Sáng hôm sau, một phụ tá của thống đốc bang đến trại giam. Anh ta khá trẻ (chưa quá ba mươi và rõ ràng anh ta không muốn mình bước sang độ tuổi ấy, có gì đó ở con người anh ta cho thấy một tính cách không bao giờ muốn bất cứ thứ gì nó đang hoặc sắp sở hữu) và là người của Hiệp hội học thuật Phi Beta Kappa [1] tại một trường đại học ở miền Đông, anh ta cũng mua cái vị trí đại tá trong đám phụ tá của thống đốc bằng cách đóng góp vào chiến dịch tranh cử; trong bộ quần áo được cắt may cẩu thả theo kiểu miền Đông với cái mũi khoằm, anh ta đứng và rải ánh mắt uể oải đầy vẻ khinh khỉnh lên các mặt hàng thực phẩm tại các cửa hàng nhỏ ở vùng xa xôi hẻo lánh, kể câu chuyện của mình rồi nhận được tràng cười hô hố của những kẻ thô tục; cũng với cái nhìn khinh khỉnh đó, anh ta mơn trớn những đứa trẻ được đặt tên theo cách để tưởng nhớ chính quyền sắp mãn nhiệm với tinh thần tôn vinh (hoặc với niềm hy vọng) dành cho chính quyền mới và (người ta nói về anh ta như vậy) vô tình mơn trớn mông của những người không còn là trẻ con, dù họ vẫn chưa đủ tuổi để đi bầu cử. Anh ta đang ở trong văn phòng của giám đốc trại giam với một chiếc cặp đựng tài liệu, và hiện giờ phó giám đốc trại cũng đang có mặt ở đó. Đáng lẽ ông ta được cử đi lo công việc nhưng không hiểu sao vẫn có mặt ở đó với cái mũ trên đầu; ông ta không gõ cửa mà gọi tay phụ tá trẻ của thống đốc bằng tên thân mật, vỗ lưng anh ta rồi ngồi gác chân lên chiếc bàn của giám đốc trại, gần như ở giữa ông giám đốc và vị khách - người đặc phái viên - mới viếng thăm. Viên quan chức cùng các mệnh lệnh vừa có mặt thì nút thắt của câu chuyện cũng xuất hiện ngay tức thì.
“Hừm”, đặc phái viên của thống đốc hỏi, “các ông vừa gây rắc rối phải không?”. Giám đốc trại hút xì gà đồng thời mời vị khách một điếu trong lúc nhìn cái gáy của cấp phó bằng ánh mắt lạnh lùng, thậm chí dữ tợn, còn viên phó giám đốc trại thì mở ngăn kéo và tự lấy cho mình một điếu.
“Đối với tôi, chuyện đó đủ rõ ràng rồi”, giám đốc trại nói. “Tù nhân đó bị nước cuốn đi ngoài ý muốn. Hắn đã quay trở lại ngay khi có thể và ra đầu thú.”
“Hắn thậm chí mang cả chiếc thuyền đó trở lại”, viên phó giám đốc trại lên tiếng. “Nếu ném chiếc thuyền đi thì hắn có thể đã quay trở lại trại trong vòng ba ngày. Nhưng không, thưa ông. Hắn đã mang chiếc thuyền về rồi nói: ‘Đây, thuyền của các ông đây, người đàn bà mà các ông sai tôi đi cứu đây, nhưng tôi không tìm thấy gã khốn nào trên mái nhà trang trại cả’.” Ông ta vỗ đầu gối và cười hô hố. “Ôi, cái bọn tù nhân. Thậm chí giống lừa cũng khôn gấp đôi.”
“Lừa khôn gấp đôi bất cứ giống gì trừ bọn chuột”, gã đặc phái viên nói bằng giọng thích thú. “Nhưng đó không phải là vấn đề.”
“Vậy vấn đề ở đây là gì?”, giám đốc trại hỏi. “Người đó đã chết.”
“Ô, hắn đã chết đâu”, phó giám đốc trại nói. “Hiện giờ hắn đang ở trong trại này. Tôi sẽ dẫn ông tới đó để tận mắt nhìn thấy hắn.” Giám đốc trại nhìn cấp phó của mình.
“Này”, ông ta nói. “Bledsoe đã cố nói với tôi điều gì đó về cái chân của con la Kate. Ông nên tới chuồng la và...”
