Edda Văn Xuôi

Lượt đọc: 32 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
The Fooling Of Gylfe.

❊ ❊ ❊

Vua Gylfe cai trị vùng đất ngày nay gọi là Svithjod (Thụy Điển). Tương truyền rằng để thưởng cho màn trình diễn kể chuyện làm vui lòng nhà vua của một nữ lang lãng du, ngài đã ban cho nàng một dải đất cày cấy trong vương quốc rộng bằng bốn con bò cày trong suốt một ngày một đêm. Nữ lang này vốn thuộc giống loài Ása, tên là Gefjun. Nàng từ phương bắc, từ xứ Jotunheim, dắt về bốn con bò vốn là con của một người khổng lồ và chính nàng, rồi ách chúng vào cày. Lưỡi cày khi ấy rạch sâu và mạnh đến nỗi bứng tung cả dải đất lên, và bầy bò kéo nó hướng về phía tây ra biển, cho đến khi dừng lại tại một vũng biển. Tại đó, Gefjun đặt dải đất xuống, đặt tên cho nó là Seeland. Nơi dải đất bị bứng đi sau đó biến thành một vùng biển, mà ở Thụy Điển ngày nay gọi là Logrinn (Hồ, tức hồ Malar ở Thụy Điển). Trong hồ Malar, những vịnh nước tương ứng với các mũi đất ở Seeland. Như Brage, vị thi nhân cổ đại, đã ca rằng:

Nàng Gefjun vui mừng

Đã dắt khỏi Gylfe

Dải đất tuyệt vời,

Miền đất tăng trưởng của Đan Mạch,

Khiến cho bốc khói

Từ những con thú đang phi.

Bốn đầu và tám mắt

Mang theo những con bò

Khi chúng bước đi trước dải đất rộng

Bị cướp khỏi hòn đảo cỏ xanh.8

2. Vua Gylfe là một người khôn ngoan và thông thạo tà thuật. Ngài vô cùng kinh ngạc khi thấy dân Ása lại có quyền năng uyên bác đến thế, khiến mọi sự đều diễn ra theo ý muốn của họ. Ngài tự nhủ không biết điều này xuất phát từ bản chất vốn có của họ, hay nguyên nhân phải tìm nơi các vị thần mà họ tôn thờ. Do đó, ngài quyết định thực hiện một chuyến hành trình đến Asgard. Ngài đi trong bí mật, hóa trang thành một ông già để che đậy thân phận. Nhưng người Ása vốn thông thái hơn, bởi họ thấu tỏ tương lai; tiên đoán được chuyến đi của Gylfe trước khi ngài đến, họ đã đón tiếp ngài bằng một thứ ảo ảnh đánh lừa thị giác. Thế là khi bước vào thành, ngài nhìn thấy một tòa đại sảnh cao đến mức ngài khó lòng ngước nhìn cho hết. Mái nhà được lợp bằng những chiếc khiên vàng óng ánh chẳng khác nào những tấm ván lợp. Thửơng Thjodolf xứ Hvin đã nói rằng Valhal được lợp bằng những chiếc khiên:

Những người thợ lợp nghĩ ngợi

Đã lợp lên mái nhà;

Những xà nhà của thành

Rực rỡ ánh vàng.9

Ngay tại cửa sảnh, Gylfe nhìn thấy một người đang tung khiêu múa kiếm điêu luyện đến mức có cùng lúc bảy thanh ở trên không trung. Người đó hỏi ngài tên là gì. Gylfe đáp rằng tên mình là Ganglere;10 rằng ngài đã đi một quãng đường dài và đang tìm chỗ trọ qua đêm. Ngài cũng hỏi ai là chủ nhân của thành lũy này. Người kia đáp rằng nó thuộc về vị vua của họ: Ta sẽ đi cùng ngươi để diện kiến ngài, rồi tự ngươi có thể hỏi tên ngài. Đoạn, người đó quay người dẫn đường bước vào sảnh. Ganglere bước theo sau, và bất thình lình những cánh cửa khép lại sau lưng ngài. Nơi đó, ngài nhìn thấy rất nhiều căn phòng cùng một lượng lớn người đang tụ tập; kẻ thì chơi đùa, người thì chè chén, kẻ khác lại dùng vũ khí giao chiến với nhau. Ngài nhìn quanh, và phần lớn những gì mục kích đều khiến ngài thấy khó mà tin nổi. Bấy giờ ngài cất lời:

Mọi cánh cổng kia,

Trước khi bước vào,

Ngươi phải xem xét cho tường tận;

Bởi ngươi chẳng thể nào hay biết

Kẻ thù đang ngồi nơi đâu

Trong ngôi nhà trước mặt ngươi.11

Ngài nhìn thấy ba chiếc ghế cao xếp chồng lên nhau, và trên mỗi ghế có một người đang ngồi. Ngài hỏi danh tính của những vị thủ lĩnh ấy. Người dẫn đường cho ngài lúc nãy liền đáp rằng kẻ ngồi trên chiếc ghế cao thấp nhất là vua, hiệu là Har; người ngồi ngay phía trên là Jafnhar; còn vị ngự trên ngai cao nhất là Thride. Har hỏi kẻ mới đến có mục đích gì, đồng thời thêm rằng thức ăn và đồ uống ở đây luôn sẵn sàng phục vụ, như cho tất cả mọi người trong sảnh của Har. Ganglere đáp rằng trước tiên ngài muốn hỏi xem nơi đây có bậc hiền triết nào không. Har đáp: Ngươi sẽ chẳng thể bước ra khỏi chốn này mà được bình an vô sự trừ khi ngươi là kẻ khôn ngoan.

Và giờ hãy đứng tiến lên

Trong lúc ngươi đặt câu hỏi;

Kẻ nào cất lời đáp sẽ được ngồi.

3. Ganglere bấy giờ cất lên câu hỏi sau đây: Ai là vị thần tối cao và già trẻ nhất trong số tất cả các vị thần? Har đáp: Trong ngôn từ của chúng tôi, ngài được gọi là Alfather, nhưng thuở xưa ở Asgard ngài có mười hai danh hiệu. Danh hiệu thứ nhất là Alfather, thứ hai là Herran hoặc Herjan, thứ ba Nikar hoặc Hnikar, thứ tư Nikuz hoặc Hnikud, thứ năm Fjolner, thứ sáu Oske, thứ bảy Ome, thứ tám Biflide hoặc Biflinde, thứ chín Svidar, thứ mười Svidrer, thứ mười một Vidrer, thứ mười hai Jalg hoặc Jalk. Ganglere lại hỏi: Vị thần này đang ở đâu? Ngài có thể làm những gì? Ngài đã hoàn thành những công trình vĩ đại nào? Har đáp: Ngài hằng sống từ đời nọ sang đời kia, cai trị toàn bộ vương quốc của mình, và quản xuyến vạn vật, từ lớn đến nhỏ. Jafnhar bấy giờ tiếp lời: Ngài đã tạo ra trời và đất, bầu khí quyển cùng vạn vật trong đó. Thride bổ sung: Điều quan trọng nhất là ngài đã tạo ra con người và ban cho họ một linh hồn sẽ mãi trường tồn không bao giờ diệt vong, dẫu thân xác có hóa thành bụi đất hay thiêu rụi thành tro tàn. Tất cả những ai sống một đời đức hạnh sẽ được cư ngụ cùng ngài ở Gimle hoặc Vingolf. Ngược lại, kẻ ác sẽ xuống chốn Hel, rồi từ đó đi tiếp đến Niflhel, nghĩa là đi sâu xuống thế giới thứ chín. Ganglere bấy giờ hỏi tiếp: Ngài đã làm gì trước khi trời và đất được tạo thành? Har đáp: Khi ấy ngài ở cùng những tên khổng lồ băng giá.

4. Ganglere nói: Thế giới đã ra đời như thế nào, hay nó đã khởi sự ra sao? Điều gì đã có trước đó? Har đáp lời ngài: Trong Lời tiên tri của Vala đã nói thế này:

Đó là buổi rạng đông của thời gian,

Khi chẳng có gì tồn tại;

Cả cát lẫn biển,

Hay những con sóng mát lành.

Đất liền khi ấy chưa có,

Và bầu trời ở phía trên cũng không.

Chỉ có vực thẳm Ginungagap,

Nhưng cỏ mọc ở đâu chẳng thấy.12

Jafnhar nhận xét: Nhiều thời đại trước khi trái đất được tạo ra, Niflheim đã tồn tại, ở chính giữa nơi đó có chiếc giếng gọi là Hvergelmer, từ đó tuôn chảy những dòng sông sau: Svol, Gunnthro, Form, Fimbul, Thul, Slid và Hrid, Sylg và Ylg, Vid, Leipt và Gjoll; dòng sông cuối cùng này nằm sát cạnh cửa cổng của Hel. Thride bổ sung thêm: Vẫn còn có một thế giới ở phương nam từ thuở trước hiệu là Muspelheim. Nơi đó ngập tràn ánh sáng và hơi nóng, sáng chói và lóa mắt đến mức không một kẻ lạ mặt nào không phải là thổ dân ở đó có thể chịu đựng nổi. Surt là tên của kẻ đứng canh giữ ở biên giới của miền đất ấy. Hắn cầm trên tay một thanh gươm lửa, và vào tận thế hắn sẽ đến tàn phá, chinh phục tất cả các vị thần và thiêu rụi toàn bộ thế giới trong biển lửa. Trong Lời tiên tri của Vala đã nói về điều này:

Surt từ phương nam tiến tới

Với những ngọn lửa bùng cháy;

Từ thanh gươm tỏa sáng

Vầng thái dương của vị thần chiến trận.

Những vách đá va vào nhau

Và các mụ phù thủy gục ngã,

Loài người bước trên con đường đến Hel

Và bầu trời bị xé rách.13

5. Ganglere nói: Điều gì đã diễn ra trước khi các giống loài xuất hiện, và con người sinh sôi nảy nở? Har đáp, giải thích rằng: Ngay khi những dòng suối được gọi là Elivogs chảy ra xa nguồn của chúng đến mức thứ bọt độc trôi theo dòng bị đông cứng lại, giống như xỉ quặng chảy ra từ ngọn lửa, thì nó biến thành băng. Và khi khối băng này ngưng lại, không chảy nữa, thì những hạt mưa phùn sinh ra từ chất độc đã tụ lại phía trên, đóng băng thành sương giá, cứ thế lớp băng này chồng lên lớp băng khác kéo dài tận vào vực thẳm Ginungagap. Jafnhar liền nói: Toàn bộ phần Ginungagap hướng về phía bắc đã được lấp đầy bởi băng và sương giá dày đặc, nặng nề, và khắp nơi bên trong toàn là mưa phùn cùng những cơn gió lốc. Thế nhưng phần phía nam của Ginungagap lại được chiếu sáng bởi những tia lửa rực hồng bay ra từ Muspelheim. Thride bổ sung: Cũng giống như cái lạnh và mọi thứ giá buốt phát xuất từ Niflheim, vùng giáp ranh với Muspelheim lại nóng bức và rực rỡ; còn Ginungagap thì ấm áp và ôn hòa như không khí lặng gió. Và khi những luồng gió nóng từ Muspelheim gặp lớp sương giá khiến nó tan chảy thành những giọt nước, thì dưới quyền năng của Đấng đã ban phát sức nóng ấy, những giọt nước bỗng bừng cấy sự sống và mang hình hài của một con người, kẻ nhận lấy cái tên Ymer. Nhưng những người khổng lồ băng gọi hắn là Aurgelmer. Trong Bài thơ ngắn của Vala (Khúc ca về Hyndla) đã ca rằng:

Tất cả các vla đều

Bắt nguồn từ Vidolf;

Tất cả các pháp sư đều

Thuộc giống nòi của Vilmeide;

Tất cả những kẻ phù phép đều

Là con trai của Svarthofde;

Tất cả những người khổng lồ đều

Xuất thân từ Ymer.14

Và về điểm này, khi người khổng lồ Vafthrudner được Gangrad hỏi:

Bởi đâu mà Aurgelmer

Thuở ban đầu đã đến với dòng dõi

Của những kẻ khổng lồ?—hỡi tên khổng lồ thông thái!15

hắn đã đáp rằng:

Từ các dòng Elivogs

Đã văng ra những giọt độc,

Và lớn lên cho đến khi tạo thành một tên khổng lồ.

Từ đó dòng dõi chúng ta

Đều xuất thân tất thảy,

Thế nên tất cả chúng ta mới hung hãn làm sao.16

Ganglere bấy giờ hỏi: Các giống loài đã phát triển từ hắn như thế nào? Hay đã có chuyện gì xảy ra để con người được tạo ra nhiều hơn nữa? Hoặc ngài có tin hắn là vị thần mà ngài vừa nhắc đến hay không? Har đáp: Chúng tôi tuyệt đối không tin hắn là thần; bản thân hắn và toàn bộ con cháu hắn đều là ác quỷ, chúng tôi gọi chúng là những người khổng lồ băng. Tương truyền rằng khi ngủ, hắn đổ mồ hôi, và rồi dưới nách trái của hắn mọc ra một nam một nữ, còn một bàn chân của hắn khi giao phối với bàn chân kia đã sinh ra một đứa con trai. Từ những kẻ này mà sinh ra các giống loài được gọi là người khổng lồ băng. Tên khổng lồ băng già cỗi ấy chúng tôi gọi là Ymer.

6. Ganglere liền nói: Ymer đã trú ngụ ở đâu, và hắn sinh sống bằng gì? Har đáp: Điều tiếp theo là khi sương giá tan thành những giọt nước, một con bò cái đã được tạo nên từ đó, mang tên Audhumbla. Bốn dòng sữa tuôn chảy từ bầu vú nó, và nó đã nuôi dưỡng Ymer. Ganglere bấy giờ hỏi: Con bò cái ấy sống bằng gì? Har đáp: Nó liếm những khối đá muối bị sương giá bao phủ, và vào ngày đầu tiên liếm đá, đến chiều tối, những sợi tóc của một người đàn ông mọc ra từ đó; ngày thứ hai là đầu của một người đàn ông; và ngày thứ ba thì toàn bộ con người hiện ra ở đó. Người đàn ông này tên là Bure; ngài có dung mạo tuấn tú, vĩ đại và dũng mãnh, và ngài đã sinh hạ một người con trai tên là Bor. Bor này kết hôn với một người phụ nữ tên là Bestla, con gái của tên khổng lồ Bolthorn; họ sinh được ba người con trai — người thứ nhất hiệu là Odin, người thứ hai Vile, và người thứ ba Ve. Và thần tin rằng Odin cùng các anh em ngài chính là những đấng cai trị trời và đất. Chúng tôi nghĩ ngài phải được gọi bằng cái tên ấy. Đó là tên của người mà chúng tôi biết là vĩ đại nhất và nổi danh nhất, và loài người hoàn toàn có thể gọi ngài bằng cái tên đó.

7. Ganglere hỏi: Làm thế nào mà những kẻ này có thể giữ được hòa khí với Ymer, hay ai là kẻ mạnh hơn? Har đáp: Những người con của Bor đã tiêu diệt tên khổng lồ Ymer; nhưng khi hắn ngã xuống, lượng máu tuôn ra từ các vết thương của hắn nhiều đến mức chúng đã dìm chết toàn bộ giống loài người khổng lồ băng trong đó; ngoại trừ một kẻ duy nhất đã trốn thoát cùng gia đình. Hắn được những người khổng lồ gọi là Bergelmer. Gã cùng vợ đã bước lên chiếc thuyền lớn của hắn và tự cứu lấy mình trên đó. Từ họ mà những giống loài người khổng lồ băng mới đã sinh sôi, như lời được ca ở đây:

Vô số mùa đông

Trước khi trái đất được tạo thành,

Bergelmer đã chào đời.

Điều đầu tiên này ta nhớ lại

Tên khổng lồ xảo quyệt ấy đã nằm

An toàn trong chiếc thuyền lớn ra sao.17

8. Ganglere bấy giờ nói: Vậy những người con của Bor đã làm gì tiếp theo, vì ngài tin rằng họ là các vị thần? Har đáp: Về điều đó thì có rất nhiều điều để kể. Họ mang thi thể của Ymer đặt vào chính giữa vực thẳm Ginungagap và dùng hắn để tạo nên trái đất. Từ máu của hắn, họ tạo ra biển cả và hồ nước; từ thịt hắn, trái đất được tạo nên; còn từ xương hắn là những vách đá; từ răng, quai hàm và những khúc xương bị gãy, họ tạo ra đá và sỏi. Jafnhar nhận xét: Từ phần máu tuôn ra từ các vết thương và còn tự do, họ tạo ra đại dương; họ kết nối trái đất lại và vây quanh nó bằng đại dương này ở vành đai bên ngoài, và đối với phần lớn mọi người, việc vượt qua nó dường như là điều bất khả. Thride bổ sung: Họ lấy hộp sọ của Ymer để tạo thành bầu trời, và dựng nó lên phía trên trái đất với bốn góc. Dưới mỗi góc, họ đặt một người lùn, và bốn người lùn ấy lần lượt mang tên Austre (Đông), Vestre (Tây), Nordre (Bắc), Sudre (Nam). Sau đó, họ lấy những tia lửa rực hồng đang bay tự do và từng bị tống ra khỏi Muspelheim, đặt chúng vào chính giữa bầu trời vô tận, cả ở bên trên lẫn bên dưới, để thắp sáng thiên đàng và trần gian. Họ ban những chốn nghỉ ngơi cho mọi ngọn lửa, đặt một số ở trên thiên đàng; số khác được thả tự do dưới bầu trời, nhưng họ định đoạt cho chúng một vị trí và vạch ra quỹ đạo di chuyển. Trong những khúc ca cổ xưa, người ta kể rằng kể từ thời điểm đó, ngày và tháng bắt đầu được tính toán. Như trong Lời tiên tri của Vala:

Mặt trời chẳng hề biết

Nàng có sảnh đường ở chốn nào;

Mặt trăng chẳng hề biết

Hắn có uy lực ra sao;

Những vì sao chẳng hề biết

Chốn nghỉ ngơi của chúng ở đâu.18

Mọi chuyện là thế trước khi những thứ này được tạo nên. Ganglere bấy giờ nói: Những tin tức thật kỳ diệu làm sao khi tôi nghe thấy lúc này; một công trình vĩ đại kỳ diệu biết bao, và được kiến thiết thật tài tình. Trái đất đã được tạo hình ra sao? Har đáp: Trái đất có hình tròn, bao bọc xung quanh bên ngoài nó là đại dương sâu thẳm, và dọc theo dải bờ biển phía ngoài cùng của vùng biển ấy, họ đã ban những dải đất cho các giống loài khổng lồ sinh sống; đồng thời, để chống lại sự tấn công của những tên khổng lồ hiếu chiến, họ đã xây dựng một thành lũy nằm bên trong biển cả và bao bọc lấy trái đất. Cho mục đích này, họ đã sử dụng đôi lông mày của tên khổng lồ Ymer, và gọi thành lũy ấy là Midgard. Họ cũng lấy bộ não của hắn ném lên không trung để tạo thành những đám mây, như lời được ca ở đây:

Từ thịt của Ymer

Trái đất được tạo thành,

Và từ mồ hôi hắn là biển cả;

Những vách đá từ xương hắn,

Cây cối từ mái tóc hắn,

Và bầu trời từ hộp sọ hắn;

Nhưng từ đôi lông mày hắn

Những đấng quyền năng hoan hỉ

Đã tạo ra Midgard cho con cháu loài người.

