Ta không thể lệ thuộc vào đôi mắt
khi trí tưởng tượng đã vượt khỏi tầm nhìn.
— MARK TWAIN
Trong tập phim Star Trek IV: The Voyage Home (Star Trek IV: Hành trình về nhà), phi hành đoàn của tàu Enterprise đã đánh cắp một chiến hạm của Klingon. Không giống như các phi thuyền thuộc Hạm đội Liên đoàn các Vì sao, tàu bay của Đế quốc Klingon có một “tấm choàng bí mật”, giúp chúng vô hình trước ánh sáng và sóng radar, nhờ đó có thể lặng lẽ tiếp cận và phục kích các tàu của Liên đoàn. Tấm choàng này là một lợi thế chiến lược của đế quốc Klingon trước Liên đoàn các Hành tinh.
Liệu một thiết bị như vậy có khả dĩ? Tàng hình từ lâu đã là một trong những tuyệt phẩm của khoa học viễn tưởng và truyện hư ảo, từ những trang tiểu thuyết The Invisible Man (Người tàng hình) của H. G. Wells, đến áo choàng tàng hình trong loạt truyện Harry Potter, hay chiếc nhẫn trong The Lord of the Rings (Chúa tể của những chiếc nhẫn). Thế nhưng, trong ít nhất một thế kỷ, các nhà vật lý vẫn chối bỏ khả năng chế tạo được những thứ như vậy, thẳng thừng cho rằng chúng là bất khả thi: chúng vi phạm các định luật quang học và không phù hợp với những tính chất đã biết của vật chất.
Nhưng hiện nay, những thứ bất khả thi như vậy có thể trở thành hiện thực. Các tiến bộ mới về “siêu vật liệu” đang thúc đẩy việc chỉnh sửa gần như toàn bộ hệ thống sách giáo khoa về quang học. Các mẫu thử nghiệm của loại vật liệu này đang được chế tạo trong phòng thí nghiệm và nhận được sự quan tâm ngày càng lớn của truyền thông, các ngành công nghiệp và cả quân đội trong việc biến những thứ khả kiến thành vô hình.
Tàng hình có lẽ là một trong những khái niệm cổ xưa nhất trong thần thoại. Lịch sử từ những thời xa xưa nhất cũng đã ghi nhận việc những người phải ở một mình trong đêm tối sợ hãi linh hồn vô hình của người quá cố hay những hồn ma lang thang lẩn khuất trong màn đêm. Người anh hùng Hy Lạp Perseus tiêu diệt nữ quỷ Medusa nhờ đội chiếc mũ tàng hình. Các vị tướng ước mơ có được chiếc áo tàng hình. Khi vô hình, ta có thể dễ dàng xuyên qua phòng tuyến để bất ngờ bắt giữ kẻ thù. Tội phạm có thể sử dụng khả năng tàng hình để thực hiện những phi vụ trộm cướp ngoạn mục.
Sự tàng hình đóng vai trò hạt nhân trong lý thuyết của Plato về đạo lý và đức hạnh. Trong kiệt tác triết học Cộng hòa, Plato đã nhắc đến thần thoại về chiếc nhẫn của Gyges. Chàng chăn cừu nghèo nhưng tốt bụng Gyges xứ Lydia lạc vào một hang động bí ẩn và tìm thấy một ngôi mộ chứa bộ xương đeo một chiếc nhẫn vàng. Gyges phát hiện ra chiếc nhẫn này mang sức mạnh ma thuật có thể giúp anh tàng hình. Chẳng mấy chốc, chàng chăn cừu nghèo bị đầu độc trở nên mê mẩn trước quyền năng của chiếc nhẫn. Sau khi lẻn vào lâu đài nhà vua, Gyges sử dụng ma lực của chiếc nhẫn để quyến rũ hoàng hậu, rồi với sự giúp đỡ của nàng, anh giết nhà vua và lên ngôi vua xứ Lydia.
Vấn đề đạo đức mà Plato muốn đề cập ở đây là không ai có thể cưỡng lại cám dỗ trở thành kẻ cắp và giết người. Mọi người đều có thể trở nên tội lỗi. Đạo đức là một khái niệm do xã hội áp đặt. Một người có thể tỏ ra đạo đức trong cộng đồng để được đánh giá chính trực và chân thật, nhưng một khi có được sức mạnh tàng hình, họ sẽ chẳng thể cưỡng lại việc sử dụng quyền năng của nó. (Một số người tin rằng câu chuyện đạo đức này đã truyền cảm ứng cho J. R. R. Tolkien viết nên bộ ba tiểu thuyết Chúa tể của những chiếc nhẫn, trong đó chiếc nhẫn chúa làm cho người đeo nó trở nên vô hình, và đây cũng chính là nguồn gốc của tội ác.)
