Chuyện lương thực. — Bất đồng về bầu không khí nhiễm mùi dầu hỏa. — Lợi ích của pho mát khi làm bạn đồng hành. — Một người phụ nữ có chồng bỏ nhà đi. — Chuẩn bị thêm dự phòng khi lật thuyền. — Tôi xếp đồ. — Sự quái ác của những chiếc bàn chải đánh răng. — George và Harris xếp đồ. — Hành vi tồi tệ của Montmorency. — Chúng tôi đi ngủ.
Tiếp đó, chúng tôi thảo luận về chuyện lương thực. George bảo:
“Bắt đầu với bữa sáng trước đi.” (George vốn là người vô cùng thực tế.) “Cho bữa sáng, chúng ta sẽ cần một chiếc chảo rán” — (Harris bảo món đó khó tiêu; nhưng chúng tôi chỉ khuyên nó đừng có ngớ ngẩn như thế, và George lại tiếp tục) — “một ấm trà, một cái ấm đun nước và một bếp cồn.”
“Không dùng dầu nhé,” George ra dấu nhìn đầy ẩn ý; Harris và tôi liền đồng tình ngay.
Chúng tôi từng mang theo bếp dầu một lần, nhưng xin “chừa đến già”. Tuần đó chẳng khác nào sống trong một cửa hàng bán dầu. Nó rỉ ra khắp nơi. Tôi chưa bao giờ thấy cái thứ gì rỉ khiếp như dầu hỏa. Chúng tôi để bình dầu ở mũi thuyền, thế mà nó rỉ dần xuống tận bánh lái, thấm đẫm toàn bộ chiếc thuyền cùng mọi thứ bên trong; nó rỉ cả ra sông, ngấm vào cảnh vật xung quanh và làm hỏng bét cả bầu không khí. Lúc thì ngọn gió tây hăng hăng mùi dầu thổi tới, lúc lại là gió đông nồng nặc mùi dầu, rồi gió bắc, gió nam cũng ngập tràn thứ hương ấy; bất kể luồng gió đến từ vùng tuyết trắng Bắc Cực hay nổi lên từ sa mạc mênh mông, nó đêu mang theo thứ hương thơm đặc trưng của dầu hỏa dội vào mặt chúng tôi.
Chưa hết, thứ dầu ấy còn rỉ lên làm hỏng cả cảnh hoàng hôn; còn ánh trăng thì thực sự xộc lên nồng nặc mùi dầu hỏa.
Đến Marlow, chúng tôi tìm cách chạy trốn khỏi nó. Chúng tôi bỏ thuyền lại bên cầu, đi dạo quanh thị trấn để thoát khỏi cái mùi ấy, nhưng nó vẫn bám theo. Cả thị trấn ngập trong dầu. Chúng tôi đi qua nghĩa địa, cảm tưởng như người ta được an táng trong dầu vậy. Con phố chính bốc mùi dầu nồng nặc; chúng tôi không hiểu sao người ta có thể sống nổi ở đó. Chúng tôi đi bộ hàng dặm về phía Birmingham; nhưng chẳng ăn thua gì, cả vùng nông thôn đều bị dầm trong dầu.
Cuối chuyến đi đó, chúng tôi hẹn nhau lúc nửa đêm trên một đồng cỏ hẻo lánh, dưới gốc cây sồi bị sét đánh, và tuyên thệ một lời thề kinh hoàng (cả tuần qua chúng tôi đã chửi rủa cái thứ dầu đó theo kiểu thông thường của giới bình dân, nhưng lần này là một nghi thức rất trang trọng) — một lời thề độc rằng sẽ không bao giờ mang dầu hỏa lên thuyền nữa, trừ trường hợp ốm đau bệnh tật.
Vì thế, lần này chúng tôi chỉ dùng bếp cồn. Dù cồn cũng chẳng dễ chịu gì. Bánh quy hay bánh ngọt ngấm mùi cồn đều rất tệ. Tuy nhiên, nếu nạp vào cơ thể với số lượng lớn thì cồn vẫn lành hơn dầu hỏa nhiều.
