Cọ Hoang

Lượt đọc: 74 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CỌ HOANG

❊ ❊ ❊

Lần này ông bác sĩ và người đàn ông có tên Harry cùng bước qua ngưỡng cửa, đi ra cái cổng tối om trong gió đen đầy tiếng lao xao của những tàu lá cọ vô hình. Ông bác sĩ cầm chai whiskey vẫn còn một nửa, song có lẽ không ý thức được chai rượu đang ở trong tay mình nên chỉ lắc lắc bàn tay chứ không lắc chai rượu trước khuôn mặt không nhìn rõ của người đàn ông đang đứng trên một điểm cao hơn mình. Giọng nói của ông bác sĩ lạnh lùng, rõ ràng và chắc chắn đấy là giọng của người theo chủ nghĩa đạo đức khắt khe luôn làm điều cần phải làm, và có lẽ chính bản thân ông ta cũng tin rằng mình nhất định sẽ làm thế để bảo vệ các quy tắc đạo đức và sự thiêng liêng của cái chủ nghĩa mà bản thân lựa chọn, nhưng thực ra là vì cho rằng mình đã quá già để trải nghiệm chuyện này, để bị đánh thức lúc nửa đêm mà không hề được báo trước hay bị kéo vào chuyện ái tình mê cuồng và sinh động khi còn chưa tỉnh ngủ hẳn; đó là những gì đã không xảy đến khi ông còn đủ trẻ và xứng đáng với nó, song ông chẳng những đã chịu đựng được mà còn cảm thấy mình may mắn và đúng đắn khi lựa chọn bỏ qua nó.

“Anh đã giết cô ta”, ông nói.

“Đúng thế”, người kia đáp, với vẻ gần như nôn nóng - điều mà giờ đây ông bác sĩ mới chú ý đến. “Bệnh viện. Ông sẽ gọi điện, hoặc...”

“Phải rồi, cô ta đã bị giết! Ai đã giết cô ta?”

“Tôi. Ông đừng đứng đó nói này nói nọ nữa. Ông sẽ gọi điện...”

“Tôi hỏi, ai đã giết cô ta? Ai đã thực hiện việc đó? Tôi cần được biết.”

“Tôi đã nói với ông rằng chính tôi đã giết cô ấy. Chính tôi. Thề có Chúa!” Anh nắm chặt lấy cánh tay ông bác sĩ và ông cảm nhận được cái nắm tay đó cũng như nghe thấy tiếng nói của chính mình:

“Gì cơ?”, ông hỏi. “Anh ư? Anh đã làm việc đó ư? Chính anh ư? Nhưng tôi cứ nghĩ anh là...” Ông bác sĩ muốn nói, Tôi cứ nghĩ anh là người yêu của cô ta cơ. Cứ nghĩ anh là người... Quá quắt lắm đấy! Phải có quy tắc cũng như giới hạn đối với chuyện thông dâm, ngoại tình, nạo thai, phạm tội chứ và, Cả với tình yêu, sự si mê, bi kịch được phép xảy ra với bất cứ ai để người đó không giống như Chúa phải chịu đựng tất cả những cực hình khủng khiếp mà quỷ Satan biết chứ! Cuối cùng, ông thậm chí cũng nói ra vài điều mình nghĩ và giật tay ra một cách quyết liệt, không hẳn vì cảm thấy bàn tay của người đó như thể một con nhện, bò sát hay thứ gì đó bẩn thỉu, mà vì phát hiện ra cái đang bám vào tay áo mình giống thứ gì đó vô thần không đến nỗi tai hại, như thể sự xúc phạm ghê gớm và tinh thần bất tử đã xoay xở để rút êm về vương quốc của đạo đức thuần túy. “Quá quắt lắm!”, ông kêu lên. “Ở yên đây! Đừng cố bỏ trốn! Anh có trốn đằng trời cũng không thoát được đâu!”

“Bỏ trốn ư?”, người kia hỏi. “Bỏ trốn ư? Nhân danh Chúa, ông sẽ gọi xe cứu thương chứ?”

“Không phải lo, tôi sẽ gọi!”, ông bác sĩ gắt lên. Giờ đây, trong gió đêm dữ dội của bầu trời đen thăm thẳm, ông đang ở dưới vòm cổng và sẵn sàng chạy bằng đôi chân nặng nề của mình. “Anh chớ có bỏ trốn đấy!”, ông ngoái đầu lại nói, “Chớ có bỏ trốn!”. Wilbourne nhìn ánh đèn của chiếc đèn pin trong tay ông bác sĩ nhấp nhoáng trên giậu trúc đào, cứ như thể ánh sáng yếu ớt chẳng đáng kể ấy cũng phải đấu tranh trước sức nặng không thay đổi và tàn nhẫn của gió đêm. Ông ta đã không quên điều đó, Wilbourne vừa nghĩ vừa nhìn theo ánh đèn pin. Nhưng cũng có thể ông ta không bao giờ quên bất cứ điều gì trong đời mình trừ việc từng sống và chắc chắn đã chào đời trong tình trạng còn sống. Nghĩ tới từ “sống”, anh chợt ý thức đến trái tim mình, như thể tất cả những nỗi sợ hãi sâu xa chỉ đợi được hối thúc là lập tức trỗi dậy. Anh cũng có thể cảm nhận được những cơn gió thổi qua khi chớp chớp mắt nhìn theo ánh đèn cho đến khi nó biến mất khỏi giậu trúc đào; anh không thể ngừng chớp mắt liên tục trong - gió đêm. Tuyến lệ của mình có vấn đề rồi, anh nghĩ khi nghe tiếng trái tim mệt mỏi gào thét, cứ như thể đang bơm cát chứ không phải máu, không phải bơm chất lỏng, anh nghĩ. Nó đang cố gắng bơm. Mình nghĩ không phải là mình chẳng thể thở nổi mà là nghẹt thở với thứ gió này.

Anh quay gót rồi bước vào cổng. Cũng giống như lần trước, anh và gió đen lại tựa hai sinh vật đang cố vào cùng một lối. Chỉ có điều gió thực sự không muốn vào, anh nghĩ. Không cần vào hay buộc phải vào. Đó chỉ là kiểu xía vào cho vui mà thôi, khỉ thật. Anh có thể cảm thấy gió ở trên cánh cửa khi chạm tay vào nắm cửa, và khi đóng cửa lại, anh cũng có thể nghe được tiếng thì thầm của nó. Gió thổi đều đặn như thể có máu buồn và biết cười thầm khi bí mật dựa sức nặng của mình lên cánh cửa; cùng sức nặng của cơ thể anh, cánh cửa trở nên dễ đóng; song gió không thực sự muốn vào trong. Anh đóng cửa, nhìn ánh đèn yếu ớt từ phòng ngủ hắt ra hành lang, chập chờn rồi dần ổn định bởi một phần của gió, hẳn là vẫn ở trong nhà vì bị cánh cửa đang đóng chặn lại, giờ lặng lẽ luồn ra ngoài khi tiếng cửa khép vào kêu đánh “cạch”, vẫn cười thầm như thể có máu buồn, không đi hẳn mà quay lại nghe ngóng trong lúc anh đứng im lặng và hơi nghiêng đầu về phía cửa phòng ngủ để lắng nghe. Nhưng chẳng có một tiếng động nào phát ra từ đó ngoài tiếng gió rì rầm ngoài cánh cửa, cả hành lang cũng im lìm; anh nghĩ thầm, Mình đoán sai rồi. Thật không thể tin được, không phải mình cho rằng lẽ ra mình phải đoán sai mà là chẳng thể tin được mình lại sai đến thế, và anh thôi không nói hay nghĩ đến ông bác sĩ nữa (Giờ đây, anh có thể hình dung ra cảnh bên nhà ông ta bằng phần trí óc chưa sử dụng đến của mình: Một hành lang được ghép bằng gỗ hẹp nhưng gọn ghẽ với những vết bẩn màu nâu loang lổ và có thể chắn gió, chiếc đèn pin vẫn sáng để bên cạnh cái túi cứu thương trên bàn, đôi bắp chân to phình của người bị giãn tĩnh mạch trong chiếc áo ngủ anh đã nhìn thấy trước đó hiện ra với thế đứng của kẻ đang phẫn nộ, quả quyết và không thể nguôi dịu chẳng phải bởi bất kỳ điều gì khác mà chính vì điều này; anh có thể nghe thấy giọng nói không phải được một cái gì đó từ bên ngoài nâng lên rất cao, mà gần như tiếng rít không thể dịu đi được, đang nói vào điện thoại: “Và một cảnh sát. Một cảnh sát. Hai người nếu cần. Anh nghe rõ chứ hả?”. Ông ta làm bà vợ thức giấc mất, anh nghĩ và cũng hình dung ra cảnh này: Ở căn phòng trên gác, một người đàn bà có mái tóc xoăn đang mặc chiếc váy ngủ xám cao cổ và chống tay nhỏm dậy trên chiếc giường cùng màu cũ kỹ, đầu bà ta nghiêng nghiêng trong tư thế lắng nghe điều mình đã đợi suốt bốn ngày mà không hề tỏ ra ngạc nhiên. Bà vợ sẽ sang cùng ông bác sĩ nếu như ông ta quay lại đây, anh nghĩ. Nếu ông ta không chỉ ngồi ở bên ngoài canh không cho mình bỏ trốn và lăm lăm khẩu súng lục trong tay, hẳn là bà ta cũng sẽ có mặt ở đó). Bởi vì điều này không quan trọng, cũng chỉ giống như việc bỏ một lá thư vào hộp mà thôi; chiếc hộp nào có quan trọng, điều quan trọng là anh đã đợi để hoàn thành việc bỏ thư vào nó quá lâu - sau bốn năm rồi sau hai mươi tháng, và thêm gần hai năm nữa. Mình thậm chí đã làm hỏng cả phần đời ném đi ấy, anh nghĩ, toàn thân bất động trong tiếng thì thào của gió đêm đang nhẩn nha, chờ đợi; anh khẽ quay đầu về phía cửa phòng ngủ để lắng nghe, trong khi phần não chưa hoạt động còn lại của anh nghĩ, Vậy là sau khi trải nghiệm chút ít cái gọi là sự ngộp thở, mình có thể kết luận rằng không phải mình chẳng thể hít vào cái thứ gió này, và anh bắt đầu không thể ngừng hít thở sâu hơn, mỗi hơi thở lại trở nên nông và khó nhọc cho đến khi buồng phổi chẳng thể tiếp tục làm công việc đó nữa; mọi hơi thở như trốn mất tăm; anh liên tục chớp mắt một cách đau đớn vì cảm giác cộm ở mi mắt, như thể cát đen trong trái tim sung sức của anh đang trào lên và chuẩn bị tràn ra khỏi cơ thể qua những ống dẫn cùng lỗ chân lông, chẳng khác gì tình trạng toát mồ hôi vì lo lắng, rồi anh nghĩ, Bình tĩnh nào. Hãy cẩn thận. Lần này khi tỉnh lại, nàng sẽ phải cố gắng nhiều đấy.

Anh đi qua hành lang đến cửa phòng ngủ. Vẫn không có âm thanh nào ngoài tiếng gió (gió đen thì thầm, rì rầm với ô cửa sổ đẩy bằng kính không được khít lắm nhưng chẳng muốn luồn vào trong). Cô nằm ngửa, mắt nhắm nghiền, chiếc váy ngủ (thứ trang phục mà trước đó cô chưa từng sở hữu hay được mặc bao giờ) bị xoắn vặn rúm ró phía dưới hai cánh tay; cô không nằm thõng thượt hay thả lỏng hoàn toàn, mà trái lại trông như thể hơi gồng mình lên. Tiếng rì rầm của gió đen bắt nguồn từ hư không tràn ngập căn phòng; đối với anh, âm thanh đó đúng hơn là tiếng thì thầm của ngọn đèn dầu để trên cái va li đựng tư trang bên cạnh giường ngủ và tiếng xì xào của ánh sáng yếu ớt trên da thịt cô: Eo cô thậm chí nhỏ đến mức anh không thể tin được, chỉ có cặp đùi là khá lớn vì chúng quá bẹt, phần bụng giữa vùng da gợn những nếp nhăn của rốn và chỗ gồ lên của vùng lông mu phình ra rồi thon lại, và không có gì khác nữa; chẳng có cái bóng báo hiệu điềm gở của bóng đen không thể diệt trừ lẫn hình hài của cái chết cắm sừng anh; anh chẳng thể cũng như không được phép nhìn sự cắm sừng đó, nhưng nó vẫn hiện hữu, và anh chỉ được nhìn xuống cái thai nghén vô hình của nó. Không thở nổi, anh liền bước xa khỏi cánh cửa đó nhưng đã quá muộn, vì cô đang nhìn anh.

