Nankai Sengyo[1]
Nam Hải tiên sinh bản tính rất thích uống rượu, lại càng chuộng bàn chuyện chính trị. Hễ uống rượu vào thì chỉ cần một, hai bình là đã ngà ngà say, thần thái lâng lâng, cảm giác như phiêu du vào cõi hư vô, bất luận nhìn gì, nghe gì cũng thấy vui vẻ, chẳng mảy may nhớ đến trên thế gian này còn tồn tại thứ gọi là ưu phiền, đau khổ.
Uống tiếp hai, ba bình, tức thì cảm xúc dâng trào, luồng tư tưởng tuôn ra ào ạt, thân xác tuy ở trong một gian phòng nhỏ hẹp nhưng nhãn quan bao quát toàn thế giới, ngược dòng trở về ngàn năm trước, xuôi chèo bay tới ngàn năm sau chỉ trong tích tắc, chỉ ra con đường phát triển của thế giới, giáo huấn phương châm của xã hội với tư tưởng "Ta chính là chỉ nam xa[2] của đời sống xã hội nhân loại. Còn những người thiển cận về chính trị thế giới này, tay luôn phải nắm chặt chiếc la bàn, dò dẫm trong đêm tối, chèo chống con thuyền, có khi còn mắc phải đá ngầm, hay chẳng may kẹt vào chỗ nước nông, rước tai họa cho bản thân và cho người khác thì còn gì đáng thương hơn!"
Tuy tiên sinh thân thể ở thế giới thực tại nhưng tâm trí lúc nào cũng ngự trên núi Miếu Cô Dịch[3], ngao du làng Vô Hà Hữu[4] cho nên địa lý và lịch sử mà tiên sinh nhắc đến so với địa lý và lịch sử thế giới thực tại chỉ có sự tương đồng về mặt tên gọi, còn thực tế lại có nhiều phần sai khác. Vì lẽ đó, trong địa lý của tiên sinh có quốc gia lạnh giá, cũng có quốc gia ấm áp, có đại cường quốc cũng có nước nhược tiểu, có xã hội văn minh cũng có xã hội dã man, lạc hậu. Trong lịch sử của những vùng địa lý đó cũng có thời bình trị, có thời loạn lạc, có thời hưng thịnh, có thời suy vong.
Tuy nhiên những điều đó cũng không phải không có lúc trùng hợp với lịch sử, địa lý trong thế giới thực.
Tiếp tục thêm vài ba bình nữa, tai sẽ ong lên, mắt sẽ tối sầm, khua tay múa chân, niềm hưng phấn đã lên đến cực điểm, cuối cùng chệnh choạng té lăn kềnh, không biết trời đất gì nữa. Ngủ một giấc vài ba tiếng, khi cơn men đã hạ, tinh thần đã trở lại thì những điều đã nói, mọi việc từng làm trong khi say đều quên sạch, hoàn toàn thoát khỏi cơn ma mị.
Đôi lúc, bằng hữu hoặc một số vị nghe danh tiên sinh có ý muốn nghe những đàm luận lạ kỳ của ông khi say, họ thường mang chút ít thịt nhắm, vài ba bình rượu ghé thăm tư gia của tiên sinh rồi cùng nâng chén, dò xét tình hình, đến khi đã thấy ông khoảng bảy, tám phần say thì cố tình nhắc đến chuyện quốc gia đại sự, dẫn dụ lời bàn từ tiên sinh và xem đó như một thú vui nhất thời. Bản thân tiên sinh cũng ít nhiều ngờ ngợ nhận ra sự tình ấy, thế nên ông nghĩ: "Ta gần đây hay đàm luận về các vấn đề quốc gia đại sự, nhân lúc chưa say bí tỉ ta phải ghi lại cẩn thận những điểm trọng yếu trong câu chuyện, ngày hôm sau lại lấy ra bổ sung, lược bớt để sau định thành một cuốn sách, khi ấy bản thân có thể tự vui với điều đó, hoặc cũng có thể mang lại niềm vui cho người khác. Đúng vậy! Đúng vậy!"
Dạo gần đây, mưa dai dẳng không ngớt, tâm trạng tiên sinh cũng ảm đạm, u sầu. Vừa khéo vào một ngày nọ, tiên sinh gọi rượu nhâm nhi một mình, giữa lúc tâm trạng đang sảng khoái, hưng phấn, tâm hồn sắp phiêu bạt vào cõi hư vô, tiên cảnh. Đúng lúc ấy, có hai vị khách mang chai rượu mạnh Hennessy tìm tới. Tiên sinh chưa từng gặp họ, cũng không rõ danh tính nhưng chỉ cần nhìn thấy chai rượu mạnh kia thì trong lòng đã vài ba phần lâng lâng, chếnh choáng.
Hai vị khách mới đến, một người từ trên xuống dưới, y phục giày dép đều mang phong thái Tây dương, mũi cao, mắt sáng, dáng người mảnh khảnh, động tác nhanh nhẹn, ngôn từ mạch lạc. Người này chắc chắn là một nhà triết học, sống trong tháp ngà tư tưởng, hít thở không khí lý nghĩa[5], tiến thẳng con đường luân lý, không chấp nhận đi trên con đường lồi lõm của hiện thực. Người còn lại dáng dấp cao lớn, bắp tay to mạnh, mặt mũi rám nắng, hốc mắt sâu, khoác Haori bằng vải dệt Kasuri, áo vạt sau ngắn hơn vạt trước[6], nhìn qua đã biết là một trang hảo hán, anh hùng hào kiệt trong xã hội, yêu chuộng công lao vĩ đại, thích mạo hiểm, xem tính mạng quý báu chỉ là thứ cỏn con, đề cao khoái lạc công danh.
Hai người ngồi xuống ghế, chào hỏi xong xuôi, chai rượu Tây được rót ra, chủ nhân và khách chuyền nhau ly rượu, tâm trạng cũng dần thoải mái hơn. Tiên sinh gọi một người là ngài Thân sĩ, người còn lại là vị Hào kiệt mà không hỏi đến danh tính của họ. Hai vị khách cũng không buồn giận, chỉ cười. Ngừng lại giây lát, vị Thân sĩ Tây học bất giác lên tiếng:
"Nghe đại danh của tiên sinh đã lâu. Học vấn của tiên sinh kết hợp Đông dương và Tây dương, tri thức của tiên sinh xuyên suốt từ cổ chí kim. Bản thân tôi cũng có cách nhìn hình thế trong thế giới theo suy nghĩ riêng của mình. Mong một lần được thụ giáo tiên sinh.
Ôi! Chế độ dân chủ! Chế độ dân chủ! Nền chính trị quân chủ chuyên chế ngu muội, không tự nhận thức được khuyết điểm của chính mình. Chế độ lập hiến thì đã nhìn ra khuyết điểm ấy nhưng chỉ sửa đổi được phân nửa. Chế độ dân chủ thì lỗi lạc hơn hẳn, bên trong hoàn toàn không tồn đọng những thứ dơ bẩn.
Các nước châu Âu dù hầu hết đã tường tận ba lẽ lớn là Tự do, Bình đẳng, Hữu ái nhưng nhiều nước vẫn không áp dụng chế độ dân chủ. Tại sao vậy? Đi ngược chuẩn mực đạo đức, làm trái các nguyên lý kinh tế, gây dựng quân đội thường trực với con số hàng trăm ngàn hàng triệu binh sĩ, đục khoét tài chính quốc gia, chỉ vì tranh đoạt thứ hư danh mà giết hại người dân vô tội, tại sao vậy?
Nhân sĩ của các quốc gia châu Âu vốn tự khoa trương mình là văn minh liệu có cảm thấy ngượng ngùng, hổ thẹn trước cảnh tượng một tiểu quốc kém cỏi trên con đường tiến tới văn minh lại hiên ngang đứng lên từ ven rìa châu Á, một bước nhảy vọt tới cảnh giới tự do, hữu ái, phá bỏ đồn lũy, nung chảy đại pháo, biến tàu chiến thành tàu buôn, trả quân lính trở lại làm thường dân, dốc lòng chuyên tâm học tập đạo đức, nghiên cứu kỹ thuật công nghiệp, trở thành đứa con thuần khiết của triết học. Giả như các quốc gia châu Âu ấy ngang ngạnh, không những không cảm thấy ngượng mà còn lợi dụng lúc ta buông bỏ vũ khí mà hung hăng tiến đến xâm lược, nhưng ta lại tay không tấc sắt, chẳng mang đạn pháo, còn đón tiếp theo đúng lễ nghĩa thì chúng sẽ làm gì đây? Vung kiếm chém gió thì dù kiếm có sắc bén thế nào, làn gió nhẹ tênh cũng chẳng bị làm sao. Chẳng phải chúng ta cũng nên trở thành những làn gió hay sao?
Khi một quốc gia nhược tiểu giao tranh với một đại cường quốc, chọn dùng vũ lực khi sức mình chưa bằng một phần vạn của đối thủ thì đó chẳng khác nào như lấy trứng chọi đá. Đối phương luôn tự cho mình là văn minh, điều đó đồng nghĩa với việc không lý nào họ lại không có tâm lý nghĩa, vì đó vốn là bản chất của văn minh. Vậy thì tại sao những tiểu quốc chúng ta lại không biến thứ lý nghĩa vô hình mà họ chỉ có thể ngưỡng mộ trong lòng chứ không thể thực hiện trong thực tế trở thành quân trang khí giới của chúng ta. Một khi chúng ta coi tự do là quân đội, hạm đội; biến bình đẳng thành đồn lũy; xem hữu ái là đao kiếm, là đại pháo thì khắp trong thiên hạ há còn thứ nào dám đối địch với ta nữa hay không?
Nếu không như thế, thì khi chúng ta chỉ chuyên dựa dẫm hoàn toàn vào đồn lũy vững chắc, dựa vào đao kiếm và đại pháo, dựa vào sức mạnh quân đội, họ cũng dựa vào đồn lũy vững chắc, vào đao kiếm và đại pháo, vào số lượng quân đội, khi đó chỉ đơn giản là bên nào có thành lũy kiên cố, có đao kiếm sắc bén hay nhiều đại pháo, có sức mạnh quân đội chiếm ưu thế thì nhất định sẽ giành phần thắng. Đó là thuật toán cực kỳ đơn giản, là đạo lý vô cùng rõ ràng. Tội gì phải chống lại đạo lý rõ ràng như vậy chứ? Như thế liệu họ có dám thực sự kéo quân đến chiếm cứ nước ta không? Đất đai trở thành vật sở hữu chung, họ lưu lại, ta cũng trú tại đó, như vậy liệu có mâu thuẫn không? Ngộ nhỡ họ thực sự chiếm đất đai của ta để canh tác, chiếm đoạt nhà ta để ở, lại đánh thuế nặng khiến dân ta lầm than. Nếu người nào giỏi nhẫn nhịn thì nhẫn nhịn chịu đựng, nếu người nào không nhẫn nhịn nổi thì tự mình phải nghĩ cách. Hôm nay ở nước A nên là người nước A, nhưng chẳng phải ngày mai ở nước B thì lại trở thành người nước B hay sao, khi nào chưa đến thời mạt kiếp[7], khi ngôi nhà địa cầu của nhân loại chúng ta còn tồn tại thì thế giới vạn quốc chẳng phải đều là ngôi nhà chung của tất cả chúng ta hay sao?
Ôi! Đối phương không có lễ nghĩa, chúng ta có lễ nghĩa. Đối phương làm trái đạo đức, chúng ta tuân thủ đạo đức. Cái mà họ gọi là văn minh chẳng qua chỉ là dã man, chính sự dã man của ta dưới con mắt họ mới là văn minh chân chính. Cho dù họ có giận dữ muốn dùng bạo lực mà chúng ta mỉm cười, giữ đạo nhân thì chúng có thể làm gì được cơ chứ. Plato, Mạnh Kha, Spencer[8], Maleblanche[9], Aristotle, Victor Hugo sẽ đánh giá chúng ta như thế nào? Nhân dân các nước trên thế giới nhìn vào sẽ đánh giá ra sao? Tình trạng trước trận đại hồng thủy Noah[10] như thế nào thì tôi không rõ, nhưng những chuyện xảy ra sau trận đại hồng thủy là điều chưa từng có tiền lệ từ xưa đến nay, quả thật là điều không tài nào hiểu nổi. Vậy thì tại sao chúng ta không tự tạo ra tiền lệ chứ[11]?"
Nghe những lời này, vị Hào kiệt hướng về phía ngài Thân sĩ Tây học rồi nói rằng: "Anh có bị điên không vậy? Điên! Điên quá! Một nam tử mình cao sáu thước tập trung quanh mình hàng ngàn vạn người, tạo dựng một đất nước mà một đao cũng không đáp trả, một phát súng cũng không phản pháo, ngồi yên mặc cho quân xâm lược cướp bóc, không dám phản kháng. Chẳng phải đó là một chuyện hết sức điên rồ sao? Tôi thì thật may là không điên. Tiên sinh đây cũng không điên. Những đồng bào khác cũng không bị điên. Sao có thể nói như anh..."
Nam Hải tiên sinh cười nói: "Kìa chàng Hào kiệt, cứ chờ đã. Chúng ta nên nghe hết lời của ngài Thân sĩ đã chứ."
Vị Hào kiệt nghe vậy cười, thưa:
"Vâng, vâng."
Ngài Thân sĩ tiếp tục nói: "Phàm những người tự nhận mình là chính trị gia, chúng ta đều có thể gọi họ là những tăng lữ phụng sự vị thần tiến hóa[12] về mặt chính trị. Nếu đúng như vậy, không những cần chú ý đến chuyện hiện tại mà còn phải lưu tâm đến cả chuyện tương lai. Tại sao vậy? Bởi vị thần tiến hóa chỉ yêu sự tiến, mà ghét sự lùi. Khi sự tiến đó may mắn đi trên con đường thẳng tắp, bằng phẳng, sạch đẹp thì quá tốt. Trái lại, dù trên đường đi có hòn đá chặn đứng bánh xe hay cây có gai mọc um tùm đến mức làm hỏng móng ngựa thì vị thần tiến hóa không những không hề chùn bước mà còn phấn khích hơn nữa, hất chân sút bay hòn đá, bình tĩnh giẫm lên bụi gai mà tiến bước. Dù có dẫn đến vô số vở kịch cách mạng đầy kịch tính, đám chúng dân ngu muội chém giết lẫn nhau, đường phố máu chảy thành sông thì vị thần này cũng đã dự đoán được kết quả và không chút nao núng tiến bước. Vì thế, chính trị gia - người tăng lữ dâng hiến thân mình cho vị thần này vốn phải sớm dọn dẹp sạch sẽ đá sỏi, nhổ hết bụi gai, thường xuyên nỗ lực để không kích thích uy nộ của vị thần. Đó là chức phận hiển nhiên của tăng lữ giáo phái tiến hóa. Đá sỏi là những gì? Là những chế độ chống lại lẽ bình đẳng. Gai nhọn là gì? Là những đạo luật đi ngược nghĩa tự do.
Vào thời vua Charles I của Vương quốc Anh (bị tử hình năm 1649) hay Vua Louis XVI của Pháp (bị tử hình năm 1793), nếu những người nắm chính quyền như Tể tướng [Thủ tướng], Đại thần [Bộ trưởng] có sự chuẩn bị, mở to đôi mắt, mở rộng tâm hồn, sớm nhìn thấu thời thế, suy đoán động thái của xã hội, dọn đường sẵn cho vị thần tiến hóa thì chắc hẳn đã không dẫn tới những mối họa loạn như vậy. Dĩ nhiên ở trường hợp của Anh, vì trước đó chưa từng có sự kiện nào tương tự làm tấm gương cảnh báo, hay nói cách khác suy cho cùng đó là sự kiện đầu tiên xảy ra nên cần được thông cảm, khi những người nắm giữ quyền bính không biết xây dựng đối sách từ trước để dẫn tới rơi vào cảnh bại trận tháo chạy. Nhưng còn nước Pháp, đã được chứng kiến tai họa tàn khốc vào một thế kỷ trước ở Anh, chỉ cách Pháp một eo biển hẹp, vẫn cứ điềm nhiên không tỉnh ngộ, dựa vào chính sách hấp tấp nhất thời, phí hoài tháng năm, lấp liếm hiện trạng, dù đã nhận thấy những triệu chứng của mầm họa loạn nhưng vẫn giấu bệnh, không chịu cậy nhờ danh y, hoặc vì do dự không quyết mà khiến nhân dân nảy sinh mối nghi ngờ hoặc do lời nói quá khích làm dấy lên nỗi phẫn nộ trong dân, kết quả là gây ra mối họa trước nay chưa từng có, máu nhuộm đỏ lan tràn khắp quê hương, cả đất nước trở thành lò giết mổ. Điều đó là do lỗi của thần tiến hóa hay là lỗi của đám tăng lữ?
Trước đó, vào thời vua Louis XV, hay trong năm đầu của vua Louis XVI, nếu các vị Tể tướng Đại thần đặt mình vào tương lai hàng chục, hàng trăm năm sau, đồng tâm hiệp lực xóa bỏ từng hủ tục cũ, thay vào đó là nghiêm túc thực thi các kế hoạch mới mẻ và tốt đẹp thì vào những năm cuối thời vua Louis XVI, chỉ cần tiến thêm một bước là đủ để tiến vào chế độ dân chủ bình đẳng. Vua Louis sẽ chậm rãi điềm nhiên tiến vào nghị viện, cởi bỏ vương miện, tháo kiếm, cúi chào đám nhân sĩ Robespierre[13], sắc mặt ôn hòa điềm tĩnh, mỉm cười nói: "Các khanh hãy cố gắng. Giờ đây ta cũng đã trở thành một thường dân và sẽ tận sức vì quốc gia." Sau đó dắt vợ con tìm một mảnh đất màu mỡ ở vùng quê xinh đẹp với phong cảnh sơn thủy hữu tình, mua một căn nhà với đầy đủ ruộng vườn, sống một đời nhàn nhã vui vẻ. Như thế, chắc là đã có thể để lại tiếng thơm cho hậu thế về hình ảnh một vị vua biết tiến thoái, thờ ơ với quyền lực.
Nói thêm một điều này nữa, nếu trước Pháp không có tấm gương là Anh thì cũng không thể chê trách đám Tể tướng Đại thần nặng nề như vậy, những nhận định của tôi không phải quá xấu xa và không thực tế, mà có phần cay nghiệt và hà khắc. Thế nhưng, dù đã có tấm gương rành rành như thế song lại không xem nó là tấm gương sáng, thế có nghĩa là chiếc xe đi trước đã lật gọng, chiếc sau cũng không lấy làm gương mà cứ thế đi tiếp. Có thể nói những vị Tể tướng, Đại thần của Pháp thời bấy giờ đã cố ý để lại hậu họa cho con cháu. Lại cũng có thể cho rằng họ là ác ma cản trở vị thần tiến hóa, là tội nhân gài bẫy vua Louis nước Pháp."
Thân sĩ Tây dương nhấp thêm một ly rồi lại nói:
"Trên đại lộ thành đô xe qua lại như nước chảy, ngựa tới lui như rồng quẩy nước; trong đám đông nam nữ, có nhân vật đầu đội mão cao, khoác trên mình y phục trang trọng, nhãn cầu không dao động, hùng hổ chen ngang mà đi. Người này phải chăng là ngài Tể tướng có tài năng kinh bang tế thế, ôm chí trị dân, phò tá thiên tử, chấp chính triều đình? Hay là bậc đại phú hào như Đào Chu công[14], thông minh cơ trí, khéo nắm bắt thời cơ, giỏi dự liệu thời thế, chuyên mua rẻ bán hời? Hay là một nhân vật thiên tài, văn chương mỹ miều, học vấn tinh thông đến mức chiêu dụng được Cervantes, Pascal làm bề tôi? Tất cả đều không phải.
Nhân vật này một loại vật thể đặc thù, được xưng hiệu là quý tộc; tổ tiên mấy đời từng cướp quân kỳ của địch, chặt đầu tướng địch có công lao nên được phong tước, ban đất, mũ áo lụa là, đời đời là danh môn cho đến tận ngày nay. Đã không có tài năng, cũng chẳng có học thức nhưng nhờ nắm tro tàn của tổ tiên, do mộ phần luôn tỏa ánh hào quang, mà họ nhận được phúc ấm, không làm bất cứ công việc gì, chỉ ngồi một chỗ nhưng lại được hưởng bổng lộc hậu hĩnh từ tổ tiên, uống rượu ngon ăn thịt mềm, sống những ngày nhàn nhã vô lo. Than ôi! Trong một nước nếu có vài chục hay vài trăm vật thể như thế thì dù có xây dựng chế độ lập hiến, hàng ngàn hàng trăm vạn sinh linh được hưởng quyền tự do, thế nhưng xét trên diện rộng thì sự bình đẳng vẫn còn vắng bóng, quyền tự do khi ấy cũng chỉ là hư danh không có thực chất. Vì sao lại nói như vậy? Người dân chúng ta từ sáng đến tối lao động cực nhọc, còn phải đem một phần trong số những thứ mình kiếm được để đóng thuế, đành là vậy nhưng số tiền thuế đó lại không chỉ là để nuôi sống đám quan lại thực thi công tác hành chính, hơn thế còn phải nuôi cả những vật thể không làm việc kia, kết quả cuối cùng vẫn không có tự do thực sự.
Vương công quý tộc có bộ não nặng hơn chúng ta hay sao? Hay vấn đề bài tiết dịch vị, phát triển huyết cầu của họ phong phú hơn chúng ta? Có nên chăng nhờ ngài Gall[15] kiểm tra bộ não đó của các vương công quý tộc, để xem thực sự bộ não đó có khác gì so với bộ não của chúng ta không? Dù có khác biệt thì sự khác biệt đó có lợi cho họ hay có lợi cho chúng ta? Tôi nghe nói loài người có đại não vô cùng phát triển, còn các loài động vật có tiểu não phát triển. Nếu đúng như thế thì... lúc họ chào đời lẽ nào đã mặc vải gấm, không giống chúng ta trần truồng lọt lòng hay sao? Lại thêm sau khi chết đi, xương thịt của họ cũng không thối rữa, không trở về với đất hay sao?... Giả như trong một triệu quốc dân thì có ba quý tộc, tức là 999.997 quốc dân phải vì ba vị quý tộc này mà chấp nhận chịu tổn hại mấy phần tôn quý của bản thân. Bài toán vô cùng đơn giản, nhưng đạo lý cực kỳ rõ ràng. Toàn bộ người dân chúng ta, cùng với đám quý tộc, tất cả đều giống nhau, là một khối thịt được cấu thành từ vài nguyên tố. Cùng là một khối thịt giống nhau nhưng khi gặp họ thì khối thịt chúng ta phải cúi đầu, khoanh tay, còn khối thịt kia lại đứng im như khúc gỗ, ngúc ngắc nhẹ cái đầu biểu thị sự đồng ý mà thôi. Khi trò chuyện, khối thịt chúng ta phải tôn kính gọi khối thịt kia là 'Sir' (có nghĩa là NGÀI, TIÊN SINH, CÁC HẠ). Hay tôn kính gọi là 'Mon Seigneur' (vẫn mang ý nghĩa là NGÀI). Vậy còn khối thịt kia gọi khối thịt chúng ta là gì? Điều đó chẳng phải hết sức là vô lý hay sao? Chẳng phải là sự sỉ nhục kinh khủng hay sao?
Chẳng biết là thời thượng cổ, hay thời cận cổ? Mấy ngàn năm trước hay mấy trăm năm trước? Cũng chẳng biết ngày nào, tháng nào, năm nào? Thời ấy cũng có bậc hiền giả, nhân giả. Họ tài giỏi, trí tuệ, anh dũng, bản lĩnh, vì thế, những người đó trở thành công, hầu, bá, tử, nam. Những người này đã là hiền giả, nhân giả; họ tài giỏi, trí tuệ, anh dũng, bản lĩnh, vì thế con của họ, cháu của họ, chắt của họ, chút của họ, chít của họ, thậm chí là cháu mười đời, cháu trăm đời, đều là hiền giả, nhân giả. Họ tài giỏi, trí tuệ, anh dũng, bản lĩnh, xuất chúng hơn người phàm; thì con cháu của họ cũng chắc chắn xuất chúng hơn người phàm. Điều này chính là nguyên lý di truyền, không phải suy đoán vô căn cứ. Do đó họ vốn đều là công, hầu, bá, tử, nam, đứng trên người phàm, thì con cháu của họ sau này đương nhiên cũng sẽ đứng trên người phàm. Điều này phù hợp với chế độ nguyên lý di truyền, không phải là một thủ đoạn bất chính. Anh chưa từng nghe qua học thuyết sinh vật di truyền từ đời này sang đời khác của Darwin và Haeckel[16] sao? Hồ đồ! Nực cười không thể tưởng!
Hàng ngàn, hàng triệu người chúng ta không phải công, không phải hầu, không phải bá, không phải tử, không phải nam. Anh có biết lý do là vì sao không? Tổ tiên của hàng ngàn, hàng triệu người chúng ta không phải là hiền giả, không phải nhân giả, mà là những kẻ vô năng. Vì lẽ đó tất cả đều không thể trở thành công, hầu, bá, tử, nam. Thế cho nên tất cả chúng ta cũng không phải là công, hầu, bá, tử, nam. Đây chính là nguyên lý di truyền. Hàng ngàn, hàng triệu người chúng ta mong muốn trở thành công, hầu, bá, tử, nam đến nhường nào nhưng vì nguyên lý di truyền nên chẳng còn cách nào cả... Hồ đồ! Nực cười không thể tưởng!
Tuy vậy, phàm trong nguyên lý của sự vật, luôn tồn tại lẽ thường lệ và ngoại lệ. Vì vậy dù cha hay ông, ông cố, hay tổ tiên 10 đời, 100 đời, 1000 đời hay ngàn vạn đời trước không hiền đức, không nhân từ, lại vô năng, vì thế không thể trở thành quý tộc thì con hay cháu, chắt, hay cháu 10 đời, 100 đời, 1000 đời hay ngàn vạn đời vẫn có không ít hiền giả, nhân giả hay tài năng. Cho nên cũng có không ít quý tộc mới. Nó được gọi là lẽ ngoại lệ. Với trình độ khoa học kỹ thuật ngày nay chưa thể giải thích được. Cho đến khi giải phẫu học, sinh lý học, động vật học, hóa học ngày càng phát triển tinh thông thì có thể những lẽ ngoại lệ này chắc chắn một ngày nào đó sẽ trở nên sáng tỏ. Vì vậy, nếu anh kiên quyết ca tụng đạo nghĩa bình đẳng tới cùng thì tốt nhất trước tiên anh hãy nghiên cứu nguyên lý của sự vật hiện tượng... Hồ đồ! Nực cười không thể tưởng!
Xăm hình cá Koi đỏ (Hồng lý) trên tay, vẽ hình con rồng xanh (Thanh long) trên lưng, cởi áo ra, ngồi xếp bằng theo kiểu Agura, gương mặt đắc ý. Đó là một tên tiểu dân thô kệch, lỗ mãng ở trong căn nhà rách nát. Mặc dù đã có tên đàng hoàng là Hachi hay Kuma vậy mà vẫn cảm thấy không hài lòng, khăng khăng muốn được gọi là 'Hachi Hồng lý', 'Kuma Thanh long' mới vừa ý. Tước vị công, hầu, chẳng phải cũng chính là những hình xăm vô hình sao?... Tôi đã hiểu ra rồi. Trên người tên tiểu dân đó là những hình xăm hữu hình, thế nên mới là thô kệch, lỗ mãng, mới ở trong ngôi nhà rách nát. Còn đằng này trên người là những hình xám vô hình, thế nên mới là văn minh, mở ở nơi phủ đệ dinh thự. Dù thế, khi đã có tên họ rõ ràng lại được gắn thêm tước vị lên trên giống như Hachi Hồng lý, Kuma Thanh long thì cũng có chút... Những người đó có công lao với đất nước ư? Họ đảm nhiệm chức vụ đó thì việc có công lao với đất nước chẳng phải cũng là chuyện đương nhiên hay sao? Chẳng phải bình sinh họ luôn nhận được bổng lộc rồi sao? Hay họ có công lao vĩ đại phi thường? Thế thì tại sao không tặng họ thật nhiều tiền, cho thật nhiều quà và khen ngợi hơn bình thường mà lại đi xăm những hình xăm hiện nay không thịnh hành, làm tổn hại thân thể trời ban như vậy?"
Nam Hải tiên sinh cũng uống một, hai ly rồi nói: "Lời của ngài Thân sĩ quả thật rất trác việt, nhưng có đôi phần lộn xộn, trước sau không được mạch lạc."
Vị Thân sĩ Tây dương đáp lời: "Tiên sinh là người cao minh[17] nên trong câu cú lủng củng của tôi chỗ nào nên lấy thì lấy, chỗ nào cần chỉ giáo thì xin tiên sinh hãy chỉ giáo. Nếu tôi trình bày theo phép logic thông thường thì sẽ phải nói từ những câu chuyện rất đỗi tầm thường, hủ lậu, e là những điều đó không đáng được tiên sinh lắng nghe."
Nam Hải tiên sinh xua tay: "Không, không. Xin ngài cứ theo trình tự logic thông thường để trình bày. Vì sắp tới đây ta muốn tập hợp nó lại thành một quyển sách nhỏ."
Thế là Thân sĩ Tây dương nói tiếp: "Xem xét hình thế của các nước châu Âu hiện nay, bốn nước Anh, Pháp, Đức, Nga là hùng mạnh nhất, thì văn học nghệ thuật xuất sắc, học thuật tinh thông, nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng, nguồn tài nguyên vật chất phong phú, trên đất liền đồn đóng mấy triệu binh đội hùng mạnh, trên biển nối dài mấy ngàn quân hạm kiên cố, thế long bàn hổ cứ[18], từ xưa đến nay chưa từng có sự hưng thịnh như thế. Đương nhiên, có vô số nguyên nhân tạo nên khí thế hùng mạnh, sản sinh ra sự giàu có đó nhưng chung quy lại chính là nhờ ý nghĩa to lớn của tự do là thứ hình thành nên nền tảng cho tòa công trình vĩ đại này.
Ví như nước Anh trở nên giàu mạnh cũng là nhờ vào sự nghiệp của các đấng quân vương vĩ đại thời xa xưa để lại, nhưng để sự giàu mạnh đó phất lên nhanh chóng, thỏa sức tung hoành đều là nhờ vào Đại Hiến chương nổi tiếng phát huy hiệu quả vào thời vua Charles Đệ nhất, làm dấy lên làn sóng tự do, phá tan rào cản của hủ tục.
Cả nước Pháp, vào thời vua Louis XIV ngay từ sớm tiếng tăm về uy phong quân đội đã vang xa, văn học nghệ thuật trở nên rực rỡ huy hoàng, thanh danh lẫy lừng một thời, thế nhưng đó chẳng qua chỉ là một bông hoa bị vi khuẩn bám đầy, sinh trưởng trong cái hố mang tên xã hội chuyên chế mà thôi. Thế lực hùng mạnh thực sự được xác lập phải nói là nhờ thành tựu vĩ đại của cách mạng năm 1789 mang lại.
Ngay cả nước Đức vào thế kỷ 18, Friedrich II Đại đế của Phổ nổi tiếng anh dũng thiện chiến, từ khi dựa vào vũ lực để phát dương uy danh khắp bốn phương đến nay, đã khiến đất nước dần trở nên hùng mạnh. Thế nhưng trước khi tinh thần của Cách mạng Pháp còn chưa thâm nhập vào, nước này cũng rơi vào tình trạng chia năm xẻ bảy, hoàn toàn giống như một bó củi đã bị đứt dây buộc. Cho đến khi Napoleon Đệ nhất nắm giữ trọng trách thống lãnh nước cộng hòa, phất lên ngọn cờ cách mạng, viễn chinh đến Vienna, Berlin thì dân chúng Đức mới lần đầu tiên được hít thở nguyên khí của tự do, uống được tinh chất của lòng hữu ái, theo đó hình thế hoàn toàn thay đổi, phong tục nhất loạt cải lương, hùng hùng hổ hổ đi đến sự hưng thịnh như ngày hôm nay.