Tàng hình cũng là một phương cách thường thấy trong khoa học viễn tưởng. Trong series truyền hình Flash Gordon của thập niên 1930, Flash đã tàng hình để trốn khỏi đội quân của Ming Tàn bạo. Trong loạt truyện và phim Harry Potter, Harry sở hữu một chiếc áo choàng đặc biệt, cho phép cậu lang thang trong trường Hogwarts mà không sợ bị phát hiện.
H. G. Wells cũng sử dụng phương cách thần thoại này để xây dựng nên tiểu thuyết kinh điển Người tàng hình, trong đó một sinh viên y khoa vô tình phát hiện ra sức mạnh của chiều không gian thứ tư và sở hữu khả năng tàng hình. Không may là hắn lại sử dụng sức mạnh kỳ diệu này cho mục đích cá nhân, gây ra một loạt vụ án, và cuối cùng chết khi cố gắng trốn khỏi cảnh sát.
CÁC PHƯƠNG TRÌNH MAXWELL VÀ BÍ MẬT CỦA ÁNH SÁNG
Phải đợi đến các công trình của nhà vật lý người Scotland James Clerk Maxwell, một tượng đài của vật lý thế kỷ 19, các nhà vật lý mới hiểu rõ các định luật quang học. Ở một vài phương diện, Maxwell trái ngược hoàn toàn với Michael Faraday. Trong khi Faraday có tài thực nghiệm thiên bẩm nhưng không được đào tạo bài bản thì Maxwell, người sống cùng thời với Faraday lại là một bậc thầy về toán cao cấp. Maxwell là sinh viên vật lý tính toán xuất sắc của trường Cambridge, chính là nơi mà hai thế kỷ trước, Newton đã thực hiện những công trình của mình.
Newton phát minh ra giải tích toán học, được biểu thị qua “các phương trình vi phân”, dùng để mô tả cách thức các vật dần trải qua những thay đổi cực nhỏ trong không gian và thời gian. Chuyển động của sóng biển, chất lỏng, chất khí hay đạn pháo đều có thể được biểu diễn qua các phương trình vi phân. Mục tiêu rõ ràng ban đầu của Maxwell là sử dụng các phương trình kiểu này để biểu diễn các khám phá mang tính cách mạng và những trường lực của Faraday.
Maxwell bắt đầu với phát hiện của Faraday về việc điện trường có thể biến thành từ trường và ngược lại. Từ các mô tả của Faraday về trường lực được ông viết lại theo ngôn ngữ chính xác của phương trình vi phân, tạo ra hệ phương trình quan trọng bậc nhất của khoa học hiện đại. Đây là một hệ gồm tám phương trình vi phân. Các nhà vật lý và kỹ sư trên thế giới đều phải “toát mồ hôi hột” mới nắm vững được lý thuyết trường điện từ ở trường đại học.
Tiếp đến, Maxwell tự đặt ra câu hỏi quan trọng: nếu từ trường có thể biến thành điện trường và ngược lại, thì điều gì sẽ xảy ra nếu quá trình này lặp lại vô hạn? Maxwell nhận thấy rằng các trường điện-từ tạo ra một loại sóng giống như sóng biển. Trong sự ngạc nhiên tột cùng, ông tính ra được tốc độ truyền của loại sóng này bằng với tốc độ ánh sáng! Năm 1864, dựa trên phát hiện này, ông đưa ra tiên đoán: “Tốc độ này gần bằng tốc độ ánh sáng nên chúng ta có lý do chắc chắn để kết luận rằng bản thân ánh sáng… là những dao động của điện từ trường.”
Đây có lẽ là một trong những phát hiện vĩ đại nhất của loài người. Lần đầu tiên bí mật của ánh sáng đã được hé lộ. Maxwell chợt nhận ra rằng mọi thứ, từ ánh bình minh rạng rờ, ánh hoàng hôn sáng chói, sắc màu rực rỡ của cầu vồng cho đến ánh sáng của bầu trời sao, đều có thể mô tả qua các sóng mà ông đang viết nguệch ngoạc trên giấy. Ngày nay, chúng ta đã biết toàn bộ phổ của sóng điện từ — từ radar cho đến tivi, ánh sáng hồng ngoại, ánh sáng khả kiến, ánh sáng tử ngoại, tia X, vi ba và tia gamma — đều là các sóng Maxwell, được tạo thành từ dao động của các trường lực Faraday.
