39 Bậc Thang

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Cuộc Phiêu Lưu Tại Quán Trọ Của Chàng Thiếu Niên Yêu Văn Chương

❊ ❊ ❊

Hôm đó là một ngày du hành hướng bắc đầy ủ rũ. Tiết trời tháng Năm đẹp tuyệt vời, hoa táo gai nở trắng trên mọi hàng rào, và tôi tự hỏi tại sao khi bản thân vẫn là một kẻ tự do, tôi lại cứ bám trụ ở London để rồi bỏ lỡ khung cảnh đồng quê thiên đường này. Tôi không dám bén mảng tới toa ăn uống trên tàu, nhưng đã mua một giỏ cơm trưa ở Leeds và chia sẻ nó với người đàn bà mập mạp. Tôi cũng mua mấy tờ báo buổi sáng, chứa đựng tin tức về các ứng viên đua ngựa giải Derby cùng sự khởi đầu của mùa giải cricket, dăm bài báo bàn về việc tình hình Balkan đang lắng xuống và một hạm đội Anh chuẩn bị tới Kiel.

Khi đã đọc xong, tôi lấy cuốn sổ tay màu đen nhỏ xíu của Scudder ra nghiên cứu. Nó được lấp đầy bởi những ghi chép, chủ yếu là các con số, dẫu thỉnh thoảng có cả tên người được viết rõ. Chẳng hạn, tôi bắt gặp các từ “Hofgaard”, “Luneville” và “Avocado” xuất hiện khá thường xuyên, và đặc biệt là từ “Pavia”.

Lúc này, tôi đoan chắc rằng Scudder không bao giờ làm gì mà không có lý do, và tôi gần như chắc mẩm có một thứ mật mã ẩn giấu trong tất cả những thứ này. Đó là lĩnh vực từ lâu đã thu hút tôi, và bản thân tôi cũng từng mày mò khi làm sĩ quan tình báo tại Delagoa Bay trong thời gian diễn ra Chiến tranh Boer. Tôi có bộ óc nhạy bén với những thứ như cờ vua hay câu đố, và từng tự cho mình là khá cừ trong việc giải mã. Mật mã này thoạt nhìn có vẻ thuộc loại dùng dãy số tương ứng với các chữ cái trong bảng chữ cái, nhưng bất kỳ kẻ khôn ngoan nào cũng có thể tìm ra manh mối chỉ sau một hoặc hai giờ mày mò, và tôi không nghĩ Scudder lại bằng lòng với một thứ dễ dàng như vậy. Thế nên, tôi xoáy sâu vào những từ được in rõ, bởi bạn hoàn toàn có thể tạo ra một thứ mật mã số rất cừ nếu nắm trong tay một từ khóa chỉ dẫn trật tự các chữ cái.

Tôi thử sức hàng giờ liền, nhưng chẳng có từ nào khớp cả. Sau đó tôi thiu thiu ngủ và tỉnh giấc tại Dumfries, vừa kịp lúc thu dọn đồ đạc để nhảy lên chuyến tàu chậm đi Galloway. Trên sân ga có một kẻ mà mặt mũi khiến tôi chẳng mấy thiện cảm, nhưng hắn chẳng thèm liếc nhìn tôi lấy một cái, và khi vô tình thấy bóng mình trong gương của một cỗ máy bán hàng tự động, tôi cũng chẳng lấy làm lạ. Với gương mặt rám nắng, bộ đồ tu-e-đô cũ kỹ cùng dáng đi lủi thủi, tôi trông chẳng khác nào một gã nông dân miền núi đang chen chúc lên những toa tàu hạng ba.

Tôi ngồi chung toa với nửa tá người trong làn khói thuốc lá đậm đặc bốc lên từ những chiếc tẩu đất. Họ vừa từ chợ phiên hằng tuần trở về, miệng nhao nhao bàn chuyện giá cả. Tôi nghe họ kể lể về tình hình cừu non sinh nở ở vùng Cairn, Deuch cùng hàng chục dòng suối bí ẩn khác. Hơn nửa số đàn ông ở đây đã nốc rất nhiều rượu và sực nức mùi whisky, thế nên họ chẳng thèm bận tâm đến tôi. Đoàn tàu ì ạch lăn bánh vào một vùng đất của những thung lũng nhỏ rợp bóng cây, rồi tiến tới một vùng hoang mạc rộng lớn bao la, lấp lánh những hồ nước, xa xa phía bắc là những ngọn đồi xanh thẫm sừng sững.

Khoảng năm giờ, toa tàu đã trống hoác, và tôi chỉ còn lại một mình đúng như hằng mong ước. Tôi xuống ở trạm tiếp theo, một nơi chốn nhỏ bé mà tôi chẳng buồn nhớ tên, nằm ngay giữa lòng một vùng đầm lầy. Nó gợi cho tôi nhớ đến những trạm tàu nhỏ bị lãng quên nơi xứ Karroo. Một lão nhân viên gác ga đang cuốc đất trong vườn, rồi với chiếc cuốc vác trên vai, lão lững thững tiến về phía đoàn tàu, nhận lấy một bưu kiện và quay trở lại với luống khoai tây của mình. Một đứa trẻ lên mười nhận lại vé của tôi, và tôi bước ra con đường trắng ngoằn ngoèo vắt qua cánh đồng hoang nâu sẫm.

