Bán đảo và cảng Đà Nẵng - Ý định của nước Pháp muốn biến nơi đó thành nhượng địa - tầm quan trọng của nó với nước Anh, đặc biệt là trong việc buôn bán của nơi đó với Trung Quốc - Những sản phẩm để xuất khẩu của Nam Hà - Phương thức thiết lập giao dịch với nước này - Những phản đối chống lại việc giao phó những phân điếm ngoại giao cho thương nhân - nền thương mại xưa kia với Nam Hà - Lý do của sự suy thoái của nó do những hành xử xấu xa của người châu Âu - Một ví dụ lạ kỳ về sự tàn ác - Việc buôn bán của người Trung Hoa với Tân Hà Lan - Những lợi ích trội vượt của họ do sớm hiểu biết về la bàn - Giải đáp cho một sự phản đối về tính cổ xưa của nó - Một cơ hội cho nước Anh khôi phục lại việc buôn bán với người Nam Hà.
Trong khi thương thảo về bản hiệp ước giữa vua Louis XVI và vua Nam Hà, giám mục Adran đã chỉ rõ rằng tuy ông rất gắn bó với vua Nam Hà, nhưng đồng thời cũng không hề quên lưu ý đến những lợi ích của vua Pháp. Những điều khoản trong điều ước này cũng chứng tỏ là bằng cách quy định rằng bán đảo Đà Nẵng sẽ được nhượng cho nước Pháp, vị giám mục tốt bụng đó đã không sao nhãng những giá trị tương đối và những lợi thế địa phương mà bờ biển Nam Hà có được. Hình như ông ta cũng hiểu rõ rằng nếu một khi nước Pháp được phép chiếm lấy mũi đất của bán đảo này, thì nó sẽ có thể đảm bảo cho Pháp một chỗ đứng lâu dài ở phương Đông. Thực vậy, doi đất bán đảo Đà Nẵng (hay Hàn Sơn) đối với xứ Nam Hà chính là eo Gibraltar đối với nước Tây Ban Nha. Điều khác nhau nghiêng về ưu thế của Đà Nẵng là ngoài tính bất khả xâm phạm của mình, nó còn có một lợi thế rất quan trọng của một cửa sông và cảng biển thuận tiện, được đảm bảo an toàn chống mọi loại gió thổi bất cứ mùa nào trong năm, đáp ứng mọi yêu cầu cho một căn cứ hải quân lớn, nơi tàu bè trong mọi lúc đều có thể đậu lại và tu sửa, nơi có dòng sông làm màu mỡ cho nhiều thung lũng nhìn ra các bãi biển của vịnh, ở gần một cù lao nhỏ, nối liền với bán đảo bằng một doi đất lộ ra ở mực nước thấp, các tàu thuyền đủ mọi kích cỡ đều có thể kéo lên bãi lật nghiêng để sửa chữa. Đối diện với nơi đó, trên bán đảo là một khu đất bằng phẳng đủ rộng cho một thị trấn nhỏ, với một quân xưởng hải quân và đủ mọi loại quân kho, hoàn toàn có thể phòng thủ an toàn bởi một nhóm ít người.
Một hòn đảo nhỏ có tên là Callao[1] nằm cách vịnh Đà Nẵng chừng 30 dặm về phía Nam cũng được liệt vào các phần nhượng địa. Hòn đảo này hoàn toàn kiểm soát lối ra vào của nhánh chính con sông mà Hội An - trước đây là nơi buôn bán chính của các hoạt động ngoại thương - nằm trên đó, hai bên sườn đảo hầu như hoàn toàn không thể tiếp cận được nhưng nó lại nằm đối diện với cửa con sông này.
Những ý đồ của nước Pháp khi muốn đứng chân vững chắc trên khu đất này của miền duyên hải, được thể hiện khá lộ liễu qua toàn bộ giọng điệu của bản hiệp ước nói trên, chính là nhằm vào việc xây dựng và trang bị cho một lực lượng hải quân mà một ngày nào đó sẽ gây lo sợ cho các vùng lãnh thổ mà chúng ta chiếm hữu ở phương Đông. Và hoàn toàn không thể nói chắc rằng mưu toan đó sẽ không được tiếp tục thực hiện, rằng điều mà nước Pháp quân chủ chỉ mới dòm ngó thì nước Pháp đế chế sẽ không tiếp tục hoàn tất. Sự loại bỏ hoàn toàn các thế lực của Pháp ra khỏi các vùng bờ biển Ấn Độ sẽ làm cho các vùng bờ biển xứ Nam Hà trở thành mảnh đất mời gọi hấp dẫn, đặc biệt là từ vị trí trạm dừng chân này, người ta có thể gây tổn hại và làm phiền nhiễu cho công việc buôn bán có giá trị của chúng ta với Trung Quốc. Dù không kể tới mối nguy hại là việc chiếm cứ được địa điểm này sẽ làm cho một kẻ địch năng động có thể trù liệu để chống lại những công việc làm ăn buôn bán của chúng ta ở phương Đông, thì chỉ riêng những lợi thế, tiện ích mà nó đem lại về hải quân và thương mại của chúng ta trong khu vực này, cũng đã đủ khiến chúng ta cần phải suy nghĩ kĩ lưỡng hơn mức độ quan tâm mà từ trước đến nay chúng ta vẫn dành cho nó. Ở đây xin chớ nên hiểu rằng tôi đã đứng trên một quan điểm về thuộc địa hoặc lãnh thổ khi nói về phần đất này của xứ Nam Hà. Có lẽ chúng ta đã có đủ nhiều thuộc địa để có thể duy trì được tốt, cũng như có nhiều đất đai để làm lợi cho nước nhà, nhưng chúng ta chưa bao giờ có quá nhiều những điểm an toàn cho công cuộc buôn bán, cũng như có nhiều vị trí thuận lợi và phù hợp cho việc vận chuyển bằng tàu thuyền. Nhấn mạnh nhiều đến sự cần thiết để giữ vững công cuộc buôn bán của chúng ta, và đến chính sách tạo thêm thuận lợi cho việc phân phối những thành quả của nền công nghiệp sản xuất của chúng ta có thể sẽ là điều hoàn toàn thừa. Sự thua thiệt về thương mại tất yếu sẽ dẫn đến sự thua thiệt về địa vị mà nước Anh đang nắm giữ trong thang bậc các quốc gia. Nước Pháp có một lãnh thổ rộng lớn hơn so với tỷ lệ dân số, và nhìn chung có khí hậu thuận lợi hơn, đất đai màu mỡ hơn và có nhiều sản phẩm đa dạng hơn, nên có thể không trách được việc quốc gia đó làm ra vẻ coi khinh hoạt động ngoại thương, và nói giọng dè bỉu về các nước đã dựa vào ngoại thương là nguồn hỗ trợ duy nhất.
Tuy nhiên, sự nghèo khổ, những nỗi bất hạnh và sự tàn phá đã xảy đến cho một nước như vậy có thể khắc phục được mà không cần đến sự giúp đỡ của ngoại thương. Nhưng đây không phải là trường hợp của nước Anh. Chúng ta chỉ cần đưa mắt nhìn lướt qua các vật phẩm trong nhiều cửa hiệu rộng lớn chất đầy hàng cũng như trong những kho chứa ở thủ đô, và vô số những tàu thuyền lui tới cảng, để thấy rõ là nền công nghiệp quốc dân sẽ được sử dụng tốt hơn, và vì vậy sẽ sinh lợi nhiều hơn khi sản xuất bằng nguyên liệu thô ở nước ngoài, so với việc nuôi trồng những thứ thích hợp với khí hậu và đất đai ở chính trong nước. Từ chiếc cửa xoay Tyburn hay quảng trường Hyde Park tới nhà thờ xứ Whitechapel, hầu hết mọi căn nhà là một cửa hiệu hoặc một nhà kho chứa hàng và ít nhất ⅔ những cửa hiệu và nhà kho đó đều chứa những mặt hàng từ nước ngoài. Vì vậy, bất kỳ một sự cản trở nào đối với nền thương mại phồn vinh của chúng ta, và đối với thế ưu trội mà chúng ta có thể có được trong ngoại thương đều có thể gây ra những hậu quả tai hại nhất cho toàn bộ đất nước. Thực vậy, hình như chúng ta đã đi hơi quá xa một chút trong bước tiến này để có thể rút lui một cách an toàn, vì vậy mọi cố gắng của chúng ta lúc này phải nhằm để giữ vững những cái mà mình đã có được, để bảo vệ an toàn cho nền thương mại mà tới nay đã làm cho chúng ta có thể đọ sức với một kẻ địch ngoan cường và hùng mạnh. Thậm chí nếu cần thì những móng vuốt của con sư tử Anh Cát Lợi phải giương ra để có thể vồ lấy mọi điểm có thể, làm gia tăng những gì mà lòng dũng cảm của người Anh và tinh thần siêng năng mạo hiểm của nước Anh đã giành được và đưa thêm nó vào những lãnh địa nguyên bản của nước Anh.
