Khi người đàn bà hỏi hắn có con dao nào không lúc hắn đứng đó trong bộ quần áo tù ướt sũng bộ đồ đã khiến hắn trở thành mục tiêu của súng đạn, lần thứ hai bị một khẩu súng máy nhắm bắn và cũng là lần thứ hai hắn nhìn thấy bóng người sống kể từ lúc rời khỏi con đê đó bốn ngày trước, người tù có cảm giác giống hệt những gì hắn từng cảm thấy khi ở trên thuyền và người đàn bà bảo hắn nên khẩn trương. Hắn cũng cảm thấy sự xúc phạm gây giận dữ từ một tình huống mang tính đạo đức thuần túy y như vậy, nỗi bất lực khiến hắn muốn phát điên hệt như khi hắn tìm câu trả lời cho bài toán hóc búa mà hắn đang phải giải; vậy là hắn đứng trước người đàn bà trong suốt một phút dài, thở không ra hơi, nói không lên lời cho đến khi hiểu ra cô ta đang gào lên “Cái bình! Cái bình ở trên thuyền!”. Hắn không biết cô ta muốn có cái bình đựng sữa để làm gì, thậm chí không thắc mắc hay dừng lại để hỏi. Hắn quay đầu chạy; lần này hắn nghĩ, lại một con rắn hổ mang nữa đây, khi một vật sống mình dày cuộn lại trong phản ứng bất thình lình không thể hiện nỗi sợ hãi mà đơn giản là vẻ cảnh giác, hắn thậm chí không thay đổi tốc độ chạy dù biết bàn chân đang chạy của mình chỉ cách cái đầu bẹt của con rắn chừng một thước. Chiếc thuyền đã bị sóng xô vào bờ, nghếch mũi lên con dốc đầy bùn và một con rắn khác đang bò từ phía đuôi thuyền vào bên trong; khi cúi xuống để lấy cái bình, hắn nhìn thấy một con vật mình không biết là gì đang bơi về phía gò đất - một cái đầu, một cái mặt nhô lên từ đỉnh của con sóng hình chữ V. Hắn giật vội cái bình; cố múc cho đầy nước rồi quay gót. Hắn lại nhìn thấy một con nai khác. Đúng vậy, hắn nhìn thấy con nai - trong một cái liếc mắt, một ảo ảnh đậm màu sương khói với cảnh nền là một cây bách vụt biến mất, và hắn không dừng chân để nhìn theo con vật đang trôi đó mà chạy vội trở lại chỗ người đàn bà, quỳ xuống, đưa bình nước tới miệng cô ta cho đến khi cô ta nói với hắn rằng đã cảm thấy dễ chịu hơn.
Trong cái bình có một hộp đậu hoặc cà chua, hay thứ gì đó, được dán kín có nắp bật bằng kim loại với cái nạy vỏ hộp sắc như dao cạo. Cô ta nói cho hắn biết cách mở hộp và hắn tháo dây của một chiếc giày ra, sử dụng cái nạy vỏ hộp để cắt nó ra làm đôi. Người đàn bà muốn có nước ấm. “Giá mà tôi có chút nước ấm”, cô ta nói bằng giọng yếu ớt không thể hiện chút hy vọng rõ rệt nào, chỉ khi hắn nghĩ đến những que diêm trong cảm giác bất lực muốn phát điên, giống như lúc cô ta hỏi hắn có con dao nào không, cô ta mới lần trong túi của chiếc áo dài của mình (chiếc áo có hình chữ V sẫm màu ở một bên ống tay và vết bẩn sẫm màu hơn ở một bên vai nơi chiếc phù hiệu cùng biểu tượng nào đó đã bị gỡ bỏ, nhưng điều đó chẳng quan trọng đối với hắn) rồi lấy ra một bao diêm được làm bằng hai vỏ đạn súng ngắn. Vậy là hắn đưa người đàn bà tới một chỗ bớt lầy lội hơn rồi đi kiếm những thanh củi đủ khô để đốt lửa, đáng lẽ hắn nghĩ, Mười nghìn con rắn nữa, nhưng lại tự nhủ, chỉ là một con rắn nữa thôi mà: Và bây giờ hắn biết con nai vừa hiện ra trước mắt mình không phải là con nai hắn gặp lúc trước bởi vì hắn nhìn thấy ba con một lúc mà cũng không biết đó là nai, hoẵng cái hay hươu đực bởi vào tháng Năm, tất cả những con vật đó đều không có gạc, vả lại hắn cũng chưa bao giờ nhìn thấy một con vật nào giống như những con vật đó ở bất cứ đâu ngoài tấm thiệp Giáng Sinh; sau đó hắn nhìn thấy một con thỏ chết đuối đã bị những con chim rỉa thịt và diều hâu đỗ trên người với chỏm đầu dựng đứng, cái mũi quý phái cùng con mắt màu vàng toát lên vẻ cố chấp, hắn giơ chân đá con vật đã chết khiến nó chòng chành và những con chim bay vù lên không trung.
Khi hắn mang một ít củi và con thỏ chết quay trở lại, đứa trẻ sơ sinh đã được bọc trong chiếc áo dài đang nằm giữa hai đoạn khuỳnh ra của một gốc cây bách còn người đàn bà thì chẳng thấy đâu cả, thế rồi khi hắn đang quỳ trong bùn, thổi lửa và vun cho đám củi cháy, cô ta từ phía mép nước chầm chậm bước lên với vẻ yếu ớt. Cuối cùng nước cũng được đun, và hắn không biết từ đâu, có lẽ chính cô ta cũng không biết từ đâu, khi nhu cầu thúc bách một miếng vừa giống như vải bố vừa giống như vải lụa xuất hiện; ngồi chồm hỗm trong bộ quần áo đang bốc lên hơi nước trước đống lửa, hắn quan sát người đàn bà tắm cho đứa trẻ sơ sinh với nỗi tò mò và thích thú đến mức khó tin, cuối cùng hắn đứng nhìn sinh linh nhỏ bé đỏ hỏn chẳng giống bất cứ cái gì và nghĩ, Tất cả là thế này đây. Đây là những gì đã cắt đứt mình một cách quyết liệt khỏi toàn bộ những gì mình từng biết và không muốn rời xa rồi quẳng mình lên một phương tiện mình sợ hãi, và cuối cùng tống mình đến cái nơi mình chưa từng nhìn thấy, thậm chí chẳng biết là nơi nào.
Rồi hắn quay ra mép nước và lại lấy đầy một bình nước. Chiều đang trôi về phía hoàng hôn (nếu không có những đám mây u ám chiếm lĩnh bầu trời thì chắc hẳn có hoàng hôn) của cái ngày mà hắn không thể nhớ nổi đã bắt đầu từ khi nào; khi hắn quay trở lại chỗ đống lửa đang cháy trong cái bóng ảm đạm của những cây bách sau một lúc vắng mặt, bóng tối mới thực sự hiện diện, mặc dù trước đó nó đã trú ngụ trên cái gò rộng một phần tư héc ta, con thuyền bằng đất trong Kinh Cựu Ước - vùng hoang sơ cằn cỗi chỉ có sự sống sinh sôi từ những cây bách ướt nhẹp - hiện ra lờ mờ, nơi mà hắn hoàn toàn không biết nằm ở phía nào: Đông, Bắc, Tây, hay Nam cũng như chẳng rõ hôm nay là ngày mấy, cách nơi nào bao xa và thực sự là đâu, và là nơi hoàng hôn lại bắt đầu bò lan trên mặt nước. Hắn hầm thịt thỏ khi đống lửa cháy càng lúc càng thêm đỏ rực trong bóng tối nơi những con mắt hoang dã nhút nhát của các con thú nhỏ - trong đó có cái nhìn trân trân từ đôi mắt mở thao láo của một con nai - sáng lóe lên, vụt biến mất rồi lại sáng lóe lên, và sau bốn ngày không có chút gì vào bụng, hắn húp vội chút nước xuýt nóng hổi sặc mùi ôi thiu; ban đầu hắn dường như nghe thấy tiếng tuyến nước bọt của mình gầm gào khi nhìn người đàn bà húp lấy húp để thứ nước đó. Rồi chính hắn cũng húp, họ ăn những miếng thịt thỏ nướng được xiên bằng các cành liễu và cháy sém; bây giờ đã về đêm. “Cô và đứa nhỏ nên ngủ trên thuyền”, người tù nói. “Sáng mai chúng ta đi sớm.” Hắn đẩy thuyền khỏi bờ, để con thuyền nằm thẳng và dùng một đoạn dây leo nối dây cột thuyền dài ra rồi quay lại bên đống lửa, buộc dây neo thuyền vào cổ tay và nằm xuống. Hắn nằm trên bùn, nhưng dù sao bên dưới lớp bùn vẫn là lớp đất vững chắc, không chuyển động; nếu ngã trên đất anh sẽ bị gãy xương bởi tính tiêu cực hiển nhiên của nó, bị phủ lấp, chết ngạt và chìm sâu, chìm sâu xuống, nhưng nó không chấp nhận anh phi vật chất; nhiều khi thật khó để lái lưỡi cày xuyên qua đất, việc đó khiến hắn mệt nhoài, mệt lử và nhiều lần vào cuối ngày, hắn đã trở về giường ngủ rồi nguyền rủa những yêu cầu không thể thỏa mãn được của nó, nhưng nó không tàn nhẫn giật hắn ra khỏi tất cả những gì quen thuộc đối với hắn, khiến hắn trở nên bất lực trong nhiều ngày trước ý muốn quay về. Mình không biết hiện giờ mình đang ở đâu và không nghĩ rằng mình biết đường quay trở về nơi muốn về, hắn nghĩ. Nhưng chí ít con thuyền đã dừng lại đủ lâu để cho mình cơ hội xoay nó quay trở lại.
Hắn thức dậy lúc bình minh, ánh sáng ban ngày còn yếu ớt lắm, bầu trời nhuốm sắc vàng nhợt nhạt; hôm nay sẽ là một ngày đẹp trời đây. Đống lửa đã tắt ngấm từ bao giờ; ở phía bên kia của đống tro lạnh là ba con rắn nằm cạnh nhau trong tư thế bất động tựa những đường thẳng song song, và dưới ánh bình minh, những con rắn khác dường như cũng hiện ra: Mới phút trước mặt đất chỉ là đất trống thì giờ đây đã đầy những con rắn cuộn thành vòng tròn nằm bất động, những cành cây mà một phút trước chỉ là những cành cây bình thường giờ đây trở thành các tràng hoa được kết bằng những con rắn không nhúc nhích khi người tù đứng đó nghĩ về thức ăn, về thứ gì đấy ấm nóng để cho vào bụng trước lúc họ khởi hành. Nhưng hắn quyết định cưỡng lại ý nghĩ ấy và không làm lãng phí thời gian nữa, bởi trên thuyền vẫn còn một chút thức ăn nặng và rắn như đá mà người đàn bà trên cái nhà thuyền nọ đã ném sang cho họ, ngoài ra (hắn nghĩ đến điều này) còn một vấn đề nữa: Cho dù có đi kiếm cái ăn một cách nhanh chóng và thành công đến mức nào, hắn cũng sẽ chẳng bao giờ có thể kiếm đủ thức ăn tới khi họ trở lại nơi mà họ muốn quay về. Vậy nên hắn trở lại thuyền, tháo cái dây nho dùng làm dây buộc thuyền khỏi người, quay trở lại mép nước - nơi đang bị bao phủ bởi một lớp sương dày như một tấm mền bông (mặc dù có vẻ như lớp sương ấy không cao và sâu) còn đuôi thuyền đã bắt đầu biến mất trong tầm nhìn của hắn mặc dù mũi thuyền vẫn chạm gò đất. Người đàn bà đã thức dậy và đang cựa quậy. “Chúng ta nhất định phải đi bây giờ sao?”
“Đúng vậy”, người tù nói. “Sáng nay cô không định sinh một đứa trẻ nữa đấy chứ?” Hắn bước tới, đẩy thuyền khỏi vùng bờ mà đất bắt đầu nhòa đi trong màn sương. “Đưa mái chèo cho tôi nào”, hắn nói qua vai, không quay đầu lại. “Mái chèo ư?”
Bây giờ thì hắn quay đầu lại. “Mái chèo. Cô nằm đè lên nó còn gì.” Nhưng không phải như vậy, và trong chốc lát, mặt đất tiếp tục mờ dần mờ dần trong màn sương dường như đang dựng lên một bức tường không trọng lượng, khó có thể sờ thấy tựa một thứ đồ trang sức hay trang trí mỏng mảnh hoặc quý giá; người tù ngồi xổm, không phải trong tình trạng mất hết can đảm mà trong cơn giận dữ điên cuồng của một người đàn ông vừa mới thoát khỏi nạn này lại gặp ngay nạn khác: Điều đó vượt quá sức chịu đựng vì hắn biết rằng trong đời mình sẽ chẳng bao giờ có ít thời gian hơn thế để mà lãng phí. Bởi hắn không chần chừ được nữa. Hắn chộp lấy đầu sợi dây leo và lao xuống nước, biến mất trong nỗ lực ngụp lặn, bơi, lội, để rồi lại xuất hiện cũng vẫn với nỗ lực đó (hắn chưa bao giờ học bơi), lội, quẫy và đập nước để trở lại cái gò đất, di chuyển trong nước như con nai đã trôi đi ngày hôm qua và quờ quạng tìm tới cái dốc lầy lội để rồi nằm vật ra đó thở hổn hển, trong khi vẫn nắm chặt đầu của sợi dây buộc thuyền.
Việc đầu tiên hắn làm là chọn những gì hắn tin là cái cây thích hợp nhất (bởi trong khoảnh khắc biết rõ mình đang bấn loạn, hắn đã nghĩ đến việc cố cưa cái cây bằng mép sắc của cái hộp đựng đồ ăn kia) và lại nhóm một đống lửa để đốt cái gốc của nó. Sau đó hắn đi kiếm thức ăn. Hắn dành sáu ngày tiếp theo để làm việc ấy trong khi cái gốc cây đó cháy đến lõi, đổ sập xuống, tiếp tục cháy theo chiều dài của thân cây và hắn vun cho lửa cháy liên tục dọc theo hai bên thân để tạo một mái chèo, đốt lửa cả ngày lẫn đêm trong lúc người đàn bà và đứa trẻ mới sinh (nó đang bú, và hắn quay lưng lại phía họ hoặc thậm chí rút vào trong rừng cây mỗi khi người đàn bà cởi những cái cúc của chiếc áo dài bạc phếch chuẩn bị cho con bú) ngủ trên thuyền. Hắn học cách quan sát lũ diều hâu để tìm ra nhiều thỏ và chuột ô-pốt hơn; họ ăn những con cá chết dưới nước khiến họ phát ban và kiết lị, thậm chí ăn cả một con rắn - con vật mà người đàn bà nghĩ là một loài bò sát khác và không gây hại gì cho họ; rồi một đêm trời đổ mưa, hắn choàng dậy và giật những bụi cây, khuấy động những con rắn (hắn thôi không nghĩ, Có gì đâu, chỉ là một con rắn nữa thôi mà. Thay vì thế, hắn chỉ lặng lẽ bước sang một bên để tránh và có lần chúng lại nằm thu gọn vào một bên để tránh hắn) với cảm thức cố hữu về khả năng không thể bị tấn công của mình để dựng một mái che tạm bợ, sau đó mưa tạnh hẳn và người đàn bà lại quay trở lại thuyền.
