Bàn Về Anh Hùng, Sự Sùng Bái Anh Hùng Và Chất Anh Hùng Trong Lịch Sử

Lượt đọc: 22 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày 12 Tháng 5 Năm 1840.

❊ ❊ ❊

Người anh hùng trong vai trò Thần thánh, người anh hùng trong vai trò Tiên tri, đều là những sản phẩm của thời đại cũ; những điều sẽ không bao giờ lặp lại trong thời đại mới. Chúng vốn mặc định một sự phác thảo thô sơ nhất định, thứ mà sự tiến bộ của tri thức khoa học thuần túy sẽ đặt dấu chấm hết. Cần phải có, ví như một thế giới bỏ trống, hoặc gần như trống vắng các hình thái khoa học, thì con người trong lòng kính mộng say đắm mới có thể tưởng tượng đồng loại của mình hoặc là một vị thần, hoặc là kẻ cất lên tiếng nói của thần linh. Thần thánh và Tiên tri nay đã thuộc về quá khứ. Giờ đây, chúng ta sẽ chứng kiến Người anh hùng của mình xuất hiện dưới một nhân vật bớt phần tham vọng hơn, nhưng cũng ít gây tranh cãi hơn: đó là Nhà thơ; một nhân vật không bao giờ mai một. Nhà thơ là một hình mẫu anh hùng thuộc về mọi thời đại; kẻ mà mọi thời đại đều sở hữu một khi đã sinh ra ông, kẻ mà thời đại mới nhất cũng như cổ xưa nhất đều có thể sản sinh ra—và sẽ luôn sản sinh ra, bất cứ khi nào Tự nhiên thấy bằng lòng. Hãy để Tự nhiên phái xuống một tâm hồn anh hùng; chẳng có thời đại nào mà linh hồn ấy lại không thể được nhào nặn thành một Nhà thơ.

Anh hùng, Tiên tri, Nhà thơ—nhiều cái tên khác nhau biết bao, ở những thời điểm và xứ sở khác nhau, được chúng ta trao cho các Vĩ nhân; tùy thuộc vào những dị biệt mà ta nhận thấy nơi họ, tùy thuộc vào không gian mà họ đã tự bộc lộ! Dựa trên nguyên lý ấy, chúng ta còn có thể gán cho họ nhiều cái tên hơn nữa. Tuy nhiên, tôi xin nhấn mạnh lại một lần nữa, như một thực tế quan trọng cần phải thấu hiểu, rằng chính không gian hoạt động khác nhau mới là nguồn cội vĩ đại của sự phân biệt ấy; rằng Người anh hùng có thể là Nhà thơ, Tiên tri, Vua chúa, Tăng lữ hoặc bất cứ thứ gì bạn muốn, tùy thuộc vào loại thế giới mà ông sinh ra và dấn thân vào. Tôi thú nhận rằng, tôi không tài nào tưởng tượng nổi một con người thực sự vĩ đại lại không thể hóa thân thành muôn vàn kiểu người. Nhà thơ nào chỉ biết ngồi trên ghế và sáng tác những vần thơ đơn thuần, sẽ chẳng bao giờ tạo ra được một câu thơ có giá trị lớn lao. Ông không thể ca ngợi người chiến binh anh dũng, trừ khi chính bản thân ông cũng ít nhất là một chiến binh anh dũng. Tôi tưởng tượng rằng ẩn chứa trong con người ấy là một nhà chính trị, một nhà tư tưởng, một nhà lập pháp, một triết gia;—ở mức độ này hay mức độ khác, ông đã có thể là, và thực chất ông chính là tất cả những điều ấy. Cũng vậy, tôi không tài nào hiểu nổi vì sao một Mirabeau, với trái tim rực cháy bao la ấy, với ngọn lửa hừng hực trong đó, với những dòng lệ trực trào trong đó, lại không thể viết nên những vần thơ, những vở bi kịch, những khúc ca, và chạm đến mọi trái tim theo cách ấy, nếu như dòng đời và nền giáo dục đưa đẩy ông hướng về phía đó. Bản chất nền tảng vĩ đại chính là việc trở thành Vĩ nhân; là việc bản thân con người ấy phải vĩ đại. Napoleon sở hữu những lời nói tựa như các Trận chiến Austerlitz. Các Nguyên soái của Louis XIV cũng đồng thời là những con người mang bản chất thi ca; những lời Turenne thốt ra tràn ngập sự minh triết và hào sảng, tựa như lời của Samuel Johnson. Trái tim vĩ đại, ánh nhìn thấu suốt minh triết: mọi thứ nằm ở đó; bất kỳ ai, ở bất kỳ lĩnh vực nào, cũng không thể thành công được nếu thiếu đi những điều này. Petrarch và Boccaccio hình như đã hoàn thành rất xuất sắc các sứ mệnh ngoại giao: ta hoàn toàn có thể tin điều đó; họ từng làm những việc khó khăn hơn thế một chút! Burns, một nhạc sĩ tài hoa, hẳn còn có thể trở thành một Mirabeau xuất chúng hơn nữa. Shakespeare—không ai biết ông có thể đạt tới đỉnh cao tối thượng nào nếu ông muốn.

Quả thật, Tự nhiên cũng có những năng khiếu riêng của nó. Tự nhiên không nhào nặn tất cả các vĩ nhân, cũng như tất cả mọi người khác, theo cùng một khuôn đúc duy nhất. Chắc chắn có sự khác biệt về năng khiếu; nhưng hoàn cảnh còn chi phối lớn hơn vô hạn; và phần lớn thời gian, người ta chỉ nhìn nhận vào yếu tố sau. Song sự việc cũng giống như những người bình thường khi học nghề thủ công vậy. Bạn lấy bất kỳ một con người nào, lúc ấy hãy còn là một tiềm năng mơ hồ, người có thể trở thành bất cứ loại thợ nào; và nhào nặn anh ta thành một người thợ rèn, người thợ mộc, người thợ nề: từ khoảnh khắc đó và mãi về sau, anh ta chính là người thợ ấy và không gì khác nữa. Và nếu như, như lời phàn nàn của Addison, đôi khi bạn thấy một kẻ vác khuân vác, xiêu vẹo dưới sức nặng trên đôi chân khẳngio, và ngay gần đó là một người thợ may với khung xương của một Samson đang cầm mảnh vải cùng cây kim nhỏ xíu ở Whitechapel,—thì người ta tuyệt đối không thể cho rằng ở đây chỉ có năng khiếu của Tự nhiên được tham vấn!—Vĩ nhân kia cũng vậy, ông sẽ phải thọ giáo ai? Khi đã có trong tay Người anh hùng của bạn, liệu ông sẽ trở thành Kẻ chinh, Nhà vua, Triết gia hay Nhà thơ? Đó là một bài toán tranh luận phức tạp đến khó hiểu giữa thế giới và ông! Ông sẽ đọc lấy thế giới và các quy luật của nó; thế giới cùng các quy luật của nó sẽ ở đó để được đọc. Những gì thế giới, về vấn đề này, cho phép và sai bảo, như chúng ta đã nói, chính là thực tế quan trọng nhất về thế giới.—

Nhà thơ và Tiên tri khác biệt rất lớn trong những khái niệm lỏng lẻo của thời đại hiện đại chúng ta. Ngược lại, trong một số ngôn ngữ cổ, các danh xưng ấy lại đồng nghĩa; từ Vates mang ý nghĩa cả Tiên tri lẫn Nhà thơ: và quả thực, trong mọi thời đại, Tiên tri và Nhà thơ, nếu được thấu hiểu một cách thấu đáo, có rất nhiều điểm tương đồng về mặt ý nghĩa. Về căn bản, họ thực ra vẫn là một; đặc biệt ở phương diện tối quan trọng này: Cả hai đều đã thâm nhập vào bí ẩn linh thiêng của Vũ trụ; điều mà Goethe gọi là "bí mật mở". "Đâu là bí mật vĩ đại?" một người hỏi.—"Bí mật mở,"—mở cho tất cả mọi người, nhưng hầu như chẳng ai nhìn thấy! Bí ẩn thần thánh ấy, nằm ở khắp nơi trong mọi Hữu thể, "Ý niệm Thần thánh về Thế giới, thứ nằm ở tận cùng của Hiện tượng," như cách gọi của Fichte; mà mọi Hiện tượng, từ bầu trời đầy sao cho đến ngọn cỏ ngoài đồng, nhưng đặc biệt là Hiện tượng Con người và tác phẩm của anh ta, chẳng qua chỉ là chiếc áo choàng, là sự hiện thân làm cho nó trở nên hữu hình. Bí ẩn thần thánh này hiện hữu ở mọi thời đại và mọi nơi chốn; thực sự là như vậy. Ở phần lớn thời đại và nơi chốn, nó bị phớt lờ một cách trầm trọng; và Vũ trụ, luôn có thể được định nghĩa qua phương ngữ này hay phương ngữ khác, như là Tư tưởng hiện thực hóa của Thượng đế, lại bị coi là một vấn đề tầm thường, vô tri, nhàm chán,—như thể, kẻ châm biếm nói, nó chỉ là một vật vô tri do một thợ bọc nệm nào đó lắp ráp lại! Vào lúc này, việc bàn luận nhiều về điều này sẽ chẳng mang lại ích lợi gì; nhưng sẽ là một điều đáng tiếc cho mỗi chúng ta nếu chúng ta không nhận thức được nó, không sống hoài trong sự thấu hiểu về nó. Quả thực là một sự tiếc nuối đau xót khôn nguôi;—một sự thất bại trong việc sống thực sự, nếu chúng ta sống khác đi!

Nhưng giờ đây, tôi nói rằng, bất kỳ ai có quên đi bí ẩn thần thánh này, thì bậc Vates, dù là Tiên tri hay Nhà thơ, cũng đã thâm nhập vào được; ông là người được phái đến đây để khiến chúng ta ý thức sâu sắc hơn về nó. Đó luôn luôn là sứ mệnh của ông; ông phải mặc khải điều đó cho chúng ta,—bí ẩn linh thiêng mà ông, hơn những người khác, sống cùng sự hiện diện của nó mãi mãi. Trong khi những người khác quên lãng nó, ông lại tường tận nó;—tôi có thể nói rằng, ông đã bị thúc đẩy để phải tường tận nó; chẳng cần sự đồng thuận của ông, ông thấy mình đang sống trong đó, bị ràng buộc phải sống trong đó. Một lần nữa, ở đây không hề có chuyện Nghe đồn, mà là một Sự thấu thị và Niềm tin trực tiếp; con người này cũng không thể không trở thành một con người chân thành! Bất kỳ ai có sống trong vẻ bề ngoài của sự vật, thì đối với ông ta, đó là một nhu cầu tự nhiên khi phải sống ngay trong thực chất của sự vật. Lại một lần nữa là một con người nghiêm túc trước Vũ trụ, dẫu cho tất cả những kẻ khác chỉ đang đùa giỡn với nó. Trước hết, ông là một Vates, nhờ vào sự chân thành của mình. Tới đây, Nhà thơ và Tiên tri, những kẻ đồng hành trong "bí mật mở", chính là một.

Quay lại với sự khác biệt giữa họ: Bậc Vates Tiên tri, chúng ta có thể nói, nắm bắt bí ẩn linh thiêng ấy chủ yếu từ khía cạnh đạo đức, dưới dạng Thiện và Ác, Bổn phận và Sự cấm đoán; còn bậc Vates Nhà thơ nắm bắt từ cái mà người Đức gọi là khía cạnh thẩm mỹ, dưới dạng Cái Đẹp, và những thứ tương tự. Người này chúng ta có thể gọi là kẻ mặc khải về những gì chúng ta phải hành động, người kia là kẻ mặc khải về những gì chúng ta phải yêu thương. Nhưng quả thực hai lĩnh vực này dung hòa vào nhau và không thể tách rời. Tiên tri cũng đặt ánh mắt vào những gì chúng ta phải yêu thương: nếu không thì làm sao ông có thể biết được chúng ta phải hành động những gì? Tiếng nói cao cả nhất từng được nghe thấy trên trái đất này đồng thời đã cất lên rằng: "Hãy ngắm xem những bông huệ ngoài đồng; chúng không nhọc nhâ, cũng không kéo sợi: thế mà vua Solomon trong tất cả vinh quang của mình cũng không được mặc đẹp bằng một trong số chúng." Đó là một cái nhìn thấu tận cội nguồn sâu thẳm nhất của Cái Đẹp. "Những bông huệ ngoài đồng,"—được trang hoàng lộng lẫy hơn cả các bậc vương tôn công tử, vươn lên ở đó trên mảnh luống cày khiêm nhường; một đôi mắt đẹp đang nhìn ra bạn, từ Biển cả nội tâm vĩ đại của Cái Đẹp! Làm thế nào Trái đất thô ráp có thể tạo ra những điều này, nếu Bản chất của nó, dẫu bề ngoài có vẻ cằn cỗi và thực chất là thế, lại không mang vẻ đẹp ở tận đáy lòng? Ở góc độ này, một câu nói của Goethe, từng khiến nhiều người kinh ngạc, có lẽ cũng mang ý nghĩa riêng: "Cái Đẹp," ông ngầm ý, "cao cả hơn Cái Thiện; Cái Đẹp bao hàm cả Cái Thiện trong đó." Cái Đẹp đích thực; dẫu vậy, như tôi từng nói ở đâu đó, "khác biệt với cái đẹp giả tạo tựa như Thiên đàng khác với Vauxhall!" Thế là đủ cho sự khác biệt và đồng nhất giữa Nhà thơ và Tiên tri.—

Trong các thời kỳ cổ đại cũng như hiện đại, chúng ta tìm thấy một vài Nhà thơ được coi là hoàn hảo; những người mà việc tìm ra lỗi lầm ở họ tựa như một dạng phản nghịch. Điều này thật đáng chú ý; điều này là đúng đắn: tuy nhiên, xét cho cùng thì đó chỉ là một ảo ảnh. Ở phần tận cùng, hoàn toàn rõ ràng rằng, chẳng có Nhà thơ nào là hoàn hảo cả! Một mạch ngầm Thi ca hiện hữu trong trái tim của tất cả mọi người; không ai được cấu thành hoàn toàn từ Thi ca. Tất cả chúng ta đều là nhà thơ khi chúng ta đọc một bài thơ một cách thấu đáo. "Trí tưởng tượng rùng mình trước Địa ngục của Dante," há chẳng phải là cùng một năng lực ấy, dù yếu hơn về cấp độ, với chính bản năng của Dante hay sao? Không ai ngoài Shakespeare có thể hiện thực hóa, từ Saxo Grammaticus, câu chuyện về Hamlet theo cách mà Shakespeare đã làm: nhưng bất kỳ ai cũng nhào nặn nên một dạng câu chuyện nào đó từ nguyên tác ấy; bất kỳ ai cũng hiện thực hóa nó hay hoặc dở. Chúng ta không cần phải phung phí thời gian để đưa ra định nghĩa. Nơi nào không có sự khác biệt cụ thể, giống như giữa hình tròn và hình vuông, thì mọi định nghĩa đều ít nhiều mang tính độc đoán. Một con người có yếu tố thi ca được phát triển trong mình nhiều đến mức trở nên nổi bật, sẽ được những người xung quanh gọi là Nhà thơ. Những Nhà thơ Thế giới cũng vậy, những người mà chúng ta coi là Nhà thơ hoàn hảo, cũng được các nhà phê bình nhìn nhận theo cách tương tự. Một người vươn lên vượt xa mức độ chung của các Nhà thơ sẽ, đối với nhà phê bình này hay nhà phê bình khác, có vẻ như là một Nhà thơ Phổ quát; đúng như lẽ ra ông phải thế. Thế nhưng đó vẫn là, và buộc phải là, một sự phân biệt mang tính độc đoán. Tất cả các Nhà thơ, tất cả mọi người, đều có một vài nét chạm của tính Phổ quát; không ai hoàn toàn được cấu thành từ điều đó. Hầu hết các Nhà thơ đều bị lãng quên rất nhanh; nhưng ngay cả những bậc cao cả nhất như Shakespeare hay Homer cũng không thể được ghi nhớ đến muôn đời;—sẽ đến một ngày mà bản thân ông ấy cũng không còn nữa!