Nếu chiếm được bán đảo Đà Nẵng quan trọng đó thì nó có thể bảo đảm an ninh cho hạm đội quý giá của chúng ta trong công việc buôn bán ở Trung Quốc. Nhưng mặt khác, trong trường hợp bán đảo này nằm trong tay kẻ địch năng nổ và táo bạo, tất nhiên sẽ gây cho chúng ta nhiều điều phiền nhiễu. Chúng ta cũng không thể coi nhẹ những lợi thế quan trọng do công cuộc buôn bán ở xứ Ấn Độ đem lại một khi chúng ta có được trên vùng đất này một hải cảng an toàn, có thể cung cấp nước ngọt và những đồ ăn uống bồi bổ. Chỉ xem xét trên quan điểm là nếu việc quản lý các tàu thuyền của chúng ta ở Trung Quốc kém khôn khéo hơn và những phương tiện bảo vệ sức khỏe cho đoàn thuỷ thủ kém hiệu quả hơn so với yêu cầu thực tế, thì việc có được một cảng biển để thường xuyên lui tới sẽ là một món lời vô giá, nhất là trong trường hợp một con tàu đến không đúng lúc và gặp đợt gió mùa thổi ngược đôi lúc xảy ra. Người ta có thể hối thúc đưa ra những điều cân nhắc khác về việc thiết lập quan hệ giao dịch với Nam Hà, nhưng lúc này tôi chỉ đưa ra một cái nhìn tổng quan ngắn gọn về những lợi ích mà Công ty Đông Ấn Độ có thể thu được khi lập ra một thương điếm trên bán đảo của vịnh Đà Nẵng.
Tôi tin là tất cả chúng ta đều thừa nhận rằng công việc buôn bán ở Trung Hoa là quan trọng nhất và có lợi nhất trong những hoạt động làm ăn rộng lớn của Công ty, và việc nó đáng được xem xét kỹ lưỡng trên quan điểm quốc gia cũng không cần đòi hỏi nhiều bằng chứng. Việc buôn bán với Trung Quốc sử dụng trực tiếp từ nước Anh 20.000 tấn trọng tải tàu biển và gần 3.000 thuỷ thủ. Thị trường hết sức rộng lớn này tiêu thụ sản phẩm len dạ và những vật phẩm khác của chúng ta và đem lại cho ngân khố quốc gia một khoản thu nhập hàng năm khoảng 3 triệu bảng Anh. Buôn bán với Trung Quốc là trụ cột cho nguồn vốn tín dụng của Công ty Đông Ấn, nhánh hoạt động thương mại duy nhất của Công ty mà từ đó có thể nói chắc rằng đã đem lại một lợi nhuận thực sự. Lý do của những lợi ích ưu trội đó thực là rõ ràng. Đối với Ấn Độ, Công ty làm ăn như những ông chủ, còn đối với Trung Quốc họ chỉ là những thương nhân. Tuy vậy, một sự thực không thể nghi ngờ là cán cân thương mại giữa nước Anh và Trung Quốc đã nghiêng về có lợi cho Trung Quốc, và hàng năm cán cân này đã lấy đi của nước Anh một khoản tiền mặt tổng số lên tới khoảng nửa triệu bảng. Tuy nhiên, những thoi vàng bạc gửi đi để mua chè đã chuyển thành một số vốn sinh lời, và từ nay số vốn đó đã được các nước lục địa châu Âu thế chỗ, với lợi nhuận lớn. Mặt khác, người Anh đã tiến hành một công việc buôn bán có quy mô rất lớn giữa Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng cán cân thương mại ở đây hầu như không có lợi cho Trung Quốc, cũng như trong những trường hợp khác nó không có lợi cho nước Anh. Tuy nhiên, với châu Âu, cán cân thương mại nhìn chung có lợi cho Trung Quốc, và những đồng đô la Tây Ban Nha được mang đến đó để thanh toán không bao giờ lưu thông trở lại bằng tiền mặt, mà được chuyển đổi sang một dạng mới hoàn toàn khác, nằm đọng lại trong nước này. Trong mọi chính quyền chuyên chế, nơi mà luật pháp không đủ hiệu lực để bảo vệ an toàn cho tài sản, thì đất đai nhà cửa được xem là những vật thể nhìn thấy được quá rõ ràng tiêu biểu cho sự giàu có. Mục tiêu của tất cả những ai mà tiền thu nhập vượt trội tiền chi dùng là có thể đảm bảo cho họ một giá trị càng lớn càng tốt trong một không gian càng nhỏ càng tốt, và trong những thời kì tồi tệ có thể cất giấu một cách thuận tiện nhất. Trong các quốc gia như vậy, lợi nhuận buôn bán thường được tích trữ bằng những kim loại quý. Tôi tin rằng, những trường hợp như vậy có khá nhiều ở Ấn Độ và còn nhiều hơn ở Trung Quốc, là quốc gia được coi như một nguồn vốn chìm bền vững cho đồng tiền kim loại châu Âu.
Số tiền mặt hàng năm rót vào Trung Quốc sẽ ít gây ra hậu quả hơn đối với chúng ta, chừng nào mà những con tàu khi trở về còn mang theo để cung cấp cho lục địa châu Âu một số lớn hàng hoá và những sản phẩm thuộc địa của chúng ta, kim loại đào được ở hầm mỏ Potosi[2] cuối cùng phải tìm được đường về dòng sông Thames, hay nói một cách khác, chừng nào mà cán cân thương mại toàn cầu còn nghiêng về phía có lợi cho nước Anh. Tuy nhiên, dù tình hình hiện nay có thế nào đi chăng nữa, một mục tiêu mà chúng ta vẫn ước muốn là thực hiện cân bằng việc buôn bán giữa nước Anh và Trung Quốc, và do đó sẽ chấm dứt được dòng chảy tiền mặt hàng năm do Trung Quốc đòi hỏi. Theo ý tôi, sự liên kết thân thiết với Nam Hà sẽ mở ra một con đường lớn cho việc thực hiện mục tiêu này. Đất nước này sẽ cung cấp nhiều mặt hàng có giá trị thích hợp với thị trường Trung Quốc, và sẽ mở ra một lối thoát rất lớn để tiêu thụ nhiều hàng hoá của chúng ta, và vị trí của nó nằm trên con đường đi thẳng từ Anh tới Trung Quốc là một điều không thể không suy nghĩ. Chẳng hạn như những khu rừng Nam Hà sẽ cung cấp nhiều loại gỗ hương liệu khác như hồng đào, trầm hương, kỳ nam, tất cả đều rất được tán thưởng ở thị trường Trung Quốc, được trả với giá cực kì cao. Quế chi xứ Nam Hà, mặc dù hơi thô và hương vị cay nồng, nhưng người Trung Hoa vẫn thích nó hơn thứ quế Tích Lan [Ceylon, ngày nay là Sri Lanka]. Người ta nói rằng đó là loại quế Cassia, chứ không phải là loại quế Laurus. Gạo là nhu cầu không thể thiếu của thành phố Quảng Châu đông đúc, còn đường và hạt tiêu cũng đều được hoan nghênh; tất cả các mặt hàng này đều được sản xuất dồi dào trong các thung lũng phì nhiêu xứ Nam Hà. Giá đường ở Đà Nẵng vào khoảng 3 đô la cho 133 cân Anh[3], hồ tiêu là 6 hoặc 8 đô la cho cùng một khối lượng đó, còn gạo chỉ có nửa đô la. Ngoài những sản vật này, có thể kể thêm cau, sa nhân, gừng và các loại gia vị khác, cùng những tổ chim yến thu lượm được rất nhiều trên những cụm lớn các đảo chạy song song với bờ biển mà trên các hải đồ có tên là Paracels [Hoàng Sa]; những con Bichos do Mar hay rắn biển, đúng hơn là loài ốc sên biển thường được gọi là Trepan [hải sâm][4] trong ngôn ngữ thương mại cùng với vây cá mập, Molluscas hay mỡ cá voi, và nhiều hải sản khác có chất keo động vật hoặc thực vật mà người Trung Quốc lúc nào cũng có nhu cầu. Ngoài ra, xứ Nam Hà còn cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị khác như cánh kiến, nhựa cây Cămbốt màu vàng (camboge, gamboge)[5], chàm, ngà voi, bông tơ sống và hình như xứ đó cũng không thiếu vàng, bạc và đồng. Cán gươm của những võ quan và những móc cài đai lưng của họ thường làm bằng bạc, nhưng nhiều khi tôi thấy những thứ đó bằng vàng. Thực vậy, người ta nói rằng gần đây đã phát hiện được một mỏ vàng ở gần Huế, kinh thành phía bắc. Bạc được đem ra chợ bán từng thỏi dài chừng 5 inch (~12,7 cm) có giá khoảng 11 đô la Tây Ban Nha.
