Vụ Án Phòng Giam Số 13

Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bí Ẩn Một Phòng Tranh

❊ ❊ ❊

[TIÊU ĐỀ CHƯƠNG]: NONE

Nơi ánh sáng rọi xuống dịu dàng vào một góc của một bảo tàng nghệ thuật nổi tiếng ở Boston, có treo một bức tranh lớn. Tựa đề của nó là "Sự Trọn Vẹn." Các nhà phê bình nghệ thuật tinh tế đã hết lời ca ngợi rồi lại chê bai nó; kể từ ngày xuất hiện ở đó, nó đã trở thành một nguồn cơn bất tận cho những cuộc tranh cãi gay gắt. Còn đối với công chúng, họ đón nhận bức tranh như một tuyệt tác kỳ lạ, đáng kinh ngạc về cái đẹp, và lúc nào cũng có một đám đông tụ tập xung quanh nó.

"Sự Trọn Vẹn" được tượng trưng hóa qua hình ảnh một người phụ nữ. Cô đứng hiên ngang nổi bật trên nền tranh sâu thẳm, đầy hoài niệm. Những tông màu da được thể hiện vô cùng táo bạo trên dáng hình bán khỏa thân, những lớp vải voan mỏng manh vừa che đậy lại vừa phơi bày những đường nét tuyệt mỹ của cơ thể. Hai cánh tay cô vươn thẳng về phía người xem, mái tóc đen gợn sóng buông xõa trên đôi vai, đôi môi đỏ hé mở một chút. Những bí ẩn về sự thành tựu viên mãn và cuộc đời hoàn hảo hiện lên trong đôi mắt cô.

Vào trong bức tranh này, người nghệ sĩ đã đan dệt cả tinh thần lẫn trần thế; ở đây, anh đã đưa lên vải canvas một sự khắc họa mong manh về thành công theo nghĩa trọn vẹn và rộng lớn nhất. Ấn tượng đầu tiên của người xem về bức tranh là sự gợi cảm; một cái nhìn khác lại cho thấy tầng ý nghĩa ẩn sâu về thành công, và tình yêu cùng cuộc sống đều hiện diện ở đó. Từng phẩm chất một lần lượt hiện rõ.

Người nghệ sĩ ấy chính là Constans St. George. Sau cơn bão hào hứng ban đầu do bức tranh gây ra là một trận cuồng phong chỉ trích. Rồi người nghệ sĩ, người đã nhọc công suốt nhiều tháng trời cho tác phẩm mà anh đặt nhiều kỳ vọng và cuối cùng đã trở thành kiệt tác của đời mình, đổ bệnh. Có người bảo vì làm việc quá sức—họ đúng một phần; kẻ khác lại cho rằng đó là nỗi buồn trước những lời công kích từ các nhà phê bình không nhìn thấu bề nổi của bức tranh. Có lẽ họ cũng đúng một phần nào đó.

Dù thế nào đi nữa, thực tế là suốt vài tháng sau khi bức tranh được triển lãm, St. George đã phải vào một viện điều dưỡng. Các bác sĩ cho biết anh bị suy nhược thần kinh—một sự sụp đổ hoàn toàn, và đã có những lo ngại về tâm trí của anh. Cuối cùng, tình trạng của anh cũng có phần cải thiện, và anh trở lại với thế giới bên ngoài. Kể từ đó, anh sống lặng lẽ trong xưởng vẽ của mình, một căn phòng nằm giữa vô số phòng khác trong một tòa nhà văn phòng lớn. Thỉnh thoảng, đã có những lời ngỏ ý mua lại bức tranh, nhưng anh luôn từ chối bán. Một triệu phú ở New York từng đưa ra lời đề nghị dứt khoát là năm mươi nghìn đô la, nhưng cũng bị từ chối thẳng thừng.

Người nghệ sĩ yêu quý bức tranh như chính đứa con tinh thần của mình; ngày nào anh cũng đến bảo tàng nơi nó được trưng bày và đứng ngắm nhìn với một vẻ tôn sùng gần như thành kính trong ánh mắt. Sau đó, anh lủi thủi ra về, tay bứt mái râu xồm xoàm và đôi mắt nhòa đi vì lệ mờ. Anh chẳng bao giờ nói chuyện với ai; và luôn tránh né những lúc đông người tụ tập.

Dù giới phê bình hay công chúng có đưa ra phán xét thế nào đi nữa về "Sự Trọn Vẹn," thì một thực tế không thể chối cãi là người nghệ sĩ đã tái hiện lên tấm vải canvas hình ảnh một người phụ nữ đẹp tuyệt trần. Thế nên, sau một thời gian, câu hỏi ai là người mẫu cho bức tranh "Sự Trọn Vẹn" bắt đầu rộ lên. Dường như chẳng ai hay biết. Những họa sĩ quen biết St. George cũng chịu chết—họ chỉ biết rằng người phụ nữ làm mẫu không phải là một người mẫu chuyên nghiệp.

Điều này dẫn đến những đồn đoán, trong đó tên của một số người phụ nữ đẹp nhất nước Mỹ đã được nhắc đến. Rồi một câu chuyện lãng mạn được thêu dệt nên. Rằng người nghệ sĩ đã đem lòng yêu người mẫu nguyên bản và việc anh sụp đổ một phần là vì cô từ chối kết hôn với anh. Câu chuyện này cứ thế lan truyền, được thêu dệt thêm thắt cho đến khi người ta đồn rằng họa sĩ đang héo mòn vì tương tư một bóng hồng mà anh đã bất tử hóa qua những nét cọ dầu.

Khi câu chuyện ngày càng lan rộng, nó bắt đầu được tin là thật, và người ta vẫn thỉnh thoảng đi tìm người mẫu ấy. Đã có nửa tá lần Hutchinson Hatch, một phóng viên báo chí có sự nhạy bén vượt trội, nhúng tay vào vụ việc này nhưng không thu được kết quả gì; anh đã ngắm nhìn và nghiên cứu bức tranh đến mức mọi đường nét của nó hằn sâu trong tâm trí. Anh từng gặp và trò chuyện với St. George hai lần. Người nghệ sĩ kiên quyết không trả lời bất kỳ câu hỏi nào về danh tính của người mẫu.

Đó chính là hoàn cảnh vào buổi sáng thứ Sáu, ngày 27 tháng Mười phòng viên Hatch bước vào phòng làm việc của tòa soạn báo. Vừa nhìn thấy anh, Trưởng ban Biên tập liền bỏ điếu xì gà ra, đặt cẩn thận lên chiếc "khối gỗ chính thức" trang trí trên chiếc bàn phẳng phiu của mình, rồi cất tiếng gọi phóng viên.

Hắn nói cộc lốc: "Có một cô gái được báo mất tích. Tên là Grace Field, sống tại số 195 phố ----, Dorchester. Làm việc tại bộ phận nhiếp ảnh của Star, một cửa hàng bách hóa lớn. Tin cô ấy biến mất đã được báo cho cảnh sát vào đầu ngày hôm nay bởi Ellen Stanford, bạn cùng phòng cũng làm việc tại Star. Cậu hãy đi ngay và khai thác mọi thứ có thể. Đây là bản mô tả chính thức của cảnh sát."

Hatch cầm mẩu giấy và đọc:

"Grace Field, 21 tuổi, cao một mét bảy mươi, nặng sáu mươi tám ký, mái tóc đen dày, mắt nâu sẫm, vóc dáng tuyệt mỹ, khuôn mặt trái xoan, được cho là rất xinh đẹp."

Sau đó, bản mô tả đi vào chi tiết trang phục và những vật dụng khác mà cảnh sát ghi chép tỉ mỉ phục vụ cho công cuộc tìm kiếm. Hatch ghi nhớ tất cả rồi rời khỏi tòa soạn. Anh đi thẳng đến cửa hàng bách hóa, nơi anh được thông báo rằng cô Stanford không đến làm ngày hôm nay và đã gửi giấy cáo ốm.

Từ cửa hàng, Hatch lập tức đến địa chỉ ở Dorchester. Cô Stanford có nhà. Liệu cô ấy có chịu tiếp phóng viên không? Có. Thế là Hatch được dẫn vào phòng khách nhỏ bé, khiêm nhường của một khu nhà trọ, và một lát sau cô Stanford bước ra. Cô là một thiếu nữ tóc vàng nhỏ nhắn, má hồng và đôi mắt xanh giờ đây đã đỏ hoe vì khóc.

Hatch vắn tắt giải thích mục đích chuyến ghé thăm của mình—một nỗ lực tìm kiếm Grace Field, và cô Stanford, vừa nghẹn ngào vừa háo hức, bày tỏ sẵn sàng kể lại mọi điều cô biết.

Cô giải thích: "Tôi quen Grace được năm tháng nay, tức là từ khi cô ấy đến làm việc tại Star. Quầy hàng của cô ấy nằm ngay cạnh quầy của tôi. Chúng tôi trở nên thân thiết và bắt đầu dọn về ở chung phòng. Cả hai đứa đều tha hương cầu thực ở miền Đông này. Cô ấy đến từ miền Tây, đâu đó ở Nevada, còn tôi đến từ Quebec."

“Grace chưa bao giờ kể nhiều về bản thân, nhưng tôi biết cô ấy đã ở Boston khoảng một năm trước khi chúng tôi gặp nhau. Tôi tin là cô ấy sống ở đâu đó quanh Brookline, nhưng hình như cô ấy có sẵn một ít tiền nên mãi khi đến làm ở Star cô ấy mới đi làm. Mọi chuyện tôi hiểu là như vậy.”

“Ba ngày trước, chính là hôm thứ Ba, có một bức thư gửi cho Grace khi chúng tôi đi làm về. Nó có vẻ làm cô ấy dao động, dù cô ấy không nói gì với tôi về nội dung bên trong, và tôi cũng không gặng hỏi. Đêm đó cô ấy ngủ không ngon, nhưng sáng hôm sau, khi chúng tôi bắt đầu đi làm, cô ấy có vẻ bình thường. Ý tôi là, cô ấy bình thường cho đến khi tới ga tàu điện ngầm, rồi cô ấy bảo tôi cứ đi đến cửa hàng trước, bảo rằng cô ấy sẽ đến sau một lát.”

“Tôi rời đi và theo yêu cầu của cô ấy, giải thích với quản lý tầng rằng cô ấy sẽ đến muộn. Kể từ lúc đó cho đến tận bây giờ, chẳng ai nhìn thấy hay nghe tin gì về cô ấy nữa. Tôi không biết cô ấy có thể đi đâu được cơ chứ,” và cô gái bật khóc nức nở. “Tôi chắc chắn có chuyện gì khủng khiếp đã xảy ra với cô ấy rồi.”

