Vì chúng tôi đã lưu lại ở vùng cận kề xích đạo này khá lâu so với thời gian dự định, hay vì nếu tránh được điều đó thì sẽ tốt cho sức khỏe của đoàn thủy thủ, chúng tôi vui sướng khi rời khỏi vùng bờ biển thấp và lầy lội của Sumatra, đồng thời là vùng eo biển Banca. Sau khi đã cố gắng nhưng không có kết quả để đậu lại trong một vịnh ở đảo Pulo Lingin, nằm ngay dưới đường phân điểm, chúng tôi đã không luyến tiếc gì để bỏ nó lại phía sau. Một ít người trong chúng tôi thì lo lại gặp phải cái nóng với cấp độ phi thường trên đảo, mà như học giả Bayer đã nói, tôi quên mất ông đã dẫn lời của một chuyên gia uy tín nào, rằng nó hoàn toàn đủ cho một sự truyền chủng loài người mà không cần đến sự giao phối giới tính thông thường. Tuy nhiên, với điều khẳng định đó, tôi cho rằng cái bào thai tự sinh kia cũng sẽ không đủ may mắn để tạo nên “một ước muốn mạnh mẽ vào thời khắc sinh sản”.
Vì đợt gió mùa thuận lợi vẫn còn chưa bắt đầu, và tình trạng ốm đau đòi hỏi phải lên bờ bồi bổ tĩnh dưỡng, nên chúng tôi đã đến thả neo tại một vịnh trống trải trước một trong những hòn đảo nhỏ của Côn Đảo [Pulo Condore][1]. Nhưng việc những chiếc tàu lớn của chúng tôi xuất hiện đã khiến cho các cư dân bản địa khốn khổ vô cùng kinh sợ. Họ đã kéo nhau lên núi, bỏ lại đằng sau mình ít đồ lương thực dự trữ, để ở cửa ra vào những túp lều của họ; và trong một tờ giấy viết bằng chữ Hán, họ cầu xin chúng tôi hãy bằng lòng lấy đi toàn bộ số của cải ít ỏi đó, và hãy để lại cho họ những căn nhà tồi tàn kia. Thấy tình hình trên hòn đảo như vậy, chúng tôi vội vã rời khỏi nơi đó, và cho tàu hướng thẳng tới một phần đất liền của châu Á, nơi này ít được mọi người biết đến. Và tôi có thể dám tiên đoán rằng, trong thời gian nhiều năm tới đây, một số nước châu Âu sẽ còn biết về nó ít hơn thế nữa.
Trong hệ thống địa lý học mới nhất, và có lẽ là hệ thống sắp xếp tốt nhất đã được cung cấp cho công chúng, có một bộ phận đáng kể của châu Á, gồm trọn vẹn hai mươi triệu dân, với từ ba đến bốn trăm dặm vuông; điều lạ lùng có thể xảy đến là nó đã bị bỏ qua chỉ với một nét bút. Ông Pinkerton nói: “Những vương quốc Lào, Cămbốt, Champa, Đàng Trong và Đàng Ngoài, bản thân đã là những quốc gia ít quan trọng, mà những dữ liệu về các quốc gia này lại càng không hoàn hảo”. Đối với vế sau của câu khẳng định có tính chất lướt qua và am hiểu không đầy đủ nói trên, tôi hầu như sẵn sàng đồng ý, nhưng không thể nào tán thành với vế trước. Có thể tôi đã khá tự kiêu để hy vọng rằng, những tư liệu ít ỏi nhưng hoàn toàn xác thực mà tôi sắp công bố sẽ đủ để chứng tỏ rằng, những xứ sở đó, hoặc một phần của chúng - đã từng bị đánh giá khá rẻ rúng - thì không chỉ quan trọng với bản thân các nước đó, mà còn rất quan trọng với điều liên quan đến hiện tại và sau này đối với xứ Ấn Độ thuộc Anh. Và để minh họa tốt hơn cho bản phác thảo lịch sử, đây sẽ là nội dung của chương này, có lẽ chúng ta cũng nên nói trước một vài nét đại cương ngắn gọn về điều kiện địa lý và sự phân chia địa giới của phần lục địa châu Á này, thường được biết đến với tên gọi là xứ Nam Hà (Cochinchina)[2].
Đế quốc Trung Hoa thời nhà Thanh rộng lớn, tận cùng về phía Nam ở 22 độ vĩ Bắc, nhưng một dải đất liền với nó vẫn tiếp tục ở phía Tây, kéo dài tới 9 độ vĩ Bắc. Vùng đất kéo dài tới 13 vĩ độ này có một rặng những núi cao, chạy dọc ở giữa từ Bắc xuống Nam, phân chia đế quốc Miến Điện về phía Tây với các vương quốc Bắc Hà, Nam Hà, Champa và Cămbốt ở phía Đông. Những tên gọi này, thường được ghi dấu trên những tấm hải đồ của chúng ta, tuy nhiên, lại hoàn toàn không được biết đến đối với những cư dân bản địa, trừ xứ Bắc Hà (Tong-quin). Ba phân vùng khác, thường được gọi chung là An-nan, tách biệt thành ba phân khu lớn[3]. Phân khu thứ nhất, nằm giữa điểm cực nam tạo thành địa đầu của vịnh Xiêm và trải dài khoảng từ 9 vĩ độ Bắc tới vĩ tuyến 12, được gọi là Đồng Nai (Don-nai). Khu thứ hai, trải rộng từ đó đến vĩ độ 15, gọi là Chang [Nha Trang?]; và khu thứ ba, nằm giữa vĩ độ này đến vĩ độ 17, giáp với vương quốc Bắc Hà, gọi là Huế [Hué]. Trên bờ biển của tất cả các vùng đất đó là các vịnh và cảng tiện lợi và an toàn. Con sông lớn Đồng Nai (trên hải đồ là Cămbốt) được mô tả là có thể đi lại được đối với những tàu thuyền kích cỡ lớn nhất ngược dòng tới 40 dặm vào trong đất liền… Ở đó là đô thị Sài Gòn [Sai-gong], nơi có một cảng rộng rãi và thuận tiện, cùng một xưởng quân dụng lớn của hải quân. Một nhà quý tộc người Anh, trên đường đi từ Trung Quốc tới Ấn Độ, khi đáp tàu Bồ Đào Nha trên dòng sông này đã mô tả với tôi rằng nó như một trong những cảnh quan hùng vĩ nhất mà người ta có thể hình dung được. Con sông này có nhiều nhánh rộng, nhưng đoạn sông mà con tàu của họ đi thì ít nơi rộng quá hai dặm, thậm chí nhiều nơi không quá một dặm; dù vậy nơi nào mực nước cũng rất sâu, đến nỗi những dây chão giằng buộc tàu thỉnh thoảng lại bị vướng mắc vào những cành cây của cánh rừng oai phong rủ bóng xuống hai bờ sông không còn cỏ mọc; tương phản với những bến bãi xanh tươi.
Trong phân khu Chang, ở vĩ độ Bắc 13°50’, có vịnh và cảng Chin-cheu. Cảng này rất rộng rãi và hoàn toàn có thể chắn được mọi hướng gió, nhưng những tàu lớn chỉ có thể vào được trong cảng lúc nước triều dâng cao, bởi vì có một dải cát chắn ngang lạch nước hẹp, là lối đi giữa cảng và vịnh ở bên ngoài. Ở đầu cảng biển này là đô thị Qui Nhơn [Quin-nong].
Đô thị chính của phân khu Huế cũng mang cùng tên gọi, nằm bên bờ một con sông lớn mà tàu thuyền trọng tải lớn có thể đi lại được, nhưng một dải cát đã chắn ngang cửa sông. Lui một ít về phía Nam của con sông này là vịnh Hàn Sơn [Han-san], hay thường được ghi dấu trên các tấm hải đồ là Đà Nẵng [Turon], mà về mặt an toàn và thuận tiện, ít có vịnh nào ở thế giới phương Đông sánh được bằng nó, và chắc rằng không có vịnh nào vượt trội hơn nó. Nó nằm ở vĩ độ 16°7’ Bắc.
Chính vịnh biển này là nơi mà tàu của chúng tôi từ Côn Đảo đã hướng tới và đi vào ngày 24 tháng 5. Không có một tấm hải đồ nào để dựa vào, và khi nhận thấy một số đông các thuyền chài đánh cá ở khoảng giữa con tàu của chúng tôi và bờ biển, chúng tôi bèn cử đi một chiếc thuyền với mong muốn tìm được một hoa tiêu, nhưng những ngư dân, khi trông thấy chiếc thuyền đó, bèn lập tức giương buồm chạy thẳng ra xa theo chiều gió. Tuy nhiên, cuối cùng chúng tôi cũng đuổi kịp được một chiếc thuyền không có buồm, và trên đó có một ông lão khốn khổ thảm hại; thực tôi chưa từng bao giờ trông thấy một người nào thảm thương hơn thế. Đôi mắt ông ta trũng sâu trên khuôn mặt xám xanh màu tấm ván gỗ sồi cũ kỹ, hốc hác, nhăn nheo; một vài lọn tóc hoa râm bết dính chòi ra bên dưới chiếc khăn cáu bẩn quấn quanh đầu. Toàn bộ y phục của ông ta gồm một chiếc áo ngắn vá chằng chịt đến hai mươi mảnh vụn đủ các loại vải, màu sắc khác nhau và đôi ống quần đùi tơi tả. Một hình mẫu như vậy thật không mang lại nhiều hy vọng vào sự giúp đỡ từ những người mà chúng tôi sắp sửa ghé thăm.
Bước chân lên tàu, ông lão hình như bị kích động mạnh; ông ta đưa mắt nhìn quanh boong tàu rộng rãi, rồi nhìn những khẩu súng lớn, và khá bối rối khi xung quanh có sự hiện diện của đông người như vậy; nhưng hơn hết, ông ta đặc biệt chú ý đến những cột buồm cao vút của con tàu. Nhiều lần, ông ta đã quỳ gối xuống và khóc. Sau cùng, người ta phải khá vất vả mới làm cho ông ta bình tĩnh được, và ra dấu để ông ta hiểu được mục đích của việc đưa ông ta lên tàu. Ông ta bèn chỉ cho lối tàu đi vào vịnh, mà người lạ thì không dễ dàng gì khám phá ra được. Vì trời nổi gió nên cho mãi đến tận ngày hôm sau chúng tôi mới vào được trong vịnh.
Tình trạng khốn khổ về bệnh tật, bởi chứng sốt phát ban và kiết lỵ mà chúng tôi mắc phải từ khi ở Batavia đã lan rộng ra hầu khắp đoàn người trên tàu, là lý do chính khiến chúng tôi đi đến Đà Nẵng, sau khi chúng tôi thất vọng vì tình hình ở Côn Đảo. Người ta có thể tưởng tượng ra nỗi khổ nhục và phiền muộn mà chúng tôi cảm thấy lớn đến thế nào khi được nghe viên thuyền trưởng của một chiếc tàu Bồ Đào Nha đang neo đậu trong vịnh cho biết rằng một cuộc phiến loạn đang xảy ra và nhấn chìm toàn bộ xứ Nam Hà vào tình trạng nội chiến, khiến đất nước lâm vào tình cảnh khốn khổ; điều đó đã làm tiêu tan mọi hi vọng tìm kiếm đồ ăn thức uống bồi bổ đang rất cần thiết cho chúng tôi. Ông ta còn nói rằng có lẽ chúng tôi nên đi thẳng tới Macao mà đừng có nán lại chút nào cả, còn hơn là đợi ở đó để mà trông chờ vô vọng vào những đồ tiếp tế, có thể là sẽ được hứa hẹn, nhưng như ông ta biết rất rõ ràng chẳng thể nào có được.
Tình trạng khốn khổ của ông già ngư dân của chúng ta, quang cảnh chung quanh của nơi này, và tất cả những điều mà chúng tôi đã thấy, hình như đã xác nhận nguồn tin tức không có gì đáng vui mừng của Manuel Duomé[4]. Một vài người bản xứ đã đến gần những con tàu; cách họ cư xử tỏ ra rụt rè và khả nghi; và khi chúng tôi lên bờ, họ hình như muốn trốn tránh chúng tôi. Không có lương thực, cũng chẳng có cái gì tươi mát, bổ dưỡng được đem đến những con tàu; và cũng phải khá khó khăn chúng tôi mới kiếm được trên bờ biển một ít gà vịt và một số lượng nhỏ những quả, củ. Tuy nhiên, đến ngày thứ hai, việc cung cấp hàng hóa ở chợ đã khá hơn và một vài ngày sau nữa, khi những người bản xứ thấy rằng các hàng hóa đều bán được theo giá của họ, tiền bạc kiếm được nhiều, thì những hàng tươi sống và rau quả đã được cung cấp dồi dào. Các quan chức lúc này cũng đã bắt đầu đến, dáng điệu tỏ ra lịch thiệp, và ít nhiều lưu ý đến những yêu cầu của chúng tôi. Thậm chí họ còn lên tàu thăm hỏi chúng tôi; và bốn, năm ngày sau, có thông báo rằng để tạo điều kiện thuận lợi, hằng ngày một bữa cơm công cộng sẽ được chuẩn bị trên bờ biển, các quý ngài và các sĩ quan hạm đội đều có thể tùy ý tham dự.
