Áo Khoác Lông Chồn

Lượt đọc: 131 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

❊ ❊ ❊

Lúc Nancy và Paul Farley đến nhà Liggett trời vẫn còn sáng, có thể đọc được báo trên phố. Nancy mặc chiếc áo chiffon dài in hoa, Farley mặc dạ phục, cổ quàng khăn, áo sơmi mềm, khăn quàng thay cho thắt lưng, đi giày nhảy. Đôi giày đã cũ và hơi sờn, mũ phớt xám trong tay ông ta trông có vẻ không còn mới. Emily tự hỏi không hiểu vì sao bà lại nghĩ vợ chồng Farley sẽ ăn mặc như trong quảng cáo ở nhà hát. Vì sao nhỉ? Lẽ tất nhiên là nghe Weston. Mà Weston nghe ai? Ở Philadelphia có chuyện gì?

- Chào anh chị Farley. Mời anh chị vào trong này, tôi nghĩ là mát hơn.

- Nhà mát thật nhỉ? - Nancy nói.

- Bobbie làm ngôi nhà này. - Paul nói.

- Một người bạn của chúng tôi. - Nancy giải thích. - Robert Scott, một kiến trúc sư. Chị có biết anh ta không?

- Không, tôi nghĩ thế. - Emily nói. - Được rồi, Mary. Mọi thứ cho cocktail. Anh Farley, anh không phiền khi tôi chuyển việc này cho anh chứ? Chồng tôi chưa về! Anh ấy đi Philadelphia sáng nay và tôi tưởng anh ấy sẽ về vào khoảng bốn giờ, nhưng tôi đã nhầm. Có lẽ anh ấy định nói là lên tàu bốn giờ và đến nơi lúc sáu giờ. Hoặc trên đường lên phố, anh ấy ghé qua văn phòng. Chắc phải có việc quan trọng vì chưa thấy anh ấy gọi điện.

- Không sao, miễn là không phải vấn đề sức khỏe của anh nhà. - Paul nói. - Ý tôi là thiếu sức khỏe. Chỉ thoáng nhìn anh ấy hôm thứ Bảy, tôi đã nói với Nancy là trông anh ấy rất khỏe khoắn.

- Vâng, tôi chỉ nhìn thoáng qua nhưng nhận thấy anh ấy mạnh khỏe. - Nancy nói. - Anh ấy luôn gây cho người khác ấn tượng sung sức.

- Vâng, không như hầu hết những người từng là vận động viên trong trường. - Paul nói. - Họ thường… - ông ta ra hiệu bụng to.

- Ồ, vậy ra anh ấy từng là vận động viên? - Nancy nói.

- Nhà tôi ở trong đội của Yale. - Emily nói. - Tôi nghĩ anh giữ được sức. Mùa đông năm ngoái anh vẫn chơi tennis.

- Thế ư? - Paul nói. - Đấy là một môn rất tốt. Tôi chưa chơi bao giờ. Tôi chỉ quanh quẩn với môn quần vợt và mùa đông năm nay tôi chơi bóng ném, nhưng chưa đến sân tennis lần nào.

- Tôi cũng chưa đến sân tennis bao giờ. - Nancy nói.

- Tôi cũng thế. - Emily nói. - Anh Farley, anh có thích pha cocktail không? Chắc anh có chủ ý gì chăng. Đây có rượu gin, vecmut Pháp và Ý, nhưng chúng ta có thể kiếm thêm nhiều thứ khác nữa.

- Tôi thích Martini và Nancy cũng thế.

- Vậy ta uống Martini. - Emily nói.

- Mình hãy nói cho chị Liggett nghe mình chỉ em cách lắc Martini như thế nào. - Nancy nói.

- Phải đấy. - Farley nói. - Chị biết không, như những người khác, nhiều năm nay tôi tin rằng rượu Martini nên khuấy chứ không lắc.

- Vâng, tôi cũng thường nghe thế. - Emily nói.

- Năm ngoái ở London, tôi nói chuyện với một bồi rượu người Anh, anh ta nói với tôi rằng ý kiến đó sai hoàn toàn. Anh ta muốn nhắc đến người Mỹ.

- Một cách khinh bỉ. - Nancy nói.

- Rất khinh bỉ. - Paul nói.

- Tôi có thể hình dung như thế. - Emily nói.

- Vậy mà chúng ta được dạy rằng nếu lắc Martini, ta sẽ làm cocktail thâm lại. Tôi rất mừng thấy ly cocktail bé nhỏ của mình không bị thâm, cho đến khi ông chủ quán rượu người Anh giải thích cách pha đúng, cách của ông ta, phải nói là rất hợp lý. Ông ta nói phải lắc Martini thật mạnh và nhanh, lắc lên lắc xuống vài cái thật mạnh để gin và vecmut hòa tan thành một hỗn hợp sủi bọt. Ông nói rằng người Mỹ, nhất là trong thời kỳ Cấm rượu đen tối này, đừng nản lòng. Chúng ta có xu hướng uống cocktail thành hai ngụm, trong khi nếu lắc cocktail, các thành phần khác nhau sẽ hòa tan hoàn toàn, kết quả là thức uống sủi bọt - không nhiều lắm, nhưng còn hơn không - và bạn có một ly cocktail có thể nhấp từng ngụm, gần như champagne.

- Ồ, tôi chưa bao giờ nghe thấy điều đó. - Emily nói. - Nghe anh nói có vẻ rất hợp lý đấy.

- Chị thấy không, cocktail của chúng ta khuấy lên ngọt và rất đặc. Hai cốc Martini khuấy một mẻ có tác dụng hơn hai cốc lắc nhiều. Cocktail khuấy ít hơn để gin và vecmut còn nguyên. Vì thế chúng tôi nghe theo lời khuyên của ông chủ quán rượu, và phải nói là tôi thấy ông ta rất đúng.