Về các món ăn sáng khác, George đề xuất trứng rán thịt muối vì dễ nấu, cùng thịt nguội, trà, bánh mì phết bơ và mứt. Bữa trưa, cậu ấy bảo có thể ăn bánh quy, thịt nguội, bánh mì phết bơ và mứt — nhưng tuyệt đối không có pho mát.
Pho mát, cũng giống như dầu hỏa, rất hay “làm mình làm mẩy”. Nó muốn chiếm trọn cả chiếc thuyền cho riêng mình. Nó thấm qua giỏ đựng đồ ăn và ám mùi pho mát vào mọi thứ xung quanh. Bạn sẽ chẳng thể phân biệt nổi mình đang ăn bánh táo, xúc xích Đức hay dâu tây dầm kem nữa. Tất cả đều biến thành mùi pho mát. Thứ đó bốc mùi quá nồng.
Tôi còn nhớ một anh bạn tôi từng mua hai tảng pho mát ở Liverpool. Đó là những tảng pho mát tuyệt hảo, chín tới và mềm ngậy, với thứ mùi hương mạnh mẽ tương đương động cơ hai trăm mã lực, đảm bảo tỏa xa tới ba dặm và có thể làm một người gục ngã ở khoảng cách hai trăm thước. Lúc đó tôi đang ở Liverpool, anh bạn bảo nếu tôi không phiền thì nhờ tôi mang hộ về London, vì vài ngày nữa anh ấy mới lên, mà pho mát thì không nên để lâu thêm.
“Ôi, rất sẵn lòng, anh bạn ạ,” tôi đáp, “rất sẵn lòng.”
Tôi đến lấy pho mát rồi chở đi bằng xe ngựa xập xè. Đó là một chiếc xe rệu rã do một con ngựa mộng du vừa khập khễnh vừa đứt hơi kéo đi — mà chủ nó, trong một phút ngẫu hứng khi trò chuyện, đã gọi nó là một con ngựa. Tôi đặt hai tảng pho mát lên mui xe, rồi chúng tôi bắt đầu cất bước với tốc độ chậm chạp đến mức ngay cả chiếc xe lu nhanh nhất từng chế tạo cũng phải tự hào, mọi chuyện diễn ra êm đềm như tiếng chuông đám tang cho tới khi chúng tôi rẽ ở góc đường. Tại đó, một cơn gió lùa mùi pho mát xộc thẳng vào mũi chú chiến mã. Nó bừng tỉnh, khịt mũi sợ hãi rồi lao đi với tốc độ phi thường... ba dặm một giờ. Gió vẫn thổi về phía nó, và trước khi đi hết con phố, nó đã vắt chân lên cổ chạy với tốc độ gần bốn dặm một giờ, bỏ xa những người tàn tật và các bà lão béo ục ịch phía sau.
Phải mất hai người khuân vác cùng bác tài xế mới giữ nổi con ngựa lại khi tới ga tàu; và tôi nghĩ ngay cả lúc đó họ cũng chẳng giữ nổi nếu không có một người nhanh trí lấy khăn tay bịt mũi nó lại rồi đốt một mẩu giấy bản.
Tôi mua vé rồi tự hào sải bước dọc sân ga với hai tảng pho mát, người ta dạt sang hai bên nhường đường đầy kính cẩn. Tàu đông nghịt, tôi đành phải chen vào một khoang đã có sẵn bảy người. Một ông lão cằn cỗi lên tiếng phản đối, nhưng tôi mặc kệ cứ bước vào; tôi đặt hai tảng pho mát lên giá để đồ, chen xuống ngồi với một nụ cười rạng rỡ và bảo hôm nay trời oi bức thật.
Vài phút trôi qua, ông lão bắt đầu bồn chồn.
