Chà, em hiểu vì sao anh không muốn em xem đoạn cuối trước. Em không bao giờ ngồi lại nếu đã xem đoạn kết. Anh muốn em xem lần nữa không? Chúa ơi, em mong anh viết bất cứ điều gì không giống thế này.
- Anh mong viết được bất cứ thứ gì tác động đến người khác như tác động đến em. - Jimmy nói.
- Anh nghĩ thế thì hay quá. Em muốn nói là một bài viết hay. - Isabel nói. - Chúng ta đi đâu?
- Em đói à?
- Không, nhưng em muốn uống một cốc. Một cocktail. Anh hiểu không?
- Luôn luôn hiểu. Lúc nào cũng một cocktail. Anh biết một nơi định đưa em đến, nhưng anh hơi sợ.
- Sao thế, lộn xộn lắm à?
- Không phải là lộn xộn. Ý anh là trông nó không lộn xộn, còn người thì… ờ, em không nghĩ em đang trong Câu lạc bộ Racquet, trừ khi em biết em là người ở đâu, ý anh là em xuất thân thế nào, mang tước hiệu gì, vì nó chỉ là một cửa hàng bán rượu lậu, và ngay bây giờ nếu anh bảo em những đặc điểm để phân biệt, em sẽ không muốn đến chỗ đó nữa.
- Vậy chúng mình không đến đấy nữa. - cô nói. - Nơi ấy có gì đặc biệt?
- New York là nơi bọn du thủ du thực Chicago hay lảng vảng.
- Hay quá, thế thì nhất định tụi mình phải đến. Thế nhé, nếu ở đó an toàn.
- Lẽ tất nhiên là an toàn. Hoặc an toàn hoặc không. Người ta kể bọn thanh niên địa phương mê nơi đó lắm, nghĩa là khuyến khích, cho phép nó tồn tại và kinh doanh, vì thấy cần phải có một nơi cho đám du đãng Chicago lui tới thường xuyên. Nhưng có một điều rất nguy hiểm.
- Gì thế?
- Là khi đám du đãng Chicago bắn nhau. Cho đến nay chưa xảy ra việc đó, và anh không hình dung nó ra làm sao. Em sẽ thấy vì sao.
Họ xuôi xuống Broadway vài khu nhà, rồi rẽ về hướng đông. Khi đến một biển hiệu bằng dồng thau bóng loáng quảng cáo một người làm tóc giả, Jimmy dẫn Isabel qua một ngưỡng cửa hẹp, lùi về sau vài bước và bấm chuông gọi thang máy. Thang máy rít ken két trên đường xuống và một người da đen đội mũ đồng phục, có cái nhìn mệt mỏi mở cửa. Họ vào trong và Jimmy nói:
- Câu lạc bộ Avenue Sáu.
- Vâng. - người da đen nói. Thang máy lên hai tầng rồi dừng lại. Họ bước ra và đứng ngay trước cánh cửa bằng thép sơn đỏ, ở giữa khoét một ô cửa nhỏ. Jimmy bấm chuông, một khuôn mặt hiện ra ở ô cửa bé xíu.
- Vâng, thưa ông. - khuôn mặt nói. - Tên lần này là gì?
- Anh là người mới hoặc đã biết tôi. - Jimmy nói.
- Vâng thưa ông, còn tên nữa là gì?
- Malloy, vì Chúa.
- Địa chỉ, thưa ông Malloy?
- Chà, hắc thật. Bảo với Luke là ông Malloy đang ở đây.
Có tiếng dây xích và khóa lách cách, rồi cửa mở. Người phục vụ đứng sau cửa.
- Để ai vào cũng phải rất thận trọng, ông ạ. Ông biết thế rồi.
Đó là một căn phòng trần cao, quầy rượu đàng hoàng ở một bên tường, góc phòng bên kia là quầy đồ ăn, đầy ắp những món ngon miễn phí, sau quầy là dụng cụ làm bếp rõ ràng là đắt tiền. Jimmy dẫn Isabel đến bên quầy.
- Chào Luke. - anh nói.
- Chào ông. - Luke, người đàn ông to lớn có bộ mặt tươi tỉnh dễ làm người ta mê muội, giống hệt mặt Babe Ruth[1], đáp lại.
- Cho một whisky chua, ông bạn. Em sẽ thấy Luke pha whisky ngon nhất đấy.
- Em nghĩ mình muốn uống một cốc punch Planter, thôi được, một whisky chua.
- Còn ông?
- Scotch pha sôđa.
Isabel nhìn quanh. Một ông già nhìn vào cốc bia và giấy phép cho câu lạc bộ rởm này treo trên tấm gương của quầy. Nhiều chai, kể cả một chai Rock & Rye - một đặc sản khác của Luke, ở sau quầy. Ngoài số lượng và sự phong phú của các loại rượu, sự sạch sẽ của quán, nơi đây cũng giống bất kỳ quán rượu lậu nào quanh Quảng trường Thời đại (lên tới 20.000 quán). Lúc đó Isabel nhìn thấy một thứ làm cô lúng túng: một quyển lịch “tô màu rực rỡ” có cái túi đựng thư hoặc hóa đơn hoặc gì đó, in ảnh một người đàn bà khêu gợi, để trần đến tận eo. Quyển lịch không những còn nguyên các tháng, mà tờ ngoài cùng đề rõ “1931”. Vắt qua cái túi là lời chào mời “Khi bạn đến Chicago, xin mời đến quán thịt nướng kiểu Ý D’Agostino, có phòng ăn phục vụ riêng”, kèm địa chỉ và số điện thoại của ba người.
Isabel ngắm kỹ quyển lịch và hiểu ra ý nghĩa những lời Jimmy miêu tả lúc trước về quán rượu lậu. Khi đồ uống mang đến, cô bắt đầu không còn cảm giác mọi người trong quán nhìn chằm chằm vào lưng mình. Cô nhìn quanh, không người nào nhìn cô chăm chú nữa. Khách đến chưa kín nửa quán. Một bàn có bảy người, bốn nam và ba nữ. Một trong những người phụ nữ hết sức xinh đẹp, không phải dạng gái điếm, cũng không phải những cô tóc vàng đóng vai gái điếm cho các tay găngxtơ trong phim, không là loại nào hết mà chỉ là một cô gái rất đẹp với nụ cười bẽn lẽn vô cùng duyên dáng. Isabel mường tượng có biết cô ta, và đột nhiên hiểu vì sao.
- Jimmy. - cô nói. - Cô kia trông giống một Caroline[2] quá.
Jimmy quay nhìn.
- Ừ, giống thật.
- Nhưng những người kia em thấy còn tệ hơn người ở đảo Coney nhiều, kể cả những nơi khá hơn. Anh không bịa ra một câu chuyện cốt làm cho cái nơi bé nhỏ, xoàng xĩnh này thành hấp dẫn đấy chứ?
