NGHIÊN CỨU TÂM LINH

Vật Lý Của Những Điều Tưởng Chừng Bất Khả

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5
NGOẠI CẢM

❊ ❊ ❊

Nếu cả ngày ta không tìm thấy điều gì mới lạ thì hôm đó là một ngày chưa trọn vẹn.

— NHÀ VẬT LÝ LÝ THUYẾT JOHN WHEELER

Chỉ những người nỗ lực vì những điều tưởng như điên rồ mới có thể đạt tới những điều tưởng chừng bất khả.

— HỌA SĨ ĐỒ HỌA M. C. ESCHER

Cuốn tiểu thuyết Slan của nhà văn A. E. van Vogt đã cho thấy tiềm năng to lớn của sức mạnh ngoại cảm, đồng thời lột tả nỗi sợ hãi thầm kín nhất của chúng ta về nó.

Jommy Cross, nhân vật chính của câu chuyện, là một “slan”, một chủng tộc có trí thông minh siêu việt và khả năng ngoại cảm, đang trên đà tuyệt chủng.

Cha mẹ anh bị một đám đông giận dữ giết hại dã man. Những người này sợ hãi và khinh miệt khả năng ngoại cảm vì lo ngại sức mạnh to lớn của những nhà ngoại cảm có thể xâm phạm đời tư của họ, kể cả những suy nghĩ thầm kín nhất. Con người nhẫn tâm săn đuổi các slan, giống như săn thú vật. Với những chiếc râu đặc trưng trên đầu, các slan rất dễ bị nhận diện. Mạch truyện chính mô tả việc Jommy cố gắng liên lạc với các slan, trốn ra ngoài không gian để thoát khỏi sự săn lùng của loài người.

Về phương diện lịch sử, khả năng đọc ý nghĩ được coi là quan trọng đến nỗi nó thường liên quan tới thánh thần. Một trong những quyền lực mạnh mẽ nhất của bất cứ vị thần nào là khả năng đọc suy nghĩ người khác, nhờ đó, phản hồi lại được những lời cầu nguyện thầm kín. Một nhà ngoại cảm thực sự đọc được ý nghĩ của người khác có thể dễ dàng trở nên giàu có và quyền lực bậc nhất thế giới vì họ biết những ông chủ nhà băng phố Wall đang nghĩ gì và dùng nó để tống tiền hay cưỡng ép các đối thủ. Người đó sẽ trở thành mối đe dọa đối với an ninh chính phủ, có thể dễ dàng đánh cắp những bí mật quốc gia nhạy cảm. Giống như các slan, người đó sẽ gây sợ hãi và có thể bị săn đuổi.

Sức mạnh to lớn của một nhà ngoại cảm thực sự được nêu bật trong loạt truyện nổi tiếng Foundation (Kiến tạo) của văn hào Isaac Asimov, thường được quảng bá là thiên sử thi khoa học viễn tưởng lớn nhất mọi thời đại. Trong truyện, một đế quốc Thiên hà hàng ngàn năm tuổi đang trên bờ vực suy tàn và sụp đổ. Bằng các phương trình phức tạp, một hội kín gồm các nhà khoa học, tự xưng là là những nhà kiến tạo ẩn mình, đã tiên đoán Đế quốc sẽ sụp đổ và nền văn minh của họ sẽ bị chôn vùi trong 30.000 năm tăm tối. Họ phác thảo một kế hoạch tỉ mỉ dựa trên các phương trình này nhằm giảm thiểu quãng thời gian suy tàn của nền văn minh. Nhưng rồi thảm họa vẫn xảy ra. Các phương trình phức tạp của họ đã không thể tiên đoán một sự kiện nhỏ: sự ra đời của một người đột biến tên Mule, có khả năng điều khiển suy nghĩ từ xa và do đó nắm luôn quyền điều khiển Đế quốc Thiên hà. Thiên hà sẽ bị đọa đày trong 30.000 năm tăm tối và hỗn loạn nếu khả năng ngoại cảm của Mule không bị chặn lại.

Mặc dù khoa học viễn tưởng đầy rẫy những câu chuyện tuyệt vời liên quan tới khả năng ngoại cảm như vậy, nhưng sự thật lại trần trụi hơn nhiều. Vì suy nghĩ mang tính cá nhân và vô hình nên suốt nhiều thế kỷ, những tên lang băm và những kẻ bịp bợm đã tận dụng nó để lợi dụng sự ngây thơ và cả tin của nhiều người. Một mánh đơn giản của các ảo thuật gia và các nhà tâm thần học là sử dụng “chân gỗ” — đây là một cộng sự được cài trong đám khán giả và người chủ trò có thể dễ dàng “đọc” ý nghĩ của vị “khán giả” này.

Thực tế, công việc của một số ảo thuật gia và tâm thần học dựa trên “thủ thuật chiếc mũ” nổi tiếng, trong đó khán giả được yêu cầu viết những thông điệp cá nhân lên các mẩu giấy rồi đặt chúng vào trong một chiếc mũ. Sau đó, trước sự ngỡ ngàng của khán giả, nhà ảo thuật sẽ nói cho họ biết những gì được viết trên các mẩu giấy. Có một cách lý giải đơn giản vô cùng cho mánh lới tinh vi này (xem trong phần chú thích).

Một trường hợp ngoại cảm nổi tiếng lại không gắn liền với một chân gỗ mà với một con vật, đó là chú ngựa thông minh Clever Hans, từng gây ngạc nhiên cho khán giả châu Âu vào những năm 1890. Trước sự sửng sốt của người xem, Clever Hans có thể thực hiện những phép tính phức tạp. Ví dụ, nếu ta yêu cầu Clever Hans lấy 48 chia cho 6, chú sẽ gõ móng xuống đất 8 lần. Clever Hans có thể thực hiện phép chia, phép nhân, cộng các phân số, đánh vần, thậm chí nhận biết các nốt nhạc. Người hâm mộ Clever Hans tuyên bố chú ngựa này thông minh hơn cả con người, hoặc chú có thần giao cách cảm với não bộ của con người.