Tất cả những mặt hàng này đều rất thích ứng với thị trường Trung Quốc. Chúng ta có thể trao đổi để có chúng bằng vũ khí đạn dược, kiếm, bộ đồ dao ăn và nhiều sản phẩm khác bằng sắt thép, quần áo len nhẹ, vải bông tơ (camblets), bông Manchester, lụa nhẹ muslin xứ Bengal, đồ dự trữ hàng hải, thuốc phiện và một vài dược phẩm khác. Các mặt hàng này khi mang đến các cảng xứ Nam Hà thường được đặt cọc trước từ 20% đến 30% giá trị, trả bằng bạc nén.
Còn một điều cân nhắc khác rất đáng mong đợi cho công việc làm ăn của Công ty Đông Ấn Độ là có được một hải cảng trên bờ biển Nam Hà, hay ít nhất là một thương điếm ở đó. Mọi người hiểu rất rõ rằng chính quyền Trung Quốc đã nhiều lần tỏ ý muốn trục xuất các thương nhân người nước ngoài ra khỏi các hải cảng của họ và người ta cảm thấy rất lo lắng về hậu quả của nó. Nếu tình hình đó xảy ra, thì việc buôn bán đó vẫn có thể tiếp tục tiến hành - mà có lẽ còn thuận lợi hơn - do các thuyền mành Trung Hoa đã mang các hàng hóa như trà và tơ lụa đến vịnh Đà Nẵng hoặc các vùng bờ biển khác, như vậy sẽ tránh được gánh nặng ghê gớm của các khoản thuế mà Quảng Châu đã thu được từ các tàu ngoại quốc. Nhưng nếu trong trường hợp như vậy mà chúng ta không có được một thương điếm nào nằm trong phạm vi giới hạn của hàng hải Trung Hoa, thì những người Tây Ban Nha ở Manila, Bồ Đào Nha ở Macao và người Hà Lan ở Batavia sẽ nắm giữ toàn bộ các hoạt động buôn bán với các thuyền mành Trung Quốc, và nước Anh phụ thuộc ở mức độ lớn vào họ để có thể được phép phần nào cho tàu thuyền đi vào các cảng đó.
Tuy nhiên, nếu những người xứ Nam Hà không sẵn sàng nhường cho cường quốc nước ngoài nào một vùng lãnh thổ trên bờ biển của họ, hoặc trong những hòn đảo phụ cận, thì chắc chắn là sau khi tình hình chuyển biến có lợi cho vị quân vương hợp pháp, chỉ cần những quan hệ buôn bán đơn thuần cũng đủ đem lại lợi ích cho chúng ta. Chỉ riêng gỗ mà xứ này có thể cung cấp cho việc đóng tàu cũng là một mục tiêu rất đáng để cho chính phủ xem xét một cách nghiêm túc nhất. Những công trường ở Bombay và những công trường người ta muốn thành lập trên đảo Thái tử xứ Wales[6] đã làm chúng ta phải phụ thuộc vào những hoàn cảnh rất bấp bênh về mọi loại gỗ xây dựng. Nếu ở Bombay người ta khuyến khích đóng những chiến hạm lớn, thì chúng ta có thể nghi ngờ rằng liệu trong vài năm nữa, tất cả vùng bờ biển Malabar có thể cung cấp được gì để đóng một con tàu duy nhất mang 74 khẩu đại bác. Ngay lúc này đây, phần lớn những loại gỗ có giá trị cũng đã cạn kiệt và người ta sẽ phải vất vả và mất nhiều thời gian để có thể cung cấp được thứ gỗ dùng để đóng những chiến hạm lớn. Và cũng chẳng có gì bấp bênh hơn việc cung cấp gỗ teak, chuyển theo dòng sông Ayerwaddy[7] từ vương quốc Ava, hay như người ta mới gọi nó là đế quốc Miến Điện, là nguồn vật liệu chính để dùng cho các công trường đóng tàu trên đảo Thái tử xứ Wales. Chúng ta không mấy tin tưởng thậm chí hy vọng về thiện chí mà chính quyền Rangoon dành cho chúng ta. Trong khi ở đó cũng như mọi nơi khác thuộc các xứ Ấn Độ, Pháp đã có một ảnh hưởng quyết định, vượt trội hơn mọi nước châu Âu khác. Và họ cũng không quên dùng toàn bộ ưu thế đó để làm thất bại dự định lớn lao của chúng ta là gia tăng số lượng các tàu của chúng ta bằng cách lập ra những công trường xây dựng trên đảo Thái tử xứ Wales. Và họ sẽ hoàn toàn thực hiện được điều đó nếu đóng cửa sông Ayerwaddy đối với chúng ta, như vậy hầu như hoàn toàn ngăn chặn được việc cung cấp loại gỗ thích hợp nhất cho mục tiêu mà chúng ta đề ra.
Sông Sài Gòn đổ vào biển ở phần đầu phía nam của xứ Nam Hà, chảy qua những rừng cây bạt ngàn oai phong, có nhiều loại gỗ cần cho việc đóng tàu biển, như gỗ teak, gỗ lim (Syderoxylon) và gỗ poon (Callop hy dump, loại gỗ sau cùng mọc cao và thẳng như cây tùng xứ Na Uy hoặc cây lạc diệp tùng (larch), cực kỳ thích hợp cho các loại cột buồm của tàu thuyền. Trong các rừng cây của xứ Nam Hà còn có gỗ mun (Diosperos), cây bách hương, cây mimosa, cây hồ đào, và chắc chắn là hầu hết những cây lấy gỗ mọc trong vùng Ấn Độ. Xuôi theo dòng sông tráng lệ này, mọi loại gỗ xây dựng có thể được đem tới đảo Thái tử xứ Wales, cũng thuận tiện hầu như được chuyển từ Rangoon tới.
Khi kể ra vắn tắt như thế về một vài lợi thế quan trọng mà Nam Hà có thể đem lại được, điểm sau cùng cần quyết định là phương thức để cho sự liên kết đó được thiết lập một cách hiệu quả nhất. Với cách nhìn này, điều không thể không làm đúng lúc là cần điều tra xem liệu chúng ta đã có bước tiến nào chưa và đó là bước tiến gì để thực hiện các mục đích đáng được ao ước đến như vậy.
Ý đồ đầu tiên để mở ra sự giao hảo với xứ sở này có vẻ đã được ngài Hastings thực hiện vào năm 1778, khi ông nhận được một vài lời giải trình ưu ái về những lợi thế có thể đem lại kết quả từ một biện pháp như vậy. Ông ta bị thuyết phục để cho phép một nhà buôn gửi một đội tàu chất hàng hóa, đồng thời giao phó nhiệm vụ theo kiểu bán-ngoại giao có tính công khai cho một nhà quý tộc vốn có liên hệ với nhà buôn này[8].