Một đêm, cái đoạn thân cây cháy chậm đến mức chán ngắt đã trở nên gần giống một mái chèo, hắn mơ thấy mình nằm trên giường ở trại tù và trời rất lạnh, hắn đang cố kéo chăn lên tận cằm nhưng bị con la của hắn cản trở - nó cứ húc và huých mạnh vào người hắn, đòi lên cái giường chật hẹp đó với hắn; ở trên giường cũng lạnh và ẩm ướt, hắn cố ra khỏi giường nhưng con la không để hắn làm thế, cứ dùng răng cắn chặt dây thắt lưng của hắn, giật và đập người hắn xuống mặt giường ướt nhẹp rồi nghiêng người dùng cái lưỡi lạnh, chắc nịch nhưng lanh lẹ của nó tát vào mặt hắn; thế là hắn choàng tỉnh, nhận ra lửa đã tắt ngấm, không còn than hồng bên dưới đoạn thân cây sắp trở thành một mái chèo và thấy một vật gì đó dài, mềm và lạnh trườn qua người mình trong khi mũi thuyền chốc chốc lại giật cái dây nho mà hắn buộc vào cổ tay, giật rồi kéo hắn xuống nước. Sau đó, một vật khác (khúc gỗ hay cái mái chèo) bắt đầu thúc vào gót chân hắn khi hắn cuống cuồng quờ quạng tìm con thuyền, nghe tiếng loạt soạt của chuyển động qua lại bên trong thuyền khi người đàn bà bắt đầu giãy đạp và la hét. “Chuột!”, cô ta thét lên. “Nhiều chuột quá!”
“Nằm im!”, hắn gào lên. “Rắn đấy. Cô không thể nằm yên đủ lâu để tôi bám được vào thuyền sao?” Rồi bàn tay hắn tìm được mép thuyền, hắn trèo lên thuyền cùng mái chèo chưa thực sự hoàn thiện; một lần nữa hắn lại cảm thấy khối thịt dày giật giật dưới lòng bàn chân mình; không phải là sự tấn công; nếu phải thì hắn cũng chẳng buồn quan tâm, nhìn về phía sau, hắn thấy một thứ - luồng ánh sáng yếu ớt ở phía xa xa giữa vùng nước mênh mông. Hắn chèo thuyền về phía nguồn sáng đó, gạt những cành cây có rắn quấn sang một bên, đáy thuyền dội lại những tiếng rơi đánh “tõm”, người đàn bà chốc chốc lại rú lên. Thế rồi thuyền ra khỏi đám cây cối, cách xa hẳn gò đất, và giờ đây hắn có thể cảm thấy những con vật sống đang chạy quanh hai mắt cá chân của mình, nghe thấy tiếng lạo xạo mà chúng tạo ra khi chạy về phía mép thuyền. Hắn khua khoắng cái thanh gỗ dùng làm mái chèo trong lòng thuyền, gẩy lên gẩy xuống để xua đuổi những con vật; hắn có thể nhìn thấy thêm ba con rắn nữa quăng mình xuống mặt nước lờ lờ nửa xanh, nửa vàng trước khi biến mất. “Yên nào!”, hắn quát. “Suỵt! Ước gì mình cũng là một con rắn để có thể thoát ra khỏi cái thuyền chết tiệt này!”
Khi vầng mặt trời buổi sớm mỏng tang dẹt như một cái đĩa, nhợt nhạt và chưa đủ tạo hơi ấm lại ngó xuống chiếc thuyền (thuyền đang chuyển động hay không người tù chẳng biết nữa) trong màn sương tựa như tấm mền bông mịn, người tù lại nghe thấy âm thanh mà hắn đã nghe thấy hai lần và không bao giờ quên được - âm thanh của nước chuyển động dữ dội và chẳng thể cưỡng lại. Nhưng lần này hắn không thể xác định được âm thanh đó đến từ hướng nào. Dường như nó đến từ khắp nơi, lúc rõ lúc yếu, như một ảo ảnh ở phía sau màn sương, vừa mới phút trước nghe như ở xa nhiều dặm, phút sau đã ở gần đến mức tưởng chừng sắp nhận chìm con thuyền; bỗng nhiên trong khoảnh khắc ngắn ngủi, hắn tin (thân xác mệt mỏi rã rời của hắn như muốn nhảy lên, gào thét) rằng mình sắp sửa lái con thuyền lao thẳng vào cái đã phát ra âm thanh đó và với mái chèo chưa được hoàn thiện nặng tới hai mươi lăm pound, đen nhẻm đen nhèm giống một vật vừa được lôi ra từ ống khói bị hải ly gặm nham nhở, hắn điều khiển con thuyền xoay tít và cảm thấy âm thanh kia lại tắt ngấm trong tầm nghe. Rồi một cái gì đó gầm lên ầm vang phía trên đầu, và hắn nghe thấy tiếng người nói xôn xao, tiếng chuông kêu chói tai còn âm thanh kia ngừng bặt, màn sương cũng biến mất như thể có người kéo một tấm kính bị sương phủ mờ lên; con thuyền giờ đây nằm giữa một vùng nước màu nâu lấp lánh ánh mặt trời cách một chiếc tàu thủy chừng ba mươi thước. Boong tàu đầy người, đàn ông, đàn bà và trẻ con đứng ngồi bên cạnh hoặc giữa những đống đồ đạc lỉnh kỉnh lặng im nhìn xuống chiếc thuyền với vẻ buồn rầu trong khi người tù và người đàn ông cầm loa phóng thanh ở trong buồng lái của con tàu nói chuyện với nhau như hét trong tiếng ồn của động cơ tàu:
“Anh đang cố làm cái quái gì đấy? Định tự tử hả?” “Vicksburg nằm ở hướng nào?”
“Vicksburg á? Lên tàu đi.”
“Anh cho cả thuyền của tôi lên chứ?”
“Thuyền của anh á? Thuyền á?” Bây giờ cái loa phóng thanh phát ra những tiếng nguyền rủa, những con sóng gào lên lời báng bổ cùng âm thanh dội lại của tự nhiên sâu hút, vô hình cứ như thể nước, không khí và sương đã bật ra tiếng nguyền rủa ấy, hét lên những lời đó rồi tự nhận lại chúng, không gây hại gì cũng chẳng để lại sự tổn thương hay xúc phạm ở bất cứ đâu. “Nếu tôi cứ đưa lên boong tàu tất cả những con cá mòi đang nổi lềnh bềnh thì đồ khỉ nhà anh ạ, anh muốn tôi không còn chỗ nào cho một vị lãnh tụ sao? Lên đi! Anh muốn tôi treo mình ở đây cho đến khi địa ngục đóng băng sao?”
“Anh không cho thuyền của tôi lên thì tôi không lên đâu”, người tù nói. Một giọng nói khác cất lên, điềm tĩnh, ôn tồn và dễ cảm đến nỗi thoạt đầu nghe có vẻ lạ hơn cả tiếng nguyền rủa báng bổ ồn ào phát ra từ cái loa phóng thanh:
“Anh đang thử đi đâu vậy?”
“Tôi không thử”, người tù nói. “Mà đang đi thật. Tới Parchman.” Người đàn ông vừa mới cất tiếng nói biến mất, rồi xuất hiện trở lại cùng với người đàn ông thứ ba trong buồng lái. Sau đó anh ta lại nhìn xuống thuyền.
“Đi Carnarvon hả?”
“Gì cơ?”, người tù hỏi. “Parchman chứ?”
“Được rồi. Chúng tôi đang đi về hướng đó và sẽ cho anh quá giang tới nhà anh. Lên tàu đi nào.”
“Cho cả thuyền của tôi lên chứ?”
“Phải, phải. Lên đi. Chúng tôi đang lãng phí than đốt chỉ để nói chuyện với anh đó.” Vậy là người tù cho thuyền ghé sát vào thân tàu và nhìn những người đàn ông giúp người đàn bà cùng đứa bé vượt qua thanh chắn thành tàu rồi đến lượt hắn leo lên tàu, vẫn giữ đầu dây cột thuyền cho tới khi chiếc thuyền được kéo lên boong tàu. “Lạy Chúa”, người đàn ông có giọng nói ôn tồn thốt lên, “đó là thứ anh dùng làm mái chèo sao?”.
“Đúng vậy”, người tù nói. “Tôi đã đánh mất tấm ván kia.”
“Tấm ván ư?”, người đàn ông kia hỏi (người tù kể cho cho ông ta nghe về tấm ván hắn dùng làm mái chèo bằng giọng lí nhí), “tấm ván. Được rồi. Hãy đi kiếm cái gì đó ăn đã. Thuyền của anh bây giờ an toàn rồi”.
“Tôi nghĩ là tôi sẽ đợi ở đây thôi”, người tù nói. Bởi vì giờ đây, hắn kể, lần đầu tiên hắn nhận thấy rằng đám đông những người tị nạn đang tụ tập thành một vòng tròn im lặng trên boong tàu quanh chiếc thuyền vừa được úp xuống - phương tiện mà hắn và người đàn bà kia dùng để di chuyển trong những ngày qua - chiếc thuyền có dây neo bằng thân cây nho đã mấy lần được quấn quanh cổ tay hắn hoặc được hắn giữ khư khư trong bàn tay nắm chặt; những người đang nhìn hắn và người đàn bà với vẻ rầu rĩ kỳ quặc ấy không phải là người da trắng.
“Anh muốn nói họ là dân mọi đen ư?”, tù nhân có dáng người thấp đậm đang nghe hắn kể chuyện bật ra tiếng hỏi.
“Không. Ý tôi muốn nói họ không phải là người Mỹ.” “Không phải người Mỹ ư? Vậy là anh đã bị nước lụt cuốn ra khỏi nước Mỹ ư?”
“Tôi không biết nữa”, tù nhân có dáng người cao nói. “Họ gọi nơi đó là Atchafalaya.”, bởi vì một lát sau khi hắn hỏi người đàn ông, “Gì cơ?” thì ông ta nhắc lại từ đó bằng giọng nói nghe như tiếng kêu “gộp gộp” của những con gà tây.
“Gộp gộp ư?”, tù nhân có dáng người thấp đậm hỏi.
“Đó là cái cách họ nói chuyện”, tù nhân có dáng người cao nói. “Gộp gộp, đôm đốp, quang quác.” Và hắn ngồi đó quan sát họ nói chuyện với nhau, hết nói chuyện lại nhìn hắn, rồi họ lùi lại và người đàn ông có giọng nói ôn tồn (ông ta đeo một dải băng của Hội Chữ thập đỏ) bước tới, theo sau là một người phục vụ với khay thức ăn trên tay. Người đàn ông nhấc hai ly whiskey khỏi khay.
“Uống đi”, người đàn ông có giọng ôn tồn nói. “Cái này sẽ làm người ấm lên.” Người đàn bà cầm lấy ly rượu, không chần chừ, uống liền, nhưng người tù kể lại rằng lúc đó hắn nhìn ly rượu của mình và nghĩ, Đã bảy năm rồi mình chưa được nếm một giọt whiskey nào. Hắn không được nếm một giọt whiskey nào trong bảy năm và trước đó hắn mới chỉ được uống thứ rượu đó duy nhất một lần; năm mười bảy tuổi, hắn đi chơi với bốn người bạn, hai trong số đó đã ở tuổi trưởng thành, một người khoảng hai mươi hai, hai mươi ba, người kia tầm bốn mươi; hắn nhớ như vậy. Hắn nhớ hình như mình đã uống ba ly trong buổi tối hôm đó - một cảnh hỗn loạn xảy ra trong ánh lửa, những cú đấm gây choáng váng dội xuống đầu hắn (và những cú đấm của chính hắn thụi vào xương cốt rắn câng của người khác), sau đó hắn tỉnh dậy trước một bình minh nứt nẻ và vầng mặt trời gây chói mắt ở một cái chuồng bò mà trước đó hắn chưa bao giờ thấy và là nơi mà sau đó hắn biết rằng cách nhà hắn những hai mươi dặm. Hắn kể rằng hắn nhớ lại cảnh đó rồi nhìn ba khuôn mặt đang dõi mắt vào mình và nói:
“Tôi nghĩ rằng tôi sẽ uống.”
“Uống đi”, người đàn ông có giọng nói ôn tồn bảo hắn.
“Uống đi.”
“Tôi không muốn uống.”
“Đừng ngốc thế”, người đàn ông kia nói. “Tôi là bác sĩ. Đây. Vậy thì anh ăn đi.” Vậy là hắn cầm ly rượu và thậm chí khi đã cầm ly rượu trên tay rồi, hắn vẫn lưỡng lự chưa uống, nhưng người đàn ông kia lại nói: “Uống đi, uống hết đi; anh vẫn giấu chúng tôi chuyện gì đó” bằng giọng nói nghe vẫn ôn tồn và thông cảm nhưng cũng bắt đầu có vị gay gắt - giọng của một người đàn ông có thể giữ bình tĩnh và lịch thiệp vì không quen nổi cáu; hắn uống rượu whiskey và thậm chí trong những giây phút giữa cơn nóng ấm ngọt ngào dâng lên trong bụng và bắt đầu uống, hắn vẫn cố nói: “Tôi đã cố nói cho các ông biết chuyện! Tôi đã cố nói chứ không phải không!”. Nhưng đã quá muộn trong ánh mặt trời vàng vọt của ngày thứ mười sống trong nỗi kinh hoàng, tuyệt vọng, chán nản, bất lực, uất ức và cơn phẫn nộ, hắn nghĩ hắn cùng con la của mình đang ở đây (họ cho phép hắn đặt tên cho con la - John Henry), con vật mà không ai khác ngoài hắn đã sử dụng để cày ruộng trong năm năm, con vật mà từ tính cách đến thói quen hắn đều thuộc như lòng bàn tay và tôn trọng nó, nó cũng hiểu rõ tính tình và thói quen của hắn đến nỗi người và la có thể đoán được các hành động và ý định của nhau; phải, chính hắn và con la đang ở đây, những khuôn mặt phát ra tiếng lạ tai đang chập chờn trước mặt hắn, những bộ xương sọ rắn câng, quen thuộc rung lên trước nắm đấm của hắn, và hắn gào lên: “Nào John Henry!