“Tôi cũng muốn nói như thế đấy”, phó giám đốc trại đáp. Ông ta thậm chí không nhìn giám đốc, mà nhìn và nói với đặc phái viên của thống đốc. “Không phải vậy đâu thưa ông, hắn chưa...”
“Nhưng hắn được cấp giấy miễn ngồi tù với lý do đã chết. Không phải giấy chứng nhận tha tội hay cam kết giữ tư cách đạo đức tốt để được ân xá, mà là được miễn ngồi tù. Hắn hoặc đã chết hoặc đã được tự do. Dù trong trường hợp nào thì hắn cũng không thuộc về nơi đây nữa.” Bây giờ cả giám đốc trại lẫn phó giám đốc đều nhìn đặc phái viên, miệng phó giám đốc hơi há ra, điếu thuốc lá đã bị nhấm một đoạn đầu vẫn ở trong tay ông ta. Đặc phái viên nói với vẻ thích thú khá lộ liễu: “Quyết định này được giám đốc trại gửi lên Thống đốc bang căn cứ vào báo cáo về trường hợp tử vong của tù nhân đó”. Phó giám đốc trại ngậm miệng, dù nếu không làm thế, ông ta cũng chỉ ngồi bất động. “Dựa trên bằng chứng chính thức do sĩ quan được giao làm nhiệm vụ vào thời điểm ấy và là người có trách nhiệm đưa tên tù đó về trại cung cấp.” Lúc này, phó giám đốc trại đặt điếu thuốc lên môi và nói: “Ra thế. Vậy là tôi đã nhầm ư?”. Ông ta cười gằn một tiếng giả tạo, chỉ có vỏn vẹn hai nốt. “Khi tôi từng đoán đúng kết quả của cả ba cuộc bầu cử - ba đời chính quyền liên tiếp sao? Ai đó ở Jackson có thể tìm ra điều này trong một cuốn sách nào đó đấy. Và nếu họ không thể thì tôi có thể chỉ cho...”
“Ba đời chính quyền ư?”, đặc phái viên hỏi. “Ồ, khá đấy.” “Đúng vậy”, giám đốc trại nói. “Khối người làm ra vẻ mình là chuyên gia nhưng lại đoán sai bét đấy”. Giám đốc trại lại nhìn cái gáy của cấp phó.
“Này”, ông ta nói. “Tại sao ông không tới nhà tôi để lấy một chai whiskey trong tủ và mang tới đây nhỉ?”
“Được thôi”, phó giám đốc đáp. “Nhưng tôi nghĩ chúng ta nên giải quyết việc này cho xong đi đã. Tôi sẽ nói cho ông biết chúng ta sẽ làm gì...”
“Chúng ta có thể giải quyết nó nhanh hơn nếu uống một hoặc hai ly”, giám đốc trại nói. “Ông nên về tìm áo khoác rồi đến chỗ tôi lấy rượu đi...”
“Việc đó không mất quá nhiều thời gian đâu”, phó giám đốc trại đáp lời. “Tôi không cần áo khoác.” Ông ta bước đi rồi dừng ở ngưỡng cửa và quay đầu lại. “Tôi sẽ nói cho các ông biết những việc phải làm. Hãy gọi mười hai người đàn ông tới đây và nói với hắn ta đó là một hội đồng xét xử, hắn ta chưa bao giờ thấy hội đồng xét xử nào ở đây nên sẽ không biết đâu, và hãy khép hắn vào chính cái tội cướp trên tàu hỏa mà hắn đã phạm phải. Hamp có thể đóng vai quan tòa.”
“Ông không thể kết án một người hai lần vì cùng một tội”, đặc phái viên phản đối. “Hắn có thể sẽ biết điều đó cho dù chẳng rõ hội đồng xét xử là cái quái gì.”
“Nghe này”, giám đốc trại nói.
“Được thôi. Hãy gọi đó là một vụ cướp mới trên tàu hỏa. Hãy nói với hắn rằng nó mới xảy ra ngày hôm qua và chính hắn đã tiến hành vụ cướp trên một chuyến tàu khác trong thời gian vắng mặt ở trại, rồi xét xử hắn vì tội đó. Hắn không thể chống đỡ được đâu. Vả lại hắn cũng không quan tâm. Hắn tự nguyện ở tù mà. Nếu ra tù, hắn sẽ chẳng có nơi nào để đi cả. Các tù nhân khác cũng vậy thôi. Cứ thả hắn ra mà xem, hắn sẽ quay lại đây trước Giáng Sinh như thực hiện một cuộc đoàn tụ hoặc đại khái thế, vì đã làm chính cái việc từng khiến mình bị tống vào đây.” Ông ta lại cười hô hố. “Bọn tù nhân này ngu lắm.”