Nhưng Clever Hans không phải là sản phẩm của những trò bịp khéo léo. Khả năng tính toán đại số tuyệt vời của Clever Hans thậm chí còn gây ngỡ ngàng cho cả người huấn luyện chú. Năm 1904, nhà tâm lý học lỗi lạc — giáo sư C. Strumpf — được đề nghị phân tích khả năng của chú ngựa và ông không tìm thấy bằng chứng rõ ràng nào về sự lừa đảo hay việc ra dấu kín cho chú ngựa. Điều này càng khiến cộng đồng thêm ngưỡng mộ Clever Hans. Tuy nhiên, ba năm sau, một học trò của Strumpf là nhà tâm lý học Oskar Plungst đã tiến hành những bài kiểm tra chặt chẽ hơn dành cho Clever Hans và cuối cùng đã khám phá ra bí mật của nó. Tất cả những gì chú ngựa đã làm là quan sát biểu cảm tinh tế trên khuôn mặt người nài ngựa. Chú sẽ tiếp tục gõ móng xuống đất cho đến khi biểu cảm trên khuôn mặt người huấn luyện thay đổi thì ngừng lại. Clever Hans không đọc được ý nghĩ của con người hay thực hiện được phép tính đại số nào cả, chú chỉ đơn giản là giỏi quan sát các biểu cảm trên khuôn mặt người.

Lịch sử cũng ghi nhận những động vật “thần giao cách cảm” khác. Vào đầu năm 1591, chú ngựa Morocco trở nên nổi tiếng ở Anh và làm giàu cho chủ nó bằng cách chỉ đúng vào những chữ cái mà khán giả yêu cầu và làm phép cộng tổng số chấm tròn trên một cặp xúc xắc. Morocco tạo cho người Anh cảm giác như thể Shakespeare đã lấy cảm hứng từ chú để xây dựng “chú ngựa nhảy múa” trong vở kịch Loves Labour’s Last (Uổng sức yêu đương) của ông.

Những tay cờ bạc cũng có khả năng đọc được ý nghĩ của người khác trong chừng mực nhất định. Khi một người cảm thấy thoải mái, đồng tử thường giãn ra. Khi họ thấy gì đó không ưng ý (hay khi họ thực hiện tính toán), đồng tử sẽ co lại. Những con bạc có thể đọc được cảm xúc của đối phương bằng cách quan sát xem đồng tử của đối phương đang giãn ra hay co lại. Đó là lý do những tay cờ bạc thường đeo kính sẫm màu, nhằm che đậy sự thay đổi của đồng tử. Chúng ta cũng có thể chiếu một chùm laser yếu lên đồng tử một người và phân tích chùm tia phản xạ lại, nhờ đó xác định được chính xác người này đang nhìn đi đâu. Bằng cách phân tích chuyển động của những đốm laser phản xạ lại, chúng ta xác định được họ đang quan sát một bức tranh như thế nào. Kết hợp hai kỹ thuật này, chúng ta sẽ xác định được phản ứng cảm xúc của một người khi đang xem một bức tranh, trong khi người này hoàn toàn không hay biết gì.

Những nghiên cứu khoa học đầu tiên về khả năng ngoại cảm và các hiện tượng huyền bí khác do Hội Nghiên cứu Tâm linh, thành lập năm 1882 tại London thực hiện. (Thuật ngữ “thần giao cách cảm” [mental telepathy] được thành viên của hội là F. W. Myers đưa ra cùng năm đó.) Các thế hệ chủ tịch của hội bao gồm những nhân vật nổi tiếng bậc nhất thế kỷ 19. Hội vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Dù có thể vạch trần những tuyên bố lừa gạt của nhiều kẻ bịp bợm, nhưng bản thân hội cũng chia làm hai trường phái. Trường phái duy linh có niềm tin sâu sắc vào các hiện tượng siêu nhiên, còn trường phái duy vật muốn thực hiện những nghiên cứu mang tính khoa học nghiêm túc hơn.

Năm 1927, tiến sĩ Joseph Banks Rhine, một nhà nghiên cứu có liên hệ với Hội ở Anh, bắt đầu thực hiện những nghiên cứu nghiêm túc và có tính hệ thống về các hiện tượng tâm linh tại Mỹ, lập nên Viện Rhine (nay là Trung tâm Nghiên cứu Rhine) tại Đại học Duke, Bắc Carolina. Trong nhiều năm, ông cùng vợ là Louisa đã thực hiện những thí nghiệm khoa học có kiểm soát đầu tiên ở Mỹ về nhiều hiện tượng cận tâm lý học[1] và xuất bản các công trình này dưới dạng sách bình duyệt. Chính Rhine là người sáng tạo ra thuật ngữ “giác quan thứ sáu” trong một trong những cuốn sách đầu tiên của mình.

Thực tế, phòng thí nghiệm của Rhine đã đặt ra chuẩn mực cho lĩnh vực nghiên cứu tâm linh. Một trong những phụ tá của ông là tiến sĩ Karl Zener đã phát triển một bộ bài năm ký tự, nay được gọi là bộ bài Zener, để phân tích sức mạnh của khả năng ngoại cảm. Phần lớn các kết quả nghiên cứu không cho thấy bằng chứng nào về hiện tượng ngoại cảm, nhưng một số ít dường như hàm chứa những mối liên hệ dữ liệu tuy nhỏ nhưng đáng chú ý, khó có thể là ngẫu nhiên được. Chỉ có một vấn đề là thường thì các nhóm nghiên cứu khác không thể tái lập lại các thí nghiệm này.

Nỗ lực gây dựng tiếng tăm của Rhine ít nhiều bị ảnh hưởng trong vụ việc chú ngựa Lady Wonder. Chú ngựa này có những ngón nghề gây sửng sốt về khả năng ngoại cảm, như gõ vào các khối đồ chơi có in chữ cái, đánh vần những từ mà người xem đang nghĩ đến. Rõ ràng là Rhine không biết về chú ngựa Clever Hans. Năm 1927, Rhine đã phân tích chi tiết khả năng của Lady Wonder và đi đến kết luận: “Chỉ còn lại một khả năng để lý giải cho điều này, đó là hiện tượng ngoại cảm, một quá trình truyền dẫn các ảnh hưởng thần kinh mà chúng ta chưa biết đến.” Sau này, nhà ảo thuật người Mỹ Milbourne Christopher đã tiết lộ nguồn gốc thực sự của khả năng ngoại cảm ở Lady Wonder: những chuyển động tinh tế của chiếc roi da mà người huấn luyện cầm trên tay. Chính những chuyển động này đã ra hiệu cho Lady Wonder ngừng gõ móng guốc. (Nhưng kể cả khi sự thật được phơi bày, Rhine vẫn tin rằng Lady Wonder thực sự có khả năng ngoại cảm, nhưng bằng cách nào đó nó đã đánh mất sức mạnh đó, khiến cho chủ nhân của nó sau này phải viện tới những mánh lới trên.)