Cày cho bọn chúng ngã ráo cả đi! Đốn ngã bọn chúng đi!” khi con sóng đỏ nóng ấm và sặc sỡ quay trở lại, ập tới một cách hân hoan, vui mừng, dâng lên rồi treo lơ lửng sau đó đổ nhào xuống qua không gian, đắc thắng và ồn ào, sau đó những cú đấm gây choáng váng lại giáng xuống đầu hắn: Hắn nằm ngửa trên boong tàu, tay chân như bị ghìm chặt và khi tỉnh lại, hắn thấy mình lại bị chảy máu mũi, còn người đàn ông có giọng nói ôn tồn thì đang cúi xuống nhìn hắn qua lớp kính mắt mỏng dính và hắn bắt gặp đôi mắt lạnh lùng nhất mình từng thấy - đôi mắt mà hắn kể lại là “không nhìn hắn, chỉ nhìn vào dòng máu đang tuôn ra mà chẳng hề thể hiện gì khác ngoài sự vô cảm”.
“Gớm thật đấy”, người đàn ông có giọng nói ôn tồn lên tiếng. “Có thừa sự sống trong một cái xác, đúng không? Thừa cả máu tươi nữa. Đã có ai từng bảo anh rằng anh mắc chứng máu khó đông chưa?” (“Gì cơ?”, người tù có dáng người thấp đậm hỏi. “Chứng máu khó đông ư? Anh biết như thế có nghĩa là gì không?” Người tù có dáng người cao giờ đây đang gập người hút thuốc theo kiểu nhét mình vào không gian chật hẹp giữa chiếc giường tầng trên và giường tầng dưới, nghiêng người bất động khi làn khói thuốc màu xanh lam cuộn thành vòng tròn phía trước khuôn mặt đen đúa xương xẩu đã được cạo râu và rửa sạch sẽ của hắn. “À, thì ra cái lão đó vừa là con bê, vừa là con trâu, vừa là con bò cơ đấy.”
“Không phải”, người tù thứ ba nói, “là một con bê hoặc một con ngựa non hoặc chẳng là con gì trong hai con đó”. “Trời đánh thánh vật”, tù nhân có dáng người thấp đậm nói. “Ông ta chắc hẳn phải là một trong hai con vật đó mới không bị chết đuối chứ.” Gã vẫn không rời mắt khỏi tù nhân có dáng người cao; giờ đây gã lại cất tiếng hỏi người bạn tù của mình: “Anh để cho ông ta nói với anh như vậy sao?”.) Đúng là tù nhân có dáng người cao đã để cho ông bác sĩ ở trên con tàu đó nói với mình như vậy. Hắn không trả lời ông ta (đó là lúc hắn thôi không nghĩ ông ta là một con người ân cần, ôn tồn nữa). Hắn thậm chí không thể cử động, mặc dù cảm thấy khỏe và khá hơn so với mười ngày trước đó. Vậy là họ giúp hắn đứng dậy, dìu hắn đi rồi đỡ hắn ngồi xuống bên cạnh người đàn bà trên chiếc thuyền đã được úp xuống, và hắn ngồi đó, hơi cúi người về phía trước, để khuỷu tay trên đầu gối như vẫn thường ngồi, nhìn đám máu đỏ tươi của mình làm vấy bẩn sàn tàu vốn đã loang lổ bùn đất cho đến khi bàn tay sạch sẽ của ông bác sĩ xuất hiện phía bên dưới mũi hắn cùng với một cái lọ.
“Ngửi cái này đi”, ông bác sĩ nói. “Hít sâu vào.” Người tù hít vào, mùi a-mô-ni-ắc rất gắt như thể đang thiêu đốt lỗ mũi hắn, xộc xuống tận cổ họng hắn. “Hít nữa đi”, ông bác sĩ nói. Người tù lại hít một cách ngoan ngoãn. Lần này hắn thở ngắc ngứ và khạc ra một cục máu, rồi không còn cảm thấy lỗ mũi mình ngắn như cái móng chân nữa mà dài bằng một cái xẻng mười inch, lạnh toát.
“Mong ông thứ lỗi cho tôi”, hắn nói. “Tôi quả thực không có ý...”
“Tại sao?”, ông bác sĩ nói. “Anh địch được bốn mươi, năm mươi người. Anh đã trụ được trong hai giây. Bây giờ anh có thể ăn chút gì đó. Hay anh nghĩ thức ăn sẽ lại khiến anh gặp rắc rối hả?”
Hắn cùng người đàn bà ngồi ăn trên chiếc thuyền đã được úp xuống, và những khuôn mặt phát ra tiếng nói lạ tai không còn nhìn họ nữa; hắn gặm chiếc bánh sandwich dày cộp một cách chậm chạp và khó khăn trong tư thế khom lưng, mặt hơi nghiêng sang phía có thức ăn giống như một con chó đang nhai thức ăn; con tàu vẫn không ngừng rẽ sóng. Bữa trưa có xúp nóng, bánh mỳ và cà phê; họ lại ăn, ngồi cạnh nhau trên con thuyền bị lật úp, đầu sợi dây leo dùng để buộc thuyền vẫn được quấn quanh cổ tay của người tù. Đứa trẻ mới sinh thức giấc, bú mẹ rồi lại ngủ tiếp và họ nói chuyện với nhau bằng giọng khe khẽ:
“Ông ta nói họ đang đưa chúng ta tới Parchman, đúng không?”
“Tôi bảo với ông ta rằng mình muốn đến đó.”
“Theo như tôi nghe được thì hình như không phải là Parchman. Ông ta nói đến một nơi khác cơ.” Quả thực người tù cũng đã nghĩ như vậy. Hắn nghĩ về điều đó một cách khách quan và tỉnh táo khi hắn và người đàn bà bước lên tàu và suy nghĩ một cách thực sự nghiêm túc kể từ lúc hắn nhận ra chủng tộc của những hành khách khác - những người đàn ông và đàn bà thấp bé hơn hắn, có nước da đen khác với nước da rám nắng, mặc dù hắn chưa từng nghe thấy ngôn ngữ của họ và họ cũng chẳng hiểu tiếng mẹ đẻ của hắn, những người hắn chưa từng nhìn thấy ở Parchman hay ở bất cứ nơi nào khác và không tin rằng họ đang đi tới hoặc đi ngang qua vùng đó. Nhưng với kiểu hành xử của người nhà quê và với tính cách của mình, hắn không hỏi, bởi mở miệng hỏi thông tin trong trường hợp đó đối với hắn nghĩa là xin người ta ban ơn cho mình (mà thường thì ai lại đi xin những người lạ ban ơn cho mình chứ); nếu họ tự nguyện ban ơn cho anh thì anh nhận và bày tỏ lòng biết hơn thôi, chứ không xin. Vậy nên hắn chỉ ngồi nhìn và đợi như trước, làm hoặc cố gắng làm những gì tốt nhất trong khả năng của mình.
Vậy là hắn đợi, và vào giữa trưa con tàu phát ra những tiếng phì phì, đi vào một hẻm núi, và khi nó đi qua hẻm núi đó, người tù biết rằng đó là Sông. Bây giờ thì hắn có thể tin đó là Sông - con sông lớn, nước màu vàng, nằm im lìm giữa trưa vắng (“Bởi vì nó quá lớn”, hắn kể lại bằng giọng nghiêm túc. “Không có trận lụt nào trên thế giới đủ lớn để có thể làm gì con sông ấy ngoài việc đưa nó lên một vị trí cao hơn để nó có thể nhìn về phía sau và thấy một con bọ chét đang ở chỗ nào cũng như biết chính xác chỗ để gãi. Đó là các nhánh sông nhỏ, những con lạch hôm nay chảy ngược, ngày mai chảy xuôi và dồn về phía người đi trên sông cơ man nào là những con la chết, những chuồng gà.”), và con tàu di chuyển về phía dòng sông ấy (giống một con kiến bò trên cái đĩa, người tù nghĩ khi ngồi bên cạnh người đàn bà trên chiếc thuyền đã được úp xuống trong lúc đứa trẻ bú mẹ dường như cũng phóng tầm mắt nhìn ra sông nơi cách đó chừng một dặm có hai dải đê giống hai sợi chỉ song song không bị đứt gãy, không có mối nối nổi trên mặt nước); lúc đó hoàng hôn sắp buông xuống và hắn bắt đầu nghe cũng như nhận thấy giọng nói của ông bác sĩ cùng người đàn ông đầu tiên nói chuyện với hắn bằng loa phóng thanh cũng đang nói oang oang qua loa phóng thanh trong buồng lái.
“Dừng lại ư? Dừng lại sao? Các anh tưởng tôi đang lái ô tô trên đường phố hả?”
“Hãy dừng lại vì những người mới lên tàu này”, giọng nói dễ nghe của ông bác sĩ vang lên. “Tôi không biết anh đã thực hiện bao nhiêu chuyến đi từ chỗ này đến chỗ khác, mửa ra bao nhiêu sinh vật anh gọi là chuột xạ. Nhưng đây là lần đầu tiên anh có hai người, à không, ba người - những người không chỉ biết tên của cái nơi họ muốn đến mà còn thực sự cố gắng đến đó.” Vậy là người tù đợi trong khi mặt trời chiếu những tia nắng xiên nghiêng, còn chiếc tàu như con kiến bò một cách kiên định ngang qua cái đĩa khổng lồ trống không mỗi lúc một đậm màu đồng thau ấy. Nhưng hắn không mở miệng hỏi mà chỉ ngồi đợi. Có lẽ nơi ông ta nói tới là Carrollton, hắn nghĩ. Rõ ràng cái tên ông ta nói bắt đầu bằng chữ C kia mà. Nhưng hắn lại cũng chẳng tin điều mình vừa nghĩ. Hắn không biết mình đang ở đâu, nhưng biết đây không phải là bất cứ nơi nào gần Carrollton - địa danh hắn còn nhớ từ bảy năm trước khi tay hắn bị còng với tay của cảnh sát trưởng và hắn được đưa qua vùng đó bằng tàu hỏa - nơi mà thỉnh thoảng tại các điểm giao nhau giữa hai tuyến đường sắt lại có những chiếc xe tải phát ra tiếng rầm rầm, có các ngôi nhà màu trắng nằm rải rác trong sự yên bình giữa những bóng cây trên các ngọn đồi xanh tốt của mùa hè, có một ngọn tháp nhọn như ngón tay của Chúa. Nhưng nơi đó tuyệt nhiên chẳng có con sông nào. Tôi không quan tâm anh là ai, anh đã ở đâu trong suốt cuộc đời. Nhưng không thể có chuyện anh từng đến gần con sông này mà lại không biết, hắn nghĩ. Sau đó đầu tàu bắt đầu lắc lư và rẽ về phía bên kia dòng sông, cái bóng của nó cũng lắc lư và con tàu chạy về phía dải đất hẹp đầy những cây liễu, vắng tanh vắng ngắt. Chẳng có gì ở đó hết, người tù thậm chí không nhìn thấy đất hoặc nước ở phía bên kia cái cù lao đầy liễu ấy; cứ như thể con tàu sắp sửa từ từ đâm xuyên một rào chắn được những cây liễu mỏng manh tạo thành và lao vào không gian, hoặc nếu không, nó sẽ quay đầu rồi chầm chậm thả hắn vào khoảng không, cứ cho là nó chuẩn bị thả hắn lên bờ, giả dụ đó là nơi không gần Parchman mà cũng chẳng phải Carrollton, mặc dù tên của nó cũng bắt đầu bằng chữ C. Rồi hắn quay đầu lại và thấy ông bác sĩ đang cúi xuống người đàn bà, dùng ngón tay trỏ vén mí mắt của đứa trẻ sơ sinh, quan sát nó một cách chăm chú.
“Khi đứa bé này ra đời có ai khác ở bên cạnh cô không?”, ông bác sĩ hỏi.
“Không có ai cả”, người tù nói.
“Anh đã tự làm tất cả sao?”
“Đúng vậy”, người tù đáp. Ông ta đứng thẳng người lên và nhìn người tù.
“Đây là Carnarvon”, ông ta nói.
“Carnarvon ư?”, người tù hỏi. “Đây không phải là...” Rồi hắn ngừng lời, bỏ lửng câu nói. Và bây giờ hắn kể lại chi tiết này - đôi mắt của ông bác sĩ nhìn chằm chằm, vô cảm như băng lạnh phía sau cặp kính, khuôn mặt triệt tiêu vẻ cáu kỉnh một cách đột ngột và nhanh chóng - một khuôn mặt không quen bị người khác làm cho nổi cáu hay lừa gạt. (“Đúng vậy”, tù nhân có dáng người thấp đậm nói. “Đó chính là những gì tôi định hỏi đấy. Quần áo tù. Bất cứ ai cũng có thể nhận ra anh là một thằng tù. Nếu ông bác sĩ thông minh như anh nói thì ông ta...”
“Tôi đã mặc bộ quần áo ấy suốt mười ngày đêm, hầu hết ngủ trong bùn”, tù nhân có dáng người cao nói. “Tôi đã chèo thuyền đi từ lúc nửa đêm với cái mái chèo bằng thân cây được cố tạo ra bằng cách đốt qua lửa và không có thời gian để cạo lớp bồ hóng bám trên đó đi. Nhưng trong bộ quần áo đó, tôi đã liên tiếp sống qua sợ hãi lẫn lo lắng trong nhiều ngày nên trông nó không còn giống quần áo tù nữa. Tôi muốn nói là trong hoàn cảnh đó không chỉ cái quần của anh thay đổi đâu.” Hắn không cười. “Gương mặt của anh cũng chẳng còn giống như trước nữa. Ông bác sĩ đó đã phân biệt được và vẫn nhận ra.”
“Được rồi”, tù nhân có dáng người thấp đậm nói. “Anh kể tiếp đi.”)
“Tôi biết”, ông bác sĩ nói. “Tôi đã phát hiện ra điều đó khi anh tỉnh lại trên sàn tàu đằng kia. Đừng có hòng lừa dối tôi. Tôi không ưa sự dối trá. Con tàu này đang đi tới New Orleans.”
“Không”, ngay lập tức người tù thốt ra tiếng nói chung cuộc một cách không ồn ào. Bây giờ hắn lại nghe thấy âm thanh đó - những tiếng lục bục trên mặt nước như hắn đã từng nghe thấy. Nhưng hắn không nghĩ đó là tiếng đạn bắn. Hắn đã quên và tha thứ cho những viên đạn đó rồi. Hắn đang nghĩ đến cái cảnh hắn né núp, khóc nức nở, thở hổn hển trước khi chạy - giọng nói, bản cáo trạng, tiếng thét của sự bác bỏ không thể thay đổi của công cụ vận hành xảo trá từ bản chất cố hữu của tính tham lam, điên rồ và bất công: Tất cả những gì tôi muốn trên đời này chỉ là đầu hàng; hắn nghĩ đến câu đó, nhớ lại nó nhưng không phải bằng cơn phẫn nộ sôi sục, thiêu đốt và bây giờ những gì hắn muốn nói thậm chí ngắn hơn một văn bia: Không. Tôi đã cố nói với họ. Họ đã bắn tôi.
“Vậy là anh không muốn đến New Orleans. Và chính xác anh không định đến Carnarvon. Nhưng anh sẽ chọn Carnarvon hơn là New Orleans.” Người tù lặng thinh. Ông bác sĩ nhìn hắn, đôi tròng mắt được phóng đại trông giống như đầu của hai cái ốc vít to tướng. “Anh bị bỏ tù vì tội gì? Đánh người mạnh tay hơn anh nghĩ chăng?”