“Này”, giám đốc trại nói. “Khi tới đó, ông nên mở chai rượu và kiểm tra xem rượu còn ngon không. Hãy uống thử một hoặc hai ly và cho mình thời gian để cảm nhận hương vị của rượu nhé. Nếu rượu không ngon thì đừng mang tới đây làm gì cho phí công.”
“OK”, phó giám đốc trại nói. Lần này ông ta đi thật. “Ông không thể khóa cửa lại sao?”, đặc phái viên hỏi.
Giám đốc trại khẽ vặn vẹo người và đổi thế ngồi trên ghế.
“Suy cho cùng ông ta nói đúng”, giám đốc trại lên tiếng. “Ông ta đã đoán đúng kết quả của ba cuộc bầu cử liên tiếp. Và tốt với tất cả mọi người ở Pittman trừ đám dân da đen.”
“Có lẽ chúng ta phải làm việc khẩn trương mới được.” Đặc phái viên mở cặp và lấy ra một tập tài liệu. “Ông xem đi”, anh ta nói.
“Cái gì vậy?”
“Hắn đã trốn trại.”
“Nhưng hắn đã tự nguyện quay trở lại và ra đầu thú kia mà.”
“Nhưng hắn đã trốn trại.”
“Thôi được”, giám đốc trại nói. “Hắn đã trốn trại. Vậy thì có chuyện gì nào?”
Bây giờ đến lượt đặc phái viên nói: “Nghe này. Tôi được trả công tác phí theo ngày. Đó là tiền của những người đóng thuế và cử chi. Và nếu có bất cứ cơ hội nào để ai đó tiến hành một cuộc điều tra về chuyện này thì sẽ có mười thượng nghị sĩ và hai mươi lăm đại biểu do dân cử có mặt ở đây trên một chuyến tàu đặc biệt. Tôi ăn lương theo ngày. Và sẽ thật khó để ngăn vài người trong số họ quay trở lại Jackson theo đường Memphis hoặc New Orleans, ngay trong ngày”. “Thôi được”, giám đốc trại đồng thuận. “Vậy tôi phải nói hắn đã làm gì?”
“Hãy nói hắn đã rời khỏi đây dưới sự giám sát của một sĩ quan đặc biệt nhưng được một người khác đưa trở lại nơi này.”
“Nhưng hắn đã ra đầu thú...” Lần này không bị ngắt lời, song ông giám đốc trại tự bỏ lửng câu nói. Ông ta gần như nhìn chằm chằm người đặc phái viên. “Được. Ông nói tiếp đi.”
“Hắn đã rời khỏi đây dưới sự giám sát của một sĩ quan được giao làm nhiệm vụ vào thời điểm đó, song người ấy quay trở lại và báo rằng tù nhân kia không còn trong tầm giám sát của mình nữa; thực tế anh ta chẳng biết hắn đang ở đâu. Đúng không nào?” Ông giám đốc trại không nói gì. “Điều đó không đúng sao?”, đặc phái viên khăng khăng hỏi với vẻ thích thú.
“Nhưng ông không thể làm điều đó với phó giám đốc trại được. Tôi đã nói với ông rằng ông ta tốt với một nửa...”
“Chuyện đó đã được lo liệu rồi. Cấp trên đã dọn sẵn cho ông ta một chỗ làm ở trạm tuần tra trên đường cao tốc.”
“Chết tiệt thật”, giám đốc trại nói. “Ông ta không thể lái xe mô tô. Tôi thậm chí còn không để ông ta thử lái một chiếc xe tải.”
“Ông ta sẽ không phải lái mô tô đâu. Chắc chắn một bang giàu lòng biết ơn như bang này có thể cung cấp cho người đã dự đoán chính xác ba lần trong ba cuộc bầu cử thống đốc liên tiếp ở Mississippi một chiếc xe hơi để lái và một tài xế nếu cần. Thậm chí không phải lúc nào ông ta cũng buộc phải ở trong xe. Chỉ cần ông ta ở đủ gần để nghe thấy và có mặt khi một thanh tra thổi còi là được.”
“Tôi vẫn không thích điều đó”, giám đốc trại nói.