Tuy nhiên, danh tiếng của Rhine tan thành mây khói khi ông chuẩn bị nghỉ hưu. Thời điểm đó, ông đang tìm kiếm một người kế nhiệm có tiếng tăm để tiếp tục công việc ở Viện. Một ứng viên đầy hứa hẹn là tiến sĩ Walter Levy, được ông thuê vào năm 1973. Là ngôi sao đang lên trong lĩnh vực cận tâm lý học, tiến sĩ Levy thông báo một số kết quả gây xôn xao dư luận, rằng dường như ông đã chứng tỏ được những con chuột có thể làm thay đổi các bộ đếm số ngẫu nhiên của máy tính thông qua thần giao cách cảm. Tuy nhiên, các nhân viên của phòng thí nghiệm cảm thấy nghi ngờ và đã phát hiện việc tiến sĩ Levy lén lút lẻn vào phòng thí nghiệm ban đêm để thay đổi kết quả thí nghiệm. Những thí nghiệm sau đó đều cho thấy những con chuột không có chút khả năng ngoại cảm nào, còn tiến sĩ Levy bị buộc phải ngưng công việc tại Viện trong tủi nhục.

NGOẠI CẢM VÀ CHƯƠNG TRÌNH STAR GATE

Mối quan tâm dành cho các hiện tượng tâm linh lên đến đỉnh điểm vào giai đoạn cao trào của Chiến tranh Lạnh. Trong thời gian này, nhiều thí nghiệm bí mật về ngoại cảm, điều khiển bằng ý nghĩ và thấu thị được thực hiện. (Thấu thị là sử dụng đầu óc để “nhìn thấy” một địa điểm ở xa, bằng cách đọc suy nghĩ của người khác). Star Gate là bí danh của một số nghiên cứu bí mật được CIA bảo trợ (như Sun Streak, Grill Flame và Center Lane), bắt đầu vào khoảng năm 1970 khi CIA kết luận rằng Liên Xô đã chi ra 60 triệu rúp mỗi năm để nghiên cứu các “thiết bị ám thị”. Mỹ lo ngại Liên Xô sẽ sử dụng giác quan thứ sáu để định vị các tàu ngầm và căn cứ quân sự của mình, hoặc nhận diện các điệp viên và đọc các giấy tờ bí mật.

Kinh phí bắt đầu được rót xuống cho các nghiên cứu của GIA vào năm 1972. Russell Targ và Harold Puthoff thuộc Viện Nghiên cứu Stanford ở Menlo Park được chỉ định vào nhiệm vụ này. Ban đầu, họ tìm kiếm và huấn luyện một nhóm người có khả năng điều khiển bằng ý nghĩ để tham gia vào “cuộc chiến tâm linh”. Trải qua hơn hai thập kỷ, chương trình Star Gate đã ngốn của Mỹ 20 triệu đô-la để trả lương cho hơn 40 nhân viên, 23 người có khả năng thấu thị và ba nhà tâm linh.

Với kinh phí 500.000 đô-la mỗi năm, cho đến năm 1995, CIA đã tiến hành hàng trăm chiến dịch do thám với hàng ngàn lượt thấu thị. Đặc biệt, những người thấu thị này được yêu cầu:

• Xác định vị trí của Muammar Gaddah[2] trước khi Mỹ ném bom xuống Lybia vào năm 1986

• Tìm kiếm kho dự trữ plutoni ở Triều Tiên vào năm 1994

• Xác định vị trí của nạn nhân bị nhóm khủng bố Lữ đoàn Đỏ bắt cóc tại Ý vào năm 1981

• Xác định vị trí máy bay ném bom Tu-95 của Liên Xô bị rơi ở châu Phi

Năm 1995, CIA yêu cầu Viện Nghiên cứu Mỹ AIR đánh giá hiệu quả của chương trình này. AIR đề nghị hủy bỏ chương trình. “Không có bất cứ bằng chứng cụ thể nào cho thấy chương trình có giá trị đối với cộng đồng văn minh của chúng ta.” David Goslin trình bày trong văn bản phản biện của AIR.

Những người đề xướng chương trình Star Gate khoác lác rằng qua chừng ấy năm họ cũng đã thu được những kết quả ngoạn mục đáng ăn mừng. Tuy nhiên, giới phê bình kiên định rằng kết quả chính mà việc thấu thị đạt được là những thông tin không thích hợp, vô ích và làm lãng phí tiền thuế của dân; vài kết quả “quan trọng” mà họ thực hiện được thì lại khá mập mờ và quá chung chung, có thể áp dụng cho bất kỳ tình huống nào. Báo cáo của AIR cho rằng “thành công” vang dội của chương trình Star Gate liên quan đến những người thấu thị vốn đã biết trước về các tổ chức mà họ đang nghiên cứu, nên mới có thể đưa ra những dự đoán có vẻ hợp lý.

Cuối cùng, CIA cũng phải đi đến kết luận rằng chương trình Star Gate không mang lại chút thông tin đặc biệt nào giúp nhân viên của họ định hướng hoạt động tình báo, do đó họ quyết định hủy bỏ chương trình. (Có đồn đoán rằng CIA đã sử dụng những người thấu thị để xác định vị trí của Saddam Hussein trong Chiến tranh vùng Vịnh 1990 — 1991, dù đều không thành công.)

QUÉT NÃO

Cũng trong giai đoạn này, các nhà khoa học bắt đầu có những hiểu biết về cơ chế vật lý chi phối hoạt động của bộ não. Các nhà khoa học thế kỷ 19 ngờ vực rằng những tín hiệu điện lan truyền bên trong bộ não. Năm 1875, Richard Caton phát hiện ra rằng khi gắn các điện cực lên bề mặt da đầu, ta có thể dò được các tín hiệu điện yếu ớt phát ra từ não bộ. Phương pháp này mở đường cho phát minh máy ghi điện não đồ (EEG — electroencephalograph).

Về nguyên tắc, bộ não là một máy truyền tín hiệu, trong đó suy nghĩ của chúng ta được phát ra dưới dạng những tín hiệu điện yếu ớt và các sóng điện từ. Tuy nhiên, sử dụng được các tín hiệu này để đọc suy nghĩ của con người thì còn nhiều khó khăn. Trước hết, các tín hiệu này rất yếu, chỉ khoảng vài miliwatt. Thứ hai, chúng rất hỗn tạp nên khó phân biệt với các tín hiệu làm nhiễu. Thông tin lọc ra từ mớ hổ lốn này về suy nghĩ của chúng ta là rất thô sơ. Thứ ba, bộ não của chúng ta không có khả năng thu những thông tin tương tự từ bộ não của người khác thông qua các tín hiệu điện não, nói cách khác, chúng ta thiếu một ăng-ten thu sóng. Và cuối cùng, ngay cả khi thu được các tín hiệu yếu ớt này thì chúng ta cũng không thể phục hồi chúng về nguyên bản được. Theo vật lý Newton và Maxwell thông thường thì ngoại cảm sử dụng sóng vô tuyến dường như bất khả thi.