“Trong này ngột ngạt quá,” ông ta nói.
“Thật là ngột ngạt đến khó thở,” người ngồi bên cạnh phụ họa.

Thế rồi cả hai bắt đầu hít hà, đến lần hít thứ ba thì thứ mùi ấy xộc thẳng vào ngực, họ chẳng buồn nói thêm câu nào, đứng phắt dậy đi ra ngoài. Ngay sau đó, một bà béo đứng dậy bảo thật là vô liêm xỉ khi để một phụ nữ có gia đình đàng hoàng bị hành hạ thế này, rồi bà ta gom một cái túi cùng tám gói đồ bước đi. Bốn hành khách còn lại ngồi ráng thêm một lúc, cho đến khi một người nam giới có vẻ mặt đăm chiêu ngồi ở góc phòng — dựa vào trang phục và diện mạo thì có vẻ làm nghề dịch vụ tang lễ — lên tiếng bảo cái mùi này làm ông ta nhớ đến một đứa trẻ sơ sinh đã chết; thế là ba hành khách kia tranh nhau lao ra cửa cùng một lúc và làm thương lẫn nhau.
Tôi mỉm cười với vị khách mặc đồ đen và bảo có vẻ như chúng ta sắp có riêng một khoang tàu rồi; ông ta bật cười vui vẻ, bảo vài người cứ hay làm quá lên vì mấy chuyện vặt vãnh. Nhưng ngay cả ông ta cũng trở nên ủ rũ một cách kỳ lạ sau khi tàu chuyển bánh, vì thế khi đến Crewe, tôi rủ ông ta đi uống một ly. Ông ta đồng ý, chúng tôi chen chân vào quầy giải khát, nơi chúng tôi phải gào lên, dậm chân và vẫy ô suốt một tư tiếng đồng hồ; sau đó một cô gái trẻ mới bước ra hỏi chúng tôi dùng gì.
“Anh dùng gì?” Tôi quay sang hỏi người bạn mới.
“Cho tôi nửa curao rượu brandy nguyên chất, cô em nhé,” ông ta đáp.
Uống xong, ông ta lặng lẽ đi mất và leo sang một khoang khác, tôi thấy hành động đó thật chơi không đẹp.
Từ Crewe trở đi, tôi sở hữu riêng một khoang tàu dù chuyến tàu đông nghịt. Mỗi khi dừng ở các ga, thấy khoang của tôi trống trải, người ta lại lao tới. “Maria này, lại đây, còn nhiều chỗ lắm!” “Được rồi Tom, chúng ta vào đây đi!” họ hò reo. Họ tay xách nách mang những chiếc túi nặng trịch, chen đấn quanh cửa để vào trước. Rồi một người mở cửa bước lên bậc thang, để rồi choạng vạng ngã ngửa vào lòng người phía sau; họ cùng tiến lại hít hít một cái, rồi ủ rũ bỏ đi chen vào các khoang khác, hoặc trả thêm tiền để lên khoang hạng nhất.
Từ ga Euston, tôi mang hai tảng pho mát đến nhà bạn tôi. Khi vợ anh ấy bước vào phòng, chị ta ngửi quanh một hồi rồi nói:
“Cái gì thế này? Hãy nói cho tôi biết điều tồi tệ nhất đi.”
Tôi đáp:
“Pho mát đấy chị. Anh Tom mua ở Liverpool rồi nhờ tôi mang về.”
Tôi nói thêm rằng mong chị hiểu chuyện này không liên quan gì đến tôi; chị ấy bảo chị tin như vậy, nhưng chị sẽ nói chuyện với Tom khi anh ấy về.
Bạn tôi bị giữ lại Liverpool lâu hơn dự kiến; ba ngày sau, thấy anh ấy vẫn chưa về, chị vợ đến gặp tôi. Chị hỏi:
“Tom có dặn gì về mấy tảng pho mát đó không?”
Tôi trả lời rằng anh ấy dặn phải để chúng ở nơi ẩm ướt và không ai được chạm vào.
