Vụ Án Phòng Giam Số 13

Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vụ Trộm Tại Ngân Hàng Ralston

❊ ❊ ❊

Với những ngón tay thuần thục, Phillip Dunston, giao dịch viên phụ trách thu tiền, kiểm đếm lại chồng tiền mệnh giá một trăm đô la cuối cùng mà anh vừa bó lại—tổng cộng là mười nghìn đô la—rồi quăng nó lên sấp tiền bên cạnh trong lúc đối chiếu lại một tờ giấy ghi nhớ. Mọi thứ đều khớp; có tổng cộng mười tám bó tiền, trị giá 107.231 đô la. Sau đó, anh cầm từng cọc tiền một và ký tắt chữ cái "P. D." lên mỗi bó. Đây là hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Quốc gia Ralston.

Chính sự cẩn trọng trong những chi tiết vụn vặt dường như là nguyên nhân lớn giúp Ngân hàng Quốc gia Ralston vươn lên từ một khởi đầu khiêm tốn để bước vào hàng ngũ những ngân hàng nắm giữ quyền lực tài chính hàng đầu. Chủ tịch Quinton Fraser chính là người đã khởi xướng hệ thống từng mang lại sự thịnh vượng ấy cho Ralston, và giờ đây, dù đã bước sang tuổi bảy mươi tư, ông vẫn lèo lái ngân hàng với tư cách là người đứng đầu. Ông đã cống hiến cả cuộc đời mình cho ngân hàng suốt nửa thế kỷ qua, trong đó có ba mươi lăm năm ở cương vị chủ tịch.

Dư luận vẫn lầm tưởng vị chủ tịch già sở hữu một khối tài sản khổng lồ, bởi họ căn cứ vào những khoản tiền lớn mà ông từng quyên góp cho từ thiện. Nhưng trên thực tế, tài sản riêng của cụ ông vốn chỉ có người vợ là người thân duy nhất lại chẳng đáng là bao; đó chỉ là một khoản đủ để đảm bảo cuộc sống đầy đủ cho một cặp vợ chồng già có lối sống giản dị.

Dunston gom các bó tiền lại và mang vào văn phòng riêng của thủ quỹ, nơi Randolph West, vị quan chức ấy, đang ngồi cặm cụi tính toán bên chiếc bàn lớn phẳng lì. Viên thủ quỹ nhét tờ giấy đang làm dở vào túi áo và nhận lấy tờ ghi nhớ mà Dunston đưa tới.

"Ổn chứ?" anh hỏi.

"Khớp hoàn toàn, thưa sếp," Dunston đáp.

"Cảm ơn cậu. Cậu có thể về được rồi."

Đã qua giờ đóng cửa một tiếng đồng hồ. Dunston vừa luồn tay vào áo khoác thì thấy West bước ra từ phòng riêng, cầm theo số tiền để cất vào chiếc két sắt bằng thép cỡ lớn nằm giữa khu vực của khách hàng và kẻ gian. Viên thủ quỹ dừng lại một lát để người lao công tên Harris quét dọn phần sàn ngay trước mặt chiếc két sắt. Đó là công việc lau chùi và quét dọn vào buổi chiều muộn.

"Làm nhanh lên nào," viên thủ quỹ phàn nàn với vẻ sốt ruột. Harris liền vội vã làm cho nhanh gọn, còn West thì đặt số tiền vào trong két. Có tất cả mười tám bó.

"Được rồi chứ, thưa ông?" Dunston hỏi.

"Được rồi."

West đang sắp xếp nốt cọc tiền cuối cùng thì cô Clarke—Louise Clarke—thư ký riêng của Chủ tịch Fraser, bước ra từ phòng làm việc của ông tay cầm một phong bì dài. Dunston liếc nhìn cô và cô mỉm cười đáp lại.

"Làm ơn, thưa anh West," cô nói với viên thủ quỹ, "ông Fraser dặn tôi trước khi về phải cất mấy tài liệu này vào két. Tôi suýt quên mất."

Cô liếc nhìn vào cánh cửa két đang mở và đôi mắt xanh xinh đẹp mở lớn ngạc nhiên. Ông West cầm lấy phong bì, không nói một lời mà cất ngay nó vào cùng số tiền trước ánh mắt đầy tò mò của cô gái, rồi khép cánh cửa nặng trịch lại. Cô quay đi với một nụ cười nhanh chóng mang ý trấn an dành cho Dunston, rồi biến mất vào bên trong văn phòng riêng.

West vừa sập các then cài của két sắt vào khớp và đang đặt tay lên vòng quay mã số để vặn khóa, thì cửa đường cái mở ra và Chủ tịch Fraser hớt hải bước vào.

"Chờ một lát, West," ông gọi lớn. "Cô Clarke có đưa cho cậu cái phong bì nào để cất vào trong đó không?"

"Có chứ. Tôi vừa cất vào xong đây."

"Khoan đã nào," và vị chủ tịch lớn tuổi bước qua cánh cửa qua lại do Dunston đang giữ hộ để tiến thẳng tới chiếc két. Viên thủ quỹ kéo cánh cửa thép bật mở, mở khóa ngăn đựng tiền nơi chiếc phong bì vừa được đặt vào, và vị chủ tịch lấy nó ra.

West quay người nói chuyện với Dunston, để mặc vị chủ tịch đang xem xét nội dung bên trong chiếc phong bì. Khi viên thủ quỹ quay lại phía két sắt, vị chủ tịch vừa rút tay ra khỏi chiếc túi áo khoác bên trong của mình.

"Mọi thứ ổn rồi, West," ông ra lệnh. "Khóa lại đi."

Cánh cửa nặng trịch lại một lần nữa khép lại, các then cài sập xuống và vòng quay mã số được vặn đi. Chủ tịch Fraser đứng nhìn với vẻ tò mò; tình cờ là ông chưa từng chứng kiến thao tác này bao giờ.

Cậu giữ bao nhiêu tiền trong đó vào tối nay vậy?" ông hỏi.

"Một trăm hai mươi chín nghìn đô la," viên thủ quỹ đáp. "Và tất nhiên là gồm cả toàn bộ giấy tờ có giá nữa."

"Hừm," vị chủ tịch trầm ngâm. "Đó sẽ là một món hời lớn cho kẻ nào... nếu chúng lấy được nó phải không, West?" và ông khúc khích cười khô khốc.

"Tuyệt vời ấy chứ," West đáp lại với nụ cười trên môi. "Nhưng chúng không tài nào lấy được đâu."

Cô Clarke, đã mặc áo chỉnh tề để ra phố, với gương mặt xinh đẹp gần như bị che khuất bởi chiếc mạng che mặt nhằm bảo vệ đôi má hồng trước những cơn gió lồng lộng, đang đứng ở ngưỡng cửa văn phòng chủ tịch.

"Ồ, cô Clarke, trước khi đi, cô làm ơn viết giúp tôi một bức thư ngắn được không?" vị chủ tịch cất tiếng hỏi.

"Dạ được chứ ạ," cô đáp lời và quay trở lại phòng làm việc riêng. Ông Fraser liền bước theo sau cô.

West và Dunston đứng bên ngoài hàng rào ngăn cách của ngân hàng, Dunston đứng chờ cô Clarke. Chiều nào anh cũng đi bộ đưa cô ra ga tàu điện ngầm. Tình cảm của anh dành cho cô đã là một bí mật ai cũng biết. Trong khi đó, West đang đợi người lao công quét dọn cho xong xuôi.

"Nhanh tay lên nào, Harris," anh lại giục.

"Vâng, thưa ông," tiếng đáp vọng lại, và người lao công vung chổi mạnh tay hơn. "Chút xíu nữa thôi ạ. Bên trong tôi quét xong rồi."

Dunston liếc qua tấm chắn. Sàn nhà sạch bóng không một hạt bụi và lớp gỗ cứng sáng bóng lên một cách ngăn nắp. Vài mảnh giấy vụn bị chổi của Harris lùa dọc theo hành lang. Người lao công gom tất cả vào chiếc hốt rác vừa đúng lúc cô Clarke bước ra từ phòng của chủ tịch. Cùng với Dunston, cô rảo bước đi lên phố. Khi họ đi rồi, họ thấy Thủ quỹ West bước ra từ cửa trước, tay cầm chiếc khăn tay, rồi rảo bước rời đi thật nhanh.

"Ông Fraser đang bận tính toán vài việc," cô Clarke giải thích với Dunston. "Ông ấy bảo có thể sẽ phải ở lại thêm một tiếng nữa."

"Em thật xinh đẹp," Dunston đáp lời, chẳng ăn nhập gì với câu chuyện.

* * * * *

Đó chính là những diễn biến chi tiết tại Ngân hàng Quốc gia Ralston từ 4 giờ 15 phút chiều ngày 11 tháng 11. Đêm hôm ấy, ngân hàng đã bị trộm đột nhập. Chiếc két sắt bằng thép cỡ lớn vốn được coi là bất khả xâm phạm đã bị phá tung bằng chất nổ và 129.000 đô la đã không cánh mà bay.

Người gác đêm của ngân hàng, William Haney, được tìm thấy trong tình trạng bất tỉnh, bị trói giật cánh khuỷu và bị nhét giẻ vào miệng ngay bên trong ngân hàng. Khẩu súng lục của ông nằm lăn lóc bên cạnh với tất cả đạn đã bị rút sạch. Ông đã bị đánh đến mức bất tỉnh nhân sự; các bác sĩ tại bệnh viện cho biết hy vọng hồi phục là vô cùng mong manh.

Các ổ khóa, bản lề và chấn song của chiếc két thép đã bị phá hủy hoàn toàn bởi một loại chất nổ cực mạnh, có lẽ là nitroglycerin. Kim chỉ giờ tí xíu trên chiếc khóa hẹn giờ cho thấy vụ nổ xảy ra vào lúc 2 giờ 39 phút; phần còn lại của ổ khóa đã nát vụn thành từng mảnh.

Thời điểm vụ cướp xảy ra nhờ đó đã được xác định một cách chính xác. Người ta cũng làm rõ rằng viên cảnh sát tuần tra lúc bấy giờ đang đứng cách đó tận bốn dãy nhà. Hoàn toàn có khả năng không một ai nghe thấy tiếng nổ, bởi ngân hàng nằm tọa lạc ở một khu phố hoàn toàn dành cho hoạt động kinh doanh và vắng tanh vắng ngắt về đêm.

Bọn trộm đã đột nhập vào tòa nhà qua một khung cửa sổ ở văn phòng riêng của thủ quỹ, ngay dưới ánh đèn điện sáng rực. Cánh cửa sổ ở đây được phát hiện là không cài chốt và các thanh sắt bảo vệ bên ngoài, chạy dọc từ trên xuống dưới, dường như đã bị giật tung khỏi các ổ cắm đúc sâu trong khối đá granite đặc chắc. Khối đá vụn ra như thể nó chỉ làm bằng phấn vậy.

Chỉ có duy nhất một manh mối khả dĩ được tìm thấy. Đó là một chiếc khăn tay bằng vải lanh màu trắng, nằm lăn lóc ngay trước chiếc két sắt vừa bị phá tung. Chắc chắn nó phải rơi ở đó vào thời điểm vụ trộm diễn ra, bởi Dunston nhớ rất rõ ràng là trước khi rời khỏi ngân hàng, chiếc khăn không hề có ở đó. Anh chắc chắn sẽ phải nhìn thấy nó trong lúc người lao công đang quét dọn.

