng tôi có đam mê lớn với bơi lội.”
Vận động viên giành huy chương vàng Olympic, Mads Rasmussen, cũng nhắc tới động cơ tương tự: “Phải làm việc cực kỳ vất vả. Dù nó không vui nhưng bạn vẫn phải làm việc bạn cần. Vì khi đạt được kết quả, bạn sẽ cực kỳ hạnh phúc. Cuối cùng, bạn sẽ tận hưởng giây phút ‘Aha’ và điều này sẽ đi cùng bạn suốt con đường.”
Ý tưởng về những năm tháng luyện tập kỹ năng vượt qua thử thách hướng tới trạng thái nhuần nhuyễn đã giải thích tại sao màn trình diễn xuất sắc có thể trông nhẹ nhàng đến vậy: Ở khía cạnh nào đó, nó thực sự
là vậy. Đây là một ví dụ. Vận động viên bơi lội 18 tuổi, Katie Ledecky, gần đây đã phá vỡ kỷ lục thế giới của chính mình ở đường bơi 1.500m tự do.
Có thể không chắc chắn, lịch sử đã được tạo ra trong suốt vòng đấu loại tại cuộc thi ở Kazan, Nga. Cô nói: “Nói thật, tôi cảm thấy khá dễ dàng.”
Nhưng không phải vì sự nhuần nhuyễn mà Ledecky có thể tạo nên được tốc độ của mình: “Phá vỡ kỷ lục đó là bằng chứng cho công việc tôi đã làm và vóc dáng tôi có tại ngay thời điểm này.”
Ngoài ra, Ledecky bắt đầu tập bơi từ lúc 6 tuổi. Cô nổi tiếng là người cực kỳ chăm chỉ trong mỗi buổi tập, đôi khi cô luyện tập với các vận động viên nam để tăng thử thách. Ba năm trước, Ledecky nói cô thấy mình rơi vào trạng thái mất ý thức một lát trong cuộc thi mà cô đã đoạt huy chương vàng ở nội dung bơi 800m tự do. Sau này, cô nói: “Có điều này về việc bơi lội mà người ta không biết, đó là kết quả bạn làm trong suốt
thời gian luyện tập sẽ được thể hiện trong lúc bạn đang thi đấu.”
***
Đây là câu chuyện của cá nhân tôi về những giờ luyện tập đầy nỗ lực hướng tới sự nhuần nhuyễn, một cảm giác như không hề mất sức. Vài năm trước, nhà sản xuất Juliet Blake đã gọi điện cho tôi, hỏi tôi liệu có muốn tham gia buổi diễn thuyết TED Talk dài 6 phút không. Tôi trả lời:
“Chắc rồi. Nghe có vẻ thú vị nhỉ!”
“Tuyệt vời. Sau khi cô chuẩn bị bài phát biểu, chúng tôi sẽ có cuộc gọi video để xem cô chuẩn bị như thế nào, chúng tôi sẽ góp ý cho cô. Cô biết đấy, nó giống như việc ôn bài ấy mà.”
Ừm, anh ấy nói “giống như”? Một cái gì đó khác chứ không phải là những tràng vỗ tay à? Tôi đáp lại chậm rãi: “Chắc rồi… nghe có vẻ vui đấy.”
Tôi đã chuẩn bị bài nói chuyện theo đúng kế hoạch để liên lạc với Juliet và sếp của cô ấy, Chris Anderson. Mở webcam, tôi đọc bài nói chuyện trong khoảng thời gian cho phép. Sau đó, tôi chờ đợi để được nghe lời khen.
Chẳng có lời khen nào, tôi bỗng thấy trống trải.
Ngược lại, Chris nói với tôi rằng ông ấy không hiểu ngôn ngữ khoa học tôi sử dụng. Quá nhiều âm tiết. Quá nhiều slide. Không đủ dẫn chứng rõ ràng, dễ hiểu. Ngoài ra, quá trình đến với nghiên cứu của tôi – con đường chuyển từ giáo viên thành nhà tâm lý học – lại không rõ ràng và không
thỏa mãn. Juliet đồng ý. Cách tôi thiết kế nội dung cuộc trò chuyện giống như tôi đang tuôn ra một tràng chuyện tiếu lâm ngay từ lúc bắt đầu.
Ồ! Tệ ư? Juliet và Chris là những người bận rộn, tôi biết mình không thể
có cơ hội thứ hai để được hướng dẫn. Vì vậy, tôi bắt bản thân mình phải lắng nghe. Sau đó, tôi suy nghĩ tìm ai biết cách kể chuyện hấp dẫn về tính bền bỉ: Họ hay tôi?