Chị ấy bảo:
“Chẳng ai thèm chạm vào đâu. Anh ấy đã ngửi thử chúng chưa?”
Tôi bảo chắc là rồi, và nói thêm rằng có vẻ anh ấy rất quý hai tảng pho mát đó.
“Anh có nghĩ anh ấy sẽ giận không,” chị hỏi, “nếu tôi cho ai đó một đồng ghim-nê để họ mang chúng đi chôn?”
Tôi trả lời rằng tôi e là anh ấy sẽ chẳng bao giờ nở nụ cười được nữa.
Một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu chị. Chị nói:
“Anh giữ giùm anh ấy được không? Để tôi cho người mang sang cho anh nhé.”
“Thưa chị,” tôi đáp, “bản thân tôi thì rất thích mùi pho mát, và chuyến đi vừa qua từ Liverpool cùng chúng tôi sẽ luôn coi là một đoạn kết tuyệt vời cho một kỳ nghỉ dễ chịu. Nhưng trên đời này, chúng ta phải biết nghĩ cho người khác. Bà chủ nhà nơi tôi có vinh dự được trọ là một góa phụ, và theo tôi biết thì có lẽ bà ấy cũng là một đứa trẻ mồ côi nữa. Bà ấy rất ác cảm — phải nói là phản đối gay gắt — với việc mà bà gọi là ‘bị lợi dụng’. Sự xuất hiện của mấy tảng pho mát của chồng chị trong nhà bà ấy, theo bản năng tôi cảm nhận, sẽ bị coi là một hành vi ‘lợi dụng’; và tôi sẽ không bao giờ để người ta nói rằng mình đi lợi dụng một góa phụ mồ côi.”
“Được rồi,” vợ bạn tôi đứng dậy nói, “tôi chỉ muốn nói là tôi sẽ dắt mấy đứa trẻ ra khách sạn ở cho đến khi mấy tảng pho mát đó được ăn hết. Tôi từ chối sống chung một mái nhà với chúng.”
Chị ấy giữ lời, bỏ lại nhà cửa cho người chị giúp việc theo giờ trông nom. Khi được hỏi có chịu nổi cái mùi đó không, người chị giúp việc đáp: “Mùi gì cơ?” Đến khi được dẫn lại gần hai tảng pho mát và bảo ngửi thật mạnh, chị ta mới bảo phát hiện ra một mùi dưa hấu thoang thoảng. Người ta kết luận rằng bầu không khí đó chẳng làm hại gì đến chị ta, thế là chị ta được để lại trông nhà.
Hóa đơn khách sạn lên tới mười lăm đồng ghim-nê; sau khi tính toán lại mọi thứ, bạn tôi thấy hai tảng pho mát đã tiêu tốn của anh tới tám shilling sáu pence một pound. Anh bảo anh cực kỳ thích ăn pho mát, nhưng cái giá này thì vượt quá khả năng; vậy nên anh quyết định tẩu tán chúng. Anh ném chúng xuống dòng kênh; nhưng rồi lại phải vớt lên vì những người đi thuyền chở hàng phàn nàn. Họ bảo cái mùi đó làm họ muốn ngất xỉu. Sau đó, vào một đêm tối trời, anh mang chúng đến để ở nhà táng của giáo khu. Nhưng viên điều tra án tử lại phát hiện ra và làm ầm ĩ lên.
Ông ta bảo đây là một âm mưu nhằm tước đoạt cần câu cơm của ông ta bằng cách làm cho các tử thi sống dậy.
Rốt cuộc, bạn tôi cũng tẩu tán được chúng bằng cách mang xuống một thị trấn ven biển và chôn trên bãi cát. Việc đó đã mang lại cho nơi này một danh tiếng lẫy lừng. Khách du lịch bảo họ chưa bao giờ thấy không khí ở đâu trong lành và bổ dưỡng đến thế, còn những người yếu phổi hay lao phổi thì lũ lượt kéo đến đó suốt nhiều năm sau.