Trong trường hợp đó, dẫu những động cơ dẫn đến cách hành xử của ông Hastings có là gì đi chăng nữa, người ta vẫn dễ dàng thấy trước kết quả của phái bộ. Cũng như ở Trung Hoa, ở đây người ta rất khinh thường tính cách của người buôn bán, và chính quyền cũng ghét việc cho phép một cách tràn lan không phân biệt các tàu ngoại quốc vào những cảng của mình. Vì vậy, dù rằng người ta có phản đối hệ thống độc quyền của Công ty Đông Ấn thế nào đi chăng nữa và chất vấn về chính sách cấm tàu nước Anh không được đi vòng qua mũi Hảo Vọng liệu đã là khôn ngoan chưa, trong khi tàu mang cờ của mọi nước khác đã trục lợi qua việc hạn chế này, thì ý kiến của tôi vẫn là khẳng định việc buôn bán giữa Trung Quốc và Nam Hà không nên phó mặc cho các cá nhân lái buôn. Đặc biệt, người Trung Hoa rất ác cảm với những người dân nước họ buôn bán gian lận với người nước ngoài, đến mức chính quyền đã bổ nhiệm một hiệp hội của các thương nhân được phép độc quyền giao dịch với người ngoại quốc; chủ tịch hiệp hội phải đảm bảo về việc buôn bán chính đáng và hành xử tốt với thuyền trưởng và thủy thủ đoàn của mọi con tàu ghé tới cảng Quảng Châu. Các quốc gia này coi mọi công việc buôn bán như một trò đánh bạc, trong đó số người chơi gian lận đã vượt xa số người chơi thật thà. Thực vậy, khó mà cưỡng lại được những cám dỗ về món lời lớn mà công việc buôn bán đôi khi đem lại, và một khi lợi ích cá nhân mâu thuẫn với việc phục vụ chung, thì cái sau rất dễ phải nhượng bộ cái trước. Vì vậy, không cần chấp nhận câu cách ngôn so sánh khắt khe của người Trung Quốc cũng thấy rõ ràng là không khôn ngoan khi ủy thác những công việc của chính phủ vào tay người có móc nối dưới bất kỳ hình thức nào với các công việc buôn bán kinh doanh. Dù rằng một thương gia có tỏ ra đáng kính trong công việc giao thiệp của mình đến đâu chăng nữa, ông ta cũng không thể chịu trách nhiệm về thái độ cư xử tốt của toàn bộ những người trên tàu, cũng như không thể đồng thời bảo đảm về tính chất và nguồn gốc của chuyến hàng mà ông ta chuyển giao quyền quản lý sang một người khác. Nhưng không kể đến thói gian dối và những trò lừa gạt thường gắn với công việc buôn bán, vẫn có một cái gì đó mâu thuẫn không phù hợp giữa việc giao dịch buôn bán với công tác ngoại giao. Có đủ mọi lý do để tin rằng tất cả những nhân viên trong phái bộ của ông Hastings đã cư xử khá đúng mực trong sự nhẫn nhịn và thận trọng, tuy nhiên, vì đã cập bến trong nhiều hải cảng khác nhau của xứ Nam Hà và buôn bán với những phe phái đang đánh lẫn nhau để giành quyền cai trị đất nước, họ đã bị mọi phe phái nghi ngờ, và không may đã bị lôi cuốn vào những cuộc xung đột với thế lực cai trị ở Huế. Ở đó, khi con tàu của họ bị bắt giữ, họ đã khó khăn mới trốn thoát được, tất cả bọn họ rất có thể bị xử tử hình; và mặc dù họ buộc phải bỏ lại một số hàng hóa chưa bán được, họ đã tìm cách đem đi trót lọt một số lớn tiền kim loại hoặc những thoi bạc nén. Một bài tường thuật thú vị về toàn bộ công việc giao dịch buôn bán này đã được công bố trong Asiatic Annual Register (Sổ niên giám châu Á) năm 1801.
Nỗ lực thứ hai và gần đây nhất được thực hiện cách đây hai năm đã mở ra sự giao dịch công khai với xứ Nam Hà[9]. Khi những bản tường thuật được thông báo tới các vị giám đốc của Công ty Đông Ấn về những lợi thế có thể đem lại do việc giao thiệp với đất nước này, và khuynh hướng thuận lợi của nhà vua hiện tại[10] đối với Anh quốc, từ đó có thể nuôi dưỡng những hy vọng thành công, triều đình đã quyết định cử một viên chức trước đó rút khỏi thương điếm Quảng Châu về nước, nay trở lại Trung Hoa với chỉ thị là từ cảng thị đó sẽ tiến hành một nhiệm vụ bí mật với nhà vua Nam Hà.
Khi tới Quảng Châu, quý ông này cảm thấy tình trạng sức khỏe của mình không cho phép ông vượt qua sự mệt nhọc để du hành tới Nam Hà, bèn chuyển chỉ thị đó cho một trong những mại biện phụ trách hàng hóa trên tàu làm việc cho Công ty Đông Ấn ở thương điếm, người này bèn lập tức đi đến triều đình Nam Hà. Đúng là nhà vua có gặp ông này, nhưng đã tiếp ông ta một cách lạnh nhạt, xa cách như để tỏ rõ cho ông ta biết rằng cuộc viếng thăm càng ngắn thì nó sẽ càng làm hài lòng chính quyền Nam Hà. Thực vậy, ông ta thấy rằng nhà vua Gia Long đã bị người Pháp hoàn toàn vây quanh. Và vì bản thân nhà vua không biết tiếng Anh, cũng như không một vị cận thần nào biết thứ ngôn ngữ này, nên mọi đề nghị mà phải viên người Anh dâng lên, cũng như mọi điều giải thích về nhiệm vụ của ông ta đều phải tiến hành qua tay các giáo sĩ người Pháp. Việc những con người này tỏ ra có rất ít tình thân hữu đối với nước Anh có thể biết được mà không cần phải sang Nam Hà để lấy thông tin, và người ta có thể dễ dàng nhìn thấy trước những hậu quả về việc tiến hành thương thuyết với nhà vua thông qua những người Pháp này. Thái độ cư xử rất dè dặt, nếu không nói là khinh thị của mọi người trong triều đình đối với viên sứ giả của Công ty có thể là do các đề nghị mà ông thừa lệnh thượng cấp của mình dâng lên đã bị hoàn toàn hiểu sai đi, những người Pháp có thể thông dịch những đề nghị đó thành những lời lẽ xúc phạm. Kết luận được Công ty Đông Ấn rút ra từ sự thất bại này là nhà vua Nam Hà không có thiện ý đối với nước Anh.
Tuy nhiên, theo ý kiến của tôi, cần phải thẳng thắn đưa ra vấn đề xem xét kết luận đó có đúng hay không. Dù quý ngài nào được cử trong chuyến đi sứ này có tài giỏi về mọi mặt đến đâu đi nữa, nhưng nếu không biết viết một chữ nào hoặc nói một tiếng nào trong ngôn ngữ của người bản địa, thì sự thiếu phương tiện giao tiếp cần thiết đó cũng đủ làm cho mục tiêu của sứ bộ sớm thất bại hoàn toàn. Chừng nào mà những lời xác nhận của nhiều quý ông người Anh đã từng ở triều đình Nam Hà vài năm trước đây và của những sĩ quan Pháp phục vụ cho triều đình này vẫn được coi là có trọng lượng, chừng nào mà chúng ta có thể đặt sự tin tưởng nào đó vào những lời tuyên bố trong những lệnh chỉ công khai, chừng nào mà những hành động có thể được coi là để phát triển tình cảm, và chừng nào mà chúng tôi còn có thể suy đoán được những tâm tính, ý nghĩ của dân chúng trong thời gian chúng tôi lưu lại Đà Nẵng, tôi có thể nghiêng về điều kết luận ngược lại, rằng nhà vua Nam Hà cũng như dân chúng không hề có chút ác cảm nào chống lại một sự kết giao thân thiện với người Anh, miễn là những cuộc thương thuyết thích hợp với họ phải được tiến hành một cách trực tiếp từ chính phủ Anh, không qua những người Pháp mà cá nhân nhà vua đã từng mang ơn sâu sắc, cũng không qua vai trò trung gian của Công ty Đông Ấn. Ở đâu mà những thành kiến của dân chúng không chấp nhận địa vị đáng nể trọng của nghề buôn bán, trong khi sự tôn kính cao nhất được dành cho một hội đồng của triều đình có phẩm hàm chức tước và những danh vọng học vấn, thì thật là không khôn ngoan cũng như không thích hợp khi ta bỏ qua những dư luận đã từng bám rễ sâu xa và lâu dài đến vậy.