- Thứ nhất là không, và thứ hai, cũng không nốt. Trước hết, anh chẳng có gì phải lo. Còn thứ hai, anh không việc gì phải thế. Những người như em làm anh phát điên, ý anh là những người như em thuộc tầng lớp thượng lưu và hợp thời, gia đình có tiền gửi đến trường thật tốt, tham gia các câu lạc bộ thể thao ngoài trời và có ôtô đẹp. Em đến một nơi như thế này và muốn xem Warner Brothers[3], một trong những bộ phim găngxtơ đầy những diễn viên hài già nua, kiệt quệ và chán nản vì không có việc làm từ khi có những bộ phim hài của Charlie Chaplin. Em mong được chụp ảnh lúc em đến khu nhà ổ chuột…
- Xin lỗi, nhưng vì sao anh nói đến người của các anh, loại người của anh, những người giống anh. Anh mới thuộc về câu lạc bộ thể thao ngoài trời, anh học ở các trường tốt và ít ra thì gia đình anh có tiền…
- Anh muốn kể với em một chút về mình, nó sẽ giải thích nhiều điều về anh. Bây giờ em có thể nghe được rồi. Trước hết, anh là một Mick[4]. Anh mặc quần áo Brooks và không ăn salad bằng thìa, chắc chắn chỉ hai năm là chơi được gôn loại năm lỗ, nhưng vẫn là một Mick. Giờ đây anh chỉ mất chút ít thời gian để hiểu điều này, nhưng ít ra thì anh cũng phát hiện ra rằng dân Ailen không có hai loại. Chỉ có một loại duy nhất. Anh đã nghiên cứu nhiều người và hiểu biết người Ailen đủ để phát hiện ra điều đó.
- Anh nói gì, nghiên cứu nhiều người?
- Ý anh là đã xem xét hàng chục người trong những gia đình Alien danh giá nhất tại các cuộc đua ngựa ở Dublin và nhiều nơi tương tự, anh đã đặt ngón tay lên quần áo họ và giả vờ như đang mải nhìn một hiệp sĩ trong ngày Columbus[5], và ơn Chúa, em không thể nói được sự khác biệt.
- Còn anh thì nói sao? Tất cả bọn họ đều là người Ailen kia mà.
- Chà, chính đấy là ý kiến của anh. Hoặc ít ra chúng ta cũng nghĩ như nhau. Vậy mà một lúc trước em vừa bảo trông anh giống James Cagney.
- Không phải là giống anh ta. Mà chỉ làm em nhớ đến anh ta thôi.
- Ờ, thì cũng có gì đó phảng phất giống, anh tình cờ biết, vì anh có một người anh trai trông khá giống Cagney. Mà Cagney là một Mick, chẳng cần giả vờ giả vẫn gì hết, và anh ta là một tay găngxtơ Mỹ chính hiệu. Mỹ là đất nước chống Công giáo, không ưa người Ailen, có khái niệm riêng về một tay găngxtơ thực sự, cũng như về một Mick trẻ tuổi trông giống anh trai anh và đầy những tiền. Anh ta là một tay găngxtơ điển hình.
- Kìa, em không hiểu anh đang chứng minh cái gì. Em nghĩ là…
- Anh chẳng chứng minh gì hết. Đây là một ý kiến quan trọng. Em có biết Hội Cincinnati không? Em có nghe về họ không?
- Có chứ.
- Phải, nếu anh không nhầm thì anh có thể là thành viên của hội đó. Dẫu sao anh cũng có thể là đứa con của Cách mạng. Đôi khi thật thú vị khi biết điều đó, nhưng hiện tại nhắc đến nó anh chỉ muốn tỏ ra rằng anh khá nguyền rủa nước Mỹ, vì thế các anh chị em của anh vẫn chưa là người Mỹ. Chúng tôi là Mick, chúng tôi không bị đồng hóa, chúng tôi là Mick. Chúng tôi đang ở đây, chí ít cũng là một số gia đình kể từ cuộc Cách mạng, và chúng tôi sản sinh ra một loại găngxtơ hoàn hảo! Chí ít thì đây cũng là ý tưởng về một găngxtơ đích thực của người Mỹ, của nước Mỹ và tôi cho rằng các người đúng. Phải, tôi nghĩ thế. Những găngxtơ chính hiệu đầu tiên trên đất nước này là người Alien. Những hội viên Mollie Maguires[6]. Mà em có thấy thứ anh định nói, những thứ không bị đồng hóa này không?
- Có. Em nghĩ là có.
- Tốt. Để anh dẫn chứng thêm vài chuyện ngớ ngẩn nữa nhé. Anh sẽ chỉ ra một thực tế xã hội, sẽ chứng minh một thực tế xã hội ít nhất là ở một khía cạnh. Giả sử anh đi bộ xuyên ga Grand Central đúng lúc Tổng thống Hoover đi tàu đến, và các đặc vụ không bắt anh ngay lập tức như một kẻ thù công khai. Chỉ vì anh ăn mặc như thế này, ngẫu nhiên vì anh thích các loại quần áo này hơn quần áo Broadway hoặc Babbitt. Vả lại, cung cách của anh lịch thiệp vì mẹ anh là một quý bà rất coi trọng phong cách, còn cha anh thì hiếu kỳ. Khi anh rèn luyện cử chỉ, anh ở độ tuổi chịu ảnh hưởng của mẹ nhiều hơn của cha, vì thế bà đã luyện cho anh những cung cách đáng khen nhất. Rất tao nhã.
Những người học ở Yale luôn coi anh là một Yale. Điều đó làm anh thích thú vì anh mê trường Yale hơn tất cả các trường khác. Thật không may, còn có một giải thích khác cho việc này. Năm 1922, ở Yale có một cầu thủ bóng đá thích anh và có tên giống anh. Song chuyện đó không quan trọng.
- Không, trừ việc nó làm anh thoát khỏi quan niệm về việc sản sinh ra những kẻ thù công khai, về gia đình anh. Trông anh không hề giống một găngxtơ và một sinh viên Yale điển hình.
- Đúng thế đấy. Anh có một câu trả lời đây. Để anh xem nào. Ờ, phải rồi. Những người tưởng anh là sinh viên Yale đều không có khả năng quan sát con người. Anh không bịa ra câu trả lời khôn khéo. Đấy là sự thực. Anh chỉ thấy buồn cười.
- Gì kia?
- Phần lớn những người tưởng anh là một Yale, bản thân họ đều học ở Princeton.
- Ồ, tiếp đi. - cô nói. - Anh vừa nói là…
- Anh hiểu. Điều đó không quan trọng và anh chỉ nhầm lẫn vấn đề. Điều anh muốn nói, anh bắt đầu giải thích vì sao anh nói “các người, các người là thành viên của tầng lớp thượng lưu”, vân vân, ngụ ý anh không ở trong số đó. Phải, anh không và sẽ không bao giờ là người của tầng lớp đó. Nếu có bất kỳ cơ hội nào thì nó đã biến mất - để anh xem nào - từ hai năm trước rồi.
- Sao lại hai năm trước? Anh không thể nói thế. Có chuyện gì vậy?
- Anh suýt chết đói. Hai năm trước, có lần hai ngày liền anh không có gì để ăn và uống ngoài nước lã, không có cả thuốc lá để hút. Anh sống giữa hai khối nhà, anh không có việc làm, không có tương lai, không thể viết thư cho gia đình vì trước đó ít lâu anh đã viết một tấm séc giả và vì anh là đứa con hư hỏng. Anh không thể vay mượn bất kỳ ai, vì anh nợ nần ngập cổ. Anh đã vay hết những người quen biết, dù chỉ chút xíu. Vay người này một đô, người kia mười đô. Anh ở lỳ trong nhà hai ngày liền vì không thể giáp mặt với mọi người trên phố. Rồi một phụ nữ da đen làm công việc quét dọn trong khu nhà anh sống biết việc xảy ra, và đến sáng ngày thứ ba, lúc đi làm bà ấy mang cho anh một cái bánh mì kẹp thịt gà. Anh sẽ không bao giờ quên cái bánh đó. Một cái bánh mì đen tự làm, không mịn và trắng mà chắc và mập, có màu nâu. Bánh gói trong giấy báo. Bà đến và nói: “Chào ông Malloy. Tôi mang đến cho ông cái bánh mì kẹp thịt gà, nếu ông không chê.” Thế thôi. Bà ấy không nói vì sao lại mang đến, rồi bà đi ra và mua cho anh một cốc cà phê kèm mấy điếu Camel, mà anh thì hút Lucky. Bà ấy thật tốt bụng. Bà ấy biết hết.