Thế nên, dù rất thích pho mát, tôi vẫn phải thừa nhận George đã đúng khi từ chối mang theo món này.
“Chúng ta sẽ không cần dùng trà chiều đâu,” George nói (mặt Harris xị xuống khi nghe thấy câu này); “nhưng chúng ta sẽ có một bữa thật ra trò, thịnh soạn và no nê vào lúc bảy giờ — gộp chung cả ăn tối, trà chiều và ăn đêm.”
Harris nghe vậy thì vui vẻ trở lại. George đề xuất món bánh nhân thịt và nhân hoa quả, thịt nguội, cà chua, hoa quả và rau xanh. Về đồ uống, chúng tôi mang theo một thứ nước chế biến kỳ lạ dính nhếch nhác của Harris, thứ mà khi pha với nước thì gọi là nước chanh, cùng thật nhiều trà, và một chai rượu whisky, phòng trường hợp — như George nói — chúng tôi bị lật thuyền.
Tôi thấy George cứ nhai đi nhai lại cái chuyện lật thuyền. Có vẻ đó không phải là một tâm thế tốt cho chuyến đi.
Nhưng tôi mừng vì chúng tôi đã mang theo chai whisky đó.
Chúng tôi không mang bia hay rượu vang. Dùng mấy thứ đó khi đi thuyền trên sông là một sai lầm. Chúng làm bạn thấy buồn ngủ và nặng trịch người. Một ly vào buổi tối khi bạn dạo quanh thị trấn ngắm nghía các cô gái thì chẳng sao; nhưng đừng uống khi mặt trời đang chói chang trên đầu và bạn còn cả đống việc nặng nhọc phải làm.
Chúng tôi lập một danh sách những thứ cần mang theo, và đó là một danh sách khá dài trước khi chúng tôi chia tay đêm hôm đó. Ngày hôm sau, tức là thứ Sáu, chúng tôi gom mọi thứ lại và gặp nhau vào buổi tối để xếp đồ. Chúng tôi dùng một chiếc vali Gladstone lớn để đựng quần áo, cùng hai cái giỏ mây to để đựng lương thực và dụng cụ nấu nướng. Chúng tôi đẩy chiếc bàn sát vào cửa sổ, chất mọi thứ thành một đống giữa sàn nhà, rồi ngồi xung quanh nhìn đống đồ đạc.
Tôi bảo tôi sẽ xếp đồ.
Tôi khá tự hào về khả năng xếp đồ của mình. Xếp đồ là một trong vô số việc mà tôi cảm thấy mình thạo hơn bất kỳ ai khác trên đời. (Đôi khi chính tôi cũng ngạc nhiên khi thấy mình thạo nhiều lĩnh vực đến thế.) Tôi nhấn mạnh điều này với George và Harris, bảo họ tốt nhất nên để trọn vẹn công việc này cho tôi. Họ chấp thuận đề nghị đó một cách nhanh chóng đến mức có phần quái lạ. George châm một tẩu thuốc rồi leo lên chiếc ghế bành ngồi chễm chệ, còn Harris thì gác chân lên bàn và châm một điếu xì gà.
Đó khó có thể là điều tôi mong muốn. Ý tôi, dĩ nhiên, là tôi sẽ làm chỉ huy công việc, còn Harris và George sẽ lăng xăng dưới sự chỉ đạo của tôi, thỉnh thoảng tôi sẽ gạt họ ra và bảo: “Ôi, cái cậu này!” “Đưa đây tôi làm cho.” “Đấy thấy chưa, đơn giản thế thôi mà!” — coi như là dạy dỗ họ vậy. Việc họ đón nhận theo cái cách đó khiến tôi bực mình. Chẳng có gì làm tôi bực mình hơn việc nhìn người khác ngồi không trong khi mình đang đầu bù tóc rối làm việc.