Tôi không mất nhiều thời gian để nhận ra họ là những chuyên gia kể
chuyện đầy kinh nghiệm, còn tôi là nhà khoa học – người cần tiếp thu phản hồi để cuộc trò chuyện hấp dẫn hơn.
Vì vậy, tôi đã viết lại nội dung bài nói chuyện, tập nói trước cả gia đình và nhận được thêm những đánh giá tiêu cực. Con gái lớn của tôi, Amanda, hỏi: “Tại sao mẹ cứ nói Ừ suốt vậy?” Con gái bé của tôi hỏi: “Tại sao mẹ không nói như vậy? Tại sao mẹ cứ cắn môi khi hồi hộp. Mẹ đừng làm thế. Nó sẽ gây mất tập trung.”
Tôi tiếp tục luyện tập và cũng tiến bộ hơn.
Sau đó, ngày định mệnh ấy rồi cũng đến. Tôi đã thực hiện bài nói chuyện, nó chỉ hơi giống với bài đầu tiên tôi chuẩn bị. Bài sau tốt hơn. Tốt hơn rất nhiều. Hãy xem buổi nói chuyện đó đi, bạn sẽ thấy tôi thực sự nhuần nhuyễn. Nếu tìm trên YouTube, bạn sẽ không thể thấy tôi hay bất kỳ ai đó đăng tải những video kể tôi hay họ đã làm việc vất vả, làm sai rất nhiều và làm như thế nào.
Không ai muốn chứng minh cho bạn thấy vô số giờ luyện tập. Họ chỉ đề
cập tới vài điểm quan trọng của quá trình luyện tập.
Sau khi kết thúc, tôi xuống gặp chồng và mẹ chồng, họ đang ngồi cùng khán giả để ủng hộ tôi. Khi tiến tới đủ gần để họ nghe được, tôi nói thật to: “Chỉ khen nhiệt tình thôi nhé!” Và họ đã làm như vậy.
***
Gần đây, tôi hỏi những người bền bỉ ở nhiều lĩnh vực và đề nghị huấn luyện viên của họ cho biết về cảm giác khi luyện tập chiến lược. Nhiều người đồng ý với vũ công Martha Graham rằng cố gắng làm điều bạn chưa thể làm được sẽ gây nhiều ức chế, không thoải mái, thậm chí đau đớn.
Tuy nhiên, một số cũng gợi ý trên thực tế kinh nghiệm từ việc luyện tập kỹ càng có thể cực kỳ tích cực – không chỉ trong dài hạn mà cả trước mắt.
Vui vẻ không phải là từ họ sử dụng để mô tả việc luyện tập kỹ càng, cũng không phải là từ cay đắng. Ngoài ra, những người đạt trình độ đỉnh cao cũng nói từ có thể thay thế cho luyện tập kỹ càng – tức luyện tập mà không nghĩ ngợi gì – chịu đựng.
Tôi cũng thắc mắc về những quan sát này một hồi, sau đó, tôi quyết định xem lại các dữ liệu đã ghi chép khi Ericsson và tôi thu thập được từ các thí sinh dự thi vòng chung kết Cuộc thi Đánh vần Quốc gia. Khi tôi biết các thí sinh đó cho rằng luyện tập kỹ càng đòi hỏi rất nhiều nỗ lực và cảm giác không mấy dễ chịu, tôi đã nhắc lại việc luyện tập thực chất diễn ra
ở nhiều mức độ. Nói cách khác, không phải tất cả các thí sinh đều có cùng trải nghiệm như nhau.
Tôi tìm hiểu xem những vận động viên bền bỉ hơn trải nghiệm việc luyện tập kỹ càng như thế nào. So với những người ít đam mê hơn, các đối thủ
ít kiên trì hơn thì thí sinh bền bỉ không chỉ dành nhiều thời gian luyện tập kỹ càng hơn mà họ còn cho rằng việc luyện tập như vậy vui hơn và cũng khó hơn. Điều đó đúng. Những trẻ bền bỉ hơn cho biết chúng luyện tập vất vả hơn khi luyện tập kỹ càng nhưng đồng thời cũng nói chúng thích việc đó hơn so với những thí sinh khác.