Anh không nhúc nhích mà chỉ khẽ thở, một tay nắm lấy khung cửa và bàn chân đã nhấc lên để bước bước đầu tiên trong khi đôi mắt mở to kia quan sát anh bằng ánh nhìn hoàn toàn trống rỗng. Sau đó anh bắt đầu nhìn thấy chữ I [1] trong đó. Cứ như thể đang quan sát một con cá nổi trên mặt nước - một chấm nhỏ rồi một con cá tuế, và mỗi giây nó lại hiện lên rõ hơn. Sải chân bước ba bước, anh nhanh chóng tới bên giường ngủ mà không gây tiếng động nào, sau đó đặt bàn tay lên ngực cô, giọng khẽ khàng, bình tĩnh và dứt khoát: “Không, Charlotte. Chưa đến lúc anh buộc phải đi đâu. Em phải nghe anh nói. Tỉnh lại đi. Tỉnh lại đi. Mọi chuyện ổn rồi”; anh lặng lẽ, khẩn nài và cố kiềm chế nhu cầu của mình, như thể miễn là có thời gian, anh sẽ ra đi rồi mới chào từ biệt mà không phải ngược lại. “Được rồi”, anh nói. “Tỉnh lại đi em. Bây giờ chưa phải lúc đâu. Khi nào đến lúc, anh sẽ nói cho em biết.” Ở một nơi nào đó, cô nghe được anh nói vì ngay lập tức, nó đã hiện rõ là cá tuế sau đó lại trở thành một chấm nhỏ; trong giây tiếp theo, đôi mắt ấy lại trống rỗng. Chỉ có điều anh biết mình đang mất cô. Anh nhìn cái chấm nhỏ: Lần này nó biến đổi quá nhanh, không còn con cá tuế nữa mà là một cơn lốc của những vòng xoáy biến đổi con ngươi màu vàng thành màu đen trong khi quan sát cái bóng đen không phải ở bụng mà trong đôi mắt cô. Cô cắn chặt răng vào môi dưới, cử động đầu để cố ngồi dậy và đấu tranh với bàn tay anh đang để trên ngực mình.

“Em đau. Lạy Chúa, ông ta đâu rồi? Ông ta biến đâu rồi? Hãy bảo ông ta cho em thứ thuốc gì đó đi. Nhanh lên.”

“Không”, anh nói. “Ông ta không thể. Em phải cố gắng chịu đựng cơn đau.” Chắc hẳn cái bóng đen mang không thể là gì khác đang bật cười. Cô nằm và bắt đầu đập hết hông bên này đến hông bên kia xuống giường trong khi anh gỡ những nếp xoắn vặn của chiếc váy cô đang mặc rồi kéo nó xuống để che chắn phần thân dưới của cô.

“Em cứ nghĩ anh đã nói sẽ ôm em.”

“Anh đang cố gắng đây. Nhưng em cũng phải như thế nhé. Em đã gắng sức nhiều rồi. Cố thêm một chút nữa thôi. Xe cứu thương sẽ tới đây trong ít phút nữa, nhưng em phải gắng chịu đau nhé. Em nghe anh nói chứ?”

“Vậy thì hãy cầm dao cắt nó khỏi em đi. Cắt hết đi. Cắt sâu vào. Để em không còn lại gì nữa, chỉ còn là một cái vỏ chứa không khí lạnh, chỉ cái lạnh mà thôi...” Răng cô sáng bóng dưới ánh đèn, và cô lại bắt đầu cắn chặt môi dưới đến mức máu trào ra khóe miệng. Anh rút chiếc khăn tay bẩn trong túi quần ra rồi cúi xuống cô nhưng cô đã quay đầu sang một bên để tránh bàn tay anh. “Được rồi”, cô nói. “Em sẽ gắng chịu đựng. Anh nói xe cứu thương đang đến phải không?”

“Ừ. Một phút nữa thôi chúng ta sẽ thấy xe đến. Hãy để anh...” Cô lại quay mặt đi để tránh chiếc khăn tay.

“Được rồi. Anh đi đi. Anh đã hứa rồi mà.”

“Không. Nếu anh đi thì em sẽ không gắng chịu đựng nữa, mà em nhất định phải làm như vậy.”

“Em đang và sẽ cố gắng làm điều đó vì vậy anh có thể đi, hãy rời khỏi đây trước khi bọn họ đến. Anh đã hứa với em rồi mà. Em muốn nhìn thấy anh thực hiện nó.”

“Được. Nhưng em đừng nói tạm biệt trước nhé?” “Được. Nhưng lạy Chúa, đừng động vào em. Em thấy người như có lửa đốt ấy, Harry ạ. Không đau đâu. Chỉ như lửa đốt thôi. Đừng chạm vào người em.”

Anh quỳ xuống bên giường; đầu cô không cử động nữa, đôi môi nóng, khô và có vị ngòn ngọt của máu bất động dưới môi anh trong khoảng một phút. Rồi cô giơ tay đẩy mặt anh ra, anh vẫn nghe thấy tiếng tim cô đập quá nhanh và dữ dội. “Lạy Chúa, chúng ta đã từng rất vui vẻ đúng không? Đã cùng nhau làm chuyện ấy cũng như nhiều chuyện khác nữa.

Trong cái lạnh và tuyết - đó chính là điều giờ đây em đang nghĩ đến và cố giữ. Nhưng không đau đâu anh, chỉ giống lửa đốt thôi; chỉ như... Anh đi đi. Hãy rời khỏi đây. Nhanh lên.” Cô lại quay mặt đi khi anh đứng dậy từ tư thế quỳ.

“Thôi được. Anh đi đây. Nhưng em phải cố gắng thật lâu đấy. Em có làm được không?”

“Được. Nhưng anh đi đi. Nhanh lên. Chúng ta có đủ tiền để anh đến Mobile. Anh có thể ở đó mà không sợ bị ai nhận ra; họ không thể tìm thấy anh đâu. Hãy đi đi. Vì Chúa, hãy rời khỏi đây ngay.” Lần này cô cắn mạnh môi đến mức máu đỏ trào ra khắp cằm. Anh không nhúc nhích mà cố nhớ lại điều gì đó mình đọc được từ một cuốn sách của Owen Wister nhiều năm trước - chi tiết cô gái điếm trong chiếc váy hồng uống cồn thuốc phiện và những chàng cao bồi đã thay nhau dìu cô nhảy để cô tiếp tục sống; và anh nhớ ra nó song cũng mau chóng quên mất vì giờ đây, nó chẳng giúp gì được cho anh cả. Anh bắt đầu bước về phía cửa.

“Được rồi”, anh nói. “Anh đi đây. Nhưng hãy nhớ nhé, anh đi rồi em phải cố gắng đấy. Em nghe không? Charlotte?” Đôi mắt màu vàng của cô chỉ hoàn toàn hướng vào anh, còn răng cô thôi không cắn môi nữa; và khi lao trở lại giường cô nằm, anh nghe thấy trong tiếng rì rầm của gió có hai giọng nói vọng tới từ cửa trước, ngay phía cổng - giọng cao gần như the thé, đứt quãng của ông bác sĩ và giọng đều đều, lạnh lùng của bà vợ với âm vực giữa cao và trầm của giống đực hơn là của đàn ông - vang lên trong gió giống hai hồn ma đang cãi nhau vì chuyện không đâu; trong chốc lát, Wilbourne cũng quên luôn chúng khi cúi xuống nhìn đôi mắt màu vàng không chớp trên khuôn mặt và cái đầu đã thôi không còn cử động cùng đôi môi đầy máu đã được thả lỏng. “Charlotte!”, anh gọi. “Bây giờ em không thể như thế được. Em đang đau đấy. Em đang đau. Không thể như vậy được đâu. Em có thể nghe anh nói mà.” Anh tát cô hai phát thật nhanh bằng cùng một bàn tay. “Em đang đau, Charlotte.”

“Đúng vậy”, cô nói. “Anh và những ông bác sĩ giỏi nhất của anh ở New Orleans. Không một ai mang ống nghe có thể cho em một thứ gì đó để chấm dứt cơn đau đớn này. Này, Rat. Họ đâu rồi?”

“Họ đang đến. Nhưng bây giờ em phải cố gắng chịu đựng. Em đang đau.”

“Được thôi. Em đang cố gắng đây. Nhưng tất cả những gì em muốn yêu cầu là anh không được bắt anh ta. Không phải tại anh ta đâu. Nghe này, Francis, anh thấy đấy, em gọi anh là Francis đấy. Nếu đang nói dối anh thì liệu em có gọi anh như thế thay vì Rat không hả?... Nghe này, Francis. Là người khác làm chứ không phải anh ta đâu. Không phải cái gã Wilbourne ấy đâu. Anh nghĩ em ngốc đến mức để cái gã vụng về chưa hoàn thành chương trình thực tập ở bệnh viện đó ngoáy dao vào người em ư...” Giọng nói ngừng lại; chẳng có gì hiện lên trong đôi mắt vẫn mở của cô - không có con cá tuế, không có cái chấm nhỏ, không gì hết. Nhưng trái tim, anh nghĩ. Trái tim. Anh áp tai lên ngực trái của cô, cố bắt mạch cho cô bằng một tay; anh có thể nghe thấy tiếng tim cô đập trước khi chạm tai vào ngực cô - chậm và đủ khỏe nhưng mỗi nhịp đập lại tạo ra một tiếng vọng trống rỗng và lạ lùng, như thể chính trái tim đã lùi về phía sau, và cùng lúc đó, anh nhìn thấy (mặt anh quay ra phía cửa) ông bác sĩ bước vào, một tay vẫn xách chiếc túi đã sờn, tay kia cầm khẩu súng lục trông có vẻ là loại súng rẻ tiền vẫn còn sử dụng được mà người ta có thể tìm thấy ở gần như bất cứ hiệu cầm đồ nào, theo sau là người đàn bà choàng khăn san có cái đầu đầy những lọn tóc xoăn như quỷ Medusa và khuôn mặt xám xịt. Wilbourne đứng lên, bước về phía ông bác sĩ và đưa tay ra đón chiếc túi của ông ta. “Lần này cơn bất tỉnh sẽ kéo dài đấy”, anh nói, “nhưng tim... Nào. Đưa túi cho tôi nào. Ông mang theo thuốc gì vậy? Thuốc giảm đau phải không?”. Anh nhìn chiếc túi né tránh mình, bị giật lại rồi giấu phía sau đôi chân mập mạp của ông bác sĩ, và trong nháy mắt, bàn tay mà anh thậm chí không để ý đã cầm khẩu súng lục rẻ tiền đang run rẩy chĩa vào mặt anh giống như chai whiskey được lắc trước mặt anh lúc trước.

“Không được nhúc nhích!”, ông bác sĩ quát.

“Bỏ súng xuống”, người vợ nói, vẫn bằng chất giọng mang âm vực giữa giọng nam cao và trầm trầm lạnh lùng. “Tôi đã bảo ông đừng có mang súng theo rồi cơ mà. Đưa cho cậu ta cái túi đi nếu cậu ta muốn và hãy để cậu ta có thể tùy ý làm gì đó với nó.”

“Không!”, ông bác sĩ hét lên. “Tôi là bác sĩ. Anh ta thì không. Anh ta thậm chí còn không phải một kẻ phạm tội thành công!” Giờ đây, người đàn bà khắp cơ thể nhuốm một màu xám ấy đột nhiên cất tiếng nói với Wilbourne khiến anh bị bất ngờ đến nỗi thậm chí không biết bà ta đang nói với mình:

“Có gì trong cái túi đó có thể cứu cô ta được không?” “Giúp cô ta ư?”

“Đúng. Hãy giúp cô ta đứng dậy và cả hai người hãy biến khỏi căn nhà này.”

Ông bác sĩ giờ đây quay sang bà vợ, nói bằng giọng the thé gần như tiếng của người mới vỡ giọng. “Bà không hiểu được rằng người đàn bà này đang hấp hối sao?”

“Hãy để cô ta chết quách đi. Hãy để mặc cả hai người bọn họ chết quách đi. Miễn là đừng chết trong ngôi nhà này. Đừng chết trong thị trấn này. Hãy tống cổ bọn họ ra khỏi đây và cứ để họ cắt cứa nhau và chết như mong muốn.”

Wilbourne nhìn ông bác sĩ chĩa mũi súng vào mặt bà vợ bằng đôi tay run rẩy. “Tôi sẽ không xía vào việc này!”, ông hét lớn. “Người đàn bà đó sắp chết và người đàn ông này đang phải chịu đựng đau khổ vì điều đó.”

“Chịu đựng vớ vẩn”, bà vợ nói. “Cậu chỉ có điên mới sử dụng một con dao mổ khi không có bằng y khoa. Nói một cách khác, người này đã sử dụng con dao mổ để làm cái việc không được Hiệp hội Y khoa cho phép. Hãy bỏ súng xuống và cho cô ta dùng bất cứ thuốc gì miễn sao cô ta có thể ra khỏi cái giường này. Sau đó, hãy đưa cho họ ít tiền và gọi taxi cho họ, taxi chứ không phải xe cứu thương. Nếu ông không muốn đưa tiền của mình cho cậu ta, thì hãy lấy tiền của tôi.”

“Bà điên rồi sao?”, ông bác sĩ hỏi. “Bà mất trí rồi à?” Người vợ nhìn ông ta bằng ánh mắt lạnh lùng.

“Vậy là ông sẽ giúp và tiếp tay cho cậu ta đến cùng hả? Tôi không ngạc nhiên đâu. Tôi chưa bao giờ thấy người đàn ông nào thất bại trong việc vào hùa với một người đàn ông khác, miễn đó là việc đủ ngu xuẩn.” Một lần nữa bà ta tấn công anh (chứ không phải sang phía anh) bằng sự đột ngột đầy lạnh lùng đến mức thoạt đầu anh không ý thức được rằng bà ta đang nói với mình: “Cậu chưa ăn gì, tôi đoán thế. Tôi sẽ hâm nóng cà phê. Có lẽ cậu sẽ cần uống chút cà phê trước khi ông ấy và những người khác thu xếp cho hai người rời khỏi đây”.

“Cảm ơn bà”, Wilbourne nói. “Tôi không thể...” Nhưng bà ta đã bước ra khỏi phòng. Anh nghe thấy chính mình lên tiếng, “Đợi đã, tôi sẽ chỉ cho bà vị trí của căn bếp” rồi cũng quên luôn việc đó, thậm chí còn không nghĩ rằng bà ta biết rõ căn bếp hơn mình vì bà ta là người sở hữu nó; và anh đứng tránh sang một bên khi ông bác sĩ đi qua mình để đến bên giường ngủ, rồi bước theo và nhìn ông đặt chiếc túi xuống, nghiên cứu khẩu súng lục trong tay sau đó nhìn quanh để tìm chỗ đặt khẩu súng xuống trước khi nhớ ra điều mình cần phải nhớ, và ngoái lại, hướng khuôn mặt không mấy nhẹ nhõm về phía anh.