Chiếc khăn tay này chính là tài sản của Thủ quỹ West. Viên thủ quỹ không hề chối cãi điều đó, nhưng lại chẳng thể đưa ra bất kỳ lời giải thích nào về lý do vì sao nó lại xuất hiện ở đó. Cả cô Clarke và Dunston đều xác nhận rằng họ đã tận mắt thấy anh rời khỏi ngân hàng với một chiếc khăn tay trên tay.

Chủ tịch Fraser có mặt tại ngân hàng lúc mười giờ và được thông báo về vụ trộm. Ông lặng lẽ lui về phòng làm việc của mình, ngồi đó với vẻ mặt ngẩn ngơ như người mất hồn vì cú sốc quá lớn, đầu gục lên đôi tay. Tại bàn làm việc, cô Clarke vừa gõ máy chữ vừa thỉnh thoảng liếc nhìn bóng dáng già nua ấy với ánh mắt đầy thương cảm. Đôi mắt cô trông cũng thật mệt mỏi. Ở bên ngoài, qua cánh cửa đóng kín, họ có thể nghe thấy tiếng bước chân của các thám tử.

Hết nhân viên ngân hàng rồi đến các thám tử lần lượt ra vào phòng làm việc để đặt câu hỏi. Vị chủ tịch trả lời với vẻ mặt đờ đẫn như kẻ mộng du; sau đó hội đồng quản trị đã tề tựu và biểu quyết sẽ tự bỏ tiền túi ra để đền bù tổn thất. Không hề có sự hoảng loạn nào trong lòng các khách hàng gửi tiền, bởi họ thừa biết nguồn lực tài chính của ngân hàng là gần như vô hạn.

Thủ quỹ West không bị bắt giữ. Các thành viên hội đồng quản trị nhất quyết không đời nào nghe theo chuyện đó; anh đã giữ chức thủ quỹ suốt mười tám năm trời, và họ đặt trọn vẹn niềm tin nơi anh. Thế nhưng, anh vẫn không thể đưa ra nổi dù chỉ là một lời giải thích hợp lý về việc vì sao chiếc khăn tay của mình lại xuất hiện ở đó. Anh khẳng định chắc nịch rằng mình chưa từng đặt chân lại ngân hàng kể từ khoảnh khắc cô Clarke và Dunston nhìn thấy anh rời đi.

Sau quá trình điều tra, cảnh sát quy trách nhiệm vụ trộm cho một băng trộm chuyên nghiệp nào đó chưa rõ danh tính. Một lệnh truy nã toàn diện, đồng nghĩa với việc tóm gọn tất cả những kẻ có biểu hiện khả nghi, đã được phát ra, và chiếc lưới vét này được kỳ vọng sẽ đưa những sự thật quan trọng ra ánh sáng. Thám tử Mallory đã khẳng định như vậy, và các lãnh đạo ngân hàng đặt trọn niềm tin vào lời của ông ta.

Tình hình vào giờ ăn trưa diễn ra như vậy đấy. Lúc đó, cô Clarke, người vẫn ngồi bên chiếc máy chữ chờ đợi suốt cả buổi sáng mà không ai để ý tới, bỗng đứng dậy và tiến về phía ông Fraser.

“Nếu bây giờ ông không cần cháu nữa, cháu xin phép ra ngoài ăn trưa một lát ạ,” cô nói.

“Được chứ, được chứ,” ông đáp lại với một cái giật mình nhẹ. Dường như ông đã quên bén sự hiện diện của cô.

Cô đứng lặng lẽ nhìn ông thêm một giây.

“Cháu thực sự rất lấy làm tiếc,” cuối cùng cô cất lời, giọng khẽ run lên.

“Cảm ơn cháu,” vị chủ tịch nói và mỉm cười nhạt. “Đó là một cú sốc lớn, tệ nhất mà ta từng nếm trải.”

Cô Clarke bước ra với những bước chân lặng lẽ, dừng lại giây lát ở văn phòng ngoài để trân trân nhìn chiếc két sắt bằng thép đã vỡ vụn với vẻ tò mò. Vị chủ tịch đứng phắt dậy với một quyết tâm cao độ và gọi lớn tên West, người lập tức bước vào ngay sau đó.

“Ta biết một người có thể làm sáng tỏ đôi chút về chuyện này,” ông Fraser nói với giọng quả quyết. “Ta nghĩ mình sẽ mời ông ấy ghé qua đây xem xét tình hình. Dù sao thì điều đó cũng có thể giúp ích cho phía cảnh sát. Có lẽ cậu biết ông ấy chăng? Giáo sư Van Dusen.”

“Tôi chưa từng nghe danh,” West đáp gọn lỏn, “nhưng tôi sẵn sàng hoan nghênh bất cứ ai có thể phá được vụ này. Vị trí của tôi hiện giờ đang rất bất an.”

Chủ tịch Fraser nhấc điện thoại gọi cho Giáo sư Van Dusen—Cỗ Máy Suy Lập—và trao đổi vắn tắt qua dây nói. Sau đó, ông quay lại nhìn West.

“Ông ấy sẽ đến,” ông nói với vẻ nhẹ nhõm. “Ta từng có dịp giúp ông ấy một việc bằng cách đưa một phát minh ra thị trường.”

Chưa đầy một tiếng sau, Cỗ Máy Suy Lập xuất hiện cùng với phóng viên Hutchinson Hatch. Chủ tịch Fraser vốn quen biết vị khoa học gia này từ trước, nhưng đối với West, nhân vật kỳ lạ ấy lại để lại một ấn tượng vô cùng mạnh mẽ, thậm chí có phần quái dị. Mọi sự kiện đã được biết đến đều được bày ra trước mắt Cỗ Máy Suy Lập. Ông lắng nghe mà không hề đưa ra bất kỳ bình luận nào, rồi đứng dậy thong thả đi lang thang khắp các phòng làm việc. Các nhân viên cảm thấy thú vị trước phong thái của ông; còn Hatch thì lặng lẽ quan sát.

“Chiếc khăn tay được tìm thấy ở đâu?” cuối cùng Cỗ Máy Suy Lập cất tiếng hỏi.

“Ở đây,” West đáp và chỉ rõ vị trí chính xác.

“Văn phòng này có bao giờ bị lùa gió lùa qua không?”

“Không bao giờ. Chúng tôi có hệ thống thông gió bằng sáng chế giúp ngăn chặn việc đó.”

Cỗ Máy Suy Lập nheo mắt quan sát suốt mấy phút liền khung cửa sổ chưa cài chốt—cửa sổ ở phòng riêng của thủ quỹ—với những thanh sắt bảo vệ nay đã bị giật tung khỏi các ổ cắm, cùng với lớp đá granite mềm nhũn như bột phấn xung quanh các vị trí đó. Một lúc sau, ông quay sang phía vị chủ tịch và thủ quỹ.

“Chiếc khăn tay đâu?”

“Ở trong ngăn kéo bàn làm việc của tôi,” Fraser đáp. “Cảnh sát cho rằng nó chẳng có gì quan trọng, ngoại trừ việc... có lẽ... có lẽ...” và ông liếc nhìn West.

“Ngoại trừ việc nó có thể liên can đến tôi,” West gay gắt nói.

“Thôi nào, thôi nào, thôi nào,” ông Fraser cất giọng quở trách. “Không ai lại đi nghĩ cho một...”

“Nào nào, chiếc khăn tay đâu?” Cỗ Máy Suy Lập ngắt lời với vẻ bực dọc.

“Mời ngài vào phòng tôi,” vị chủ tịch đề nghị.

Cỗ Máy Suy Lập bước vào, nhìn thấy một người phụ nữ—cô Clarke, người vừa đi ăn trưa về—thì khựng lại. Trên đời này có một thứ khiến ông sợ hãi chính là phụ nữ.

“Mang nó ra đây cho tôi,” ông yêu cầu.

Chủ tịch Fraser mang chiếc khăn ra và đặt nó vào đôi bàn tay thon thả của vị khoa học gia. Ông chăm chú quan sát nó sát cửa sổ, lật đi lật lại nhiều lần. Cuối cùng, ông đưa lên mũi ngửi. Vẫn còn vương vất đâu đây chút hương hoa violet thoang thoảng. Rồi đột ngột, chẳng liên quan gì đến câu chuyện, ông quay sang hỏi Fraser.

“Có bao nhiêu phụ nữ làm việc trong ngân hàng này?”

“Ba người,” câu trả lời vang lên; “cô Clarke, thư ký của tôi, và hai nữ nhân viên đánh máy nói chung ở phòng ngoài.”

“Còn đàn ông?”

“Mười bốn người, tính cả tôi.”

Nếu như Chủ tịch Fraser và Thủ quỹ West từng cảm thấy ngạc nhiên trước hành động của Cỗ Máy Suy Lập từ nãy đến giờ, thì lúc này họ thực sự kinh ngạc. Ông nhét thốc chiếc khăn tay vào tay Hatch, rồi lấy chiếc khăn của chính mình, nhanh tay chà xát mạnh lên đôi bàn tay rồi cũng đưa luôn chiếc khăn đó cho Hatch.

“Giữ lấy mấy cái đó đi,” ông ra lệnh.

Ông tự đưa tay lên ngửi, rồi bước thẳng ra phòng ngoài, tiến thẳng tới bàn làm việc của một trong hai nữ nhân viên đánh máy trẻ tuổi. Ông cúi người xuống sát cô và cất đúng một câu hỏi:

“Cô viết tốc ký theo hệ thống nào?”

“Hệ thống Pitman,” câu trả lời đầy ngỡ ngàng vang lên.

Vị khoa học gia hít mũi một cái. Phải, đích thị là một cái hít mũi. Ông đột ngột rời bỏ cô và tiến sang nữ nhân viên đánh máy còn lại. Y chang kịch bản cũ; đứng sát rạt cô ấy, ông cũng chỉ hỏi đúng một câu duy nhất, và sau câu trả lời của cô, ông lại hít mũi. Cô Clarke đi qua phòng ngoài để gửi thư. Cô cũng phải trả lời câu hỏi đó khi vị khoa học gia nheo mắt nhìn thẳng vào đôi mắt cô, và ông lại hít mũi.

“À,” ông lẩm bẩm sau câu trả lời của cô.

Rồi ông lần lượt đi từ nhân viên này sang nhân viên khác trong ngân hàng, đặt cho mỗi người vài câu hỏi ngắn gọn. Lúc này, một tiếng xì xào đầy hiếu kỳ bắt đầu lan truyền khắp văn phòng. Cuối cùng, Cỗ Máy Suy Lập tiến đến ô làm việc của Dunston, giao dịch viên thu tiền. Chàng trai trẻ đang cắm cúi vào công việc với vẻ mặt đầy tập trung.

“Cậu làm việc ở đây được bao lâu rồi?” vị khoa học gia bất ngờ cất tiếng hỏi.

Dunston giật mình ngẩng phắt lên nhìn quanh.

“Năm năm ạ,” anh đáp.

“Chắc là làm việc ở đây nóng lắm nhỉ,” Cỗ Máy Suy Lập nói. “Cậu đang đổ mồ hôi kìa.”

“Vâng ạ?” chàng trai mỉm cười hỏi lại.

Anh rút một chiếc khăn tay nhàu nhĩ từ túi quần sau ra, giũ mạnh nó rồi lau trán.

“A!” Cỗ Máy Suy Lập bất chợt thốt lên.

Ông đã bắt được mùi hương hoa violet thoang thoảng, dịu nhẹ—một mùi hương y hệt như trên chiếc khăn tay được tìm thấy trước két sắt.

Cỗ Máy Suy Lập dẫn đường đi thẳng trở lại phòng làm việc riêng của thủ quỹ, theo sau là Chủ tịch Fraser, Thủ quỹ West và Hatch.