- Em nghĩ bà ấy tốt thế, sao anh không gọi bà là người da màu thay cho da đen.
- Vớ vẩn!
- Em đi đây.
- Đi đi.
- Đúng là một Mick.
- Thấy chưa? Điều đầu tiên em nghĩ ra là xúc phạm anh. Đi đi, xéo đi! Bồi, mở cửa cho cô đây.
- Anh không về với em à?
- Anh nghĩ thế. Bao nhiêu, Luke?
- Một đôla hai mươi. - Luke nói, mặt không lộ vẻ gì khó chịu trước sự việc này.
Isabel thấy đi ra đỡ khó khăn phần nào vì Lệnh cấm rượu đã hủy bỏ. Trong những ngày đó, bạn phải đợi người hầu ngó qua ô cửa nhỏ xíu xem mọi sự có an toàn không, rồi mở ít nhất là hai cái khóa và giữ cửa cho bạn. Hối hả đi thật nhanh qua cửa xoay là thuận tiện nhất.
Jimmy bấm chuông gọi thang máy và lặng lẽ đợi, họ im lặng xuống cùng nhau và thấy một chiếc taxi có tài xế trong xe. Taxi thì có nhiều đấy, nhưng cánh tài xế còn mải tranh cãi về quyết định Tacna-Arica[7], và khách đi xe là thứ cuối cùng trên đời làm họ chú ý. Tuy vậy, một chiếc taxi tiết kiệm xăng xuất hiện, Isabel và Jimmy lên xe.
- Về nhà chứ? - Jimmy hỏi.
- Vâng. - Isabel nói.
Jimmy bắt đầu hát: “… Bác em thế nào? Anh không có bác. Anh mong ông khỏe mạnh và diện bảnh bao.”
Im lặng.
- Anh có biết vào khoảng này bốn năm trước xảy ra chuyện gì không?
- Không.
- Vụ án Snyder-Gray.
Im lặng.
- Em nhớ không?
- Tất nhiên.
- Thế tên thánh của ông Snyder là gì?
- Của ai?
- Của ông Snyder.
- Không phải ông Snyder. Mà là Ruth Snyder và Judd Gray.
- Tuy nhiên có một ông Snyder. Ờ, phải rồi, có một ông Snyder. Chính ông ta bị sát hại, Isabel thân mến ạ. Mà tên thánh của ông ta là gì nhỉ?
- Làm sao em biết được? Em quan tâm đến tên thánh của ông ta làm gì?
- Sao em lại cáu với anh?
- Vì anh xúc phạm em giữa nơi công cộng, gọi bồi bàn đưa em ra cửa, sủa vào mặt em những lời tởm lợm.
- Xúc phạm em giữa nơi công cộng. - anh ta nói. - Xúc phạm em giữa nơi công cộng. Còn em không nhớ ra tên thánh của ông Snyder.
- Nếu anh nói chuyện, thì nói cho có lý. Đấy mới là thứ em quan tâm, dù anh nói hay không.
- Anh đang nói rất có lý đây. Em cáu vì anh xúc phạm em giữa nơi công cộng. Rốt cuộc thì nó là cái quái gì hả? Xúc phạm giữa nơi công cộng. Còn việc Ruth Snyder và Judd Gray bị xử vội thì sao? Anh nói ông ta mới bị xúc phạm công khai, bị nặng nữa. Báo chí trong nước bêu tên ông ta nhiều ngày, sỉ nhục hết mục này đến mục kia, đủ mọi loại lăng mạ. Còn em không thèm nhớ cả tên ông ta. Thế mới là xúc phạm.
- Không phải thế.
- Chính thế đấy. Nếu bây giờ anh ra khỏi taxi có phải là xúc phạm em công khai không?
- Ồ không. Chỉ không cần thiết thôi.
- Trả lời câu hỏi của anh đi.
- Em không muốn anh hỏi thế. Trả lời thế được chưa?
- Được. Tài xế! Tạt vào lề đường, đi chậm lại. Đây. - anh đưa một đôla cho người lái xe và bỏ mũ. -Tạm biệt, Isabel. - anh nói.
- Anh là đồ ngốc. Anh có biết anh là thằng ngốc không hở?
- Không một tí tẹo nào. Anh chỉ nhớ sáng nay đã được gợi ý đi nghe giảng đạo và cả ngày anh không đến cơ quan.
- Trời ạ, Jimmy! Anh sẽ gọi cho em chứ?
- Một giờ nữa.
- Em sẽ đợi.
•••
Liggett lên tàu muộn về nhà. Ông gần như thích chuyến đi. Đi cùng các con, ông thấy căng thẳng. Với Emily thì đỡ hơn, thời gian này bà không căng lắm, bà chỉ căng khi có điều gì lầm lỗi. Thế nên bà chẳng đáng ngại. Nhưng ông mong không có gì sai sót; nhỡ cô gái dại dột kia vẫn còn ngủ trong căn hộ hoặc để quên thứ gì đó, và ông muốn có nhiều thời gian xem xét kỹ càng trước khi Emily và các con về đến nhà. Cái gì đã làm ông dẫn đứa con gái ấy về nhà? Trước kia ông chưa bao giờ làm thế, ngay cả khi Emily và các con ông đi nghỉ hè hoặc đi châu Âu. Thế đấy…
Châu Âu. Mùa đông năm nay thật khắc nghiệt. Nhiều thứ tưởng xảy ra trong mùa đông năm ngoái lại không xảy ra. Ông nghĩ đến bao nhiêu thứ được hứa hẹn song chưa chắc diễn ra. Ông không tự dối mình có tầm quan trọng riêng trong những mưu toan kinh tế; ông là giám đốc chi nhánh New York của nhà máy công cụ nặng do ông nội ông thành lập, sản xuất vòi nước, dao, đục… Lúc tập trung tư tưởng, Liggett có thể đọc kế hoạch chi tiết, ông có thể từ chối những đánh giá đủ thông minh để thấy sự khác biệt giữa giá thành và giá mua cuối cùng; đó là phần đáng kể trong công việc của ông, vì một trong các khách hàng sộp nhất của ông là thành phố New York. Ông cũng giao dịch với nhiều công ty dịch vụ lớn và ông phải biết những kiến thức tối thiểu về hệ thống tính toán và định giá của các công ty này, ví dụ một bộ máy khoan hơi giá 5.000 đôla là một khoản vốn đầu tư 5.000 đôla trong mười năm sau khi mua, không được giảm giá. Giữa đám khách hàng tương lai, ông phải nhận ra đúng người sẽ là khách hàng đầy tiềm năng. Ông không biết sử dụng thước lôga, nhưng đủ hiểu biết để gọi là thanh-trượt. Ông không biết dùng các dụng cụ trắc địa, nhưng giữa đám kỹ sư, ông có thể nói về “cách vận hành súng”. Thay vì dùng kiểu chữ viết tay, ông luôn viết theo cách Reinhard, dùng chữ in nghiêng là điều đầu tiên các kỹ sư phải học. Thẳng thắn và đôi khi hơi buồn bã, ông không tiếp nhận bất cứ sự hiểu biết thực sự nào về công nghệ, nhưng điều này lại làm các kỹ sư chính hiệu nguôi giận: họ cho rằng cái cách muốn thành kỹ sư và có thể làm một kỹ sư giỏi của ông giống một đứa trẻ. Những chi tiết bề ngoài ông thể hiện - cách viết thư, tiếng lóng, biết những chuyện ngồi lê đôi mách của đám kỹ sư địa phương như ai kiếm được 75 đôla mỗi tuần là người làm việc thực sự, giỏi giang - tất cả những điều ấy làm ông thành một gã rất “được” giữa đám kỹ sư, là những người chắc chắn không ít đa cảm hơn bất cứ nhóm đàn ông nào. Họ thích ông, họ làm nhiều việc nho nhỏ cho ông, những việc mà trước kia họ không làm cho bất cứ một kỹ sư nào, và ông trở thành một người anh em không có cạnh tranh.