“Không được nhúc nhích!”, ông ta quát. “Anh chớ có nhúc nhích!”

“Ông lấy ống nghe ra đi”, Wilbourne nói. “Tôi nghĩ đến một điều nhưng có lẽ chúng ta nên đợi. Vì cô ấy sẽ tỉnh lại một lần nữa đúng không? Cô ấy sẽ tỉnh lại. Tất nhiên rồi. Ông lấy ống nghe ra đi. Lấy ra đi.”

“Đáng lẽ trước đây anh nên nghĩ đến điều đó!” Ông bác sĩ vẫn nhìn Wilbourne trừng trừng và cầm khẩu súng bằng một tay trong khi tay kia lần trong chiếc túi đã mở để lôi ống nghe ra; rồi vẫn cầm lăm lăm khẩu súng trong tay, ông cúi đầu xuống, gài ống nghe vào tai, cong lưng và dường như lại thoáng quên mất khẩu súng vì quả thật ông đã đặt nó xuống giường dù vẫn đặt tay trên nó; lúc này ông chỉ đơn giản chống tay để đỡ thân hình nặng nề của mình khi cúi xuống, bởi trong phòng bây giờ đã bình yên đôi chút khi cơn tức giận lắng xuống; lúc này, Wilbourne lại có thể nghe tiếng gió đen cười cợt, giễu nhại liên miên, lơ đễnh, và cảm thấy dường như mình có thể nghe được cả tiếng lá cọ xào xạc trong gió. Rồi tiếng xe cứu thương vang đến bên tai, thoạt tiên là âm thanh rền rĩ vọng tới từ xa xa phía trên đường cao tốc dẫn vào ngôi làng, và đúng lúc đó, vợ ông bác sĩ mang theo một tách cà phê bước vào.

“Đã đến giờ giải lao của cậu”, bà ta nói. “Không có thời gian để hâm nó thật nóng. Nhưng dù sao cậu cũng sẽ lót dạ được.”

“Cảm ơn bà”, Wilbourne đáp. “Tôi cảm ơn bà. Nó sẽ ở yên trong bụng chứ không bị nôn ra đâu.”

“Vớ vẩn. Uống đi.”

“Cảm ơn bà.” Tiếng xe cứu thương rền rĩ mỗi lúc một to, nó đang chạy đến rất nhanh, chắc sắp tới rồi, âm thanh ấy chìm trong tiếng gầm của động cơ khi giảm tốc, rồi lại tiếp tục vang lên. Dường như xe cứu thương đang ở ngay bên ngoài bởi tiếng ầm ĩ, thúc bách của nó gây ra ảo tưởng về sự gấp gáp, vội vàng dù Wilbourne biết hiện giờ nó mới chỉ đang bò lên con đường nhỏ đầy cỏ dại nằm giữa đường cao tốc và ngôi nhà; lần này khi tiếng rền rĩ lại lịm đi, xe cứu thương quả thực đã ở ngay bên ngoài ngôi nhà, âm thanh phát ra là tiếng càu nhàu bị hãm bớt âm lượng gần giống tiếng của một con thú lớn đang hoang mang, ngơ ngác, thậm chí có lẽ đang bị thương. “Cảm ơn bà. Tôi biết đáng lẽ căn nhà phải được dọn dẹp trước khi được giao lại cho ông bà. Nhưng thật ngớ ngẩn nếu làm việc đó vào lúc vội vã và khuya khoắt này.” Giờ đây, anh nghe thấy tiếng bước chân ngoài cổng, còn phía trên trái tim mình đang diễn ra quá trình nạo vét không khí không ngừng, mạnh và sâu, hơi thở đang trốn chạy khỏi phổi anh; giờ đây (không có tiếng gõ cửa), anh nghe thấy tiếng bước chân của họ ở hành lang; ba người đàn ông mặc thường phục bước vào: Một người trẻ tuổi tóc xoăn mặc áo phông cổ bẻ, không đi tất, có dáng người gầy trông dẻo dai, gọn gàng và một người đi giày tất đầy đủ thậm chí đeo cả cặp kính gọng sừng, đẩy một chiếc cáng có bánh xe, và phía sau họ là người thứ ba mang cái mác không thể tẩy xóa được của mười nghìn phó cảnh sát trưởng ở miền Nam, cả ở thành thị lẫn nông thôn - vành mũ bị bẻ gập, đôi mắt lạnh lùng, chiếc áo khoác căng phồng chẳng lẫn vào đâu được, dáng vẻ không hẳn huyênh hoang mà toát lên vẻ tàn nhẫn được miễn tội và được pháp luật bảo hộ. Hai người đàn ông đẩy chiếc cáng tới bên giường theo cách của những người biết việc; ông bác sĩ chỉ cho cảnh sát biết người anh ta cần là Wilbourne, và giờ đây anh biết ông ta thực sự quên rằng mình vẫn cầm khẩu súng trong tay.

“Đây là tù nhân của anh”, ông bác sĩ nói. “Ngay khi chúng ta tới thành phố, tôi muốn có lời buộc tội chính thức dành cho anh ta. Sớm nhất có thể.”

“Cẩn thận đấy bác sĩ... Chào bà Martha”, viên sĩ quan cảnh sát nói. “Bỏ cái đó xuống đi. Súng có thể nổ bất cứ lúc nào. Cái gã bán súng có thể đã kéo cò trước khi trao nó cho ông đấy.” Ông bác sĩ nhìn khẩu súng và Wilbourne nhớ rằng hình như sau đó, ông ta đã cẩn thận xếp nó cùng chiếc ống nghe vào túi; anh không nhớ rõ chi tiết này lắm vì vội đi theo người đẩy chiếc cáng tới bên giường.

“Nhẹ tay thôi”, anh nói. “Đừng làm quá mạnh. Cô ấy sẽ không...”

“Tôi sẽ lo chuyện đó”, ông bác sĩ nói bằng giọng mệt mỏi mới tạm dịu, cứ như thể đã rã rời, nhưng nếu cần, nó vẫn có thể cất lên một cách hoạt bát và nhanh nhảu, tựa hồ có khả năng tự làm mới chính mình cũng như phục hồi được nỗi tức giận. “Hãy nhớ rằng ca này được chuyển cho tôi mà không phải tôi yêu cầu nhận nó.” Ông ta đến bên giường (Wilbourne nhớ hình như ông ta đã cất khẩu súng vào túi) và nhấc cổ tay Charlotte lên. “Hãy làm nhẹ nhàng hết sức có thể. Nhưng khẩn trương lên. Bác sĩ Richardson sẽ có mặt ở đó còn tôi sẽ đến bằng xe riêng.” Hai người đàn ông nhấc Charlotte lên chiếc xe cáng có bánh cao su, rồi người đàn ông trẻ không đội mũ đẩy cáng ra hành lang với tốc độ nhanh đến mức khó tin, cứ như thể chiếc cáng bị hút ra đó chứ không phải anh ta đẩy nó (những bánh xe tạo ra tiếng mút trên sàn nhà), không phải bằng sức lực của con người mà có lẽ bằng lực hút thời gian và ống thông hơi mà qua đó, những giây đồng hồ không thể thu hồi được đang trôi qua rồi dồn tụ vào nó; thậm chí là thời gian của cả đêm.

“Được rồi”, viên sĩ quan nói. “Tên anh là gì? Wilson phải không?”

“Đúng vậy”, Wilbourne đáp. Chiếc cáng di chuyển như bị hút qua hành lang - nơi người đàn ông có dáng người gầy nhưng dẻo dai cầm một chiếc đèn pin đang đứng; gió đen cười thầm và rì rầm với khung cửa mở, nghiêng xuống người Wilbourne với sức nặng tựa một cái xúc tu đen ngòm, và anh tựa vào nó. Chỉ còn vài bước chân nữa là họ ra khỏi cổng. “Cô ấy nhẹ lắm”, Wilbourne nói bằng giọng lo lắng, yếu ớt. “Gần đây cô ấy gầy đi nhiều. Tôi có thể bế cô ấy nếu như họ...”

“Họ cũng có thể làm việc đó”, viên sĩ quan nói. “Vả lại, họ được trả lương để làm việc đó. Yên tâm đi.”

“Tôi biết. Nhưng cái ông người thâm thấp kia, cái ông người nhỏ cầm đèn pin đó...”

“Anh ta để dành sức lực cho những lúc như thế này mà. Anh ta thích thế. Anh không muốn làm tổn thương cảm xúc của anh ta chứ. Yên tâm đi.”

“Này”, Wilbourne nói bằng giọng yếu ớt, gần như thì thầm, “tại sao anh không còng tay tôi lại? Tại sao anh không làm thế?”.

“Anh muốn bị còng tay à?”, viên sĩ quan hỏi. Giờ đây chiếc cáng đã bị hút ra khỏi cổng vào khoảng đất trống, vẫn trên cùng một mặt phẳng song song ấy, như thể nó sở hữu sự dịch chuyển mà không có trọng lượng; thậm chí nó chẳng dừng lại, trong khi người đàn ông trẻ mặc sơ mi trắng và quần âu dường chỉ bước theo sau cáng khi nó chuyển động theo ánh đèn pin về phía góc của khu đất - nơi người đàn ông cho anh thuê nhà đang đứng và gọi lái xe. Giờ đây anh có thể nghe thấy tiếng đập cùng âm thanh khô khốc và hoang dại của những tàu lá cọ.

Bệnh viện là một tòa nhà thấp, không rõ được xây theo kiểu của người Tây Ban Nha (hay Los Angeles), được trát vữa và gần như bị những cây trúc đào xum xuê che khuất.

Chiếc xe cứu thương lăn bánh vào nơi có rất nhiều những cây cọ xơ xác, tiếng còi hú lịm dần trong âm thanh của động cơ xe nghe như một con thú đang gầm gừ, lốp xe tạo ra âm thanh lạo xạo, khô khốc trên lối vào được rải vỏ sò; khi bước ra khỏi xe cứu thương, anh lại nghe thấy những tiếng rít cùng âm thanh va đập của các tàu lá cọ, cứ như chúng đang bị một cái ống thổi cát trêu đùa, và có thể ngửi thấy mùi của biển cũng như gió đen, chỉ có điều thứ mùi ấy không thật đậm vì biển cách đó những bốn dặm; chiếc cáng được đưa ra khỏi xe một cách khẩn trương và nhẹ nhàng như thể vẫn chuyển động theo kiểu bị hút ra, còn tiếng bước chân của bốn người đàn ông lạo xạo trên các mảnh vỏ sò; giờ đây, anh đang đứng trong hành lang của bệnh viện mà chớp mắt như thể lông mi dính cát và bị ánh đèn điện sáng chói làm nhức mắt. Chiếc cáng vẫn đang bị hút về phía trước, các bánh xe phát ra tiếng rì rầm trên lớp vải sơn lót sàn, để rồi giữa hai lần chớp mắt, anh nhìn thấy chiếc cáng được đẩy bởi hai người y tá mặc đồng phục - một người to cao và một người nhỏ bé; anh nghĩ có thể đó là cách kết hợp của đội đẩy xe, và tất cả những chiếc cáng trên thế giới đều được đẩy bởi hai người không phải đồng đều về thể chất mà bởi sự tương đồng trong mong muốn được hiện diện để xem điều gì sẽ xảy ra. Rồi anh nhìn thấy một cánh cửa mở ra, bác sĩ phẫu thuật đã mặc sẵn áo mổ đứng trong đó dưới ngọn đèn sáng chói, chiếc xe cáng rẽ ngoặt vào căn phòng ấy rồi bị hút qua cửa; người bác sĩ nhìn anh một lần, không phải bằng ánh mắt tò mò mà cốt để ghi nhớ một khuôn mặt, sau đó quay vào và đi theo chiếc cáng; khi Wilbourne vừa định mở miệng nói với ông ta điều gì đó, cánh cửa (cánh cửa chỉ phát ra tiếng mút của đệm cao su) đã đóng sập lại mà hầu như không phát ra tiếng động, chẳng khác nào giáng một cái tát vào mặt anh, viên sĩ quan liền nắm khuỷu tay anh rồi nói, “Yên tâm đi”. Sau đó một y tá khác có mặt; anh không nghe thấy tiếng cô ta tới, mà cô ta chẳng nhìn anh lần nào, chỉ nói gì đó rất ngắn gọn với viên sĩ quan cảnh sát. “Được rồi”, viên sĩ quan bảo. Anh ta lại nắm cánh tay Wilbourne. “Đi nào. Bình tĩnh nào.”

“Nhưng hãy để tôi...”

“Được rồi. Hãy bình tĩnh.” Tới một cánh cửa khác, cô y tá liền quay người lại và bước sang một bên, chiếc váy nhăn nhúm của cô ta phát ra tiếng lạo xạo rất giống tiếng của những mảnh vỏ sò bị dẫm; cô ta không nhìn anh dù chỉ một lần. Họ bước vào văn phòng có một chiếc bàn làm việc và người đàn ông khác đội mũ bác sĩ, mặc áo bờ lu phảng phất mùi thuốc khử trùng ngồi ở bàn với mẫu tờ khai cùng chiếc bút máy. Ông ta lớn tuổi hơn người bác sĩ đầu tiên anh thấy. Ông ta không nhìn Wilbourne trong lúc hỏi: “Tên bệnh nhân là gì?”.

“Charlotte Rittenmeyer.” “Có chồng hay chưa?” “Có rồi.”