Tôi từng sống chung với một kẻ từng làm tôi phát điên theo kiểu đó. Anh ta cứ nằm ươn ra trên ghế sofa và nhìn tôi làm việc suốt nhiều giờ liền, ánh mắt bám theo tôi khắp phòng dù tôi đi đâu. Anh ta bảo nhìn tôi tất bật ngược xuôi làm cho anh ta cảm thấy thật dễ chịu. Anh ta bảo việc đó khiến anh ta cảm thấy cuộc đời không phải là một giấc mộng hão huyền để ngồi ngáp ngắn ngáp dài, mà là một sứ mệnh cao cả, đầy trách nhiệm và công việc nặng nề. Anh ta bảo nhiều lúc tự hỏi không hiểu trước khi gặp tôi anh ta đã sống thế nào khi chẳng có ai để ngắm nhìn lúc họ làm việc.
Tôi thì không như thế. Tôi không thể ngồi yên nhìn người khác làm việc quần quật được. Tôi muốn đứng dậy giám sát, chống tay vào túi quần đi qua đi lại và bảo họ phải làm gì. Đó là bản tính năng nổ của tôi. Tôi chẳng thể làm khác được.
Tuy nhiên, tôi không nói gì mà bắt tay vào xếp đồ. Công việc có vẻ kéo dài hơn tôi tưởng; nhưng cuối cùng tôi cũng xếp xong chiếc vali, ngồi lên nó rồi thắt dây đai lại.
“Cậu không cho giày vào à?” Harris hỏi.
Tôi nhìn quanh và phát hiện ra mình đã quên chúng. Đúng là cái kiểu của Harris. Dĩ nhiên là cậu ta chẳng đời nào chịu nói một lời cho đến khi tôi thắt chặt dây đai chiếc vali xong xuôi. Và George bật cười — một trong những tiếng cười ngớ ngẩn, kích động, ngu ngốc và chướng tai của cậu ta. Những tiếng cười đó luôn làm tôi nổi điên.
Tôi mở chiếc vali ra và nhét đôi giày vào; rồi đúng lúc chuẩn bị khóa lại, một ý nghĩ kinh hoàng chợt xuất hiện trong đầu. Tôi đã xếp bàn chải đánh răng vào chưa nhỉ? Tôi không hiểu sao nữa, nhưng tôi chưa bao giờ nhớ nổi mình đã xếp bàn chải đánh răng vào hay chưa.
Chiếc bàn chải đánh răng là thứ luôn ám ảnh tôi mỗi khi đi xa, làm cho cuộc sống của tôi trở nên khổ sở. Tôi mơ thấy mình chưa xếp nó vào, bừng tỉnh giữa đêm với mồ hôi đầm đìa, rồi chui ra khỏi giường đi tìm nó. Đến sáng, tôi lại xếp nó vào trước khi kịp dùng, rồi lại phải dỡ vali ra để lấy nó, và nó luôn là thứ cuối cùng tôi lôi ra khỏi vali; sau đó tôi xếp đồ lại rồi lại quên mất nó, để rồi đến phút cuối cùng phải lao vội lên tầng lấy nó rồi bọc trong chiếc khăn tay mang ra ga tàu.

Dĩ nhiên là lúc này tôi phải lôi bằng sạch mọi thứ ra ngoài, và dĩ nhiên là tôi không thể tìm thấy nó. Tôi bới tung mọi thứ lên thành một đống hỗn loạn chẳng khác nào vũ trụ trước thời khai thiên lập địa, khi sự hỗn mang còn trị vì. Tất nhiên tôi tìm thấy bàn chải của George và Harris tới mười tám lần, nhưng lại không thấy của mình đâu. Tôi nhét từng thứ một trở lại, cầm từng món lên lắc lắc. Cuối cùng, tôi tìm thấy nó nằm gọn bên trong một chiếc giày. Thế là tôi lại phải xếp đồ lại từ đầu.