Là thủy thủ, ông hay kể chuyện về những người của MIT. Ông nói đến lòng can đảm của hải quân MIT, chiến đấu hết năm này đến năm khác. Cha ông đã đến Lehigh[8], nên ông hay nói về các kỹ sư Lehigh. Liggett nhận ra khóa Tau Beta Pi và Sigma Xi khác nhau rất xa. Thậm chí ông còn biết rằng, khi có mặt những người không học Yale, ông ao ước được đến Sheff và học một cái gì đó. Ông không bao giờ nhầm lẫn khi nói về những người thuộc hội Tau Beta Pi và Sigma Xi, và có lần ông nói với một người ông không ưa: “Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một Phi Beta Kappa đeo đồng hồ”.
“Điều khoản cá nhân” quy định những người học ở Yale phải ký bản tuyên bố là họ hy vọng khi cha mẹ họ đột ngột qua đời, vé xem bóng đá họ đã đặt sẽ cho người khác, và đó là món quà trời cho Liggett. Ông xin vé, thề được vé sẽ không bao giờ uống rượu, và khi một hội viên Tammany[9] đến với ông kiếm đôi vé xem trận Harvard, Liggett giải thích về lời thề nhưng vẫn chuyển giao vé. Liggett không nghĩ cần phải bào chữa cho hành động vi phạm lời thề danh dự, nhưng ông ta đã có sẵn hai lý lẽ: thứ nhất, ông không chấp nhận cam kết; thứ hai, ông đã mài mòn đũng quần ở Yale hết năm này sang năm khác, bốn năm chèo thuyền không bỏ lỡ cuộc đua nào, ông thấy mình xứng đáng được chút lợi là cựu sinh viên “Y” hơn là một thư ký nào đó ở văn phòng Hội Thể thao, ít ra những chiếc vé này cũng có dịp tạo nên sự khác biệt giữa việc tham gia một hợp đồng trang thiết bị và không bị khấu trừ. Thế là, về mặt nào đó, ông là người đáng giá với công ty. Nhà máy không còn thuộc về gia đình Liggett, nhưng ông vẫn là giám đốc, như trêu tức thiện chí còn rơi rớt mà cha và ông nội ông để lại. Ông bỏ phiếu cho cổ phần của mình và em gái, nhưng với cơ ngơi của người cha, cũng là một giám đốc, ông đã bỏ phiếu đúng cách luật sư đã dặn.
Năm 1930 dạy ông rằng ông không biết cách lưu thông trong thị trường cổ phiếu. Kinh doanh là một việc đơn giản, ông tự nhủ: đó là mua và bán, cung và cầu. Ông nội ông, một thợ cơ khí bình thường người Anh đã từ Birmingham đến nơi đây, đáp ứng một nhu cầu. Cha ông tiếp tục vai trò cung và cầu, nhưng đã mở rộng việc mua bán hơn nhiều. Năm 1930, Liggett tự lập luận: với mình, mua và bán không còn theo kiểu của cha mình, và luật cung - cầu cũng không còn như thời ông nội mình nữa. Mình ở vị trí tham gia các hoạt động của cả ông và cha, nhưng vì mình không còn nhà máy trong tay nên phải có thứ mà cha ông mình không có. Mình phải có quan điểm độc lập. Liggett & Công ty vừa cung cấp vừa bán hàng. Hiện giờ đi đến đâu mình cũng thấy nhà cửa mọc lên, đào đắp khắp nơi. Một ít cổ phiếu thông thường - à, tất cả các cổ phiếu thông thường - sụt giảm, nhưng chắc chắn là chúng đã có thời lên giá hơn giá trị thực. Vậy thôi. Có chuyện gì đó xảy ra và toàn bộ thị trường chao đảo. Vì sao vậy? Ai có thể giải thích một việc như thế. Nhưng nó đã xảy ra và cuối cùng sắp thành hiện tượng tốt, vì khi cổ phiếu tăng trở lại, lần này chúng sẽ có giá trị đúng.
Trên cơ sở đó, thu nhập của ông năm 1929 là 75.000 đôla đã giảm xuống 27.000 đôla năm 1930. Lương của ông là 25.000 đôla, không bị cắt giảm, vì những quan hệ của ông với Tammany trong năm 1930 vẫn tốt đẹp như trong năm 1929 và ông vẫn ăn khách. Năm 1929, thu nhập ngoài lương của ông ở Liggett & Công ty là 40.000 đôla, kể cả tiền hoa hồng. Ngoài ra ông còn thu khoảng 10.000 đôla từ tài sản của bà mẹ trong những khoản đầu tư không-Liggett ở Pittsburgh. Năm 1930, lợi nhuận ở Liggett & Công ty chỉ còn 15.000 đôla, chui hết vào túi những người môi giới chứng khoán, và ông chỉ thu được 5.000 đôla từ tài sản của mẹ mình. Nhưng ông và một người nữa đã kiếm được mỗi người 2.000 đô la từ một nguồn bất ngờ, và họ đã nghĩ một cách nghiêm túc sẽ làm việc đó hàng năm.
Liggett định đến mùa xuân 1930 sẽ ra nước ngoài, và một người bạn không thân thiết mà ông quen biết ở trường đại học đã đến đưa cho ông một kế hoạch làm ông nghẹn thở. Họ bàn bạc kỹ lưỡng trong phòng hút thuốc, và một phần trong kế hoạch đó là mua trọn gói một vũng cạn trong khu vực tàu neo đậu. Hôm sau, ngay sau giữa trưa một con tàu mắc lại, và mắc vào một giờ may mắn. Kết quả của trở ngại này là, Liggett và người bạn nắm giữ phần vũng cạn đã thắng khoản lớn nhất trong cuộc hành trình, Liggett được khoảng 2.000 đôla. Tuy nhiên, đấy không phải là lãi ròng; họ phải hối lộ 500 đô cho người phục vụ ngã xuống biển đúng vào giữa trưa hôm ấy. Nói của đáng tội, ban đầu Liggett từ chối tham gia kế hoạch, và sẽ không chịu làm nếu không được cam đoan rằng ông không phải bỏ vốn mà chỉ đứng nhìn, như một hình mẫu ngay thẳng và lịch thiệp, hoàn toàn đứng ngoài vụ hối lộ, thắng đậm mà không phải chia bôi gì. Liggett cũng được bảo đảm rằng người bạn chủ mưu kia sẽ chọn một người phục vụ biết bơi…
Xuống tàu, ông vội vàng đến một trạm điện thoại và gọi về nhà. Không có ai trả lời. Tuy vậy, như thế chẳng có nghĩa gì. Chỉ có nghĩa là Gloria không trả lời điện thoại. Ông đi xe điện ngầm đến Quảng trường Times, rồi thay vì lên xe buýt đến Grand Central, ông lên phố để thoát khỏi không khí kinh khủng dưới xe điện ngầm (có quá nhiều người, nhìn thấy những con người đáng ghét hầu như làm đầu óc cạn kiệt cả không khí) và đi taxi nốt quãng đường về nhà.