Công việc giao dịch của chúng tôi với dân chúng lúc này trở nên thường xuyên và không bị hạn chế; sự tin cậy lẫn nhau được thiết lập; và điều đó đã làm sáng tỏ một điều phát hiện không vẻ vang gì lắm cho ông bạn Manuel Duomé của chúng ta. Tay lái buôn người Bồ này, với một tinh thần thực sự là ghen tị trong buôn bán, đã lợi dụng những nghi ngờ của người Nam Hà, và ông ta nói bóng gió rằng, rõ ràng là hạm đội Anh đến đây với những ý đồ thù địch. Và hình như ông ta cho là sẽ không khó nhọc gì để làm cho dân chúng tin rằng đúng là như vậy, với hy vọng rằng họ sẽ cấm chợ để chống lại chúng tôi, và như thế chúng tôi sẽ phải ra đi nhanh chóng, để lại khu bờ biển trống vắng đó cho mình ông ta. Để giải thích những hoàn cảnh đưa đến nỗi ngờ vực này, đòi hỏi cần trình bày ngắn gọn về những sự việc của cái đất nước hỗn loạn này trong vòng ba mươi năm qua. Và tôi không mong muốn nghĩ rằng bản phác thảo lịch sử mà tôi sắp đưa ra đây sẽ bị mọi người - kể cả ông Pinkerton - đánh giá là không quan trọng và chẳng có gì thú vị.
Vào năm thứ 35 triều Caung-shung[5] [Cảnh Hưng], nhà vua Nam Hà khi đó 50 tuổi (năm 1774 của kỷ nguyên Cơ Đốc), một cuộc nổi dậy đã bất ngờ bùng nổ ở kinh đô, thành phố Quy Nhơn, và bắt đầu tràn ra khắp nơi. Cuộc phiến loại này do ba anh em cầm đầu. Người anh có tên là Nguyễn Nhạc [Yin-yac], là một thương gia giàu có đã tiến hành công việc buôn bán mở rộng với Trung Quốc và Nhật Bản; người thứ hai tên là Long Nhương [Long-niang][6], tướng lĩnh cấp cao, một nhà chỉ huy lớn; còn người em thứ ba là một thầy tu. Một sự kết hợp nguy hiểm như vậy giữa tiền của, binh quyền và ảnh hưởng trong tinh thần dân chúng chỉ gặp phải sự kháng cự yếu ớt phần nào của nhà vua, một người có thể tạng ốm yếu và lười nhác, trong nhiều năm đã giao quyền bính cho đám tướng lĩnh của ngài, phần lớn là những hoạn quan. Lúc đó còn có những hoàn cảnh khác dẫn dắt người ra đi theo ý đồ của những thủ lĩnh quân phiến loạn. Việc áp đặt thuế thân đã gây nên một nỗi bất bình chung trong dân chúng. Bước đầu tiên mà quân giặc tiến hành, theo cách thức thường sử dụng trong những trường hợp như vậy, là bắt giữ nhà vua và giam giữ mọi thành viên hoàng gia; tất cả những người rơi vào tay họ đều lập tức bị xử tử. Thành phố Sài Gòn được coi là nơi thuận tiện cho việc dấy nghĩa của vị quân vương bị phế truất; do đó, một đạo quân được điều về tấn công thành phố. Những thành lũy bị san bằng, 20.000 cư dân bị chém giết.
Những cuộc xét xử và hành hình đã diễn ra hằng ngày trên mọi miền của đất nước, lấy cớ là do có những âm mưu chống lại những kẻ tiếm quyền. Về phía họ, những người này đã không bỏ qua bất kỳ biện pháp hoặc cơ hội nào để có thể gây được ảnh hưởng trong quần chúng. Thương nhân tổ chức những bữa tiệc sang trọng, hội hè, những cuộc bắn pháo bông; tướng lĩnh thì phỉnh nịnh quân sĩ; các nhà sư thì tuyên truyền trong đám quần chúng vô tư về những thánh chỉ của Tien [Thiên, Thượng đế] ra lệnh cho ba con người nổi tiếng đó, tới đây sẽ đứng ra làm những người cai trị họ trong tương lai.
Để sắp xếp chính quyền tương lai của đất nước rộng lớn này, họ quyết định rằng Nguyễn Nhạc sẽ nắm giữ hai phân khu Chang và Đồng Nai, Long Nhương sẽ nắm giữ phân khu Huế, giáp với xứ Bắc Hà, và người em út sẽ là vị tu sĩ cao cấp nhất trong toàn bộ xứ Nam Hà. Với sự bố trí này, Nguyễn Nhạc đã sắp đặt một cách xảo quyệt cho người em mình vào ở giữa khu vực của bản thân ông ta và những người Bắc Hà, lúc đó vẫn được coi là một quốc gia hùng mạnh. Long Nhương hầu như chưa đặt chân tới kinh đô của mình là Hué-foo [Huế phủ], trước khi ông ta có cơ hội để gây sự với nhà vua Bắc Hà, vốn là một chư hầu nộp cống cho Hoàng đế Trung Hoa. Thực vậy, với bản chất và tính tình giống như người Trung Hoa, những người Bắc Hà ít có khả năng đương đầu với đội quân dày dạn và có kỷ luật của một kẻ tiếm quyền dũng cảm và liều lĩnh. Vị vua này đã bỏ rơi quân đội của mình ngay sau cuộc giao chiến đầu tiên, trốn chạy sang Bắc Kinh cầu viện Hoàng đế Trung Hoa. Nhà vua Càn Long, do đã thắng lợi ở mọi nơi trên Tartary [Thát Đát vùng Mông Cổ] và trên hòn đảo Formosa [Đài Loan], đã đi tới chỗ tin tưởng rằng những đội quân của mình là bất khả chiến bại, cho rằng sẽ chẳng khó khăn gì để đánh đuổi kẻ tiếm quyền ra khỏi xứ Bắc Hà, và lập lại vị quân vương hợp pháp, đưa lên ngôi báu.
Với cách nhìn đó, Hoàng đế bèn ra lệnh cho Phó vương Quảng Châu dẫn đầu một đạo quân 100.000 người lập tức tiến quân. Long Nhương, nhờ do thám, đã biết cặn kẽ về mọi hành động chuyên quân của đạo binh khổng lồ này. Khi đã nắm chắc đường hành quân của địch, ông bèn cử các biệt đội đi tiêu thổ những thị trấn và làng mạc mà quân địch phải đi qua. Gặp phải kế vườn không nhà trống như vậy, đạo quân Trung Quốc, dù còn xa mới tiến đến biên giới Bắc Hà[7], đã bị kiệt quệ vì thiếu lương thực, buộc phải quay trở về.
Kẻ tiếm ngôi là một tướng lĩnh giỏi hơn nhiều so với ông bạn Phúc Khang An [Foo-chang-tong][8] của chúng tôi (chúng tôi đã gặp ông này ở triều đình Bắc Kinh). Kẻ tiếm ngôi tiếp tục cho quân quấy rối hậu quân của đạo binh Trung Quốc khi họ rút lui. Họ đã hứng chịu khá nhiều tổn thất trong cuộc viễn chinh được chỉ huy tồi này; do mệt mỏi, đói khát, gươm đao, không dưới 50 nghìn quân sĩ được báo là đã bị tiêu diệt mà không xảy ra một trận đánh tổng lực nào[9]. Rút đám tàn quân trở về cách Quảng Châu chừng một trăm dặm, viên Phó vương, để tránh bị mất quân, và quan trọng hơn đối với ông ta là mất uy tín và có thể bị thất sủng, đã đi đến kết luận rằng bước đi khôn ngoan nhất mà ông ta có thể tiến hành lúc đó là nên mở cuộc đàm phán với kẻ tiếm quyền.
Với giọng điệu của người thắng trận, Long Nhương mạnh mẽ tuyên bố rằng ông ta đã được đưa lên ngôi Hoàng đế của xứ Bắc Hà do ý trời và tiếng nói của nhân dân, ông quyết định sẽ giữ vững quyền đó đến cùng. Ông nói rằng ông có tới 200.000 quân ở Bắc Hà và cũng nhiều chừng đó ở Nam Hà; họ sẵn sàng nhỏ đến giọt máu cuối cùng để ủng hộ ông. Ông bấy giờ không chỉ là Long Nhương, kẻ tiếm quyền nữa, vì ông đã lên ngôi Hoàng đế với tên gọi là Quang Trung [Quang-tung], nhà vua của các vương quốc Bắc Hà và Nam Hà hợp nhất.
Viên Phó vương chưa chuẩn bị kỹ để đối phó với giọng điệu kiêu căng và quyết đoán này của kẻ tiếm quyền, tuy nhiên không còn thời giờ để ông ta cân nhắc kỹ lưỡng nữa. Phúc Khang An là một chiến binh tồi, nhưng nếu ông ta thiếu lòng dũng cảm và tài quân sự thì lại có thừa mưu mẹo xảo quyệt. Của cải và danh tiếng của ông ta bị đưa ra đặt cược, và ông thấy rằng mình đã bị dồn vào thế cần phải chơi một ván bài liều mạng. Ông ta bèn cử một người đưa thư về triều đình Bắc Kinh, dâng một tấu trình lên Hoàng đế về thắng lợi vô song của cuộc viễn chinh, và sau khi vẽ ra một vài chi tiết về những trận giao chiến không bao giờ xảy ra, trong đó quân đội của hoàng đế được miêu tả là luôn luôn chiến thắng; thì người ta cũng phải chứng kiến sự dũng mãnh của kẻ địch, thấy được tính chính đáng và hợp lý của việc đối phương đòi hỏi lên ngôi vua mà người chiếm giữ trước đó đã từ bỏ, tính cách ngay thẳng của kẻ địch và lòng quý trọng của đông đảo dân chúng đối với kẻ đó. Tóm lại, theo ý kiến của viên Phó vương, thì nên mời Quang Trung giữ ngôi vua Bắc Hà. Đồng thời, ông gợi ý rằng nên ban tặng cho vị quân vương trước đó của xứ Bắc Hà[10] một chức phẩm quan tước ở một trong những tỉnh của Trung Quốc, như là một sự đền bù hào phóng cho những gì vị quân vương đã mất đi ở Bắc Hà.
Triều đình tán thành với lời đề nghị của viên Phó vương. Giống như trường hợp của Federigo xứ Naples đã được Louis XII phong cho làm Công tước xứ Anjou, ông vua Bắc Hà đi trốn chạy đã từ bỏ mong muốn trở lại ngai vàng, chấp nhận một tước quan Trung Hoa hèn kém hơn. Sau đó, một lời mời Quang Trung đến Bắc Kinh đã chính thức được gửi đi.
Tuy nhiên, vị tướng quân cảnh giác này nghĩ rằng, đây có thể là một mẹo lừa của viên Phó vương định bắt mình. Và, tất nhiên là ông không tin vào con người mà mình vừa đánh bại đến chỗ nhục nhã, lưỡng lự xem mình nên đi theo hướng giải quyết nào. Rồi, trong khi tham vấn ý kiến của một trong những tướng lĩnh tin cậy của ông, họ đi đến kết luận rằng viên võ tướng này cần đi tới kinh đô Trung Hoa như người thay ông đóng vai làm vị vua mới xứ Bắc Hà và Nam Hà. Ông này đã được đón tiếp tại triều đình Bắc Kinh với mọi nghi thức trọng thể, được biếu các tặng phẩm theo thông lệ, và được xác nhận về tước vị của mình đối với các vương quốc hợp nhất, sau đó sẽ được coi như một phiên thuộc của Hoàng đế Trung Hoa. Khi ông vua giả mạo này trên đường trở về Huế, Quang Trung khá lúng túng không biết mình nên xử sự ra sao, nhưng khi thấy rằng sự việc này không thể giữ bí mật lâu được với nhiều bằng chứng sống như thế, ông bèn sai giết người bạn mình cùng toàn bộ đoàn tùy tùng, như là giải pháp chắc chắn nhất và có lẽ cũng là duy nhất để ngăn ngừa không cho mưu kế mà ông sử dụng rất thành công đối với Hoàng đế Trung Hoa bị phát hiện. Sự kiện này xảy ra vào năm 1779[11].