Cho tới nước Nga thì lãnh thổ rộng lớn, quân đội đông đúc đương nhiên là đứng số một thế giới, nhưng xét về phương diện chế độ văn vật thì yếu hơn hẳn ba nước kia. Phải nói rằng đó đều là những hệ quả xấu do chế độ chuyên quyền áp bức để lại.
Mọi sự nghiệp trên đời đều giống như rượu vậy. Tự do thì tựa như men rượu. Rượu nho và bia, dù nguyên liệu có tốt đến thế nào nhưng nếu không có men thì tất cả xác nguyên liệu có lắng xuống đáy thùng để tạo độ cồn rồi cũng đến hỏng thôi. Mọi sự ở quốc gia chuyên chế đều là loại rượu không men đó. Tất cả đều là xác nguyên liệu dưới đáy thùng. Hãy thử nhìn nền văn học nghệ thuật của quốc gia chuyên chế mà xem. Thỉnh thoảng cũng có thứ có vẻ đáng xem nhưng nếu quan sát kỹ càng, thì trải qua một ngàn năm sau chúng vẫn như vậy, một vạn thứ cũng cùng chung một dạng, không hề thấy bóng dáng của sự đổi thay. Những hiện tượng tác động đến thị giác thính giác của tác giả, chẳng qua đều là xác nguyên liệu lắng dưới đáy thùng, tác giả đem tinh thần đã kết tủa đó để mô tả những hiện tượng ấy. Khi ấy việc không xuất hiện dáng dấp của sự đổi thay chẳng phải là đương nhiên sao?
Không chừng cũng có người cho rằng: Một đất nước giàu mạnh là nhờ có nguồn tài lực hùng hậu.
Tài lực hùng hậu là nhờ sự tinh xảo của học thuật. Vì sao vậy? Là bởi nếu đem thành tựu nghiên cứu của vật lý, hóa học, động vật học, thực vật học, toán học, ứng dụng vào thực tiễn sản xuất công nghiệp sẽ tiết kiệm được thời gian, giảm thiểu sức lực bỏ ra, hàng hóa sản xuất ra sẽ đạt sản lượng cao hơn, tinh xảo hơn, chất lượng vượt trội hơn hẳn so với những sản phẩm được làm thủ công. Điều này chính là nguyên nhân khiến đất nước trở nên giàu có. Khi một quốc gia trở nên giàu có, tiếp theo là sẽ xây dựng quân đội hùng mạnh, chế tạo chiến hạm kiên cố, bất cứ khi nào muốn cũng có thể lên đường xuất chinh, khai phá lãnh thổ, chiếm đoạt các vùng đất ở châu Á, châu Phi, thực hiện di dân, tìm kiếm thị trường, mua rẻ những sản vật ở vùng đất đó và bán giá cao những sản phẩm của quốc gia mình, thu được nguồn lợi vô hạn. Nếu nền công nghiệp ngày một thịnh vượng, con đường bán buôn trở nên rộng mở, đồng nghĩa với việc lục quân và hải quân cũng dần trở nên lớn mạnh, đó là xu thế tự nhiên, chứ không phải do chế độ tự do.
Ôi, đây đúng là biết một mà không biết hai. Phàm mọi sự nghiệp trên đời đều có mối liên hệ với nhau, dù nói chung chung thì đó là mối quan hệ nhân quả, thế nhưng nếu quan sát kỹ càng chúng ta sẽ thấy trong đó chắc chắn tồn tại một nguyên nhân thật sự. Cội rễ sự giàu có của đất nước giàu có là do học thuật tinh thông; học thuật tinh thông lại bắt nguồn từ sự giàu có của đất nước. Chẳng cần phải nói cũng thấy rõ ràng hai điều này có quan hệ nhân quả với nhau. Nhưng để có thể đạt tới trình độ tinh thông trong học thuật, suy cho cùng là do kết quả của sự khai hóa trí tuệ con người. Một khi trí tuệ được khai hóa thì con người không chỉ mở rộng nhãn quan trong học thuật mà còn mở rộng tầm nhìn về chế độ, ấy là lẽ tất nhiên. Chính vì vậy từ xưa tới nay, dù ở bất kỳ đất nước nào, một khi học thuật tiến bộ thì chắc chắn cũng chính là thời kỳ mọi người luận bàn về chính trị trở nên sôi nổi và phát triển. Bởi học thuật và luận bàn chính trị là cành, là lá, là hoa, là quả sinh ra từ cái gốc rễ chung là tri thức.
Một khi tri thức phát huy được tác dụng, việc bàn luận về chính trị cũng trở nên sôi nổi, chủ nghĩa tự do bỗng chốc trở thành đại mục đích của nhiều sự nghiệp; vì khi những người theo đuổi sự nghiệp học giả, nhà nghệ thuật hay nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, tất cả đều mong muốn không bị bó buộc, muốn thỏa sức phát triển tư tưởng của bản thân, triển khai ý chí của chính mình, niềm hy vọng đó ngày đêm đeo bám trong tâm trí, không thể từ bỏ. Khi đó, những người lãnh đạo đứng trên cao nếu có thể nhìn khắp thời thế, thấu suốt dân tình, vứt bỏ suy nghĩ thấp hèn tham lam quyền lực mê đắm quyền bính, đứng đầu trong hàng ngũ những nhà khai sáng cho nhân dân, gỡ bỏ rào cản hủ tục, thổi bầu không khí tự do lưu thông thấu suốt thì các cơ quan trong xã hội sẽ vận hành một cách thông suốt, những cặn bã già cỗi sẽ tự nhiên bị đào thải, tinh chất tươi mới sẽ được hấp thu một cách tự nhiên, các học giả sẽ ngày càng dốc hết tâm sức để tinh thông luận lý, nghệ thuật gia sẽ dần dà chú trọng đến việc làm khéo léo ý tưởng, những người trong nhiều lĩnh vực nông, công, thương, cũng ngày càng phấn đấu trong công việc, trên dưới cùng hưởng lợi, tạo ra thế cục đất nước giàu có, điều đó cũng trở thành xu thế tự nhiên. Vì vậy tôi nói những lập luận của người đó là biết một mà không biết hai.
Hơn nữa, xu thế của thế giới chỉ có tiến chứ không có lùi. Đây là quy luật tự nhiên của sự vật. Quy luật này từng được các học giả ở Hy Lạp cổ phát hiện ra từ rất sớm. Ví như Heraclitus[19] khi định băng qua dòng chảy, ông đặt trước một chân xuống nước, rồi bất giác cảm thán: 'Nước ta vừa giẫm lên đã nhanh chóng chảy về nơi xa.' Chính là do ông nhận ra quy luật này nên mới cảm thán như vậy. Nhưng thời đó, phương pháp thực nghiệm vẫn chưa được ứng dụng, học thuật còn non kém nên những phát ngôn như vậy dẫu sao cũng không tránh khỏi có phần thái quá.
Sau đó, vào thế kỷ 18, Diderot[20] hay Condorcet[21] người Pháp đã phát hiện ra rằng quy luật tiến bộ này không ngừng được phát huy tác dụng trong xã hội loài người. Cho đến khi Lamarck[22] người Pháp xuất hiện, ông chuyên nghiên cứu động thực vật học, và bắt đầu đưa ra học thuyết tất cả các loài động thực vật đều biến hóa qua các đời, không phải dừng lại vĩnh viễn ở một chủng loại nhất định. Sau đó, Goethe[23] của Đức, Geoffroy của Pháp [nhà sinh vật học, 1772-1844] đã tiến thêm một bước nữa, nghiên cứu phát triển học thuyết Lamarck theo chiều sâu. Đến Darwin người Anh đã dựa trên nền học vấn uyên bác và trác việt đó, lại thêm phương pháp khảo chứng thực nghiệm tỉ mỉ cẩn thận, đã tìm ra quy luật rằng mọi sinh vật đều tiến hóa theo thời gian từ một tổ tiên chung, đặc biệt ông phát hiện ra nguồn gốc của tổ tiên loài người chúng ta. Từ khi bí mật ấy được phơi bày, quy luật tiến hóa mà Lamarck và các học giả của phái này từng nhận ra, cho đến lúc này, thật sự mới được sáng tỏ trên thế giới. Như vậy, phàm là sự vật hiện tượng tồn tại trong vũ trụ: mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, sông, biển, núi, rừng, động thực vật, côn trùng, xã hội, nhân sự, chế độ, văn học nghệ thuật,... đều bị chi phối bởi quy luật tiến hóa này, phát triển tuân theo quy luật này, vĩnh viễn không dừng lại, là điều không có gì phải nghi ngờ nữa. Tôi xin nói cụ thể một chút về bước tiến bộ này.
Cái gọi là tiến hóa, vốn phản ánh quá trình đi từ hình thái không hoàn thiện đến hình thái hoàn thiện, từ trạng thái hỗn tạp đến trạng thái thuần nhất. Xét theo nghĩa rộng thì là ban đầu xấu xí sau trở nên tươi đẹp, trước là những thứ tệ hại sau trở thành những thứ tốt đẹp. Lấy các loài động vật làm ví dụ, ban sơ chúng chỉ được cấu tạo từ vài nguyên tố đơn giản kết nối lấy nhau, tạo thành một khối trơn nhẵn, chẳng có cơ quan tiêu hóa hay hệ hô hấp, chỉ co dãn nhịp nhàng, bề mặt cơ thể dùng để hấp thụ thức ăn, thải chất cặn bã qua không bào co bóp, nhờ đó duy trì sinh mạng. Nhờ sự kích thích của các nguyên tố bên ngoài và khả năng phát triển tổ chức tế bào bên trong cơ thể, thông qua sự kết hợp, tiếp xúc với nhau, dần dần hình thành nên phổi, dạ dày, rồi dẫn tới những sự tiến hóa mạnh mẽ hơn là những cơ quan diệu kỳ như não bộ, tủy sống, cơ quan mẫn cảm như dây thần kinh, mọi thứ dần trở nên vô cùng hoàn thiện. Đây chính là biểu hiện quy luật tiến hóa của động vật. Xã hội loài người cũng tương tự như vậy. Thuở ban sơ sống ở hang động trong rừng sâu, hái lượm để ăn, hứng nước để uống, trai gái quan hệ nhưng không có danh phận vợ chồng, về sau thì ghép cành, chất đá xây nhà dựng cửa, rồi săn bắt, canh tác, đàn ông lao động bên ngoài, phụ nữ lo toan trong nhà, sinh con, chăm cháu. Đây là biểu hiện quy luật tiến hóa của thế giới loài người.
Còn từ góc độ chính trị mà bàn thì ban đầu là kẻ mạnh áp chế kẻ yếu, người khôn lừa gạt kẻ khờ; uy hiếp, áp chế rồi trở thành chủ nhân; sợ hãi, khuất phục thì trở thành nô lệ, A ngã xuống thì B đứng lên, nhốn nháo ồn ào không thống nhất, đây là xã hội vô chế độ. Về sau, người người đều căm ghét, họ bắt đầu đứng lên tranh đấu, vì mong muốn được sống một cuộc sống bình an, thế là một người có tài có đức xuất hiện thu phục lòng người, trở thành vua chúa. Hoặc kẻ mạnh gian manh, đa mưu quỷ kế tìm cách cho dân chúng vào tròng, rồi tự lên làm vua chúa. Sau đó, ban hành pháp lệnh, nỗ lực tạm thời ổn định trật tự xã hội. Đây được gọi là chế độ Quân chủ chuyên chế, là bước đầu tiên của quy luật tiến hóa chính trị.
Trong chế độ này có sự gắn bó chặt chẽ không thể tách rời của hai bộ phận Quân - Thần, Quan - Dân, tạo thành một thứ công cụ vô hình, vì nó khác với thứ công cụ dựa vào sức mạnh cơ bắp, bạo lực hữu hình như quan hệ Chủ nhân - Nô lệ được trình bày ở trên, cho nên xét về điểm này chúng ta phải nói rằng nó là một bước tiến bộ. Cái gọi là công cụ vô hình là gì? Cái nghĩa quân thần chính là công cụ đó. Tức là nó không phải được tạo ra bởi cá nhân một người nào cả, mà là sản phẩm kết hợp của vài phần lòng từ ái và vài phần lòng biết ơn. Chính quân vương là người ban phát lòng từ ái xuống, nhân dân dâng hiến lòng biết ơn lên. Cho nên phân lượng lòng từ ái của bề trên và lòng biết ơn của kẻ dưới càng nhiều thì nghĩa quân thần sẽ càng nặng, mối liên kết trên dưới sẽ càng bền chắc. Ở Trung Quốc thì cách thức trị lý trong các triều đại Hạ, Thương, Chu cho tới Hán, Đường, đều đúng như thế.
Tuy nhiên, trong chế độ này lại có một mầm bệnh vô cùng nguy hiểm. Đó là gì? Đó là vì lòng biết ơn mà nhân dân dâng hiến cho quân vương, suy cho cùng chẳng qua là phản xạ của lòng từ ái mà quân vương ban xuống cho nhân dân, thế nên nếu lòng từ ái của quân vương giảm đi phần nào thì lòng biết ơn của chúng dân cũng sẽ giảm đi phần đó, và tốc độ của nó nhanh như tiếng vọng của âm thanh. Trong khi đó lòng từ ái của quân vương dù ít dù nhiều lại phụ thuộc vào tư chất cá nhân vị quân vương đó. Thế nên, quả là bất hạnh nếu vị quân vương thuộc kiểu người bẩm sinh hèn kém, dù quần thần có khéo léo khuyên can, ra sức phò tá thế nào cũng không mang lại hiệu quả gì, tức là nghĩa quân thần bị đứt đoạn, tạo ra họa loạn cho đất nước, có khi dẫn đến diệt vong. Những năm cuối thời Tam đại là Hạ, Thương, Chu hay Hán, Đường, chính là giai đoạn như vậy.
Hơn nữa, cứ cho là nhờ hồng phúc trời ban, quân vương đời đời đều mang thiên tư chí thiện chí mỹ, lòng từ ái ban phát xuống muôn dân mỗi ngày một nhiều, thì cứ theo cách thức phản xạ đó, liệu rằng muôn dân nối đời cũng sẽ dâng hiến lòng biết ơn ngày càng nhiều hơn, hàng ngàn hàng vạn năm vẫn giữ vững chuỗi ngày thái bình an lạc chăng? Khi ấy sẽ lại sinh ra một mầm bệnh còn đáng sợ hơn nhiều. Đó là gì vậy? Là việc người dân dựa vào làm lụng để duy trì cuộc sống, rồi chỉ cần trích một phần thu nhập của mình nộp cho quan phủ, xem thế là đã trút được nghĩa vụ đối với quốc gia mà bản thân đang phải gánh vác, chẳng còn phải quan tâm gì đến quốc gia nữa. Học giả thì chỉ nghĩ cách trau chuốt cho ngôn từ văn chương trở nên hoa lệ, nhà nghệ thuật thì chỉ tìm cách làm tinh xảo hơn những ngón nghề kỹ thuật, những người làm nông, công, thương nghiệp chỉ mưu tính làm cách nào để thu được về nhiều lợi nhuận, chẳng còn quan tâm những chuyện khác. Đến lúc đó thì chức năng và hoạt động của não bộ sẽ dần trở nên hạn hẹp và hao mòn, chỉ thu gọn trong thân hình năm trượng, chẳng khác gì một bị gạo. Tức là nói văn chương của học giả, kỹ nghệ của nhà nghệ thuật, sự nghiệp của nông, công, thương nghiệp rốt cuộc cũng như tôi nói hồi này, sẽ biến thành đống xác nguyên liệu chìm dưới đáy thùng, không có sinh khí, chẳng hề biến đổi, toàn bộ đất nước chỉ còn là một khối thịt nhẹ nhàng động đậy tại chỗ mà thôi.
Vả lại, tổ tiên của chúng ta lại cứ nối nhau đồng loạt phục tùng dưới sự cai trị của quân vương, phó thác trăm mối sự vụ cho quân vương, rồi chỉ biết tuân theo mệnh lệnh vua ban, hoàn toàn không có gì khác. Vì họ vô trí, không thể tự làm chủ cuộc sống mưu sinh của chính mình nên đã vứt đi quyền lợi vốn có của bản thân, mưu cầu sự yên ổn nhất thời, chờ đợi sau này tri thức của con cháu đời sau ngày càng tăng tiến và trong tương lai sẽ khôi phục quyền lợi tự chủ. Đương nhiên khi ấy giữa quân vương và nhân dân không hề có minh ước nào như thế, thế nhưng khi xét đến ý nghĩa sâu xa đằng sau thì chắc chắn tồn tại đạo lý đó. Nhưng, truyền thống cổ xưa tồn tại lâu đời, bậc quân chủ nắm giữ thứ quyền lực được tiếp nhận tạm thời từ tổ tiên chúng ta đó, rồi dù thế nào cũng không muốn trả lại cho chúng ta, và khư khư cho rằng 'quyền lực đó vốn thuộc về bản thân ta'. Thế nên tôi mới nói, chế độ chính trị chuyên chế là ngu muội vì không nhận ra sự trịch thượng của mình.
Hãy thử mở lại lịch sử của các nước trên thế giới, xem lại con đường phát triển chính trị trong mấy trăm ngàn năm kể từ buổi đầu lập quốc đến nay. Nếu nói đến chuyện thoát khỏi thời đại hỗn loạn không có kỷ cương, tiến bước đầu tiên vào cảnh giới của quy luật tiến hóa, ngoại trừ dân hoang dã châu Phi ra, tất cả các nước đều giống nhau. Có nghĩa là người dân của các nước châu Á từ sau khi bước vào cảnh giới này đến nay đã đình trệ, không còn thấy tiến triển gì nữa. Các nước châu Âu, nước sớm thì từ thế kỷ 17, nước trễ thì cũng từ thế kỷ 18, đã bước ra khỏi cảnh giới thứ nhất và tiến vào cảnh giới thứ hai. Đây là lý do giải thích cho sự khác biệt cấp độ giữa văn minh phương Đông và phương Tây.
Ồ! Quy luật tiến hóa! Quy luật tiến hóa! Không ngừng tiến về phía trước là bản chất của người. Người rượt đuổi theo đứa con của chính mình, rời khỏi sự hoang dã hỗn loạn, không có trật tự, tiến vào khe chật hẹp của Chuyên chế, ở đó nghỉ ngơi chốc lát, chờ thể lực phục hồi lại tiếp tục rượt đuổi lên ngọn đồi thênh thang của Lập hiến, mở rộng tầm nhìn, thả lỏng lồng ngực, tâm tình sảng khoái, lại tiếp tục dịch chuyển ánh mắt trông lên trên thì thấy cây xanh chạy dài tít tắp đến tận trời cao, mây giáng khắp trời, muôn thú và chim chóc cùng hòa tiếng với nhau. Cảnh sắc này không gì có thể bì được, là đỉnh cao của Chế độ dân chủ. Sự ưu việt của đỉnh cao này, tôi sẽ trình bày chi tiết dưới đây.
Than ôi! Quy luật tiến hóa! Quy luật tiến hóa! Trong thời đại hưng thịnh của Hy Lạp và La Mã, dường như chế độ tự do cũng đạt đến mức khá hoàn bị nhưng vì có vết nhơ "Chế độ nô lệ" nên ngươi chưa thể tỏa được ánh hào quang đó rực rỡ bốn phương. Đến thời cận đại, đất nước tôn kính và sùng bái ngươi nhất trên thực tế là nước Anh. Ngươi ưu ái chủng tộc Anglo Saxons, từ khi họ tiến vào đảo Anh, những nhân sĩ của đất nước này, cạnh tranh nhau theo đuổi lý tưởng, gióng trống kích động dũng khí, hăng hái phất cờ tự do, lớn tiếng hô hào, tiến lên phía trước, cho đến khi máu của Charles Đệ nhất đổ xuống trên pháp trường thì những con chữ vĩ đại của hiến chương rực rỡ đó đã tỏa ánh sáng cho đời.
Than ôi! Quy luật tiến hóa! Quy luật tiến hóa! Người vốn ôn hòa, cũng không phải loại thích giết người nhưng khi cảm xúc con người kích động, ngươi cũng chẳng thể làm được gì. Cảm xúc của con người là thích bám riết lấy những điều cũ kỹ, sợ hãi trước những điều mới, và khi sự ngoan cố trong cảm xúc của con người chặn đứng con đường phát triển, cho nên gặp phải những thứ đó, người cũng bất đắc dĩ phải đạp đổ để mà bước qua. Đương nhiên ta không trách cứ ngươi.
Cái gọi là cảnh giới thứ hai của quy luật tiến hóa là gì? Chính là chế độ Lập hiến."
Vị Thân sĩ Tây dương lại cạn một ly, nói với Nam Hải tiên sinh: "Bàn luận những vấn đề cũ kỹ tầm thường như thế này chắc hẳn đã làm tiên sinh chán ngán rồi."
Nam Hải tiên sinh bèn nói: "Không hề. Ở các nước châu Âu nghe được những điều này có lẽ sẽ cho đó là những bàn luận cũ kỹ tầm thường, nhưng với những nước châu Á thì vẫn cảm thấy những điều đó rất mới mẻ. Xin đừng gián đoạn mà hãy luận bàn đến hết."
Thế là, Thân sĩ Tây dương tiếp tục nói: "Dù ở chế độ lập hiến nhưng cũng giống với chế độ quân chủ chuyên chế, bậc quân trưởng hoặc xưng hiệu là đế hoặc xưng hiệu là vương, đời đời cha truyền con nối, nghiễm nhiên đứng trên muôn vạn dân chúng. Lại còn có những thân sĩ quý tộc, hoặc xưng là công, hoặc xưng là hầu, hoặc xưng là bá, hoặc xưng là tử, hoặc xưng là nam, đời đời nối nhau kế tục, họ ủng hộ và bảo vệ bậc quân chủ, điều này cũng không khác gì quốc gia chuyên chế. Nhưng ở quốc gia lập hiến, việc thiết lập chế độ năm bậc tước vị chẳng qua chỉ là thể hiện sự vinh hiển và ân sủng của cá nhân hoặc gia tộc đó được thụ hưởng; còn lợi ích mà họ được hưởng tương đương với tước vị đó, chỉ là sẽ được liệt vào danh sách nghị viên Thượng viện mà thôi. Đến như lãnh địa rộng lớn và tài sản kếch xù mà họ sở hữu là do hậu bối tự kinh doanh mà có được, cho nên nó chẳng khác gì việc những người thuộc tầng lớp nông, công, thương tự tích góp tiền bạc tạo dựng được khối tài sản khổng lồ. Khác với quý tộc của quốc gia chuyên chế, chỉ ngồi một chỗ, hút máu hút mỡ của ngàn vạn thứ dân, nhằm vỗ béo cho gia đình mình. Đây lại là lý do ưu việt hơn hẳn khi so sánh quốc gia lập hiến và quốc gia chuyên chế.
Hơn thế, sau khi thoát khỏi chế độ chuyên chế bước vào chế độ lập hiến, mỗi cá nhân trong xã hội mới bắt đầu có được nhân cách độc lập. Điều đó có nghĩa là gì? Quyền tham gia chính trị, quyền tư hữu tài sản, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp và công việc, quyền tự do tín ngưỡng, ngoài ra còn có nhũng quyền khác như quyền ngôn luận, quyền xuất bản, quyền kết xã [quyền thành lập hội, nhóm, tổ chức], tất cả những quyền lợi này đã là con người thì nhất định phải có, do đó phải sau khi có tất cả các quyền lợi thì con người mới bắt đầu có giá trị theo đúng nghĩa con người. Giả sử trong đó có một người có đầu không có tay, hoặc có tay nhưng lại không có chân, khi đó khó tránh được người khác sẽ gọi là người khuyết tật, các bộ phận trên cơ thể không đầy đủ. Khi không có những quyền lợi như trình bày ở trên, con người ta trở thành người bị khiếm khuyết về mặt tinh thần. Vì lý do đó, trong chế độ lập hiến, người dân bỏ phiếu cho người họ tín nhiệm, trở thành Đại nghị sĩ, đem đại quyền lập pháp ủy thác cho họ. Đây chính là nghị viện. Vì thế, nghị viện chính là nơi tập trung ý nguyện của toàn thể người dân trong nước. Tể tướng, Đại thần chẳng qua chỉ là thành phần lệ thuộc nghị viện, chia nhau gánh vác các sự vụ mà thôi. Cho nên, quyền lập pháp, tức nghị viện là người chủ, giúp người dân ủy thác sự vụ, còn Tể tướng, Đại thần chẳng qua chỉ là người làm công, nhận sự ủy thác này, xử lý sự vụ. Những người dân vốn đã có quyền bầu ra Đại nghị sĩ, giám sát các sự vụ chính trị thì chẳng cần phải nói, họ cũng có đầy đủ những quyền hạn trời ban khác.
Cứ theo những gì tôi trình bày từ nãy đến giờ để suy xét thì khoảng cách giữa cảnh giới thứ nhất trong quy luật tiến hóa chính trị tức là chế độ quân chủ chuyên chế và cảnh giới thứ hai tức là chế độ lập hiến chẳng phải là rất lớn sao? Ở quốc gia quân chủ chuyên chế thì thành phần được gọi là con người chỉ có vương công và quý tộc, còn hàng triệu sinh linh khác chẳng qua chỉ là những bị khiếm khuyết về tinh thần mà thôi. Người dân chúng ta dù làm việc vất vả, lao động cực nhọc để góp nhặt chút tài sản thế nhưng một khi ngân quỹ của đám quan gia [tức nhà nước] thiếu hụt hay khi cần những khoản chi phí ngoài dự liệu, họ sẽ tùy ý ban bố pháp lệnh trưng thu tô thuế, và thử xét xem việc sử dụng khoản thu đó có thực sự sẽ đem lại lợi ích cho chúng ta hay không thì ngay từ đầu đã hoàn toàn không nhận thấy điều đó. Đây chẳng khác nào trực tiếp cướp đoạt tài sản của chúng ta, thử hỏi đâu còn có quyền tư hữu nữa? Người dân chúng ta dù muốn được làm công việc theo ý mình nhưng cũng chịu sự gò bó của rất nhiều quy tắc khắt khe, không được tự do thoải mái.
Điều này chẳng khác nào trực tiếp trói buộc thân thể chúng ta vậy. Thế thì đâu còn có quyền làm việc nữa? Những quy định trong tôn giáo áp chế tâm hồn và trí óc của chúng ta, những chế tài về ngôn luận thì khóa môi và chẹn lưỡi của chúng ta, khi chúng ta muốn xuất bản thì khống chế trói chặt tay chúng ta, khi chúng ta định xây dựng tổ chức thì lại buộc chặt tâm ý chúng ta. Chúng ta giống như đám cỏ hoang mọc bên vệ đường vậy, dù chỉ mới nảy mầm đâm rễ liền bị giẫm đạp, bị nhổ bỏ, nửa chừng là thành ra khô héo. Vậy thử hỏi còn có tự do ở đâu? Ngoài ra, ở những đất nước như thế này, cuộc sống của quan lại thì vô cùng tôn quý, còn cuộc sống của người dân thì cực kỳ thấp hèn. Thậm chí không bàn đến những người hiện tại được liệt vào hàng quan liêu, được làm quan trong triều đình, cho dù chỉ là người theo một nghề nghiệp nào đó trong xã hội, nếu muốn mở rộng quy mô, mong phát triển mạnh hơn, chắc chắn đều phải dựa vào sự che chở, bảo hộ của đám quan lại. Hay những người kinh doanh trong lĩnh vực nông, công, thương nghiệp hay nhiều ngành khác, để có được đồng ruộng rộng lớn, có được cửa tiệm khang trang, có được nhà xưởng đồ sộ, có được nhân công đông đúc, chẳng cần phải hỏi, chắc chắn bằng cách trực tiếp hay gián tiếp đều chịu ơn huệ từ các quan lại, được che chở bởi hào quang của quan lại.
Đến như những văn nghệ sĩ tự cho mình là thanh cao hay những nghệ nhân tự nhận mình là cao siêu, dường như chẳng liên quan gì đến xã hội quyền thế, thế nhưng khi quan sát thật kỹ càng thì thực tế lại không phải như vậy. Họ hoặc là ngay từ rất sớm đã đi theo con đường sĩ hoạn làm quan, hoặc là ngấm ngầm thông đồng với đám sai nha chốn cửa quan để xin yết kiến quan lại, a dua xiểm nịnh, nếu không phải bán vẻ kiều diễm mua sự yêu thương thì dù văn chương mỹ lệ cũng chẳng được người khác thưởng thức, âm luật tuyệt mỹ cũng chẳng được cùng người khác xướng họa, kỹ thuật cao siêu cũng chẳng được người khác thừa nhận. Than ôi! Quan lại giống như trái tim vậy. Những bộ phận như lông tóc răng lợi dẫu có cứng chắc, thế nhưng một khi không được nuôi dưỡng bởi dòng máu nóng, chẳng lâu sau cũng sẽ khô kiệt rụng rơi.
Khi các nhà văn, nhà nghệ thuật còn như thế, thì đến đám quan lại viên chức còn đến thế nào nữa? Người xưa có câu 'Nhận quan tước nơi triều đình, hàm ơn huệ chốn tư môn, đêm xuống là kẻ ăn mày đáng thương, ngày lên lại kiêu mạn trước người khác'. Chẳng phải chính xác là mô tả tình trạng của nhóm người này hay sao? Là con người ai cũng có lòng tự tôn và lòng tự trọng; việc không khom lưng quỳ gối quỵ lụy trước người khác chẳng phải mới là khí tiết của đấng trượng phu hay sao? Vậy mà hãy quan sát tình trạng của bá quan hữu ty hiện nay xem. Có thực họ có khí khái tự tôn hay không, có tâm thái tự trọng hay không, có tiết tháo trượng phu hay không? Nếu họ có khí khái tự tôn, có tâm thái tự trọng, có tiết tháo trượng phu thì họ sẽ không đảm nhiệm chức vụ dù chỉ trong một ngày. Nếu buổi sáng dám thẳng thừng trực ngôn buông lời kháng nghị, tối đến sẽ nhận ngay giấy bãi truất. Nếu không có bổng lộc thì một ngày mấy người ăn chẳng còn đường sống nữa. Thế thì thà cúi đầu im lặng không nói, để ngày được đoàn tụ cùng vợ con, được ăn đồ ăn tươi mới, được mặc y phục thoải mái còn hơn là để bản thân mình và gia đình mình chịu cảnh đói rét rồi chết, điều này chẳng phải là quy tắc logic rất dễ suy luận sao? Những tấm gương trực ngôn can gián ngày xưa vô cùng phổ biến, thế nhưng hiện nay không còn như vậy nữa, vì thế tại sao lại phải bắt chước những nhân vật của thời xưa? Trước đây anh giữ chức vụ nào đó ở cơ quan này, sau đó lại ở cơ quan kia làm chức quan khác, chẳng phải anh lăn lộn trong chốn quan trường đã lâu lắm rồi sao. Tại sao anh vẫn cứng nhắc, mãi không bỏ được tính trẻ con như vậy chứ?
Tuy nhiên, hầu hết những người sống dưới chế độ chuyên chế sẽ luôn nhìn thấy một điều khiến người ta cảm thấy rất đỗi nực cười. Dù là điều khiến người ta cảm thấy rất đỗi nực cười, nhưng đó lại là sự thật, vả lại xét từ góc độ tâm lý học[24] lại là rất hợp lẽ, là phải như thế. Điều đó là điều gì? Chính là có những người, đối với người trên thì khéo nịnh nọt, bợ đỡ, a dua, khéo đưa khéo đẩy, chấp nhận hạ mình, không coi việc quỳ gối bợ đỡ là hổ thẹn, nhưng khi đối đãi với những người có địa vị tương đồng hay với những người không quen biết hoặc khi tiếp xúc với những người có địa vị thấp hơn mình thì lại có thái độ kiêu ngạo khinh nhờn, đầu ngẩng cao người vươn thẳng, ánh mắt liếc ngang, người khác nói mười câu thì anh ta chỉ ậm ừ trả lời một, người khác cười lớn sảng khoái thì anh ta cũng chỉ cười hỉnh mũi nhẹ, không hề có chút mảy may phong thái lỗi lạc. Anh ta vốn chính là con người kiêu căng ngạo mạn, dương dương đắc ý, nhưng lại ngụy trang dưới dáng vẻ một người trang trọng, uy nghiêm. So với thái độ khom lưng quỳ gối ở trên thì chẳng giống chút nào, liệu có phải là một người hoàn toàn khác không?