Tuy nhiên, bạn sẽ nói rằng, chắc chắn phải có sự khác biệt giữa Thi ca đích thực và Lời nói đích thực không mang tính thơ: vậy sự khác biệt ấy là gì? Về điểm này, rất nhiều điều đã được viết ra, đặc biệt là bởi các Nhà phê bình Đức cận đại, trong số đó có những điều thoạt đầu không dễ hiểu cho lắm. Ví dụ, họ nói rằng Nhà thơ mang sự vô hạn trong mình; truyền tải một Unendlichkeit, một đặc tính chắc chắn về "sự vô hạn", vào bất cứ thứ gì ông miêu tả. Điều này, dẫu không thực sự chính xác, nhưng đối với một vấn đề mơ hồ như thế thì vẫn rất đáng ghi nhớ; nếu được nghiền ngẫm kỹ lưỡng, dần dần người ta sẽ tìm thấy ý nghĩa trong đó. Về phần mình, tôi tìm thấy ý nghĩa đáng kể trong sự phân biệt bình dân cũ rằng Thi ca là có vần điệu, có âm nhạc trong đó, là một Khúc ca. Quả thực, nếu bị thúc ép phải đưa ra một định nghĩa, người ta có thể nói điều này sớm hơn bất cứ điều gì khác: Nếu sự miêu tả của bạn thực sự mang tính âm nhạc, mang tính âm nhạc không chỉ trong từ ngữ, mà trong cả trái tim và thực chất, trong mọi suy nghĩ và phát ngôn của nó, trong toàn bộ ý niệm của nó, thì nó sẽ mang tính thơ; bằng không thì không phải.—Mang tính âm nhạc: biết bao điều nằm trong đó! Một tư duy âm nhạc là tư duy được thốt lên bởi một tâm hồn đã thâm nhập vào tận sâu thẳm trái tim của sự vật; đã phát hiện ra bí ẩn sâu kín nhất của nó, chính là giai điệu ẩn giấu trong đó; sự hòa hợp nội tại của sự gắn kết vốn là linh hồn của nó, nhờ đó nó tồn tại, và có quyền được hiện hữu, ở đây trong thế giới này. Tất cả những điều thẳm sâu nhất, chúng ta có thể nói, đều du dương; tự nhiên cất lên thành Khúc ca. Ý nghĩa của Khúc ca vươn tới tận chốn thẳm sâu. Ai trong chúng ta có thể dùng những từ ngữ lô-gic để diễn tả tác động mà âm nhạc mang lại cho chúng ta? Một thứ ngôn ngữ không lời khôn dò, dẫn dắt chúng ta đến bờ vực của Sự Vô Cạn, và cho phép chúng ta trong khoảnh khắc được phóng tầm mắt nhìn vào cõi vô tận ấy!

Thậm chí mọi lời nói, ngay cả những lời nói bình thường nhất, cũng mang trong mình chút âm sắc của khúc ca: chẳng có giáo xứ nào trên thế giới này lại không có giọng điệu riêng của giáo xứ ấy;—nhịp điệu hoặc giai điệu mà người dân ở đó dùng để ca lên những điều họ cần nói! Giọng điệu chính là một dạng tụng ca; tất cả mọi người đều có giọng điệu của riêng mình—dù họ chỉ nhận ra điều đó ở người khác. Hãy quan sát cách mà mọi ngôn ngữ đầy cảm xúc tự thân nó đều trở nên du dương,—với một thứ âm nhạc tinh tế hơn cả giọng điệu đơn thuần; lời nói của một con người ngay cả trong cơn giận dữ nhiệt thành cũng biến thành một điệu tụng, một khúc ca. Mọi điều sâu sắc đều là Khúc ca. Dường như Khúc ca chính là tinh hoa cốt lõi nhất của chúng ta; như thể tất cả những phần còn lại chỉ là lớp vỏ bọc và lớp vỏ trấu! Nguyên tố nguyên thủy của chúng ta; của chúng ta, và của vạn vật. Người Hy Lạp đã thêu dệt nên những huyền thoại về Âm thanh của các Cầu thiên thể: đó là cảm nhận của họ về cấu trúc bên trong của Tự nhiên; rằng linh hồn của mọi thanh âm và lời ca của tự nhiên chính là thứ âm nhạc hoàn hảo. Do đó, chúng ta sẽ gọi Thi ca là Tư duy âm nhạc. Nhà thơ chính là kẻ tư duy theo cách thức ấy. Xét cho cùng, vấn đề vẫn xoay quanh sức mạnh trí tuệ; chính sự chân thành và tầm nhìn sâu sắc của một con người mới biến anh ta thành Nhà thơ. Nhìn cho đủ sâu, và bạn sẽ nhìn thấy bằng âm nhạc; bởi trái tim của Tự nhiên ở đâu cũng là âm nhạc, nếu bạn có thể chạm tới nó.

Bậc Vates Nhà thơ, với Khải huyền du dương về Tự nhiên của mình, dường như chiếm một vị trí khiêm tốn giữa chúng ta, nếu so sánh với bậc Vates Tiên tri; cả chức năng của ông lẫn sự kính trọng của chúng ta dành cho chức năng ấy đều mờ nhạt như nhau. Người anh hùng được coi như Thần thánh; Người anh hùng được coi như Tiên tri; rồi tiếp đến Người anh hùng chỉ được coi là Nhà thơ: há chẳng phải nó cho thấy sự đánh giá của chúng ta về Vĩ nhân, qua từng kỷ nguyên, cứ liên tục suy giảm hay sao? Đầu tiên chúng ta coi ông là một vị thần, sau đó là kẻ được thần linh truyền cảm hứng; và giờ đây ở giai đoạn tiếp theo, lời nói kỳ diệu nhất của ông chỉ đổi lấy sự công nhận từ chúng ta rằng ông là một Nhà thơ, một kẻ gieo vần tài hoa, một thiên tài, hay đại loại thế!—Trông có vẻ là thế; nhưng tôi tự nhủ rằng về bản chất thì không phải vậy. Nếu suy ngẫm kỹ lưỡng, có lẽ chúng ta sẽ thấy rằng trong con người vẫn tồn tại thứ tình cảm ngưỡng mộ vô cùng đặc biệt dành cho Nân lực Anh hùng, dù được gọi bằng bất kỳ cái tên nào, hệt như đã từng có ở bất kỳ thời điểm nào.

Tôi phải nói rằng, nếu hiện tại chúng ta không coi một Vĩ nhân là hiện thân của thần linh theo nghĩa đen, thì đó là vì những khái niệm của chúng ta về Thượng đế, về Suối nguồn tối cao không thể vươn tới của Sự rực rỡ, Trí tuệ và Tính anh hùng, đang ngày một dâng cao hơn; chứ không phải hoàn toàn vì sự tôn kính của chúng ta đối với những phẩm chất ấy, khi được biểu hiện ở những kẻ đồng loại, đang mai một đi. Điều này rất đáng để suy ngẫm. Chủ nghĩa Thức giả Hoài nghi, lời nguyền của các thời đại này, một lời nguyền sẽ không kéo dài mãi mãi, thực sự đã tàn phá nghiêm trọng trong lĩnh vực cao cả nhất này của con người, cũng như ở mọi lĩnh vực khác; và lòng tôn kính của chúng ta đối với các vĩ nhân, dẫu tàn tật, mù lòa, bại liệt đến thế nào đi nữa, vẫn hiện diện trong một hình hài thảm hại, khó mà nhận ra nổi. Người ta thờ phụng cái vỏ bề ngoài của các vĩ nhân; hầu hết đều không tin rằng có bất kỳ thực thể vĩ nhân nào để mà thờ phụng. Đó là một niềm tin ảm đạm nhất, định mệnh nhất; tin vào điều đó, người ta sẽ hoàn toàn tuyệt vọng trước những vấn đề của con người. Tuy nhiên, hãy nhìn vào Napoleon chẳng hạn! Một trung sĩ pháo binh người Corse; đó là vẻ bề ngoài của ông: thế nhưng há chẳng phải ông vẫn được tuân lệnh, được thờ phụng theo cách riêng của ông, điều mà tất cả những kẻ đội mũ miện và vương miện trên thế giới này cộng lại cũng không tài nào sánh được hay sao? Các Nữ công tước cao sang, và cả những kẻ dắt ngựa ở quán trọ, đều quây quần bên anh chàng nông dân Scotland, Burns;—một cảm giác kỳ lạ ngự trị trong tâm hồn mỗi người rằng họ chưa từng nghe thấy một con người nào như thế này; rằng, nói chung, đây chính là con người ấy! Trong sâu thẳm trái tim của những con người ấy, điều đó vẫn lờ mờ hé lộ, dẫu hiện tại không có phương thức chính thống nào để thốt lên điều ấy, rằng anh chàng nông dân với đôi lông mày đen, đôi mắt rực cháy như mặt trời, cùng những lời nói kỳ lạ khơi gợi tiếng cười và giọt nước mắt này, mang một phẩm giá vượt xa tất cả những người khác, không thể đo lường được với bất kỳ ai khác. Há chúng ta không cảm nhận điều đó là như vậy sao? Nhưng giờ đây, nếu Chủ nghĩa Thức giả, Hoài nghi, Tầm thường, và toàn bộ bầy đàn đau khổ ấy, bị trục xuất khỏi chúng ta,—như thể, nhờ ân điển của Thượng đế, một ngày nào đó chúng sẽ bị trục xuất; nếu niềm tin vào vẻ bề ngoài của sự vật bị quét sạch hoàn toàn, được thay thế bằng niềm tin minh bạch vào chính bản thân sự vật, sao cho con người hành động chỉ dướiσự thôi thúc của điều đó và xem những thứ kia là không tồn tại; thì cảm giác mới mẻ và sống động biết bao đối với Burns này sẽ là gì cơ chứ!

Thậm chí ngay trong những thời đại này, dẫu chúng có ra sao đi nữa, há chúng ta chẳng có hai nhà thơ thuần túy, nếu không phải được phong thần thì chúng ta cũng có thể nói là được tôn phong hiển thánh rồi sao? Shakespeare và Dante là các Thánh của Thi ca; thực sự, nếu chúng ta suy ngẫm về điều đó, họ đã được phong thánh đến mức việc mạo phạm đến họ bị coi là tội ác. Bản năng vô định của thế giới, vượt qua tất cả những chướng ngại quanh co ấy, đã đạt được kết quả như vậy. Dante và Shakespeare là một Cặp đôi kỳ lạ. Họ ngự trị tách biệt, trong một dạng cô độc vương giả; không ai sánh bằng, không ai đứng thứ hai sau họ: trong cảm nhận chung của thế giới, một thứ chủ nghĩa siêu việt nào đó, một vinh quang tựa như sự hoàn hảo toàn vẹn, bao bọc lấy hai con người này. Họ đã được phong thánh dẫu không có vị Giáo hoàng hay Hồng y nào nhúng tay vào làm việc đó! Bất chấp mọi ảnh hưởng bóp méo, trong những thời đại phi anh hùng nhất, lòng tôn kính không thể hủy diệt của chúng ta dành cho chủ nghĩa anh hùng vẫn là như vậy.—Chúng ta sẽ ngắm nhìn đôi chút về Hai con người này, Nhà thơ Dante và Nhà thơ Shakespeare: những lời ít ỏi mà chúng ta được phép nói ở đây về Người anh hùng trong vai trò Nhà thơ sẽ sắp xếp lại một cách thích hợp nhất theo phương thức ấy.

Nhiều tập sách đã được viết ra nhằm mục đích bình chú về Dante và Tác phẩm của ông; thế nhưng, nói chung, lại không mang lại kết quả lớn lao gì. Tiểu sử của ông, có thể nói, đã thất lạc vĩnh viễn đối với chúng ta. Một con người không quan trọng, phiêu bạt, chìm đắm trong đau khổ, chẳng mấy ai chú ý đến ông khi ông còn sống; và phần lớn những điều đó đã tan biến trong khoảng thời gian dài đằng đẵng trôi qua từ bấy đến nay. Đã năm thế kỷ trôi qua kể từ khi ông ngừng viết và ngừng sống ở đây. Sau tất cả mọi bài bình chú, Tác phẩm tự thân nó chủ yếu là những gì chúng ta biết về ông. Tác phẩm;—và người ta có thể cộng thêm Bức chân dung thường được quy cho Giotto đó, mà khi nhìn vào nó, bất kỳ ai cũng không khỏi nghiêng mình cho rằng nó là thật, bất kể ai đã vẽ nên nó. Đối với tôi, đó là một gương mặt vô cùng xúc động; có lẽ trong tất cả các gương mặt mà tôi biết, đó là gương mặt xúc động nhất. Lẻ loi ở đó, được vẽ như trên một khoảng không, với chiếc vòng nguyệt quế giản dị quấn quanh; nỗi buồn và nỗi đau bất tử, chiến thắng đã được định danh cũng là bất tử;—biểu trưng cho toàn bộ cuộc đời của Dante! Tôi nghĩ đó là gương mặt bi thảm nhất từng được vẽ từ nguyên mẫu thực tế; một gương mặt hoàn toàn bi kịch, làm lay động tâm can. Nô lệ trong đó, như là nền tảng của nó, là sự mềm mại, dịu dàng, tình cảm êm đềm tựa như một đứa trẻ; nhưng tất cả những điều này dường như bị đóng băng thành sự mâu thuẫn sắc bén, thành sự từ bỏ, sự cô lập, nỗi đau kiêu hãnh tuyệt vọng. Một linh hồn thanh tao mềm mại nhìn ra ngoài thật kiên quyết, bất dung, lạnh lùng sắc bén—tựa như đang bị giam cầm trong lớp băng dày đặc những gân cốt! Đồng thời đó cũng là một nỗi đau thầm lặng, một nỗi khinh bỉ thầm lặng: đôi môi cong lên trong một dạng thức khinh miệt tựa thần linh đối với thứ đang gặm nhấm trái tim ông,—như thể nó đồng thời là một thứ tầm thường vô nghĩa, như thể kẻ mà nó có quyền tra tấn và bóp nghẹt lại vĩ đại hơn chính nó. Gương mặt của một kẻ hoàn toàn phản kháng, và bước vào cuộc chiến đấu không khoan nhượng suốt cả cuộc đời, chống lại thế giới. Tình cảm đều biến thành sự phẫn nộ: một sự phẫn nộ bất dung; chậm rãi, điềm tĩnh, thầm lặng, tựa như sự phẫn nộ của một vị thần! Đôi mắt ấy nữa, nó nhìn ra ngoài tựa như trong một dạng ngạc nhiên, một dạng truy vấn, Tại sao thế giới lại thuộc loại người như thế này? Đây chính là Dante: ông trông như thế này, "tiếng nói của mười thế kỷ thầm lặng" này, và cất lên cho chúng ta nghe "khúc ca huyền bí thâm trầm của ông."