Khi tôi làm xong, George hỏi xem đã bỏ xà phòng vào chưa. Tôi bảo tôi đéo thèm quan tâm xà phòng có bên trong hay không nữa; tôi sập mạnh chiếc vali lại rồi thắt dây đai, để rồi phát hiện ra mình đã lỡ xếp cả túi đựng thuốc lá vào đó và phải mở ra lần nữa. Cuối cùng chiếc vali cũng được đóng lại vào lúc 10 giờ 05 phút tối, và giờ đến lượt hai cái giỏ mây. Harris bảo chưa đầy mười hai tiếng nữa chúng tôi đã phải xuất phát rồi, nên cậu ấy nghĩ cậu ấy và George nên làm nốt phần còn lại; tôi đồng ý rồi ngồi xuống, để mặc họ ra tay.
Họ bắt đầu với một tâm trạng rất hăng hái, rõ ràng là muốn tỏ ra cho tôi thấy phải xếp đồ như thế nào. Tôi không bình luận gì; tôi chỉ lặng lẽ chờ đợi. Nếu George bị treo cổ, Harris sẽ là kẻ xếp đồ tồi tệ nhất trên thế giới này; và khi nhìn vào những đống đĩa, cúp, ấm đun nước, chai lọ, hũ hũ, bánh quy, bếp, bánh ngọt, cà chua v.v., tôi cảm thấy kịch hay sắp sửa bắt đầu rồi.
Quả đúng như vậy. Họ bắt đầu bằng việc làm vỡ một chiếc tách. Đó là việc đầu tiên họ làm. Họ làm vậy chỉ để cho bạn thấy họ có thể làm được gì, và để khiến bạn chú ý theo dõi.
Tiếp đó, Harris xếp hũ mứt dâu tây lên trên một quả cà chua và làm nó đè bẹp dí, thế là họ phải dùng thìa cà phê để múc quả cà chua ra.
Rồi đến lượt George, cậu ta dẫm phải miếng bơ. Tôi chẳng nói một lời, chỉ tiến lại ngồi lên cạnh bàn và lặng lẽ quan sát họ. Điều đó làm họ bực mình hơn bất kỳ lời nói nào của tôi. Tôi cảm nhận được điều đó. Nó khiến họ trở nên cuống cuồng và kích động, họ dẫm lên hết thứ này đến thứ khác, nhét đồ đạc đằng sau lưng rồi đến khi cần lại chẳng tìm thấy đâu; họ xếp bánh quy xuống tận đáy rồi đè những đồ nặng lên trên, làm bánh quy nát vụn ra.
Họ làm đổ muối lên khắp mọi thứ, còn về phần miếng bơ! Trong suốt cuộc đời mình, tôi chưa từng thấy hai người đàn ông nào làm trò với miếng bơ giá một shilling hai pence nhiều như họ. Sau khi George gạt được nó ra khỏi chiếc dép đi trong nhà, họ tìm cách nhét nó vào cái ấm đun nước. Miếng bơ không chui vào nổi, mà cái phần đã chui vào rồi thì lại chẳng chịu chui ra. Cuối cùng họ cũng nạo được nó ra, đặt xuống một chiếc ghế, thế rồi Harris lại ngồi chèn lên nó, miếng bơ dính chặt vào quần cậu ta, và họ đi tìm nó khắp cả phòng.
“Tớ xin thề là tớ đã đặt nó trên chiếc ghế đó mà,” George chắp tay thề thốt, mắt chằm chằm nhìn vào mặt ghế trống không.
“Chính mắt tớ thấy cậu đặt xuống đó chưa đầy một phút trước,” Harris nói.
Thế là họ lại bắt đầu đi quanh phòng để tìm nó; rồi họ lại gặp nhau ở giữa phòng và giố mắt nhìn nhau.
“Thật là chuyện kỳ quặc nhất tớ từng nghe đấy,” George nói.
“Bí ẩn thật!” Harris cảm thán.