Hatch gợi ý: "Biết đâu là một vụ trốn theo người yêu thì sao?"

Cô gái nhanh chóng đáp: "Không. Không có chuyện đó. Cô ấy đang yêu, nhưng người đàn ông cô ấy yêu cũng chẳng hề hay tin gì về cô ấy. Tôi đã gặp anh ta vào tối hôm cô ấy biến mất. Anh ta đến đây tìm cô ấy, và có vẻ ngạc nhiên khi thấy cô ấy chưa về nhà hay chưa đi làm."

Hatch hỏi: "Tên anh ta là gì?"

Cô Stanford đáp: "Anh ấy là nhân viên ngân hàng. Tên là Willis—Victor Willis. Nếu cô ấy trốn theo anh ta thì tôi đã chẳng ngạc nhiên đến thế, nhưng tôi chắc chắn cô ấy không làm vậy, và nếu không thì cô ấy đang ở đâu cơ chứ?"

Hatch hỏi tiếp: "Cô có biết còn người ngưỡng mộ nào khác nữa không?"

Cô gái quả quyết đáp: "Không. Có thể có những người khác thầm thương trộm nhớ cô ấy, nhưng chẳng có ai được cô ấy bận tâm cả. Cô ấy đã kể cho tôi nghe rất nhiều... tôi—tôi biết rõ điều đó," cô ngập ngừng.

Hatch hỏi: "Cô quen anh Willis được bao lâu rồi?"

Khuôn mặt cô gái bỗng chốc đỏ bừng lên tận mang tai.

Cô đáp: "Chỉ từ khi tôi quen Grace thôi. Chính cô ấy là người giới thiệu chúng tôi với nhau."

"Anh Willis có bao giờ tỏ ra quan tâm đặc biệt đến cô không?"

Cô Stanford tức giận đáp gọn lỏn: "Đương nhiên là không rồi. Toàn bộ sự quan tâm của anh ấy chỉ dành cho Grace mà thôi."

Giọng điệu phảng phất một chút cay đắng, và Hatch thầm nghĩ mình đã đoán đúng ý. Willis có lẽ là người mà cả hai cùng đem lòng yêu; trong trường hợp đó, rất có thể cô Stanford biết nhiều hơn những gì cô đã nói về tung tích của Grace Field. Bước tiếp theo là phải gặp cho bằng được Willis.

Anh hỏi: "Tôi đoán cô sẽ làm mọi cách để tìm ra cô Field chứ?"

Cô gái đáp: "Đương nhiên rồi."

"Cô có giữ bức ảnh nào của cô ấy không?"

“Tôi có một tấm, vâng, nhưng tôi không nghĩ... tôi không tin là Grace...”

Hatch hỏi: "Lại không muốn bức ảnh được đăng báo ư? Có lẽ là vậy trong những hoàn cảnh bình thường—nhưng giờ đây khi cô ấy mất tích, đó lại là cách chắc chắn nhất để tìm ra manh mối. Cô có thể đưa nó cho tôi chứ?"

Cô Stanford im lặng một lúc. Dường như sau đó cô đã hạ quyết tâm, bèn đứng dậy.

Hatch gợi ý: "Cũng sẽ rất hữu ích nếu cô thử tìm lại bức thư mà cô vừa nhắc tới."

Cô gái gật đầu rồi bước đi nơi khác. Khi quay lại, cô cầm trên tay một bức ảnh; chỉ thoáng nhìn qua là Hatch nhận ra đó là bức chân dung bán thân của một người phụ nữ mặc váy dạ hội. Cô gái đang đăm đăm nhìn một mảnh giấy vụn.

Hatch nhanh chóng hỏi: "Gì thế này?"

Cô đáp: "Tôi không biết nữa. Tôi đang tìm bức thư thì chợt nhớ ra cô ấy thường hay xé chúng đi rồi vứt vào sọt rác. Sọt rác vẫn được đổ mỗi ngày, nhưng tôi đã lục tìm và phát hiện ra mảnh giấy này dính ở đáy, bị kẹt giữa các nan mây."

Phóng viên hỏi: "Tôi xem được chứ?"

Cô gái liền đưa nó cho anh. Rõ ràng đây là một mảnh giấy được xé ra từ mép ngoài của bức thư, đúng chỗ nếp gấp để nhét vào phong bì. Trên đó là những từ và chữ cái rời rạc được viết bằng một nét chữ cứng cáp, phóng khoáng:

sday

ill you

to the

ho

Mắt Hatch mở lớn.

Anh hỏi: "Cô có nhận ra nét chữ này không?"

Cô gái ngập ngừng giây lát.

Cuối cùng cô đáp: "Không."

Hatch nheo đôi mắt lạnh lùng quan sát khuôn mặt cô một thoáng, rồi lật mặt sau của mảnh giấy lại. Mặt còn lại để trắng. Nhìn chằm chằm vào nó, anh kìm nén vẻ tò mò đầy lo âu đang ánh lên trong mắt.

Anh điềm tĩnh hỏi: "Thế còn bức ảnh?"

Cô gái đưa bức ảnh cho anh. Hatch đón lấy và khi nhìn vào đó, anh phải chật vật lắm mới kìm nén được một tiếng kêu kinh ngạc—sự kinh ngạc đầy đắc thắng. Cuối cùng, với bộ óc đang cuồn cuộn vô vàn khả năng, anh rời khỏi căn nhà, mang theo cả bức ảnh lẫn mảnh giấy vụn. Mười phút sau, anh đang nói chuyện với Trưởng ban Biên tập qua điện thoại.

Anh vắn tắt giải thích: "Đó là một câu chuyện động trời. Cô gái mất tích chính là người mẫu bí ẩn trong bức tranh 'Sự Trọn Vẹn' của St. George."

Giọng vị Trưởng ban Biên tập vang lên: "Tuyệt vời."

Sau khi trình bày câu chuyện với Trưởng ban Biên tập, Hatch ngồi xuống để ngẫm nghĩ về những mảnh chữ vụn kia. Hiển nhiên "sday" tượng trưng cho một ngày trong tuần—hoặc thứ Ba (Tuesday), thứ Tư (Wednesday), hoặc thứ Năm (Thursday), bởi đây là những ngày mà chữ "s" đứng trước từ "day." Điều này dường như là một dữ kiện xác thực, nhưng tựu trung lại vẫn chẳng có ý nghĩa gì. Đúng là cô Field được nhìn thấy lần cuối vào ngày thứ Tư, nhưng rồi sao nữa?—chẳng có gì cả.

Đối với phần tiếp theo của mảnh giấy, Hatch dồn vào đó sự quan tâm lớn nhất. Đó là khả năng về một lời đe dọa,----"ill you." Phải chăng nó có nghĩa là "kill you" (giết cô) hay "will you" (anh sẽ/em sẽ) hay "till you" (cho đến khi anh/em) hay... hay cái gì khác? Có thể có hàng tá từ khác cũng kết thúc bằng vần "ill" mà anh không tài nào nhớ nổi ngay lúc ấy. Trí tưởng tượng của anh cứ đục đẽo cụm từ đó trong đầu thành câu "kill you." Cụm từ tiếp theo "to the"—rất rõ ràng, nhưng hoàn toàn vô nghĩa. Những chữ cái cuối cùng rành rành là "ho," rất có thể là "hope" (hy vọng).

Lúc này Hatch mới bắt đầu công việc thực sự để khai thác câu chuyện. Đầu tiên, anh tìm gặp nhân viên ngân hàng Victor Willis, người mà cô Stanford bảo rằng đã yêu Grace Field, và cũng là người mà Hatch nghi ngờ cô Stanford thầm yêu. Anh tìm thấy Willis, một thanh niên hai mươi mươi tuổi có vẻ mặt lạnh lùng, ủ rũ, và nhất quyết ngậm tăm không chịu hé răng nửa lời.

Từ manh mối đó, Hatch miệt mài làm việc suốt mấy tiếng đồng hồ. Cuối cùng, anh phát hiện ra rằng vào hôm thứ Tư, ngày cô Field biến mất, một người phụ nữ trùm mạng che mặt—có lẽ chính là Grace Field—đã đến ngân hàng tìm gặp Willis. Sau đó, với lý do có việc cấp bách, Willis đã xin nghỉ phép một ngày rồi rời khỏi ngân hàng. Anh ta không xuất hiện trở lại cho đến tận sáng hôm sau. Hành tung của anh ta chẳng hề mang lại cho bất kỳ đồng nghiệp nào ấn tượng rằng đây là một chú rể mới cưới; trên thực tế, chính Hatch cũng đã từ bỏ ý định tin rằng cô Field đã cùng người yêu trốn đi. Dường như chẳng có lý do gì để phải trốn đi cả.

Khi Hatch ghé qua xưởng vẽ cũng là nhà riêng của Constans St. George để thông báo về sự biến mất của người mẫu mà danh tính đã được giấu kín bấy lâu, anh nhận được câu trả lời rằng ông St. George không có nhà; nghĩa là, St. George từ chối trả lời những tiếng gõ cửa và đã vài hôm nay không ai thấy mặt. Người cung cấp thông tin cho biết anh ta thường xuyên biến mất theo kiểu này.

Với những sự thật—và cả sự thiếu vắng các sự thật—trong tay vào tối thứ Sáu, Hatch đến gặp Giáo sư S. F. X. Van Dusen. "Cỗ Máy Tư Duy" đón tiếp anh niềm nở như đối với bất kỳ ai khác.

Ông hỏi: "Nào, có chuyện gì thế?"

Hatch cuối cùng cũng mở lời: "Tôi không nghĩ chuyện này thực sự đáng để ngài bận tâm đâu, thưa Giáo sư. Chỉ là một trường hợp cô gái mất tích thôi. Có vài điểm khá khó hiểu, nhưng tôi e rằng đây chỉ là một vụ trốn theo người yêu."

Cỗ Máy Tư Duy kéo một chiếc đôn lại, thoải mái gác đôi chân nhỏ nhắn lên đó và ngả người ra sau ghế.

Ông ra lệnh: "Cứ nói tiếp đi."

Thế là Hatch kể lại câu chuyện, bắt đầu từ thời điểm bức tranh được đưa vào bảo tàng nghệ thuật, cho đến tận lúc anh gặp Willis sau khi tìm thấy bức ảnh và mảnh giấy vụn. Anh luôn nhận ra rằng bắt đầu từ đầu câu chuyện sẽ tiết kiệm thời gian hơn khi làm việc với Cỗ Máy Tư Duy; anh làm điều đó bây giờ như một thói quen.