Từ bộ não của hắn

Toàn bộ những đám mây

U sầu đã được tạo nên.19

9. Ganglere bấy giờ nói: Hẳn đã có rất nhiều việc được hoàn thành, theo tôi thấy, khi trời và đất được tạo nên, khi mặt trời và mặt trăng được đặt vào vị trí của chúng, và khi ngày tháng được ấn định; nhưng những con người đang cư ngụ trên thế giới này từ đâu mà đến? Har đáp thế này: Khi các con trai của Bor đi dọc theo bờ biển, họ tìm thấy hai thân cây. Họ nhặt những thân cây ấy lên và biến chúng thành con người. Vị thần thứ nhất ban cho họ linh hồn và sự sống; vị thần thứ hai phú bẩm cho họ lý trí cùng khả năng vận động; và vị thần thứ ba ban cho họ hình hài, tiếng nói, thính giác và thị giác. Các vị thần mặc quần áo và ban tên cho họ; người nam gọi là Ask, còn người nữ là Embla. Toàn thể nhân loại đều hậu duệ từ họ, và một chốn cư ngụ dưới Midgard đã được ban cho họ. Kế đến, các con trai của Bor đã tự dựng cho mình một thành lũy ở giữa thế giới, được gọi là Asgard, mà chúng ta gọi là Troy. Nơi đó là chốn ngự trị của các vị thần cùng giống loài của họ, và từ đó đã khơi nguồn biết bao sự kiện lẫn cuộc phiêu lưu, cả trên mặt đất lẫn chốn không trung. Ở Asgard có một nơi gọi là Hlidskjalf, và khi Odin ngự trên chiếc ghế cao ấy, ngài thấu suốt toàn bộ thế giới cùng mọi việc làm của từng con người, và ngài hay biết mọi thứ mình mục kích. Vợ ngài hiệu là Frigg, nàng là con gái của Fjorgvin, và từ hậu duệ của họ đã sinh ra giống loài mà chúng ta gọi là người Ása, những kẻ từng cư ngụ ở Asgard cổ xưa cùng các vương quốc xung quanh, và toàn bộ giống loài đó được công nhận là các vị thần. Chính vì lý do này mà Odin được gọi là Alfather, bởi ngài là cha của mọi vị thần, loài người, và của vạn vật được tạo nên bởi ngài cùng uy quyền của ngài. Jord (trái đất) vừa là con gái vừa là vợ ngài; với nàng, ngài sinh hạ người con trai đầu lòng, chính là Ása-Thor. Ngài được ban cho sức mạnh và uy lực, nhờ đó ngài chinh phục mọi sự sống nhanh chóng.

10. Norfe, hoặc Narfe, là tên của một tên khổng lồ cư ngụ ở Jotunheim. Hắn có một người con gái tên là Đêm. Nàng có làn da sạm và tối tăm hệt như giống loài của nàng. Nàng kết hôn lần đầu với một người đàn ông hiệu là Naglfare. Con trai của họ là Aud. Sau đó, nàng kết hôn với Annar. Jord là tên con gái của họ. Người chồng cuối cùng của nàng là Delling (Rạng đông), thuộc giống loài Ása. Con trai họ là Ngày, sáng sủa và tuấn tú thừa hưởng từ người cha. Bấy giờ Alfather đón lấy Đêm và con trai nàng là Ngày, ban cho họ hai con ngựa cùng hai cỗ xe, rồi đưa họ lên bầu trời để phi nước đại quanh trái đất, mỗi người luân phiên trong mười hai tiếng. Đêm phi ngựa đi trước trên con ngựa mang tên Hrimfaxe, và mỗi buổi sáng chú ngựa này lại làm đẫm sương mặt đất bằng bọt dãi rỉ ra từ chiếc hàm thiếc của nó. Con ngựa mà Ngày cưỡi gọi là Skinfaxe, và bằng chiếc bờm của mình, nó thắp sáng toàn bộ bầu trời lẫn mặt đất.

11. Ganglere bấy giờ hỏi: Ngài điều khiển quỹ đạo của mặt trời và mặt trăng như thế nào? Har đáp: Mundilfare là tên người đàn ông có hai đứa con. Chúng quá đỗi tuấn tú và xinh đẹp nên ông đặt tên con trai mình là Mặt Trăng, còn con gái — người mà ông gả cho một người đàn ông tên là Glener — thì gọi là Mặt Trời. Thế nhưng các vị thần nổi giận trước sự ngạo mãng này, bèn bắt lấy cả hai anh em, đưa họ lên bầu trời, và bắt Mặt Trời phải điều khiển những con ngựa kéo cỗ xe mặt trời — thứ do các vị thần tạo ra để thắp sáng thế giới từ những tia lửa văng ra từ Muspelheim. Những con ngựa này hiệu là Arvak và Alsvid. Dưới bả vai chúng, các vị thần đặt hai chiếc túi đựng gió để làm mát, nhưng trong một số khúc ca người ta gọi đó là băng giá (ísarnkol). Mặt Trăng dẫn dắt quỹ đạo của mặt trăng, đồng thời quản xuyến việc trăng khuyết trăng tròn. Hắn đã mang từ trần gian đi hai đứa trẻ tên là Bil và Hjuke, khi chúng đang trên đường rời khỏi cái giếng mang tên Byrger và đang vác trên vai chiếc thùng gọi là Sager cùng đòn gánh Simul. Cha của chúng tên là Vidfin. Những đứa trẻ này luôn đồng hành cùng Mặt Trăng, như có thể nhìn thấy từ mặt đất.

12. Ganglere bấy giờ nói: Mặt Trời phi nước đại thật nhanh, tựa hồ như đang sợ hãi, và nàng chẳng thể nào tăng tốc hơn nữa trong hành trình của mình nếu nàng khiếp sợ kẻ tiêu diệt mình. Har liền đáp: Cũng chẳng có gì là lạ khi nàng phóng đi với toàn bộ sức lực. Kẻ đang truy đuổi nàng ở ngay gần kề, và nàng chẳng có cách nào trốn thoát ngoài việc chạy trốn phía trước hắn. Ganglere bấy giờ hỏi: Kẻ nào gây cho nàng nỗi nhọc nhằn này? Har đáp: Đó là hai con sói. Con thứ nhất hiệu là Skol, hắn chạy theo sau nàng; nàng khiếp sợ hắn và một ngày nào đó hắn sẽ bắt kịp nàng. Con thứ hai hiệu là Hate, con trai của Hrodvitner; hắn phóng nhảy phía trước và muốn tóm lấy mặt trăng, và rồi cuối cùng hắn cũng sẽ làm được điều đó.20 Ganglere lại hỏi: Hai con sói này là con của ai? Har đáp: Có một mụ phù thủy già cư ngụ ở phía đông Midgard, trong khu rừng mang tên Jarnved (Rừng Sắt), nơi sinh sống của những mụ phù thủy gọi là Jarnvidjes. Mụ phù thủy già ấy hạ sinh rất nhiều người con khổng lồ, và tất cả đều mang lốt sói. Từ đó mà xuất hiện hai con sói này. Tương truyền rằng trong giống loài sói này có một con hùng mạnh nhất, mang tên Moongarm. Nó tràn đầy thứ máu sự sống của tất cả những kẻ đã chết. Nó sẽ nuốt chửng mặt trăng, và nhuốm đỏ bầu trời cùng vạn vật bằng máu. Nhờ đó mặt trời sẽ bị che khuất, những cơn gió sẽ trở nên cuồng nộ, gầm thét tứ phía, như đã được nói trong Lời tiên tri của Vala:

Ở phương đông cư ngụ mụ phù thủy già,

Trong khu rừng Jarnved;

Và sinh hạ nơi đó

Dòng dõi của Fenrer.

Nơi ấy sinh ra tất thảy

Một kẻ tệ hại nhất,

Kẻ nuốt chửng mặt trăng

Dưới lớp lốt quỷ lùn.

Nó tràn ngập máu sự sống

Của những kẻ định mệnh phải chết;

Những chỗ ngồi của các vị thần

Nó nhuốm đẫm máu tươi;

Ánh dương hóa thành đen kịt

Vào mùa hè sau đó,

Mọi thời tiết trở nên đồng bóng.

Ngươi đã hay biết hay chưa?21

13. Ganglere bấy giờ hỏi: Con đường từ mặt đất lên thiên đàng là gì? Har vừa cười vừa đáp: Ngươi hỏi thật ngốc nghếch làm sao. Chẳng lẽ ngươi chưa từng được kể rằng các vị thần đã xây dựng một cây cầu từ trái đất lên thiên đàng, mang tên Bifrost hay sao? Chắc chắn ngươi phải nhìn thấy nó rồi chứ. Có thể ngươi gọi nó là cầu vồng. Nó có ba màu, cực kỳ vững chắc, và được tạo tác với sự khéo léo cùng kỹ thuật vượt trội hơn những cấu trúc khác. Mặc dù vững chãi nhường ấy, nó vẫn sẽ gãy sập khi những người con của Muspel kéo đến phi ngựa vượt qua, và khi ấy họ sẽ phải bơi ngựa qua những con sông lớn để tiếp tục sang bờ. Ganglere bấy giờ nói: Theo tôi thấy, các vị thần đã không xây dựng cây cầu ấy một cách đứng đắn cho lắm, nếu như nó có thể bị đánh gãy thành từng mảnh, trong khi họ hoàn toàn có thể làm cho nó bền chắc hơn nếu họ muốn. Har liền đáp: Các vị thần không có gì đáng trách cho công trình này. Bifrost quả thực là một cây cầu tốt, nhưng trên đời này chẳng có thứ gì có thể trụ vững khi những người con của Muspel kéo đến chiến trận.

14. Ganglere bấy giờ nói: Alfather đã làm gì khi Asgard được xây dựng xong? Har đáp: Thoạt đầu, ngài chỉ định những vị cai trị tại một nơi ở giữa thành lũy được gọi là Idavold, những kẻ sẽ cùng ngài phán quyết các tranh chấp của con người và định đoạt công việc của thành. Công việc đầu tiên của họ là dựng lên một tòa án, nơi có những chiếc ghế cho cả mười hai vị, bên cạnh đó là một chiếc ghế cao dành riêng cho Alfather. Đó là ngôi nhà đẹp nhất và lớn nhất từng được xây dựng trên trái đất, cả bên trong lẫn bên ngoài đều tựa như vàng ròng. Nơi này được gọi là Gladsheim. Sau đó, họ xây dựng một đại sảnh khác làm chốn cư ngụ cho các nữ thần, cũng là một dinh thự vô cùng tráng lệ, được gọi là Vingolf. Kế tiếp, họ dựng lên một lò rèn; làm ra búa, kìm, đe, và nhờ đó tạo ra mọi công cụ khác. Sau đó, họ chế tác sắt, đá và gỗ, đặc biệt là thứ kim loại gọi là vàng. Tất cả đồ gia dụng của họ đều làm bằng vàng. Thời đại đó được gọi là thời đại hoàng kim, cho đến khi nó đánh mất sự thuần khiết bởi sự xuất hiện của những người phụ nữ từ Jotunheim. Bấy giờ các vị thần ngự lên ghế cao của mình và tề tựu bàn thảo. Họ nhớ lại cách thức những người lùn từng cựa quậy sinh sôi trong lớp đất sét của trái đất tựa như những con dòi trong thịt. Những người lùn vốn được tạo ra lần đầu và sinh sôi trong da thịt của Ymer, khi ấy chỉ là những con dòi; nhưng giờ đây, theo phán quyết của các vị thần, họ đã nhận được trí tuệ và hình hài của con người, song vẫn phải cư ngụ trong lòng đất và trong các hốc đá. Modsogner là một người lùn và Durin là người thứ hai. Như trong Lời tiên tri của Vala đã ca:

Bấy giờ tất cả các vị thần đi đến,

Những vị thần chí thánh,

Ngự trên ghế phán quyết của họ,

Và cùng nhau bàn thảo tại đó

Ai là kẻ nên tạo ra giống loài

Những người lùn

Từ biển máu

Và từ xương của Blain.

Theo hình hài của con người

Họ đã tạo ra rất nhiều

Người lùn trong lòng đất,

Như Durin đã nói.

Và theo lời Vala, đây là tên của những người lùn:

Nye, Nide,

Nordre, Sudre,

Austre, Vestre,

Althjof, Dvalin,

Na, Nain,

Niping, Dain,

Bifur, Bafur,

Bombor, Nore,

Ore, Onar,

Oin, Mjodvitner,

Vig, Gandalf,

Vindalf, Thorin,

File, Kile,

Fundin, Vale,

Thro, Throin,

Thek, Lit, Vit,

Ny, Nyrad,

Rek, Radsvid.

Nhưng những kẻ sau đây cũng là người lùn và cư ngụ trong các hốc đá, trong khi những kẻ kể trên cư ngụ trong lớp đất sét:

Draupner, Dolgthvare,

Hor, Hugstare,

Hledjolf, Gloin,

Dore, Ore,

Duf, Andvare,

Hepte, File,

Har, Siar.

Nhưng những kẻ sau đây xuất thân từ gò đất của Svarin tiến đến Aurvang trên Joruvold, và từ họ dòng dõi Lovar đã sinh ra. Tên của chúng là:

Skirfer, Virfir,

Skafid, Ae,

Alf, Inge,

Eikinslgalde,

Fal, Froste,

Fid, Ginnar.22

15. Ganglere bấy giờ hỏi: Nơi tối cao hoặc chí thánh nhất của các vị thần nằm ở đâu? Har đáp: Đó là ở chỗ cội cây tần bì Ygdrasil. Nơi đó các vị thần hội họp bàn thảo mỗi ngày. Ganglere hỏi: Người ta nói gì về chốn này? Jafnhar đáp: Cây tần bì này là loài cây tốt nhất và vĩ đại nhất trong tất cả các loài cây; những cành của nó tỏa rộng khắp thế giới và vươn cao tận trên trời. Ba rễ cây nâng đỡ thân cây và đứng cách xa nhau; một rễ nằm bên chỗ người Ása và rễ thứ hai ở chỗ những người khổng lồ băng, nơi ngày trước từng là vực thẳm Ginungagap; rễ thứ ba vươn vào Niflheim; bên dưới nó là Hvergelmer, nơi Nidhug gặm nhấm rễ cây từ phía dưới. Nhưng bên dưới chiếc rễ thứ hai, vươn đến chỗ những người khổng lồ băng, là giếng nước của Mimer, nơi tri thức và sự khôn ngoan được cất giấu. Chủ nhân của cái giếng hiệu là Mimer. Hắn vô cùng uyên bác, bởi hắn uống nước từ giếng bằng chiếc tù và Gjallar-horn. Alfather từng đến đó và xin một ngụm nước từ giếng, nhưng ngài chỉ có thể nhận được nó sau khi để lại một con mắt của mình làm vật thế chấp. Như trong Lời tiên tri của Vala đã ca:

Ta thừa biết, hỡi Odin,

Nơi ngươi cất giấu con mắt của mình:

Trong dòng nước trong veo như pha lê

Của chiếc giếng Mimer.

Mỗi buổi sáng Mimer uống thứ mật ong lỏng

Từ vật thế chấp của Vị cha chung.

Ngươi đã hay biết hay chưa?23

Chiếc rễ thứ ba của cây tần bì nằm trên thiên đàng, và bên dưới nó là dòng suối chí thánh của Urd. Nơi đây các vị thần đặt tòa án phán quyết của họ. Người Ása phi ngựa đến đây mỗi ngày qua cầu Bifrost, nơi cũng được gọi là cầu Ása. Sau đây là tên những con ngựa của các vị thần: Sleipner là con xuất sắc nhất; nó thuộc về Odin và có tới tám chân. Con thứ hai là Glad, thứ ba Gyller, thứ tư Gler, thứ năm Skeidbrimer, thứ sáu Silfertop, thứ bảy Siner, thứ tám Gisl, thứ chín Falhofner, thứ mười Gulltop, thứ mười một Letfet. Ngựa của Balder đã bị thiêu cùng với ngài. Thor đi bộ đến tòa án, và lội qua những con sông sau:

Kormt và Ormt

Và hai dòng Kerlaug;

Những sông này Thor sẽ lội qua

Mỗi ngày

Khi ngài đi phán quyết

Gần cội tần bì Ygdrasil;

Bởi chiếc cầu Ása

Đang bốc cháy rực lửa,

Và những dòng nước thánh gầm thét.24

Ganglere bấy giờ hỏi: Lửa có bốc cháy trên cầu Bifrost không? Har đáp: Sắc đỏ mà ngươi nhìn thấy trên cầu vồng chính là ngọn lửa đang bừng cháy. Những người khổng lồ băng và người khổng lồ núi sẽ có thể đi lên thiên đàng nếu Bifrost cho phép bất cứ ai muốn đi qua đều đi được. Có rất nhiều chốn xinh đẹp trên thiên đàng, và tất cả đều được bảo vệ bởi sự phòng thủ thần thánh. Nơi đó có một đại sảnh tuyệt mỹ nằm gần dòng suối dưới cội cây tần bì. Ba thiếu nữ bước ra từ đó, tên là Urd, Verdande và Skuld. Những thiếu nữ này định hình cuộc đời của con người, và chúng ta gọi họ là các norn. Vẫn còn có nhiều vị norn hơn nữa, cụ thể là những vị đến với mỗi người khi họ chào đời để định đoạt cuộc đời họ, và những vị này được biết là thuộc giống loài thần linh; trong khi những vị khác lại thuộc giống loài yêu tinh, và một số vị khác nữa thuộc giống loài người lùn. Như đã được ca ở đây:

Ta nghĩ rằng, các norn sinh ra

Cách biệt nhau xa vời,

Họ không thuộc cùng một giống nòi.

Vài vị thuộc về hàng Ása,

Vài vị thuộc về các yêu tinh,

Vài vị là con gái của Dvalin.25

Ganglere bấy giờ hỏi: Nếu các norn chi phối vận mệnh của con người, thì họ phân phát nó một cách vô cùng bất công. Một số người có cuộc sống tốt đẹp và giàu có; số khác lại chẳng nhận được chút tài sản hay lời ca tụng nào. Một số có cuộc đời dài lâu, kẻ khác lại ngắn ngủi. Har đáp: Những vị norn tốt lành và thuộc dòng dõi cao quý sẽ định hình những cuộc đời tốt đẹp, và khi một số người bị vùi dập bởi bất hạnh, chính những vị norn ác độc là nguyên nhân gây ra điều đó.

16. Ganglere bấy giờ hỏi: Còn có những điều đáng chú ý nào khác được kể về cội tần bì này không? Har đáp: Có rất nhiều điều để kể về nó. Trên một trong các nhánh của cội tần bì đậu một con đại bàng thấu triệt vô số điều. Giữa hai mắt nó đậu một con chim ưng gọi là Vedfolner. Một con sóc tên là Ratatosk nhảy nhót thoăn thoắt lên xuống thân cây, mang những lời cay độc hiềm khích giữa đại bàng và Nidhug. Bốn con hươu đực tung tăng nhảy nhót trong các cành của cây tần bì và gặm nhấm những chiếc lá.26 Tên của chúng là: Dain, Dvalin, Duney và Durathro. Trong hồ Hvergelmer cùng với Nidhug còn có nhiều loài rắn rết hơn mức ngôn từ có thể kể hết. Như đã được ca ở đây:

Cội tần bì Ygdrasil

Gánh chịu nỗi thống khổ

Lớn hơn con người hay biết.

Hươu gặm nó ở phía trên,

Bên sườn nó mục rữa,

Nidhug gặm nhấm nó ở phía dưới.

Và một lần nữa, người ta lại ca rằng:

Nhiều loài rắn rết nằm hơn

Dưới cội tần bì Ygdrasil

Hơn mức được suy tưởng

Bởi mọi kẻ khờ dại.

Goin và Moin

(Chúng là con của Grafvitner),

Grabak và Grafvollud,

Ofner và Svafner

Hẳn sẽ mãi mãi, ta nghĩ thế,

Gặm nhấm những chiếc rễ của cái cây đó.27

Người ta lại kể thêm rằng các vị norn cư ngụ tại dòng suối của Urd mỗi ngày đều lấy nước từ dòng suối cùng lớp đất sét nằm quanh suối để vẩy lên cội tần bì, cốt sao cho cành lá của nó không bị héo úa hay mục nát. Nguồn nước này vô cùng linh thiêng đến mức mọi vật bỏ vào giếng đều trở nên trắng phau tựa lớp màng trong vỏ trứng. Như đã được ca ở đây:

Một cội tần bì ta biết

Hiệu là Ygdrasil;

Một cái cây cao chí thánh

Được vẩy lớp đất sét trắng.

Từ đó phát xuất những giọt sương

Rơi xuống các thung lũng.

Nó đứng xanh tươi mãi mãi

Phía trên dòng suối của Urd.28

Làn sương rơi xuống mặt đất từ cái cây này được loài người gọi là sương mật, và đó là thức ăn của loài ong. Hai chú chim được nuôi dưỡng tại dòng suối của Urd; chúng được gọi là những con thiên nga, và là tổ phụ của giống loài thiên nga.

