Dưới đây là những sự kiện có thật trong vụ án, thoạt đầu được biết đến qua Giáo sư Augustus S. F. X. Van Dusen, một nhà khoa học kiêm nhà luận lý học. Sau khi nghe chính nạn nhân thuật lại ngọn nguồn vấn đề, ông đã tuyên bố rằng đây là một trong những vụ kỳ thú nhất mà ông từng tiếp nhận, và rằng——
Nhưng hãy để tôi bắt đầu từ đầu:
Cỗ Máy Tư Duy đang ở trong phòng thí nghiệm nhỏ tại căn hộ khiêm nhường của mình vào lúc hai giờ chiều. Martha, người đầy tớ duy nhất của vị giáo sư, xuất hiện ở cửa với vẻ mặt bối rối hằn sâu những nếp nhăn.
"Thưa ngài, có một vị khách muốn gặp ngài," bà nói.
"Tên gì?" Cỗ Máy Tư Duy hỏi mà không ngoảnh đầu lại.
"Ông ấy... ông ấy không xưng tên, thưa ngài," bà lắp bắp.
"Ta đã dặn Martha luôn phải hỏi tên khách đến thăm cơ mà."
"Thưa ngài, tôi có hỏi tên ông ấy, và... và ông ấy bảo không biết."
Cỗ Máy Tư Duy vốn chẳng bao giờ ngạc nhiên, thế nhưng lúc này ông lại quay phắt sang nhìn Martha đầy vẻ khó hiểu và nheo mắt giận dữ qua cặp kính dày cộp.
"Không biết cả tên của chính mình sao?" ông lặp lại. "Trời ạ! Thật là bất cẩn! Mời vị khách vào phòng tiếp khách ngay lập tức."
Cứ như thế, chẳng cần thêm chút dạo đầu nào cho rắc rối, Cỗ Máy Tư Duy bước sang căn phòng bên cạnh. Một người đàn ông lạ mặt đứng dậy bước tới. Anh ta cao rác, có lẽ chừng ba mươi lăm tuổi, cạo râu nhẵn nhụi và mang gương mặt sắc sảo, nhanh nhẹn của một người từng trải chốn thương trường. Anh ta hẳn đã rất khôi ngô nếu không có những quầng thâm sẫm màu dưới mắt và sắc thái tái nhợt bất thường trên khuôn mặt. Anh ta ăn mặc vô cùng chỉnh tề từ đầu đến chân; tóm lại là một người dễ thu hút sự chú ý.
Trong khoảnh khắc, anh ta tò mò nhìn nhà khoa học; có lẽ trong phong thái ấy phảng phất một chút kinh ngạc lịch sự. Anh ta chăm chú quan sát chiếc đầu to lớn với mái tóc bù xù ngả vàng, rồi cũng nhận ra đôi vai gầy đang rũ xuống. Cứ thế, họ đứng đối mặt nhau trong giây lát, người đàn ông lạ mặt cao lớn đến mức khiến Cỗ Máy Tư Duy trông như một chú lùn khi đứng cạnh bên.
"Sao nào?" vị giáo sư hỏi.
Người lạ mặt quay người như định đi qua đi lại căn phòng, nhưng rồi thay vào đó, anh ta thả mình xuống chiếc ghế mà vị giáo sư vừa chỉ.
"Tôi đã nghe rất nhiều điều về Giáo sư," anh bắt đầu bằng một giọng ôn hòa, "và cuối cùng tôi nảy ra ý định đến tìm ngài để xin lời khuyên. Tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô cùng kỳ quái... và tôi không hề điên. Xin ngài đừng nghĩ thế. Nhưng nếu tôi không tìm ra lối thoát cho hoàn cảnh trớ trêu kinh hoàng này, chắc chắn tôi sẽ phát điên mất. Ngay lúc này đây, thần kinh tôi đã suy sụp; tôi không còn là chính mình nữa."
"Câu chuyện của anh thế nào? Nó ra sao? Tôi có thể giúp gì cho anh?"
"Tôi đã mất tích, mất tích một cách tuyệt vọng," người lạ mặt tiếp lời. "Tôi không hề biết nhà mình ở đâu, công việc kinh doanh ra sao, thậm chí cả tên của chính mình. Tôi hoàn toàn mù tịt về bản thân hay cuộc đời mình; nó đã từng ra sao hoặc có thể ra sao trước thời điểm bốn tuần trước. Tôi đang tìm kiếm ánh sáng để xác định danh tính của mình. Giờ thì, nếu có bất kỳ khoản phí nào..."
"Đừng bận tâm đến chuyện đó," vị giáo sư ngắt lời, mắt ông đăm đăm nhìn thẳng vào đôi mắt của vị khách.
"Anh biết những gì? Kể cho tôi nghe tất cả từ khoảng thời gian mà anh bắt đầu có ký ức."
Ông ngả người ra sau ghế, ánh mắt vẫn đăm đăm hướng lên trên. Người lạ mặt đứng dậy, đi qua đi lại trong phòng vài bận rồi lại thả mình xuống ghế.
"Thật là hoàn toàn không thể hiểu nổi," anh ta nói. "Y như thể tôi, một kẻ đã trưởng thành, bỗng được sinh ra vào một thế giới mà tôi chẳng biết gì ngoài ngôn ngữ của nó. Những thứ thông thường như ghế, bàn và những vật đại loại như thế thì vô cùng quen thuộc, nhưng tôi là ai, tôi đến từ đâu, tại sao tôi lại đến đây—về những điều này tôi hoàn toàn mù tịt. Tôi sẽ kể cho ngài nghe đúng theo những ấn tượng ùa đến với tôi khi tôi tỉnh giấc vào một buổi sáng, cách đây bốn tuần."
"Chắc là khoảng tám hoặc chín giờ gì đó. Tôi đang ở trong một căn phòng. Tôi nhận ra ngay lập tức đó là một khách sạn, nhưng không có lấy một chút manh mối nào về việc làm sao mình lại ở đó, hay việc mình từng nhìn thấy căn phòng ấy trước kia. Thậm chí tôi còn chẳng nhận ra quần áo của chính mình khi bắt đầu thay đồ. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ; khung cảnh hoàn toàn xa lạ với tôi."
"Tôi ở trong phòng độ nửa tiếng đồng hồ, vừa mặc quần áo vừa tự hỏi chuyện này có nghĩa là gì. Rồi đột nhiên, giữa lúc đang lo lắng đủ điều, tôi sực nhận ra rằng mình không biết tên của chính mình, nơi mình sinh sống hay bất cứ điều gì về bản thân. Tôi không biết mình đang ở khách sạn nào. Trong nỗi hoảng sợ, tôi nhìn vào chiếc gương. Gương mặt phản chiếu lại không phải là gương mặt tôi quen biết. Trông nó không giống mặt của một kẻ xa lạ; đơn giản là nó không phải là gương mặt tôi từng thấy."
"Chuyện đó thật khó tin. Sau đó, tôi bắt đầu lục soát quần áo của mình để tìm kiếm bất kỳ dấu vết nào về thân thế. Tôi chẳng tìm thấy gì có thể làm mình sáng tỏ—không một mảnh giấy vụn nào, không có danh thiếp cá nhân hay danh thiếp làm ăn."
"Anh có đồng hồ không?" Cỗ Máy Tư Duy hỏi.
"Không."
"Còn tiền nong?"
"Có, tiền chứ," người lạ đáp. "Có một bọc hơn mười nghìn đô-la trong túi áo tôi, toàn tờ mệnh giá một trăm đô. Của ai hoặc từ đâu tới thì tôi không biết. Tôi đã sống bằng số tiền đó từ dạo ấy, và sẽ tiếp tục dùng nó, nhưng tôi chẳng biết nó có phải của mình không. Tôi biết đó là tiền khi nhìn thấy nó, nhưng chẳng hề nhớ mình từng trông thấy đồng tiền nào trước đó."
"Còn đồ trang sức nào không?"
"Cặp khuy măng-sét này," và người lạ trưng ra một cặp khuy mà anh ta rút từ trong túi áo ra.
"Nói tiếp đi."
"Cuối cùng tôi cũng mặc xong quần áo và xuống quầy lễ tân. Mục đích của tôi là tìm tên khách sạn và xem mình là ai. Tôi biết mình có thể tìm hiểu vài điều từ sổ đăng ký khách sạn mà không gây chú ý hay khiến ai nghĩ mình điên. Tôi đã ghi nhớ số phòng của mình. Đó là phòng hai mươi bảy."
"Tôi lướt qua sổ đăng ký khách sạn một cách dửng dưng. Tôi thấy mình đang ở Khách sạn Yarmouth tại Boston. Tôi dò kỹ các trang cho đến khi thấy số phòng của mình. Ngay cạnh số phòng ấy là một cái tên—John Doane, nhưng ở mục tên thành phố thì chỉ có một dấu gạch ngang."
"Anh có nhận thức được rằng hoàn toàn có khả năng John Doane chính là tên của anh không?" Cỗ Máy Tư Duy hỏi.
"Tất nhiên," câu trả lời là vậy. "Nhưng tôi không có chút ký ức nào về việc từng nghe cái tên đó trước đây. Sổ đăng ký này cho thấy tôi đã đến khách sạn vào tối hôm trước—hoặc đúng hơn là John Doane đã tới và được xếp vào Phòng 27, và có lẽ tôi chính là John Doane đó. Từ phút ấy cho đến nay, nhân viên khách sạn vẫn gọi tôi là John Doane, cả những người khác mà tôi gặp trong suốt bốn tuần kể từ khi tỉnh giấc cũng vậy."
" nét chữ có gợi lại cho anh điều gì không?"
"Hoàn toàn không."
"Nó có giống nét chữ anh đang viết bây giờ không?"
"Giống hệt, theo như tôi thấy."
"Anh có hành lý hay vé gửi hành lý nào không?"
"Không. Tất cả những gì tôi có chỉ là số tiền và bộ quần áo đang mặc trên người. Tất nhiên, từ đó đến nay tôi đã mua sắm những vật dụng thiết yếu."
Cả hai trầm ngâm hồi lâu và cuối cùng người lạ mặt—Doane—đứng dậy, lại bắt đầu bước đi đầy bồn chồn.
"Đó là một bộ âu phục may đo chứ?" nhà khoa học hỏi.
"Vâng," Doane đáp nhanh. "Tôi hiểu ý ngài. Trang phục may đo thường có những dải vải lanh khâu bên trong các túi, trên đó ghi tên nhà sản xuất và tên người được may, kèm theo cả ngày tháng. Tôi đã tìm những thứ đó. Chúng đã bị tháo ra, bị cắt xén rồi."
"A!" Cỗ Máy Tư Duy thốt lên bất ngờ. "Chắc áo lót của anh cũng chẳng có nhãn mác giặt là nào phải không?"
"Không. Tất cả đều mới tinh."
"Có tên nhà sản xuất trên đó không?"
"Không. Cái đó cũng bị cắt mất rồi."
Doane cứ đi qua đi lại trong phòng tiếp khách; vị giáo sư ngả người ra sau ghế.
"Anh có biết hoàn cảnh mình đến khách sạn không?" cuối cùng ông hỏi.
"Có. Tôi dò hỏi một cách cực kỳ thận trọng, ngài có thể đoán chắc điều đó, tôi bóng gió với người tiếp tân rằng mình đã say rượu để anh ta không nghĩ tôi điên. Anh ta bảo tôi đến vào khoảng mười một giờ đêm, không mang hành lý, trả tiền phòng bằng tờ một trăm đô-la mà anh ta đã đổi tiền thừa, ký tên rồi lên lầu. Anh ta bảo ngoài việc hỏi thuê phòng, tôi chẳng nói gì khác mà anh ta có thể nhớ."