Một số người tin rằng ngoại cảm được một lực thứ năm, là lực “psi”, truyền dẫn. Nhưng thậm chí những người theo quan điểm cận tâm lý học cũng phải thừa nhận không có bằng chứng rõ ràng và không thể tái tạo được một lực như vậy.

Nhưng điều này lại mở ra câu hỏi: Liệu có thể sử dụng lý thuyết lượng tử để mô tả và thực hiện hiện tượng ngoại cảm?

Trong thập niên vừa qua, những thiết bị mới vận dụng vật lý lượng tử đã được phát minh, giúp chúng ta lần đầu tiên trong lịch sử có thể quan sát cách thức mà bộ não suy nghĩ. Dẫn đầu cuộc cách mạng công nghệ lượng tử này là máy chụp cắt lớp sử dụng bức xạ positron PET và máy chụp cộng hưởng từ MRI. Phương pháp chụp PET được tiến hành bằng cách bơm một lượng đường phóng xạ vào máu. Lượng đường này tập trung trong các phần não đang diễn ra quá trình suy nghĩ. Vì suy nghĩ đòi hỏi năng lượng nên nó giúp kích hoạt tính phóng xạ của lượng đường này. Đường phóng xạ phát ra các hạt positron (phản hạt của electron) có thể dò thấy dễ dàng. Như vậy, bằng cách lần theo dấu vết của các hạt phản vật chất được phát ra từ bộ não đang hoạt động, người ta có thể thu được các hình mẫu của suy nghĩ, tách biệt chính xác phần não nào đang có hoạt động gì.

Máy MRI vận hành theo cách tương tự, nhưng chính xác hơn. Đầu người bệnh được đặt trong một từ trường có dạng chiếc bánh vòng lớn. Từ trường khiến hạt nhân của các nguyên tử trong não sắp xếp dọc theo các đường sức từ. Một xung sóng vô tuyến được chiếu vào người bệnh, khiến các hạt nhân nguyên tử này dao động. Khi hạt nhân bị đảo hướng, chúng phát ra một tín hiệu vô tuyến nhỏ nhưng dò được, đánh dấu sự hiện diện của hạt nhân bên trong não. Ví dụ, hoạt động của bộ não gắn liền với quá trình tiêu thụ ôxi nên máy MRI có thể nhận ra động thái suy nghĩ bằng cách tập trung vào sự hiện diện của máu bão hòa ôxi. Nơi nào tập trung càng nhiều máu bão hòa ôxi thì hoạt động thần kinh nơi đó càng mạnh. (Ngày nay “máy MRI chức năng” hay fMRI có thể tập trung vào những vùng não bộ nhỏ cỡ milimét chỉ trong vài tích tắc, khiến nó trở thành thiết bị lý tưởng để lần ra những hình mẫu suy nghĩ của bộ não đang hoạt động.)

MÁY PHÁT HIỆN NÓI DỐI MRI

Với máy MRI, sẽ đến một ngày các nhà khoa học có thể giải mã những nét đại cương của các suy nghĩ trong bộ não. Bài kiểm tra “đọc ý nghĩ” đơn giản nhất là dùng nó để xác định ai đó có nói dối hay không.

Tương truyền, chiếc máy phát hiện nói dối đầu tiên trên thế giới được một giáo sĩ Ấn Độ tạo ra vài thế kỷ trước. Ông cho nghi phạm cùng một “con lừa thần” vào phòng kín, và yêu cầu khi vào phòng, nghi phạm hãy nắm lấy đuôi con lừa. Nếu con lừa phát ra tiếng kêu thì nghĩa là nghi phạm nói dối. Nếu con lừa vẫn im lặng thì tức là nghi phạm nói thật. (Thật ra, vị giáo sĩ đã bí mật bôi nhọ nồi lên đuôi lừa từ trước.)

Khi được đưa ra khỏi phòng, nghi phạm thường tuyên bố rằng mình vô tội vì con lừa không phát ra tiếng kêu khi mình nắm đuôi nó. Lúc bấy giờ, giáo sĩ sẽ kiểm tra bàn tay nghi phạm. Nếu tay hắn sạch sẽ thì nghĩa là hắn nói dối. (Đôi khi việc dọa dùng máy kiểm tra nói dối còn hiệu quả hơn cả chính chiếc máy ấy.)

“Con lừa thần” đầu tiên trong lịch sử hiện đại được tạo ra vào năm 1913, khi nhà tâm lý học William Marston phân tích thấy huyết áp con người thường tăng khi họ nói dối. (Quan sát này thực ra có nguồn gốc từ thời xưa; khi đó một nghi phạm bị chất vấn trong lúc một điều tra viên nắm tay hắn.) Y tưởng này nhanh chóng được đón nhận và không lâu sau đó, Bộ Quốc phòng Mỹ đã thành lập Viện Nghiên cứu Nói dối Sử dụng Phương pháp Đo điện tim.

Nhưng sau nhiều năm, người ta ngày càng thấy rõ rằng các thiết bị phát hiện nói dối như vậy có thể bị những kẻ rối loạn nhân cách qua mặt, vì họ vốn chẳng hề ăn năn trước tội ác của mình. Nổi tiếng nhất là trường hợp của điệp viên hai mang Aldrich Ames của CIA — kẻ đã đút túi bộn tiền của Liên Xô do tiết lộ bí mật của hạm đội tàu hạt nhân Mỹ, và gửi cho chính phủ nước này mã số của các điệp viên Mỹ, dẫn đến cái chết của nhiều người. Ames dễ dàng vượt qua hàng loạt bài kiểm tra nói dối của CIA từ năm này qua năm khác. Một trường hợp tương tự là tên giết người hàng loạt Gary Ridgway — kẻ được biết đến với biệt danh Kẻ thủ ác Sông Xanh khét tiếng — đã giết hại 50 phụ nữ.

Năm 2003, Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ đã đưa ra một báo cáo gay gắt về độ tin cậy của các thiết bị phát hiện nói dối, liệt kê tất cả các khả năng mà loại thiết bị này có thể bị qua mặt khiến người vô tội bị kết án oan.