Những điều ít ỏi mà chúng ta biết về Cuộc đời Dante tương ứng khá rõ ràng với Bức chân dung này và Tác phẩm này. Ông sinh ra tại Florence, thuộc tầng lớp thượng lưu trong xã hội, vào năm 1265. Nền giáo dục của ông là tốt nhất thời bấy giờ; rất nhiều thần học kinh viện, lô-gic học Aristotle, một số tác phẩm kinh điển bằng tiếng Latinh,—có sự thấu suốt không hề nhỏ vào một số lĩnh vực của vạn vật; và Dante, với bản chất earnest thông minh của mình, chúng ta không phải nghi ngờ gì, đã học hỏi được tốt hơn hầu hết mọi thứ có thể học được. Ông sở hữu một trí tuệ minh bạch, được trau dồi, và vô cùng tinh tế; thành quả tốt đẹp nhất này của nền giáo dục, ông đã xoay sở để lĩnh hội từ những nhà kinh viện ấy. Ông hiểu một cách chính xác và tường tận những gì nằm sát bên mình; nhưng trong một thời đại như thế, không có sách in hay sự giao lưu tự do, ông không thể hiểu rõ những gì ở chốn xa xôi: ánh sáng nhỏ nhoi trong trẻo ấy, rực rỡ nhất cho những gì ở gần, lại tự khúc xạ thành những mảng sáng tối kỳ lạ khi chiếu rọi vào những gì ở xa. Đó là học thức của Dante từ nhà trường. Trong cuộc đời, ông đã trải qua những định mệnh thông thường; từng hai lần ra trận với tư cách là một người lính cho Bang Florence, từng tham gia sứ mệnh ngoại giao; vào năm ba mươi lăm tuổi, nhờ sự tiến triển tự nhiên của tài năng và cống hiến, ông đã trở thành một trong các Quan tòa Cấp cao của Florence. Thuở thiếu thời, ông từng gặp một thiếu nữ tên là Beatrice Portinari, một cô bé xinh đẹp cùng tuổi và cùng tầng lớp với ông, và kể từ đó lớn lên trong tầm nhìn thoảng qua về nàng, trong một sự giao lưu xa cách với nàng. Tất cả độc giả đều biết lời kể tao nhã và đầy cảm xúc của ông về điều này; và rồi về việc họ phải chia tay nhau; về việc nàng kết hôn với người khác, và về cái chết của nàng ngay sau đó. Nàng đóng một vai trò lớn lao trong Thơ ca của Dante; có vẻ như đã đóng một vai trò lớn lao trong cuộc đời ông. Trong số tất cả vạn vật, dường như nàng, người bị giữ cách xa ông, cách xa ông mãi mãi về sau trong Cõi Vĩnh Hằng mờ ảo, chính là người duy nhất mà ông từng dùng toàn bộ sức mạnh tình cảm để yêu thương. Nàng qua đời: bản thân Dante cũng kết hôn; nhưng có vẻ như không hạnh phúc, hoàn toàn không hạnh phúc. Tôi tưởng tượng rằng, con người nghiêm nghị cương nghị với khả năng dễ bị kích động nhạy bén ấy, không hề dễ dàng gì để có thể mang lại hạnh phúc.

Chúng ta sẽ không phàn nàn về những bất hạnh của Dante: giả sử mọi chuyện đều diễn ra suôn sẻ với ông như ý muốn, ông có lẽ đã trở thành một Giám mục, một Thị trưởng, hay bất cứ chức danh nào gọi tên như thế ở Florence, được những người xung quanh đón nhận nồng nhiệt—và thế giới đã thiếu đi một trong những ngôn từ đáng chú ý nhất từng được thốt lên hay cất ca. Florence hẳn đã có thêm một Chủ tịch Hội đồng Thành phố thị vượng, và mười thế kỷ câm lặng tiếp tục chìm trong vô thanh, và mười thế kỷ lắng nghe khác (vì sẽ có mười thế kỷ như thế và hơn thế nữa) đã không được nghe Divina Commedia! Chúng ta sẽ không phàn nàn về bất cứ điều gì. Một định mệnh cao cả hơn đã được định đoạt cho Dante này; và ông, vật lộn như một kẻ bị dẫn tới cái chết và sự đóng đinh, đã không thể cưỡng lại việc hoàn thành nó. Hãy cho ông quyền lựa chọn hạnh phúc của mình đi! Ông cũng chẳng biết gì hơn chúng ta về thế nào là thực sự hạnh phúc, thế nào là thực sự bất hạnh.

Trong thời gian Dante làm Quan tòa, các cuộc xung đột phe phái Guelf-Ghibelline, Bianchi-Neri, hay những hỗn loạn rắc rối khác đã leo thang đến đỉnh điểm, khiến Dante, người có phe phái thoạt đầu tưởng chừng mạnh hơn, cùng với những người bạn của mình bất ngờ bị đẩy vào cảnh lưu vong; từ đó bị kết án phải sống một cuộc đời đau khổ và phiêu bạt. Toàn bộ tài sản của ông bị tịch thu và còn hơn thế nữa; ông mang nỗi căm hờn dữ dội rằng điều đó hoàn toàn bất công, là tội ác tày trời trước mặt Thượng đế và loài người. Ông đã dốc hết khả năng để tìm cách được phục chức; thậm chí thử dùng cả biện pháp đột kích quân sự, tay cầm vũ khí: nhưng mọi chuyện không thành; cái xấu chỉ càng trở nên tồi tệ hơn. Tôi tin rằng vẫn còn một văn bản ghi chép lưu trữ trong Kho lưu trữ Florence, tuyên án Dante này, hễ bắt được ở đâu, sẽ bị thiêu sống. Thiêu sống; sự việc rành rành ra đấy, người ta nói thế: một tài liệu dân sự vô cùng kỳ lạ. Một tài liệu kỳ lạ khác, cách đó một số năm khá lâu, là một bức Thư của Dante gửi cho các Quan tòa Florence, viết để đáp lại đề xuất ôn hòa hơn của họ rằng ông nên quay về với điều kiện phải đưa ra lời xin lỗi và nộp phạt. Ông đáp lại bằng niềm tự hào kiêu hãnh cứng cỏi: "Nếu tôi không thể quay về mà không phải nhận mình có tội, tôi sẽ không bao giờ quay về, nunquam revertar."

Đối với Dante, giờ đây chẳng còn mái nhà nào trên thế giới này nữa. Ông lang thang từ vị mạnh thường quân này sang vị mạnh thường quân khác, từ nơi này sang nơi khác; minh chứng qua những lời cay đắng của chính ông, rằng: "Con đường ấy mới cay đắng làm sao, Come e duro calle." Những kẻ khốn khổ vốn chẳng phải là bạn đồng hành vui vẻ. Dante, nghèo đói và lưu vong, với bản chất kiêu hãnh nghiêm nghị, với những tâm trạng ủ dột, không phải là một con người biết cách lấy lòng người khác. Petrarch thuật lại rằng khi ở triều đình của Can della Scala, và một ngày nọ bị quở trách vì sự ủ dột và trầm ngâm của mình, ông đã đáp lại không chút phong thái triều thần nào. Della Scala đứng giữa các triều thần của mình, cùng với những kẻ hề múa may và trò hề (nebulones ac histriones) khiến ông ta cười hả hê; khi quay sang Dante, ông ta nói: "Chẳng phải thật kỳ lạ sao, khi tên ngốc nghếch tội nghiệp này lại có thể khiến bản thân trở nên thú vị đến thế; trong khi ông, một kẻ khôn ngoan, lại ngồi đó ngày qua ngày, chẳng có nổi thứ gì để giải trí cho chúng ta cả?" Dante cay đắng đáp lại: "Không, chẳng có gì kỳ lạ cả; Điện hạ nên nhớ lấy Tục ngữ, Ngưu tầm ngưu mã tầm mã;"—đã có kẻ gây cười, thì ắt phải có kẻ thưởng thức tiếng cười ấy! Một con người như thế, với những cách thức kiêu hãnh thầm lặng, với những lời châm biếm và nỗi sầu muộn, sinh ra không phải để thành công nơi triều đình. Dần dần, điều đó trở nên hiển nhiên đối với ông rằng ông không còn nơi nương náu hay hy vọng nhận được ân huệ nào trên trái đất này nữa. Thế giới trần gian đã trục xuất ông, bắt ông lang thang, lang thang; không còn trái tim sống nào yêu thương ông nữa; cho những nỗi đau đớn đốn mạt của ông chẳng có chút sự xoa dịu nào ở nơi này.

Càng tự nhiên biết bao khi Cõi Vĩnh Hằng hằn sâu vào tâm trí ông; thực tại đáng sợ ấy mà suy cho cùng, thế giới Thời gian này, với những Florence và những cuộc lưu vong của nó, chỉ bay lượn như một chiếc bóng hão huyền. Florence, mi sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy nữa; nhưng Địa ngục, Luyện ngục và Thiên đàng, mi chắc chắn sẽ nhìn thấy! Florence, Can della Scala, cùng Thế giới và Cuộc đời rốt cuộc là cái gì? VĨNH HẰNG: quả thực là hướng về nơi đó, chứ chẳng phải nơi nào khác, mà ngươi và vạn vật đều đang bị trói buộc! Tâm hồn vĩ đại của Dante, bơ vơ không nhà trên mặt đất, đã biến cõi giới đáng sợ kia thành mái nhà của chính mình ngày này qua ngày khác. Đương nhiên, những suy nghĩ của ông cứ quẩn quanh điều đó, như là sự kiện duy nhất quan trọng đối với ông. Dù có hình hài hay không có hình hài, đó là sự kiện quan trọng duy nhất đối với tất cả mọi người;—nhưng đối với Dante, trong thời đại ấy, nó được hiện thân trong sự chắc chắn cố định của hình thức khoa học; ông không còn hoài nghi gì về cái Hồ Malebolge ấy, rằng nó thực sự nằm ở đó với những vòng tròn ảm đạm, với những tiếng than khóc não nề alti guai của nó, và rằng chính bản thân ông sẽ nhìn thấy nó, hệt như chúng ta không hoài nghi rằng mình sẽ nhìn thấy Constantinople nếu chúng ta đặt chân đến đó. Trái tim của Dante, đong đầy điều này từ lâu, ngậm ngùi nghiền ngẫm nó trong nỗi kinh ngạc và thầm lặng, cuối cùng đã bùng nổ thành "khúc ca huyền bí thâm trầm"; và Tác phẩm Thần khúc Divine Comedy này của ông, cuốn sách phiêu lưu nhất trong tất cả các Sách hiện đại, chính là kết quả.

Đó hẳn là một sự xoa dịu lớn lao đối với Dante, và quả thực, như chúng ta có thể thấy, đôi khi là một suy nghĩ kiêu hãnh đối với ông, rằng ông, ngay tại chốn lưu vong này, có thể hoàn thành công trình này; rằng không một Florence nào, không một con người hay những con người nào, có thể ngăn cản ông làm điều đó, hay thậm chí giúp đỡ ông được bao nhiêu trong việc thực hiện nó. Ông cũng phần nào biết rằng nó rất vĩ đại; vĩ đại nhất mà một con người có thể làm được. "Nếu ngươi đi theo vì sao của mình, Se tu segui tua stella,"—vị anh hùng trong sự cô độc bị bỏ rơi, trong cơn khốn cùng tột độ, vẫn có thể tự nhủ với bản thân như thế: "Hãy đi theo vì sao của ngươi, ngươi sẽ không lỡ hẹn với một bến bờ vinh quang!" Nỗi nhọc nhằn khi viết lách, chúng ta nhận thấy, và quả thực có thể biết được theo cách khác, là vô cùng lớn lao và đau đớn đối với ông; ông nói rằng, Cuốn sách này, "đã khiến tôi hốc hác đi trong nhiều năm." Ồ vâng, tất cả những điều đó giành được bằng nỗi đau đớn và sự nhọc nhằn cay đắng,—không phải trong trò đùa, mà trong sự nghiêm túc khắc nghiệt. Tác phẩm của ông, quả thực như hầu hết các Sách hay, đã được viết ra, theo nhiều nghĩa, bằng chính máu trong tim ông. Tác phẩm này chính là toàn bộ lịch sử của ông. Ông qua đời sau khi hoàn thành nó; khi tuổi đời chưa thực sự già, ở tuổi năm mươi sáu;—được cho là chết vì tan nát cõi lòng thì đúng hơn. Ông nằm yên nghỉ tại thành phố nơi cái chết tìm đến ông, Ravenna: Hic claudor Dantes patriis extorris ab oris. Dân chúng Florence đã cầu xin lại thi hài ông vào một thế kỷ sau đó; người dân Ravenna đã không trao lại. "Ta là Dante nằm đây, bị trục xuất khỏi những bờ bến quê hương."

Tôi đã nói, Thơ ca của Dante là một Khúc ca: chính Tieck là người gọi nó là "một Khúc ca huyền bí thâm trầm"; và đúng nghĩa đen thì bản chất của nó là như vậy. Coleridge từng nhận xét rất đúng đắn ở đâu đó rằng, bất cứ nơi nào bạn tìm thấy một câu văn được diễn đạt du dương, mang nhịp điệu và giai điệu đích thực trong từng từ ngữ, thì ở nghĩa của nó cũng ẩn chứa điều gì đó sâu sắc và tốt đẹp. Bởi thể xác và tâm hồn, từ ngữ và ý tưởng, luôn gắn kết với nhau một cách kỳ lạ ở đây cũng như ở mọi nơi. Khúc ca: chúng ta đã nói trước đó, nó chính là Thể thức Anh hùng trong Ngôn từ! Tất cả các Thơ ca cổ đại, của Homer và những người khác, đích thực là những Khúc ca. Tôi muốn nói rằng, nói một cách chính xác, tất cả các Thơ ca chân chính đều là như vậy; rằng bất cứ thứ gì không được cất lên thành ca khúc thì thực chất không phải là Thơ, mà chỉ là một đoạn Văn xuôi bị gò ép vào những dòng vần điệu lủng củng,—gây tổn hại nghiêm trọng đến ngữ pháp, mang lại nỗi buồn lớn cho người đọc, xét trên phần lớn các trường hợp! Điều mà chúng ta muốn vươn tới chính là tư duy mà con người ấy sở hữu, nếu ông ta thực sự có: tại sao ông ta phải bóp méo nó thành những âm thanh lủng củng, nếu ông ta có thể cất lên nó một cách rành mạch? Chỉ khi trái tim ông bị cuốn vào niềm đam mê du dương thực sự, và chính những cung bậc của ông, theo nhận xét của Coleridge, trở nên du dương nhờ sự vĩ đại, độ sâu và âm nhạc trong tư duy của ông, thì chúng ta mới trao cho ông quyền được gieo vần và cất ca; rằng chúng ta gọi ông là Nhà thơ, và lắng nghe ông như là Bậc Anh hùng trong những người phát ngôn,—kẻ mà lời nói chính là Khúc ca. Những kẻ mạo danh điều này thì nhiều; và đối với một độc giả nghiêm túc, tôi e rằng, phần lớn đó là một việc vô cùng ảm đạm, chưa muốn nói là không thể chịu đựng nổi, đó là việc đọc thơ vần! Thơ vần mà chẳng có chút nhu cầu nội tâm nào bắt phải gieo vần;—đáng lẽ nó phải nói cho chúng ta biết một cách rành mạch, mà không cần bất kỳ tiếng lủng củng nào, rằng nó đang hướng tới mục tiêu gì. Tôi xin khuyên tất cả những ai có thể nói lên suy nghĩ của mình, đừng cất ca nó; hãy hiểu rằng, trong một thời đại nghiêm túc, giữa những con người nghiêm túc, họ không có thiên chức nào để cất lên khúc ca đó cả. Chính xác như việc chúng ta yêu mến khúc ca đích thực, và bị nó mê hoặc như bởi một điều gì đó thần thánh, chúng ta sẽ căm ghét khúc ca giả tạo, và coi nó chẳng khác nào một thứ tiếng động bằng gỗ trống rỗng, vô nghĩa, hoàn toàn là một thứ không thành thật và gây khó chịu.