Những ai đã quen với tính cách Trung Hoa và bản chất của chính quyền đó sẽ chẳng ngạc nhiên cho lắm khi viên võ tướng chỉ huy một đạo quân lại có thể gửi tới Tối cao pháp đình ở Bắc Kinh một bản báo cáo sai lạc về những công việc mình đã làm. Ở đâu mà những sự dối trá đã có cơ may thoát khỏi bị phát giác, ở đâu mà những công trạng quân sự chỉ được đánh giá theo chuẩn mực là phải chiến thắng, ở đâu mà chỉ một trận thất bại, khi được xác nhận, cũng đưa đến hậu quả là thòng lọng treo cổ, thì ở đó khó mà trông chờ rằng sự thật sẽ được viết ra do ngòi bút của chính con người phải kể lại câu chuyện về những tai họa của bản thân mình. Thỉnh thoảng Kien-lung [Càn Long] và Kia-king [Gia Khánh] cũng ban bố những chiếu chỉ trừng trị những viên tướng nào tấu trình về những trận chiến không hề có giao tranh, những chiến thắng không bao giờ giành được, nhưng cũng chẳng mang lại hiệu quả. Vào lúc này, tòa quân pháp ở Bắc Kinh còn lâu mới nhận được một báo cáo chân thực về các sự kiện xảy ra, cũng như những bậc tiền bối của họ từ hai ngàn năm về trước. Vậy thì không lạ gì khi Phúc Khang An, ở một vùng đất hoang vu ít người qua lại cách xa 2.000 dặm, đã bị lôi kéo vào những việc lừa gạt triều đình, mà vẫn không thể bị phát hiện.
Vào lúc nổ ra cuộc phiến loạn ở Nam Hà, trong khi ba anh em đã sai người giết nhà vua cùng số người trong hoàng tộc và những người ủng hộ nhà vua mà họ bắt được, trong triều đình đã có một giáo sĩ người Pháp tên là Adran, mà qua những bản tin khác nhau được in trong cuốn Những bức thư khuyến thiện và kỳ lạ (Lettres édifiantes et curieuses), ông đã tự xưng là Giám mục Thừa sai của xứ Nam Hà (Apostolic Vicar of Cochinchina). Giáo sĩ đó đã gắn bó chặt chẽ với hoàng gia, mà về phần mình, cũng tỏ ra rất tôn kính và quý trọng ông. Thay vì truy bức khu giáo dân nhỏ bé mà Adran lập nên trong xứ, nhà vua đã che chở cho ông ta, và ngài thấy chẳng có gì đáng nguy hiểm từ một con người trung thành với một tôn giáo khác với tôn giáo của bản thân ngài. Do vậy, nhà vua đã không ngại ngần giao cho giáo sĩ đó trông nom dạy dỗ riêng đứa con trai duy nhất của mình và cũng là người sẽ kế vị ngôi vua.
Khi cuộc phiến loạn bắt đầu bùng nổ, Adran thấy rằng hy vọng duy nhất cho bản thân ông và đám con chiên muốn được an toàn là chạy trốn. Vua cha bị quân giặc bắt giữ, nhưng hoàng hậu, thái tử trẻ tuổi cùng với vợ, đứa con nhỏ cùng người em gái của thái tử đã được Adran tận tình giúp đỡ và trốn thoát. Nhờ đêm tối, bọn họ lánh đến một nơi cách xa kinh đồ, ẩn náu trong một cánh rừng. Ở đây, trong nhiều tháng, vị vua trẻ tuổi xứ Nam Hà - cũng giống như một Charles khác - cùng với những người còn lại trong cái gia đình khốn khổ đó, phải lẩn trốn dưới cành lá um tùm của một cái cây - không phải là sồi mà là cây đa hoặc cây vả - loại cây mà họ cho là tính chất linh thiêng của nó có thể đem lại nhiều an toàn hơn. Trong tình hình đó, một thầy tu Cơ Đốc tên là Paul[12] đã liều mạng tiếp tế cho họ tới khi quân giặc không còn lùng sục nữa và những toán quân đi truy bắt được triệu hồi.
Ngay sau khi quân địch rút đi, đám người lẩn trốn khốn khổ đã cố gắng tìm đường về Sài Gòn, nơi dân chúng tụ tập đông đảo để ủng hộ của vị quân vương chính thống của mình, người được họ tôn lên làm vua xứ Nam Hà, dưới danh nghĩa của vua cha Caung-shung[13] trước kia. Lúc đó, có một chiến thuyền do một người Pháp là Manuel[14] chỉ huy, bảy thuyền buồm của thương nhân người Bồ và một số lớn thuyền mành và những thuyền chèo đang đậu ở bến Sài Gòn. Theo sự cố vấn của Adran, người ta đã mua lại số thuyền đó, cung cấp người và trang bị trong thời gian ngắn nhất, với mục đích mở một cuộc tập kích bất ngờ vào đội thuyền đang lơ là cảnh giác và thiếu chuẩn bị của kẻ tiếm quyền đang ở trong cảng Qui Nhơn. Gió mùa lại thuận lợi cho kế hoạch. Họ tiến vào vịnh nơi đội thuyền của kẻ địch đang neo đậu một cách yên tĩnh. Tuy nhiên, lệnh báo động đã được truyền, những đoàn quân nhanh chóng lên thuyền. Cuộc chiến ngày hôm đó rơi vào thế giằng co, cho tới khi một con tàu của người Pháp gặp phải sự cố bất thường, bị mắc cạn. Những người chỉ huy của bảy chiếc thuyền Bồ Đào Nha lập tức mang theo tàu thuyền của họ tháo chạy đến Macao. Nhà vua trẻ tuổi tỏ ra rất điểm tĩnh và gan dạ, nhưng bị áp đảo bởi số đông quân địch, buộc phải vội vã tháo lui.
Cuộc tấn công này đã gây hư hại và phá hủy một phần đáng kể đội tàu thuyền của Nguyễn Nhạc, nhưng cũng khiến ông ta tăng thêm sự chú ý đến những phần đất phía Nam của đất nước. Thật vậy, Nguyễn Ánh đã về tới Đồng Nai một cách vất vả, gặp khó khăn vì gió mùa thổi ngược trên đường trở về, rồi nhận được tin thám báo rằng có một đạo quân lớn đang tìm đến để tiến đánh ông. Người ta sớm nhận ra rằng mọi sự kháng cự của nhà vua vào lúc này có thể không đem lại hiệu quả, và vì vậy ông đã lập tức rời khỏi đất nước. Sau khi tập hợp những người còn lại trong gia tộc và một số ít những người thân cận trung thành, ông lên thuyền trên sông Sài Gòn xuôi dòng ra biển, an toàn đến một hòn đảo nhỏ không có dân cư trong vịnh Xiêm La có tên là Pulo Wai[15]. Ở đây, dần dần ông đã tuyển mộ được trong đám thần dân của mình khoảng gần 1.200 quân sĩ. Kẻ tiếm ngôi, sau khi phát hiện ra nơi ông ẩn náu, quyết định cử một đoàn quân viễn chinh tiến đánh ông. Nhưng Nguyễn Ánh, do biết được ý đồ này, thay vì ở lại hòn đảo không có gì bảo vệ lúc đó và thể nào bản thân ông và những người của ông cũng sẽ bị tiêu diệt, ông đã có một lựa chọn khôn ngoan là đáp tàu đi Xiêm và nhờ vua nước đó che chở.
Hoàng đế Xiêm La lúc này đang có chiến tranh với người Braamans [Miến Điện]; cho tới khi đó họ vẫn luôn luôn chiến thắng, xâm lấn nhiều nơi trên lãnh thổ của ngài. Nguyễn Ánh vốn là một người kiêu hãnh, ông không chịu được cảnh ngồi yên làm một thần thuộc tầm thường và thụ động, sống nhờ vào lòng hào phóng của vua Xiêm. Ông bèn đề nghị được giúp đỡ nhà vua chống lại kẻ thù; ông cầm đầu một đội quân ít ỏi những người đi theo, lúc này lên khoảng 1.000 người có thực lực. Nhà vua Xiêm chấp nhận đề nghị của ông.
Dưới sự chỉ dẫn của giáo sĩ người Pháp, ông đã nắm vững được một vốn kiến thức đáng kể về những chiến thuật của châu Âu. Giờ đây, lần đầu tiên, ông có cơ hội đem những kiến thức đó ra thực hành. Thay vì mở cuộc giao chiến tổng lực với kẻ địch, ông chỉ tiến công từ một số vị trí có tầm nhìn bao quát, tung ra những chướng ngại vật trên đường địch hành quân, cử những phân đội liên tục quấy rối, tiêu hao địch. Tóm lại, ông đã sử dụng nhiều thủ thuật mà người Miến Điện không biết, buộc họ phải cầu hòa theo những điều kiện của ông. Sau đó, ông đã trở về kinh đô nước Xiêm trong khúc khải hoàn. Mọi người đều hân hoan đón tiếp và bày tỏ lòng mến mộ ông. Về phần vua Xiêm, ngài đã tặng ông nhiều vật phẩm vàng bạc và châu ngọc quý giá.
Hình như trong lúc Nguyễn Ánh [Caung-shung][16] vắng mặt vì còn đang bận ngoài chiến trường, nhà vua Xiêm đã đề nghị với mẹ ông (Nguyễn Ánh) được nhận người em gái của ông làm thiếp, nhưng mẹ ông đã bác bỏ đề nghị này một cách khinh bỉ. Dù vậy, vì đã bị sắc đẹp của nàng hoàn toàn đánh gục, nên nhà vua Xiêm quyết định phải chiếm hữu được nàng bằng bất kỳ giá nào. Và vì mục đích đó, đã đề nghị sẽ chia sẻ ngai vàng với nàng, nhưng nhà vua vẫn bị từ chối. Lúc này, đến lượt vị Hoàng đế Xiêm thấy mình bị xúc phạm, đã quở trách vị hoàng tử tị nạn - là một con người bơ vơ bị ruồng bỏ - không nên quá tự đề cao bản thân và gia đình mình như thế. Có tin đồn rằng hai vị quân vương đã lời qua tiếng lại với nhau về vấn đề này; nhưng những nguồn tin khác, có thể đúng hơn, lại nói rằng những tướng lĩnh của Xiêm, vì ghen tị với vị hoàng tử tị nạn, đã âm mưu ám hại ông. Bản thân trong lòng vua Xiêm cũng có thể đã ghen tị vì lý do tương tự. Biết được cơn bão chống lại mình đang nổi lên, ông đã bày tỏ nỗi lo ngại của mình với một vài người thân cận; họ khuyên ông nên rời bỏ triều đình này ngay lập tức, nơi mà nếu ở lại đây thêm một đêm thì cũng có thể nguy hiểm. Vì vậy, ông và các cận thần quyết định rằng ngay tối hôm đó, với vũ khí trong tay, phải tìm đường đến một cảng biển gần nhất, chiếm đoạt tàu thuyền đậu ở đó, rồi dong buồm đi thẳng về hòn đảo Pulo Wai hiu quạnh xưa kia. Tổng cộng ông đã có khoảng 1.500 thuộc hạ, bao gồm những người nguyện chung số phận, đã từng đi theo ông từ xứ Nam Hà, và những người mới gia nhập khi ông tới Xiêm. Cùng với gia đình mình, ông cầm đầu lực lượng nhỏ bé đó, từ kinh đô nước Xiêm, đột phá mở đường, băng qua mọi cản trở, đưa các chiến hữu của mình lên một số tàu thuyền của Xiêm và thuyền buồm Mã Lai đang đậu trên cảng rồi hướng thẳng ra biển, an toàn tìm đến đảo Pulo Wai. Ở đó, ông đã tăng cường lực lượng, sao cho với những vũ khí và súng lớn tìm thấy trên những tàu thuyền đoạt được, có thể bảo đảm chống lại bất kỳ một cuộc tấn công nào, dù là từ phía vua Xiêm hoặc từ phía quân phiến loạn ở Nam Hà.
Trước đó ít lâu, Adran đã từ Xiêm trở về đến tỉnh phía Nam của Nam Hà để thăm dò tình cảm của dân chúng với vị quân vương hợp pháp của họ, và khi thấy họ vẫn còn trung thành với ông và mọi người đều bất bình với kẻ tiếm quyền, Adran bèn lập ra một kế hoạch thỉnh cầu vua Louis XVI nước Pháp giúp đỡ, nhằm đặt lại người thừa kế hợp pháp lên ngôi vua, với những điều kiện sao cho sẽ không phản đối mà kết quả vẫn có thể rất có lợi cho nước Pháp. Với quan điểm đó, ông dong buồm đi tìm nhà vua lưu vong. Trong một bức thư gửi đi từ Pondicherry, Adran viết:
“Tôi đã gặp vị quân vương bất hạnh trong một tình trạng rất tồi tệ. Một số ít các chiến hữu trung thành đã đi theo ông, trên một hòn đảo ở vịnh Xiêm La, gần chỗ vương quốc này tiếp giáp với Cămbốt. Binh lính của ông ta phải sống qua ngày bằng những củ rễ cây mà họ đào bới được từ trong lòng đất”.