“Ở đây có ai nghe lén được chúng ta không?” ông hỏi.

“Không,” vị chủ tịch đáp. “Hội đồng quản trị thường họp ở đây mà.”

“Liệu người ở ngoài có thể nghe thấy tiếng thế này chẳng hạn không?” và với một cái vạt tay bất thình lình, ông hất đổ nhào một chiếc ghế nặng.

“Tôi không biết nữa,” câu trả lời vang lên đầy kinh ngạc. “Để làm gì cơ chứ?”

Cỗ Máy Suy Lập nhanh chóng bước tới cửa, hé mở nó một cách nhẹ nhàng rồi nhòm ngó ra ngoài. Sau đó, ông khép cửa lại.

“Tôi cho là mình có quyền được nói năng một cách hoàn toàn thẳng thắn chứ?” ông hỏi.

“Chắc chắn rồi,” vị chủ tịch đáp lời, có phần hoảng hốt. “Chắc chắn rồi.”

“Trong trường hợp đó,” Cỗ Máy Suy Lập quay sang phía phóng viên, “anh Hatch, tôi muốn anh xác minh giúp tôi mấy việc. Thứ nhất, tôi muốn biết liệu cô Clarke có đang hoặc đã từng dùng nước hoa mùi violet hay chưa—nếu có, thì cô ấy ngưng dùng từ khi nào.”

“Vâng,” phóng viên đáp. Các lãnh đạo ngân hàng đưa mắt nhìn nhau đầy khó hiểu.

“Thêm nữa, anh Hatch,” và vị khoa học gia nheo đôi mắt kỳ lạ nhìn thẳng vào khuôn mặt viên thủ quỹ, “hãy đến nhà anh West đây, tự mình kiểm chứng dấu hiệu giặt ủi của nhà anh ta, và xác minh cho bằng được xem bản thân anh ta hoặc bất kỳ thành viên nào trong gia đình có từng sử dụng nước hoa mùi violet hay không.”

Viên thủ quỹ bỗng đỏ bừng mặt.

“Tôi có thể trả lời luôn điều đó,” anh gay gắt nói. “Không hề.”

“Tôi biết thể nào anh cũng nói thế mà,” Cỗ Máy Suy Lập cụt lủn đáp. “Xin đừng ngắt lời. Cứ làm theo lời tôi đi, anh Hatch.”

Dù đã quen với những phương pháp kỳ quặc của con người này, Hatch vẫn lờ mờ nhận ra mục đích của những câu hỏi vừa rồi.

“Còn giao dịch viên thu tiền thì sao?” anh hỏi.

“Tôi rõ về cậu ta rồi,” câu trả lời vang lên.

Hatch rời khỏi phòng, khép cánh cửa lại phía sau. Anh nghe thấy tiếng chốt cửa sập xuống khi vừa bước đi.

“Tôi nghĩ sẽ là công bằng hơn nếu tôi nói rõ điều này ở đây, thưa Giáo sư Van Dusen,” vị chủ tịch giải thích, “rằng chúng tôi hiểu rõ một điều là anh West hoàn toàn không thể nào có dính líu hay biết gì về...”

“Không có gì là không thể cả,” Cỗ Máy Suy Lập ngắt lời.

“Nhưng tôi sẽ không...” West phẫn nộ lên tiếng.

“Xin vui lòng chờ một lát,” Cỗ Máy Suy Lập nói. “Chẳng có ai buộc tội anh chuyện gì cả. Những gì tôi đang làm có lẽ sẽ giải thích theo cách làm anh hài lòng về việc tại sao chiếc khăn tay của anh lại xuất hiện ở đây, đồng thời mang lại chính điều mà tôi đoán là anh hằng mong mỏi—sự minh oan.”

Viên thủ quỹ sụp người ngồi xuống ghế; Chủ tịch Fraser đưa mắt nhìn từ người này sang người khác. Nơi vẻ mặt từng hằn lên nét lo lắng giờ đây chỉ còn lại sự ngỡ ngàng.

“Chiếc khăn tay của anh đã được tìm thấy tại văn phòng này, dường như đã bị đánh rơi bởi những kẻ đã cho nổ két sắt,” và những ngón tay dài, thon của Cỗ Máy Suy Lập chạm nhẹ đầu ngón tay vào nhau khi ông nói. “Đêm hôm trước nó không hề có ở đó. Người lao công quét dọn khẳng định thế; Dunston, người vô tình nhìn thấy, cũng khẳng định thế; cả cô Clarke và Dunston đều xác nhận họ thấy anh cầm khăn tay khi rời khỏi ngân hàng. Do đó, chiếc khăn tay ấy chỉ có thể xuất hiện tại vị trí đó sau khi anh rời đi và trước khi vụ trộm bị phát hiện.”

Viên thủ quỹ gật đầu.

“Anh nói rằng anh không dùng nước hoa; rằng không ai trong gia đình anh dùng nó. Nếu anh Hatch xác thực được điều này, nó sẽ góp phần minh oan cho anh. Thế nhưng, một kẻ nào đó đã cầm chiếc khăn tay ấy sau khi nó rời khỏi tay anh và trước khi nó xuất hiện ở đây lại có dùng nước hoa. Vậy kẻ đó là ai? Ai là kẻ có cơ hội làm điều đó?

Chúng ta hoàn toàn có thể gạt bỏ khả năng rằng anh làm rơi khăn tay, rồi nó lọt vào tay bọn trộm, bọn trộm lại dùng nước hoa, rồi chúng mang nó đến ngân hàng của anh—lại còn là chính ngân hàng của anh nữa chứ!—rồi bỏ lại đó. Chuỗi sự trùng hợp ngẫu nhiên cần thiết để điều đó xảy ra thậm chí còn chẳng xảy ra nổi một lần trong một triệu lần.”

Cỗ Máy Suy Lập ngồi im lặng suốt mấy phút liền, đôi mắt nheo lại đăm đăm nhìn lên trần nhà.

“Nếu nó bị rơi ở bất cứ đâu, chẳng hạn như ở tiệm giặt ủi, thì quy luật trùng hợp ngẫu nhiên mà tôi vừa nêu cũng sẽ gần như loại bỏ khả năng đó. Do đó, xét từ cơ hội tiếp cận chiếc khăn tay ấy, chúng ta phải giả định rằng—có—chắc chắn phải có—một ai đó đang làm việc tại ngân hàng này có mối liên hệ nào đó hoặc thực sự nhúng tay vào vụ trộm.”

Cỗ Máy Suy Lập nói bằng một giọng hoàn toàn bình thản, nhưng hiệu ứng nó mang lại thì mạnh mẽ như một dòng điện. Vị chủ tịch già lảo đảo đứng bật dậy, thẫn thờ nhìn ông; một lần nữa, sắc đỏ bừng lại hằn lên trên gương mặt viên thủ quỹ.

“Một kẻ nào đó,” Cỗ Máy Suy Lập tiếp tục đều đều, “hoặc là nhặt được chiếc khăn tay rồi vô tình đánh rơi nó vào thời điểm xảy ra vụ trộm, hoặc là đã đánh cắp nó và cố tình để lại đó. Như tôi đã nói, anh West xem như đã được loại bỏ. Giả sử anh ta là một trong những tên cướp, anh ta sẽ không đời nào ngớ ngẩn để lại chiếc khăn tay của chính mình; chúng ta vẫn cứ mặc định rằng anh ta không dùng nước hoa, và do đó cá nhân anh ta đã không thả chiếc khăn tay xuống nơi người ta tìm thấy nó.”

“Thật vô lý! Tôi không thể nào tin được, nhất là lại từ các nhân viên của mình...” ông Fraser bắt đầu lớn tiếng.

“Xin vui lòng đừng mở miệng ra là nói chuyện vô lý nữa,” Cỗ Máy Suy Lập bực dọc quát lên. “Nó làm tôi cực kỳ khó chịu đấy. Mọi chuyện suy cho cùng đều quy về một câu hỏi cốt lõi: Ai trong ngân hàng này dùng nước hoa?”

“Tôi không biết,” hai vị quan chức đồng thanh đáp.

“Còn tôi thì biết,” Cỗ Máy Suy Lập nói. “Có hai người—chỉ hai người mà thôi, Dunston, giao dịch viên thu tiền của anh, và cô Clarke.”

“Nhưng hai con người đó...”

“Dunston dùng một loại nước hoa violet không phải là _giống_ với loại trên chiếc khăn, mà là _y hệt_,” Cỗ Máy Suy Lập tiếp lời. “Còn cô Clarke thì dùng nước hoa hương hoa hồng nồng nàn.”

“Nhưng hai con người ấy, hơn bất cứ ai khác trong ngân hàng này, lại là những người mà tôi đặt trọn niềm tin,” ông Fraser giãi bày với giọng đầy khẩn thiết. “Hơn nữa, họ đời nào biết cách phá két sắt. Cảnh sát nói với tôi đây là tác phẩm của những chuyên gia cơ mà.”

“Thưa ông Fraser, gần đây ông có định huy động hoặc đã huy động một khoản tiền mặt lớn nào không?” vị khoa học gia bất ngờ đặt câu hỏi.

“À, có chứ,” vị chủ tịch đáp. “Suốt một tuần qua, tôi đã cố gắng huy động chín mươi nghìn đô la dựa trên tài sản cá nhân của mình.”

“Còn anh thì sao, anh West?”

Gương mặt viên thủ quỹ thoáng ửng đỏ—có lẽ là do ngữ điệu của câu hỏi—và có một khoảng lặng ngắn ngủi.

“Không,” cuối cùng anh đáp gọn.

“Rất tốt,” và vị khoa học gia đứng vùng dậy, xoa xoa hai bàn tay vào nhau; “bây giờ chúng ta sẽ tiến hành lục soát các nhân viên của anh.”

“Cái gì cơ?” cả hai người cùng thốt lên kinh ngạc. Sau đó ông Fraser nói thêm: “Đó sẽ là đỉnh cao của sự ngớ ngẩn; không đời nào làm thế được đâu. Hơn nữa, bất cứ kẻ nào đã cướp ngân hàng đi chăng nữa thì cũng chẳng đời nào mang theo tang vật bên mình, hay thậm chí là bất kỳ đồng tiền nào trong số đó—nhất lại là mang đến chính cái ngân hàng này.”

“Ngân hàng lại chính là nơi an toàn nhất cho nó đấy,” Cỗ Máy Suy Lập ngắt lời đáp trả. “Hoàn toàn có khả năng một tên trộm đang làm việc dưới trướng của ông sẽ mang theo một phần số tiền đó; quả thực, người ta phải hoài nghi liệu hắn có dám làm điều gì khác với số tiền ấy hay không. Hắn thừa biết ông sẽ chẳng có chút lý do nào để nghi ngờ bất kỳ ai ở đây—ngoại trừ anh West ra.”

Một khoảng lặng trùm xuống. “Tôi sẽ trực tiếp lục soát, tất nhiên là trừ ba vị nữ nhân viên ra nhé,” ông nói thêm với vẻ ngượng ngùng. “Riêng với họ, cứ mỗi nhóm hai người sẽ tự lục soát lẫn nhau.”

Ông Fraser và ông West trao đổi với nhau bằng giọng thì thầm suốt mấy phút liền.

“Nếu các nhân viên đồng ý thì tôi cũng sẵn lòng,” cuối cùng ông Fraser giải thích; “dù tôi chẳng thấy nó có tích sự gì.”

“Họ sẽ đồng ý thôi,” Cỗ Máy Suy Lập nói. “Xin hãy triệu tập tất cả bọn họ vào căn phòng này.”