Ông tìm kiếm trên gương mặt người giữ thang máy những dấu hiệu nghi ngờ nhưng chẳng thấy gì, từ sáu tháng sau Giáng sinh chỉ gọn lỏn câu “Chào ông”. Ông vội vã kiểm tra căn hộ, mở cả cửa bếp thông sang phòng người hầu.
- May quá, cô ta không ở đây. - ông nói to và trở lại nhìn buồng tắm kỹ hơn. Chắc chắn cô nàng đã làm trò lộn xộn nho nhỏ gì đó. Rồi ông chú ý thấy cái bàn chải đánh răng của mình, lúc nào cũng cắm trong cốc, giờ nằm lăn lóc trong bồn rửa mặt. Ống kem đánh răng bị bóp ở giữa, nắp chưa đậy. Ông cầm cái bàn chải đưa lên mũi. Trời ạ, con chó cái ấy đã đánh răng bằng bàn chải của ông. Ông bẻ gẫy làm đôi và ném vào thùng rác.
Trong phòng ngủ, ông nhìn thấy bộ áo dài và áo khoác mặc buổi tối của cô nàng. Ông nhặt chiếc áo dài lên, ngắm nghía. Ông lộn trái và nhìn vào điểm ước chừng bắt đầu đôi chân cô, mong tìm thấy nhưng chẳng thấy gì. Thật hay là ông đã xé rách chiếc áo và ông thấy lúng túng. Bằng vào cách cô hành xử khi ông đưa cô lên giường, chẳng có lý gì mà ngờ cô ta là một người hay trêu tức, nhưng tại sao lại trêu tức khi ông đưa được cô về nhà? Cả hai đều say khướt, và ông phải công nhận là cô còn tỉnh hơn ông, cô còn có thể uống thêm nữa. Cô đã về nhà với một người đàn ông vừa quen tối hôm ấy, đến căn hộ của ông sau khi ôm ấp nhau trong taxi và cho phép ông ta sờ vú. Cô đã vào buồng tắm của ông và khi trở ra, thấy ông đứng đó đợi, tay cầm cốc rượu. Cô nhận cốc nhưng đòi trở lại phòng khách.
- Không, ở đây thoải mái hơn nhiều. - ông nhớ mình đã nói thế, và còn nhớ đã nghĩ giá đừng nói thì hay hơn, vì ông vừa nói xong, cô bèn đáp ngay rằng cô thấy ở phòng khách thú vị hơn. Ông lại nói thôi được, ở phòng khách thú vị hơn nhưng chúng ta chót vào đây rồi.
- Ồ, nhưng anh lầm. - cô nói và nhìn vào mặt ông rồi từ từ nhìn xuống thân thể ông, cái nhìn thẳng thừng nhất hạng mà chưa một ai nhìn như thế, đấy là lần duy nhất ông hoàn toàn tin chắc mình nhìn thấu tâm tư người khác. Ông đứng dậy, để cốc lên bàn và tóm lấy cô trong vòng tay, thô bạo hết mức. Ông siết chặt người cô vào ông, cho đến khi cô cảm thấy thực sự bé nhỏ so với ông. Cô vẫn cầm cốc rượu và đưa tay lên cao trong lúc ngửa đầu ra sau, ngoảnh mặt tránh xa mặt ông. Cô ngưng nói, nhưng trông không có vẻ gì giận dữ. Còn khoan dung nữa kia. Trông cô có vẻ khoan dung như đang xử sự với một cậu học sinh trung học, dường như cô khó chịu nhưng biết lát nữa sự việc sẽ chấm dứt và cô ở đó, cốc rượu trong tay, thái độ vẫn đàng hoàng. Cuối cùng ông buông cô ra, nhưng không phải vì lý do cô tưởng. Cô tưởng ông sắp từ bỏ, nhưng với ông, thái độ nghiêm trang ấy là quá nhiều. Ông phải bẻ gẫy nó bằng cách nào đấy, vì thế ông buông cô ra, rồi vòng cánh tay quanh người cô. Ông vồ lấy phần trên tà áo dài đằng trước, và xé mạnh. Nó rách toạc đến giữa tà.
Mọi sự thay đổi ngay lập tức. Ông làm cô sợ, còn cô thật đáng thương và xinh xắn. Thậm chí ông không để ý rằng vẻ nghiêm trang của cô ít ra cũng là thật, đủ cho cô cầm cốc, tiến hai bước đến bàn. Trong một, hai phút, ông đã sẵn sàng yêu thương cô bằng tất cả sự trìu mến và ân cần dường như bị kìm nén bấy lâu nay ở nơi nào đó trong ông. Ông theo gót cô đến bên bàn và đợi cô đặt cốc xuống. Bây giờ, sau một ngày mà không phải là đêm qua, ông mới nhận ra rằng trông cô hơi điệu bộ, một tư thế làm điệu hơi cũ mòn, cằm cô gần như đặt trên vai, mắt nhìn lảng đi, cánh tay phải gập thành hình chữ V chặn ngực ông lại, bàn tay trái khum lại dưới khuỷu tay phải. Ông đặt bàn tay lên bắp tay cô và ấn nhẹ.
- Hôn anh đi. - ông nói.
- Phần thưởng đấy nhé. - cô đáp.
Cô quay mặt lại, lộ vẻ sắp hôn ông. Ông lại đặt tay sau lưng cô và dịu dàng hôn lên môi cô, lúc đó cô hạ cánh tay xuống và ôm lấy ông, rồi cô rướn lên ông mà không nhúc nhích đôi chân.
Lúc này, nghĩ đến điều ấy, ông biết rằng nó còn vượt xa hơn cả tình yêu. Nó là thứ hoàn toàn mới mẻ, trọn vẹn và thành thạo đến nỗi lần đầu tiên trong đời, ông hiểu vì sao có những chàng trai, trẻ trung và đặc biệt rạng rỡ, lại phản bội nhà vua và đất nước vì một người đàn bà. Ông hiểu vì sao họ có thể làm điều đó trong khi biết người đàn bà ấy là một gián điệp, không trung thành với họ; ông chỉ muốn có cô ngay bây giờ, và không quan tâm từ lúc rời căn hộ này, cô đã ngủ với bao nhiêu đàn ông. Suốt buổi chiều bên Emily và các con, ông không nhớ đến chuyện này, nhưng bây giờ nếu có Gloria ở đây, ông sẽ chẳng cần để ý đến việc Emily và các con có thể vào và nhìn thấy. “Khốn kiếp!” ông gào lên. Cô không thể biết những gì ông biết. Ông bốn hai tuổi, còn cô kém ông ít nhất hai chục tuổi, và trời ạ, nó làm nên sự khác biệt ghê gớm. Dù tìm thấy cô ở bất cứ nơi đâu, ông sẽ đưa cô về căn hộ ngay đêm nay. Chuyện này thường xảy ra với đàn ông làm người ta hay nói đến lứa tuổi nguy hiểm và đủ thứ. Ừ thì lứa tuổi nguy hiểm, làm bạn trở thành ngu xuẩn, song dù có xảy ra bất cứ điều gì với ông, ông cũng nhận hết miễn là có cô gái ấy. Ông sẽ phải có cô ta lần nữa, hết lần này đến lần khác, có cô trong một năm. Chắc chắn ông sẽ đưa cô đến một căn hộ. Ngay đêm nay. Ngày mai, cô sẽ có tài khoản trả sau.