Tôi dành cho Dante lời ca tụng cao quý nhất khi nói về Thần khúc của ông rằng đó là, theo mọi nghĩa, một Khúc ca đích thực. Ngay trong âm thanh của nó đã có một điệu canto fermo; nó tiến triển tựa như một bài tụng ca. Ngôn ngữ, thể thơ terza rima giản dị của ông, chắc chắn đã giúp ích cho ông điều này. Người ta đọc xuôi theo một cách tự nhiên với một nhịp điệu dìu dặt nào đó. Nhưng tôi xin bổ sung rằng, mọi chuyện không thể khác được, bởi bản chất và chất liệu của tác phẩm tự thân chúng đã mang tính nhịp điệu. Độ sâu, niềm đam mê cuồng nhiệt cùng sự chân thành đã khiến nó trở nên du dương;—đào sâu cho đủ, thì âm nhạc hiện hữu ở khắp mọi nơi. Một sự đối xứng nội tại đích thực, thứ mà người ta gọi là sự hài hòa kiến trúc, ngự trị trong đó, cân đối hóa toàn bộ nó: tính kiến trúc; điều đó cũng mang trong mình đặc tính của âm nhạc. Ba cõi giới, Địa ngục, Luyện ngục, Thiên đàng, nhìn nhau như những gian phòng của một công trình vĩ đại; một đại giáo đường thế giới siêu nhiên sừng sững ở đó, nghiêm nghị, trang nghiêm, đáng sợ; Thế giới Linh hồn của Dante! Xét đến cùng, đó là tác phẩm chân thành nhất trong tất cả các Thơ ca; sự chân thành, ở đây một lần nữa, chính là thước đo giá trị. Nó xuất phát sâu thẳm từ tận đáy lòng tác giả; và nó đi sâu vào, trải qua nhiều thế hệ, thấu tận trái tim chúng ta. Người dân Verona, khi bắt gặp ông trên phố, thường nói: "Eccovi l' uom ch' e stato all' Inferno, Kìa, nhìn kìa, đó là kẻ từng xuống Địa ngục!" Ồ vâng, ông đã từng xuống Địa ngục;—xuống Địa ngục quá đủ rồi, trong nỗi buồn đau và sự đấu tranh đằng đẵng khắc nghiệt; hệt như những kẻ giống như ông chắc chắn sẽ phải trải qua. Những vở kịch Thần khúc mang tầm vóc thiêng liêng không thể được hoàn thành bằng cách nào khác. Tư duy, lao động chân chính dưới bất kỳ hình thức nào, phẩm hạnh cao cả nhất tự thân nó, há chẳng phải là con đẻ của Nỗi đau hay sao? Được sinh ra tựa như từ trong cơn bão đen tối;—nỗ lực thực sự, trên thực tế, tựa như một kẻ bị giam cầm đang giãy giụa để tự giải thoát: đó chính là Tư duy. Bằng mọi cách, chúng ta đều "phải trở nên hoàn thiện qua sự đau khổ."—Nhưng, như tôi đã nói, không có tác phẩm nào được tôi luyện công phu như tác phẩm này của Dante. Tất cả đều giống như được nấu chảy trong lò nung rực lửa nhất của tâm hồn ông. Nó đã khiến ông "hốc hác đi" trong nhiều năm. Không chỉ là tổng thể chung; từng gian phòng của nó đều được gọt giũa, với sự nghiêm túc mãnh liệt tột cùng, thành sự thật, thành hình ảnh trực quan rành mạch. Mỗi phần hô ứng lẫn nhau; mỗi phần khớp hoàn hảo vào vị trí của nó, tựa như những khối đá cẩm thạch được đẽo gọt và đánh bóng chính xác. Đó chính là tâm hồn của Dante, và qua đó là tâm hồn của thời trung cổ, được tái hiện vĩnh viễn bằng nhịp điệu hữu hình ở đó. Không phải là một nhiệm vụ nhẹ nhàng; một nhiệm vụ vô cùng mãnh liệt: nhưng là một nhiệm vụ đã được hoàn thành.

Có lẽ người ta sẽ nói rằng, tính mãnh liệt, cùng với rất nhiều điều phụ thuộc vào nó, chính là đặc trưng chủ đạo trong thiên tài của Dante. Dante không hiện diện trước chúng ta như một tâm hồn bao dung quảng đại; mà đúng hơn là một tâm hồn hẹp hòi, thậm chí mang tính bè phái: đó một phần là hệ quả của thời đại và hoàn cảnh sống của ông, nhưng phần khác cũng xuất phát từ chính bản tính của ông. Sự vĩ đại của ông, theo mọi nghĩa, đã cô đọng lại thành sự nhấn mạnh rực lửa và chiều sâu mãnh liệt. Ông vĩ đại mang tầm vóc thế giới không phải vì ông bao trùm toàn cầu, mà vì ông có chiều sâu thấu tận tâm can thế giới. Xuyên qua mọi đối tượng, ông đâm thủng, như thể lao thẳng xuống trái tim của Hữu thể. Tôi không biết có điều gì mãnh liệt cho bằng Dante. Hãy suy ngẫm, chẳng hạn, để bắt đầu với sự phát triển bề ngoài nhất của tính mãnh liệt nơi ông, hãy xem cách ông miêu tả. Ông sở hữu một năng lực thị giác vĩ đại; nắm bắt chính xác nguyên mẫu của một sự vật; trình bày điều đó và không gì hơn thế nữa. Bạn còn nhớ cái nhìn đầu tiên ông có được về Cung điện Dite: đỉnh tháp đỏ rực, hình nón sắt nung đỏ rực rỡ xuyên qua sự mờ ảo bao la của bóng tối;—vô cùng sống động, vô cùng rõ nét, hiện hữu rành rành ngay lập tức và mãi mãi! Nó tựa như một biểu tượng cho toàn bộ thiên tài của Dante. Ở ông có sự cô đọng, sự chính xác dứt khoát đột ngột: Tacitus cũng không cô đọng và súc tích hơn; và ở Dante, điều đó dường như là sự cô đọng tự nhiên, bộc phát từ chính con người ông. Một lời nói sắc bén giáng xuống; và rồi chìm vào im lặng, không có thêm lời nào nữa. Sự im lặng của ông còn hùng hồn hơn cả ngàn lời nói. Thật kỳ lạ với sự duyên dáng sắc bén và quyết đoán biết bao khi ông chớp lấy chân dung đích thực của một vấn đề: cắt sâu vào vấn đề tựa như bằng một cây bút bằng lửa. Plutus, người khổng lồ ngạo mạn, suy sụp trước lời quở trách của Virgil; nó giống như "cánh buồm sụp xuống, cột buồm đột ngột gãy đôi." Hay anh chàng tội nghiệp Brunetto Latini, với cotto aspetto, "gương mặt bị thiêu cháy," khô sạm màu nâu và gốc gác hốc hác; và "tuyết lửa" rơi xuống họ ở đó, một "tuyết lửa không có gió," chậm rãi, từ tốn, không bao giờ dứt! Hay những tấm nắp của các Ngôi mộ ấy; những chiếc quan tài bằng đá hình vuông, trong Cung điện mờ ảo cháy sáng thầm lặng đó, mỗi chiếc chứa một Linh hồn đang quằn quại trong đau khổ; những chiếc nắp được mở toang ở đó; chúng sẽ bị đóng lại vào Ngày Phán Xét, suốt Vĩnh Hằng. Và cách Farinata vươn lên; và cách Cavalcante ngụp lặn—khi nghe nhắc đến Đứa con trai của mình, và thì quá khứ "fue"! Ngay cả những chuyển động trong Dante cũng mang chút gì đó ngắn gọn; nhanh chóng, dứt khoát, gần như mang phong cách quân sự. Thể loại miêu tả này thuộc về bản chất cốt lõi nhất trong thiên tài của ông. Bản tính Ý nóng bỏng, chớp nhoáng của con người ấy, vô cùng trầm lặng, đầy đam mê, với những chuyển động đột ngột nhanh gọn, với những "cơn giận nhợt nhạt" thầm lặng của mình, đã tự cất lên qua những điều đó.

Bởi mặc dù nghệ thuật miêu tả này chỉ là một trong những sự phát triển bề ngoài nhất của một con người, nhưng nó cũng giống như mọi thứ khác bắt nguồn từ năng lực cốt lõi của ông; nó mang tính chất sinh lý học của toàn bộ con người ấy. Tìm được một con người có lời văn vẽ nên cho bạn một chân dung sống động, là bạn đã tìm được một con người có giá trị; hãy ghi nhận cách thức anh ta thực hiện điều đó, vì nó mang đậm dấu ấn đặc trưng của anh ta. Trước hết, ông không thể nhận thức rõ ràng về đối tượng chút nào, hay nhìn thấy nguyên mẫu sinh tử của nó, trừ khi ông có được thứ mà chúng ta gọi là sự đồng cảm với nó,—có sẵn lòng trắc ẩn để ban phát cho các đối tượng. Ông cũng phải chân thành về điều đó; chân thành và đồng cảm: một con người vô giá trị không thể vẽ cho bạn chân dung của bất kỳ đối tượng nào; anh ta mãi quẩn quanh trong sự hời hợt mơ hồ, những sai lầm và lời đồn đại tầm thường về mọi sự vật. Và quả thực, há chúng ta không thể nói rằng trí tuệ tựu trung lại biểu hiện qua năng lực nhận thức xem một sự vật thực chất là gì hay sao? Bất kỳ năng lực nào mà tâm trí một con người sở hữu đều sẽ bộc lộ ra ở đây. Ngay cả trong công việc, một vấn đề cần phải giải quyết thì sao? Con người tài năng chính là kẻ nhìn thấy điểm cốt lõi, và gạt bỏ tất cả những phần còn lại như là thứ thừa thãi: đó cũng chính là năng lực của ông, năng lực của một người làm kinh doanh, đó là anh ta nhận thức được chân dung thực sự chứ không phải chân dung bề ngoài giả tạo của công việc mà anh ta phải dấn thân vào. Và có bao nhiêu đạo đức nằm trong kiểu thấu hiểu mà chúng ta có được về bất cứ thứ gì; "đôi mắt nhìn thấy ở mọi sự vật thứ mà nó mang theo sẵn năng lực để nhìn thấy"! Đối với con mắt tầm thường, mọi sự vật đều tầm thường, chắc chắn hệt như đối với kẻ mắc bệnh vàng da thì mọi thứ đều ngả vàng. Raphael, các Họa sĩ nói với chúng ta, đồng thời là Họa sĩ vẽ chân dung xuất sắc nhất. Không một đôi mắt tài năng nào có thể vắt kiệt ý nghĩa của bất kỳ đối tượng nào. Ngay trên gương mặt con người bình thường nhất cũng ẩn chứa nhiều điều hơn những gì Raphael có thể mang đi cùng ông.

Cách miêu tả của Dante không chỉ sinh động đồ họa, ngắn gọn, chân thực, và rực rỡ tựa ngọn lửa trong đêm tối; xét trên quy mô rộng lớn hơn, nó cao thượng về mọi mặt, và là thành quả của một tâm hồn vĩ đại. Francesca và Người tình của nàng, biết bao phẩm chất chứa đựng trong đó! Một sự việc được dệt nên tựa như từ những chiếc cầu vồng, trên nền của bóng tối vĩnh hằng. Một giọng sáo nhỏ cất lên tiếng than khóc vô tận ở đó, xoáy sâu vào tận đáy tim chúng ta. Lứa đôi mang nét dịu dàng nữ tính trong đó nữa: della bella persona, che mi fu tolta; và cách thức mà, ngay cả trong Vực thẳm đau khổ, đó vẫn là niềm an ủi khi ông sẽ không bao giờ rời xa nàng! Biệt ly thảm thương nhất trong những nỗi đau alti guai ấy. Và những ngọn gió giằng xé, trong cõi aer bruno ấy, lại cuốn họ đi, để than khóc đến muôn đời!—Thật kỳ lạ khi nghĩ rằng: Dante là bạn của cha cô nàng Francesca tội nghiệp ấy; bản thân Francesca có lẽ từng ngồi trên đầu gối Nhà thơ, như một đứa trẻ ngây thơ trong sáng rạng ngời. Lòng trắc ẩn vô hạn, song hành cùng sự khắt khe vô hạn của luật lệ: Tự nhiên được tạo ra như thế; Dante đã nhận thức được rằng nàng được tạo ra như thế. Thật là một ý niệm tầm thường làm sao khi cho rằng Thần khúc của ông chỉ là một thứ thủ dâm tinh thần cay độc vô tích sự trên cõi trần; đẩy những kẻ mà ông không thể trả thù được trên trái đất này xuống Địa ngục! Tôi cho rằng nếu có bất kỳ lòng trắc ẩn nào, dịu dàng như tấm lòng người mẹ, từng ngự trị trong trái tim bất kỳ ai, thì đó chính là trong trái tim Dante. Nhưng một con người không biết đến sự khắt khe thì cũng không thể thấu cảm được. Ngay cả lòng trắc ẩn của anh ta cũng sẽ là hèn nhát, vị kỷ,—chỉ là thứ tình cảm sướt mướt, hay chẳng khá khẩm hơn là bao. Tôi không biết trên thế giới này có thứ tình cảm nào sánh được với tình cảm của Dante. Đó là sự dịu dàng, nỗi run rẩy, sự khao khát, tình yêu thương trắc ẩn: tựa như tiếng than của những chiếc đàn gió Aeolian, dịu êm, dịu êm; tựa như trái tim non nớt của một đứa trẻ;—và rồi trái tim kiêu hãnh, đau buồn khắc nghiệt ấy! Những nỗi khát khao này của ông hướng về nàng Beatrice của mình; cuộc hội ngộ của họ trong Paradiso; ánh nhìn của ông đắm chìm trong đôi mắt tinh khiết đã được chuyển hóa của nàng, nàng người đã được thanh tẩy qua cái chết từ lâu, bị chia cắt khỏi ông quá xa:—người ta ví nó với khúc ca của các thiên thần; đó là một trong những biểu hiện tình cảm tinh khiết nhất, có lẽ là tinh khiết nhất từng phát ra từ một tâm hồn con người.

Bởi Dante mãnh liệt thì mãnh liệt trong mọi thứ; ông đã thâm nhập vào bản chất của vạn vật. Nhận thức trí tuệ của ông với tư cách là một họa sĩ, đôi khi cũng với tư cách là một nhà lý luận, chẳng qua chỉ là hệ quả từ mọi loại tính mãnh liệt khác. Về mặt đạo đức, trên hết, chúng ta phải gọi ông là vĩ đại; đó chính là khởi đầu của vạn vật. Sự khinh bỉ, nỗi buồn của ông cũng siêu việt không kém gì tình yêu của ông;—bởi thực ra, chúng chẳng qua là mặt trái hay nghịch đảo của tình yêu ông mà thôi? "A Dio spiacenti ed a' nemici sui, Đáng ghét trước mặt Thượng đế và kẻ thù của Thượng đế:" sự khinh bỉ cao ngạo, sự quở trách và ghê tởm thầm lặng không thể nguôi ngoai; "Non ragionam di lor, Chúng ta sẽ không bàn về họ, hãy chỉ nhìn và lướt qua." Hay hãy ngẫm về điều này: "Họ không có hy vọng được chết, Non han speranza di morte." Một ngày nọ, nó dâng lên đầy vẻ nhân từ nghiêm nghị trong trái tim tan nát của Dante rằng ông, một kẻ khốn khổ, không bao giờ ngơi nghỉ, tiều tụy như ông vốn thế, sẽ hoàn toàn chắc chắn chết; rằng "chính Định mệnh cũng không thể phán quyết bắt ông không được chết." Những lời lẽ như vậy tồn tại trong con người này. Về sự khắt khe, tính nghiêm túc và chiều sâu, ông không có đối thủ trong thế giới hiện đại; để tìm kiếm đối thủ của ông, chúng ta phải quay về Kinh thánh tiếng H hebre, và sống cùng những bậc Tiên tri cổ đại ở đó.

Tôi không đồng tình với nhiều nhà phê bình hiện đại khi họ quá mức ưu ái phần Inferno so với hai phần còn lại của Thần khúc. Sự ưu ái như vậy, tôi tưởng tượng, thuộc về thói quen thưởng thức mang tính chủ nghĩa Byron chung của chúng ta, và có vẻ chỉ là một cảm giác nhất thời. Phần Purgatorio và Paradiso, đặc biệt là phần trước, người ta hầu như có thể nói là còn xuất sắc hơn cả phần đó. Thật là một điều cao đẹp biết bao khi Purgatorio, "Ngọn núi Thanh tẩy," là biểu tượng cho quan niệm cao cả nhất của thời đại ấy. Nếu tội lỗi mang tính hủy diệt đến thế, và Địa ngục là và buộc phải khắt khe, đáng sợ đến thế, thì trong Sự Ăn Năn con người cũng được thanh tẩy; Ăn năn chính là hành động Cơ đốc giáo vĩ đại. Thật tuyệt vời làm sao cách mà Dante triển khai nó. Sự rung rẫy của những con sóng đại dương, il tremolar dell' onde, dưới ánh sáng ban mai tinh khôi đầu tiên, ló dạng đằng xa trên đôi người lữ hành, tựa như nguyên mẫu của một tâm trạng đã đổi thay. Hy vọng giờ đây đã ló rạng; Hy vọng không bao giờ tàn phai, dù vẫn đồng hành cùng nỗi buồn nặng trĩu. Chốn trú ngụ u ám của ma quỷ và những kẻ bị kết án nằm dưới chân; một hơi thở dịu êm của sự ăn năn dâng lên ngày một cao hơn, vươn tới tận Ngai vàng Xót thương. "Hãy cầu nguyện cho tôi," tất cả cư dân của Ngọn núi Đau khổ ấy đều nói với ông. "Hãy bảo Giovanna của tôi cầu nguyện cho tôi," con gái Giovanna của tôi; "Tôi nghĩ mẹ con bé không còn yêu tôi nữa!" Họ nhọc nhằn leo lên qua con dốc quanh co ấy, "gập người lại như những chiếc consonante của một công trình," một số người trong số họ,—bị nghiền nát lại với nhau như thế "vì tội kiêu mạn"; thế nhưng dẫu vậy, qua những năm tháng, qua những kỷ nguyên và aeons, họ sẽ vươn tới được đỉnh núi, chính là cổng thiên đàng, và bởi Lòng Xót Thương sẽ được dung nạp vào trong. Niềm vui của tất cả mọi người, khi có một người vượt qua; cả Ngọn núi rung chuyển trong niềm hân hoan, và một thánh vịnh ngợi ca vang lên, khi một linh hồn đã hoàn thiện sự ăn năn và để lại phía sau tội lỗi cùng khốn khổ của mình! Tôi gọi tất cả những điều đó là một sự hiện thân cao đẹp của một tư duy cao thượng đích thực.