Giữa bầu không khí ngập tràn sự bối rối và hoang mang, ba người phụ nữ và mười bốn người đàn ông của ngân hàng đã tề tựu đông đủ trong phòng thủ quỹ, các cánh cửa hướng ra ngoài đều đã được khóa chặt. Cỗ Máy Suy Lập cất lời với họ bằng phong cách ngắn gọn đặc trưng của mình.

“Trong quá trình điều tra vụ trộm đêm qua,” ông giải thích, “chúng tôi thấy có sự cần thiết phải tiến hành lục soát toàn bộ nhân viên của ngân hàng này.” Một tiếng xì xào kinh ngạc vang lên quanh phòng. “Những ai trong sạch chắc chắn sẽ sẵn lòng đồng ý thôi; tất cả đều đồng ý chứ?”

Những tiếng thì thầm bàn tán nổi lên từ mọi phía. Dunston giận dữ đỏ bừng mặt; cô Clarke, đứng gần ông Fraser, hơi tái đi. Dunston nhìn cô rồi cất lời.

“Còn các phụ nữ thì sao?” anh hỏi.

“Cả họ nữa chứ,” vị khoa học gia giải thích. “Họ có thể tự lục soát lẫn nhau—tất nhiên là ở căn phòng bên cạnh.”

“Riêng tôi thì tôi sẽ không đời nào khuất phục trước một thủ tục thế này,” Dunston lớn tiếng tuyên bố một cách cụt lủn, “không phải vì tôi sợ, mà vì đó là một sự sỉ nhục.”

Ngay lập tức, cả các lãnh đạo ngân hàng lẫn Cỗ Máy Suy Lập đều nhận thức được rằng, kẻ duy nhất trong ngân hàng dùng thứ nước hoa trùng khớp với mùi trên chiếc khăn tay lại chính là người đầu tiên lên tiếng phản đối việc lục soát. Viên thủ quỹ và vị chủ tịch đưa mắt nhìn nhau đầy kinh hãi.

“Tôi cũng không đời nào đồng ý,” tiếng một người phụ nữ vang lên.

Cỗ Máy Suy Lập quay người nhìn sang cô ấy. Đó là cô Willis, một trong hai nữ nhân viên đánh máy ở phòng ngoài; cô Clarke và người phụ nữ kia đều tái mét mặt mày, nhưng không ai lên tiếng nói câu nào.

“Thế còn những người khác?” Cỗ Máy Suy Lập hỏi.

Nhìn chung là mọi người đều đồng ý, và khi đám đàn ông bước lên phía trước, vị khoa học gia tiến hành lục soát họ một cách có qua có lại cho xong chuyện. Chẳng có gì cả! Cuối cùng chỉ còn lại ba người đàn ông là Dunston, West và Fraser. Dunston bước lên, buộc phải làm theo vì thái độ của những người đồng nghiệp. Ba người phụ nữ đứng túm tụm lại với nhau. Cỗ Máy Suy Lập cất lời với họ trong lúc đang lục soát Dunston.

“Nếu các quý cô lui vào căn phòng bên cạnh thì có thể tiến hành việc lục soát lẫn nhau,” ông gợi ý. “Nếu tìm thấy bất kỳ khoản tiền nào, hãy mang nó ra đây cho tôi—ngoài ra không mang theo thứ gì khác cả.”

“Tôi không chịu đâu, tôi không chịu đâu, tôi nhất định không chịu đâu,” cô Willis bất ngờ thét lên. “Đó là một hành động sỉ nhục.”

Cô Clarke, mặt cắt không còn một giọt máu và ngất lịm đi nửa phần, buông thõng hai tay rồi ngã oạch không một tiếng động vào vòng tay của Chủ tịch Fraser. Ngay tại đó, cô òa khóc nức nở.

“Đúng là một hành động sỉ nhục,” cô nấc lên. Cô bấu chặt lấy Chủ tịch Fraser, hai tay quàng qua cổ ông và vùi mặt vào ngực ông. Ông dùng những lời lẽ dịu dàng như cha con để dỗ dành cô, vụng về vuốt mái tóc cô. Cỗ Máy Suy Lập đã hoàn tất việc lục soát Dunston. Chẳng có gì cả! Lúc này cô Clarke mới gượng dậy và lau khô nước mắt.

“Đương nhiên là cháu sẽ phải tuân theo rồi,” cô nói, trong ánh mắt thoáng lên một tia giận dữ.

Cô Willis vẫn đang khóc lóc, nhưng giống như Dunston, cô buộc phải nhượng bộ, và ba người phụ nữ bước vào căn phòng bên cạnh. Một sự im lặng đến nghẹt thở bao trùm cho đến khi họ quay trở lại. Cả ba đều lắc đầu. Cỗ Máy Suy Lập suýt tỏ ra thất vọng.

“Trời ạ!” ông thốt lên. “Bây giờ đến lượt ngài Fraser.” Ông bước về phía vị chủ tịch, rồi khựng lại nhặt lên một chiếc kẹp cà vạt.

“Cái này của ông đây,” ông nói. “Tôi thấy nó bị rơi,” và ông làm động tác như muốn lục soát vị cụ ông.

“Này, ngài có thực sự thấy việc này là cần thiết trong trường hợp của tôi không?” vị chủ tịch hoảng hốt cất lời, lùi lại với vẻ đầy căng thẳng. “Tôi... tôi dẫu sao cũng là chủ tịch cơ mà.”

“Những người khác đã được lục soát trước mặt ông, tôi sẽ lục soát ông trước mặt họ,” Cỗ Máy Suy Lập đáp lại một cách cụt lủn.

“Nhưng... nhưng mà...” vị chủ tịch lắp bắp.

“Ông sợ à?” vị khoa học gia chất vấn.

“Sao lại thế chứ, dĩ nhiên là không rồi,” câu trả lời vội vã vang lên; “nhưng có vẻ nó cứ... cứ kỳ cục sao ấy.”

“Tôi nghĩ thế là tốt nhất,” Cỗ Máy Suy Lập nói, và trước khi vị chủ tịch kịp lùi lại, những ngón tay thon dài của ông đã luồn vào chiếc túi ngực bên trong, lập tức rút ra từ đó một cọc tiền—một trăm tờ mệnh giá 100 đô la—tổng cộng mười nghìn đô la—mang chữ ký tắt của giao dịch viên thu tiền, “P. D.”—“o.k.—R. W.”

“Lạy Chúa tôi!” ông Fraser thốt lên, mặt tái mét không còn giọt máu.

“Chúa tôi ơi, Chúa tôi ơi!” Cỗ Máy Suy Lập lại lẩm bẩm. Ông hiếu kỳ đưa mũi ngửi cọc tiền, hệt như một chú chó săn đang đánh hơi vết tích.

Chủ tịch Fraser được đưa về nhà trong tình trạng vô cùng nguy kịch. Tuổi cao sức yếu khiến ông không chịu nổi cú sốc này. Giờ đây, ông khi thì mê sảng, khi thì lẩm bẩm những điều vô nghĩa, đôi mắt già nua trợn trừng đầy nỗi sợ hãi ám ảnh. Một cuộc họp kín đã diễn ra giữa Cỗ Máy Suy Lập và West sau khi ông Fraser được đưa về nhà, và kết quả là một cuộc họp hội đồng quản trị khẩn cấp nữa lại được triệu tập. Trong cuộc họp đó, West được giao quyền tạm thời điều hành công việc. Phía cảnh sát, dĩ nhiên, đã được thông báo về vụ việc, nhưng khả năng có lệnh bắt giữ là rất thấp.

Ngay sau khi Cỗ Máy Suy Lập rời khỏi ngân hàng, Hatch xuất hiện và hỏi tìm ông. Từ ngân hàng, anh đi thẳng đến nhà vị khoa học gia. Tại đó, Giáo sư Van Dusen đang còng lưng bên chiếc ống nghiệm, bận rộn với một bài toán nào đó.

“Sao rồi?” ông cất tiếng hỏi mà không ngẩng đầu lên.

“West nói thật,” Hatch mở lời. “Cả anh ta lẫn bất kỳ thành viên nào trong gia đình đều không dùng nước hoa; anh ta rất ít quan hệ xã hội bên ngoài, có lối sống vô cùng quy củ, nhưng xem ra lại là một người có khối tài sản khá lớn.”

“Lương ở ngân hàng của anh ta là bao nhiêu?” Cỗ Máy Suy Lập hỏi.

“Mười lăm nghìn một năm,” phóng viên đáp. “Nhưng chắc chắn anh ta phải có một gia tài kếch xù. Anh ta sống chẳng khác nào một triệu phú.”

“Làm sao mà sống kiểu đó với mức lương mười lăm nghìn một năm được chứ,” vị khoa học gia trầm ngâm. “Cậu ta có được thừa kế khoản tiền nào không?”

“Không,” câu trả lời vang lên. “Anh ta bắt đầu từ chân nhân viên tập sự của ngân hàng và tự thân vận động để có được vị thế như ngày nay.”

“Điều đó có nghĩa là đầu cơ tài chính,” Cỗ Máy Suy Lập nhận định. “Cậu không thể tích lũy được một gia tài chỉ từ tiền lương đâu, dù cho có là mười lăm nghìn đô la một năm đi chăng nữa. Này anh Hatch, hãy điều tra giúp tôi toàn bộ các mối quan hệ làm ăn của anh ta. Đặc biệt tôi muốn biết nguồn thu nhập của anh ta xuất phát từ đâu. Cả việc liệu gần đây anh ta có tìm cách vay mượn hay vừa nhận được một khoản tiền lớn nào không; nếu có thì anh ta đã lấy ở đâu và làm gì với nó. Anh ta khai là không hề tìm kiếm một khoản tiền như thế. Có lẽ anh ta nói thật chăng.”

“Vâng, còn về cô Clarke...”

“Ừ, cô ta thì sao?” Cỗ Máy Suy Lập hỏi.

“Cô ấy thuê một căn phòng nhỏ trong một khu nhà trọ dành cho nữ giới ở một khu vực rất khang trang,” phóng viên giải thích. “Dù sao thì cũng chẳng có người bạn nào đến thăm cô ấy cả. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cô ấy hay ra ngoài vào ban đêm và về muộn.”

“Còn chuyện nước hoa thì sao?” vị khoa học gia hỏi.

“Bà chủ nhà trọ bảo cô ấy có dùng nước hoa, nhưng bà không nhớ rõ chính xác là loại nào—vì có quá nhiều cô gái trẻ trong nhà trọ dùng nước hoa cơ mà. Thế nên tôi đã vào phòng cô ấy để xem xét. Chẳng có chai nước hoa nào ở đó cả. Căn phòng của cô ấy có vẻ khá xáo trộn, khiến bà chủ nhà trọ tỏ ra ngạc nhiên, vì bà khẳng định mình đã dọn dẹp ngăn nắp vào khoảng chín giờ tối. Lúc tôi đến đó là hai giờ sáng.”

“Nó xáo trộn thế nào?” vị khoa học gia hỏi.

“Tấm trải ghế dài bị giật lệch và gối thì vương vãi lộn xộn, đó là một chi tiết,” phóng viên đáp. “Tôi không để ý thêm gì nữa.”

Cỗ Máy Suy Lập chìm vào im lặng. “Thế ở ngân hàng đã xảy ra chuyện gì vậy?” Hatch hỏi. Vị khoa học gia vắn tắt kể lại những sự việc dẫn đến cuộc lục soát, chính buổi lục soát đó và kết quả đầy kinh ngạc của nó. Phóng viên huýt sáo một tiếng dài.

“Anh có nghĩ ông Fraser có nhúng tay vào chuyện này không?”