Khó mà biết chắc tại sao lại như vậy. Có khả năng vì trẻ bền bỉ đã luyện tập kỹ càng trong nhiều giờ hơn và trong nhiều năm, chúng đã hình thành khả năng làm việc chăm chỉ sau khi trải nghiệm phần thưởng từ
sự lao động của mình. Đây là câu chuyện “học cách yêu cả những chấn thương”. Ngược lại, cũng có thể trẻ bền bỉ thích làm việc chăm chỉ hơn, từ đó, chúng sẽ chăm chỉ hơn nữa. Đây là câu chuyện về “một số người thích thử thách”.
Tôi không thể nói cho bạn biết câu chuyện nào trên đây là đúng, nếu phải đoán, tôi sẽ nói cả hai đều có lý. Khi đọc đến Chương 11, bạn sẽ thấy có bằng chứng khoa học chắc chắn khẳng định sự cố gắng mang tính chủ
quan – cảm giác làm việc chăm chỉ là như thế nào – có thể và thực sự tạo nên thay đổi khi sự cố gắng được khen thưởng theo cách thức nào đó. Tôi đã theo dõi 2 cô con gái mình thích chăm học hơn trước và có thể nói bản thân tôi cũng vậy.
Nói cách khác, huấn luyện viên của Katie Ledecky, Bruce Gemmell, nói bà luôn luôn tạo ra thách thức khó khăn.
Bruce nói với tôi: “Có đoạn video clip ngắn cha mẹ Katie ghi lại một trong những cuộc thi bơi đầu tiên của cô bé. Đó chỉ là một lượt bơi. Cô bé lúc đó 6 tuổi. Katie bơi vài sải tay rồi túm lấy dây phao. Cuối cùng, cô bé cũng về đến đích và bước lên khỏi bể bơi. Cha cô bé đã quay lại cảnh đó và hỏi:
‘Hãy nói cho cha biết về cuộc thi đầu tiên của con. Cảm giác thế nào?’ Cô bé trả lời: ‘Tốt!’ Vài giây sau, cô bé nói thêm: ‘Khó lắm ạ!’ Và cô bé cười rạng rỡ. Điều đó nói lên cô bé ổn. Cô bé luôn có thái độ như vậy đối với mọi việc chúng tôi thực hiện.”
Cũng trong buổi trò chuyện đó, Bruce nói với tôi rằng Katie sẵn sàng luyện tập kỹ càng hơn bất kỳ ai bà từng gặp. “Chúng tôi sẽ luyện tập nội dung mà Katie sợ – nơi mà một cô bé vốn có xuất phát điểm ở nhóm 33%
kém nhất sẽ làm. Sau đó, tôi bắt gặp cô bé lén tập để nâng cao kỹ năng, rồi sau một khoảng thời gian, cô bé trở thành một trong những vận động viên giỏi nhất nhóm. Một số vận động viên khác cũng cố gắng rồi lại thất bại, tôi đã phải động viên và nài nỉ họ thử lại.”
Nếu luyện tập kỹ càng là “kinh khủng”, liệu nó có bao giờ mang đến cảm giác nhuần nhuyễn dễ dàng không?
Khi tôi hỏi Kerry Close, thí sinh vô địch Cuộc thi Đánh vần Quốc gia xem cô bé từng trải qua trạng thái nhuần nhuyễn trong lúc luyện tập kỹ càng không, cô bé trả lời: “Không. Lần duy nhất cháu có thể nói cháu đạt được cảm giác nhuần nhuyễn là khi cháu không bị thách thức.” Đồng thời, cô
bé cho rằng luyện tập kỹ càng mang lại cảm giác thỏa mãn theo cách riêng của nó, cô bé nói: “Một trong những việc học tập thỏa mãn nhất của cháu là tự học, bắt buộc bản thân chia nhỏ nhiệm vụ lớn thành những bước nhỏ để thực hiện.”
Cho đến nay vẫn chưa có đủ nghiên cứu để khẳng định luyện tập kỹ càng cũng mang lại cảm giác thăng hoa. Tôi cho rằng luyện tập kỹ càng có thể
mang lại cảm giác cực kỳ thỏa mãn nhưng theo cách khác chứ không phải như sự thăng hoa. Nói cách khác, có nhiều hình thức trải nghiệm tích cực: Xúc động khi cải thiện được kỹ năng là một kiểu và ngây ngất khi thể hiện khả năng tốt nhất là một kiểu khác.