Người đàn ông điền thông tin vào tờ khai.

“Có chồng rồi?”

“Đúng vậy.” “Tên chồng?”

“Francis Rittenmeyer.” Anh trả lời rồi đọc địa chỉ của người mình vừa nói tên. Ngòi bút lướt nhanh trên mặt giấy. Bây giờ thì vì chiếc bút máy kia mà mình không thể thở được, Wilbourne nghĩ. “Liệu tôi có thể...”

“Chúng tôi sẽ thông báo cho chồng cô ta.” Người đàn ông ngồi ở bàn giấy ngẩng lên nhìn anh. Ông ta đeo kính và đôi con ngươi hoàn toàn vô cảm ít nhiều bị biến dạng phía sau cặp kính. “Anh giải thích thế nào về chuyện đó? Do dụng cụ không đảm bảo vệ sinh chăng?”

“Dụng cụ sạch.”

“Đấy là anh nghĩ như vậy thôi.” “Tôi biết chắc điều đó.”

“Đó là lần đầu anh làm việc ấy?” “Không. Lần thứ hai.”

“Lần đầu anh đã thực hiện thành công ư? Nhưng làm sao anh biết điều đó?”

“Có. Tôi biết rồi.”

“Vậy thì anh giải thích thế nào về sự thất bại này?” Lẽ ra anh đã trả lời: Tôi yêu cô ấy, hay, Một kẻ keo kiệt cũng có thể làm ảnh hưởng đến sự an toàn của chính mình. Đáng lẽ tôi nên mời một chuyên gia, một kẻ trộm nạy cửa không quan tâm hay yêu cái tủ sắt đựng tiền. Nhưng anh chẳng nói gì cả, và một lát sau, người đàn ông ngồi ở bàn giấy lại cúi xuống để viết tiếp mẫu tờ khai, ngòi bút không ngừng lướt trên mặt giấy. Ông ta vẫn không dừng tay hay nhìn lên khi cất lời: “Hãy đợi ở bên ngoài”.

“Tôi không được phép dẫn anh ta vào trong ư?”, viên sĩ quan hỏi.

“Không.” Người đàn ông ngồi ở bàn giấy vẫn không nhìn lên.

“Tôi không thể...”, Wilbourne nói. “Ông có thể cho phép...” Chiếc bút máy ngừng viết, nhưng trong một phút dài đằng đẵng sau đó, người đàn ông vẫn cứ nhìn chăm chăm vào tờ giấy, có lẽ để đọc lại những gì mình vừa viết. Sau đó ông ta ngẩng lên.

“Tại sao anh phải vào chứ? Cô ta có nhận ra anh đâu.” “Nhưng cô ấy có thể sẽ tỉnh lại một lần nữa. Vậy tôi có thể... chúng tôi có thể...” Người đàn ông nhìn anh bằng đôi mắt đầy lạnh lùng, không thể hiện vẻ sốt ruột hay tính kiên nhẫn rõ rệt. Hai con mắt ấy đơn giản chỉ đợi giọng nói của Wilbourne ngừng bặt. Sau đó ông ta lên tiếng:

“Anh có nghĩ rằng cô ấy sẽ... Bác sĩ?” Trong giây lát, Wilbourne chớp mắt một cách khó chịu trước tờ giấy viết những chữ nguệch ngoạc dưới ngọn đèn bàn sáng chói mà bên cạnh nó là bàn tay đang cầm nắp bút của ông bác sĩ phẫu thuật.

“Không”, anh nói khẽ. Người đàn ông lại cúi xuống tờ giấy vì bàn tay đang cầm bút của ông ta vẫn tiếp tục viết. “Khi nào cần, chúng tôi sẽ báo cho anh biết”, ông bác sĩ vẫn không ngẩng lên nhìn mà vừa viết vừa nói với viên sĩ quan cảnh sát: “Vậy thôi”.

“Tôi nên đưa anh ta ra khỏi đây trước khi người chồng cầm súng hay cái gì đó xông vào, đúng không bác sĩ?”, viên sĩ quan hỏi.

“Khi nào cần, chúng tôi sẽ báo cho anh biết”, người đàn ông ngồi ở bàn giấy nhắc lại mà không nhìn lên.

“Được thôi, Jack”, viên sĩ quan đáp. Ngoài hành lang có một chiếc ghế băng có rãnh và cứng như loại ghế trên xe kéo kiểu cổ không mui. Từ chỗ ngồi đó, anh có thể nhìn thấy cánh cửa có gioăng cao su. Nó trống rỗng và không thể xâm nhập được như một khung lưới sắt; anh ngạc nhiên nhận ra rằng từ góc nhìn này, anh có thể thấy chỉ một bên cánh cửa được treo trên khung của nó, rất nhẹ, để ba phần tư chu vi còn lại là đường chiếu không gián đoạn của ánh sáng đèn Klieg [2]. Nhưng có thể cô ấy sẽ..., anh nghĩ. Có thể cô ấy sẽ... “Lạy Chúa”, viên sĩ quan nói. Anh ta cầm một điếu thuốc chưa được châm lửa trong tay (Wilbourne lại cảm thấy lực tác động vào khuỷu tay mình). “... Lạy Chúa, anh đã... Lúc trước anh nói tên anh là gì nhỉ? Webster phải không?”

“Phải”, Wilbourne đáp. Mình có thể vào trong. Nếu cần, mình có thể ngoéo chân gã này để gã ngã chổng kềnh rồi mình có thể làm điều đó. Bởi vì mình biết. Chắc chắn họ không biết.

“Anh gây ra chuyện rồi, đúng quá còn gì. Bằng việc dùng một con dao. Tôi là người lạc hậu và hợp với cách xưa cũ, chứ không ưa sự phức tạp.”

“Đúng vậy”, Wilbourne nói. Ở chỗ họ ngồi bây giờ không có gió hay âm thanh của nó, dù anh dường như vẫn có thể ngửi thấy mùi, nếu không phải là mùi của biển, thì là sự lay lắt, ngoan cố và khô khan của mùi biển trong những mảnh vỏ sò ở lối đi; rồi hành lang bỗng tràn ngập âm thanh, vô số giọng nói lí nhí thể hiện vẻ sợ hãi và nỗi cực nhọc của con người mà anh đã biết cũng như ghi nhớ - máy hút carbon trên vải sơn lót sàn và đế giày cao su giống những cái tử cung mà con người, trong cái vỏ của thày tu, trốn vào khi gặp phải điều gì đó gần như kinh hoàng, để từ bỏ tất cả những gánh nặng của nỗi thèm khát, ham muốn và niềm kiêu hãnh, thậm chí cả tính độc lập thiết thực để trở thành bào thai trong một thời gian mà vẫn giữ lại phần nào cái đồi trụy trần tục không thể sửa chữa được, ngủ lơ mơ suốt nhiều giờ trong nỗi buồn chán lẫn âm thanh cáu kỉnh của những chiếc chuông nhỏ vào khoảng thời gian giữa nửa đêm và bình minh (để rồi cuối cùng, có lẽ cũng tìm ra cách tốt nhất để sử dụng những đồng tiền rẻ mạt - thứ đã được nhồi nhét khiến cuộc sống trở nên rối rắm); con người ở trạng thái đó một thời gian rồi lại hồi sinh, phục hồi để tiếp tục chịu đựng gánh nặng của cuộc sống cho đến chừng nào lòng can đảm còn tồn tại. Anh có thể nghe thấy những âm thanh ấy trong hành lang - tiếng chuông leng keng, tiếng đế giày cao su, tiếng sột soạt của những chiếc váy được hồ cứng lẫn tiếng những giọng nói càu nhàu, thì thào. Anh đã quá quen với các âm thanh đó; lúc này, một cô y tá khác xuất hiện trong hành lang, bước chậm hơn khi đi qua chỗ anh, rồi ngoái cái đầu như đầu của một con chim cú lại nhìn anh, đôi mắt cô ta mở to tràn ngập vẻ gì đó hơn cả tò mò mà không hề vương chút sợ hãi hay kinh hoàng. Viên sĩ quan cảnh sát lia lưỡi quanh hàm răng như thể đang tìm kiếm những mẩu thức ăn bị giắt lại ở đó; có thể lúc bị gọi đi làm nhiệm vụ, anh ta đang ăn dở. Anh ta vẫn cầm điếu thuốc chưa được châm lửa trong tay.

“Các bác sĩ và y tá”, anh ta nói. “Người ta nói gì về bệnh viện nhỉ? Tôi chẳng biết liệu chuyện nhập nhằng giữa các bác sĩ và y tá có xảy ra nhiều như người ta đồn đại không nhỉ?”

“Không đâu”, Wilbourne nói. “Chẳng có chỗ cho chuyện đó đâu.”

“Ừ. Nhưng anh thử nghĩ đến một nơi như bệnh viện mà xem. Chỗ nào cũng có giường bệnh với đầy những người nằm dài và không thể quấy rầy anh được. Và suy cho cùng, bác sĩ, y tá là cũng là đàn ông, đàn bà. Họ đủ thông minh để lo cho bản thân, nếu không họ đã chẳng phải là bác sĩ, y tá. Anh biết bệnh viện là thế nào mà.”

“Đúng vậy”, Wilbourne nói. “Anh vừa mới nói cho tôi biết đấy thôi.” Bởi suy cho cùng, anh nghĩ, Họ là những người lịch sự. Họ ắt phải mạnh mẽ hơn chúng ta. Họ hơn chúng ta. Họ vượt lên sự quê mùa, thô kệch. Họ không cần bất cứ gì khác ngoài vẻ lịch sự. Lúc này vị bác sĩ, hay nói đúng hơn là bác sĩ phẫu thuật thứ hai - người có chiếc bút máy - bước ra khỏi phòng và đi xuôi theo hành lang, phần dưới của chiếc áo bờ lu bị dính và hút vào phía sau chân ông. Ông không thèm nhìn Wilbourne ngay cả khi anh nhìn mình và đứng dậy khi ông tới gần; khi anh bước về phía ông, mở miệng định nói thì viên sĩ quan cũng vội vàng đứng dậy và bước tới. Ông bác sĩ chỉ dừng bước trong giây lát đủ để ngoái lại nhìn viên sĩ quan bằng ánh mắt lạnh lùng và cáu kỉnh qua cặp kính.

“Anh chịu trách nhiệm về người đàn ông này hả?”, ông hỏi. “Vâng, thưa bác sĩ”, viên sĩ quan nói.

“Vậy thì có chuyện gì hả?”

“Thôi nào, Watson”, viên sĩ quan đáp. “Bình tĩnh đi, tôi đã nói với anh rồi mà.” Ông bác sĩ quay đầu mà thậm chí gần như không dừng lại.

“Ông hút điếu thuốc nhé, bác sĩ?” Ông bác sĩ không trả lời mà bước đi, vạt áo bờ lu bay lật phật.

“Lại đây nào”, viên sĩ quan nói, “Ngồi xuống đây trước khi anh ngộp thở”.

Cánh cửa lại được đẩy trở về vị trí cũ, đóng sập lại mà không phát ra tiếng động với sự tuyên bố chung cuộc, gieo ảo tưởng về sự vững chắc giả tạo bởi từ chỗ ngồi của mình, anh vẫn có thể nhìn thấy nó đung đưa ở một bên khung và ngay cả một đứa trẻ hay một hơi thở cũng có thể làm nó chuyển động. “Nghe này”, viên sĩ quan nói. “Bình tĩnh đi. Đích thân bác sĩ Richardson sẽ chữa trị cho cô ấy. Mấy năm trước, một gã da đen làm việc tại nhà máy cưa được đưa vào đây vì bị kẻ khác dùng dao đâm thủng bụng trong khi chơi đánh bạc. Bác sĩ Richardson đã mổ phanh gã, cắt phần ruột bị thương đi rồi nối lại giống như người ta nối ống nước vậy, và bây giờ, gã da đen đó đã đi làm bình thường rồi. Tất nhiên giờ gã chỉ có bộ ruột dài chừng hơn nửa mét thôi nên hầu như cứ vừa nuốt gì vào bụng là gã phải chạy vội đi vệ sinh ngay. Nhưng gã ổn. Ông bác sĩ cũng sẽ chữa cho cô ấy theo cách đó. Như thế chẳng tốt hơn là không ư? Đúng chứ?”

“Đúng”, Wilbourne nói. “Đúng vậy. Anh có nghĩ chúng ta nên ra ngoài một lát không?” Viên sĩ quan sốt sắng đứng lên, điếu thuốc trong tay anh ta vẫn chưa được châm lửa.

“Ý kiến hay đấy. Ra ngoài chúng ta có thể hút thuốc.” Nhưng sau đó anh lại thấy mình không thể đi.

“Anh đi đi. Tôi sẽ ở yên đây, không rời khỏi đâu. Anh biết rồi mà.”

“Tôi không biết. Có lẽ tôi đứng ở cửa ngoài kia hút điếu thuốc nhé.”

“Vâng. Anh có thể đứng đó canh tôi.” Anh nhìn lên và quan sát dọc hành lang cùng các cánh cửa. “Anh có biết tôi có thể đi đâu nếu buồn nôn không?”

“Nôn á?”

“Đúng, nôn.”

“Tôi sẽ gọi một y tá và hỏi xem sao.”