Không, không phải như thế. Nói những gì mình muốn nói, làm những gì mình muốn làm, hành xử tùy ý, vô tư thoải mái, đó mới là bản tính của một đấng trượng phu đích thực. Thế nhưng, những kẻ kia ngay từ đầu đã đè nén tính cách, kiềm chế cảm xúc, cố gắng khắc chế bản thân, không dám biểu lộ điều gì ra bên ngoài. Lâu dần trở nên khéo nịnh, nói lời tâng bốc, hoa ngôn xảo ngữ một cách không ý thức, dù vậy bản tính suy đến cùng cũng không vì thế mà bị tiêu biến. Do đó, một khi gặp cơ hội nếu nhận thấy việc thể hiện cảm xúc ra bên ngoài không gây ra hậu quả xấu nào thì trái lại sẽ có thái độ ngạo mạn kiêu căng, như một cách bù đắp cho những lúc khom lưng quỳ gối thường ngày. Đây là xu hướng tâm lý tự nhiên của con người. Vì thế người phương Tây có nói rằng, nhân sĩ ở đất nước tự do thì tính tình ôn hòa, không tranh chấp với người, còn nhân sĩ ở đất nước chuyên chế thì ngạo mạn, kiêu căng. Chân lý ấy không lẽ lại lừa dối ta.[25]
Từ đó để thấy, chế độ tự do không chỉ mang lại lợi ích cho cuộc sống, lối sống, sự nghiệp của người dân, mà nó cũng khiến nội tâm của con người trở nên cao thượng, điều này không có gì phải nghi ngờ nữa. Than ôi, tự do ư! Nếu từ bỏ ngươi thì ta biết đi về theo ai đây?[26]
Tuy nhiên, khi khảo xét về yếu tố thúc đẩy quy luật tiến hóa của chính trị, nếu chỉ có tự do thì chưa thể nói đó là chế độ hoàn mỹ, mà cần tiến thêm một bước nữa để đạt đến bình đẳng, mới có thể bắt đầu được xem là thành công lớn. Bởi trừ phi hết thảy mọi người có trọn vẹn mọi quyền lợi và lượng quyền lợi đó không có sự phân biệt bên này nhiều bên kia ít, bằng không việc mặc định rằng người có lượng quyền lợi nhiều thì lượng tự do cũng nhiều và người có lượng quyền lợi ít thì lượng tự do cũng ít sẽ là xu thế không thể tránh. Cho nên, tạo bình đẳng trao tự do, chính là quy tắc tối cao của chế độ. Do trong quốc gia lập hiến vốn đã thiết lập cấp bậc quân chủ và năm bậc tước vị, cho nên trong số quốc dân của nước ấy vẫn tồn tại một loại vật thể được tôn quý hơn và hoàn toàn khác biệt với những vật thể khác, khi ấy đại nghĩa của bình đẳng suy cho cùng không tránh khỏi bị khiếm khuyết. Mọi người vốn đã biết rằng nhất định phải tuân theo tôn chỉ tự do, nên họ chế định hiến pháp, thiết lập pháp luật, bảo vệ các quyền lợi của người dân, không ai được phép xâm phạm. Ở đây nếu xét từ góc độ ý nghĩa của tự do, có thể nói rằng đã đạt được. Tuy nhiên, trong số toàn thể quốc dân lại có vài người được chọn ra, rồi được ban cho những hình xăm vô hình như tước vị, xưng hiệu, những người đó được đặt cao hơn những vật thể khác, dù như thế là làm tổn hại đến nghĩa bình đẳng, song đó lại là chuyện không thể thay đổi. Quy luật tiến hóa của chính trị không lẽ lại cứ đứng mãi ở cảnh giới này, không có sự tiến lên hay sao? Vì thế tôi mới nói chế độ lập hiến nhận ra khuyết điểm của mình, thế nhưng mới chỉ cải tổ được một nửa.
Vào thế kỷ 17, nước Anh đi đầu so với các nước khác trong việc thiết lập chế độ tự do, dù việc đó làm rạng danh đất nước nhưng vì thiên tính của người dân Anh vốn trầm tĩnh, trọng hậu nên nhất thời chưa thể một bước thoát khỏi toàn bộ hủ tục, để vui vẻ tiến vào con đường mới, mà họ vẫn duy trì chế độ vương quyền, cho đến hiện nay. Thế nhưng, khi suy xét kỹ càng nền chính trị nước Anh, thì danh nghĩa tuy là dựng lập quân chủ nhưng thực chất không khác nước dân chủ là mấy, ngoại trừ hai, ba đặc quyền quân chủ thì điều khác với tổng thống nước dân chủ chỉ là chế độ cha truyền con nối mà thôi. Do đó, khi các học giả phương Tây bàn về chính trị thì thường liệt kê nước Anh vào nhóm những nước theo chế độ dân chủ, không có sự khác biệt so với các quốc gia như Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Pháp, Thụy Sĩ,...
Thế nhưng vẫn có câu rằng 'Danh là khách của Thực'[27], nếu vừa có thực lại có cả danh thì cố nhiên là tốt, nhưng nếu có danh mà không có thực, cũng không thể nói nó không đúng đạo lý. Vả lại, hoàng gia thì nghiễm nhiên ngự trị trên vạn dân, từ đời này sang đời khác, lại còn quy định năm bậc tước vị cũng đời đời nối nhau hưởng tước, vì thế ở đây nghĩa lớn của bình đẳng còn chưa được toàn diện, cho nên ngay cả trong những nhân sĩ tiến bộ và những người theo đuổi lý tưởng của nước Anh, rất nhiều người vẫn luôn khao khát muốn tiến thêm một bước nữa, ngoài việc đòi hỏi nghĩa lý tự do còn truy cầu cả nghĩa lý bình đẳng, muốn đất nước noi theo chế độ dân chủ. Điều này chẳng có gì là lạ. Bởi so với các loài động vật khác, con người rất mau mắn trong việc tuân theo quy luật tiến hóa, mà so với những người bình thường khác thì học giả hay những nhà tư tưởng lại còn mau mắn hơn thế rất nhiều. Còn một lẽ nữa, chế độ dân chủ chính là cảnh giới thứ ba trong quy luật tiến hóa chính trị.
Chế độ lập hiến nếu nói là hoàn chỉnh thì cũng có thể gọi là hoàn chỉnh, nói là đầy đủ thì cũng có thể xem là đầy đủ, nhưng quả thực vẫn còn cảm giác mơ mơ hồ hồ, có điểm nào đó khiến con người ta phải đau đầu. Vì sao thì tôi cũng không rõ. Dù không rõ vì sao nhưng chứng đau đầu vẫn hiện diện. Cảm giác như vào đúng ngày gió nóng, mà khoác lên mình một chiếc áo mỏng nhẹ, đội trên đầu một chiếc mũ sắt nặng trịch vậy. Chế độ dân chủ ư! Chế độ dân chủ ư! Trên đầu chỉ là bầu trời trong xanh, dưới chân chỉ là mặt đất rộng lớn, tâm hồn sảng khoái, ý khí phấn phát, chẳng có thời điểm bắt đầu hay kết thúc, vĩnh viễn kéo dài vô tận chẳng biết bao nhiêu tỉ năm chính là ngươi; chẳng có phân biệt bên trong hay bên ngoài, bát ngát khoảng không vũ trụ chẳng biết bao nhiêu tỉ vạn dặm chính là người.
Sở hữu cả tinh thần lẫn thân thể mới là con người, vậy làm thế nào để phân biệt ai là người châu Âu và ai là người châu Á? Huống chi còn muốn phân biệt Anh, Pháp, Đức, Nga? Hay phân biệt Ấn Độ, Trung Hoa, Lưu cầu[28]? Thế nhưng giờ đây, nói đến Anh, Nga, Đức đó chính là nói đến danh xưng vùng đất mà vị quốc vương sở hữu. Khi mọi người đều tự mình làm chủ, không có chủ nhân nào khác thì tên nước chẳng qua chỉ để chỉ một khu vực nào đó trên địa cầu mà thôi. Cho nên khi tôi nói người nước nào đó, suy cho cùng là nói đến người đang sống tại một khu vực nào đó trên địa cầu. Chính vì vậy, tôi và người khác không có ranh giới về khu vực, từ đó sẽ không nảy sinh ý thức đối địch. Thế nhưng, trong trường hợp đất nước có một người chủ thì tên nước chính là danh hiệu gia tộc của chủ nhân đó. Thế là khi tôi nói đến người nước nào đó, rốt cuộc chính là ám chỉ đến thần dân của vị quốc vương nhất định. Tức là tôi và người khác đã có một ranh giới về khu vực, từ đó thái độ thù địch sẽ nảy sinh. Việc chia cắt các khu vực trên địa cầu, tạo ra khoảng cách trong lòng những người dân cư ngụ là mối họa hại do chế độ vương quyền để lại. Chế độ dân chủ ư! Chế độ dân chủ ư! Nói nước A hay gọi nước B chỉ là để tiện xưng hô, chỉ là phân định khu vực trên địa cầu chứ không tạo khoảng cách trong lòng những người dân cư ngụ. Gộp chung trí tuệ và tình yêu của loài người trên thế giới thành một, tạo thành vòng tròn Enso[29] to lớn hoàn thiện, chính là Chế độ dân chủ vậy.
Chế độ lập hiến không tệ. Chế độ dân chủ thì tốt. Chế độ lập hiến là mùa xuân, vẫn còn vương đọng chút hơi sương tuyết. Chế độ dân chủ là mùa hè, sớm đã chẳng còn chút hơi sương tuyết. Nếu học theo cách nói của người Trung Hoa thì Lập hiến là hiền giả còn Dân chủ là thánh nhân. Nếu theo cách nói của người Ấn Độ thì Dân chủ là Như Lai, Lập hiến là Bồ Tát. Lập hiến là đáng quý, Dân chủ thì đáng yêu. Lập hiến là gác trọ, sớm muộn ắt phải rời đi. Kẻ không thể rời đi chính là kẻ bị què hay bị khuyết tật. Dân chủ là nhà. Ôi chao, được trở về ngôi nhà của chính mình sau chuyến hành trình dài cảm giác thật yên bình biết bao.
Trên con đường tự do, Pháp có đi sau Anh một đoạn, nhưng vừa đặt chân đi đã tiến đến ngay chế độ dân chủ, điều đó thật vĩ đại lắm thay. Người Anh đa trí, người Pháp đa tình. Người Anh trầm tĩnh cương nghị, người Pháp vô cùng mãnh liệt. Người Anh một khi đã bước lên con đường tiến bộ thì không bao giờ để mình mất phương hướng, còn người Pháp tiến bước cũng nhanh nhưng lùi lại cũng chóng. Than ôi! Người Pháp đã thực sự rút lui sao? Họ chặt đầu vua Louis XVI, múc dòng máu nóng đó rưới lên đầu các vị vua ở châu Âu, dù không áo mặc, không giày mang, không binh khí, không lương thực, nhưng ngày càng phấn chấn tiến bước, bởi trên đầu mỗi người đều đội vầng hào quang bình đẳng, đạn pháo của địch không thể làm họ bị thương, thương đao của địch cũng chẳng thể làm họ bị đau, những muốn tức tốc thay đổi toàn bộ chế độ của các nước theo chế độ bình đẳng, điều đó dường như quá sức điên cuồng! Napoleon Đệ nhất trăm lần thử, trăm lần thành công, ngàn lần chiến, ngàn lần thắng lợi, ngay tới quân đội các nước Phổ, Úc, Nga, Anh cũng không thể phản kháng, thay vì nói đó là do sự trác việt trong tài thao lược của họ thì nên nói đó là vì người Pháp khi ấy nhận được cổ vũ nhiệt liệt từ làn sóng bình đẳng, khiến thân thể đó, tinh thần đó vượt lên trên người bình thường. Vậy mà, không lâu sau người Pháp đã vội quên đi tác dụng của vầng hào quang mang tên bình đẳng, trái lại bị chói mắt bởi sắc màu trên lá cờ của Napoleon, xua đuổi nàng tiên mỹ miều dân chủ, nuôi dưỡng con mãnh hổ hung ác là đế quốc, liên tục biến bản thân trở thành con mồi, cam lòng lùi lại tới tình trạng của cả trăm năm trước, theo đó luân lý trong xã hội Pháp đã mất đi trật tự vốn có của nó.
Không, đây chính là áng văn lớn, con sóng to của xã hội Pháp. Anh là một áng văn năng phẩm[30], trật tự trước sau chặt chẽ. Pháp là một áng văn thần phẩm, đột ngột không có trật tự. Họ khi thì lật đổ vua Louis Philippe I, lật đổ vua Charles X, lúc lại lật đổ Napoleon III, đến đó nền chính trị dân chủ được xuất hiện trong một đoạn văn ngắn. Ôi chao! Không ngừng biến động, là trật tự văn chương Pháp. Từ lúc mở đầu cho đến lời kết, biến động không ngừng, khiến người ta khi thì sảng khoái, lúc lại đau buồn, hoặc vui mừng hoặc tức giận. Anh là một bộ sách giáo khoa, Pháp là một cuốn kịch bản phim. Anh là những bức họa của Raphael [được đóng trong khung], Pháp là những tấm bích họa của Michelangelo. Anh là thơ đường luật của Đỗ Phủ, Pháp là thơ cổ phong của Lý Bạch. Anh là Trình Bất Thức[31], Pháp là Lý Quảng Đức[32] thì sao? Đó là nước chính sự[33], chưa thể được xem là nước chính lý[34]..."
Thân sĩ Tây học bất ngờ nói: "Vì vô tình cao hứng nên đã nói quá nhiều, liên miên không dứt, làm mất đi trật tự luận lý. Tiên sinh, mong lượng thứ."
Thế rồi chàng Thân sĩ Tây học lại lên giọng hơn nữa, nói tiếp: "Với quốc gia hùng mạnh, chiếm được lãnh thổ rộng lớn, có đội tinh binh trăm vạn, chiến hạm kiên cố tới vài trăm ngàn, nhân dân giàu có, sản vật phong phú mà nói, việc dựa vào sự phú cường của nước mình để xưng hùng một đời, chẳng có gì khó khăn. Còn với quốc gia có lãnh thổ nhỏ hẹp, dân cư ít ỏi, nếu không dựa vào lý nghĩa để tự giữ mình thì cũng chẳng còn gì khác có thể dựa vào. Lục quân thì không quá ngàn vạn, quân hạm cũng chẳng quá vài chục chiếc thế mà có ý khuếch trương quân bị của thủy lục quân là mạnh không thua kém gì cường quốc khác, thế thì sao tránh được chuyện vì tài chính không đủ nên chú trọng thu thuế nặng nề, chuốc lấy căm phẫn từ nhân dân. Dù khai khẩn đất hoang, khích lệ nông nghiệp, trồng dâu nuôi tằm, nhưng đất đai vốn dĩ chật hẹp, nay muốn tức tốc mở rộng là điều không thể, hơn thế sản lượng từ đất vốn có giới hạn nhất định, không thể tùy ý trồng nhiều lên được. Muốn chấn hưng công nghiệp, việc dùng máy móc hay thủ công có tăng thêm lợi nhuận hay không? Dù hàng hóa sản xuất ra có tăng lên, nhưng không tìm được thị trường tiêu thụ cũng chẳng ích gì. Hãy thử nhìn tình hình kinh tế của các nước châu Âu mà xem. Anh chiếm cứ Ấn Độ rồi tạo lập căn cứ vững chắc để xâm lược và di dân đến khắp châu Á, châu Âu, châu Mỹ, chẳng còn sức lực lập kế hoạch nhằm tự vỗ béo bản thân. Pháp cướp Algeria ở châu Phi, chiếm đóng Ấn Độ rồi chiếm cả An Nam. Cho tới các nước khác dù đất lớn đất nhỏ cũng có chiếm đóng, dù ít dù nhiều cũng có khuếch trương thế lực, thế nhưng không nước nào không xâm chiếm nước khác, rồi thiết lập chính sách nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của nước mình. Đến như người dân của những nước nhỏ, nay chỉ xuất binh lính chục vạn, lệnh cho ngàn chiến hạm, xâm chiếm đất đai ở những nước xa xôi, với mong muốn lưu thông kinh tế mở rộng nguồn thu cho đất nước, chẳng phải là quá ngu ngốc, quá điên rồ hay sao. Nếu chỉ nỗ lực tự bảo vệ mình, mong được tự túc tự cấp, thì sao không từ đó đưa ra một chính sách nào đó? Chính sách đó là gì, xin hãy nghe tôi nói tiếp.
Xây dựng chế độ dân chủ, bình đẳng, trao trả tự do về thân thể cho chính con người, phá hủy thành cao lũy sâu, triệt phá khí giới quân bị, tỏ cho nước khác thấy mình không có ý giết người và cũng cho họ thấy mình tin tưởng rằng họ cũng không có ý như vậy. Xem toàn bộ quốc gia là vườn hoa đạo đức, là cánh đồng học thuật, chỉ thiết đặt nghị viện theo chế độ nhất viện, nhằm tránh đầu não quốc gia bị chia tách. Phàm tất cả những người đến tuổi thành niên, ngoại trừ những người đần độn, chỉ cần không có khiếm khuyết về phẩm chất đạo đức thì bất luận giàu hay nghèo, không phân biệt nam hay nữ, ai cũng có nhân cách độc lập, có quyền bầu cử và quyền ứng cử. Quan chức địa phương trên từ huyện lệnh dưới tới hộ trưởng[35], đều phải được chọn thông qua tuyển cử công khai, và mọi người không cần lấy lòng quan lại hành chính, đồng thời cũng dùng cách tuyển cử công khai để bầu quan chức trong ngành pháp luật, khi ấy cũng chẳng cần phỉnh nịnh quan lại hành chính làm gì. Nỗ lực xây dựng trường học, không thu học phí[36], áp dụng phương pháp khiến tất cả quốc dân đi học để trở thành bậc quân tử. Bãi bỏ việc tử hình, hủy đi hình cụ tàn khốc áp dụng trong luật pháp; loại bỏ thuế bảo hộ, dẹp sạch rào cản tị nạnh nảy sinh trong kinh tế; chỉ cần không làm suy đồi phong tục, cổ xúy bạo động thì hãy bãi bỏ toàn bộ các điều luật liên quan đến việc kiềm chế ngôn luận, xuất bản, lập hội. Làm cho người nói được tự do miệng lưỡi, người nghe được tự do màng nhĩ, người viết được tự do bàn tay, người đọc được tự do con người, người tụ tập được tự do chân cẳng... ấy là cương lĩnh vậy. Còn như những hạng mục nhỏ chúng ta sẽ bàn nghị chi tiết vào dịp khác.
Vườn hoa đạo đức, người người đều yêu mến, ai ai cũng ngưỡng mộ, chẳng hề nỡ nhẫn tâm phá hoại. Cánh đồng học thuật, người người đều sử dụng, ai ai cũng chịu ơn, không hề có ý định phá hủy. Xin hãy cứ thử thực hành một lần xem sao. Nếu thấy không tốt có thể dừng lại, có gì xấu đâu? Hãy nhìn những nhà hóa học mà xem, khi họ phát hiện ra điều gì đó chẳng phải họ sẽ lập tức vào phòng thí nghiệm để thử nghiệm hay sao? Thử coi một tiểu quốc ở châu Á là phòng thí nghiệm của dân chủ, bình đẳng, đạo đức, học thuật. Biết đâu chúng ta có thể chưng cất được hợp chất quý báu nhất, đáng yêu nhất trên thế gian, khiến thiên hạ thái bình, bốn biển hạnh phúc không chừng. Biết đâu chúng ta lại có thể trở thành Priestley[37], A. L. Lavoisier[38], những nhà xã hội học thực nghiệm. Đó là một chính sách mà tôi muốn nói.
Hơn nữa vị thần tiến hóa luôn thống trị trên đầu nhân loại, thần phát dương uy danh nổi cơn thịnh nộ khi thì liên tục, lúc lại hiếm hoi, có khi hơn trăm năm phẫn nộ một lần, lúc thì cả ngàn năm mới một phen tức tối. Trường hợp thần nổi cơn phẫn nộ thường xuyên thì không quá khắc nghiệt nhưng nếu cả ngàn năm mới phẫn nộ một lần thì cơn phẫn nộ đó vô cùng đáng sợ. Đó là bởi quan điểm tạm bợ, đại khái của loài người chúng ta gây nên, trong lúc vị thần thể hiện nét mặt ôn hòa nhân hậu, cất tiếng nhẹ nhàng êm ái thì chúng ta lại chẳng chịu đá bay đi hòn đá bất bình đẳng chặn đường, dọn sạch đi bụi cây gai tràn lan chắn lối tự do, cho nên đợi tới khi vị thần đến đó, nổi cơn tam bành cứ thế bước qua, đó là việc bất đắc dĩ mà thôi. Vì thế, những vị tăng lữ - chính trị gia - phụng sự vị thần này hãy tự thống kê số lần vị thần tiến hóa phát nộ trên đất nước mình từ xưa đến nay xem sao, nếu nhận thấy con số thống kê được là ít ỏi thì phải phấn đấu, nỗ lực để phòng bị cơn giận dữ đó, tiến hành gột rửa một cách mạnh mẽ và toàn diện trên khắp xã hội. Nếu các tăng lữ - chính trị gia - không chú trọng đến đạo lý này, thể nào vài chục năm, vài trăm năm sau, bậc quân chủ của các nước đó cũng sẽ giẫm vào vết xe đổ của vua Charles I của nước Anh và vua Louis XVI của Pháp, rước họa cho bậc quân chủ lẫn nhân dân, không chừng còn làm trò cười cho hậu thế nữa, cho nên không thể không dè chừng được ư? Dù hiện tại không thể gột rửa, cải cách với quy mô lớn, nhưng chính hành động không ngừng rải đá khắp lối hay để mặc cây gai mọc um tùm thì sớm muộn cũng sẽ làm tắc nghẹt con đường mà vị thần tiến hóa sẽ ghé thăm, như là họ đang cố ý mời gọi cơn thịnh nộ của vị thần tiến hóa vậy, thực sự họ có dụng ý gì đây?
Có lẽ có người sẽ nói rằng, chế độ dân chủ tuy phù hợp về mặt đạo lý nhưng để thực hành lại quá đỗi gian nan. Nếu trí thức chưa có sự tiến bộ nhất định, phong tục chưa đạt đến sự hoàn thiện, thì chế độ dân chủ chỉ có thể mang tới sự hỗn loạn. Tổng thống là vị trí đứng đầu trong số các chức vụ hành chính, ngài dựa vào sự bầu cử của người dân để có được vị trí đó, cho nên xét về uy quyền thì thua xa đế vương, nếu một ngày gặp phải gian hùng mang dã tâm chiếm đoạt ngôi vị, thì quan dân giải thể, cả nước khó tránh được họa loạn bùng nổ. Hơn nữa, ham muốn được ngồi ở địa vị tôn quý là lẽ thường của con người. Chức vụ tổng thống đúng là do bầu cử mà được xác lập, nhưng so với những người dân bình thường chức vụ đó đương nhiên là địa vị tôn quý, đủ để có thể tự hào trước quần chúng nhân dân. Vì thế ở nước dân chủ, chỉ cần là những người có chí khí, ai cũng muốn tự mình ứng cử để mong có cơ hội kiêu hãnh ngồi lên địa vị tổng thống tôn quý, nghĩ trăm phương ngàn kế nhằm lôi kéo những mong nhận được sự tín nhiệm và ủng hộ của công chúng, xu hướng không chịu an phận, luôn muốn được hơn người khác là điều không thể ngăn chặn. Đây là căn bệnh chung của nước dân chủ. Còn chế độ lập hiến lại khác, chức vụ đế vương luôn có người đảm nhận [cha truyền con nối], điều đó đủ để trấn áp dã tâm cuồng vọng, hơn nữa còn có hiến pháp tôn quý bất khả xâm phạm, cho nên ngay tới những người có địa vị tôn quý như vương công, tướng văn, tướng võ cũng không dám phóng túng tùy tiện hành xử theo ý muốn của bản thân, thứ dân đều gìn giữ sự tự do này mà không được để mất. Cho nên chế độ lập hiến nằm giữa chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ dân chủ. Nếu xét từ sự tôn nghiêm của ngôi vị quân vương có thể trấn áp được dã tâm của những kẻ cuồng vọng thì giống với quốc gia chuyên chế. Nếu xét đến vấn đề nhân dân có tự do thì nó lại giống quốc gia dân chủ. Chung quy lại có thể nói nó vừa mang những ưu điểm của hai chế độ này vừa không chịu tác hại từ chúng. Vì vậy, Montesquieu[39] với quyển Tinh thần pháp luật và John Stuart Mill[40] với quyển Chính thể đại diện khi luận bàn về các chế độ xã hội đều cho rằng: thiết chế chính trị phải tương thích với mức độ cao hay thấp của dân trí.
Ôi chao, ý kiến này có thể nói là hoàn toàn cũ mèm chẳng có gì mới mẻ, gây cản trở sự tiến bộ của thế giới. Cảm giác thì rất chân thật nhưng thực tế lại không phải vậy. Vả lại, chúng ta hãy thử làm một cuộc khảo sát về những quốc gia hiện đang trị lý đất nước theo chế độ dân chủ mà xem. Dân chúng ở các nước như Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Pháp, Thụy Sĩ có thực sự họ đều là bậc quân tử trí thức, phong tục những nơi đó đều thuần phác và không có khuyết điểm hay không? Không phải vậy. Mỗi lần đến kỳ bầu cử Tổng thống, sẽ luôn xảy ra họa loạn hay không? Không phải thế. Những nơi đó cũng liên tục xảy ra mối họa gian hùng soán đoạt ngôi vị có đúng không? Không phải vậy.
Tiến thêm một bước nữa chúng ta bàn tiếp, một khi dân chúng ở những quốc gia lập hiến nhờ có ông vua tôn quý, đứng trên hết thảy mọi người, mới được bình yên, vậy thì niềm hạnh phúc từ sự bình yên ấy, lại không phải dựa vào quyền tự do của chính bản thân mỗi người mà có được, mà là dựa vào bậc quân chủ mà có. Than ôi! Bậc quân chủ cũng là người, ta đây cũng là người. Cùng là con người với nhau lại không thể dựa vào quyền lợi của bản thân mình để tồn tại được, mà phải dựa vào người khác để sinh tồn, đó chẳng phải là nỗi sỉ nhục kinh khủng nhất trên đời hay sao?"
Vị Thân sĩ Tây học tiếp tục nói: "Hơn nữa, chế độ dân chủ là một điều kiện không thể thiếu để chấm dứt chiến tranh, tạo dựng hòa bình, thống nhất các nước trên thế giới thành một đại gia đình. Luận thuyết về vấn đề các nước chấm dứt chiến tranh, tạo dựng hòa bình được Abbé Castel de Saint-Pierre[41] người Pháp khỏi xướng và chủ trương vào thế kỷ 18 nhưng rất ít người tán đồng luận thuyết này vào thời điểm đó, mà phần nhiều đều cho rằng việc này dù thế nào cũng không thể thực hiện được. Thậm chí còn có những người nhạo báng Saint-Pierre, gọi ông là kẻ giáo điều. Ngay đến một người tri thức uyên bác, quan tâm sâu sắc đến sự tiến bộ của xã hội như Voltaire[42] khi nghe nói tới luận thuyết của Saint-Pierre cũng thốt ra đôi lời nhạo báng, cho rằng ông ta tự cho mình là kẻ thông minh, cố tỏ ra mình là người trí tuệ. Chỉ có Jean-Jacques Rousseau[43] là cực lực đồng thuận luận thuyết của Saint-Pierre, và dùng ngòi bút mạnh mẽ của mình tán dương trước tác của Saint-Pierre: 'Đây là quyển sách không thể thiếu trên đời'. Sau này nhà triết học người Đức Immanuel Kant[44] đã kế thừa chủ trương của Saint-Pierre, viết nên cuốn sách có tựa đề Zum ewigen Frieden (Hướng đến hòa bình vĩnh cửu), luận bàn về tính tất yếu của việc chấm dứt chiến tranh và xúc tiến tình hữu hảo giữa các quốc gia. Kant cho rằng, 'Dù chúng ta lùi lại một bước để mà bàn luận thì bản tính của con người vốn ham chuộng công danh và đam mê thắng lợi vốn là điều không thể từ bỏ, theo đó việc thực thi nền hòa bình vĩnh cửu trong thế giới hiện nay cũng là điều bất khả. Thế nhưng nếu chúng ta tôn trọng đạo đức và nghĩa lý, chuyên chú vào việc đang làm thì từ mảnh đất đó hoàn toàn có thể truy cầu được sự tiến bộ. Chẳng cần phải nói gì thêm, đó mới chính là trách nhiệm của con người...' Có điều, với cương vị là một học giả hậu thế, tôi vẫn có điểm chưa hài lòng về luận thuyết của Saint-Pierre. Đó là vấn đề phương pháp chấm dứt chiến tranh.
Phàm từ xưa tới nay, nguyên nhân khiến các nước dấy binh, đánh lẫn nhau thì có rất nhiều nhưng nếu nghiên cứu kỹ càng ta sẽ thấy các bậc đế vương hay chư vị võ tướng luôn một lòng ham chuộng công danh, thích phát dương uy võ chấn động bốn phương, chính là nguồn cơn gây ra tai họa. Vì thế, nếu tất cả vạn quốc trên thế giới đều không đi theo chế độ dân chủ mà lại muốn chấm dứt chiến tranh là việc không thể trông mong. Saint-Pierre chưa nghĩ đến điểm này, cũng không lưu tâm tới tình thế của các nước thời bấy giờ, chỉ là noi theo chế độ từ xưa truyền lại, không thêm vào chút ít cải cách nào, một mực cho rằng chỉ cần dựa vào vài điều ước mấy lời thề là có thể thực hiện được nền hòa bình. Nào ngờ, đế vương cùng các tướng văn tướng võ chỉ biết quan sát vào thế mạnh yếu của ta và họ, nếu thấy họ mạnh còn ta yếu, thì bất đắc dĩ đành tạm giảng hòa, ký minh ước, những mong bản thân có cơ hội nghỉ xả hơi, một khi đất nước trở nên giàu có binh lực hùng mạnh thì dẫu có cả ngàn tờ minh ước cũng đâu đủ để ngăn cản chí hướng cuồng vọng bất chấp đạo lý đó.