Đó là một buổi chiều mùa xuân lộng lẫy, mọi ngọn đồi đều hiện lên rõ mồn một như một viên ngọc thạch anh tím được mài giũa. Không khí vương vấn mùi rễ cây đặc trưng của đầm lầy, nhưng lại trong lành chẳng kém gì ngoài đại dương bao la, và nó mang lại hiệu kỳ lạ cho tinh thần tôi. Quả thực tôi cảm thấy lòng nhẹ tênh. Trông tôi chẳng khác nào một thiếu niên đang đi dã ngoại nghỉ lễ mùa xuân, chứ không phải một gã đàn ông ba mươi bảy tuổi đang bị cảnh sát ráo riết truy lùng. Tôi có lại cảm giác hệt như khi xưa, lúc chuẩn bị cho chuyến hành trình dài trên thảo nguyên cao nguyên vào một buổi sáng băng giá. Nếu bạn tin tôi, tôi vừa rảo bước dọc con đường đó vừa huýt sáo vang. Trong đầu tôi chẳng có lấy một kế hoạch chiến dịch nào, chỉ đơn giản là tiến bước mãi trên vùng đồi núi có mùi hương mộc mạc và đầy phước lành này, bởi từng dặm đường trôi qua lại khiến tâm trạng tôi thêm phấn chấn.

Trong một khu rừng nhỏ ven đường, tôi tiện tay cắt một cành cây phỉ làm gậy chống, rồi rẽ khỏi đường cái để đi lên một lối mòn nhỏ chạy dọc theo thung lũng của một con suối đang ào ạt chảy. Tôi nhẩm tính rằng mình vẫn còn bỏ xa bất kỳ cuộc truy đuổi nào, và đêm hôm đó tôi hoàn toàn có thể tự do tự tại. Đã mấy tiếng trôi qua từ lần ăn uống gần nhất, và tôi bắt đầu thấy đóu cồn cào khi đến trước một ngôi nhà chăn cừu nằm nép mình bên ngọn thác. Một người phụ nữ mặt rám nắng đang đứng bên khung cửa, cất tiếng chào tôi với vẻ rụt rè thân thiện đặc trưng của miền hoang mạc. Khi tôi ngỏ ý xin ngủ nhờ qua đêm, cô ấy liền bảo tôi cứ thoải mái dùng “chiếc giường trên gác lót”, và chẳng mấy chốc đã dọn ra trước mặt tôi một bữa ăn thịnh soạn gồm trứng ốp lê thịt xông khói, bánh scone cùng một ly sữa ngọt đặc quánh.

Khi trời nhá nhem tối, chồng cô ta từ trên đồi trở về; đó là một gã khổng lồ gầy gò, chỉ với một bước chân đã vượt qua khoảng cách bằng ba bước của người bình thường. Họ không hỏi tôi bất cứ điều gì, bởi họ mang phong thái lịch thiệp hoàn hảo của những cư dân miền sơn cước, nhưng tôi có thể nhận ra họ đoán tôi là một dạng thương lái, và tôi cũng góp phần củng cố phỏng đoán ấy. Tôi huyên thuyên rất nhiều về gia súc dẫu chủ nhà chẳng rành mấy, đồng thời thu nhặt từ anh ta kha khá thông tin về các khu chợ địa phương vùng Galloway để ghi nhớ dùng cho sau này. Đến mười giờ, đầu tôi đã gật gà gù gật trên ghế, và “chiếc giường trên gác lót” đã đón nhận một cơ thể mệt mỏi ngủ say sưa cho đến tận năm giờ sáng khi mái ấm nhỏ bé bắt đầu nhộn nhịp trở lại.

Họ kiên quyết không nhận tiền công, và đến sáu giờ, tôi đã điểm tâm xong xuôi và lại sải bước hướng về phương nam. Ý định của tôi là quay trở lại tuyến đường sắt tại một ga nào đó nằm xa hơn nơi tôi đã xuống vào hôm qua rồi đi vòng ngược lại. Tôi tính toán rằng đó là con đường an toàn nhất, bởi cảnh sát chắc chắn sẽ đinh ninh rằng tôi đang chạy trốn càng xa London càng tốt về hướng một cảng biển phía tây nào đó. Tôi nghĩ mình vẫn còn nắm giữ một khoảng thời gian khởi đầu khá thuận lợi, bởi theo suy luận của tôi, sẽ mất vài tiếng để họ quy trách nhiệm lên đầu tôi, và mất thêm vài tiếng nữa để nhận dạng gã đã lên tàu tại St Pancras.