"Cái tên Doane có vẻ quen thuộc với anh không?"
"Không."
"Anh có thể nhớ ra người vợ hay những đứa con nào không?"
"Không."
"Anh có nói được ngoại ngữ nào không?"
"Không."
"Bây giờ đầu óc anh đã minh mẫn chưa? Anh có nhớ được mọi việc không?"
"Tôi nhớ hoàn toàn rành mạch mọi sự việc kể từ khi tỉnh dậy trong khách sạn," Doane nói. "Tôi có cảm giác mình nhớ mọi thứ một cách cực kỳ rõ ràng, và chẳng hiểu sao tôi lại gán tầm quan trọng lớn nhất cho cả những sự việc vụn vặt nhất."
Cỗ Máy Tư Duy đứng dậy và ra hiệu cho Doane ngồi xuống. Anh ta mệt mỏi thả người xuống ghế. Sau đó, những ngón tay dài, thon thả của nhà khoa học lướt nhẹ nhàng, khéo léo qua mái tóc đen rậm của vị khách. Cuối cùng, chúng rời khỏi mái tóc, di chuyển dọc theo phần hàm săn chắc; từ đó chúng chuyển sang tay, bóp nhẹ vào phần cơ bắp cuồn cuộn, lực lưỡng. Cuối cùng, đôi bàn tay trắng trẻo, cân đối được săm soi một cách tỉ mỉ. Một chiếc kính lúp được sử dụng để hỗ trợ việc kiểm tra này. Cuối cùng, Cỗ Máy Tư Duy đăm đăm nhìn vào đôi mắt đầy lo âu, chuyển động liên hồi của người lạ mặt.
"Trên người anh có vết tích nào không?" cuối cùng ông hỏi.
"Không," Doane đáp. "Tôi đã nghĩ đến điều đó và tìm kiếm suốt một tiếng đồng hồ xem có dấu vết nào không. Chẳng có gì cả—chẳng có gì." Đôi mắt anh ta lóe lên đôi chút và cuối cùng, trong một cơn bộc phát căng thẳng, anh ta chật vật đứng phắt dậy. "Lạy Chúa!" anh thốt lên. "Chẳng có gì ngài có thể làm được sao? Rốt cuộc tất cả chuyện này là thế nào vậy?"
"Dường như đây là một dạng mất trí nhớ vô cùng kỳ lạ," Cỗ Máy Tư Duy đáp. "Đó không phải là căn bệnh hiếm gặp ở những người có tâm trí và thần kinh bị vắt kiệt. Anh đơn giản là đã đánh mất chính mình—đánh mất danh tính. Nếu đúng là chứng mất trí nhớ, anh sẽ hồi phục theo thời gian. Khi nào thì tôi không rõ."
"Và trong lúc chờ đợi thì sao?"
"Đưa tôi xem số tiền anh tìm thấy."
Với đôi bàn tay run rẩy, Doane rút ra một xấp tiền lớn, chủ yếu là các tờ mệnh giá một trăm đô, nhiều tờ còn mới tinh. Cỗ Máy Tư Duy săm soi chúng một cách tỉ mỉ, rồi cuối cùng ghi chép vài dòng lên một mẩu giấy. Số tiền sau đó được trả lại cho Doane.
"Giờ tôi phải làm gì đây?" người kia hỏi.
"Đừng lo lắng," nhà khoa học khuyên. "Tôi sẽ làm những gì có thể."
"Và... hãy nói cho tôi biết tôi là ai và cái gì chứ?"
"Ồ, tôi có thể tìm ra điều đó một cách ổn thỏa thôi," Cỗ Máy Tư Duy nhận xét. "Nhưng vẫn có khả năng là anh sẽ chẳng tài nào nhớ lại nổi dẫu tôi có kể cho anh nghe mọi điều về bản thân anh đi chăng nữa."
Khi John Doane từ Xứ Sở Vô Định—xét về mọi mặt thực tế—rời khỏi nhà của Cỗ Máy Tư Duy, anh mang theo những chỉ dẫn đủ loại. Đầu tiên, anh phải kiếm một tấm bản đồ nước Mỹ thật lớn và nghiên cứu thật kỹ, đọc đi đọc lại và phát âm thật to tên của mọi thành phố, thị trấn và làng mạc mà anh tìm thấy. Sau một giờ làm việc đó, anh sẽ lấy một cuốn danh bạ thành phố và đọc to tên các cư dân khi dò qua chúng. Kế đó, anh phải lập ra danh sách các ngành nghề và lĩnh vực thương mại bậc cao khác nhau, rồi phát âm chúng lên. Tất cả những điều này rõ ràng nhằm mục đích đánh thức bộ não đang ngủ mê. Sau khi Doane đi rồi, Cỗ Máy Tư Duy liền nhấc điện thoại gọi cho phóng viên Hutchinson Hatch.
"Đến đây ngay lập tức," ông yêu cầu. "Có một việc sẽ khiến anh thấy hứng thú đấy."
"Một vụ án bí ẩn à?" Hatch hào hứng gặng hỏi.
"Một trong những vấn đề kỳ thú nhất từng lọt vào tầm ngắm của tôi," nhà khoa học đáp.
Chỉ ít phút sau, Hatch đã được dẫn vào nhà. Anh ta trông giống như một dấu chấm hỏi sống di động, và phải dùng hết sức mới kìm nén được một tràng câu hỏi đang chực trào. Cuối cùng, Cỗ Máy Tư Duy cũng kể lại những gì ông biết.
"Bây giờ có vẻ như," Cỗ Máy Tư Duy nói, và ông nhấn mạnh từ "có vẻ như", "gã đàn ông đó thực sự không biết hắn là ai. Tôi đã kiểm tra hắn rất kỹ. Tôi xem xét vùng đầu của hắn xem có dấu hiệu lõm hay bất thường nào không. Chẳng có gì xuất hiện cả. Tôi kiểm tra cơ bắp của hắn. Hắn có phần bắp tay cực kỳ lực lưỡng, rõ ràng hiện tại hoặc trước kia từng chơi thể thao. Bàn tay hắn trắng trẻo, được chăm sóc kỹ lưỡng và không có lấy một vết sẹo. Đó không phải là bàn tay của một kẻ từng làm việc chân tay. Số tiền trong túi hắn càng củng cố thêm thực tế rằng hắn không thuộc tầng lớp lao động đó."
"Vậy hắn là ai? Luật sư? Chủ ngân hàng? Nhà tài phiệt? Là gì chứ? Hắn có thể là bất kỳ ai trong số đó, thế nhưng hắn để lại cho tôi ấn tượng thiên về giới thương gia hơn là giới hành nghề chuyên nghiệp. Hắn có chiếc cằm vuông vức, rắn rỏi—cái cằm của một kẻ chiến đấu—và phong thái của hắn tạo cho người ta cảm giác rằng dù làm bất cứ việc gì, hắn cũng luôn đứng ở vị trí hàng đầu. Đã đứng ở vị trí hàng đầu, tự khắc hắn sẽ có xu hướng trôi dạt về một thành phố lớn. Hắn đích thị là một người thành thị tiêu chuẩn."
"Bây giờ, xin anh hãy giúp tôi, hãy liên lạc với các cộng sự của anh ở những thành phố lớn để xem cái tên John Doane có xuất hiện trong cuốn danh bạ nào không. Hiện hắn có ở nhà không? Hắn có gia đình không? Mọi thứ về hắn."
"Anh tin rằng John Doane chính là tên của hắn chứ?" phóng viên hỏi.
"Chẳng có lý do gì mà lại không phải," Cỗ Máy Tư Duy nói. "Tuy nhiên cũng có thể không phải."
"Thế còn việc dò la trong thành phố này thì sao?"
"Hắn khó lòng là người bản địa," câu trả lời là vậy. "Hắn đã lang thang trên đường phố suốt bốn tuần qua, và nếu từng sống ở đây, hắn chắc chắn đã gặp ai đó quen biết mình."
"Nhưng còn số tiền thì sao?"
"Tôi có lẽ sẽ lần ra tung tích hắn thông qua số tiền đó," Cỗ Máy Tư Duy nói. "Vụ việc hiện tại chưa có gì là sáng tỏ đối với tôi, nhưng tôi chợt nghĩ rằng hắn là một nhân vật có máu mặt, và rất có thể vì lý do nào đó mà người ta cần phải tống khứ hắn đi một thời gian."
"Chà, nếu đó chỉ là chứng mất trí nhớ thông thường như ngài nói," phóng viên chen vào, "thì có vẻ khá khó để tưởng tượng rằng cơn phát bệnh lại xảy ra đúng vào lúc người ta cần tống khứ hắn đi."
"Tôi bảo là _có vẻ_ giống mất trí nhớ cơ mà," nhà khoa học cộc cằn đáp. "Người ta biết có những loại thuốc có thể tạo ra hiệu ứng y hệt nếu được sử dụng đúng cách."
"Ồ," Hatch thốt lên. Anh bắt đầu lờ mờ hiểu ra.
"Có một loại thuốc đặc biệt, được sản xuất ở Ấn Độ, trông không khác mấy so với cội gai dầu. Trong một trường hợp thế này, điều gì cũng có thể xảy ra cả. Ngày mai tôi muốn nhờ anh đưa ông Doane đi dạo qua khu tài chính, như một cuộc thử nghiệm. Khi tới đó, tôi muốn anh đặc biệt tìm cách đưa ông ấy đến nơi có âm thanh của chiếc 'máy điện báo giá chứng khoán'. Đó sẽ là một thí nghiệm thú vị đấy."
Phóng viên rời đi và Cỗ Máy Tư Duy gửi một bức điện tín đến Ngân hàng Quốc gia Blank ở Butte, Montana:
"Các người đã phát hành những tờ một trăm đô-la, sê-ri B, từ số 846380 đến hết 846395 cho ai? Xin hãy trả lời."
Đã mười giờ ngày hôm sau khi Hatch đến gặp Cỗ Máy Tư Duy. Ở đó, anh được giới thiệu với John Doane, con người đã đánh mất ký ức. Cỗ Máy Tư Duy đang đặt câu hỏi cho ông Doane thì Hatch được dẫn vào.
"Tấm bản đồ không gợi lại điều gì sao?"
"Không."
"Montana, Montana, Montana," nhà khoa học lặp đi lặp lại một cách đều đều; "hãy nghĩ về nó xem. Butte, Montana."
Doane lắc đầu đầy tuyệt vọng và buồn bã.
"Cao bồi, cao bồi. Anh từng thấy cao bồi bao giờ chưa?" Lại một cái lắc đầu.
"Chó sói thảo nguyên—loại giống như sói ấy—chó sói thảo nguyên. Anh không nhớ mình từng thấy con nào sao?"
"Tôi e là vô vọng rồi," người kia nhận xét.
Có một nốt bực bội vượt mức bình thường trong giọng nói của Cỗ Máy Tư Duy khi ông quay sang Hatch.
"Anh Hatch, anh có phiền đi dạo qua khu tài chính cùng ông Doane không?" ông hỏi. "Xin hãy đến những nơi tôi đã gợi ý nhé."
Thế là phóng viên và Doane cùng nhau bước ra ngoài, rảo bước qua khu tài chính đông đúc, hối hả và nhộn nhịp. Nơi đầu tiên họ ghé thăm là một căn phòng riêng nơi các bảng niêm yết giá thị trường được trưng bày trên một tấm bảng đen. Ông Doane tỏ ra hứng thú, nhưng khung cảnh dường như chẳng gợi lên trong đầu anh điều gì.