Vì thế, gần đây, nhà triết học người Pháp Émile Acollas[45] trong lúc phân loại các loại pháp luật đã đem cái gọi là công pháp quốc tế liệt vào loại đạo đức, chứ không xếp nó vào loại pháp luật. Theo suy nghĩ của ông thì phàm những thứ được gọi là pháp luật đều cần có quan lại quản lý và thực thi, hơn nữa đối với những người làm trái luật pháp cũng cần phải có sự trừng phạt tương ứng. Nếu không, nó sẽ không thể trở thành pháp luật chân chính. Thế nhưng, nếu là đạo đức thì việc tuân thủ hay không chỉ là vấn đề lương tâm con người. Cái gọi là công pháp quốc tế cũng giống như vậy, đã không có cơ quan tư pháp chịu trách nhiệm thực thi, cũng chẳng có quan lại đảm trách vấn đề trừng phạt. Vì thế, nó vốn không thể được xem là pháp luật.[46]
Acollas khi bàn về các phương thức chiến tranh giữa các nước lại cho rằng: Thông thường có bốn nguyên nhân dẫn đến chiến tranh bao gồm: tranh đoạt quyền kế tục ngôi vị trong vương thất, chiến tranh tôn giáo, xung đột chủng tộc và cuộc chiến kinh tế, thương mại. Nhìn lại bốn nguyên nhân này chúng ta thấy, chiến tranh tôn giáo và xung đột chủng tộc dạo gần đây đã không còn thấy bóng dáng, có vẻ nó sẽ không quay trở lại nữa. Ngày nay con người lựa chọn phương thức hành động quân sự vì tranh giành đất đai ở những địa điểm trọng yếu hay tranh giành thị trường tiêu thụ sản phẩm và tranh quyền kế thừa vương thất là nhiều nhất. Sự tranh giành đất đai ở những địa điểm trọng yếu hay tranh giành thị trường tiêu thụ sản phẩm chính là cuộc chiến kinh tế, thương mại mà Acollas nói, còn tranh quyền kế thừa vương thất cũng chính là điều mà Acollas nói về kế tục ngôi vị trong vương thất. Tiến thêm một bước nữa khi chúng ta đào bới sâu hơn những bí ẩn đằng sau chuyện đó, thì bất kể nó thuộc vào loại nguyên nhân nào, hầu hết cũng đều do các đế vương hay tể tướng vì muốn tranh đoạt công danh mà chỉ nhân một cái cớ nhỏ bé nào đó, để rồi dấy binh khởi nghĩa. Nhưng để đạt tới được quốc gia dân chủ thì dùng ba điều là lẽ tự do, nghĩa bình đẳng và tình bác ái làm nền tảng của xã hội, muốn thắng được những nước lân bang chỉ cần dựa vào hai điểm là học thuật tinh thông và kinh tế phú cường. Chung quy lại thì quốc gia quân chủ dựa vào thực lực hữu hình để mong thắng được nước láng giềng, còn quốc gia dân chủ lại vin vào tư tưởng vô hình để cầu thắng được các nước khác.
Từ sau khi Saint-Pierre đề xướng luận thuyết vạn quốc hòa bình, Rousseau tán tụng nó, đến Kant thì ngày càng khuếch trương luận thuyết này, khiến nó trở thành một hình thức lý luận tương xứng với triết học thuần túy. Vì vậy nó đã hình thành tính cách học thuyết thuần túy phù hợp triết học. Tiếp theo đây tôi sẽ trích ra quan điểm của ông ấy.
Kant cho rằng, một khi muốn đạt được kết quả tốt đẹp là tất cả các quốc gia chấm dứt chiến tranh, duy trì hòa bình, trừ phi tất cả các quốc gia đều lựa chọn và đi theo chế độ dân chủ, nếu không thì không thể đạt được. Các nước đã lựa chọn và đi theo chế độ dân chủ thì khi ấy thân thể của người dân sẽ không còn là sở hữu của bậc quân chủ nữa, mà là sở hữu của chính bản thân họ. Một khi người dân tự mình sở hữu mình, tự mình là chủ nhân của chính mình thì đâu có lý nào lại thích chuyện giết hại lẫn nhau? Một khi hai nước đánh giết lẫn nhau, lúc đó mọi tai họa sẽ nảy sinh từ chiến tranh, vậy ai sẽ là người phải gánh chịu? Người cầm vũ khí đánh nhau là người dân. Chi tiền cho các khoản chi phí quân sự là người dân. Nhà cửa bị thiêu đốt, ruộng vườn bị giẫm đạp, người phải chịu đựng những thiệt hại đó là người dân. Khi chiến sự đã lắng xuống, người thực hiện chính sách thu mua quốc trái [trái phiếu chính phủ], khắc phục hậu quả chiến tranh vẫn là người dân. Hơn nữa, loại quốc trái đó cuối cùng lại không thể bồi hoàn hoàn toàn. Tại sao vậy? Đó là bởi một khi giao chiến, tai họa nối tai họa kéo tới, oán thù trở nên ngày một sâu, dù có nhất thời giảng hòa nhưng không lâu sau sẽ lại phát sinh chiến tranh, đó là xu thế không thể tránh được. Quả đúng như thế, là một người dân đâu lẽ nào lại tự mình đứng lên phát động chiến tranh?
Kant lại nói, quốc gia quân chủ thì không như thế. Đế vương là người sở hữu đất nước, chứ không phải một quốc dân nào đó, cho nên làm đổ máu của dân, tiêu phí tài sản của dân, nhà vua chẳng chút bận lòng. Tại sao vậy? Đó là vì hai quân tiếp giáp, đạn pháo nối nhau bắn giết lẫn nhau, súng đạn thay phiên làm thương đối phương, ruột gan phơi đầy trên nền đất, máu tươi nhuốm đỏ nơi cánh đồng, thế mà khi đó, đế vương hoặc là đi săn trong vườn uyển, hoặc tổ chức yến ẩm trong chốn cung đình, nói chung mọi việc vẫn diễn ra như bình thường. Vả lại, lúc xuất binh thì dùng danh nghĩa mũ miện đường hoàng triều phục chùi chu làm cái cớ, nhưng thực chất là đem tính mạng và tài sản của nhân dân ra đánh cược nhằm theo đuổi công danh của bản thân. Và cái gọi là chiến tranh đối với bậc đế vương mà nói chẳng qua chỉ là một trò chơi mà thôi.
Vì vậy, gần đây trong số những học giả của các nước châu Âu, phàm những người đề xướng luận thuyết chấm dứt chiến tranh, duy trì hòa bình đều chủ trương áp dụng chế độ dân chủ, hy vọng sau này có thể liên kết tất cả các nước trên thế giới thành một liên bang lớn. Thuyết đó tuy có vẻ khoác lác nhưng nếu suy luận và khảo xét từ quy luật tiến hóa chính trị thì chưa chắc đã không phải như vậy.
Than ôi! Quy luật tiến hóa à, tại sao người không gấp rút lăn bánh chiếc xe của người, nhấc chiếc móng ngựa của người, cây nào non nớt thì bồi đắp cho, cây nào nghiêng ngả thì đẵn chặt đi[47], mang lại cuộc sống mãn nguyện vui vẻ, tự do tự tại cho hàng tỉ người trên địa cầu? Than ôi! Hỡi hàng trăm triệu người dân tự do ở các nước châu Âu, các người ở trong nước của các ngươi, có các loại dân luật, hình luật... bảo vệ thân thể của các người, bảo vệ tài sản của các người, bảo vệ nhà cửa của các ngươi, khiến các ngươi không bất ngờ gặp phải tổn hại nào. Cho dù vậy mà vẫn có kẻ cuồng bạo, dám gây tổn hại đến thân thể của các người thì pháp luật ở đất nước các ngươi sẽ lập tức trừng trị, sẽ khiến bản thân các ngươi được yên lòng. Cho dù bản thân các ngươi hay tài sản của các người có bị tổn hại, các ngươi cũng không phải xô đẩy đứng lên tranh đấu, chỉ cần cầm theo một tờ đơn đi tố cáo là được. Như thế, phán quan công bằng sẽ dựa vào văn bản pháp luật đã được luật hóa công khai để đưa ra phán quyết và đòi bồi thường cho các người. Từ đó có thể nói rằng cuộc sống của các ngươi đã thoát khỏi những mối nguy hại từ sự tranh đấu dã man, mà bước vào chế độ văn minh an toàn yên ổn.
Hơn nữa, các ngươi hãy thay đổi góc nhìn, hướng mắt ra ngoài biên giới quốc gia mà quan sát. Súng đạn pháo lớn mà những nước láng giềng của các ngươi đang đúc tạo là để đến một sớm một chiều nào đó sẽ bắn phá giết hại các ngươi, để phá hủy nhà cửa của các ngươi. Thiết hạm và thủy lôi mà họ chế tạo cũng là nhằm công phá nhà cửa và cây cối ở ven biển của ngươi. Tuy các ngươi hôm nay có thể kê cao gối mà ngủ yên, chẳng có gì phải bận tâm, thế nhưng ngày mai không chừng lại phơi thây ngoài đồng ruộng. Con người với con người đều muốn trải qua một cuộc sống văn minh, gia đình với gia đình cũng mong truy cầu sự yên bình của văn minh. Thế nhưng giữa dân chúng và dân chúng, nơi được hình thành từ những nhóm người, lại tạo ra cuộc sống man di; giữa quốc gia với quốc gia, nơi được hình thành từ những gia đình, lại sống trong sự nguy hiểm của dã man. Nếu bệnh đậu mùa lây lan thì có thể tránh bằng vắc xin. Nếu bệnh sốt rét hoành hành thì có thể phòng bằng ký ninh. Nhưng nếu đạn pháo của nước láng giềng bắn phá thì lại không thể tránh. Lửa thiêu nhà cửa, nước lật thuyền bè còn có thể được bồi thường bằng bảo hiểm. Thế nhưng họa hại do chiến tranh của địch quốc láng giềng gây ra thì không thể ngăn... Các ngươi có thực sự sợ hãi địch quốc láng giềng của các ngươi một lúc nào đó sẽ chém giết các ngươi, làm các ngươi bị thương, thiêu hủy đất đai nhà cửa của các ngươi, đánh phá bến cảng của các ngươi hay không? Nếu vậy thì tại sao các người lại không nhanh chóng tiêu hủy đại pháo, thiêu rụi thiết hạm của các người đi?
Ngày nay đang ở vào thế kỷ thứ 19, những nước lấy uy võ làm tự hào, coi xâm lược là quốc sách, cướp đoạt đất đai của người khác, giết hại người dân của nước khác, mong muốn trở thành đấng chủ tể của địa cầu thì thật sự là một đất nước điên cuồng. Tôi từng biết có một nước điên cuồng ở phía đông của châu Âu. Cứ thử nhìn vào quốc sách mà quân chúa các đời truyền lại cho con cháu của họ, chúng ta sẽ thấy... Sử dụng loại thuốc cực mạnh, tác dụng của nó mãnh liệt đến bất ngờ khiến chính bản thân họ cũng kinh hoảng và hối hận, đó chính là nước Đức. Khinh miệt nước khác là đám Ngô Hạ A Mông[48], nhưng rồi chính bản thân lại chuốc nhục, tỏ lòng phẫn hận, chính là nước Pháp. Mua nhiều đất đai dinh thự, tích lắm của cải tài sản, lo sợ người khác đến cướp, khốn khổ phiền não nghĩ cách phòng vệ, chính là nước Anh. Đứa trẻ nhìn thấy người lớn lườm mắt liếc ngang, phóng túng làm càn, nhưng chẳng biết tới trong lòng họ có biết bao nỗi ưu phiền lo lắng, để rồi mù quáng ngưỡng mộ, tỏ lòng ganh tị, muốn được tham gia vào nhóm đó, chính là nước Ý. Trong đám bốn, năm người điên cuồng khua côn vung gậy ẩu đả lẫn nhau, mà đứa trẻ ngây thơ đáng yêu lại vui vẻ chơi đùa giữa họ, chẳng hề bị thương tích gì, có phải là Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ chăng? Nước Mỹ thì sao? Các võ sĩ của nước chư hầu thời phong kiến, gánh vác danh dự của phiên[49] trên vai, cùng nhau khoe vẻ dũng lực mà nhìn nhau như cừu thù, chỉ bàng quan đứng nhìn cười mà không thèm đoái hoài, chuyên tâm chăm lo cho gia nghiệp, tích trữ thật nhiều của cải, đó là Mỹ chăng? Tinh thần ù lì không mẫn tiệp, chân tay chậm chạp không lanh lẹ, dựa vào hình thể cao lớn mà không sợ đánh nhau với người khác, đó chẳng phải một nước lớn ở châu Á sao? Vì cơ thể yếu ớt, chí khí nhu nhược cho nên thường làm bạn chung với nhau nhưng đôi khi vẫn khổ sở vì bị những đứa trẻ hư hỏng khác đến chọc ghẹo, đó phải chăng là các đảo ở châu Á... Thế nào, ngươi không nhận thấy trong đó có một thần đồng sao? Đứa bé đó tương lai sẽ phát triển như thế nào, không thể dự đoán trước được. Sao ngươi nhìn mà không thấy, ngươi có bị mù không vậy?
Pháp và Đức, hai nước này vào thời vua Charlemagne[50] thực chất là một. về sau vua Louis XIV của Pháp thảo phạt Đức và thắng được, sau đó Friedrich II của Phổ lại đánh bại nước Pháp, để báo thù. Tiếp đó Napoleon I của Pháp lại chinh phục nước Đức và thắng được, và gần đây nhất là hoàng đế Wilhelm của Phổ đã đánh bại nước Pháp, báo thù mối hận thuở trước. Nếu cứ đời đời đánh phá lẫn nhau, kiếp kiếp báo thù lẫn nhau như thế thì đến bao giờ mới kết thúc đây? Hoàng đế Wilhelm của Phổ và Hoàng đế Napoleon của Pháp đúng là đã có thù oán rất sâu đậm. Thế nhưng Phổ của người Phổ và Pháp của người Pháp thì có oán thù gì với nhau đâu chứ?
Phổ của người Phổ và Pháp của người Pháp, người của hai nước này đều là người văn minh, đều là người có học thức, không phải là kẻ vũ phu lỗ mãng. Pháp ở đây chính là nước Pháp của người Pháp. Phổ cũng vậy, một lúc Phổ trở thành Phổ của người Phổ, tôi thấy chắc chắn họ sẽ gắn kết với nhau, trở thành huynh đệ. Pháp thì nhạy bén, Phổ thì trầm tĩnh, tôi thấy nhất định có thể kết thành bằng hữu được. Vậy còn Nga thì sao, Nga thì sao? Là kẻ vũ phu lỗ mãng. Nếu ngươi thoát khỏi nước Nga của Hoàng đế Alexandros[51] thì liệu nước Nga có thể trở thành của người Nga hay không!? Tôi biết rằng những người theo chủ nghĩa không đảng phái, ưa cuồng bạo đôi khi có sử dụng những thủ đoạn vô cùng gay gắt đương nhiên là có ý đồ sâu xa. Nước Anh cũng là nước văn minh, là những người có học vấn, là những người thích tích góp tài sản. Sở dĩ họ có hành động phóng túng cuồng bạo ở châu Á và châu Phi, thực chất là vì lo lắng mối họa hoạn từ Nga, cho nên mới bất đắc dĩ phải làm như vậy... Những nước như Anh, Pháp, Nga, Đức, các ngươi hãy cố gắng lưu tâm đừng để trong số con cháu của các ngươi có con quái vật được gọi là 'Hào kiệt' xuất hiện. Nhưng nếu không may con quái vật Hào kiệt xuất hiện thì hãy thận trọng, không được nghe những lời nó nói. Một khi các ngươi phạm phải sai lầm nghe lời nó nói thì bản thân các ngươi sẽ không còn thuộc sở hữu của các ngươi nữa mà chuyển sang thuộc sở hữu của chính con quái vật đó.
Tôi muốn nói thêm một điều nữa, hiện nay hầu hết những nước lớn trên thế giới đều ngu ngốc cả, cứ cố sống chết giữ gìn chế độ quân chủ, thì không chỉ rước họa cho bản thân, mà còn họa hại đến cả bậc quân chủ, hoặc là trong tương lai tai họa cũng giáng xuống bậc quân chủ. Những nước nhỏ tại sao không chủ động quyết tâm đi theo chế độ dân chủ, chế độ đó không chỉ mang lại hạnh phúc cho bản thân mà còn đem đến hạnh phúc cho cả bậc quân chủ nữa? Hầu hết các cường quốc trên thế giới đều nhút nhát, sợ hãi lẫn nhau, e dè lẫn nhau, [nên tìm cách] nuôi dưỡng binh đội, trang bị chiến hạm, [những điều đó] ngược lại là tự đẩy bản thân vào cảnh nguy hiểm. Những nhược quốc tại sao lại không cương quyết bãi bỏ binh đội, giải tán quân hạm để từ đó mong cầu sự bình yên?"
Người khách Hào kiệt khẽ nhích hai đầu gối tiến về phía trước, sau đó nói: "Những điều ngài Thân sĩ nói, quả đúng là những lời của một học giả. Lời lẽ của học giả hoàn toàn có thể viết thành sách nhưng không thể thực hiện được. Ngài Thân sĩ, ngài hãy thử đến London, Paris, Berlin, Saint-Petersburg rồi nỗ lực đề xướng những luận thuyết cao sâu của mình xem. Ký giả của những nước đó không chừng sẽ nửa đùa nửa thật đăng lên báo của họ đấy. Còn các chính trị gia thì e là..."
Vị Thân sĩ Tây học vội chen ngang: "Các chính trị gia nhất định sẽ xem nó là những thứ điên rồ. Nhưng chính việc bị các chính trị gia xem nó là điên rồ, mới là nguyên nhân khiến tôi cảm thấy tự hào. Học giả ư! Học giả ư! Chính những người hiện nay được gọi là chính trị gia mới thực sự là những người không am hiểu chính trị nhất trên đời. Học giả ư! Học giả ư! Người xưa từng nói rằng nếu không phải triết gia nắm quyền chính trị thì đừng mong chờ thiên hạ có được thái bình thật sự. Chính xác là như vậy."
Người khách Hào kiệt nói: "Ý kiến của ngài Thân sĩ tôi đã hiểu rõ, nhưng tôi vẫn có một điều muốn hỏi ngài. Ngài khuyên các nước nhược tiểu nhanh chóng đi theo chế độ dân chủ, vả lại còn lập tức giải trừ trang bị vũ trang binh lính, ý ngài phải chăng là muốn âm thầm kỳ vọng những nước dân chủ như Mỹ, Pháp sẽ cảm nhận được đó là chí hướng vĩ đại, là sự nghiệp lớn lao mà đưa tay ra chi viện hay không?"
Ngài Thân sĩ trả lời rằng: "Không, không. Dùng sự may mắn nhất thời để quyết đoán quốc gia đại sự chính là nguyên nhân khiến các chính trị gia luôn tính nhầm kế sách, đi theo đường sai và cuối cùng gặp phải thất bại. Trong mắt tôi chỉ có lý nghĩa. Còn nếu các nước Mỹ, Pháp cảm thấy chí hướng của chúng tôi vĩ đại, sự nghiệp của chúng tôi lớn lao mà ủng hộ chúng tôi hay nhóm các nước khác như Nga, Anh, Đức, đứng từ quan điểm cân bằng quyền lực[52] giữa vạn quốc mà bảo hộ chúng tôi thì đó đều là chuyện của bản thân họ, tôi sao có thể biết trước được."
Vị khách Hào kiệt nói: "Nếu vậy, giả như có một nước hung bạo, nhân cơ hội chúng ta giải trừ vũ trang binh bị, dấy quân kéo đến đánh úp thì chúng ta phải làm sao?"
Thân sĩ Tây học đáp lời: "Theo chỗ tôi biết thì tuyệt đối không có nước hung bạo nào như thế. Nhưng chẳng may có một nước hung bạo như thế thật, vậy thì chúng tôi phải tự mình nghĩ đối sách. Nhưng, điều tôi hy vọng là chúng tôi sẽ không phải cầm bất cứ loại binh khí nào, không cần nắm bất cứ quả đạn pháo nào, có thể thản nhiên nói với họ rằng 'Chúng tôi không có chỗ nào thất lễ với các vị, may mà chúng tôi cũng chẳng có lý do gì để bị chê trách. Đất nước chúng tôi cùng nhau cai trị thực thi chế độ cộng hòa, nội bộ trong nước không hề có tranh chấp. Chúng tôi không muốn các vị đến đây quấy nhiễu quốc sự của chúng tôi. Các vị hãy mau trở về nước của mình đi!' Nếu họ vẫn không nghe, vẫn nạp đạn vào súng tiểu liên, đại pháo vào nòng nhắm vào chúng tôi, đến lúc đó chúng tôi sẽ lớn tiếng hét lên 'Các vị sao lại vô lễ vô nghĩa như vậy!' Rồi sau, trúng đạn mà chết. Không có diệu kế gì khác."
Vị khách Hào kiệt bật cười: "Thật quá lắm thay, tư tưởng triết học che mờ tâm trí con người đến mức như thế này sao!? Ngài Thân sĩ thao thao bất tuyệt, cao đàm khoát luận nãy giờ mấy tiếng đồng hồ, bàn về tình hình thế giới, giảng về lịch sử chính trị, vậy mà sau rốt lại chỉ biết bảo nhân dân cả nước khoanh tay dưới làn đạn của kẻ địch, đồng loạt chấp nhận cái chết. Nói chuyện sao nghe đơn giản quá đi! Sự linh nghiệm của vị thần tiến hóa nổi tiếng rốt cuộc là như vậy sao? May mà tôi biết rõ rằng quần chúng nhất định sẽ không trông cậy vào lòng nhân từ của vị thần này."
Thân sĩ Tây học nói: "Hầu hết học giả châu Âu phản đối chiến tranh đều cho rằng, tấn công là trái đạo nghĩa, phòng ngự là hợp đạo nghĩa. Ý nghĩa ở đây là muốn đem quyền lợi phòng vệ chính đáng mà mỗi cá nhân đều có để áp dụng vào cho quốc gia. Theo quan điểm của tôi thì điều đó hoàn toàn đi ngược lại tôn chỉ của triết học. Tại sao vậy? Xưa nay, giết người là việc xấu. Vì nó phá vỡ trình tự mang tính sinh lý tự nhiên. Vì vậy thà người khác giết ta, chứ ta tuyệt đối không giết người. Và vấn đề không phải là ở người đó có phải là đạo tặc hung hãn hay không. Vì sao tôi lại nói như vậy? Bởi khi nói rằng anh ta muốn giết tôi nên tôi cũng phải giết anh ta, cũng hoàn toàn tương đồng khi cho rằng anh ta muốn làm việc xấu nên tôi cũng làm việc xấu. Cũng có người nói rằng: Tính mạng vô cùng đáng quý, vậy mà tên cướp kia lại muốn vô cớ cắt đứt sinh mệnh của tôi, cho nên tôi giết hắn là vì muốn bảo vệ sinh mệnh quý giá của mình, về quan điểm này, tôi muốn nói rằng sinh mệnh thật sự quý giá, một khi coi sinh mệnh của mình là quý giá thì sinh mệnh của người khác cũng quý giá như vậy. Vấn đề không phải là ở đối phương có phải là tên cướp hay không. Cho nên nếu nhìn theo hướng này, thì cách thiện lành nhất để bảo vệ sinh mệnh của mình là ngồi chờ cảnh sát đến. Nếu không làm thế mà lại cướp đoạt sinh mệnh của tên cướp, tức là đã đi ngược lại với tôn chỉ của triết học. Vì vậy mới nói rằng, quyền lợi phòng vệ chính đáng thực tế chỉ là chuyện bất đắc dĩ phải làm mà thôi.
Thế nhưng, nếu áp dụng đạo lý đó cho quốc gia thì rõ ràng sẽ thấy được nhiều điểm không hợp lý. Tại sao vậy? Bởi lẽ khi địch quốc kéo quân tiến đến tấn công mà ta cũng bày binh bố trận, bắn phá đạn pháo để tự phòng vệ, chỉ là sự tấn công trong phòng ngự, như thế cũng không tránh khỏi làm chuyện xấu, gây tội ác. Do đó tôi mới nói rằng, việc áp dụng quyền lợi phòng vệ chính đáng của cá nhân cho quốc gia thì sẽ đi ngược lại với tôn chỉ của triết học. Ngài Hào kiệt à, ý nguyện của tôi là mong muốn người dân nước tôi không mang vũ khí, không bắn đạn pháo, bị chết ở trong tay kẻ thù xâm lược là muốn toàn bộ quốc dân hóa thân thành một loại đạo đức sống, để làm mô phạm cho xã hội tương lai. Đến như quan điểm cho rằng anh ta làm việc xấu nên tôi cũng làm việc xấu, đó là quan điểm của ngài. Nhưng như thế chẳng phải là thô bỉ, là hạ thấp bản thân mình hay sao?"
Nam Hải tiên sinh trước giờ vẫn chỉ im lặng lắng nghe màn đối đáp giữa hai người họ, không nói một lời nhưng đến đây cũng nhấp một ly, nhân tiện mời hai vị khách rồi nói: "Cao đàm khoát luận của ngài Thân sĩ đây ta đã được nghe cả rồi. Vậy còn vị Hào kiệt, ta cũng xin lắng nghe những lời bàn quý báu của ngài, để ta mở mang kiến thức."
Thế là người khách Hào kiệt cất lời: "Nói đến chiến tranh thì theo lý luận của các học giả dù nó đáng ghét đến thế nào nhưng trên thực tế suy cho cùng nó vẫn là xu thế không thể tránh được. Vả lại ham muốn chiến thắng và căm ghét thất bại là bản tính của các loài động vật. Bất luận hổ, sư tử, chó sói, ngay đến những loài côn trùng, tất cả mọi loài sinh vật sống trong trời đất này không loài nào không tìm cách giành cướp để mưu cuộc sinh tồn. Ngài hãy thử nhìn mà xem, trong số các loài sinh vật, loài càng khôn khéo thì càng dũng mãnh, loài càng ngu muội thì càng nhút nhát. Vịt là loài ngu muội nhất trong các loài cầm, heo là con ngu đần nhất trong các loài thú. Vịt chỉ biết kêu cạp cạp, không biết đá cũng chẳng biết cắn. Heo chỉ biết kêu ụt ịt, không biết đá cũng chẳng biết cắn. Hai loài động vật này có thể gọi là ôn thuận hay không? Ngài hãy nhìn đám con trẻ mà xem. Nếu chúng được thả bò quanh mà thấy chó hay mèo thì chúng sẽ vung gậy đánh, nắm đuôi lôi đi, gương mặt bụ bẫm sẽ mỉm cười tỏ vẻ vui mừng. Những đứa nhỏ không làm như thế, chắc chắn là cơ thể nó yếu ớt, không khỏe mạnh. Hơn nữa, phẫn nộ là biểu hiện của nghĩa khí, người có nghĩa khí thì không thể không phẫn nộ. Vì vậy, mèo bắt chuột đó là nghĩa khí của mèo, sói bắt nai đó là nghĩa khí của sói. Như thế há có thể nói đó là hai loài bất nhân hay sao? Việc nói hai loài đó bất nhân, suy cho cùng chỉ là trong ngôn ngữ của loài người mà thôi.
Vả lại, ngay những người gọi là học giả, tôn sùng lý luận, khinh miệt chiến tranh nhưng thực tế vẫn chỉ là những người ham muốn chiến thắng căm ghét thất bại. Hãy thử quan sát khi hai học giả đối diện nhau mà xem, họ tự trình bày học thuyết của mình, cùng nhau tranh luận, thay nhau phản bác, cuối cùng là đôi bên cao giọng, nhổm gối về trước, trọn mắt nổi giận, xắn tay quén gối, đứng lên la hét, cãi nhau kịch liệt, không ai có ý định lắng nghe những lời đối phương trình bày. Nhất định họ sẽ nói rằng 'Không phải vì bản thân tôi hiếu thắng, mà là tôi muốn đạo lý bản thân mình chủ trương thắng mà thôi.' Đó là nói tránh thôi. Nếu thật sự chỉ muốn đạo lý mà mình chủ trương thắng thì tại sao lại không từ tốn, bình tĩnh trình bày quan điểm của bản thân.
Tranh [giành] là sự phát nộ của cá nhân. Chiến [tranh] là cơn thịnh nộ của quốc gia. Người không thể tranh là yếu đuối. Nước không thể chiến là nhược quốc. Nếu có người nói rằng tranh là đức tính xấu xa, chiến là kế sách hạ đẳng thì tôi muốn trả lời rằng: chẳng phải trong thực tế cuộc sống con người luôn có những đức tính xấu xa mà chúng ta phải bất lực sao? chẳng phải trong tình hình thực tế quốc gia cũng có những hạ sách được thực thi mà chúng ta chẳng thể làm gì khác sao? Thực tế như thế, há làm gì được?
Vì vậy, nước văn minh ắt là cường quốc, họ có chiến mà không tranh[53]. Có pháp luật nghiêm minh nên giữa người với người không tranh [giành]. Có binh lực hùng mạnh nên giữa nước với nước không thể không có chiến. Dân chúng lạc hậu thì thường xuyên tranh [giành], đâu rảnh rỗi mà chiến? Cho nên xem khắp sách vở lịch sử xưa nay sẽ thấy, những nước văn minh thời xưa chính là những nước thiện chiến thời xưa. Những nước văn minh thời nay cũng là những nước thiện chiến thời nay. Xứ Sparta thiện chiến, La Mã thiện chiến. Đến thời cận đại có Anh, Pháp, Đức, Nga là những nước thiện chiến nhất, cho nên cùng với sự tiến bộ không ngừng của xã hội, sự mở mang nhanh chóng của trí tuệ, thì việc sử dụng binh lực cho chiến tranh ngày càng nhiều, vũ khí ngày càng tân tiến, thành lũy ngày càng kiên cố. Vì thế, võ bị trở thành bảng thống kê thành tựu của các nước văn minh, chiến tranh trở thành nhiệt kế đo sức mạnh của các nước văn minh. Một khi hai nước chuẩn bị giao tranh, nước có học thuật cao hơn, có nguồn tài lực nhiều hơn chắc chắn sẽ giành phần thắng, bởi họ có võ bị đầy đủ. Trong năm châu lớn, châu Âu là văn minh nhất. Cho nên võ bị của họ đầy đủ nhất, năng lực chiến đấu của họ mạnh mẽ nhất. Đó chẳng phải là minh chứng sao? Đó chẳng phải là sự thật sao?
Nga có hơn trăm vạn binh lực, muốn nuốt chửng Thổ Nhĩ Kỳ, cũng muốn thôn tính Triều Tiên. Đức cũng có hơn trăm vạn binh lực, chân đã giẫm đạp đất Pháp, giờ lại muốn bành trướng thế lực sang châu Á. Pháp cũng có hơn trăm vạn binh lực, vừa muốn báo thù nước Đức, lại mới xâm lược lãnh thổ An Nam. Nước Anh có hàng trăm chiến hạm kiên cố, không nơi nào trên địa cầu không có thuộc địa của nó. Vả lại ngài không thấy điều mà các cường quốc châu Âu gần đây đang làm hay sao? Nga, Anh, Đức, Pháp trợn mắt nhìn nhau, nước nào nước nấy xoay vặn tay chân, bộ dạng chờ đợi thời cơ chín muồi sẽ nhanh chóng tức tốc hành động, giống như hàng đống bom mìn thuốc nổ đã được chất đống và lăn đầy trên đất, đến khi bất ngờ châm ngòi, là hàng ngàn hàng triệu binh sĩ sẽ giẫm nát đồng bằng châu Âu, hàng trăm hàng ngàn chiến hạm sẽ chiếm phá mặt biển châu Á. Đến lúc đó mà vẫn mải ca tụng ý nghĩa của tự do bình đẳng, chú tâm rao giảng tình nghĩa tứ hải giai huynh đệ, chẳng phải giống như Lục Tú Phu giảng bàn Luận ngữ [54] hay sao?
Giữa ngày hè nóng bức như thiêu như đốt, lại có người ngồi dựa lưng trên ghế, cúi mặt xuống bàn, khi mở sách đọc ngân nga, khi mắt nhắm nghiền phản quan[55], mồ hôi chảy đầy mặt, ướt đẫm lưng mà lại không cảm thấy nóng. Giữa canh năm[56] đêm mùa đông, ngọn đèn leo lét, lò sưởi nguội lạnh, mực trong nghiên đã dần đông cứng, tay chân đầu mặt, ngực bụng lưng eo không nơi nào ấm. Nhưng người đó vẫn ngồi dựa lưng trên ghế, cúi mặt xuống bàn, khi mở sách đọc ngân nga, khi mắt nhắm nghiền phản quan, mà bản thân chẳng cảm thấy rét. Anh ta đang thật sự có niềm vui nào đó chăng? Đúng là có niềm vui mà niềm vui đó còn cực kỳ to lớn. Trí tuệ trong đầu anh ta giờ trở thành vị thống soái chỉ huy toàn bộ sức mạnh của nội tâm, lấy phép quy nạp làm súng pháo, dùng phép diễn dịch làm quân hạm, bắn phá cường địch với vô vàn ngụy biện, rồi tiến vào đô thành của chân lý. Đó là niềm vui cực lớn. Thương nhân đánh thắng cường địch khủng hoảng thị trường, xem việc kiếm được lợi nhuận lớn là vui; nông dân đánh thắng cường địch thời tiết thất thường, coi chuyện mùa màng được bội thu là vui. Ngoài ra, dù theo bất cứ nghiệp nào, chuyên tâm vào ngón nghề nào, không ai không mong đạt thắng lợi, không ai không thích có niềm vui. Mỗi cá nhân đều mong có được niềm vui, vậy thì quốc gia sao có thể không muốn có niềm vui cho được? Thứ khiến cá nhân vui là trái tim của mỗi người. Còn điều khiến đất nước vui là chính sách của tể tướng, là tài thao lược[57] của võ tướng. Chính sách đúng đắn, sẽ khiến những nước tranh đi đầu kết minh với ta, chiến lược trác việt thì chỉ bằng một trận địch quốc đã đại bại. Niềm vui của quốc gia chẳng gì lớn bằng đó.