- Vậy ta làm ngay bây giờ. Tôi sẽ lấy một bình trộn nữa. Cốc này sẽ là đỉnh cao của loại rượu pha trộn.

- Ồ không, không có nghĩa là…

- Không sao hết. - Emily nói. - Tôi muốn thử phương pháp của anh.

Bà vào phòng ăn rồi trở lại với một bình trộn rượu.

- Tôi để ý thấy chị có nhiều bình trộn rượu mới. - Nancy nói. - Chị biết không, chúng tôi có nhiều bình trộn và mọi thứ mới hơn của người em họ Paul. Cô ấy lấy chồng từ năm năm trước, và được mừng cưới tới hai mươi hai bình trộn rượu. Đủ các loại. Cô giữ các bình ấy kỹ quá thành lỗi thời so với bình của chúng tôi. Các bình trộn của chúng tôi đều mới, chỉ trong vòng hai năm trở lại đây thôi.

- Khi Weston và tôi cưới, chẳng ai nghĩ đến chuyện mừng một cái bình trộn rượu.

- Chúng tôi cũng chẳng nhận được cái nào. -Nancy nói.

- Đây, chị Liggett. - Paul nói. - Tôi hy vọng chị thích loại này, sau những lời quảng cáo dài dòng của tôi.

Emily nếm cocktail.

- Ồ, vâng, xem nào. Thậm chí tôi thấy khác hẳn.

- Có ngon hơn nhiều không? - Nancy hỏi.

- Có. Tôi biết Weston sẽ thích lắm đây. Đồ uống ưa thích của nhà tôi là whisky pha sôđa. Anh ấy không thích cocktail vì nó quá ngọt. Kiểu này sẽ giải tỏa định kiến của anh ấy về các loại cocktail đây. Nhân nói đến Weston, tôi nghĩ nên đợi thêm dăm phút nữa, nếu anh ấy không về kịp chúng ta sẽ bắt đầu. Weston thường về đúng giờ dùng bữa, và tôi biết anh ấy rất mong về đúng giờ vì có mặt anh chị. Tôi ghét đến nhà hát muộn, nên chúng ta chỉ đợi thêm dăm phút nữa thôi. Tôi lấy làm mừng là anh chị chưa xem Ngày mai và ngày mai. Herbert Marshall thật quyến rũ, chị có thấy thế không, chị Farley?

- Thật đúng là người đàn ông quyến rũ nhất mà tôi biết. Không phải là tôi biết anh ta. Tôi đã gặp anh ta rồi.

- Không biết anh ta làm thế nào để đi khắp đó đây với cái chân ấy nhỉ. - Paul nói.

- Tôi không biết nói ra sao, và lần nào tôi cũng quan sát. - Nancy nói.

- Anh ta mất một chân trong chiến tranh? - Emily nói.

- Tôi nghĩ thế. - Nancy nói.

- Phải, đúng thế. Anh ta từng phục vụ trong quân đội Anh. - Paul nói.

- Không, trong quân đội Áo chứ, anh yêu? - Nancy nói.

Mọi người cười lịch thiệp.

- Thực ra, anh ta ở trong quân đội Áo. - Paul nói.

- Anh ta là gián điệp.

- Không, không. Không nói chuyện ấy nữa. - Nancy nói. - Hơn nữa, anh ta không phải là người lập dị. Ai nói đến chuyện đó đầu tiên? Chị cứ đọc trên tờ New Yorker.

- Chuyện như thế nào? - Emily hỏi.

- Ồ, chắc chị phải đọc rồi. Tôi nghĩ nó nằm trong mục Trò chuyện về thành phố. Chị biết đấy, George S. Kaufman viết Một lần trong đời và hàng trăm vở khác.

- Vâng. - Emily nói.

- Một đêm kia, ông ta đang ở cùng một vài nhà văn người Algonquin[1], thì có một người lạ mặt trong đám khoe khoang về tổ tiên của mình, cuối cùng Kaufman, một người Do Thái, nói toạc ra: “Tôi có một vị tổ tiên tham gia Thập tự chinh”. Người lạ kia có vẻ ngờ vực, Kaufman bèn nói tiếp: “Tên ông ấy là Ngài Reginald Kaufman. Ông là gián điệp.”

- Đúng thế, hơn nữa đấy chính là Ngài Roderick Kaufman. - Nancy nói.

Emily bật cười. Bà định chỉ một phút nữa là mời các vị khách vào dùng bữa thì chuông cửa reo, rồi cánh cửa bật mở, Liggett bước vào, người gác cửa và người giữ thang máy dìu hai bên. Emily để ý thấy người gác cửa cố bỏ mũ ra.

- Ôi, lạy Chúa. - Emily nói.

- Chúa lòng lành. - Paul nói.

Nancy nín thở.

- Có chuyện gì thế này, hở anh? - Emily nói và đến gần chồng.

- Để tôi đỡ cánh tay này cho. - Paul nói với người gác cửa.

- Xin cứ để tôi tự đi. - Liggett nói và gạt những người giúp mình ra. - Tôi rất xin lỗi, chị Farley, nhưng anh chị lượng thứ cho tôi tối nay.

- Ồ vâng, tất nhiên rồi. - Nancy nói.

- Đưa tay cho tôi nào, ông bạn? - Paul nói.

- Không, cảm ơn. - Liggett nói. - Emily… em… tôi nghĩ là anh chị Farley…

- Để tôi giúp anh vào phòng. - Farley nói. - Tôi nghĩ mình nên làm việc này, chị Liggett ạ.

- Tôi thấy anh đừng làm thì hơn, Farley. Cảm ơn anh, nhưng tôi thấy anh đừng làm thì hơn. - Liggett nói. - Xin lỗi em, Emily, trước mặt anh chị Farley mà…

- Ồ, em chắc anh chị ấy hiểu mà. - Emily nói. - Anh chị Farley, xin thứ lỗi cho chúng tôi nhé?