Thế rồi George đi vòng ra sau lưng Harris và nhìn thấy nó.
“Kìa, nó nằm ngay đây suốt từ nãy đến giờ,” cậu ta bất bình kêu lên.
“Ở đâu cơ?” Harris quay mòng mòng gào lên.
“Đứng yên xem nào!” George gầm lên, đuổi theo cậu ta.
Và họ gạt miếng bơ ra rồi nhét gọn vào trong ấm trà.
Montmorency dĩ nhiên là không thể vắng mặt trong tất cả những trò này. Khát vọng sống của Montmorency là ngáng đường người khác và ăn chửi. Nếu nó có thể luồn lách vào bất kỳ đâu mà nó đặc biệt không được nghênh đón, trở thành một mối phiền phức hoàn hảo, làm cho người ta điên tiết lên và hứng chịu đống đồ đạc ném vào đầu, thì nó mới cảm thấy một ngày của mình không bị lãng phí.
Mục tiêu và tham vọng cao nhất của nó là làm cho ai đó vấp phải nó rồi chửi rủa nó liên tục suốt một giờ đồng hồ; và khi đã đạt được điều đó, sự tự mãn của nó trở nên không thể nào chịu nổi.
Đúng lúc người ta cần xếp cái gì, nó lại đến ngồi chễm chệ lên món đồ đó; nó luôn đinh ninh một niềm tin cố hữu rằng bất cứ khi nào Harris hay George đưa tay ra lấy thứ gì, thứ họ muốn nắm lấy chính là cái mũi lạnh và ẩm ướt của nó. Nó thò chân vào hũ mứt, nó quấy phá những chiếc thìa cà phê, và nó vờ như những quả chanh là lũ chuột rồi chui vào trong giỏ mây tiêu diệt mất ba quả trước khi Harris kịp giáng cho nó một chảo rán.
Harris bảo tôi dung dưỡng nó. Tôi đâu có dung dưỡng nó. Một con chó như thế thì cần gì phải dung dưỡng. Chính cái bản tính tội lỗi nguyên thủy bẩm sinh trong người nó đã khiến nó làm những trò như thế.
Việc xếp đồ hoàn tất lúc 12 giờ 50 phút; Harris ngồi lên chiếc giỏ mây lớn và bảo hy vọng sẽ không có cái gì bị vỡ. George bảo nếu cái gì vỡ thì nó đã vỡ rồi, một suy nghĩ có vẻ làm cậu ta thấy nhẹ lòng. Cậu ấy cũng bảo đã sẵn sàng đi ngủ. Tất cả chúng tôi đều đã sẵn sàng đi ngủ. Đêm đó Harris sẽ ngủ lại cùng chúng tôi, và chúng tôi đi lên tầng.
Chúng tôi tung đồng xu để chọn giường, và Harris phải ngủ chung với tôi. Cậu ấy hỏi:
“Cậu thích nằm phía trong hay phía ngoài, J.?”
Tôi bảo tôi thường thích nằm phía trong giường hơn.
Harris bảo câu đó xưa như trái đất rồi.
George hỏi:
“Mấy giờ thì tớ gọi các cậu dậy đây?”
Harris bảo:
“Bảy giờ.”
Tôi bảo:
“Không — sáu giờ chứ,” vì tôi muốn viết vài lá thư.
Harris và tôi cãi nhau một hồi về chuyện đó, nhưng cuối cùng thỏa hiệp ở mức sáu giờ rưỡi.
“Gọi chúng tớ lúc 6 giờ 30 nhé, George,” chúng tôi nói.

George không trả lời, và khi tiến lại gần, chúng tôi thấy cậu ấy đã ngủ say từ lúc nào; thế là chúng tôi đặt chậu tắm vào nơi mà cậu ấy chắc chắn sẽ lộn cổ vào khi bước ra khỏi giường vào sáng hôm sau, rồi bản thân chúng tôi cũng đi ngủ.