Anh nhìn ngắm tất cả hệt như bất kỳ kẻ tha hương nào. Một lúc sau họ bước ra ngoài. Đột nhiên một người đàn ông chạy ào về phía họ—rõ ràng là một tay môi giới.
"Có chuyện gì thế?" một kẻ khác hỏi.
"Đồng ở Montana sụt giá thê thảm rồi," câu trả lời vang lên.
"_Đồng!_ _Đồng!_" Doane bất chợt thốt lên thở hốc.
Hatch liền ngoảnh phắt lại nhìn người đi cùng. Gương mặt Doane lúc bấy giờ thật đáng nghiên cứu. Trên đó phảng phất sự bừng tỉnh một nửa cùng một nếp nhăn sâu đầy bối rối, thậm chí lấp ló cả vẻ hào hứng.
"Đồng!!" anh ta lặp lại.
"Từ đó có ý nghĩa gì với anh không?" Hatch nhanh chóng hỏi. "Đồng—kim loại ấy mà, anh biết đấy."
"Đồng, đồng, đồng," người kia lặp lại. Rồi, dưới cái nhìn của Hatch, biểu cảm kỳ lạ ấy phai nhạt dần; sự tuyệt vọng tột cùng lại tràn ngập trở lại.
Có rất nhiều nhân vật sừng sỏ hoạt động trên Phố Wall—một số trong số họ kinh doanh đồng. Hatch dẫn thẳng Doane đến văn phòng của một trong những nhân vật đó và giới thiệu anh với một đối tác làm ăn ở đây.
"Chúng tôi muốn bàn đôi chút về chuyện mua bán đồng," Hatch giải thích, mắt vẫn chăm chú quan sát người đi cùng.
"Anh muốn mua hay bán?" tay môi giới hỏi.
"Bán," Doane thốt lên bất ngờ. "Bán, bán, bán đồng đi. Đúng rồi—đồng đấy."
Anh ta quay sang Hatch, ngẩn ngơ nhìn chằm chằm một lúc, một vẻ tái mét chết chóc bao trùm lấy khuôn mặt, rồi với đôi tay giơ cao, anh ngã quỵ bất tỉnh.
Vẫn trong trạng thái bất tỉnh, người đàn ông bí ẩn được khiêng về nhà Cỗ Máy Tư Duy và đặt nằm dài trên một chiếc ghế bành dài. Cỗ Máy Tư Duy đang cúi người kiểm tra anh, lần này trong vai trò một vị bác sĩ. Hatch đứng cạnh bên, tò mò quan sát.
"Tôi chưa từng thấy chuyện gì thế này bao giờ," Hatch nhận xét. "Anh ta vừa vung tay lên là gục xuống luôn. Từ lúc đó đến giờ vẫn chưa tỉnh lại."
"Có thể khi tỉnh lại, anh ta sẽ khôi phục được trí nhớ, và trong trường hợp đó, anh ta sẽ hoàn toàn không còn chút ký ức nào về tôi và anh nữa," Cỗ Máy Tư Duy giải thích.
Cuối cùng Doane cựa quậy đôi chút, và nhờ được tiêm chất kích thích, sắc hồng bắt đầu len lỏi trở lại trên khuôn mặt tái nhợt của anh ta.
"Chính xác thì những gì đã được nói trước khi anh ta ngất là gì vậy, anh Hatch?" vị giáo sư hỏi.
Hatch giải thích, thuật lại cuộc trò chuyện theo trí nhớ của mình.
"Và anh ta nói 'bán'," Cỗ Máy Tư Duy trầm ngâm. "Nói cách khác, anh ta nghĩ—hoặc tưởng tượng mình biết—rằng giá đồng sắp sụt giảm. Tôi đoán câu nói đầu tiên anh ta nghe được là đồng đã sụt giá thê thảm—xuống dốc, ý tôi là vậy phải không?"
"Vâng," phóng viên đáp.
Nửa giờ sau, John Doane ngồi dậy trên ghế bành và đưa mắt nhìn quanh phòng.
"A, thưa Giáo sư," anh lên tiếng. "Tôi vừa ngất đi phải không?"
Cỗ Máy Tư Duy cảm thấy thất vọng vì bệnh nhân của mình vẫn chưa lấy lại được trí nhớ cùng lúc với ý thức. Câu nói ấy cho thấy anh ta vẫn đang ở trong tình trạng tâm lý cũ—một con người đã mất tích.
"Bán đồng đi, bán, bán, bán," Cỗ Máy Tư Duy ra lệnh với giọng điệu quả quyết.
"Vâng, vâng, bán," câu trả lời là vậy.
Bóng dáng của một cuộc đấu tranh tư tưởng dữ dội đang hằn lên khuôn mặt Doane; anh đang cố gắng gợi lại một điều gì cứ mãi trốn tránh tâm trí mình.
"Đồng, đồng," nhà khoa học lặp lại, và ông chìa ra một đồng xu đồng.
"Vâng, đồng," Doane nói. "Tôi biết. Một đồng xu."
"Tại sao anh lại nói là bán đồng?"
"Tôi không biết," câu trả lời vang lên đầy mệt mỏi. "Có vẻ như đó hoàn toàn là một hành động vô thức. Tôi không biết nữa."
Anh ta bồn chồn đan chặt rồi lại buông thõng đôi bàn tay, ngồi thẫn thờ nhìn đăm đăm xuống sàn nhà một hồi lâu. Cuộc chiến giành giật lại ký ức diễn ra thật kịch tính.
"Tôi có cảm giác," một lúc sau Doane giải thích, "rằng từ 'đồng' đã chạm đến một sợi dây rung cảm nào đó trong trí nhớ của tôi, nhưng rồi nó lại vụt biến mất. Có lẽ vào thời điểm nào đó trong quá khứ, tôi hẳn đã từng có dính líu đến chuyện buôn bán đồng."
"Đúng thế," Cỗ Máy Tư Duy nói, và ông chà mạnh đôi bàn tay thon thả của mình vào nhau. "Giờ thì anh đang dần hồi phục lại rồi đấy."
Những lời của ông bị cắt ngang bởi sự xuất hiện của Martha ở cửa với một bức điện tín. Cỗ Máy Tư Duy vội vã bóc ra đọc. Những gì đập vào mắt lại khiến ông thêm phần bối rối.
"Trời đất quỷ thần ơi! Thật quá đỗi bất thường!" ông thốt lên. "Có chuyện gì thế ạ?" Hatch tò mò hỏi.
Nhà khoa học quay sang phía Doane.
"Anh có vô tình nhớ ra Preston Bell là ai không?" ông gặng hỏi, giọng nhấn mạnh cái tên một cách dồn dập.
"Preston Bell?" người kia lặp lại, và một lần nữa cuộc đấu tranh tư tưởng lại hiện rõ trên mặt. "Preston Bell!"
"Giao dịch viên của Ngân hàng Quốc gia Blank ở Butte, Montana ấy?" người kia thúc giục, giọng vẫn đầy quả quyết. "Giao dịch viên Bell?"
Ông chồm người về phía trước đầy số nóng và quan sát nét mặt bệnh nhân; Hatch vô thức cũng làm theo. Có khoảnh khắc tưởng chừng như anh ta sắp nhớ ra được, và nhìn thấy điều đó, Cỗ Máy Tư Duy liền tìm cách khơi gợi lại trọn vẹn trí nhớ.
"Bell, giao dịch viên, đồng," ông lặp đi lặp lại nhiều lần.
Tia sáng bừng tỉnh vừa thoáng hiện trên gương mặt Doane bỗng vụt tắt, nhường chỗ cho sự mệt mỏi vô tận—sự mệt mỏi của một kẻ đang lâm bệnh.
"Tôi không nhớ," cuối cùng anh ta nói. "Tôi mệt lắm rồi."
"Hãy nằm dài lên ghế mà ngủ đi," Cỗ Máy Tư Duy khuyên, rồi ông đứng dậy xóc lại chiếc gối. "Giấc ngủ lúc này sẽ giúp ích cho anh hơn bất cứ thứ gì khác. Nhưng trước khi nằm xuống, xin hãy đưa tôi xem vài tờ trong số những tờ một trăm đô-la mà anh đã tìm thấy."
Doane chìa xấp tiền ra, rồi chìm vào giấc ngủ say hệt như một đứa trẻ. Cảnh tượng ấy thật kỳ lạ đối với Hatch, người nãy giờ vẫn là một khán giả đầy hứng thú.
Cỗ Máy Tư Duy lật giở xấp tiền và cuối cùng chọn ra mười lăm tờ—những tờ còn mới và phẳng lì. Đó là những tờ do Ngân hàng Quốc gia Blank ở Butte, Montana phát hành. Cỗ Máy Tư Duy săm soi số tiền ấy một cách cận cảnh, rồi trao nó cho Hatch.
"Anh thấy mấy tờ này trông có giống tiền giả không?" ông hỏi.
"Tiền giả?" Hatch há hốc miệng. "Tiền giả á?" anh lặp lại. Anh cầm lấy những tờ tiền và xem xét. "Theo như tôi thấy thì chúng có vẻ là thật," anh tiếp tục, "dù tôi chưa có đủ kinh nghiệm với các tờ một trăm đô-la để mà đứng ra làm chuyên gia được."
"Anh có biết vị chuyên gia nào không?"
"Có."
Hãy đến gặp ông ta ngay lập tức. Mang theo mười lăm tờ này và nhờ ông ta thẩm định từng tờ một. Hãy nói với anh ta rằng anh có lý do—lý do cực kỳ xác đáng—để tin rằng chúng là tiền giả. Khi nào ông ta đưa ra kết luận, hãy quay lại gặp tôi."
Hatch rời đi với xấp tiền trong túi. Khi đó, Cỗ Máy Tư Duy viết một bức điện tín khác gửi cho Chủ tịch kiêm Giao dịch viên Bell của Ngân hàng Butte. Nội dung như sau:
"Xin hãy gửi cho tôi chi tiết đầy đủ về cách thức mà số tiền đã mô tả trước đó bị mất, kèm theo tên của tất cả những ai có thể biết về vụ việc này. Rất quan trọng đối với ngân hàng của anh và công lý. Sẽ trao đổi chi tiết khi nhận được hồi âm của anh."
Sau đó, trong lúc vị khách đang ngủ say, Cỗ Máy Tư Duy lặng lẽ tháo giày của anh ta ra để kiểm tra. Ông tìm thấy cái tên nhà sản xuất đã mòn gần hết. Miếng lót giày được đưa vào soi dưới kính lúp, để rồi sau đó Cỗ Máy Tư Duy đứng lên với một nét mặt nhẹ nhõm lộ rõ.
"Tại sao trước đó mình lại không nghĩ ra nhỉ?" ông tự lẩm bẩm.
Rồi những bức điện tín khác lần lượt bay về miền Tây. Một bức gửi cho một thợ đóng giày chuyên theo đơn đặt hàng ở Denver, Colorado:
"Anh đã bán cho nhà tài phiệt hay chủ ngân hàng nào trong vòng ba tháng qua một đôi giày hiệu Senate, da bê kiểu Blucher, cỡ số tám, phom D chưa? Anh có biết John Doane không?"
Bức điện thứ hai được gửi cho Cảnh sát trưởng Denver. Nội dung là:
"Xin hãy đánh điện báo xem có nhà tài phiệt, chủ ngân hàng hay doanh nhân nào rời khỏi thành phố của các ông trong năm tuần trở lên, có lẽ là để đi công tác không. Các ông có biết John Doane không?"
Rồi Cỗ Máy Tư Duy ngồi xuống chờ đợi. Cuối cùng chuông cửa reo lên và Hatch bước vào.
"Sao rồi?" nhà khoa học sốt sắng hỏi.