Hình như ở đây nhà vua đã ủy thác đứa con trai cả của mình cho viên giáo sĩ chăm sóc, khẩn khoản yêu cầu rằng, trong trường hợp xảy ra tai họa đối với bản thân ông, vị giáo sĩ sẽ khuyên bảo và giúp đỡ cậu ta như một người cha và một người bạn, và dạy cho cậu ta biết rằng đừng bao giờ quên quyền cai trị hợp pháp của mình mà vua cha cậu đã bị tước đoạt bằng bạo lực và sự tiếm quyền.
Adran, sau khi đã làm nhà vua yên tâm về vấn đề này, bèn từ biệt và lên tàu đi Pondicherry cùng với cậu bé được giao phó; và sau khi lên một chiếc tàu châu Âu khởi hành từ đó, họ đã tới Paris vào năm 1787. Vị thái tử trẻ tuổi được giới thiệu ở triều đình, được đối xử với mọi biểu hiện của sự quan tâm và lòng kính trọng. Và dự định của viên giáo sĩ đã được nhiệt liệt tán thành, đến mức chỉ trong có vài tháng, một điều ước giữa vua Louis XVI và vua Nam Hà đã được thảo ra và ký kết tại Versailles bởi Bá tước de Vergennes và Montmorin, thừa lệnh vua Pháp; và vị thái tử trẻ tuổi, thừa lệnh của vua Nam Hà[17]. Những điều khoản chính của bản điều ước kỳ lạ này, mà tôi tin rằng giờ đây được công bố lần đầu tiên bao gồm những điều sau:
1. Sẽ có liên minh tấn công và phòng thủ giữa vua Pháp và vua Nam Hà. Do đó, họ nhất trí thỏa thuận sẽ giúp đỡ lẫn nhau chống lại bất cứ ai gây chiến đối với một trong hai bên cam kết.
2. Để thực hiện mục đích đó, một hạm đội gồm 20 chiến thuyền Pháp sẽ được đặt dưới quyền của vua Nam Hà, có quy mô và lực lượng đủ đáp ứng cho những yêu cầu của vua Nam Hà.
3. Năm phân đội người châu Âu với biên chế đầy đủ và hai phân đội lính thuộc địa sẽ lên thuyền đi đến Nam Hà không chậm trễ.
4. Hoàng đế Louis XVI cam kết sẽ cung cấp trong vòng 4 tháng số tiền là một triệu đô la, trong đó 500.000 bằng tiền mặt, số còn lại bằng diêm tiêu, súng đại bác, súng trường và những đồ quân dụng khác.
5. Kể từ khi các đội quân Pháp đi vào lãnh thổ của nhà vua Nam Hà, họ và các tướng lĩnh của họ, cả trên biển lẫn trên bộ, sẽ nhận lệnh của vua Nam Hà. Để có hiệu lực, các sĩ quan chỉ huy sẽ nhận được những chỉ thị của Hoàng đế Cơ Đốc nước Pháp là phải tuân theo ý muốn của người đồng minh mới của mình trong mọi việc, mọi nơi.
Mặt khác:
1. Nhà vua Nam Hà, ngay sau khi lập lại được trật tự trên lãnh thổ của mình, sẽ cam kết cung cấp 14 tàu chiến tuyến [ship of the line) với số quân dụng, lương thực đủ để có thể đưa ngay những tàu đó ra biển theo yêu cầu của viên sứ thần của vua nước Pháp. Và để thực thi tốt hơn mục đích đó, một đội các sĩ quan và hạ sĩ quan hải quân sẽ được gửi từ châu Âu đến để thiết lập một cơ quan thường trực tại Nam Hà.
2. Hoàng đế Louis XVI sẽ được đặt những lãnh sự quán tại mọi nơi trên bờ biển Nam Hà, ở bất kỳ chỗ nào ngài cảm thấy thích hợp. Những lãnh sự quán đó sẽ được phép ưu tiên đóng hoặc cho đóng những chiến hạm hoặc các loại tàu thuyền khác, mà không bị chính quyền Nam Hà gây phiền nhiễu, dù vì bất cứ lý do gì.
3. Sứ thần của Hoàng đế Louis XVI ở triều đình Nam Hà sẽ được phép khai thác gỗ ở bất kỳ khu rừng nào xét thấy là thuận tiện và thích hợp cho việc đóng thuyền, tàu chiến hoặc những loại tàu khác.
4. Nhà vua Nam Hà và hội đồng nhà nước sẽ nhượng vĩnh viễn cho Hoàng đế Cơ Đốc [Pháp], những người thừa kế và nối ngôi vua sau này cảng biển, lãnh thổ Hàn Sơn (vịnh Đà Nẵng và bán đảo) và những đảo lân cận từ Hội An [Faifo] ở phía Nam và Hải Vân [Hai-wen] ở phía Bắc[18].
5. Nhà vua Nam Hà cam kết cung cấp người và vật liệu cần thiết cho việc tạo dựng những pháo đài, cầu cống, đường sá, giếng, ao vv… chừng nào còn thấy cần thiết cho việc bảo vệ và phòng thủ những nơi đã nhượng cho người đồng minh trung thành của mình là vua nước Pháp.
6. Trong trường hợp những người bản xứ, bất cứ lúc nào, nếu không muốn ở lại vùng nhượng địa, họ sẽ được tự do ra đi, và sẽ được đền bù về giá trị tài sản mà họ để lại nơi đó. Luật dân sự và hình sự sẽ được giữ nguyên, mọi tôn giáo tín ngưỡng được tự do. Thuế sẽ được người Pháp thu theo thông lệ của xứ sở. Đại sứ Pháp và vua Nam Hà sẽ phối hợp bổ nhiệm những nhân viên thu thuế. Nhưng nhà vua Nam Hà sẽ không đòi hỏi bất kỳ phần thuế nào cho mình; những số tiền thuế này chỉ thuộc về riêng Hoàng đế Cơ Đốc Pháp để trợ cấp cho những vùng đất này.
7. Trong tình hình nhà vua Cơ Đốc quyết định tham chiến ở bất cứ nơi nào thuộc vùng Ấn Độ, quan Tổng tư lệnh các lực lượng Pháp sẽ được huy động 14.000 người, huấn luyện họ theo cách tương tự tại Pháp và đặt họ dưới kỷ luật của Pháp.
8. Trong tình thế có bất kỳ một cường quốc nào tấn công người Pháp trên lãnh thổ Nam Hà, nhà vua Nam Hà sẽ cung cấp 60.000 người hoặc hơn thuộc lực lượng lục quân, cung cấp cho họ quần áo, lương thực..[19]
Bên cạnh những điều khoản đó, điều ước còn có một số điều khoản khác ít quan trọng hơn, nhưng tất cả đều có thể được coi là rất có lợi cho người Pháp. Adran được Tòa Thánh thăng chức với danh hiệu Giám mục xứ Nam Hà, và được vinh dự bổ nhiệm làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền ở triều đình này. Việc chỉ huy các đạo quân viễn chinh được đặt dưới quyền quản lý và lãnh đạo duy nhất của ngài giám mục, dự định sẽ được trao cho ông Custin hoặc ông de Frêne. Giám mục thì muốn rằng ông Conway, viên Toàn quyền Pondicherry, sẽ chỉ huy; nhưng Louis XVI hình như rất ác cảm với viên sĩ quan này. Theo nhà vua, ông ta có một tính cách vô đạo, vô nguyên tắc, và là một con người kiêu căng, ngạo mạn, không chịu ngồi yên. Vị quân vương tốt bụng này nhận xét: “Ông Adran, ông sẽ phải khổ sở đấy, nếu để bị lôi cuốn vào việc bênh vực ông Conway. Hãy tin ta, ông ta sẽ tìm cơ hội gây cho ông nhiều khó khăn, và có thể làm hỏng mục đích của cuộc viễn chinh. Nếu ta để ông ta làm Toàn quyền Ấn Độ, thì đó chỉ là với mục đích ngăn chặn những âm mưu của ông ta ở trong nước và những ý đồ làm rối tung công việc; bởi vì ta biết rõ anh ông ta, bản thân ông ta và Dillon không hề chịu ngồi yên lấy một lát. Ông ta có thể là một chiến binh cừ và làm tốt công việc khi ở yên tại Pondicherry, nhưng ta sẽ không tin ông ta khi cho cầm đầu một đạo quân. Tuy nhiên, chính do ông mà ông ta sẽ có được một tấm huân chương dây đai đỏ (cordon rouge) và thăng cấp trung tướng”.
Thế là đến lúc này, mọi việc đã được giải quyết ở Paris. Ngài giám mục, cùng với vị hoàng tử trẻ tuổi mà ông chịu trách nhiệm và bản hiệp ước trong tay, lên chiến hạm Meduse đi Pondicherry, với tư cách là đại sứ đặc mệnh toàn quyền của vua Louis XVI bên cạnh quốc vương Nam Hà.
Trên đường đi, ông dừng chân ở đảo Isle of France[20]. Ở đó, ông thấy một chiếc tàu có 50 khẩu đại bác, bảy chiến hạm và một vài tàu vận tải. Ông cũng thấy rằng số quân lính có thể sử dụng được trên hòn đảo này và đảo Bourbon[21] lên tới khoảng từ 4 đến 5 nghìn người. Những con tàu được lệnh phải trang bị càng nhanh càng tốt; những toán quân phải chuẩn bị sẵn sàng lên tàu để khi Adran đến Pondicherry, ông sẽ phái một thông báo hạm mang theo lệnh thi hành tới các hòn đảo kia.
Vào lúc giám mục Adran đến Pondicherry năm 1789, ở đó có một mệnh phụ đẹp nổi tiếng là Phu nhân de Vienne, vợ của viên sĩ quan phụ tá của Conway và là người tình của viên tướng này. Vì đức giám mục cần phải tỏ lòng tôn kính với mọi phu nhân danh giá ở đây, người ta gợi ý cho ông là nên đến thăm bà mệnh phụ này. Ông giám mục không những đã không thực hiện phép lịch sự nhỏ nhoi đó, mà còn vô cùng phẫn nộ, đến mức cả gan dùng nhiều ngôn từ thô bạo và những lời lẽ khắc nghiệt nhất để chê trách cách cư xử bê bối của cả ngài tướng quân và người tình của ông ta. Tất cả những điều đó đã được một vài bạn bè thân tín của bà mệnh phụ thông báo đầy đủ tới bà ta. Giận điên lên khi nghe được những lời nhận xét hỗn xược đó. Bà suy tính và quyết định lập tức phải trả thù vị thầy tu. Bà Phu nhân de Vienne đã chi phối tuyệt đối được Conway. Trước một đám đông bạn bè, bà tìm cơ hội để bêu riếu tấm huân chương dây đai đỏ của ông, mà bà miêu tả như là một đồ trang trí lòe loẹt rẻ tiền gửi tặng ông để tiêu khiển và mua vui, hơn là một chứng tích vinh dự cho sự nghiệp phục vụ của ông. Bà tỏ ra rất coi khinh cấp quân hàm mà ông đã được đề bạt, trong cái mà bà gọi là đội quân của giáo hoàng, đặt dưới sự chỉ huy của một giám mục. Tóm lại, người đẹp nổi cơn tam bành này đã biết rất rõ cách đánh vào những tình cảm của ông Conway, đến mức bà hoàn toàn thành công trong mọi mục tiêu của mình, và đã thuyết phục được ông ta tạm thời trì hoãn cuộc viễn chinh. Conway đã cử một chiếc thuyền cấp tốc dong buồm đi tới đảo Mauritius, mang theo chỉ thị hoãn lại việc trang bị cho đến khi nhận được lệnh của triều đình Versailles, và đúng lúc đó cuộc cách mạng bùng nổ ở Pháp, chấm dứt hoàn toàn mọi công việc chuẩn bị.
Nếu sự cố đó không xảy ra thì khó mà nói được những hậu quả của điều ước này sẽ như thế nào đối với những vùng đất chúng ta chiếm hữu được ở Ấn Độ và công việc buôn bán của Công ty Đông Ấn với Trung Quốc, nhưng điều khá rõ ràng là điều ước đó nhằm mục đích phá hoại cả hai.