“Thôi, không cần đâu. Đừng bận tâm. Không cần đâu. Tôi nghĩ trong bụng tôi chẳng có gì để mà nôn cả. Tôi sẽ ở đây cho đến khi họ gọi.” Vậy là viên sĩ quan di chuyển dọc theo hành lang, qua cánh cửa có ánh đèn sáng chói và bước ra lối mà lúc trước họ đã đi. Wilbourne nhìn ngọn lửa được bật lên dưới ngón tay cái của viên cảnh sát, hắt ánh sáng lên khuôn mặt phía dưới vành mũ và cả chiếc mũ đều ở một góc nghiêng so với que diêm của anh ta (đó không phải khuôn mặt khó coi, chỉ có điều nó giống khuôn mặt của một đứa con trai mới mười bốn tuổi đã phải sử dụng dao cạo và biết dùng súng một cách hợp pháp từ khi còn quá trẻ); cửa dẫn vào hành lang dường như vẫn mở vì làn khói đầu tiên bay vào trong rồi tan đi. Và Wilbourne phát hiện ra rằng đúng là mình có thể ngửi thấy mùi của biển - biển Sound không sâu và cũng không tối đang chìm trong giấc ngủ, chẳng có sóng vỗ mà chỉ có gió đen thổi qua. Trong hành lang, cách chỗ ngồi không xa, anh có thể nghe thấy giọng nói của hai người y tá chứ không phải hai bệnh nhân - hai sinh vật giống cái hơn là hai người phụ nữ, và sau đó nghe thấy từ một khoảng cách xa hơn tiếng chuông kêu leng keng, càu nhàu và hách dịch; hai người y tá vẫn đang nói chuyện thầm thì, rồi cùng phá lên cười - hai người y tá chứ không phải hai người phụ nữ - đang cười; sau đó, tiếng chuông từ trạng thái càu nhàu chuyển sang gắt gỏng và giận dữ, tiếng cười kéo dài thêm khoảng nửa phút nữa, át cả tiếng chuông, tiếp đến là tiếng đế giày cao su nện trên mặt vải sơn lót sàn xen lẫn tiếng rít khe khẽ và gấp gáp; rồi tiếng chuông ngừng bặt. Đó là lúc anh ngửi thấy mùi và cả vị của biển đêm được gió đưa đến, luồn vào tận phổi, lặp lại như lúc trước nhưng lần này anh không còn bất ngờ nữa, mỗi hơi thở mạnh và nhanh càng lúc càng trở nên nông hơn cứ như thể trái tim anh cuối cùng đã tìm được một nơi tiếp nhận cũng như để đổ thứ cát đen mà nó nạo vét và bơm ra; giờ thì anh đứng dậy nhưng không đi đâu hay có bất kỳ ý định gì cả, viên sĩ quan đứng ở lối vào lập tức quay người lại, dụi tắt điếu thuốc. Nhưng Wilbourne không di chuyển, vì thế viên sĩ quan chầm chậm bước đến, thậm chí còn dừng chân trước cánh cửa phòng mổ và áp vành mũ vào khe cửa một lát. Sau đó, Wilbourne nhìn thấy anh ta tiếp tục bước đi giống như khi bạn nhìn thấy một cây cột đèn hiện ra giữa bạn và đường phố, vì cánh cửa đệm cao su lại mở ra phía ngoài (những bóng đèn Klieg đã tắt, anh nghĩ. Đèn tắt thật rồi. Đèn tắt rồi); rồi hai vị bác sĩ xuất hiện và cánh cửa lại đóng vào phía sau họ trong im lặng, liên tục đung đưa, rồi lại mở ra trước khi trở về trạng thái bất động; anh nhìn thấy hai y tá xuất hiện chỉ nhờ phần năng lực thị giác vẫn đang được sử dụng để quan sát viên sĩ quan, vì anh đang tập trung toàn bộ phần còn lại để quan sát khuôn mặt của hai vị bác sĩ đang bước trong hành lang và nói chuyện với nhau bằng giọng khó nghe qua lớp khẩu trang, đuôi áo họ bay lật phật như váy của hai người phụ nữ; họ đi qua chỗ anh ngồi mà không buồn liếc nhìn anh, anh lại ngồi xuống ghế vì viên sĩ quan đã nắm khuỷu tay anh và nói: “Được rồi. Bình tĩnh nào”; hai vị bác sĩ với eo lưng thon gọn như phụ nữ vẫn đang bước tiếp, phần dưới áo bờ lu của họ bay lật phật, sau đó một trong hai người y tá cũng đi qua, vẫn là khuôn mặt đeo khẩu trang không thèm nhìn anh cùng chiếc váy phát ra những tiếng sột soạt; anh ngồi trên chiếc ghế cứng, lắng nghe... để rồi trong giây lát, trái tim như trốn khỏi lồng ngực, nó vẫn đập mạnh, chậm và đều nhưng là từ chỗ nào đó cách xa cơ thể anh, bỏ lại anh ngồi đó, bị bao trùm bởi sự im lặng với một khoảng chân không hình tròn chỉ có gió trong ký ức rì rầm, chẳng có gì khác để nghe ngoài âm thanh của gót giày cao su phát ra những tiếng “xịt” đơn điệu; người y tá cuối cùng cũng dừng lại bên chiếc ghế anh đang ngồi, anh liền ngước lên nhìn.

“Bây giờ anh có thể vào được rồi”, cô ta nói.

“Vâng”, anh nói. Nhưng không đứng dậy ngay. Chính cái người này lúc trước không thèm nhìn mình, anh nghĩ. Bây giờ chính cô ta lại đang làm điều ngược lại. Rồi anh đứng lên, viên sĩ quan cảnh sát cũng vậy; quả thật cô y tá đang nhìn anh.

“Anh có muốn tôi vào trong với anh không?’

“Không sao đâu.” Không sao. Có lẽ chỉ cần một hơi thở là mở được cánh cửa và khi đặt bàn tay lên cánh cửa, anh nhận thấy rằng mình dường như không phải dùng chút sức lực nào hay dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể lên đó, cánh cửa thực sự như một tấm kim loại được gắn vào tường trừ lúc nó bất ngờ chuyển động trên lớp đệm cao su; rồi anh nhìn thấy bàn tay lẫn cánh tay của cô y tá, cái bàn mổ cùng hình hài của Charlotte phẳng một cách lạ lùng dưới tấm vải phủ. Đèn Klieg đã tắt, những cái cột di động đã được đẩy vào góc phòng và chỉ còn một bóng đèn trên trần nhà vẫn sáng, và có một người y tá khác đang lau khô tay ở bồn rửa trong phòng, anh đã quên mất rằng lúc trước, trong phòng mổ có bốn người. Nhưng đúng lúc đó, cô y tá ném chiếc khăn xuống và đi qua chỗ anh, bước khỏi tầm nhìn của anh rồi biến mất. Có một cái quạt hoặc một cái máy thông gió đang hoạt động ở đâu đó phía trần nhà, nó vô hình hoặc ít nhất được ngụy trang và bị giấu kỹ; rồi anh đi tới bên chiếc bàn, người y tá thò tay lật tấm khăn phủ, sau giây lát, anh quay đầu nhìn qua cô ta, chớp chớp mắt một cách khó khăn, lại nhìn ra chỗ viên sĩ quan đang đứng ở cửa. “Bây giờ mọi việc xong rồi”, anh nói. “Anh ta có thể hút thuốc được rồi chứ?”

“Không”, người y tá đáp.

“Khỏi bận tâm”, anh nói. “Sẽ sớm kết thúc thôi. Khi đó...” “Đi thôi”, người y tá nói. “Anh chỉ có một phút thôi.”

Không phải gió mát đang thổi vào mà là gió nóng đang bị dồn ra khỏi phòng, vậy nên không có mùi của cát đen trong gió. Nhưng nó vẫn thổi đều, và anh có thể cảm nhận cũng như nhìn thấy nó, một lọn tóc đen rất ngắn vẫn còn ẩm ướt khẽ rung trong gió một cách nặng nề - lọn tóc ở giữa đôi mắt khép chặt và cái nút băng gọn ghẽ của bác sĩ phẫu thuật để đỡ hàm dưới của cô. Nhưng không chỉ có vậy. Dường như tất cả không phải chỉ là sự thả lỏng của các khớp xương và cơ bắp mà là sự xẹp xuống của toàn bộ cơ thể, như một túi nước lành nguyên bị xẹp xuống, rồi tạm ngừng quá trình này trong một phút để anh được nhìn thấy, song vẫn cố hướng tới mức độ xẹp hơn cả thân hình ở tư thế đi và đứng thẳng, hơn cả cái dáng ngủ úp sấp của một xác chết nhỏ thó hay miếng lót giày bằng bìa mỏng; mặt đất thậm chí vẫn chưa đủ phẳng so với cái thân hình đang nằm duỗi ra và biến mất này, thoạt đầu chậm sau đó nhanh dần rồi cuối cùng biến mất với tốc độ khó tin: Nó đã biến mất không chút dấu vết trên cát bụi tham lam vô độ. Người y tá chạm vào cánh tay anh và nói, “Đi thôi”.

“Khoan đã”, anh nói, “khoan đã”. Nhưng anh buộc phải bước lùi lại vì chiếc cáng có bánh xe bằng cao su đó di chuyển rất nhanh, hệt như trước, vẫn là chiếc cáng đó, vẫn người đàn ông có dáng người gầy gò và dẻo dai không đội mũ ấy - người có mái tóc được rẽ ngôi bằng cách làm ướt, chải về phía trước sau đó được vuốt ngược ra sau ở hai bên đuôi lông mày giống kiểu tóc của các chủ quán rượu thời trước với chiếc đèn pin để trong túi hậu còn mép áo khoác bị giắt ở phía sau, chiếc cáng lăn đến bên chiếc bàn rất nhanh khi người y tá lật tấm khăn phủ lại. “Tôi không cần phải giúp hai người này sao?”, anh hỏi.

“Không”, người y tá đáp. Giờ đây không có hình hài cụ thể nào phía dưới tấm khăn nữa và nó được chuyển sang xe cáng như thể một vật không trọng lượng. Chiếc cáng rền rĩ chuyển động, bánh xe phát ra những tiếng “xịt”, bị hút qua ô cửa nơi viên sĩ quan đang đứng với chiếc mũ trong tay. Sau đó chiếc cáng biến mất. Anh có thể nghe được âm thanh của nó thêm một phút sau đó thì không còn thấy gì nữa. Người y tá bấm một chiếc nút trên tường và tiếng o o của máy thông gió ngừng bặt, cứ như thể nó đã chạy hết tốc lực vào sâu trong một bức tường rồi bị xóa bỏ bởi sự im lặng ghê gớm trùm lên anh như sóng trào, như đại dương, và chẳng có gì để níu bám; anh bị nó tung lên, ném xuống, cuốn trong vòng xoáy của mình rồi bỏ mặc ở đó với hàng mi khô cộm, anh chớp mắt liên tục trong đau đớn. “Đi nào”, người y tá giục. “Bác sĩ Richardson nói anh có thể uống một ly rượu.”

“Được rồi, Morrison.” Viên sĩ quan đội mũ lên đầu. “Hãy bình tĩnh.”

Nhà tù cũng na ná bệnh viện, chỉ có điều có hai tầng vuông vắn và không có những cây trúc đào. Nhưng ở đó cũng có cọ. Cây cọ đứng ngay ngoài cửa sổ phòng giam của anh to và xơ xác hơn những cây cọ anh từng nhìn thấy; khi anh và viên sĩ quan đi dưới tán cọ để vào phòng giam, trời không có gió nhưng nó vẫn phát ra tiếng đập lá cứ như bị họ làm giật mình, và ban đêm, nó đập lá hai lần nữa trong khi anh đứng và đổi tay bám trên song sắt khi cảm thấy cái song sắt ấy nóng lên trong lòng bàn tay nhớp nháp mồ hôi, và cây cọ lại đập lá trong sự xáo động không thể giải thích được. Sau đó, thủy triều trên sông bắt đầu xuống và anh có thể ngửi thấy mùi chua của lòng sông nhiễm mặn - nơi có những vỏ sò, đầu tôm thối rữa cùng cây dầu gai chất đống.

Rồi bình minh bắt đầu ló rạng (anh nghe thấy tiếng những chiếc thuyền đánh bắt tôm tắt máy) và anh có thể thấy chiếc cầu - nơi tàu hỏa đến New Orleans chạy qua - hiện ra trên nền trời nhợt nhạt, nghe thấy tiếng tàu hỏa từ New Orleans đang tới, nhìn thấy khói bay lên mỗi lúc một gần sau đó con tàu xuất hiện trên cầu, ở trên cao, giống một chiếc tàu hỏa đồ chơi nhuốm hồng tựa thứ gì đó lạ mắt được dùng để trang trí cho một chiếc bánh; còn phía dưới, vầng mặt trời mỏng quẹt đã bắt đầu tỏa nhiệt xuống trái đất. Khi con tàu khuất dạng, màu hồng tan biến như khói. Cây cọ bên ngoài cửa sổ bắt đầu phát ra những tiếng rì rầm khô khốc và đơn điệu, anh cảm thấy làn gió mát của buổi sớm nhè nhẹ thổi từ biển vào đều đặn, mang vị mặn mòi, trong lành với mùi i-ốt át hẳn mùi creozot, mùi nước bọt của những người hút thuốc lá cũng như những bãi nôn lâu ngày chưa được dọn trong phòng giam; mùi chua của lòng sông giờ đã nhạt đi và mặt nước đang gợn sóng lấp lánh, những con cá nhái lờ đờ khuấy động các vùng nước giữa những đám rác rưởi nổi lềnh bềnh. Sau đó, anh nghe thấy tiếng bước chân trên bậc thang và người cai ngục bước vào với một cái cốc bằng thiếc đựng cà phê với chiếc bánh cùng vị - loại bánh được sản xuất hàng loạt. “Anh có muốn gì khác nữa không?”, ông ta hỏi. “Một chút thịt nhé?”