- Tất nhiên rồi. - Farley nói. - Anh có muốn tôi giúp gì không?

- Không, cảm ơn. Tôi sẽ xoay xở được. Tôi xin lỗi.

- Ta đi thôi, mình. - Nancy nói. - Chị Liggett, cần bất cứ việc gì, chị cứ gọi cho chúng tôi nhé.

- Cảm ơn anh chị. - Emily nói.

Vợ chồng Farley ra về. Paul thấy Nancy không đợi đến lúc vào trong taxi đã bật khóc.

- Thật kinh khủng quá. Cảnh tượng mới ghê làm sao. - bà quàng tay quanh người Paul và nức nở. - Người phụ nữ ấy thật tội nghiệp và bất hạnh. Phải có chuyện gì xảy ra với chị ấy chứ. Chao ôi. Những cú đánh ghê tởm. Chẳng thế mà chị ấy có cặp mắt buồn đến thế.

- Còn cái thằng khốn ở Philadelphia cũng chẳng hơn gì tôi. Tôi đã thấy hắn say bí tỉ vào bữa trưa ở câu lạc bộ Yale. Hắn không nhìn thấy tôi, nhưng tôi nhìn thấy hắn. - ông ngừng lời. - Nhưng mình chẳng việc gì phải bối rối thế. Họ đâu phải bạn thân của chúng ta.

- Em sẽ thôi đấy. - Nancy nói.

- Chúng ta sẽ đến Longchamps.

- Không, hãy đến nơi có thể uống rượu. - Nancy nói.

•••

Gloria về nhà đúng giờ ăn tối, bác cô bảo rằng muốn nói chuyện với cô trước hoặc sau bữa ăn. Cô nói có thể nói chuyện ngay bây giờ, trước bữa ăn.

- Vậy thì. - ông bắt đầu. - Gần đây bác thấy cháu không được khỏe. Bác nghĩ cháu nên rời New York độ một hoặc hai tháng. Bác nói thật đấy, Gloria.

Cô cũng nghĩ thế, nhưng lấy làm lạ không biết ông bác bắt gặp cô trông không khỏe vào lúc nào.

- Cháu chẳng để dành được tí nào trong khoản tiền trợ cấp cũng như công việc, bác biết đấy. - cô nói.

- Đây là món quà sinh nhật. Nó hơi sớm hơn sinh nhật của cháu, nhưng cháu nhận được lúc nào trong năm thì có khác gì đâu? Đến sinh nhật cháu, bác sẽ gửi cái bưu ảnh một xu để cháu nhớ là có quà. Với điều kiện là cháu muốn đi.

- Nhưng bác có khả năng chu cấp cho cháu không?

- Có, bác cho được. Chúng ta không còn sống nhờ vào thu nhập nữa, Bé ạ. - ông hay gọi cô như thế. - Chúng ta, mẹ cháu và bác, đã bán trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi.

- Ồ. Vì cháu ư? Cháu đáng giá nhiều thế sao?

Ông cười.

- Khô-ô-ô-ng. Hình như cháu chưa hiểu. Cháu không biết những chuyện đang diễn ra trên đất nước này sao, Bé? Chúng ta đang ở trong cuộc suy thoái. Cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong lịch sử. Cháu có biết gì về tình hình thị trường cổ phiếu không?

- Sáng nay hoặc hôm qua cháu đã thấy giá cổ phần thép Bethlehem của bác tăng. Cháu quên mất là lúc nào rồi.

- Ồ, tất cả qua lâu rồi, cổ phần thép của bác. Đấy là thép US., không phải Bethlehem.

- Ờ, thì cháu nhầm.

- Bác mừng là cháu chú ý. Không, việc bác đang làm là dồn hết mọi thứ có thể và cháu có biết bác làm gì không? Mua vàng.

- Vàng? Bác định nói vàng thật, thứ mà chúng ta gọi là vàng nén?

- Chính thứ ấy đấy. Tiền vàng, vàng thỏi, một ít giấy bảo đảm vàng, nhưng bác không tin vào chúng lắm. Bác không thích dọa cháu, nhưng mọi sự diễn ra xấu nhiều hơn tốt, như các nhà nghiên cứu nói.

- Ý bác định nói gì?