Tuy nhiên, nếu những tình huống rủi ro đó đã chấm dứt cuộc viễn chinh, thì nó không ngăn cản được vị giám mục tiếp tục theo đuổi kế hoạch ban đầu của mình là lập lại vị quân vương hợp pháp của xứ Nam Hà, nếu ông ta còn sống; hoặc đưa vị thái tử trẻ tuổi lên ngôi, kế thừa những vị tổ phụ của họ nếu người cha đã chết. Ông giám mục đã mang theo nhiều sĩ quan từ Pháp, mà theo dự định, sẽ được bổ nhiệm trên những cương vị mới. Cùng với một vài tình nguyện viên trẻ tuổi, họ đã lên một chiếc tàu buôn đến mũi St. Jacques[22] ở cửa sông Sài Gòn, nơi mà họ hy vọng rằng ở đây sẽ nhận được các tin tức về nhà vua. Tại đó, họ được biết là sau khi họ đi Pondicherry, vị quân vương bất hạnh đã ở lại trên đảo Pulo Wai khoảng gần hai năm, phải ăn rễ, củ mà sống với đám người còn lại. Khi hai kẻ tiếm quyền đã suy kiệt nhiều do những cuộc cãi lộn và đụng độ, và những thần dân trung thành với nhà vua rất mong ông có mặt tại Đồng Nai, nhà vua một lần nữa lại bị thuyết phục để mạo hiểm quay trở về đất nước của mình. Tất cả quan quân đều hăng hái tụ tập dưới cờ hiệu của nhà vua; ông thẳng tiến về Sài Gòn. Liền ngay sau đó, công việc phòng thủ được tăng cường và đi vào nề nếp. Lúc nhà vua trở về đất liền, tình hình rất thuận lợi, vì hai anh em kẻ phiến loạn khi đó đã cố thủ trong những kinh đô riêng biệt của mình, người nọ chờ người kia đến đánh. Những tin tức có lợi đó đã khích lệ vị giám mục và con trai nhà vua, họ gặp được nhà vua ở Sài Gòn vào năm 1790, mang theo một tàu nhỏ dùng để vận chuyển vũ khí, đạn dược. Nhưng viên chỉ huy tàu này (Richerie) bị buộc tội là đã đem bán phần lớn số hàng đó vì tư lợi khi ở Malacca.
Chúng ta không thể mô tả rõ ràng nhưng có thể hình dung về cuộc gặp gỡ giữa nhà vua, con trai và vị sư phụ của con trai mình. Họ nhanh chóng bàn tính những kế hoạch để tiến hành một cuộc chiến quyết liệt với kẻ tiếm ngôi. Năm đầu tiên, phần lớn thời gian dành cho việc củng cố thành Sài Gòn, chiêu mộ và rèn luyện quân đội, tập hợp và trang bị cho một đội tàu.
Vào năm 1791[23], kẻ phiến loạn Quang Trung mất ở Huế, để lại người con trai 12 tuổi nối ngôi mình cai trị xứ Bắc Hà và phần phía Bắc xứ Nam Hà. Hình như sự kiện này đã khiến cho vị quân vương hợp pháp là thấy cần phải khởi động những cuộc hành quân chống lại Nguyễn Nhạc. Ông này dù rất căm tức người em trai đã chết của mình, không thể không tính đến chuyện dàn xếp với người cháu trẻ tuổi gọi mình bằng bác ở Huế. Việc Hoàng đế Trung Hoa phê chuẩn người cha của cậu làm vua vương quốc Bắc Hà có thể là duyên cớ đầu tiên của những cuộc xung đột giữa hai người anh em. Trong tất cả những cuộc đụng độ đó, Nguyễn Nhạc đều bị thua và biên giới của đất nước ông ta thu hẹp lại. Do đó, điều chắc chắn là ông ta sẽ đề nghị hòa giải với nhà vua trẻ tuổi xứ Bắc Hà.
Với ý nghĩ này, vị giám mục đã hăng hái thúc giục nhà vua nên nhấn đó mở ngay một cuộc công kích vào hạm đội của Nguyễn Nhạc ở cảng Qui Nhơn, nhất là khi lực lượng bộ binh của họ bây giờ, cả về mặt số lượng lẫn kỷ luật, đều được coi như có khả năng chống trả bất kỳ đạo quân nào tiến vào trong nội địa tấn công họ. Nhà vua chỉ có một số ít tàu, còn hạm đội của kẻ tiếm quyền lại rất đông; nhưng trong khi họ bị cầm chân ở cảng vì gió mùa ngược chiều, thì cũng làn gió đó lại thuận lợi cho nhà vua đưa tàu của mình tiến thẳng vào giữa quân địch. Vì lẽ đó, vào mùa xuân năm 1792, nhà vua đã lên tàu và đặt toàn bộ hạm đội của mình dưới quyền lãnh đạo của hai sĩ quan người Pháp; họ chỉ huy hai chiếc tàu châu Âu tiến đến Qui Nhơn. Người ta nói rằng ông d’Ayot nào đó[24] đã tung hoành chiến đấu trong đám thuyền mành Nam Hà, đốt cháy, đánh chìm và phá hủy toàn bộ những gì gặp trên đường đi; nhưng vì mải mê với chiến thắng, ông đã sơ sẩy đi quá xa khiến tàu của mình bị mắc cạn. Người ta nói rằng, khi nhận xét về sự việc này, nhà vua mặc cho tổn thất ngày hôm đó, ông nhấn mạnh mình không thể không vui vì đã có cơ hội để thể hiện vai trò của mình không thua kém gì ông d’Ayot”. Nhà vua nói: “Ông ta đã làm phần việc của mình, còn ta không muốn ông ta làm cả phần việc của ta”.
Cuộc đột kích hoàn toàn bất ngờ đối với Nguyễn Nhạc, vì khi đó, ông ta và triều đình của mình đang đi sâu vào đất liền tới khoảng 30 dặm để hưởng thú săn bắn. Trong trường hợp như vậy thì vị quân vương không phải chỉ có một số ít triều thần đi theo tháp tùng; mà số lượng người gia nhập đoàn săn bắn này tạo thành cả một đạo quân nhỏ. Thật vậy, phần lớn họ là binh lính, họ vây quanh những bụi rậm; sau khi xua đuổi những con thú săn, thường là những con voi lớn, những con hổ hung dữ hoặc những con trâu rừng, họ xiết chặt vòng vây cho tới khi dồn con vật vào một chỗ cố định, rồi dùng giáo đâm chết hoặc bắt sống nó. Hiệu lệnh báo động có kẻ địch chẳng bao lâu sau truyền tới đám người đang mải vui thú; các toán lính vội vàng dàn quân ra dọc bờ biển, nhưng họ đã không giúp được gì nhiều cho đoàn thuyền, lúc này hầu như đã hoàn toàn bị phá hủy. Vào lúc nước triều dâng, con tàu của d’Ayot” lại trôi ra biển, nhà vua bèn hạ lệnh lui quân. Chiếc du thuyền lớn của kẻ tiếm quyền, cũng như một số ít tàu thuyền khác neo đậu ở góc phía trên của cảng, đã không được đưa vào trận đánh. Nhà vua đã được bề tôi chỉ cho thấy những chiếc thuyền đó, tuy nhiên ông đã ngăn không cho phá hủy chúng, và nhận xét rằng: “Khi Nguyễn Nhạc đã mệt mỏi vì săn bắn thì ông ta có thể tiêu khiển bằng trò câu cá. Thật độc ác nếu như ta lại lấy đi của ông ta những phương tiện để theo đuổi một công việc vô hại như vậy”.
Vào mùa xuân năm sau, 1793, khi trên đường đi tới Trung Hoa, hải đội Anh đã tới thả neo tại vịnh Đà Nẵng. Lúc này toàn bộ vùng Đồng Nai đã do vị quân vương hợp pháp chiếm hữu. Chang - phần giữa của đất nước - do kẻ tiếm quyền Nguyễn Nhạc nắm giữ. Còn Huế, bao gồm vùng đất liền và các hòn đảo kề cận với vịnh Đà Nẵng, do con trai của Quang Trung cai trị; chàng trai này đặt triều đình ở Huế. Do vậy, không lấy gì ngạc nhiên lắm khi những tàu của chúng tôi tạo nên mối lo sợ và phần nào ngờ vực, mà như chúng tôi đã nhận xét, ông bạn người Bồ Manuel Duomé đã cố thổi phồng lên vì lợi ích riêng của mình, để ông ta có thể tiếp tục tiến hành công việc buôn bán độc quyền và sinh lợi mà ông ta đã làm từ ít lâu nay với những người dân bản xứ. Sau đó, những người dân này đã lập tức kết luận rằng chúng tôi giúp đỡ cho ông vua hợp pháp, rằng chúng tôi đã từ Sài Gòn đi đến với ý đồ chiếm lấy Đà Nẵng. Với ý nghĩ này, thực sự là họ đã tập hợp một đội quân đáng kể, gồm cả những con voi chiến trong vùng phụ cận của thành phố, và phải đến tận mấy ngày sau ấn tượng đó mới tiêu tan.
Nhưng trước khi tôi tường thuật về những công việc giao dịch của mình trên đất nước này, hoặc về các phong tục và dáng vẻ của dân chúng, tôi sẽ tiếp tục tả lại về những tiến bộ của trong việc khôi phục vương quốc. Và từ những tư liệu, tôi sẽ lựa chọn ra những nét chủ yếu về tính cách của con người phi thường này, một người xứng đáng được xếp vào hàng một số ít nhân vật có năng khiếu bẩm sinh để cai trị thế giới, những con người xưa nay từng xuất hiện trong mọi quốc gia với vầng hào quang chói lọi hẳn lên so với những người khác. Và tôi cũng nên nói cho độc giả biết rằng một phần lớn bức phác thảo mà tôi đã và sẽ trình bày sau đây được lấy từ nội dung bản hồi ký viết tay của ông Barissy[25]; ông là một sĩ quan người Pháp thông minh, đã từng chỉ huy một chiến hạm phục vụ cho vị quân vương này. Và vì đoạn trước đã rất phù hợp với những điều chúng tôi biết được ở vịnh Đà Nẵng, qua người phiên dịch của chúng tôi, viên thư ký Trung Hoa làm việc cho chính quyền sở tại, và với những mối quan hệ khác nhau của các giáo sĩ từng cư trú ở đó, nên tôi không ngần ngại cho rằng đoạn tiếp sau là hoàn toàn đáng tin cậy. Thực vậy, những sự kiện chủ yếu đã được xác nhận với sự chứng thực của hai quý ông người Anh, đã đến thăm Sài Gòn vào các năm 1799 và 1800.
Kẻ phiến loạn Nguyễn Nhạc không còn sống được bao lâu sau vụ hạm đội của ông ta bị phá hủy. Ông ta đã mất một vài tháng sau khi chúng tôi rời khỏi vịnh Đà Nẵng vào năm 1793 vì bệnh não. Theo một nguồn tin cho biết, ông ta được cho là đã phát điên và tuyệt vọng trước thắng lợi của nhà vua hợp pháp, nhưng một báo cáo khác lại nói vì chứng cuồng của ông không sao kiềm chế được nên người ta đã tìm đến cách dùng thuốc độc để loại trừ ông. Con trai ông kế ngôi nắm quyền cai trị, nhưng mắc đầy tật xấu mà không có được những tài năng của người cha. Tàn ác, gian giảo và hay thù oán, người con của Nguyễn Nhạc bị mọi người căm ghét. Vào năm 1796, Nguyễn Ánh quyết định tấn công kinh đô của ông vua này bằng đường bộ. Kẻ tiếm quyền trẻ tuổi này có thể đã đem một đạo quân 100.000 người ra chống lại Nguyễn Ánh, nhưng nhà vua đã đánh tan đạo quân đó với một lực lượng ít hơn nhiều và chiếm được Qui Nhơn. Nhân dịp này, người ta đã kể lại một hành động phi thường, tiêu biểu cho lòng cao thượng của nhà vua. Khi đội quân đồn trú đã đầu hàng, nhà vua, sau cả ngày chinh chiến gươm đao mệt nhọc, ngồi vào kiệu để được đưa vào thành. Khi đi qua cửa bên trong, một kẻ núp trên tường thành đã bắn ông; quân hộ vệ lập tức bắt được thủ phạm, dẫn đến trước nhà vua. Hai tay người này bị trói quặt sau lưng. Nhà vua nhận ra đó là một tướng lĩnh có họ hàng với kẻ tiếm quyền. Nhà vua, theo tục lệ của người Trung Hoa, khi muốn giảm nhẹ hình phạt xử tử cho một tội nhấn, đã nói với người đó rằng, thay vì ra lệnh xử trảm, ông sẽ cho phép người kia, có chiếu cố đến cấp bậc, được chọn cách thức tự trừng phạt, bằng cách đưa ra cùng lúc một chén thuốc độc, một dải lụa và một con dao găm[26]. Viên thủ lĩnh phiến loạn bèn nói:
“Nếu ngài không sợ tôi thì ngài hãy ra lệnh thả tôi ra. Và vì tôi chưa từng bao giờ tuyên thệ sẽ sống dưới sự bảo trợ của ngài, hoặc sẽ phải tuân theo pháp luật của ngài, nên nếu ngài dám đồng ý với điều tôi yêu cầu thì tôi sẽ lập tức đi Huế. Ở đó cấp bậc và danh tiếng của tôi sẽ cho phép tôi chỉ huy một đạo quân. Trên cương vị đứng đầu đạo quân đó, tôi sẽ rất vinh hạnh được đón tiếp ngài”.