Nhưng nếu máy phát hiện nói dối xác định được mức độ lo âu thì liệu nó có thể đo đạc được chính bộ não hay không? Ý tưởng về việc khám phá cách thức hoạt động của bộ não để phát hiện nói dối đã xuất hiện hơn hai thập niên trước khi Peter Rosenfeld thuộc Đại học Northwestern quan sát thấy hình ảnh quét điện não đồ ở thang sóng P300 của một người đang nói dối rất khác so với hình ảnh tương ứng của những người đang nói thực. (Sóng P300 thường được kích thích khi bộ não gặp các vấn đề lạ thường.)

Ý tưởng sử dụng máy quét MRI để nhận biết nói dối là đứa con tinh thần của Daniel Langleben thuộc Đại học Pennsylvania. Năm 1999, ông tình cờ đọc được một bài nghiên cứu rằng trẻ bị hội chứng rối loạn giảm chú ý (ADD) sẽ khó lòng nói dối, nhưng từ kinh nghiệm của mình ông biết điều này là sai; những đứa trẻ này không có vấn đề gì về khả năng nói dối, mà khó khăn thực sự của chúng là kiềm chế nói thật. “Chúng sẽ buột ra những lời nói thật.” Langleben cho biết. Ông phỏng đoán rằng để nói dối, trước tiên não phải dừng những ý nghĩ trung thực rồi sau đó mới tạo ra những lời nói dối. “Khi nói dối có chủ đích, ta đồng thời phải giữ sự thật trong đầu mình. Điều này khiến não phải hoạt động nhiều hơn.” Nói cách khác, dối trá là một việc khó.

Thông qua những thí nghiệm nói dối với sinh viên của mình, Langleben sớm nhận ra rằng khi nói dối, một vài khu vực não sẽ hoạt động mạnh hơn, như thùy trán (nơi tập trung những suy nghĩ phức tạp), thùy thái dương và hệ viền (nơi diễn ra hoạt động cảm xúc). Đặc biệt, ông chú ý đến hoạt động bất thường trong vùng não hồi đai phía trước (khu vực gắn liền với hoạt động giải quyết các xung đột và kiềm chế các phản ứng).

Ông tuyên bố chắc nịch rằng phương pháp của mình thành công đến 99% trong các thí nghiệm xác định nói dối có kiểm soát (trong thí nghiệm, ông yêu cầu các sinh viên nói dối về những lá bài trong tay họ).

Mối quan tâm dành cho công nghệ này trở nên rõ ràng khi hai dự án thương mại được khởi động, cung cấp cho công chúng dịch vụ xác định nói dối. Năm 2007, công ty No Lie MRI đã nhận vụ đầu tiên, trong đó một người kiện công ty bảo hiểm vì bị công ty này cho là cố tình đốt tiệm ăn của mình. (Máy fMRI đã cho thấy anh ta không chủ đích gây ra vụ hỏa hoạn.)

Những người khởi xướng công nghệ Langleben tuyên bố kỹ thuật của họ đáng tin cậy hơn nhiều so với máy phát hiện nói dối kiểu cũ, vì việc thay đổi hình trạng của bộ não vượt quá khả năng của con người. Con người có thể rèn luyện để điều khiển nhịp tim và việc tiết mồ hôi, nhưng không thể điều khiển hình trạng của bộ não. Những người khởi xướng tự tin rằng trong thời đại khủng bố gia tăng như hiện nay, công nghệ Langleben có thể cứu mạng nhiều người nhờ sớm phát hiện ra những tên khủng bố.

Dù thừa nhận công nghệ này có tỷ lệ thành công khá cao trong việc nhận biết nói dối, nhưng giới phê bình cũng chỉ ra rằng máy fMRI không thực sự phát hiện nói dối mà chỉ xác định các hoạt động tăng cường của bộ não khi người ta nói dối. Thiết bị này có thể cho kết quả sai lệch, chẳng hạn như khi một người nói thật nhưng lại đang trong trạng thái lo âu cao độ. Máy fMRI chỉ dò thấy cảm giác lo âu chứ không thực sự cho thấy người đó có đang nói dối hay không. “Người ta khát khao đến khó tin việc được sở hữu những công cụ có thể tách biệt sự thật khỏi những điều dối trá, khoa học phải chịu trách nhiệm cho việc này.” Nhà sinh học thần kinh Steven Hyman thuộc Đại học Harvard cảnh báo.

Một số nhà phê bình lại lo ngại rằng cũng giống như khả năng ngoại cảm, máy phát hiện nói dối có thể khiến các tương tác xã hội thông thường trở nên căng thẳng, bởi đôi khi nói dối giúp xã hội vận hành trơn tru hơn. Chẳng hạn, uy tín của chúng ta có thể bị lung lay nếu tất cả những lời khen tặng mà chúng ta dành cho ông chủ, cấp trên, vợ hoặc chồng, người yêu hay đồng nghiệp, bị phơi bày ra là toàn những lời dối trá. Thậm chí, máy phát hiện nói dối còn có thể tiết lộ những bí mật gia đình, cảm xúc thầm kín, mộng tưởng bị kìm nén và cả các kế hoạch bí mật. Như lời của cây bút chuyên viết về khoa học David Jones, một thiết bị phát hiện nói dối thực sự “giống như một quả bom nguyên tử, tốt nhất nên được dự trữ như một vũ khí tối thượng. Nếu thiết bị này lọt ra ngoài phòng xử án, nó sẽ khiến đời sống xã hội bị đảo lộn toàn diện.”

MÁY CHUYỂN NGỮ ĐA NĂNG

Một số người có lý khi chỉ trích việc quét não vì ngay cả những bức ảnh đẹp nhất chụp bộ não đang suy nghĩ cũng vẫn quá thô sơ để có thể đo lường những ý nghĩ đơn lẻ và tách biệt. Hàng triệu neuron có thể hoạt động cùng lúc khi chúng ta thực hiện một thao tác thần kinh đơn giản nhất nhưng máy fMRI chỉ hiển thị nó là một chấm nhỏ trên màn hình. Một nhà tâm lý học từng so sánh việc quét não với việc cố gắng lắng nghe lời nói của người ngồi cạnh khi cả hai cùng xem một trận cầu sôi động. Âm thanh của hai người sẽ bị tiếng ồn của hàng ngàn khán giả khác át đi mất. Ví dụ, đoạn não nhỏ nhất mà máy fMRI có thể phân tích với độ tin cậy cao là “voxel”, nhưng mỗi voxel lại tương ứng với vài triệu neuron, vì vậy độ nhạy của một máy fMRI không đủ để cô lập từng ý nghĩ riêng biệt.