“Tôi cũng có thích thú gì đâu. Người tù của ông có thể đã cứu chúng ta thoát khỏi tất cả chuyện này nếu hắn cứ biến đi và chết đuối ở đâu đó như người ta nghĩ. Nhưng hắn lại không chết. Và cấp trên nói phải làm như vậy. Ông có thể nghĩ ra cách nào hay hơn không?”
Giám đốc trại thở dài, “Không”.
“Thôi được.” Đặc phái viên mở tập tài liệu, tháo nắp bút ra và bắt đầu viết. “Trốn trại có chủ ý, phạt bổ sung mười năm tù”, anh ta nói. “Phó giám đốc trại Buckworth được điều chuyển công tác tới trạm tuần tra trên đường cao tốc. Hãy gọi đó là nhiệm vụ xứng đáng nếu ông muốn. Giờ thì điều đó chẳng quan trọng nữa. Xong chưa nào?”
“Xong”, giám đốc trại đáp.
“Vậy hãy cho gọi hắn và giải quyết cho xong việc đi.” Thế là giám đốc trại gọi tù nhân có dáng người cao tới; hắn xuất hiện với vẻ ủ rũ, trang nghiêm trong bộ quần áo tù mới toanh, xương hàm của hắn nhô ra, hơi xanh xao dưới làn da rám nắng, mái tóc mới được cắt và rẽ ngôi gọn ghẽ vẫn còn thoang thoảng mùi sáp thơm của người thợ cạo (người thợ cạo lĩnh án chung thân vì tội giết vợ và vẫn làm công việc đó khi ở trong tù). Giám đốc trại gọi tên người tù.
“Anh không gặp may rồi.” Người tù không nói gì. “Họ sẽ phải bổ sung mười năm vào án tù của anh.”
“Được thôi”, người tù đáp. “Thật không may. Tôi rất tiếc.”
“Được thôi”, người tù nhắc lại. “Nếu đó là luật.” Vậy là người ta cho hắn thêm mười năm tù còn giám đốc trại thì cho hắn một điếu thuốc; Hiện giờ, hắn ngồi cúi gập người trong cái khoảng chật hẹp giữa hai chiếc giường tầng, với điếu thuốc chưa được châm lửa trên tay trong khi tù nhân có dáng người thấp đậm và bốn người tù khác nghe hắn kể chuyện. Thỉnh thoảng các bạn tù hỏi hắn vài câu, vì mọi chuyện đã kết thúc và giờ hắn lại được an toàn rồi, vậy nên có nói cũng chẳng để làm gì.
“Rồi”, tù nhân có dáng người thấp đậm nói. “Vậy là anh đã quay trở lại Sông. Sau đó chuyện gì xảy ra?”
“Chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Tôi chèo thuyền đi.” “Chèo thuyền quay trở lại cũng vất vả lắm phải không?” “Mực nước vẫn còn cao và chảy xiết. Trong khoảng một, hai tuần đầu, tôi không đi nhanh được. Sau đó tình hình khá hơn.” Thế rồi có điều gì đó không thể diễn tả một cách rõ ràng lẫn tính ngại nói cố hữu bỗng nhiên lặng lẽ tan biến, và hắn nhận thấy mình có thể kể chuyện một cách bình tĩnh, ngôn từ không tuôn trào như cháo chảy nhưng cũng trôi ra đầu lưỡi một cách dễ dàng như mong muốn: Hắn kể mình đã chèo thuyền đi (bằng nỗ lực, hắn phát hiện ra rằng mình có khả năng đạt được tốc độ lớn hơn, nếu có thể gọi đó là tốc độ, tới bến đỗ tiếp theo - điều này xảy ra sau khi hắn cắm đầu chèo thuyền ra giữa dòng trước khi kịp dừng việc đó lại và nhận ra con thuyền đang di chuyển trở lại vùng nước mà hắn vừa mới thoát ra, vậy là hắn phải mất khá nhiều thời gian của buổi sáng để quay trở lại ven bờ, chèo thuyền ngược lên phía kênh đào nơi mình xuất phát từ lúc bình minh) cho đến khi màn đêm buông xuống, họ cột thuyền vào bờ sông, ăn chút thức ăn mà hắn giấu trong túi áo trước khi rời khỏi cái kho vũ khí ở New Orleans, còn người phụ nữ và đứa bé thì ngủ trên thuyền như mọi khi, rồi khi ánh sáng ban ngày xuất hiện, họ tiếp tục đi, tối đến lại neo thuyền vào bờ; ngày tiếp theo, họ hết thức ăn, hắn phải cho thuyền dừng lại ở một thị trấn mình không biết tên và kiếm được việc làm ở một trang trại trồng lau.