“Cậu cứ đi ra ngoài và tìm hiểu cho rõ những chuyện còn lại về West đi,” Cỗ Máy Suy Lập lảng tránh đáp. “Đêm nay hãy quay lại đây. Mấy giờ cũng được.”

“Nhưng anh nghĩ ai mới là kẻ thực hiện vụ án này chứ?” anh nhà báo vẫn nài nỉ hỏi.

“Có lẽ tôi sẽ nói cho cậu biết khi cậu quay trở lại.”

Lúc này Cỗ Máy Suy Lập dường như đã quên bẵng đi vụ cướp ngân hàng, bởi ông đang đầu tắt mặt tối bận rộn trong phòng thí nghiệm bé xíu của mình. Tiếng chuông điện thoại reo vang đã kéo ông ra khỏi công việc.

“Alo,” ông nhấc máy. “Vâng, Van Dusen đây. Không, bây giờ tôi không thể xuống ngân hàng được. Gì cơ? Ồ, nó đã biến mất rồi á? Từ bao giờ thế! Thật tệ quá! Ông Fraser thế nào rồi? Vẫn bất tỉnh ư? Tệ thật! Ngày mai tôi sẽ sang.”

Vị khoa học gia vẫn đang say sưa với một công đoạn thử nghiệm hóa học tinh vi vào lúc hơn tám giờ tối hôm đó thì Martha, người quản gia kiêm luôn chân sai vặt của ông, bước vào.

“Thưa giáo sư,” bà nói, “có một vị khách nữ muốn gặp ngài.”

“Tên gì?” ông hỏi mà không thèm quay đầu lại.

“Cô ấy không xưng tên, thưa ngài.”

“Đợi tôi một phút.”

Ông hoàn thành nốt phép thử đang làm dở, rồi rời khỏi phòng thí nghiệm nhỏ để bước ra hành lang dẫn đến phòng khách, nơi những vị khách không có đặc quyền thường ngồi chờ sự ân chuẩn của ông. Ông hít hít mũi đôi chút khi bước chân ra hành lang. Đến trước cửa phòng khách, ông khựng lại ghé mắt nhìn vào bên trong. Một người phụ nữ đứng dậy và tiến về phía ông.

“Chào cô,” ông nói. “Tôi biết thế nào cô cũng đến mà.”

Cô Clarke thoáng lộ vẻ ngạc nhiên, nhưng không đưa ra bình luận nào.

“Tôi đến để cung cấp cho ngài một số thông tin,” cô nói, giọng trầm xuống. “Tôi vô cùng đau lòng trước những chuyện khủng khiếp vừa vỡ lở liên quan đến... liên quan đến ông Fraser. Tôi đã làm việc sát cánh cùng ông ấy suốt mấy tháng trời, và tôi không đời nào tin được rằng ông ấy lại có thể nhúng tay vào vụ bê bối này, mặc dù tôi biết chắc chắn rằng ông ấy đang cần gấp một khoản tiền lớn—chín mươi nghìn đô la—bởi tài sản cá nhân của ông ấy đang bị đe dọa. Một sự nhầm lẫn nào đó về giấy tờ sở hữu bất động sản, ông ấy đã nói với tôi như vậy.”

“Vâng, vâng,” Cỗ Máy Suy Lập điềm nhiên đáp.

“Việc ông ấy có xoay xở được số tiền này hay không thì tôi không rõ,” cô tiếp lời. “Tôi chỉ cầu mong là ông ấy làm được mà không phải... phải làm cách đó—không phải vướng vào bất kỳ...”

“Không phải cướp ngân hàng của chính mình chứ gì,” vị khoa học gia đáp lại một cách cụt lủn. “Cô Clarke, có phải chàng thanh niên Dunston đang thầm yêu cô không?”

Gương mặt cô gái biến sắc trước câu hỏi đột ngột.

“Tôi không hiểu ngài đang...” cô bắt đầu phản ứng.

“Cô có thể không hiểu,” Cỗ Máy Suy Lập nói, “nhưng tôi hoàn toàn có thể khiến cậu ta bị bắt vì tội cướp ngân hàng và kết án tù đấy.”

Cô gái trân trân nhìn ông với đôi mắt trợn tròn đầy kinh hãi, thở dốc.

“Không, không, không,” cô vội vã thốt lên. “Cậu ấy đời nào có dính líu gì đến chuyện đó chứ.”

“Có phải cậu ta yêu cô không?” câu hỏi lại được lặp lại.

Một khoảng lặng trôi qua.

“Tôi có lý do để tin là như vậy,” cuối cùng cô đáp, “dù cho...”

“Còn cô thì sao?”

Gương mặt cô gái lúc này đỏ bừng lên như lửa cháy, và khi nheo mắt nhìn sâu vào đôi mắt cô, vị khoa học gia đã đọc được câu trả lời.

“Tôi hiểu rồi,” ông nhận xét gọn lỏn. “Hai người định kết hôn với nhau à?”

“Tôi có thể... có thể sẽ không bao giờ kết hôn với cậu ấy,” cô bất ngờ thốt lên nghẹn ngào. “Không, không,” cô nhấn mạnh. “Chúng tôi sẽ không bao giờ cưới nhau cả.”

Cô dần lấy lại bình tĩnh sau cơn bối rối, trong khi vị khoa học gia vẫn tiếp tục nheo mắt quan sát cô đầy hiếu kỳ.

“Tôi tin là cô bảo mình mang đến cho tôi một số thông tin phải không?” ông hỏi.

“V... vâng,” cô lắp bắp. Rồi điềm tĩnh hơn: “Vâng. Tôi đến để nói cho ngài biết rằng bọc tiền mười nghìn đô la mà ngài đã lấy ra từ túi áo ông Fraser lại vừa biến mất một lần nữa rồi.”

“Ừ,” người kia đáp mà không chút ngạc nhiên.

“Bên ngân hàng đang phỏng đoán rằng ông ấy đã mang nó về nhà cùng mình, do đã giành lại được nó bằng cách nào đó, nhưng một cuộc tìm kiếm kỹ lưỡng vẫn không tài nào tìm ra nó.”

“Vâng, còn gì nữa không?”

Cô gái hít một hơi thật dài và nhìn thẳng vào đôi mắt vị khoa học gia, ánh lên vẻ quyết tâm.

“Tôi đến đây cũng là để nói cho ngài biết...” cô nói tiếp, “tên của kẻ đã cướp ngân hàng.”

Nếu như cô Clarke chờ đợi Cỗ Máy Suy Lập sẽ bày tỏ sự kinh ngạc hoặc phấn khích, chắc hẳn cô sẽ phải thất vọng, bởi ông chẳng hề thay đổi tư thế hay nhìn cô lấy một cái. Thay vào đó, ông đang đăm đăm nhìn đi chỗ khác với đôi mắt vô hồn.

“Rồi sao?” ông hỏi. “Chắc là lại một câu chuyện dài đây. Cứ bắt đầu từ đầu đi.”

Với một vẻ rụt rè mang đúng phong thái của một người có giáo dục, cô gái bắt đầu kể câu chuyện; và thỉnh thoảng trong lúc nói, đôi môi cô lại hơi run rẩy.

“Tôi đã làm nghề đánh máy và thư ký được bảy năm rồi,” cô kể, “và trong khoảng thời gian đó tôi chỉ trải qua đúng bốn chỗ làm. Nơi đầu tiên là một văn phòng luật sư ở New York, nơi tôi mồ côi từ nhỏ và phải tự bươn chải kiếm sống; nơi thứ hai là một xí nghiệp sản xuất, cũng ở New York. Tôi đã rời khỏi đó ba năm trước để nhận vị trí thư ký riêng cho William T. Rankin, chủ tịch Ngân hàng Quốc gia ----, tại Hartford, Connecticut. Tôi chuyển từ đó đến Boston và sau đó xin vào làm việc tại Ngân hàng Ralston, với tư cách thư ký riêng cho ông Fraser. Tôi rời ngân hàng ở Hartford là do cơ sở đó phá sản, tiếp sau một vụ cướp ngân hàng.”

Cỗ Máy Suy Lập bất ngờ liếc nhìn cô.

“Có lẽ ngài còn nhớ qua các mặt báo...” cô lại mở lời.

“Tôi không bao giờ đọc báo,” ông đáp.

“Thôi, dẫu sao thì...” và có một chút thiếu kiên nhẫn trước sự ngắt lời này, “tại đó đã xảy ra một vụ cướp ngân hàng tương tự như vụ này. Chỉ có bảy mươi nghìn đô la bị đánh cắp, nhưng đó là một tổ chức quy mô nhỏ và vụ trộm đã châm ngòi cho một làn sóng rút tiền ồ ạt khiến ngân hàng sụp đổ chỉ sau sáu tháng tôi làm việc ở vị trí đó.”

“Cô làm việc ở Ngân hàng Quốc gia Ralston bao lâu rồi?”

“Chín tháng ạ,” câu trả lời vang lên.

“Cô có để Dành được khoản tiền nào trong thời gian làm việc ở những nơi khác không?”

“Thì... lương thấp lắm—tôi làm sao mà để dành được nhiều.”

“Thế cô sống bằng gì suốt hai năm kể từ khi rời ngân hàng Hartford cho đến lúc nhận công việc này?”

Cô gái hơi lắp bắp.

“Tôi nhận được sự giúp đỡ từ bạn bè,” cuối cùng cô đáp.

“Nói tiếp đi.”

“Ngân hàng ở Hartford đó,” cô tiếp tục, ánh mắt thoáng lên một tia oán giận, “có một chiếc két sắt y hệt như cái ở Ngân hàng Ralston, dù kích thước không lớn bằng. Nó cũng bị cho nổ tung bằng đúng phương thức hệt như vụ này.”

“Ồ, tôi hiểu rồi,” vị khoa học gia nói. “Đã có kẻ bị bắt vì vụ án đó, và cô muốn cung cấp cho tôi tên của kẻ đó chứ gì?”

“Vâng,” cô gái đáp. “Một tên trộm chuyên nghiệp tên là William Dineen đã bị bắt vì vụ trộm đó và hắn đã khai nhận. Sau đó hắn vượt ngục. Sau khi bị bắt, hắn từng khoe khoang về khả năng phá bất kỳ kiểu két sắt nào của mình. Hắn đã sử dụng một phát minh do chính hắn chế tạo để khoan các lỗ đặt thuốc nổ. Tôi đã chú ý đến chiếc két sắt đó và tôi cũng chú ý đến chiếc két này. Có một sự tương đồng đến kinh ngạc giữa cả hai.”

Cỗ Máy Suy Lập trân trân nhìn cô.

“Tại sao cô lại kể cho tôi nghe chuyện này?” ông hỏi.

“Bởi vì tôi hiểu rằng ngài đang tiến hành cuộc điều tra cho phía ngân hàng,” cô không chút do dự đáp, “và tôi rất sợ phải dính dáng đến tai tiếng nếu đi báo cảnh sát.”

“Nếu tên William Dineen này vẫn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, cô tin là chính hắn đã làm việc này chứ?”

“Tôi gần như chắc chắn là như vậy.”

“Cảm ơn cô,” Cỗ Máy Suy Lập nói.

Cô Clarke ra về, và vào đêm muộn hôm đó Hatch xuất hiện. Trông anh có vẻ mệt mỏi và biết ơn khi sụp người xuống chiếc ghế, nhưng trong mắt lại ánh lên vẻ mãn nguyện. Suốt hơn một tiếng đồng hồ, anh huyên thuyên trò chuyện. Cuối cùng thì Cỗ Máy Suy Lập cũng đã thấy thỏa mãn, gần như vậy.