Nhưng quả thực Ba gian phòng ấy tương trợ lẫn nhau, không thể thiếu nhau. Phần Paradiso, đối với tôi tựa như một khúc âm nhạc không lời, chính là mặt cứu rỗi của phần Inferno; phần Inferno mà không có nó thì sẽ không chân thực. Cả ba hợp thành Cõi Vô Hình đích thực, được hình dung trong đạo Cơ đốc thời Trung Cổ; một điều mãi mãi đáng ghi nhớ, mãi mãi chân thực về bản chất của nó, đối với tất cả mọi người. Nó có lẽ không được phác họa trong bất kỳ tâm hồn con người nào với chiều sâu chân thực lớn lao như trong tâm hồn của Dante này; một con người được sai phái để cất ca nó, để gìn giữ nó sống mãi trong ký ức. Thật vô cùng đáng chú ý với sự giản dị ngắn gọn mà ông bước qua khỏi thực tại thường ngày, để đi vào thực tại Vô hình; và chỉ trong khổ thơ thứ hai hoặc thứ ba, chúng ta đã thấy mình ở trong Thế giới Linh hồn; và trú ngụ ở đó, tựa như giữa những sự vật hữu hình, không thể chối cãi! Đối với Dante, chúng đích thực là như vậy; thế giới thực tại, theo như cách gọi, và những sự kiện của nó chỉ là thềm cửa dẫn đến một Sự thật về Thế giới cao cả hơn vô hạn. Suy cho cùng, thế giới này cũng siêu nhiên hệt như thế giới kia. Há mỗi con người không sở hữu một linh hồn hay sao? Anh ta không chỉ sẽ là một linh hồn, mà thực chất chính là một linh hồn. Đối với Dante nghiêm túc, tất cả chỉ là một Thực tế hữu hình; ông tin vào nó, nhìn thấy nó; chính là Nhà thơ của nó nhờ vào điều đó. Sự chân thành, tôi xin nhắc lại một lần nữa, chính là phẩm chất cứu rỗi, bây giờ cũng như mãi mãi.

Địa ngục, Luyện ngục, Thiên đàng của Dante đồng thời là một biểu tượng, một sự thể hiện mang tính biểu trưng cho Niềm tin của ông về Vũ trụ này:—một Nhà phê bình nào đó trong tương lai, giống như những học giả Scandinavia dạo nọ, những kẻ đã hoàn toàn ngừng suy nghĩ như Dante, có thể thấy tất cả những điều này chỉ là một "Ngụ ngôn", có lẽ là một Ngụ ngôn vô bổ! Đó là một sự hiện thân siêu việt, hoặc siêu việt nhất, của tâm hồn đạo Cơ đốc. Nó bày tỏ, tựa như trong những biểu tượng kiến trúc vĩ đại khắp thế giới, cách mà Dante theo đạo Cơ đốc cảm nhận Thiện và Ác là hai nguyên tố cực đối lập của Sáng thế này, nơi mọi thứ xoay vần; rằng hai điều này khác biệt không phải bởi sự ưu tiên của cái này hơn cái kia, mà bởi sự bất dung tuyệt đối và vô tận; rằng cái này xuất sắc và cao cả như ánh sáng và Thiên đàng, còn cái kia gớm ghiếc, đen tối như Gehenna và Vực thẳm Địa ngục! Công lý vĩnh hằng, nhưng đi kèm với sự Ăn năn, với Lòng Xót Thương vĩnh hằng,—toàn bộ Cơ đốc giáo, theo cách mà Dante và thời Trung Cổ thụ đắc, được biểu tượng hóa ở đây. Được biểu tượng hóa: và tuy nhiên, như tôi từng nhấn mạnh dạo nọ, với sự chân thành tuyệt đối về mục đích; hoàn toàn vô thức về bất kỳ sự biểu tượng hóa nào! Địa ngục, Luyện ngục, Thiên đàng: những điều này không được tạo ra như những biểu tượng; liệu trong Tâm trí Người châu Âu Hiện đại của chúng ta, có chút suy nghĩ nào về việc chúng là biểu tượng hay không? Há chúng không phải là những sự kiện đáng sợ không thể chối cãi; toàn bộ trái tim con người coi chúng là chân thực trên thực tế, tất cả Tự nhiên ở khắp mọi nơi đều xác nhận chúng sao? Mọi chuyện trong những vấn đề này luôn là như vậy. Con người không tin vào một Ngụ ngôn. Nhà phê bình trong tương lai, bất kể tư duy mới của anh ta là gì, kẻ coi tác phẩm này của Dante hoàn toàn được dựng lên như một Ngụ ngôn, sẽ mắc phải một sai lầm trầm trọng!—Chúng ta công nhận Chủ nghĩa Ngoại giáo là một biểu hiện trung thực về cảm giác kinh ngạc đầy thành kính của con người đối với Vũ trụ; trung thực, từng đúng đắn một thời và cho đến nay vẫn không thiếu giá trị đối với chúng ta. Nhưng hãy lưu ý sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Ngoại giáo và Chủ nghĩa Cơ đốc ở đây; một sự khác biệt lớn. Chủ nghĩa Ngoại giáo biểu tượng hóa chủ yếu các Hoạt động của Tự nhiên; những định mệnh, nỗ lực, sự kết hợp, thăng trầm của vạn vật và con người trong thế giới này; Chủ nghĩa Cơ đốc biểu tượng hóa Quy luật Bổn phận của Con người, Quy luật Đạo đức của Con người. Một bên dành cho bản tính cảm tính: một tiếng kêu thét thô sơ bất lực của Tư tưởng đầu tiên ở con người,—phẩm chất được công nhận cao nhất là Lòng dũng cảm, Sự vượt trội trước nỗi sợ hãi. Bên kia không dành cho bản tính cảm tính, mà dành cho đạo đức. Thật là một sự tiến bộ biết bao ở đây, dẫu chỉ tính riêng ở phương diện đó—!

Và cứ thế trong Dante này, như chúng ta đã nói, mười thế kỷ thầm lặng đã, theo một cách vô cùng kỳ lạ, tìm được một tiếng nói. Divina Commedia là tác phẩm do Dante viết; nhưng thực chất nó thuộc về mười thế kỷ Cơ đốc giáo, chỉ có việc hoàn thiện nó là công sức của Dante. Sự việc luôn luôn là như vậy. Người thợ thủ công ở đó, người thợ rèn với thứ kim loại của mình, với những công cụ đó, với những phương pháp khéo léo đó,—biết bao phần trong tất cả những gì ông làm thực chất là công trình của chính ông! Tất cả những con người sáng tạo trong quá khứ đều làm việc ở đó cùng ông;—hệt như với tất cả chúng ta, trong mọi vấn đề. Dante là phát ngôn viên của thời Trung Cổ; Tư duy mà họ sống dựa vào vẫn đứng vững ở đây, trong khúc ca vĩnh cửu. Những ý tưởng siêu việt này của ông, vừa khủng khiếp vừa tươi đẹp, là thành quả của Thiền định Cơ đốc của tất cả những con người thiện lương đã đi trước ông. Họ thật trân quý; nhưng chẳng lẽ bản thân ông cũng trân quý sao? Rất nhiều điều, nếu ông không cất lên tiếng nói, hẳn đã bị chôn vùi trong câm lặng; không chết đi, nhưng vẫn sống mà không có giọng nói.

Nói chung, há đây không phải là một sự cất lời, Khúc ca huyền bí này, đồng thời của một trong những tâm hồn con người vĩ đại nhất, và của điều cao cả nhất mà Châu Âu cho đến nay từng hiện thực hóa cho chính mình sao? Chủ nghĩa Cơ đốc, theo cách mà Dante ca ngợi, khác hẳn với Chủ nghĩa Ngoại giáo trong tâm trí người Bắc Âu thô sơ; khác hẳn với "Chủ nghĩa Cơ đốc lai căng" được cất lên một cách nửa vời trong Sa mạc Ả Rập, bảy trăm năm trước!—Ý tưởng cao cả nhất cho đến nay được hiện thực hóa giữa loài người, được ca ngợi và biểu tượng hóa trường tồn, bởi một trong những con người cao thượng nhất. Ở ý nghĩa này hay ý nghĩa khác, chúng ta chẳng phải vô cùng vui mừng khi sở hữu nó sao? Theo tôi tính toán, nó có thể kéo dài thêm hàng ngàn năm nữa. Bởi vì điều được thốt lên từ tận sâu thẳm tâm hồn một con người, hoàn toàn khác biệt với những gì được cất lên từ phần bề ngoài. Phần bề ngoài thuộc về ngày tháng, dưới đế chế của mốt thời trang; phần bề ngoài mai một đi, trong những thay đổi vô tận chớp nhoáng; phần sâu thẳm nhất vẫn là một hôm nay, ngày mai và đến muôn đời. Những tâm hồn chân chính, trong mọi thế hệ của thế giới, khi nhìn vào Dante này, sẽ tìm thấy một mối thâm tình trong ông; sự chân thành sâu sắc trong tư duy của ông, những nỗi đau và niềm hy vọng của ông cũng sẽ cất lên tiếng nói tương ứng với sự chân thành của họ; họ sẽ cảm thấy rằng Dante này cũng là một người anh em. Napoleon trên đảo Saint Helena bị mê hoặc bởi sự chân thực thiên bão của Homer già nua. Bậc Tiên tri Hê-brơ cổ xưa nhất, dưới lớp áo choàng khác biệt nhất so với chúng ta, nhưng vì ông cất tiếng từ trái tim con người, nên vẫn nói lên được tấm lòng của muôn người. Đó là bí mật độc nhất vô nhị để được ghi nhớ dài lâu. Dante, về độ sâu của sự chân thành, cũng giống như một bậc Tiên tri cổ đại; lời nói của ông, hệt như lời của họ, xuất phát từ chính trái tim mình. Người ta không cần phải ngạc nhiên nếu có người tiên đoán rằng Thơ ca của ông có lẽ là di sản bền vững nhất mà Châu Âu chúng ta từng tạo ra; bởi chẳng có gì trường tồn cho bằng một lời nói được cất lên thực sự. Mọi đại giáo đường, mọi thể chế giáo hoàng, đồng thau và đá tảng, cùng mọi sự sắp đặt bề ngoài dẫu có bền vững đến đâu đi nữa, cũng trở nên ngắn ngủi khi so sánh với một khúc ca trái tim thâm trầm như thế này: người ta có cảm giác như nó có thể tồn tại, vẫn mang ý nghĩa quan trọng đối với loài người, khi tất cả những thứ kia đã chìm vào những sự kết hợp mới không thể nhận ra và đã chấm dứt sự tồn tại cá nhân của mình. Châu Âu đã tạo ra rất nhiều thứ; những thành phố lớn, những đế chế lớn, những bách khoa toàn thư, những tín điều, những hệ thống quan điểm và hành động: nhưng Châu Âu tạo ra rất ít thứ thuộc đẳng cấp Tư duy của Dante. Homer cho đến nay vẫn thực sự hiện diện đối với từng tâm hồn rộng mở của chúng ta; còn Hy Lạp, nó đang ở đâu? Hoang tàn suốt hàng ngàn năm trời; đã đi qua, đã tan biến; một đống đá vụn rác rưởi hỗn độn, sự sống và sự tồn tại của nó đã tiêu tan sạch sành sanh. Tựa như một giấc mơ; tựa như bụi bặm của Vua Agamemnon! Hy Lạp từng hiện hữu; Hy Lạp, ngoại trừ trong những lời nó từng cất lên, nay không còn nữa.

Những công dụng của Dante này ư? Chúng ta sẽ không bàn nhiều về những "công dụng" của ông. Một tâm hồn con người một khi đã dấn thân vào nguyên tố nguyên thủy của Khúc ca ấy, và cất lên tiếng nói một cách thích hợp từ chốn đó, đã tác động vào tận những tầng sâu thẳm trong sự tồn tại của chúng ta; nuôi dưỡng qua bao thời gian những rễ nguồn sự sống của mọi điều tốt đẹp của con người bất luận hình thái nào,—theo một cách thức mà những thứ "tiện ích" sẽ chẳng tài nào tính toán nổi! Chúng ta sẽ không định giá Mặt Trời bằng lượng khí chiếu sáng mà nó tiết kiệm cho chúng ta; Dante sẽ vô giá, hoặc không có giá trị nào cả. Tôi có thể đưa ra một nhận xét: sự tương phản ở phương diện này giữa Người anh hùng Nhà thơ và Người anh hùng Tiên tri. Trong vòng một trăm năm, Mahomet, như chúng ta đã thấy, đã đưa những người Ả Rập của ông đến Granada và Delhi; còn những người Ý của Dante dường như vẫn ở nguyên vị trí của họ. Phải chăng chúng ta sẽ nói rằng, ảnh hưởng của Dante đối với thế giới là nhỏ bé nếu so sánh? Không phải vậy: võ đài của ông bị thu hẹp hơn nhiều; nhưng đồng thời nó cũng cao thượng hơn nhiều, trong trẻo hơn;—có lẽ không kém phần quan trọng mà còn quan trọng hơn. Mahomet nói chuyện với những quần chúng đông đảo, bằng thứ ngôn ngữ thô kệch thích nghi với họ; một ngôn ngữ tràn ngập những mâu thuẫn, thô sơ, ngu ngốc: chỉ trên những quần chúng đông đảo ấy, ông mới có thể tác động, và ở đó với điều thiện và điều ác đan xen kỳ lạ. Dante nói chuyện với những con người cao thượng, thuần khiết và vĩ đại, ở mọi thời đại và mọi nơi chốn. Ông cũng không bị lỗi thời, như kẻ kia. Dante rực sáng như một vì sao thuần khiết, cố định ở đó trên vòm trời, nơi những bậc vĩ đại và cao cả của mọi thời đại thắp lên ngọn lửa cho chính mình: ông là tài sản của toàn bộ những tinh hoa trên thế giới này trong suốt thời gian vô tận. Người ta tính toán rằng Dante có lẽ sẽ tồn tại lâu hơn rất nhiều so với Mahomet. Bằng cách này, cán cân có thể được cân bằng trở lại.

Nhưng dẫu sao đi nữa, con người và tác phẩm của anh ta không được đo lường bằng thứ gọi là ảnh hưởng của họ đối với thế giới, bằng những gì chúng ta có thể phán xét về ảnh hưởng của họ ở đó. Ảnh hưởng? Tác động? Tiện ích? Hãy để một con người hoàn thành công việc của mình; thành quả của nó là mối bận tâm của một Đấng khác chứ không phải anh ta. Nó sẽ tự đơm hoa kết trái; và cho dù được hiện thân trong Ngai vàng Caliph và các cuộc Chinh phạt của người Ả Rập, sao cho nó "tràn ngập mọi Tờ báo Buổi sáng và Buổi chiều", và tất cả các cuốn Lịch sử, vốn tựa như một dạng Báo chí chưng cất; hay không hề được hiện thân như thế chút nào;—thì điều đó có nghĩa lý gì chứ? Đó không phải là thành quả thực sự của nó! Vị Caliph Ả Rập, chỉ trong chừng mực ông ta đã làm được điều gì đó, mới là một con người. Nếu Nguyên nhân vĩ đại của Con người, và công việc của Con người trên Trái đất của Thượng đế, không nhận được sự hậu thuẫn nào từ vị Caliph Ả Rập, thì dẫu ông ta tuốt ra bao nhiêu thanh gươm scimitar, đút túi bao nhiêu đồng piastre vàng, và tạo ra bao nhiêu tiếng ồn ào huyên náo trên thế giới này đi chăng nữa—ông ta cũng chỉ là một thứ hư vô rỗng tuếch kêu to; xét đến cùng, ông ta hoàn toàn không hề tồn tại. Một lần nữa, hãy tôn vinh đế chế vĩ đại của Sự im lặng! Kho bạc vô biên mà chúng ta không mang ra xủng xẻng trong túi áo, hay đem ra đếm và trưng bày trước mọi người! Trong những thời đại ồn ào này, đó có lẽ là điều hữu ích nhất đối với mỗi chúng ta.