Vẫn là tiết trời mùa xuân quang đãng, vui tươi ấy, và tôi hoàn toàn không tài nào ép mình cảm thấy lo âu muộn phiền được. Thậm chí tâm trạng tôi còn phấn chấn hơn cả những tháng ngày qua. Tôi băng qua một dải đồi hoang dài, lướt dọc theo sườn của một ngọn đồi cao mà người chăn cừu gọi là Cairnsmore of Fleet. Tiếng chim rẽ giun và chim cồn cào làm tổ vang lên khắp nơi, những dải cỏ xanh mướt bên bờ suối lấm chấm những chú cừu non. Mọi sự uể oải của những tháng ngày qua đang dần tan biến khỏi cơ thể tôi, và tôi bước đi nhanh nhẹn như một thanh niên tráng kiện. Chẳng mấy chốc, tôi tới một gò đất hoang thoải dần xuống thung lũng của một con sông nhỏ, và cách đó một dặm giữa những khóm thạch nam, tôi nhìn thấy làn khói tàu hỏa.

Khi tôi đến nơi, nhà ga này hiện ra quả là địa điểm lý tưởng cho mục đích của tôi. Vùng đất hoang vây quanh nó, chỉ chừa lại một khoảng trống vừa đủ cho đường ray đơn, đoạn nhánh rẽ hẹp, phòng đợi, văn phòng, căn nhà nhỏ của trưởng ga cùng một mảnh sân tí ti trồng lý gai và hoa cẩm chướng thơm. Dường như chẳng có con đường nào dẫn đến đây từ bất cứ đâu, và để tăng thêm vẻ tiêu điều, những con sóng của một hồ nước nhỏ đang vỗ rì rào vào bãi sỏi xám cách đó nửa dặm. Tôi ẩn nấp giữa những khóm thạch nam dày đặc cho đến khi trông thấy làn khói của đoàn tàu hướng đông xuất hiện ở chân trời. Lúc đó tôi mới tiến lại phòng vé nhỏ xíu và mua một vé đi Dumfries.

Những hành khách duy nhất trong toa tàu là một lão mục đồng già và con chó của lão — một con vật mắt lé mà tôi không tài nào tin tưởng nổi. Lão đang ngủ gật, và trên chiếc nệm ghế bên cạnh là tờ Scotsman số ra sáng nay. Tôi liền chộp lấy nó với vẻ đầy háo hức, bởi tôi đoán nó sẽ mang đến cho mình vài thông tin hữu ích.

Có hai cột báo viết về Vụ án mạng ở Portland Place, theo cách họ gọi nó. Gã Paddock của tôi đã hô hoán và tóm cổ người giao sữa. Tội nghiệp gã khốn, có vẻ như gã giao sữa đã kiếm được đồng vàng đó một cách vô cùng nhọc nhằn; nhưng đối với tôi thì cái giá đó quá hời, bởi gã dường như đã khiến cảnh sát bận rộn suốt cả ngày trời. Trong phần tin tức mới nhất, tôi tìm thấy những tình tiết tiếp theo của câu chuyện. Người giao sữa đã được thả, tôi đọc được điều đó, và thủ phạm thực sự — kẻ mà danh tính được cảnh sát giữ kín — tin là đã trốn khỏi London bằng một trong các tuyến đường sắt phía bắc. Có một mẩu tin ngắn viết về tôi với tư cách là chủ nhân căn hộ. Tôi đoán cảnh sát đã nhét nó vào đó như một thủ pháp vụng về nhằm thuyết phục tôi rằng mình vẫn chưa bị hoài nghi.

Chẳng còn gì khác trong tờ báo, không có tin tức gì về chính trị quốc tế hay Karolides, hay những vấn đề từng thu hút sự chú ý của Scudder. Tôi đặt tờ báo xuống và nhận ra chúng ta đang đến gần nhà ga mà tôi đã xuống vào ngày hôm qua. Lão trưởng ga thích cuốc đất nay đã được tiếp thêm chút sinh khí, bởi đoàn tàu đi hướng tây đang dừng lại nhường đường cho chúng tôi, và từ đó có ba kẻ bước xuống đang gặng hỏi lão. Tôi đoán đó là cảnh sát địa phương, đã được Scotland Yard thúc giục và truy lùng dấu vết tôi đến tận cái sân ga khỉ ho cò gáy này. Ngồi thụp hẳn ra phía sau trong bóng râm, tôi chăm chú quan sát họ. Một kẻ mang theo một cuốn sổ và đang ghi chép. Lão trưởng ga già có vẻ trở nên cáu kỉnh, nhưng đứa trẻ từng thu vé của tôi lại đang tuôn ra không ngớt. Tất cả bọn họ cùng hướng mắt nhìn ra cánh đồng hoang nơi con đường trắng trải dài. Tôi thầm hy vọng bọn chúng sẽ bắt đầu lần theo dấu vết của tôi ở đó.

Khi đoàn tàu chuyển bánh rời khỏi nhà ga, người bạn đồng hành của tôi tỉnh giấc. Hắn đăm đăm nhìn tôi bằng ánh mắt lờ đờ, tung một cú đá phũ phàng vào con chó rồi hỏi xem mình đang ở đâu. Hiển nhiên là hắn đang say mèm.

“Đó là cái giá phải trả cho việc làm kẻ bài tửu,” hắn lẩm bẩm với vẻ hối hận cay đắng.

Tôi bày tỏ sự ngạc nhiên khi bản thân lại có dịp gặp gỡ một thành viên kiên trung của hội ruy-băng xanh.