"Vị chuyên gia khẳng định đó không phải là tiền giả," Hatch đáp.
Lần này thì Cỗ Máy Tư Duy thực sự ngạc nhiên. Điều đó thể hiện rõ qua cái nhướng mày nhanh chóng, cái bậm môi bất chợt, và cử động chồm người lên của mái tóc vàng.
"Chà, chà, chà!" cuối cùng ông thốt lên. Rồi lại: "Chà, chà!"
"Có chuyện gì thế ạ?"
"Đây này," và Cỗ Máy Tư Duy tự tay cầm lấy những tờ một trăm đô-la. "Những tờ tiền này, mới tinh và phẳng lì, do Ngân hàng Quốc gia Blank ở Butte phát hành, và việc chúng mang số sê-ri liền kề cho thấy chúng được phát hành cho cùng một cá nhân vào cùng một thời điểm, có lẽ là cách đây chưa lâu. Không còn nghi ngờ gì về điều đó nữa. Các số sê-ri chạy từ 846380 đến 846395, đều thuộc sê-ri B."
"Tôi hiểu rồi," Hatch nói.
"Giờ thì đọc cái này đi," và nhà khoa học chìa cho phóng viên bức điện tín mà Martha mang vào ngay trước lúc Hatch rời đi khi nãy. Hatch đọc:
"Những tờ một trăm đô-la thuộc sê-ri B từ số 846380 đến 846395 do ngân hàng này phát hành không hề tồn tại. Chúng đã bị thiêu rụi trong vụ hỏa hoạn, cùng với hai mươi bảy tờ khác cũng thuộc sê-ri đó. Chính phủ đã được yêu cầu cấp phép để phát hành lại những số sê-ri này."
"Preston Bell, Giao dịch viên."
Phóng viên ngẩng đầu lên với ánh mắt đầy thắc mắc.
"Điều đó có nghĩa là," Cỗ Máy Tư Duy nói, "gã đàn ông này hoặc là một tên trộm, hoặc là nạn nhân của một trò bịp bợm tài chính nào đó."
"Trong trường hợp đó, liệu hắn có đúng là kẻ mà hắn tự nhận—một kẻ không biết gì về thân phận mình không?" phóng viên hỏi.
"Chuyện đó còn phải đợi xem đã."
Các sự kiện tiếp nối nhau với tốc độ chóng mặt trong vài giờ sau đó. Đầu tiên là bức thông điệp từ Cảnh sát trưởng Denver. Không có nhà tư bản hay nhà tài phiệt tầm cỡ nào vắng mặt ở Denver vào thời điểm đó, theo như những gì thuộc cấp của ông ta có thể xác minh. Việc tìm kiếm kỹ hơn có lẽ sẽ mang lại kết quả. Ông ta không biết John Doane nào cả. Cái tên John Doane duy nhất trong danh bạ là một tài xế xe tải.
Kế đến, từ Ngân hàng Quốc gia Blank gửi tới một bức điện tín khác ký tên "Preston Bell, Giao dịch viên", thuật lại chi tiết hoàn cảnh biến mất của những tờ một trăm đô-la. Ngân hàng Quốc gia Blank đã chuyển đến một trụ sở mới; trong vòng một tuần thì xảy ra hỏa hoạn thiêu rụi nó. Một vài bọc tiền, bao gồm cả một bọc các tờ một trăm đô-la, trong đó có số sê-ri mà Cỗ Máy Tư Duy đã chỉ định, đã bị thiêu cháy. Chủ tịch Harrison của ngân hàng đã lập tức làm bản cam kết trước Chính phủ rằng những tờ tiền này đã được để lại trong phòng làm việc của ông ta.
Cỗ Máy Tư Duy nghiên cứu kỹ bức điện tín này và thỉnh thoảng lại liếc nhìn nó trong lúc Hatch báo cáo tình hình. Báo cáo này nói về công việc của các cộng sự đang tìm kiếm tung tích John Doane. Họ đã tìm thấy rất nhiều người trùng tên và tường thuật chi tiết về từng người một. Từng người một, Cỗ Máy Tư Duy lắng nghe các bản báo cáo rồi lắc đầu.
Cuối cùng, ông lại quay trở lại với bức điện tín, và sau khi cân nhắc, ông gửi thêm một bức nữa—lần này là cho Cảnh sát trưởng Butte. Trong đó, ông đặt ra những câu hỏi sau:
"Đã từng có rắc rối tài chính nào ở Ngân hàng Quốc gia Blank chưa? Có vụ biển thủ hay thâm hụt nào xảy ra vào thời điểm nào không? Uy tín của Chủ tịch Harrison ra sao? Uy tín của Giao dịch viên Bell thế nào? Các ông có biết John Doane không?"
Đến hạn, câu trả lời đã đến. Nó ngắn gọn và đi thẳng vào trọng tâm. Nội dung như sau:
"Harrison gần đây đã biển thủ 175.000 đô-la rồi biến mất. Uy tín của Bell rất xuất sắc; hiện đang vắng mặt khỏi thành phố. Không biết John Doane nào cả. Nếu các ông có bất kỳ manh mối nào về Harrison, hãy đánh điện gấp."
Bức điện này đến ngay sau khi Doane tỉnh giấc, có vẻ như đã vô cùng sảng khoái, nhưng anh ta vẫn là anh ta—nghĩa là vẫn ở trong trạng thái đánh mất chính mình. Suốt một tiếng đồng hồ, Cỗ Máy Tư Duy dội vào anh ta vô số câu hỏi—đủ mọi thể loại, từ nghiêm túc, tôn giáo cho đến đôi khi có vẻ ngớ ngẩn. Chúng dường như chẳng hề khơi gợi được một chút ký ức nào, ngoại trừ khi cái tên Preston Bell được nhắc đến; lúc đó, vẻ mặt Doane lại xuất hiện biểu cảm kỳ lạ và bối rối ấy.
"Harrison—anh có biết hắn không?" nhà khoa học hỏi. "Chủ tịch Ngân hàng Quốc gia Blank ở Butte ấy?"
Đáp lại chỉ là một cái nhìn trân trân đầy ngơ ngác. Sau một hồi lâu như thế, Cỗ Máy Tư Duy chỉ thị cho Hatch và Doane đi dạo một chuyến. Ông vẫn nung nấu một tia hy vọng mong manh rằng sẽ có ai đó nhận ra Doane và bắt chuyện với anh. Khi họ lang thang vô định, có hai người đã chào hỏi Doane. Một người là gã đàn ông gật đầu chào rồi bước tiếp.
"Ai thế nhỉ?" Hatch nhanh chóng hỏi. "Anh có nhớ mình từng gặp hắn bao giờ chưa?"
"Ồ, có chứ," câu trả lời là vậy. "Hắn trọ cùng khách sạn với tôi. Hắn biết tôi là Doane."
Đúng sáu giờ kém một vài phút, khi đang chậm rãi bước đi, họ lướt qua một tòa cao ốc văn phòng lớn. Đi về phía họ là một người đàn ông ăn mặc lịch sự, năng nổ khoảng ba mươi lăm tuổi. Khi đến gần, anh ta lấy điếu xì-gà ra khỏi miệng.
"Chào Harry nhé!" anh ta thốt lên, và giơ tay ra định bắt tay Doane.
"Chào anh," Doane nói, nhưng trong giọng nói hoàn toàn không có chút dấu hiệu nhận ra người quen.
"Pittsburgh thế nào rồi?" người lạ hỏi.
"Ồ, chắc là ổn cả," Doane đáp, và trên trán anh lại hằn thêm những nếp nhăn của sự bối rối. "Xin phép anh, ông... ông đây... thực sự tôi đã quên béng mất tên anh..."
"Manning," người kia cười vang.
"Anh Hatch, đây là anh Manning."
Phóng viên hào hứng bắt tay Manning; anh nhận ra một chân trời khả năng mới vừa bất ngờ hé mở. Đây chính là một kẻ gọi Doane là Harry—lại còn cả Pittsburgh nữa chứ.
"Lần cuối tôi gặp anh là ở Pittsburgh phải không?" Manning vừa ron rả nói vừa dẫn đường bước vào một quán cà phê gần đó. "Trời ạ, ván bài đêm hôm đó thật căng thẳng làm sao! Anh có nhớ bộ bài ba đôi thông và đôi J mà tôi cầm không? Nó ngốn của tôi tận mười chín trăm đô-la đấy," anh ta nói thêm với vẻ mặt tiếc nuối.
"Có, tôi nhớ chứ," Doane đáp, nhưng Hatch thừa biết là anh ta chẳng nhớ gì sảng cả. Và trong khi đó, hàng ngàn câu hỏi đang sục sôi trong đầu vị phóng viên.
"Những ván bài đắt đỏ như thế có lẽ rất khó mà quên được," Hatch thản nhiên nhận xét. "Chuyện đó cách đây bao lâu rồi?"
"Ba năm rồi phải không Harry?" Manning hỏi.
"Chắc là thế," câu trả lời vang lên.
"Hai mươi tiếng đồng hồ ngồi bên bàn bạc," Manning nói, và anh ta lại vui vẻ cười lớn.
Bên trong quán cà phê, họ chọn một chiếc bàn ở góc khuất. Xung quanh không có ai khác. Khi người phục vụ đã đi khuất, Hatch chồm người về phía trước, nhìn thẳng vào mắt Doane.
"Tôi có thể hỏi vài câu chứ?" anh dò hỏi.
"Được chứ, được chứ," người kia hăng hái đáp.
"Chuyện... chuyện này là thế nào vậy?" Manning thắc mắc.
"Đó là một chuỗi tình tiết kỳ lạ đến kinh ngạc," Hatch giải thích. "Người mà anh gọi là Harry này, chúng tôi biết với cái tên John Doane. Tên thật của anh ta là gì? Harry gì cơ?"
Manning ngẩn người nhìn phóng viên đầy kinh ngạc trong giây lát, rồi dần dần một nụ cười xuất hiện trên môi anh ta.
"Các anh đang cố giở trò gì thế?" anh ta hỏi. "Đây là một trò đùa à?"
"Không, lạy Chúa, anh bạn, anh không thấy sao?" Doane giận dữ thốt lên. "Tôi bị bệnh, ốm đau, bị gì đó rồi. Tôi đã mất trí nhớ, mất sạch quá khứ rồi. Tôi chẳng nhớ gì về bản thân mình nữa. Tên tôi là gì?"
"Chà, lạy Chúa!" Manning kêu lên. "Chà, lạy Chúa, tôi không tin là mình lại biết rõ họ tên đầy đủ của anh nữa đấy. Harry... Harry gì nhỉ?"
Anh ta rút từ trong túi ra vài lá thư và nửa tá mẩu giấy nhỏ rồi lật xem. Sau đó, anh ta dò dẫm thật kỹ một cuốn sổ tay đã cũ.
"Tôi chịu," anh ta thú nhận. "Tôi từng ghi tên và địa chỉ của anh trong một cuốn sổ cũ, nhưng chắc tôi đem đốt mất rồi. Tuy nhiên tôi nhớ rõ, tôi gặp anh ở Câu lạc bộ Lincoln ở Pittsburgh ba năm trước. Tôi gọi anh là Harry bởi vì ai nấy ở đó đều gọi nhau bằng tên thánh. Họ của anh chẳng để lại cho tôi chút ấn tượng nào cả. Ôi trời ạ!" anh ta kết luận trong một cơn ngạc nhiên hoàn toàn mới.
"Chính xác thì hoàn cảnh gặp gỡ ra sao?" Hatch hỏi.