Khoa học viễn tưởng đôi khi sử dụng “máy chuyển ngữ đa năng” — là thiết bị có thể đọc ý nghĩ của một người rồi chiếu trực tiếp những ý nghĩ này vào đầu người khác. Trong một số tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, người ngoài hành tinh lại có khả năng ngoại cảm để áp đặt suy nghĩ vào trí não chúng ta, mặc dù họ không hiểu được ngôn ngữ của con người. Trong bộ phim khoa học viễn tưởng năm 1976 mang tên Future World (Thế giới tương lai), giấc mơ của một người phụ nữ được chiếu lên màn hình tivi trong thời gian thực. Còn trong bộ phim Eternal Sunshine of the Spotlees Mind (Ánh dương vĩnh cửu của một tâm hồn thuần khiết) được sản xuất năm 2004 của Jim Carrey, các bác sĩ xác định được vị trí của những ký ức đau buồn và xóa chúng đi.

“Đó là điều kỳ diệu mà bất cứ ai làm việc trong lĩnh vực này cũng mong muốn.” Nhà khoa học thần kinh John Haynes thuộc Viện Max Planck tại Leipzig, Đức cho biết. “Nhưng muốn chế tạo một thiết bị như vậy, bạn phải ghi nhận được thông tin từ một neuron thần kinh đơn lẻ”

Vì việc dò bắt các tín hiệu từ một neuron đơn lẻ vượt quá tầm truy vấn hiện nay của chúng ta, một số nhà tâm lý học đã cố gắng làm theo cách đơn giản hơn: giảm nhiễu và cô lập các hình mẫu fMRI mà những cá thể tạo ra. Chẳng hạn, chúng ta có thể nhận ra các hình mẫu fMRI do các từ riêng lẻ tạo ra, sau đó xây dựng một “bộ từ điển ý nghĩ”.

Ví dụ, nhà nghiên cứu Marcel A. Just thuộc Đại học Carnegie-Mellon đã có thể nhận ra các hình mẫu fMRI do một nhóm nhỏ vật thể được chọn lựa tạo ra (cụ thể là bộ dụng cụ làm mộc). “Chúng tôi có 12 dụng cụ và có thể xác định chính xác từ 80 đến 90% cái nào trong số chúng đang được những người tham gia thí nghiệm nghĩ đến.” Ông cho biết.

Đồng nghiệp của ông là nhà khoa học máy tính Tom Mitchell đang sử dụng công nghệ vi tính, như các mạng neuron, để nhận ra mối liên hệ giữa các hình mẫu phức tạp của bộ não mà máy fMRI dò ra và việc thực hiện các thí nghiệm xác định. “Một thí nghiệm mà tôi rất thích là tìm ra những từ ngữ khiến hoạt động của bộ não thể hiện rõ rệt nhất.” Ông cho biết thêm.

Nhưng ngay cả khi chúng ta tạo ra được một bộ từ điển ý nghĩ thì việc chế tạo một “máy chuyển ngữ đa năng” cũng vẫn còn xa vời. Không giống như máy chuyển ngữ đa năng có thể truyền trực tiếp suy nghĩ của người khác vào trí não chúng ta, máy chuyển ngữ thần kinh fMRI sẽ trải qua nhiều bước phức tạp: đầu tiên là nhận ra những hình mẫu fMRI nhất định, kế đến là chuyển đổi chúng thành các từ, sau đó mới phát chúng đến chủ thể. Như vậy, thiết bị này không thể tương tự với kiểu “chia sẻ suy nghĩ” trong phim Star Trek được (nhưng nó sẽ rất hữu ích với những người bị đột quỵ).

MÁY QUÉT MRI CẦM TAY

Một chướng ngại khác để đưa việc ngoại cảm vào thực tiễn lại nằm ở kích thước của máy fMRI. Nó là một cỗ máy khổng lồ có giá vài triệu đô-la, nặng hàng tấn và chiếm trọn cả căn phòng. Trái tim của máy MRI là một nam châm lớn có dạng chiếc bánh vòng, với đường kính vài mét, có thể tạo ra một từ trường khổng lồ có cường độ lên đến vài tesla. (Từ trường này mạnh đến nỗi có thể thổi bay những chiếc búa và các dụng cụ kim loại khác đặt trong phòng, khi nó vô tình được khởi động, gây tổn thương nghiêm trọng cho nhân viên vận hành.)

Gần đây, hai nhà vật lý Igor Savukov và Michael Romalis thuộc Đại học Princeton đã đề xuất một công nghệ mới có thể sẽ tạo ra một chiếc máy MRI cầm tay thực sự, giảm giá thành chiếc máy fMRI hàng trăm lần. Họ cho rằng có thể thay thế nam châm khổng lồ trong máy MRI bằng các từ kế nguyên tử siêu nhạy, có khả năng dò được các từ trường rất nhỏ.

Đầu tiên, Savukov và Romalis tạo ra một cảm biến từ trường từ hơi kali nóng lơ lửng trong khí heli. Khi đó, họ sử dụng ánh sáng laser để định hướng spin cho các electron trong nguyên tử kali. Tiếp theo, họ đặt một mẫu nước (tượng trưng cho cơ thể con người) vào trong một từ trường yếu. Sau đó, họ chiếu một xung sóng vô tuyến vào mẫu nước này, khiến các phân tử nước trong mẫu bắt đầu dao động. “Tiếng vọng” phát ra từ các phần tử nước đang dao động khiến các electron của nguyên tử kali dao động theo — một chùm laser thứ hai có thể dò thấy dao động này. Từ đây, họ thu được kết quả quan trọng: ngay cả một từ trường yếu cũng có thể tạo ra “tiếng vọng” mà các cảm biến bắt được. Chúng không chỉ thay thế được từ trường lớn khủng khiếp của máy MRI thông thường bằng một từ trường yếu mà còn chụp được ảnh ngay tức thì (trong khi máy MRI phải mất đến 20 phút).

Về lý thuyết, những chiếc máy cầm tay này có thể tạo ra các bức ảnh MRI dễ dàng như khi chụp ảnh kỹ thuật số thông thường. (Tuy nhiên, vẫn có những khó khăn ở đây. Một trong số đó là việc bao bọc chủ thể và chiếc máy để tránh tác động của các từ trường rải rác bên ngoài.)

Nếu máy MRI cầm tay được chế tạo, nó có thể kết nối với một máy tính nhỏ chứa phần mềm giúp giải mã các từ khóa hay các câu. Một thiết bị như vậy không thể so với các thiết bị ngoại cảm trong khoa học viễn tưởng về mức độ tinh vi nhưng lại thực tế hơn nhiều.