Tôi nghe nói ít lâu sau hiệp định đình chiến Amiens[11], có lúc người ta đã có dự định tiếp tục việc giao thương với triều đình Bắc Kinh mà bá tước Macartney trước đó mở đường rất thuận lợi, với kế hoạch của ông toàn quyền xứ Bengal dự kiến xây một tòa sứ quán tráng lệ. Những ai muốn tự tâng bốc mình lên về sự thành công của một giải pháp như vậy thật ra hiểu biết rất ít về tính khí và đặc điểm của chính phủ Trung Quốc. Tôi không ngần ngại nói rằng, tất cả những sự tráng lệ lộng lẫy của phương Đông, nếu không kèm theo một sự ủy nhiệm của nhà vua, thì chẳng thể làm cho ngài đại sứ được kính nể và chú ý đến hơn một bộ nhung phục đẹp đẽ được trang trí bằng một chiếc đai vàng rộng bản của Mynheers Titsing và Van Braam. Không có sự ủy nhiệm như vậy thì viên đại thần từ Bengal cũng giống như hai người Hà Lan tận tụy, sẽ không tránh được nguy cơ bị nhốt vào chuồng ngựa. Vì vậy, dù cho việc giữ vững mối giao thương với triều đình Bắc Kinh hay việc cố gắng thiết lập sự giao dịch buôn bán với Nam Hà tỏ ra là hợp lẽ, thì điều khôn ngoan và thích đáng vẫn là ngài đại sứ phải được cấp giấy ủy nhiệm của nhà vua, và ông ta thừa hành nhiệm vụ trên một con tàu của nhà vua.
Vào năm 1793, tình hình buôn bán của Nam Hà không tỏ ra là một mục tiêu có tầm quan trọng lớn đối với bất kỳ nước nào. Cuộc khởi nghĩa gần đây và tình trạng bất ổn trong nhiều năm đã ngự trị trên xứ sở bất hạnh này không thể làm gián đoạn nền canh nông và thương mại. Một vài chiếc thuyền mành Trung Quốc vẫn hàng năm đến cảng Hội An, một con tàu ngẫu nhiên của một nước trung lập hoặc tàu Anh dưới màu cờ trung lập từ châu Âu đến, một hai con tàu từ đất nước Ấn Độ với một vài con tàu Bồ Đào Nha từ Macao chở theo những hàng hóa đã bị từ chối gửi đến thị trường Trung Quốc, tất cả hình thành nên quy mô buôn bán lúc đó ở Nam Hà. Nhưng hiện nay, dưới một chính quyền đã vững vàng, một đất nước thật phì nhiêu với khí hậu thuận lợi, sự phồn vinh một thời của Nam Hà chắc chắn sẽ nhanh chóng được khôi phục. Tình hình hoạt động buôn bán gần đây của xứ sở này như thế nào cũng có thể phần nào thu thập được qua những bản tường trình của những nhà hàng hải châu Âu trước kia.
Trong một chuyến du hành kỳ lạ của Mendez Pinto với tư cách là cướp biển, ông ta đã đến các xứ Ấn Độ vào năm 1537, và người bạn đồng hành của ông là Antonio de Faria đã viết một cuốn du ký về việc thám hiểm xứ Nam Hà. Ông nói: “Sau khi đi qua đảo Pulo Campello [Cù Lao Chàm], một hòn đảo nằm ở 14°20’, họ đã tới đảo Pulo Capas, nơi một đoàn thuyền gồm 40 chiếc thuyền mành lớn, mỗi chiếc hai hoặc ba tầng sàn đã được nhìn thấy ở con sông Boralho (Varella[12] trên các hải đồ); Faria đã cử người đi khám phá đảo đó. Và sau đó là một đoàn thuyền khác, hình như có đến 2.000 thuyền lớn nhỏ và một thành phố có tường bao với khoảng chục nghìn nóc nhà”. Thực vậy, ngay trước khi xảy ra cuộc loạn giặc ở Nam Hà, người ta nói có đến 200 chiếc thuyền mành Trung Quốc hàng năm đã tới Hội An buôn bán, rất có thể đó là thành phố có tường bao mà Faria đã nói tới. Sự suy giảm của các hoạt động buôn bán và hàng hải của người Trung Quốc phần nào có thể là do thay đổi lớn đã xảy ra trong các quan hệ thương mại với các nước nằm ở bán cầu phía Đông do phát hiện lối đi vòng qua mũi Hảo Vọng để tới các nước đó, nhưng cũng có thể là do một động cơ mạnh mẽ khác đã góp phần, ở một mức độ không nhỏ, vào việc xua đuổi những người Trung Quốc cần mẫn ra khỏi những tuyến đường buôn bán xưa kia của họ. Những viên chỉ huy của mọi con tàu Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hà Lan đã qua lại mũi Hảo Vọng, tự cho mình có quyền được phép bắt giữ và cướp đoạt hàng hóa của tất cả những tàu thuyền trên tuyến đường đi của mình, bất kể là thuyền của người Ả Rập, Mã Lai hoặc Trung Quốc. Họ coi những chuyến du hành của mình sang phương Đông như một kiểu Thập tự chinh, trong đó với tư cách cướp biển, họ đã gây chiến với những thổ dân đang sống yên lành mà họ coi như những kẻ tà giáo và vô đạo. Thuyền mành Trung Quốc thường chở hàng hóa phong phú nhất, vì lẽ đó hay bị cướp bóc nhất. Thuyền trưởng hoặc người chủ tàu thường bị ném qua mạn tàu xuống biển, vì người này đã không quỳ lạy trước cây thánh giá cho dù ông ta hoàn toàn vô tội trong việc từ chối yêu cầu đó do không biết là phải tỏ lòng tôn kính cây thánh giá. Một thái độ xử sự như vậy được duy trì một cách có hệ thống, trong một thời gian dài đã xua đuổi người Trung Quốc nhút nhát ra khỏi những tuyến đường buôn bán thường lệ của họ, và tôi phải lấy làm buồn mà nhận xét rằng những nhà hàng hải ban đầu của chính nước chúng ta cũng hoàn toàn không phải là ngoại lệ trong những hành động đáng hổ thẹn như vậy, và trong một số trường hợp họ đã phạm phải những tội ác hoàn toàn không có lý do xác đáng và không cần thiết đối với dân tộc vô hại này. Trong các hồ sơ của thương điếm Anh lập ở Bantam dưới triều Nữ hoàng Elizabeth, một bản tường trình về vụ hành quyết một người Trung Hoa, sau khi bị kết tội tử hình một cách đại khái mà không cần đến một sự xét xử nào, có những chi tiết được ghi lại với những nét dã man ghê tởm đến mức hầu như không thể nào tin được điều đó có thật. Tuy nhiên, toàn bộ sự thật đã được ông Scott miêu tả lại một cách tỉ mỉ - ông này là viên trưởng thương điếm Anh vào thời gian lúc đó. Và ông ta tỏ ra có tham vọng để cho người ta nghĩ về mình là một đao phủ có khả năng và có nghề, cho nên để cho công bằng với tiếng tăm của ngài Scott, tôi chỉ xin dẫn ra đây nguyên văn những gì ông ta viết, mà không thêm thắt một lời nào. Ông nói:
“… Chúng tôi đã tra tấn hắn vì mỗi khi chúng tôi để chiếc kìm sắt tra tấn xuống thì hắn lại chối mọi tội, nhưng khi bị tra tấn, thì hắn lại thú tội một lần nữa. Sáng hôm sau, tôi cho giải hắn đi hành quyết. Khi hắn ra khỏi cổng, những người Java (là những người rất vui thích khi thấy một người Trung Quốc bị hành hình, cũng giống như khi người Trung Quốc thấy người Java bị xử tử) đã sỉ vả hắn. Nhưng hình như hắn muốn đáp lại rằng người Anh thì giàu mà người Trung Quốc thì nghèo, vì vậy tại sao lại không đi ăn trộm của người Anh nếu có thể? Ngày hôm sau, viên đô đốc (ngài James Lancaster) đã bắt giữ một tên khác trong bọn chúng và cho giải hắn đến chỗ tôi. Hắn biết được chỉ có một con đường cho hắn, nên hắn cương quyết không chịu thú nhận với chúng tôi bất cứ điều gì. Người ta thấy hắn trốn trong một cầu tiêu và chính hắn là kẻ đã đốt nhà chúng tôi. Hắn là một thợ kim hoàn, và đã khai với đô đốc là hắn đã lừa đảo nhiều đồng Rial và đúc tiền giả. Một vài điều hắn thú nhận có liên quan đến công việc của chúng tôi, nhưng không nhiều, ngoài ra hắn không chịu khai một điều gì cả. Vì hắn đã ủ rũ im lặng, và chính hắn là kẻ đã đốt nhà chúng tôi, đó là lý do tại sao tôi lại đốt móng tay cái, các ngón tay ngón chân của hắn bằng kìm sắt nung đỏ rồi dứt các móng đó ra. Và vì hắn không chịu chớp mắt khi bị tra tấn như vậy nên chúng tôi cho rằng chân tay hắn đã bị tê dại đi khi bị trói chặt, do đó chúng tôi cho đốt hắn ở bàn tay, cánh tay, vai và cổ nhưng hắn vẫn lì ra. Tiếp đó, chúng tôi cho đốt toàn bộ xuyên qua các bàn tay, dùng dũa sắt xé nát thịt gân. Sau đấy, tôi cho đánh vào cạnh xương cẳng chân của hắn bằng hai thanh sắt đốt nóng, rồi lại cho kẹp xiết đinh ống bằng sắt nguội cho vào xương cánh tay của hắn rồi bất ngờ giật mạnh ra. Tiếp theo là dùng kìm bẻ gãy xương ngón tay của hắn. Tuy đã áp dụng mọi biện pháp, hắn không hề chảy nước mắt hoặc quay đầu sang bên cạnh, hoặc vùng vẫy tay chân. Khi chúng tôi hỏi hắn một câu nào đó, hắn bèn để lưỡi hắn vào giữa hai hàm răng, và dập mạnh cằm vào đầu gối để cắn đứt lưỡi. Khi chúng tôi đã dùng mọi cách ghê gớm cùng cực mà vẫn không đạt được kết quả, tôi lại sai người cùm chặt hắn lại. Khi những con kiến lửa là loài có rất nhiều ở nơi đó bò vào đốt những vết thương của hắn thì qua những cử chỉ của hắn, tôi thấy hắn còn bị giày vò đau đớn hơn những gì chúng tôi đã làm. Những sĩ quan của nhà vua muốn chúng tôi bắn chết hắn. Tôi bèn nói với họ rằng một cái chết như vật sẽ là quá tốt cho một tên vô lại như hắn, và còn nói thêm rằng nếu ở trong các nước chúng ta, một nhà quý tộc hoặc một chiến binh phạm vào một tội đáng chết, thì người đó sẽ phải bị xử bắn, đó là cách đối xử quá tốt với họ, nhưng họ lại cho đó là cái chết tàn nhẫn nhất và hèn hạ nhất. Vì lẽ đó, vào buổi chiều tối hôm chúng tôi dẫn hắn tới cánh đồng và trói chặt hắn vào một cái cọc, họ đã tỏ ra rất khó chịu. Phát súng đầu tiên làm văng ra một mảnh cánh tay và tất cả xương. Phát súng thứ hai bắn xuyên qua ngực hắn chỗ gần bả vai, làm hắn gục đầu xuống vết thương. Phát súng thứ ba là một viên đạn do một người chúng tôi chế tạo, viên đạn được xẻ làm ba phần, bắn trúng ngực hắn làm thành một hình tam giác, khiến hắn đổ gục tới mức chiếc cọc níu dừng hắn lại. Nhưng trong số chúng tôi có những người Fleming[13], họ còn bắn hắn hầu như tan ra thành từng mảnh trước khi bỏ đi”.
Nếu những người Anh lúc đó - với tật xấu của mình là ở mọi lúc mọi nơi đều muốn áp đặt tính cách của mình cho nhân loại - đã có thể phạm những tội ác dã man như vậy đối với những người ngoại quốc không được bảo vệ, trong đó có những người dân các nước phương Đông mà họ có thể so sánh với người Do Thái ở phương Tây, thì chúng ta có thể mong chờ điều gì về thái độ cư xử của họ trước những người châu Âu kia? Không lấy gì làm lạ là các tàu buôn của họ lúc đó đã bị xua đuổi khỏi vùng đại dương, do sự khủng bố bằng những biện pháp tàn bạo đến như vậy. Nhưng mặc dù do nguyên nhân này và những nguyên nhân khác, công việc buôn bán của họ có thể đã bị chuyển dịch đi khỏi những tuyến đường quen thuộc, và có lẽ đã bị giảm sút nhiều, tuy nhiên nó đã không bị hoàn toàn triệt bỏ. Phần công việc buôn bán mà mục đích là tìm kiếm trong các cụm đảo trải dọc theo các bờ biển xứ Nam Hà loài Trepan hoặc Bichos da Mer như tôi đã nói ở trên vốn là một mặt hàng xa xỉ mà người Trung Quốc có nhu cầu rất lớn, đã sớm phát hiện ra một nguồn phong phú trong một khu vực khác của phương Đông mà trong nhiều năm người châu Âu không hề biết tới, dù cho họ đã tiến hành khảo sát ở tất cả các vùng biển đó. Thuyền trưởng Flinders được cử đi trên con tàu Investigator tham gia vào một cuộc thám sát, đã đi dọc theo bờ biển của xứ New Holland [Tân Hà Lan][14] với mục đích thăm dò vịnh Carpentaria[15], đã tình cờ gặp ở dưới vịnh này sáu thuyền buồm Mã Lai từ eo Macassar đi tới, hình như để kiếm những chuyến hàng về loài sên biển hay như thuyền trưởng Flinders gọi là những con dưa chuột biển[16]. Ông ta được người chỉ huy đoàn thuyền cho biết rằng chúng chỉ là một phần của 60 thuyền buồm mà hằng năm ông này vẫn dẫn tới đó chỉ với một mục đích duy nhất như trên, đều đặn trong vòng 20 năm qua. Hình như ông ta đã mang những chuyến tàu hàng đó tới đảo Timor, ở đó ông gặp những thương nhân Trung Quốc mua những chuyến hàng đó rồi chuyển sang những thuyền mành của họ, đem về hải cảng ở miền Nam Trung Hoa. Giá tiền mà người Trung Quốc trả cho những người Mã Lai về mặt hàng này là 20 đô la Tây Ban Nha cho 1 pecul, bằng 133 pound Anh[17]. Người ta tính toán là cứ trung bình 1.000 con sên biển nặng một pecul và cứ 100 pecul bằng một chuyến hàng của một thuyền buồm. Và để chèo lái những thuyền buồm đó đồng thời thu lượm loại động vật này, mỗi thuyền cần chở theo từ 16 đến 18 người. Một số người tách sên biển khỏi các tảng đá; một số người rửa sạch chúng bằng nước ngọt và luộc chín chúng; số khác nữa thu lượm cành cây tươi để đốt khói sấy khô chúng, rất giống với cách chúng ta vẫn dùng để làm với loại cá mòi đỏ.