17. Ganglere bấy giờ hỏi: Ngài có thể kể những tin tức vô cùng lớn lao về bầu trời. Nơi chốn nào đáng chú ý khác ngoài chốn bên dòng suối của Urd hay không? Har đáp: Có rất nhiều dinh thự tráng lệ. Một trong số đó gọi là Alfheim. Nơi đó cư ngụ những người thuộc giống loài yêu tinh ánh sáng; nhưng các yêu tinh bóng tối lại cư ngụ sâu dưới lòng đất, và chúng không hề giống với yêu tinh ánh sáng về ngoại hình, mà càng khác biệt sâu sắc hơn về hành vi. Yêu tinh ánh sáng có dung mạo tươi đẹp hơn cả mặt trời, nhưng yêu tinh bóng tối lại đen đúa hơn cả hắc ín. Một chốn khác được gọi là Breidablik, và chẳng có nơi nào rực rỡ hơn thế. Nơi đây còn có một dinh thự mang tên Glitner, với những bức tường, trụ cột và cột hiên đều làm bằng vàng ròng, còn mái nhà lợp bằng bạc. Hơn thế nữa, có một chốn cư ngụ mang tên Himinbjorg, đứng ở tận cùng vòm trời, nơi cây cầu Bifrost kết nối với thiên đàng. Và có một đại sảnh lớn gọi là Valaskjalf thuộc về sở hữu của Odin. Các vị thần đã dựng nên nó và lợp mái hoàn toàn bằng bạc nguyên chất. Trong đại sảnh này có chiếc ghế cao được gọi là Hlidskjalf, và khi Alfather ngự trên chiếc ghế này, ngài thấu suốt toàn thế giới. Ở cực nam của thế giới là cung điện đẹp nhất trong tất cả, rực rỡ hơn cả mặt trời; tên của nó là Gimle. Nó sẽ vẫn đứng vững ngay cả khi cả trời lẫn đất đã qua đi. Trong đại sảnh này, những kẻ lương thiện và công chính sẽ cư ngụ qua muôn đời. Lời tiên tri của Vala đã ca như sau:

Một sảnh đường ta biết, đứng đó

Rực rỡ hơn mặt trời,

Quý giá hơn vàng,

Mang tên Gimle.

Những người lương thiện sẽ

Cư ngụ nơi đó,

Và mãi mãi muôn đời

Tận hưởng niềm vui.29

Ganglere bấy giờ hỏi: Ai canh giữ cung điện này khi ngọn lửa của Surt thiêu rụi trời và đất? Har đáp: Tương truyền rằng ở phương nam và phía trên bầu trời này còn có một thiên đàng khác, gọi là Andlang. Nhưng lại có một thiên đàng thứ ba nằm cao hơn những tầng trời ấy, gọi là Vidblain, và chính tại tầng trời này, chúng tôi tin rằng dinh thự (Gimle) đó tọa lạc; song chúng tôi cho rằng chỉ có các yêu tinh ánh sáng mới đang cư ngụ ở đó mà thôi.

18. Ganglere bấy giờ hỏi: Gió từ đâu mà ra? Nó mạnh đến mức làm chuyển động cả những vùng biển lớn, thổi bùng ngọn lửa thành đám cháy, thế mà dù mạnh mẽ nhường ấy, người ta lại chẳng thể nhìn thấy nó. Do đó nó quả là một tạo tác kỳ diệu. Har liền đáp: Ta có thể giải quyết thắc mắc ấy giúp ngươi một cách tường tận. Ở tận cùng phương bắc của bầu trời ngự trị một tên khổng lồ hiệu là Hrasvelg. Hắn khoác bộ lông đại bàng, và khi hắn dang đôi cánh để bay lượn, những cơn gió bốc lên từ bên dưới chúng. Như đã được ca ở đây:

Hrasvelg là tên hắn

Kẻ ngự ở tận cùng vòm trời,

Một tên khổng lồ trong lớp lốt đại bàng.

Người ta bảo rằng từ đôi cánh hắn

Những cơn gió đã thổi ra

Khắp nhân loại.30

19. Ganglere bấy giờ hỏi: Vì sao mùa hè lại nóng bức nhường ấy, nhưng mùa đông lại lạnh giá khôn cùng? Har đáp: Một kẻ khôn ngoan sẽ chẳng đời nào đặt ra câu hỏi ngớ ngẩn như thế, bởi ai ai cũng có thể giải thích được điều này; nhưng nếu một mình ngươi trở nên đần độn đến mức chưa từng nghe qua chuyện đó, ta thà tha thứ cho việc ngươi hỏi một cách ngốc nghếch một lần còn hơn để ngươi tiếp tục u mê trong sự thiếu hiểu biết về những điều lẽ ra ngươi phải tường tận. Svasud là tên vị thần sinh ra mùa hè, và ngài sống một đời ngập tràn hoan hỉ đến mức mọi thứ dịu ngọt đều được gọi theo tên ngài là ngọt ngào (svasligt). Nhưng cha của mùa đông có hai tên gọi là Vindlone và Vindsval. Ông là con trai của Vasad, và toàn bộ dòng dõi đó đều hung ác với hơi thở buốt giá, và mùa đông cũng y hệt như họ.

20. Ganglere bấy giờ hỏi: Những vị Ása nào là những đấng mà con người buộc phải tôn thờ? Har đáp hắn: Có mười hai vị Ása thần thánh. Jafnhar nói: Các nữ thần asynje cũng linh thiêng chẳng kém, và uy quyền của họ cũng không hề thua kém. Thride bổ sung: Odin là vị cao nhất và lớn tuổi nhất trong các vị Ása. Ngài cai trị vạn vật, nhưng các vị thần khác, tùy theo quyền năng của mỗi vị, đều phục tùng ngài như con cái phục tùng người cha. Frigg là vợ ngài, và nàng tường tận vận mệnh của loài người dẫu nàng không hề thổ lộ ra ngoài, hệt như chuyện Odin từng nói với Asa-Loke:

Ngươi điên rồ thật đấy, Loke!

Và đã mất hết trí khôn;

Sao ngươi không chịu dừng lại?

Mọi vận mệnh,

Ta nghĩ rằng Frigg đều tường tận,

Dẫu nàng chẳng tự mình nói ra điều đó.31

Odin được gọi là Alfather, bởi ngài là cha của mọi vị thần; ngài cũng được gọi là Valfather, bởi tất cả những kẻ ngã xuống trên chiến trường đều là những người con được chọn lựa của ngài. Cho họ, ngài chuẩn bị đại sảnh Valhal và Vingolf, nơi họ được gọi là các einherje (những anh hùng). Ngài còn được gọi là Hangagod, Haptagod, Farmagod; và ngài còn tự ban cho mình nhiều danh hiệu hơn nữa khi đến gặp vua Geirrod:

Grim là tên ta,

Và Ganglare,

Herjan, Hjalmbore,

Thek, Thride,

Thud, Ud,

Helblinde, Har,

Sad, Svipal,

Sangetal,

Herteit, Hnikar,

Bileyg, Baleyg,

Bolverk, Fjolner,

Grimner, Glapsvid, Fjolsvid,

Sidhot, Sidskeg,

Sigfather, Hnikud,

Alfather, Atrid, Farmatyr,

Oske, Ome,

Jafnhar, Biflinde,

Gondler, Harbard,

Svidur, Svidrir,

Jalk, Kjalar, Vidur,

Thro, Yg, Thund,

Vak, Skilfing,

Vafud, Hroptatyr,

Gaut, Veratyr.32

Ganglere bấy giờ nói: Ngài đã ban cho ngài ấy một số lượng tên gọi quá đỗi khổng lồ; và quả thực tôi biết rõ rằng ngài ấy phải là một người vô cùng uyên bác mới có thể hiểu và quyết định được cơ duyên nào là nguyên nhân của tất cả những tên gọi ấy. Har đáp: Cần phải có rất nhiều tri thức mới giải thích đúng đắn được tất cả những điều ấy, nhưng tóm lại cách ngắn gọn nhất để nói cho ngươi hay là phần lớn những danh hiệu này được ban cho ngài bởi vì, cũng như thế giới có vô số ngôn ngữ, mọi dân tộc đều nghĩ rằng họ nên chuyển hóa tên của ngài sang ngôn ngữ của mình, để họ có thể tôn thờ và cầu nguyện với ngài bằng chính ngôn ngữ riêng của họ. Những nguyên nhân khác của những cái tên này phải được tìm thấy trong những chuyến hành trình của ngài được kể lại trong các saga cổ xưa; và ngươi chẳng thể nhận mình là một kẻ khôn ngoan nếu ngươi không thể kể về những cuộc phiêu lưu kỳ diệu ấy.

21. Ganglere bấy giờ hỏi: Tên của những vị Ása khác là gì? Công việc của họ ra sao, và họ đã thực hiện những công trình nào? Har đáp: Thor là vị đứng đầu trong số họ. Ngài được gọi là Asa-Thor, hoặc Oku-Thor.33 Ngài là vị thần mạnh mẽ nhất trong tất cả các vị thần và loài người, ngự trị trên vương quốc mang tên Thrudvang. Đại sảnh của ngài gọi là Bilskirner. Bên trong đó có năm trăm bốn mươi tầng lầu, và đó là ngôi nhà lớn nhất do con người tạo ra. Khúc ca về Grimner đã ca rằng:

Năm trăm tầng lầu

Cùng bốn mươi tầng hơn thế nữa,

Ta nghĩ rằng, Bilskirner có.

Trong số mọi ngôi nhà

Mà ta biết được lợp mái

Ta biết của con trai ta là lớn nhất.34

Thor có hai con dê, tên là Tangnjost và Tangrisner, cùng một cỗ xe để ngài điều khiển. Những con dê kéo cỗ xe ấy; đó là lý do ngài được gọi là Oku-Thor.35 Ngài sở hữu ba báu vật vô giá. Một trong số đó là chiếc búa Mjolner, mà những người khổng lồ băng và khổng lồ núi đều thừa biết khi nó được giơ lên; và điều này cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bởi bằng nó ngài đã đập nát hộp sọ của biết bao kẻ thuộc thế hệ cha chú hay bạn bè chúng. Báu vật thứ hai ngài sở hữu là Megingjarder (thắt lưng sức mạnh); khi thắt nó vào người, sức mạnh của ngài sẽ được nhân đôi. Báu vật thứ ba có giá trị vô cùng to lớn của ngài chính là đôi găng tay bằng sắt; ngài không thể thiếu chúng khi cầm lấy cán búa. Chẳng có ai uyên bác đến mức có thể kể hết mọi công trình vĩ đại của ngài; nhưng ta có thể kể cho ngươi nghe rất nhiều tin tức về ngài đến nỗi trời sẽ tối mịt trước khi mọi điều ta biết được kể hết.

22. Ganglere bấy giờ nói: Tôi muốn nghe tin tức về các vị Ása khác. Har đáp hắn: Người con trai thứ hai của Odin là Balder, và có rất nhiều điều tốt đẹp để kể về ngài. Ngài là vị tuyệt vời nhất, và ai ai cũng ca tụng ngài. Ngài có dung mạo tuấn tú và rực rỡ đến mức những tia sáng phát ra từ thân thể ngài; và có một loài thực vật trắng đến mức được so sánh với vầng trán của Balder, đó là loài cây trắng nhất trong tất cả. Từ điều này ngươi có thể phán đoán được vẻ đẹp của cả mái tóc lẫn thân thể ngài. Ngài là vị Ása khôn ngoan nhất, hiền hòa nhất và có tài hùng biện nhất; và bản chất của ngài là không một ai có thể thay đổi được phán quyết mà ngài đã thốt ra. Ngài cư ngụ tại chốn trên thiên đàng gọi là Breidablik, nơi không một thứ ô uế nào có thể bước chân vào. Như đã được ca ở đây:

Nó được gọi là Breidablik,

Nơi Balder đã

Tự xây cho mình một đại sảnh

Trong miền đất

Mà ta biết là nơi hiện diện

Của điều ác ít ỏi nhất.36

23. Vị Ása thứ ba là đấng được gọi là Njord. Ngài cư ngụ ở Noatun, chốn tọa lạc trên thiên đàng. Ngài quản xuyến quỹ đạo của gió đồng thời chặn đứng cơn thịnh nộ của biển cả và lửa. Ngài được cầu khẩn bởi những kẻ đi biển và các ngư dân. Ngài giàu có và sung túc đến mức có thể ban những vùng đất rộng lớn cùng sự sung túc cho những ai cất tiếng khấn xin ngài. Ngài lớn lên ở Vanaheim, nhưng người Van37 đã giao ngài làm con tin cho các vị thần, và nhận lại để thay thế cho vị thế con tin của người Ása là vị thần mang tên Honer. Ngài đã vãn hồi hòa bình giữa các vị thần và người Van. Njord lấy Skade, con gái của tên khổng lồ Thjasse, làm vợ. Nàng muốn sống ở nơi cha mình từng cư ngụ, tức là trên những ngọn núi ở Thrymheim; ngược lại, Njord lại thích ở gần biển hơn. Do đó họ đồng ý trải qua chín đêm ở Thrymheim và ba đêm ở Noatun. Nhưng khi Njord trở về từ núi non để đến Noatun, ngài đã cất tiếng hát:

Ta đã mệt mỏi với núi non,

Ta chẳng ở đó lâu dài,

Chỉ vỏn vẹn chín đêm.

Tiếng tru của bầy sói

Ta thấy vang lên thật khó chịu

So với khúc ca của bấy thiên nga.

Skade bấy giờ liền cất tiếng hát:

Ta chẳng thể nào chợp mắt

Trên chiếc giường bên bờ biển của mình,

Bởi tiếng kêu của loài chim biển.

Nó đánh thức ta dậy,

Khi nó từ biển khơi bay đến,

Mỗi buổi sáng là tiếng chim mòng biển.

Bấy giờ Skade bước lên núi và cư ngụ tại Thrymheim. Nàng thường đi trượt tuyết, mang theo cung tên để săn bắn dã thú. Nàng được gọi là nữ thần trượt tuyết hoặc skee-dis. Như đã được ca:

Nó được gọi là Thrymheim

Nơi Thjasse từng cư ngụ,

Tên khổng lồ hùng mạnh ấy.

Nhưng giờ đây Skade đang cư ngụ,

Nữ trinh thanh khiết của các vị thần,

Trong mái nhà xưa của người cha.38

24. Njord, tại Noatun, sau đó sinh hạ hai người con: một người con trai tên là Frey, và một người con gái tên là Freyja. Họ đều có dung mạo tuấn tú và uy quyền. Frey là vị Ása nổi danh nhất. Ngài cai trị mưa gió, ánh nắng cùng hoa trái của mặt đất. Cầu khẩn ngài để mong mùa màng bội thu và hòa bình là một điều tốt lành. Ngài cũng chi phối sự giàu sang của con người. Freyja là nữ thần nổi danh nhất. Nàng có một chốn cư ngụ trên thiên đàng gọi là Folkvang, và khi nàng phi ngựa ra chiến trận, một nửa số chiến binh ngã xuống thuộc về nàng, nửa còn lại thuộc về Odin. Như đã được ca ở đây:

Nó được gọi là Folkvang,

Và nơi đó Freyja cai trị.

Để chọn chỗ ngồi trong đại sảnh

Một nửa số người ngã xuống

Nàng chọn lấy mỗi ngày;

Nửa còn lại là của Odin.39

Đại sảnh của nàng là Sesrynmer, vô cùng rộng lớn và tráng lệ. Khi đi ra ngoài, nàng điều khiển một cỗ xe do hai con mèo kéo. Nàng lắng nghe với thiện cảm những ai cầu khẩn mình, và chính từ tên của nàng mà xuất phát danh hiệu gọi những người phụ nữ cao quý và giàu có là frur.40 Nàng ưa thích những khúc tình ca, và cầu khẩn nàng trong chuyện tình duyên là một điều tốt lành.

25. Ganglere bấy giờ nói: Những vị Ása này có vẻ vô cùng quan trọng đối với tôi, và cũng chẳng có gì lạ khi các ngài nắm giữ quyền năng lớn lao, bởi các ngài sở hữu tri thức tuyệt vời về các vị thần và biết rõ phải hướng lời cầu nguyện đến vị nào trong từng trường hợp. Nhưng còn những vị thần nào khác nữa? Har đáp: Vẫn còn một vị Ása mang tên Tyr. Ngài vô cùng gan dạ và vô cùng dũng mãnh. Ngài ban phát chiến thắng trong chiến tranh, thế nên các chiến binh nên cầu khẩn ngài. Có câu ngạn ngữ rằng kẻ nào vượt trội hơn người khác về lòng dũng cảm và chẳng bao giờ lùi bước chính là kẻ mang sức mạnh của Tyr. Ngài cũng uyên bác đến mức người ta thường nói về bất kỳ ai có trí thông minh đặc biệt rằng kẻ ấy uyên bác như Tyr. Một minh chứng cho lòng gan dạ của ngài là khi các vị thần dụ dỗ con sói Fenrer để hắn chịu để cho họ trói lại bằng xiềng xích Gleipner, hắn đã không đời nào tin rằng họ sẽ cởi trói cho mình trừ khi Tyr đặt bàn tay ngài vào miệng hắn làm vật thế chấp. Nhưng khi các vị thần từ chối cởi trói cho con sói Fenrer, hắn đã ngoạm đứt phăng bàn tay của Tyr ngay tại khớp cổ tay (tiếng Iceland là úlfliðr41). Kể từ thời điểm đó, Tyr chỉ còn một tay, và giờ đây ngài được gọi là sứ giả hòa bình giữa loài người.

26. Brage là tên của một vị Ása khác. Ngài nổi danh bởi sự khôn ngoan, tài hùng biện cùng lưu loát trong ngôn từ. Ngài là một bậc thầy thi ca, và từ tên ngài mà nghệ thuật thi ca được gọi là brag (thơ ca), còn những người nam hay người nữ nổi trội nhờ tài hùng biện được gọi là brag-men42 và brag-women. Vợ ngài là Idun. Nàng giữ trong một chiếc hộp những quả táo mà các vị thần thường ăn khi họ già đi, và nhờ đó họ lại trở nên trẻ trung trở lại, cứ thế cho đến tận ngày Ragnarok (hoàng hôn của các vị thần). Ganglere bấy giờ nói: Chắc hẳn việc Idun cẩn trọng và thành tâm bảo quản những quả táo ấy có tầm quan trọng vô cùng lớn đối với các vị thần. Har vừa cười vừa đáp: Họ từng đối mặt với một hiểm họa khổng lồ trong một dịp nọ, chuyện mà ta có thể kể cho ngươi nghe thêm, nhưng trước tiên ngươi phải nghe tên của những vị Ása khác đã.

27. Heimdal là tên của một vị. Ngài cũng được gọi là vị Ása trắng. Ngài vĩ đại và chí thánh; sinh ra từ chín trinh nữ, tất cả đều là chị em ruột. Ngài còn hiệu là Hallinskide và Gullintanne, bởi răng của ngài đều bằng vàng. Ngựa của ngài hiệu là Gulltop (Đỉnh Vàng). Ngài cư ngụ tại một nơi gọi là Himinbjorg, gần cầu Bifrost. Ngài là vị canh giữ của các vị thần, ngự ở tận cùng vòm trời để bảo vệ cây cầu trước sự tấn công của những người khổng lồ núi. Ngài cần ít giấc ngủ hơn cả loài chim; nhìn xa tới trăm dặm quanh mình, và ban đêm cũng tinh tường chẳng kém ban ngày. Ngài nghe được tiếng cỏ mọc và tiếng lông trên lưng cừu, và dĩ nhiên là cả mọi âm thanh lớn hơn những tiếng động đó. Ngài có một chiếc tù và gọi là Gjallarhorn, và khi ngài thổi nó, âm thanh có thể vang vọng khắp mọi thế giới. Chiếc đầu được gọi là thanh gươm của Heimdal. Như đã được ca ở đây:

Nó được gọi là Himinbjorg,

Nơi Heimdal cai trị

Trên những đại sảnh chí thánh của mình;

Nơi vị canh gác của các vị thần uống

Trong chốn cư ngụ tuyệt diệu của ông

Chén mật ong ngon lành vui sướng.43

Và một lần nữa, trong Khúc ca của Heimdal, chính ngài đã nói:

Ta là con của chín trinh nữ,

Ta sinh ra từ chín người chị em.

28. Hoder hiệu là một vị Ása bị mù, nhưng sở hữu sức mạnh phi thường; và các vị thần hẳn sẽ ước gì vị Ása này chưa bao giờ cần phải được nhắc tên, bởi công việc từ đôi tay ngài sẽ còn lưu danh mãi trong ký ức của cả thần linh lẫn loài người.