BỘ NÃO NHƯ MỘT MẠNG NEURON

Nhưng liệu máy MRI trong tương lai có thể đọc được suy nghĩ chính xác từng từ, từng hình ảnh, giống một thiêt bị ngoại cảm hay không? Điều này chưa thật sự rõ ràng. Một số người cho rằng máy MRI chỉ có thể giải mã được những nét chung chung của ý nghĩ và bộ não không phải là một cái máy tính. Trong máy tính kỹ thuật số, các phép tính được khu biệt và tuân theo một bộ quy tắc rất chặt chẽ. Nó tuân theo các định luật của “cỗ máy Turing” — một cỗ máy chứa một đơn vị xử lý trung tâm (CPU), bộ phận nhập liệu và bộ phận trích xuất dữ liệu đầu ra. Bộ phận xử lý trung tâm (như chip Pentium) thực hiện một tập thao tác nhập và xuất dữ liệu, do đó “việc suy nghĩ” của máy tính này diễn ra bên trong CPU.

Tuy nhiên, bộ não của chúng ta không phải là một chiếc máy tính kỹ thuật số. Não chúng ta không chứa chip Pentium, không có CPU, không cài hệ điều hành Windows và cũng không có các thủ tục con. Nếu ta gỡ đi một transistor trong CPU của máy tính, chiếc máy sẽ gần như không thể hoạt động được. Nhưng ở con người lại khác; người ta đã ghi nhận nhiều trường hợp một nửa bộ não gặp tổn thương nhưng nửa còn lại vẫn hoạt động bình thường.

Bộ não người thực ra giống như một cái máy học, một “mạng neuron”, có khả năng tự tái cấu trúc sau khi học được một tác vụ mới. Các nghiên cứu MRI xác nhận rằng những suy nghĩ diễn ra trong não bộ không khu biệt tại một khu vực nhỏ giống như ở máy Turing, mà trải rộng trên nhiều phần của bộ não — đây lại là một đặc điểm của mạng neuron. Những ảnh quét MRI cho thấy suy nghĩ thực ra giống như trò bóng bàn, với nhiều phần chớp nháy liên tục khi các xung điện truyền qua lại quanh bộ não.

Vì suy nghĩ quá phân tán và nằm rải rác trong nhiều phần của bộ não nên có lẽ điều tốt nhất mà các nhà khoa học có thể làm là biên soạn một bộ từ điển ý nghĩ, tức là thiết lập các tương ứng một-một giữa những suy nghĩ xác định và các hình mẫu điện não đồ hoặc MRI đặc biệt. Chẳng hạn, kỹ sư y sinh người Áo Gert Pfurtscheller đã “huấn luyện” cho một chiếc máy vi tính để nó nhận ra những hình mẫu não đặc trưng và các suy nghĩ tương ứng bằng cách tập trung vào miền sóng μ trong điện não đồ. Rõ ràng, các sóng μ xuất hiện liên quan tới ý định vận động một nhóm cơ xác định. Ông yêu cầu các bệnh nhân nhấc một ngón tay, cười hoặc nhăn nhó, khi đó máy tính sẽ ghi nhận các sóng μ vừa được kích hoạt. Mỗi lần người bệnh vận động thần kinh, máy tính sẽ cẩn thận phân đoạn các hình mẫu sóng μ. Quá trình này khá khó khăn và nhàm chán vì ta phải cẩn thận loại bỏ các sóng không phù hợp. Mặc dù vậy, Pfurtscheller vẫn thu được những tương ứng đáng kinh ngạc giữa các chuyển động đơn giản và những hình mẫu xác định của bộ não.

Qua thời gian, nỗ lực này kết hợp với các kết quả quét MRI có thể giúp tạo ra một “từ điển” thông minh về ý nghĩ. Bằng cách phân tích những hình mẫu xác định trên một bức điện não đồ hoặc một ảnh quét MRI, máy tính có thể nhận ra những hình mẫu này và cho biết bệnh nhân đang nghĩ gì, ít nhất là những thông tin khái lược. Cách “đọc ý nghĩ” như vậy sẽ thiết lập tương ứng một-một giữa các sóng μ đặc trưng và các ảnh quét MRI với những suy nghĩ cụ thể, nhưng người ta cũng nghi ngờ việc từ điển này chỉ ra được đích xác một số từ đặc trưng trong suy nghĩ của chúng ta.

TRUYỀN Ý NGHĨ

Nếu đến một ngày chúng ta có thể đọc được những nét khái quát trong suy nghĩ của người khác, liệu khi đó ta có khả năng thực hiện được điều ngược lại, là chiếu suy nghĩ của ta vào đầu họ? Về mặt định tính, câu trả lời dường như là có. Sóng vô tuyến có thể được chiếu trực tiếp vào trong bộ não để kích thích những khu vực não điều khiển một số chức năng cụ thể.

Hướng nghiên cứu này bắt đầu vào những năm 1950, khi nhà phẫu thuật thần kinh Wilder Penfield thực hiện mổ não cho một bệnh nhân động kinh. Ông nhận thấy khi kích thích một số khu vực thuộc thùy thái dương bằng các điện cực, bệnh nhân bắt đầu nghe thấy các âm thanh và nhìn thấy những hình ảnh ma quỷ. Các nhà tâm lý học biết rằng các tổn thương não gây ra chứng động kinh có thể khiến người bệnh có cảm giác các thế lực siêu nhiên đang hoạt động và thấy các thiên thần hay ác quỷ điều khiển những sự kiện quanh mình. (Một số nhà tâm lý học thậm chí còn đưa ra giả thiết rằng các kích thích ở những khu vực này có thể dẫn đến những trải nghiệm huyền bí, tạo nền tảng cho nhiều đức tin tôn giáo. Một số cho rằng Joan of Arc, nữ anh hùng đã đưa quân Pháp đến thắng lợi trong cuộc chiến với người Anh, có thể đã chịu những thương tổn tương tự do một cú đánh vào đầu.)

Dựa trên những phỏng đoán này, nhà khoa học thần kinh Michael Persinger ở Sudbury, Ontario (Canada) đã chế tạo một chiếc mũ gắn dây đặc biệt, được thiết kế để chiếu các chùm sóng vô tuyến vào não, nhằm khơi gợi các cảm xúc và ý nghĩ đặc trưng như cảm giác tôn giáo. Giới khoa học thần kinh biết rằng một tổn thương ở thùy thái dương trái có thể khiến phần não này trở nên mất phương hướng và bộ não có thể biện giải rằng các hoạt động ở bán cầu não phải đến từ một “bản sao” khác. Tổn thương này có thể gây ra ảo giác là có một linh hồn trong căn phòng, vì bộ não không nhận thức được sự hiện diện này thực ra chỉ là phần khác của chính nó. Tùy thuộc vào đức tin mà người bệnh có thể giải thích “linh hồn” này là quỷ dữ, thiên thần, thế lực ngoài Trái Đất hay thậm chí là Chúa.