Cỗ Máy Tư Duy hỏi: "Thế còn mảnh giấy vụn?"

Phóng viên đáp: "Tôi đang giữ nó đây."

Vị nhà khoa học săm soi mảnh giấy trong vài phút rồi đưa trả lại cho phóng viên.

Ông nói: "Nếu người ta có thể thiết lập được mối liên hệ rõ ràng nào đó giữa nó với sự biến mất của cô gái thì nó có thể có giá trị. Còn như hiện tại, nó chẳng có nghĩa lý gì cả. Bất kỳ mảnh giấy nào cũng có thể bị vứt vào sọt rác trong căn phòng mà hai cô gái ở chung, vì thế hãy tạm gác chuyện này sang một bên."

Hatch ngập ngừng: "Nhưng chẳng lẽ không thể..."

Cỗ Máy Tư Duy bực dọc vặn lại: "Cái gì mà chẳng có thể, anh Hatch. Anh có thể nhân cơ hội đi xem nét chữ của St. George, người họa sĩ, xem đó có phải của ông ta không—đồng thời cũng xem cả chữ của Willis nữa. Dẫu cho đó có là chữ của Willis đi chăng nữa, thì nó cũng chẳng có ý nghĩa gì trong mối liên hệ với vụ này."

"Nhưng chuyện gì có thể đã xảy ra với cô Field cơ chứ?"

Người kia đáp: "Bất cứ chuyện gì trong năm mươi khả năng. Cô ấy có thể đột tử trên đường phố và được đưa vào bệnh viện hay nhà quàn; cô ấy có thể bị bắt vì tội ăn cắp vặt ở cửa hàng rồi khai gian tên tuổi; cô ấy có thể phát điên rồi bỏ đi đâu mất; cô ấy có thể trốn theo một gã đàn ông khác; cô ấy có thể tự sát; cô ấy có thể đã bị sát hại. Câu hỏi đặt ra không phải là chuyện gì _có thể_ đã xảy ra, mà là chuyện gì _đã thực sự_ xảy ra."

Hatch mỉm cười nhẹ, đáp: "Vâng, tôi hoàn toàn hiểu rõ điều đó. Nhưng thú thật tôi vẫn không hiểu..."

Người kia gắt lên: "Chắc chắn là anh không hiểu rồi. Chúng ta hãy mặc định rằng cô ấy không làm bất kỳ điều nào trong số đó, ngoại trừ khả năng trốn theo người yêu, tự sát, hoặc bị sát hại. Anh tin chắc rằng cô ấy không trốn đi cùng ai. Thế mà anh mới chỉ điều tra có một đầu mối khả dĩ—đó là khả năng cô ấy trốn theo Willis. Anh không tin cô ấy trốn theo hắn ta. Chà, vậy tại sao lại không phải là St. George?"

Hatch kinh ngạc thốt lên: "St. George ư? Một họa sĩ đại tài lại trốn theo một cô nhân viên cửa hàng bách hóa á?"

Vị kia bực bội đáp: "Cô ấy là hình mẫu lý tưởng của ông ta trong bức tranh mà anh bảo là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất thế giới đấy thôi. Nếu điều đó là sự thật, thì hoàn toàn có khả năng cô ấy cũng là hình mẫu lý tưởng làm vợ của ông ta chứ nhỉ?"

Hatch chưa từng nghĩ đến vấn đề theo khía cạnh đó. Anh gật đầu, mang trong lòng cảm giác như mình vừa bị đem ra cân đo đong đếm và thấy còn quá nhiều thiếu sót.

Vị nhà khoa học nói tiếp: "Giờ thì, anh cũng bảo rằng người ta không thấy St. George bén mảng tới xưởng vẽ của ông ta mấy ngày nay còn gì. Còn điều gì hợp lý hơn việc họ đang ở cùng nhau đâu đó cơ chứ?"

Phóng viên đáp: "Tôi hiểu rồi."

Cỗ Máy Tư Duy tiếp tục: "Thêm nữa, theo như tôi được biết, người ta ngầm hiểu rằng St. George đã đem lòng yêu cô ấy. Vì thế, tôi cho rằng có thể tìm ra lời giải cho vụ bí ẩn này bằng cách coi St. George là tâm điểm của toàn bộ sự việc. Ta có thể tạm gác lại giả thuyết tự sát, bởi cô ấy không có động cơ nào để tự sát cả—trái lại, nếu cô ấy yêu Willis, cô ấy có mọi lý do để mà sống tiếp. Vụ án mạng cũng có thể tạm gác—dù vẫn có khả năng chúng ta sẽ phải quay lại với nó. Hãy thẩm vấn St. George. Hắn sẽ chịu lắng nghe nếu anh buộc hắn phải làm vậy, và khi đó hắn buộc phải trả lời."

Hatch đáp: "Nhưng căn hộ của ông ta đóng cửa then cài kín mít. Người ta đoán là ông ta sắp phát điên rồi."

Cỗ Máy Tư Duy nói: "Có lẽ là thế thật. Hoặc cũng có khả năng ông ta đang tự giam mình trong xưởng vẽ để làm việc—hoặc thậm chí ông ta đã kết hôn với cô Field và cô ấy đang ở đó cùng ông ta."

Phóng viên nhíu mày bối rối: "Chà, tôi chẳng thấy có cách nào để xác định chắc chắn rằng ông ta đang ở trong đó cả. Đương nhiên là tôi có thể túc trực canh gác ngày đêm để xem ông ta có ra ngoài mua đồ ăn hay có thứ gì được mang vào hay không."

"Làm thế thì mất thời gian lắm, mà vả lại điều đó chưa chắc đã xảy ra." Cỗ Máy Tư Duy đứng dậy đi vào căn phòng bên cạnh. Chỉ một lát sau ông quay ra, liếc nhìn chiếc đồng hồ trên bệ lò sưởi. "Bây giờ đúng chín giờ," ông nhận xét. "Anh mất bao lâu để đến xưởng vẽ đó?"

"Nửa tiếng."

Vị nhà khoa học ra lệnh: "Vậy, đi ngay đi. Nếu ông St. George có trong xưởng vẽ, ông ta sẽ bước ra ngoài vào lúc chín giờ ba mươi mươi phút tối nay. Ông ta sẽ chạy, và có thể sẽ không đội mũ cũng chẳng khoác áo."

Hatch cười hề hề, một nụ cười yếu ớt và đầy khó hiểu: "Sao cơ?"

Vị nhà khoa học tiếp tục: "Anh hãy nấp ở chỗ nào mà ông ta không nhìn thấy khi bước ra. Khi ông ta đi, có lẽ ông ta sẽ để ngỏ cửa. Nếu đúng là vậy, hãy vào trong xem có tìm thấy manh mối nào về cô Field không, rồi khi ông ta quay lại, hãy chặn ông ta ở cửa ngoài, hỏi bất cứ điều gì anh muốn, và đến gặp tôi vào sáng mai. Ông ta sẽ rời khỏi xưởng vẽ khoảng tầm hai mươi phút."

Hatch lờ mờ cảm thấy vị nhà khoa học đang nói nhảm, nhưng anh từng chứng kiến bộ óc kỳ lạ này giải quyết vô số chuyện kỳ quặc nên không thể hoài nghi được nữa, dẫu nghe qua có vẻ vô lý hết chỗ nói.

Phóng viên nói, liếc nhìn đồng hồ: "Chín giờ ba mươi mươi phút tối nay."

Vị nhà khoa học dặn dò: "Hãy đến gặp tôi vào ngày mai sau khi anh đã tận mắt nhìn thấy nét chữ của Willis và St. George. Khi đó anh cũng có thể kể cho tôi nghe chính xác những gì xảy ra tối nay."

* * * * *

Hatch cảm thấy mình giống như một kẻ ngốc. Anh đang đứng chờ trong một góc tối tăm, cách xưởng vẽ của St. George chỉ vài bước chân. Đúng chín giờ rưỡi kém. Anh đã đứng đó được bảy phút rồi. Liệu có thứ sức mạnh kỳ lạ nào có thể kéo St. George—người suốt hai ngày nay đã từ chối tiếp xúc với tất cả mọi người—bước ra khỏi căn phòng đó hay không, giả sử rằng ông ta thực sự đang ở bên trong?

Lần thứ hai mươi, Hatch liếc nhìn chiếc đồng hồ mà anh đã chỉnh khớp với chiếc đồng hồ nhỏ ở nhà Cỗ Máy Tư Duy. Kim phút chậm rãi nhích từng chút một: 9:31, 9:31½, và anh nghe thấy tiếng cửa xưởng vẽ lách cách. Rồi đột nhiên cánh cửa bật mở tung và St. George xuất hiện.

Không ngoảnh đầu nhìn lấy một lần sang phải hay trái, đầu không mũ, áo không khoác, ông lao vút ra khỏi tòa nhà. Hatch chỉ kịp thoáng thấy khuôn mặt ông; đôi môi mím chặt lại; trong ánh mắt lóe lên tia điên dại. Ông giật mạnh cửa một cái, rồi cắm cổ chạy dọc hành lang và biến mất xuống cầu thang dẫn ra đường phố. Cánh cửa xưởng vẽ cứ thế để ngỏ đằng sau ông.

Khi tiếng bước chân chạy thình thịch đã nhỏ dần và Hatch nghe thấy tiếng cửa ngoài sập lại, anh bước vào trong xưởng vẽ, khép cửa lại phía sau. Không khí ở đây ngột ngạt, vương vấn một mùi hương trầm Trung Hoa nồng nặc đến mức suýt ngạt thở. Chỉ một cái liếc mắt nhanh chóng dưới ánh sáng bóng đèn điện đã cho Hatch thấy anh đang đứng ở phòng tiếp khách. Đúng chất của một không gian nghệ thuật từ sàn đến trần; nơi đây ngập tràn những dải màu phong phú rực rỡ, la liệt những mảnh tranh nghệ thuật và các tác phẩm học tập còn dang dở.

Phóng viên đã từ bỏ ý định tìm hiểu lý do tại sao St. George lại đột ngột rời bỏ căn hộ của mình như vậy; lúc này anh dồn toàn bộ tâm trí vào việc lùng sục nhanh chóng và tỉ mỉ nơi này. Anh chẳng tìm thấy thứ gì đáng quan tâm ở phòng tiếp khách, bèn đi tiếp vào xưởng vẽ—nơi người nghệ sĩ làm việc.