“Không. Tôi phạm tội ăn cắp trên tàu hỏa.”
“Nói lại tôi nghe xem nào.” Người tù nhắc lại điều mình vừa nói. “Vậy ư? Kể tiếp đi. Không phải anh đang nói chuyện xảy ra vào năm 1927 đấy chứ, khoan đã.” Vậy là người tù kể bằng giọng bình thản về những tờ tạp chí, khẩu súng lục không thể nhả đạn, chiếc mặt nạ và cái đèn xách tay đen xì mà trong đó chẳng có chỗ nào dành cho bấc đèn và ngọn lửa gần như tắt ngay khi que diêm cháy hết nhưng vẫn làm nóng kim loại đến mức không thể cầm nổi mà hắn tích cóp được cho vụ cướp tàu hỏa. Chỉ có điều ông ta không nhìn vào mắt mình, cũng chẳng thèm nhìn miệng mình nói, hắn nghĩ. Dường như ông ta đang nhìn xem cái cách tóc trên đầu mình mọc như thế nào. “Tôi hiểu”, ông bác sĩ nói. “Nhưng có điều gì đó không ổn. Nhưng anh có thừa thời gian để tính toán cơ mà. Để quyết định cái gì không ổn, cái gì anh không thể làm được cơ mà.”
“Đúng vậy”, người tù nói. “Tôi đã suy nghĩ và tính toán chuyện đó khá kỹ.”
“Vậy lần sau anh sẽ thực hiện kế hoạch một cách hoàn hảo.”
“Tôi không biết”, người tù nói. “Sẽ chẳng có lần sau đâu.” “Tại sao? Nếu anh biết kế hoạch của mình không ổn ở chỗ nào, thì lần tới họ sẽ không tóm được anh đâu.”
Người tù nhìn ông bác sĩ trân trân. Họ cùng nhìn nhau không chớp. “Tôi nghĩ rằng tôi hiểu ý ông”, người tù nói. “Khi đó tôi mười tám tuổi. Bây giờ tôi đã hai mươi lăm rồi.”
“Ồ”, ông bác sĩ nói. Giờ đây (người tù cố kể lại chi tiết đó) ông bác sĩ vẫn chẳng nhúc nhích, chỉ thôi không nhìn người tù nữa. Ông ta lấy từ trong túi áo khoác ra một bao thuốc lá loại rẻ tiền. “Làm một điếu chứ?”, ông ta mời.
“Với tôi không hút cũng chẳng sao cả”, người tù nói. “Nhất trí”, ông bác sĩ nói bằng giọng hòa nhã. Ông ta cất bao thuốc đi. “Giới chúng tôi (giới hành nghề y) được trao cho cái quyền thít chặt hoặc nới lỏng bởi, nếu không phải Đức Chúa Trời, thì bởi Hiệp hội Y khoa Mỹ, cái quyền mà theo đó, trong ngày này của Đấng Sáng Tạo, tôi sẽ sử dụng tiền của mình với bất cứ tỉ lệ nào, số lượng bao nhiêu, vào bất cứ lúc nào. Tôi không biết trong dịp này giới hạn của mình là bao nhiêu và có được phép đi quá xa hay không, nhưng tôi nghĩ chúng ta sẽ liều một phen.” Ông ta khum tay làm loa hướng về phía buồng lái. “Thuyền trưởng!”, ông ta gọi to. “Chúng ta sẽ để ba hành khách này lên bờ ở đây.” Ông ta quay về phía người tù. “Đúng”, ông ta nói, “tôi nghĩ tôi sẽ để đất mẹ của anh liếm bãi nôn của nó. Đây”. Một lần nữa ông ta lại rút bàn tay ra khỏi túi áo cùng với một tờ bạc.
“Không”, người tù nói.
“Thôi nào, cầm lấy đi; tôi cũng không thích người khác tranh luận với mình đâu.”
“Không”, người tù nói. “Nếu cầm tiền của ông, thì tôi chẳng có cách nào gửi trả lại ông cả.”
“Tôi bắt anh phải trả lại sao?”
“Không”, người tù nói. “Tôi cũng không hề vay mượn ông.”
Vậy là một lần nữa hắn đứng trên đất khô, sau hai lần bị đùa giỡn bởi sức mạnh tập trung và nực cười của nước, thêm một lần nữa hắn ngã xuống mảnh đất mà hắn không biết của ai, thuộc thời nào. Hắn và người đàn bà, đứng trên bờ đê vắng tanh với đứa trẻ đang ngủ im thin thít được bọc trong chiếc áo dài bạc phếch và cái dây leo được dùng làm dây buộc thuyền vẫn được quấn quanh cổ tay hắn, nhìn con tàu quay đầu và từ từ tiến ra vùng nước vắng ngắt đang mỗi lúc một vàng sẫm hơn trong hoàng hôn, trông như con kiến bò trên đĩa, để lại một cái đuôi bằng khói chầm chậm lan ra làm hoen ố mặt nước, mỏng dần mỏng dần, mờ dần mờ dần, rồi tan biến trong không gian hoang vắng, con tàu cũng nhỏ dần nhỏ dần cho tới khi nó dường như không bò nữa mà treo mình ở yên một chỗ trong hoàng hôn phi vật chất, đang tan vào hư không tựa một viên đạn bằng bùn tan trên mặt nước.
Sau đó hắn quay đầu lại và lần đầu tiên kể từ khi đặt chân lên đó, hắn nhìn về phía sau, lùi lại, không phải vì sợ hãi mà đơn giản chỉ là phản xạ - không phải của thể xác mà của tâm hồn, của tinh thần, sự chú ý có tính cảnh giác và rất tỉnh táo của người vùng núi - người sẽ không hỏi kẻ lạ bất cứ điều gì, thậm chí cả thông tin, người mà bụng bảo dạ rằng, Không. Đây cũng không phải là Carrollton. Bởi vì giờ đây qua con dốc gần như dựng đứng của cái đập chắn cao tới gần sáu mươi feet so với mặt nước, hắn nhìn xuống một vùng đất bằng phẳng và có màu như một chiếc bánh quế, có lẽ là màu của tấm áo mùa hè trên lớp da màu da ngựa của đất và cũng sở hữu sự rậm rạp của một tấm thảm hoặc một tấm da còn nguyên lông, trải ra xa xa, không hề có gợn sóng nhưng vẫn toát lên vẻ vững chãi không thể đo được như chất lỏng được điểm xuyết bởi những cái gò mang màu xanh chàm tựa hồ không có độ cao và các mạch màu ngoằn ngoèo, xoắn vặn mà bằng sự đánh giá thậm chí vẫn dè dặt ngay cả khi hắn đã bắt đầu bước đi trên đó và nghi là nước. Hắn kể lại: Vậy là hắn và người đàn bà bước đi. Hắn không kể làm thế nào mà hắn một thân một mình lại có thể đưa được cái thuyền qua bức tường chắn của đập nước và mang nó xuống cái dốc cao sáu mươi feet, chỉ kể rằng hắn đi trong một đám mây những con muỗi như những cục than cháy dở, lúc thì xô mạnh, lúc thì đâm nháo nhào qua các đám cỏ như lưỡi cưa mọc cao hơn đầu hắn; hắn bị những lá cỏ như lưỡi dao mỏng quất vào cánh tay và mặt trong lúc vừa đi vừa dùng sợi dây leo kéo chiếc thuyền có người đàn bà ngồi trong, bước một cách vất vả và loạng choạng trên địa hình ít đất hơn nước, rồi di chuyển dọc theo một con kênh uốn lượn: Giờ đây, hắn đang chèo thuyền bằng khúc gỗ nhem nhuốc bồ hóng (ba mươi phút trước, đất dưới chân bỗng nhiên biến mất mà không hề báo trước khiến hắn chới với trong nước, cái lưng áo đầy không khí của hắn phồng lên như một quả kinh khí cầu trên mặt nước đục ngầu cho tới khi hắn ngoi lên rồi lóp ngóp bò vào trong thuyền) và một căn nhà, mà không, một căn lều nhỏ hơn toa xe chở ngựa được ghép bằng các tấm gỗ bách và lợp mái tôn, hiện ra chênh vênh trên những cái cột cao mười feet khẳng khiu như chân nhện, tựa một sinh vật lội nước tiều tụy (và có khả năng có nọc độc), bị bỏ mặc cho đến chết giữa một vùng hoang vắng, không có một chỗ nào trong tầm mắt để tìm đến mà nằm xuống, một con thuyền độc mộc được buộc vào chân của cái thang được làm sơ sài, một người đàn ông đứng ở ô cửa mở thông thống cầm một cái đèn (bây giờ trời đã tối) giơ cao quá đầu, nói bằng thứ tiếng gì đó họ nghe không hiểu.
Người tù kể lại chuyện về tám, chín, mười ngày sau đó, hắn không nhớ chính xác, trong khi bốn người bọn họ - hắn, người đàn bà, đứa bé mới sinh, và người đàn ông trông nhỏ con, dẻo dai có những chiếc răng sâu và đôi mắt sáng hoang dại như một con chuột hoặc một con sóc chuột nói thứ tiếng mà cả hẳn lẫn người đàn bà đều không hiểu - sống trong căn lều chỉ có một gian cùng một cái chái nhỏ hẹp. Hắn chỉ kể qua loa, cũng giống lúc trước, hắn dường như cho rằng không đáng tốn hơi sức để kể chi tiết làm thế nào mà hắn, một thân một mình, có thể đưa được chiếc thuyền xuống cái dốc cao sáu mươi feet. Hắn chỉ nói: “Một lúc sau chúng tôi đến được căn nhà ấy và ở lại đó tám, chín đêm, sau đó buộc phải rời đi vì họ cho phá con đập bằng thuốc nổ”. Hẳn chỉ kể sơ sơ như vậy thôi. Nhưng giờ đây, với điếu thuốc lá mà ông giám đốc trại đã đưa cho hắn bằng bàn tay kiên định và bình thản (mặc dù hắn chưa hút) trên tay, hắn nhớ lại những gì mình đã trải qua về buổi sáng đầu tiên thức dậy trên một tấm nệm rơm mỏng bên cạnh chủ nhà (người đàn bà và đứa trẻ ngủ trên giường), khi mặt trời chói chang chiếu qua khe của bức tường ghép bằng những tấm ván, và đứng ở cái cửa lều xập xệ đưa mắt nhìn ra vùng hoang vắng phì nhiêu chẳng phải là đất cũng không hẳn là nước - nơi mà ngay cả các giác quan cũng ám sự hồ nghi, và nghĩ thầm, Anh ta chắc chắn phải làm gì đó ở đây để ăn và sống chứ. Nhưng mình chịu không biết anh ta làm gì nữa. Cho đến khi có thể đi tiếp cũng như xác định được mình đang ở đâu và tìm được cách đi qua thành phố đó mà không bị người ta nhìn thấy, mình sẽ phải giúp anh ta làm cái việc anh ta làm để có cái mà ăn và tồn tại, nhưng mình chẳng biết việc đó là gì. Và hắn đã được thay đồ, gần như ngay trong buổi sáng đầu tiên ấy; cũng giống như hắn không kể làm thế nào hắn đưa được thuyền qua cái dốc của đập chắn, giờ đây hắn cũng không nói chi tiết về cách hỏi xin hoặc mượn được từ người đàn ông - người mà mười hai tiếng đồng hồ trước mới gặp lần đầu và cho đến tận lần gần đây nhất nhìn thấy ông ta, hắn vẫn không thể trao đổi một lời nào - một chiếc quần bằng vải trúc bâu mà ngay đến cái gã người Cajun [1] đó chắc hẳn cũng đã bỏ không mặc nữa vì nó không còn đáng để mặc - quá bẩn thỉu, không có cúc, ống quần thì đã sờn rách, te tua như một cái võng của năm 1890; hắn mặc quần và để trần từ thắt lưng trở lên rồi đưa bộ quần áo tù nhọ nhem, đầy bùn đất dính két lại cho người đàn bà khi cô ta thức dậy vào buổi sáng đầu tiên trên chiếc giường sơ sài được đóng đinh vào một góc lều và nệm bằng cỏ khô, và nói: “Giặt chúng đi. Tôi muốn chúng được giặt sạch. Tất cả”.
“Nhưng cái quần kia”, cô ta nói. “Anh ta không còn cái áo cũ nào nữa ư? Trời thì nắng và ở đây nhiều muỗi như thế này...” Hắn thậm chí không trả lời và người đàn bà chẳng nói thêm gì nữa, mặc dù khi hắn và gã người Cajun kia trở về vào lúc sẩm tối, quần áo của hắn đã được giặt, dẫu vẫn còn lờ mờ vết bùn và bồ hóng, nhưng cũng khá sạch và trông lại giống như vốn có (cánh tay và lưng hắn đã đỏ ửng và chắc chắn ngày hôm sau sẽ phồng rộp); hắn trải bộ quần áo ra, ngắm nghía rồi cuộn chúng lại cẩn thận như cách người ta cuộn một tờ báo New Orleans cũ rích rồi nhét chúng lên một thanh xà gồ; và khi trên lưng hắn nổi lên những vết phồng rộp mưng mủ, hắn ngồi với khuôn mặt chẳng rõ vui hay buồn như một cái mặt nạ bằng gỗ trong khi chủ nhà bôi lên lưng hắn thứ chất lỏng sền sệt được lấy từ một cái chảo cáu bẩn và để trong một miếng giẻ rách bẩn thỉu, người đàn bà vẫn không nói gì bởi chắc chắn cô ta biết lý do của hắn, không phải nhờ sự gắn bó mà họ có được trong hai tuần trải qua những khủng hoảng về mặt cảm xúc, xã hội và kinh tế, thậm chí đạo đức - những cơn khủng hoảng thậm chí hiếm khi xảy ra ngay cả trong các cuộc hôn nhân bình thường kéo dài năm mươi năm (những cuộc hôn nhân lâu năm: Các anh có thể theo dõi chúng - sự lặp lại hoặc mô phỏng cả nghìn khuôn mặt của các cặp uyên ương mới thấy một chiếc khuy rời hoặc khăn chéo của Louisa Alcott [2] để biểu thị tình dục, thấy các cặp vợ chồng chẳng khác gì những con chó săn đeo băng chiến thắng sau một cuộc thi thể hiện khả năng trong thực tế giữa cơ man nào là sự thất bại, cảnh báo, đảm bảo thiếu cơ sở vững chắc, niềm hy vọng, sự thiếu nhạy cảm đến mức không thể tin được và sự cách ly khỏi tương lai được dựng lên bởi cả nghìn tô đường hoặc những ấm cà phê buổi sáng; hay đơn giản, ngồi trên ghế xích đu trước cửa nhà hoặc sưởi nắng dưới những vòm cổng ám khói thuốc lá của cả nghìn trụ sở tòa án quận, cứ như thể cái chết của người được thừa hưởng sự hồi xuân và vĩnh hằng sẽ khiến người còn sống vui vẻ trở lại sau một giai đoạn buồn khổ để sống mãi mãi, cứ như thể xác thịt đã được các nghi thức lâu đời thanh tẩy và hợp pháp hóa những thói quen chán ngắt lâu dài về mặt đạo đức để người đàn ông hoặc người đàn bà về với đất trước đã mang theo mình tất tần tật mọi thứ, chỉ để lại bộ xương tự do tồn tại cùng thời gian, chẳng vướng víu gì), mà vì cô ta cũng thuộc hạng người mà hắn đại diện và có hoàn cảnh ít nhiều tương đồng với mình.