“Phải, nhưng tôi là một kẻ bài tửu kiên định,” hắn nói với giọng thách thức. “Tôi đã tuyên thệ từ lễ Martinmas năm ngoái, và từ đó đến nay chưa từng chạm một giọt whisky nào. Thậm chí cả dịp Hogmanay, dẫu lòng thèm thuồng đến phát khóc.”

Hắn gác xốc gót chân lên băng ghế, vùi cái đầu bù xù vào chiếc nệm.

“Và đó là tất cả những gì tôi nhận được,” hắn rên rỉ. “Một cái đầu nhức nhối hơn cả lửa địa ngục, và hai con mắt nhìn lệch hướng nhau suốt ngày Chủ nhật.”

“Thứ gì đã hại anh thế?” tôi hỏi.

“Một loại thức uống gọi là brandy. Vì là kẻ bài tửu nên tôi tránh xa whisky, nhưng tôi cứ nhấm nháp chút một thứ brandy này suốt cả ngày, và e rằng tôi sẽ chẳng thể khỏe nổi trong nửa tháng tới.” Giọng hắn nhỏ dần thành những tiếng khò khè, và cơn buồn ngủ lại một lần nữa giáng cánh tay nặng nề lên người hắn.

Kế hoạch của tôi là sẽ xuống tàu tại một ga nào đó dọc đường, nhưng chuyến tàu bất ngờ mang lại cho tôi một cơ hội tốt hơn khi nó khựng lại ở cuối một cống dẫn nước bắc qua một con sông nước đục ngầu sắc bia porter. Tôi nhìn ra ngoài và thấy mọi cửa sổ toa tàu đều đóng kín, chẳng có bóng người nào xuất hiện trên phong cảnh xung quanh. Thế nên tôi liền mở cửa, nhanh chóng nhảy xuống đám cây phỉ mọc rậm rạp ven đường ray.

Mọi chuyện đã hoàn hảo nếu không vì con chó chết tiệt ấy. Đinh ninh rằng tôi đang tẩu tán tài sản của chủ nhân nó, con vật bắt đầu sủa vang trời và suýt chút nữa thì ngoạm được vào quần tôi. Tiếng sủa đánh thức gã mục đồng, kẻ đang đứng tru tréo bên cửa toa tàu vì tưởng rằng tôi đã tự sát. Tôi luồn lách qua bụi rậm, ra đến bờ suối và nhờ bóng râm của các bụi cây che khuất để lùi lại chừng trăm thước. Sau đó, từ nơi ẩn nấp, tôi ngoái nhìn lại và thấy người gác tàu cùng vài hành khách đang tụ tập quanh cửa toa tàu mở toang và chằm chằm nhìn về phía tôi. Tôi chẳng thể có một cuộc ra đi nào công khai hơn thế trừ phi bước đi cùng một kèn tivi và một ban nhạc đồng thao.

May mắn thay, gã mục đồng say xỉn đã tạo ra một màn đánh lạc hướng. Hắn và con chó của hắn — bị buộc dây vào thắt lưng — bất ngờ ngã nhào khỏi cửa toa, cắm đầu xuống đường ray rồi lăn lộn một đoạn dài xuống triền dốc hướng về phía dòng nước. Trong lúc hỗn loạn ứng cứu sau đó, con chó đã cắn vào ai đó, bởi tôi nghe văng vẳng những tiếng chửi thề cay độc. Chẳng mấy chốc họ đã quên bẵng sự hiện diện của tôi, và khi tôi dám ngoái lại nhìn sau một phần tư dặm bò trườn, đoàn tàu đã lăn bánh trở lại và đang khuất dần trong đoạn đường cắt ngang qua đồi.

Tôi đang ở trong một bán nguyệt hoang mạc rộng lớn, với dòng sông nâu làm bán kính, và những ngọn đồi cao tạo thành vành đai phía bắc. Không có lấy một dấu hiệu hay âm thanh nào của con người, chỉ có tiếng nước khua nước và tiếng kêu rả rích không dứt của loài chim rẽ giun. Thế nhưng, kỳ lạ thay, lần đầu tiên tôi cảm nhận được nỗi kinh hoàng của một kẻ bị săn đuổi. Không phải cảnh sát là điều tôi nghĩ tới, mà là những kẻ khác — những kẻ biết rằng tôi nắm giữ bí mật của Scudder và không đời nào dám để tôi sống sót. Tôi đoan chắc rằng chúng sẽ truy đuổi tôi với sự sắc bén và cảnh giác mà luật pháp Anh chưa từng có, và một khi chúng đã tóm được tôi thì sẽ chẳng có chút lòng thương xót nào dành cho tôi cả.

Tôi ngoái nhìn lại, nhưng chẳng có gì ngoài phong cảnh thiên nhiên. Ánh nắng lấp lánh trên những thanh ray sắt và những viên đá ướt át dưới lòng suối, bạn khó có thể tìm thấy một khung cảnh nào bình yên hơn thế trên thế giới này. Mặc dù vậy, tôi vẫn bắt đầu cắm cổ chạy. Khom lưng thấp trong những rãnh đầm lầy, tôi chạy đến khi mồ hôi làm lòa cả mắt. Cảm giác hoảng loạn đó chỉ chịu buông tha khi tôi lên đến vành đai núi non và ngã bổ chăn thở dốc trên một sườn núi cao nhìn xuống dòng nước non trẻ của con sông nâu.