Cũng như Dante, người con nước Ý, được phái đến thế giới chúng ta để hiện thân bằng âm nhạc Tôn giáo của thời Trung Cổ, Tôn giáo của Châu Âu Hiện đại chúng ta, Đời sống Nội tâm của nó; thì Shakespeare, chúng ta có thể nói, hiện thân cho chúng ta Đời sống Bên ngoài của Châu Âu thời bấy giờ, với tinh thần hiệp sĩ, phép xã giao, sự hài hước, những hoài bão, phương thức suy nghĩ, hành động, nhìn nhận thế giới thực tế mà con người thời đó sở hữu. Giống như trong Homer, chúng ta vẫn có thể giải mã Hy Lạp Cổ đại; thì trong Shakespeare và Dante, sau hàng ngàn năm, Châu Âu hiện đại của chúng ta đã từng như thế nào, trong Niềm tin và trong Thực tiễn, vẫn sẽ còn có thể đọc được. Dante đã trao cho chúng ta Niềm tin hay phần hồn; Shakespeare, theo một cách không kém phần cao thượng, đã trao cho chúng ta Thực tiễn hay phần xác. Phần sau này chúng ta cũng phải có; một con người đã được phái đến vì mục đích đó, con người Shakespeare. Ngay khi lối sống hiệp sĩ ấy đạt đến điểm hoàn thiện cuối cùng và đứng trước bờ vực tan rã chậm hoặc nhanh, như chúng ta thấy ở khắp mọi nơi ngày nay, thì vị Nhà thơ tối cao khác này, với đôi mắt thấu suốt, với giọng ca bất biến, đã được phái đến để ghi nhận nó, để lưu giữ lại hồ sơ trường tồn về nó. Hai con người thích hợp: Dante, sâu sắc, dữ dội như ngọn lửa trung tâm của trái đất; Shakespeare, bao dung, điềm tĩnh, tầm nhìn xa rộng như Mặt Trời, ánh sáng tối cao của thế giới. Ý đã sản sinh ra một giọng nói mang tầm vóc thế giới; người Anh chúng ta có vinh dự sản sinh ra giọng nói thứ hai.

Thật kỳ lạ làm sao, như thể hoàn toàn ngẫu nhiên, con người này đã đến với chúng ta. Tôi vẫn luôn suy nghĩ rằng, vĩ đại, tĩnh lặng, hoàn trọn và tự túc biết bao ở con người Shakespeare này, giả sử như vị Điền chủ Warwickshire không kiện ông tội trộm hươu nai, có lẽ chúng ta đã không bao giờ nghe danh ông với tư cách là một Nhà thơ! Những khu rừng và bầu trời, Đời sống nông thôn của con người ở Stratford nơi đó, đã là quá đủ đối với con người này! Nhưng quả thực, sự bung nở kỳ lạ ấy của toàn bộ Đời sống Anh quốc chúng ta, mà chúng ta gọi là Kỷ nguyên Elizabeth, há chẳng phải cũng tự phát đến như thể theo ý muốn của riêng nó hay sao? "Cây Igdrasil" đơm hoa và héo tàn theo những quy luật của riêng nó—quá sâu xa để tầm mắt chúng ta có thể dò thấu. Dẫu vậy nó vẫn đơm hoa và héo tàn, và từng cành từng lá của nó đều hiện hữu ở đó, bởi những quy luật vĩnh cửu cố định; chẳng có một Sir Thomas Lucy nào mà lại không xuất hiện vào thời điểm thích hợp dành cho ông ta. Thật kỳ lạ, tôi nói vậy, và chưa được suy ngẫm đầy đủ: cách mà mọi thứ đều tương tác với tất cả; chẳng có một chiếc lá nào mục rữa trên đường cao tốc lại không phải là một phần không thể tách rời của hệ thống mặt trời và các vì sao; chẳng có một suy nghĩ, lời nói hay hành động nào của con người lại không đồng thời nảy mầm từ tất cả mọi người, và sớm hay muộn, có thể nhận ra hay không thể nhận ra, đều tác động lên tất cả mọi người! Tất cả đều là một Cây: sự tuần hoàn của nhựa sống và những ảnh hưởng, sự giao lưu tương hỗ của từng chiếc lá nhỏ nhặt nhất với cái móng rễ sâu thẳm nhất, với mọi phần lớn nhỏ khác của toàn bộ hệ thống. Cây Igdrasil, có rễ đâm sâu xuống Vương quốc của Hela và Cái Chết, và có cành lá phủ kín Thiên đàng cao nhất—!

Ở một khía cạnh nào đó, có thể nói rằng Kỷ nguyên Elizabeth huy hoàng này cùng với Shakespeare của nó, với tư cách là thành quả và hoa trái của tất cả những gì đã đi trước, tự bản thân nó bắt nguồn từ Chủ nghĩa Công giáo thời Trung Cổ. Niềm tin Cơ đốc giáo, vốn là chủ đề trong Khúc ca của Dante, đã sản sinh ra Đời sống Thực tiễn này mà Shakespeare sẽ ca ngợi. Bởi vì Tôn giáo khi ấy, cũng như hiện tại và mãi mãi về sau, chính là linh hồn của Thực tiễn; sự kiện sinh tồn tiên quyết trong đời sống con người. Và hãy lưu ý ở đây, như một điều khá kỳ lạ, rằng Chủ nghĩa Công giáo thời Trung Cổ đã bị bãi bỏ, theo chừng mực mà các Đạo luật Nghị viện có thể bãi bỏ nó, trước khi Shakespeare, sản phẩm cao thượng nhất của nó, xuất hiện. Dẫu vậy ông vẫn xuất hiện. Tự nhiên vào thời điểm của riêng mình, cùng với Chủ nghĩa Công giáo hoặc bất cứ thứ gì khác cần thiết, đã phái ông ra đi; chẳng bận tâm mấy đến các Đạo luật Nghị viện. Các vị Vua Henry, các Nữ hoàng Elizabeth đều đi theo con đường của họ; và Tự nhiên cũng đi theo con đường của nàng. Các Đạo luật Nghị viện, nói chung, chỉ là những thứ nhỏ nhoi, bất chấp sự huyên náo mà chúng tạo ra. Đạo luật Nghị viện nào, cuộc tranh luận nào tại St. Stephen's, trên các diễn đàn tranh cử hay nơi nào khác, đã đưa Shakespeare này hiện thế? Không có những bữa tối tại Quán trọ Freemason, việc mở danh sách quyên góp, bán cổ phiếu và vô số những tranh cãi cùng những nỗ lực chân thật hay giả dối khác! Kỷ nguyên Elizabeth này, cùng với toàn bộ sự cao thượng và diễm phúc của nó, đã đến mà không cần đến sự tuyên bố hay chuẩn bị nào từ chúng ta. Shakespeare vô giá là món quà tự do của Tự nhiên; được ban tặng hoàn toàn trong im lặng;—được đón nhận hoàn toàn trong im lặng, như thể đó là một thứ chẳng có mấy giá trị. Thế nhưng, theo đúng nghĩa đen, đó lại là một thứ vô giá. Người ta cũng nên nhìn nhận vào khía cạnh đó của vấn đề.

Về Shakespeare của chúng ta, có lẽ ý kiến đôi khi được thể hiện một cách sùng bái thái quá thực ra lại là ý kiến đúng đắn; tôi nghĩ rằng phán đoán xuất sắc nhất không chỉ của riêng đất nước này, mà của toàn cõi Châu Âu nói chung, đang dần hướng tới kết luận rằng Shakespeare là đứng đầu trong tất cả các Nhà thơ cho đến nay; trí tuệ vĩ đại nhất, trong thế giới có ghi chép của chúng ta, đã để lại dấu ấn của bản thân dưới hình thức Văn học. Nói chung, tôi không biết có một quyền năng thị giác nào, một năng lực tư duy nào, nếu chúng ta tính đến tất cả các đặc tính của nó, ở bất kỳ con người nào khác. Sự tĩnh lặng của chiều sâu; sức mạnh vui tươi điềm tĩnh; vạn vật được phản chiếu trong tâm hồn vĩ đại ấy của ông một cách chân thực và trong trẻo hệt như trong một mặt biển phẳng lặng khôn dò! Người ta từng nói rằng trong việc cấu trúc các Vở kịch của Shakespeare, tách biệt khỏi tất cả các "năng lực" khác theo cách gọi, ẩn chứa một sự minh triết tương đương với những gì có trong Novum Organum của Bacon. Điều đó là đúng; và đó không phải là một sự thật đập vào mắt bất cứ ai. Nó sẽ trở nên rõ ràng hơn nếu bất kỳ ai trong chúng ta tự thử nghiệm xem, làm thế nào từ những chất liệu kịch của Shakespeare, chúng ta có thể tạo ra một kết quả như vậy! Ngôi nhà được xây dựng trông vô cùng vừa vặn,—mọi góc cạnh đều đúng như lẽ ra phải thế, như thể nó xuất hiện ở đó bằng quy luật của chính nó và bản chất của vạn vật,—khiến chúng ta quên đi mỏ đá thô kệch hỗn độn mà từ đó nó được đẽo gọt nên. Sự hoàn hảo của ngôi nhà, như thể chính Tự nhiên đã tạo ra nó, che khuất đi công lao của người kiến trúc sư. Hoàn hảo, hoàn hảo hơn bất kỳ con người nào khác, chúng ta có thể gọi Shakespeare ở điểm này: ông nhận thức được, tường tận như bằng bản năng, những điều kiện mà ông làm việc dưới đó, chất liệu của ông là gì, sức mạnh của chính ông và mối quan hệ của ông với chúng ra sao. Một cái nhìn thoáng qua chớp nhoáng là không đủ; đó là sự soi chiếu có cân nhắc của toàn bộ vấn đề; đó là một đôi mắt nhìn nhận điềm tĩnh; tóm lại là một trí tuệ vĩ đại. Cách mà một con người, từ một sự việc bao la nào đó mà ông đã chứng kiến, sẽ dựng lên một câu chuyện kể, loại hình tranh ảnh và miêu tả nào mà ông sẽ cất lên về nó,—chính là thước đo tốt nhất mà bạn có thể có được về trí tuệ ẩn chứa trong con người đó. Tình huống nào là tối quan trọng và sẽ được đặt ở vị trí nổi bật; tình huống nào không thiết yếu, thích hợp để lược bỏ; đâu là điểm khởi đầu thực sự, trình tự và kết cục thực sự? Để tìm ra điều này, bạn phải huy động toàn bộ sức mạnh thấu thị ẩn chứa trong con người đó. Ông phải thấu hiểu sự việc; tương ứng với chiều sâu của sự thấu hiểu ấy, câu trả lời của ông sẽ đạt được sự phù hợp tương xứng. Bạn sẽ thử thách ông bằng cách đó. Liệu cái giống nhau có tìm đến với cái giống nhau hay không; liệu tinh thần của phương pháp luận có khuấy động trong sự hỗn độn đó, sao cho mớ hỗn độn biến thành trật tự hay không? Liệu con người đó có thể cất tiếng Fiat lux, Hãy có ánh sáng; và từ hỗn mang tạo nên một thế giới hay không? Chính xác như việc ánh sáng tồn tại trong chính bản thân ông, ông sẽ hoàn thành được điều này.

Hoặc quả thực chúng ta có thể nói lại lần nữa, chính trong thứ mà tôi gọi là Nghệ thuật vẽ chân dung, miêu tả con người và vạn vật, đặc biệt là con người, mới thấy Shakespeare thực sự vĩ đại. Toàn bộ sự vĩ đại của con người này bộc lộ một cách dứt khoát ở đây. Tôi nghĩ rằng sự sáng suốt điềm tĩnh mang tính sáng tạo của Shakespeare là điều chưa từng có tiền lệ. Sự việc ông ngắm nhìn không hé lộ khuôn mặt này hay khuôn mặt khác, mà hé lộ tận sâu thẳm trái tim và bí mật giống loài của nó: nó tan biến tựa như trong ánh sáng trước mặt ông, sao cho ông nhận thức được cấu trúc hoàn hảo của nó. Sáng tạo, chúng ta đã nói: sáng tạo thi ca, điều đó là gì ngoài việc nhìn nhận sự việc một cách đầy đủ? Từ ngữ miêu tả sự việc, tự thân nó xuất phát từ cái nhìn thấu suốt rõ ràng và mãnh liệt ấy về sự việc. Và há đạo đức của Shakespeare, lòng dũng cảm, sự cởi mở, lòng khoan dung, tính chân thực; toàn bộ sức mạnh chiến thắng và sự vĩ đại của ông, thứ có thể chiến thắng những chướng ngại vật như vậy, không phải cũng hiện hữu rõ ràng ở đó sao? Vĩ đại như thế giới. Không phải một tấm gương lồi lõm méo mó, nghèo nàn, phản chiếu mọi đối tượng bằng những độ lồi lõm của riêng nó; một tấm gương phẳng hoàn hảo;—điều đó cũng đồng thời có nghĩa là, nếu chúng ta muốn thấu hiểu, một con người có mối quan hệ đúng đắn với vạn vật và con người, một con người tốt đẹp. Quả thực đó là một cảnh tượng vĩ đại khi chứng kiến tâm hồn vĩ đại này dung nạp tất cả mọi kiểu người và đối tượng, một Falstaff, một Othello, một Juliet, một Coriolanus; bày biện tất cả trước mắt chúng ta trong sự toàn vẹn tròn trịa của họ; yêu thương, công minh, là người anh em bình đẳng của tất cả. Novum Organum, và tất cả trí tuệ mà bạn có thể tìm thấy ở Bacon, chỉ mang thứ bậc hoàn toàn thứ yếu; phàm trần, vật chất, nghèo nàn nếu so sánh với điều này. Trong số những người hiện đại, nghiêm túc mà nói, người ta hầu như không tìm thấy ai có cùng đẳng cấp. Chỉ có Goethe, kể từ thời Shakespeare, mới gợi cho tôi nhớ đến điều đó. Về ông ấy, bạn cũng nói rằng ông đã nhìn thấy đối tượng; bạn có thể nói đúng những gì chính ông nói về Shakespeare: "Các nhân vật của ông giống như những chiếc đồng hồ với mặt số bằng pha lê trong suốt; chúng hiển thị cho bạn giờ giấc như những chiếc khác và bộ máy bên trong cũng hiện lên rõ mồn một."