"Tôi là một nhân viên du lịch," Manning giải thích. "Tôi đi khắp nơi. Một người bạn đã tặng tôi chiếc thẻ hội viên danh dự của Câu lạc bộ Lincoln ở Pittsburgh và tôi đã đến đó. Hôm đó có năm sáu người chúng tôi chơi bài xì-phé, trong đó có anh... anh Doane đây. Tôi ngồi cùng bàn với anh ta khoảng hai mươi tiếng đồng hồ, nhưng chịu chết không sao nhớ nổi họ của anh ta. Tôi chắc chắn không phải họ Doane. Tôi có trí nhớ cực kỳ tốt về khuôn mặt, và tôi biết chắc anh ta chính là người đó. Anh không nhớ tôi sao?"
"Tôi không có lấy một chút ký ức mỏng manh nào về việc từng nhìn thấy anh trước đây trong đời," Doane chậm rãi đáp. "Tôi chẳng nhớ gì về việc mình từng đến Pittsburgh—không nhớ bất cứ điều gì cả."
"Anh có biết ông Doane có phải là cư dân Pittsburgh không?" Hatch dò hỏi. "Hay anh ta đến đó với tư cách là khách du lịch giống như anh?"
"Chịu chết không trả lời được," Manning đáp. "Chúa tôi, thật là kinh ngạc phải không? Anh không nhớ tôi sao? Cả buổi tối hôm đó anh toàn gọi tôi là Bill."
Người kia lắc đầu.
"Thôi nào, tôi có thể làm gì giúp các anh không?"
"Không, cảm ơn anh," Doane nói. "Chỉ cần nói cho tôi biết tên tôi, và tôi là ai là được."
"Chúa ơi, tôi chịu."
"Câu lạc bộ Lincoln là loại câu lạc bộ gì thế?" Hatch hỏi.
"Đó là một kiểu câu lạc bộ dành cho giới triệu phú," Manning giải thích. "Rất nhiều ông lớn ngành thép là thành viên ở đó. Tôi có khá nhiều công chuyện làm ăn với họ—đó là lý do đưa tôi đến Pittsburgh."
"Và anh hoàn toàn chắc chắn đây là người anh từng gặp ở đó chứ?"
"Sao lại không, tôi _biết_ chắc mà. Tôi không bao giờ quên mặt người khác; ghi nhớ khuôn mặt là công việc của tôi mà."
"Anh ta có nói gì về gia đình không?"
"Không nhớ là có. Người ta thường không nói về gia đình mình khi đang ngồi trên bàn bạc."
"Anh có nhớ chính xác ngày hoặc tháng đó không?"
"Tôi nghĩ là vào khoảng tháng Giêng hoặc tháng Hai," câu trả lời là vậy. "Trời lạnh cắt da cắt thịt và tuyết thì ám đầy khói than. Vâng, tôi chắc chắn đó là vào tháng Giêng, ba năm trước."
Một lúc sau, họ chia tay nhau. Manning đang trọ tại Khách sạn Teutonic và sẵn lòng cung cấp tên cũng như địa chỉ thường trú cho Hatch, đồng thời giải thích rằng anh ta sẽ ở lại thành phố vài ngày và hoàn toàn sẵn lòng giúp đỡ bằng mọi cách có thể. Anh ta cũng nhận lấy địa chỉ của Cỗ Máy Tư Duy.
Từ quán cà phê, Hatch và Doane quay trở lại chỗ nhà khoa học. Họ thấy ông đang trải hai bức điện tín lên mặt bàn. Hatch vắn tắt kể lại câu chuyện về cuộc gặp với Manning, trong khi Doane cụp đầu vào hai bàn tay ngồi sụp xuống. Cỗ Máy Tư Duy lắng nghe mà không đưa ra bình luận nào.
"Đây," ông nói khi câu chuyện kết thúc, và đưa một trong hai bức điện tín cho Hatch. "Tôi đã lấy được tên người đóng giày từ chiếc giày của ông Doane và đánh điện hỏi ông ta ở Denver, xem ông ta có lưu giữ ghi chép về giao dịch đó không. Đây là câu trả lời. Đọc lớn lên đi."
Hatch liền đọc.
"Giày như đã mô tả được làm cách đây chín tuần cho Preston Bell, giao dịch viên Ngân hàng Quốc gia Blank ở Butte. Không biết John Doane."
"Chà... cái gì thế này..." Doane ngơ ngác lên tiếng.
"_Điều đó có nghĩa là anh chính là Preston Bell_," Hatch quả quyết tuyên bố.
"Không," Cỗ Máy Tư Duy nhanh chóng xen vào. "Điều đó có nghĩa là chỉ có một xác suất rất cao là như vậy thôi."
Chuông cửa reo lên. Chút lát sau Martha xuất hiện.
"Thưa ngài, có một quý bà muốn gặp," bà nói.
"Tên cô ta?"
"Bà John Doane."
"Hai vị vui lòng bước sang phòng bên cạnh," Cỗ Máy Tư Duy yêu cầu.
Hatch và Doane cùng nhau bước qua cánh cửa. Trên mặt Doane hằn lên một biểu cảm—không một ai có thể gọi tên được—khi anh bước đi.
"Mời cô ấy vào đây, Martha," vị giáo sư chỉ thị.
Tiếng lụa sột soạt ngoài hành lang, tấm màn che cửa nhanh chóng bị kéo ra và một người phụ nữ ăn vận sang trọng lao vào phòng.
"Chồng tôi? Anh ấy có ở đây không?" cô ta sốt sắng gặng hỏi. "Tôi đã đến khách sạn; họ bảo anh ấy đến đây để chữa bệnh. Xin ngài, làm ơn cho biết anh ấy có ở đây không?"
"Khoan đã, thưa phu nhân," Cỗ Máy Tư Duy nói. Ông bước đến cánh cửa mà Hatch và Doane vừa đi qua, rồi nói nhỏ điều gì đó. Một trong hai người xuất hiện ở khung cửa. Đó là Hutchinson Hatch.
"John, John, người chồng yêu dấu của em," người phụ nữ liền quàng tay ôm chặt lấy cổ Hatch. "Anh không nhận ra em sao?"
Với khuôn mặt đỏ bừng, Hatch nhìn qua vai cô ta vào thẳng đôi mắt của Cỗ Máy Tư Duy, người đang đứng xoa hai bàn tay nhanh nhẹn. Chưa bao giờ trong suốt thời gian quen biết vị nhà khoa học, Hatch thấy ông mỉm cười.
Khoảng không gian chìm trong im lặng, chỉ bị phá vỡ bởi tiếng nức nở, khi người phụ nữ bấu víu lấy Hatch một cách điên cuồng, vùi mặt vào vai anh. Rồi:
"Anh không nhớ em sao?" cô ta lặp đi lặp lại. "Vợ của anh đây mà? Anh không nhớ em sao?"
Hatch vẫn thấy thoáng qua nụ cười trên môi nhà khoa học, nhưng anh không nói gì.
"Phu nhân chắc chắn người đàn ông này là chồng cô chứ?" Cỗ Máy Tư Duy cuối cùng mới hỏi.
"Ồ, tôi biết chứ," người phụ nữ nức nở. "Ôi John, anh không nhớ em sao?" Cô ta lùi ra một chút và nhìn sâu vào mắt vị phóng viên. "Anh không nhớ em sao, John?"
"Tôi không dám chắc là mình từng gặp cô bao giờ trước đây," Hatch nói, hoàn toàn thành thật. "Tôi... tôi... thực ra là..."
"Trí nhớ của ông Doane hiện đã mất hoàn toàn rồi," Cỗ Máy Tư Duy giải thích. "Trong lúc này, có lẽ cô có thể kể cho tôi nghe chút ít về ông ấy chứ. Ông ấy là bệnh nhân của tôi. Tôi đặc biệt quan tâm đến chuyện này."
Giọng ông dịu dàng làm sao; nó đã trút bỏ được sự bực dọc thường trực lúc trước. Người phụ nữ ngồi xuống bên cạnh Hatch. Khuôn mặt cô ta, khá ưa nhìn theo một cách hơi trơ trẽn, hướng về phía Cỗ Máy Tư Duy đầy vẻ dò hỏi. Một tay cô ta vuốt ve tay vị phóng viên.
"Cô từ đâu tới?" nhà khoa học bắt đầu hỏi. "Ý tôi là nhà của John Doane ở đâu?"
"Ở Buffalo," cô ta đáp trôi chảy. "Anh ấy thậm chí không nhớ cả điều đó sao?"
"Và công việc của anh ấy là gì?"
"Sức khỏe anh ấy kém từ một dạo nay và gần đây anh ấy đã gác lại công việc kinh doanh rồi," người phụ nữ đáp. "Trước kia anh ấy có liên quan đến một ngân hàng."
"Lần cuối cùng cô gặp anh ấy là khi nào?"
"Sáu tuần trước. Anh ấy rời khỏi nhà một ngày và tôi không hề nhận được tin tức gì từ đó đến nay. Tôi đã thuê thám tử Pinkerton đi tìm và cuối cùng họ báo tin anh ấy ở Khách sạn Yarmouth. Tôi lập tức đến đây ngay. Và giờ chúng tôi sẽ trở về Buffalo." Cô ta quay sang Hatch với cái nhìn đong đưa. "Chúng ta về chứ, anh yêu?"
"Dù Giáo sư Van Dusen thấy thế nào là tốt nhất đi," câu trả lời lấp lửng được thốt ra.
Tia sáng vui thích đang mờ dần trong đôi mắt nheo lại của Cỗ Máy Tư Duy; khi Hatch nhìn sang, anh thấy những đường nét trên miệng ông đanh lại sắp sửa. Sắp có một quả bom phát tiết rồi. Anh thừa biết điều đó. Thế nhưng khi nhà khoa học cất lời, giọng ông lại trầm ấm như nhung.
"Thưa bà Doane, bà có vô tình biết đến một loại thuốc gây mất trí nhớ tạm thời không?"
Cô ta trân trân nhìn ông, nhưng vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh.
"Không," cuối cùng cô ta đáp. "Sao cơ ạ?"
"Tất nhiên là bà thừa biết người đàn ông này _không phải_ chồng bà rồi chứ?"
Lần này thì câu hỏi đã phát huy tác dụng. Người phụ nữ giật mình đứng phắt dậy, trân trân nhìn hai người đàn ông, và khuôn mặt cô ta bỗng tái mét.
"Không phải ư?... không phải ư?... ý các người là gì?"
"Ý tôi là," và giọng ông lại quay trở lại vẻ bực bội ban đầu, "ý tôi là tôi sẽ gọi cảnh sát và giao cô cho họ xử lý nếu cô không nói sự thật về vụ việc này. Cô đã hiểu rõ điều đó chưa?"
Đôi môi người phụ nữ mím chặt lại. Cô ta nhận ra mình đã rơi vào cái bẫy nào đó; đôi tay mang găng siết chặt lại đầy hung hăng; sắc tái nhợt bay đi và một gợn giận dữ ửng lên trên má.
"Hơn nữa, sợ rằng ngay lúc này cô vẫn chưa theo kịp ý tôi," Cỗ Máy Tư Duy giải thích, "tôi xin nói thêm rằng tôi biết tất cả về vụ giao dịch đồng mà kẻ tự xưng là John Doane này là nạn nhân. _Tôi hiện rõ tình trạng của hắn bây giờ_. Nếu cô nói sự thật, cô có thể thoát khỏi nhà tù—còn nếu không, sẽ là một bản án dài hạn, không chỉ dành cho cô, mà còn cho cả những kẻ đồng lõa với cô nữa. Giờ cô có chịu mở miệng không?"
"Không," người phụ nữ nói. Cô ta vùng đứng dậy như muốn bỏ đi.