“Còn một việc nữa,” ông nói khi kết thúc cuộc trò chuyện. “Hãy thông báo cho cảnh sát để mắt tới William Dineen, tên trộm ngân hàng chuyên nghiệp, cùng đồng bọn của hắn, những kẻ mà cậu có thể tra ra tên tuổi qua các mặt báo liên quan đến vụ cướp ngân hàng ở Hartford. Chúng đang bị truy nã trong vụ án này.”

Phóng viên gật đầu.

“Khi ông Fraser bình phục, tôi dự định sẽ tổ chức một buổi tụ họp nhỏ ở đây,” vị khoa học gia tiếp lời. “Đó sẽ là một bữa tiệc bất ngờ.”

Hai ngày sau, khi phía cảnh sát dường như vẫn đangay hoay tìm kiếm một manh mối hữu hình nào đó để lần theo, Cỗ Máy Suy Lập nhận được tin tình hình sức khỏe của ông Fraser đã có những chuyển biến tích cực. Ngay lập tức, ông cho gọi thám tử Mallory đến và có một cuộc trao đổi dài với ông ta. Viên thám tử rời đi với vẻ mặt tay vò rìa bộ ria mép dày cộm và mỉm cười. Chiều hôm đó, cùng với ba người khác, ông ta biến mất khỏi các địa bàn quen thuộc của cảnh sát để thực hiện một sứ mệnh đặc biệt.

Tối hôm đó, "bữa tiệc" nhỏ đã diễn ra tại căn hộ của Cỗ Máy Suy Lập. Chủ tịch Fraser là người đến đầu tiên. Ông trông xanh xao và yếu ớt, nhưng ánh lên trong tác phong là một sự nóng lòng đến phát sốt. Tiếp theo là West, Dunston, cô Clarke, cô Willis và Charles Burton, một nhân viên văn phòng vừa mới công bố đính ước với cô Willis xinh xắn.

Những người tham dự tụ họp lại, ai nấy đều tò mò nhìn nhau dò xét với hàng tá câu hỏi hiện lên trong mắt, cho đến khi Cỗ Máy Suy Lập bước vào, nhanh nhẹn xoa xoa đôi bàn tay vào nhau. Theo sau ông là Hatch, tay xách một chiếc túi xách du lịch sờn cũ. Gương mặt phóng viên lộ rõ vẻ kích động dù anh đang cố hết sức để kìm nén nó lại. Sau một vài thủ tục mở đầu, vị khoa học gia bắt đầu cất lời.

“Để đi thẳng vào vấn đề cho nhanh,” ông mở đầu, “chúng ta sẽ mặc định coi như không có nhân viên nào của Ngân hàng Ralston là tên trộm chuyên nghiệp cả. Thế nhưng, kẻ chịu trách nhiệm chính cho vụ trộm đó, kẻ đã chia chác số tiền bị đánh cắp, kẻ đã vạch kế hoạch và trực tiếp nhúng tay thực hiện nó hiện đang có mặt ngay trong căn phòng này—lúc này đây.”

Ngay lập tức, sự hoang mang tột độ bao trùm, nhưng nó không bật thành lời, mà chỉ hiện rõ trên gương mặt của những con người có mặt ở đây.

“Hơn nữa, tôi có thể thông báo cho các vị biết,” vị khoa học gia tiếp lời, “sẽ không có ai được phép rời khỏi căn phòng này cho đến khi tôi nói hết.”

“Được phép ư?” Dunston lớn tiếng hỏi. “Chúng ta đâu phải tội phạm.”

“Các người sẽ thành tội phạm nếu tôi cất lời đấy,” câu trả lời vang lên, khiến Dunston thẫn thờ ngả người ra ghế. Anh lo lắng liếc nhìn nét mặt của những người khác; và họ cũng lo lắng liếc nhìn lại anh.

“Những sự thật cốt lõi về vụ cướp thì các vị đều đã rõ,” Cỗ Máy Suy Lập tiếp tục. “Các vị đều biết chiếc két sắt đã bị cho nổ tung, một số tiền lớn đã bị đánh cắp, và chiếc khăn tay của anh West đã được tìm thấy ở gần két sắt. Giờ thì tôi sẽ kể cho các vị nghe những gì tôi đã thu thập được. Chúng ta sẽ bắt đầu từ Chủ tịch Fraser.

Chống lại ông Fraser là những bằng chứng trực tiếp hơn bất cứ ai khác, bởi vì trong túi áo của ông người ta đã tìm thấy một trong những bọc tiền bị đánh cắp, chứa mười nghìn đô la. Bản thân ông Fraser đã cần đến chín mươi nghìn đô la trước thời điểm xảy ra vụ trộm.”

“Nhưng mà...” vị cụ ông bắt đầu lên tiếng với gương mặt tái mét như xác chết.

“Đừng bận tâm,” vị khoa học gia ngắt lời. “Tiếp theo, cô Willis.” Những ánh mắt tò mò đổ dồn về phía cô, và cô cũng bất chợt tái mặt đi. “Chống lại cô ta là những bằng chứng ít trực tiếp hơn bất kỳ ai khác. Cô Willis nhất quyết từ chối không cho lục soát người cho đến khi cô ta buộc phải làm điều đó vì hai người phụ nữ kia đã đồng ý. Việc chẳng tìm thấy gì không có nghĩa là sự việc không tồn tại. Cô ta đã từ chối cơ mà.

Rồi đến Charles Burton,” giọng nói không mủi lòng lại tiếp tục vang lên điềm tĩnh; cứ như thể đang bàn luận về một bài toán học vỡ lòng vậy. “Burton đã đính ước với cô Willis. Cậu ta là kẻ có tham vọng. Gần đây cậu ta vừa mất hai mươi nghìn đô la vì đầu cơ chứng khoán—tất cả những gì cậu ta có. Cậu ta cần thêm tiền để lo cho cô gái từng từ chối bị lục soát này một mái ấm tươm tất.

Kế đến là cô Clarke, thư ký của ông Fraser. Ban đầu cô ta rơi vào tầm ngắm xuất phát từ việc cô ta dùng nước hoa, trong khi chiếc khăn tay của anh West lại vương vất chút hương thơm dịu nhẹ. Giờ đây có một sự thật là suốt nhiều năm trời cô Clarke dùng nước hoa mùi violet, thế rồi ngay vào ngày hôm sau vụ trộm, cô ta bỗng đột ngột chuyển sang dùng nước hoa hương hồng nồng nàn để lấn át đi mùi violet. Cô Clarke, như các vị đều nhớ, đã ngất lịm đi vào thời điểm tiến hành lục soát. Tôi xin nói thêm rằng cách đây không lâu cô ta từng làm việc tại một ngân hàng cũng từng bị cướp với phương thức y chang vụ này.”

Cô Clarke vẫn ngồi đó với vẻ bề ngoài điềm tĩnh, thậm chí còn hơi mỉm cười, nhưng gương mặt đã cắt không còn giọt máu. Cỗ Máy Suy Lập nheo mắt nhìn cô giây lát, rồi bất ngờ quay sang phía Thủ quỹ West.

“Đây chính là người đàn ông,” ông cất giọng, “có chiếc khăn tay được tìm thấy ở hiện trường, nhưng anh ta hoàn toàn không dùng nước hoa, chưa từng dùng bao giờ. Anh ta là kẻ có cơ hội tốt nhất để bỏ ngỏ khung cửa sổ ở văn phòng riêng hầu tạo đường cho bọn trộm đột nhập vào ngân hàng; anh ta là kẻ có cơ hội lớn nhất để bôi một loại dung dịch hóa học đặc biệt lên các ổ cắm bằng đá granite của các thanh sắt bảo vệ, làm rữa lớp đá để có thể dễ dàng giật tung chúng ra; anh ta cũng là kẻ đã cung cấp cho tôi thông tin sai lệch. Anh ta bảo tôi rằng mình không có và chưa từng tìm cách huy động bất kỳ khoản tiền lớn đặc biệt nào. Thế nhưng ngay vào ngày hôm sau vụ trộm, anh ta lại đem gửi một trăm hai mươi lăm nghìn đô la tiền mặt vào một ngân hàng ở Chicago. Số tiền bị đánh cắp là một trăm hai mươi chín nghìn đô la. Chính là kẻ đó, ngồi đằng kia.”

Tất cả mọi ánh mắt lúc này đều đổ dồn về phía viên thủ quỹ. Anh ta có vẻ nghẹn đắng cổ họng, toan mở miệng nói nhưng rồi lại sụp người ngã phịch xuống ghế.

“Và cuối cùng, Dunston,” Cỗ Máy Suy Lập tiếp lời, tay chỉ thẳng một cách đầy kịch tính vào giao dịch viên thu tiền. “Cậu ta có cơ hội ngang ngửa với anh West trong việc nắm rõ số lượng tiền mặt có trong ngân hàng; cậu ta là kẻ đầu tiên từ chối bị lục soát, và các vị vừa mới tận mắt chứng kiến hành động đó của cậu ta cách đây chốc lát. Trên người cậu ta lúc này vẫn vương vất đúng mùi nước hoa violet y hệt như mùi trên chiếc khăn tay—không phải mùi giống, mà là mùi y chang.”

Sự im lặng bao trùm, một sự im lặng chết chóc kéo dài rất lâu. Lúc này chẳng ai dám liếc nhìn người bên cạnh nữa; phóng viên cảm thấy sự căng thẳng đang chạm tới cực điểm. Cuối cùng thì Cỗ Máy Suy Lập cũng cất tiếng lần nữa.

“Như tôi đã nói, kẻ đã lên kế hoạch và nhúng tay vào vụ trộm hiện đang có mặt trong căn phòng này. Nếu kẻ đó chịu bước ra và thành khẩn cúi đầu nhận tội, mức án phạt tù sẽ có sự chênh lệch vô cùng lớn đấy.”

Lại một sự im lặng nữa trôi qua. Cuối cùng, có tiếng gõ cửa vang lên và Martha thò đầu vào.

“Có hai quý ông và bốn viên cảnh sát đang ở ngoài này ạ,” cô thông báo.

“Kia chính là đồng phạm của kẻ có tội, những kẻ đã trực tiếp cho nổ chiếc két sắt,” vị khoa học gia dõng dạc tuyên bố. “Một lần nữa, liệu kẻ có tội có chịu nhận tội hay không?”

Không một ai nhúc nhích.

Sự căng thẳng nghẹt thở kéo dài trong giây lát. Dunston là người đầu tiên lên tiếng phá vỡ im lặng.

“Tất cả chuyện này chỉ là một trò lừa bịp,” anh nói. “Tôi nghĩ, thưa ông Fraser, có lẽ các ông cần phải đưa ra những lời giải thích và xin lỗi đối với tất cả chúng tôi, đặc biệt là với cô Clarke và cô Willis,” anh nói thêm như một ý định sực nhớ ra. “Thật là nhục nhã, mà chẳng giải quyết được tích sự gì. Tôi vốn có ý định cầu hôn cô Clarke, và giờ đây tôi khẳng định quyền được lên tiếng thay cho cô ấy. Tôi đòi hỏi một lời xin lỗi.”

Bị cuốn theo cơn giận dữ của chính mình cùng ánh mắt khẩn cầu pha lẫn nỗi đau đớn trên gương mặt cô Clarke, chàng trai trẻ quay sang trừng trừng nhìn Cỗ Máy Suy Lập với vẻ mặt đầy hung hăng. Sự ngỡ ngàng hiện rõ trên gương mặt của hai vị lãnh đạo ngân hàng.

“Cậu cảm thấy cần phải có một lời giải thích ư?” Cỗ Máy Suy Lập điềm đạm hỏi.