***
Nếu có được huấn luyện viên, giáo viên hướng dẫn tuyệt vời, họ sẽ giúp bạn đạt được hiệu quả nhờ luyện tập kỹ càng và chính vì làm việc chăm chỉ nên bạn sẽ đạt đến độ thăng hoa. Nếu không phải vậy thì còn có cách nào không?
Thứ nhất, bạn phải hiểu yêu cầu này nếu muốn thành công.
Các yêu cầu cơ bản của luyện tập kỹ càng thực ra rất đơn giản.
• Xác định rõ mục tiêu lớn
• Tập trung toàn bộ nỗ lực
• Nhận được phản hồi sớm và thiết thực
• Lặp lại quy trình sau khi đánh giá và hoàn thiện
Nhưng mọi người dành bao nhiêu giờ để luyện tập theo cả 4 quy tắc trên?
Tôi đoán nhiều người chẳng thể dành nổi một giờ để luyện tập kỹ càng.
Ngay cả những người có nhiều động lực nhất, dù làm việc đến kiệt sức cũng không luyện tập kỹ càng. Ví dụ, khi một đội bơi thuyền của Nhật Bản mời vận động viên giành huy chương vàng Olympic, Mads Rasmussen, tới thăm, anh đã rất sốc khi biết số giờ luyện tập mỗi ngày của các vận động viên này. Anh đã nói với họ rằng vấn đề không phải là càng nhiều giờ luyện tập khắc nghiệt thì càng tốt. Thực ra, vấn đề chính là phải có mục tiêu luyện tập rõ ràng mà đúng như công trình nghiên cứu của Ericsson đã chứng minh là chỉ cần vài giờ mỗi ngày, song phải là những giờ luyện tập chất lượng nhất.
Noa Kageyama, chuyên gia tâm lý về trình diễn thuộc Học viện Âm nhạc Juilliard, cho biết anh đã chơi violon từ lúc 2 tuổi nhưng chỉ thực sự bắt đầu luyện tập kỹ càng ở tuổi 22. Tại sao anh lại không luyện tập kỹ càng sớm hơn? Không phải vì anh thiếu động lực – chàng Noa trẻ tuổi từng học với 4 giáo viên riêng biệt và đều đặn đi tới 3 thành phố khác nhau để
làm việc với họ. Quả thật, vấn đề nằm ở chỗ Noa không giỏi hơn. Một lần, anh phát hiện có hẳn ngành khoa học thực sự về luyện tập – phương pháp sẽ cải thiện kỹ năng của anh hiệu quả hơn – cả về chất lượng luyện tập và mức độ hài lòng của anh với quá trình tiến bộ nhanh chóng mà anh đạt được. Giờ thì anh rất sẵn sàng chia sẻ hiểu biết của mình với những nghệ sĩ khác.
Vài năm trước, học viên Lauren Eskreis-Winkler và tôi đã quyết định
hướng dẫn trẻ phương pháp luyện tập kỹ càng. Chúng tôi cùng nhau thiết kế các bài tập, sử dụng nhân vật hoạt hình và phương pháp kể
chuyện để minh họa sự khác nhau cơ bản giữa luyện tập kỹ càng và cách học kém hiệu quả. Chúng tôi đã giải thích cho dù tài năng ban đầu của các em như thế nào thì người giỏi trong mọi lĩnh vực cũng có khả năng cải thiện nhờ luyện tập kỹ càng. Chúng tôi cho học sinh biết điều bí mật sau mỗi phần thể hiện hoàn hảo trên YouTube là hàng giờ luyện tập không được ghi chép vào sổ, người ngoài không nhìn thấy, rất khó khăn, rất nỗ lực, dựa trên việc sửa sai. Chúng tôi nói với các em rằng thử làm những điều mình chưa biết, hay thất bại và học hỏi xem cần làm gì khác đi chính là cách các chuyên gia rèn luyện. Chúng tôi giúp các em hiểu cảm giác ức chế không nhất thiết là dấu hiệu các em đang sai đường.
Ngược lại, chúng tôi nói với các em rằng chúng tôi mong muốn các em làm việc tốt hơn trong quá trình học tập. Sau đó, chúng tôi kiểm tra sáng kiến này so với những hoạt động đối chứng khác.