"Đừng bận tâm chuyện đó," Cỗ Máy Tư Duy nói. "Cô ở lại đây thì hơn. Cô sẽ bị tống giam vào đúng thời điểm thích hợp. Anh Hatch, làm ơn gọi điện cho Thám tử Mallory nhé."
Hatch đứng dậy bước sang phòng bên cạnh. "Các người lừa tôi," người phụ nữ đột nhiên hét lên đầy hung dữ.
"Đúng vậy," người kia bình thản đáp. "Lần sau hãy chắc chắn là cô nhận đúng chồng mình nhé. Trong khi đó, Harrison đang ở đâu?"
"Không một lời nào nữa hết," câu trả lời vang lên nhanh chóng.
"Rất tốt," nhà khoa học điềm tĩnh nói. "Thám tử Mallory sẽ có mặt ở đây chỉ ít phút nữa thôi. Trong lúc này tôi sẽ khóa cửa lại."
"Các người không có quyền..." người phụ nữ bắt đầu lớn tiếng.
Phớt lờ lời lẽ đó, Cỗ Máy Tư Duy bước sang căn phòng bên cạnh. Ở đó, suốt nửa tiếng đồng hồ, ông trò chuyện nghiêm túc với Hatch và Doane. Hết khoảng thời gian đó, ông gửi một bức điện tín đến người quản lý Câu lạc bộ Lincoln ở Pittsburgh, với nội dung như sau:
"Sổ lưu khách của các ông có ghi nhận người nào đăng ký trong tháng Giêng ba năm trước mà tên thánh là Harry hoặc Henry không? Nếu có, xin vui lòng điện báo tên và mô tả nhận dạng, kèm theo tên người mà hắn là khách mời."
Bức điện này đã được gửi đi. Chỉ vài phút sau, chuông cửa reo lên và Thám tử Mallory bước vào.
"Có chuyện gì thế?" ông ta hỏi.
"Một nghi phạm cho ông ở phòng bên cạnh đấy," câu trả lời vang lên. "Một người phụ nữ. Tôi buộc tội cô ta tội âm mưu lừa đảo một người mà tạm thời chúng ta cứ gọi là John Doane. Đó có thể là tên thật hoặc không."
"Các người biết gì về vụ này rồi?" viên thám tử hỏi.
"Rất nhiều rồi—sẽ còn nhiều hơn nữa sau ít phút nữa. Lúc đó tôi sẽ kể cho ông nghe. Còn bây giờ hãy bắt giữ người phụ nữ này đi. Hai vị đây, theo tôi đề nghị, nên đi đâu đó vào tối nay. Nếu các ông ghé lại sau đó, có lẽ sẽ có câu trả lời cho vài bức điện tín giúp làm sáng tỏ vụ việc này."
Bất chấp tiếng la ó phản đối, người phụ nữ bí ẩn đã bị Thám tử Mallory dẫn đi; và Doane cùng Hatch nối gót theo sau chẳng mấy chốc. Hành động tiếp theo của Cỗ Máy Tư Duy là viết một bức điện tín gửi cho phu nhân Preston Bell ở Butte, Montana. Nội dung như sau:
"Chồng bà đang gặp rắc rối về tâm thần tạm thời ở đây. Bà có thể đến ngay lập tức được không? Xin hãy trả lời."
Khi nhân viên giao bưu phẩm đến lấy điện tín, anh ta chạm mặt một người đàn ông ở hiên nhà. Cỗ Máy Tư Duy nhận bức điện, và người đàn ông vừa xưng tên với Martha là Manning, được mời vào.
"Cả Manning nữa chứ," nhà khoa học thầm nghĩ. "Mời anh ta vào."
"Tôi không biết các anh có rõ lý do vì sao tôi có mặt ở đây không," Manning giải thích.
"Ồ, có chứ," nhà khoa học nói. "Anh đã nhớ ra tên của Doane rồi phải không. Xin hỏi đó là tên gì thế?"
Manning ngạc nhiên quá đỗi đến mức chẳng kịp trả lời mà chỉ trân trân nhìn nhà khoa học.
"Vâng, đúng vậy," cuối cùng anh ta nói và mỉm cười. "Tên hắn là Pillsbury. Giờ thì tôi nhớ ra rồi."
"Và điều gì khiến anh nhớ ra vậy?"
"Tôi tình cờ thấy một quảng cáo trên tạp chí in cái tên đó bằng cỡ chữ lớn. Nó lập tức lóe lên trong đầu tôi rằng đó mới là tên thật của Doane."
"Cảm ơn anh," nhà khoa học nhận xét. "Và người phụ nữ đó—cô ta là ai?"
"Người phụ nữ nào cơ?" Manning hỏi.
"Thôi bỏ đi vậy. Tôi vô cùng biết ơn thông tin của anh. Chắc anh không biết gì thêm về chuyện này nữa chứ?"
"Không," Manning nói. Anh ta có chút bối rối, và một lúc sau thì cáo từ ra về.
Suốt hơn một tiếng đồng hồ, Cỗ Máy Tư Duy ngồi đan các đầu ngón tay vào nhau đăm đăm nhìn lên trần nhà. Sự trầm tư của ông bị cắt ngang bởi Martha.
"Lại có điện tín nữa thưa ngài."
Cỗ Máy Tư Duy chộp lấy nó đầy hào hứng. Đó là bức điện từ người quản lý Câu lạc bộ Lincoln ở Pittsburgh:
"Henry C. Carney, Harry Meltz, Henry Blake, Henry W. Tolman, Harry Pillsbury, Henry Calvert và Henry Louis Smith đều là khách ghé thăm câu lạc bộ trong tháng như ông đã nêu. Ông muốn tìm hiểu thêm về ai?"
Cỗ Máy Tư Duy mất hơn một tiếng đồng hồ để thiết lập đường dây điện thoại đường dài với Pittsburgh. Khi cuộc trò chuyện kết thúc, trông ông có vẻ rất thỏa mãn.
"Giờ thì," ông lẩm bẩm. "Chờ câu trả lời từ phu nhân Preston nữa thôi."
Đã gần nửa đêm khi bức điện đó tới nơi. Hatch và Doane vừa ở rạp hát về và đang trò chuyện cùng nhà khoa học thì bức điện được mang vào.
"Có gì quan trọng không thưa ngài?" Doane lo lắng hỏi.
"Có chứ," nhà khoa học nói, và ông luồn ngón tay vào dưới mép phong bì. "Mọi chuyện sáng tỏ rồi. Đó là một vụ án kỳ thú từ đầu đến cuối, và giờ thì..."
Ông mở bức điện ra và liếc nhìn; rồi với vẻ mặt bối rối cùng đôi hé mở, ông ngã gục xuống bàn, gục đầu lên hai cánh tay. Bức thông điệp bay lất phất xuống mặt bàn và Hatch đọc được những dòng sau:
"Người đang ở Boston không thể là chồng tôi được. Anh ấy hiện đang ở Honolulu. Tôi vừa nhận được điện tín cáp của anh ấy hôm nay.
"Bà Preston Bell."
Ba mươi sáu giờ sau, ba người đàn ông mới gặp lại nhau. Lần trước, Cỗ Máy Tư Duy đã đột ngột đuổi khéo Hatch và Doane về. Vị phóng viên thừa biết có điều gì đó hoàn toàn bất ngờ đã xảy ra. Anh chỉ có thể đoán già đoán non rằng chuyện này có dính líu đến Preston Bell. Khi họ hội ngộ, địa điểm là văn phòng của Thám tử Mallory tại trụ sở cảnh sát. Người phụ nữ bí ẩn từng nhận Doane làm chồng cũng có mặt ở đó, cùng với Mallory, Hatch, Doane và Cỗ Máy Tư Duy.
"Người phụ nữ này đã khai tên gì chưa?" câu hỏi đầu tiên của nhà khoa học vang lên.
"Mary Jones," viên thám tử cười toe toét đáp.
"Còn địa chỉ?"
"Không có."
"Ảnh của cô ta có trong Sổ lưu niệm tội phạm không?"
"Không. Tôi đã kiểm tra kỹ rồi."
"Có ai đến hỏi thăm về cô ta không?"
"Có một gã—đúng vậy. Nghĩa là hắn không hỏi trực tiếp về cô ta—hắn chỉ hỏi mấy câu chung chung, mà giờ chúng tôi tin rằng đó là để thăm dò tin tức về cô ta."
Cỗ Máy Tư Duy đứng dậy đi về phía người phụ nữ. Cô ta ngước nhìn ông đầy vẻ thách thức.
"Đã có một sự nhầm lẫn xảy ra rồi, thám tử Mallory," nhà khoa học nói. "Đó hoàn toàn là lỗi của tôi. Hãy thả người phụ nữ này đi. Tôi rất tiếc vì đã gây ra cho cô ta một sự bất công trầm trọng đến thế."
Ngay lập tức, người phụ nữ đứng phắt dậy, khuôn mặt rạng rỡ hẳn lên. Một vẻ chán ghê xuất hiện trên mặt Mallory.
"Tôi không thể thả cô ta đi lúc này mà chưa qua thủ tục khởi tố được," viên thám tử càu nhàu. "Như thế là sai nguyên tắc."
"Ông bắt buộc phải thả cô ta ra, thám tử Mallory," Cỗ Máy Tư Duy ra lệnh, và qua vai người phụ nữ, viên thám tử nhìn thấy một cảnh tượng kinh ngạc. Cỗ Máy Tư Duy nháy mắt. Đó là một cái nháy mắt rõ mồn một, lâu và dứt khoát.
"Ồ, được rồi," ông ta cằn nhằn, "nhưng làm thế vẫn là sai nguyên tắc đấy nhé."
Người phụ nữ vội vã bước ra khỏi phòng, tà váy lụa phát ra tiếng sột soạt lớn. Cô ta đã được tự do. Ngay khi cô ta khuất dạng, toàn bộ phong thái của Cỗ Máy Tư Duy liền thay đổi.
"Hãy cử đặc xuất sắc nhất bám theo cô ta," ông ra lệnh dồn dập. "Cho hắn theo về tận nhà cô ta và bắt giữ gã đàn ông đang sống cùng cô ta với danh nghĩa chồng. Sau đó áp giải cả hai về đây, nhớ lục soát phòng của bọn chúng để tìm tiền trước nhé."
"Sao cơ chứ... chuyện này là thế nào?" Mallory kinh ngạc gặng hỏi.
"Gã đàn ông đã đến hỏi thăm cô ta, kẻ đang sống chung với cô ta, chính là nghi phạm trong vụ biển thủ 175.000 đô-la ở Butte, Montana đấy. Đừng để người của ông xổng mất tăm tích cô ta."
Viên thám tử vội vã rời khỏi phòng. Mười phút sau, ông ta quay lại và thấy Cỗ Máy Tư Duy đang ngả người ra sau ghế với ánh mắt hướng lên trần nhà. Hatch và Doane đang chờ đợi, cả hai đều tỏ ra vô cùng sốt ruột.
"Bây giờ, thám tử Mallory," nhà khoa học nói, "tôi sẽ cố gắng làm cho vấn đề này sáng tỏ đối với ông cũng như đối với tôi vậy. Khi tôi kể xong, tôi hy vọng người của ông cũng vừa kịp đưa người phụ nữ đó và tên biển thủ về tới đây. Tên hắn là Harrison; còn tên cô ta thì tôi chịu. Tôi không thể tin cô ta là vợ của Harrison, mặc dù hắn chắc chắn phải có vợ chứ. Nhưng đây mới là câu chuyện. Đó là sự móc nối hết sự kiện này đến sự kiện khác; một chuỗi logic tất yếu dẫn đến một loạt các tình tiết, thoạt nhìn thì cực kỳ hóc búa."