Cảm kích trước cách xử sự dũng cảm và bộc trực đó, nhà vua đã ra lệnh cởi trói cho người kia, chỉ thị cho một toán binh lính áp giải ông ta đến biên thùy phía bắc. Và tới năm sau, chính người này đã là viên phó tướng tử trận trong cuộc vây hãm thành Qui Nhơn. Con trai của Nguyễn Nhạc hoàn toàn bị trấn áp, và toàn bộ đất nước, cho đến tận vịnh Đà Nẵng, đã quy phục nhà vua hợp pháp. Tuy nhiên, kẻ tiếm quyền trẻ tuổi khác[27] vẫn còn ở Huế, chiếm lĩnh vương quốc Bắc Hà. Vào năm 1800, Nguyễn Ánh đã chuẩn bị một lực lượng quân đội, vũ khí khổng lồ để chống lại kẻ tiếm quyền trẻ tuổi này. Tuy lúc này vẫn chưa có báo cáo chính thức nào chuyển về tới nước Anh, nhưng có cơ sở để tin rằng nhà vua đã chinh phục được toàn bộ đất nước.
Từ năm 1790, là lúc Nguyễn Ánh trở về Nam Hà, cho tới năm 1800, ông chỉ hưởng được hai năm hòa bình, năm 1797 và năm 1798. Hai năm đó có thể là quan trọng nhất đối với vương triều của ông mà cho tới lúc đó vẫn còn chưa yên ổn. Dưới sự bảo trợ của giám mục Adran, người mà trong mọi quyết định quan trọng đã là vị quân sư của nhà vua, ông chuyển sang quan tâm đến việc cải thiện đất nước. Ông thành lập một xưởng chế diêm tiêu làm thuốc súng ở Fen-tan (Tsiompa [Champa] trên các hải đồ), mở đường giao thông nối giữa những vị trí quan trọng và những thị trấn lớn, trồng cây có bóng mát hai bên đường. Ông khuyến khích trồng trầu cau; những khu vườn trồng những loại cây đó đã bị quân lính của kẻ tiếm quyền phá hoại. Ông đặt giải thưởng cho việc phổ biến nghề nuôi tằm, chuẩn bị vùng đất lớn để trồng mía, thành lập những xưởng nấu hắc ín, nhựa đường và nhựa thông. Ông cho chế tạo hàng nghìn khẩu súng hỏa mai, khai một mỏ quặng sắt, xây dựng những lò luyện kim. Ông phân phối bộ binh thành những phiên đội chính quy, mở trường quân chính, ở đó các sĩ quan đã được các thầy giáo người châu Âu giảng dạy lý thuyết về đạn đạo và kỹ thuật bắn súng đại bác. Adran đã dịch sang chữ Hán một hệ thống các chiến thuật quân sự dùng cho quân đội. Trong khoảng hai năm đó, nhà vua đã cho đóng ít nhất 300 pháo thuyền lớn hoặc loại thuyền dùng chèo, năm thuyền có cột buồm và một chiến hạm đúng theo kiểu các tàu châu Âu. Ông cho đưa vào quân đội một hệ thống các chiến thuật hàng hải, và cho những sĩ quan hải quân học cách sử dụng các tín hiệu. Một trong những quý tộc người Anh mà tôi nói là đã ở Sài Gòn trong những năm 1800, từng trông thấy một hạm đội có 1.200 thuyền buồm, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông hoàng này, buộc neo và thả neo xuống sông một cách rất trật tự, trong ba phân hạm riêng rẽ, chúng lập thành những trận tuyến. Bằng những hiệu lệnh rất chặt chẽ, rõ ràng, chúng tiến theo hàng dọc theo các tín hiệu điều khiển trong những cuộc thao diễn khác nhau.
Trong quãng thời gian hòa bình này, nhà vua còn cải cách hệ thống pháp luật, và chắc chắn trong việc này có sự giúp đỡ đắc lực của vị giám mục. Ông bãi bỏ nhiều hình thức tra tấn mà đến lúc đó vẫn còn quy định trong luật lệ của xứ sở, giảm nhẹ những hình phạt tỏ ra không cân xứng với tội mắc phải. Ông cho thành lập những trường công, các bậc cha mẹ bắt buộc phải gửi con cái đến đó học ở độ tuổi lên bốn, nếu không sẽ bị phạt. Ông thảo ra một hệ thống các quy tắc và điều lệ cho các quyền lợi buôn bán trong vương quốc, xây dựng cầu cống bắc qua sông, đặt các phao và hải tiêu ở những nơi nguy hiểm của bờ biển, cho nghiên cứu, kiểm tra các vịnh và các hải cảng lớn. Ông cử các phái bộ đi tới các huyện miền núi ở mạn phía tây vương quốc, nơi có người Lào và người Miaosté [Mèo] cư trú, họ là những dân tộc man di mà ông muốn mang đến cho họ ánh sáng văn minh và một nền cai trị tốt. Những người dân vùng sơn cước này là những người mà Trung Hoa gọi một cách khinh miệt là những “người có đuôi”, mặc dù rất có thể họ là những hậu duệ chính thức của cái đế quốc văn minh lâu đời này. Tóm lại, vị quân vương này, bằng những nhiệt tâm bền bỉ của bản thân đối với kỹ thuật và công nghệ, giống như Peter[28] của nước Nga, nhưng không tàn bạo như ông ta, bằng tấm gương sáng của cá nhân mình đã khơi dậy những năng lực của nhân dân ông; như Alfed[29] bất tử của chúng ta, không quản khó nhọc để phục hưng đất nước. Hoạt động và những nỗ lực của nhà vua có thể dễ dàng hiểu được qua những hoàn cảnh mà ông ta từng trải qua, trong chưa đầy 10 năm, từ một con tàu độc nhất, ông đã tích tụ thành hạm đội 1.200 tàu thuyền, trong đó có ba chiếc tàu đóng kiểu châu Âu, chừng 20 thuyền mành lớn tương tự như thuyền mành Trung Quốc, được trang bị đầy đủ người và vũ khí, số còn lại là những tàu chiến lớn và tàu vận tải.
Nguyễn Ánh, để diễn tả đúng nghĩa nhất, là một chiến binh hoàn hảo. Người ta nói rằng ông thích được gọi là “Tướng quân” hơn là “Quốc vương”. Ông được mô tả là con người dũng cảm mà không liều lĩnh, có nhiều mưu lược mỗi khi cần phải vượt qua khó khăn. Những quan niệm của ông nhìn chung là đúng đắn. Ông cư xử quyết đoán và không bao giờ nản chí trước khó khăn hoặc bị lạc hướng bởi những trở ngại. Ông thận trọng khi quyết định, khi đã quyết định rồi thì nhanh chóng và hăng hái thực hiện. Trong chiến trận, ông luôn nổi trội. Cầm đầu đạo quân, ông tỏ ra hồ hởi và vui tính, lịch thiệp và quan tâm đến những sĩ quan dưới quyền chỉ huy của mình. Ông thận trọng tránh tỏ ra thiên vị cá nhân đối với bất kỳ ai. Trí nhớ của ông rất chính xác, đến mức người ta nói rằng ông thuộc tên phần lớn những người lính trong quân đội của mình. Ông cảm thấy vui thích khác thường khi chuyện trò với binh lính và khi nói về những câu chuyện mạo hiểm và những chiến tích của họ. Ông đặc biệt thích hỏi thăm về vợ con họ, xem con cái họ có đi học đều không, định thu xếp như thế nào khi chúng lớn lên, và tóm lại, quan tâm đến mọi thứ nhỏ nhặt liên quan đến gia đình họ.
Đối với những người ngoại quốc, nhà vua cư xử rất niềm nở và nhã nhặn. Ông rất quan tâm đến những sĩ quan người Pháp phục vụ ông, đối xử với họ rất lịch thiệp, thân mật và dễ chịu. Trong tất cả các cuộc săn bắn dã ngoại và những cuộc vui khác, một trong số những sĩ quan kia đều được mời tham dự. Ông công khai tuyên bố rất kính trọng các giáo lý của đạo Cơ Đốc, khoan dung với tôn giáo này, và tất nhiên, cả với những tôn giáo khác trong vùng lãnh thổ của ông. Ông tuân thủ một cách rất cặn kẽ các châm ngôn về đạo hiếu đã được ghi trong các kinh sách Khổng Tử, và bản thân ông cũng rất cung kính khiêm nhường với bà mẹ của mình (hiện vẫn còn sống), như một đứa trẻ trước người thầy giáo của nó. Ông hiểu biết kỹ các tác phẩm của những tác giả Trung Hoa xuất sắc nhất, và qua nhiều đoạn của bộ bách khoa toàn thư [Encyclopédie][30] mà giám mục Adran đã dịch sang chữ Hán cho ông, ông nắm vững được không ít kiến thức về kỹ thuật, khoa học châu Âu; trong đó, ông đặc biệt lưu ý về những gì liên quan đến thuật hàng hải và kỹ nghệ đóng tàu.
Theo nguồn tin đáng tin cậy, người ta kể lại rằng để nắm vững kiến thức về thực hành cũng như về lý thuyết của kỹ thuật đóng tàu châu Âu, ông đã mua một chiếc tàu Bồ Đào Nha chỉ để tháo rời ra thành từng bộ phận, từng tấm ván một, rồi tự tay lắp vào một tấm ván mới có hình dạng và kích thước tương tự như cái cũ mà ông đã tháo ra, cho tới khi mọi thanh sàn tàu, xà ngang tàu, thanh gỗ khớp nối được thay thế bằng những cái mới, và như vậy con tàu hoàn toàn được đổi mới.
Nghị lực tinh thần của ông cũng không kém phần mạnh mẽ so với năng lực hoạt động thể chất của ông. Thực vậy, nhà vua đã được coi như xung lực chủ yếu của mọi cuộc cải cách xảy ra trong vương quốc rộng lớn và thịnh vượng của mình. Nhà vua là người quản đốc các cảng biển và các kho quân dụng, thợ cả trong các xưởng đóng tàu, kỹ sư trưởng trong mọi công trình; không có việc gì dự định thực hiện mà không có lời khuyên bảo và chỉ dẫn của ông. Trong việc đóng tàu, không có cái đinh nào được đóng mà không có sự tham vấn ban đầu của ông, không có một khẩu đại bác nào được đưa lên vị trí mà không có lệnh của ông. Không những ông đi vào từng chi tiết nhỏ nhặt nhất khi thảo ra những chỉ dẫn, mà chính bản thân ông còn trông nom khi chúng được thực hiện.
Để ông có thể tham gia tốt hơn vào những công việc cai trị, lối sống của ông đã được điều chỉnh theo một kế hoạch cố định. Lúc 6 giờ sáng, vua trở dậy, đi tắm nước lạnh. Tới 7 giờ, vua tiếp các quan, tất cả những thư từ tấu biểu nhận được của ngày hôm trước đều được tuyên đọc, những mệnh lệnh của vua về các tấu biểu này được ghi chép tỉ mỉ. Sau đó, ông đi đến các xưởng quân dụng hải quân, xem xét những công việc đã được thực hiện khi ông vắng mặt, cho thuyền chèo quanh các hải cảng, kiểm tra những thuyền chiến. Ông đặc biệt chú ý đến các Sở quân cụ, các lò đúc được dựng nên trong các xưởng binh khí, các cỗ súng đại bác đã được đúc ra theo đủ loại kích cỡ.