Việc người Trung Hoa không đích thân tới các bờ biển của xứ Tân Hà Lan để thu lượm loài Trepan không chứng tỏ là họ không hiểu biết gì về nghề hàng hải ở vùng bờ biển này. Ngược lại, họ tỏ ra rất quen thuộc với những điều bất lợi mà một cuộc lữ hành như vậy có thể gặp phải, vì nhất thiết cần phải kéo dài chuyến đi trong suốt một vụ gió mùa khoảng sáu tháng. Hơn nữa, vấn đề đặt ra rõ ràng là, do tính kỵ nước lạnh của họ mà tôi có dịp nói tới trong một cuốn sách khác, liệu họ có bao giờ dám tự mình là những ngư dân đi đánh bắt loài động vật đó không. Ở những lúc chúng dạt đến bờ biển xứ Nam Hà, vì cũng không khác gì nhiều những dân chài thành thạo trên bờ biển xứ Ceylon [Sri Lanka] lặn xuống biển để mò ngọc trai, họ cũng phải lặn xuống biển để tách những con ốc sên đó ra khỏi những tảng đá mà chúng bám vào rất chặt.
Thực vậy, không nghi ngờ gì là người Trung Quốc từ lâu đã rất quen thuộc với mọi vùng biển của thế giới phương Đông, và trong thời cổ đại, khi phần lớn châu Âu vẫn còn ở trong tình trạng dã man, dân tộc phi thường này đã tiến hành buôn bán rộng khắp ở Đông bán cầu, chèo lái thuyền bè của họ vượt khỏi những phạm vi giới hạn hoạt động của những chuyến du hành trên biển của những người châu Âu hiện tại. Họ có những hiểu biết từ sớm về những tính chất đặc biệt của loại đá nam châm và đã áp dụng những tính chất đó vào mục đích hàng hải. Nhờ vậy, họ đã có những lợi thế mà không một quốc gia nào được chúng ta biết đến trên mặt địa cầu này có may mắn được hưởng, cho tới tận thời đại gần đây. Khi Vasco de Gama gặp những người Hồi giáo trên bờ biển châu Phi, vào thời ấy là những người tinh thông bậc nhất trong nhiều ngành khoa học, họ đã có những hải đồ, những dụng cụ đo sao và bảng thiên văn nhưng họ vẫn chưa có la bàn. Về việc người Ả Rập vào thời đó không có la bàn, và bản thân họ cũng không sáng chế ra được nó, cũng chẳng phải du nhập từ một nước phương Đông nào, có thể suy ra từ tên gọi của nó trong ngôn ngữ của họ là El Boussola, gần gũi với dạng tên gọi của nó ở châu Âu[18]. Đối với nhiều người, thật là một tình huống kỳ lạ và không thể giải thích nổi khi những người Trung Hoa vẫn thường buôn bán với người Ả Rập, đã biết dùng la bàn mà những người A Rập lại không biết sử dụng một dụng cụ đem lại cho ngành hàng hải những lợi ích không thể đo đếm được đến như vậy. Tuy nhiên, hoàn toàn có khả năng là những người Ả Rập, mà không ai nghi ngờ về sự thông thái và khéo léo của họ, vẫn có thể duy trì sự kết giao thân thiết với người Trung Hoa, nhưng đã không phát hiện ra tính năng của kim chỉ nam. Trước hết, người Trung Quốc không phải là kiểu người ưa thổ lộ, họ mang theo trong mình sự khinh thường đối với những người nước ngoài ở bất cứ nơi nào họ đi đến, tránh mọi sự giao dịch thân mật ngoài những gì thấy cần thiết để đạt được mục đích mà họ theo đuổi. Thứ hai, một nhà hàng hải Trung Quốc không chỉ coi kim chỉ nam là một vật hướng dẫn đường đi cho tàu thuyền qua biển cả, mà còn tin rằng vị thần làm kim chỉ nam chuyển động là thần bảo trợ con tàu của họ. Và để phù hợp với quan niệm đó, khi tàu ở trong cảng họ luôn luôn cất giữ cẩn thận dụng cụ linh thiêng kia trong một buồng nhỏ ở phía sau con tàu, trong đó đặt những đồ đạc thần thánh mà họ dùng để thờ cúng, luôn luôn lo lắng không để cho người lạ mặt vào. Khi tàu chuẩn bị rời cảng, họ cũng chú ý cất giữ hộp kim chỉ nam với sự lo lắng như vậy, vì một lý do còn có cơ sở vững vàng hơn tính chất thiêng liêng kia. Một khi chuyến đi biển đã được quyết định và tuyến đường đi thẳng tới các nơi muốn đến đã được xác nhận, người ta bèn đặt hộp la bàn vào trong cát, ở một vị trí sao cho hướng chân trời mà cảng biển nằm ở đó trùng khớp với hướng kim chỉ nam. Chừng nào sự trùng hợp đó vẫn được duy trì, con tàu vẫn sẽ đi đúng hướng lộ trình, và người hoa tiêu có nhiệm vụ phải giữ vững vị trí đó đến chỗ càng gần càng tốt và phải ghi lại những sai lệch để cho phép điều chỉnh sao cho con tàu trở lại đúng hướng đi. Vì thế, điều quan trọng bậc nhất là không cho những kẻ đột nhập có thể đến gần chỗ bố trí la bàn. Thứ ba là, có thể quan sát thấy rằng do tính chất của kim chỉ nam, dù có xem xét tỉ mỉ đến đâu, một người thợ máy khéo tay nhất cũng không thể dùng nó làm ra một chiếc kim chỉ nam khác, trừ phi người đó đã có kiến thức từ trước về việc truyền từ tính sang chất sắt. Và không kể đến sự chậm trễ của người Trung Quốc trong việc giới thiệu những phát minh của mình ra nước ngoài, chúng tôi có thể dễ dàng nghĩ rằng một thuỷ thủ Trung Hoa cũng không biết gì về tính chất và những nguyên lý về từ tính như một người Ả Rập.
Vả lại, khó mà có thể cho rằng một người Ả Rập tự phụ và kiêu ngạo, thường tự khoe mẽ về tài năng vượt trội của họ trong ngành khoa học thiên văn, qua việc biết sử dụng những hải đồ và những dụng cụ đo sao, có thể tìm thấy lối đi qua những biển cả không đường hướng, lại có thể lưu ý tới mà không tỏ ra khinh thị một chiếc kim cổ lỗ, nhỏ bé và vô nghĩa của người Trung Hoa, xoay quanh một cái trục, xung quanh vẽ đầy những hình tròn, ký họa và những nét chữ tượng hình, và rất có thể họ chỉ coi nó như một loại đồ đạc lỉnh kỉnh mang tính chất tôn giáo, trong đó sự mê tín dị đoan nhảm nhí trở thành linh thiêng, và đã làm cho căn buồng nhỏ của người Hoa thường trở nên bừa bộn.
Tôi đã có dịp nói tới ở một chỗ khác rằng người Trung Hoa đã dùng kim chỉ nam từ một thời rất xa xưa. Và tôi nhắc lại một lần nữa điều mà tôi cho rằng chỉ riêng mình nó cũng đủ cho thấy thực tế là: Nếu bất kỳ luận điểm nào muốn chứng minh nguồn gốc của kim chỉ nam đã được sử dụng ở Trung Hoa cho mục đích hàng hải, thì cần thấy rằng việc họ ghép kim chỉ nam vào hệ thống thần thoại cổ xưa và được ưa chuộng của mình, những chòm tinh tú và những chu kỳ tuần hoàn, tóm lại là những yếu tố trừu tượng của khoa chiêm tinh học luận chứng của họ, sẽ mở ra một đường hướng rộng lớn cho việc giải quyết điểm này. Tôi cũng muốn nhắc lại rằng, một dân tộc đã gắn bó chặt chẽ với những tập quán cổ xưa và rất coi thường các dân tộc khác sẽ không bao giờ đưa một dụng cụ do bọn man di phát minh ra và mới được du nhập vào tín ngưỡng lâu đời của họ bằng cách khắc lên mép của dụng cụ này những chữ thiêng liêng của đức Fo-shee [Phu Tử, Khổng Tử].