Đôi mắt thấu thị! Chính điều này đã hé lộ sự hài hòa bên trong của vạn vật; điều mà Tự nhiên hướng tới, ý tưởng âm nhạc mà Tự nhiên đã bọc kín trong những hình hài thường thô ráp này. Chắc chắn nàng có ẩn ý điều gì đó. Đối với đôi mắt thấu thị, điều ẩn ý đó hoàn toàn có thể nhận ra được. Phải chăng chúng là những thứ đê tiện, khốn khổ? Bạn có thể mỉm cười trước chúng, bạn có thể rơi lệ vì chúng; bạn có thể bằng cách này hay cách khác liên hệ một cách hòa nhã với chúng;—ít nhất bạn có thể giữ im lặng về chúng, quay mặt mình và mặt người khác đi, cho đến thời điểm thực tế tiêu diệt và dập tắt chúng! Xét cho cùng, món quà đầu tiên của Nhà thơ, cũng như của tất cả mọi người, là phải có đủ trí tuệ. Anh ta sẽ là một Nhà thơ nếu anh ta có điều đó: một Nhà thơ trong lời nói; hoặc nếu không được, có lẽ thậm chí còn tuyệt vời hơn, một Nhà thơ trong hành động. Việc anh ta có viết lách hay không, và nếu có, viết bằng văn xuôi hay thơ vần, sẽ phụ thuộc vào các yếu tố ngẫu nhiên: ai mà biết được những yếu tố ngẫu nhiên vô cùng nhỏ nhặt nào,—có lẽ việc anh ta từng có một người thầy dạy hát, việc anh ta được dạy hát thời thơ ấu! Nhưng năng lực giúp anh ta nhận thức được trái tim sâu thẳm của sự vật, và sự hài hòa ngự trị trong đó (bởi bất cứ thứ gì tồn tại đều mang sự hài hòa trong cốt lõi của nó, nếu không nó sẽ không thể gắn kết và tồn tại), không phải là kết quả của thói quen hay sự ngẫu nhiên, mà là món quà của chính Tự nhiên; trang bị tối tân cho một Người anh hùng dưới bất kỳ hình thức nào. Đối với Nhà thơ, cũng như đối với mọi người khác, trước hết chúng ta nói rằng: Hãy nhìn. Nếu bạn không thể làm điều đó, thì việc cứ xếp đặt những vần thơ cạnh nhau, khua khoắng những nỗi niềm nhạy cảm vào nhau, và tự gọi mình là Nhà thơ chẳng mang lại ích lợi gì; chẳng có chút hy vọng nào dành cho bạn. Nếu bạn có thể làm được, thì trong văn xuôi hay thơ vần, trong hành động hay tư duy, mọi dạng hy vọng đều rộng mở. Viên Thầy giáo già khó tính thường hỏi, khi họ đưa đến cho ông một học trò mới: "Nhưng các ngươi có chắc hắn không phải là một kẻ đần độn không?" Chà, thực sự người ta có thể đặt câu hỏi tương tự, đối với mọi cá nhân được đề bạt cho bất kỳ chức vụ nào; và coi đó là câu hỏi duy nhất cần thiết: Các ngươi có chắc hắn không phải là một kẻ đần độn không? Trên thế giới này, chẳng có ai hoàn toàn vô phương cứu chữa đến thế.

Bởi vì, trên thực tế, tôi cho rằng mức độ thị giác ngự trị trong một con người chính là thước đo chính xác về con người đó. Nếu được yêu cầu định nghĩa năng lực của Shakespeare, tôi sẽ nói đó là sự vượt trội về Trí tuệ, và nghĩ rằng mình đã bao hàm tất cả trong điều đó. Rốt cuộc thì năng lực là gì? Chúng ta bàn về các năng lực như thể chúng là những thứ riêng biệt, có thể tách rời; như thể một con người sở hữu trí tuệ, trí tưởng tượng, khả năng liên tưởng, v.v., giống như anh ta có bàn tay, bàn chân và cánh tay. Đó là một sai lầm lớn lao. Rồi một lần nữa, chúng ta nghe nói về "bản tính trí tuệ" của một con người, và "bản tính đạo đức" của anh ta, như thể những thứ này lại có thể chia tách, và tồn tại biệt lập. Những nhu cầu của ngôn ngữ có lẽ quy định các hình thức biểu đạt như vậy; tôi nhận thức rõ rằng chúng ta phải nói chuyện theo cách đó, nếu chúng ta muốn nói bất cứ điều gì. Nhưng từ ngữ không nên bị cứng hóa thành những vật thể đối với chúng ta. Dối với tôi, sự nhận thức của chúng ta về vấn đề này phần lớn đã bị bóp méo tận gốc rễ bởi điều đó. Hơn nữa, chúng ta phải biết và luôn ghi nhớ rằng những sự phân chia này xét cho cùng chỉ là những cái tên; rằng bản tính tâm linh của con người, Sức sống sinh lực ngự trị trong anh ta, về bản chất là một và không thể chia cắt; rằng những thứ mà chúng ta gọi là trí tưởng tượng, khả năng liên tưởng, trí hiểu biết, v.v., chẳng qua chỉ là những hình thái khác nhau của cùng một Năng lực Thấu thị, tất cả đều gắn kết chặt chẽ với nhau, có mối quan hệ sinh lý với nhau; rằng nếu chúng ta biết được một trong số chúng, chúng ta có thể biết được tất cả. Bản thân đạo đức, thứ mà chúng ta gọi là phẩm chất đạo đức của một con người, thì đây là gì nếu không phải là một mặt khác của cùng một Sức sống sinh lực nhờ đó anh ta tồn tại và hành động? Tất cả những gì một con người làm đều mang tính sinh lý của anh ta. Bạn có thể thấy cách một con người chiến đấu qua cách anh ta cất tiếng hát; lòng dũng cảm của anh ta, hay sự thiếu vắng lòng dũng cảm, đều hiển hiện trong từ ngữ anh ta thốt ra, trong quan điểm anh ta hình thành, không kém gì cú đánh mà anh ta giáng xuống. Anh ta là một thể thống nhất; và truyền bá cùng một Bản ngã ấy ra bên ngoài qua tất cả những phương thức đó.

Không có bàn tay, con người ta vẫn có thể có bàn chân và vẫn đi lại được: nhưng, hãy ngẫm xem,—không có đạo đức, trí tuệ là điều không thể đối với anh ta; một con người hoàn toàn vô đạo đức sẽ không thể nhận thức được bất cứ điều gì! Để thấu hiểu một sự vật, thứ mà chúng ta có thể gọi là sự thấu hiểu, trước hết con người phải yêu mến sự vật đó, đồng cảm với nó: nghĩa là phải có mối quan hệ đạo đức với nó. Nếu anh ta không có sự công minh để dẹp bỏ sự ích kỷ của bản thân trong mọi tình huống, không có lòng dũng cảm để đứng về phía chân lý đầy hiểm nguy trong mọi tình huống, thì làm sao anh ta có thể thấu hiểu? Mọi phẩm hạnh của anh ta sẽ được ghi chép lại trong sự hiểu biết của chính mình. Tự nhiên, cùng với chân lý của nàng, vẫn mãi là một cuốn sách được niêm phong đối với kẻ xấu xa, kẻ ích kỷ và kẻ hèn nhát; những gì kẻ đó có thể biết về Tự nhiên chỉ là thứ tầm thường, hời hợt, nhỏ nhoi, chỉ phục vụ cho những nhu cầu trước mắt.—Nhưng chẳng lẽ ngay cả Con Cáo cũng biết chút gì về Tự nhiên sao? Chính xác là như vậy: nó biết nơi lũ ngỗng trú ngụ! Con Cáo mang hình hài con người, xuất hiện vô cùng thường xuyên ở khắp mọi nơi trên thế giới này, ngoài điều đó và những thứ tương tự ra thì còn biết gì hơn? Hơn nữa, chúng ta cũng nên cân nhắc rằng, nếu con Cáo không có một thứ đạo đức loài cáo nhất định, nó thậm chí không thể biết lũ ngỗng ở đâu, hay tiếp cận được lũ ngỗng! Nếu nó dành thời gian để chìm đắm trong những suy ngẫm u sầu giận dỗi về sự khốn khổ của chính mình, sự đối xử bất công mà nó nhận được từ Tự nhiên, Vận mệnh và những con Cáo khác, v.v.; và thiếu đi lòng dũng cảm, sự nhanh nhẹn, tính thực tế cùng những ân huệ và phẩm chất thích hợp khác của loài cáo, nó sẽ chẳng bắt được con ngỗng nào cả. Chúng ta cũng có thể nói về con Cáo rằng đạo đức và tầm nhìn của nó có cùng kích thước; những mặt khác nhau của cùng một sự thống nhất nội tại mang tính loài cáo!—Những điều này rất đáng để tuyên bố; bởi vì mặt trái của chúng tác động với muôn vàn sự biến chất đầy tai hại trong thời đại này: những giới hạn, sự điều chỉnh nào mà chúng đòi hỏi, lòng cởi mở của chính bạn sẽ tự khắc bổ sung vào.

Do đó, nếu tôi nói rằng Shakespeare là Trí tuệ vĩ đại nhất, thì tôi đã nói tất cả mọi điều về ông. Nhưng ẩn chứa trong trí tuệ của Shakespeare còn nhiều điều hơn những gì chúng ta từng thấy cho đến nay. Đó là thứ mà tôi gọi là một trí tuệ vô thức; ẩn chứa trong đó nhiều phẩm hạnh hơn chính bản thân ông nhận thức được. Novalis đã có một nhận xét tuyệt đẹp về ông rằng những Vở kịch đó của ông cũng là Sản phẩm của Tự nhiên, sâu sắc hệt như bản thân Tự nhiên. Tôi tìm thấy một chân lý lớn lao trong câu nói này. Nghệ thuật của Shakespeare không phải là sự xảo trá nhân tạo; giá trị cao thượng nhất của nó không đến từ kế hoạch hay sự tính toán trước. Nó vươn lên từ những tầng sâu của Tự nhiên, thông qua tâm hồn cao thượng chân thành này, kẻ là tiếng nói của Tự nhiên. Những thế hệ con người sau này sẽ tìm thấy những ý nghĩa mới ở Shakespeare, những sự giải thích mới về chính sự tồn tại của con người họ; "những hòa âm mới với cấu trúc vô tận của Vũ trụ, sự tương hợp với những tư tưởng hậu thế, sự cộng hưởng với những quyền năng và giác quan cao cả hơn của con người." Điều này rất đáng để nghiền ngẫm. Đó là phần thưởng cao cả nhất của Tự nhiên dành cho một tâm hồn chân chính, giản dị và vĩ đại, khi anh ta được hòa mình vào chính bản thân nàng. Tác phẩm của một con người như thế, bất kể anh ta hoàn thành bằng tất cả sự nỗ lực có ý thức và sự suy tính trước tột cùng đến đâu, vẫn đồng thời lớn lên một cách vô thức, từ những tầng sâu vô định trong anh ta;—hệt như cây sồi mọc lên từ lòng đất mẹ, như những ngọn núi và dòng sông tự hình thành nên vóc dáng; với một sự đối xứng có nền tảng từ chính các quy luật của Tự nhiên, phù hợp với mọi Chân lý bất luận hình thái nào. Biết bao điều ẩn giấu trong Shakespeare; những nỗi buồn, những cuộc đấu tranh thầm lặng chỉ riêng ông biết; rất nhiều điều không hề được biết đến chút nào, hoàn toàn không thể thốt lên lời: tựa như những rễ cây, như nhựa sống và những nguồn sức mạnh đang hoạt động ngầm dưới lòng đất! Lời nói là vĩ đại; nhưng Sự im lặng còn vĩ đại hơn.

Đồng thời, sự tĩnh lặng vui tươi của con người này là một điều đáng chú ý. Tôi sẽ không quở trách Dante vì nỗi bất hạnh của ông: đó tựa như một cuộc chiến không có chiến thắng; nhưng là một cuộc chiến chân chính,—điều đầu tiên và không thể thiếu. Tuy nhiên, tôi gọi Shakespeare là vĩ đại hơn Dante, ở chỗ ông đã chiến đấu một cách chân chính, và thực sự đã chiến thắng. Đừng hoài nghi điều đó, ông cũng có những nỗi buồn của riêng mình: những Bản sonnet của ông thậm chí sẽ minh chứng rõ ràng rằng ông đã lội qua những vùng nước sâu thẳm thế nào và bơi lội giãy giụa để giữ lấy mạng sống của mình;—hệt như bất kỳ con người nào giống như ông chưa từng không phải trải qua? Đối với tôi, quan niệm phổ biến của chúng ta có vẻ là một sự hời hợt khi cho rằng ông ngồi như một chú chim trên cành; và cất tiếng ca phơi phới, tự do, chẳng bao giờ biết đến những rắc rối của những người khác. Không phải vậy; chẳng có con người nào lại như thế cả. Làm sao một con người có thể bước đi từ việc trộm hươu nai nơi thôn dã đến việc viết kịch bi thảm như thế, mà lại không vấp phải những nỗi buồn dọc đường? Hoặc tuyệt vời hơn nữa, làm sao một con người có thể miêu tả một Hamlet, một Coriolanus, một Macbeth, vô số những trái tim anh hùng đang quằn quại trong đau khổ, nếu chính trái tim anh hùng của ông chưa từng đau khổ bao giờ?—Và giờ đây, tương phản với tất cả những điều đó, hãy quan sát sự vui tươi, niềm đam mê tiếng cười tràn trề đích thực của ông! Bạn sẽ nói rằng, không có điểm nào mà ông lại phóng đại ngoại trừ trong tiếng cười. Những lời quở trách rực lửa, những lời nói đâm thủng và thiêu đốt, đều có thể tìm thấy ở Shakespeare; thế nhưng ông luôn giữ sự chừng mực ở đây; không bao giờ là kẻ mà Johnson sẽ nhận xét là một "kẻ căm ghét cừ khôi" đặc biệt. Nhưng tiếng cười của ông dường như tuôn trào từ ông như thác lũ; ông gán cho nhân vật mục tiêu châm biếm mọi thứ biệt danh lố bịch, lật tung và tung hứng kẻ đó trong đủ mọi trò đùa thô bạo; bạn sẽ nói rằng, ông cười bằng cả trái tim mình. Và rồi, nếu không phải luôn luôn là tinh tế nhất, đó luôn luôn là một tiếng cười dung dị. Không phải trước sự yếu đuối thuần tuý, trước sự khốn khổ hay nghèo đói; tuyệt đối không. Không một con người nào có thể cười, thứ mà chúng ta gọi là cười, lại đi cười những điều đó. Chỉ có một số nhân vật kém cỏi khao khát được cười, và muốn có được uy tín của sự thông minh, mới làm như vậy. Tiếng cười đồng nghĩa với sự đồng cảm; tiếng cười chân chính không phải là "tiếng lép bép của gai góc dưới đáy nồi." Ngay cả trước sự ngu ngốc và khoe mẽ, Shakespeare cũng không cười theo cách nào khác ngoài sự dung dị. Dogberry và Verges kích thích tận sâu trái tim chúng ta; và chúng ta tiễn họ đi trong những tràng cười nổ tung: nhưng chúng ta chỉ càng yêu mến những anh chàng tội nghiệp ấy hơn nhờ những tràng cười của mình; và hy vọng họ sẽ tiến xa ở đó, tiếp tục làm Chủ tịch Lực lượng Cảnh sát Đêm. Tiếng cười như thế, tựa như ánh nắng chiếu rọi trên biển sâu, đẹp đẽ vô cùng đối với tôi.

Chúng ta không có không gian để bàn về các tác phẩm riêng lẻ của Shakespeare; mặc dù có lẽ vẫn còn rất nhiều điều đang chờ được giải đáp về chủ đề đó. Ví dụ, giá như chúng ta có toàn bộ các vở kịch của ông được phê bình giống như Hamlet trong Wilhelm Meister thì hay biết mấy! Một điều mà, một ngày nào đó, hoàn toàn có thể được thực hiện. August Wilhelm Schlegel có một nhận xét về các Vở kịch Lịch sử của ông, Henry V và những vở khác, rất đáng để ghi nhớ. Ông gọi chúng là một dạng Sử thi Dân tộc. Marlborough, bạn còn nhớ chứ, từng nói rằng ông không biết gì về Lịch sử Anh ngoại trừ những gì ông học được từ Shakespeare. Nếu nhìn nhận kỹ lưỡng, thực sự có rất ít bộ Lịch sử đáng ghi nhớ như thế. Những điểm nổi bật lớn được nắm bắt một cách tuyệt vời; mọi thứ khép lại thành một dạng mạch lạc nhịp nhàng; đó là, như Schlegel nói, mang tính sử thi;—giống như quả thực mọi sự miêu tả bởi một nhà tư tưởng vĩ đại đều sẽ như thế. Có những điều vô cùng tốt đẹp trong những Tác phẩm đó, vốn dĩ hợp thành một Tác phẩm đẹp đẽ. Trận đánh Agincourt đó gây ấn tượng với tôi là một trong những điều hoàn hảo nhất trong thể loại của nó, mà chúng ta có thể tìm thấy ở bất cứ đâu từ Shakespeare. Sự miêu tả về hai đạo quân: những người lính Anh kiệt quệ, mệt mỏi; giờ phút đáng sợ, mang trọng trách định mệnh, khi trận chiến sắp bắt đầu; và rồi lòng dũng cảm bất tử đó: "Hỡi những người nông phu hiền lành, những người có thân hình được tạo nên trên đất Anh!" Trấn chứa trong đó một lòng Yêu nước cao thượng,—khác xa với sự "dửng dưng" mà đôi khi người ta gán cho Shakespeare. Một trái tim Anh quốc chân chính thở phào, điềm tĩnh và mạnh mẽ, xuyên suốt toàn bộ sự việc; không hề ồn ào, phô trương; điều đó lại càng tuyệt vời hơn. Âm thanh trong đó vang lên tựa như tiếng va chạm của thép. Con người này cũng sở hữu một cú đánh đích thực, nếu sự việc đi đến mức đó!