Trong tương lai, người ta có thể chiếu các tín hiệu điện từ lên những phần não cụ thể điều khiển những chức năng riêng biệt. Bằng cách chiếu những tín hiệu này lên hạch hạnh nhân, người ta có thể khơi gợi những cảm xúc nhất định. Còn khi kích thích các vùng não khác, người ta lại có thể gợi lên những ảo ảnh và suy nghĩ. Tuy nhiên hướng nghiên cứu này mới chỉ ở giai đoạn sơ khởi.

LẬP BẢN ĐỒ BỘ NÃO

Một số nhà khoa học chủ trương ủng hộ “chương trình lập bản đồ neuron”, giống như Chương trình Lập sơ đồ Gen người, trong đó liệt kê tất cả các gen trong bộ gen của con người. Chương trình lập bản đồ neuron sẽ xác định vị trí của mỗi neuron đơn lẻ trong bộ não và tạo thành một sơ đồ ba chiều cho thấy kết nối giữa chúng. Đây là một chương trình đồ sộ thực sự vì có đến hơn 100 tỷ neuron trong não bộ, mỗi neuron lại liên kết với hàng ngàn neuron khác. Nếu chương trình này được hoàn tất, chúng ta sẽ có thể hình dung ra cách một ý nghĩ nhất định kích thích các neuron liên kết với nó. Kết hợp với từ điển ý nghĩ được xây dựng bằng kỹ thuật quét MRI và các sóng điện não đồ, chúng ta sẽ có khả năng giải mã cấu trúc neuron của những ý nghĩ nhất định. Từ đó xác định được những từ ngữ hoặc hình ảnh thần kinh tương ứng với các neuron đang được kích hoạt. Nhờ vậy, chúng ta thu được tương ứng một-một giữa một ý nghĩ nhất định và biểu diễn MRI của nó với các neuron đã kích hoạt quá trình tạo ra ý nghĩ này trong não bộ.

Một bước tiến nhỏ theo hướng này được thể hiện trong thông báo vào năm 2006 của Viện Khoa học về Não Allen (do nhà đồng sáng lập Microsoft Paul Allen thành lập). Thông báo này cho biết họ có thể tạo ra một bản đồ ba chiều về các gen bên trong bộ não chuột, biểu diễn chi tiết 21.000 gen ở cấp độ tế bào. Họ hy vọng có thể tiếp tục quá trình này để tạo ra bản đồ tương tự cho bộ não người. Marc Tessier-Lavigne, chủ tịch Viện nhận định: “Việc hoàn thành Bản đồ Não Allen là bước tiến khổng lồ hướng đến một trong những điểm giới hạn lớn nhất của y khoa, đó là bộ não người.” Bản đồ này tối cần thiết cho việc phân tích các liên kết neuron bên trong bộ não người, mặc dù Bản đồ Não vẫn còn khá xa mới có thể trở thành một chương trình lập bản đồ neuron thực sự. Tóm lại, khả năng ngoại cảm tự nhiên, thường thấy trong khoa học viễn tưởng, là bất khả thi ở thời điểm hiện tại. Ảnh quét MRI và điện não đồ có thể dùng để đọc chỉ những ý nghĩ đơn giản nhất của chúng ta, vì suy nghĩ trải rộng trên toàn bộ não theo những cách phức tạp. Nhưng công nghệ này sẽ tiến bộ tới đâu trong vài thập niên hay cả thế kỷ tới? Một điều chắc chắn là khả năng của khoa học trong việc lần theo quá trình suy nghĩ đang phát triển chóng mặt. Khi độ nhạy của máy MRI và các thiết bị khác tăng lên, khoa học sẽ xác định được ngày càng chính xác cách bộ não thực hiện các suy nghĩ và biểu hiện cảm xúc. Với các máy tính ngày càng mạnh mẽ, ta có thể phân tích lượng dữ liệu khổng lồ này ngày một chính xác. Một bộ từ điển ý nghĩ có thể phân loại một lượng lớn các hình mẫu của ý nghĩ, trong đó các hình mẫu ý nghĩ khác nhau hiện ra trên máy MRI sẽ tương ứng với những ý nghĩ hay cảm xúc khác nhau. Dù có lẽ một bảng kê đầy đủ các tương ứng một-một giữa hình ảnh MRI và suy nghĩ là điều không bao giờ thành hiện thực, nhưng một từ điển ý nghĩ có thể nhận ra chính xác các ý nghĩ chung chung về một số chủ đề nào đó. Những hình ảnh MRI về ý nghĩ lại có thể bổ sung cho một bản đồ neuron có khả năng cho biết chính xác những neuron nào đang được kích hoạt để tạo ra một ý nghĩ cụ thể trong não.

Nhưng vì bộ não không phải là một chiếc máy tính mà là một mạng neuron, trong đó các suy nghĩ trải ra trên toàn bộ não, nên chúng ta vấp phải chướng ngại cuối cùng: chính bản thân bộ não. Nên mặc dù khoa học sẽ thăm dò ngày càng sâu vào bộ não đang suy nghĩ, và từ đó giải mã một số quá trình suy nghĩ của chúng ta, nhưng ta cũng sẽ không thể “đọc được suy nghĩ” với độ chính xác cao như khoa học viễn tưởng hứa hẹn. Vì lý do này, tôi xin xếp khả năng đọc được những cảm giác và hình mẫu suy nghĩ chung chung vào nhóm Bất khả thi loại I. Khả năng khám phá sâu hơn về cơ chế vận hành bên trong bộ não được đưa vào nhóm Bất khả thi loại II.

Nhưng có lẽ vẫn có cách trực tiếp hơn để chạm tới sức mạnh to lớn của bộ não. Thay vì sử dụng sóng vô tuyến, vốn quá yếu và dễ tiêu tán, liệu chúng ta có thể tác động trực tiếp lên các neutron trong não được không? Nếu làm được điều này, chúng ta có thể giải phóng một sức mạnh thậm chí còn lớn hơn nữa, đó là viễn di.

❀ ❀ ❀

[1] Cận tâm lý là một ngành khoa học nghiên cứu các hiện tượng dị thường, bất thường liên quan đến kinh nghiệm của con người. Những kinh nghiệm này có thể được gọi là tâm linh.

[2] Muammar Gaddafi là lãnh đạo trên thực tế của Libya từ một cuộc đảo chính lật đổ vua Libya năm 1969 đến khi chính ông bị lật đổ vào năm 2011.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.