- Được, để bác nói cho cháu nghe. Bác có biết chút ít về một thương nhân khôn khéo nhất phố Wall. Cháu không biết tên ông ta, vì bác nghĩ chưa có dịp nào nhắc đến ngoài mẹ cháu, vì cháu cũng không thích nghe lắm. Tay ấy là một kẻ đầu cơ chính hiệu. Những câu chuyện kể ở khu thương mại về người đàn ông này hết sức giật gân. Đương nhiên, ông ta là người Do Thái. Người ta nói đấy là một người không thể thua lỗ. Ông ta rất thông minh, như mọi người Do Thái khác. Như bác đã nói, ông ta luôn là một thương nhân khôn khéo. Người ta bảo ông ta là người duy nhất biết xoay chuyển trong năm 1929. Ông ta rời thị trường vào tháng Tám 1929, lúc đang ở đỉnh cao. Ai cũng bảo ông ta điên. Bỏ lỡ nhiều triệu đô. Nhiều triệu, người ta nói thế. Chắc vậy, ông ta nói. Phải, tôi sẵn sàng bỏ qua nhiều triệu và giữ cái mình có, ông ta bảo họ, tất nhiên họ cười nhạo khi nghe ông ta nói sẽ nghỉ hưu, ngồi ngắm đồng hồ trong hiệu cà phê ở Paris. Nghỉ hưu khi mới ba mươi tám tuổi ư? Hừ. Những kẻ hay châm chọc ở khu thương mại chưa bao giờ nghe thấy một câu chuyện như thế. Ông ta nghỉ hưu? Không. Họ bảo, kinh doanh ở trong máu hắn ta rồi. Hắn chỉ lùi lại thôi. Hắn đến Pháp và vui chơi một chút, được thôi, vì tình cờ tôi biết hắn có tiếng về mặt đó. Họ nói đúng vì ông ta đã trở lại, nhưng không theo cách họ nghĩ. Hai năm trước, ông ta trở về vào tuần đầu tháng Mười một, ngay sau cuộc khủng hoảng. Cháu có biết ông ta làm gì không? Ông ta mua chiếc Rolls-Royce Phantom, giá gốc hơn mười tám ngàn đô, với giá một ngàn đôla. Ông ta mua một khu đất rộng ở Long Island. Bác không biết chính xác ông ta trả bao nhiêu tiền, nhưng có người nói với bác là không hơn một xu cái giá người chủ mua một trong số các sân tennis trong nhà có ở đó. Thế là ông ta sở hữu cả một cơ ngơi, đất, nhà, chuồng ngựa, gara, mọi thứ. Cả bến du thuyền nữa chứ. À, suýt quên. Chiếc du thuyền dài 180 ft[2] giá mười tám ngàn đôla. Bác biết con số đó vì nhớ là có nghe ông ta nói một trăm đôla một phút cho bất cứ loại du thuyền nào. Cháu lưu ý là cơ ngơi đó có mọi thứ đồ đạc. Tất cả là nhờ ông ta rút lui đúng lúc và có tiền mặt. Mọi thứ đều được trả bằng tiền mặt. Không vay một xu. Không chịu lãi một xu. Mua đứt. Ông ta mua ôtô, nhà, bất động sản, du thuyền, tranh ảnh ngon ơ. Nhưng có cho vay tiền không? Không. Ông ta nói đấy là cách trả lời những kẻ rỗi hơi hay châm chọc đã cười ông ta vào mùa hè trước khi ông ta nghỉ hưu.

- Bác nói bác biết người đó? - Gloria hỏi.

- Ừ. Bác hay gặp ông ta quanh đây. Bác chỉ quen ông ta đến mức chào helo thôi.

- Hiện giờ ông ta ở đâu? Ý cháu là có chuyện gì xảy ra với ông ta?

- À, đấy chính là chuyện bác sắp kể cho cháu nghe đây. - Vandamm nói. - Khoảng một hoặc hai tháng trước, bác hỏi một tay chơi bài brit chuyên nghiệp mà thỉnh thoảng bác gặp, xem có chuyện gì xảy ra với ông ta. Ý bác muốn hỏi đến cách kiếm sống, nhưng ông ta từng là người môi giới. Gần đây bác tình cờ gặp ông bạn ấy ở New York AC. và cùng uống bia, thân tình vì ông ấy biết bác không đến chơi bài kiếm lời. Bọn bác trò chuyện, dĩ nhiên là có nhắc đến tên của Jack Wiston - đó là tên ông ta, Jack Wiston, nếu cháu muốn biết. Tên ông ta được nói đến và bác hỏi bạn mình dạo này Jack thế nào? “Anh không biết à?” bạn bác hỏi. Hết sức ngạc nhiên. Ông ấy tưởng ai cũng biết chuyện về Wiston. Hình như Wiston mới tân trang lại du thuyền và làm một chuyến vòng quanh thế giới. Bác biết là có thêm vài cô nàng diễn viên và một hoặc hai ông bạn đi cùng. Khi họ đến một trong những hòn đảo ở Nam Thái Bình Dương, Wiston nói ông ta không đi nữa và để mọi người quay về bằng du thuyền. Ông ta mua một lượng lớn cùi dừa khô…

- Cháu muốn hỏi cùi dừa khô là gì?

- Cùi dừa khô ư? Là thứ phế thải sau khi ép lấy dầu dừa. Thế là…

- Khi đọc những câu chuyện trên Cosmopolitan, cháu thường băn khoăn…

- Phải, đó chính là việc mà lẽ ra Wiston nên làm, vì hòn đảo đó thuộc Hà Lan. Trở lại câu chuyện, Wiston không tin vào các nước lớn nữa. Ông nói các nước lớn tất phải thất bại. Chiều hướng chung đã khác rồi. Trên thế giới không có một cường quốc nào không rơi vào tình cảnh thiểu não, nhưng bất cứ một nước nhỏ nào như Hà Lan, Bỉ, Đan Mạch cũng đều vượt qua cuộc khủng hoảng tốt hơn mọi nước lớn, không kể là nước nào. Bác nghe nói ông ta trạc ba tám, ba chín tuổi, khỏe khoắn và lẽ ra cuộc sống tích cực như thế phải sống thêm ít nhất hai chục năm hoặc hơn nữa, và ông ta không muốn bị đánh đến chết hoặc bị bắn vào năm sau, 1932.

- Gì kia?

- Đấy là ý kiến của ông ta. Theo Wiston, sang năm là năm bầu tổng thống, chúng ta sẽ có một cuộc cách mạng.

- Ồ, phi lý!

- Ờ, bác không biết nữa. Nhiều người nói đến chuyện đó một cách nghiêm túc. Nhiều người cho rằng sẽ có sự thay đổi lớn. Nghe chừng Al Smith[3] hoặc Owen D. Young[4] có thể trúng cử. Một đảng viên nào đó của Đảng Dân chủ. Nhưng sự việc có tốt hơn tí nào không? Bác ngờ lắm. Hoover[5] ắt có sẵn kế hoạch hoặc sự việc còn tồi tệ hơn bây giờ.