Ông gọi về nhà cô, không hy vọng tìm thấy cô ở đấy, nhưng cứ gọi cầu may. Một giọng nam dè dặt trả lời. Chắc là cha cô, Liggett nghĩ. Cô không có nhà và đêm nay sẽ về muộn. Câu đó không làm Liggett nản lòng. Ông nghĩ mình biết về cô đủ để tìm ra cô ở đâu. Ông gói mớ quần áo của cô lại và mang xuống nhà, gọi taxi đến Grand Central. Ông ký gửi cái bọc ở đấy và định ném tờ biên nhận đi nhưng lại nghĩ nhỡ cô thích bộ áo đó, vì lý do tình cảm chẳng hạn, cô có thể vá lại. Phụ nữ hay giữ quần áo cũ vì những lý do như vậy, ông không có quyền ném bỏ tờ giấy đó. Hơn nữa, chiếc áo khoác trông còn tốt. Lúc đầu ông không nghĩ đến nó, mà chỉ nghĩ đến chiếc áo dài bị xé rách. Cứ nghĩ đến nó ông lại bực mình. Ông thích nghĩ đến việc xé và cởi tuột quần áo cô ra cùng với hồi ức diện mạo cô, thân hình cô và sự kinh hoàng của cô lúc ấy. Nhưng thực ra, xé áo của một cô gái là việc thật xấu hổ và ông không thích cứ nghĩ lẩn quẩn đến nó mãi. Ông đến cửa hàng bán rượu lậu trên phố East 53, nơi trong hai năm có hai người đàn ông tự tử trong phòng vệ sinh nam. Người ta đang dọn mấy cái ghế cuối cùng khỏi bàn, chuẩn bị mở cửa nhưng quầy rượu đã mở. Một người đàn ông mặc áo đuôi tôm và người bạn gái đang uống rượu. Người đàn ông trông dáng hào hoa trạc ngoài bốn mươi. Người phụ nữ khoảng ngoài ba mươi, cao và khêu gợi. Lúc Liggett bước vào, họ đã khá say và đang tranh cãi; người đàn ông nắm cánh tay người phụ nữ lôi khỏi quầy, ra cái bàn cũng trong phòng ấy nhưng cách xa Liggett. Hiển nhiên cô ta là tình nhân của ông ta và ông ta bất lực trong tình yêu với cô.
- Từ ngày quen biết anh. - cô ta nói, rất to. - Anh chẳng đòi hỏi gì tôi ngoài những câu căn vặn.
Liggett đổi mấy đồng năm xu và đến trạm điện thoại gọi cho một người bạn là kỹ sư. Không có tín hiệu trả lời. Ông thử gọi cho hai ông bạn kỹ sư khác, vì muốn đi một vòng quanh các quán rượu lậu mà ông tin có khả năng tìm ra Gloria. Ông muốn đi cùng với một người đàn ông nhưng không phải là bạn thực sự của ông. Họ đều đang ở nhà hoặc đi dự tiệc cùng vợ, còn ông muốn ra ngoài với người có vợ nhưng không quen biết Emily. Ông thử gọi cho những kỹ sư này nhưng không ăn thua. Không ai trả lời. Ông thử lần thứ ba, một người ông không thích lắm; người này rất thân ái và sốt sắng mời Liggett đến ngay, dự bữa cocktail đang rất đông người. Liggett từ chối. Vào lúc khác chắc ông sẽ đến chơi với người đàn ông mặc áo đuôi tôm, đang bị phê phán vì chuyện trăng gió giữa ông ta với người tình. Câu chuyện chuyển hướng không mấy tốt đẹp, người đàn bà sẽ bỏ về nhà bất cứ lúc nào và gửi trả mọi thứ ông ta cho, và ông ta chẳng biết phải làm gì với những thứ đó. Không muốn ở lại một mình với người đàn ông, Liggett uống cạn cốc whisky pha sôđa, trả tiền rồi sang quán rượu lậu khác, ngay bên cạnh.
Người đầu tiên ông nhìn thấy là Gloria, tươm tất trong bộ áo rất đúng mốt. Cô nhìn ông, dửng dưng. Cô đi cùng một thanh niên và một cô gái trẻ đẹp. Ông tiến đến bắt tay, Gloria giới thiệu ông với mọi người và mời ông ngồi với họ một chút, vì họ sắp đi.
- Ồ, tôi tưởng chúng ta đến đây ăn tối. - cô Day nói. - Tôi đói ngấu rồi.
Sự im lặng có lợi cho cô Day, cô ngầm thông báo cho mọi người cùng bàn rằng cô nên nói ra câu ấy thì hơn.
- Các vị đang đợi ai chắc? - Liggett hỏi.
- Không hẳn. - Gloria nói.
- Tôi cảm thấy ngớ ngẩn và thô lỗ kinh khủng nếu ông có lòng tốt mời chúng tôi ăn tối. - cô Day nói. - Cô Wandrous, lẽ ra tôi nên ở lại Brevoort và ăn ở đấy vì lúc đó tôi đã đói rồi. Tôi… - nói đến đó cô im bặt.
- Tôi cho là chúng tôi nên đi thôi. - Brunner nói. - Gloria, chúng tôi sẽ ghi nợ bữa tối đó nhé. - anh ta không uống, có vẻ tỉnh táo và cáu kỉnh của người thường ngày uống say túy lúy, nay nhất thời tạm kiêng rượu. Liggett vội đứng dậy trước khi họ thay đổi ý kiến. Cô Day có vẻ hoãn cơn thèm ăn lại vì cũng phải đứng dậy.
Khi họ đi rồi, Liggett nói:
- Tôi đã cố tìm em. Tôi gọi điện đi khắp nơi và nhìn ngó khắp New York cho đến lúc tìm thấy em. Em uống gì?
- Rye pha nước.
- Rye pha nước và Scotch pha sôđa cho tôi. Em muốn ăn ở đây không?
- Ăn tối với anh ư?
- Phải, không được sao?
- Tôi không biết. Như anh nói thì điều anh muốn là gọi điện cho tôi khắp nơi, dù tôi không biết anh có thể gọi đến đâu ngoài nhà tôi.
- Và quán Manger.
- Có gì buồn cười đâu. Tối qua tôi say khướt. Chuyện này sẽ không xảy ra lần nữa.
- Thế ư. Nó phải xảy ra lần nữa. Nó sẽ xảy ra. Nghe này, anh không biết bắt đầu ra sao.
- Thì đừng nói nữa, nếu đây là một lời gạ gẫm. Vì tôi không thích những lời gạ gẫm. - cô biết mình đang nói dối, vì hầu như cô thích mọi lời bóng gió; ít nhất cũng thích nghe. Nhưng cô không thể bảo ông cách tiến hành. Liggett không nói gì chứng tỏ ông phát hiện ra cô đã lấy cắp chiếc áo khoác, nhưng sự tránh né của ông có lẽ chỉ vì khôn khéo. Cô quyết không đả động gì đến chiếc áo trước ông, mà đợi cho đến lúc ông tỏ ý muốn đòi lại. Lúc này cô không muốn nói đến chuyện đó. Sau này thì có thể, nhưng không phải lúc này.
Ông ta nhìn xuống đôi bàn tay tạo thành “đây là nhà thờ, đây là tháp chuông, mở cửa ra là có tất cả mọi người.”
- Em có biết tôi muốn gì không? - ông nói.
Nó đã ở đầu lưỡi cô, có, chiếc áo khoác lông chồn. Cô nói:
- Tôi chẳng biết gì hết.