Từ điểm quan sát thuận lợi này, tôi có thể bao quát toàn bộ vùng hoang mạc kéo dài tận tuyến đường sắt và vùng đất phía nam nơi những cánh đồng xanh thay thế cho thung lũng thạch nam. Mắt tôi tinh như cú, nhưng tôi chẳng thấy thứ gì đang chuyển động trên khắp miền quê ấy. Sau đó, tôi nhìn về phía đông qua sườn núi và trông thấy một dạng phong cảnh mới — những thung lũng xanh nông choèn với bạt ngàn rừng thông và những vệt bụi mờ ảo báo hiệu sự hiện diện của những con đường lớn. Cuối cùng, tôi ngước nhìn bầu trời tháng Năm xanh thẳm, và ở đó tôi nhìn thấy thứ khiến tim tôi đập loạn nhịp...

Thấp thoáng phía nam, một cỗ máy bay đơn tầng đang bay vút lên bầu trời. Tôi đinh ninh chắc chắn như thể có ai vừa rỉ tai mình rằng chiếc máy bay đó đang lùng sục tôi, và nó chẳng thuộc về cảnh sát chút nào. Tôi nấp dưới một hố thạch nam theo dõi nó suốt một hai tiếng đồng hồ. Nó bay là đà sát những đỉnh đồi, rồi lượn những vòng hẹp qua thung lũng mà tôi vừa đi qua. Sau đó, nó dường như đổi ý, vút lên độ cao lớn rồi bay thẳng về phía nam.

Tôi chẳng mấy thích thú với trò gián điệp từ trên không này chút nào, và tôi bắt đầu thấy nghi ngờ về sự an toàn của vùng quê mà mình đã chọn làm nơi ẩn náu. Những ngọn đồi thạch nam này chẳng thể che giấu nổi nếu kẻ thù xuất hiện trên bầu trời, và tôi buộc phải tìm một chốn dung thân khác biệt hơn. Tôi nhìn vùng đất xanh tươi phía bên kia sườn đồi với vẻ hài lòng hơn, bởi ở đó tôi sẽ tìm thấy rừng cây và những ngôi nhà đá.

Khoảng sáu giờ chiều, tôi bước ra khỏi vùng hoang mạc để đến với dải đường trắng uốn lượn dọc theo thung lũng hẹp của một con suối vùng đồng bằng. Khi tôi bước theo nó, những cánh đồng nhường chỗ cho cỏ dại, thung lũng biến thành cao nguyên, và chẳng mấy chốc tôi đã đến một dạng đèo nơi một ngôi ngôi nhà cô độc đang nhả khói trong ánh chạng vạng. Con đường vắt qua một chiếc cầu, và tựa người vào thành cầu là một chàng trai trẻ.

Cậu ta đang ngậm chiếc tẩu đất dài và đăm đăm ngắm dòng nước qua cặp kính cận. Tay trái cậu cầm một cuốn sách nhỏ với một ngón tay kẹp giữ trang sách. Cậu thong thả cẩm thính ngâm nga —

Như khi một con Ô kê qua chốn hoang vu

Với bước chân có cánh, vượt đồi cao thung lũng hoang

Đuổi theo người Arimaspi.

Cậu ta giật mình quay phắt lại khi bước chân tôi vang lên trên phiến đá khóa vòm cầu, và đập vào mắt tôi là gương mặt trẻ trung, rám nắng và đầy thiện cảm.

“Chào anh,” cậu nghiêm túc lên tiếng. “Một đêm đẹp trời để đi đường đấy chứ.”

Mùi khói than bùn cùng mùi thịt quay thơm phức bay thoang thoảng từ ngôi nhà đến chỗ tôi.

“Nơi đó là quán trọ phải không?” tôi hỏi.

“Xin sẵn sàng phục vụ anh,” cậu lịch sự đáp. “Tôi là chủ quán đây, thưa anh, và tôi hy vọng anh sẽ ở lại trọ qua đêm, bởi nói thật là cả tuần nay tôi chẳng có nổi một vị khách nào trò chuyện.”

Tôi kéo mình ngồi lên lan can cầu và nhồi thuốc vào tẩu. Tôi bắt đầu linh cảm thấy một đồng minh.

“Anh còn quá trẻ để làm chủ quán trọ,” tôi nói.

“Cha tôi qua đời cách đây một năm và để lại công việc kinh doanh này cho tôi. Tôi sống ở đây với bà nội. Đó là một công việc tẻ nhạt đối với một thanh niên, và nó không phải nghề nghiệp tôi tự nguyện lựa chọn.”

“Thế nghề anh chọn là gì?”

Cậu ta thậm chí còn đỏ mặt. “Tôi muốn viết sách,” cậu đáp.

“Và còn cơ hội nào tuyệt vời hơn thế nữa chứ?” tôi kêu lên. “Anh bạn, tôi vẫn thường nghĩ rằng một chủ quán trọ sẽ là người kể chuyện vĩ đại nhất trên thế giới.”