Hatch đảo mắt nhìn quanh một lượt thật nhanh, thu vào tầm mắt mọi chi tiết, rồi tiến đến một chiếc bàn nhỏ đang bày la liệt báo chí che khuất một nửa. Anh lật đống báo lên, rồi bất chợt cúi người nhặt lên—một chiếc găng tay phụ nữ. Nằm ngay bên cạnh là chiếc còn lại. Anh nhét cả đôi vào túi áo.

Giờ đây, anh háo hức lùng sục bất cứ thứ gì có thể vớ được. Cuối cùng, anh chạm tới một cánh cửa khác dẫn vào phòng ngủ. Ở đây, trên một chiếc bàn lớn có đặt một cái chảo lẩu, rất nhiều bát đĩa chưa rửa, cùng tất cả những dấu hiệu quen thuộc của một gã đàn ông cẩu thả tự loay hoay nấu nướng cho bản thân. Có cả một chiếc bàn trang điểm ở đây nữa, một món đồ bằng gỗ gụ lộng lẫy. Hatch không dừng lại để ngắm nghía nó vì sự chú ý của anh đã bị thu hút bởi một tấm mạng che mặt của phụ nữ đang vắt trên đó. Anh vội nhét nó vào túi.

Anh thầm lẩm bẩm với vẻ grim: "Kiếm được một mẻ khá lớn đây."

Từ căn phòng này, một cánh cửa khép hờ dẫn vào phòng tắm. Hatch chỉ liếc mắt nhìn vào trong, rồi cúi xuống xem đồng hồ. Mười lăm phút đã trôi qua. Anh phải chuồn thôi, và bắt đầu bước ra cửa ngoài. Khi anh nhẹ nhàng vặn nắm cửa bước ra hành lang, anh nghe thấy tiếng cửa ra vào ở tầng dưới bật mở, bèn rảo bước xuống cầu thang. Giữa chiếu nghỉ, anh chạm mặt St. George.

Anh cất tiếng hỏi: "Ông St. George phải không?"

Câu trả lời ngắn gọn: "Không."

Hatch thừa sức nhận ra đối phương, bởi anh đã gặp ông ta nửa tá lần và từng trò chuyện hai lần. Thế nên việc chối phắt danh tính trở nên vô nghĩa.

Hatch nói tiếp khi người kia đang trừng trừng nhìn mình: "Tôi đến để báo cho ông biết rằng Grace Field, người mẫu cho bức tranh 'Sự Trọn Vẹn' của ông, đã biến mất."

Người kia gắt lên: "Tôi mặc kệ." Ông lao vút lên cầu thang. Hatch đứng lắng nghe cho đến khi nghe thấy tiếng cửa xưởng vẽ khép lại.

Đã mười giờ kém mười khi Hatch rời khỏi tòa nhà. Giờ là lúc anh đến gặp cô Stanford để nhờ nhận dạng đôi găng tay và tấm mạng che mặt. Anh lên một chuyến xe điện, lôi ra và săm soi kỹ lưỡng đôi găng tay cùng tấm mạng. Đôi găng tay bằng da thuộc màu nâu sáng, khá dày nhưng nhỏ nhắn, còn tấm mạng làm bằng một loại vải mỏng manh tựa mạng nhện mà anh không biết tên gọi chính xác.

Phóng viên tự nhủ: "Nếu những thứ này thực sự là của Grace Field, thì nó có ý nghĩa rất lớn. Còn nếu không, tôi chẳng khác nào một tên trộm."

Căn nhà ở Dorchester nơi cô Stanford sinh sống vẫn sáng đèn, và phóng viên bèn bấm chuông. Một người hầu ra mở cửa.

Anh hỏi: "Tôi có thể gặp cô Stanford trong chốc lát được không?"

"Nếu cô ấy chưa đi ngủ."

Anh lại được dẫn vào phòng khách nhỏ. Người hầu biến mất, và chỉ một lát sau cô Stanford bước vào.

Phóng viên nói: "Tôi rất ngại vì phải làm phiền cô muộn thế này," và cô mỉm cười với anh đầy cởi mở, "nhưng tôi muốn hỏi liệu cô có từng nhìn thấy những thứ này bao giờ chưa?"

Anh đặt vào tay cô đôi găng tay và tấm mạng. Cô Stanford chăm chú quan sát chúng và đôi tay bắt đầu run lên.

Cô đáp: "Đôi găng tay thì tôi biết rõ là của Grace—còn tấm mạng thì tôi không dám chắc chắn lắm."

Hatch cảm thấy một làn sóng phấn khích dâng trào mạnh mẽ trong lòng, khiến anh nghẹn lời trong giây lát.

Cô gái hỏi: "Cô... cô tìm thấy chúng trong tay anh Willis phải không?"

Hatch đáp: "Tôi không có quyền tiết lộ chính xác nơi mình tìm thấy chúng. Nếu đúng đây là đồ của cô Field—và tôi đoán cô có thể thề về điều đó chứ—thì nó đồng nghĩa với việc chúng ta đã có một manh mối."

Cô gái hốt hoảng thốt lên: "Ôi, tôi đã sợ mọi chuyện sẽ thành thế này mà," rồi cô sụp xuống chiếc ghế dài khóc nức nở.

Hatch ngơ ngác hỏi: "Sợ cái gì thành thế nào cơ chứ?"

Cô nức nở: "Tôi biết mà! Tôi biết ngay mà! Có điều gì liên kết trực tiếp anh Willis với... _vụ án mạng_ đó không?"

Phóng viên định nói gì đó rồi lại thôi. Anh vẫn chưa thực sự chắc chắn về tình hình lúc này. Anh đã khám phá ra được điều gì đó, nhưng chính anh còn chưa rõ đó là gì.

Anh dịu giọng giải thích: "Sẽ tốt hơn nếu cô kể cho tôi nghe mọi điều cô biết về vụ việc này, cô Stanford ạ. Những thứ đang nằm trong tay tôi lúc này chỉ là những mảnh ghép rời rạc—nếu cô có thể cung cấp thêm bất kỳ chi tiết mới nào, đó cũng chỉ là góp phần thực thi công lý mà thôi."

Cô gái im lặng một lúc lâu, rồi đứng dậy đối mặt với anh.

Bây giờ cô bình tĩnh hỏi: "Anh Willis đã bị bắt chưa?"

Phóng viên đáp: "Vẫn chưa."

Cô tuyên bố, đôi môi mím thành một đường thẳng: "Vậy thì tôi sẽ không nói thêm bất cứ điều gì nữa."

Hatch gặng hỏi: "Động cơ của vụ án mạng là gì?"

Cô kiên quyết đáp: "Tôi sẽ không nói gì thêm nữa cả. Và điều gì khiến anh chắc chắn mười mươi là có án mạng xảy ra cơ chứ?"

"Chúc ngủ ngon. Anh không cần phải quay lại nữa đâu, vì tôi sẽ không gặp anh đâu."

Cô Stanford quay lưng bỏ đi khỏi phòng. Hatch đứng chết lặng, mang theo nỗi hoang mang và bối rối khôn cùng, nhìn theo bóng cô một thoáng rồi bước ra ngoài, đầu óc ngập tràn những khả năng, những đầu mối mơ hồ chẳng tài nào kết nối lại được với nhau. Anh vô cùng sốt sắng muốn mang những sự thật mới mẻ này đến trình bày trước Cỗ Máy Tư Duy.

Từ Dorchester, phóng viên bắt xe điện về nhà. Trong căn phòng của mình, khi những mối tơ vò hữu hình của vụ án được bày la liệt trên bàn, anh suy ngẫm và phỏng đoán mãi cho đến tận khuya khoắt, và khi cuối cùng anh nhét tất cả chúng trở lại túi áo rồi vặn tắt ngọn đèn, anh chỉ biết lắc đầu đầy tuyệt vọng.

Sáng hôm sau, khi thức dậy, Hatch nhặt tờ báo lên rồi đi ăn sáng. Anh trải rộng tờ báo trước mặt và đập vào mắt anh—điều đầu tiên anh nhìn thấy—là một dòng tít lớn giật gân, thông báo rằng một tên trộm đã đột nhập vào phòng của Constans St. George và mưu sát ông họa sĩ. Một phát súng đã vang lên nhắm vào ông ta và xuyên qua cánh tay trái.

Ông St. George đang ngủ thì cánh cửa căn hộ bị tên trộm phá tung. Người nghệ sĩ vùng dậy vì tiếng động, và khi vừa bước ra phòng khách thì bị bắn. Vết thương chỉ ngoài da. Tên trộm đã tẩu thoát; không để lại chút manh mối nào.

Đó là một câu chuyện dài với những tình tiết phức tạp tưởng chừng vô vọng mà Hatch đã kể cho Cỗ Máy Tư Duy nghe vào sáng hôm đó. Chẳng có chi tiết nào ăn khớp với chi tiết nào, thế mà đây lại là một chuỗi các sự kiện, tất cả dường như đều bắt nguồn từ sự biến mất của cô Field, và chắc chắn chúng phải có mối liên hệ nào đó với nhau. Kể xong câu chuyện, Hatch đưa tờ báo đăng tin vụ đột nhập trong xưởng vẽ cho vị nhà khoa học. Người nghệ sĩ đã được chuyển đến bệnh viện.

Cỗ Máy Tư Duy đọc bản tin trên báo rồi quay sang phóng viên đặt câu hỏi:

"Anh đã tận mắt thấy chữ viết của Willis chưa?"

Phóng viên đáp: "Vẫn chưa."

Vị kia chỉ thị: "Đi xem ngay lập tức. Nếu có thể, hãy mang về cho tôi một mẫu chữ của hắn. Anh đã thấy chữ của St. George chưa?"

Phóng viên thú nhận: "Chưa."

“Hãy đi xem và mang về cho tôi một mẫu nếu anh có thể. Trước tiên hãy tìm hiểu xem Willis hiện có khẩu súng lục nào không hoặc đã từng có chưa. Nếu có, hãy tận mắt nhìn xem nó đang có đạn hay rỗng—tình trạng chính xác của nó ra sao. Cũng tìm hiểu xem St. George có súng lục không—và nếu có, hãy tìm cách lấy nó nếu trong tầm tay của anh.”

Vị nhà khoa học thẫn thờ nghịch đôi găng tay và chiếc khăn voan mà Hatch đưa cho hồi nãy trong những ngón tay, rồi lại ném chúng trả lại phóng viên.

Hatch đứng dậy, tay cầm mũ chờ lệnh.