29. Vidar là tên của vị Ása trầm lặng. Ngài mang một đôi giày rất dày, và là kẻ mạnh thứ hai chỉ sau Thor. Các vị thần nhận được rất nhiều sự trợ giúp từ ngài trong mọi nhiệm vụ gian khó.

30. Ale, hay Vale, là con trai của Odin và Rind. Ngài gan dạ trong chiến trận và là một tay thiện xạ.

31. Uller là tên của một vị, con trai của Sif và là con riêng của Thor. Ngài là một cung thủ xuất sắc và trượt tuyết nhanh đến mức chẳng ai có thể đọ lại. Ngài có dung mạo tuấn tú và sở hữu mọi phẩm chất của một chiến binh. Loài người nên cầu khẩn ngài trong những trận đấu tay đôi.

32. Forsete là con trai của Balder và Nanna, con gái của Nep. Ngài sở hữu đại sảnh trên thiên đàng mang tên

Glitner. Tất cả những ai đến gặp ngài với những tranh chấp đều ra về trong sự hòa giải hoàn hảo. Chẳng thể tìm đâu ra một tòa án nào tốt hơn thế giữa thần linh và loài người. Như đã được ca ở đây:

Glitner hiệu là đại sảnh,

Đứng trên những trụ cột bằng vàng,

Và được lợp mái bằng bạc.

Nơi đó Forsete ngự trị

Xuyên suốt mọi thời gian,

Và giải quyết mọi tranh chấp.44

33. Vẫn còn một kẻ được liệt vào hàng các vị thần Ása, nhưng bị một số người gọi là kẻ châm chọc sau lưng của các vị Ása. Hắn là cội nguồn của sự lừa dối và là nỗi ô nhục của toàn thể thần linh lẫn loài người. Tên hắn là Loke, hoặc Lopt. Cha hắn là tên khổng lồ Farbaute, còn mẹ hắn tên là Laufey, hoặc Nal. Các anh em của hắn là Byleist và Helblinde. Loke có gương mặt tuấn tú xinh đẹp, nhưng bản tính hiểm độc và vô cùng đồng bóng. Hắn vượt trội hơn những kẻ khác về kỹ nghệ mang tên xảo trá, và gian lận trong mọi sự. Hắn từng nhiều lần đẩy các vị thần Ása vào rắc rối lớn, rồi cũng chính nhờ những mưu mẹo khôn ngoan của mình mà đưa họ thoát ra. Vợ hắn hiệu là Sygin, và con trai họ là Nare, hoặc Narfe.

34. Loke còn có nhiều con cái hơn thế nữa. Một nữ khổng lồ ở Jotunheim hiệu là Angerboda. Với nàng, hắn sinh hạ ba người con. Con đầu lòng là con sói Fenrer; con thứ hai là Jormungand, tức con rắn Midgard; và con thứ ba là Hel. Khi các vị thần hay biết ba đứa trẻ này đang được nuôi dưỡng ở Jotunheim, đồng thời thấu tỏ những lời tiên đoán rằng rất nhiều tai ương và bất hạnh sẽ giáng xuống họ từ đó, lại cân nhắc rằng có thể trông chờ nhiều điều ác từ phía người mẹ và thậm chí còn nhiều hơn nữa từ phía người cha, Alfather bèn phái một số vị thần đến bắt những đứa trẻ mang về cho ngài. Khi chúng được đưa đến trước mặt ngài, ngài ném con rắn xuống đại dương sâu thẳm bao bọc quanh mọi vùng đất. Tại đó con rắn lớn dần lên để nằm ở chính giữa đại dương, bao trùm lấy toàn bộ trái đất và tự ngoạm lấy chiếc đuôi của chính mình. Hel thì ngài ném xuống Niflheim, ban cho nàng quyền năng cai quản chín thế giới45 để nàng cắt đặt chỗ ở cho những kẻ được gửi đến với nàng, cụ thể là những kẻ chết vì bệnh tật hay tuổi già. Nàng có một đại sảnh lớn tại đó, với những bức tường cao một cách kỳ lạ cùng những cánh cổng khổng lồ. Eljudner là tên đại sảnh của nàng. Bàn ăn của nàng hiệu là đói khát; con dao của nàng là túng quẩn. Tên gia đinh của nàng là Ganglate; tỳ nữ của nàng là Ganglot.46 Ngưỡng cửa của nàng được gọi là đá vấp; chiếc giường của nàng là lo âu; những tấm rèm quý giá trên giường nàng là bi thảm rực chói. Một nửa thân hình nàng có sắc xanh, nửa còn lại mang sắc màu da thịt; thế nên nàng rất dễ được nhận diện. Ánh nhìn của nàng vô cùng nghiêm nghị và dữ tợn.

35. Con sói được nuôi dưỡng ngay tại nhà bởi các vị thần Ása, và Tyr là kẻ duy nhất có dũng khí đến gặp và cho nó ăn. Khi các vị thần chứng kiến nó lớn nhanh thế nào mỗi ngày, và mọi lời tiên đoán đều khẳng định rằng nó được định mệnh an bài sẽ mang lại cái chết cho họ, họ quyết định chế tạo một chiếc xiềng xích cực kỳ vững chắc, gọi là Lading. Họ mang nó đến chỗ con sói, bảo nó thử sức mạnh của mình với chiếc xiềng. Con sói vốn không nghĩ rằng nó quá mạnh so với mình, liền để mặc họ làm gì tùy ý với nó. Nhưng ngay khi nó chồm người giật mạnh, chiếc xiềng đứt tung làm đôi và nó thoát khỏi Lading. Bấy giờ các vị thần chế tạo ra một chiếc xiềng xích khác, vững chắc hơn gấp đôi, và gọi nó là Drome. Họ muốn con sói thử cả cái này nữa, bảo với nó rằng nó sẽ trở nên vô cùng nổi danh về sức mạnh nếu một chiếc xích xiết mạnh nhường ấy mà vẫn không giữ được nó. Con sói nghĩ rằng chiếc xiềng này quả thực rất vững chãi, nhưng đồng thời sức mạnh của nó cũng đã gia tăng kể từ khi nó bứt đứt Lading. Nó cũng cân nhắc rằng việc dấn thân vào một chút hiểm nguy là điều cần thiết nếu muốn trở nên nổi danh; thế nên nó để họ trói chiếc xiềng lên người mình. Khi các vị thần bảo rằng họ đã sẵn sàng, con sói liền lắc mình, gồng mình quẫy đạp và đập mạnh chiếc xiềng xuống đất, khiến những mảnh vỡ bay đi một khoảng cách xa. Cứ thế nó vùng vẫy thoát khỏi Drome. Kể từ đó, ngạn ngữ có câu “thoát khỏi Lading” hoặc “vùng vẫy khỏi Drome” được dùng bất cứ khi nào có việc gì đó vô cùng khó khăn. Các vị thần Ása bấy giờ bắt đầu lo sợ rằng họ sẽ chẳng thể trói được con sói.

Thế là Alfather phái chàng trai tên là Skirner, sứ giả của Frey, đến chỗ vài người lùn ở Svartalfaheim để bảo họ chế tạo chiếc xiềng mang tên Gleipner. Nó được làm từ sáu thứ: tiếng bước chân của loài mèo, râu của phụ nữ, rễ của những ngọn núi, gân của loài gấu, hơi thở của loài cá, và nước bọt của loài chim. Nếu ngươi chưa từng biết điều này trước đây, ngươi có thể dễ dàng nhận ra rằng đó là sự thật và không hề có chút dối trá nào trong đó, bởi ngươi hẳn đã quan sát thấy phụ nữ không hề có râu, bước chân của mèo không thể phát ra tiếng động, và núi non không hề có rễ; và quả thực ta biết rõ những gì mình kể với ngươi là hoàn toàn chính xác, dẫu vẫn có một vài điều ngươi chưa thấu hiểu. Ganglere bấy giờ nói: Chắc chắn tôi phải hiểu điều này là sự thật. Tôi có thể nhìn thấy những thứ mà ngài dùng làm minh chứng. Nhưng chiếc xiềng ấy đã được rèn ra sao? Har đáp: Ta có thể giải thích điều đó thật tường tận cho ngươi. Nó mềm mại và êm ái tựa như một dải lụa. Ngươi sẽ nghe kể ngay đây về độ vững chắc và đáng tin cậy của nó. Khi chiếc xiềng được mang đến cho các vị thần Ása, họ cảm ơn sứ giả vì đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh. Sau đó họ đi ra hồ mang tên Amsvartner, đến hòn đảo nhỏ (hòn đảo đá) Lyngve, và gọi con sói đi cùng mình. Họ cho nó xem dải lụa và bảo nó bứt đứt đi, nói rằng nó chắc chắn vững chắc hơn vẻ mảnh mai bề ngoài của nó.

Rồi họ chuyền nó từ người này sang người khác, dùng tay thử sức bền của nó nhưng nó không hề đứt. Thế nhưng họ vẫn nói rằng con sói chắc chắn có thể bẻ gãy nó. Con sói đáp: Ta thấy rằng mình sẽ chẳng có chút danh tiếng nào dẫu có bứt đứt một sợi chỉ mỏng manh thế này. Nhưng nếu nó được tạo ra bằng mưu mẹo và xảo trá, thì dẫu dải băng ấy trông có vẻ nhỏ bé thế nào đi nữa, nó cũng sẽ chẳng bao giờ chạm đến chân ta. Các vị thần liền nói rằng nó hoàn toàn có thể dễ dàng bứt đứt một dải lụa mỏng manh, vì nó đã từng phá tung cả những chiếc xiềng sắt lớn cơ mà. Nhưng ngay cả khi ngươi không thể bứt đứt dải băng này, ngươi cũng chẳng phải sợ hãi điều gì từ các vị thần, bởi chúng ta sẽ lập tức cởi trói cho ngươi ngay. Con sói đáp: Nếu các ngươi trói ta chặt đến mức ta không thể tự cởi trói cho mình, các ngươi sẽ lẩn mất tăm, và sẽ phải mất một thời gian dài ta mới nhận được sự giúp đỡ từ các ngươi, thế nên ta rất ngần ngại không muốn để dải băng này quấn lên người; nhưng để các ngươi không buộc tội ta là kẻ hèn nhát, hãy để một người trong số các ngươi đặt tay vào miệng ta làm vật thế chấp rằng việc này được thực hiện không chút dối lừa. Vị thần Ása này nhìn vị thần Ása kia, nghĩ rằng giờ đây chỉ còn sự lựa chọn giữa hai điều tồi tệ, và chẳng một ai chịu thò tay ra cho đến khi Tyr chìa bàn tay phải của mình ra đặt vào miệng con sói. Nhưng khi con sói bắt đầu cồng mình quẫy đạp, dải băng càng lúc càng cứng đờ, và nó càng giãy giụa thì xiềng càng xiết chặt hơn. Tất cả đều cười vang trừ Tyr; ngài đã mất đi bàn tay của mình. Khi các vị thần Ása thấy rằng con

sói đã bị trói chặt vừa đủ, họ lấy sợi dây xích được gắn vào xiềng mang tên Gelgja, luồn nó qua một tảng đá lớn gọi là Gjol, và chôn chặt tảng đá này sâu xuống lòng đất. Sau đó họ lấy một khối đá lớn gọi là Tvite, đóng nó cùng sâu xuống lòng đất, và dùng khối đá này làm chốt hãm. Con sói há miệng rộng ngoác một cách kinh hoàng, cuồng nộ quẫy quạo điên cuồng bằng toàn bộ sức lực, muốn cắm răng cắn họ; nhưng họ nhét một thanh gươm vào miệng nó, sao cho phần chu cán nằm ở hàm dưới và mũi gươm chạm hàm trên, làm thanh ngáng miệng nó. Nó tru lên thảm thiết, và dòng dãi rỉ ra từ miệng nó tạo thành một con sông mang tên Von. Nó sẽ nằm đó bị trói cho đến tận ngày Ragnarok. Ganglere bấy giờ nói: Những đứa con của Loke này thật quá ư tồi tệ, nhưng chúng lại cường tráng và dũng mãnh. Thế nhưng tại sao các vị thần Ása lại không tiêu diệt con sói khi họ biết chắc sẽ phải hứng chịu điều ác từ nó? Har đáp: Các vị thần dành sự tôn trọng quá lớn cho sự chí thánh cùng chốn hòa bình của họ, đến mức họ không muốn làm vấy bẩn chúng bằng máu của con sói, dẫu những lời tiên đoán đã báo trước rằng nó nhất định sẽ trở thành kẻ tàn sát Odin.

36. Ganglere hỏi: Các nữ thần gồm những ai? Har đáp: Frigg là vị đầu tiên; nàng sở hữu dinh thự vương giả đích thực mang tên Fensaler. Vị thứ hai là Saga, ngự tại Sokvabek, và đây là một dinh thự rộng lớn. Vị thứ ba là Eir, thầy thuốc giỏi nhất. Vị thứ tư là Gefjun, một trinh nữ, và những ai chết đi khi còn là trinh nữ sẽ trở thành nữ tỳ của nàng. Vị thứ năm là Fulla, cũng là một trinh nữ, nàng xõa tóc dài và mang một dải ruy băng vàng quanh đầu; nàng mang chiếc tráp của Frigg, chăm sóc giày dép cho nàng và thấu triệt những bí mật của nàng. Vị thứ sáu là Freyja, được xếp ngang hàng với Frigg. Nàng kết hôn với người đàn ông tên là Oder; con gái họ tên là Hnos, và nàng xinh đẹp đến mức mọi thứ xinh đẹp quý giá đều được đặt theo tên nàng là Hnos. Oder đã đi đến một chốn rất xa. Freyja khóc thương cho ông, nhưng những giọt nước mắt của nàng lại là vàng ròng. Freyja có rất nhiều tên gọi, và nguyên nhân là vì nàng đã thay đổi tên mình giữa các quốc gia khác nhau mà nàng đặt chân tới trong hành trình tìm kiếm Oder. Nàng được gọi là Mardol, Horn, Gefn, và Syr. Nàng sở hữu chiếc vòng cổ Brising, và được gọi là Vanadis. Vị

thứ bảy là Sjofn, người rất thích hướng trái tim nam nữ đến với ái tình, và chính từ tên của nàng mà tình yêu được gọi là Sjafne. Vị thứ tám là Lofn, người nhân hậu và tốt bụng với những ai cầu khẩn nàng, và nàng được sự cho phép của Alfather hoặc Frigg để se duyên cho nam nữ, bất chấp mọi trở ngại ngáng đường; thế nên “tình yêu” được gọi theo tên nàng, cùng với cả những gì được con người yêu mến tha thiết. Vị thứ chín là Var. Nàng lắng nghe những lời thề nguyền và ước hẹn mà nam nữ trao cho nhau. Do đó những lời thề ấy được gọi là vars, và nàng giáng cơn thịnh nộ trừng phạt những kẻ phá vỡ lời hứa. Vị thứ mười là Vor, người vô cùng uyên bác và thấu triệt đến mức chẳng có gì che giấu nổi nàng. Có câu ngạn ngữ rằng một người phụ nữ trở thành vor (thận trọng, hay biết) về điều gì khi nàng thấu hiểu nó. Vị thứ mười một là Syn, người canh giữ cửa đại sảnh, đóng sầm nó trước những kẻ không được phép bước vào. Trong các phiên tòa, nàng bảo vệ những vụ án mà ai đó cố tình dùng đến sự dối trá. Thế nên mới có câu ngạn ngữ rằng “syn được dựng lên chống lại nó”, khi có ai đó cố tình phủ nhận điều gì. Vị thứ mười hai là Hlin, người bảo vệ những kẻ mà Frigg muốn che chở khỏi bất kỳ hiểm nguy nào. Do đó mới có câu ngạn ngữ rằng kẻ nào được báo trước thì hlins (được bảo vệ). Vị thứ mười ba là Snotra, người khôn ngoan và nhã nhặn. Lấy theo tên nàng, những người nam và người nữ khôn ngoan được gọi là Snotra. Vị thứ mười tứ là Gna, người được Frigg phái đi thực thi các sứ mệnh khắp các thế giới. Nàng cư ngụ trên

một con ngựa mang tên Hofvarpner, có thể bay qua không trung và vượt biển cả. Một lần nọ, khi nàng đang phi ngựa, một số người Van nhìn thấy nàng bay lượn qua không trung. Bấy giờ một trong số họ cất lời:

Cái gì bay ở kia?

Cái gì lướt ở kia?

Cái gì đang trôi trong không trung?

Nàng đáp:

Ta không hề bay,

Dẫu ta đang đi

Và lướt qua không trung

Trên lưng Hofvarpner,

Con ngựa mà Hamskerper

Đã sinh ra cùng Gardrofa.47

Từ tên của Gna, người ta nói rằng bất cứ thứ gì bay vút cao trong không trung đều gnas (phát ra tiếng rít). Sol và Bil được liệt vào hàng các nữ thần, nhưng bản chất của họ đã được miêu tả trước đó.48

37. Vẫn còn những vị khác có nhiệm vụ phục vụ trong Valhal, mang rượu đi quanh, phục vụ bàn tiệc và chuyền các sừng rượu. Họ được kể tên trong Khúc ca của Grimner như sau:

Hrist và Mist

Ta muốn chúng mang sừng rượu đến cho ta;

Skeggold và Skogul,

Hild và Thrud,

Hlok và Heifjoter,

Gol và Geirahod,

Randgrid và Radgrid,

Và Reginleif;

Những vị này mang bia cho các einherje.49

Họ được gọi là các valkyrie. Odin phái họ đến mọi chiến trận, nơi họ chọn ra những kẻ sẽ ngã xuống và chi phối chiến thắng. Gud cùng Rosta, và vị norn trẻ nhất là Skuld, luôn phi ngựa ra để chi phối chiến trận và chọn lựa những kẻ tử trận. Jord, mẹ của Thor, và Rind, mẹ của Vale, đều được liệt vào hàng các nữ thần.

38. Gymer hiệu là một người đàn ông có vợ là Orboda, thuộc giống loài người khổng lồ núi. Con gái họ là Gerd, người con gái xinh đẹp nhất trong tất cả. Một ngày nọ khi Frey bước lên Hlidskjalf và phóng tầm mắt nhìn ra khắp các thế giới, ngài nhìn thấy về phía bắc có một ngôi làng nhỏ chứa một đại sảnh lớn và xinh đẹp. Có một người phụ nữ đi đến ngôi làng này, và khi nàng giơ đôi tay lên để mở cửa, cả bầu trời lẫn biển cả đều bừng sáng lấp lánh từ đó, và nàng làm rực rỡ toàn bộ thế giới. Để trừng phạt sự táo tợn của mình khi tự ý ngự lên chiếc ghế chí thánh ấy, Frey bỏ đi trong nỗi đau ngập tràn lòng. Khi về đến nhà, ngài chẳng nói năng, chẳng mủi lòng chợp mắt cũng chẳng uống nước, và chẳng một ai dám cất lời với ngài. Bấy giờ Njord cho gọi Skirner, gia nhân của Frey, bảo chàng đến gặp Frey và hỏi xem ngài đang giận dữ với ai mà chẳng thèm nói chuyện với bất kỳ ai. Skirner nói rằng chàng sẽ đi, dẫu chẳng mấy mặn mà gì, vì có khả năng chàng sẽ nhận lại những lời cay nghiệt. Khi đến gặp Frey và hỏi vì sao ngài lại buồn bã đến mức chẳng chịu

nói năng gì, Frey đáp rằng ngài đã nhìn thấy một người phụ nữ xinh đẹp, và vì nàng mà ngài chìm đắm trong đau khổ đến mức chẳng thể sống tiếp nếu không có được nàng. Và giờ ngươi phải đi, ngài nói thêm, cầu hôn nàng cho ta và mang nàng về đây cho ta, dù là có hay không có sự đồng thuận từ cha nàng. Ta sẽ thưởng xứng đáng cho công sức của ngươi. Skirner đáp rằng chàng sẽ thực thi sứ mệnh này, nhưng Frey phải trao cho ngài thanh gươm vốn tuyệt vời đến mức có thể tự động chiến đấu trong giao tranh. Frey không ngần ngại trao ngay thanh gươm ấy cho chàng. Skirner lên đường, cầu hôn Gerd thay ngài và nhận được lời hứa từ nàng rằng chín đêm sau nàng sẽ đến Đảo Bụi Cây (Bar-Isle) để tổ chức lễ cưới với Frey. Khi Skirner trở về và thuật lại hành trình của mình, Frey cất lời:

Một đêm dài đằng đẵng,

Hai đêm dài đằng đẵng,

Làm sao ta có thể trụ qua nổi ba đêm?