Hơn nữa, ngài Thân sĩ cho rằng chiến tranh không phải là chuyện tốt đẹp, luôn tưởng tượng ra nỗi dầm mưa dãi gió của binh sĩ, và cho rằng đó là nỗi khổ thực sự; thường tưởng tượng ra nỗi đau sứt đầu mẻ trán của binh sĩ, rồi tin rằng đó là nỗi đau thực sự.
Nhưng đó có phải là nỗi khổ thực sự hay không? Có phải là nỗi đau thực sự hay không? Chiến đấu chủ về dũng, còn dũng chủ về khí[58]. Khi đội quân hai nước giao tranh, [sĩ] khí như cuồng loạn, dũng [khí] như sục sôi, như ở trong một trời đất khác, một cảnh giới mới, nào biết khổ hay đau gì chứ?! Địch đóng quân ở nơi cách ta vài dặm, đại tướng bên ta phái quân do thám, điều tra cặn kẽ tình hình địch. Quân ta vòng qua sườn núi nọ, xuyên qua đường mòn kia, nhân khi địch sơ hở, ta bất ngờ xuất hiện sau lưng địch, bất ngờ xuất hiện bên cạnh địch, cùng lúc bắn pháo, đồng loạt xả súng, nhân làn khói tiến lên đột kích, thuận hướng gió đồng loạt xông tới, như thế chắc chắn quân ta chỉ tung một đòn mà giành chiến thắng. Còn tôi sẽ nhảy ra đứng tuyến đầu, nếu không chết tôi là người dũng mãnh nhất ba quân, dù có chết tiếng thơm vẫn sẽ lưu lại cho hậu thế. Đó là niềm vui của binh sĩ, là niềm vui cực lớn. Ngài Thân sĩ không run sợ cái giá rét tàn khốc, không kinh khiếp cái nắng nóng oi bức, mở sách cất tiếng ngâm nga, mắt nhắm nghiền để phản quan, mà không tự cảm thấy khổ đau. Thì đám võ phu sao lại xem tử thương là khổ đau được cơ chứ?
Trên đồng bằng bao la rộng lớn, chẳng thấy bóng dáng ngôi nhà nào trong vòng mười dặm, nhìn trông bốn phía là đồi núi nhấp nhô, quanh co gấp khúc tựa bức bình phong. Bầu trời trong xanh, làn gió dịu nhẹ, ánh bình minh rọi qua sương mù, một đám cỏ úa bày ra trên đất, nhìn kỹ thì ra là bị giẫm gãy. Quang cảnh bấy giờ ước chừng cuối thu hoặc là chớm đông. Quân địch bày binh bố trận ở phía trước, quân số có lẽ mười vạn hay mười một, mười hai vạn. Tướng hiệu bên đó người nào người nấy nổi danh giỏi dùng binh tác chiến. Binh lính cũng rất tinh nhuệ thiện thiến, vũ khí lại càng sắc bén. Quân của tôi có mười vạn, ai nấy đều dũng mãnh kiên cường, tín phục tài thao lược chỉ huy của tôi. Nếu quân của tôi thắng thì sẽ tiếp tục truy kích áp sát lưng địch, đuổi dài tấn công vào thành đô của địch, ép buộc nhượng lại đất đai, đòi hỏi nộp tiền bồi thường, giao ước giảng hòa được ký kết thì uy vũ của vương quốc chúng tôi ắt sẽ tỏa chiếu khắp bốn phương. Còn nếu không thể thắng mà phải chịu chết thì danh tiếng kiêu dũng lưu lại muôn đời. Ấy là niềm vui của bậc đại tướng, là niềm vui rất đỗi lớn lao... Ngài Thân sĩ à, ngài Thân sĩ, ngài cứ lấy bút mực làm niềm vui, còn tôi lại xem việc binh nhung là niềm tiêu sái."
Nam Hải tiên sinh nghe qua những lời này, khẽ cười rồi nói: "Hai vị tuổi đời còn trẻ, nhiệt huyết căng tràn, mỗi người đều có thể theo đuổi niềm vui riêng của mình. Còn niềm lạc thú của ta đây chỉ có uống rượu mà thôi." Nói rồi ông lại nhấp liền một, hai ly, vỗ vỗ ngực "Chà, đã quá!"
Chàng Thân sĩ Tây học nói: "Vị Hào kiệt, tôi và ngài đang tranh luận về sách lược quốc gia. Không phải luận bàn về lạc thú cá nhân. Có vẻ ngài cũng hơi lạc đề rồi đấy."
Nam Hải tiên sinh nói: "Vị Hào kiệt đây khéo mổ xẻ sự tinh tế của lòng người, giỏi miêu tả niềm lạc thú của nhân gian. Có vẻ như là đã học được từ học thuyết của nhà tâm lý học nào đó."
Vị khách Hào kiệt nói: "Kính mong hai vị thứ lỗi, tôi sẽ đi thẳng vào chủ đề chính ngay đây. Hiện nay sự cạnh tranh giữa các nước trên thế giới đều chú trọng vào quân sự, phàm mọi phát minh sáng tạo trong lĩnh vực học thuật, đều được dùng để trang bị quân sự, làm cho ngày càng trở nên tinh nhuệ. Như vật lý, hóa học hay toán học, hoặc là làm súng pháo trở nên ưu việt, khiến thành lũy ngày càng kiên cố. Còn nông nghiệp, công nghiệp hay thương nghiệp, hoặc là cấp chi phí để sản xuất vũ khí, hoặc là cung cấp lương thực phục vụ quân nhu. Binh sĩ hàng trăm vạn người, chiến hạm vài trăm ngàn chiếc, sở dĩ có thể vừa nghe hiệu lệnh, lập tức xông thẳng đến thành trì địch, lao thẳng tới hải cảng địch, đó là vì không ai không phục tòng quân lệnh, không ai làm trái kỷ luật.
Than ôi, dưới hàng trăm vạn ánh mắt hổ báo đang chằm chằm nhìn vào, người cai trị quốc gia ngoài việc dựa vào quân chính thì còn biết dựa vào thứ gì để tự bảo vệ và duy trì đất nước? Thế nhưng họ có hàng trăm vạn binh lính, ta chẳng qua chỉ có chục ngàn; họ có hàng trăm ngàn chiến hạm, ta lại có không quá vài chục, trước tình thế đó dù ta có ngày ngày thao luyện, đạt đến mức vô cùng tinh nhuệ, suy cho cùng cũng chỉ như lấy trứng chọi đá, như một trò đùa trẻ con, như một vật trưng bày khiến người ta vui mắt nhất thời mà thôi. Thế mà lại muốn dẹp bỏ sự khinh miệt của ngoại quốc thì đó không phải ngu ngốc cũng là điên khùng. Bến cảng của ta còn chưa bị phá hủy bởi pháo kích đó chẳng qua là do ta may mắn. Thành lũy của ta còn chưa bị ngọn lửa thiêu rụi đó cũng là do ta may mắn. Chứ họ vốn chẳng sợ gì ta, họ còn chưa tới xâm phạm nước ta chẳng qua vì bản thân họ chưa thể đến xâm phạm mà thôi, còn một khi họ đã muốn xâm phạm thì sẽ lập tức tiến công. Khi ấy bến cảng của ta sẽ bị công phá, thành lũy của ta sẽ bị thiêu đốt, châu quận của ta sẽ bị chia cắt phá hủy, rồi đô thành của ta... Ôi, trong thời đại ngày nay, các nước nhỏ mới nguy khốn làm sao!
Thế nhưng, nước nhỏ muốn đột nhiên biến thành nước lớn là điều không thể, nước nghèo muốn bỗng chốc trở thành nước giàu cũng là điều không thể. Binh lính ít cũng không thể tăng lên nhiều, chiến hạm ít cũng chẳng thể trở nên nhiều. Nhưng nếu không tăng binh lính, không thêm chiến hạm, không khiến đất nước trở nên giàu mạnh thì có thể sẽ đi đến con đường diệt vong cũng chưa biết chừng. Đây là lý luận của toán học. Ngài chưa từng thấy bài học từ Ba Lan và Miến Điện sao? May mắn làm sao, ngày nay chúng ta có kế sách khiến quốc gia trở nên lớn mạnh và phú cường, giúp tăng cường binh lính và thêm nhiều quân hạm, tại sao chúng ta không nhanh chóng lựa chọn triển khai những phương pháp này?
Không biết là ở châu Á hay ở châu Phi, bất chợt tôi lại quên mất, có một quốc gia rất lớn, tôi không thể nhớ được tên của nó. Quốc gia đó rất rộng lớn, tài nguyên vô cùng phong phú, nhưng nó lại là nước yếu. Tôi nghe nói, nước đó tuy có hơn trăm vạn binh sĩ nhưng hỗn tạp vô tổ chức, khi cần gấp thì chẳng thể dùng được. Tôi còn nghe nói nước đó có chế độ mà lại như không có. Đó là một con bò tế cực kỳ to lớn, mập mạp. Đó là món mồi mà ông trời ban cho để làm đầy bụng các nước nhỏ. Hà cớ gì ta lại không chạy ngay tới cắt lấy một nửa hay một phần ba? Chỉ cần một tờ chiếu lệnh ban ra, tuyển mộ hết thảy tráng đinh trong nước, ít ra cũng được bốn mươi, năm mươi vạn người, dốc hết ngân khố quốc gia ra, chí ít cũng mua được vài chục cho tới trăm chiến hạm. Binh đội tiến sang, thương nhân tiến sang, nông dân tiến sang, nghệ nhân tiến sang, học giả tiến sang; binh đội thì chiến đấu, thương nhân thì buôn bán, nông dân thì canh tác, nghệ nhân thì tạo tác, học giả thì giáo dục, đem cắt lấy một nửa hay một phần ba nước đó biến thành sở hữu của nước ta thì chẳng phải nước ta sẽ trở thành nước lớn sao? Tài vật dồi dào, dân số đông đúc, nếu lại thêm thực thi chính trị để giáo hóa, thì có thể dựng thành lũy, có thể đúc đại pháo, trên đất liền có thể huy động được hàng trăm vạn binh sĩ tinh nhuệ, trên biển đảo có thể neo đậu được hàng trăm ngàn quân hạm kiên cố. Nước ta nhỏ bé vụt chốc chuyển mình thành nước Nga, thành nước Anh...
Thế còn tiểu quốc ban đầu thì xử trí thế nào? Chúng ta đã đạt đến vị thế đại quốc mới nên không cần bận tâm đến tiểu quốc xưa cũ kia. Hơn nữa, đức quân thượng của ta đích thân thống lãnh trung quân[59], còn vị thủy sư đề đốc nào đó cùng với đại tướng nào đó, trung tướng nào đó, thiếu tướng nào đó cùng đi theo hộ vệ, bước lên chiến hạm nào đó vô cùng kiên cố để vượt biển, nhân thắng lợi của đạo quân nào đó bên ta mới giành được, chọn một vùng đất nọ làm kinh đô, xây dựng cung điện mới mẻ, kiến trúc rất đỗi nguy nga tráng lệ, lầu các mấy tầng vươn thẳng như chạm đến tầng mây, vũ lâm[60] đứng vòng quanh, phi kỵ[61] bọc bên ngoài, rõ ràng là nơi ở của bậc đế vương. Cho nên đức quân thượng của chúng ta trở thành đức quân thược của đại quốc mới. Tiểu quốc ban đầu kia cứ để mặc cho ngoại quốc đến xâm chiếm. Nga đến trước thì ta trao cho Nga. Anh đến trước ta trao cho Anh... Không, không! Đó không phải là thượng sách. Trong tiểu quốc ban đầu, có nhà dân quyền, có nhà dân chủ. Đám đó phần đông không ưa quân chủ, chẳng thích quân đội. Quân chủ của ta, quân đội của ta đều dời đến đại quốc mới. Cho nên đem tiểu quốc ban đầu giao hẳn cho những nhà dân quyền, nhà dân chủ này. Bọn họ nhất định sẽ rất vui mừng. Há chẳng phải là thượng sách sao?
Thế còn sơn lăng quân chủ các đời thì sao? Tuy những nhà dân quyền cực đoan ngoan cố, không ưa quân chủ đến thế nào, cũng sẽ căm ghét những bậc quân chủ đã băng hà như vậy, nhưng không đến mức có hành động vô lễ phá hoại sơn lăng phần mộ của họ. Mỗi năm phái khiển sứ giả sang tế tự, thì cũng không đến mức khiếm khuyết lễ truy viễn.[62]
Ta đã chiếm hữu đại quốc, đất đai rộng lớn, dân chúng đông đúc, quân đội hùng mạnh, quân hạm kiên cố, hối hả khuyên khích nông tang, gấp rút chấn hưng thương nghiệp, nhanh chóng bổ trợ công nghiệp, tức tốc sửa sang chính lệnh thì quốc gia sẽ ngày một giàu có về tài chính, nhờ đó ta nỗ lực thu mua thành tựu của văn minh Âu Mỹ, nhân dân cũng sẽ trở nên giàu có về tài chính, cũng sẽ thu mua thành tựu của văn minh Âu Mỹ, tới lúc đó các nước như Anh, Pháp, Nga, Đức dù có dũng mãnh cũng nào dám khinh miệt chúng ta nữa.
Vả lại, sở dĩ các nước Anh, Pháp, Đức, Nga trở nên phú cường như hiện nay, không phải là chuyện một sớm một chiều, mà do rất nhiều nguyên nhân phức tạp, cùng vô vàn phương thức đa dạng hình thành nên. Hoặc là có bậc quân vương hiền triết cai trị, thi hành chính trị nhân từ; hoặc là có bậc tể tướng tuấn kiệt phò tá quân vương, quán xuyến hết thảy nội chính ngoại giao; hoặc là có bậc danh tướng kiến lập công lao vĩ đại; hoặc là có kẻ sĩ học rộng hiểu nhiều đề xướng nghĩa lý uyên áo thâm sâu; hoặc là có nhiều nghệ nhân tạo ra những khí cụ tinh xảo. Thời bình thì tích lũy, chìm lắng, thời chiến thì khuấy động, chắt lọc. Dùng cơn mưa rào tưới nó thêm mát, đem ánh nắng vàng hong nó thêm khô. Khi thì rời con đường hẻm dốc bước ra nơi đường bằng, khi thì rời con nước xiết chảy vào dòng yên, khi thì trái, khi thì phải, khi thong dong, khi gấp gáp, trải qua trăm cay ngàn đắng, muôn vàn khó khăn mới bước vào được cảnh giới của văn minh. Đã tiêu tốn biết bao năm tháng, tổn phí biết bao trí lực, bỏ ra biết bao công phu, mất đi biết bao sinh mệnh, tiêu tán biết bao tài vật.
Thế mà chúng ta lại muốn ngồi một chỗ hưởng thụ thành quả đó, nếu muốn nhảy một bước là vào tới cảnh giới văn minh thì chẳng có cách nào khác ngoài việc bỏ tiền ra mua. Có điều cái giá của văn minh thì vô cùng đắt đỏ, không thể mua được nếu chỉ dựa vào chút bạc ít ỏi. Vì thế, nếu một nước nhỏ nhất quyết muốn mua bằng được thì tài chính quốc gia ắt sẽ vụt chốc trở nên khánh kiệt. Nếu chi từng chút một để mua từng ít một thì trong lúc còn chưa mua được bao nhiêu ta đã bị họ thôn tính rồi. Tại sao vậy? Bởi vì nước ta tuy nhỏ nhưng nếu họ thôn tính, suy cho cùng cũng giúp nội hàm văn minh của họ thêm phong phú, có thể ít nhiều cũng có lợi cho họ. Hoặc giả dù họ ôn hậu, có lòng thương xót mà không thôn tính ta nhưng họ là đại cường quốc còn ta là nhược tiểu quốc, ta cũng sẽ chẳng thoát khỏi tình cảnh bị đồng hóa, rồi dẫn đến tự hủy diệt. Giống như một giọt nước dưới ánh nắng gay gắt mùa hè, dẫu mặt trời không cố ý hong khô nó, thì rồi nó cũng sẽ tự bốc hơi mà tan biến. Đó chính là xu thế giữa mạnh và yếu, giữa lớn và nhỏ.
Vì vậy, dù có rất nhiều cách khác nhau khi các nước hậu tiến muốn có được nội hàm của văn minh nhưng nhìn chung đều không ngoài cách bỏ ra rất nhiều tiền để mua nó. Riêng với các nước nhỏ thì việc bỏ ra một khoản chi phí khổng lồ như thế là điều không thể, do đó họ phải tiến công mà xâm chiếm một nước lớn khác, phải khiến nước mình trở thành nước giàu có mới được. Thế nhưng, nhờ sự che chở phù hộ của trời, trước mắt đột nhiên có một nước lớn, đất đai màu mỡ, mà binh đội yếu nhược, còn có vận may nào hơn thế không? Giả như khiến nước lớn ấy trở nên cường thịnh, ta có muốn chiếm lấy để khiến bản thân trở nên giàu có cũng là điều không thể. May thay hiện tại nước lớn ấy ì ạch yếu ớt, rất dễ chinh phục, ta là nước nhỏ sao không nhanh chóng chiếm lấy chứ? Chiếm lấy nước lớn để tự làm giàu, tự làm mạnh chúng ta, so với việc không chiếm lấy để rồi chúng ta phải tự hủy diệt, chẳng phải là tốt hơn vạn vạn lần hay sao?"
Vị Hào kiệt lại uống thêm một ly rồi tiếp tục nói: "Vả lại dù chúng ta xét từ góc độ chuyên tâm dốc sức sửa sang nội chính nhằm tạo nền tảng vững chắc cho nền văn minh trong tương lai, thì hiện nay việc thực hiện chính sách chinh phạt ngoại quốc là điều không thể tránh khỏi. Tiếp theo tôi sẽ bàn về vấn đề đó.
Con đường để các nước lạc hậu có thể tiến lên văn minh là nhất loạt mọi phương diện từ văn vật, phẩm cách[63], phong tục, tình cảm từ xưa đến nay đều buộc phải thay đổi. Khi đó nhân dân trong nước ắt sẽ nảy sinh hai luồng tư tưởng: một là hoài cựu (bảo thủ), hai là hỉ tân[64] (cấp tiến), dẫn tới quan điểm đối lập nhau và đây là xu thế tự nhiên. Những người hoài cựu cho rằng, tất cả những thứ như văn vật, phẩm cách, phong tục, tình cảm theo xu thế mới đều hời hợt, lố lăng, cảm giác như nhìn sẽ dơ mắt, nghe sẽ bẩn tai, nói miệng mắc ói, nghĩ sẽ chóng mặt. Còn những người hỉ tân lại hoàn toàn trái ngược, cho rằng chính những thứ xưa cũ đều thối nát hủ bại, giống như một thứ mùi hôi thối, nên phải cố gắng theo đuổi những điều mới mẻ, chỉ sợ lạc hậu. Ngay cả những người không đến mức cực đoan như những người theo hai luồng tư tưởng trên thì nếu phân biệt rạch ròi, chắc chắn họ cũng sẽ thuộc vào một trong hai nhóm tư tưởng trên. Chung quy lại thì trong tư tưởng của quốc dân, hoài cựu và hỉ tân là hai nhân tố không thể dung hòa như nước với lửa vậy.
Có điều để triển khai phân tích hai nhân tố này lại không hề dễ dàng chút nào, nhưng nếu căn cứ vào độ tuổi và thói tục của vùng đất để phán đoán thì đại thể cũng có thể phân định được. Chi bằng các vị hãy thử kiểm nghiệm trong thực tế xem. Những người tuổi trên 30 thường ngả theo hướng hoài cựu, còn những người dưới 30 tuổi hầu hết đều có khuynh hướng hỉ tân. Tức là những người trên 30 tuổi, dù bản thân họ có cố gắng trong việc lựa chọn và tiếp thu những điều mới mẻ, nhìn qua thì giống như là họ cũng thuộc khuynh hướng hỉ tân, song nếu quan sát kỹ, ta có thể nhận thấy, bất giác họ cũng nảy sinh tâm lý hoài cựu, vả lại tâm lý đó không ngừng tăng theo độ tuổi. Còn những người dưới 30 tuổi không thể tránh khỏi sự ảnh hưởng từ sự giáo dục của phụ huynh hay sức nặng của thói quen hoài cựu trong môi trường sống nhưng trong hành động hay ngôn từ của họ luôn tự nhiên bao hàm những nhân tố hỉ tân, đến mức không thể dung hòa với nhân tố hoài cựu. Điều này không có gì kỳ lạ. Với những người trên 30 tuổi, ngay từ khi 12,13 tuổi, tức là sau khi đến tuổi bắt đầu có được chút ít nhận thức về nhân tình thế thái, có thể nói công việc hằng ngày nếu không phải là tụng Kinh Thi, Kinh Thư, đọc Luận ngữ, Mạnh Tử, thì cũng là luyện kiếm đạo, tập thương giáo, lại thêm những thứ nhìn thấy, những thứ nghe thấy, những thứ đọng lại trong tâm chí tất cả không gì ngoài những điều xưa cũ, nó khắc sâu trong cốt tủy, không thể xóa nhòa. Còn với những người dưới 30, trong tâm trí họ vẫn chưa được tiếp thu điều ấn tượng sâu sắc nào trước đó, cho nên sẽ nhanh chóng bị những thứ mới mẻ choán chỗ, quan điểm hỉ tân sẽ luôn chiếm vị trí chủ đạo trong tâm hồn. Đó là lý do khiến sự ưa chuộng của hai lứa tuổi này trở nên khác biệt.
Cũng có người nói rằng, 'dù nhiều người trên 30 tuổi nhưng ngay từ rất sớm họ đã học sách của Pháp, của Anh hoặc đọc nhiều sách dịch hoặc theo xu thế của thời đại, nỗ lực hoạt động, đào sâu nghiên cứu những tư tưởng học thuyết tự do, bình đẳng, quyền lợi, trách nhiệm, gắng gỏi đi vào con đường mới, không chấp nhận thua kém giới trẻ, vì thế không thể dùng tiêu chí tuổi tác để phân biệt được.' Quả đúng như vậy. Với những người có tài năng cao minh, có tri thức trác việt thì không thể dùng những lý luận thông thường mà luận bàn được. Ngoài ra những người không chịu sự ràng buộc bởi tuổi tác quả là hiếm hoi.
Các vị cứ thử quan sát một người trên 30 tuổi đối xử với vợ và con của anh ta mà xem. Khi nhìn thấy con trai cầm dù vải để che nắng trong ngày hè, hoặc dùng khăn choàng để làm ấm giữa mùa đông, anh ta sẽ liền quát mắng: 'Sao con lại yếu ớt như thế chứ, nắng mặt trời có gì đáng sợ, gió mùa đông có gì kinh hãi/ Ẩn ý đằng sau những lời nói đó, không phải là muốn con mình phải tôi luyện giữa cái lạnh, cái nóng, chẳng qua đơn giản là khi nhỏ anh ta chưa từng sử dụng qua hai món đồ đó. Hay khi nghe người vợ của mình trao đổi về học vấn, nghệ thuật hay bàn luận các vấn đề thời sự anh ta lại nghiêm nghị răn đe: 'Cô là phận đàn bà, lo chuyện bếp núc là được rồi, sau này đừng có mở miệng nói những chuyện đó nữa, người ta cười cho đấy.' Ẩn ý đằng sau những lời nói đó, không phải do họ quan ngại tình trạng 'Tẫn kê tư thần'[65], chẳng qua đơn giản là thời trẻ họ chưa từng nghe qua phụ nữ bàn những chuyện như thế. Thế nhưng, con của người đó lại trộm cười mà nói rằng: 'Sao cha lại cục cằn không hiểu chuyện bảo vệ bản thân gì hết thế nhỉ.' Vợ anh ta cũng nói sau lưng rằng, 'Lão chồng gì mà gia trưởng thế không biết, chẳng hiểu thời thế gì cả.' Chính vì tình trạng đó cho nên mới nói hai nhân tố hoài cựu và hỉ tân, đại khái có thể phân biệt được bằng tuổi tác.
Ngoài ra, hai nhân tố này còn có thể phân biệt được nhờ vào thói tục của vùng đất. Đại khái thì vào thời phong kiến, những phiên lớn có mức thu nhập trên hai mươi vạn thạch[66] đa phần sẽ đóng cửa phiên ấp, cấm người vùng khác ra vào. Do đó, tất cả những gì người ta nhìn thấy nghe thấy trong cuộc sống đều là những chuyện xảy ra trong phiên, cho đến cuối đời thì những người mà họ tiếp xúc cũng chỉ là đàn ông phụ nữ trong phiên. Vì thế tư tưởng, phong tục, trang phục, đến cả ngôn từ tự động trở thành một cái khuôn nhất định, và rồi phiên đó nghiễm nhiên trở thành một chủng tộc khác. Còn phiên nhỏ có mức thu nhập dưới hai mươi vạn thạch dẫu ở nơi thôn ấp xa xôi hẻo lánh, không giao thiệp với phiên khác thì cũng không khác gì mấy. Có nghĩa là phong tục ở những phiên này đều chất phác mà thượng võ, điều đó trở thành bản sắc của phiên. Vì thế phần nhiều người dân nơi đây nếu không thuộc hạng hào sảng lại hiền hậu, quê mùa nhưng hùng dũng, thì cũng thuộc hạng đố kỵ lại nham hiểm, đần độn lại ngu xuẩn. Cho nên đa số người trong phiên đều ôm ấp điều cũ kỹ, ghét những điều mới mẻ, khí chất thì khảng khái bi phẫn quá mức nhưng lại thiếu sự chăm chút chu đáo. Giả như phiên quốc ở khu vực thông thương thuận tiện về bốn phương tám hướng, thì dân chúng bình sinh được tiếp xúc với muôn sự vật, gặp gỡ muôn nhân sĩ khắp bốn phương, sống trong tình trạng đa sắc. Khi ấy, phong tục của họ sẽ hoa lệ mà chuộng văn. Đa phần dân chúng trong phiên nếu không phải người mẫn tuệ, chu đáo thì cũng là những người nịnh nọt, bạc bẽo. Chính vì thế họ sẽ rất mau lẹ trong việc từ bỏ cái cũ, nắm bắt điều mới. Với những người có tài năng cao minh, có tri thức trác việt, đương nhiên không thể dựa vào lẽ thông thường mà bàn luận. Có điều ngoài những người đó ra, những người không chịu sự ràng buộc bởi thói tục của vùng đất quả là rất ít ỏi. Cho nên tôi mới nói rằng, đại khái có thể dựa vào thói tục của vùng đất để phân biệt hai nhân tố hoài cựu và hỉ tân.
Thế nhưng, ở những nước lạc hậu đang trên đường đi đến văn minh rồi bất ngờ phải đối diện với tình trạng cải cách, hai nhân tố này được khuếch trương từ trong chính phủ ra đến ngoài xã hội, được phổ rộng từ quan lại cho tới dân chúng, nó ẩn tàng len lỏi khắp trong tâm hồn nhân dân cả nước, đọ sức nơi nơi, tranh nhau phần thắng, nó xuất hiện giữa tể tướng và đại thần khiến tể tướng và đại thần nảy sinh xung đột, nó xuất hiện giữa bá quan văn võ khiến trăm quan phát sinh mâu thuẫn, nó xuất hiện giữa các nhân sĩ trong xã hội khiến các nhân sĩ trở thành đối kháng, khiến công nghiệp và nông nghiệp trở nên xung đột, khiến thương mại buôn bán trở nên bất ổn, khiến cha mẹ con cái bị chia rẽ, khiến vợ chồng bất hòa, khiến con em bất kính, khiến bạn bè mâu thuẫn. Trên từ sách lược trăm năm xây dựng triều đình, dưới đến công việc thường ngày của nhân dân; hiện rõ qua những vấn đề nghị luận đường đường chính chính, ẩn tàng trong những chuyện vụn vặt như ăn uống, sở thích, một khi cơ tâm[67] con người còn tồn tại thì hai nhân tố này chắc chắn sẽ còn bài xích lẫn nhau, cạnh tranh lẫn nhau, không thể điều hòa. Do đó, trong một nước, ngoài sự phân chia theo nghề nghiệp vốn có như kẻ trong triều đình người ngoài xã hội, quan lại và dân chúng, học giả và người làm nghệ thuật, nông dân công nhân thương nhân thì còn hai đảng phái mới sinh ra. Đây thật là một căn bệnh trầm trọng khó chữa trị.
Vị đại thần nọ, vị tướng quân kia là người của phiên A ngày xưa. Ngài đại thần kia, ngài tướng quân nọ là người của phiên B ngày xưa. Phiên A là một phiên lớn, nếu không thì cũng nằm ở vùng xa xôi hẻo lánh, không giao thiệp với người của phiên khác. Phong tục ở nơi đó chất phác mà thượng võ, con người ở nơi đó nếu không thuộc dạng hào sảng mà hiền hậu, thì cũng là những kẻ đố kỵ mà nham hiểm. Phiên B là một phiên nhỏ, nếu không thì cũng nằm ở vùng giao thông thuận tiện khắp bốn phương tám hướng. Phong tục ở nơi đó hoa lệ mà trọng văn, người dân ở nơi đó nếu không thuộc dạng thông tuệ mà chu đáo thì cũng là những kẻ xiểm nịnh và hời hợt. Nhìn vào đây chúng ta có thể biết rõ nước nào có nhân tố hoài cựu nổi trội, nước nào có nhân tố hỉ tân mạnh hơn. Còn nếu là những nhân sĩ có tài năng cao minh, có tri thức trác việt thì tôi cũng không thể nào phán đoán được.
Vị đại thần nọ, vị tướng quân kia khoảng 40, 50 tuổi. Ngài đại thần kia, ngài tướng quân nọ thì khoảng 20, 30 tuổi. Chỉ nhiêu đó thôi là chúng ta có thể biết rõ nước nào có nhân tố hoài cựu nổi trội, nước nào có nhân tố hỉ tân mạnh mẽ. Còn nếu là những nhân sĩ có tài năng cao minh, có tri thức trác việt thì tôi cũng không thể nào phán đoán được.
Vả lại trong số các nhân sĩ khắp xã hội, ngay giữa những người cùng đề xướng chủ nghĩa tự do, cùng khuếch trương học thuyết cách tân, thì hai nhân tố hoài cựu và hỉ tân vẫn âm thầm phát huy tác dụng, khiến những người theo đuổi hai xu hướng đó đều mang nhiều nét sắc thái khác nhau. Hãy thử nhìn mà xem, những người mang trong mình nhân tố hỉ tân nổi trội, họ tôn sùng lý luận, coi khinh vũ lực, ưu tiên sản nghiệp đi trước, để cho võ bị theo sau, nghiên cứu học thuyết đạo đức pháp luật, đào sâu tìm hiểu nguyên lý kinh tế, bình sinh luôn tự hào là học giả là văn nhân, kịch liệt bài xích đám người võ phu hào kiệt và lên án mạnh mẽ thái độ quát mắng lỗ mãng. Vì thế đương nhiên họ ngưỡng mộ Thiers[68], Gladstone[69], chứ không phải Napoleon hay Bismarck[70]. Còn những người mang trong mình nhân tố hoài cựu mãnh liệt thì không như vậy. Họ cho rằng tự do là hành vi phóng túng tùy tiện; bình đẳng là công cuộc diệt trừ tận gốc, nên họ luôn xem tâm thế bi phẫn cảm khái là niềm yêu thích, mà không ưa những thứ như pháp luật học khô khan, khó hiểu hay kinh tế học tỉ mỉ, chặt chẽ.