Vào khoảng 12 giờ trưa hoặc một giờ chiều, ông dùng bữa ngay ở xưởng đóng tàu, gồm có một ít cơm ăn với cá khô. Lúc 2 giờ chiều, vua lui về phòng mình và ngủ cho tới lúc 5 giờ. Khi đó, vua lại trở dậy, hội kiến với các sĩ quan quân đội và hải quân, người cầm đầu các tòa án hay các công sở, tán thành, phản bác hoặc sửa chữa bất cứ đề nghị nào họ có thể đưa ra. Những việc quốc gia đại sự này thường làm ông chăm chú đến tận nửa đêm, sau đó ông lui về tư thất để ghi chú vào những tài liệu, báo cáo của những công việc ban ngày. Rồi ông ăn nhẹ, sum họp với gia quyến chừng một giờ đồng hồ, và khoảng tới 2, 3 giờ sáng ông đi nằm. Như vậy, ông chỉ nghỉ ngơi khoảng 6 tiếng vào hai quãng thời gian trong vòng 24 giờ.
Ông không dùng rượu Tàu hay bất kỳ loại đồ uống có chất cồn nào, ăn rất ít thịt; một ít cá, cơm, rau quả, nước trà với bánh bột nhẹ là những đồ ăn uống chính hằng ngày. Giống như một người thuộc dòng dõi Trung Hoa thực sự, ông thường kiêu hãnh cho rằng mình thuộc về hoàng tộc vua Minh, ông luôn luồn ăn uống một mình, không cho phép vợ hoặc bất kỳ một thành viên nào trong gia đình ngồi cùng bàn ăn với ông. Cùng với một tinh thần tự cao như vậy, năm 1799, ông không cho phép một vài nhà quý tộc Anh muốn vào cung bệ kiến ông vì ông cho rằng tình hình đất nước còn chưa ổn định, không cho phép chuẩn bị những nghi thức đúng lễ đối với ông cũng như các bậc đáng tôn kính người ngoại quốc. Ý nghĩa của việc cáo lỗi như vậy nếu là của một người Trung Hoa thì không thể bị hiểu sai. Nhưng đối với vị quân vương này, hầu như không có điều gì là lòng ghen ghét hoặc không muốn cho những người nước ngoài có được phương tiện để thỏa tính hiếu kỳ. Ngược lại, họ được hoàn toàn tự do đi thăm mọi nơi của xưởng binh khí hải quân, quan sát thành phố và những thành lũy. Ông đã không phản đối việc tiếp đãi họ với tư cách một vị tướng, nhưng từ chối gặp họ với tư cách của một vị quân vương.
Vóc người của nhà vua cao hơn bình thường một chút, nét mặt cân đối và đáng mến, nước da đỏ hồng, rám sạm nhiều vì thường xuyên dãi dầu nắng gió. Vào thời gian này (1806), nhà vua đã gần 50 tuổi.
Vua ít biết đến người Anh, ngoại trừ danh tiếng của họ. Tuy nhiên, người ta nói rằng, trong mọi dịp ông đã tỏ ra rất ngưỡng mộ tính cách của họ. Những điều này có thể đáng tin, một khi nó đã do những người Pháp nói ra. Nhà vua thường có những biểu hiện tỏ ra thiên về người Anh. Ông ban hành một lệnh chỉ, tuyên bố rằng mọi tàu thuyền của chúng ta, trong mọi lúc, sẽ được thu nhận vào bất kỳ một hải cảng nào, được miễn mọi khoản thuế và cảng phí. Sau đây là một ví dụ về cách cư xử hào hiệp, chứng tỏ rõ ràng nhất tính cách của ông. Có một chiếc tàu buôn nước Anh từ Quảng Châu đến Sài Gòn, ở đó, người thuyền trưởng và viên sĩ quan cao cấp nhất đã bị chết. Để ngăn ngừa những âm mưu lừa gạt và nạn cướp bóc có thể xảy ra, cùng những thiệt hại không thể tránh khỏi gây ra cho chủ tàu, do cái chết của những người được giao nhiệm vụ quản lý tàu, ông đã ra lệnh cho thuyền trưởng Barissy, với một đội quân, chiếm lấy con tàu, đưa nó về Quảng Châu, và bàn giao an toàn cho chủ tàu hoặc các nhân viên của họ ở đó hoặc ở Macao.
Mặc dù bề ngoài ông không có nhiều biểu hiện thay đổi nào trong cách đối xử của ông với những sĩ quan Pháp phục vụ mình, tuy nhiên người ta cho biết rằng tính cách người Pháp đã làm tổn thương đến lòng quý trọng của ông, từ khi ông được biết về cách đối xử bất nhân và mang tính xúc phạm mà gia đình bất hạnh của nhà vua phải chịu đựng bởi đám người hèn hạ, dã man và vô đạo đó. Những tình cảm của một tâm hồn như của Nguyễn Ánh không thể nào khác hơn là phải cố sống sót trong nỗi sợ hãi để vượt qua một hoàn cảnh như vậy[31].
Bị kẻ tiếm quyền đuổi ra khỏi lãnh thổ của mình và phải chịu một số phận bất hạnh, lang thang trong nhiều năm như một kẻ tù đày bị trục xuất, ta không lạ gì khi so sánh một quốc gia đã từng xua đuổi gia đình của một vị quân vương hợp pháp với một quốc gia khác muốn mở rộng vòng tay đón tiếp, nhà vua muốn vun trồng tình hữu nghị với quốc gia sau hơn là với quốc gia trước. Tuy nhiên, chúng tôi không có trách nhiệm quản lý những công việc liên quan đến nhân vật phi thường kia, theo cách nhằm thúc đẩy mối giao thương hữu nghị đó, sao cho nó có lợi lớn cho công việc làm ăn buôn bán của chúng ta.
Thực vậy, Công ty Đông Ấn Độ, thấy được tầm quan trọng của việc giữ gìn những mối quan hệ hữu hảo với nhà vua Nam Hà, đã cử một trong những nhân viên thuộc hạ của mình từ Quảng Châu, với một nhiệm vụ mật đi đến Sài Gòn vào năm 1804, tuy nhiên, đã hoàn toàn thất bại. Điều đó dưới đây sẽ được nói kỹ hơn[32].
Để công bằng khi nhắc đến đến giám mục Adran (ông này mất vào năm 1800), chúng ta nên nhận thấy rằng, chí khí của vị quân vương, việc thu phục lại được vương quốc, những thắng lợi của ông trong cuộc chiến, công việc sửa sang đất nước trong những quãng thời gian hòa bình, sự tiến bộ đạt được trong các mặt khác nhau về kỹ thuật, công nghệ, khoa học, phần lớn đã nhờ vào tài năng, sự chỉ dẫn và lòng gắn bó trung thành của vị giáo sĩ này. Về phần nhà vua, ông đã yêu mến giám mục đến độ súng bái, gắn riêng cho ông một hình dung từ chỉ dùng cho Khổng Tử, gọi ông là “bậc sư biểu” (Illustrious Master).
Và để tỏ lòng sùng kính lớn lao của mình, sau khi thi hài của giám mục đã được các vị giáo sĩ chôn cất theo đúng nghi lễ của nhà thờ La Mã, nhà vua đã ra lệnh cho bốc hài cốt của ông lên để chôn cất lại với nghi lễ long trọng được quy định trong tôn giáo của Nam Hà. Nhà vua đã không bị thuyết phục từ bỏ việc tôn vinh vị giám mục, bất kể những lời khẩn cầu và trách cứ của những giáo sĩ người Pháp, những người này đã cảm thấy ít nhiều bị xúc phạm bởi những cung cách bất kính thánh thần như vậy.
Không khó khăn gì để thấy rằng vị giám mục đã không dễ dàng thực thi nhiệm vụ. Là cố vấn của nhà vua và thầy dạy của con trai vua, tất nhiên ông đã trở thành đối tượng cho sự ghen ghét của đám quan lại trong triều, họ thường cố kết với nhau để chống lại ông; đôi khi họ đã liều lĩnh trách cứ nhà vua về sự không khôn ngoan và không hợp đạo lý khi giao việc giáo dục hoàng thái tử cho một người ngoại quốc; và người này không hề tôn trọng những luật pháp cũng như chẳng tin theo thứ tôn giáo của tổ tiên họ. Họ thấy cần thiết phải thúc giục nhà vua giao quyền chỉ đạo, hướng dẫn thái tử cho những học giả chỉ cần am hiểu một học thuyết duy nhất đúng đắn, hàm chứa trong những kinh sách của Khổng Tử. Trong những trường hợp như vậy, nhà vua thường luôn luôn khước từ những đề xuất của họ một cách kiên quyết. Đôi lúc, nhà vua không giấu giếm họ về sự quyết tâm của mình, thà để mất lòng các vị triều thần còn hơn là từ bỏ tình thân hữu đối với vị giám mục là người mà nhà vua hằng tin tưởng trong lòng, cho đến giờ phút cuối đời của ông ta. Hoàng hậu được mô tả là một người phụ nữ đức hạnh, mẫu mực, rất kiên quyết, là chỗ dựa và niềm an ủi của nhà vua trong những lúc gặp tai ương. Trong số bảy người con của họ, hai người con trai lớn đã được Adran dạy dỗ.
Người chính thức thừa kế ngôi vua, chàng trai mà giám mục đã mang theo cùng ông sang Paris, đã mất chẳng bao lâu sau khi người thầy giáo của mình qua đời. Chàng trai này có mọi đức tính hòa nhã, niềm nở, ân cần và thân thiện, nhưng khí chất lại thích hợp với một cuộc sống yên tĩnh, khép mình trong gia đình hơn là một cuộc sống công cộng, náo nhiệt ngoài xã hội.
Người em thứ hai[33], hiện nay sẽ kế vị ngôi vua, có tính cách hoàn toàn là một chiến binh. Ông ta đã phục vụ ba năm như một người lính trơn trong đội cận vệ của cha mình, năm năm làm cai và đội. Trong thời gian phục vụ đó, ông đã tích cực tham gia vào nhiều trận chiến. Năm 1797, ông được thăng lên Lieutenant colonel và năm sau được bổ nhiệm làm Governor ở tỉnh phía Nam. Năm 1800, ông được phong cấp tướng General, được bổ nhiệm chỉ huy một đạo quân 35.000 người. Trong năm đó, ông đã giành được chiến thắng quan trọng nhất trước quân giặc ở vùng đất miền Bắc, tiêu diệt được 9.000 địch quân, chiếm được tất cả các thớt voi và pháo binh của họ.
Sức mạnh của những lực lượng của nhà vua Nam Hà vào năm 1800, như thuyền trưởng Barissy đã nêu lên, như sau:
Lục quân
24 đội (kỵ binh) trâu[34]
Bộ binh với súng hỏa mai[35], gươm giáo...
_77-1.jpg)
Hải quân
_77-2.jpg)
_78.jpg)
Tổng số quân: 139.800 người.
Nếu căn cứ theo tiêu chuẩn châu Âu, thì tôi không dám nói chất lượng của những đội quân này như thế nào, nhưng một số ít người mà chúng tôi quan sát được đều là những thanh niên khỏe mạnh và hoạt bát, quần áo không quá rườm rà, quân phục không cùng kiểu hoặc cùng màu, trừ những bộ lễ phục mà họ mặc để đứng canh gác trong những lễ đón tiếp công cộng, khi họ đội nón bằng giấy bồi cứng với những tua bông nhuộm màu đỏ tươi, áo nịt trần bông và quần chẽn hoàn toàn theo kiểu Trung Quốc. Nói chung, một chiếc khăn bịt đầu như kiểu khăn gấp nếp, áo choàng dài buông thõng, quần có hai ống đã tạo thành bộ quân phục, như hình vẽ phụ bản đã họa lại đúng bức chân dung ngoài cuộc sống thực tế.