Bao lần đối với ta một tháng

Còn có vẻ ngắn ngủi hơn

Nửa đêm ái ân này.51

Đó là lý do vì sao Frey hoàn toàn tay không khi giao chiến với Bele, và phải hạ gục hắn bằng một chiếc sừng hươu. Ganglere bấy giờ nói: Thật là một điều kỳ lạ lớn lao khi một vị chúa tể như Frey lại đem cho đi thanh gươm của mình, trong khi ngài chẳng còn thanh nào khác tốt ngang ngửa. Đó là một sự mất mát to lớn đối với ngài khi giao chiến với Bele; và quả thực tôi biết rõ rằng ngài ấy chắc chắn đã hối hận vì món quà đó. Har đáp: Trận chiến của ngài với Bele chẳng có gì là to tát cả. Frey hoàn toàn có thể tiêu diệt hắn bằng tay không. Nhưng sẽ đến lúc ngài rơi vào tình cảnh tồi tệ hơn vì không có thanh gươm trong tay, và đó là khi những người con của Muspel kéo ra chiến trận.

39. Ganglere bấy giờ nói: Ngài nói rằng tất cả những ai kể từ thuở bình minh thế giới ngã xuống trên chiến trận đều đến gặp Odin ở Valhal. Ngài lấy gì để cho họ ăn? Tôi nghĩ rằng hẳn phải có một lượng người đông đảo vô cùng. Har đáp: Đúng như ngươi nhận xét, lượng người đông đảo là có thật; sẽ còn rất nhiều kẻ nữa đến đó, thế nhưng họ vẫn sẽ được cho là quá ít khi con sói52 kéo đến. Nhưng dẫu đám đông ở Valhal có lớn đến đâu chăng nữa, họ vẫn sẽ được cung cấp dư dật thịt của con lợn rừng Sahrimner. Nó được luộc chín mỗi ngày và lại lành lặn nguyên vẹn như cũ vào buổi chiều. Nhưng xét về câu hỏi mà ngươi vừa đặt ra, ta nghĩ rằng có rất ít người khôn ngoan đến mức có thể trả lời nó một cách chính xác. Tên người đầu bếp là Andhrimner, và chiếc vạc mang tên Eldhrimner, như được ca ở đây:

Andhrimner nấu nướng

Trong chiếc vạc Eldhrimner

Con lợn Sahrimner.

Đó là thứ thịt tuyệt vời nhất.

Có rất ít người hay biết

Những einherje ăn món gì.53

Ganglere hỏi: Odin có dùng chung một loại thức ăn với các einherje không? Har đáp: Thức ăn dọn trên bàn của ngài được ngài đem cho hai con sói của mình, hiệu là Gere và Freke. Bản thân ngài chẳng cần đến thức ăn. Rượu vang đối với ngài vừa là thức ăn vừa là thức uống, như đã được ca ở đây:

Gere và Freke

Làm thỏa mãn bầy thú chiến trận,

Vị cha chung nổi danh của các đạo quân;

Nhưng chỉ bằng rượu vang độc nhất

Odin lừng danh trong chiến giáp

Vẫn sống mãi ngàn đời.54

Hai con quạ đậu trên vai Odin, mang đến tai ngài mọi điều chúng nghe và thấy được. Tên của chúng là Hugin và Munin. Lúc rạng đông, ngài phái chúng bay lượn khắp thế giới, và chúng trở về vào giờ điểm tâm. Bằng cách đó ngài thu thập thông tin về muôn sự, và thế nên ngài được gọi là Rafnagud (thần quạ). Như đã được ca ở đây:

Hugin và Munin

Bay lượn mỗi ngày

Khắp đại địa bao la.

Ta lo lắng cho Hugin

Rằng nó có thể không trở về,

Còn ta lại càng bồn chồn hơn cho Munin.55

40. Ganglere bấy giờ hỏi: Các einherje có thứ gì để uống được cung cấp dồi dào chẳng kém thức ăn? Hay họ uống nước lã? Har đáp: Thật là một câu hỏi kỳ quặc. Ngươi có nghĩ rằng Alfather mời các vị vua, jarl, hay những nhân vật vĩ đại khác đến rồi cho họ uống nước lã hay không? Quả thực ta biết rằng có rất nhiều kẻ đến Valhal mà nếu ở đó không có sự đón tiếp nào tốt hơn, họ sẽ nghĩ rằng mình đang phải trả một cái giá quá đắt cho ngụm nước uống — cụ thể là những kẻ đã chết vì thương tích và đau đớn. Nhưng ta có thể kể cho ngươi nghe những tin tức khác. Một con dê cái tên là Heidrun đứng trong Valhal và gặm những chiếc lá trên cành của cội cây nổi danh gọi là Lerad. Từ bầu vú nó tuôn ra lượng mật ong lỏng nhiều đến mức mỗi ngày nó làm đầy một chiếc bình trong sảnh — thứ dùng để múc đầy các sừng rượu — và chiếc bình này lớn đến mức tất cả các einherje đều lấy được toàn bộ lượng đồ uống họ muốn từ đó. Ganglere bấy giờ nói: Đó quả là một con dê hữu ích hết chỗ chê, và cái cây mà nó ăn chắc chắn phải là một cội cây vô cùng tuyệt vời. Har bấy giờ nói: Thậm chí còn tuyệt diệu hơn nữa là con hươu đực Eikthyrner, đứng phía trên Valhal và gặm những cành của chính cái cây ấy. Từ những chiếc sừng của nó rơi xuống vô số giọt nước rỏ vào Hvergelmer, từ đó tuôn chảy những con sông mang tên Sid, Vid, Sekin, Ekin, Svol, Gunthro, Fjorm, Fimbulthul, Gipul, Gopul, Gomul và Geirvimul, tất cả đều đổ quanh những chốn cư ngụ của người Ása. Những sông sau đây cũng được gọi tên: Thyn, Vin, Thol, Bol, Grad, Gunthrain, Nyt, Not, Non, Hron, Vina, Vegsvin, Thjodnuma.

41. Ganglere bấy giờ nói: Đó quả là một tin tức kỳ diệu mà ngài vừa kể cho tôi. Valhal hẳn phải là một đại sảnh hùng vĩ, và tại cửa ra vào chắc hẳn thường xuyên tụ tập một đám đông vô cùng lớn. Har đáp: Sao ngươi không hỏi xem Valhal có bao nhiêu cánh cửa và chúng rộng lớn nhường nào? Khi ngươi hay biết điều đó, ngươi sẽ phải thừa nhận rằng sẽ là một điều kỳ lạ hơn nếu tất cả mọi người không thể dễ dàng đi ra đi vào. Sự thật là việc tìm không gian bên trong cũng chẳng khó khăn gì hơn việc bước vào. Về điều này, ngươi có thể nghe những gì Khúc ca của Grimner nói:

Năm trăm cánh cửa

Cùng bốn mươi cái hơn thế nữa,

Ta tin rằng, có ở trong Valhal.

Tám trăm einherje

Cùng lúc bước qua một cánh cửa

Khi họ tiến ra chiến đấu với con sói.56

42. Ganglere bấy giờ nói: Có một đạo quân hùng mạnh nhường ấy ở Valhal, và quả thực tôi biết rằng Odin là một vị thủ lĩnh vô cùng vĩ đại, vì ngài chỉ huy một đạo quân hùng mạnh đến thế. Nhưng trò tiêu khiển của các einherje khi họ không uống rượu là gì? Har đáp: Mỗi buổi sáng, khi đã mặc giáp phục xong xuôi, họ cầm lấy vũ khí đi ra khoảng sân để chiến đấu và chém giết lẫn nhau. Đó là trò chơi của họ. Gần đến giờ điểm tâm, họ phi ngựa trở về Valhal và ngồi xuống chè chén. Như đã được ca ở đây:

Tất cả các einherje

Trong cung điện của Odin

Chém giết lẫn nhau mỗi ngày.

Họ chọn ra những kẻ ngã xuống

Và phi ngựa rời khỏi chiến trường,

Rồi ngồi xuống bên nhau trong hòa bình.57

Nhưng quả thực đúng như ngươi đã nói, Odin là một vị thủ lĩnh vĩ đại. Có rất nhiều minh chứng cho điều đó. Như đã được ghi lại bằng chính ngôn từ của người Ása:

Cội tần bì Ygdrasil

Là đứng đầu trong các loài cây,

Nhưng Skidbladner là đứng đầu trong các con tàu,

Odin trong hàng các vị Ása,

Sleipner trong loài ngựa,

Bifrost trong các cây cầu,

Brage trong các thi sĩ,

Habrok trong các chú chim ưng,

Nhưng Garm trong loài chó.58

43. Ganglere hỏi: Con ngựa Sleipner ấy thuộc về ai, và có điều gì cần kể về nó? Har đáp: Ngươi chẳng có chút hiểu biết nào về Sleipner, cũng chẳng hay biết gì về những hoàn cảnh xoay quanh sự ra đời của nó; nhưng chắc chắn nó sẽ có vẻ đáng nghe đối với ngươi. Thuở ban đầu, khi thành trì của các vị thần đang được xây dựng, khi các vị thần đã thiết lập Midgard và dựng lên Valhal, có một tên thợ xây nọ đến và ngỏ ý muốn xây cho họ một thành lũy trong vòng một năm rưỡi, kiên cố đến mức hoàn toàn an toàn trước những người khổng lồ núi và khổng lồ băng, ngay cả khi chúng có lẻn được vào bên trong Midgard. Nhưng hắn đòi khoản thù lao là được sở hữu Freyja, đồng thời muốn có cả mặt trời lẫn mặt thiên đàng đi kèm. Bấy giờ các vị thần Ása tụ họp bàn thảo, và thỏa thuận được ký kết với tên thợ xây rằng hắn sẽ nhận được thứ mình đòi hỏi nếu hoàn thành thành lũy trong vòng một mùa đông; nhưng nếu vào ngày đầu tiên của mùa hè mà bất kỳ phần nào của thành lũy còn dang dở, hợp đồng sẽ bị hủy bỏ. Người ta cũng thỏa thuận rằng không ai được phép giúp đỡ hắn thực hiện công trình. Khi họ thông báo các điều khoản này, hắn yêu cầu

được phép sử dụng sự trợ giúp của con ngựa mang tên Svadilfare, và theo đề xuất của Loke, điều này đã được chấp thuận cho hắn.

Vào ngày đầu tiên của mùa đông, hắn bắt đầu xây dựng thành lũy, nhưng ban đêm hắn dùng ngựa chở đá về. Các vị thần vô cùng kinh ngạc khi thấy con ngựa đó kéo được những tảng đá lớn nhường nào, và con ngựa đã làm được một nửa khối lượng công việc vĩ đại nhiều hơn cả tên thợ xây. Thỏa thuận được thiết lập vững chắc bằng các nhân chứng và lời thề, bởi tên khổng lồ không thấy an toàn khi ở giữa các vị thần Ása mà không có lệnh hưu chiến nếu Thor — kẻ lúc bấy giờ đang đi hành trình ở phương đông để tiêu diệt quỷ lùn — trở về. Gần cuối mùa đông, thành lũy đã được xây dựng gần xong, cao và kiên cố đến mức không tài nào công phá nổi. Khi chỉ còn ba ngày nữa là đến mùa hè, mọi công trình đã hoàn thành ngoại trừ cánh cổng thành. Bấy giờ các vị thần đi đến tòa án của mình bàn thảo, hỏi lẫn nhau xem ai là kẻ đã hiến kế gả Freyja cho xứ Jotunheim, hoặc đẩy bầu trời lẫn thiên đàng vào bóng tối bằng cách tước đi mặt trời và mặt trăng để trao cho tên khổng lồ; và tất cả đều đồng thuận rằng kẻ đưa ra lời khuyên tồi tệ nhất ấy chính là Loke, con trai của Laufey, đồng thời họ đe dọa sẽ trừng phạt hắn bằng một cái chết đau đớn nếu hắn không nghĩ ra cách ngăn cản tên thợ xây hoàn thành phần giao kèo của mình, rồi họ tiến

hành tóm lấy Loke. Trong cơn hoảng loạn, hắn thề thốt sẽ xoay xở sao cho tên thợ xây phải mất trắng thù lao, dù cái giá phải trả có là gì đi nữa. Và ngay tối hôm đó, khi tên thợ xây đánh xe đi chở đá cùng con ngựa Svadilfare của hắn, một con ngựa cái bất thừng từ trong rừng lao ra chỗ con ngựa đực và cất tiếng hý vang với nó. Con ngựa đực, vốn biết rõ đây là loài gì, liền trở nên kích động, giật đứt phăng dây cương và đuổi theo con ngựa cái, nhưng nàng ta chạy trốn vào rừng sâu. Tên thợ xây hộc tốc đuổi theo với toàn bộ sức lực để bắt con ngựa đực, nhưng những con ngựa cứ chạy suốt cả đêm, thế là thời gian trôi qua vô ích, và đến rạng đông công trình đã không đạt được tiến độ như thường lệ. Khi tên thợ xây nhận thấy công trình của mình sẽ không thể hoàn thành, hắn liền hiện nguyên hình là một tên khổng lồ núi. Khi các vị thần chắc chắn rằng đó thực sự là một tên khổng lồ núi đã lẻn vào giữa họ, họ chẳng màng đến lời thề thốt nữa mà lớn tiếng gọi Thor. Ngài lập tức xuất hiện ngay, vung chiếc búa Mjolner và thanh toán thù lao cho tên thợ xây — không phải bằng mặt trời và mặt trăng, mà bằng cách ngăn không cho hắn đặt chân về Jotunheim; và điều này được thực hiện dễ dàng chỉ với cú vung búa đầu tiên, đập nát hộp sọ hắn thành từng mảnh nhỏ và tống hắn xuống tận Niflhel. Nhưng Loke đã chạy đua một trận tơi bời với Svadilfare đến mức một thời gian sau hắn sinh ra một con ngựa con. Nó có màu xám, có tới tám chân, và chính là con ngựa xuất sắc nhất trong hàng ngũ thần linh lẫn loài người. Như Lời tiên tri của Vala đã ca:

Bấy giờ các vị thần đi đến,

Những vị thần chí thánh,

Ngự trên ghế phán quyết của họ,

Và cùng nhau bàn thảo

Ai là kẻ đã dùng mưu xảo

Làm vẩn đục bầu không khí

Hay dâng người tình của Oder

Cho giống loài khổng lồ.

Lời thề đã bị phá vỡ,

Cùng những lời hứa hẹn,

Mọi lời phát biểu hùng hồn

Đã trôi qua giữa họ.

Chỉ một mình Thor làm điều này,

Sôi sục trong cơn giận dữ.

Hiếm khi ngài ngồi yên tĩnh

Khi nghe được những chuyện như thế.59

44. Ganglere bấy giờ hỏi: Có điều gì cần kể về chiếc Skidbladner — thứ mà ngài nói là chiếc tàu xuất sắc nhất hay không? Chẳng có chiếc tàu nào khác tốt tương đương, hoặc lớn ngang ngửa hay sao? Har đáp: Skidbladner là chiếc tàu xuất sắc nhất, được chế tác với kỹ nghệ tinh xảo nhất; nhưng Naglfare, nằm ở Muspel, mới là chiếc tàu lớn nhất. Vài người lùn, những người con của Ivalde, đã chế tạo ra Skidbladner và dâng nó cho Frey. Nó lớn đến mức tất cả các vị thần Ása cùng vũ khí và chiến giáp của họ đều có thể tìm thấy chỗ chứa trên khoang, và ngay khi buồm được giương lên, nó sẽ đón được gió lành dù đi đến bất cứ đâu. Khi không cần dùng cho một chuyến hải trình, nó được cấu thành từ rất nhiều mảnh ghép với kỹ nghệ tinh xảo đến mức Frey có thể gấp gọn nó lại tựa như một chiếc khăn ăn và đút túi mang theo.

Ganglere bấy giờ nói: Skidbladner là một chiếc tàu tuyệt vời, nhưng chắc hẳn người ta đã phải nhờ cậy đến rất nhiều tà thuật mới có thể tạo tác ra nó như thế. Thor chưa từng đặt chân đến nơi nào tìm thấy thứ gì đó mạnh mẽ và dũng mãnh đến mức vượt trội hơn ngài cả về sức mạnh lẫn tà thuật hay sao? Har đáp: Ta biết rằng có rất ít người có thể kể về điều đó, nhưng ngài ấy cũng từng nhiều lần rơi vào những hoàn cảnh ngặt nghèo. Song dẫu có những thứ hùng mạnh và vững chãi đến mức Thor không thể giành chiến thắng, thì đó cũng là những thứ không nên nhắc đến; bởi có rất nhiều minh chứng mà ai ai cũng phải thừa nhận rằng Thor là kẻ hùng mạnh nhất. Ganglere bấy giờ nói: Dường như tôi vừa hỏi về một điều mà chẳng ai có thể trả lời nổi. Jafnhar nói: Chúng ta từng nghe kể về những cuộc phiêu lưu tưởng chừng như khó tin, nhưng ở đây có một kẻ đang ngồi gần có thể kể những tin tức chân thực về chúng, và ngươi có thể tin rằng hắn sẽ không nói dối lần đầu tiên khi chưa từng nói dối bao giờ. Ganglere bấy giờ nói: Tôi sẽ đứng đây lắng nghe để xem có câu trả lời nào cho câu hỏi này không. Nhưng nếu các ngài không thể trả lời câu hỏi của tôi, tôi tuyên bố các ngài đã thua cuộc. Thride bổ zna: Rõ ràng hắn buộc phải biết, dẫu việc đó có vẻ không thích hợp để chúng ta bàn đến đi nữa. Khởi đầu của cuộc phiêu lưu này là việc Oku-Thor thực hiện một chuyến hành trình cùng bầy dê và cỗ xe của ngài, đi cùng ngài là vị Ása gọi là Loke. Vào buổi chiều, họ đến nhà một bonde60 và xin trọ qua đêm tại đó. Tối đến, Thor bắt lấy hai con dê của mình rồi giết thịt cả hai, sau đó lọc da và mang bỏ vào vạc. Khi thịt đã chín, Thor và người đồng hành ngồi xuống dùng bữa tối. Thor mời bonde, vợ ông cùng các con của họ — người con trai tên là Thjalfe, và người con gái tên là Roskva — cùng ăn với họ. Sau đó Thor gom những tấm da dê đặt sang một bên lò sưởi, đồng thời yêu cầu bonde cùng gia đình ném xương vào những tấm da. Thjalfe, con trai của bonde, cầm lấy chiếc xương đùi của một con dê, bẻ đôi nó bằng con dao để lấy tủy. Thor ở lại đó qua đêm. Sáng hôm sau, ngay trước rạng đông, ngài thức dậy, mặc trang phục, cầm lấy chiếc búa Mjolner, giơ cao và làm phép ban phước cho những tấm da dê. Bấy giờ bầy dê vùng đứng dậy, nhưng một trong số chúng bị thọt ở một chân sau. Khi Thor nhìn thấy cảnh này, ngài liền nói rằng hoặc bonde hoặc một người trong gia đình ông đã không xử lý khéo léo phần xương của con dê, vì ngài nhận thấy

chiếc xương đùi đã bị bẻ gãy. Chẳng cần phải đi sâu vào phần này của câu chuyện. Ai ai cũng có thể hiểu được bonde đã hoảng sợ nhường nào khi thấy Thor sầm mặt, đôi mày hạ thấp xuống che khuất đôi mắt. Khi nhìn vào mắt ngài, ông nghĩ rằng mình chắc chắn sẽ ngã quỵ chỉ vì diện kiến ánh nhìn ấy. Thor nắm chặt lấy cán búa đến mức các khớp xương trắng bệch. Đúng như dự đoán, bonde và toàn bộ gia đình ông kêu khóc lớn tiếng cầu xin tha mạng, dâng hiến cho ngài toàn bộ tài sản họ sở hữu làm vật chuộc tội. Khi thấy nỗi sợ hãi của họ, cơn giận của ngài nguôi ngoai. Ngài dịu giọng lại, lấy các con của bonde là Thjalfe và Roskva làm vật thế thân. Họ trở thành người hầu của ngài, và vẫn luôn đồng hành cùng ngài kể từ thời điểm đó.