Vì thế nếu cho những người này đọc lịch sử cách mạng Pháp, đến đoạn cả nước Pháp xảy ra bạo loạn, rồi Hội nghị Lập pháp quốc gia cho tới Hội nghị chế định hiến pháp xây dựng điển chương[71] bất hủ, mở ra tân thế giới trong thế kỷ 19 thì họ cũng hoàn toàn chẳng mảy may quan tâm. Vậy mà khi nhìn thấy Robespierre, Danton[72] thay nhau tàn sát bạo ngược, họ lại nhảy cẫng lên hô hét sảng khoái, đến mức nước miếng nhỏ dài ba thước, thèm muốn được bắt chước hành vi của những người đó. Điều này không có gì kỳ lạ. Bởi những người này từ 20, 30 năm trước đều xem không có gì vinh quang hơn việc vung đao múa kiếm, da ngựa bọc thây[73], tập tục thượng võ được tổ tiên xa xưa truyền lại, và hình ảnh kiếm ba thước được xem là biểu tượng. Truyền lại đến đời mình lại càng trân quý giữ gìn, không để mất tập tục đó. Đến khi sắc lệnh bãi bỏ đao kiếm[74] được ban hành, họ đành nuốt lệ cất kiếm vào rương, nhưng trong thâm tâm vẫn không ngừng hy vọng có một ngày gần đây sẽ sớm có dịp đem nó ra sử dụng.
Sau này khi học thuyết tự do dân quyền từ ngoại quốc truyền vào, những người này chẳng hẹn ước mà cùng nhau hướng về, cùng nhau tụ tập nơi nơi, đứng lên thành lập đảng phái, những võ phu ngày trước vụt chốc trở thành chính trị gia văn minh. Than ôi, họ há thực sự là những chính trị gia văn minh chăng? Trong đầu họ vốn ngập tràn tư tưởng da ngựa bọc thây, nhưng khổ nỗi không thể phát tiết ra được. Đúng lúc nghe thấy học thuyết tự do dân quyền, nhận thấy trong đó tồn tại một thứ tinh thần quả cảm, kiên cường, mạnh mẽ nên mới sung sướng nghĩ rằng nó có điểm tương đồng với tư tưởng da ngựa bọc thây của mình, rồi tự nhủ chi bằng đem chủ nghĩa dân quyền do hải ngoại truyền tới để thay thế cho tư tưởng da ngựa bọc thây vốn là di vật của thời phong kiến. Có lẽ lịch sử tiến hóa tư tưởng của những người này là theo cách ấy. Rõ ràng đó vốn không phải là sự tiến hóa thực sự. Những người này vô cùng ưa chuộng quốc hội, bởi họ thích thoải mái đứng lên gào thét, thỏa chí phản kháng tể tướng, đại thần. Họ cũng rất thích cải cách nhưng không thích việc bỏ đi cái cũ, mưu cầu thứ mới. Chỉ đơn giản là thích cải cách. Xấu tốt gì cũng được, chỉ là thích cải cách. Thích phá hoại vì cho rằng nó toát lên vẻ dũng mãnh. Không thích kiến thiết vì cho rằng nó có điều gì đó bất ổn. Đặc biệt không thích bảo thủ vì cho rằng đó là thứ hèn nhát nhất.
Do họ chưa có quyền ứng cử, dẫn đến không thể tham dự quốc hội, cho nên ở con đường nào đó tại thành phố phía nam, trên ngõ hẻm nào đó ở thành phố phía bắc có một ngôi miếu hoang, thì đó chính là câu lạc bộ của họ. Họ dồn toàn bộ tâm sức, tấn công đại thần, công kích bộ trưởng, tập kích nhà báo. Chỉ là thích công kích thì công kích thôi, còn lý do tại sao lại công kích thì ngay từ đầu bản thân họ cũng không hề biết. Rồi họ còn tiến hành in ấn và phát hành báo, và chữ nào là chữ xuất hiện nhiều nhất trong các bài xã luận? Tôi biết các từ 'lật đổ', 'phá hoại', 'tàn sát', 'đồ sát' xuất hiện không hề ít. Còn với danh từ, họ thích sử dụng các từ 'ruột gan', 'máu tươi', 'đầu chân' khiến bài luận thêm tính văn chương mỹ lệ. Khi ấy tôi mới chợt nhận ra rằng, Marat[75] hay Saint-Just[76] của Pháp hoạt động trong khoảng ba, năm năm trước Cách mạng Pháp nhất định là thuộc nhóm hoài cựu.
Than ôi, hai nhân tố hoài cựu và hỉ tân như hai bức tường kiên cố đối lập ở giữa triều đình, đôi khi nó là trở ngại ngăn cản kế hoạch lâu dài của quốc gia, phải làm thế nào đây? Hiện tượng đó có thể thấy đầy rẫy trong lịch sử cổ kim, thực sự khiến người ta phải đau đầu, chau mày ủ rũ.
Nhân tố hoài cựu đại để sẽ có dáng vẻ đạo mạo trang nghiêm, chí khí hào hùng, hoặc có vẻ giống như hào hùng. Mà mỗi khi gặp chuyện luôn nhất quyết thực hiện đến cùng, không cân nhắc tới rủi ro sau này, không e ngại dư luận xã hội. Vào những khi nhàn rỗi thường ngày, luôn xem việc khoanh tay trầm tư làm vui, với những chuyện cần suy nghĩ cân nhắc chu đáo cẩn thận để thực hiện cho thuận lợi suôn sẻ thì lại cho rằng đó đều là những chuyện vặt vãnh, không đáng phải ra tay thực hiện, còn biện hộ rằng 'tôi vốn không khéo léo, không đủ năng lực để gánh vách việc như thế, cậu [nào đó] thông minh nhanh nhẹn, làm việc chăm chỉ nhiệt tình. Không còn nghi ngờ gì nữa chỉ [cậu đó] mới giải quyết được việc này'. Tức là bình sinh, đối với những chuyện không quan trọng thì rất giỏi trong việc giả bộ ngờ nghệch, rất khéo trong việc ra vẻ vụng về, hoặc dù biết rõ nhưng vẫn cố tỏ ra là không biết, hoặc việc làm được nhưng vẫn cố ra vẻ là không làm được, đùn đẩy công việc cho người khác, xem như không liên quan đến mình. Ý họ cho rằng đó những chuyện nhỏ, chuyện vặt vãnh, đâu đáng để chính bản thân họ phải dụng tâm? Thế nhưng một khi gặp phải những vấn đề liên quan lợi hại thì lập tức nghển cổ khảng khái trình bày, không hề bận tâm đến lời bàn của mọi người, bất luận mọi người tán thành hay phản đối, cũng nhất quyết luôn coi việc ai ai cũng phải thực hiện theo chủ trương của bản thân làm mục đích, còn nếu như trong quá trình thảo luận mà mọi người nghiêng theo ý kiến của người khác thì người đó cho rằng đó là nỗi sỉ nhục cực lớn.
Nhân tố hỉ tân thì không như thế, mỗi khi gặp chuyện gì, bất luận nhỏ hay lớn ắt đều thận trọng, tập trung giải quyết, cân nhắc kỹ càng, kiểm tra từng phần từ đầu đến cuối, sau khi đã nghiên cứu tỉ mỉ nhiều lần, cẩn thận và chắc chắn rằng không còn chỗ sai nhầm nào thì mới coi là xong việc, nếu không sẽ tiếp tục kiên quyết làm tới cùng. Do vậy nét mặt luôn thể hiện sự tươi tắn, vui vẻ, ý chí luôn toát lên sự điềm tĩnh, chín chắn hoặc là có vẻ điềm tĩnh, chín chắn.
Nhân tố hoài cựu xem không lùi bước là mục đích, còn nhân tố hỉ tân coi không thất bại là mục đích. Hãy nhìn mà xem, xưa nay khi hai nhân tố này cùng đứng cạnh nhau trong triều đình thì việc lựa chọn nhân tố nào để triển khai luôn khiến người ta không thể nào hiểu nổi. Điều này chẳng có gì là kỳ lạ, khi hai nhân tố tranh đấu, nếu nhân tố hoài cựu đắc thắng ắt mệnh lệnh của quan phủ thể hiện sự quyết đoán, còn nếu nhân tố hỉ tân đắc thắng ắt mệnh lệnh của quan phủ toát lên sự chu toàn. Thế rồi, sau vài năm hoặc nhanh thì vài tháng hãy thử so sánh kết quả mệnh lệnh của quan phủ trước và sau khi thực thi, chúng ta sẽ nhận thấy hai xu hướng hoàn toàn khác nhau. Cho đến những nhân vật được tiến cử, được tuyển chọn cũng vô cùng khác biệt, cụ thể là thế nào? Họ tiến cử những người họ yêu quý, tuyển lựa những người họ ưng ý, đó là cảm xúc tự nhiên. Vì thế những quan lại có năng lực hoặc có vẻ có năng lực sẽ được nhân tố hỉ tân vui mừng thu hút, những quan lại có tiết tháo hoặc có vẻ có tiết tháo sẽ được nhân tố hoài cựu hào hứng đón nhận. Đây vốn là phản ứng hóa học trong lĩnh vực tâm lý. Thế là, bất kể trên từ người đứng đầu các bộ ngành, dưới đến nhân viên lưu trữ sổ sách quèn nếu không bị nhân tố thủ cựu thu hút, ắt sẽ nương theo nhân tố hỉ tân, quy phụ dựa theo, trang điểm tô sức, tự quảng bá cá nhân hôm nay, mong tạo chỗ đứng cho ngày sau, đến mức biến chốn quan phủ đường hoàng trở thành sào huyệt của đảng phái, không hiếm những dẫn chứng trong lịch sử về vấn đề này.
Ngài Thân sĩ à, ngài Thân sĩ! Trong một đất nước, bất luận ở trong triều đình hay chốn thôn quê, hai nhân tố luôn đấu tranh lẫn nhau, đã đấu tranh ắt có nhân tố giành phần thắng, đến một lúc nào đó sẽ nảy sinh mâu thuẫn, hai nhân tố muốn quyết thắng bại bằng một trận đấu, đến lúc ấy đất nước nguy hiểm biết nhường nào? Cho dù không đến mức như thế, cả hai nhân tố đều tự kiềm chế, nỗ lực điều hòa lẫn nhau, thế nhưng bản chất hai nhân tố ấy vốn không thể dung hòa, ắt sẽ không thể tránh việc phát sinh trở ngại trong công việc, vậy thì làm thế nào đây? Trong hai nhân tố ắt phải loại bỏ một nếu không sự nghiệp của quốc gia không có cách nào thực thi được. Ngài Thân sĩ ơi, ngài Thân sĩ, giả như không thể loại bỏ một nhân tố nào trong hai nhân tố đó thì vị thần tiến hóa mà ngài tôn sùng, thiết nghĩ cũng không còn linh nghiệm đâu."
Vị Thân sĩ Tây học liền nói: "Nếu nhất quyết phải loại bỏ một trong hai nhân tố, ngài sẽ loại bỏ nhân tố hoài cựu hay hỉ tân?"
Vị Hào kiệt nói: "Đương nhiên là nhân tố hoài cựu. Nếu coi nhân tố hỉ tân là phần thịt tươi sống thì nhân tố hoài cựu là ung nhọt."
Thân sĩ Tây học nói: "Khi nãy ngài chê cười lời bàn của tôi, rằng đó là lý luận bảo thủ, cổ hủ của đám học giả. Thế mà giờ đây, khi bàn đến hai nhân tố của quốc gia trước tình thế cải cách, ngài lại có ý định giữ lại nhân tố hỉ tân, loại bỏ nhân tố hoài cựu, thậm chí còn gọi nó là ung nhọt. Lý luận của ngài sao mà mâu thuẫn trước sau vậy. Chân lý vốn không phải những điều xằng bậy như thế."
Vị khách Hào kiệt cười nói: "Quả đúng, ngài chính là nhân tố hỉ tân thuần túy. Đã theo chế độ dân chủ, còn muốn từ bỏ quân bị [từ bỏ xây dựng quân đội]. Tôi dĩ nhiên là nhân tố bảo thủ, muốn dựa vào vũ lực cứu quốc. Ngài chỉ biết vỗ béo phần thịt tươi sống. Tôi lại mong muốn vì quốc gia loại bỏ ung nhọt.
Nếu không loại bỏ ung nhọt thì dù muốn vỗ béo phần thịt tươi sống cũng là chuyện không thể."
Thân sĩ Tây học hỏi: "Làm cách nào để loại bỏ ung nhọt?"
Vị khách Hào kiệt đáp: "Cắt bỏ thôi."
Thân sĩ Tây học nói: "Ngài chớ đùa vậy. Ung nhọt là bệnh nên đương nhiên có thể cắt bỏ, còn nhân tố hoài cựu vốn thuộc thân thể con người, há cắt được chăng? Ngài, xin chớ đùa giỡn như vậy."
Vị Hào kiệt nói: "Ung nhọt thì cắt bỏ, còn nhân tố hoài cựu thì tiêu diệt thôi."
Thân sĩ Tây học hỏi: "Làm cách nào để tiêu diệt nhân tố hoài cựu?"
Vị khách Hào kiệt đáp: "Chính là đẩy nó vào chiến tranh là được. Nhân tố hoài cựu đó bất luận thuộc đám quan lại ngự trên triều đường hay đám dân chúng ở nơi thôn quê, đều chán ghét cảnh thái bình, không vui khi nhàn rỗi, thịt đùi lại thêm ra[77], khiến người ta không biết làm thế nào. Một khi quốc gia ban lệnh, phát động chiến tranh thì chỉ trong chớp mắt đã có thể tập hợp được hai mươi, ba mươi vạn binh lính quy tụ dưới quân kỳ. Những người giống như tôi cũng là một loại ung nhọt trong xã hội. Tôi tự nguyện cắt đi, để không trở thành thứ gây hại đến phần thịt sống của quốc gia. Còn nơi cắt bỏ ung nhọt, chi bằng chọn một quốc gia lớn ở châu Phi hay châu Á mà tôi quên mất tên rồi. Tôi sẽ cùng với hai mươi, ba mươi vạn nhân sĩ mang ung nhọt trong người tiến đến nước đó, việc nếu thành công, thì chúng tôi cướp đoạt lãnh thổ, hùng cứ một phương, mở ra một xã hội ung nhọt khác. Việc nếu thất bại, thì thây này phơi ngoài nội cỏ, lưu danh tại một nước khác. Việc dù thành hay bại, nhưng chắc chắn nó mang lại hiệu quả tốt trong việc vì quốc gia loại bỏ ung nhọt. Có thể gọi đó là kế sách nhất cử lưỡng tiện.
Vì thế, kế sách hàng đầu mà tôi ấp ủ trong lòng chính là làm sao để toàn bộ đinh tráng trong nước đi đến đại quốc đó, rồi biến nhỏ thành lớn, biến yếu thành mạnh, biến nghèo thành giàu, sau đó chi ra một khoản tiền khổng lồ để thu mua thành tựu văn minh, nỗ lực một bước xưng hùng, cạnh tranh với các nước Thái Tây. Tiếp theo, để sửa sang chính trị trong nước, cải cách chế độ, thay đổi phong tục, chuẩn bị cho đời sau sẽ trở thành quốc gia văn minh thì phải tạm thời cắt bỏ nhân tố hoài cựu, là chướng ngại ngăn cản kế hoạch mới của quốc gia. Đó là kế sách thứ hai.
Những người luôn muốn yên ổn với cuộc đời, bảo thủ không chịu thay đổi, lo sợ trong khi cần quyết đoán, sống theo cách thuận nước mà chảy thì khi nghe đến hai kế sách này hẳn đều lặng người, cứng họng líu lưỡi. Tôi đương nhiên là biết điều đó. Thế nhưng, hào kiệt xưa nay khi gặp sự biến phi thường sẽ đưa ra các kế sách phi thường, nhờ đó gặt hái được thành quả lớn. Câu 'Nếu đã nhất quyết hành sự, thì đến quỷ thần cũng phải tránh đường'[78], chính là nói ý này. Hơn nữa, người làm chính trị cũng cần tùy thuộc thời gian, địa điểm mà có những phương thức ứng biến khác nhau. Ngày nay, nếu các nước Thái Tây mà thực thi hai kế sách này của tôi thì đúng là hành vi điên rồ. Vì vậy với thể chế của Phổ mới dùng Bismarck làm Thủ tướng, Moltke[79] làm Tổng Tham mưu trưởng, huy động cả trăm vạn quân, vận chuyển tới trăm vạn khẩu đại pháo, chấm dứt mấy trăm năm phải nằm gai nếm mật, không ngày nào quên mối cừu thù với nước Pháp, vậy mà đến khi giảng hòa, thứ nhận được chỉ là hai quận Lorraine, Alsace và 800 triệu Franc, ấy là do thời gian và địa điểm khiến nên như vậy. Nếu thực hiện kế sách thứ hai của tôi đối với châu Á, châu Phi hiện nay thì rất phù hợp với yêu cầu của thời đại. Nếu bố trí những nhân vật kiệt xuất của các nước Thái Tây đến châu Á lúc này, họ nhất định sẽ chọn dùng một trong hai kế sách của tôi, hoặc là xây dựng đại nghiệp biến yếu thành mạnh, hoặc là triển khai kế sách cắt bỏ ung nhọt. Tôi tin chắc rằng họ sẽ không chút chần chừ nghi ngờ."
Thân sĩ Tây học nói: "Vậy thì có thể nói những người như Napoleon Đệ nhất hay Thiếp Mộc Nhi[80] đã chọn hai kế sách của ngài. Thế nhưng kẻ làm phương hại lớn đến sự tiến bộ của phát triển xã hội chính là con quái vật này. Phá hoại tư tưởng tự do bình đẳng và quy luật vận hành của đạo đức kinh tế, tạo dựng nên xã hội cường quyền chính là con quái vật này. Từ thế kỷ 18 trở về sau, nếu ở vùng rừng núi châu Âu không sản sinh ra con quái vật này thì không còn nghi ngờ gì nữa, tư tưởng dân chủ đã có thể mở rộng vòng ảnh hưởng, các cơ quan học thuật đã sớm khuếch trương quy mô. Hãy thử so sánh hào kiệt của châu Âu và hào kiệt của phương Đông chúng ta mà xem. Hào kiệt kiểu quái vật mà tôi nói thì ở phương Đông chúng ta cũng có nhưng hào kiệt thực thụ[81] thì hầu như rất ít. Đó là nguyên nhân khiến phương Đông chúng ta không bằng châu Âu. Thử so sánh giữa Alexander, Caesar, Napoleon và nhóm Lưu Bang[82], Hốt Tất Liệt[83], Toyotomi Hideyoshi[84] thì đúng là có vài điểm giống nhưng đến Newton, A. L. Lavoisier, Adam Smith[85], Auguste Comte[86] thì rốt cuộc phương Đông ta có ai giống hay không? Người dùng kế sách thô bạo nhất thời để xử lý những vấn đề trước mắt đều là kẻ gây hại cho kế sách trăm năm của quốc gia."
Vị khách Hào kiệt nói: "Vạn sự trên thế gian đều có sự phân biệt giữa lý luận và kỹ thuật. Trường hợp nghị luận thì lý luận là thứ phát huy sức mạnh, còn trong thực tế thì kỹ thuật là thứ mang lại hiệu quả. Trong y học cũng có y lý và y thuật. Trong chính trị cũng có chính lý và chính thuật. Học thuyết tế bào và lý luận mầm bệnh là y lý. Dùng thuốc ký ninh khi bị sốt rét, dùng thủy ngân cho bệnh giang mai[87] là y thuật. Chủ nghĩa bình đẳng và học thuyết kinh tế là chính lý. Biến yếu thành mạnh, biến hỗn loạn thành trị an là chính thuật. Ngài, hãy cứ giảng giải về lý luận, còn tôi sẽ luận bàn về kỹ thuật.
Hơn nữa, hiện nay khi phóng tầm mắt nhìn vào tình thế các nước châu Âu hiện tại sẽ thấy, những quốc gia đang sinh tồn trên các quần đảo của châu Á giống như ngọn đèn đặt trước cơn gió lớn vậy. Chỉ cần cơn gió lớn thổi qua ngọn đèn sẽ tức khắc tắt ngấm. Đây chính là thời cơ phù hợp nhất để những chí sĩ có lòng ưu quốc nhanh chóng lựa chọn biện pháp, phải lập tức triển khai kế sách chinh phạt nước ngoài. Bọn trẻ có câu đồng dao rằng: 'Khi quỷ Dạ Xoa còn chưa tới, Hãy nhanh tay giặt giũ y thường'. Đây chính là thực tế hiện nay. Vậy quỷ Dạ Xoa ở đây là ai? Chính là Đức, Pháp, Nga, Anh.
Có vẻ các tờ báo trong và ngoài nước hiện nay đều đang tranh nhau đưa tin về mối quan hệ giữa Đức và Pháp dạo gần đây. Có tin nói hai nước đang dốc sức chuẩn bị chiến tranh; có tin lại bảo có dấu hiệu cho thấy hai nước đang nỗ lực duy trì hòa bình; có tin đàng Bismarck phát biểu thế này; cũng lại có tin Boulanger[88] hành động thế kia. Thế nhưng, theo sự tìm hiểu của tôi về nguyên nhân khiến hai nước xem nhau như cừu thù, thì sự quyết liệt của hai nước sẽ không còn xa nữa, nếu không phải hôm nay thì là ngày mai, không phải năm nay thì chắc chắn là năm sau, tôi tin chắc là như vậy.
Sự thù địch của hai nước đó đúng như ngài Thân sĩ đã nói, không chỉ đơn thuần là sự kết oán giữa Hoàng đế Napoleon của Pháp và Hoàng đế Wilhelm của Phổ. Xem khắp những mối oán thù giữa nước này với nước kia trong lịch sử xưa nay, chưa từng có trường hợp nào gay gắt, kịch liệt và thâm sâu như hai nước này. Nguyên do đằng sau vốn không phải chuyện là một sớm một chiều. Hai vị hoàng đế Napoleon và Wilhelm chẳng qua chỉ là chạm trán nhau vào đúng thời điểm quyết liệt đó mà thôi. Và rồi Bismarck cũng gặp may vì xuất hiện đúng lúc quyết liệt đó nên mới có thể phát huy tài năng một cách đầy đủ nhất. Còn Gambetta[89] lại không may khi chưa gặp đúng thời cơ hai nước giao tranh khốc liệt cho nên không thể thể hiện được sự quả cảm của bản thân. Vào cuối những năm Napoleon Đệ tam, chính phủ dần quay lưng lại với nguyện vọng của quốc dân, mặc dù Đảng phản đối chiếm số đông trong Nghị viện thế nhưng đến khi tuyên bố chiến tranh với Phổ, hết thảy các nghị viên đồng loạt tỏ ý tán thành. Mặc cho Thiers[90] có lão luyện tài giỏi, liên tục lên tiếng chỉ ra những mối bất lợi của chiến tranh nhưng toàn bộ nghị viên trong hội trường lại ầm ĩ lên tiếng kịch liệt phản bác ý kiến của ông, đám hạ dân vô lại thì chặn đường ném đá, mắng nhiếc làm nhục khi ông trên đường về nhà. Từ đó để thấy rõ người Pháp ôm lòng oán hận người Phổ đến nhường nào.
Thế nhưng theo như tôi thấy, mối oán hận của hai nước này ngay từ đầu vốn không thâm sâu. Ngay từ khoảng thế kỷ thứ 18, một khi nói đến sức mạnh lục quân, ắt là ám chỉ hai nước này, mỗi khi hai nước xảy ra chiến tranh là các nước láng giềng đều rôm rả dự đoán thắng bại, để rồi cuối cùng dẫn đến kết quả là quốc dân hai nước tranh hùng đấu dũng, đôi bên đều xem những lần thất bại trong quá khứ của mình là nỗi sỉ nhục lớn, khiến lòng phục thù kéo dài liên miên không dứt. Giống như hai lực sĩ bước lên sàn đấu vậy, suy nghĩ ban đầu của họ chẳng qua chỉ là thi đấu kỹ thuật mà thôi, thế nhưng khi hết thảy khán giả trong đấu trường lên tiếng cổ vũ, hoặc là khen ngợi bên này, hoặc là tán tụng bên kia, đến lúc cuối trận chuẩn bị phân định thắng bại, tiếng tung hô lại càng long trời lở đất, và cứ sau nhiều lần như thế, hai lực sĩ nhất định sẽ coi việc giành chiến thắng là chức phận của bản thân, dẫn đến trong lòng đố kỵ lẫn nhau. Sự tình của hai nước cũng hoàn toàn giống như thế. Bởi vậy tôi mới nói mối oán hận giữa hai nước không phải do nguyên nhân một sớm một chiều, đúng như ngài Thân sĩ nói không chỉ đơn thuần là sự kết oán giữa Hoàng đế Wilhelm nước Phổ và Hoàng đế Napoleon nước Pháp.
Về vấn đề giữa Nga và Anh, đúng như ngài Thân sĩ đã nói, nước Anh vốn đặc biệt chuyên tâm dốc sức vào phương diện kinh tế, cho nên không nơi nào trên địa cầu là không có thuộc địa của nước này, và xét về mức độ giàu có thì không nước nào theo kịp. Trước tình thế đó, mục đích chủ yếu của họ là giữ gìn và bảo hộ lãnh thổ đã xâm chiếm trước đó, không được để mất, còn việc xúc tiến mở rộng thêm lãnh địa không hẳn là mục tiêu. Riêng đối với nước Nga như một con đại bàng hoang dại là họ [nước Anh] chưa biết phải làm thế nào. Nước Nga kiên trì giữ vững kế sách của tiên vương, dựa vào uy lực binh đội để mưu cầu mở rộng lãnh thổ, đố kỵ với sự giàu có và cường thịnh, một lòng muốn lật đổ căn cứ địa quan trọng nhất của Anh là Ấn Độ. Đó là lý do vì sao nước Anh phải liên kết với Napoleon Đệ tam đánh trận Sevastopol[91] trong thời gian gần đây.
Vì thế ý đồ của Pháp và Phổ chủ yếu là cạnh tranh sức mạnh quân đội, hơn thua danh tiếng quân sự, chứ không phải vì mở rộng lãnh thổ. Anh chủ trương bảo vệ cho lãnh thổ, giữ gìn sự giàu có, không ưa cạnh tranh bằng vũ lực. Chỉ riêng Nga là theo La Mã xưa, dựa vào sức mạnh của binh lính tinh nhuệ để kiến dựng quốc gia ngày càng phú cường, dựa vào nguồn tài nguyên của đất nước phú cường để mở rộng uy danh của binh lính tinh nhuệ. Quả thực, đây chính là công xưởng sản xuất ra mối họa chiến tranh loạn lạc ở châu Âu. Thế nhưng, nguyên nhân nào khiến họ không dám trực tiếp xuất binh sang Ấn Độ? Có lẽ nỗi lo lắng và sợ hãi của Nga không phải nước Anh mà là nước Pháp, cũng không phải nước Pháp, mà chính là nước Phổ. Họ lo sợ rằng đối phương sẽ nhân cơ hội họ xuất binh sang Đông thì sẽ âm mưu đánh úp sau lưng. Chính vì thế, trước đây khi Phổ và Pháp giao tranh, người Nga đã nhảy cẫng vui mừng, nhanh chóng phá bỏ hòa ước Krym[92], đưa hạm đội sang Biển Đen.
Thế nên, tôi cho rằng một khi Phổ và Pháp giao chiến trên bình nguyên châu Âu thì quân Nga sẽ lập tức xuất quân cuốn tung cát bụi, tràn sang phương Đông. Nếu đúng như thế, mối họa của chiến tranh Phổ-Pháp sẽ không chỉ giới hạn ở đại lục châu Âu mà các đảo ở vùng biển châu Á cũng khó tránh được ngọn lửa chiến tranh tràn tới. Nơi bị hạm đội Anh chiếm cứ thành căn cứ địa chắc chắn không chỉ kết thúc ở Geomun-do[93]. Tóm lại, Phổ và Pháp tranh cường ở châu Âu, Nga và Anh thì tiến sang châu Á để tranh hùng, đó là cục diện thế giới hiện nay.
Than ôi! Binh sĩ Phổ, Pháp khiến khói đạn bao trùm bình nguyên châu Âu; quân đội Anh, Nga giương cao ngọn cờ chiến tranh khắp lục địa châu Á, làm cho con sóng dữ hướng thẳng đến vùng biển Á châu. Khi ấy liệu rằng công pháp quốc tế có phát huy tác dụng ngăn chặn cơn bạo hành mang lại đầy ưu thế chiến lược cho họ hay không? Và nếu thật sự không thể dựa vào công pháp quốc tế thì các tiểu quốc biết nhờ cậy vào điều gì để tự vệ đây? Chỉ còn một kế sách duy nhất mà thôi, đó là nhanh chóng vứt bỏ con thuyền nhỏ đang chòng chành sắp chìm, rồi leo lên tàu hạm lớn vẫn điềm nhiên đứng vững. Từ bỏ tiểu quốc đang lâm nguy, chạy tới đại quốc vẫn yên ổn. Vả lại giữa dòng chảy nông và trong, chẳng thể bắt được cá lớn, trong thời kỳ bình trị cũng chẳng thể xuất hiện những kế sách siêu tuyệt. Chính thời điểm trên bầu trời hai châu Âu, Á nhất thời xuất hiện một đám mây lạ kỳ, là cơ hội tuyệt vời đặc biệt dành cho các nước nhỏ để chuyển họa thành phúc, biến yếu thành mạnh, thật sự là thời cơ ngàn năm có một. Lúc này mà không nhanh tựa sấm chớp khiến người ta không kịp bịt tai lựa chọn phương pháp thực thi còn muốn duy trì đất nước vững bền nhờ vào kế sách tủn mủn tựa như bà lão chốn quê mùa đang cặm cụi vá áo, thì tôi thực sự quá ư kinh hãi, không sao hiểu nổi."
Lúc này, Nam Hải tiên sinh uống một ly nữa rồi nói: "Chung quy lại thì quan điểm của ngài Thân sĩ cho rằng chế độ dân chủ bình đẳng là chế độ hoàn thiện và thuần chất nhất trong tất cả các chế độ, vạn quốc trên thế giới sớm muộn cũng sẽ đi theo chế độ này. Có điều, xưa nay các nước nhỏ vốn chẳng thể trông mong gì vào kế sách binh giàu nước mạnh, vì thế [các nước nhỏ] cần nhanh chóng áp dụng chế độ hoàn thiện và thuần chất này. Sau đó, dẹp trừ thủy lục quân bị, từ bỏ võ lực chẳng bằng một phần vạn của các nước mạnh, sử dụng đạo nghĩa vô hình, mạnh mẽ chấn hưng học thuật, xem nước mình giống như tác phẩm nghệ thuật được điêu khắc vô cùng tinh tế, khiến các cường quốc cũng kính yêu đến mức không nỡ xâm lược.
Tóm lược cách nghĩ của ngài Hào kiệt là một khi việc cạnh tranh quân sự giữa các nước châu Âu bùng phát thì họa đó ắt sẽ lan đến châu Á. Vì thế các nước nhược tiểu lúc này cần quyết đoán kịp thời, vận động tráng đinh trong nước, mang áo giáp vác vũ khí, tiến đánh nước lớn nào đó, nhân đó có thể mở ra một lãnh thổ rộng lớn khác. Nếu chưa thể đưa ra được sự quyết đoán kịp thời, mà muốn chuyên tâm sửa sang nội chính, ắt phải loại bỏ nhân tố hoài cựu, thứ làm trở ngại đến sự nghiệp cải cách, nên cuối cùng cũng không thể tránh được lựa chọn phương án chinh phục ngoại quốc.