“Giờ thì không còn thế nữa đâu,” cậu hăng hái nói. “Có lẽ là thời xưa, khi bạn có những lữ khách, những người hát rong, bọn cướp đường và những cỗ xe ngựa chở thư tín trên đường. Nhưng giờ thì hết rồi. Chẳng có gì bén mảng tới đây ngoài những chiếc xe hơi chở đầy đàn bà mập mạp dừng chân ăn trưa, vài tay câu cá vào mùa xuân, và những kẻ thuê đất đi săn vào tháng Tám. Chẳng có nhiều chất liệu để khai thác từ mấy thứ đó đâu. Tôi muốn nhìn ngắm thế giới, du ngoạn khắp nơi và viết ra những tác phẩm như Kipling hay Conrad. Nhưng điều tối đa tôi làm được cho đến nay chỉ là vài bài thơ được in trên tờ Chambers’s Journal.”

Tôi nhìn ngôi quán trọ đang rực lên ánh vàng trong buổi chiều tà dựa lưng vào những ngọn đồi nâu sẫm.

“Tôi đã bôn ba khắp chốn giang hồ, và tôi sẽ chẳng bao giờ khinh miệt một chốn ẩn tu như thế này đâu. Anh nghĩ rằng phiêu lưu chỉ có ở miền nhiệt đới hay giữa những gã đàn ông mặc áo đỏ sao? Biết đâu anh đang kề vai sát cánh với nó ngay lúc này ấy chứ.”

“Đó đúng là những gì Kipling từng nói,” cậu nói, đôi mắt sáng rực lên, và cậu đọc dăm câu thơ về việc “Lãng mạn đưa chuyến tàu 9 giờ 15 tới.”

“Vậy thì đây là một câu chuyện có thật dành cho anh,” tôi lớn tiếng, “và một tháng nữa anh có thể biến nó thành một cuốn tiểu thuyết.”

Ngồi trên lan can cầu trong buổi chiều tà tháng Năm dịu ngọt, tôi bắt đầu bịa ra một câu chuyện vô cùng ly kỳ. Bản chất cốt lõi của nó là sự thật, dẫu tôi đã thay đổi các chi tiết phụ. Tôi phao tin rằng mình là một ông trùm khai mỏ đến từ Kimberley, từng gặp rất nhiều rắc rối với bọn buôn lậu kim cương lậu và đã vạch trần một băng nhóm. Chúng đã truy đuổi tôi vượt đại dương, giết chết người bạn thân nhất của tôi, và giờ đang sát nút bám theo tôi.

Tôi kể câu chuyện rất trôi chảy, dù tự tôi nói ra có vẻ không khiêm tốn cho lắm. Tôi vẽ ra bức tranh về cuộc trốn chạy băng qua sa mạc Kalahari hướng tới vùng đất thuộc địa Đức ở châu Phi, những ngày nắng cháy da cháy thịt, những đêm nhung xanh diệu kỳ. Tôi miêu tả vụ mưu sát nhằm vào tôi trên chuyến hải trình hồi hương, đồng thời biến vụ án mạng ở Portland Place thành một thảm kịch thực sự rợn người.

“Anh đang tìm kiếm phiêu lưu đấy ư,” tôi kêu lên; “về đi, anh đã tìm thấy nó ở đây rồi. Lũ ác ma đang săn đuổi tôi, và cảnh sát thì đang săn đuổi bọn chúng. Đó là một cuộc đua mà tôi quyết tâm giành phần thắng.”

“Trời ạ!” cậu khẽ thốt lên, hít một hơi thật sâu, “đúng là hoàn toàn mang phong cách của Rider Haggard và Conan Doyle.”

“Anh tin tôi chứ,” tôi biết ơn nói.

“Đương nhiên là tôi tin rồi,” và cậu đưa tay ra bắt lấy tay tôi. “Tôi tin mọi thứ khác thường. Thứ duy nhất cần phải hoài nghi chính là sự bình thường.”

Cậu ta còn rất trẻ, nhưng lại chính là người hoàn hảo dành cho tôi lúc này.

“Tôi nghĩ hiện tại chúng đã mất dấu tôi, nhưng tôi phải ẩn náu kỹ trong vài ngày tới. Anh có thể cho tôi trú nhờ không?”

Cậu siết chặt khuỷu tay tôi vì quá phấn khích và kéo tôi hướng về phía ngôi nhà. “Anh có thể ẩn náu kín đáo ở đây chẳng khác nào đang chui dưới hố bùn sâu. Tôi sẽ lo sao cho không một ai hé môi nửa lời. Và anh sẽ kể cho tôi nghe thêm nhiều chất liệu về những cuộc phiêu lưu của mình chứ?”

Khi bước qua hiên quán trọ, tôi nghe văng vẳng từ đằng xa tiếng động cơ gầm rú. Ẩn hiện ngược sáng ở khung trời hoàng hôn u ám phía tây chính là người bạn thân mến — chiếc máy bay đơn tầng của tôi.