“Không, cảm ơn”, Wilbourne nói. “Tôi chỉ cần cà phê thôi. Hoặc nếu có thể, ông cho tôi xin mấy điếu thuốc thì tốt. Từ hôm qua tới giờ tôi chưa hút điếu nào.”

“Chừng nào còn ở đây, tôi sẽ để anh dùng thoải mái.”

Người quản ngục lấy từ túi áo ra một chiếc túi vải cùng ít giấy quấn thuốc lá. “Anh có biết cuộn thuốc không?”

“Tôi không biết”, Wilbourne nói. “Vâng. Cảm ơn. Tôi sẽ làm được.”

Nhưng anh làm chẳng ra sao cả. Cà phê loãng, quá ngọt và quá nóng để uống, thậm chí cầm trong tay, dường như thứ đồ uống này sở hữu một lượng nhiệt có thể tự phục hồi cố hữu thuộc về chức năng thậm chí không thể hao hụt qua sự tỏa nhiệt dữ dội của chính nó. Vậy nên anh đặt cốc cà phê xuống ghế, còn mình thì ngồi lên thành giường mà không biết rằng mình đang ở tư thế cúi người khổ sở, không phải trong nỗi đau khổ mà trong sự tập trung hoàn toàn vào một mẩu xương - thứ cần sự bảo vệ không phải từ bất cứ vật nào bước đi theo phương thẳng đứng mà từ những sinh vật di chuyển trên cùng một mặt phẳng song song với nó. Anh biết mình phải dốc thuốc lá sợi trong chiếc túi vải ra một mảnh giấy dù không tài nào nhớ nổi đã từng nhìn thấy người ta cuộn thuốc lá ở đâu hay lúc nào, rồi nhìn với vẻ thận trọng, bình tĩnh khi sợi thuốc lá bay khỏi tờ giấy trong làn gió nhẹ thổi vào từ ô cửa sổ; anh xoay người để chắn gió cho mảnh giấy, hiểu rằng bàn tay mình đang bắt đầu run dù chưa bận tâm lắm đến điều ấy, sau đó cẩn thận để cái túi đựng sợi thuốc lá sang một bên và nhìn những sợi thuốc như thể đang giữ chúng ở trong mảnh giấy bằng lực của đôi mắt trong lúc đặt bàn tay kia lên nó và nhận thấy giờ đây, cả hai tay mình đều đang run; mảnh giấy bất ngờ bay xuống đất qua khoảng trống giữa hai bàn tay anh và gây ra một tiếng động rõ rệt. Hai tay anh run bần bật; anh đổ sợi thuốc ra mảnh giấy thứ hai với sự tập trung ý chí cao độ, không phải vì thèm thuốc mà chỉ cốt để cuốn được một điếu; anh thận trọng nhấc hai khuỷu tay khỏi đầu gối và giữ mảnh giấy đã chứa đầy sợi thuốc lá trước khuôn mặt râu ria hơi hốc hác song vẫn có vẻ bình tĩnh của mình cho tới khi hết run. Nhưng ngay khi thả lỏng tay để cuộn thuốc, cả hai bàn tay anh lại bắt đầu run, chỉ có điều lần này, anh thậm chí không dừng lại mà vẫn làm một cách cẩn thận, những sợi thuốc rơi như mưa, nhẹ và đều đặn khỏi đầu mảnh giấy đang được cuộn dở. Anh phải cầm mảnh giấy bằng cả hai tay để liếm phần mép và khi vừa chạm lưỡi vào nó, dường như đầu anh bị hành động đó tác động và bỗng co giật không thể kiểm soát nổi; vậy là anh ngồi đó trong giây lát nhìn những gì mình vào tạo được - một cái ống màu son đỏ hơi loe ra đã rỗng một nửa và quá ẩm để có thể bắt lửa. Anh lại phải dùng cả hai tay cầm que diêm để châm thuốc, điếu thuốc không tỏa khói, chỉ có luồng nhiệt mỏng manh duy nhất của lửa xông vào cổ họng. Tuy nhiên, với điếu thuốc trong tay phải khi tay trái nắm chặt cổ tay đó, anh rít thêm hai hơi thuốc nữa trước khi lửa lan tới đầu không bị ẩm của mảnh giấy cuộn, rồi thả mẩu thuốc xuống đất, chuẩn bị di chân lên thì chợt nhận ra rằng mình vẫn đang để chân trần, vậy nên anh để mặc cho mẩu thuốc cháy còn mình thì ngồi nhìn cốc cà phê với vẻ thất vọng mà trước đó, khi nhận nó, anh không thể hiện và có lẽ thậm chí chưa bắt đầu thấy cảm giác ấy; anh cầm cốc lên theo cái cách tay nọ đỡ tay kia như khi cầm điếu thuốc rồi đưa nó lên miệng, không phải tập trung vào cà phê mà vào việc uống nó để không phải nhớ rằng cà phê quá nóng cũng như tạo ra sự tiếp xúc giữa miệng cốc với cái đầu đang giật giật của mình; anh uống một ngụm chất lỏng vẫn còn nóng gần như nước sôi, mỗi lần nhấp là một lần rụt lưỡi vì nóng, chớp chớp mắt, cứ lặp đi lặp lại như thế; cà phê sánh ra khỏi cốc rồi rơi xuống sàn nhà, bắn vài giọt xuống bàn chân lẫn mắt cá chân anh như một nắm kim hoặc những mảnh đá nhỏ rơi tung tóe, và anh hiểu rằng mình lại bắt đầu chớp mắt liên tục; anh liền cẩn thận đặt cốc cà phê xuống ghế bằng cả hai tay rồi lại ngồi xuống bên cạnh, với tư thế hơi cong lưng và tiếp tục chớp mắt không ngừng, vì cảm giác đau cộm trong lúc nghe thấy tiếng bước chân của ai đó trên cầu thang mặc dù lần này, anh không nhìn ra phía cửa cho đến khi tiếng cánh cửa mở ra rồi đóng sập lại vọng đến bên tai; sau đó anh quan sát xung quanh rồi nhìn lên đúng lúc bắt gặp một khuôn mặt được cạo râu nhẵn nhụi nhưng rõ ràng thiếu ngủ phía trên chiếc áo khoác xám cài khuy chéo (nó đồng màu với những cây cọ xám xịt trên bãi biển), và nghĩ thầm, Anh ta có nhiều việc phải làm. Mình thì chỉ phải đợi thôi. Anh ta phải đọc điện báo và tìm người trông bọn trẻ con.

Rittenmeyer xách một chiếc va li mà một năm trước đã được lôi ra từ gầm giường của khu ký túc xá dành cho bác sĩ thực tập để mang tới Chicago, Wisconsin, rồi lại mang về Chicago, tới Utah, San Antonio, New Orleans và bây giờ đến nhà tù, anh ta bước tới rồi đặt nó lên chiếc giường hẹp.

Nhưng thậm chí ngay cả khi đó, bàn tay thò ra phía dưới tay áo màu xám cũng chưa xong việc mà đang thọc vào bên trong túi áo khoác.

“Trong va li có quần áo của anh”, anh ta lên tiếng. “Tôi đã giữ đúng lời hứa. Trong sáng nay, họ sẽ thả anh ra.” Bàn tay đó lại thò ra và thả xuống giường một tờ ngân phiếu được gấp làm đôi. “Đây là tấm ngân phiếu ba trăm đô la đó. Anh đã mang nó đi đủ lâu để được quyền sở hữu nó. Nó sẽ đưa anh đi đủ xa. Tôi gợi ý anh nên đến Mexico, nhưng anh có thể trốn ở đâu đó miễn là thận trọng. Nhưng chỉ vậy thôi, không có gì hơn nữa đâu. Hãy cố hiểu điều đó. Tất cả chỉ có vậy.”

“Để khỏi phải ngồi tù ư?”, Wilbourne hỏi. “Khỏi phải ngồi tù ư?”

“Đúng vậy!”, Rittermeyer đáp bằng giọng gắt gỏng. “Hãy ra khỏi đây. Tôi sẽ mua vé tàu và gửi nó cho anh...”

“Tôi xin lỗi”, Wilbourne nói.

“... New Orleans, anh thậm chí có thể đi tàu thủy...” “Tôi xin lỗi, tôi không thể”, Wilbourne nói. Rittermeyer dừng lại. Anh ta không nhìn Wilbourne cũng chẳng nhìn gì cả. Một lát sau, anh ta khẽ nói: “Hãy nghĩ đến cô ấy.”

“Tôi ước gì mình có thể ngừng nghĩ đến cô ấy. Tôi ước gì mình có thể. Không, tôi không thể. Có lẽ vậy. Có lẽ đấy là lý do...” Đó là lần đầu tiên anh gần như chạm vào tờ ngân phiếu ấy. Nhưng vẫn chưa thực sự chạm hẳn, vậy cũng chẳng sao, nó sẽ quay trở lại; anh sẽ tìm thấy và cầm nó đến lúc phải làm thế.

“Vậy thì hãy nghĩ đến tôi”, Rittermeyer nói.

“Tôi ước gì mình có thể thôi không nghĩ đến anh nữa. Tôi cảm thấy...”

“Thôi đi!”, người kia yêu cầu, giọng lại đầy tức giận, “Đừng thương hại tôi. Anh hiểu chưa? Hiểu chưa hả?”. Và anh ta toan nói điều gì đó nữa nhưng cuối cùng lại thôi, không thể hoặc không muốn nói. Anh ta cũng bắt đầu run rẩy trong bộ đồ đẹp đẽ phẳng phiu tối màu, miệng lẩm bẩm, “Lạy Chúa. Lạy Chúa. Lạy Chúa”.

“Có lẽ tôi rất tiếc vì anh không thể làm gì được và biết tại sao anh không thể. Bất cứ ai cũng biết điều đó. Nhưng thế cũng chẳng ích gì. Và nếu tôi có thể làm điều đó thì cũng có ích đấy, không nhiều, chỉ chút thôi. Có điều tôi cũng không thể. Và tôi biết tại sao lại thế. Tôi nghĩ vậy. Chỉ có điều tôi không...” Anh bỏ lửng câu đó. Rồi khẽ nói, “Tôi rất tiếc”. Người kia đã hết run khi nói bằng giọng bình tĩnh chẳng kém gì Wilbourne.

“Vậy là anh sẽ không đi?”

“Tôi có thể sẽ đi nếu anh nói cho tôi biết tại sao”, Wilbourne đáp. Nhưng người kia không trả lời. Anh ta lấy một chiếc khăn tay trong túi ngực ra rồi cẩn thận lau mặt, còn Wilbourne nhận thấy gió buổi sáng ngoài biển đã ngừng thổi và biến mất, cứ như thể trái đất cùng vòm trời - nơi có những gợn mây nhưng vẫn còn sáng sủa - là một quả cầu, một khoảng không rỗng tuếch mà gió không đủ để lấp đầy, chỉ chạy tới chạy lui bên trong nó một cách vô định, chẳng theo một quy luật nào hay đoán trước được, chẳng rõ từ đâu đến và thổi tới đâu, như một đàn ngựa hoang trên một bình nguyên quạnh vắng. Rittermeyer bước ra phía cửa rồi đóng sập lại khiến nó phát ra một tiếng “cạch” khô khốc mà không quay đầu nhìn lại. Sau đó người quản ngục xuất hiện và mở cánh cửa. Rittermeyer vẫn không nhìn lại. “Anh quên tiền này”, Wilbourne nói. Người kia quay lại, nhặt tờ ngân phiếu đã được gấp gọn và nhìn Wilbourne trong giây lát.

“Vậy là anh sẽ không đi?”, anh ta hỏi. “Anh sẽ không đi?” “Tôi xin lỗi”, Wilbourne nói. Giá mà anh ta nói cho mình biết lý do, Wilbourne nghĩ. Có lẽ nếu anh ta nói cho mình biết lý do thì mình sẽ đi. Nghĩ vậy thôi chứ anh biết mình sẽ không đi. Tuy nhiên, thỉnh thoảng anh vẫn tiếp tục nhớ về điều đó khi những ngày cuối cùng của tháng Sáu qua đi và tháng Bảy bắt đầu bằng những buổi bình minh mát mẻ lúc mặt trời vẫn ở phía sau lưng, còn anh lắng nghe tiếng động cơ ầm ì của các con thuyền đánh bắt tôm trên sông phía eo biển Sound; những buổi chiều nắng chói chang khi mặt trời của biển chiếu xiên qua cửa sổ phòng giam, in hình những song sắt anh đang bám lên mặt và nửa người trên của anh; và anh thậm chí đã học cách ngủ trở lại, thỉnh thoảng nhận thấy rằng mình đã ngủ giữa hai lần đổi tay trên song sắt nhớp nháp mồ hôi. Sau đó anh thôi không nghĩ về điều này nữa. Anh chẳng biết mình đã thôi không như thế nữa từ khi nào, thậm chí chẳng còn nhớ rằng chuyến thăm của Rittmeyer đã hoàn toàn biến mất khỏi tâm trí mình.