Cỗ Máy Tư Duy nói tiếp: "Cũng hãy tìm hiểu cả tình trạng chính xác của St. George—đặc biệt là tình trạng tinh thần của ông ta. Xem hôm nay Willis có đến văn phòng ở ngân hàng làm việc không, và nếu có thể, hãy tìm hiểu xem tối qua hắn đã ở đâu và làm gì. Thế thôi."

Hatch hỏi: "Thế còn cô Stanford?"

Cỗ Máy Tư Duy đáp: "Đừng bận tâm đến cô ta. Tôi có thể sẽ tự gặp cô ta. Những việc kia mới là chuyện cấp bách trước mắt. Ngay khoảnh khắc anh thỏa mãn được các yêu cầu đó, hãy quay lại gặp tôi. Sự nhanh nhạy của anh có thể ngăn chặn được một thảm kịch đấy."

Phóng viên vội vã rời đi. Bốn giờ chiều hôm đó, anh quay lại. Cỗ Máy Tư Duy đón tiếp anh; trên tay ông đang cầm một mẩu giấy viết thư.

Ông hỏi: "Sao rồi?"

Hatch không chút do dự đáp: "Đó chính xác là chữ viết của Willis. Tôi đã xem một mẫu—chúng hoàn toàn trùng khớp, và loại giấy anh ta viết cũng y hệt."

Vị nhà khoa học hừ nhẹ một tiếng.

Phóng viên nói tiếp như đang đọc thuộc bài: "Tôi cũng xem được một ít chữ viết của St. George. Hoàn toàn khác biệt."

Cỗ Máy Tư Duy gật đầu.

Hatch tiếp tục: "Willis không có khẩu súng nào mà bất cứ ai từng nghe đến cả. Tối qua hắn ăn tối cùng vài đồng nghiệp và rời nhà hàng lúc tám giờ."

"Có uống rượu không?"

Phóng viên đáp: "Chắc là có làm vài ly. Hắn vốn không phải là người hay nhậu nhẹt."

"St. George có súng không?"

Phóng viên giải thích: "Tôi không tài nào tìm ra được hoặc làm được gì khác ngoài việc lấy được một mẫu chữ viết của ông ta từ một họa sĩ khác. Ông ta đang ở bệnh viện, phát điên rồ dại. Dường như căn bệnh cũ lại tái phát, chỉ có điều trầm trọng hơn trước. Bản thân vết thương thì không nặng lắm."

Vị nhà khoa học đang săm soi tờ giấy. Ông hỏi: "Anh có mang theo mảnh giấy vụn kia không?"

Hatch lấy nó ra, và vị nhà khoa học đặt nó lên tờ giấy; Hatch chỉ có thể phỏng đoán rằng ông đang ướm nó khớp với thứ gì đó đã có sẵn ở trên đó. Ông đang cặm cụi làm việc này thì Martha bước vào.

Cô thông báo: "Cô tiểu thư đến đây hồi đầu giờ chiều muốn gặp lại ngài."

Cỗ Máy Tư Duy ra lệnh mà chẳng thèm ngẩng đầu lên: "Cho cô ấy vào."

Martha biến mất, và chỉ một lát sau cô Stanford bước vào. Hatch, người đứng một góc không ai chú ý, tò mò nhìn cô chăm chú, rồi đứng dậy cùng lúc với vị nhà khoa học. Khuôn mặt cô gái hơi ửng đỏ, trong mắt ánh lên một vẻ sốt sắng.

Cô mở lời ngay: "Tôi biết anh ấy không làm chuyện đó. Tôi vừa nhận được một bức thư từ Springfield khẳng định rằng anh ấy có mặt ở đó vào đúng ngày Grace bỏ đi—và..."

Vị nhà khoa học hỏi: "Biết ai không làm cái gì cơ?"

Nhiệt huyết bỗng chốc xẹp xuống, cô gái đáp: "Rằng anh Willis không hề giết Grace. Nhìn đây này."

Vị nhà khoa học đọc bức thư cô đưa, và cô gái sụp xuống ghế ngồi. Lúc này cô mới nhìn thấy Hatch và đôi mắt ánh lên vẻ ngạc nhiên. Cô trừng trừng nhìn anh một giây rồi gật đầu chào, sau đó quay lại dán mắt vào Cỗ Máy Tư Duy.

Cuối cùng ông cất tiếng: "Cô Stanford, cô đã mắc vài sai lầm khi đến đây lần trước vì đã không nói sự thật—tất cả mọi sự thật với tôi. Nếu cô chịu kể hết những gì mình biết về vụ án này, có lẽ tôi sẽ nhìn nhận nó rõ ràng hơn."

Cô gái đỏ bừng mặt, lắp bắp đôi chút, rồi đôi môi run lên.

Giọng hỏi đầy bực bội cất lên: "Cô có biết—không phải phỏng đoán, mà là biết chắc chắn—liệu cô Field, hay Grace như cách cô gọi, có đính ước với Willis hay không?"

Cô lắp bắp: "Tôi... tôi biết, vâng."

“Và cô đã yêu anh Willis—cô _vẫn đang_ yêu anh ấy chứ?”

Một lần nữa, cái đỏ mặt tố cáo lại quét qua khuôn mặt cô. Cô liếc nhìn Hatch; đó là sự lúng túng của một thiếu nữ bị dồn vào chân tường phải thú nhận chuyện tình cảm.

Cuối cùng, với giọng trầm thấp, cô đáp: "Tôi dành sự tôn trọng rất lớn cho anh Willis."

Vị nhà khoa học đứng dậy, bước đến sát chỗ cô gái ngồi: "Chà, thế cô không nhận ra rằng một cáo buộc cực kỳ nghiêm trọng có thể giáng xuống đầu cô nếu cô không khai ra toàn bộ chuyện này sao? Cô gái đã biến mất. Thậm chí có cả bóng dáng của một vụ án mạng mà tên cô sẽ bị lôi vào cuộc. Cô không thấy vậy sao?"

Một khoảng lặng kéo dài, cô gái đăm đăm nhìn vào đôi mắt nheo lại ngay phía trên mình. Cuối cùng đôi mắt cô hạ xuống.

“Tôi nghĩ mình hiểu rồi. Chính xác là anh muốn tôi trả lời điều gì?”

“Cô có từng nghe anh Willis đe dọa cô Field hay không?”

“Có một lần, vâng.”

“Cô có biết hay không biết việc cô Field chính là người mẫu nguyên bản của bức tranh đó?”

“Tôi không biết.”

“Đó là một bức tranh bán khỏa thân, phải không?”

Khuôn mặt cô gái lại một lần nữa ửng đỏ.

Cô đáp: “Tôi nghe nói là thế. Tôi chưa từng tận mắt thấy nó. Tôi đã rủ Grace đi xem mấy lần nhưng cô ấy nhất quyết không chịu. Giờ thì tôi đã hiểu lý do vì sao rồi.”

“Willis có biết cô ấy là nguyên mẫu của bức tranh đó không? Nghĩa là, hiện tại bản thân cô đã biết rồi, cô có lý do nào để cho rằng trước đó hắn đã hay biết từ trước không?”

Cô thành thật đáp: “Tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng luôn có thứ gì đó gây ra sự bất hòa giữa họ—điều mà họ thường cãi vã. Có lẽ chính là chuyện đó. Đó là lúc tôi nghe anh Willis đe dọa cô ấy—đó là chuyện gì đó về việc sẽ bắn cô ấy nếu cô ấy dám làm điều gì đó—tôi không rõ nữa.”

“Tôi nhớ cô từng nói cô Field quen hắn trước cả cô phải không?”

“Chính cô ấy là người giới thiệu tôi với anh ấy.”

Cỗ Máy Tư Duy săm soi tờ giấy trên tay.

“Cô có biết những mảnh giấy cô mang đến cho tôi chứa đựng nội dung gì không?”

Cô gái đáp: “Về cơ bản thì có.”

“Vậy sao cô còn mang chúng đến đây làm gì?”

“Bởi vì anh bảo với tôi rằng anh biết tôi đang giữ chúng, và tôi sợ rằng nếu không giao ra, mọi chuyện sẽ càng rắc rối hơn cho tôi và cho anh Willis.”

Cỗ Máy Tư Duy chuyển tờ giấy sang cho Hatch.

Ông giải thích: “Cái này sẽ làm anh hứng thú đấy, anh Hatch. Những từ và chữ cái nằm trong ngoặc đơn là những gì tôi đã tự điền vào để hoàn thiện toàn bộ bức thư, mà ban đầu anh chỉ có một mảnh vụn vỏn vẹn trong tay. Anh sẽ nhận thấy mảnh giấy của anh khớp hoàn hảo vào đó như thế nào.”

Phóng viên đọc đoạn sau:

“Nếu cô đến xùn(g xưởng v)ẽ đó vào ngày thứ Tư để gặp gã họa sĩ đó, (tôi sẽ gi)ết cô vì (tôi khôn)g muốn thiên hạ đồn đại rằng c(ô là m)ột người mẫu. Tôi hy vọng cô sẽ lưu tâm đến lời cảnh báo này.”

“V. W.”

Phóng viên trừng trừng nhìn bức thư chắp vá, được dán lại với sự tỉ mỉ đến cùng cực, rồi ngước lên nhìn Cỗ Máy Tư Duy, người đang thoải mái ngả lưng vào ghế.

Vị nhà khoa học cất giọng đều đều như không có chuyện gì xảy ra: “Và giờ thì, cô Stanford, xác của cô Field đang ở đâu?”

Câu hỏi thẳng thừng đánh thức cô gái, khiến cô giật mình đứng phắt dậy, trừng trừng nhìn Cỗ Máy Tư Duy. Ông không hề nhúc nhích. Cô đứng như chôn chân tại chỗ, và Hatch nhìn thấy lồng ngực cô phập phồng dồn dập theo những cảm xúc mà cô đang cố nén lại.

Cỗ Máy Tư Duy giục: “Sao nào?”

Cô Stanford đột ngột buông lời, giọng gần như phẫn nộ: “Tôi không biết! Thậm chí tôi còn chẳng biết cô ấy đã chết hay chưa. Tôi biết chắc chắn anh Willis không giết cô ấy, bởi như bức thư tôi đưa cho anh đã chứng minh, anh ấy ở tận Springfield. Tôi sẽ không bị lừa phỉnh để nói thêm bất cứ điều gì nữa đâu.”

Cơn bộc phát chẳng hề tạo ra ảnh hưởng đáng kể nào đối với Cỗ Máy Tư Duy ngoại trừ việc làm ông khẽ nhướng mày khi nhìn dáng người nhỏ bé đang ngoan cố chống đối.

“Lần cuối cùng cô nhìn thấy anh Willis có súng lục là khi nào?”