46. Ngài bỏ lại bầy dê ở đó và tiếp tục hành trình hướng đông đến Jotunheim, đi thẳng ra biển, rồi vượt qua đại dương sâu thẳm, đặt chân lên bờ bên kia cùng với Loke, Thjalfe và Roskva. Khi họ đi được một quãng ngắn, trước mặt họ xuất hiện một khu rừng lớn, nơi họ tiếp tục băng qua suốt cả ngày cho đến tận lúc tối mịt. Thjalfe, người chạy nhanh chân nhất trong thiên hạ, mang túi đồ của Thor, nhưng khu rừng không phải là một chốn tốt lành để tìm kiếm thức ăn. Khi trời tối hẳn, họ tìm một nơi trú ngụ qua đêm và phát hiện ra một đại sảnh vô cùng lớn. Ở cuối sảnh có một cánh cổng rộng bằng cả sảnh đường. Họ ở lại đây qua đêm. Khoảng nửa đêm, một trận động đất lớn xảy ra; mặt đất rung chuyển dưới chân họ, và ngôi nhà chao đảo. Bấy giờ Thor đứng dậy gọi các bạn đồng hành. Họ nhìn quanh và phát hiện ra một căn phòng phụ ở phía bên phải, ngay giữa sảnh đường, và họ bước vào đó. Thor ngồi ở cửa phòng; những người khác đi sâu vào bên trong và vô cùng sợ hãi. Thor cầm cán búa trong tay, sẵn sàng phòng thủ. Bấy giờ họ nghe thấy những tiếng rên rỉ và gầm rú lớn. Khi trời hửng sáng, Thor bước ra ngoài và nhìn thấy một người đàn ông nằm không xa chỗ ngài trong rừng. Hắn vô cùng to lớn, nằm ngủ và ngáy vang như sấm. Bấy giờ Thor nghĩ rằng mình đã tìm ra nguyên nhân của thứ âm thanh mà họ nghe thấy trong đêm. Ngài thắt chiếc Megingjarder vào người, khiến sức mạnh Ása của ngài gia tăng. Trong khi đó người đàn ông tỉnh giấc và lập tức đứng dậy. Tương truyền rằng lần này Thor đã nhịn không vung búa giáng vào hắn, mà cất tiếng hỏi tên hắn. Hắn tự xưng là Skrymer; nhưng, hắn nói, ta chẳng cần phải hỏi ngươi tên gì — ta biết rõ ngươi chính là Asa-Thor. Nhưng ngươi đã làm gì với chiếc găng tay của ta thế? Hắn duỗi tay ra nhặt chiếc găng tay lên. Bấy giờ Thor mới nhìn thấy chiếc găng tay chính là tòa đại sảnh nơi ngài đã trải qua suốt đêm qua, và căn phòng phụ chính là ngón cái của chiếc găng. Skrymer hỏi liệu

họ có muốn nhận sự đồng hành của hắn hay không. Thor đáp có. Skrymer tiến đến cởi túi đựng lương thực của hắn ra và bắt đầu ăn điểm tâm; trong khi Thor cùng các đồng hành làm điều tương tự ở một góc khác. Skrymer đề nghị họ nên gộp chung nguồn lương thực lại với nhau, và Thor đồng ý. Bấy giờ Skrymer nhét toàn bộ thức ăn của họ vào một chiếc túi, quăng lên lưng và dẫn đường suốt cả ngày trời với những sải chân khổng lồ. Chiều muộn, hắn tìm một chốn nghỉ đêm dưới một gốc sồi lớn. Sau đó Skrymer bảo Thor rằng hắn muốn nằm xuống ngủ; họ có thể lấy túi lương thực ra chuẩn bị bữa tối. Rồi Skrymer chìm vào giấc ngủ và ngáy vang trời dậy. Khi Thor cầm lấy túi lương thực định mở ra, điều khó tin đã xảy ra — dù phải kể ra vẫn bắt buộc phải nói — là ngài không thể gỡ nổi dù chỉ một nút thắt, cũng chẳng thể nới lỏng dù chỉ một đầu dây thừng để nó lỏng hơn trước. Khi thấy mọi nỗ lực đều vô ích, ngài nổi giận, dùng cả hai tay chộp lấy chiếc búa Mjolner, bước một chân tiến lên phía Skrymer đang nằm và giáng mạnh chiếc búa xuống đầu hắn. Skrymer tỉnh giấc, hỏi xem có chiếc lá nào rơi trúng đầu hắn không; liệu họ đã ăn tối xong chưa và đã sẵn sàng đi ngủ chưa. Thor đáp rằng họ vừa chuẩn bị đi ngủ. Sau đó họ chuyển sang ngủ dưới một gốc sồi khác. Nhưng sự thật phải được phơi bày là chẳng có giấc ngủ nào diễn ra trong sự vô tư không sợ hãi. Khoảng nửa đêm, Thor nghe thấy Skrymer ngáy ngủ say sưa đến mức tạo ra tiếng động sấm rền trong rừng. Ngài đứng dậy tiến đến chỗ hắn, nắm chặt chiếc búa trong tay và giáng một đòn chí mạng vào chính giữa đỉnh đầu hắn, đến mức ngài biết chắc đầu búa đã cắm sâu vào sọ hắn. Nhưng ngay khoảnh khắc đó Skrymer tỉnh giấc và hỏi: Gì thế nhỉ? Có quả sồi nào rơi trúng đầu ta à? Ngươi thế nào rồi, Thor? Thor vội vã quay trở về, đáp rằng ngài vừa mới tỉnh giấc và bảo rằng bây giờ là nửa đêm, vẫn còn thời gian để ngủ. Bấy giờ Thor tự nhủ nếu có cơ hội giáng đòn thứ ba cho hắn, ngài sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy hắn nữa, và ngài nằm chờ cho đến khi Skrymer chìm vào giấc ngủ say. Ngay trước rạng đông, ngài nghe tiếng Skrymer đã ngát ngủ. Thế nên ngài đứng dậy chạy đến chỗ hắn. Ngài dùng toàn bộ sức lực nắm chặt chiếc búa và giáng thẳng vào thái dương của hắn — nơi ngài thấy đang hướng lên trên. Chiếc búa cắm ngập đến tận cán. Skrymer ngồi dậy, xoa xoa thái dương và nói: Có con chim nào đậu trên cành cây phía trên ta à? Ta tưởng, lúc vừa tỉnh giấc, rằng có chút rêu từ cành cây rơi trúng đầu mình. Sao cơ! Ngươi đã dậy rồi hả, Thor? Đã đến lúc thức dậy và mặc trang phục rồi đấy; nhưng ngươi cũng chẳng còn cách thành lũy gọi là Utgard bao xa nữa. Ta nghe nói các ngươi bàn tán râm ran với nhau rằng ta không hề nhỏ con chút nào, nhưng các ngươi sẽ còn nhìn thấy những kẻ vĩ đại hơn khi đến Utgard. Giờ ta sẽ cho các ngươi một lời khuyên chân tình. Đừng khoác lác quá đà về bản thân, bởi những bề tôi của Utgard-Loke sẽ không đời nào dung thứ cho thói khoác lác của những tên nhãi nhép nhỏ bé tầm thường như các ngươi đâu; nếu không thì hãy quay đầu quay về đi, và thực ra đó là điều tốt nhất các ngươi nên làm. Còn nếu các ngươi nhất quyết tiếp tục hành trình, hãy cứ đi thẳng về phía hướng đông; con đường của ta dẫn về phương bắc, đến những dãy núi mà các ngươi đang thấy đằng kia. Skrymer bấy giờ vác túi lương thực lên vai, từ biệt họ rẽ vào khu rừng, và người ta không hề hay biết các vị thần Ása có muốn gặp lại hắn trong sự bình an nữa hay không.

47. Thor và các đồng hành tiếp tục lên đường cho đến tận giữa trưa. Bấy giờ họ nhìn thấy một thành lũy sừng sững trên đồng bằng, cao đến mức họ phải ngửa tận cổ ra sau mới nhìn qua khỏi đỉnh của nó. Họ tiến lại gần và đến cổng thành, lúc bấy giờ đang đóng kín. Nhận thấy bản thân không thể mở nổi cánh cổng và sốt ruột muốn bước vào bên trong, họ lách qua các thanh chắn để vào trong. Họ phát hiện ra một đại sảnh lớn và tiến đến đó. Thấy cửa mở họ bước vào, và nhìn thấy ở đó rất nhiều người, phần lớn vô cùng khổng lồ, đang ngồi trên hai chiếc ghế dài. Bấy giờ họ tiến đến diện kiến vị vua Utgard-Loke và chào ngài. Hắn hờ hững liếc nhìn họ một cái, mỉm cười khinh khỉ

bày hàm răng và nói: Muộn màng quá mới đến hỏi tin tức về một chuyến đi dài, nhưng nếu ta không nhầm thì vị nhãi nhép này chính là Oku-Thor phải không? Tuy nhiên, biết đâu thực ra các ngươi to lớn hơn vẻ bề ngoài của mình thì sao? Các ngươi và các đồng hành chuẩn bị sẵn sàng cho những tài năng nào? Không một ai có thể ở lại đây với chúng ta, trừ khi kẻ đó thông thạo một kỹ nghệ hay tài năng nào vượt trội hơn phần lớn mọi người. Bấy giờ kẻ bước vào cuối cùng lên tiếng đáp lời, chính là Loke: Tôi biết rõ tài năng mà mình sẵn sàng chứng minh, đó là chẳng có ai hiện diện ở đây có thể ăn nhanh hơn tôi. Utgard-Loke liền nói: Đó quả thực là một tài năng nếu ngươi giữ đúng lời mình nói, và ngươi sẽ được thử nghiệm ngay lập tức. Hắn bấy giờ triệu tập từ hàng ghế dài một người tên là Loge, yêu cầu hắn bước ra sàn nhà để đọ sức với Loke. Họ mang ra một máng đầy thịt đặt xuống sàn, lập tức Loke ngồi xuống một đầu còn Loge ngồi đầu kia. Cả hai ăn ngấu nghiến nhanh nhất có thể, và gặp nhau ở chính giữa máng. Loke đã ăn sạch toàn bộ thịt bám trên xương, nhưng Loge đã nuốt chửng cả thịt lẫn xương, thậm chí cả chiếc máng. Ai nấy đều đồng thuận rằng Loke đã thua cuộc. Bấy giờ Utgard-Loke hỏi chàng thanh niên kia biết trò chơi gì. Thjalfe đáp rằng cậu muốn thử sức chạy đua với bất kỳ ai mà Utgard-Loke chỉ định. Utgard-Loke nói đây là một tài năng hay, đồng thời thêm rằng hy vọng cậu ta thực sự xuất sắc về tốc độ nếu muốn giành chiến thắng trong trò chơi này, nhưng mọi chuyện sẽ sớm được định đoạt. Hắn đứng dậy bước ra ngoài. Có một đường chạy tuyệt vời dọc theo vùng đồng bằng phẳng lặng. Utgard-Loke liền triệu tập một thanh niên tên là Huge, bảo cậu ta chạy đua với Thjalfe. Thế là họ chạy lượt đầu tiên, và Huge dẫn trước xa đến mức khi quay đầu ở vạch đích, cậu ta đã gặp Thjalfe đang chạy tới. Utgard-Loke nói: Ngươi phải cố gắng chồm người về phía trước nhiều hơn nữa, Thjalfe, nếu muốn thắng cuộc đua; nhưng ta phải thừa nhận rằng chưa từng có ai đặt chân đến đây nhanh nhẹn bằng ngươi. Sau đó họ chạy lượt thứ hai, và khi Huge về đích rồi quay đầu lại, khoảng cách tới chỗ Thjalfe dài bằng một phát bắn nỏ. Utgard-Loke bấy giờ nói: Thjalfe chạy rất khá; dù vậy ta vẫn ít nghĩ rằng cậu ta sẽ thắng cuộc đua, nhưng điều đó sẽ được chứng thực khi họ chạy lượt thứ ba. Thế là họ chạy thêm một lượt nữa. Huge chạy đến đích rồi quay trở lại, nhưng Thjalfe thậm chí còn chưa tới giữa đường đua. Bấy giờ tất cả đều nói rằng trò chơi này đã được thử nghiệm đầy đủ. Utgard-Loke bấy giờ quay sang hỏi Thor có tài năng nào sẵn sàng thể hiện trước mặt họ, tương xứng với những câu chuyện mà người ta đồn đại về những công trình vĩ đại của ngài. Thor đáp rằng ngài thích thi tài uống rượu với ai đó. Utgard-Loke nói chẳng có vấn đề gì phản đối cả. Hắn bước vào sảnh,

gọi người dâng rượu của mình và yêu cầu hắn lấy chiếc sừng rượu danh dự mà các bề tôi của hắn thường dùng để uống. Người dâng rượu lập tức mang chiếc sừng ra và trao cho Thor. Utgard-Loke nói: Từ chiếc sừng này, người ta coi là uống cạn nếu cạn sạch trong một hơi, một số người cạn trong hai hơi, nhưng chẳng có kẻ bợm nhậu nào tệ hại đến mức không thể làm cạn nó trong ba hơi. Thor nhìn chiếc sừng và không nghĩ rằng nó rất lớn, dẫu nó có vẻ khá dài, nhưng ngài đang rất khát. Ngài đưa nó lên môi và nuốt lấy nuốt để bằng toàn bộ sức lực, nghĩ rằng mình sẽ không phải cúi đầu trước chiếc sừng lần thứ hai nữa. Nhưng khi hơi thở cạn kiệt và ngài nhìn vào trong sừng để xem tửu lượng của mình đi đến đâu, ngài thấy khó mà xác định được liệu lượng rượu trong đó có vơi đi chút nào so với trước không. Utgard-Loke bấy giờ nói: Uống thế là tốt lắm, tuy nhiên cũng chẳng nhiều nhặn gì cho cam. Ta không đời nào tin được, nếu ai đó kể cho ta nghe, rằng Asa-Thor không thể uống nhiều hơn thế, nhưng ta biết ngài sẽ có thể làm cạn nó trong hơi thứ hai. Thor không đáp, áp chiếc sừng lên môi, thầm nghĩ lần này mình sẽ uống một hơi dài hơn. Ngài uống chừng nào còn có thể và uống cạn sâu hệt như thói quen của mình, thế nhưng ngài vẫn không thể kéo phần chóp sừng ngóc lên cao như mong muốn. Và khi đặt chiếc sừng xuống rồi nhìn vào trong, ngài thấy mình uống còn ít hơn cả lần đầu tiên; nhưng chiếc sừng giờ đây có thể bưng đi mà không bị tràn giọt nào. Utgard-Loke bấy giờ nói: Thế nào hỡi Thor! Chẳng lẽ ngài lại để lại lượng rượu cho hơi thứ ba nhiều hơn mức xứng đáng với tài năng của ngài sao? Ta nghĩ rằng nếu ngài định làm cạn chiếc sừng trong hơi thứ ba, thì đó sẽ là hơi lớn nhất. Ngươi sẽ không được coi là một nhân vật vĩ đại ở đây giữa chúng ta như cách những kẻ Ása tung hô nếu ngươi không thể hiện bản thân nổi trội hơn trong các tài năng khác, điều mà ta thấy ngài chưa làm được trong trò này. Bấy giờ Thor nổi giận, áp chiếc sừng lên miệng và uống bằng toàn bộ sức lực, tiếp tục chừng nào còn có thể, và khi ngài nhìn vào bên trong, lượng rượu quả thực đã vơi đi thấy rõ, nhưng ngài trao trả chiếc sừng lại và không chịu uống thêm nữa. Utgard-Loke nói: Rõ ràng sức mạnh của ngài không lớn như chúng ta tưởng. Ngài có muốn thử các trò chơi khác không? Hiển nhiên ngài chẳng thu được gì từ trò đầu tiên cả. Thor đáp: Ta muốn thử các trò chơi khác, nhưng ta sẽ ngạc nhiên nếu một chén rượu như thế này ở nhà giữa những kẻ Ása lại bị coi là ít. Ngài sẽ đưa ra trò chơi nào nữa đây? Utgard-Loke đáp: Những thiếu niên ở đây coi việc nhấc con mèo của ta lên khỏi mặt đất chỉ là trò chơi con trẻ, và ta sẽ không đời nào dám đề xuất chuyện đó với Asa-Thor nếu ta chưa từng tận mắt thấy ngài kém cỏi hơn nhiều so với tưởng tượng của mình. Bấy giờ một con mèo xám nhảy phóc ra sàn nhà, và nó khá lớn. Thor tiến đến gần nó,

luồn tay xuống dưới bụng nó và cố nhấc nó lên, nhưng con mèo cong lưng lên tương ứng với mức Thor giơ tay nâng; và khi ngài đã vươn tay lên cao hết mức có thể, con mèo nhấc một chân lên, và Thor đành dừng trò chơi lại không tiến xa hơn nữa. Utgard-Loke bấy giờ nói: Trò chơi này kết thúc đúng như ta dự đoán. Con mèo khá lớn, còn Thor lại bé nhỏ, quá bé nhỏ so với những nhân vật vĩ đại đang ở đây với chúng ta. Thor nói: Dù ngươi gọi ta bé nhỏ thế nào đi nữa, cứ để bất kỳ kẻ nào thích thú bước đến đây vật tay với ta, vì lúc này ta đang rất giận dữ. Utgard-Loke đáp, liếc nhìn quanh các hàng ghế dài: Ta chẳng thấy ai ở đây lại không nghĩ vật tay với ngài chỉ là chuyện vặt vãnh. Rồi hắn nói tiếp: Hãy để ta xem trước đã! Gọi mụ già Elle — vú nuôi của ta — đến đây, và để Thor vật tay với mụ nếu ngài muốn. Mụ từng quật ngã xuống đất những kẻ mà ta thấy chẳng kém phần cường tráng so với Thor. Thế là một mụ già bước vào sảnh. Utgard-Loke bảo mụ đọ sức vật tay với Asa-Thor. Câu chuyện chẳng dài dòng. Kết quả của cuộc giao tranh là Thor càng siết chặt tay bao nhiêu, mụ càng đứng vững chãi bấy nhiêu. Sau đó mụ già bắt đầu tung hoành, và Thor mất thế đứng. Họ có những cuộc giằng co vô cùng khốc liệt, và chẳng mấy chốc Thor bị quật quỵ xuống một đầu gối. Utgard-Loke bấy giờ bước tới, bảo họ dừng trận đấu lại, đồng thời thêm rằng Thor chẳng cần phải thách thức bất kỳ ai khác vật tay trong đại sảnh của hắn nữa, vả lại trời cũng đã muộn. Hắn dẫn Thor và các đồng hành về chỗ ngồi, và họ trải qua một đêm tại đó trong sự đón tiếp hiếu khách nồng hậu nhất. 48. Sáng hôm sau, khi rạng đông vừa ló dạng, Thor và các đồng hành thức dậy, mặc trang phục và sẵn sàng lên đường. Bấy giờ Utgard-Loke đến cho dọn bàn tiệc ê chề thức ăn lẫn thức uống. Khi họ đã dùng điểm tâm xong, họ lập tức rời khỏi thành lũy. Utgard-Loke tiễn họ ra khỏi cổng thành, nhưng trước lúc chia tay, hắn nói với Thor, hỏi xem ngài nghĩ chuyến hành trình của mình diễn ra thế nào, hay ngài đã từng gặp vị nào hùng mạnh hơn bản thân chưa. Thor đáp rằng ngài không thể chối cãi việc mình đã bị chuốc lấy sự nhục nhã ê chề trong cuộc gặp gỡ này; và tôi biết rõ, ngài nói thêm, rằng ngươi sẽ coi tôi là kẻ tiểu tiểu chi nhân, khiến tôi vô cùng hổ thẹn. Utgard-Loke bấy giờ nói: Giờ ta sẽ nói cho ngươi biết sự thật, vì ngươi đã bước ra khỏi thành lũy rồi, rằng nếu ta còn sống và đạt được ý nguyện, ngươi sẽ không bao giờ được đặt chân vào đây thêm một lần nào nữa; và sự thật là ngươi sẽ chẳng đời nào được bước vào đây nếu ta sớm hay biết ngươi mạnh mẽ đến thế, và ngươi suýt chút nữa đã đẩy chúng ta vào đại họa. Vậy hãy hay biết rằng ta đã lừa gạt ngươi bằng ảo ảnh. Khi ta lần đầu tình cờ gặp ngươi trong rừng, ta đã đến đón ngươi, và khi ngươi