Nhưng tôi sẽ nói rằng, về các tác phẩm của Shakespeare nói chung, chúng ta không có được ấn tượng trọn vẹn về ông ở đó; thậm chí không trọn vẹn bằng những gì chúng ta có về rất nhiều người khác. Các tác phẩm của ông giống như vô số khung cửa sổ, qua đó chúng ta nhìn thấy thoáng qua thế giới ngự trị trong tâm hồn ông. So sánh mà nói, tất cả các tác phẩm của ông đều có vẻ qua loa, bất toàn, được viết trong những hoàn cảnh ngặt nghèo; chỉ mang lại đây và ở đó một vài nốt nhạc của khúc ca trọn vẹn phát ra từ con người ấy. Có những đoạn văn ập đến với bạn tựa như ánh hào quang từ Thiên đàng; những trùm rực rỡ, soi chiếu tận trái tim của sự việc: bạn thốt lên rằng, "Điều đó là chân thực, được thốt lên một lần và mãi mãi; bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào có một tâm hồn con người rộng mở, điều đó sẽ được công nhận là chân thực!" Tuy nhiên, những đợt bùng nổ như thế lại khiến chúng ta cảm thấy rằng khung cảnh xung quanh không hề rực rỡ; rằng nó phần lớn mang tính tạm thời, quy ước. Hỡi ôi, Shakespeare buộc phải viết cho Nhà hát Globe: tâm hồn vĩ đại của ông phải tự bóp méo, cách này hay cách khác, để chui vào chiếc khuôn đó chứ không phải khuôn nào khác. Mọi chuyện đối với ông lúc đó cũng giống như đối với tất cả chúng ta. Không ai làm việc mà không phải chịu những điều kiện ràng buộc. Nhà điêu khắc không thể đặt Tư tưởng tự do của chính mình trước mắt chúng ta; mà là Tư tưởng của ông theo cách ông có thể chuyển hóa nó vào khối đá được trao, với những công cụ được trao. Disjecta membra (Những mảnh vỡ vụn) là tất cả những gì chúng ta tìm thấy ở bất kỳ Nhà thơ nào, hay ở bất kỳ con người nào.

Bất kỳ ai nhìn nhận Shakespeare một cách thông minh đều có thể nhận ra rằng ông cũng là một Tiên tri, theo cách của riêng mình; với một nhãn quan tương tự như nhãn quan Tiên tri, mặc dù ông thể hiện nó theo một cung bậc khác. Tự nhiên đối với con người này cũng mang tính thần thánh; khôn dò, sâu sắc như Tophet, cao cả như Thiên đàng; "Chúng ta được làm bằng chất liệu gì mà những Giấc mơ được tạo nên từ đó!" Cuốn sách cuộn trong Tu viện Westminster đó, thứ mà ít ai đọc với sự thấu hiểu, mang chiều sâu của bất kỳ nhà tiên tri nào. Nhưng con người đó đã cất ca; không thuyết giáo, ngoại trừ bằng âm nhạc. Chúng ta từng gọi Dante là vị Tăng lữ du dương của Chủ nghĩa Công giáo thời Trung Cổ. Há chúng ta không thể gọi Shakespeare là vị Tăng lữ du dương hơn nữa của một Chủ nghĩa Công giáo đích thực, "Hội thánh Phổ quát" của Tương lai và của mọi thời đại sao? Không có sự mê tín hẹp hòi, chủ nghĩa khắc kỷ khắc nghiệt, sự bất dung, tính hung hăng cuồng tín hay sự sa đọa nào: một Sự mặc khải, trong giới hạn của nó, rằng một vẻ đẹp và tính thần thánh ẩn giấu ngàn trùng như thế ngự trị trong toàn bộ Tự nhiên; mà hãy để mọi người thờ phụng theo cách họ có thể! Chúng ta có thể nói mà không sợ xúc phạm rằng, một dạng Thánh vịnh phổ quát cũng vang lên từ Shakespeare này; không hề lạc lõng khi cất lên giữa những Thánh vịnh linh thiêng hơn thế. Không hề nghịch tai với những điều đó, nếu chúng ta thấu hiểu chúng, mà là hài hòa!—Tôi không thể gọi Shakespeare này là một "Kẻ hoài nghi", như một số người vẫn làm; sự dửng dưng của ông đối với các tín điều và tranh cãi thần học trong thời đại của ông đã đánh lừa họ. Không: ông không phải là kẻ vô ơn với đất nước, mặc dù ông ít nói về lòng Yêu nước của mình; cũng chẳng phải kẻ hoài nghi, mặc dù ông ít nói về Niềm tin của mình. Sự "dửng dưng" như thế đồng thời là thành quả từ sự vĩ đại của ông: toàn bộ trái tim ông đặt vào lĩnh vực thờ phụng vĩ đại của chính ông (chúng ta có thể gọi nó như vậy); những cuộc tranh cãi khác, vốn mang tầm quan trọng sống còn đối với những người khác, lại không mang tính sống còn đối với ông.

Nhưng hãy gọi đó là sự thờ phụng, hãy gọi nó là bất cứ điều gì bạn muốn, há đây không phải là một điều vô cùng huy hoàng sao, những gì mà Shakespeare mang đến cho chúng ta? Về phần mình, tôi cảm thấy thực sự tồn tại một dạng tính linh thiêng trong thực tế việc một con người như thế được phái đến Trái đất này. Há ông không phải là một đôi mắt cho tất cả chúng ta, một Đấng mang lại Ánh sáng được thiên đàng ban phúc hay sao?—Và xét cho cùng, há có lẽ tốt hơn rất nhiều khi Shakespeare này, một con người hoàn toàn vô thức, lại không hề ý thức về bất kỳ sứ mệnh Thiên đàng nào sao? Ông không cảm thấy, giống như Mahomet, bởi vì ông nhìn thấu những Ánh sáng nội tâm đó, rằng bản thân mình đặc biệt là "Tiên tri của Thượng đế": và há ông không vĩ đại hơn Mahomet ở điểm đó sao? Vĩ đại hơn; và đồng thời, nếu chúng ta tính toán nghiêm ngặt, hệt như chúng ta đã làm trong trường hợp của Dante, thành công hơn. Bản thân ý niệm đó của Mahomet là một sai lầm, ý niệm về Chức tiên tri tối cao của ông; và đã truyền lại cho chúng ta, vướng víu không thể gỡ ra trong sai lầm cho đến ngày nay; kéo theo một cuộn dây những huyền thoại, sự ô uế, tính bất dung, khiến cho việc tôi đứng đây và ngay lúc này thốt lên, như tôi đã làm, rằng Mahomet là một Người phát ngôn chân chính chứ không phải là một kẻ lang băm đầy tham vọng, sự đồi trụy và giả hình; không phải là một Người phát ngôn, mà là một Kẻ ba hoa, trở thành một bước đi đáng ngờ! Ngay cả ở Ả Rập, theo tôi tính toán, Mahomet rồi cũng sẽ tự vắt kiệt sức mình và trở nên lỗi thời, trong khi Shakespeare này, Dante này vẫn có thể trẻ trung;—trong khi Shakespeare này vẫn có thể ra vẻ là một Tăng lữ của Nhân loại, của Ả Rập cũng như của các nơi khác, trong những khoảng thời gian vô hạn sắp tới!

So với bất kỳ người phát ngôn hoặc ca sĩ nào mà người ta biết, ngay cả với Aeschylus hay Homer, tại sao ông lại không thể trường tồn như họ về độ chân thực và tính phổ quát? Ông chân thành hệt như họ; vươn sâu tận gốc rễ như họ, đến với tính phổ quát và sự trường tồn. Nhưng còn Mahomet, tôi nghĩ sẽ tốt hơn cho ông ta nếu đừng quá ý thức như vậy! Hỡi ôi, Mahomet tội nghiệp; tất cả những gì ông ta ý thức được chỉ là một sai lầm thuần túy; một sự vô tích sự và tầm thường,—bởi quả thực những thứ như thế luôn là như vậy. Điều thực sự vĩ đại ở ông ta cũng chính là sự vô thức: rằng ông ta là một con sư tử hoang dã của sa mạc Ả Rập, và đã cất tiếng nói bằng giọng nói sấm sét vĩ đại đó của mình, không phải bằng những từ ngữ mà ông ta nghĩ là vĩ đại, mà bằng những hành động, bằng những cảm xúc, bằng một lịch sử vốn vĩ đại! Kinh Koran của ông đã trở thành một tác phẩm ngớ ngẩn đầy rẫy sự dài dòng vô lý; chúng ta không tin, giống như ông ta, rằng Thượng đế đã viết ra cuốn sách đó! Vĩ nhân ở đây cũng vậy, như luôn luôn thế, là một Sức mạnh của Tự nhiên. Bất cứ điều gì thực sự vĩ đại ở ông ta đều vươn lên từ những tầng sâu vô thanh.

Chà: đây chính là anh chàng Nông dân Warwickshire nghèo khổ của chúng ta, người đã vươn lên thành Quản lý của một Nhà hát, để anh ta có thể sống mà không phải đi ăn xin; người mà Bá tước Southampton từng ném những cái nhìn thiện cảm; người mà Sir Thomas Lucy, ngàn lần cảm ơn ông ta, suýt đã đày ra Tù khổ sai! Chúng ta đã không coi ông là một vị thần, giống như Odin, khi ông sống cùng chúng ta;—về điểm này có rất nhiều điều để bàn. Nhưng tôi thà nói rằng, hoặc lặp lại: Bất chấp tình trạng ảm đạm mà việc thờ phụng Người anh hùng đang rơi vào hiện nay, hãy ngẫm xem Shakespeare này thực sự đã trở thành gì giữa chúng ta. Người Anh nào mà chúng ta từng tạo ra, trên mảnh đất này của chúng ta, triệu người Anh nào, mà chúng ta lại không sẵn sàng từ bỏ chứ nhất quyết không từ bỏ Anh chàng nông dân Stratford? Không có một trung đoàn các Quan chức cao cấp nào mà chúng ta lại đem bán ông đi để đổi lấy. Ông là điều vĩ đại nhất mà chúng ta từng thực hiện cho đến nay. Vì danh dự của chúng ta giữa các quốc gia ngoại bang, như một vật trang hoàng cho Mái ấm Anh quốc của chúng ta, có món đồ nào mà chúng ta lại không sẵn lòng từ bỏ thay vì từ bỏ ông? Giờ đây hãy suy ngẫm, nếu họ hỏi chúng ta rằng: Liệu người Anh các ngươi sẽ từ bỏ Đế chế Ấn Độ hay Shakespeare của mình; chưa từng có bất kỳ Đế chế Ấn Độ nào, hay chưa từng có bất kỳ Shakespeare nào? Quả thực đó sẽ là một câu hỏi nghiêm túc. Các quan chức chắc chắn sẽ trả lời bằng ngôn ngữ quan chức; nhưng phần chúng ta, chẳng lẽ chúng ta cũng không bị buộc phải trả lời rằng: Có hay không có Đế chế Ấn Độ; chúng ta không thể sống thiếu Shakespeare! Đế chế Ấn Độ rồi sẽ sụp đổ, bằng cách này hay cách khác, vào một ngày nào đó; nhưng Shakespeare này không hề sụp đổ, ông trường tồn mãi mãi với chúng ta; chúng ta không thể từ bỏ Shakespeare của mình!

Thậm chí, gác lại những vấn đề tâm linh; và chỉ xem xét ông như một tài sản thực sự, có thể thương mại hóa, hữu ích một cách hữu hình. Anh quốc, chẳng bao lâu nữa, Hòn đảo của chúng ta đây, sẽ chỉ chứa đựng một phần nhỏ bé của dân tộc Anh: ở Mỹ, ở New Holland, vươn ra đông tây tận những vùng Cực đối lập, sẽ có một Thế giới Saxon bao trùm những không gian vĩ đại của Quả địa cầu. Và giờ đây, điều gì có thể giữ tất cả những thứ đó gắn kết lại với nhau thành thực chất là một Quốc gia duy nhất, sao cho họ không cãi vã và đánh lẫn nhau, mà sống trong hòa bình, giao lưu như anh em, giúp đỡ lẫn nhau? Điều này được coi là một cách chính xác là bài toán thực tế vĩ đại nhất, điều mà tất cả mọi dạng chủ quyền và chính phủ đều có mặt ở đây để hoàn thành: điều gì sẽ hoàn thành được điều này? Các Đạo luật Nghị viện, những thủ tướng hành pháp không thể làm được điều đó. Nước Mỹ đã tách khỏi chúng ta, trong giới hạn mà Nghị viện có thể chia rẽ nó. Đừng gọi đó là điều viển vông, bởi vì có rất nhiều thực tế trong đó: Ở đây, tôi nói rằng, có một vị Vua nước Anh, kẻ mà không thời gian hay vận mệnh nào, không một Nghị viện hay liên minh Nghị viện nào có thể phế truất! Vị Vua Shakespeare này, há ông không tỏa sáng, trong chủ quyền đội vương miện, chiếu rọi trên tất cả chúng ta, như một biểu tượng tập hợp cao thượng nhất, hiền hòa nhất, nhưng cũng mạnh mẽ nhất; không thể hủy diệt; thực sự có giá trị hơn ở góc độ đó so với bất kỳ phương tiện hay công cụ nào khác trên đời! Chúng ta có thể tưởng tượng ông rực rỡ ngự trị trên tất cả các Quốc gia của những người Anh, một ngàn năm sau. Từ Paramatta, từ New York, bất cứ nơi nào, dưới bất kỳ loại Cảnh sát Trưởng Phường xã nào, những người đàn ông và phụ nữ Anh quốc ở đó sẽ nói với nhau rằng: "Vâng, Shakespeare này là của chúng ta; chúng ta đã sản sinh ra ông, chúng ta nói và tư duy bằng ông; chúng ta cùng chung dòng máu và chủng loại với ông." Chính trị gia thực dụng nhất, nếu anh ta muốn, cũng có thể suy ngẫm về điều đó.

Vâng, thực sự, đó là một điều vĩ đại đối với một Quốc gia khi nó có được một giọng nói mạch lạc; khi nó sản sinh ra một con người cất lên bằng âm nhạc những gì trái tim quốc gia ấy muốn nói! Ý chẳng hạn, nước Ý tội nghiệp nằm trong cảnh chia năm xẻ bảy, phân tán khắp nơi, không xuất hiện trong bất kỳ nghị định thư hay hiệp ước nào với tư thế là một thể thống nhất; thế nhưng nước Ý cao thượng thực chất vẫn là một: Ý đã sản sinh ra Dante của mình; Ý có thể cất tiếng nói! Sa hoàng của toàn cõi Nga, ông ta hùng mạnh với vô số lưỡi lê, lính Cossack và đại bác; và lập nên một kỳ tích lớn trong việc giữ cho một vùng Trái đất như vậy gắn kết về mặt chính trị lại với nhau; nhưng ông ta vẫn chưa thể cất tiếng nói. Có điều gì đó vĩ đại ở ông ta, nhưng đó là sự vĩ đại câm lặng. Ông ta chưa từng có một giọng nói thiên tài nào được lắng nghe bởi muôn người và muôn thời đại. Ông ta phải học cách cất tiếng nói. Cho đến nay ông ta vẫn là một con quái vật câm lặng vĩ đại. Đại bác và lính Cossack của ông ta rồi sẽ rỉ sét thành hư vô, trong khi tiếng nói của Dante vẫn còn văng vẳng bên tai. Quốc gia nào sở hữu một Dante thì được gắn kết lại với nhau theo cách mà một nước Nga câm lặng không bao giờ có được.—Chúng ta phải khép lại những gì chúng ta muốn nói về Người anh hùng Nhà thơ ở đây.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.