Lời bàn của ngài Thân sĩ là thuần hậu mà đúng đắn, lời bàn của vị Hào kiệt thì hào phóng mà độc đáo. Lời bàn của ngài Thân sĩ là rượu cực mạnh, khiến người ta hoa mắt chóng mặt; lời bàn của vị Hào kiệt là thuốc liều cao, làm người ta xé ruột xé gan. Ta già rồi. Trước nhũng lời bàn của hai vị, đầu óc rệu rã của ta không thể thấu hiểu và tiêu hóa hết được. Mong là hai vị cố gắng, chờ thời cơ đến rồi thử thực hiện thử xem sao. Ta sẽ ở bên quan sát."
Đến đây, hai vị khách mỗi người uống một ly rồi nói với Nam Hải tiên sinh: "Hai chúng tôi đã trút hết tâm tình ruột gan. Rất mong tiên sinh phê bình chỉ giáo. Kính nhờ tiên sinh!"
Thế là Nam Hải tiên sinh bèn nói: "Lời bàn của ngài Thân sĩ hầu như đã được các học giả châu Âu ấp ủ trong đầu hay phát biểu thông qua ngôn luận và sách vở, nhưng nó vẫn như đám mây ngũ sắc mang tính tư tưởng chói lóa, chưa được hiện thực hóa trên đời. Lời bàn của vị Hào kiệt là sự nghiệp thực tế mà những kẻ sĩ tuấn kiệt hàng trăm ngàn năm trước đã phấn đấu để gặt hái thành công, nhưng đó lại là màn ảo thuật chính trị không thể thực thi trong thời đại ngày nay. Mây ngũ sắc là điềm lành trong tương lai nhưng chỉ có thể vui vẻ nhìn nó từ xa. Màn ảo thuật là kỳ quan của quá khứ nhưng chỉ có thể sung sướng hoài niệm về nó. Chẳng cái nào có ích cho hiện tại. Luận điểm của ngài Thân sĩ nếu người dân cả nước không đồng tâm hiệp lực thì không thể thực hiện được, luận điểm của vị Hào kiệt nếu Thiên tử, Tể tướng không độc đoán chuyên quyền thì không thể thực hiện được, e rằng cả hai đàng đều không tránh khỏi luận bàn suông.
Hơn nữa, ngài Thân sĩ thì nỗ lực cường điệu sự uy linh của vị thần tiến hóa nhưng con đường vị thần này đi lại nhỏ hẹp quanh co, khi lên khi xuống, lúc sang trái lúc quẹo phải, hoặc đi bằng thuyền hoặc cưỡi bằng xe, khi thì như tiến lên nhưng hóa ra lại thụt lùi, lúc thì như lùi lại mà kỳ thực là tiến lên, quả đúng như ngài Thân sĩ đã nói, quá trình tiến hóa của loài người không phải theo con đường thẳng tiến về trước như những quy ước trong hình học. Chung quy lại là loài người chúng ta vọng tưởng mình có thể đứng ở đằng trước vị thần tiến hóa để chỉ huy thì chẳng thể đoán biết được tai họa sẽ giáng xuống lúc nào đâu. Kỳ thực là chỉ có thể bộ hành theo bước chân của vị thần mà tiến lên thì mới được.
Vả lại quy luật tiến hóa là căn cứ vào dấu tích đã đi qua, vào cách gọi đã được định danh đối với các sự vật sự việc trong thiên hạ. Vì thế, vào thời khai thiên lập địa, việc loài người trên thế giới cùng nhau tranh đấu chính là một phương diện của quy luật tiến hóa. Quy về sự thống trị của một bậc quân chủ, cũng là một phương diện của quy luật tiến hóa. Rảo bước vào chế độ lập hiến cũng là một phương diện của quy luật tiến hóa. Đổ xô theo chế độ dân chủ cũng là một phương diện của quy luật tiến hóa. Quân chủ, tổng thống, quý tộc, nhân dân, thuyền buồm vải trắng, chiến hạm chạy bằng hơi nước, súng, bom, cho tới Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo, tất cả những dấu tích nhân loại thế giới đã trải qua đều được giới học giả gọi là con đường vị thần tiến hóa từng đi. Trong số các nước châu Âu đã có nước bãi bỏ hình phạt tử hình, đó là sự tiến hóa của các nước đó. Trong số các chủng tộc ở châu Phi có chủng tộc ăn thịt người, thì đó là sự tiến hóa của các chủng tộc châu Phi. Vị thần tiến hóa kia chính là thần lắm cảm xúc, nhiều tình yêu, vô vàn sở thích, chủng chủng dục vọng bậc nhất trong thiên hạ.
Ngài Thân sĩ à ngài Thân sĩ, nếu ngài nói vị thần tiến hóa yêu mến chế độ lập hiến và chế độ dân chủ, chứ không yêu chế độ chuyên chế, vậy thì ở Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư, vị thần tiến hóa không tồn tại ư? Nếu nói vị thần tiến hóa ham thích đức nhân từ của sự sống, không ưa sự tàn bạo khi thảm sát vậy thì hành động Hạng Vũ[94] chôn sống 40 vạn hàng binh nước Triệu, có lẽ nào vị thần tiến hóa không tồn tại hay sao?
Trong thời đại phong kiến thì thích phong kiến, ở thời kỳ quận huyện thì thích quận huyện, trong xã hội bế quan tỏa cảng thì thích bế quan tỏa cảng, trong xã hội thương mại buôn bán thì thích thương mại buôn bán, nghĩ ngài mê ăn cơm lúa mạch thì ngài lại thích ăn món bít tết, nghĩ ngài mê uống rượu Doburoku[95] [rượu đục] thì ngài lại thích uống rượu nho, nghĩ ngài thích kiểu tóc búi cao thì ngài lại mê kiểu cắt ngắn, nghĩ ngài thích tranh thủy mặc của Thẩm Thạch Điền[96] thì ngài lại thích tranh son dầu của Rembrandt[97]. Than ôi, người lắm tình yêu và sở thích nhất trong thiên hạ này hẳn là vị thần tiến hóa ấy chăng?
Thế nhưng, cũng có một điều mà vị thần tiến hóa căm ghét. Chúng ta không thể không biết điều ấy. Nhất là chính trị gia thì buộc phải biết điều ấy. Nếu chính trị gia không biết điều vị thần tiến hóa căm ghét, chắc chắn vô vàn tai họa khôn lường sẽ kéo đến. Như hạng thư sinh đọc sách chúng ta, nếu không biết điều vị thần tiến hóa căm ghét thì những mối họa kéo đến từ lời nói và hành động của chúng ta chỉ là chuyện của riêng chúng ta. Dẫu chúng ta không biết điều vị thần tiến hóa căm ghét mà biên soạn một quyển sách thì chẳng qua sách sẽ không bán được khi phát hành mà thôi. Còn dù bản thân có mưu đồ nào đó, thì ta cũng chỉ bị giam cầm vài năm hoặc bị xử treo cổ là xong. Nhưng nếu chính trị gia không biết điều vị thần tiến hóa căm ghét mà đi hoạch định chính sách thì hàng mấy ngàn vạn người sẽ phải nhận lấy mối tai họa đó. Than ôi! Thật đáng sợ biết nhường nào!
Vậy điều mà vị thần tiến hóa căm ghét là gì? Đó chính là lời nói và hành động chẳng màng đến thời gian và địa điểm, thoát ly khỏi thực tế. Ôi! Tôi sai rồi! Dù chính trị gia hoạch định chính sách mà không bận tâm tới thời gian và địa điểm, khiến hàng ngàn vạn người phải gánh nhận tai họa đó thì sau khi nhìn nhận, đánh giá lại những việc đó, các học giả hẳn sẽ nói rằng, bản thân chuyện đó là bất đắc dĩ nên mới phải như thế. Quả thực đó là chuyện bất đắc dĩ và buộc phải làm như thế thì đó đương nhiên là điều vị thần tiến hóa yêu thích, nhất định không phải điều thần căm ghét. Vì thế nếu để các học giả tranh luận về biến pháp của Vương An Thạch[98], ắt họ sẽ nói: Nó vốn vậy nên mới buộc phải làm thế. Từ đó để biết, từ xưa đến nay phàm mọi sự nghiệp được triển khai trong thiên hạ, đều là sự nghiệp vị thần tiến hóa yêu thích. Vậy thì điều mà vị thần tiến hóa căm ghét là gì? Chính là sự cố gắng nỗ lực trong thời gian và địa điểm nhất định để đi làm những việc tuyệt đối không được phép thực thi. Ngài Thân sĩ à, những gì ngài nói hôm nay liệu có thể thực thi được trong thời điểm hiện tại hay không, hay là không thể thực thi được?
Ngài Thân sĩ vô cùng tôn kính vị thần tiến hóa. Do đó ta muốn dựa vào những gì ngài nói, đồng thời căn cứ vào quy luật tiến hóa để đưa thêm lời phê bình. Ta mong ngài không lấy làm phiền lòng.
Ngài Thân sĩ chủ trương chế độ bình đẳng, cho rằng thiết lập năm bậc công tước là điều vị thần tiến hóa căm ghét, thậm chí còn ví nó như tảng đá. Đây là điều hết sức sai lầm. Nếu vị thần tiến hóa căm ghét việc thiết lập năm bậc công tước thì tại sao ngoài năm bậc công tước vốn tồn tại từ xưa vẫn còn tạo ra tầng lớp quý tộc mới. Vị thần tiến hóa của châu Á vốn dĩ yêu thích việc thiết đặt năm bậc công tước. Cho nên tầng lớp quý tộc cũ ai nấy khỏe mạnh, hay ăn ham uống; tầng lớp quý tộc mới cũng khỏe mạnh, hay ăn ham uống. Giữa mùa hè nóng nực, khi bệnh sốt rét hoành hành, thì dù có vẩy phenol khắp hang cùng ngõ hẻm trên đường, nhưng nó là bệnh truyền nhiễm nên sẽ vẫn lây lan, khiến hàng chục vạn người nhiễm bệnh, thi chết chất đống phải đem đi hỏa táng. Thế mà, tầng lớp quý tộc cũ lẫn quý tộc mới chẳng người nào bị nhiễm bệnh, ai nấy đều rất khỏe mạnh. Người dân thường bần cùng nghèo khổ thì cả nhà vợ chồng con cái ngồi trên những đoàn xe nối đuôi nhau bị đưa tới trại cách ly, lại cũng liên tiếp có những đoàn xe đi đến khu hỏa táng. Trong khi đó tầng lớp quý tộc cũ lẫn quý tộc mới vẫn thản nhiên sống trong dinh thự sừng sững, được tì thiếp hầu hạ phe phẩy những làn gió mát, họ đều khỏe mạnh. Do đó tôi cho rằng vị thần tiến hóa của châu Á có vẻ yêu thích quý tộc, ghét kẻ bình dân; cơ hồ đối lập với những gì ngài Thân sĩ đã nói..."
Nam Hải tiên sinh nói đến đây, bỗng đổi sắc diện trở nên trịnh trọng, rồi nói: "Ta đang đùa đấy. Mong hai ngài lượng thứ."
Nam Hải tiên sinh lại uống một ly rượu rồi nói tiếp: "Ngài Thân sĩ một mực chủ trương chế độ dân chủ nhưng tôi e là ngài vẫn còn chưa thực sự hiểu rõ bản chất của chính trị. Bản chất của chính trị là gì? Thể theo đúng chí hướng của quốc dân, phù hợp với trí thức của quốc dân, giúp họ duy trì niềm vui, khiến họ được hưởng phúc lợi. Nếu áp dụng chế độ chính trị không theo đúng chí hướng của quốc dân, không phù hợp với trí thức quốc dân thì sao có thể giúp họ có được niềm vui và khiến họ được hưởng phúc lợi? Giả như giờ đây cho xây dựng chế độ dân chủ ở Thổ Nhĩ Kỳ hay Ba Tư, dân chúng những nước đó sẽ thất kinh, ầm ĩ, tiếp đó sẽ dấy lên hỗn loạn, đến mức bạo động đổ máu khắp đất nước, để chứng thực việc này thì rất nhanh thôi. Hơn nữa xét theo quy luật tiến hóa mà ngài Thân sĩ nói, quá trình chuyển từ chuyên chế sang lập hiến, từ lập hiến sang dân chủ rõ ràng đúng là trình tự phát triển xã hội chính trị. Còn nếu từ chuyên chế rồi một bước tiến thẳng vào chế độ dân chủ thì tuyệt nhiên không theo trình tự. Tại sao vậy? Bởi trong sâu thẳm suy nghĩ của mỗi người, vẫn còn khắc in đậm nét tư tưởng của đế vương và ý thức của công hầu, dường như nó cứ âm thầm lặng lẽ trở thành vị thần hộ mệnh hay lá bùa hộ thân cho mọi người. Đến khi bất ngờ thực hành chế độ dân chủ, tư tưởng của quần chúng vì thế trở nên hỗn loạn, đây chính là quy luật của tâm lý. Lúc ấy, thiểu số hai ba người vui mừng hả hê cho rằng chế độ này là phù hợp đạo nghĩa nhưng còn đa số quần chúng lại hoảng hốt náo loạn không biết phải làm như thế nào, đó là đạo lý rất dễ nhận thấy.
Vả lại ngay cái gọi là dân quyền đó cũng có hai loại. Dân quyền của Anh, Pháp là dân quyền khôi phục, là loại đạt được bằng cách đi từ dưới lên. Trong Xã hội còn có một loại khác được gọi là dân quyền ân tứ, là loại dân quyền do từ trên ban xuống. Dân quyền khôi phục vì phải đi từ dưới lên rồi mới đạt được cho nên phân lượng của nó ít hay nhiều có thể do chúng ta tự ý quyết định được. Còn dân quyền ân tứ do được ban ơn từ trên xuống nên phân lượng của nó ít hay nhiều chúng ta không thể tự quyết định được. Nếu có được dân quyền ân tứ rồi lập tức muốn biến nó thành dân quyền khôi phục, há chẳng phải là đi ngược lại trình tự phát triển của sự vật sao?
Than ôi! Quốc vương, Tể tướng dựa vào quyền lực, không định trao trả quyền tự do cho quốc dân, đây chính là nguyên nhân của mầm bạo loạn, cho nên nhân dân Anh, Pháp mới triển khai công cuộc khôi phục dân quyền. Nếu ngược lại, người làm quân chủ tể tướng thấu rõ hình thế quốc gia, thể theo chí hướng người dân, nỗ lực dựa theo trình độ dân trí của nhân dân mà thi hành quyền tự do cho tương thích, khi ấy quan dân trên dưới ai nấy đều sung sướng hớn hở, điều đó chẳng đáng mừng hơn sao. So với việc đương đầu nguy hiểm, ảnh hưởng đến tính mạng để nhận lấy lợi ích ngàn vàng chẳng thà ngồi im nhận mười lượng còn hơn. Hơn nữa, dù phân lượng dân quyền ân tứ có ít ỏi đến thế nào nhưng về bản chất nó cũng không khác dân quyền khôi phục quá nhiều. Cho nên điều người dân chúng ta nên làm là khéo duy trì chúng, quý trọng chúng, dùng tinh thần của đạo đức, tinh túy của học thuật để nuôi dưỡng chúng thì theo sự tiến bộ của thời thế, sự mở mang của xã hội, sẽ dần khiến chúng trở nên béo khỏe, cao lớn hơn, có thể phát triển tương đương với dân quyền khôi phục, đó chính là quy luật tiến hóa.
Ngài Thân sĩ à ngài Thân sĩ, tư tưởng là hạt giống, bộ não là cánh đồng. Nếu ngài ham thích chủ nghĩa dân chủ chân chính thì có thể khẩu thuật, viết sách, gieo hạt giống đó vào bộ não mọi người, như thế mấy trăm năm sau tư tưởng dân chủ sẽ sinh sôi phát triển rộng khắp trong cả nước. Còn hiện nay, đương lúc hoa cỏ của đế vương quý tộc đâm đầy gốc rễ trong trí não mọi người, thì chỉ một hạt giống dân chủ mới bắt đầu nảy mầm trong đầu của riêng ngài, mà mong muốn nhanh chóng thu hoạch được cả vựa dân chủ, há chẳng phải hoang đường lắm sao?
Vì thế mới nói, bộ não của con người là nơi lưu trữ tư tưởng quá khứ. Sự nghiệp của xã hội là sự thể hiện tư tưởng quá khứ. Cho nên nếu muốn kiến lập một sự nghiệp mới, chúng ta buộc phải biến tư tưởng đó thành tư tưởng của quá khứ rồi thâu nhập nó vào trong não bộ của mọi người. Tại sao vậy? Đó là vì sự nghiệp thường là kết quả của hiện tại còn tư tưởng lại luôn có nguyên nhân từ quá khứ. Ngài Thân sĩ, ngài hãy mở lịch sử ra mà đọc xem. Sự tích của vạn quốc là thành quả tư tưởng của vạn quốc. Rất nhiều tư tưởng và sự nghiệp nối nhau phát triển, liên kết lẫn nhau, để tạo nên những đường cong gấp khúc, đó chính là lịch sử của vạn quốc. Tư tưởng sinh ra sự nghiệp, sự nghiệp lại sinh ra tư tưởng, cứ thế không ngừng biến chuyển, chính là lộ trình của vị thần tiến hóa đi. Vì thế vị thần tiến hóa không phải là trấn tọa uy nghi trên đầu xã hội, cũng không phải cúi mình tiềm ẩn dưới chân xã hội, mà nó chiếm cứ chỗ đứng trong bộ não của con người. Cho nên vị thần tiến hóa là do kết hợp tư tưởng của muôn người, tạo thành một khối tròn. Ngài Thân sĩ, nếu ngài tôn sùng tư tưởng trong não bộ riêng cá nhân ngài, lại còn muốn làm cho đại chúng thừa nhận nó, sùng bái cả vị thần tiến hóa, thì chẳng khác nào việc ngài chấm một dấu chấm đen trên tờ giấy rồi muốn mọi người nghiễm nhiên thừa nhận đó là một hình tròn. Đó là sự chuyên chế về mặt tư tưởng, là điều vị thần tiến hóa không thích, là điều các học giả phải cẩn trọng.
Thời đại là lụa, là giấy, tư tưởng là màu vẽ, sự nghiệp là bức tranh. Do đó, xã hội mỗi thời là một bức tranh. Ngài Thân sĩ à, nếu ngài định dùng màu vẽ chưa pha, vẽ bức tranh của tương lai trên tờ giấy của hiện tại, rõ ràng đó chẳng khác nào một việc thật điên rồ? Nếu hiện tại ngài nỗ lực pha chế màu vẽ tư tưởng thì trăm năm sau chắc hẳn hỗn hợp màu vẽ đó sẽ đầy đủ trên chiếc đĩa xã hội. Thế rồi trên giấy hay trên lụa của thời đại đó, bắt đầu vẽ nên bức tranh sự nghiệp, khi đó chắc chắn sắc màu của tư tưởng quá khứ sẽ tươi đẹp rực rỡ thu hút ánh nhìn, người người thưởng lãm nhất định sẽ tán tụng đó là kiệt tác mỹ thuật hơn cả Rubens[99], vượt lên cả Poussin[100].
Hơn nữa, hai ngài còn cố chấp vào lý luận tích cực hoặc tiêu cực của chính mình; một bên nhắm đến tư tưởng mới còn chưa xuất hiện, mù quáng tiến về phía trước; một bên thì coi lại màn kịch từ xưa, mù quáng bước lùi về sau. Chủ trương của hai ngài tựa như băng và lửa, không thể dung hòa. Nhưng theo tôi thấy thì nguồn bệnh chỉ có một. Nguồn bệnh đó là gì? Đó là lo lắng thái quá [lo chuyện không đâu]. Hai ngài đều thấy cường quốc châu Âu nuôi dưỡng trăm vạn cường binh, chế tạo ngàn vạn chiến hạm, cấu xé tranh giành lẫn nhau, lại thấy họ hung bạo không ngừng tiến xuống châu Á, vì thế sinh ra lo nghĩ thái quá, cho rằng một sớm một chiều họ sẽ trang bị hàng trăm ngàn chiến hạm, tiến đến xâm lược. Đó chính là lý do nảy sinh hai luồng lý luận tích cực và tiêu cực.
Thế là ngài Thân sĩ muốn áp dụng chế độ dân chủ, bãi bỏ quân bị tỏ ý đối địch, ra tay hành động trước để né tránh mũi giáo của người châu Âu. Còn ngài Hào kiệt lại muốn xuất quân chinh phục ngoại quốc, cắt xé lãnh thổ nước khác, mở rộng bản đồ nước mình, lợi dụng bạo động ở châu Âu để thu nguồn lợi khổng lồ. Tất cả đều vì hai vị suy nghĩ quá nhiều đến tình hình các nước châu Âu.
Theo tôi thấy việc hai nước Phổ và Pháp khuếch trương quân sự mạnh mẽ như hiện nay có vẻ như là do tình thế thúc ép nhưng thực ra không phải vậy. Một khi sự khuếch trương quân sự của họ ở quy mô nhỏ thì có khả năng sẽ bộc phát chiến tranh, thế nhưng vì họ đang khuếch trương quân sự ở quy mô lớn cho nên chiến tranh không thể bộc phát được. Tại sao vậy? Các ngài chưa thấy tụi trẻ con đắp quả cầu tuyết vào mùa đông hay sao? Ban đầu khi quả cầu chưa to lắm còn có thể lăn nó lên trước lùi ra sau sang phải sang trái tùy ý nhưng khi nó dần trở thành một quả cầu lớn thì dù dùng hết sức đẩy cũng không thể làm nó nhúc nhích. Hai đứa trẻ Pháp và Phổ hiện nay chỉ đang cạnh tranh để xem ai đắp quả cầu tuyết của mình to hơn mà thôi. Khi Phổ tăng một vạn thì Pháp cũng tăng một vạn, Phổ tăng hai vạn thì Pháp cũng tăng hai vạn, quả cầu tuyết trở nên to dần qua từng năm. Trong khi đó, hai nước Nga và Anh lại đứng bên quan sát, đợi hai quả cầu tuyết đâm vào nhau. Tuy nhiên, một khi tuyết trước sân nhà hai đứa trẻ vẫn còn thì chúng vẫn sẽ chuyên tâm dốc sức đắp cho quả cầu tuyết lớn hơn, do đó không dễ gì chúng lại tự nhiên đẩy nó ra khỏi cửa. Đợi đến khi tuyết trước sân đã dùng hết thì hai quả cầu tuyết này chắc cũng đã vỡ vụn.
Hơn nữa, dù chủ trương thế giới hòa bình vẫn chưa thể thực hiện được nhưng trong sự giao tế giữa các nước, tôn chỉ đạo đức đã dần được mở rộng, phạm vi của chủ nghĩa bạo lực cũng dần được thu hẹp, đó là xu thế tự nhiên. Đó cũng là lộ trình của vị thần mà ngài Thân sĩ gọi là tiến hóa. Cho nên như Nga có muốn bành trướng uy lực sang châu Á, chiếm hữu vùng lãnh thổ có vị trí thuận lợi, động chạm đến Ấn Độ của Anh cũng chưa thể dễ dàng ra tay. Nếu nước nào cũng xây dựng chính sách ngoại giao như thế thì nhìn có vẻ chú trọng bạo lực, xem nhẹ đạo đức nhưng nó cũng không nghiêm trọng đến mức giống như trí tưởng tượng của con người. Giả sử trong số các nước như Phổ, Pháp, Anh, Nga, có một nước mạnh nhất, vượt xa ba nước còn lại, chỉ dựa vào thực lực đó là có thể thỏa ý tung hoành, chẳng bận tâm gì đến luật pháp quốc tế. Thế nhưng, tình hình hiện giờ không phải vậy. Vì thế lực của bốn nước gần như cân đối, cho nên họ ít nhiều buộc phải tuân thủ luật pháp quốc tế. Đó cũng chính là lý do khiến nhiều nước nhỏ tránh được họa thôn tính.
Vả lại quốc gia là nơi tập hợp ý muốn của số đông người, có quân chúa, có trăm quan, có nghị viện, có thứ dân; lại thêm cơ cấu quốc gia vô cùng phức tạp nên việc quyết định phương hướng, thúc đẩy hoạt động cũng không phải là chuyện dễ dàng thực thi giống như chuyện của một cá nhân. Nếu hoạt động của quốc gia cũng dễ dàng và tiện lợi như hoạt động của một cá nhân thì nước mạnh sẽ thường xuyên thỏa sức đàn áp, nước yếu sẽ mãi chịu cảnh tai ương, nhưng may mà không phải vậy. Để điều động một vạn quân, phái cử trăm chiến hạm thì quân vương phải xem xét, tể tướng phải họp bàn, trăm quan phải thảo luận, nghị viện phải trao đổi, báo chí phải nghị luận sôi nổi, nên không thể như một cá nhân xắn tay áo, cầm côn gậy, nghênh ngang tiến ra đánh nhau được. Tướng Charles George Gordon[101] tử trận trên hoang mạc A Rập là bởi lý do này. Đô đốc Amédée Courbet[102] bỏ mạng bởi chướng khí của An Nam cũng vì lý do này. Vì vậy, binh đội các nước châu Âu giống như hổ, như sư tử thì nghị viện, báo chí của họ giống như lưới thép; vả lại còn có sách lược cân bằng thế lực giữa các nước, sự ước thúc của luật pháp quốc tế vẫn âm thầm trói buộc tay chân các nước, cho nên sư tử hay hổ hung hãn dù có ngoác miệng to cả năm trời cũng không thể tùy tiện cắn người. Do đó tôi mới nói, chế độ dân chủ của ngài Thân sĩ và chủ nghĩa khuếch trương xâm lược của ngài Hào kiệt đều nảy sinh từ việc suy nghĩ thái quá về hình thế các cường quốc châu Âu mà thôi.
Lúc này, hai vị khách đồng thanh nói: "Nếu một lúc nào đó, chúng dám hùng hổ xông đến tập kích thì tiên sinh định đối phó thế nào?"
Nam Hải tiên sinh nói: "Nếu họ thực sự không sợ thái độ phê phán của nước khác, không bận tâm đến sự ước thúc của luật pháp quốc tế, xem thường cả những nghị luận trong quốc hội mà tâm địa gian xảo tấn công đến đây, chúng ta chỉ có thể dốc sức đối kháng, tất cả quốc dân trở thành binh lính, hoặc phòng giữ chặt nơi yếu địa, hoặc đột kích tấn công, tấn công hoặc phòng thủ, ra mặt hoặc ẩn nấp, biến hóa khôn lường, họ là khách, ta là chủ, họ bất nghĩa, ta chính nghĩa, nên tướng sĩ của ta, binh lính của ta hừng hực khí thế chống kẻ thù địch thì đâu có đạo lý nào là không thể tự phòng vệ cơ chứ? Những lúc như thế, người đảm đương chức trách võ quan nhất định sẽ tự có được kỳ kế diệu sách.
Vả lại nếu sau rốt quân binh của châu Á chúng ta không thể chống lại nổi quân binh của châu Âu thì quốc gia dân chủ mà ngài Thân sĩ nói hay đại quốc mới mà ngài Hào kiệt cổ xúy đều sẽ rơi vào tay kẻ địch. Ta cũng không có diệu kế nào khác. Không, không chỉ riêng ta đâu, một khi nước Anh, Pháp tấn công phòng thủ lẫn nhau, cũng hoàn toàn chẳng có kế sách đặc biệt nào. Tóm lại, muốn dùng quân binh của các nước châu Á chúng ta đi xâm lược thì không đủ sức nhưng để phòng thủ thì dư sức. Vì thế, nếu bình thường kiên trì huấn luyện, diễn tập, nâng cao chí khí thì sao phải lo lắng đến việc không thể tự phòng vệ? Sao phải theo kế sách của ngài Thân sĩ trói tay chờ chết? Sao phải tuân theo sách lược của ngài Hào kiệt, chuốc lấy oán hận từ các lân bang?
Một đại quốc ở châu Phi hay châu Á mà ngài Hào kiệt nhắc đến, ta vốn không thể biết ngài muốn ám chỉ nước nào. Nhưng nếu đại quốc ấy ở châu Á thì chúng ta nên kết giao trở thành anh em lân bang, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, như thế nước nào nước nấy đều có thể tự cứu viện lẫn nhau. Còn nếu mưu đồ mang vác vũ khí, khiêu chiến lân bang, biến họ thành địch, khiến người dân vô tội phải chết dưới làn đạn pháo, rõ ràng đó là hạ sách.
Giống như Trung Hoa, dù nhìn từ phong tục tập quán, từ phong cách văn vật hay từ hình thế địa lý thì các tiểu quốc châu Á lúc nào cũng nên quan hệ tốt đẹp với Trung Hoa, củng cố bang giao hai nước, cố gắng không thù hận kết oán lẫn nhau. Nếu sản vật nước ta ngày một nhiều, vật tư nước ta ngày một phong phú thì chính Trung Hoa đất rộng vật nhiều, nhân dân đông đúc là thị trường to lớn của chúng ta, là nguồn lợi bất tận[103] cho chúng ta. Không nghĩ đến điểm này, mà chỉ canh cánh bởi suy nghĩ phát dương quốc uy nhất thời, viện lý do bất đồng ngôn ngữ vụn vặt để khuấy động chiến tranh, tôi cho rằng đó không phải kế sách hay.
Sẽ có nhà bình luận cho rằng, Trung Hoa vốn đã ôm mối hận với chúng ta từ lâu. Dù chúng ta có muốn dùng hậu lễ đối đãi, thắt chặt tình hữu hảo, mong tạo quan hệ tốt nhưng cũng chỉ là quan hệ với một nước nhỏ, bọn họ lúc nào cũng mang lòng oán hận, cho nên không thể nói rằng khi gặp cơ hội thuận lợi bọn họ sẽ không hiệp mưu với các cường quốc châu Âu, cùng nhau kết giao để bài trừ chúng ta, mưu đồ biến chúng ta thành con mồi của các cường quốc, nhằm mưu tính lợi ích cho riêng họ. Có điều theo suy nghĩ của ta, tâm địa của Trung Hoa vị tất đã như thế. Nói chung việc nước này kết oán với nước kia phần nhiều không phải là do tình hình thực tế gây ra, mà do những lời đồn thổi. Chỉ cần soi thấu tình hình thực tế thì sẽ không nảy sinh bất cứ hoài nghi nào, nhưng nếu phỏng đoán dựa theo tin đồn thì có khả năng làm nảy sinh nỗi sợ hãi vô cùng to lớn. Cho nên việc các nước nghi ngờ lẫn nhau chính là bệnh thần kinh của các nước đó. Khi đeo cặp kính màu xanh để quan sát muôn vật thì những thứ nhìn thấy chẳng thứ nào không màu xanh. Ta cảm thấy vô cùng đáng thương cho những nhà ngoại giao nào luôn đeo cặp kính không mang màu trong suốt.