Cậu xếp cho tôi một căn phòng ở phía sau nhà, có tầm nhìn tuyệt đẹp bao quát cả cao nguyên, đồng thời cho phép tôi sử dụng tự do phòng làm việc riêng của cậu — nơi chất đống các ấn bản giá rẻ của những tác giả yêu thích. Tôi chẳng hề giáp mặt người bà lần nào, nên đoán chắc bà đang liệt giường. Một bà lão tên là Margit mang cơm nước đến cho tôi, và chàng chủ quán thì lúc nào cũng lảng vảng quanh tôi. Tôi cần chút thời gian riêng tư, bèn nghĩ ra một việc cho cậu ta làm. Cậu có một chiếc xe gắn máy, và tôi sai cậu sáng hôm sau đi mua tờ báo hằng ngày vốn thường được giao theo bưu điện vào buổi chiều muộn. Tôi dặn cậu phải mở to mắt quan sát, ghi chép lại mọi gương mặt lạ hoắc nào trông thấy, đồng thời đặc biệt chú ý đến xe hơi và máy bay. Xong xuôi, tôi mới ngồi xuống bắt tay vào việc nghiên cứu cuốn sổ tay của Scudder một cách thực sự nghiêm túc.

Cậu ta trở về vào giữa trưa mang theo tờ Scotsman. Chẳng có gì mới trong đó, ngoài vài bằng chứng bổ sung về Paddock và người giao sữa, cùng lời khẳng định lại rằng hung thủ đã chạy trốn về phương Bắc. Nhưng có một bài báo dài được đăng lại từ tờ Times, viết về Karolides cùng tình hình sự vụ ở vùng Balkans, dẫu không có bất kỳ đả động nào về chuyến viếng thăm nước Anh. Tôi tìm cách đuổi khéo chàng chủ quán ra ngoài suốt buổi chiều, bởi tôi đang tiến rất sát đến đích trong công cuộc tìm kiếm lời giải cho mật mã.

Như tôi đã nói với bạn, đó là một hệ thống mật mã số, và qua một quá trình thí nghiệm phức tạp, tôi đã nắm khá rõ đâu là các ký tự trống và ký tự ngắt. Rắc rối nằm ở chỗ từ khóa, và khi nghĩ đến hàng triệu từ khả dĩ mà hắn có thể sử dụng, tôi cảm thấy vô vọng khôn cùng. Thế nhưng vào khoảng ba giờ chiều, tôi chợt lóe lên một cảm hứng bất chợt.

Cái tên Julia Czechenyi xẹt qua trí nhớ tôi. Scudder từng nói đó chính là chìa khóa mở ra vấn đề Karolides, và tôi nảy ra ý định thử áp dụng nó vào hệ thống mật mã của hắn.

Nó đã khớp. Năm chữ cái trong từ “Julia” cho tôi biết vị trí của các nguyên âm. Chữ A ứng với J, chữ cái thứ mười trong bảng chữ cái, và do đó được biểu thị bằng X trong mật mã. Chữ E là U=XXI, cứ thế tiếp diễn. “Czechenyi” cung cấp cho tôi các con số đại diện cho các phụ âm chính. Tôi nguệch ngoạc viết sơ đồ đó lên một mẩu giấy và ngồi xuống đọc những trang ghi chép của Scudder.

Chỉ nửa tiếng sau, tôi đang đọc với gương mặt tái mét và những ngón tay gõ nhịp liên hồi lên mặt bàn.

Tôi ngước nhìn ra ngoài cửa sổ và thấy một chiếc xe du lịch cỡ lớn đang chạy ngược lên thung lũng hướng về phía quán trọ. Nó dừng phắt trước cửa, và có tiếng người lục tục bước xuống xe. Dường như có hai kẻ, đều mặc áo khoác aquascutum và đội mũ vải tweed.

Mười phút sau, chàng chủ quán rón rén bước vào phòng, đôi mắt ánh lên vẻ phấn khích tột độ.

“Có hai gã dưới nhà đang tìm anh đấy,” cậu thì thầm. “Bọn chúng đang ngồi trong phòng ăn uống whisky pha soda. Chúng hỏi thăm về anh và bảo rất hy vọng được gặp anh ở đây. Ồ! Hơn nữa chúng miêu tả anh cực kỳ chuẩn xác, từ đôi bốt cho đến chiếc áo sơ mi. Tôi bảo chúng rằng anh đã ghé qua đây tối hôm qua và phóng xe gắn máy rời đi từ sáng nay, thế là một trong hai gã chửi thề tục tĩu như một tên phu phen.”

Tôi gặng hỏi cậu ta diện mạo của bọn chúng thế nào. Một kẻ gầy gò, mắt thâm quầng với cặp lông mày rậm rạp, kẻ còn lại thì luôn miệng cười và nói ngọng. Không kẻ nào trong số chúng trông giống người ngoại quốc cả; về điểm này thì cậu bạn trẻ của tôi hoàn toàn chắc chắn.

Tôi cầm lấy một mẩu giấy và viết những dòng này bằng tiếng Đức như thể chúng là một phần của bức thư —

... “Đá Đen. Scudder đã lần ra manh mối này, nhưng hắn không thể hành động trong suốt nửa tháng. Tôi ngờ rằng giờ đây mình chẳng thể làm được gì hữu ích nữa, nhất là khi Karolides vẫn đang lưỡng lự về kế hoạch của lão. Nhưng nếu ngài T. khuyên nhủ, tôi sẽ cố gắng hết sức mình...”