“Tôi chẳng biết gì về khẩu súng nào cả. Tôi chỉ biết rằng Victor Willis cũng vô tội y như anh vậy, và tôi yêu anh ấy. Còn chuyện gì đã xảy ra với Grace Field thì tôi hoàn toàn mù tịt.”

Những giọt nước mắt bỗng chốc trào ra khóe mi, cô quay lưng bước thẳng ra khỏi phòng. Chỉ một lát sau, họ nghe thấy tiếng cửa ngoài sập lại khi cô rời đi. Hatch quay sang vị nhà khoa học với dấu hỏi to tướng trong ánh mắt.

Cỗ Máy Tư Duy đứng dậy hỏi: “Khi ở trong căn hộ của St. George, anh có ngửi thấy mùi gì giống clorofom hay ête không?”

Hatch đáp: “Không. Tôi chỉ thấy không gian có vẻ ngột ngạt, và vương vấn mùi hương trầm Trung Hoa—nhang khoanh—nồng nặc đến mức suýt nghẹt thở.”

Cỗ Máy Tư Duy liếc nhìn phóng viên đầy nhanh nhạy nhưng không nói gì thêm. Thay vào đó, ông bước ra ngoài, rồi trở lại chỉ vài phút sau với chiếc mũ và chiếc áo khoác trên người.

Hatch hỏi: “Chúng ta đi đâu thế?”

Câu trả lời ngắn gọn: “Đến xưởng vẽ của St. George.”

Đúng lúc ấy, chiếc điện thoại ở phòng bên reo vang. Vị nhà khoa học tự mình nhấc máy.

Ông gọi với ra: “Trưởng ban Biên tập của anh đấy, anh Hatch.”

Hatch lao ra điện thoại và đứng ở đó mất vài phút. Khi quay trở lại, khuôn mặt anh hiện lên một sự phấn khích mới lạ.

Vị nhà khoa học hỏi: “Gì thế?”

Hatch hào hứng đáp: “Lại một chuyện kỳ quặc nữa mà Trưởng ban Biên tập vừa báo cho tôi. Constans St. George, kẻ đang phát điên rồ dại, đã trốn khỏi bệnh viện và biến mất tăm.”

Cỗ Máy Tư Duy nhanh chóng thốt lên: “Chà chà, chà chà!” Đó là biểu hiện gần với sự ngạc nhiên nhất mà ông từng bộc lộ. “Thế thì nguy to rồi.”

Với những bước chân thoăn thoắt, ông tiến đến điện thoại gọi thẳng tới Sở Cảnh sát.

Hatch nghe thấy ông yêu cầu: “Thám tử Mallory ư? Vâng. Tôi là Giáo sư Van Dusen. Xin hãy đến gặp tôi ngay lập tức tại nhà riêng. Có mặt trong mười phút nữa chứ? Tốt lắm. Tôi sẽ đợi. Đây là chuyện cực kỳ quan trọng. Tạm biệt.”

Rồi Cỗ Máy Tư Duy thấp thỏm đi lại đầy sốt ruột. Vị phóng viên, người đã có thâm niên gắn bó với nhà logic học này, chưa từng thấy ông rơi vào trạng thái như vậy bao giờ. Mọi chuyện bắt đầu từ khi nghe tin St. George trốn thoát.

Cuối cùng họ cũng rời nhà, đứng chờ trên bậc thềm cho đến khi chiếc xe cab của thám tử Mallory trờ tới. Hatch và Cỗ Máy Tư Duy leo lên xe, sau khi vị nhà khoa học đưa ra vài chỉ dẫn ngắn gọn, chiếc xe nhanh chóng rồ ga phóng đi. Mọi thứ đối với Hatch vẫn hoàn toàn là một ẩn số, và anh thầm thấy nhẹ nhõm khi thám tử Mallory lên tiếng hỏi xem tất cả chuyện này có ngụ ý gì.

Cỗ Máy Tư Duy cộc cằn đáp: “Nghĩa là có nguy cơ xảy ra thảm kịch. Chúng ta có thể đến kịp lúc để ngăn chặn nó. Vẫn còn một tia hy vọng. Giá mà tôi biết chuyện này sớm hơn một tiếng—thậm chí nửa tiếng thôi—thì mọi chuyện đã có thể được chặn đứng rồi.”

Cỗ Máy Tư Duy là người đầu tiên bước xuống xe khi nó dừng lại, theo sát phía sau là Hatch và viên thám tử.

Vị nhà khoa học hỏi cậu nhân viên thang máy: “Ông St. George có ở trong phòng không, hả cậu?”

Cậu nhóc đáp: “Không thưa ngài. Ổng đang ở bệnh viện, bị bắn.”

“Có chìa khóa phòng ông ta không? Nhanh lên.”

“Tôi nghĩ là có, thưa ngài, nhưng tôi không thể đưa cho ngài được.”

Viên thám tử quát lớn: “Đưa đây mau!” Hắn chớp nhoáng chìa tấm phù hiệu trước mặt cậu nhóc, khiến cậu ta lập tức bay sạch vẻ điềm tĩnh thường ngày.

“Úi trời, thám tử! Vâng, thưa ngài.”

Vị nhà khoa học hỏi: “Căn hộ của ông St. George có mấy phòng?”

Cậu nhóc đáp: “Ba phòng và một phòng tắm.”

Hai phút sau, ba người đã đứng gọn trong phòng khách của căn hộ. Từ đâu đó sâu bên trong phả ra một mùi clorofom tử khí, nồng nặc ngạt thở. Sau một cái liếc mắt quan sát xung quanh, Cỗ Máy Tư Duy lao thẳng vào căn phòng tiếp theo—xưởng vẽ.

Ông thốt lên: “Chà chà, chà chà!”

Nằm cuộn tròn trên sàn nhà là một bóng người. Máu từ mấy vết thương trên đầu vẫn đang rỉ ra. Cỗ Máy Tư Duy cúi xuống chốc lát, những ngón tay mảnh khảnh lần mò tìm nhịp đập ở ngực.

Ông đứng lên đỡ người đó dậy và nói: “Bất tỉnh thôi, chẳng có gì nghiêm trọng cả.”

Hatch hốt hoảng: “Victor Willis!”

Cỗ Máy Tư Duy ngạc nhiên lặp lại: “Victor Willis ư?” rồi hỏi tiếp với vẻ bối rối. “Anh chắc chứ?”

Hatch quả quyết: “Chắc chắn trăm phần trăm. Chính là gã nhân viên ngân hàng.”

Vị nhà khoa học tuyên bố: “Thế thì chúng ta đến muộn mất rồi.”

Ông đứng dậy quan sát xung quanh căn phòng. Một cánh cửa bên tay phải thu hút sự chú ý của ông. Ông giật phăng nó ra rồi dòm vào trong. Đó là một chiếc tủ đựng quần áo. Một cánh cửa nhỏ khác ở phía bên kia căn phòng cũng bị đẩy tung. Hóa ra đây là một căn bếp nhỏ, chất đống vô số đồ hộp.

Cỗ Máy Tư Duy tiến sâu vào căn phòng ngủ nhỏ mà Hatch từng lùng sục trước đó. Ông đẩy tung cửa phòng tắm dòm vào, nhưng rồi sập cửa lại ngay lập tức. Tiếp đó, ông thử vặn tay nắm của một cánh cửa khác—một cái nhà kho nhỏ. Nó bị khóa trái.

Ông kêu lên: “A!”

Rồi quỳ sụp xuống sàn, ghé mũi ngửi khe hở giữa mép cửa và mặt sàn. Đột ngột đứng phật dậy với vẻ mặt vô cùng mãn nguyện, ông lùi lại xa cánh cửa.

Ông ra lệnh: “Phá cửa này ra.”

Thám tử Mallory đứng chết trân nhìn ông đầy ngơ ngác. Trên mặt Hatch cũng xuất hiện biểu cảm tương tự.

Viên thám tử hỏi: “Có... có cái gì trong đó thế?”

Vị kia cộc cằn giục: “Phá đi! Phá nó ra, không thì Chúa mới biết chúng ta sẽ tìm thấy cái thối tha gì trong đó đâu.”

Viên thám tử, một gã đàn ông vạm vỡ, cùng Hatch đồng loạt lao người tông vào cánh cửa; nó cứng nhắc không suy chuyển. Họ giật mạnh tay nắm; nó nhất quyết không nhúc nhích.

Cỗ Máy Tư Duy xin phép: “Cho tôi mượn khẩu súng của anh nhé?”

Khẩu súng đã nằm gọn trong tay ông gần như trước khi viên thám tử kịp nhận thức được điều đó, và áp thẳng nòng súng vào lỗ khóa, Cỗ Máy Tư Duy bóp cò. Một tiếng nổ chát chúa vang lên, ổ khóa bị bắn nát bét và viên thám tử giơ tay định đẩy cửa ra.

Cỗ Máy Tư Duy sắc bén cảnh báo: “Cẩn thận kẻo trúng đạn đấy.”

Cỗ Máy Tư Duy kéo thám tử Mallory và Hatch sang một bên, tránh tầm ngắm trực tiếp của bất kỳ kẻ nào có thể lao bổ ra ngoài, rồi giật mạnh cánh cửa kho mở toạc. Một làn khói ngột ngạt—mùi ngọt lợ, gớm ghiếc của clorofom—ùa thốc ra ào ạt, nhưng tuyệt nhiên không có bất kỳ âm thanh nào phát ra từ bên trong. Viên thám tử nhìn Cỗ Máy Tư Duy đầy dò hỏi.

Thận trọng, gần như dè dặt, vị nhà khoa học lách người dòm qua mép cửa. Những gì ông nhìn thấy chẳng hề khiến ông kinh ngạc, bởi đó chính là điều ông đã đoán trước. Đó là Constans St. George đang nằm sõng soài trên sàn nhà như một cái xác chết, một khẩu súng đẫm máu lỏng lẻo rơi trong bàn tay; bàn tay kia thì đang bóp chặt cổ một người phụ nữ—một người mang sắc đẹp thể hình tuyệt mỹ, cũng đang nằm ngửa mặt lên trần nhà, đôi mắt trợn ngược đờ đẫn.

Vị nhà khoa học hạ lệnh: “Mở hết các cửa sổ ra—tất cả mọi cửa, rồi phụ giúp tôi một tay.”

Trong lúc thám tử Mallory và Hatch quay người tuân lệnh, Cỗ Máy Tư Duy rút khẩu súng khỏi những ngón tay bất động của người họa sĩ. Sau đó Hatch và Mallory quay lại, cùng nhau nhấc những thân thể bất tỉnh nhân sự dịch về phía cửa sổ.