cố tháo gỡ túi đựng lương thực, ta đã buộc nó bằng những sợi chỉ bằng sắt, nhưng ngươi chẳng thể tìm ra nút thắt nằm ở đâu. Kế đến, ngươi đã giáng ba búa vào người ta. Đòn đầu tiên là nhẹ nhất, thế nhưng nó mạnh đến mức đủ đoạt mạng ta nếu nó đánh trúng. Ngươi từng nhìn thấy gần thành lũy của ta một ngọn núi nứt đôi ở đỉnh thành ba thung lũng vuông, trong đó thung lũng sâu nhất chính là vết lõm do búa của ngươi tạo ra. Ta đã mang ngọn núi đó che trước những cú búa mà ngươi không hề hay biết. Tương tự như vậy, ta đã lừa gạt ngươi trong các cuộc đọ sức với các bề tôi của ta. Đối với trò chơi đầu tiên mà Loke tham gia, sự thật là thế này: Hắn vô cùng đói bụng và ăn rất nhanh; nhưng kẻ tên là Loge chính là ngọn lửa hoang dã, và hắn thiêu rụi chiếc máng nhanh chẳng kém phần miếng thịt. Khi Thjalfe chạy đua với kẻ tên là Huge, đó chính là ý nghĩ của ta, và cậu ta không tài nào bắt kịp tốc độ của nó. Khi ngươi uống từ chiếc sừng và ngỡ rằng nó vơi đi quá ít, xin thưa bằng danh dự của ta rằng đó là một kỳ tích mà ta chưa bao giờ nghĩ là có thể xảy ra. Một đầu của chiếc sừng cắm thẳng xuống biển, nhưng ngươi không hề nhìn thấy điều đó. Khi ra đến bờ biển, ngươi sẽ khám phá ra mực nước biển đã tụt xuống bao nhiêu vì cú uống của ngươi; hiện tượng đó giờ được gọi là thủy triều rút. Hơn thế nữa, hắn nói: Việc ngươi nhấc con mèo lên cũng chẳng kém phần kỳ diệu đối với ta; và để nói cho ngươi biết sự thật, tất cả những ai chứng kiến đều khiếp sợ khi thấy ngươi nhấc được một chân của nó lên khỏi mặt đất, bởi đó không phải là con mèo như ngươi nghĩ. Thực chất nó chính là con rắn Midgard bao trùm toàn bộ các vùng đất. Nó vốn chẳng đủ dài để chạm đất bằng cả đầu lẫn đuôi, thế mà ngươi lại nâng nó lên cao đến mức tay ngươi suýt chạm tới thiên đàng. Đó cũng là một chiến tích phi thường khi ngươi vật tay với Elle, bởi chưa từng có ai, và sẽ chẳng bao giờ có ai, mà mụ Elle (tức eld, tuổi già) lại không hạ gục được kẻ đó, dẫu hắn có sống đủ lâu để chờ đón mụ xuất hiện đi nữa. Và giờ sự thật là chúng ta phải chia tay; và sẽ tốt hơn cho cả đôi bên nếu ngươi không đến thăm ta nữa. Ta sẽ lại tiếp tục bảo vệ thành lũy của mình bằng những ảo ảnh tương tự hoặc khác biệt, để ngươi chẳng thể giành được quyền uy nào trên ta. Khi Thor nghe câu chuyện này, ngài chộp lấy chiếc búa vung lên không trung, nhưng khi ngài định giáng xuống thì chẳng thấy Utgard-Loke đâu nữa; và khi quay trở lại thành lũy định đập nát nó thành trăm mảnh, ngài chỉ nhìn thấy một đồng bằng rộng lớn xinh đẹp chứ chẳng có tòa thành nào. Thế nên ngài quay đầu lên đường trở về Thrudvang. Nhưng người ta khẳng định chắc chắn rằng ngài đã quyết tâm trong tâm trí sẽ tìm kiếm cuộc đọ sức với con rắn Midgard — thứ sẽ diễn ra sau đó. Và giờ tôi nghĩ rằng chẳng ai có thể kể cho ngươi nghe những tin tức chân thực hơn về chuyến hành trình này của Thor.

49. Ganglere bấy giờ nói: Utgard-Loke quả là một nhân vật vô cùng quyền năng, dẫu hắn dùng rất nhiều ảo ảnh và tà thuật. Uy quyền của hắn cũng được minh chứng qua việc hắn sở hữu những bề tôi cường tráng nhường ấy. Nhưng chẳng lẽ Thor không trả thù cho chuyện này hay sao? Har đáp: Không phải là không ai biết, dẫu không có bậc hiền triết nào kể lại, cách mà Thor chuộc lại chuyến hành trình vừa được nhắc đến. Ngài chẳng ở nhà lâu lắc gì trước khi đột ngột chuẩn bị cho một chuyến đi mới, đến mức chẳng mang theo cỗ xe, bầy dê hay bất kỳ người đồng hành nào. Ngài rời khỏi Midgard trong lốt một chàng thanh niên, và đến nơi vào buổi chiều tại nhà một tên khổng lồ tên là Hymer.61 Thor lưu lại đó qua đêm với tư cách khách quý. Buổi sáng, Hymer thức dậy, mặc trang phục và chuẩn bị ra khơi đánh cá. Thor cũng vùng dậy, chuẩn bị thật nhanh và hỏi Hymer liệu ngài có thể đi chèo thuyền cùng ông ta không. Hymer đáp rằng Thor sẽ chẳng nhận được chút trợ giúp nào từ ngài vì quá bé nhỏ và trẻ tuổi; đồng thời ông ta thêm rằng ngươi sẽ bị cóng lạnh nếu ta chèo ra xa và ở lại lâu như thói quen của ta. Thor đáp rằng ngài hoàn toàn có thể chèo ra xa bờ bao nhiêu tùy ý, bất chấp điều đó, và hãy chờ xem ai sẽ là kẻ cất lời đòi chèo thuyền quay về đất liền trước tiên. Thor nổi giận với tên khổng lồ đến mức suýt thì cho búa tảng giáng thẳng vào đầu hắn, nhưng ngài nén giận lại vì định bụng sẽ thử sức mạnh của mình ở nơi khác. Ngài hỏi Hymer xem họ dùng thứ gì làm mồi câu, nhưng Hymer đáp rằng ngài phải tự tìm mồi cho mình. Thor liền quay đi hướng về nơi ngài nhìn thấy một bàn bò thuộc sở hữu của Hymer. Ngài chọn con bò đực lớn nhất mang tên Himinbrjot, bẻ quặt cổ nó rồi mang xuống bờ biển. Hymer bấy giờ đã đẩy thuyền ra. Thor bước lên khoang ngồi ở phía đuôi; ngài cầm hai mái chèo và chèo mạnh đến mức Hymer phải thừa nhận con thuyền lướt đi vô cùng nhanh chóng nhờ sức chèo của ngài. Hymer chèo ở mũi tàu, và chẳng mấy chốc hành trình chèo thuyền kết thúc. Bấy giờ Hymer nói rằng họ đã đến nơi ông ta thường ngồi để câu cá bơn, nhưng Thor nói ngài muốn chèo ra xa hơn nữa, thế là họ lại thực hiện một cú bứt tốc mạnh mẽ. Hymer bấy giờ bảo rằng họ đã ra quá xa đến mức ở lại đó vô cùng nguy hiểm vì con rắn Midgard. Thor nói ngài muốn chèo thêm một lát nữa, và quả thực ngài làm thế; nhưng Hymer thì chẳng lấy làm vui vẻ chút nào. Thor thu mái chèo lại, chuẩn bị một sợi dây cực kỳ chắc chắn, và chiếc lưỡi câu cũng chẳng hề kém cạnh hay yếu ớt hơn. Khi đã tròng chiếc đầu bò làm mồi, ngài quăng nó xuống biển và nó chìm thẳng xuống đáy. Phải thừa nhận rằng Thor lần này lừa gạt con rắn Midgard chẳng kém chút nào so với cách Utgard-Loke

chế giễu ngài khi ngài nhấc con rắn bằng tay. Con rắn Midgard ngoạm lấy đầu bò vào miệng, khiến lưỡi câu mắc kẹt vào vòm họng nó; nhưng khi con rắn nhận ra điều này, nó quẫy giật mạnh đến mức cả hai tay Thor đập sầm vào mạn thuyền. Bấy giờ Thor nổi giận, bộc lộ toàn bộ sức mạnh Ása và đạp mạnh đến mức đôi chân ngài xuyên thủng đáy thuyền và đứng trụ ngay trên đáy biển. Ngài kéo con rắn lên mạn thuyền; và quả thực chưa từng có ai mục kích một cảnh tượng kinh hoàng nào hơn thế khi Thor trừng mắt nhìn con rắn, còn nó thì trừng trừng nhìn lại ngài và phun ra những luồng nọc độc. Tương truyền rằng tên khổng lồ Hymer biến sắc xanh xao vì khiếp sợ khi nhìn thấy con rắn và thấy nước tràn vào thuyền; nhưng ngay khoảnh khắc Thor chộp lấy chiếc búa vung lên không trung, tên khổng lồ luống cuống tìm con dao đi biển cắt đứt sợi câu của Thor ngay sát mạn thuyền, khiến con rắn chìm tụt trở lại xuống biển. Thor ném chiếc búa đuổi theo nó, và thậm chí người ta đồn rằng ngài đã đứt lìa đầu nó dưới đáy biển, nhưng ta nghĩ sự thật là con rắn Midgard vẫn còn sống và đang nằm trong đại dương. Thor siết chặt nắm đấm giáng cho tên khổng lồ một cú tát tai khiến hắn ngã ngửa lộn nhào xuống biển, và người ta chỉ còn thấy đôi chân hắn chổng ngược lên trời, còn Thor thì lội thẳng vào bờ. 50. Ganglere bấy giờ hỏi: Đã có những sự kiện đáng chú ý nào khác xảy ra giữa các vị Ása hay không? Quả thực đó là một chiến công vĩ đại mà Thor đã thực hiện trong chuyến đi này. Har đáp: Phải, quả thực có những tin tức đáng kể được kể lại với tầm quan trọng lớn lao hơn nhiều đối với các vị Ása. Khởi đầu của câu chuyện này là việc Balder mơ những giấc mơ lớn mang hiểm họa chết người đối với sinh mệnh của ngài. Khi ngài kể những giấc mơ này cho các vị Ása, họ cùng nhau bàn thảo và quyết định sẽ tìm kiếm sự bình an cho Balder trước mọi loại hiểm họa. Thế là Frigg bắt buộc lửa, nước, sắt và mọi loại kim loại, đá, đất, cây cối, bệnh tật, muông thú, chim chóc và loài vật bò sát phải thề rằng chúng sẽ không làm hại Balder. Khi việc này được hoàn thành và loan báo rộng rãi, nó trở thành trò tiêu khiển của Balder và các vị Ása khi ngài đứng trong các buổi họp hội của họ trong lúc một số kẻ bắn vào ngài, kẻ khác chém ngài, trong khi những kẻ khác ném đá vào ngài; nhưng bất chấp họ làm gì, chẳng có chút tổn hại nào giáng lên ngài, và điều này đối với tất cả mọi người là một vinh dự lớn lao. Khi Loke, con trai của Laufey, nhìn thấy cảnh này, hắn

vô cùng bất mãn vì Balder không hề hấn gì. Thế nên hắn đến gặp Frigg ở Fensal, sau khi hóa thân thành một người phụ nữ. Frigg hỏi người phụ nữ này liệu nàng có biết các vị Ása đang làm gì trong buổi họp hội của họ không. Nàng đáp rằng tất cả mọi người đang bắn vào Balder, nhưng ngài hoàn toàn không hề hấn gì. Frigg liền nói: Cả vũ khí lẫn cây cối đều không thể làm tổn hại Balder, ta đã bắt tất cả chúng phải thề nguyện rồi. Người phụ nữ bấy giờ hỏi: Mọi thứ đều đã thề nguyện tha thứ cho Balder sao? Frigg đáp: Phía tây Valhal có một loại cây nhỏ gọi là tầm gửi, ta thấy nó còn quá trẻ nên không bắt nó thề. Thế rồi người phụ nữ bấy giờ đột ngột biến mất. Loke liền đi nhổ cây tầm gửi lên và tiến thẳng đến buổi họp hội. Hoder đứng cô độc một phía trong vòng tròn mọi người vì ngài bị mù. Loke tiến đến gần ngài và hỏi: Tại sao ngươi không bắn vào Balder? Hắn đáp: Bởi ta không nhìn thấy ngài ở đâu, và hơn nữa ta chẳng có vũ khí. Loke liền nói: Hãy làm như những người khác và bày tỏ lòng tôn trọng với Balder; ta sẽ chỉ cho ngươi chỗ ngài đứng; hãy bắn vào ngài bằng cành cây này. Hoder cầm lấy nhánh tầm gửi và bắn về phía Balder dưới sự chỉ dẫn của Loke. Mũi tên đâm xuyên qua người ngài và ngài ngã chết ngay tại chỗ. Đây là tai họa lớn nhất từng xảy ra cho thần linh và loài người. Khi Balder ngã xuống, các vị Ása chết lặng vì kinh hoàng, đôi tay họ bủn rủn chẳng tài nào nhấc nổi thi thể ngài lên. Người này nhìn người kia, và tất cả đều chung một mối căm phẫn hướng về kẻ đã gây ra hành động đó, nhưng vì đang tề tựu trong một chốn hòa bình chí thánh nên chẳng ai có thể ra tay trả thù. Khi các vị Ása cuối cùng cũng cất lời được, tiếng khóc than nghẹn ngào bóp nghẹt cổ họng họ đến mức chẳng ai có thể miêu tả cho người kia nghe nỗi đau đớn của mình. Odin là người chịu đựng tai họa này nặng nề nhất, vì ngài là kẻ thấu hiểu sâu sắc nhất sự mất mát và tổn thương lớn lao nhường nào khi Balder ngã xuống. Khi các vị thần lấy lại được bình tĩnh, Frigg cất tiếng hỏi xem trong số các vị Ása có ai muốn giành lấy toàn bộ tình yêu cùng thiện cảm của nàng bằng cách phi ngựa xuôi con đường đến Hel để tìm kiếm Balder, đồng thời đưa ra lời chuộc mạng cho Hel nếu mụ cho phép Balder trở lại Asgard. Và kẻ thực hiện chuyến hành trình này chính là Hermod Nhanh Nhẹn, bề tôi của Odin. Con ngựa của Odin là Sleipner được dắt ra. Hermod leo lên lưng ngựa và phi nước đại đi mất. 51. Các vị Ása nâng thi thể của Balder mang ra bờ biển. Hringhorn là tên chiếc tàu của Balder, và đó là chiếc tàu lớn nhất trong tất cả. Các vị thần muốn hạ thủy nó và đặt giàn hỏa táng của Balder lên đó, nhưng họ chẳng tài nào dịch chuyển nổi. Thế nên họ phái sứ giả đến Jotunheim tìm nữ khổng lồ Hyrrokken. Nàng cư lưng một con sói đến nơi, tay cầm dây cương bện bằng rắn độc. Khi nàng xuống ngựa, Odin chỉ định bốn tên berserker trông nom con chiến mã của nàng, nhưng chúng

chẳng thể giữ nổi nó ngoại trừ việc vật ngã nó xuống đất. Hyrrokken tiến đến mũi tàu và chỉ đẩy một cú duy nhất là hạ thủy được con tàu, nhưng lực đẩy quá bạo liệt đến mức lửa bắn tung ra từ những con lăn lót bên dưới và toàn bộ mặt đất rung chuyển. Bấy giờ Thor nổi giận, chộp lấy búa và định đập nát đầu nàng ngay lập tức, nếu không có sự xin xỏ tha mạng cho nàng từ tất cả các vị thần. Thi thể của Balder được đưa lên tàu; và khi vợ ngài là Nanna, con gái của Nep, chứng kiến cảnh này, trái tim nàng tan nát vì đau buồn và nàng qua đời. Nàng được mang lên giàn hỏa táng và ném vào ngọn lửa. Thor đứng bên cạnh làm phép yểm bọc giàn hỏa bằng chiếc Mjolner. Chạy qua chân ngài là một người lùn tên là Lit. Thor liền dùng chân đá văng hắn bay thẳng vào ngọn lửa, và thế là hắn cũng bị thiêu rụi. Nhưng giàn hỏa táng này có sự tham gia của rất nhiều thành phần. Đầu tiên là Odin, đi cùng Frigg, các valkyrie và những con quạ của ngài. Frey cưỡi cỗ xe do con lợn rừng Gullinburste hoặc Slidrugtanne kéo đến. Heimdal phi con chiến mã Gulltop, còn Freyja điều khiển cỗ xe mèo của nàng. Có rất nhiều người khổng lồ băng và khổng lồ núi tề tựu. Odin đặt lên giàn hỏa táng chiếc nhẫn vàng Draupner của ngài — thứ có đặc tính cứ mỗi chín đêm lại sinh ra tám chiếc nhẫn vàng nặng ngang nhau. Con ngựa của Balder, mang đầy đủ yên cương, cũng được dắt đến giàn hỏa của chủ nhân. 52. Nhưng về phần Hermod, tương truyền rằng chàng đã phi ngựa suốt chín đêm qua những thung lũng sâu thẳm tối tăm, và chẳng hề nhìn thấy ánh sáng cho đến khi đến được sông Gjallar và phi qua cầu Gjallar, vốn được lợp bằng vàng rạng rỡ. Modgud là tên nữ lang canh giữ cây cầu. Nàng hỏi tên chàng cùng dòng dõi, nói rằng ngày hôm trước có năm vương quốc (đoàn quân) người chết đã phi qua cầu; nhưng nàng nói thêm, cầu chấn động dưới mỗi mình ngươi không hề kém cạnh, và ngươi không hề mang sắc diện của người chết. Tại sao ngươi lại đi con đường đến Hel? Chàng đáp: Ta phải đi đến Hel để tìm Balder. Ngươi có thấy ngài đi qua con đường này không? Nàng đáp rằng Balder đã phi qua cầu Gjallar; đồng thời nói thêm: Nhưng con đường đi xuống dưới và hướng bắc mới dẫn đến Hel. Thế là Hermod tiếp tục phi ngựa cho đến khi đến cổng của Hel. Chàng xuống ngựa, xiết chặt dây cương, leo lên lại, giật mạnh cương thúc ngựa, và con chiến mã tung mình nhảy vọt qua cánh cổng với lực mạnh đến mức chẳng hề chạm vào nó. Sau đó Hermod tiến thẳng đến đại sảnh và xuống ngựa. Chàng bước vào, và nhìn thấy ngay trên chiếc ghế trang trọng nhất là người anh em Balder đang ngồi. Chàng lưu lại đó qua đêm. Buổi sáng, chàng hỏi Hel liệu Balder có thể cùng chàng phi ngựa về nhà không, đồng thời kể lại nỗi khóc thương vô bờ bến của các vị thần Ása. Nhưng Hel đáp rằng giờ đây cần phải thử xem Balder có được yêu mến đến thế hay không. Nếu tất cả mọi vật, mụ nói, cả sống lẫn chết, đều khóc thương cho ngài, thì ngài sẽ được quay về với các vị Ása, nhưng nếu bất cứ thứ gì từ chối đổ lệ, ngài sẽ phải ở lại với Hel. Hermod đứng dậy, và Balder tiễn chàng ra khỏi sảnh. Chàng nhận chiếc nhẫn Draupner mang về làm vật kỷ niệm trao cho Odin. Nanna gửi tặng Frigg một chiếc khăn tay cùng những món quà khác, và gửi tặng Fulla một chiếc nhẫn. Sau đó Hermod phi ngựa trở về Asgard, tường thuật lại những tin tức mình đã chứng kiến và lắng nghe. 53. Bấy giờ các vị Ása phái các sứ giả đi khắp thế giới, cầu xin cho Balder được khóc tiễn khỏi quyền uy của Hel. Mọi vật đều làm như thế — con người và muông thú, đất đai, đá, cây cối và tất cả các kim loại, hệt như ngươi hẳn đã chứng kiến những thứ này đổ lệ khi chúng tan giá chuyển sang hơi ấm. Khi các sứ giả trở về nhà sau khi hoàn thành xuất sắc sứ mệnh, họ tìm thấy một hang động nọ nơi có một nữ khổng lồ (gygr = mụ chằn) tên là Thok đang ngồi. Họ nài nỉ mụ khóc tiễn Balder khỏi Hel; nhưng mụ đáp: Thok sẽ khóc

Với những giọt lệ khô cằn

Cho đám tang của Balder;

Cả khi sống lẫn lúc chết

Hắn chẳng ban cho ta niềm vui nào.