“Lau ư?”, một trong những tù nhân hỏi. “Họ trồng lau để làm quái gì nhỉ? Anh chặt lau cơ đấy. Ở quê tôi, người ta phải vật lộn với cái giống đó bằng cách đốt trụi lủi mới ngăn không cho nó mọc lại được.”
“Thực ra không phải lau mà là lúa miến”, tù nhân có dáng người cao nói.
“Lúa miến ư?”, một người khác hỏi. “Cả một trang trại toàn lúa miến ư? Lúa miến ư? Họ làm cái quái gì với thứ cây ấy?” Tù nhân có dáng người cao không biết câu trả lời vì hắn đã không hỏi; khi đi lên đê, hắn thấy một chiếc xe tải chở đầy người da đen đang đỗ ở đó, rồi một người đàn ông da trắng hỏi hắn, “Này anh. Anh có biết cày ruộng không?” và người tù đáp “có”, rồi người đàn ông nói, “vậy thì lên xe đi” và người tù đáp, “chỉ có điều tôi có...”.
“Phải”, tù nhân có dáng người thấp đậm nói. “Tôi đang định hỏi điều đó đây. Họ...?” Vẻ mặt của tù nhân có dáng người cao nghiêm trang, giọng nói vẫn điềm tĩnh, chỉ hơi cộc cằn.
“Họ có lều dành cho người làm thuê. Lều riêng.”
Tù nhân có dáng người thấp đậm nhìn hắn và chớp chớp mắt.
“Họ nghĩ cô ta là vợ của anh phải không?”
“Tôi không biết. Tôi nghĩ vậy.” Tù nhân có dáng người thấp đậm lại nhìn hắn và chớp chớp mắt.
“Cô ta không phải là vợ anh sao? Trải qua cả hành trình như thế, anh nói gì nào?” Tù nhân có dáng người cao không trả lời. Một lát sau, hắn giơ điếu thuốc lên cao như để kiểm tra xem có phải giấy gói thuốc đã bị lỏng ra hay không, vì sau đó, hắn đã liếm đầu điếu thuốc một cách cẩn thận. “Thôi được”, tù nhân có dáng người thấp đậm nói. “Chuyện gì xảy ra sau đó?” Vậy là hắn làm việc ở đó bốn ngày. Hắn không thích thế. Có lẽ là bởi hắn không thể đặt lòng tin vào cái giống cây mà mình tin là lúa miến. Vậy nên khi họ nói với hắn rằng ngày thứ Bảy đã đến và trả công cho hắn, còn người đàn ông da trắng nói về một người nào đó sẽ đi Baton Rouge bằng thuyền gắn máy vào ngày hôm sau, hắn đã tìm gặp người đó, dùng sáu đô la mình kiếm được để mua thức ăn và buộc con thuyền vào đuôi của chiếc xuồng máy để tới Baton Rouge. Không mất nhiều thời gian để tới đó, và thậm chí sau khi hắn cùng người đàn bà rời khỏi chiếc xuồng máy kia ở Baton Rouge rồi lại tự điều khiển con thuyền của mình, hắn vẫn có cảm giác Sông đã rút bớt nước và dòng chảy không còn nhanh, mạnh như trước, vậy nên họ di chuyển khá nhanh; khi đêm xuống, hắn lại buộc thuyền bên bờ sông giữa những cây liễu, còn người đàn bà cùng đứa trẻ vẫn ngủ trên thuyền như trước. Rồi thức ăn cạn kiệt. Lần này, họ dừng lại tại một khu khai thác gỗ - nơi gỗ được xếp đống và đợi được chuyển đi, có một đội chuyên chở đang chất một chuyến gỗ lên chiếc xe kéo. Những người đàn ông trên xe nói với hắn về một nhà máy cưa và rủ hắn kéo thuyền lên đê; họ muốn hắn bỏ lại thuyền ở đó nhưng hắn không nghe, vì thế họ đưa cả chiếc thuyền, hắn, người đàn bà lẫn đứa trẻ lên xe tải để tới nhà máy cưa. Người ta cấp cho hắn căn phòng nằm trong một dãy nhà tập thể để ở tạm. Họ trả hắn hai đô la cho một ngày công lao động và cung cấp đồ dùng thiết yếu cho hắn. Công việc vất vả nhưng hắn vẫn thích. Hắn ở lại đó tám ngày.