Viên thám tử châm một điếu xì-gà và những người khác thoải mái ngả người ra lắng nghe.
"Vị quý ông này đã đến tìm tôi," Cỗ Máy Tư Duy bắt đầu, "với câu chuyện bị mất trí nhớ. Ông ấy kể với tôi rằng ông ấy không hề biết tên tuổi, nhà cửa, nghề nghiệp hay bất cứ thứ gì về bản thân mình. Ngay lúc đó, tôi đã nghĩ đây là một ca dành cho chuyên gia tâm thần; tuy nhiên tôi vẫn thấy hứng thú. Dường như đó là một trường hợp mất trí nhớ vô cùng kỳ lạ, và tôi đã đánh giá nó là như vậy cho đến khi ông ấy bảo rằng mình có trong tay 10.000 đô-la tiền mặt, không mang theo đồng hồ, và mọi thứ có khả năng giúp xác minh danh tính đều đã bị gỡ sạch khỏi quần áo. Thậm chí cả tên nhà sản xuất áo lót cũng bị tẩy xóa. Điều đó cho thấy có sự tính toán, có chủ đích hẳn hoi."
"Khi đó tôi biết chắc chắn đó _không thể_ là chứng mất trí nhớ được. Căn bệnh đó giáng xuống một người thình lình khi họ đang đi trên phố, khi đang ngủ, khi đang làm việc, nhưng chẳng bao giờ tạo cho người ta ước muốn xóa bỏ dấu vết nhận diện của chính mình cả. Ngược lại, một người mắc bệnh vẫn có vẻ minh mẫn về mặt tinh thần—họ chỉ quên mất điều gì đó thôi—và thông thường mong muốn đầu tiên của họ là tìm ra mình là ai. Vị quý ông này đã có mong muốn đó, và trong nỗ lực tìm kiếm manh mối, ông ấy đã cho thấy một bộ óc thừa khả năng nắm bắt mọi cơ hội có thể. Hầu như mọi câu hỏi tôi đưa ra ông ấy đều đã đoán trước được. Nhờ đó tôi nhận ra ông ấy phải là một người cực kỳ khôn ngoan sâu sắc."
"Nhưng nếu không phải mất trí nhớ, thì đó là cái gì? Nguyên nhân nào gây ra tình trạng của ông ấy? Do thuốc ư? Tôi nhớ có một loại thuốc như thế ở Ấn Độ, trông hao hao giống cội gai dầu. Do đó, tạm thời tôi giả định là do thuốc. Nó cho tôi một cơ sở để làm việc. Vậy thì tôi có những gì trong tay? Một gã đàn ông có trí tuệ xuất chúng là nạn nhân của một âm mưu nào đó, đã bị đánh thuốc cho đến khi mất ý thức về bản thân, và bị tống khứ đi bằng cách đó. Nét chữ có thể vẫn giữ nguyên, bởi vì nét chữ hiếm khi bị ảnh hưởng bởi rối loạn tâm thần; đó là một chức năng thể lý."
"Đến đây thì mọi chuyện vẫn ổn thỏa. Tôi kiểm tra phần đầu ông ấy xem có dấu hiệu va chạm tai nạn nào không. Không có. Bàn tay ông ấy trắng trẻo và hoàn toàn không có vết chai sạn. Tìm cách dung hòa thực tế rằng ông ấy là một người có trí tuệ sắc sảo với mọi thứ khác, tôi nghĩ ngay đến khả năng ông ấy là một nhà tài phiệt hoặc chủ ngân hàng. Những đặc điểm ấy cũng có thể chỉ ra một luật sư, nhưng phong thái của ông ấy, sự chăm chút tỉ mỉ cho trang phục, tất cả những điều đó khiến tôi thiên về phỏng đoán ông ấy là nhà tài phiệt hơn là luật sư."
"Sau đó tôi kiểm tra số tiền ông ấy mang theo khi tỉnh giấc. Khoảng mười lăm đến mười sáu tờ một trăm đô-la còn mới và xếp liền sê-ri. Chúng do một ngân hàng quốc gia phát hành. Phát hành cho ai? Khả năng cao là ngân hàng đó sẽ có lưu trữ hồ sơ. Tôi đánh điện hỏi về vấn đề này, đồng thời nhờ anh Hatch chỉ đạo các cộng sự dò la ở nhiều thành phố khác nhau xem có ai tên là John Doane không. Hoàn toàn không loại trừ khả năng John Doane chính là tên thật của ông ấy. Giờ đây tôi tin rằng mình có thể an tâm khẳng định rằng khi đăng ký khách sạn, ông ấy đã bị đánh thuốc mê, tên thật bỗng chốc trôi tuột khỏi trí nhớ, và ông ấy đã ký tên John Doane—cái tên đầu tiên hiện lên trong đầu. Đó _không phải_ là tên thật của ông ấy."
"Trong lúc chờ đợi câu trả lời từ phía ngân hàng, tôi đã cố gắng đánh thức trí nhớ của ông ấy bằng cách nhắc đến những sự việc ở miền Tây. Có khả năng ông ấy đã mang số tiền đó từ miền Tây theo cùng. Kế đó, vẫn bám lấy giả định ông ấy là một nhà tài phiệt, tôi đã phái ông ấy đến khu tài chính. Và đã có kết quả. Từ 'đồng' đã kích thích ông ấy đến mức ngất xỉu sau khi gào lên: 'Bán đồng đi, bán, bán, bán'."
"Theo một cách nào đó, nhận định của tôi về con người này đã được củng cố. Ông ấy đã hoặc đang tham gia vào một vụ giao dịch đồng, bán đồng trên thị trường, hoặc đang lên kế hoạch làm điều đó. Tôi chẳng biết gì về những ngóc ngách rắc rối của thị trường chứng khoán cả. Nhưng ý nghĩ ngay lập tức hiện lên trong đầu tôi là một kẻ ngất xỉu trong hoàn cảnh đó hẳn phải có liên quan mật thiết sống còn cũng như đang lâm bệnh nặng. Như vậy tôi đã khoanh vùng được một nhà tài phiệt, vướng vào một vụ giao dịch đồng, bị đánh thuốc mê do hệ quả của một âm mưu. Các ông có theo kịp tôi không, thám tử Mallory?"
"Chắc chắn rồi," câu trả lời vang lên.
"Đến thời điểm này thì tôi nhận được bức điện tín từ ngân hàng Butte thông báo rằng những tờ một trăm đô-la mà tôi hỏi đã bị thiêu rụi. Bức điện này ký tên 'Preston Bell, Giao dịch viên'. Nếu điều đó là sự thật, thì số tiền mà vị quý ông này đang giữ chính là tiền giả. Không có chữ 'nếu' nào ở đây cả. Tôi đã hỏi ông ấy có biết Preston Bell không. Đó là cái tên duy nhất có thể khơi gợi phản ứng ở ông ấy bằng cách này hay cách khác. Một người còn nhớ rõ tên của chính mình hơn bất cứ thứ gì trên đời này. Do đó, đó có phải là tên ông ấy không? Trong khoảnh khắc, tôi đã phỏng đoán là phải."
"Vụ việc đứng trước cục diện như sau: Preston Bell, giao dịch viên ngân hàng Butte, đã bị đánh thuốc mê, là nạn nhân của một âm mưu, vốn có lẽ là một phần trong nước cờ lớn liên quan đến đồng. Nhưng nếu người đàn ông này chính là _Preston Bell_, thì tại sao chữ ký đó lại xuất hiện ở đây? Là một phần của quy định văn phòng chăng? Chuyện một cái tên được sử dụng như vậy xảy ra hàng trăm lần, đặc biệt là trên các bức điện tín."
"Chà, con người đã đánh mất ký ức này—Doane, hay chính là Preston Bell—đã chìm vào giấc ngủ tại căn hộ của tôi. Vào thời điểm đó, tôi tin hoàn toàn có khả năng ông ấy là một kẻ làm tiền giả, vì những tờ tiền đáng ra đã bị thiêu hủy, và tôi đã phái anh Hatch đi tham vấn chuyên gia. Tôi cũng đánh điện yêu cầu cung cấp chi tiết về thiệt hại vụ hỏa hoạn ở Butte kèm theo tên tuổi những người có liên quan đến vụ việc. Xong xuôi, tôi tháo giày của vị quý ông này ra để kiểm tra tên nhà sản xuất. Và tôi đã tìm thấy nó. Đôi giày đó có chất lượng thượng hạng, có lẽ được đóng theo đơn đặt hàng riêng cho ông ấy."
"Hãy nhớ rằng, vào lúc đó tôi đinh ninh vị quý ông này chính là Preston Bell, vì những lý do tôi vừa nêu. Tôi đã đánh điện cho nhà sản xuất hoặc đại lý bán lẻ để hỏi xem họ có lưu giữ ghi chép về giao dịch bán đôi giày đó không, mô tả chi tiết chúng cho bất kỳ nhà tài phiệt hoặc chủ ngân hàng nào. Tôi cũng đánh điện cho cảnh sát Denver để hỏi xem có nhà tài phiệt hay chủ ngân hàng nào vắng mặt khỏi thành phố trong vòng bốn hoặc năm tuần qua không. Rồi sau đó, thông tin có phần chấn động đến từ anh Hatch cho hay những tờ một trăm đô-la đó hoàn toàn là tiền thật. Câu trả lời đó đồng nghĩa với việc Preston Bell—hãy gọi ông ấy như thế—hoặc là một tên trộm, hoặc là nạn nhân của một âm mưu tài chính nào đó."
Trong khoảng lặng kéo dài sau đó, mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía người đàn ông từng đánh mất trí nhớ—Doane hay chính là Preston Bell. Ông ngồi đăm đăm nhìn thẳng về phía trước, đôi bàn tay siết chặt đầy căng thẳng. Trên khuôn mặt hằn rõ dấu vết của một cuộc đấu tranh tư tưởng tuyệt vọng. Ông vẫn đang cố gắng gợi lại quá khứ.
"Sau đó," Cỗ Máy Tư Duy tiếp tục, "tôi nhận được tin từ cảnh sát Denver. Không có nhà tài phiệt hay chủ ngân hàng lớn nào vắng mặt khỏi thành phố theo như những gì họ có thể khẩn trương điều tra. Nó chưa thực sự kết luận được gì, nhưng đã giúp ích cho tôi. Thêm nữa, tôi lại nhận được một bức điện tín khác từ Butte, ký tên Preston Bell, thuật lại hoàn cảnh dự kiến về vụ thiêu rụi những tờ một trăm đô-la. Nó chẳng chứng minh được gì về việc chúng đã thực sự cháy rụi; đó chỉ là một giả định cho rằng chúng đã bị thế. Lần cuối người ta nhìn thấy chúng là trong phòng làm việc của Chủ tịch Harrison."
"Harrison, Harrison, Harrison," Doane lẩm bẩm.
"Mơ hồ tôi nhìn thấy khả năng xảy ra điều gì đó khuất túc về mặt tài chính trong ngân hàng. Rất có thể Harrison, hoặc thậm chí ông Bell đây, đã biết chuyện đó. Các ngân hàng không bao giờ xin phép phát hành lại tiền trừ khi họ nắm chắc 100 phần trăm về tổn thất ban đầu. Thế nhưng ở đây những tờ tiền đó lại đang hiện diện. Rõ ràng là một thứ trò mèo nào đó. Tôi đã đánh điện cho cảnh sát Butte với vài câu hỏi. Câu trả lời là Harrison đã biển thủ 175.000 đô-la rồi biến mất. Lúc này tôi biết chắc hắn đã mang theo một phần số tiền bị mất, được cho là đã thiêu hủy. Rõ ràng là vậy. Thế còn Bell, liệu ông ta cũng là kẻ trộm ư?"