Vậy là cái cuộn quần áo ấy nằm yên phía sau thanh xà gồ và trong những ngày sau đó, ngày nào cũng như ngày nào, hắn cùng người bạn hợp tác làm ăn (hắn và chủ nhà đã trở thành đối tác lao động, cùng đi săn cá sấu theo kiểu ăn đều kêu sòng - hắn gọi như vậy. “Ăn đều kêu sòng ư?”, tù nhân có dáng người thấp đậm hỏi. “Làm thế nào anh có thể thỏa thuận được khi hợp tác với một người mà anh không thể nói chuyện?”; “Tôi chưa bao giờ nói chuyện với anh ta”, tù nhân có dáng người cao nói. “Tiền chỉ có một ngôn ngữ mà thôi.”) cũng ra khỏi nhà vào lúc bình minh, lúc đầu đi cùng nhau trên thuyền độc mộc nhưng sau đó tách riêng - người này đi bằng thuyền độc mộc, người kia đi bằng thuyền của mình, một người dùng súng và một sợi dây thừng được thắt thành thòng lọng còn một người dùng dao cùng cây gậy tày bằng gỗ với trọng lượng và hình dạng của một cây quyền trượng - lặng lẽ lần theo cơn ác mộng của mình, di chuyển lên xuống dọc các con kênh đen sẫm bí ẩn làm méo mó, vẹo vọ cả một vùng bằng phẳng mang màu đồng thau. Hắn nhớ cả chuyện này: Buổi sáng đầu tiên bước từ cái sàn ọp ẹp ra không gian bên ngoài tràn ngập ánh mặt trời, hắn nhìn thấy tấm da sống được đóng đinh trên tường để phơi khô và đứng ngây người nhìn nó trong im lặng, bụng bảo dạ, Thì ra là vậy đấy. Đây là cách anh ta kiếm sống đấy, biết rõ đó là một tấm da thú, nhưng bằng cả sự liên tưởng, khả năng suy luận, thậm chí vận dụng cả trí nhớ về những bức tranh mình từng thấy vào thời trẻ đã qua, hắn vẫn không thể biết đó là da của con vật gì, chỉ biết đó là lý do, là lời giải thích vì sao căn nhà nhỏ đứng bằng những cái cột khẳng khiu như chân nhện tồi tàn này (căn nhà đã bắt đầu xuống cấp và mục nát từ chân lên gần như trước khi mái nhà được đóng đinh) lại được dựng lên ở cái nơi thừa mứa sự hoang vắng đến vậy, được bao quanh và mất hút giữa cái ôm xiết dữ dội của đất phẳng trơn trôi với ánh mặt trời rực rỡ; và sở dĩ hắn đoán biết được lý do là nhờ mối quan hệ dựa trên sự đồng cảm tự nhiên giữa kẻ sinh ra bị cuộc đời hắt hủi với một người sống lủi thủi ở vùng sông nước mênh mông, nhờ sự hòa hợp và đồng nhất vì cùng phải chịu tính nóng nảy, bủn xỉn và cay nghiệt của số phận và họ đều có tinh thần cố gắng không ngừng - chẳng phải để đạt được sự an toàn trong tương lai, sự ổn định về tài chính, hay đơn giản là để có được một hộp soda dự trữ cho tuổi già ung dung và nhàn tản, mà đơn giản chỉ để được phép chịu đựng và chịu đựng được để cảm thấy mình còn thở, để thỉnh thoảng được uống ánh mặt trời, (người tù) nghĩ bụng, Hừm, thế nào rồi mình cũng sớm khám phá ra đó là da con vật gì thôi mà và để thực hiện điều đó, hắn quay trở vào trong nhà nơi người đàn bà vừa mới thức dậy trên chiếc giường lót rơm mà gã người Cajun đã nhường cho cô ta, và đang ăn sáng (bữa ăn gồm cơm, một chút thức ăn sột sệt trộn hồ tiêu và đậm mùi cá tanh, cà phê được chế từ rễ rau diếp xoăn trộn) rồi một lát sau, vẫn ở trần, hắn đi theo người đàn ông có những chiếc răng sâu và đôi mắt sáng leo xuống các bậc thang để ngồi trên con thuyền độc mộc. Trước khi tới đây, hắn chưa từng nhìn thấy thuyền độc mộc và tin rằng một chiếc thuyền độc mộc chắc hẳn không phải sẽ luôn ở tư thế thẳng đứng, cũng không tin nó rất nhẹ và có thể giữ thăng bằng với một mặt hở phía trên, nhưng ở chất liệu gỗ, dù là gỗ gì, cũng có thuộc tính tự nhiên về động lực gần như là ý chí và có sẵn trong mình cả sự dữ dội lẫn giận dữ; tuy nhiên, cũng như hắn đã chấp nhận thực tế rằng tấm da kia là của một con thú lớn hơn bất cứ con bê hay con lợn thiến nào và dù đó là da của con vật gì chăng nữa thì cũng có thể có răng và móng vuốt, bây giờ hắn chấp nhận việc ngồi trong chiếc thuyền độc mộc, bám chặt hai mép thuyền và cứng người, không cử động cứ như thể hắn đang ngậm một quả trứng chứa nitroglycerin trong miệng, thậm chí hắn nín thở, nghĩ bụng, Nếu anh ta kiếm ăn bằng cách này, thì mình cũng có thể làm vậy, và thậm chí nếu anh ta không nói cho mình biết cách thức, mình vẫn có thể quan sát anh ta và tự khám phá ra. Và hắn đã làm thế, hắn nhớ lại lúc hắn đã nghĩ trong lặng lẽ, Đấy mà, mình đã nghĩ anh ta đã làm như thế mà.
Ánh nắng mặt trời màu đồng thau phủ một cách không thương tiếc lên tấm lưng trần của hắn, con kênh ngoằn ngoèo như một sợi chỉ tối màu bị vặn xoắn, chiếc thuyền độc mộc chầm chậm trôi theo nhịp mái chèo của hai người mà không để lại một tiếng động nào trên vùng nước hoang vắng; thế rồi hắn cảm thấy nhịp chèo ở phía sau mình đột ngột ngừng lại và tiếng nói nghe như tiếng rít của người hoang dã vang lên sau lưng mình; hắn ngồi xổm, nín thở trong tình trạng bất động đầy căng thẳng của một người mù đang lắng nghe âm thanh xung quanh trong khi con thuyền độc mộc - cái vỏ của một cây gỗ - luồn vào ngọn của vùng sóng nước do chính nó tạo ra. Sau đó hắn nhớ ra khẩu súng - thứ vũ khí thuộc loại bắn phát một han gỉ với phần tay cầm thô kệch không mấy tiện lợi và họng súng mà bạn có thể nhét cả một cái nút bần của chai whiskey vào trong - mà gã người Cajun đã mang lên thuyền; lúc này hắn chỉ ngồi cong lưng, bất động, thở khe khẽ, cái liếc mắt tinh nhanh của hắn quét qua chỗ này, chỗ kia trong khi nghĩ, Gì vậy? Gì vậy? Mình không chỉ không biết bản thân đang tìm gì, mà còn chẳng biết phải tìm cái mình cần tìm ở đâu. Sau đó hắn cảm thấy có sự chuyển động trên chiếc thuyền độc mộc khi người hoang dã di chuyển và tiếng nói nghe như tiếng rít của anh ta trở nên gấp gáp như thể bị nén vang lên ngay bên tai, và khi liếc nhìn về phía sau, hắn thấy gã người Cajun đang cầm con dao lăm lăm trong tay, rồi lúc nhìn lên, hắn thấy một khối giống như bùn - cái thứ đang bắt đầu phân rã một phần, trở thành vật giống như khúc gỗ dày mang màu bùn - vẫn bất động, đập vào nhãn quan của hắn với cả ba, à không, bốn chiều: Khối lượng, độ rắn, hình dạng, và hơn nữa, hắn nhìn cái hình khối bất động đó không phải với cảm giác sợ hãi mà với sự nghiên cứu chăm chú, chỉ vậy thôi, và cố không nghĩ, Trông nó có vẻ nguy hiểm đấy mà nghĩ, Trông nó to lớn đối với người nào chưa từng gặp phải nó mà trong tay không có một chiếc thòng lọng, rồi lại nghĩ, Giá mà gã kia có thể nói trước cho mình biết phải làm gì thì có phải đỡ tốn thời gian không cơ chứ; chiếc thuyền độc mộc tiến đến vật đó mỗi lúc một gần hơn, rón rén trườn tới, thậm chí không tạo ra gợn sóng và hắn cảm thấy dường như mình có thể nghe được cả tiếng thở bị nén lại của người bạn đồng hành rồi bất thình lình hắn chộp con dao từ tay anh ta, thậm chí không kịp nghĩ bởi vì việc đó diễn ra quá nhanh - chỉ trong chớp mắt; đó không phải sự dâng nộp, cũng chẳng phải sự trình gửi, nó diễn ra trong bình tĩnh - việc chộp lấy con dao vào hoàn cảnh đó là một phần con người hắn, hắn đã uống cái ý thức đó cùng với sữa mẹ và sống với nó cả cuộc đời rồi: Suy cho cùng một con người không thể chỉ làm những gì anh ta phải làm, với những phương tiện anh ta có để làm cùng những gì anh ta học để làm trong khả năng phán đoán tốt nhất của mình. Và mình cho rằng một con lợn thiến thì vẫn là một con lợn thiến, cho dù nó trông như thế nào chăng nữa. Vậy là hắn ngồi im thêm lúc nữa cho tới khi mũi thuyền tiếp đất nhẹ hơn cả một chiếc lá rơi và bước ra khỏi đó, dừng lại một chút trong khi mấy chữ Nó trông to lớn thật đấy hiện lên chỉ một giây, không rõ ràng và đậm nét, ở chỗ nào đó trong đầu hắn - nơi một mảng của sự chú ý thuộc bộ óc có thể nhìn thấy chúng rồi nhanh chóng biến mất, và hắn cúi người trong tư thế giạng chân, con dao trong tay hắn thọc về phía trước khi tóm chân trước của con vật đồng thời bị cái đuôi của nó quất mạnh vào lưng. Nhưng con dao là vật quen thuộc của hắn, hắn biết mình có làm được việc hay không qua cảm giác bị sức nặng từ cái đuôi đầy bùn của con vật quất một vệt dài lên lưng cũng như cảm giác mà cái lưng cứng của nó cọ vào bụng hắn, cánh tay hắn siết quanh cổ họng con vật, cái đầu phát ra những tiếng phì phì của nó bị kẹp vào sát hàm hắn, cái đuôi giận dữ của nó đập và quất qua quất lại trong khi con dao bên tay kia thăm dò sự sống trong cơ thể con vật và đã tìm thấy thứ nó cần tìm - máu phun ra, và rồi hắn ngồi cạnh cái xác con vật nằm phơi bụng, đầu gục xuống giữa hai đầu gối trong khi máu của chính hắn làm tươi thêm vết máu của con vật đã tưới trên người mình lúc trước, và nghĩ, Cái mũi chết tiệt của mình lại chảy máu rồi.
Vậy là hắn ngồi đó với khuôn mặt đầy máu gục giữa hai đầu gối cùng thái độ không phải chán nản mà là sửng sốt đến điếng người, trầm mặc trong khi giọng nói the thé của gã người Cajun dường như vọng tới từ đâu đó rất xa cứ ong ong bên tai; một lúc sau, hắn ngẩng lên nhìn gã đàn ông trông dẻo dai mà cũng thật khôi hài đó nhảy lên nhún xuống một cách điên cuồng quanh hắn với khuôn mặt hoang dại và nhăn nhó cùng giọng nói liến thoắng, the thé; hắn ngồi ôm mặt trong tư thế nghiêng nghiêng để mặc cho máu chảy, nhìn gã người Cajun bằng vẻ chăm chú lạnh lùng của người quản lý bảo tàng dừng lại trước một ngăn trưng bày bằng kính - gã giơ khẩu súng lên và kêu “Bùm... bùm... bùm!” rồi quẳng súng xuống, như một diễn viên kịch câm diễn lại cảnh vừa mới xảy ra rồi lại ngoáy tít hai tay, gào lên, “Magnifique! Magnifique! Cent d’argent! mile d’argent! Tout l’argent sous le ciel de Dieu!” [3]. Nhưng hắn đã lại cúi đầu xuống, vốc thứ nước có màu nâu đục như cà phê hất lên mặt mình rồi nhìn màu máu đỏ tươi và nghĩ, Bây giờ anh nói với tôi cách làm thì hơi muộn rồi đó, và thậm chí không buồn nghĩ ngợi thêm nữa bởi vì bây giờ họ đã lại lên thuyền; hắn ngồi xổm trong tư thế cứng người bất động như thể đang cố làm giảm bớt trọng lượng của mình, tấm da thú vấy máu được để ở đuôi thuyền ngay trước mặt và hắn nhìn nó trong lúc nghĩ, Mình thậm chí có thể hỏi anh ta xem một nửa mà mình được hưởng là bao nhiêu.
Nhưng hắn cũng không suy nghĩ nhiều về chuyện đó vì như hắn đã nói với tù nhân có dáng người thấp đậm, tiền chỉ có một ngôn ngữ mà thôi. Hắn nhớ cả chi tiết đó (bây giờ họ đã ở nhà, tấm da thú được trải ra sàn nơi người đàn bà xem người hoang dã diễn lại chuyện vừa xảy ra - khẩu súng không được sử dụng, cuộc chiến tay bo; trong khoảng thời gian tính bằng giây, con cá sấu trông chẳng khác gì một khối bùn bị giết chết tươi trong tiếng rú, người chiến thắng đứng lên nhận thấy người đàn bà đang nhìn kẻ đã kể lại cho mình chuyện vừa xảy ra bằng động tác hơn là ngôn ngữ. Cô ta đang nhìn khuôn mặt ủ rũ, sưng vù của hắn. “Con vật đó đã đá thẳng vào mặt anh phải không?”, cô ta hỏi.