Tôi bịa ra nó khá khéo léo, trông hệt như một trang giấy rời xé ra từ một bức thư cá nhân.

“Cầm cái này đưa xuống dưới đó và bảo rằng người ta tìm thấy nó trong phòng ngủ của tôi, rồi yêu cầu họ trả lại cho tôi nếu họ đuổi kịp tôi.”

Ba phút sau, tôi nghe thấy tiếng xe hơi bắt đầu chuyển bánh, và khi hé mắt nhìn qua rèm cửa, tôi bắt gặp bóng dáng của hai kẻ đó. Một kẻ mảnh khảnh, kẻ kia thì béo mập, mượt mà; đó là tất cả những gì tôi có thể thu nhận được qua cuộc trinh sát của mình.

Chàng chủ quán xuất hiện với vẻ vô cùng hào hứng. “Tờ giấy của anh đã đánh động bọn chúng đấy,” cậu hí hửng nói. “Gã da ngăm tái mặt đi như chết trôi và chửi rủa tơi bời, còn gã mập thì huýt sáo với vẻ mặt đầy nham hiểm. Bọn chúng trả tiền nước bằng đồng nửa sovereign và chẳng thèm đợi tiền thừa nữa.”

“Giờ tôi sẽ bảo cậu phải làm việc này nhé,” tôi nói. “Lên xe đạp và phóng ngay đến Newton-Stewart gặp Viên Cảnh sát trưởng. Hãy miêu tả hai kẻ đó, và nói rằng cậu nghi ngờ bọn chúng có liên quan đến vụ án mạng ở London. Cậu có thể tự bịa ra lý do. Cứ yên tâm là hai gã đó sẽ quay trở lại thôi. Không phải tối nay, vì chúng sẽ phải lùng đuổi theo tôi dọc theo con đường suốt bốn mươi dặm, nhưng chắc chắn là vào sáng sớm ngày mai. Hãy bảo cảnh sát có mặt ở đây thật sớm và sẵn sàng.”

Cậu ta ngoan ngoãn lên đường như một đứa trẻ, trong khi tôi tiếp tục cặm cụi nghiên cứu các ghi chép của Scudder. Khi cậu trở về, chúng tôi ăn tối cùng nhau, và để giữ phép lịch sự tối thiểu, tôi đành phải để cậu gặng hỏi thông tin. Tôi tung ra hàng loạt câu chuyện về những chuyến săn sư tử và cuộc chiến tranh Matabele, trong khi đầu óc vẫn nghĩ thầm rằng những thứ đó thật tẻ nhạt làm sao so với vụ việc mà tôi đang dấn thân vào lúc này! Khi cậu đi ngủ, tôi ngồi thức trắng đêm để đọc cho xong phần còn lại của Scudder. Tôi ngồi hút thuốc bên ghế cho đến tận rạng sáng, bởi tôi chẳng thể tài nào chợp mắt nổi.

Khoảng tám giờ sáng hôm sau, tôi tận mắt chứng kiến sự xuất hiện của hai viên cảnh sát và một viên trung sĩ. Họ cất chiếc xe hơi vào nhà xe theo sự chỉ dẫn của chàng chủ quán rồi bước vào nhà. Hai mươi phút sau, tôi nhìn qua cửa sổ thấy chiếc xe thứ hai băng qua cao nguyên từ hướng ngược lại. Nó không tiến đến quán trọ mà dừng lại cách đó hai trăm thước dưới sự che khuất của một vạt rừng nhỏ. Tôi để ý thấy những kẻ ngồi trên xe đã cẩn thận quay đầu xe lại trước khi rời đi. Chỉ một phút sau, tôi nghe thấy tiếng bước chân của họ lạo xạo trên lớp sỏi ngoài khung cửa sổ.

Kế hoạch ban đầu của tôi là ẩn nấp trong phòng ngủ và xem chuyện gì sẽ xảy ra. Tôi thoáng nghĩ rằng, nếu tôi có thể kéo cảnh sát và những kẻ săn đuổi nguy hiểm kia chạm mặt nhau, biết đâu tình thế sẽ chuyển biến có lợi cho tôi. Nhưng giờ thì tôi lại nảy ra một ý tưởng hay ho hơn. Tôi nguệch ngoạc viết mấy dòng cảm ơn gửi người chủ nhà, mở toang cửa sổ và thả mình nhẹ nhàng xuống một bụi lý gai. Băng qua con mương mà không bị ai phát hiện, tôi bò dọc theo bờ của một con suối nhánh nhỏ và ngoi lên con đường lớn ở phía bên kia vạt rừng. Chiếc xe hơi đang đỗ ở đó, vô cùng bảnh bao và sáng loáng dưới ánh nắng mai, dẫu lớp bụi bám trên thân xe tố cáo một cuộc hành trình dài đằng đẵng. Tôi khởi động máy, nhảy lên ghế lái và lặng lẽ đánh xe chầm chậm tiến ra cao nguyên.

Gần như ngay lập tức, con đường trũng xuống khiến tôi khuất hẳn tầm nhìn về phía quán trọ, nhưng cơn gió thoảng dường như mang theo âm thanh của những tiếng cãi vã giận dữ vọng lại tai tôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.