Do đó, việc hai nước nảy sinh chiến tranh không phải vì hai nước thích chiến tranh mà là vì nỗi sợ hãi chiến tranh gây nên. Vì ta sợ đối phương nên phải gấp gáp trang bị khí giới. Đối phương cũng sợ ta, nên vội vã chuẩn bị quân trang. Chứng bệnh thần kinh này của đôi bên ngày qua ngày thêm trở nặng, tháng qua tháng thêm trầm trọng, trong khi ấy lại thêm báo chí chẳng chút phân biệt đâu là tin đồn đâu là tình hình thực tế của các nước mà cứ đồng loạt tung tin. Đến mức chính những bài báo do các ký giả viết cũng là thứ văn mang bệnh thần kinh, câu chữ nhuốm một gam màu dị thường để rồi nó được phát tán ra toàn xã hội. Thế rồi thần kinh hai nước vốn đang sợ hãi lẫn nhau sẽ ngày càng thêm xáo trộn, đến mức cho rằng hành động trước thì có thể khắc chế được đối phương [tiên phát chế nhân], chi bằng mình hành động trước. Khi ấy nỗi sợ hãi chiến tranh của hai nước đã đạt đến đỉnh điểm, và chiến tranh sẽ tự nhiên bị bùng nổ. Đó là tình trạng thực tế của việc giao chiến giữa hai nước xưa nay. Khi một trong số các nước đó không mắc phải chứng bệnh thần kinh, nói chung chiến tranh sẽ không nổ ra. Giả như chiến tranh có bùng nổ thì chiến lược của nước đó chắc chắn là chủ về phòng thủ, được dư dả về thời gian, lại được danh tiếng là chính nghĩa, chắc chắn sẽ không bị chê trách trong lịch sử văn minh hiện đại.[104]
Lại có nhà bình luận cho rằng, đất nước Trung Hoa rộng lớn nhưng hiện đang bước vào giai đoạn suy thoái, vận nước đang trong thời kỳ cách mạng[105]. Nếu giữa nơi thôn dã không có anh hùng nổi dậy, thay nắm chủ quyền thì xu thế sụp đổ là không thể ngăn chặn. Tôi cho rằng cách nói đó là lối suy luận dựa vào sự tồn tại của gia sử lịch đại đế vương từ xưa đến nay của Trung Hoa, chẳng qua chỉ là dựa theo gia sử của dòng họ Ái Tân Giác La hiện nay, chứ không thể cho rằng nó hoàn toàn thích hợp với tình thế hiện tại. Tại sao vậy? Dựa vào sự tồn tại của gia sử lịch đại đế vương mà bàn luận thì đế nghiệp của dòng họ Ái Tân Giác La cơ hồ đã mục nát hủ bại, may mà có tinh thần của văn minh châu Âu từ phương Tây thổi đến, gốc cây già cỗi khô héo này bỗng chốc lấy lại sinh khí, cành lá tươi xanh, rồi đâm cành nảy lộc ra tứ phương. Ngoài ra những người nắm quyền trọng yếu trong triều đường và chi phối sự vận hành của xã hội hiện nay đều là những hiền tài tuấn kiệt, đặc biệt chú trọng đến trang bị cho hải lục quân, dựa vào nguồn tài nguyên phong phú này chỉ cần mua được thành tựu của văn minh châu Âu, quân hạm sẽ được tăng lên từng ngày, thành trì cũng được xây dựng từng tháng, chế độ quân đội thay đổi hoàn toàn, phỏng theo cách làm của cường quốc châu Âu. Như thế há dễ để người khác khinh miệt sao?! Tóm lại, chính sách ngoại giao tốt là duy trì mối quan hệ hòa bình hữu hảo với bất cứ nước nào trên thế giới, trong tình thế vạn bất đắc dĩ thì cũng nên giữ chiến lược phòng thủ đến cùng, tránh tốn công phí sức xuất chinh xa xôi, cố gắng giảm nhẹ gánh nặng trên vai người dân. Nếu chúng ta không lo lắng đến chứng bệnh thần kinh ngoại giao, thì há Trung Hoa sẽ xem chúng ta như kẻ địch chăng?
Thân sĩ Tây học nói, "Lời bàn của tiên sinh ví von rất phong phú, miêu tả đầy hình tượng, nghe rất tuyệt vời, thế nhưng mạch chính ở đâu tôi lại mập mờ chưa tường tận, không tránh khỏi cảm giác như đuổi hình bắt bóng. Hy vọng tiên sinh có thể tỏ bày cho điểm trọng yếu trong cao kiến đó."
Vị khách Hào kiệt nói, "Lời bàn của tiên sinh hoàn toàn không thâu nạp ý kiến của hai chúng tôi. Kính mong tiên sinh chỉ giáo thêm về phương châm chính trị của quốc gia trong tương lai."
Lúc này, Nam Hải tiên sinh mới nói tiếp, "Cũng chỉ là xây dựng chế độ lập hiến, trên thì khuếch trương sự tôn nghiêm và quang vinh của Thiên hoàng, dưới thì gia tăng nguồn phúc lợi cho muôn dân, thiết đặt thượng hạ lưỡng nghị viện, nghị sĩ của thượng viện là quý tộc, đời đời kế tục, nghị sĩ của hạ viện là tuyển chọn từ bầu cử, chỉ thế mà thôi. Còn về điều khoản cụ thể có thể dựa theo hiến pháp hiện hành của các nước Âu Mỹ để chọn dùng cho phù hợp. Chuyện này không thể nói thấu triệt được hết thảy chỉ trong một lúc luận bàn. Còn về phương châm ngoại giao, chú trọng hòa bình hữu hảo làm chủ, không làm tổn hại đến quốc thể, quyết không diễu võ dương oai, dần nới lỏng các điều khoản về ngôn luận, xuất bản, dần chấn hưng giáo dục và công thương nghiệp."
Hai vị khách nghe được những lời này thì cười nói, "Trước giờ chúng tôi nghe nói tiên sinh có những chủ trương mới lạ. Nhưng nếu chỉ dựa vào những gì tiên sinh nói nãy giờ cũng chẳng có gì mới lạ cả. Ngay một đứa con nít hay một tên đầy tớ ngày nay cũng biết những điều ấy."
Nam Hải tiên sinh thay đổi sắc diện, trịnh trọng nói, "Nếu là chủ đề khi nói chuyện phiếm bình thường như cuộc đấu kỳ lạ hay cạnh tranh quái dị để làm chuyện vui nhất thời thì ta vốn không ngại. Còn chuyện luận bàn kế sách trăm năm của quốc gia, há có thể lấy sự mới mẻ lập dị làm trò vui đùa được sao? Dẫu sao ta cũng là người ngu độn bất cần, không hiểu tình hình thời sự, chỉ là tùy tiện nói những điều như thế mà thôi. Nhiều điều ta nói rất có thể không còn hợp với thực tế, e là không thể thỏa mãn sự trông đợi của hai ngài."
Thế rồi, ba người lại nâng ly, chai rượu tây đã cạn, lại mang đến hai, ba chai bia để làm mát cổ họng mỗi người, nói chuyện cởi mở thêm một lúc thì bỗng nhiên con gà bên cạnh gáy báo sáng. Hai vị khách giật mình nói, "Chúng tôi xin phép, cáo từ."
Nam Hải tiên sinh cười nói, "Hai ngài vẫn chưa nhận ra sao? Từ khi hai ngài đến bây giờ, gà đã báo canh hai lần rồi. Nếu hai ngài trở về nhà thì chắc sẽ nhận ra đã trôi qua hai, ba năm rồi. Đó là theo lịch pháp của nhà ta."
Hai vị khách cũng bật cười lớn, bèn từ biệt. Sau đó mười ngày, quyển Luận đàm thế sự này ra đời.
Hai vị khách từ đó không còn đến nữa. Có người nói rằng vị Thân sĩ Tây học đã đến Bắc Mỹ, vị khách Hào kiệt đã tới Thượng Hải. Còn Nam Hải tiên sinh vẫn ở nhà như vậy, vẫn mải uống rượu mà thôi.
❀ ❀ ❀
[1] Tên nguyên gốc là 三酔人経綸問答 (Tam túy nhân kinh luân vấn đáp), tạm dịch là Ba gã say hỏi đáp kinh luân. Công việc của người kéo tơ, kéo tơ ra là Kinh, sắp xếp các mối tơ lại là Luân. Nghĩa rộng thì kinh luân là chỉ sự sắp đặt việc nước. Trong sách Trung dung có câu “Kinh luân thiên hạ chi đại kinh” (Tạm dịch: Sửa sang được các rường mối lớn trong thiên hạ) (Chương 32), trong “Năm điều thề ước” của Thiên hoàng Minh Trị thời Duy tân cũng có lời thề thứ hai “Trên dưới một lòng dốc sức thi hành kinh luân (chính trị)”.
[2] Nam Hải Tiên Ngư là bút danh của tác giả. Có lẽ vì ông là người ở hải quốc phương Nam (nước Tosa [nay thuộc tỉnh Kōchi] đảo Nam Hải). Tiên là tiên nhân, Ngư là ngư phủ. Ngư hay Tiều là những nhã hiệu mà các học giả hay các chính trị gia ưa dùng, xét về mặt ý nghĩa thì nó tương tự cách nói trong sách Mạnh Tử’. “Cùng tắc độc thiện kỳ thân, Đạt tắc kiêm thiện thiên hạ” [Tạm dịch: Lúc nghèo khó thì một mình giữ lấy điều thiện, khi hiển đạt thì đem điều thiện cảm hóa mọi người], ám chỉ việc trực tiếp tham gia vào chính trị, dự vào việc trị quốc bình thiên hạ, sau đó thì ẩn dật, giữ thân trong sạch, duy trì thú vui tao nhã, sống cuộc đời điền viên, trời nắng thì canh tác, trời mưa thì đọc sách (ngư, tiều, nông,...), hai điều đó như là hai bánh của một chiếc xe, đôi cánh của một con chim trong quan điểm tu dưỡng theo tư tưởng Nho giáo. Ngoài ra, tác giả còn có bút danh khác là Nam Hải Ngư ông.
[3] Là một loại la bàn dùng trong đánh bộ, tương truyền là do Hoàng Đế hay Chu Công người Trung Hoa sáng tạo ra.
[4] Nơi thần tiên cư ngụ (Nam Hoa kinh, thiên “Tiêu Dao Du”).
[5] Tạm dịch là làng không có đầu, ý nói vùng đất lý tưởng, là thế giới hoàn toàn tự do. “Chán rồi thì cưỡi con chim phất phới ra ngoài sáu cực, sang chơi bên làng không có đầu, để ở giữa cánh nội mông mênh.” (Nam Hoa kinh - thiên “ứng Đế Vương”).
[6] Chữ dùng của Mạnh Tử, nghĩa là công lý và chính nghĩa. [ND]
[7] Trang phục của các tay gươm được đề cập đến trong thiên “Thuyết gươm" sách Nam Hoa kinh-. “Các tay gươm mà vua cha tôi tiếp đều xù đầu, xõa tóc, lệch mũ; thắt cái dải man hồ; mặc cái áo ngắn vạt sau!”
[8] Kiếp trong tiếng Phạn là kalpa, là một chu kỳ của vũ trụ theo Phật giáo. Vào thời mạt kiếp, lửa thiêu hủy thế giới.
[9] Herbert Spencer (1820-1903) là triết gia, nhà lý thuyết chính trị tự do cổ điển, nhà lý thuyết xã hội học Anh. [ND]
[10] Nicolas Malebranche (1638-1715) là tu sĩ và nhà triết học người Pháp. Ông chịu ảnh hưởng rất lớn từ triết học của René Descartes. [ND]
[11] Chương 7 và 8 của Sách Sáng thế miêu tả đại hồng thủy xảy ra là sự trừng phạt của Thiên Chúa vì sự suy đồi đạo đức của loài người. Nước dâng lên cao hơn cả những đỉnh núi cao nhất, vào ngày 17 tháng Hai, mưa 40 ngày đêm và nước dâng lên liên tục trong 157 ngày. Sau đại hồng thủy, chỉ có gia đình Noah còn sống sót cùng các loài vật mỗi giống một cặp đôi, trên con thuyền Noah. [ND]
[12] Hoàng đế Hiếu tông thời Nam Tống nghiêm khắc thực hiện chịu tang ba năm, quần thần đem điển cố ra phản đối. Hoàng đế nói: “Tự ta tạo ra lệ mới.” (Phần “Lễ chí” trong sách Tống sử).
[13] Thuyết “thần tiến hóa” là quan điểm cơ bản trong quyển sách này, nhưng nó không mang nghĩa thuyết tiến hóa (đấu tranh sinh tồn, chọn lọc tự nhiên) như thông thường mà mang ý nghĩa “tiến bộ”.
[14] Maximilien de Robespierre (1758-1794) là một trong những nhà lãnh đạo Cách mạng Pháp năm 1789. Sau này, nhiều người đã tố cáo Robespierre là kẻ độc tài, khát máu, mị dân, nhưng cũng có những người lại coi ông là nhân vật lý tưởng, nhìn xa trông rộng, một nhà ái quốc với mục đích dân chủ. [ND]
[15] Tức Phạm Lãi, một danh sĩ nước Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc ở Trung Hoa, nổi tiếng là người buôn bán tài giỏi, từng giúp Việt vương Câu Tiễn tiêu diệt nước Ngô. [ND]
[16] Franz Joseph Gall (1758-1828) là một nhà khoa học người Áo, người đầu tiên đề xướng bộ môn Não tướng học. [ND]
[17] Ernst Haeckel (1834-1919) là nhà vạn vật học, sinh học và triết học người Đức. Ông là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “sinh thái học” vào năm 1866. [ND]
[18] Nguyên văn là “cao lượng minh mẫn”, có nghĩa là kiến thức cao sâu, đầu óc minh mẫn. Từ ưa dùng của tác giả Chōmin, từng dùng để đánh giá về Hoàng tử Saionji Kinmochi, Jean-Jacques Rousseau.
[19] Thế đất rồng cuộn hổ ngồi, ý nói vị trí đắc địa, thích hợp tạo dựng kinh đô của đế vương
[20] Heraclitus (khoảng 535 TCN-475 TCN) là một nhà triết học duy vật và được coi là ông tổ của phép biện chứng. [ND]
[21] Denis Diderot (1713-1784) nhà triết học người Pháp. [ND]
[22] Marquis de Condorcet (1743-1794) là triết gia, nhà toán học người Pháp, phát minh ra phương pháp bầu phiếu Condorcet. [ND]
[23] Tức Jean-Baptiste Lamarck (1744-1829) là nhà tự nhiên học người Pháp. [ND]
[24] Goethe (1749-1832) là nhà thơ, nhà viết kịch, nhà văn, nhà tự nhiên học người Đức. [ND]
[25] Tính lý học tức nói đến Lý học của Chu Hy và Vương Dương Minh thời Tống, Trung Hoa), ở đây tác giả sử dụng với nghĩa tâm lý học.
[26] Lấy ý từ câu “Chu công khởi nghi ngã tai” (Tạm dịch: Chu công há nói dối ta chăng) trong thiên “Đằng Văn công thượng” sách Mạnh Tử. Trong lchinen yūhan (Nhất niên hữu bán) của Chōmin cũng có câu tương tự “Khổng phu tử lẽ nào lại lừa dối ta”.
[27] Lấy ý từ câu “Thần Nông, Ngu, Hạ hốt yên một hề. Ngã an đích quy hĩ?” (Tạm dịch: Thần Nông, Ngu, Hạ thoắt đã qua chừ. Ta biết về đâu?) trong “Bá Di Liệt truyện” sách Sử ký của Tư Mã Thiên.
[28] Câu này xuất xứ từ trong thiên “Tiêu dao du” sách Nam Hoa kinh của Trang Tử.
[29] Vương quốc Lưu cầu: một thuộc quốc của Đế quốc Nhật bản.
[30] 円相Viên tướng, hình dáng tròn. Viên là vòng tròn cũng là viên mãn. Hình ảnh này thường thấy trong các bức họa của Thiền Tông.
[31] Cổ nhân thường có cách đánh giá những tác phẩm hội họa theo bốn cấp độ: năng phẩm, diệu phẩm, thần phẩm, dật phẩm, ở đây tác giả mượn những chữ này để nói về áng văn. [ND]
[32] Danh tướng thời nhà Hán, ông là người kỷ luật nghiêm ngặt, thường dùng lời thẳng thắn can gián đế vương.
[33] Cùng thời với Trình Bất Thức, cũng là một danh tướng nhà Hán, nhưng trái ngược với Trình Bất Thức, Lý Quảng lại buông lỏng kỷ luật quân đội nhưng đối đãi với quân sĩ rất trọng hậu, vì thế binh lính đều thích theo Lý Quảng hơn là Trình Bất Thức.
[34] Chính sự là những việc liên quan đến chính trị. [ND]
[35] Chính lý là đạo, đường lối thi hành chính trị. [ND]
[36] Hộ trưởng là người chịu trách nhiệm các công việc hành chính trong thôn, đinh, khu, được thiết lập vào đầu thời Minh Trị. [ND]
[37] Nguyên văn là “tạ kim”, tức tiền lễ tạ, thời xưa khi học trò đến học nhà thầy thì cần đem tiền lễ đến để xin học. [ND]
[38] Joseph Priestley (1733-1804) nhà triết học tự nhiên, nhà hóa học, nhà lý luận chính trị tự do. ông nổi tiếng nhờ phát minh ra nước có ga. [ND]
[39] Antoine Laurent de Lavoisier (1743-1794) là một trong những nhà hóa học vĩ đại nhất trong lịch sử. ông đã tìm ra định luật bảo toàn khối lượng, đề xuất lý thuyết về sự ôxy hóa các chất. [ND]
[40] Montesquieu (1689-1755) là một nhà bình luận xã hội và tư tưởng chính trị Pháp sống trong thời đại Khai minh, ông nổi tiếng với thuyết tam quyền phân lập. [ND]
[41] John Stuart Mill (1806-1873) là nhà triết học, nhà kinh tế chính trị học người Anh, được coi là nhà triết học Anh ngữ lớn nhất thế kỷ 19. [ND]
[42] Charles-lrénée Castel de Saint-Pierre (1658-1743) là nhà tư tưởng khai minh người Pháp. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng của Rousseau. Và ông được xem là người đầu tiên đề nghị thành lập một tổ chức gìn giữ hòa bình thế giới. [ND]
[43] Tên thật là François-Marie Arouet (1694-1778) là nhà văn, sử gia và triết gia Pháp thời Khai minh. [ND]
[44] Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) là nhà triết học nổi tiếng thuộc trào lưu Khai minh Pháp. [ND]
[45] Immanuel Kant (1724-1804) là một trong những triết gia quan trọng nhất của nước Đức, cũng là một trong những triết gia lớn của thời cận đại. [ND]
[46] Nhà tư tưởng chính trị cấp tiến của Pháp (1820-1891), là người sáng lập Liên minh Hòa bình và Tự do. Nakae Chōmin và Saionji Kinmochi từng được nhận sự chỉ dạy từ ông.
[47] Ở thời của tác giả thế giới chưa có tổ chức Liên hiệp quốc. [ND]
[48] Câu này vốn lấy từ trong chương 17, sách Trung dung, nguyên văn: “Cố tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chi”.
[49] Ngô Hạ A Mông là một câu thành ngữ thường dùng để chỉ những người ít học thức, khiếm khuyết văn tài, nhưng sau này nhờ rèn giũa mà trở nên giỏi giang, rạng danh với đời. Cụm từ này vốn có nguồn gốc từ Lã Mông truyện, phần Ngô chí, sách Tam Quốc chí, Lỗ Túc vốn là danh tướng nhà Ngô, thường xuyên chê bai tài năng và sở học của Lã Mông (A Mông). Đến sau này Lã Mông lại chính là người kế tục vị trí vinh hiển của Lỗ Túc, trở thành một danh tướng cho nhà Ngô thời Tam Quốc. Ngô Hạ là địa danh, nay thuộc Tô Châu. [77]
[50] Phiên là lãnh địa của một lãnh chúa, còn võ sĩ là những chiến binh phổ biến trong thời Chiến Quốc và Edo của Nhật Bản.
[51] Charlemagne được ghi là Charles I (theo tiếng Pháp) hay Karl I (theo tiếng Đức).
[52] Có lẽ tác giả muốn nhắc tới Peter Đại đế, có tên theo âm Nga là Pyotr Alexeyevich Romanov? [ND]
[53] Balance of power, ở châu Âu thế kỷ 19, đó là thuật ngữ chỉ việc các quốc gia liên minh với nhau nhằm hạn chế một quốc gia nào đó quá mạnh.
[54] Trong sách Sử ký, “Thương quân liệt truyện” có chép, Thương Ưởng thi hành cải cách và kết quả là “dân dũng cảm chiến đấu, không tự ý đánh nhau”.
[55] Lục Tú Phu (1236-1279) là một đại thần thời Nam Tống. Trong trận Nhai Môn, quân Nguyên Mông tiến đến vùng biển ngoài khơi tỉnh Quảng Đông, nhưng Lục Tú Phu vẫn hằng ngày giảng Đại học, Luận ngữ, dạy Tống đế Bính khi ấy mới 8 tuổi phải biết lấy tu thân tề gia làm gốc trong việc trị quốc bình thiên hạ. Cuối cùng quân Nguyên tấn công đến lãnh địa cuối cùng của Tống là Nhai Môn, Lục Tú Phu mới bất đắc dĩ phải ôm tiểu hoàng đế nhảy xuống biển tự tử, nhà Tống diệt vong. Câu chuyện này thường được dùng để so sánh với chủ nghĩa lý tưởng xa rời thực tế.
[56] Chữ dùng của Thiệu Khang Tiết, là một loại nhận thức luận duy tâm, không dùng cảm quan và thực tiễn của bản thân để xem xét đánh giá sự vật hiện tượng mà dùng cái gọi là tâm và lý hay dùng quan điểm khách quan để nhìn nhận thế giới.
[57] Khoảng từ 3 đến 5 giờ sáng. [ND]
[58] Là cách nói giản lược từ Lục thao (của Khương Tử Nha) và Tam lược (của Hoàng Thạch công), ý nói tài dùng binh, giỏi chiến thuật, chiến lược.
[59] Thuyết văn giải tự giải thích: “Dũng chính là khí”. Sách Mạnh Tử giảng: “Khí, làm đủ đầy cơ thể”, còn sách Hoài Nam Tử chép: “Khí, làm căng tràn sự sống”.
[60] Trong chế độ tam quân (tả quân, trung quân, hữu quân) thì trung quân là đội quân nòng cốt, được chủ tướng trực tiếp chỉ huy.
[61] Là đội kỵ binh cận vệ hộ vệ cho thiên tử, được thiết lập vào thời Hán Vũ đế.
[62] Cách gọi thông dụng của đội kỵ binh cận vệ đời Đường.
[63] Truy viễn là lấy từ trong thiên “Học nhi” sách Luận ngữ. “Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ” (Tạm dịch: Thận trọng việc tang ma, tưởng nhớ đức tiên tổ, sẽ khiến đức độ của dân chúng trở nên trung hậu thật thà). [ND]
[64] Nguyên văn là phẩm thức, tạm hiểu là tiêu chuẩn, phép tắc. [ND]
[65] Hoài cựu: luôn luyến tiếc nhớ thương cái xưa cũ. Hỉ tân: thường ham mê [98] yêu chuộng cái mới lạ. [ND]
[66] Gà mái gáy sáng. Ý nói đàn bà làm thay việc đàn ông, xưa còn mang điềm gở là đàn bà làm loạn chính sự.
[67] Đơn vị đo lường lúa gạo của Nhật thời cổ, tương đương 1 mét khối hoặc khoảng 150 kilôgam.
[68] Khái niệm nổi tiếng trong Nam Hoa kinh của Trang Tử - chương “Thiên địa”: “Cơ tâm tồn ư hung trung, tắc thuần bạch bất bị” (Tạm dịch: Mang lòng gian trá ở trong lòng thì không còn thuần khiết nữa). Cơ là máy móc, không phải tự nhiên tự phát. Tâm hoạt động do cỏ tác động. Ý nói tâm có tính toán.
[69] Adolphe Thiers (1797-1877) là một luật sư, nhà báo, chính trị gia người Pháp. [ND]
[70] William Ewart Gladstone (1809-1898) là một chính trị gia người Anh. Ông từng làm Thủ tướng Anh (từ 1868 đến 1874; từ 1880 đến 1885; từ tháng Hai đến tháng Bảy năm 1886; và từ 1892 đến 1894). [ND]
[71] Otto von Bismarck (1815-1898) là một chính trị gia Đức, ông là thủ tướng đầu tiên của Đế quốc Đức. [ND]
[72] Pháp điển nói về luật pháp cơ bản của quốc gia. Mang nghĩa chế độ, chính thể.
[73] Georges Danton (1759-1794) là nhân vật lãnh đạo trong giai đoạn đầu của Cách mạng Pháp. [ND]
[74] Tức chết giữa chiến trường, dùng da ngựa bọc xác, thề hiện chí nam nhi thời xưa. Chỗ này lấy ý từ câu nói của Mã Viện thời Hậu Hán.
[75] Sắc lệnh do chính quyền Minh Trị ban hành vào ngày 28 tháng Ba năm 1876, cấm mọi người mang vũ khí ở nơi công cộng, ngoại trừ các cựu lãnh chúa, các quan chức quân đội và những người thực thi pháp luật. Những người vi phạm sẽ bị tịch thu thanh kiếm của họ.
[76] Jean-Paul Marat (1743-1793) là một nhà lý luận chính trị, bác sĩ và nhà khoa học người Pháp. [ND]
[77] Louis Antoine de Saint-Just (1767-1794) là một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự trong thời kỳ Khủng bố của Cách mạng Pháp. [ND]
[78] Vốn là cụm 髀肉復生 (bễ nhục phục sinh). Nếu cưỡi ngựa thường xuyên thì thịt đùi sẽ nhỏ lại, săn chắc, đằng này “bễ nhục phục sinh” tức thịt đùi to ra, ý nói lâu ngày không cưỡi ngựa, sống trong cảnh sung túc an nhàn lâu quá, dẫn đến tráng chí bị thui chột. [ND]
[79] Câu này tương đồng với câu “nhân định thắng thiên”. [ND]
[80] Helmuth Johannes Ludwig von Moltke (1848-1916) còn được gọi là Moltke Nhỏ, là Tổng tham mưu trưởng quân đội Đức từ năm 1906 cho đến cuối năm 1914. [ND]
[81] Thiếp Mộc Nhi (1336-1405) còn được biết đến với tên Tamerlane, là nhà cầm quân người Đột Quyết - Mông cổ, là người sáng lập triều đại Thiếp Mộc Nhi ở Ba Tư và Trung Á.
[82] Hào kiệt trong tiếng Nhật là hình ảnh một võ sĩ, dũng sĩ, tức người có sức mạnh, biết sử dụng võ nghệ, gan dạ. Còn Hào kiệt trong tiếng Trung Quốc lại là người có tài trí hơn người. Vì thế, ở đây tác giả so sánh ý nghĩa của Hào kiệt trong tiếng Nhật, tức con quái vật ưa chiến đấu với Hào kiệt nghĩa gốc là người tài trí.
[83] Lưu Bang tức Hán Cao Tổ, hoàng đế khai quốc của triều đại nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc.
[84] Hốt Tất Liệt (1215-1294) là Đại khả hãn thứ năm của Đế quốc Mông cổ, đồng thời là người sáng lập triều đại nhà Nguyên trong lịch sử Trung Quốc.[ND]
[85] Toyotomi Hideyoshi (1537-1598) là một daimyo thời kỳ Sengoku, là người thứ hai đã thống nhất Nhật Bản. [ND]
[86] Adam Smith (1723-1790) là nhà kinh tế chính trị học và triết gia người Scotland, là người mở đường cho phát triển lý luận kinh tế. [ND]
[87] Auguste Comte (1798-1857) là nhà tư tưởng người Pháp, người tạo ra ngành xã hội học và đã đưa ra thuật ngữ “Xã hội học”. [ND]
[88] Thuật chữa bệnh được đề cập đến trong cuốn sách này còn nhiều vấn đề tranh cãi, không phải là phương thức chữa trị hoàn toàn chính xác? [ND]
[89] Georges Boulanger (1837-1891) là tướng Pháp, từng được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Chiến tranh Pháp năm 1886. [ND]
[90] Léon Gambetta (1838-1882) là một chính khách người Pháp, ông từng giữ chức Thủ tướng Pháp nhiệm kỳ 14 tháng Mười một năm 1881 đến 30 tháng Một năm 1882. [ND]
[91] Adolphe Thiers (1797-1877) là một luật sư, nhà báo, chính trị gia người Pháp. Ông là tổng thống thứ hai của Pháp nhiệm kỳ từ 31 tháng Tám năm 1871 đến 24 tháng Năm năm 1873, sau Napoleon III. [ND]
[92] Trận Sevastopol là một trận trong cuộc chiến tranh Krym [Crimea] bắt đầu từ năm 1853 và chấm dứt năm 1856, giữa phe đồng minh gồm Pháp, Anh, Thổ Nhĩ Kỳ và Sardegna chống lại Đế quốc Nga.
[93] Hòa ước ký tại Paris năm 1856 nhằm kết thúc chiến tranh Krym. Hòa ước này bảo toàn lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, trung lập hóa Biển Đen, cấm vận chuyển tàu chiến đến đó.
[94] Là đảo ở eo biển Triều Tiên. Nhằm đối kháng chính sách cực Đông của Nga, Anh đã chiếm và xây dựng chiến lũy ở đây từ 1885-1887, gây nên cuộc tranh chấp lớn giữa Triều Tiên, Anh, Nga, Thanh [Trung Hoa].
[95] Hạng Vũ (232 TCN-202 TCN) là danh tướng nước Sở có công lật đồ nhà Tần và tranh hùng với Hán Cao Tổ Lưu Bang, ở đây, có lẽ tác giả nhầm với vụ thảm sát 40 vạn hàng binh Triệu của tướng nước Tần là Bạch Khởi trong trận Trường Bình thời Chiến Quốc. Hạng Vũ cũng gắn với giai thoại chôn sống 20 vạn hàng binh Tần bằng cách bắt họ đào hố lớn để tự chôn chính họ. Hai cuộc thảm sát này thường được dẫn dụ để nói về hành động trái đạo lý, giết hàng loạt người vô tội.
[96] Rượu truyền thống của Nhật, làm từ gạo, mộng lúa và nước, lên men nhưng không lọc.
[97] Thẩm Thạch Điền (1427-1509), tên là Châu, tự là Khải Nam, Thạch Điền là họa gia tiêu biểu thời Minh. [ND]
[98] Rembrandt (1609-1669) là họa sĩ và nghệ sĩ khắc bản in nổi tiếng người Hà Lan, được xem là một trong những họa sĩ vĩ đại nhất trong lịch sử hội họa châu Âu nói chung và Hà Lan nói riêng. [ND]
[99] Vương An Thạch (1021-1086) là nhà chính trị, nhà văn, nhà kinh tế nổi tiếng thời Bắc Tống. Trong tân pháp (hay còn gọi biến pháp) ông đặt ra ba phép về việc tài chính, hai phép về việc quân binh, nhưng bị chống đối kịch liệt, các quan lại thời bấy giờ cho rằng tân pháp là trái với chế độ và phong tục từ thời Tam hoàng Ngũ đế.
[100] Peter Paul Rubens (1577-1640) là một họa sĩ lỗi lạc người Vlaanderen thế kỷ 17, là người khởi xướng phong cách baroque hoa mỹ. [ND]
[101] Nicolas Poussin (1594-1665) là một họa sĩ người Pháp thuộc trường phái cổ điển. [ND]
[102] Charles George Gordon (1833-1885) là một sĩ quan quân đội Anh, nổi tiếng trong việc thảo phạt Thái Bình Thiên Quốc, ông từng được phái sang dẹp quân nổi dậy ở Sudan nhưng vì đối lập ý kiến với Chính phủ nên viện quân không được điều đến kịp lúc, ông bị bao vây và tử chiến ở thủ phủ Sudan là Khartoum. Choumin nói “sa mạc Ả Rập” e là có nhầm lẫn.
[103] Amédée Courbet (1827-1885) là đô đốc người Pháp từng tham gia chiến dịch Bắc kỳ và chiến tranh Pháp-Thanh. [ND]
[104] Lấy ý từ câu “Nguyên tuyền hỗn hỗn, bất xả trú dạ” [Nước suối từ trên nguồn, cuồn cuộn chảy xuống, chẳng kể ngày đêm] trong thiên “Ly Lâu hạ”, sách Mạnh Tử.
[105] Nguyên văn là “Kinh Xuân Thu văn minh", có lẽ ý nói lịch sử văn minh thời hiện đại. Bởi Kinh Xuân Thu là bộ biên niên sử của nước Lỗ, được xem là văn bản lịch sử Trung Quốc sớm nhất còn sót lại. Sử dụng hình ảnh Kinh Xuân thu để nói về lịch sử. [ND]