“Đúng vậy,” chàng trai quát lên.

“Cậu sẽ có nó,” câu trả lời bình thản vang lên, và bóng dáng còng còng của vị khoa học gia bước băng qua căn phòng ra cửa. Ông nói nhỏ điều gì đó với ai ở ngoài rồi quay trở lại.

“Tôi sẽ cho các vị thêm một cơ hội để thú nhận,” ông nói. “Nó sẽ giúp rút ngắn thời gian ngồi tù của các vị đấy.” Ông không nói với riêng ai cả; mà là nói với tất cả bọn họ. “Hai kẻ đã cho nổ két sắt lúc này sắp sửa bước vào căn phòng này rồi. Sau khi chúng xuất hiện thì mọi chuyện sẽ quá muộn đấy.”

Những ánh mắt hoảng hốt trao đổi với nhau, nhưng không ai cử động. Ngay sau đó là tiếng gõ cửa. Cỗ Máy Suy Lập im lặng đưa mắt nhìn quanh với câu hỏi hiện lên trong ánh nhìn. Vẫn là một sự im lặng, và ông đẩy toang cánh cửa ra. Ba viên cảnh sát mặc đồng phục cùng thám tử Mallory bước vào, áp giải theo hai gã tù nhân.

“Đây là những kẻ đã cho nổ két sắt,” Cỗ Máy Suy Lập giải thích, tay ra hiệu về phía hai gã tù nhân. “Có ai ở đây nhận ra chúng không?”

Dường như chẳng ai nhận ra cả, bởi không một ai lên tiếng.

“Các người có nhận ra ai trong căn phòng này không?” ông hỏi hai gã tù nhân.

Một trong hai tên cười khẩy một tiếng rồi thì thầm gì đó với tên bên cạnh, gã còn lại mỉm cười. Cỗ Máy Suy Lập có chút bực dọc và khi cất lời lần nữa, giọng ông phảng phất một nét mỉa mai.

“Có lẽ điều này sẽ khai sáng cho ít nhất một người trong căn phòng này,” ông nói, “khi biết rằng hai gã đàn ông này chính là Frank Seranno và Gustave Meyer, trong đó gã Meyer là học trò kiêm đồng cũ của tên tội phạm trộm cắp ngân hàng khét tiếng William Dineen. Các người có thể áp giải chúng đi giam giữ được rồi đấy,” ông quay sang bảo thám tử Mallory. “Chẳng mấy chốc chúng sẽ khai ra tất cả thôi.”

“Khai á!” một trong hai tên thét lên. Cả hai cùng cười lớn.

Bọn tù nhân được dẫn ra ngoài và thám tử Mallory quay trở lại để tiếp tục chiêm nghiệm nguồn trí tuệ phân tích uyên bác kia, dù ông ta chẳng đời nào diễn tả nó bằng những từ ngữ hoa mỹ đó. Lúc bấy giờ Cỗ Máy Suy Lập mới bắt đầu kể lại câu chuyện của mình từ đầu chí cuối.

“Tôi bắt tay vào việc làm sáng tỏ vụ việc này chỉ vài giờ sau khi nó xảy ra, theo lời thỉnh cầu của Chủ tịch Fraser, người từng có ơn lớn với tôi,” ông giải thích. “Tôi đã đến ngân hàng—tất cả các vị đều thấy tôi ở đó—khảo sát hiện trường, xem xét cách bọn trộm đột nhập vào tòa nhà, quan sát chiếc két sắt và vị trí tìm thấy chiếc khăn tay. Trong suy nghĩ của tôi, rõ ràng chiếc khăn tay đã xuất hiện ở đó vào đúng thời điểm xảy ra vụ trộm. Tôi đã hỏi xem phòng làm việc có bị gió lùa không, nhằm tìm hiểu xem có khi nào chiếc khăn tay bị rơi ở một góc khác trong ngân hàng rồi bị nhân viên quét dọn bỏ quên và bị gió thổi dạt đến vị trí người ta tìm thấy nó hay không. Hoàn toàn không có gió lùa.

Tiếp theo tôi hỏi xin chiếc khăn tay. Ông Fraser mời tôi vào phòng làm việc riêng để xem xét nó. Tôi nhìn thấy một người phụ nữ—chính là cô Clarke—đang ở trong đó nên đã từ chối bước vào. Thay vào đó, tôi kiểm tra chiếc khăn tay ngay ở bên ngoài. Tôi không biết mục đích của mình lúc đó có được các vị làm rõ hay không. Có khả năng chiếc khăn tay sẽ vương mùi nước hoa, và người phụ nữ trong phòng có thể dùng nước hoa. Tôi không muốn làm lẫn lộn các mùi hương với nhau. Cô Clarke không có mặt ở ngân hàng lúc tôi đến; cô ấy đã đi ăn trưa.

Ngay khi cầm chiếc khăn tay trong tay, tôi ngửi thấy mùi hương của nó—nước hoa mùi violet. Nước hoa được dùng bởi rất nhiều phụ nữ, nhưng rất ít đàn ông. Tôi hỏi xem có bao nhiêu phụ nữ làm việc trong ngân hàng. Có ba người. Tôi trao chiếc khăn tay có mùi thơm ấy cho anh Hatch, tự làm sạch hoàn toàn mùi nước hoa còn vương trên tay mình bằng chiếc khăn của chính tôi rồi cũng đưa luôn nó cho anh Hatch, nhằm loại bỏ hoàn toàn mùi hương bám dính.

Sau đó tôi đi một vòng khắp ngân hàng và trò chuyện với từng người một, đứng thật sát họ để có thể bắt được mùi hương nếu họ có sử dụng. Cô Clarke là người đầu tiên tôi phát hiện ra có dùng—nhưng thứ nước hoa cô ấy dùng lại là mùi hoa hồng nồng nàn. Rồi tôi tiếp tục đi cho đến khi tới chỗ anh Dunston. Mùi hương y hệt như trên chiếc khăn tay đã được cậu ta tự tiết lộ khi rút chiếc khăn của chính mình ra trong lúc tôi đang trò chuyện với cậu ta.”

Dunston thoáng lộ vẻ giật mình nhưng không nói gì; thay vào đó, anh liếc nhìn cô Clarke, người đang ngồi lắng nghe với vẻ đầy chú ý. Anh không thể tài nào đọc được biểu cảm trên gương mặt cô.

“Sau khi làm xong chừng ấy việc,” Cỗ Máy Suy Lập tiếp lời, “chúng tôi lui về phòng làm việc của Thủ quỹ West. Tại đó, tôi biết bọn trộm đã đột nhập vào; tại đó tôi nhìn thấy một dung dịch hóa học cực mạnh đã được bôi lên lớp đá granite xung quanh các ổ cắm của những thanh sắt bảo vệ nhằm làm rữa phần đá. Hệ quả trực tiếp của nó là làm cho cấu trúc đá mềm nhũn như bột phấn. Tôi cũng tò mò muốn biết liệu bất kỳ tiếng động nào phát ra trong căn phòng đó có thu hút sự chú ý ở phòng ngoài hay không, thế nên tôi đã hất đổ một chiếc ghế nặng, rồi nhìn ra bên ngoài. Không một ai cử động hay ngoái đầu lại cả; có nghĩa là không một ai nghe thấy gì.

Tại đây tôi đã giải thích cho Chủ tịch Fraser và anh West lý do vì sao tôi liên kết một nhân viên nào đó trong ngân hàng với vụ trộm. Đó là vì mùi hương trên chiếc khăn tay. Thật là dài dòng nếu cứ phải lặp lại chi tiết lời giải thích mà tôi đã trình bày với họ. Tôi đã phái anh Hatch đi tìm hiểu xem, thứ nhất, liệu cô Clarke đây có từng dùng nước hoa mùi violet thay vì mùi hoa hồng hay không; đồng thời tìm hiểu xem có thành viên nào trong gia đình anh West dùng nước hoa hay không, đặc biệt là mùi violet. Tôi vốn đã biết anh Dunston có dùng nó rồi.

Sau đó tôi hỏi ông Fraser liệu ông có tìm cách huy động một khoản tiền lớn nào không. Ông ấy đã nói thật với tôi. Nhưng anh West lại không nói thật khi trả lời câu hỏi theo hướng tương tự. Giờ thì tôi đã biết lý do vì sao. Đó là bởi vì với tư cách là thủ quỹ ngân hàng, anh ta không được phép tham gia đầu cơ chứng khoán, thế nhưng anh ta lại kiếm được một gia tài kếch xù từ việc đó. Anh ta không muốn ông Fraser biết chuyện này, nên đã cố tình cung cấp thông tin sai lệch.

Rồi đến màn lục soát. Tôi kỳ vọng tìm thấy chính xác những gì đã được tìm thấy, chính là tiền, nhưng số lượng phải lớn hơn nhiều. Cô Willis phản đối, Dunston phản đối và cô Clarke ngất lịm đi trong vòng tay ông Fraser. Tôi đọc vị được động cơ của từng người. Dunston phản đối vì cậu ta là một thanh niên ngạo mạn và, vì còn trẻ nên rất ngốc nghếch. Cậu ta coi đó là một sự sỉ nhục. Cô Willis phản đối cũng xuất phát từ lòng tự ái.”

Cỗ Máy Suy Lập dừng lại giây lát, đan các ngón tay sau đầu và ngả người thật sâu ra phía sau ghế.

“Tôi có nên kể tiếp chuyện gì đã xảy ra sau đó không?” ông hỏi, “hay là các vị tự kể lấy?”

Mọi người trong phòng đều thừa hiểu đây là câu hỏi dành cho kẻ có tội. Ai cơ chứ? Là ai nào? Không có câu trả lời nào cất lên, và sau một khoảnh khắc, Cỗ Máy Suy Lập tiếp tục, giọng điềm tĩnh, vô cùng điềm tĩnh.

“Cô Clarke đã ngất đi trong vòng tay ông Fraser. Trong lúc tựa người vào ông, và trong lúc ông đang vuốt mái tóc cô ta để dỗ dành, cô ta đã lấy từ ngực chiếc áo cánh rộng của mình ra một bọc tiền, trị giá mười nghìn đô la, rồi nhét nó vào chiếc túi áo khoác bên trong của ông Fraser.”

Sự im lặng đến rợn người bao trùm.

“Đồ dối trá!” cô gái thét lên, vùng đứng phắt dậy với gương mặt biến dạng vì giận dữ. “Đồ dối trá!”

Dunston bất ngờ đứng dậy bước về phía cô. Vòng tay ôm lấy cô, anh quay sang trừng mắt nhìn Cỗ Máy Suy Lập với vẻ mặt đầy thách thức, người vẫn chẳng hề nhúc nhích hay đổi tư thế lấy một chút. Dunston không nói năng gì, bởi có vẻ chẳng còn lời nào để mà nói nữa.

“Vào chiếc túi áo khoác bên trong của ông Fraser,” Cỗ Máy Suy Lập lặp lại. “Khi cô ta rút tay ra, chiếc kẹp cà vạt của ông đã vướng vào ren trên một bên tay áo của cô ta. Tôi đã tận mắt nhìn thấy điều đó. Chiếc kẹp đó không đời nào có thể móc vào tay áo cô ta ở vị trí đó nếu tay cô ta không thọc vào túi áo khoác. Sau khi chuyển giao xong số tiền này—tức phần chia chát thảm hại của cô ta trong vụ trộm—cô ta mới chịu đồng ý để lục soát.”