“Không”, người tù trả lời bằng giọng gắt gỏng. “Việc quái gì nó phải làm thế. Chỉ cần nó thổi một hạt đậu vào mông tôi thôi là mũi tôi đã chảy máu rồi.” Hắn cũng nhớ chi tiết này nhưng không cố kể lại. Có lẽ hắn không thể kể làm thế nào hai người chẳng thể nói chuyện với nhau lại có thể đi đến một thỏa thuận mà cả hai không những hiểu mà biết rằng người kia sẽ áp dụng và bảo vệ một cách nghiêm túc hơn cả một thỏa thuận được viết bằng văn bản có công chứng. Bằng cách nào đó họ thậm chí đã bàn bạc và thống nhất được với nhau rằng nên đi săn riêng rẽ, mỗi người một thuyền, để nhân đôi cơ hội tìm ra con mồi. Nhưng điều này thì dễ thôi: Người tù có thể hiểu hầu hết những từ mà người hoang dã dùng để diễn đạt ý này: “Anh không cần tôi và khẩu súng; tôi và khẩu súng chỉ cản trở anh mà thôi, anh cứ việc đi đường anh”. Và còn hơn thế, họ thậm chí thống nhất được với nhau về khẩu súng thứ hai: Rằng một người nào đó, là ai không quan trọng - bạn, hàng xóm, có lẽ người kinh doanh mặt hàng đó - có thể cho họ thuê một khẩu súng; bằng hai thổ ngữ, người này dùng thứ tiếng Anh lai căng, người kia dùng thứ tiếng Pháp pha tạp - một người dễ thay đổi, với đôi mắt sáng hoang dại và cái miệng liến thoắng đầy răng, người kia nghiêm trang, gần như lầm lì, mặt sưng, lưng phồng rộp và đỏ ửng như tảng thịt bò, họ bàn bạc về chuyện mua súng, mỗi người ngồi một bên tấm da thú đang được ghim để phơi như hai thành viên của một công ty kinh doanh ngồi đối diện nhau tại một chiếc bàn bằng gỗ gụ, và thống nhất không tán thành việc mua súng, người tù quyết định: “Tôi nghĩ rằng không nên”, hắn nói. “Tôi nghĩ rằng nếu biết đợi đến lúc cần sử dụng súng thì tôi đã đồng ý thuê một khẩu súng nữa rồi. Nhưng vì đã làm được việc đó mà chẳng cần nó nên tôi không nghĩ mình sẽ thay đổi.” Bởi đó là vấn đề tiền bạc. (Kể cũng lạ: Gã người Cajun không thể nói cho người tù biết một nửa những gì họ kiếm được là bao nhiêu. Nhưng hắn biết chắc phần của mình là một nửa.) Hắn không có nhiều cơ hội. Rồi hắn sẽ sớm phải rời khỏi đó thôi và nghĩ, Toàn bộ chuyện ngớ ngẩn này sẽ sớm kết thúc, rồi mình lại có thể trở về chỗ đó thôi; hắn lặng người, nhìn cái sa mạc lạ lùng phì nhiêu xung quanh mình - cái nơi hoang vu cho phép hắn tạm thời chìm đắm trong bình yên, hy vọng và sống với những gì đã bị bảy năm qua nhấn chìm như những viên sỏi vô giá trị chìm xuống đáy hồ không để lại một gợn sóng, hắn nghĩ thầm trong nỗi kinh ngạc, Đúng vậy. Mình cho rằng mình đã quên việc kiếm tiền thú vị như thế nào. Hãy kiếm tiền thôi.
Vậy là hắn không dùng súng, chỉ sử dụng sợi dây được thắt thành thòng lọng cùng chiếc gậy tày, rồi mỗi buổi sáng, hắn và gã người Cajun lại mỗi người lên một con thuyền lùng sục khắp những con kênh bí mật quanh vùng đất bị lãng quên mà từ trong đó (hoặc từ bên ngoài), cứ như thể do một phép màu nào đó, thỉnh thoảng vẫn có những người đàn ông nhỏ thó có nước da sẫm màu bất ngờ xuất hiện trên các thân cây gỗ được khoét làm thuyền độc mộc, lặng lẽ bám theo hắn, quan sát hắn đơn thương độc mã trong cuộc chiến với các con mồi - những người đàn ông tên là Tine, Toto, Theodule trông rất giống chuột hải ly và cũng chẳng to lớn hơn là mấy so với những con chuột hải ly mà người hoang dã thỉnh thoảng đánh bẫy được theo cái cách giống như bạn bắt một con lợn từ đàn lợn trong chuồng (chủ nhà của hắn kiếm thức ăn về bếp để nấu nướng, và anh ta diễn đạt sự phân công lao động đó bằng ngôn ngữ của riêng mình, giống như khi anh ta bàn chuyện mua súng, còn người tù nghe và hiểu hết như thể người hoang dã nói bằng tiếng Anh: “Đừng lo lắng về cái ăn, O Hercules ạ. Cứ đi bắt cá sấu đi; tôi sẽ kiếm cái bỏ vào nồi”) để cải thiện bữa ăn và khỏi phải ăn cơm cá triền miên (người tù tả lại cảnh này: Vào ban đêm, ở trong lều nơi cửa ra vào và cửa sổ không có kính được lắp ván gỗ để chống muỗi - một nghi thức, một nghi lễ vô nghĩa chẳng khác gì động tác bắt chéo hai ngón tay hay gõ tay lên mặt gỗ để cầu trời phù hộ, hắn ngồi bên cạnh ngọn đèn có quai xách được đặt trên chiếc bàn ghép ván với nhiệt độ trong phòng gần bằng nhiệt độ cơ thể hắn, nhìn những miếng thịt nổi lều bều trong bát thức ăn nóng hôi hổi của mình và nghĩ, Chắc hẳn đây là thịt của Theodule. Gã Theodule đó béo mà) ngày nối ngày, làng nhàng như nhau, ngày hôm nay giống ngày đã qua và giống ngày đang tới trong khi một nửa số tiền mà hắn nghĩ rằng theo lý thuyết mình được hưởng tính bằng xu, đô la hay hàng chục đô la, cứ tăng dần; những buổi sáng khi bắt đầu một ngày đi săn, hắn thấy một đám thuyền độc mộc đang kiên định và đầy tôn kính đợi mình như những người hâm mộ môn đấu bò tót đợi người võ sĩ đấu bò xuất hiện; và những buổi trưa nóng nung người khi bị vây bởi nửa vòng tròn được tạo thành từ những chiếc thuyền độc mộc đứng im, hắn tiến hành những cuộc chiến đơn độc với các con mồi; còn buổi tối, khi kết thúc ngày đi săn, còn những chiếc thuyền độc mộc đó tản ra, rẽ vào các con kênh, con lạch nhỏ mà trong những ngày đầu tiên tới đây, hắn thậm chí không thể phân biệt nổi, sau đó, vào lúc nhá nhem tối, trên sàn lều ghép ván - nơi mà trước mặt người đàn bà ngồi bất động thường là đang cho con bú và trước một hoặc hai bộ da thú còn dính máu với hai hàng vết dao phi đang ngày càng nhiều lên mặt tường ghép ván gỗ - gã người Cajun lại diễn lại màn kịch mô tả chiến thắng; sau đó vào ban đêm, khi người đàn bà và đứa trẻ đã yên vị trên chiếc giường duy nhất còn người hoang dã đã ngáy như kéo gỗ trên ổ rơm và chiếc đèn dầu đã được vặn nhỏ, hắn (người tù) ngồi xổm, mồ hôi vã ra như tắm, khuôn mặt mệt mỏi, trầm tư đầy vẻ bất khuất, tấm lưng cong trầy da, rớm máu như tảng thịt bò với những vết phồng rộp đã bị nhiễm trùng và những vết lằn do các con vật quất đuôi gây ra, bên những mẩu gỗ của cái thân cây được hơ lửa để làm mái chèo - vật mà giờ đây trông đã gần giống một mái chèo thật - thỉnh thoảng ngẩng đầu lên những đám mây muỗi bay vo ve xung quanh, nhìn bức tường trước mặt cho đến khi các tấm ván tựa hồ như dần tan biến để cái nhìn trống rỗng của hắn không bị cản trở và có thể xuyên qua bóng tối dày đặc, có lẽ xuyên sang cả phía bên kia bóng tối, xuyên qua cả bảy năm phí hoài mà trong đó, hắn vừa mới chợt hiểu ra rằng mình đã được phép lao động một cách mệt nhọc và vất vả, quần quật làm những việc không đúng nghĩa. Rồi hắn nghỉ, hướng cái nhìn cuối cùng vào cuộn quần áo được giắt sau thanh xà gồ, thổi đèn, và nằm xuống bên cạnh người bạn cùng hợp tác làm ăn đang ngáy khò khò, trong lúc mồ hôi nhễ nhại (hắn nằm sấp vì không thể chịu đựng nổi cảm giác đau đớn khi lưng chạm vào bất cứ thứ gì) trong đêm tối tựa như lò hấp đầy những tiếng gầm thê lương của những con cá sấu và thầm nghĩ, Bọn họ chẳng bao giờ cho mình thời gian để học nhưng mình đã quên mất cảm giác được làm việc thực sự thú vị như thế nào.
Sau đó, vào ngày thứ mười, có chuyện xảy ra. Đó là lần thứ ba. Thoạt đầu hắn không chịu tin là nó lại xảy ra, chẳng phải vì hắn cảm thấy mình đã nếm đủ mùi khổ ải, học đủ những gì cần học từ bất hạnh, rủi ro và chạm tới, thậm chí vượt qua cả đỉnh điểm của cái gọi là “cực hình” và sẽ được phép hoặc bị để mặc cho rơi tự do xuống bên kia đỉnh dốc trong việc gánh trách nhiệm, xoay xở với cuộc sinh nở của người đàn bà kia, mà bởi hắn không tin lại có một nguồn sức mạnh chết người, một lực bền bỉ và dai dẳng cứ tập trung nhằm thẳng vào hắn trong nhiều tuần đến vậy - lực mà với tất cả tính phong phú của sự bạo liệt và sức hủy diệt đáng lẽ ra phải trở nên quá cằn cỗi về mặt sáng tạo và trí tưởng tượng cũng như không đủ lòng kiêu hãnh của nghệ thuật và sự tinh xảo để tự lặp lại chính nó dù chỉ một lần. Lần thứ nhất hắn đã chấp nhận, lần thứ hai hắn thậm chí đã tha thứ, nhưng lần thứ ba thì hắn cự tuyệt, không chịu tin, nhất là khi hắn được thuyết phục để hiểu ra rằng chuyện xảy ra lần này không phải bởi thiên nhiên xui khiến mà từ phía con người và bởi những bàn tay: Kẻ thích đùa đã hướng sự tập trung đầy hằn học của mình vào việc tận dụng sức phá hủy.
Hắn không kể lại chuyện đó cho bạn tù của mình nghe. Rõ ràng chính hắn thậm chí cũng chẳng biết chuyện gì đã xảy ra và diễn biến ra sao. Nhưng rõ ràng hắn nhớ nó cũng như những gì hắn biết và nhận thức được. Đó là vào buổi tối ngày thứ chín, hắn và người đàn bà đang ngồi đối diện với nhau trong cái nhà chòi gần như trống không của chủ nhà trong bữa ăn tối thì chợt nghe thấy những giọng nói từ bên ngoài vọng tới, song hắn không dừng ăn mà vẫn nhai đều, bởi nghĩ cũng giống như mọi hôm, cứ như thể hắn đang nhìn thấy cảnh quen thuộc - hai, ba, bốn chiếc thuyền độc mộc trôi trên mặt nước trong bóng tối phía dưới cái nền nhà chòi nơi chủ nhà đang đứng, những giọng nói liến thoắng, huyên thuyên chẳng tài nào hiểu nổi, không đầy tính cảnh báo hay tràn ngập nỗi giận dữ, cũng chẳng phải chỉ đơn giản thể hiện vẻ ngạc nhiên, mà đúng hơn là những tiếng nói lộn xộn nghe chối tai giống những con chim trên đầm lầy bị quấy rầy; hắn không ngừng nhai mà chỉ ngẩng lên nhìn trong im lặng và có lẽ cũng chẳng có ý dò hỏi hay tỏ lộ nỗi ngạc nhiên khi chủ nhà phăm phăm bước vào, đứng trước mặt họ, với khuôn mặt đầy vẻ hoang dã, đôi mắt phóng ra ánh nhìn nảy lửa, hàm răng đen hở hoác trong cái lỗ miệng đen như mực; và hắn ngồi theo dõi anh ta diễn màn kịch câm mô tả cảnh di tản, cảnh đuổi tống, vốc thứ gì đó vô hình lên tay ném mạnh xuống phía dưới và trong chớp mắt đã hoàn thành động tác đổi vai từ kẻ chủ mưu thành nạn nhân của cái mà anh ta đưa vào vở kịch, ôm đầu, cúi xuống trong lúc miệng kêu “Bùm! Bùm! Bùm!”; người tù nhìn anh ta, hàm hắn ngừng nhai, trong khoảnh khắc đó hắn nghĩ, Gì vậy? Anh ta đang cố nói với mình chuyện gì vậy? rồi lại nghĩ (ý nghĩ này xuất hiện trong đầu hắn rất nhanh vì hắn không thể diễn đạt nổi nó, và bởi vậy hắn thậm chí không biết mình đã có nó trong đầu) rằng mặc dù cuộc đời hắn đã bị quăng tới đây, bị giới hạn bởi vùng địa lý này, được chấp nhận bởi môi trường này và bản thân hắn cũng chấp nhận nó (và hắn, người mà đến tận lúc đó mới biết được làm việc và kiếm tiền thú vị như thế nào, đã thích nghi với cuộc sống ở đây; hắn nghĩ một cách lặng lẽ và tỉnh táo rằng nếu có thể diễn đạt ý đó, hắn đã ngẫm nghĩ thay vì đơn thuần chỉ biết đến nó thì sẽ tốt hơn so với cuộc sống trước đó của mình), tuy nhiên đây không phải là cuộc sống của hắn, hắn vẫn và sẽ chẳng hơn gì một con rệp nước trên mặt hồ, chẳng bao giờ hiểu được độ sâu khôn dò, bí ẩn của cái mà hắn không bao giờ biết: Sự tiếp xúc có thực duy nhất của hắn với cuộc sống này chỉ diễn ra trong những khoảnh khắc ngắn ngủi khi hắn đứng trước những con mồi đen như bùn đơn độc mắt mở trừng trừng dưới ánh mặt trời gay gắt, khi hắn bị vây bởi những chiếc thuyền độc mộc dàn thành hình bán nguyệt bất động, khi hắn chấp nhận sự thí quân để mở đường mà hắn không lựa chọn, dấn thân vào bán kính của cái đuôi biết quất đối phương như một thứ vũ khí và dùng chiếc gậy tày đập cái đầu ngọ nguậy phát ra tiếng phì phì hoặc nếu không thì ghì chặt một cách không ngần ngại cơ thể rắn như được bọc thép của con mồi bằng mạng lưới cơ xương mà hắn đã sử dụng để bước đi, để sống và tìm kiếm sự sống dữ dội trong tự nhiên cùng lưỡi dao dài tám inch.