Câu chuyện về ông hoàng này, mà tôi đã phác họa sơ lược nêu lên một tấm gương sáng và một bài học bổ ích cho những ai có thể rơi vào những hoàn cảnh rủi ro tương tự; nó chỉ ra rằng nếu biết kết hợp tài năng, nghị lực và lòng dũng cảm theo một hướng đúng đắn, người ta đã có thể làm được nhiều việc lớn như thế nào. Một con người bị trục xuất khỏi đất nước mình, buộc phải chạy trốn khỏi bàn tay kẻ tiếm quyền sát nhân, phải chịu đựng nhiều nỗi thống khổ tai ương; nhưng trong vòng 10, 12 năm, ông ta vẫn có thể không chỉ lấy lại được toàn bộ những lãnh thổ hợp pháp của mình, mà còn thêm vương quốc Bắc Hà, xưa kia đã từng thuộc về những nhà vua Nam Hà. Người ta nói rằng ngài thậm chí còn yêu cầu Hoàng đế Trung Hoa nhượng lại hòn đảo Hải Nam rộng lớn, không hẳn là với mục đích mở rộng lãnh thổ, mà là để lại cho ngài tiếng tăm về việc đã khôi phục cho Nam Hà những vùng đất cũ của mình. Người ta còn nói rằng, ngài đã tình nguyện thề trước Tien [Thiên = Trời] rằng sẽ không bao giờ ngồi yên hưởng thụ những chiến thắng của mình cho đến khi điều đó được hoàn tất như những câu thơ minh họa của một thi nhân:
“Danh tiếng đã thúc giục, nâng cao tinh thần sáng suốt…
…Coi thường lạc thú và sống những ngày gian khó…
(Fame is the spur that the clear spirit doth raise…
…To scorn delights, and live laborious days… )[36]
Sự tấn tới, nỗ lực của nhà vua còn gợi ra những điều suy nghĩ khác, đáng để cho nhà cầm quyền Anh ở Ấn Độ chú ý. Nếu vị quân vương này, giữa cuộc chiến đấu với những quân giặc hùng mạnh để giành lại vương quốc của mình, và trong hoàn cảnh tai ương nhất, đã có thể trong khoảng thời gian ngắn ngủi 10 năm đã tìm ra được những biện pháp để xây dựng và trang bị một hạm đội gần 1.200 tàu thuyền có vũ trang, thì những thần dân tích cực của vua Louis XVI có thể chuẩn bị cho một lực lượng quân đội còn hùng hậu đáng sợ hơn như thế nào cũng ở trên đất nước đó, nếu bản điều ước Versailles được thực thi? Và chính quyền nước Pháp hiện nay, còn tích cực hơn, sao lại không thể bị cám dỗ để thử cố gắng hành động trong cái xứ sở còn tồn tại duy nhất ở phương Đông này, nơi họ có thể ấp ủ niềm hy vọng hợp lý cho việc có được một chỗ đặt chân lâu bền, vững chắc?
❀ ❀ ❀
[1] Để tiện cho người đọc theo dõi, chúng tôi sẽ thay thế một số tên gọi địa danh, người, vật… trong bản gốc bằng các tên tiếng Việt thông dụng, tên gốc sẽ được ghi trong ngoặc vuông bên cạnh (BT). Lưu ý: Các chú thích trong sách là của người dịch, chú thích của biên tập viên sẽ có kí hiệu: BT.
[2] Trong các văn bản của các nước phương Tây trước đây, từ Cochinchina (Cochinchine) đã hàm ý nhiều khái niệm khác nhau:• Xứ Đàng Trong, chỉ phần đất do chúa Nguyễn cai quản thời Trịnh-Nguyễn phân tranh.• Xứ Nam Hà: phần đất miền Nam nước Việt sau Trịnh-Nguyễn phân tranh, từ lúc Tây Sơn tiến ra Bắc diệt Trịnh (1786) tới khi Gia Long lên ngôi (1802). Một số sử sách thời Nguyễn cũng dùng tên Nam Hà (phía Nam sông Gianh) để chỉ Đàng Trong của các chúa Nguyễn.• Chúng tôi chọn dịch từ Cochinchina trong cuốn sách này (nội dung viết chủ yếu về thời kỳ Nguyễn Ánh - Tây Sơn) là Nam Hà, để chỉ phần đất miền Nam nước Việt nói chung vào thời đoạn lịch sử này.• Đôi khi Cochinchina/Cochinchine cũng được hiểu là toàn bộ nước Việt Nam thời Nguyễn Gia Long (như trong phần sau cuốn sách này của J. Barrow, hay trong cuốn sách của J.B Chaigneau).• Nam Kỳ: dùng để chỉ phần đất Nam Kỳ lục tỉnh thời Minh Mệnh, Tự Đức hay Nam Kỳ thời thuộc Pháp.
[3] Cách phân chia và gọi tên những địa danh phụ này, theo Barrow, thực ra chưa chính xác.
[4] Trong nhật ký của G. Macartney, trưởng phái bộ và là đại sứ đầu tiên của Anh phái tới Trung Quốc (ghi lại trong: A. Lamb: The mandarin road to old Hué, London, 1970) thì người Bồ Đào Nha này tên là Manoel Houme Carvalho (tr.160).
[5] Caung-shung [Cảnh Hưng]: Các chúa Nguyễn, vì để tôn trọng danh nghĩa nhà Lê, vẫn dùng niên hiệu của các vua Lê, trong đó có Lê Cảnh Hưng (tức Lê Hiến Tông). Trong cuốn sách này, J. Barrow đã dùng tên gọi Cảnh Hưng để chỉ Nguyễn Ánh trước khi lên ngôi, và cả sau khi lên ngôi, tức vua Gia Long. Lời người biên tập: chỗ nào từ này dùng để chỉ Nguyễn Ánh, chúng tôi sẽ chuyển sang dùng tên Nguyễn Ánh để bạn đọc tiện theo dõi.
[6] Đây chỉ Nguyễn Huệ, đã được Nguyễn Nhạc phong cho tước hiệu là Long Nhương tướng quân.
[7] Câu này hơi tối nghĩa, phải chăng biên giới Bắc Hà ở đây là để chỉ biên giới phía Nam, giữa Bắc Hà và Nam Hà.
[8] Viên Tổng đốc Lưỡng Quảng kế nhiệm Tôn Sĩ Nghị.
[9] Nhận định chủ quan này có phần không đúng với thực tế lịch sử.
[10] Chỉ Lê Chiêu Thống.
[11] Nguyên bản viết nhầm. Sửa là 1790.
[12] Trong sử sách Việt Nam, nhân vật này có tên là Paul Nghị.
[13] Đây chỉ chúa Nguyễn Phúc Thuần.
[14] Manuel: người Pháp (có tài liệu ghi là người Ireland), theo giúp Nguyễn Ánh từ những ngày đầu, phụ trách huấn luyện thủy quân. Manuel có tên tiếng Việt là Mạn Hòe hoặc Mãn Noài, giữ chức Cai cơ, chỉ huy đội Trung Khuông. Sau được phong chức Chưởng vệ, tước An Hòa hầu. Năm 1782, Manuel chỉ huy một chiếc tàu lấy được của Bồ Đào Nha, đánh nhau với quân Tây Sơn ở cửa Cần Giờ. Bị vây hãm tuyệt vọng, Manuel đã châm lửa làm nổ tung tàu tự sát.
[15] Pulo Wai: Theo các sách sử Việt Nam, Nguyễn Ánh khi trốn chạy Tây Sơn đã lập căn cứ chính ở đảo Phú Quốc. Trong các tư liệu và bản đồ Công ty Đông Ấn Độ của Hà Lan và Anh, có ghi tên Pulo Wai, một hòn đảo ở vịnh Xiêm La. Ngày nay ở ngoài khơi Kiên Giang (Việt Nam), có một hòn đảo mang tên Hòn Vầy (đảo Vây). Ở tỉnh Kampot (Campuchia), có hòn đảo mang tên Koh Wai. Có tài liệu chú thích Pulo Wai là Hòn Tróc.
[16] Nguyên bản in nhầm là Quang-shung.
[17] Thực ra trong hiệp ước Versailles, giám mục Adran, với tư cách là người giám hộ, đã ký thay cho hoàng tử Cảnh, người đại diện cho nhà vua Nam Hà.
[18] Lưu ý rằng tất cả những địa điểm nói tới ở đây lúc đó đều còn nằm dưới quyền kiểm soát của quân Tây Sơn.
[19] Các sách sử từ trước đến nay đã ghi lại nhiều văn bản khác nhau về hiệp ước Versailles. Đối chiếu với bản hiệp ước mà J. Barrow ghi lại, có thể là sớm nhất, về đại thể các văn bản là giống nhau, tuy một số chi tiết ít nhiều khác nhau.
[20] Ngày nay là đảo Maurice (Mauritius) ở Ấn Độ Dương, phía Đông đảo Madagascar thuộc châu Phi.
[21] Ngày nay là đảo Réunion, ở cạnh đảo Maurice.
[22] Tức mũi Ô Cấp ở Vũng Tàu ngày nay.
[23] Đúng ra là năm 1792 (Nhâm Tí).
[24] Anh em Dayot: Jean Maurice Dayot, người Pháp, quê vùng Bretagne, theo giúp Nguyễn Ánh từ 1788, mang tên Việt là Đa Đột, được phong chức Khâm sai Cai đội. Từ năm 1790, Dayot chỉ huy các lực lượng thủy quân của Nguyễn Ánh, phụ trách hai chiếc tàu Don-nai và Prince de Cochinchine. Tham gia trận đánh Quy Nhơn lần thứ nhất (1793), là nhà hàng hải giỏi, chuyên đo đạc và xây dựng các tấm hải đồ biển Đông và bản đồ bờ biển Nam Hà. Năm 1795, do gièm pha bị kết tội. Sau khi được thả, Dayot bỏ đi Manila (Philippines) làm thương nhân. Năm 1804, trở lại Đà Nẵng, thương thuyết vấn đề đặt quan hệ buôn bán giữa Manille và Việt Nam. Năm 1809, J.M. Dayot chết do đắm tàu trên biển cả. J.M. Dayot còn có một người em trai là Féliy Dayot, cùng tham gia giúp Nguyễn Ánh từ năm 1789. Năm 1782, nhân vật này đi Manille và sau đó chết ở Macao năm 1821.
[25] E. Laurent Barisy (Barissy): Người Pháp, thích mạo hiểm phiêu lưu. Gia nhập thủy quân từ năm 17 tuổi, đi nhiều nơi trên thế giới. Năm 1789, đến Nam Hà cùng giám mục Adran; chiếc tàu Armide của ông đã bị người Anh bắt rồi được trả lại. Tên Việt là Ba-di-ni, hoặc ông Mẫn, Phụ trách công việc tiếp tế và vũ khi cho Nguyễn Ánh. Chỉ huy tàu Loan Phi, giữ chức Khâm sai Cai đội, sau được phong tước Thanh Tín hầu. Đã cùng Nguyễn Ánh tham gia nhiều trận đánh với Tây Sơn, trong đó có trận đánh chiếm cửa Thuận An. Chết năm 1802.
[26] Đây là lệ “tam ban triều điển” trong luật pháp Trung Hoa và Việt Nam thời xưa. Khi một vị đại thần từng có công lao mắc tội chết, thay vì phải trừng phạt bằng tội trảm (xử chém) hay kết tội giảo (xử thắt cổ), người đó được chiếu cố ân giảm bằng cách cho “tự xử” (tự sát bằng một chén thuốc độc, một dải lụa hay một con dao găm).
[27] Ở đây chỉ Quang Toản, con Quang Trung.
[28] Chỉ Peter (Pierre) Đại Đế (1672-1725) vua nước Nga. Sa hoàng nổi tiếng với những cuộc cải cách theo hướng phương Tây hóa, người đã lập ra thành phố Saint Petersbourg.
[29] Tức Alfed Đại Đế (849-899) nước Anh, nhà vua xứ Wessex và England, có công đánh đuổi quân xâm lăng Đan Mạch và thúc đẩy nền văn hóa Anh.
[30] Chỉ bộ Bách khoa toàn thư nổi tiếng của Pháp (Encyclopédie) do các nhà Khai sáng, đứng đầu là Diderot tổ chức biên soạn và xuất bản (1751-1772).
[31] Bản thân Barrow cũng như những tài liệu lịch sử khác không nói rõ những sự việc bê bối này đã xảy ra như thế nào.
[32] Đây muốn nói tới phái bộ do J. W. Roberts chỉ huy đến Đà Nẵng vào năm 1804.
[33] Chỉ người con trai thứ hai của vua Gia Long, thường gọi là ông Hoàng Hai, tên là Nguyễn Phúc Hy. Thông tin Barrow đưa ra không hoàn toàn trùng khớp với những gì ghi chép trong Đại Nam liệt truyện. Theo Đại Nam liệt truyện, Nguyễn Phúc Hy ban đầu là Khâm sai cai đội. Năm 1798, được các tướng lĩnh đề cử phong Súy (Soái) nhưng Nguyễn Ánh từ chối vì còn quá trẻ. Năm 1799, ông được giao trấn thủ thành Gia Định, Năm 1800, ông theo Nguyễn Ánh đi đánh Quy Nhơn. Năm 1801, ông mất ở trong quân (không ghi rõ lý do) khi mới 20 tuổi, được truy tặng là Đặc tiến Phụ quốc Tướng quân, Thiếu úy, Quân công.
[34] Nguyên văn ghi là: buffalo cavalry. Ở đây, lực lượng quân đội của Nguyễn Ánh có thể sử dụng trâu làm phương tiện để di chuyển và vận chuyển các trang thiết bị quân sự (BT).
[35] Một loại súng trường thời Nguyễn bắn đạn bằng mồi lửa, còn gọi là thạch cơ điểu thương.
[36] Thơ của thi sĩ Anh John Milton (1608-1674).