Như vậy, tôi đã nói khá nhiều về vấn đề chiếc la bàn Trung Quốc, vì đã có sự phản đối chống lại một số nhận xét mà tôi đã có dịp cung cấp trước đây để chứng minh quan điểm của tôi là nếu không nói tới nguồn gốc của la bàn thì ít nhất cũng về tính cổ xưa của nó. Lời phản đối đó dựa trên cơ sở cho rằng, nếu người Trung Hoa đã thường xuyên sử dụng một đồ dùng như vậy trong hoặc trước thế kỷ IX, khi họ tiến hành những hoạt động buôn bán rộng lớn với vùng vịnh Ba Tư, thì nhất thiết những nhà hàng hải Ả Rập phải biết đến nó. Trong khi đó, những dân tộc này lại hoàn toàn chẳng biết gì về nó như đã nói ở trên, về tính hướng cực của kim chỉ nam, cho tới khi Vasco de Gama lần đầu tiên dẫn đường vào đại dương phương Đông.
Tôi chỉ muốn nhận xét thêm khi nói tới tầm quan trọng của việc buôn bán với xứ Nam Hà, rằng nếu người Trung Hoa, trước khi bị người châu Âu xua đuổi khỏi đại dương, và trước khi xảy ra tình trạng tai họa của xứ Nam Hà do các cuộc phiến loạn và tiếm ngôi, họ đã từng có thể sử dụng đến hàng trăm chiếc thuyền mành vào loại lớn nhất, thì sẽ có đủ mọi loại lý do để cho rằng nước Anh, bằng sự khôn khéo và điều hành thích hợp, sẽ có thể thành công trong công cuộc khôi phục và chỉ đạo các hoạt động giao dịch buôn bán rộng lớn xưa kia đã từng tồn tại giữa hai nước, và dưới chính quyền vững mạnh hiện nay ở Nam Hà, hoạt động này chắc chắn được nâng lên một tầm cao đã từng đạt tới trong một thời kỳ nào đó trước đây.
Việc cung cấp dồi dào những đồ dự trữ tươi ngon như hoa quả và nước sạch, một bầu trời trong sáng và một bầu không khí khô ráo đã mang lại những hiệu quả ích lợi tác động đến tình trạng ốm đau của hạm đội, đã sớm cho phép chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Theo đó, vào ngày 16 tháng 6, chúng tôi dong buồm đi từ vịnh Đà Nẵng và đến ngày 19 đã nhìn thấy những đảo Ladrone và đại lục Trung Hoa. Chúng tôi đậu lại một trong những hòn đảo đó qua hai ngày để liên lạc với các uỷ viên hội đồng của Công ty Đông Ấn ở Macao, sau đó chúng tôi dong buồm đến eo biển Đài Loan và biển Hoàng Hải. Về cuộc du hành tới vùng biển này và đây là lần đầu tiên các tàu châu Âu tới đó, cùng những chuyến đi tiếp theo tới đại lục Trung Hoa, tôi đã có dịp kể lại chi tiết trong một cuốn sách khác.
❀ ❀ ❀
[1] Callao: phiên âm biến cách của từ Cù Lao. Còn có tên là Pulo Champello, tức Cù Lao Chàm.
[2] Một ngọn núi cao thuộc rặng Andes ở Tây Nam nước Bolivia, có nhiều kim loại quý.
[3] Tương đương 60 kg, tức một tạ ta.
[4] Trepan (trepang), loài hải sâm. Tên gọi trong giao dịch buôn bán của loài holothurian, lớp động vật không xương sống ngành da gai. Các tên thông thường khác: sea-cucumber (dưa chuột biển). Tiếng Pháp: concombre de mer, biche de mer. Hải sâm hình dáng giống con sên, con đỉa, có nhiều nốt sần trên mình (giống như quả dưa chuột), thường bám chặt vào các tảng đá ở đáy biển. Có ở vùng ven biển miền Nam Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa, biển Đông, vùng biển phía bắc nước Úc. Phơi sấy khô, làm lương thực bổ dưỡng cao cấp đắt giá hoặc làm vị thuốc Đông y, được người Trung Quốc rất ưa chuộng.
[5] Camboge (gamboge): một loài cây có nhựa màu vàng mọc ở xứ Cămbốt xưa kia, tức Chân Lạp, có một phần đất thuộc Nam Bộ ngày nay.
[6] Tên gọi cũ của đảo Penang, rộng 293 km² ở eo Malacca thuộc Malaysia ngày này. Năm 1786, Hồi vương xứ Kedah đã nhường cho Công ty Đông Ấn Anh hòn đảo, được mang tên “Thái tử xứ Wales” (Prince of Wales).
[7] Tức sông Irawaddy của Myanmar ngày nay.
[8] Đây muốn nói đến phái bộ Ch. Chapman đến Đàng Trong - Nam Hà năm 1778.
[9] Đây chỉ phái bộ J.W. Roberts đến Việt Nam năm 1804.
[10] Chỉ vua Gia Long.
[11] Hiệp định đình chiến ký năm 1802 tại Amiens (một thành phố ở đông bắc nước Pháp) giữa Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Hà Lan trong cuộc chiến tranh Napoléon ở châu Âu.
[12] Còn nhiều điều tồn nghi về chuyến du hành của Antonio de Faria, người Bồ Đào Nha đến vùng bờ biển Đại Việt - Champa vào năm 1537 (hoặc 1535, theo Ch. B. Maybon). Theo hồi ký Mendez Pinto thì A. de Faria đã đi qua các đảo thuộc Pulo Campello (Cù Lao Chàm), Pulo Capas (?) và sông Boralho (Varella ghi trên các hải đồ), thấy có một đoàn gồm 2.000 thuyền mành lớn nhỏ và một thành phố có tường bao với khoảng chục nghìn nóc nhà. Trong du ký này, căn cứ vào việc “người ta nói có đến 200 chiếc thuyền mành Trung Quốc hàng năm đã tới Hội An buôn bán”, J. Barrow đã cho rằng “rất có thể đó là thành phố mà Faria đã nói tới”. Một số tác giả, trong đó có Nguyễn Thành Nhã (xem: Tableau économique du Vietnam au XXVII et XVIII siècles, Paris, 1970) cho rằng có thể A. de Faria đã nói tới vùng Đà Nẵng. Tuy nhiên, Hội An (kể cả Đà Nẵng) đâu có phải là một thành phố có tường bao? Hơn nữa, Faria lại nói tới vùng đó gần sông Boralho, được gọi là Varella trên các hải đồ. Cap Varella: Theo nhiều tư liệu, mũi Varella chính là mũi Đại Lãnh, gần mũi Nay và Vũng Rô, ở phía Nam thị xã Tuy Hòa, thuộc tỉnh Phủ Yên, là một phần kéo dài của núi Đá Bia, điểm cực đông của bờ biển Việt Nam. Như vậy, nó cách xa vùng Đà Nẵng-Hội An. Vậy đâu là vị trí đích thực của cái “thành phố có tường bao với khoảng chục nghìn nóc nhà” đó? Chắc chắn rằng điều này cần phải được tiếp tục nghiên cứu và chưa thể kết luận được.
[13] Fleming: thổ dân xứ Flanders xưa kia, nay thuộc Bỉ.
[14] New Holland (Tân Hà Lan): Tên trước đây người châu Âu dùng để gọi nước Australia (Úc) ngày nay.
[15] Carpentaria: Một vịnh ở bờ biển phía Bắc Australia.
[16] Trepan (trepang), loài hải sâm. Tên gọi trong giao dịch buôn bán của loài holothurian, lớp động vật không xương sống ngành da gai. Các tên thông thường khác: sea-cucumber (dưa chuột biển). Tiếng Pháp: concombre de mer, biche de mer. Hải sâm hình dáng giống con sên, con đỉa, có nhiều nốt sần trên mình (giống như quả dưa chuột), thường bám chặt vào các tảng đá ở đáy biển. Có ở vùng ven biển miền Nam Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa, biển Đông, vùng biển phía bắc nước Úc. Phơi sấy khô, làm lương thực bổ dưỡng cao cấp đắt giá hoặc làm vị thuốc Đông y, được người Trung Quốc rất ưa chuộng.
[17] 1 pecul (picul) bằng 133 pound Anh, tương đương 60 kg hoặc 1 tạ ta.
[18] La bàn trong tiếng Bồ Đào Nha là bùssola, tiếng Ý: bussola, tiếng Pháp: boussole.