- Nhưng bác vừa nói đến cuộc cách mạng. Cách mạng là gì vậy? Ý bác là những quan điểm cực đoan? Cháu biết lúc nào người ta cũng nói, nhưng cháu thà có Hoover còn hơn không; cháu không muốn bị một trong những kẻ ấy thống trị. Cháu đã gặp vài người họ thuộc các đảng phái, họ khiếp lắm.

- Phải, còn các nông dân thì sao? Họ rất bất mãn. Còn các nhà máy lớn ở Pittsburgh bị đóng cửa nữa? Bác không biết rồi mọi chuyện sẽ đi đến đâu. Bác chỉ cố hết sức làm mọi điều tốt nhất cho cháu và mẹ cháu, vì thế bác đổi mọi thứ thành vàng.

- Bác không phải là nhà hóa học. Bác là nhà giả kim. - Gloria nói.

- A ha ha. Hay lắm. Cháu thật biết đùa, Bé ạ.

- Hai bác cháu ăn cơm nào. - mẹ Gloria nói.

- Sẵn sàng. - Vandamm nói. Ông nói thầm với Gloria. - Bác sẽ nói với cháu về kỳ nghỉ sau.

•••

Với Emily, câu chuyện của Liggett tối hôm ấy là ông và ông bạn Casey đi vòng vòng các quán rượu lậu ở Hell’s Kitchen, thử làm một chuyến thám thính xem sao. Một kẻ thù cũ của Casey xuất hiện, Liggett kể, và thế là hỏng hết mọi sự.

Ngày hôm sau ông nói thật với bà, chỉ giấu tên cô gái.

Hôm ấy ông thức giấc, người cứng đờ vì đau và hiểu ngay là phải đối mặt với sự gì. Hoàn toàn không giống cảm giác ông thấy trong chiến tranh, khi đêm đêm ông biết sáng hôm sau sẽ có cuộc oanh tạc và mối hiểm nguy của cuộc tấn công; cũng chẳng giống với nỗi hoảng sợ, bồn chồn khi lần đầu tiên chèo thuyền trong trường. Ngày đua thuyền dài dằng dặc, có bao thứ phải lo, cho đến lúc bắt đầu cuộc đua vào cuối buổi chiều, nhưng khi các nam sinh tẻ nhạt, các vận động viên và những người hâm mộ bắt đầu tập hợp vào khoảng giữa trưa và lúc bắt đầu, cuộc đua gần như là một cuộc giải thoát thú vị. Mà không, nó giống như lúc bị bệnh lậu, bắt buộc phải chạy đến bác sĩ trong khi hoàn toàn mù tịt về cách chữa trị. Lẽ tất nhiên ông biết nhiều người như thế, nhưng ông chắc mình là một ca đặc biệt và có thể không nói với bất kỳ ai về chuyện này. Sáng nay cũng thế, y như lúc ông ra khỏi nhà nha sĩ hai năm rưỡi trước. Biết rằng điều khó chịu trước mắt là thứ ông buộc phải làm, mà lại là việc của mình, không ai bắt.

Ông tưởng mình dậy sớm và dậy trước Emily từ lâu rồi, nhưng khi ông rên nho nhỏ như một tiếng thở dài, bà đã đứng bên giường trước khi ông mở mắt. Bà ngủ trên chiếc ghế dài mà bà đã cho chuyển vào phòng ông. Ý nghĩ giận dữ đầu tiên của ông là bà làm thế để chộp lấy những lời ông nói mê trong lúc ngủ, nhưng cung cách và lời lẽ của bà làm ông thay đổi hẳn:

- Có chuyện gì thế, mình?

Ông ngước nhìn bà, bắt gặp vẻ dịu dàng chứng tỏ sự thay đổi.

- Mình ngủ lại đi. Mới sáu giờ mười. Hay em lấy cho mình thứ gì nhé? Một cái bô chẳng hạn?

- Không. Tôi không cần gì hết.

- Mình còn đau không? Chỗ chúng đánh mình có đau lắm không?

- Ai đánh tôi?

- Bọn đàn ông, các bạn của Casey đã đánh mình nhừ tử. Tội nghiệp mình. Mình đừng cố cử động. Mình còn chưa biết mình bị thương. Mình đừng cử động. Mình bị đánh tệ quá, mình yêu quý. Mình có muốn em lên giường với mình không? Em sẽ sưởi ấm cho mình và không va vào mình đâu. Mình không muốn đóng cửa sổ ư? Ngủ thêm chút nữa nếu có thể được, mình ạ.

- Tôi nghĩ là tôi sẽ ngủ lại. - ông nói. Sau đó là: Còn mình thì sao?

- Ồ, đừng lo cho em. Đằng nào cũng gần đến giờ em vẫn dậy mỗi ngày rồi. Khoảng nửa giờ hoặc bốn lăm phút nữa các con sẽ dậy hết.

- Tôi không muốn gặp các con.

- Em biết. Em sẽ không để chúng vào đây. Mình ngủ lại đi. Em sẽ giữ liên lạc với mình. - Bà ám chỉ đến đường dây chạy từ nút bấm cạnh giường ông ra bếp, đường dây chưa được dùng kể từ ngày lắp đặt.

Bà đã ướm lên nằm cạnh ông và nhanh chóng bám lấy ý đó vì nó có một nghĩa nào đó với bà, nhưng ông từ chối ngay lập tức. Bà cũng không hỏi lại. Ông muốn bà làm bất cứ việc gì, song không muốn bà nằm bên cạnh.

Bà về phòng riêng. Còn quá sớm nên chưa có thư từ, chưa có cả tờ Times và Tribune. Đọc sách vào lúc sáng sớm thế này xem chừng không ổn, giống như ăn kem trong bữa điểm tâm. Bà nghĩ có lẽ nên đi tắm, nhưng tắm cũng sớm quá; mở nước chảy ồ ồ vào bồn qua cái vòi lớn sẽ là thiếu quan tâm đến mấy cô con gái còn đang ngủ. Nó sẽ dẫn đến những điều phàn nàn không nói ra; Emily đã có ý sửa cái vòi đó, nhưng đấy là một trong những điều bà tự trách mình còn lâu mới là một người nội trợ hoàn hảo; một trong những thứ bà đã không sửa chữa gì vì nó vẫn còn tốt, và thỉnh thoảng bà mới nhận ra nên chỉnh trang lại mọi thứ cho tốt hơn. Nhớ đến các con, bà vào phòng chúng.