Ông thò tay vào túi và lấy ra tờ biên nhận gửi gói đồ ở Grand Central.
- Của em đây. - ông nói.
- Cái gì thế? - cô cầm tờ biên nhận và hỏi.
- Rye cho cô Wandrous. Scotch cho tôi. - Liggett nói với người hầu bàn đang lặng lẽ bưng đồ uống lại gần. Khi anh ta đi khỏi, Liggett tiếp. - Đấy là phiếu gửi áo dài và áo khoác của em. Em đã cầm số tiền tôi để lại. Có đủ không?
- Có. Anh muốn gì tôi?
- Ờ, tôi cho là thô thiển quá. Tôi muốn có em. Tôi muốn… kiếm một căn hộ cho em sống ở đó?
- Ồ. - cô nói. - Tôi đang sống với gia đình tôi mà.
- Em có thể nói với họ là em đã kiếm được việc làm và muốn sống ở khu phố trên.
- Nhưng tôi không thể nói thế được. Anh muốn tôi thành nhân tình của anh? Tôi không biết anh có người tình, tôi biết đây chỉ là lời phỉnh phờ, vì thế anh đừng nói nữa.
- Tôi không lừa phỉnh đâu. Vì tôi rất muốn có em.
- Anh có muốn tôi nói ra với anh không?
- Ờ…
- Trước hết, anh muốn có tôi vì tôi giỏi giang trên giường còn vợ anh thì không. Hoặc nếu chị ta có thì cũng kiềm chế. Tôi đoán thế, căn cứ vào cách anh làm tình. Ngoài ra, anh đã chán chị ta và muốn có tôi vì tôi trẻ, chỉ bằng tuổi con gái anh.
- Xấp xỉ thôi. - Liggett nói. - Tôi phải có em vì tôi còn rất trẻ.
- Không “rất” lắm đâu. Tôi đã nhìn thấy ảnh các con anh trong phòng khách nhà anh, họ không ít tuổi hơn tôi là mấy. Nhưng tôi không muốn anh cảm thấy mình quá già, vì thế chúng ta hãy bỏ qua chuyện này. Anh muốn có tôi và tưởng rằng khi anh trả tiền thuê nhà, tôi sẽ là của anh và không là của ai khác nữa. Đúng thế không?
- Không. Trên thực tế thì không. Một giờ trước tôi chưa nghĩ đến, trước khi tôi biết em ở đâu, Gloria, tôi phát hiện ra rằng tôi không quan tâm em đang ở với ai hoặc trên chiếc giường nào, tôi vẫn muốn có em.
- Chà, kinh thật. Mà anh sắp, ờ, anh hơi lo vì sắp năm chục tuổi, phải không?
- Có lẽ. Mà tôi không nghĩ thế. Đàn ông không có thời mãn kinh. Tôi còn có thể với em nhiều năm nữa. Tôi tự chăm sóc bản thân rất kỹ càng.
- Mong là thế.
- Tôi mong em cũng thế.
- Đừng lo cho tôi. Ngày mai, việc đầu tiên tôi làm là đến nhà một người bạn ở đại lộ Park.
- Người bạn ở đại lộ Park của em là ai?
- Bạn tôi ở đại lộ Park ư? Đấy là bác sĩ của tôi. Tôi có thể nói với anh là tuần này tôi không rảnh cho anh và tôi.
- Em hay đến với anh ta?
- Nhất định rồi, thường xuyên. Anh nghe này, tôi không muốn ngồi đây và nói chuyện về bệnh lây qua đường sinh dục. Anh để tôi nói hết lời đang nói. Anh tưởng tôi sẽ trung thành với anh vì anh cho tôi một căn hộ. Anh bạn điển trai của tôi ơi, tôi chỉ trung thành với anh khi nào tôi muốn thôi, có thể một năm hoặc có khi chỉ đến trưa mai. Không. Không có căn hộ nào cho tôi hết. Nếu anh muốn có một căn hộ để chúng ta đến mỗi khi tôi muốn đi cùng anh, hoặc anh có thể đưa bất cứ ai anh thích đến đó, thì nó hoàn toàn là việc của anh. Nhưng sau khi làm khách và nhìn ngó căn hộ của mình, anh sống ra sao? Không thú vị lắm. Anh không đủ tiền sở hữu tôi đâu. Năm ngoái, mùa thu năm ngoái, tôi nảy ra một ý khá hay ho là tôi đáng giá bao nhiêu. Anh có thể trả tiền bảo dưỡng cho một du thuyền dài 55 mét không? Một du thuyền chạy bằng diesel?
- Nói thật là không.
- Phải, còn người này đã và đang làm thế, mà tôi đánh cược là mỗi năm anh ta không sử dụng đến năm, sáu lần. Anh ta đến các cuộc đua thuyền và dự một bữa tiệc linh đình của thanh niên, họ thường xuống Florida với anh ta mỗi khi anh ta đến, trước khi nó thuộc về anh ta, tôi đã nhìn thấy nó ở Monte Carlo.
- Tôi đoán ra ai rồi.
- Phải, tôi cũng đoán là anh biết. Và anh ta cũng muốn có tôi.
- Sao em không túm lấy anh ta, nếu em muốn có tiền?
- Anh biết vì sao không? Anh có biết ảnh những người lùn trên báo Chủ nhật không? Những người đàn ông bé nhỏ chân như hai que diêm, bụng tròn xoe, rốn to tướng và da nhăn nheo? Trông anh ta giống y như thế. Tôi cũng không thể nói tôi thích ý tưởng ngộ nghĩnh của anh ta. Eo ôi.
- Cái gì?
- Thật tình, tôi không biết nói với anh ra sao. Tôi ngượng. Có khi anh đã nghe rồi, nếu anh biết anh ta là ai.
- Em muốn nói anh ta là người dị dạng?
- Hừm. Dị dạng. Nghe này anh yêu, anh có biết vì sao em thích anh không? Em rất thích anh. Anh biết vì sao không? Vì anh là người đàn ông bình thường và mộc mạc. Anh tưởng anh không chung thủy với vợ là khá “hot” và sành điệu. Chà, em có thể kể cho anh nghe về cái thành phố bẩn thỉu bị Chúa Trời nguyền rủa này. Kinh lắm. Em biết một người suýt đắc cử, ờ, mà em nghĩ tốt hơn hết là im miệng. Em biết quá nhiều so với tuổi của mình. Nhưng em thích anh, Liggett, vì anh thèm muốn em theo cách em muốn, và không có những biến thể hoang đường. Chúng ta ra khỏi đây đi, nó quá lỗi thời rồi.
- Em muốn đi đâu? - Liggett hỏi.
- Xuống phố Bốn mươi, đến một chỗ gần như ưa thích của em.
Họ đến phố Bốn mươi, leo lên một cầu thang ngoằn ngoèo. Một người đàn ông cầm cái hộp trang trí hoa hồng tuyệt đẹp tiếp họ, sau khi đã nhòm ngó kỹ lưỡng.
- Tôi e anh không nhớ tôi. - Gloria nói.
- Cái gì? Sao tôi lại không nhớ cô kia chứ, thưa cô? - người đàn ông nói. Anh ta chính là bồi rượu.
- Cô ưng uống gì ở Lord’s Day này? - người bồi rượu nói. - Có lẽ Little Irish?
- Được.
- Còn ông?
- Scotch pha sôđa.
- Vâng. Vâng. - người bồi rượu nói.