Điều chúng tôi phát hiện ra là học sinh có thể thay đổi cách nghĩ về việc rèn luyện và thành tích. Ví dụ, khi được đề nghị đưa ra “bí kíp” để học tốt, những học sinh đã biết về luyện tập kỹ càng thường khuyên nên “tập trung vào yếu điểm của bạn” và “tập trung hoàn toàn”. Khi được yêu cầu lựa chọn giữa luyện tập kỹ càng ở môn toán với việc giải trí bằng các phương tiện truyền thông xã hội và trò chơi trực tuyến, số học sinh lựa chọn luyện tập kỹ càng lại cao hơn. Cuối cùng, với những học sinh dưới trung bình, học cách luyện tập kỹ càng cũng giúp các em cải thiện điểm số.
Điều này đã dẫn đến gợi ý thứ hai của tôi về việc luyện tập kỹ càng, đó là: Biến nó thành thói quen.
Hãy xác định thời gian và địa điểm mà bạn cảm thấy thoải mái nhất để
luyện tập kỹ càng. Một khi bạn đã đưa ra lựa chọn của mình, hãy luyện tập kỹ càng hàng ngày. Tại sao? Vì thói quen là điều kiện tuyệt vời để làm việc gì đó khó khăn. Rất nhiều nghiên cứu, bao gồm một số công trình khoa học của tôi, đã chứng minh khi bạn có thói quen luyện tập vào cùng một thời gian tại một địa điểm nhất định hằng ngày, bạn hầu như chẳng phải nghĩ đến việc bắt đầu. Bạn cứ thế mà làm.
Cuốn sách Daily Rituals (tạm dịch: Thói quen hàng ngày) của Mason Currey đã mô tả một ngày của 160 họa sĩ, nhà khoa học và những người làm nghề sáng tạo khác. Nếu bạn tìm kiếm quy tắc cụ thể nào đó, ví dụ
như luôn luôn uống cà phê hoặc không bao giờ uống cà phê, chỉ làm việc trong phòng ngủ hoặc không bao giờ làm việc trong phòng ngủ, bạn sẽ
không bao giờ tìm thấy gì. Nhưng nếu hỏi: “Những người làm công việc sáng tạo này có điểm gì chung?”, bạn sẽ tìm thấy câu trả lời ngay lập tức, đó là: Thói quen hàng ngày. Tùy theo từng người, nhưng tất cả những chuyên gia được đề cập trong cuốn sách này đều dành hàng giờ để luyện tập kỹ càng một mình. Họ làm theo thói quen. Họ là những con người của thói quen.
Ví dụ, họa sĩ Charles Schulz, người đã vẽ gần 18.000 trang truyện Peanuts (tạm dịch: Đậu phộng) trong sự nghiệp của mình, luôn thức dậy sớm, tắm rửa, cạo râu, rồi ăn sáng với các con. Sau đó, ông lái xe đưa các
con tới trường rồi đến phòng làm việc, ở đó, ông làm việc cả trong giờ
nghỉ trưa (chỉ ăn một chiếc bánh mỳ kẹp với một cốc sữa) cho đến khi các con tan học. Nhà văn Maya Angelous có thói quen thức dậy, uống cà phê với chồng, sau đó, từ 7 giờ sáng, bà giam mình trong một phòng nhỏ
yên tĩnh ở khách sạn cho đến tận 2 giờ chiều.
Rõ ràng nếu bạn liên tục tập luyện vào cùng một giờ tại cùng một địa điểm nhất định thì công việc lúc đầu đòi hỏi suy nghĩ có nhận thức sẽ trở
thành ý thức tự giác. William James cho biết: “Chẳng có ai đau khổ hơn người mỗi khi ‘bắt đầu một việc gì’ đều phải quyết định đó là việc mới.”
Chính bản thân tôi cũng lĩnh hội được ngay bài học này. Bây giờ, tôi đã hiểu điều mà Joyce Carol Oates muốn nói khi so sánh việc hoàn thành bản thảo đầu tiên của một cuốn sách với việc “đẩy hạt lạc trên sàn nhà bếp cực kỳ bẩn bằng mũi”. Vậy tôi nên làm gì? Đây là kế hoạch hàng ngày đơn giản giúp tôi biết việc phải làm: Lúc 8 giờ sáng, tôi vào phòng làm việc, rồi đọc lại bản thảo của ngày hôm trước. Thói quen này không giúp cho việc sáng tác trở nên dễ dàng hơn, song nó chắc chắn làm cho việc ấy được bắt đầu nhanh chóng hơn.
Gợi ý thứ ba để luyện tập kỹ càng là thay đổi cách trải nghiệm.