“Đồ dối trá!” cô gái lại gào lên lần nữa. Và từng âm điệu, từng cử chỉ của cô đều tố cáo rằng đó chính là sự thật. Dunston trân trân nhìn sâu vào đôi mắt cô với nỗi kinh hoàng hiện rõ trong đôi mắt mình và đôi tay anh thõng xuống bất lực. Dù vậy anh vẫn không nói một lời nào.

“Dĩ nhiên là chẳng tìm thấy gì cả,” giọng nói điềm tĩnh lại cất lên. “Khi tôi phát hiện ra những cọc tiền trong túi áo ông Fraser, tôi đã đưa lên ngửi—lần này tôi tìm kiếm không phải mùi violet, mà là mùi nước hoa hồng. Và tôi đã tìm thấy nó.”

Bỗng nhiên cô gái, người mà nãy giờ trên gương mặt chỉ toàn vẻ giận dữ và thách thức, gục đầu vào hai bàn tay và òa khóc nức nở. Đó chính là một lời thú tội. Dunston đứng bên cạnh cô với vẻ bất lực; cuối cùng bàn tay anh chậm rãi vươn ra và dịu dàng vuốt mái tóc cô.

“Xin ngài cứ nói tiếp đi ạ,” anh nhỏ giọng bảo Giáo sư Van Dusen với vẻ phục tùng. Nỗi đau đớn trong lòng anh chẳng kém cạnh gì so với cô.

“Những sự thật này rất quan trọng, nhưng chưa đủ sức thuyết phục,” Cỗ Máy Suy Lập tiếp lời, “thế nên tiếp theo, với sự trợ giúp của anh Hatch đây, tôi đã tìm hiểu thêm những chuyện khác về cô Clarke. Tôi phát hiện ra rằng vào ngày hôm đó khi đi ăn trưa, cô ta đã mua một ít nước hoa hồng loại nặng; rằng trái ngược với thông lệ, cô ta đã về nhà; rằng cô ta đã dùng nó xịt thỏa thích trong phòng; và rằng cô ta đã hủy hoại một lọ nước hoa violet lớn mà chính anh Dunston đã tặng cho cô ta. Tôi cũng tìm hiểu được rằng phòng của cô ta có dấu hiệu bị xáo trộn, đặc biệt là chiếc ghế dài. Tôi suy luận từ điều đó rằng khi đến văn phòng vào buổi sáng, cô ta không mang theo tiền bên mình; rằng cô ta đã giấu nó trong chiếc ghế dài; rằng vì sợ bị phát hiện nên cô ta đã hộc tốc chạy về nhà để lấy nó; rằng cô ta đã nhét nó vào trong áo cánh và giấu ở đó khi cuộc lục soát diễn ra. Tôi nói có đúng không, cô Clarke?”

Cô gái gạt nước mắt ngẩng đầu lên, gật nhẹ đầu với gương mặt thảm hại đẫm lệ.

“Đêm hôm đó cô Clarke đã đến tìm tôi. Cô ta ngụy trang bằng lý do là đến để báo cho tôi biết rằng bọc tiền mười nghìn đô la lại vừa biến mất một lần nữa. Lúc đó tôi đã biết chuyện đó qua điện thoại trước rồi, và tôi cũng biết chắc rằng cô ta đang mang theo số tiền đó trên người lúc bấy giờ. Cô ta vẫn đang giữ nó đấy. Cô chịu nộp lại chứ?”

Không nói một lời, cô gái lôi từ trong người ra bọc tiền, trị giá mười nghìn đô la. Thám tử Mallory cầm lấy nó, sững sờ ngẩn người trong giây lát, rồi chuyển nó cho Cỗ Máy Suy Lập, người đã đưa lên mũi ngửi.

“Mùi nước hoa hồng nồng nặc,” ông nói. Sau đó tiếp tục: “Cô Clarke cũng kể cho tôi nghe rằng cô ta từng làm việc tại một ngân hàng bị cướp với các tình tiết y hệt vụ này bởi một tên tên là William Dineen, và bày tỏ niềm tin rằng hắn có dính líu đến vụ này. Anh Hatch đã tìm ra tung tích của hai tên đồng của Dineen đang sinh sống ở Cambridge. Anh ấy đã tìm ra phòng của chúng và tiến hành lục soát, sau đó cung cấp địa chỉ cho phía cảnh sát.

Giờ thì, tại sao cô Clarke lại kể cho tôi nghe chuyện đó? Tôi đã cân nhắc mọi góc độ. Cô ta kể hoặc là để thành khẩn hỗ trợ nỗ lực tóm gọn tên trộm, hoặc là để đánh lạc hướng sự nghi ngờ sang một hướng khác. Với khối lượng thông tin mà tôi nắm giữ lúc bấy giờ, tôi suy luận rằng đó là để đánh lạc hướng nghi ngờ khỏi anh, anh Dunston, và có lẽ là cả chính cô ta nữa. Dineen đang ngồi tù, và hắn đã ở trong tù ba tháng trước khi vụ trộm này xảy ra; tôi tin là cô ta biết điều đó. Đồng của hắn chính là hai gã đàn ông đang ở căn phòng bên cạnh; chúng chính là những kẻ từng giúp sức cho Dineen trong vụ cướp ngân hàng Hartford với sự tiếp tay của cô Clarke; chúng cũng chính là những kẻ đã cướp Ngân hàng Quốc gia Ralston với sự tiếp tay của cô ta. Bản thân cô ta cũng từng vô tình ám chỉ về khoản tiền kiếm được từ vụ cướp Hartford khi thốt lên rằng mình không cần phải đi làm vất vả suốt hai năm kể từ khi rời ngân hàng Hartford cho đến lúc trở thành thư ký của ông Fraser.”

Một khoảng lặng trùm xuống. Cô Clarke ngồi sụt sùi khóc nức nở, trong khi Dunston đứng bên cạnh cô đăm đăm nhìn xuống mũi giày của mình. Một lúc sau, cô gái bình tĩnh hơn đôi chút.

“Cô Clarke, cô có muốn giải thích điều gì nữa không?” Cỗ Máy Suy Lập cất tiếng hỏi. Giọng ông dịu dàng, thậm chí còn mang phần cung kính.

“Không có gì cả,” cô nói, “ngoại trừ việc thừa nhận tất cả—tất cả mọi chuyện. Tôi chẳng có gì phải che giấu nữa. Tôi đến ngân hàng này, hệt như khi tôi đến ngân hàng ở Hartford, là với mục đích cướp bóc, nhờ sự giúp đỡ của những gã đàn ông ở phòng bên cạnh. Chúng tôi đã cộng tác với nhau nhiều năm trời. Chính tôi là kẻ vạch kế hoạch cho vụ cướp này; tôi có cơ hội, và tôi đã tận dụng nó để bôi dung dịch hóa học lên các ổ cắm của khung cửa sổ trong phòng anh West, thứ sẽ từ từ phá hủy lớp đá granite để tạo điều kiện giật tung các thanh sắt ra. Việc này mất tới vài tuần, nhưng tôi có thể tiếp cận căn phòng đó một cách an toàn từ phòng của ông Fraser.

Tôi có cơ hội để bỏ ngỏ khung cửa sổ và tôi đã làm thế. Tôi mặc trang phục của đàn ông và đi cùng hai gã đó đến ngân hàng. Chúng tôi trèo qua cửa sổ sau khi đã giật tung các thanh sắt. Bọn chúng tấn công người gác đêm và trói ông ta lại. Còn chiếc khăn tay của anh West, tôi tình cờ nhặt được trong văn phòng vào một buổi chiều cách đây một tháng rồi mang về nhà. Ở đó nó đã bám mùi nước hoa vì để chung trong ngăn kéo với đồ đạc của tôi. Vào đêm chúng tôi đến ngân hàng, tôi cần một thứ gì đó để quấn cổ nên đã lấy dùng. Tôi đã đánh rơi nó ở ngân hàng. Mọi chi tiết đều đã được chúng tôi bàn bạc kỹ lưỡng vào ban đêm khi tôi gặp bọn chúng.”

Cô dừng lại và ngước lên nhìn Dunston, một ánh nhìn kéo dài bịn rịn, khiến máu dồn cả lên mặt anh. Đó không phải là một sự van xin; đó chẳng là gì ngoài tình yêu của một người phụ nữ ẩn chứa trong lòng, hòa lẫn với sự tuyệt vọng cùng cực.

“Tôi dự định sẽ rời khỏi ngân hàng sau một thời gian ngắn,” cô nói tiếp. “Không phải ngay lập tức, vì tôi sợ điều đó sẽ gây sự chú ý, nhưng là sau vài tuần. Và hơn nữa, tôi cũng muốn vĩnh viễn biến mất khỏi tầm mắt của con người này,” cô chỉ tay về phía Dunston.

“Tại sao chứ?” anh hỏi.

“Bởi vì em yêu anh hơn bất kỳ người phụ nữ nào trên đời từng yêu một người đàn ông,” cô thổ lộ, “và em vốn không xứng đáng. Còn một lý do nữa... em đã kết hôn rồi. Gã đàn ông đó, Gustave Meyer, chính là chồng của em.”

Cô ngừng lời và luống cuống tháo chiếc ghim cài mạng che mặt ở cổ. Căn phòng chìm vào tĩnh mịch; Cỗ Máy Suy Lập với tay ra sau nhấc chiếc túi xách du lịch sờn cũ nãy giờ vẫn nằm yên bất động lên.

“Còn câu hỏi nào nữa không?” cuối cùng cô gái cất tiếng hỏi.

“Tôi nghĩ là không,” Cỗ Máy Suy Lập đáp.

“Và, anh Dunston, anh sẽ ghi nhận chút ít điều tốt đẹp nơi em chứ... chút điều tốt đẹp vì thực lòng em đã yêu anh?” cô khẩn khoản cầu xin.

“Lạy Chúa tôi!” anh thốt lên trong một cơn bộc phát cảm xúc bất ngờ.

“Cẩn thận!” Cỗ Máy Suy Lập gầm lên.

Ông đã thấy bàn tay cô gái phóng vút lên chiếc mũ, thấy nó bất ngờ giật mạnh ra, thấy một vật nhọn hoắt lóe lên trước ngực. Nhưng đã quá muộn rồi. Cô đã đâm thẳng chiếc trâm cài mũ dài và to bản xuyên qua ngực, thủng cả tim mình. Cô trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của người đàn ông mà cô yêu thương, mặc cho những giọt nước mắt của anh rơi lã chã trên gương mặt cô.

Thám tử Mallory xuất hiện trước mặt hai gã tù nhân ở căn phòng bên cạnh.

“Cô Clarke đã khai nhận rồi,” ông thông báo.

“Đúng là con ranh khốn kiếp!” Meyer thốt lên. “Ta biết thế nào có ngày cô ta cũng bán đứng chúng ta mà. Ta sẽ giết cô ta!”

“Không cần thiết phải làm thế nữa đâu,” Mallory đáp gọn.

* * * * *

Trong căn phòng nơi thi thể cô gái đang nằm, Cỗ Máy Suy Lập dùng chân đẩy chiếc túi xách sờn cũ về phía Chủ tịch Fraser và West.

“Số tiền ở trong đó đấy,” ông nói.

“Ở đâu... làm sao mà anh lấy lại được nó hay vậy?”

“Hãy hỏi anh Hatch ấy.”

“Giáo sư Van Dusen bảo tôi lục soát phòng của hai tên đó, tìm cho ra chiếc túi xách hoặc vật dụng nào trông tả tơi nhất mà lại được khóa kỹ lưỡng, rồi mang về cho ngài ấy. Tôi... tôi đã làm vậy. Tôi tìm thấy nó dưới gầm giường, nhưng hoàn toàn chẳng hay biết bên trong có gì cho đến khi ngài ấy mở tung nó ra.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.