Vào những ngày này, đó là quán rượu đáng kể nhất ở New York, căn phòng không có gì ngoài những loại rượu nguyên chất. Nửa phòng là bàn, ghế và một cây đàn piano cơ, nhưng nửa căn phòng phía trước quầy rượu là cái sàn bêtông trống trơn. Liggett và Gloria đã quen cảnh này và mỉm cười với nhau trong gương thì một giọng nói cất lên.
- La đi đu, la đi đu, li đi đi. Tom!
- Bớt nhắng đi nào, Eddie. - Tom (người bồi rượu) nói, rồi cười toe toét với Gloria và Liggett.
- Cho tôi vài đồng năm xu nào, la đi đu, la đi đu.
Họ nhìn người đàn ông tên là Eddie ở đầu kia quán, đang xát hai bàn tay mũm mĩm vào nhau và mút răng chùn chụt. Anh ta đội mũ đồng phục, mặc gilê len màu xám và quần xanh. Họ để ý thấy anh ta có một khẩu súng lục, dây xích, còng tay và các thiết bị khác của một cảnh sát tuần tra. Áo cảnh phục của anh ta nằm trên ghế.
- Xin lỗi các vị. - Eddie nói. - Hãy phục vụ quý bà và quý ông đây trước.
- Thì tôi đang làm việc đó đây. - Tom nói. - Làm xong tôi sẽ mang tiền năm xu đến cho anh.
- Được thôi. Cho tôi một chai bia, anh bạn. - Eddie nói. - Tất nhiên là sau khi phục vụ xong quý ông quý bà đây.
- Khi nào xong tôi sẽ mang bia cho anh. Mà anh thì lúc nào chẳng khua chiêng gõ trống. Còn những người đóng thuế như chúng tôi trong cái thành phố vĩ đại này thì sao đây? Khi nào đi bầu cử, chúng tôi sẽ thay đổi toàn bộ những thứ này.
- Cơ quan Chính phủ mà. Anh chưa bao giờ nghe đến nó phải không? Các thành viên cừ nhất đều là công chức nhà nước và những kẻ bỏ phiếu gian lận như các anh cứ làm như chúng tôi chẳng là cái đinh gì. Một bia!
- Ra khỏi đây đi. Ra khỏi đây mà kêu. Bây giờ là hai mươi giờ năm phút, đến giờ rồi.
- Đồng hồ chạy nhanh.
- Trời đánh tôi chết nếu nó chạy nhanh. Tối nào tôi cũng chỉnh. Đi đi hoặc anh lại bị ghi sổ bây giờ.
- Thì đi, và tôi sẽ trở lại với một mũ đầy đồng năm xu. - Eddie nói. Anh ta đeo thắt lưng, mặc áo và đội mũ cho ngay ngắn. Lúc rời đi anh ta nói:
- Tôi sẽ mang đến cho anh một tờ báo nhé?
- Thôi đi, lúc này đừng cố nịnh tôi. - Tom nói.
Một nhóm bốn thanh niên bước vào và bắt đầu chăm chú với trò chơi bằng que diêm, đổi lấy đồ uống. Tiếp đến là người đàn ông mặc gilê và quần đen, đội cái mũ gấp gọn bằng giấy báo; anh ta vẫy tay chào cả bọn nhưng ngồi một mình. Một người với cái mũ lật ra sau gáy bước vào, nói chuyện với những anh chàng đang chơi diêm và người đội mũ giấy. Anh ta ngồi một mình, bắt đầu nhăn nhó đủ kiểu trong gương và nói chuyện dài dòng với Tom, vừa lắng nghe vừa gật gù. Trong lúc nói chuyện, người đàn ông không lúc nào rời mắt khỏi tấm gương. Tom ân cần với người soi gương, gẫu chuyện bóng chày với người đội mũ giấy, đùa với những người chơi diêm, lịch sự với Liggett và Gloria. Viên cảnh sát quay lại cầm mấy tờ báo và một túi giấy to, rồi lấy ra vài cái hộp. Anh ta trút món trai hầm ra các đĩa mà Tom lấy ở dưới quầy ăn trưa miễn phí. Viên cảnh sát nói:
- Mời quý cô trước.
Những người còn lại tự lấy đĩa trong lúc viên cảnh sát nhìn, vẻ hài lòng; sau đó, anh ta cởi áo vắt lên lưng ghế rồi đến bên cây piano.
- Xéo khỏi cây đàn chết tiệt ấy đi. - Tom quát. -Xin cô tha lỗi. Eddie, vác cái xác anh đi, tránh ngay khỏi thứ đó, hỏng hết bây giờ.
- Anh xéo đi thì có. - Eddie nói. - Rất mong cô tha lỗi, tôi có quyền ở đây. - Anh ta thả đồng năm xu vào máy, và trong giây lát cả phòng tràn ngập giai điệu Dinah, ai là người cuối cùng?
- Lạy Chúa tôi, trời đất quỷ thần ơi, sai đĩa. - viên cảnh sát nói, buồn rầu thực sự. - Tôi muốn nghe bài Mẹ Machree kia.
•••
Sáng hôm sau, một bức thư chuyển phát đặc biệt đến nhà Gloria Wandrous:
Gloria thân mến,
Anh thấy em chẳng thay đổi tí nào thói quen đáng chê trách là sai hẹn, hay em không nhớ hôm nay chúng ta đã hẹn gặp nhau? Hôm nay anh đến New York rất phiền phức, hy vọng gặp em để giải quyết những điều cả hai chúng ta cùng băn khoăn. Anh mang theo một số tiền, quả là lớn khi mang trong người, nhất là ở thời buổi như hiện nay.
Ngày mai (thứ Hai) em ở nhà vào khoảng từ 12 giờ trưa đến 1 giờ chiều nhé, anh sẽ liên lạc với em qua điện thoại đuờng đài. Nếu không, anh sẽ cố liên lạc lại vào khoảng giờ ấy, thứ Ba.
Giá em biết anh đã tốn phí chừng nào để đến New York, em sẽ ý tứ hơn.
Viết vội,
J. E. R
Gloria đọc thư này vào cuối buổi chiều thứ Hai, lúc cô trở về nhà sau đêm ở với Liggett.
- Tội nghiệp anh quá. - cô nói lúc đọc thư. - Chà, nếu em biết là phiền đến thế!
❀ ❀ ❀
[1] Babe Ruth (1895-1948): một trong những cầu thủ bóng chày nổi tiếng nhất nước Mỹ.
[2] Caroline: người ở thời các vua Charles (Anh).
[3] Tên gọi phổ biến là Warner Bros, chỉ bốn anh em nhà Warner sáng lập hãng phim truyện và là hãng phim đầu tiên đưa âm thanh vào phim câm.
[4] Người Ailen.
[5] Ngày kỷ niệm Columbus tìm ra châu Mỹ (15 tháng 10 năm 1492).
[6] Mollie Maguires: hội kín ở Mỹ, do những người thợ mỏ Ailen di cư thành lập tại Pennsylvania.
[7] Cuộc tranh chấp các tỉnh Tacna và Arica giữa Peru và Chile, kéo dài từ cuối thế kỷ 19. Mãi đến năm 2000, hai nước này mới thực hiện theo Hiệp định Ancón ký từ hơn một thế kỷ trước.
[8] Trường đại học thành lập năm 1865 tại Bethlehem, Pennsylvania.
[9] Hội Tammany (còn gọi là Columbian Order) tiền thân là một tổ chức yêu nước và từ thiện trên toàn nước Mỹ, hăng hái duy trì thể chế dân chủ và chống lại những nguyên lý quý tộc. Sau này, Tammany hợp nhất với Đảng Dân chủ và bị giới hạn trong phạm vi thành phố New York.