Phóng viên thốt lên: “Là Grace Field.”

Suốt nửa tiếng đồng hồ, vị nhà khoa học miệt mài sơ cứu cho ba bệnh nhân bất tỉnh. Viên thám tử và phóng viên đứng chầu rìa bên cạnh, chỉ làm những gì được sai bảo. Luồng gió lạnh buốt thấu xương ùa qua các khung cửa sổ, và chỉ mất vài phút là mùi clorofom đã bay sạch. Người đầu tiên trong số ba nạn nhân bất tỉnh có dấu hiệu hồi tỉnh là Victor Willis—sự hiện diện của hắn trong căn hộ này tạo nên một trong những điều bí ẩn mà Hatch không tài nào lý giải nổi.

Hiển nhiên tình trạng của hắn chủ yếu bắt nguồn từ những vết thương trên đầu—hai trong số đó đang rỉ máu đầm đìa. Lớp clorofom kia chỉ đóng vai trò làm tê liệt thêm tâm trí hắn mà thôi. Những vết thương đó rõ ràng do báng súng nện vào, nhiều khả năng nằm trong tay người họa sĩ. Đôi mắt Willis từ từ mở ra và hắn đờ đẫn nhìn những khuôn mặt đang cúi xuống nhìn mình.

Hắn hỏi: “Chuyện gì xảy ra thế?”

Vị nhà khoa học trấn an: “Anh ổn cả rồi đấy. Thám tử Mallory, gã này chính là tù nhân của anh vì tội đột nhập gia trạch bất hợp pháp và mưu sát ông St. George.”

Thám tử Mallory khấp khởi mừng thầm. Đây mới là thứ hắn có thể dễ dàng thấu hiểu: một con người cụ thể được giao phó cho hắn chăm sóc; một đối tượng sờ sờ để còng tay và giam giữ. Hắn lập tức tiến hành còng tay đối tượng lại.

Hắn hỏi: “Có cần gọi xe cứu thương không?”

Cỗ Máy Tư Duy đáp: “Không cần. Nửa tiếng nữa là hắn tỉnh táo hẳn.”

Dần dần, khi lý trí khôi phục, Willis nhớ lại mọi chuyện. Cuối cùng hắn quay đầu lại và nhìn thấy thi thể bất động của St. George cùng Grace Field—người con gái mà hắn từng hết lòng yêu thương.

Hắn đột ngột vùng lên thét lớn: “Thế ra cô ấy ở đây! Tôi biết ngay mà. Cô ấy chết chưa?”

Vị nhà khoa học gắt lên sắc lạnh: “Bịt cái mồm cái tên ngốc nghếch này lại, anh Mallory. Dắt hắn sang phòng bên hoặc tống cổ hắn ra ngoài đi.”

Mallory ngoan ngoãn làm theo; ẩn sâu trong giọng nói của con người điềm tĩnh, lạnh lùng như Cỗ Máy Tư Duy này mang một uy lực buộc người ta phải tuân răm rắp. Mallory chưa từng hoài nghi các động cơ hay mệnh lệnh.

Willis lững thững bước đi được sự hỗ trợ sang phòng khác. Cô Field và St. George nằm song song bên nhau trong luồng gió lạnh buốt thổi lùa vào từ khung cửa sổ mở toang. Cỗ Máy Tư Duy đã nhét chút ít rượu mạnh vào cổ họng họ, và chẳng mấy chốc St. George hé mắt tỉnh lại.

Người họa sĩ lập tức bừng tỉnh và chồm dậy định vùng lên. Tuy nhiên, ông ta đã quá suy kiệt, và ngay cả nguồn sức mạnh bùng nổ từ sự điên dại đang cháy rực trong mắt cũng chẳng thể cứu vãn tình thế. Cuối cùng, ông nằm vật xuống la hét, nguyền rủa, tru tréo. Cỗ Máy Tư Duy chăm chú quan sát ông ta.

Cuối cùng ông phán một câu: “Hết cứu rồi.”

Vị nhà khoa học tiếp tục miệt mài cứu chữa cho cô gái trong suốt nhiều phút liền. Cuối cùng ông yêu cầu gọi xe cấp cứu tới. Viên thám tử bốc máy gọi thẳng đến Bệnh viện Thành phố qua chiếc điện thoại đặt trong căn hộ để yêu cầu trợ giúp. Cỗ Máy Tư Duy đưa mắt nhìn luân phiên giữa cô gái và người họa sĩ.

Ông lặp lại: “Hết cứu nổi rồi. Ý tôi là St. George cơ.”

Hatch lo lắng hỏi: “Liệu cô gái có qua khỏi không?”

Vị nhà khoa học thẳng thắn đáp: “Tôi không rõ nữa. Cô ấy đã bị chuốc cho mê man suốt mấy ngày trời—thực ra là kể từ lúc biến mất. Nếu thể trạng của cô ấy tốt như vẻ bề ngoài thì có lẽ cô ấy sẽ hồi phục. Giờ thì đưa đến bệnh viện là thượng sách cho cô ấy rồi.”

Chỉ vài phút sau, hai chiếc xe cấp cứu tới nơi và cả ba người được đưa đi: Willis trong tư thế bị còng, một kẻ tình nghi lì lợm, bất tuân, nhất quyết không hé răng hay trả lời câu hỏi nào; St. George gào thét ghê rợn và nguyền rủa thậm tệ; người phụ nữ đẹp tựa tượng cẩm thạch và trắng bệch như tử thi.

Khi tất cả đã rời đi, Cỗ Máy Tư Duy quay trở lại phòng ngủ để kiểm tra kỹ lưỡng hơn cái kho nhỏ nơi ông tìm thấy người họa sĩ và Grace Field. Thực chất nó được cách âm kiên cố như một căn phòng đệm của bệnh nhân tâm thần, kích thước tương đương sáu bước chân mỗi chiều. Những lớp đệm nỉ dày chừng hai đến ba inch bọc kín mít không gian bên trong căn phòng nhỏ. Trên trần có một lỗ thông gió nhỏ, giúp một phần hơi clorofom rò rỉ thoát ra ngoài. Căn phòng đã ngấm đẫm thứ độc dược này.

Cuối cùng ông đứng thẳng người dậy nói: “Đi thôi.”

Thám tử Mallory và Hatch lẽo đẽo bước theo ông ra ngoài và vài phút sau đã yên vị ngồi đối diện ông trong phòng thí nghiệm nhỏ. Hatch đã thực hiện một cuộc gọi thông báo qua điện thoại khiến Trưởng ban Biên tập của anh vui sướng phát cuồng; đó là tin tức, một tin tức cực kỳ lớn lao và sống còn.

Cỗ Máy Tư Duy ngả người vào tư thế quen thuộc rồi cất lời: “Giờ thì, anh Hatch, tôi đoán là anh đang cần vài chi tiết cụ thể nhỉ? Và cả anh nữa, anh Mallory, vì anh đang giam giữ Willis theo lời tôi nói. Anh có muốn biết lý do tại sao không?”

Viên thám tử đáp gọn lỏn: “Chắc chắn rồi.”

Cỗ Máy Tư Duy bắt đầu: “Chúng ta hãy quay lại từ đầu một chút—bắt đầu từ thời điểm anh Hatch đến tìm tôi. Tôi có thể làm sáng tỏ mọi chuyện theo cách đó. Và tôi tin rằng sự nghiệp công lý, anh Mallory, đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối và minh bạch trong mọi vấn đề, đúng không nào?”

Viên thám tử lại đáp: “Chắc chắn rồi.”

Cỗ Máy Tư Duy giải thích: “Chà, anh Hatch đã kể cho tôi nghe khá chi tiết về những khúc dạo đầu của vụ án này. Anh ấy kể lịch sử bức tranh; sự bí ẩn xoay quanh danh tính người mẫu; sắc đẹp tuyệt trần của cô ấy; cách anh ấy tìm ra cô ta chính là Grace Field, một nữ nhân viên bán hàng. Anh ấy cũng kể về tình trạng tinh thần của người họa sĩ St. George, đồng thời lặp lại những lời đồn đại mà anh ấy biết về việc họa sĩ đau khổ tuyệt vọng vì cô gái—người mẫu của ông ta—từ chối kết hôn với mình.

Tất cả những điều này đã kéo người họa sĩ vướng vào vụ việc mất tích của cô gái. Cô ấy đại diện cho ông ta, về mặt thể xác, là hình mẫu lý tưởng cao cả nhất mà ông có thể tưởng tượng ra—sự hy vọng, thành công, chính là bản thân cuộc sống. Do đó, việc ông ta đem lòng yêu cô ấy chẳng có gì là đáng ngạc nhiên; và không khó để tưởng tượng rằng cô gái lại chẳng hề yêu ông ta. Cô ấy là một người phụ nữ đẹp, nhưng không nhất thiết phải là người uyên thâm về trí tuệ; ông ta là một họa sĩ vĩ đại, kỳ dị, thậm chí trẻ con trong một vài khía cạnh. Họ là hai bản ngã hoàn toàn trái ngược nhau.

Những điều này tôi có thể nhìn thấu ngay tức khắc. Anh Hatch đã cho tôi xem bức ảnh và cả mảnh giấy vụn. Vào thời điểm đó, mảnh giấy chẳng có ý nghĩa gì cả. Như tôi đã chỉ ra, có thể nó chẳng dính dáng gì đến vụ án, nhưng nó buộc tôi phải tìm xem nét chữ đó là của ai. Nếu là của Willis, nó vẫn có thể vô nghĩa; còn nếu là của St. George, nó mang ý nghĩa rất lớn, bởi nó vạch ra một đầu mối trực tiếp hướng về ông ta. Có cơ sở để tin rằng bất kỳ mối quan hệ thân thiết nào giữa họ đã chấm dứt khi bức tranh được triển lãm.

Do đó, ngay từ giai đoạn đầu thu gọn vụ bí ẩn vào lăng kính logic, ta vẫn cần phải xoay quanh trục chính là St. George. Tôi đã giải thích điều này cho anh Hatch và chỉ ra thực tế rằng cô gái và họa sĩ có thể đã cùng nhau trốn đi—rất có thể đang ở đâu đó bên nhau. Trước tiên, ta phải tiếp cận được người họa sĩ; điều mà anh Hatch đã không tài nào làm nổi.