Vậy là hắn và người đàn bà chỉ ngồi nhìn gã đàn ông người Cajun trong khi anh ta dùng ngôn ngữ cơ thể mô tả lại toàn bộ cuộc xua đuổi theo cái cách chẳng khác gì trò chơi đố chữ: Người đàn ông nhỏ thó dẻo dai khoa chân múa tay một cách hoang dại, cái bóng điên cuồng của anh ta nhảy lên, đổ xuống trên bức tường thô khi anh ta diễn cảnh rời bỏ nhà chòi, thu dọn tư trang trên tường và trong các góc nhà - các đồ vật mà không người nào khác muốn lấy và chỉ những thế lực mạnh cỡ như nước lũ, động đất hay hỏa hoạn mới có thể tước đoạt được; người đàn bà đang theo dõi những gì anh ta mô tả với cái miệng đầy thức ăn há hốc trên khuôn mặt lộ vẻ kinh ngạc bèn cất tiếng hỏi: “Gì vậy? Anh ta nói gì vậy?”.
“Tôi không biết”, người tù nói. “Nhưng tôi cho rằng nếu đó là điều chúng ta buộc phải biết thì đến lúc cần chúng ta sẽ biết thôi.” Hắn không sợ hãi, mặc dù giờ đây hắn đã đọc được ý của gã người Cajun. Anh ta sắp rời khỏi đây, hắn nghĩ, anh ta bảo mình cũng phải đi khỏi đây, thế rồi sau khi họ rời khỏi bàn và người đàn bà đã lên giường ngủ, gã người Cajun liền nhỏm dậy khỏi ổ rơm và đi tới chỗ người tù để mô tả lại việc rời bỏ nhà chòi một lần nữa - lần này như thể để nhắc lại những câu nói có thể bị hiểu lầm, gã truyền đạt bằng ngôn ngữ cơ thể điều gã muốn nói một cách dài dòng, kỹ càng như thể đang nói với một đứa trẻ, gần như ôm lấy người tù bằng một tay trong khi ra hiệu và nói bằng tay kia, diễn tả bằng điệu bộ như thể đánh vần từng âm tiết, trong khi người tù (ngồi xổm với con dao và mái chèo sắp được đẽo xong trong lòng) vừa theo dõi, vừa gật đầu, vừa lẩm bẩm bằng tiếng Anh: “Ừ, hẳn rồi. Anh nghĩ đó là điều chắc chắn sẽ xảy ra. Tôi hiểu ý anh” trong lúc tiếp tục đẽo gọt mái chèo, không lia lưỡi dao nhanh hay vội vã hơn những đêm trước mà điềm tĩnh với niềm tin rằng đến lúc cần phải biết đó là chuyện gì và lúc nào nó xảy ra thì hắn khắc sẽ biết, mà cho dù chẳng cần biết đó là chuyện gì, trong lòng hắn đã từ chối chấp nhận ý nghĩ đi khỏi nơi này; hắn nghĩ về những bộ da thú như thế này, Giá mà bằng cách nào đó anh ta nói cho mình biết có thể mang phần của mình được hưởng đi đâu để bán lấy tiền thì hay biết mấy, trong khoảnh khắc ngắn ngủi giữa hai lần lia mũi dao gọt mái chèo rồi gần như ngay lập tức lại nghĩ, Mình cho rằng chừng nào còn có thể bắt được cá sấu thì mình không phải lo chuyện tìm ra ai sẽ mua những tấm da.
Vậy là sáng hôm sau, hắn giúp gã người Cajun gói ghém tư trang - khẩu súng săn, một bọc quần áo (một lần nữa họ lại đổi chác, mặc dù người này không thể nói chuyện với người kia, và lần này họ đổi vài cái nồi, mấy thứ lớn hơn, thậm chí trừu tượng, gồm bếp, giường ngủ, ngôi nhà hoặc quyền cư ngụ trong ngôi nhà để lấy một bộ da cá sấu), một vài cái bẫy đã han rỉ; sau đó, họ ngồi chồm hỗm trên chiếc thuyền độc mộc chia những bộ da cá sấu thành hai đống riêng rẽ như hai đứa trẻ chia nhau những thanh kẹo, một cho tôi và một cho anh, hai cho tôi và hai cho anh; gã người Cajun thu lấy phần của mình rồi đẩy thuyền ra khỏi chỗ có căn nhà chòi và dừng lại dù lần này, gã đơn giản chỉ đặt mái chèo xuống, lượm thứ gì đó bằng cả hai tay rồi tung thật mạnh cái vật vô hình đó lên cao trong lúc kêu “Bùm? Bùm?” hướng về phía người đàn ông ở trần bị tróc da vì cháy nắng trên sàn nhà chòi - người đang nhìn gã bằng cái nhìn có thể nói là dữ tợn - gật đầu thật mạnh và nói: “Chắc chắn rồi. Bùm. Bùm”. Rồi gã chèo thuyền đi mà không quay đầu lại. Họ nhìn gã khua mái chèo đều tay và mải miết, nói đúng hơn là người đàn bà nhìn theo, còn người tù đã quay gót đi vào trong nhà.
“Có lẽ lúc trước anh ta cố nói rằng chúng ta cũng nên rời khỏi đây”, người đàn bà nói.
“Ừ”, người tù nói. “Đêm qua tôi đã suy nghĩ về việc đó. Đưa mái chèo cho tôi nào.” Người đàn bà đưa mái chèo cho hắn - cây gỗ mà hắn ngồi đẽo gọt hằng đêm để biến nó thành một cái mái chèo thực sự và chỉ cần một đêm nữa là xong (mấy hôm trước, hắn sử dụng mái chèo dự phòng của gã người Cajun. Trước khi rời khỏi đó, gã đã đề nghị hắn giữ lấy mái chèo đó trong lượt đổi chác gồm chiếc bếp, cái giường và quyền sử dụng căn nhà chòi, nhưng hắn từ chối. Có lẽ hắn đã suy đi tính lại việc dùng một tấm da cá sấu để cân nhắc về việc đổi lấy mái chèo đó và việc bỏ ra một tối nữa để gọt đẽo mái chèo của chính mình), rồi hắn cũng rời nhà chòi cùng với sợi dây thòng lọng và cây gậy tày, đi về hướng ngược lại với hướng mà gã người Cajun đã đi, như thể hắn không chỉ hài lòng với việc từ chối rời khỏi cái nơi mình được cảnh báo phải rời đi mà còn củng cố sự từ chối chung cuộc không gì lay chuyển nổi bằng cách xâm nhập xa và sâu hơn vào vùng hoang vắng này. Sau đó, không hề báo trước, nỗi uể oải của tình trạng cô độc dâng cao dữ dội dồn lại tấn công hắn.
Nếu cố nén thì hắn có thể đã không kể lại chuyện này: Chưa hết nửa buổi sáng và hắn đang chèo thuyền, lần đầu tiên đi một mình, không có chiếc thuyền độc mộc xuất hiện từ bất cứ chỗ nào để bám theo hắn, nhưng dù sao hắn cũng không mong chờ điều đó và biết rằng những người khác sống trong vùng đầm lầy này cũng đã rời đi nơi khác; vấn đề không phải do tình trạng cô độc hay sự lẻ loi bởi vì hắn đã chọn ở lại nơi này; sự ngừng lại đột ngột của mái chèo trong khoảnh khắc ngắn ngủi khiến chiếc thuyền lao lên phía trước trong khi hắn nghĩ, Chuyện gì thế này? Gì vậy? Rồi hắn lại nghĩ, Không. Không. Không khi sự im ắng, quạnh vắng, trống rỗng tấn công hắn trong tiếng gầm giễu nhại: Và bây giờ chiếc thuyền quay ngược lại theo hướng đuôi thuyền một cách dữ dội, hắn - kẻ bị phản bội - cuống cuồng chèo thuyền trong giận dữ để quay trở lại nhà chòi nơi hắn biết rằng tất cả đã quá muộn và chỗ ẩn náu cuối cùng, nơi nhịp thở thiết tha và quan trọng của sự sống thuộc về mình - sự tồn tại cho phép hắn được làm việc và kiếm tiền, cái quyền và đặc quyền mà hắn tin mình đã tự giành được mà không cần ai giúp đỡ, không phải ngửa tay xin bất cứ ai hay bất cứ điều gì ngoài quyền được yên để dùng ý chí và sức mạnh của bản thân vật lộn với những con vật thuộc loài bò sát, nhân vật chủ đạo của cái mảnh đất mà hắn không yêu cầu ai ném hắn vào - đang bị đe dọa; hắn chèo thuyền về phía nhà chòi bằng mái chèo tự chế trong nỗi tức giận đầy sát khí, và cuối cùng khi đến nơi, hắn nhìn thấy một chiếc xuồng máy đỗ ở cạnh nhà nhưng không hề ngạc nhiên mà lại thích thú như thể đang trông thấy bằng chứng rõ rành rành chứng minh cho cơn tức giận và nỗi sợ hãi của mình, cho cái quyền được nói Đấy tao đã bảo mi như vậy rồi mà trong cảm giác nhục nhã, rồi hắn chèo thuyền về phía nhà chòi trong tình trạng như đi trong cơn mê mà không có sự tiến tới hay bị cản trở; và hắn gần như ngạt thở khi khua mái chèo như cầm một vật không trọng lượng với cơ bắp chẳng hề có sức mạnh hay sự đàn hồi, điều khiển một phương tiện không hề có lực cản hay sự cưỡng lại, đồng thời dường như đang theo dõi con thuyền chầm chậm di chuyển từng tí một trên mặt nước ngập tràn ánh nắng để tiến đến cái nhà chòi trong khi một người đàn ông trên chiếc xuồng máy (có năm người tất cả) hướng vào mình và nói liến thoắng thứ tiếng hắn đã nghe trong mười ngày qua mà vẫn không hiểu nổi một từ; đúng lúc đó, người đàn ông thứ hai xuất hiện từ trong nhà chòi, theo sau là người đàn bà bế đứa bé trên tay và hắn nhận thấy người đàn bà đã mặc lại chiếc áo dài bạc màu để đi đường còn người đàn ông cầm (ông ta cũng cầm một số thứ nữa nhưng lúc đó hắn không để ý đến bất cứ thứ gì khác) một cái bọc được gói bằng giấy báo mà mười ngày trước hắn đã nhét bên dưới thành xà gồ và kể từ đó không còn một bàn tay nào khác chạm vào, giờ đây hắn bước lên sàn nhà, một tay cầm sợi dây buộc thuyền, tay kia cầm mái chèo trông như chiếc dùi cui, xoay xở để rồi cuối cùng cũng nói chuyện được với người đàn bà bằng giọng nói như mê sảng, bị bóp nghẹt nhưng điềm tĩnh đến ngạc nhiên: “Hãy lấy lại cái bọc đó và cất nó vào trong nhà”.
“Vậy là anh biết nói tiếng Anh hả?”, người đàn ông trên xuồng nói. “Tại sao tối qua anh không rời khỏi đây như họ đã yêu cầu hả?”
“Rời khỏi đây ư?”, người tù hỏi. Một lần nữa hắn lại nhìn người đàn ông trên xuồng bằng cái nhìn trừng trừng, và cố kiểm soát giọng nói của mình, “Tôi không có thời gian để đi. Tôi bận”, và hắn quay sang người đàn bà, toan mở miệng định nhắc lại điều mình vừa mới nói với cô ta thì giọng nói của người đàn ông trên xuồng lại cất lên và hắn quay về phía anh ta rồi gào lên bằng giọng nói thể hiện vẻ tức giận không thể nào chịu đựng nổi, “Lũ lụt ư? Trận lũ lụt quái nào thế hả? Lũ lụt đã quét qua tôi hai tháng trước rồi! Xong rồi! Còn trận lũ lụt quái nào nữa hả?”, rồi sau đó (hắn không nghĩ bằng từ ngữ thực sự nhưng hắn biết điều này và chịu đựng trong đau đớn sự nhận biết về tính cách hay định mệnh của mình: Có sự lặp lại lạ lùng xảy ra với hắn như thể đó là định mệnh, không chỉ là những cuộc khủng hoảng có ảnh hưởng sâu xa tái diễn một cách đều đặn, mà cả những tình huống va chạm xảy ra sau đó theo một kiểu không thể tưởng tượng nổi) người đàn ông trên xuồng nói, “Xử lý hắn đi” rồi đứng dậy khi cơn tức tối khiến ông ta thở hổn hển, sau đó hắn bị những nhát vụt bằng thanh ván gỗ cứng tấn công vào lưng trong lúc bốn người đàn ông dội xuống người hắn cả làn sóng hung dữ của những cú đấm, cú đá và những lời nguyền rủa trong hơi thở hổn hển, cuối cùng là tiếng lách cách khô khốc của chiếc còng số tám.
“Đồ khốn kiếp, anh điên à?”, người đàn ông trên xuồng nói. “Anh không thể hiểu được rằng trưa nay người ta sẽ cho nổ mìn đoạn đập chắn này sao?... Nào”, ông ta nói với những người khác. “Đưa hắn xuống xuồng đi. Rời khỏi đây thôi.”
“Tôi muốn đám da cá sấu và chiếc thuyền của mình”, người tù nói.
“Đám da chết tiệt”, người đàn ông trên xuồng nói. “Nếu họ không cho nổ mìn con đập này sớm thì anh có thể săn thêm được vô khối đấy. Chiếc xuồng này là toàn bộ phương tiện anh cần, anh còn muốn cái thuyền kia làm quái gì hả? ”
“Tôi sẽ không đi nếu không mang theo thuyền của mình”, người tù nói một cách bình tĩnh và kiên quyết đến mức trong một phút không ai trả lời hắn, tất cả bọn họ chỉ đứng im nhìn hắn nằm ngửa trong tình trạng ở trần, da phồng rộp và sây sát, bất lực, cả chân lẫn tay đều bị còng, đưa ra cái tối hậu thư đó bằng giọng điềm tĩnh và hòa nhã như giọng của một người nói với người bạn chung giường trước khi đi ngủ. Sau đó người đàn ông trên xuồng cử động: Ông ta quay đầu về phía mạn xuồng nhổ bọt rồi nói bằng giọng hệt như giọng của người tù: “Thôi được. Mang thuyền của hắn theo”. Họ giúp người đàn bà bế đứa bé trèo vào trong xuồng và cầm cái gói giấy. Rồi giúp người tù đứng dậy và lên xuồng trong khi chiếc còng chân và còng tay của hắn phát ra những tiếng lách cách. “Tôi sẽ tháo còng cho anh nếu anh hứa cư xử cho phải phép”, người đàn ông nói. Người tù không đáp lại câu nói đó của ông ta, hắn bảo: “Tôi muốn cầm sợi dây”.
“Sợi dây ư?”