"Bức điện tương tự cũng cho biết uy tín của ông Bell là tốt nhất, và ông ấy đang vắng mặt khỏi thành phố. Điều đó củng cố thêm niềm tin của tôi rằng quy định văn phòng là ký tên giao dịch viên lên điện tín, và hơn hết khẳng định chắc chắn người đàn ông này chính là Preston Bell. Chuỗi sự kiện đã khép lại hoàn chỉnh. Nó giống như một cộng một ra hai—hệ quả tất yếu là bốn."
"Giờ thì, âm mưu đó là gì? Có dính líu đến chuyện kinh doanh đồng, và có cả một vụ biển thủ. Sau đó, vẫn tiếp tục công cuộc tìm kiếm một kẻ quen biết thân thiết với Bell, tôi đã phái ông ấy đi dạo cùng Hatch. Tôi từng làm thế trước đây. Đột nhiên một nhân vật khác xuất hiện trong vụ án bí ẩn này—một nhân vật gây rối rắm vào thời điểm đó. Đó chính là một người tên Manning, kẻ nhận ra Doane, hay Bell, với cái tên Harry—gì đó; từng gặp ông ấy ở Pittsburgh ba năm trước, tại Câu lạc bộ Lincoln."
"Ngay sau khi anh Hatch kể cho tôi nghe về nhân vật này, tôi nhận được bức điện tín từ người thợ đóng giày ở Denver. Nó thông báo rằng ông ta đã làm một đôi giày đúng như tôi mô tả trong vòng vài tháng gần đây cho Preston Bell. Tôi từng hỏi liệu đôi giày đó có được bán cho một nhà tài phiệt hay chủ ngân hàng nào không; và tôi nhận lại được cái tên đó qua điện tín."
"Đến thời điểm này thì xuất hiện một người phụ nữ đến nhận John Doane làm chồng. Không có mục đích rõ ràng nào ngoại trừ sự phòng ngừa chung, tôi đã nhờ anh Hatch gặp cô ta trước. Cô ta tưởng lầm Hatch là Doane và ôm chầm lấy anh ấy, gọi tên John. Do đó, cô ta là một kẻ lừa đảo. Cô ta hoàn toàn không hề quen biết mặt John Doane hay Preston Bell. Liệu cô ta có hành động theo sự chỉ đạo của kẻ khác không? Nếu có, thì đó là ai?"
Một khoảng lặng trôi qua khi Cỗ Máy Tư Duy nhích người điều chỉnh lại tư thế trên ghế. Một lát sau ông nói tiếp:
"Có những sắc thái cảm xúc, trực giác, gọi là gì cũng được, tinh tế đến mức rất khó diễn tả bằng lời. Do tôi từng bản năng liên tưởng Harrison với tình trạng hiện tại của Bell, nên tôi cũng bản năng liên tưởng người phụ nữ này với Harrison. Bởi vì chẳng có một chữ nào về vụ bê bối này lọt lên mặt báo cả; chỉ có rất ít người hay biết về nó. Liệu có khả năng gã lạ mặt Manning đang đứng sau hậu thuẫn người phụ nữ này trong nỗ lực tước đoạt số tiền 10.000 đô-la không? Điều đó còn phải chờ xem sao đã. Tôi tra hỏi người phụ nữ đó; cô ta ngậm tăm không nói nửa lời. Cô ta rất khôn ngoan, nhưng lại mắc một sai lầm chết người khi nhận nhầm anh Hatch làm chồng."
Vị phóng viên ngượng ngùng đỏ mặt.
"Tôi gặng hỏi thẳng cô ta về loại thuốc đó. Cô ta hoàn toàn bình tĩnh và thái độ cho thấy cô ta không hề hay biết gì về nó cả. Tuy nhiên tôi phỏng đoán là cô ta có biết. Sau đó tôi tung quả bom tấn, và cô ta nhận ra mình đã sập bẫy. Tôi giao cô ta cho Thám tử Mallory tống giam. Xong xuôi, tôi đánh điện cho Câu lạc bộ Lincoln ở Pittsburgh để tìm hiểu về gã 'Harry' bí ẩn đã thọc gậy bánh xe vào vụ án. Tôi khi ấy tự tin đến mức cũng đánh điện cho phu nhân Bell ở Butte, giả định rằng có sự tồn tại của một bà Bell, để hỏi thăm về người chồng của bà ấy."
"Rồi Manning đến gặp tôi. Tôi biết anh ta tới vì đã nhớ ra cái tên mà anh ta từng dùng để gọi vị đây," và Cỗ Máy Tư Duy hướng về phía nhân vật trung tâm trong mớ hỗn độn danh tính kỳ lạ này, "mặc dù anh ta có vẻ ngạc nhiên khi tôi nhắc lại điều đó. Anh ta biết ông với cái tên Harry Pillsbury. Tôi hỏi anh ta người phụ nữ đó là ai. Biểu cảm của anh ta cho tôi thấy anh ta hoàn toàn không hề hay biết gì về cô ta cả. Khi đó mọi chuyện vỡ lở ra cô ta là đồng minh của Harrison, kẻ thù của ông vì lý do nào đó, và tôi chỉ có thể nhìn nhận nó dưới góc độ đó. Mục đích của cô ta là tóm lấy ông và rất có thể giam cầm ông làm con tin, ít nhất là cho đến khi thương vụ khổng lồ xoay quanh thị trường đồng được định đoạt. Đó là những gì tôi suy đoán."
"Sau đó lại có một bức điện tín khác gửi đến từ Câu lạc bộ Lincoln ở Pittsburgh. Cái tên Harry Pillsbury xuất hiện trong sổ lưu khách vào tháng Giêng, ba năm trước. Chính là ông—Manning không phải kiểu người có thể nhớ nhầm—và khi ấy chỉ còn lại duy nhất một nút thắt cần tháo gỡ theo góc nhìn của tôi vào thời điểm đó. Đó chính là phản hồi từ phu nhân Preston Bell, nếu như thực sự tồn tại một bà Bell. Bà ấy sẽ là người biết chồng mình đang ở đâu."
Lại một khoảng lặng bao trùm. Hàng ngàn ý nghĩ đang chạy dọc trong đầu Bell. Câu chuyện đã được kể lại quá đỗi xác thực, và đóng vai trò máu thịt trong cuộc đời ông, đến mức những ký ức mờ ảo lại một lần nữa hiển hiện trên khuôn mặt ông.
"Bức điện đó khẳng định rằng Preston Bell đang ở Honolulu; rằng người vợ vừa nhận được một bức điện tín cáp vào ngày hôm đó. Khi ấy, nói thật lòng là tôi cảm thấy hoang mang; hoang mang đến mức toàn bộ hệ thống lý luận mà tôi dựng lên dường như tan thành mây khói ngay trước mắt. Tôi mất hàng giờ đồng hồ để sắp xếp lại nó. Tôi săm soi lại mọi chi tiết từ đầu, và rồi lý thuyết có thể dung hòa mọi tình tiết trong vụ án đã thành hình. Lý thuyết đó hoàn toàn chính xác—chính xác như việc một cộng một bằng hai vậy. Đó là logic."
Nửa giờ sau, một viên thám tử bước vào và thì thầm trao đổi riêng với Thám tử Mallory.
"Tuyệt vời!" Mallory thốt lên. "Dẫn bọn chúng vào đây."
Và thế là người phụ nữ từng bị giam giữ cùng một gã đàn ông độ ngũ tuần xuất hiện trở lại.
"Harrison!" Bell bất chợt gầm lên. Ông loạng choạng đứng dậy với đôi bàn tay vươn dài ra. "Harrison! Ta nhớ ra rồi! Ta nhớ ra tất cả rồi!"
"Hay lắm, hay lắm, rất hay," Cỗ Máy Tư Duy thốt lên.
Đôi bàn tay đang co giật vì căng thẳng của Bell chồm tới định bóp cổ Harrison thì bị Thám tử Mallory đẩy lùi ra. Ông đứng tái mét trong giây lát, rồi khuỵu sụp xuống sàn nhà thành một đống. Ông đã ngất lịm. Cỗ Máy Tư Duy vội vã tiến lại kiểm tra.
"Tốt rồi!" ông lại nhận xét. "Khi tỉnh lại, ông ấy sẽ nhớ lại mọi thứ ngoại trừ những gì đã xảy ra kể từ khi đặt chân đến Boston. Trong khi đó, thưa ông Harrison, chúng tôi đã nắm rõ toàn bộ câu chuyện về phi vụ đánh thuốc mê, cuộc chiến tranh giành quyền khai thác mỏ đồng mới ở Honolulu, và đồng phạm của ông ở trển đã bị bắt giữ. Lượng thuốc mê ông dùng có vẻ chưa đủ đô cho lắm. Ông còn gì để nói nữa không?"
Tên tội phạm im lặng cúi đầu.
"Đã lục soát phòng của hắn chưa?" Cỗ Máy Tư Duy hỏi viên thám tử vừa trực tiếp tiến hành vụ bắt giữ kép.
Rồi hắn lục soát và tìm thấy thứ này."
Đó là một xấp tiền lớn. Cỗ Máy Tư Duy lướt qua nó một cách nhẹ nhàng—70.000 đô-la—soát xét các con số trên xấp tiền. Cuối cùng ông cầm lấy nửa tá tờ. Chúng nằm trong số hai mươi bảy tờ được báo cáo là đã bị thiêu rụi trong vụ hỏa hoạn ngân hàng ở Butte.
Harrison và người phụ nữ bị tống giam dẫn đi. Về sau, người ta làm rõ rằng hắn đã có hệ thống biển thủ ngân hàng mà hắn làm chủ tịch trong nhiều năm; chính hắn là kẻ nhúng tay gây ra vụ hỏa hoạn, thời điểm mà hắn hẳn đã kỳ vọng sẽ vơ vét được một mẻ lớn; và người phụ nữ kia hoàn toàn không phải vợ hắn. Sau khi hắn bị bắt, toàn bộ câu chuyện đã phơi bày ra ánh sáng; cả sự thật về thương vụ đồng khổng lồ, nơi hắn đã tống khứ Bell, đối tác làm ăn của mình, và phái một kẻ khác đến Honolulu dưới danh nghĩa Bell để thâu tóm các quyền chọn mua đối với một tài sản mỏ đồng có giá trị ở đó. Tên đồng phạm ở Honolulu đã gửi những bức điện tín cáp về cho người vợ ở Butte. Cô ta đã đón nhận chúng mà chẳng mảy may nghi ngờ.
Vài ngày sau, Hatch ghé qua thăm Cỗ Máy Tư Duy và đặt ra vài câu hỏi.
"Làm sao mà Bell lại có được số tiền 10.000 đô-la đó vậy?"
"Chắc chắn nó đã được đưa cho ông ấy, bởi vì để ông ấy lang thang khắp nơi trong tình trạng không biết mình là ai còn an toàn chán so với việc thủ tiêu ông ấy."
"Và sao ông ấy lại tình cờ có mặt ở đây nhỉ?"
"Câu hỏi đó có lẽ sẽ được giải đáp tại phiên tòa xét xử."
"Và lý do vì sao Bell từng được biết đến với cái tên Harry Pillsbury vậy?"
"Bell là thành viên hội đồng quản trị của Tập đoàn Thép Mỹ, tôi mới biết được điều đó gần đây. Đã có một cuộc họp kín của hội đồng này ở Pittsburgh ba năm trước. Ông ấy đã dùng biệt danh giả để tham dự cuộc họp đó và được giới thiệu tại Câu lạc bộ Lincoln với cái tên Harry Pillsbury."
"Ồ!" Hatch thốt lên.