Một mẹo vặt đơn giản đến mức trẻ con, thứ dường như khiến anh Hatch kinh ngạc tột độ, đã lừa được người họa sĩ bước ra khỏi căn phòng sau hai ngày giam mình bên trong. Tôi bảo anh Hatch rằng họa sĩ sẽ rời khỏi phòng, nếu ông ta ở đó, vào lúc 9 giờ 32 phút tối, và bảo anh ấy đợi ngoài hành lang, nếu ông ta để ngỏ cửa thì hãy đột nhập căn hộ tìm manh mối về cô gái. Quả nhiên ông St. George đã rời khỏi căn hộ đúng thời điểm tôi đề cập, và—”

Hatch ngắt lời: “Nhưng bằng cách nào, làm sao ông làm được thế?”

Vị nhà khoa học giải thích: “Trên đời này có một thứ mà St. George yêu thương bằng cả sinh mạng. Đó chính là bức tranh của ông ta. Mọi hành động trong cuộc đời ông ta đều chứng minh điều đó. Tôi lật danh bạ điện thoại; tôi tìm thấy số của ông ta. Nếu ông ta đang ở trong phòng, khóa trái cửa, thì một chút tư duy thông thường sẽ mách bảo rằng điện thoại là cách tốt nhất để tiếp cận ông ta. Ông ta nhấc máy; tôi thông báo với ông ta, đúng vào lúc 9 giờ 30 phút, rằng Bảo tàng Nghệ thuật đang bốc cháy và bức tranh của ông ta gặp nguy hiểm.

St. George liền rời khỏi căn hộ để đến kiểm tra, đúng như tôi dự đoán, đầu không mũ, áo không khoác và để ngỏ cửa. Anh Hatch đã bước vào trong và tìm thấy hai chiếc găng tay cùng một tấm mạng che mặt, tất cả đều là của cô Field. Cô Stanford đã nhận dạng chúng và hỏi liệu anh có lấy chúng từ chỗ Willis hay không, và Willis đã bị bắt chưa. Tại sao cô ấy lại hỏi những câu đó? Hiển nhiên vì cô ấy biết, hoặc nghĩ rằng mình biết, Willis có dính líu đến vụ việc này.

Anh Hatch đã tường thuật lại mọi phát hiện cùng cuộc trò chuyện với cô Stanford cho tôi nghe vào ngày hôm sau khi tôi gọi điện cho St. George—người dĩ nhiên chẳng thấy đám cháy nào cả. Điều đó cho thấy cô Stanford nghi ngờ Willis, người mà cô yêu thầm, chính là thủ phạm sát hại cô Field. Tại sao? Vì cô ấy từng nghe hắn đe dọa. Dù sao thì hắn cũng là một gã thanh niên bốc đồng, điên rồ. Động cơ là gì? Ghen tuông. Ghen tuông cái gì? Hắn biết bằng cách nào đó rằng cô ấy từng làm người mẫu cho một bức tranh bán khỏa thân, và người vẽ ra nó đã đem lòng yêu cô ấy. Thế đấy, cơn ghen tuông của hắn đây. Nó giải thích cho mọi hành tung của Willis.”

Cỗ Máy Tư Duy dừng lại giây lát rồi tiếp lời:

“Cuộc trò chuyện với anh Hatch này khiến tôi tin rằng cô Stanford biết nhiều hơn những gì cô ta sẵn sàng khai báo. Bằng cách nào? Qua một bức thư chăng? Rất có thể. Cô ta đã đưa cho anh Hatch một mẩu thư nhỏ; có lẽ cô ta còn tìm thấy bức thư khác, hoặc nhiều phần hơn thế nữa của bức thư này. Tôi đã gửi cho cô ta một lời nhắn, nói rằng tôi biết cô ta đang giữ những mảnh giấy đó, và cô ta đã ngoan ngoãn mang chúng đến cho tôi ngay lập tức. Cô ta tìm thấy chúng sau khi anh Hatch gặp cô ta lần đầu ở đâu đó trong nhà—tôi nghĩ cô ta bảo là trong ngăn kéo bàn trang điểm.

Trong khi đó, anh Hatch đã thu hút sự chú ý của tôi tới vụ đột nhập vào căn hộ của St. George. Chỉ đọc qua bản tin đó là tôi khẳng định chắc nịch kẻ làm trò đó chính là Willis. Tại sao? Bởi vì những tên trộm chuyên nghiệp sẽ không bao giờ phá cửa tung tóe nếu chúng nghĩ có người bên trong; chúng sẽ dò bẻ ổ khóa. Hơn nữa, thấu hiểu cơn ghen điên cuồng của Willis, tôi hình dung ra hắn chính là kiểu người sẽ xông thẳng đến đó để thủ tiêu St. George nếu có cơ hội, nhất là khi hắn đinh ninh cô gái đang ở cùng ông ta.

Thế nên tôi không phải là kẻ duy nhất nghĩ rằng St. George biết cô gái đang ở đâu. Willis, kẻ quan tâm nhất, cũng đinh ninh cô ấy ở đó. Tôi đã thẩm vấn cô Stanford không thương tiếc, tìm cách moi thêm các tình tiết về gã thanh niên từ cô ta để củng cố vụ án, tìm cách lừa cô ta thốt ra lời khai nào đó, nhưng cô ta vẫn một lòng trung thành cho đến phút chót.

Tất cả những điều này chỉ ra một số điểm then chốt. Thứ nhất, Willis thực ra không biết cô gái ở đâu, bằng chứng là hắn sẽ rõ nếu chính tay hắn giết cô ta; thứ hai, nếu cô ấy bỏ trốn cùng một gã đàn ông, thì đó chỉ có thể là St. George, vì không còn khả năng nào khác; thứ ba, St. George sẽ kè kè ở bên cô ấy hoặc ở gần cô ấy, ngay cả khi ông ta đã ra tay sát hại cô; thứ tư, vết thương do đạn bắn xuyên qua tay đã khơi mào trở lại căn bệnh tâm thần từng đe dọa toàn bộ tương lai của ông ta, và giờ đây, như thực tế đã chứng minh, nó đã hủy hoại hoàn toàn cuộc đời ông ta.

Như vậy, cô Field và St. George đã ở bên nhau. Cô ấy một lòng hướng về Willis, vì thế cô ta bị giam giữ cạnh St. George trái với ý nguyện, hoặc cô ta đã chết. Ở đâu? Trong phòng của ông ta chăng? Hoàn toàn có thể. Tôi quyết định phải khám xét nơi đó. Tôi vừa nảy sinh ý định này thì nghe tin St. George, với cơn điên cuồng dữ dội, đã trốn khỏi bệnh viện. Hắn chỉ có độc nhất một mục đích—lật đật tìm đến người phụ nữ đó. Khi ấy, tính mạng cô ta đang ngàn cân treo sợi tóc.

Tôi suy luận theo hướng đó, phóng thẳng đến căn hộ của người họa sĩ và phát hiện Willis bị thương ở trỏng. Rõ ràng hắn đã đột nhập lục lọi thì St. George đột ngột quay về, và ông ta đã tấn công hắn bằng bản năng bạo lực cuồng loạn của một kẻ điên, với thứ sức mạnh khủng khiếp vượt trội. Khi đó tôi thừa hiểu hành động tiếp theo của một kẻ điên sẽ là gì. Đó sẽ là sự chấm hết cho mọi thứ; đồng nghĩa với cái chết của cô gái và cả chính hắn. Bằng cách nào? Bằng độc dược là ưu tiên hàng đầu, bởi hắn sẽ không nỡ bắn cô ấy—hắn quá tôn sùng cái đẹp. Ở đâu? Có lẽ chính là nơi giam giữ cô ta bấy lâu nay, chiếc tủ âm tường đã được lót đệm kỹ lưỡng để triệt tiêu mọi tiếng động. Thực chất nó là một phòng đệm cách âm. Tôi phỏng đoán rằng người họa sĩ, đôi khi bị cơn điên cuồng quật ngã và lường trước thời điểm chúng bùng phát, đã tự tay thiết kế chiếc tủ này và thỉnh thoảng giam mình trong đó. Đây chính là nơi cô gái bị nhốt mà những tiếng thét xé lòng của cô ta chẳng tài nào lọt ra ngoài được. Còn phần còn lại thì các anh đã rõ.”

Cỗ Máy Tư Duy dừng lời, đứng bật dậy như ngầm ra hiệu kết thúc câu chuyện. Những người khác cũng đứng dậy theo.

Ông nói: “Tôi kéo anh đi cùng, anh Mallory, bởi vì anh là thám tử, và tôi biết mình có thể dùng vũ lực phá tung cánh cửa căn hộ vốn dĩ bị khóa trái đó. Tôi nghĩ mọi chuyện chỉ có vậy thôi.”

Hatch thắc mắc: “Nhưng làm sao cô gái lại lọt vào trong đó được chứ?”

“St. George rõ ràng đã dụ cô ta đến, có lẽ với cái cớ để làm mẫu vẽ lại. Việc đó khơi gợi chút hư vinh trong lòng cô gái—chính sự phù phiếm cỏn con ấy đã đẩy cô ta dấn thân làm người mẫu từ thuở ban đầu. Trò hề hư vinh đó chính là thứ mà Willis liều mạng chống phá, dẫn đến những lời đe dọa và nỗ lực mưu sát St. George của hắn. Dĩ nhiên lão họa sĩ đã phát điên từ khi cô ta bước chân tới; thứ tình yêu cuồng loạn dành cho cô ta đã xúi giục lão biến cô thành tù nhân và giam cầm trái ý muốn. Các anh đã thấy lão làm việc đó xuất sắc thế nào rồi đấy.”

Căn phòng chìm vào một khoảng lặng kinh hoàng. Hatch thừ người lấy phần nỉ mũ chà xát vào tay áo đầy đăm chiêu. Thám tử Mallory chẳng còn lời nào để nói; mọi thứ đã ngã ngũ. Cả hai quay người toan bước đi, nhưng viên phóng viên vẫn còn vướng mắc hai câu hỏi cuối cùng.

“Tôi đoán tình trạng của St. George đã vô phương cứu chữa rồi chứ?”

“Hoàn toàn vô phương. Mọi chuyện sẽ kết thúc bằng cái chết của hắn trong vài tháng tới.”

“Còn cô Field thì sao?”

“Nếu cô ấy chưa chết tính đến thời điểm này thì chắc chắn sẽ bình phục. Đợi tôi một phút.”

Ông bước vào căn phòng bên cạnh và họ nghe thấy tiếng chuông điện thoại réo vang. Một lát sau ông quay ra. “Cô ấy sẽ hồi phục,” ông nói. “Chào buổi chiều.”

Hutchinson Hatch, phóng viên, và Thám tử Mallory thẫn thờ bước xuống con phố cùng nhau.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.