Barbara hăng hái ngay cả trong khi ngủ, cô nằm nghiêng bên phải, cánh tay trái gần như duỗi thẳng trên gối. So với Ruth, cô nằm trong tư thế vặn vẹo. Ruth nằm ngửa, miệng hé mở, cánh tay dang rộng, thoạt nhìn Emily nhớ đến bức vẽ Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thánh giá, nhưng ngay sau đó bà nghĩ đến bức áp phích Hồng thập tự. Ruth là đứa con gái bà dõi theo và tự hào; Barbara là đứa con bà canh chừng, che chở và hy sinh nếu cần thiết. Nhưng lúc này chính Ruth mới làm bà băn khoăn, vì Ruth gần gũi với Weston hơn, và hiện thời Weston chiếm giữ toàn bộ tâm trí bà.

Nhỡ con bé chết, nhỡ Ruth nằm ngủ bình thản như thế, im lìm như thế, một chân hơi cong lại, nhưng không đủ xua ảo giác về cái chết, tuy Emily biết chỉ là ảo giác trong giây lát.

Ruth mở mắt, các phần khác trên cơ thể cô không động đậy, ngay cả bắp thịt cũng không nhúc nhích.

Trông cô rất giống một người hoàn toàn tỉnh ngủ và thức giấc dễ dàng, nhưng đẹp hơn.

- Mẹ à. - Ruth nói.

- Suỵt.

- Đến giờ đi học rồi sao?

- Chưa. - Emily thì thào.

- Tốt. - Ruth mỉm cười rồi lại nhắm mắt, sau đó mở mắt lần nữa và hỏi. - Sao mẹ dậy sớm thế?

- Mẹ không muốn con làm ồn. Bố con không khỏe và mẹ con mình phải khe khẽ thôi.

- Bố làm sao ạ?

- Tối qua bố bị đánh trong một vụ ẩu đả. - Nói xong, Emily mới hiểu mình nói gì. Bà không định nói dối đứa con này. Sau khi buột miệng nói ra, Emily tìm lý do cho sự thẳng thắn của mình mà không tìm ra.

- Ôi chao. - Ruth nói rồi nhắc lại. - Ôi chao!

Emily có thể thấy những gì diễn ra trong đầu con, từ hai tiếng này. Tiếng thứ nhất là sự đau đớn và thông cảm bà mong ở Ruth. Tiếng thứ hai ý muốn hỏi vì sao, ở đâu, bao giờ, ai đánh, đau đến mức nào… nhưng cố kìm lại không hỏi.

- Bố con bị thương không đến nỗi nặng. - Emily nói. - Nhưng cũng làm ông đau. Barbara dậy, con đừng nói gì với nó nhé.

- Nó sẽ làm ầm ĩ lên mất. Mẹ biết thừa tính nó mà.

- Bảo nó bố đau đầu và đừng làm ồn.

- Con có thể làm được gì không? Bây giờ con không muốn ngủ lại nữa.

- Tốt nhất là hãy giữ im lặng, đừng gây một tiếng động nào làm phiền bố.

- Bọn chúng đánh bố ra sao?

- Chủ yếu là vào xương sườn, và đấm vào mặt. Con đừng lo, Ruthie. Cố ngủ lại đi.

Bà vuốt tóc con gái, dù Ruth đang bồn chồn, và chấm dứt bằng mấy cái vỗ nhẹ lên trán. Bà vào bếp, bắt đầu pha cà phê.

Bà ngồi xuống đợi, đăm đăm nhìn về phía trước và nghĩ đến Ruth với cặp mắt thông minh, ngây thơ, đáng yêu và cái giọng ê a khi cô hỏi: “Bố làm sao ạ?”. Bà nghĩ đến mọi vẻ ngây thơ trong mắt và trên mặt cô, mái tóc rối bù và giọng nói của cô, rồi nghĩ đến thân hình cô hằn lên dưới mớ chăn gối. Vào lúc này, chắc rằng ở New Haven hoặc Cambridge, có một thanh niên nào đó sẽ có ngày… Không, mọi việc sẽ ổn. Ruth sẽ có người yêu, một tình yêu. Barbara mới là người đáng lo, hết yêu người này đến yêu người khác, có nhiều nỗi đau và cần được chăm lo. Lần đầu tiên Emily nghĩ bà biết vì sao bà thường quan tâm đến Ruth; Ruth hiểu Barbara, và hiểu bản thân mình. Thế là tốt, là quá rành mạch. Không, nếu Ruth hiểu nhiều như thế, ắt bà phải buồn vì nhiều việc khác nữa. Cái gì nhỉ? Bà nghĩ đến thân hình đàn bà bé nhỏ của Ruth. Mọi thứ ở đó, sẵn sàng bước vào đời; ngực Ruth nhỏ nhưng vẫn ở đó; hông không lớn nhưng vẫn ở đó; còn trí thông minh, hay kiến thức ẩn sau cái nhìn hiểu biết là kiến thức mà Emily đã truyền cho Ruth gần hai năm trước. Ruth hiểu cơ chế của đàn bà, có thể diễn đạt thành lời. Không, không. Cái nhìn của cặp mắt ấy không phải là cái nhìn thông minh; đó chỉ là cái nhìn hiểu biết. Chúng khác nhau lắm chứ. Nhưng Emily quyết sẽ trông chừng Ruth với bọn con trai, vì tình yêu thương.