“Nếu thích công việc đó như vậy thì tại sao anh lại bỏ?”, tù nhân có dáng người thấp đậm hỏi. Người kể chuyện lại kiểm tra điếu thuốc, giơ cao nó lên nơi hắt ra thứ ánh sáng màu sô cô la.
“Tôi gặp rắc rối”, hắn nói. “Rắc rối gì?”
“Rắc rối với đàn bà. Đó là vợ của một gã đàn ông.” “Anh muốn nói rằng anh vật lộn, đi lên đi xuống, trôi dạt hết chỗ này đến chỗ kia ngày cũng như đêm trong hơn một tháng trời để rồi lần đầu tiên có cơ hội dừng chân để thở, anh lại gặp rắc rối với đàn bà ư?” Quả thật, tù nhân có dáng người cao đã nghĩ đến chuyện ấy. Đã nhiều lần và trong nhiều giây, hắn nhớ chuyện ấy; thoạt đầu, nếu không phải vì đứa bé mới sinh thì hắn có thể đã thử làm chuyện ấy. Nhưng ham muốn chỉ phát sinh trong vài giây bởi ngay sau đó, con người hắn dường như trốn chạy khỏi cái ý nghĩ ấy trong nỗi khiếp sợ kinh hoàng; hắn nhận thấy mình đang nhìn cái gánh nặng bản thân buộc phải mang, nghĩ, mà không, là nói to, với nỗi oán hận ghê gớm dù lần cuối cùng hắn gần đàn bà là từ hai năm trước - đó là một ả đàn bà da đen ất ơ và chẳng mấy trẻ trung mà hắn tình cờ vớ được trong một ngày ả lang thang thăm tù vào Chủ nhật, người đàn ông ả đến thăm - chồng hoặc người yêu của ả - đã bị một người tù được giao nhiệm vụ quản những tù nhân khác bắn chết khoảng một hoặc hai tuần trước, nhưng ả không biết điều đó: “Ả thậm chí chẳng tử tế với tôi trong chuyện đó”.
“Nhưng anh cũng đã có được cô ta, đúng không?”, tù nhân có dáng người thấp đậm hỏi.
“Đúng vậy”, tù nhân có dáng người cao nói. Bạn tù của hắn lại nhìn hắn, chớp chớp mắt.
“Chuyện ấy có ổn không?”
“Ổn”, một người tù khác đáp. “Thế nào? Anh kể tiếp đi. Anh đã gặp thêm bao nhiêu ả nữa trên đường quay về? Có những gã đã dính vào chuyện ấy thì dường như không thể bỏ lỡ cho dù...” Và thế là người tù tiếp tục kể. Hắn và người đàn bà vội vã rời nhà máy cưa mà không có thời gian để mua thức ăn cho đến khi họ tới điểm dừng chân tiếp theo. Ở đó, hắn tiêu hết toàn bộ mười sáu đô la mình kiếm được rồi họ đi tiếp. Nước sông đúng là đã rút thêm chút nữa song vẫn chảy xiết, và mười sáu đô la dường như mua được khá nhiều thức ăn - đủ cho hắn lẫn người đàn bà. Lần này, họ đến một vùng trồng bông ở sông Mississippi; hắn lại có cảm giác mình đang nắm vai bừa bằng tay phải, hình ảnh quen thuộc về cái mông tròn căng và bóng mượt của con la cọ vào vai bừa cứ hiện ra, mặc dù ở đây, mỗi ngày người ta chỉ trả cho hắn một đô la. Nhưng chuyện là như thế. Hắn kể lại cho bạn tù nghe việc người ta nói với hắn rằng đã đến thứ Bảy... Và khi ấy là đêm, với chiếc đèn lồng ám khói đặt trên mặt đất bằng phẳng, cằn cỗi, kiệt quệ và nhẵn thín như bạc, một đám người cong lưng ngồi thành vòng tròn thốt ra những tiếng nói và lẩm bẩm đầy thúc bách, các xấp tiền ít ỏi, nhàu nhĩ được để dưới những đầu gối cong queo với những con súc sắc có đốm kêu lóc cóc, lăn vội vã trong bụi đất; chuyện là thế đấy. “Anh thắng được bao nhiêu?”, người tù thứ hai hỏi. “Đủ”, tù nhân có dáng người cao trả lời.
“Nhưng đủ là bao nhiêu mới được chứ?”