Cứ để Hel giữ lấy những gì ả có! Người ta tin rằng Thok này chính là Loke, con trai của Laufey, kẻ đã gây ra nhiều tội ác nhất giữa các vị Ása. 54. Ganglere bấy giờ nói: Loke đã phạm phải một tội ác vô cùng to lớn; trước hết là gây ra cái chết cho Balder, và tiếp đến là cản trở việc ngài được cởi trói khỏi Hel. Hắn chẳng hề nhận sự trừng phạt nào cho hành vi sai trái này hay sao? Har đáp: Có chứ, hắn đã bị trả giá cho việc này bằng một cách mà hắn sẽ còn nhớ dài lâu. Các vị thần vô cùng giận dữ, đúng như có thể dự đoán. Thế nên hắn bỏ trốn và ẩn mình trong một hốc đá. Nơi đó hắn xây một ngôi nhà với bốn cánh cửa, để có thể quan sát tứ phía. Thường xuyên vào ban ngày, hắn biến thành một con cá hồi và ẩn nấp tại thác nước Frananger. Rồi hắn tự suy ngẫm xem các vị thần Ása có thể dùng những mưu kế nào để tóm bắt mình. Khi đang ngồi trong nhà, hắn lấy lanh và sợi, đan chúng lại thành những mắt lưới theo cách mà người ta vẫn làm lưới từ đó đến nay; trong khi có một ngọn lửa đang cháy bập bùng trước mặt hắn. Bấy giờ hắn nhìn thấy các vị thần Ása ở không xa. Odin đã nhìn thấy từ Hlidskjalf nơi Loke ẩn núp. Loke lập tức chồm dậy, ném tấm lưới vào đống lửa rồi lao mình xuống dòng sông. Khi các vị thần đến ngôi nhà, người bước vào đầu tiên là kẻ khôn ngoan nhất trong số họ, tên là Kvaser; và khi thấy tro tàn của tấm lưới đã bị thiêu hủy trong đống lửa, ngài hiểu ngay rằng đây phải là một sáng chế để bắt cá, và ngài kể lại điều đó cho các vị Ása. Thế nên họ lấy lanh và tự đan cho mình một tấm lưới theo mẫu nhìn thấy trong đám tro tàn mà Loke đã làm. Khi lưới hoàn thành, các vị thần tiến ra sông và quăng lưới xuống thác nước. Thor giữ một đầu lưới, và tất cả các vị thần Ása còn lại nắm lấy đầu kia, cùng nhau kéo nó xuôi theo dòng nước. Loke đi trước tấm lưới và nằm rạp xuống giữa hai hòn đá, sao cho họ kéo lưới lướt qua người hắn, mặc dù họ cảm nhận được một sinh vật sống nào đó đã chạm vào các mắt lưới. Họ kéo lưới ngược lên thác nước và quăng lưới lần thứ hai. Lần này họ buộc thêm một vật nặng vào lưới, khiến nó nặng trĩu đến mức không một thứ gì có thể lọt qua bên dưới. Loke bơi phía trước lưới, nhưng khi thấy mình đã đến gần biển, hắn liền phóng vọt qua đỉnh lưới và bươn bả quay ngược lại thác nước. Khi các vị thần thấy hắn chạy đi đâu, họ tiến ngược lên thác, chia thành hai ngả, còn Thor lội ngay giữa dòng sông, và thế là họ kéo lưới đi thẳng ra biển. Loke thấy rằng giờ đây mình chỉ còn hai cơ hội trốn thoát — hoặc liều mạng bơi ra biển lớn, hoặc nhảy qua lưới một lần nữa. Hắn chọn cách thứ hai và thực hiện một cú nhảy phi thường qua đường viền trên của lưới. Thor chộp theo và tóm được hắn, nhưng hắn trượt trong tay khiến

Thor không kịp nắm chặt cho đến khi túm được phần đuôi, và đó là lý do vì sao loài cá hồi có cái đuôi vô cùng thon nhỏ. Thế là Loke bị bắt không khoan nhượng và bị dẫn đến một hang động. Các vị thần lấy ba hòn đá dựng đứng lên, đục một lỗ xuyên qua mỗi hòn đá. Sau đó họ bắt các con trai của Loke là Vale và Nare hoặc Narfe. Vale bị họ biến thành lốt sói, và hắn liền xé xác người anh em Narfe của mình thành trăm mảnh, bằng chính ruột gan của hắn mà các vị thần trói Loke lên ba hòn đá. Một hòn kê dưới vai, hòn thứ hai dưới eo, và hòn thứ ba dưới khoeo chân hắn, và những xiềng xích hóa thành sắt. Skade lấy một con rắn treo lên phía trên hắn, sao cho nọc độc nhỏ giọt từ con rắn xuống mặt hắn. Nhưng vợ hắn là Sigyn đứng bên cạnh, hứng một chiếc chậu dưới những giọt nọc độc. Bất cứ khi nào chiếc chậu đầy, nàng lại chạy đi đổ nọc độc đi, và trong lúc đó nọc độc nhỏ thẳng xuống mặt Loke. Hắn quằn quại quẫy đạp cơ thể dữ dội đến mức rung chuyển cả trái đất, và hiện tượng đó được các ngươi gọi là động đất. Hắn sẽ nằm đó bị trói cho đến tận ngày Ragnarok. 55. Ganglere bấy giờ hỏi: Có tin tức gì được kể về ngày Ragnarok không? Tôi chưa từng nghe chuyện này bao giờ. Har đáp: Có rất nhiều điều vĩ đại được kể về nó. Đầu tiên là một mùa đông gọi là Fimbul-winter, khi tuyết cuốn từ bốn phương tám hướng, những đợt băng giá vô cùng khắc nghiệt, gió buốt thấu xương đến mức chẳng còn chút niềm vui nào ở mặt trời. Có ba mùa đông như thế liên tiếp diễn ra, không hề có mùa hè chen giữa. Nhưng trước đó là ba mùa đông khác, trong đó những cuộc chiến tranh lớn nổ ra khắp thế giới. Anh em tàn sát lẫn nhau vì tư lợi, chẳng ai xót thương cha mẹ trong cuộc tàn sát và loạn luân ấy. Lời tiên tri của Vala đã ca như thế này:

Anh em sẽ giao chiến với nhau

Và trở thành kẻ hủy diệt của nhau;

Con cái của các chị em

Sẽ tàn phá huyết thống của mình.62

Thế giới trở nên khắc nghiệt,

Tội lỗi nhục dục bùng phát lớn lao.

Có những thời đại rìu, thời đại kiếm —

Những chiếc khiên bị chẻ đôi —

Có những thời đại gió, thời đại sói,

Trước khi thế giới chết lịm đi.63

Bấy giờ điều được coi là một phép lạ lớn xảy ra, đó là con sói64 nuốt chửng mặt trời, và điều này sẽ đem lại sự mất mát to lớn. Con sói thứ hai sẽ nuốt chửng mặt trăng, và chuyện này cũng gây ra tai ương lớn lao. Các vì sao sẽ bị ném tung khỏi thiên đàng. Sau đó sẽ đến lúc trái đất và núi non rung chuyển dữ dội đến mức cây cối bị bứng tung rễ, các ngọn núi đổ sụp xuống, và mọi dây trói lẫn xiềng xích đều đứt tung. Con sói Fenrer sổng chuồng. Biển cả cuồn cuộn tràn lên mặt đất, bởi con rắn Midgard oằn mình trong cơn thịnh nộ khổng lồ và tìm cách trườn lên đất liền. Con tàu mang tên Naglfar cũng được thả nổi. Nó được đóng bằng móng tay của những kẻ đã chết; thế nên có lời cảnh báo rằng khi một người chết đi mà để móng tay không cắt tỉa, họ đang cung cấp một lượng nguyên liệu lớn cho việc đóng con tàu này — thứ mà cả thần linh lẫn loài người đều ước mong nó được hoàn thành càng muộn càng tốt. Nhưng trong cơn hồng thủy này Naglfar đã nổi bềnh bồng. Tên khổng lồ Hrym là kẻ cầm lái nó. Con sói Fenrer tiến lên với cái miệng há rộng ngoác; hàm trên chạm tới thiên đàng còn hàm dưới chạm đất. Nó hẳn sẽ há rộng hơn nữa nếu có đủ chỗ. Lửa lóe lên từ mắt và lỗ mũi nó. Con rắn Midgard tuôn trào nọc độc, làm ô uế toàn bộ không gian lẫn biển cả; nó vô cùng kinh hoàng và sóng vai đứng cạnh con sói. Giữa khung cảnh hỗn loạn và đinh tai nhức óc này,

bầu trời bị xé rách làm đôi, và những người con của Muspel phi ngựa xuyên qua khe nứt. Surt phi ngựa đi đầu, bủa vây trước và sau hắn là những ngọn lửa bùng cháy. Hắn cầm một thanh gươm tuyệt hảo, tỏa sáng rực rỡ hơn cả mặt trời. Khi họ phi qua cầu Bifrost, nó gãy sập thành từng mảnh như đã được trình bày trước đó. Những người con của Muspel tiến thẳng đến đồng bằng mang tên Vigrid. Con sói Fenrer và con rắn Midgard cũng tề tựu về đó. Nơi này cũng đón nhận sự xuất hiện của Loke và Hrym, cùng với toàn bộ những người khổng lồ băng đi theo hắn. Sát cánh cùng Loke là tất cả bè lũ của Hel. Những người con của Muspel tụ tập thành những đạo quân rực rỡ đứng riêng một mình. Đồng bằng Vigrid rộng tới một trăm dặm (rasts) mỗi bề. 56. Trong lúc những sự kiện này đang diễn ra, Heimdal đứng dậy, dùng toàn bộ sức lực thổi chiếc tù và Gjallar-horn đánh thức toàn bộ các vị thần, những kẻ lập tức tề tựu bàn thảo. Odin phi ngựa đến giếng của Mimer để xin lời khuyên cho bản thân và bầy tôi từ Mimer. Bấy giờ cội tần bì Ygdrasil rung lên bần bật, và vạn vật trên trời lẫn dưới đất đều khiếp sợ run rẩy. Các vị thần Ása và các einherje vũ trang đầy mình, phóng thẳng ra chiến trường. Odin phi ngựa đi đầu; với chiếc mũ chiến bằng vàng, chiếc giáp ngực rực rỡ cùng ngọn giáo Gungner, ngài tiến thẳng đối đầu với con sói Fenrer. Thor đứng bên cạnh ngài, nhưng chẳng thể phụ giúp được gì vì bận tối tăm mặt mày trong cuộc chiến sinh tử với con rắn Midgard. Frey giao chiến với

Surt, và những đòn giáng nặng nề đổi lấy nhau trước khi Frey ngã xuống. Nguyên nhân cái chết của ngài là vì không có trong tay thanh gươm tuyệt diệu từng đem hiến tặng Skirner. Thậm chí con chó Garm, vốn bị xích trước hang Gnipa, cũng sổng chuồng. Nó là tai họa lớn nhất. Nó đọ sức với Tyr, và cả hai tiêu diệt lẫn nhau. Thor giành được chiến công hiển hách khi tiêu diệt con rắn Midgard, nhưng ngài chỉ lùi lại đúng chín bước trước khi ngã quỵ xuống mặt đất trút hơi thở cuối cùng, bị trúng độc bởi nọc độc do con rắn phun vào người. Con sói nuốt chửng Odin, và do đó gây ra cái chết cho ngài; nhưng Vidar lập tức quay người lao vào con sói, đặt một chân lên hàm dưới của nó. Trên bàn chân này, ngài mang chiếc giày mà nguyên liệu đã được thu gom qua muôn đời — cụ thể là những dải da mà con người cắt ra từ phần mũi và gót giày; thế nên kẻ nào muốn mang lại sự trợ giúp cho các vị thần Ása phải vứt bỏ những dải da này đi. Bằng một tay, Vidar túm lấy hàm trên của con sói, và cứ thế xé toạc miệng nó ra. Nhận lấy cái chết, con sói tơi bời diệt vong. Loke giao chiến với Heimdal, và họ tiêu diệt lẫn nhau. Ngay sau đó Surt vung lửa trùm lên trái đất và thiêu rụi toàn bộ thế giới. Lời tiên tri của Vala đã ca như thế này:

Heimdal thổi vang dội

Tù và giơ cao của mình.

Odin cất lời trò chuyện

Cùng chiếc đầu của Mimer.

Cội tần bì thẳng tắp

Ygdrasil rung bần bật,

Cái cây già cỗi rên rỉ,

Và tên khổng lồ sổng chuồng.

Các vị Ása ra sao rồi?

Các yêu tinh ra sao rồi?

Toàn cõi Jotunheim gầm thét.

Các vị thần Ása bàn thảo;

Trước những cánh cửa đá của họ

Những người lùn rên rỉ,

Những kẻ dẫn đường của vách đá nêm.

Ngươi đã hay biết thêm nữa hay chưa?

Từ phương đông Hrym tiến lái,

Mang chiếc khiên chắn trước mặt.

Jormungand oằn mình

Trong cơn thịnh nộ khổng lồ

Và quất nát những con sóng.

Đại bàng réo gào,

Xé xác thây ma bằng chiếc mỏ tái xanh,

Naglfar sổng chuồng.

Một con tàu đến từ phương đông,

Đội quân của Muspel

Vượt biển cả kéo sang,

Và Loke là kẻ cầm lái.

Toàn bộ các thế lực hung tàn

Đều đi cùng con sói;

Sát cánh cùng chúng

Chính là người anh em của Byleist.65

Từ phương nam Surt tiến đến

Với thanh củi lửa rực hồng —

Vầng thái dương của vị thần chiến trận

Tỏa sáng từ thanh gươm của hắn.

Những ngọn núi va vào nhau,

Các thiếu nữ khổng lồ khiếp sợ,

Các anh hùng bước trên đường đến Hel,

Và bầu trời bị xé rách làm đôi.

Bấy giờ Hlin phải gánh chịu

Một nỗi đau thương khác,

Khi Odin bước ra

Giao chiến với con sói,

Và kẻ tiêu diệt Bele lừng danh66

Tiến lên đối đầu Surt.

Nơi đó sẽ ngã xuống

Người được Frigg yêu thương.

Con trai của Odin tiến bước

Đấu cùng con sói,

Và Vidar đi trên con đường

Hướng về dã thú.67

Bằng đôi tay ngài đâm

Thanh gươm thẳng vào tim

Đứa con của tên khổng lồ,

Và trả thù cho người cha.

Bấy giờ vị anh hùng lừng danh

Con trai của Hlodyn68

Tiến ra chiến đấu với con rắn.

Dẫu sắp sửa bỏ mình,

Ngài chẳng sợ hãi cuộc giao tranh;

Tất cả loài người

Đều bỏ lại mái nhà của họ

Khi người canh giữ Midgard

Trong cơn thịnh nộ tiêu diệt con rắn.

Mặt trời tối sầm lại,

Trái đất chìm xuống lòng biển,

Những vì sao rực rỡ

Biến mất khỏi thiên đàng;

Lửa bùng cháy dữ dội,

Hơi nóng bốc cao ngút trời,

Và những ngọn lửa lớn giỡn đùa

Ngay trước vòm trời.69

Và một lần nữa, người ta lại ca rằng:

Vigrid là tên của đồng bằng

Nơi trong trận chiến sẽ tề tựu

Surt và vị thần nhân hậu.

Rộng tới một trăm dặm

Là ở mọi bề.

Cánh đồng này đã được ấn định cho họ.70 57. Ganglere bấy giờ hỏi: Điều gì xảy ra khi trời, đất và toàn thế giới bị thiêu rụi trong biển lửa, và khi tất cả các vị thần, các einherje cùng toàn thể nhân loại đã chết? Ngươi từng nói rằng tất cả loài người sẽ sống ở một thế giới nào đó qua muôn đời. Har đáp: Có rất nhiều chốn cư ngụ tốt đẹp lẫn tồi tệ. Tuyệt vời nhất là ở Gimle, trên thiên đàng. Nơi đó ngập tràn đồ uống ngon lành cho những ai coi đó là niềm vui trong đại sảnh gọi là Brimer. Nơi đó cũng nằm trên thiên đàng. Cạnh đó còn có một đại sảnh xuất sắc đứng trên những ngọn núi Nida. Nó được xây bằng vàng ròng, mang tên Sindre. Trong đại sảnh này, những con người lương thiện và có tâm tính tốt đẹp sẽ cư ngụ. Nastrand là một đại sảnh lớn và khủng khiếp, với những cánh cửa quay mặt về hướng bắc. Nó được xây từ những con rắn bện xoắn vào nhau, và toàn bộ đầu rắn đều hướng vào trong đại sảnh phun ra nọc độc chảy thành dòng dọc theo sảnh đường, và lội trong những dòng sông độc ấy là những kẻ bội ước và kẻ sát nhân. Như đã được ca ở đây:

Một đại sảnh ta biết đứng đó

Cách xa mặt trời

Trên bãi biển của những thây ma.

Những giọt nọc độc

Rỏ qua những ô cửa sổ nhỏ.

Đại sảnh được cấu thành

Từ những tấm lưng rắn rết.

Những kẻ bội ước

Và những kẻ sát nhân

Sẽ phải lội qua

Những dòng sông nặng nề ấy.

Nhưng tồi tệ nhất là ở Hvergelmer.

Nơi Nidhug tra tấn

Thi thể của những kẻ đã chết.71

58. Ganglere bấy giờ hỏi: Có vị thần nào còn sống sót không? Có bất kỳ bầu trời hay mặt đất nào tồn tại không? Har đáp: Trái đất trỗi dậy từ lòng biển một lần nữa, xanh tươi và rạng rỡ. Những cánh đồng không gieo hạt tự bứt lên mùa màng bội thu. Vidar và Vale vẫn sống. Cả biển cả lẫn ngọn lửa của Surt đều không làm hại được họ, và họ cư ngụ trên những đồng bằng của Ida, nơi Asgard từng tọa lạc thủa trước. Những người con của Thor là Mode và Magne cũng đến đó, mang theo chiếc búa Mjolner. Tiếp đến Balder và Hoder từ Hel trở về. Tất cả họ cùng ngồi lại với nhau, đàm đạo về những sự kiện từng xảy ra thuở trước — về con rắn Midgard và con sói Fenrer. Họ tìm thấy trong đám cỏ những bàn cờ bằng vàng mà các vị thần Ása từng sở hữu thủa nào. Như đã được ca:

Vidar và Vale

Cư ngụ trong dinh thự của các vị thần,

Khi ngọn lửa của Surt đã tắt lịm.

Mode và Magne

Sẽ sở hữu chiếc Mjolner của Vingner

Khi trận chiến chấm dứt.72

Tại một nơi mang tên Hodmimer’s-holt,73 hai con người được cất giấu trong suốt trận hỏa hoạn của Surt, tên là Lif và Lifthraser. Họ sinh sống bằng sương sớm. Từ họ sinh sôi một giống loài đông đảo đến mức lấp đầy toàn bộ thế giới với con người, như đã được ca ở đây:

Lif và Lifthraser

Sẽ nằm ẩn nấp

Trong Hodmimer’s-holt.

Giọt sương ban mai

Chính là thức ăn của họ.

Các giống loài xuất thân từ đó.74

Nhưng điều sẽ khiến ngươi ngạc nhiên là mặt trời đã sinh hạ một người con gái xinh đẹp chẳng kém gì mình, và nàng phi ngựa trên quỹ đạo thiên đàng của người mẹ, như đã được ca ở đây:

Một người con gái

Được sinh ra từ mặt trời

Trước khi Fenrer nuốt chửng nàng.

Trên quỹ đạo của người mẹ

Khi các vị thần đã chết

Thiếu nữ này sẽ phi ngựa.75

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.