Bà rót cà phê và bưng một tách vào phòng Weston.

- Em mang cho mình ít cà phê. - bà nói.

Điều bà không biết là trong lúc ấy, ông đang cố bịa ra lý do cưỡng lại cần thiết trước khi có thể nói thật với bà. Ông cũng muốn kể với bà vì cảm thấy nếu nói thật lúc này, ông sẽ không bị trách cứ vì chuyện sắp xảy ra, và ông không biết chắc còn xảy ra những gì. Ông phải gặp lại Gloria, ông biết thế, và ông biết dẫu lúc này không thèm muốn Gloria, thì ngay sau đó ông lại muốn có Gloria.

- Mình lấy cho tôi điếu thuốc lá trong túi áo bành tô được không? - ông nói. - Cảm ơn mình. Emily này, tôi muốn nói với mình một chuyện. Chắc đó là ân huệ cuối cùng tôi xin mình làm cho tôi, vì khi tôi kể hết với mình, chắc mình không muốn làm gì nữa.

- Mình phải kể ngay bây giờ ư?

- Ngay bây giờ. Tôi không muốn để hết ngày mới nói với mình. Nếu làm thế, tôi phát điên mất.

- Vậy nếu thế thì sao?

- Nghe chừng mình đã biết hết những gì tôi muốn kể với mình.

- Em có thể đoán được. Đấy là chuyện về một người phụ nữ.

- Phải.

- Vậy thì tôi không muốn nghe lúc này. Tôi biết mình không chung thủy. Mình đã ở với một người đàn bà khác. Tôi không muốn nghe nốt câu chuyện vào giờ khắc sáng sớm này.

- Nhưng mình sẽ phải nghe. Nếu mình không phiền, thì lạy Chúa, tôi muốn kể với mình ngay bây giờ.

- Vì sao vậy?

- Emily, vì Chúa.

- Thôi được.

- Tôi muốn nói sự thật vì chuyện này rất đặc biệt. Mình có thể nhìn nhận nó theo kiểu này không? Mình có thể, ờ, nghĩ về tôi như một người mình quen biết, không liên quan đến mình, không cưới mình, chỉ là một người mình biết thôi? Xin hãy cố nhé. Vậy thì, người đàn ông này, là tôi ấy, tối thứ Bảy tuần trước…

Khi ông kể đến đoạn đưa Gloria về căn hộ này, Emily không hiểu kịp lời ông nữa. Ông kể tuần tự theo thời gian đến đoạn ấy, bà phẫn nộ khi lắng nghe và tự hỏi vì sao ông khoái câu chuyện này đến thế, một khoái cảm khủng khiếp, nhưng là cực khoái. Bà biết chuyện đó sẽ đến, nhưng bà chưa bao giờ muốn nghe những từ: “Thế là tôi đưa cô ấy về đây.” Lời lẽ không rời rạc; chúng là một phần trong câu: “…tôi vào taxi và chẳng có tí hành lý nào nên tôi đưa cô ấy về đây, chúng tôi uống vài cốc và…” Những lời cuối cùng bà chú ý nghe là: “Thế là tôi đưa cô ấy về đây.” Sau đó ông cứ nói, nói mãi. Bà biết ông khô cả họng vì giọng ông hơi khan, nhưng bà không đưa nước cho ông. Mọi điều ông muốn lúc này là yêu cầu bà nghe, dù bà có gật đầu hay không ông vẫn nói. Lúc ông bắt đầu kể, bà đang ngồi trên giường. Khi bà thay đổi vị trí, ngồi lên ghế cạnh đầu giường, bà không nhìn ông nữa. “Cứ nói đi.” - bà nói. Để mặc ông nói cho ông nghe. Bà chẳng để ý ông nói lâu thế nào. Bà đã từ Reno trở lại Boston năm 1932, các cô con gái học ở trường Winsor, bà tránh gặp cha mình và tránh cả sự quan tâm đầy thiện ý của ông. Bà Winchester Liggett. Bà Emily W. Liggett.

Nói chung, người ta thường làm gì với đồ đạc nhỉ? Người ta làm gì để kiếm ra tiền ngay tức khắc? Năm học sắp đến, như thế chẳng tốt sao? Sống trong một căn hộ ở New York có tốt không? Nếu nó là một ngôi nhà, một ngôi nhà thực sự thì còn khủng khiếp biết chừng nào? Chà, nhưng nếu là nơi nào khác thì ông ta đã chẳng đưa gái về đây, về căn hộ này. Đấy là ý nghĩ an ủi duy nhất và chẳng phải là điều đáng mừng. Cứ mặc cho ông nói.

- … cố đấm viên cảnh sát, nhưng…

Ai cần? Lúc này ông tả đến vụ đánh nhau. Sao ông không bị giết quách cho rồi? Ông, với những băng gạc và vết thâm tím, trông thật ngu ngốc và chẳng liên quan gì đến bà. Bà biết ông không mong được thông cảm, nhưng bà không thể từ chối điều đó với ông. Ngay từ đầu ông đã yêu cầu và bà tưởng sẽ khó khăn - nghĩ đến ông như một người bà biết nhưng không liên quan gì đến bà, không cưới bà, chỉ là một người bà biết mà thôi - vậy mà bà cảm thấy đúng như thế. Ông đang kể đến đoạn cuối, hoặc nửa sau hay hai phần ba câu chuyện, hoặc bất cứ cái gì còn lại sau câu: “Thế là tôi đưa cô ấy về đây”, ông giống như một người chẳng dính dáng gì đến bà, người không hề cưới bà, người bà biết song không thích, cũng chẳng ghét. Đây là người đàn ông mà bà không thể thoát khỏi, người đang kể một câu chuyện dài khá buồn tẻ về một mối tình và việc ông ta bị đánh ra sao. Cứ thế mà nghĩ đến việc, trước kia bà biết một người như thế này, một người bạn gặp ở góc phố, kể cho bạn nghe về cuộc sống tình cảm của ông ta, ông ta với những người đàn bà ra sao, và đánh nhau như thế nào. Người đàn ông ấy tên là Weston Liggett.