“Đủ”, tù nhân có dáng người cao nhắc lại. Đúng là đủ thật; hắn đã đưa tất cả số tiền thắng bạc cho người đàn ông có chiếc thuyền gắn máy (bây giờ hắn không cần thức ăn nữa), hắn và người đàn bà ở trên chiếc thuyền gắn máy đó, còn thuyền của hắn thì được kéo theo sau; người đàn bà bế đứa bé, còn gói giấy báo được để bên dưới bàn tay đặt trong lòng hắn; và thứ hắn gần như nhận ra ngay lập tức không phải Vickburg (bởi hắn chưa bao giờ nhìn thấy nơi đó) mà là các lớp sóng của những cái cây, nhà lẫn xác động vật mà một tháng ba tuần trước đó, hắn đã va phải; khi chiếc thuyền gắn máy đi qua vùng đó, hắn nhìn nơi ấy mà không hề giận dữ, thậm chí còn chẳng quan tâm. Nhưng rồi hắn bắt đầu quan sát bờ sông lẫn con đê. Hắn không biết làm thế nào mình lại nhận ra chỗ đó, nhưng quả thật buổi trưa hôm ấy, hắn đủ chắc chắn để biết rằng đã đến lúc mình phải dừng lại, vậy là hắn nói với chủ thuyền: “Tôi nghĩ đúng là chỗ này rồi”.
“Ở đây ư?”, chủ thuyền hỏi. “Chỗ này trông lạ lắm.” “Tôi nghĩ đúng là chỗ này”, người tù khẳng định. Vậy là thuyền cập bờ, động cơ tắt và chủ thuyền tháo dây buộc thuyền của hắn ra.
“Anh nên để tôi tiễn một đoạn cho tới khi chúng ta tới được một chỗ nào đó”, anh ta lên tiếng. “Đấy là những gì tôi đã hứa.”
“Tôi nghĩ mình đến nơi rồi”, người tù đáp. Vậy là họ lên bờ và hắn đứng đó với sợi dây buộc thuyền trong tay trong khi chiếc thuyền kia nổ máy rồi chạy ra xa, nhưng không nhìn theo nó. Hắn đặt gói giấy báo xuống, buộc dây cột thuyền vào một gốc liễu rồi cầm cái gói lên và quay gót. Không nói một lời, hắn lẳng lặng leo lên đê, đi qua cột báo mực nước có mốc đánh dấu mức thủy triều dâng trước đây đã khô và tạo thành một đường kẻ dọc ngang các vết nứt trống rỗng, tựa những nụ cười ngớ ngẩn của tuổi già, sau đó, hắn đi vào một lùm cây liễu, cởi bỏ chiếc quần cùng sơ mi mà những người ở New Orrleans cho mình rồi quẳng chúng xuống đất mà chẳng thèm nhìn xem chúng rơi xuống chỗ nào, tiếp đến là mở cái gói giấy báo, lấy ra bộ quần áo tù quen thuộc đã bạc thếch, loang lổ những vết ố lẫn nếp gấp nhàu nhĩ, nhưng đã được giặt sạch và dễ nhận ra, mặc chúng vào rồi quay trở lại thuyền, tiếp tục cầm mái chèo. Người đàn bà đã ở sẵn trên đó.