Một hôm khi ngày ngả dần về hoàng hôn, anh nhìn thấy thứ, chẳng biết tại sao trước đó mình lại không nhận ra trong suốt hai mươi năm, xuất hiện ở bờ sông phía bên kia: Thân của chiếc tàu cứu hộ lớn được đóng dở vào năm 1918 và chưa bao giờ hoạt động; mặt đường bên dưới đã bị xuống cấp từ nhiều năm trước khiến nơi nó nằm giờ đây trở thành vũng lầy cạnh cửa sông tràn ngập ánh mặt trời lấp lánh với một dây phơi quần áo giăng ngang phía sau boong tàu. Bây giờ, mặt trời đã trôi xuống phía sau thân tàu ấy và anh không thể phân biệt được rõ ràng những chi tiết của con tàu; nhưng sáng hôm sau, anh phát hiện ra một cột ống khói nghiêng nghiêng có khói tỏa và phân biệt được màu của những chiếc quần áo bay phấp phới trong gió biển buổi sáng; sau đó, anh nhìn thấy cái bóng bé tẹo của một người đàn bà đang thu quần áo từ dây phơi và tin rằng mình có thể phân biệt được cử chỉ giữ từng chiếc quần, chiếc áo bằng miệng. Nếu trước kia phát hiện ra cái tàu này thì bọn mình có thể đã sống ở đó trong bốn ngày và tiết kiệm được mười đô la, anh nghĩ thầm, Bốn ngày cơ đấy. Mà có thể không chỉ bốn ngày thôi đâu; và vào một buổi chiều tối nhập nhoạng, anh bắt gặp một chiếc thuyền đánh cá tiến đến bên con tàu kia cùng một người đàn ông mang theo tấm lưới mỏng tang buông dài từ vai xuống dưới trèo lên một cái thang - cảnh tượng đẹp tựa trong thần thoại, rồi quan sát người đàn ông đó ngồi ở phía đuôi tàu để vá tấm lưới đang vắt ngang đầu gối khi mặt trời buổi sáng lấp lánh trên những mắt lưới màu trắng bạc. Lần khác, khi đứng nhìn về phía con tàu, anh thấy một vầng trăng như sáp nhô lên và cứ đứng như vậy khi ánh sáng ngày tắt dần nhường chỗ cho đêm kéo đến rồi trôi đi; một buổi chiều, anh trông thấy những lá cờ, chiếc nọ được cắm cao hơn chiếc kia một cách chắc chắn, bay phấp phới từ cột cờ phía trên trạm gác của chính phủ ở cửa sông và nổi bật trên nền trời màu thép; suốt đêm hôm đó, chiếc phao cứu hộ đắm ngoài sông không ngừng than vãn, gào thét còn cây cọ bên ngoài cửa sổ phòng giam thì đập lá liên hồi ngay trước hừng đông khi một cơn gió mạnh bắt nguồn từ cái đuôi của một trận bão bất ngờ ập tới. Đó không hẳn là một trận bão vì nó đang phi nước đại ở một nơi nào đó trong vịnh, chỉ có cái đuôi của nó quét qua thôi - một cú đập nhẹ của cái bờm lúc nó đi qua làm thủy triều dâng cao tới gần năm mét và không rút xuống trong suốt hai mươi giờ - gió thổi dữ dội vào cây cọ hoang phát ra những tiếng xào xạc khô khốc, quét qua mái của buồng giam, để rồi suốt đêm thứ hai, anh có thể nghe thấy tiếng gầm của sóng biển dội vào đê chắn trong bóng tối, tiếng phao cứu đắm cùng tiếng nước ì oạp vang lên giữa những tiếng gầm; anh thậm chí có thể nghe rõ âm thanh ầm ào khi nước tràn lên và chảy khỏi phao cứu đắm, mỗi lần như thế lại kèm theo một tiếng gầm, và mưa trút xuống, đã bớt dữ dội nhưng vẫn đổ ào ào vào buổi bình minh ngày hôm sau, tuôn trào trên vùng đất bằng phẳng trước khi gió đông bắt đầu thổi. Ở phía trong nội địa, tất cả dường như yên tĩnh hơn, vầng mặt trời màu sáng bạc thì thầm giữa những cây to trĩu lá đứng nghiêm trang, chiếu ánh sáng lấp lánh trên bãi cỏ đã được xén gọn; đúng, anh có thể hình dung ra bãi cỏ đã được xén gọn ấy, nó giống như bãi cỏ trong công viên - nơi anh từng ngồi đợi, nơi có lẽ có những đứa trẻ con và các cô bảo mẫu; vào đúng thời điểm trái đất được khôi phục và sự đứng đắn trở thành quy định, sẽ sớm có một bia mộ không ghi gì hết; bãi cỏ đã được xén, xanh tươi và tĩnh lặng, còn cơ thể, hình hài phẳng lì, xẹp lép, nhỏ bé bên dưới tấm khăn phủ ấy đã được kéo lên và chuyển đi trong bàn tay của hai người đàn ông như thể không có trọng lượng, tuy nhiên nó vẫn chịu lực và yên lặng dưới sức nặng của đất. Nhưng tất cả đâu chỉ có vậy, anh nghĩ. Đó không thể là tất cả. Uổng phí. Đâu phải chỉ là sinh mạng, xác thịt, luôn có thừa sinh mạng. Hai mươi năm trước khi bảo tồn các quốc gia và biện minh cho các phương châm, người ta đã nhận ra điều đó; cứ cho rằng để bảo tồn các quốc gia thì nhiều sinh mạng mất đi như vậy cũng đáng [3]. Nhưng còn ký ức nữa chứ. Chắc chắn ký ức tồn tại độc lập với xác thịt. Nhưng cũng chẳng phải vậy. Bởi vì ký ức không tự ý thức về bản thân nó, anh nghĩ. Ký ức đâu biết những gì nó nhớ. Vậy nên ắt phải có xác thịt để kích thích chứ.

Đó là lần thứ hai anh gần như đã nắm bắt được điều mình muốn. Song nó lại trốn thoát. Nhưng anh không cố nắm bắt rồi lo lắng, chẳng sao cả; đến lúc cần, anh sẽ làm được thôi và nó sẽ không trốn khỏi anh nữa. Thế rồi một buổi tối, anh được phép tắm rửa, cắt tóc (trước đó họ đã tịch thu dao cạo râu của anh) và sáng hôm sau, họ đến cạo râu cho anh; trong chiếc áo sơ mi mới tinh, anh bị khóa tay và bị hai người kèm hai bên - một bên là sĩ quan cảnh sát, một bên là viên luật sư được tòa án chỉ định bào chữa cho anh - áp giải trên đường phố - nơi những người đàn ông bị bệnh sốt rét đến từ các nhà máy cưa trong các khu đầm lầy và những người chuyên đánh bắt tôm dãi dầu nắng gió đang quay đầu lại nhìn anh bước về phía trụ sở tòa án - nơi chấp hành viên của tòa án đang thông báo về phiên tòa bằng giọng oang oang vọng xuống từ ban công. Trụ sở tòa án khá giống nhà tù, cũng hai tầng, được trát cùng loại vữa như nhau, cũng có mùi creozot và nước bọt của những người hút thuốc nhưng không tỏa ra mùi của những bãi nôn, và nó tọa lạc trên một khu đất không có bãi cỏ nhưng có đến năm, sáu cây cọ cùng trúc đào đang phô ra những bông hoa màu hồng và trắng ở phía trên bụi xuyến chi rậm rạp. Một lối vào rợp bóng cây, mát rượi như trong hầm rượu hiện ra, với mùi thuốc lá đậm hơn, không gian đầy tiếng người, không hẳn là tiếng nói mà là những tiếng rì rầm nghe ong ong lẫn tiếng làu bàu của các lỗ chân lông bứt rứt đang thực hiện chức năng của mình. Họ bước lên các bậc cầu thang dẫn tới một cánh cửa và quay đầu lại nhìn anh trong lúc anh bước trên lối đi giữa căn phòng chật kín những hàng ghế băng, giọng nói của người chấp hành viên của tòa án vẫn oang oang trên ban công; anh ngồi vào cái bàn giữa luật sư của mình và viên sĩ quan cảnh sát một lát rồi lại đứng dậy trong khi vị quan tòa lớn tuổi, mặc bộ trang phục được may bằng vải lanh, đi giày cao cổ, bước một cách đầy quả quyết tới chỗ ngồi của mình. Không mất nhiều thời gian, chẳng vòng vo mà rất ngắn gọn, hội đồng xét xử chỉ mất hai mươi hai phút để thực thi nhiệm vụ, và vị luật sư được chỉ định của anh (một người đàn ông trẻ có khuôn mặt tròn như mặt trăng với đôi mắt cận thị đeo kính, mặc bộ com lê lanh nhăn nhúm) bào chữa cho bị cáo một cách chẳng mấy nhiệt tình, chỉ mất hai mươi hai phút thôi, còn vị quan tòa thì ngồi ở vị trí cao phía sau chiếc bàn gỗ thông có vân trông giống như bàn gỗ gụ với khuôn mặt không phải của luật sư mà của người giám sát trường học ngày Chủ nhật ở hội Thánh Methodist - người mà vào những ngày thường trong tuần có lẽ là một chủ ngân hàng giỏi giang và khôn ngoan, gầy gò với râu tóc gọn ghẽ cùng cặp kính gọng vàng lỗi mốt. “Cáo trạng như thế nào?”, ông ta cất tiếng hỏi. Người thư ký đọc bản cáo trạng dài dòng và rườm rà bằng giọng đều đều, gần như uể oải:

“... đi ngược lại hòa bình và phẩm giá của bang Mississippi... tội ngộ sát...” Một người đàn ông mặc bộ com lê may bằng vải sọc nhăn, trông có vẻ nhem nhuốc ngồi ở góc xa của bàn liền đứng lên. Ông ta khá béo và có khuôn mặt điển trai, gần như quý phái của một luật sư, đồng thời có nét của tài tử điện ảnh, thông minh và lanh lợi: Đó là viên trưởng lý của quận.

“Thưa quý tòa, tôi tin rằng chúng ta có thể chứng minh tội cố ý giết người.”

“Người đàn ông này không bị truy tố vì tội cố ý giết người, ông Gower ạ. Ông nên biết điều đó. Tội danh đã được thông báo rồi đấy.” Lúc này viên luật sư trẻ có dáng người thấp đậm đứng lên. Anh ta chưa mang cái bụng phệ của người có tuổi cũng như khuôn mặt của một luật sư.

“Bị cáo nhận tội, thưa quý tòa”, anh ta nói. Và bây giờ, Wilbourne nghe thấy tiếng thở dài thườn thượt phía sau mình.

“Bị cáo nhận tội để được hưởng khoan hồng chăng?”, quan tòa hỏi.

“Tôi đơn giản chỉ nhận tội thôi, thưa quý tòa”, Wilbourne đáp. Một lần nữa anh lại nghe thấy tiếng thở dài rõ hơn phía sau, nhưng quan tòa đã gõ búa một cách dứt khoát.

“Anh ta không được phép nói!”, ông ta ra lệnh. “Bị cáo có muốn nhận sự khoan hồng của tòa án không?”

“Có, thưa quý tòa”, viên luật sư trẻ trả lời.

“Vậy thì ông không cần phải giải thích nữa, ông Gower ạ. Tôi sẽ chỉ đạo hội đồng xét xử...” Lần này không có tiếng thở dài. Wilbourne nghe thấy tiếng nín thở, sau đó là tiếng ồn ào, không thật sự to lắm lúc chiếc búa gỗ được gõ trên mặt gỗ và chấp hành viên của phiên tòa lại thông báo điều gì đó bằng giọng oang oang, rồi có sự chuyển động cùng tiếng những bước chân dồn tới; một giọng nói vang lên, “Đó! Tiến lên đi! Giết hắn đi!”, và Wilbourne nhìn thấy nó - cái áo khoác màu xám (chính cái áo khoác đó) di chuyển về phía quan tòa với khuôn mặt đầy tức giận: Người đàn ông ấy bước vào phòng xử án mà không hề báo trước, phải chịu đựng một dạng khổ sở chẳng hợp với anh ta chút nào và giờ đây chắc hẳn đang tự nhủ, Tại sao lại là mình chứ? Tại sao? Mình đã làm gì chứ? Trong cuộc đời mình đã gây ra chuyện gì chứ?; anh ta tiến đến rồi sau đó dừng lại và bắt đầu lên tiếng, âm thanh ồn ào tạm ngừng khi anh ta cất lời: “Thưa quý tòa... xin quý tòa làm ơn...”.

“Anh là ai?”, quan tòa hỏi.

“Tôi là Francis Rittenmeyer ”, Rittenmeyer đáp. Và tiếng ồn ào lại nổi lên, cái búa lại được gõ xuống mặt bàn, lần này chính quan tòa phải quát to để dẹp trật tự.

“Trật tự! Trật tự! Nếu còn gây mất trật tự như thế này nữa, tôi sẽ cho giải tán hết! Hãy tước vũ khí của người đàn ông đó!”

“Tôi không có vũ khí”, Rittenmeyer nói. “Tôi chỉ muốn...” Nhưng người chấp hành viên và hai người đàn ông khác đã sấn tới, hai ống tay áo màu xám của anh ta bị giữ chặt trong khi họ sờ nắn tất cả các túi áo túi quần lẫn hai bên sườn anh ta.

“Anh ta không có vũ khí, thưa quan tòa”, người chấp hành viên của tòa án nói. Quan tòa quay sang viên trưởng lý của quận, lúc này đang run lẩy bẩy, ông ta quá già để chứng kiến những việc như thế này.

“Trò hề này là thế nào hả, ông Gower?”

“Tôi không biết, thưa quý tòa. Tôi không...” “Không phải ông đã triệu tập anh ta tới đây chứ?”

“Tôi không cho rằng điều đó cần thiết. Xét trên việc...” “ Nếu quý tòa làm ơn”, Rittermeyer nài. “Tôi chỉ muốn có một...” Quan tòa giơ tay lên và Rittermeyer ngừng nói.