- Ồ không. - bà nói.

- Gì kia? - ông nói.

Lúc trấn tĩnh lại, bà có ý nghĩ ngớ ngẩn là phản đối lời ông nói.

- Ồ không. Tôi không thể nghĩ một cách cuồng loạn được. - bà muốn nói như thế, nhưng chỉ thốt được một phần “Ồ không”.

- Tất cả là thế. - ông nói. - Tôi muốn kể với mình vì không thể chịu đựng nổi khi phải nằm ở đây để mình phục dịch tôi, kìa mình, mình cười gì thế?

- Mình không thể nằm ở đây. Tôi chỉ nghĩ hiển nhiên là mình không thể đứng và nằm cùng một lúc được.

- Chà, buồn cười thật.

- Không, không buồn cười đâu. - bà nói. - Nhưng tôi không biết mình mong tôi làm gì. Tôi không hoan nghênh mình đâu.

- Phải, chí ít tôi cũng thành thật với mình. Giờ mình thích gì làm nấy.

- Mình cho là tôi thích gì đây?

- Làm sao tôi biết được. Tôi nghĩ, nếu mình muốn ly hôn ở New York, tôi sẽ có đủ lý do cho mình.

- Thế ư? Nhưng bây giờ tôi không muốn nói chuyện đó.

- Mình không có lấy một lời thông cảm. Chỉ là sự thông cảm theo bản năng thôi mà.

- Ồ, giờ thì thế thật.

- Phải, giờ thì thế thật. Thậm chí mình không thử thông cảm nữa kia. Điều duy nhất mình chú ý lúc này là tôi không chung thủy với mình. Mình không còn quan tâm đến việc gì khác.

- Tôi không cãi nhau với mình. Tôi không để mình biến chuyện này thành một cuộc cãi nhau vặt vãnh. Tôi không muốn nói đến chuyện này nữa.

- Mình phải nói. Mình phải cho tôi biết mình sẽ làm gì chứ. Tôi đã thành thật với mình, đã nói cho mình nghe sự thật khi không cần phải nói. Mình đã tin câu chuyện tôi bịa ra.

- Tôi van mình tha cho, nhưng tôi không hề tin chuyên mình bịa. Lúc đầu thì có, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thì không. Tôi biết còn có nhiều thứ khác nữa. Đừng nói là tôi phải nói với mình tôi sẽ làm gì, hay tôi phải nói đến chuyện này. Về phần tôi, chẳng có gì phải làm hết.

- Để rồi xem.

- Được thôi, để rồi xem.

- Emily. - ông nói.

Bà bỏ đi.

Ông mặc quần áo và ăn sáng sau khi các con đã đi học. Ông gõ cửa phòng Emily, bà lớn tiếng:

- Gì thế?

- Tôi có thể gặp mình một phút được không?

- Để làm gì?

- Tôi sẽ ra đi.

Bà mở cửa.

- Mình có thể ở lại.

- Cảm ơn, nhưng tôi sẽ ra đi. Tôi chỉ muốn nói với mình là trước hết, tôi đến khách sạn ở. Tôi sẽ cho mình biết tên khách sạn sau khi quyết định. Chắc là Biltmore. Việc thứ hai, trong ngày hôm nay tôi sẽ gửi cho mình một số tiền, hiện giờ là năm trăm đô, và trong tuần này tôi sẽ còn gửi nhiều hơn nữa. Tôi đi vì không muốn mình đưa các con về quê, ít nhất là vào lúc này.

- Sao lại không?

- Vì người ta đang lùng tên Crowley Hai Súng, kẻ đã giết một cảnh sát. Hắn đang lẩn đâu đó ở Long Island và người ta treo giải rất cao cho ai bắt được hắn. Long Island đầy rẫy những kẻ điên rồ có súng và cảnh sát muốn bắn chết gã Crowley, nên rất không an toàn. Lúc này xin mình nghe tôi. Ở lại đây cho đến khi người ta tóm được hắn hoặc ít nhất cũng đến khi tình trạng náo động chấm dứt.

- Còn gì nữa?

- Thế thôi. Nếu mình muốn có luật sư, thì Harry Draper là luật sư giỏi. Ông ấy không chuyên về ly hôn, nhưng nếu như mình định chuyển đến Reno, thì mình không cần một luật sư chuyên về ly hôn ở đây. Luật sư New York phải trao đổi thư từ với Reno. Đó là cách họ thường làm trừ khi cuộc ly hôn còn tranh cãi, sau đó họ…

- Nếu không phiền, xin mình đừng đi sâu vào chi tiết lúc này.

Bà đóng cửa lại thật nhanh, vì nhìn vẻ mặt ông, đột nhiên bà biết ông thèm muốn bà, và tuy thấy ghê tởm ông, song đây là một trong những lần ông có thể có bà. Thật đáng phẫn nộ.

Ông cũng hiểu điều đó.

❀ ❀ ❀

[1] Thổ dân Mỹ nói tiếng Algonquin thuộc nền văn hóa miền Đông-bắc.

[2] foot (ft): đơn vị đo chiều đài Anh (1ft = 0,3048m)

[3] Al Smith (1873-1944): chính khách Mỹ, ứng viên sáng giá trên chính trường Mỹ thập niên 1920.

[4] Owen D. Young (1874-1962): luật sư và nhà tài phiệt Mỹ.

[5] Herbert Hoover (1874-1964): Tổng thống thứ 31 của Mỹ, nhiệm kỳ 1929-1933.

Người dịch: Đinh Thị Thanh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.