Tù nhân có dáng người thấp đậm chớp chớp mắt nhìn hắn. “Vậy là anh đã quay trở về”, anh ta nói. “Chao ôi!” Giờ đây, tất cả bọn họ đều nhìn tù nhân có dáng người cao đang nhẩn nha cắn đầu của điếu thuốc và nhổ nó đi, rồi lại liếm đầu điếu thuốc ẩm vừa bị cắn trong khi lấy một bao diêm từ trong túi ra, nhìn kỹ que diêm một lát như để đảm bảo rằng nó là một que diêm tốt và đáng để châm lửa cho điếu thuốc, rồi đánh diêm với vẻ thong thả và cẩn thận không kém - một động tác quá chậm để đánh lửa - sau đó cầm que diêm cho tới khi nó cháy thành ngọn lửa và châm thuốc. Tù nhân có dáng người thấp đậm nhìn hắn, chớp mắt lia lịa. “Và người ta cộng thêm cho anh mười năm tù vì tội trốn trại. Tệ thật. Một thằng đàn ông có thể quen với những gì người ta quẳng cho hắn ngay từ đầu, bao nhiêu thời gian, một trăm chín mươi chín năm cũng được. Nhưng thêm mười năm nữa. Mười năm. Khi mà anh hoàn toàn không ngờ tới. Mười năm không đời sống xã hội, không đàn bà...” Tù nhân có dáng người thấp đậm nhìn tù nhân có dáng người cao, tiếp tục chớp mắt lia lịa. Nhưng hắn (tù nhân có dáng người cao) cũng đã nghĩ về điều đó. Hắn không phải chưa từng có người yêu. Hắn từng đi nghe hát ở nhà thờ, đi picnic với cô ta - một cô gái chân ngắn trẻ hơn hắn một tuổi, có bộ ngực phốp pháp, cặp môi dày và đôi mắt như màu nho xạ chín, từng làm bột bánh dính vào cả hoa tai, ghim cài áo lẫn những chiếc nhẫn được mua (hoặc được tặng) từ một cửa hàng bán đồ rẻ tiền. Hắn từng tiết lộ kế hoạch của mình với cô ta, sau đó đã ba lần hắn ngẫm nghĩ lại chuyện ấy và cho rằng có lẽ nếu không phải vì cô ta, hắn đã không thử thực hiện vụ cướp ở trên tàu - đó chỉ là cảm giác thôi, chẳng thể nói thành lời, bởi hắn không diễn đạt nổi điều đó: Biết đâu đấy, cô ta lại có giấc mơ xảo quyệt là được làm cô dâu của Capone [2] cũng như được sở hữu một chiếc xe hơi có cửa kính màu trang bị súng máy lao vun vút qua nút đèn giao thông. Nhưng tất cả đã trở thành quá khứ, mọi chuyện đã kết thúc khi ý nghĩ đầu tiên lóe lên trong đầu hắn, và ba tháng sau khi hắn bị tống giam, cô ta đến thăm hắn. Cô ta đeo đôi bông tai và những chiếc vòng tay mà trước đó hắn chưa từng nhìn thấy; hắn cũng không biết rõ cô ta đã vượt một chặng đường xa như thế bằng cách nào, và cô ta khóc như mưa như gió trong ba phút đầu tiên dù (và hắn không biết họ đã chia tay nhau ra sao, cũng chẳng rõ làm thế nào cô ta quen được với những người ở trại giam) hắn vừa nhìn thấy cô ta nói chuyện thân mật với một người lính gác. Nhưng tối hôm ấy trước khi rời khỏi đó, cô ta đã hôn hắn và nói rằng ngay khi có cơ hội, cô ta sẽ quay trở lại thăm hắn, rồi ôm hắn như không thể rời xa được đến mức đổ mồ hôi nhễ nhại, và hắn thấy người cô ta tỏa ra thứ mùi ngọt ngào, thơm tho của da thịt thiếu nữ. Nhưng cô ta không quay lại dù hắn vẫn tiếp tục viết thư, thế rồi bảy tháng sau, hắn nhận được câu trả lời. Đó là một tấm bưu thiếp in thạch bản màu của một khách sạn ở Birmingham với chữ X ngây ngô được in đậm trước hình một ô cửa sổ, chữ viết tay ở mặt sau tấm thiếp cũng xiên xẹo như chữ của trẻ học vỡ lòng: Gửi từ nơi nghỉ tuần trăng mật. Bạn của ông(bà) Vernon Waldrip.
Tù nhân có dáng người thấp đậm đứng nhìn tù nhân có dáng người cao, chớp mắt lia lịa. “Thế đấy”, gã nói. “Vậy nên thêm mười năm tù nữa mới đau chứ. Mười năm không đàn bà, không có cái mùi đàn bà mà một gã đàn ông muốn có...” Gã nhìn tù nhân có dáng người cao trong khi vẫn chớp mắt liên tục. Người bạn tù của gã không cử động, vẫn ngồi gập người giữa hai chiếc giường tầng, nghiêm trang và sạch sẽ, với điếu thuốc cháy đượm trong bàn tay không hề run rẩy, và khói thuốc cuộn thành vòng tròn quanh khuôn mặt ủ dột, điềm tĩnh, không gợn vẻ hài hước của hắn. “Thêm mười năm nữa...”
“Đàn bà, khốn kiếp thật”, tù nhân có dáng người cao buột miệng nói.
- - - Hết - - -
❀ ❀ ❀
[1] Hiệp hội học thuật danh tiếng nhất nước Mỹ được thành lập vào tháng 12 năm 1776.
[2] Capone là một tên găng-xtơ khét tiếng hoạt động ở Chicago vào những năm đầu thế kỷ XX.