Anh ta đứng yên, vẻ mặt không biểu lộ cảm xúc hệt như một bức tượng điêu khắc thường thấy trong các nhà thờ Gothic, đôi mắt nhạt màu của anh ta cũng mang vẻ trống rỗng của mắt một bức tượng cẩm thạch không có con ngươi. Vị quan tòa nhìn chằm chằm viên chưởng lý - người giờ đây mang vẻ mặt của một luật sư đang nhìn một cách hết sức chăm chú và tỉnh táo cùng những ý nghĩ vừa gấp gáp vừa bí mật hiện ra đằng sau khuôn mặt đó. Quan tòa hết quan sát tay luật sư trẻ tuổi có dáng người thấp đậm rồi đến Rittermeyer. “Phiên tòa đã kết thúc”, ông ta lên tiếng. “Nhưng nếu muốn nói điều gì đó thì anh vẫn có thể làm thế.” Giờ thì Rittermeyer tiến đến bục dành cho người làm chứng, không có âm thanh nào vang lên, thậm chí cả tiếng thở dài Wilbourne nghe thấy lúc nãy cũng ngưng bặt, chỉ còn tiếng thở của chính anh và tay luật sư trẻ tuổi bên cạnh. “Phiên tòa này đã kết thúc”, quan tòa thông báo. “Bị cáo đang đợi tòa tuyên án. Anh muốn nói gì thì nói đi.” Rittenmeyer dừng lại. Anh ta không nhìn quan tòa cũng chẳng nhìn bất cứ ai hay bất cứ thứ gì, khuôn mặt bình thản đến hoàn hảo.

“Tôi muốn xin quý tòa một điều”, anh ta nói. Trong giây lát, quan tòa không nhúc nhích mà ngồi im như tượng nhìn Rittenmeyer trừng trừng, chiếc búa vẫn được cầm chặt trong tay như một cây kiếm, sau đó ông ta từ từ rướn người về phía trước, vẫn nhìn Rittenmeyer chằm chằm; và Wilbourne nghe thấy âm thanh của sự hút vào thật dài, sự tập trung của nỗi kinh ngạc lẫn hoài nghi bắt đầu nổi lên.

“Cái gì?”, quan tòa hỏi. “Gì cơ? Cầu xin ư? Cho người đàn ông này ư? Người đàn ông đã cố ý và thực sự đã tiến hành cuộc phẫu thuật cho vợ anh khi anh ta biết nó có thể khiến cô ta mất mạng, và thực tế vợ anh đã mất mạng vì anh ta ư?” Giờ đây, tiếng ồn ào lại nổi lên như làn sóng; anh có thể nghe thấy tiếng bước chân dồn lên và những tiếng gào thét, cảnh sát làm nhiệm vụ ở tòa án xông ra chặn các làn sóng giống như một đội bóng đang dồn lên tấn công: Đó là cơn lốc xoáy của sự cuồng nộ và hỗn loạn nổi lên trước khuôn mặt hoàn hảo phía trên chiếc áo khoác đẹp đẽ, phẳng phiu: “Treo cổ bọn nó đi! Hãy treo cổ cả hai đi!”, “Hãy nhốt cả hai vào cùng một chỗ đi! Hãy để đồ khốn kia làm chuyện đó bằng dao với gã đó đi!”; tiếng gầm át cả tiếng dậm chân và quát tháo đó cuối cùng cũng yếu dần nhưng vẫn chưa ngừng hẳn, chỉ bị hãm bớt âm lượng sau những cánh cửa đã được đóng chặt, để rồi sau đó lại nổi lên ở bên ngoài tòa nhà; và vị quan tòa đứng dậy, chống cả hai tay lên bàn khi vẫn nắm chặt chiếc búa, cái đầu giật giật và run rẩy của ông ta giờ đây thực sự là đầu của một ông già. Sau đó, ông ta từ từ ngồi xuống, vẫn giữ giọng bình tĩnh xen lẫn lạnh lùng: “Hãy bảo vệ người đàn ông đó để anh ta ra khỏi thành phố ngay lập tức”.

“Tôi không nghĩ anh ta nên rời khỏi đây vào lúc này, thưa quan tòa”, chấp hành viên của tòa án nói. “Đấy, đám đông ở ngoài kia đang gào thét kìa.” Nhưng không ai phải nghe những âm thanh đó hết, giờ đây nó không còn là nỗi cuồng loạn mà chỉ còn là cơn phẫn nộ cùng giận dữ. “Họ không còn cuồng loạn nữa, đó chỉ là sự điên rồ nhất thời thôi. Nhưng dù sao...”

“Được rồi”, quan tòa ngắt lời. “Hãy đưa anh ta tới phòng của tôi. Giữ anh ta ở đó cho đến khi trời tối rồi hãy đưa anh ta ra khỏi thành phố... Thưa các vị trong bồi thẩm đoàn, tù nhân này phạm tội như đã bị cáo buộc và vì vậy, phán quyết cuối cùng là bị cáo phải chịu hình phạt lao động khổ sai tại nhà tù của bang ở Parchman trong thời gian không dưới năm mươi năm. Bây giờ các vị có thể giải tán.”

“Tôi cho rằng không cần phải như vậy đâu, thưa quan tòa”, chủ tịch ban hội thẩm nói. “Tôi cho rằng tất cả chúng ta...” Vị quan tòa già gầy gò đang run lên vì tức giận quay sang ông ta.

“Ông sẽ rời khỏi đây! Ông muốn bị giam giữ vì chống lệnh tòa án chăng?” Họ giải tán rồi biến khỏi phòng xử án trong vòng chưa đầy hai phút - một khoảng thời gian gần như không đủ để chấp hành viên đóng và mở cửa. Tiếng ồn vọng vào từ bên ngoài, rộ lên rồi lại lắng xuống.

Trưa hôm đó, trời lại mưa, một màn mây màu sáng bạc không biết từ đâu kéo tới trước khi mặt trời bị che khuất, di chuyển nhanh như một con ngựa non trong phiêu lãng tới đâu không rõ, rồi ba mươi phút sau xuất hiện trở lại, lần theo dấu vết của chính nó, sáng và vô hại. Nhưng chẳng bao lâu sau khi trời tối, anh được đưa trở lại phòng giam, bầu trời cùng ánh sao hôm khi ấy lại trở nên trong vắt khôn tả phía trên sắc xanh lục cuối cùng của chạng vạng, và cây cọ vẫn phát ra những tiếng rì rầm bên ngoài những song sắt còn lạnh qua cảm giác của bàn tay anh dù nước mưa đã bốc hơi từ lâu. Vậy là anh hiểu được Rittermeyer muốn nói gì cũng như tại sao anh ta làm thế. Anh lại nghe thấy tiếng bước chân nhưng không rời ô cửa sổ cho tới khi cửa ra vào phòng giam bật mở, phát ra tiếng lách cách và Rittermeyer bước vào, đứng yên một lát trong lúc nhìn anh. Sau đó, anh ta lấy một vật gì đó từ trong túi áo khoác ra, bước tới và đưa nó cho anh. “Đây”, anh ta nói. Đó là một chiếc hộp nhỏ không có nhãn mác chứa một viên thuốc màu trắng. Trong giây lát, Wilbourne nhìn viên thuốc đó bằng ánh mắt ngơ ngác. Rồi khẽ nói: “Thuốc độc!”.

“Đúng vậy”, Rittermeyer đáp. Anh ta quay gót chực rời khỏi phòng với khuôn mặt thản nhiên, lạnh lùng lẫn kiên định của người đàn ông luôn luôn đúng và không tìm được niềm thanh thản trong sự đúng đắn của mình.

“Nhưng tôi không...”, Wilbourne đáp. “Cái chết của tôi sẽ giúp được gì...” Sau đó anh tin rằng mình đã hiểu hành động của Rittermeyer nên tiếp tục, “Khoan đã”. Rittermeyer đã ra đến cửa và đang đặt tay lên cánh cửa. Tuy nhiên anh ta dừng bước rồi quay lại nhìn anh. “Đó là bởi đầu óc tôi mụ mẫm nên suy nghĩ không được sáng suốt cho lắm. Tôi đã quá vội vàng.” Anh ta nhìn anh và chờ đợi. “Tôi cảm ơn anh. Cảm ơn anh. Tôi ước gì mình đã làm y như thế với anh để đáp lại.” Sau đó, Rittermeyer lắc cánh cửa và nhìn Wilbourne lần nữa, khuôn mặt anh ta kiên định, đứng đắn mang nỗi khổ sở vĩnh viễn. Rồi người quản ngục xuất hiện và mở cánh cửa.

“Tôi không làm điều đó vì anh”, Rittermeyer nói. “Hãy loại bỏ ý nghĩ ấy ra khỏi cái đầu chết tiệt của anh đi.” Sau đó, anh ta bước khỏi phòng, cánh cửa phát ra những tiếng lách cách; và chẳng có sự giác ngộ nào lóe sáng trong không gian quá yên ắng như vậy, chỉ là sự sụp đổ đơn giản của một mô hình lộn xộn. Tất nhiên, Wilbourne nghĩ. Vào cái ngày cuối cùng ở New Orleans đó. Anh ta đã hứa với nàng. Nàng nói rằng “không phải là gã Wilbourne vụng về đó đã làm chuyện ấy đâu”, và anh ta đã hứa với nàng. Đúng như thế đấy. Ký ức đã rơi vào một mô hình im lặng và tồn tại đủ lâu để anh có thể nhận biết, sau đó nó trôi khỏi hoạt động nhớ, và chừng nào còn xác thịt để kích thích, ký ức vẫn mãi mãi còn đó. Giờ đây, anh sắp nắm bắt được điều mình muốn cũng như biến được ý nghĩ thành lời; anh liền quay ra cửa sổ, cẩn thận cầm chiếc hộp đã mở sẵn, bỏ viên thuốc trong đó ra mảnh giấy gói thuốc lá rồi cẩn thận nghiền nó thành bột bằng cách mài vào song sắt và hứng lấy những hạt bụi cuối cùng trong hộp; sau đó, anh lấy mảnh giấy dùng để quấn thuốc lá lau cái song sắt, tiếp đó đổ chỗ bột thuốc xuống sàn nhà rồi dùng đế giày di đi di lại để bột thuốc lẫn vào bụi đất, những bãi nước bọt cùng dầu crezot cho đến khi nó hoàn toàn biến mất; cuối cùng, anh đốt mẩu giấy và quay trở lại ô cửa sổ. Ký ức vẫn tồn tại cũng như đang chờ đợi; đến một thời điểm nào đó anh sẽ gợi lại được nó. Giờ đây, anh có thể nhìn thấy ánh đèn trên con tàu kia, trong cái ô cửa sổ ở thân tàu mà mấy tuần nay anh gọi là nhà bếp, cứ như thể anh sống ở đó; và với tiếng rì rầm dạo đầu của cây cọ, làn gió biển bắt đầu thổi nhè nhẹ, mang theo mùi của các đầm lầy lẫn những bông hoa nhài hoang dại, thổi dưới bầu trời phía tây cùng một vì sao sáng: Đêm rồi. Ký ức không phải tất cả mà chỉ là một nửa thôi, chỉ riêng ký ức thôi chưa đủ. Nhưng ký ức chắc hẳn phải ở một nơi nào đó chứ, anh nghĩ. Có sự uổng phí đấy. Không chỉ là mình. Chí ít mình cũng nghĩ là mình không muốn chỉ riêng mình lưu giữ ký ức về nàng. Mình hy vọng thế. Hãy để bất cứ ai lưu giữ nó, anh nghĩ và nhớ đến cơ thể cô, đến cặp đùi nở nang, đôi tay thích làm chuyện ấy cùng những việc khác. Muốn và đòi hỏi như vậy có lẽ cũng chẳng nhiều nhặn gì. Thể xác già cỗi, nhăn nheo, héo hắt đang tiến dần về phía mộ địa, bám lấy không phải sự thất bại mà đơn giản là thói quen cũ; chấp nhận thất bại để được phép bám lấy thói quen cũ - những lá phổi khò khè, những bộ ruột mệt mỏi không có khả năng dành cho niềm thích thú. Nhưng suy cho cùng, ký ức vẫn có thể sống trong thể xác già nua mệt mỏi; và bây giờ, anh đã nắm bắt được ký ức hiển nhiên, rõ ràng và sáng sủa khi cây cọ phát ra những tiếng xào xạc, rì rầm, khô khan, hoang dại lẫn yếu ớt; bây giờ là đêm nhưng anh có thể đối diện với nó, rồi nghĩ, Không phải là có thể hay sẽ. Mà là mình muốn. Dù gì mình cũng còn thể xác, nó già cỗi đến mức nào không quan trọng. Bởi ký ức sẽ chẳng còn tồn tại khi ở bên ngoài thể xác, vì nó không biết bản thân mình nhớ những gì, nên khi nàng không tồn tại thì một nửa của ký ức cũng vậy, và nếu như mình chẳng tồn tại nữa, thì toàn bộ ký ức về nàng sẽ biến mất. Đúng vậy, anh nghĩ, Giữa đau khổ và trống rỗng, mình sẽ chọn đau khổ.

❀ ❀ ❀

[1] Viết tắt của từ “Identity” có nghĩa là “bản ngã”, “thần thái”. Ở đây tác giả muốn diễn tả việc Wilbourne nhận ra Charlotte đang hấp hối khi nhìn thấy chữ ‘I” trong mắt cô.

[2] Loại đèn dùng trong điện ảnh. Chi tiết này cho thấy William Faulkner chịu ảnh hưởng của điện ảnh. Chuyện đang diễn ra ở bệnh viện được miêu tả giống như cảnh trong phim.

[3] Trong đau khổ và dằn vặt, Wilbourne đã cố suy nghĩ để tìm ra ý nghĩa cái chết của Charlotte. Ý nghĩ đó làm anh nhớ đến Chiến tranh thế giới thứ I - một cuộc chiến để chấm dứt mọi cuộc chiến tranh (war to end all wars) và đi tìm câu trả lời cho câu hỏi về sự uổng phí sinh mạng.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của William Faulkner

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.