“Đúng vậy”, người tù nói. “Dây buộc thuyền.” Vậy là bọn họ đỡ hắn xuống phía cuối xuồng, đưa cho hắn đầu dây buộc thuyền sau khi nó được luồn qua cái cọc của xuồng, rồi khởi hành. Người tù không quay đầu nhìn lại. Nhưng sau đó, hắn cũng chẳng nhìn về phía trước mà nằm gần như ườn ra khi đôi chân đeo còng, đầu dây buộc thuyền được giữ chặt trong tay hắn. Chiếc xuồng dừng lại tại hai điểm khác; khi vầng mặt trời gay gắt tựa một cái bánh xốp bắt đầu đứng bóng, số người ở trên thuyền đã lên tới mười lăm; và người tù trong tư thế nằm ườn, bất động nhìn dải đất bằng phẳng bắt đầu nhô lên đượm một màu xanh đen của đầm lầy, rậm rạp và nhằng nhịt, rồi sau đó một vùng nước rộng hơn bất cứ nơi có nước nào hắn từng nhìn thấy và được bao quanh bởi một đường viền màu xanh da trời lấp lánh dưới ánh mặt trời buổi trưa trải ra trước mắt hắn, tiếng động cơ của xuồng máy bỗng ngừng khi chiếc xuồng trôi về phía trước theo những con sóng nhỏ dần ở phía mũi của nó. “Anh làm cái quái gì thế?”, người chỉ huy nói.
“Đúng giữa trưa rồi”, người lái xuồng trả lời. “Tôi nghĩ chúng ta có thể nghe thấy tiếng mìn nổ.” Vậy là tất cả bọn họ cùng lắng nghe, chiếc xuồng chầm chậm trôi về phía trước, khẽ lắc lư, lắc lư; những con sóng nhỏ đứt gãy, vỡ ra, lấp lánh, lấp lánh vỗ rì rầm vào thân xuồng nhưng họ không nghe thấy âm thanh rõ rệt, thậm chí chẳng hề cảm thấy tiếng rung đến từ bất cứ phía nào dưới bầu trời nắng chói chang; những phút dài trôi qua, và thời điểm giữa trưa trôi qua. “Được rồi”, người chỉ huy nói. “Đi thôi.” Xuồng lại nổ máy và tập trung tốc lực. Người chỉ huy đi về phía cuối xuồng với chùm chìa khóa trong tay và cúi xuống nhìn người tù. “Tôi nghĩ rằng bây giờ anh sẽ phải cư xử đúng mực, cho dù anh muốn hay không”, ông ta nói trong lúc mở khóa còng cho hắn. “Anh không muốn sao?”
“Có”, người tù nói. Họ tiếp tục đi; một lúc sau, đường viền bao quanh vùng nước đó hoàn toàn biến mất và một cái vịnh hiện ra. Người tù giờ đây đã được giải phóng khỏi những chiếc còng nhưng vẫn nằm giống y như trước với đầu dây buộc thuyền được quấn ba, bốn vòng quanh cổ tay; hắn quay đầu nhìn con thuyền được chiếc xuồng lai dắt, nhô lên, nhún xuống theo đường rẽ nước; thỉnh thoảng hắn nhìn ra xung quanh, chỉ riêng đôi tròng mắt là chuyển động, còn khuôn mặt vẫn giữ nguyên vẻ trang nghiêm, không bộc lộ cảm xúc, và hắn nghĩ, Đây là một vùng nước rộng lớn, hoang vắng, cô liêu hơn bất cứ vùng nước nào mình từng thấy; có lẽ không phải vậy; ba, bốn tiếng đồng hồ sau, khi dải bờ lại nhô lên và bị những chiếc thuyền cùng tàu tuần tra đậu lộn xộn che khuất từng đoạn, hắn lại nghĩ, Có nhiều thuyền đến mức mình chẳng thể tin nổi, một cuộc đua thuyền của ngành hàng hải mà mình không biết hoặc có lẽ hắn không nghĩ vậy mà đơn giản chỉ dõi mắt nhìn trong khi một cửa vịnh hẹp dẫn vào kênh đào dành cho tàu thuyền mở ra và khói của thành phố bay là là phía bên kia của kênh đào, rồi một cầu tàu hiện ra, chiếc xuồng máy chậm chậm tiến về phía nó; một đám đông gồm những người đang dương mắt nhìn cũng với vẻ thụ động và sầu khổ mà hắn từng thấy trước đó xuất hiện, và hắn lập tức nhận ra họ thuộc chủng tộc nào mặc dù khi đi qua Vicksburg, hắn chưa hề nhìn thấy những người giống như thế - cái nhãn, dấu hiệu phân biệt của những người vô gia cư vì biến cố trong khi hắn vô gia cư hơn bất cứ ai, và hắn sẽ không cho phép bất kỳ người nào gọi hắn là một người trong số họ.
“Được rồi”, người chỉ huy nói. “Chỗ của anh đó.”
“Thuyền của tôi”, người tù nói.
“Anh có thuyền rồi còn gì. Anh muốn tôi làm gì hả?
Đưa cho anh giấy biên nhận nữa sao?”
“Không”, người tù nói. “Tôi chỉ muốn lấy thuyền của mình thôi.”
“Lấy đi. Chỉ có điều anh phải có cái gì đó để đưa nó vào chứ.” (“Đưa nó vào ư?”, tù nhân có dáng người thấp đậm hỏi. “Anh phải đưa thuyền vào đâu cơ chứ?”)
Hắn (tù nhân có dáng người cao) kể lại chuyện đó: Hắn kể mình và người đàn bà đã lên bờ như thế nào, một người đàn ông đã giúp hắn kéo thuyền vào bờ ra sao, hắn đứng đó với đầu dây cột thuyền được quấn mấy vòng quanh cổ tay và người đàn ông giục giã, “Được rồi, người tiếp theo lên đi! Lên đi!”; hắn cũng kể rằng mình đã nói với ông ta như thế nào về chiếc thuyền rồi ông ta gắt, “Thuyền ư? Thuyền hả?” và hắn đi cùng họ khi họ xếp và buộc thuyền của hắn vào cùng một chỗ với những chiếc thuyền khác; hắn đánh dấu vị trí thuyền của mình giữa một tấm biển quảng cáo Coca-Cola và một nhịp cầu để khi quay lại hắn có thể tìm được nó, rồi hắn và người đàn bà (vẫn cầm khư khư cái gói giấy báo trong tay) được lùa lên một chiếc xe tải; chiếc xe bắt đầu chuyển bánh trong chốc lát, chạy giữa những ngôi nhà, sau đó chạy tới một tòa nhà lớn - một kho vũ khí.
“Kho vũ khí ư?”, tù nhân có dáng người thấp đậm hỏi. “Anh muốn nói đó là một nhà tù ư?”
“Không. Đó là một nhà kho có nhiều người nằm dưới sàn cùng với những bọc, gói tư trang.” Và lúc đó hắn nghĩ có thể người bạn tù được phái đi cứu nạn cùng mình đang ở đó và thậm chí đã đưa mắt tìm kiếm gã người Cajun trong khi chờ đợi cơ hội thoát ra khỏi cửa - nơi có sự hiện diện của một quân nhân; rồi cuối cùng hắn cũng bước vào trong khi người đàn bà đi sau hắn và quả thực hắn đã bị gí súng vào ngực.
“Vào đi”, người lính nói. “Vào trong đi. Lát nữa họ sẽ phát quần áo cho anh. Anh không thể ăn mặc như thế mà đi ra đường được. Họ cũng sẽ phát đồ ăn cho anh. Có lẽ người thân của anh sẽ sớm đến đón anh thôi.” Và hắn kể lại cả chi tiết này: Chi tiết người đàn bà lên tiếng.
“Có lẽ nếu anh nói anh có bà con họ hàng ở đây thì anh ta sẽ để cho chúng ta đi.” Và hắn đã không nói như người đàn bà gợi ý: Hắn không thể diễn đạt được điều đó, nó quá sâu xa; hắn chưa bao giờ tính đến điều đó, ngay cả trong ý nghĩ vì sự tôn trọng đầy tỉnh táo và cố hữu của hắn không phải dành cho sự thật mà cho năng lực và sức mạnh của sự dối trá, không phải để trở thành kẻ quá dè xẻn trong việc nói dối mà đúng hơn là để sử dụng nó với lòng tôn trọng, thậm chí cẩn trọng bởi nó mỏng manh, tác dụng nhanh và đầy sức mạnh, tựa một lưỡi dao sắc có thể gây chết người vậy. Và hắn kể người ta đã đưa quần áo cho hắn như thế nào - một bộ quần áo mặc trong cùng chiếc áo khoác ngoài, rồi sau đó họ mang thức ăn đến (một phụ nữ trẻ nhanh nhảu nói, “Đứa bé phải được tắm sạch sẽ. Nếu chị không tắm cho nó, nó sẽ chết” và người đàn bà đáp, “Vâng. Nó có thể càu nhàu chút ít, nó chưa bao giờ được tắm cả. Nhưng nó là một đứa bé ngoan”) và bây giờ là đêm, các bóng điện không có chụp đèn chiếu ánh sáng vừa chói gắt, vừa đìu hiu xuống những người đang ngủ ngáy và gã ngồi dậy, đánh thức người đàn bà. Hắn kể lại chuyện đó: Cái nhà kho đó có nhiều cửa dẫn đến đâu hắn không biết, nhưng hắn phải vất vả lắm mới tìm được một cái cửa sổ mà họ có thể sử dụng, hắn ôm cái gói giấy và đứa bé trèo qua cửa sổ trước. “Anh phải xé một tấm khăn trải giường để làm dây mà tụt xuống chứ nhỉ”, tù nhân có dáng người thấp đậm hỏi. Nhưng hắn không cần tấm khăn trải giường nào cả; giờ đây, trong bóng tối dày đặc, dưới chân hắn là những viên sỏi. Thành phố ở đâu đó ngoài kia nhưng hắn chưa và sẽ không nhìn thấy, mà chỉ thấy ánh sáng bất biến ở phía xa xa bên dưới; Bienville cũng từng đứng đó - đấy là trí tưởng tượng của một kẻ tự xưng là Napoleon, Andrew Jackson đã phát hiện ra nó chỉ cách đại lộ Pennsylvania một bước chân. Còn người tù thì nhận thấy đường quay trở lại kênh đào nơi con thuyền của hắn neo đậu cách khá xa chứ không phải chỉ một bước chân, tấm biển quảng cáo Coca-Cola giờ đây quá mờ, còn cây cầu thì hiện ra cong cong và khẳng khiu như chân nhện trên nền trời bình minh nhuốm màu vàng nhạt; hắn không kể chi tiết làm thế nào để đưa được thuyền trở lại mặt nước cũng như đưa được chiếc thuyền qua con đập cao sáu mươi feet. Cái hồ bây giờ ở phía sau hắn; chỉ có một hướng hắn có thể đi mà thôi. Khi nhìn thấy Sông một lần nữa, hắn nhận ra nó ngay lập tức. Hắn phải nhận ra bởi nó đã trở thành một phần quá khứ không thể gỡ bỏ của bản thân và cuộc đời hắn, là những gì hắn sẽ để lại cho đời sau nếu nó được lưu lại. Nhưng bốn tuần sau trông nó sẽ khác so với bây giờ: Ông Già đã phục hồi sau sự sa ngã, và đã lại thu mình về giữa hai bờ, êm trôi về phía biển, mang màu nâu nhạt tựa như một chiếc bánh sô cô la nằm giữa các con đê mà phía trong giống những khuôn mặt đầy nếp nhăn như thể đang biểu lộ vẻ kinh ngạc, sửng sốt, tê liệt, đội chiếc vương miện được tạo bởi màu xanh tươi thắm của những cây dương liễu giữa mùa hè; phía bên kia các khuôn mặt đó, cách mặt đê sáu mươi feet ở phía dưới là những con la lông bóng mượt cọ mông vào tay đẩy của những chiếc cày hai lưỡi di chuyển trên lớp đất màu mỡ người ta không cần cấy, cắm mà chỉ việc gieo hạt bông để chúng mọc mầm và phát triển; vào tháng Bảy có các thân cây khỏe khoắn đối xứng nhau kéo dài hàng dặm, những bông hoa tím sẽ bừng nở vào tháng Tám, và vào tháng Chín những cánh đồng sẽ được phủ tuyết trắng khắp lượt, các rãnh luống trở nên nhẵn thín bởi những chiếc bao tải dài bị kéo lê, những bàn tay dẻo dai không ngừng hái, ngắt, không gian nóng nực đầy tiếng rên của máy tỉa hạt bông; còn bây giờ, không gian của tháng Sáu bị chiếm lĩnh bởi mùi hoa thích hòe và sơn mới, mùi ôi chua của bột hồ trên giấy dán tường, những thị trấn, những ngôi làng, những sàn, lán đứng trên các cây cột gỗ cao lênh khênh phảng phất vẻ tiêu điều ở phía trong của con đê, những ngôi nhà thấp tươi tắn trong lớp sơn và giấy dán tường mới, thậm chí các vết đánh dấu mực nước của tháng Năm trên những thân cây, những cái cột, những chiếc cọc cũng đã mờ nhạt sau các cơn mưa ào ào và mau tạnh của mùa hè; có một tiệm bán hàng ở rìa đê, vài con la được thắng yên cương, mấy con chó, vài người da đen ngồi trên những cái bậc ở phía dưới các tấm biển quảng cáo bán thuốc lá và thuốc chữa bệnh sốt rét, vài ba người đàn ông da trắng mà một trong số họ là phó cảnh sát trưởng đang đi vận động bầu cử để đánh bại cấp trên của ông ta (người đã cho ông ta việc làm) trong cuộc bầu cử diễn ra vào tháng Tám: Tất cả đều dừng việc mình đang làm lại để quan sát chiếc thuyền hiện ra trên mặt nước và đang cập bờ giữa buổi trưa nắng chói chang, nhìn người đàn bà bế một đứa trẻ cùng người đàn ông có dáng người cao bước lên bờ, không khảo mà xưng, tự chứng minh mình là ai bằng cách mặc sẵn trên người bộ quần áo tù đã bạc màu nhưng mới được giặt sạch, dừng lại trong bụi đất nơi những con la đang ngủ lơ mơ, bằng con mắt lờ đờ lạnh lùng tuyệt nhiên không có vẻ hài hước trong khi ông phó cảnh sát trưởng thực hiện một cử chỉ mà tất cả mọi người chứng kiến đều hiểu là động tác giơ súng lên bắn nhưng lại chẳng thấy gì được bắn ra từ khẩu súng đó cả. Tuy nhiên chỉ bấy nhiêu thôi cũng là quá đủ đối với người mới đến.
“Ông là cảnh sát phải không?”, hắn hỏi.
“Đúng vậy”, phó cảnh sát trưởng đáp. “Để tôi làm cho khẩu súng này...”
“Được thôi”, người kia nói. “Kia là thuyền của các ông, còn đây là người đàn bà đó. Nhưng tôi không tìm thấy cái gã ở trên mái nhà trang trại đâu cả.”
❀ ❀ ❀
[1] Cajun (Cajan) là người dân tộc thiểu số có gốc gác từ nước Pháp, sống chủ yếu ở bang Louisiana, Hoa Kỳ.
[2] Louis Alcott (1832-1888) là nữ tiểu thuyết gia người Mỹ, nổi tiếng với tác phẩm Little Women (Những người phụ nữ bé nhỏ).
[3] Có nghĩa là: “Tuyệt! Món hời lớn đây rồi! Đúng là của trời cho!”.