Vào khoảng thời gian tôi đang xem lại các số liệu về Cuộc thi Đánh vần Quốc gia và phát hiện thấy việc luyện tập kỹ càng đối với những thí sinh bền bỉ đem lại cảm giác thích thú đến mức nào, tôi gọi cho Terry Laughlin, huấn luyện viên bơi lội. Terry đã huấn luyện nhiều vận động viên ở mọi trình độ, từ người mới tập bơi cho đến người đoạt huy chương
vàng Olympic và đã phá vỡ kỷ lục của chính ông về bơi phượt. Tôi đặc biệt quan tâm đến quan điểm của ông vì từ lâu ông đã ủng hộ cái mà ông gọi là phương pháp “đi dưới bề mặt và tham gia trọn vẹn” (total immersion) trong bơi lội – đây là phương pháp thư thái, toàn tâm toàn ý để lướt đi trong nước.
Terry nói: “Luyện tập kỹ càng cũng có thể là một thói quen tuyệt vời. Nếu cố gắng, bạn có thể học cách thích nghi với thử thách thay vì sợ hãi nó.
Bạn cũng có thể làm tất cả những gì bạn muốn trong lúc luyện tập có chủ
ý – một mục tiêu rõ ràng, phản hồi – mà vẫn cảm thấy tuyệt vời.”
Ông nói tiếp: “Thực ra bạn cần suy nghĩ tích cực về luyện tập kỹ càng, để
làm được điều đó, bạn nên biết tận hưởng quá trình luyện tập chứ đừng phán xét bản thân.
Sau khi nói chuyện với Terry, tôi bắt đầu nghĩ về việc trẻ chập chững tập đi dành phần lớn thời gian để làm những việc chúng chưa thể thực hiện được lúc đó, cứ làm đi làm lại – dường như ở tuổi này, trẻ chưa biết xấu hổ và lo lắngKhổ luyện thành tài là nguyên tắc không thể áp dụng với trẻ mẫu giáo.
Elena Bodrova và Deborah Leong, hai chuyên gia tâm lý đã dành cả sự
nghiệp để nghiên cứu cách trẻ học, đồng ý rằng trẻ thường học được nhiều hơn từ những sai lầm. Hãy xem một em bé tập ngồi hoặc tập đi: Bạn sẽ thấy trẻ làm rồi thất bại, rồi lại làm lại, rất nhiều thách thức vượt quá kỹ năng, nhiều sự tập trung, nhiều phản hồi, nhiều điều phải học.
Còn cảm xúc thì sao? Trẻ còn quá nhỏ để đặt ra câu hỏi này, nhưng trẻ
dường như không cảm thấy bị tra tấn khi phải cố làm những việc chúng chưa làm được.
Và sau đó… sự thay đổi xuất hiện. Theo Elena và Deborah, đến khoảng thời gian trẻ vào học mẫu giáo, chúng bắt đầu nhận thấy những sai sót chúng tạo ra sẽ gây nên những phản ứng nhất định ở người lớn. Chúng ta phải làm gì? Chúng ta cau mày. Má chúng ta đỏ lên một chút. Chúng ta lao đến để chỉ cho trẻ biết chúng vừa làm gì đó sai. Chúng ta đang dạy trẻ bài học gì vậy? Thẹn thùng. Sợ hãi. Xấu hổ. Huấn luyện viên Bruce Gemmell nói đó chính xác là điều xảy ra với rất nhiều học sinh của ông:
“Với huấn luyện viên và cha mẹ, bạn bè, truyền thông, trẻ dần nhận ra thất bại là tồi tệ, vì vậy, chúng bảo vệ bản thân và luôn cố gắng ở mức độ
cao nhất.”
Deborah nói: “Xấu hổ không giúp bạn cải thiện điều gì.”
Vậy cần phải làm gì?
Elena và Deborah đề nghị giáo viên làm mẫu việc mắc lỗi mà không gây ra cảm xúc. Thực chất, họ hướng dẫn giáo viên chủ động làm sai một việc gì đó rồi để học sinh nhìn họ vừa nói vừa nở nụ cười: “Ồ, em cứ nghĩ có 5
hình ở đây! Để em đếm lại! Một, hai, ba, bốn, năm, sáu! Có 6 hình. Tuyệt!
Em đã biết em cần chạm tay vào mỗi hình khi đếm ạ!”
Cho dù bạn có thể luyện tập có chủ ý và đạt được cảm giác thăng hoa trong lúc ấy, tôi nghĩ bạn cũng nên tự nhủ với bản thân và thử nói với người khác: “Làm vậy rất khó nhưng tuyệt lắm!”