Khi đề cập đến tầm quan trọng của hệ phương trình Maxwell, Einstein cho rằng chúng là những gì “tinh túy nhất và phổ quát nhất mà vật lý đạt được kể từ thời Newton.”
(Bi đát thay, Maxwell, một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất thế kỷ 19, đã mất ở tuổi 48 do ung thư dạ dày, căn bệnh đã giết chết mẹ ông ở cùng độ tuổi. Nếu sống lâu hơn, hẳn ông đã khám phá ra rằng các phương trình của mình cho phép không-thời gian dao động, điều trực tiếp dẫn đến thuyết tương đối của Einstein. Thật khó hình dung rằng, thuyết tương đối đã có thể được phát hiện ngay từ giai đoạn Nội chiến Mỹ.)
Thuyết ánh sáng của Maxwell cùng thuyết nguyên tử mang lại cách lý giải đơn giản về quang học và khả năng tàng hình. Trong chất rắn, các nguyên tử gắn kết chặt chẽ với nhau, trong khi trong chất lỏng hay chất khí, các phân tử lại cách xa nhau. Hầu hết chất rắn đều chắn sáng vì tia sáng không thể xuyên qua ma trận nguyên tử dày đặc tạo nên chất rắn — chúng giống như một bức tường gạch. Ngược lại, nhiều chất lỏng và chất khí lại trong suốt vì ánh sáng có thể dễ dàng đi vào khoảng trống giữa các nguyên tử — khoảng không gian này lớn hơn nhiều so với bước sóng của ánh sáng khả kiến. Ví dụ, nước, cồn, amoniac, axetôn, nước sát trùng, khí đốt và nhiều thứ khác đều truyền sáng, cũng giống như các chất khí như ôxi, hiđrô, nitơ, cacbonic, mêtan…
Nguyên tắc này có một vài ngoại lệ quan trọng. Nhiều loại tinh thể có dạng rắn nhưng lại truyền sáng. Các nguyên tử của một tinh thể được sắp xếp theo cấu trúc lưới, chúng nằm trên các hàng xếp đều nhau với khoảng cách không đổi. Nhờ đó, có rất nhiều con đường để một tia sáng đi qua được mạng tinh thể. Do vậy, mặc dù một tinh thể gồm các nguyên tử xếp chặt giống như các chất rắn khác nhưng ánh sáng vẫn truyền được qua.
Ở một số điều kiện nhất định, một vật rắn có thể trở nên trong suốt nếu các nguyên tử của nó được sắp xếp ngẫu nhiên. Điều này có thể thực hiện bằng cách nung nóng vật đến nhiệt độ cao rồi làm lạnh nhanh. Ví dụ, thủy tinh là chất rắn nhưng lại mang nhiều tính chất của chất lỏng vì các nguyên tử của nó được sắp xếp ngẫu nhiên. Một số loại kẹo cũng trở nên trong suốt bằng phương pháp tương tự.
Rõ ràng, tàng hình là một tính chất xuất hiện ở thang nguyên tử theo hệ phương trình Maxwell, do đó sẽ gặp nhiều khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả thi, khi áp dụng vào khoảng cách thông thường. Để khiến Harry Potter trở nên vô hình, ta phải hóa lỏng cậu, đun sôi để biến cậu thành hơi, đợi cậu hóa rắn rồi nung nóng và làm lạnh trở lại — quá khó, kể cả là đối với một phù thủy.
Mặc dù không thể tạo ra máy bay tàng hình nhưng quân đội đã thử một phương án thực tiễn hơn: dùng công nghệ ẩn mình khiến những chiếc máy bay trở nên vô hình trước radar. Công nghệ này sử dụng tính chất của hệ phương trình Maxwell để tạo ra một chuỗi thủ thuật. Một chiến đấu cơ phản lực có thể dễ dàng nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng ảnh radar của nó trên màn hình quan sát của địch chỉ có kích cỡ như một con chim lớn. (Công nghệ ẩn mình thực sự là sự kết hợp của rất nhiều thủ thuật. Bằng cách thay đổi chất liệu chế tạo máy bay, giảm các cấu kiện bằng sắt để thay bằng nhựa và chất dẻo, thay đổi các góc cạnh ở thân máy bay, bố trí lại các ống xả khói…, người ta có thể làm cho chùm tia radar của địch khi chạm vào máy bay bị phân tán theo mọi hướng, do đó chúng không thể quay lại màn hình radar của địch. Tuy nhiên, công nghệ này không giúp máy bay tàng hình mà chỉ làm lệch hướng và phân tán sóng radar nhiều nhất có thể.)
SIÊU VẬT LIỆU VÀ KHẢ NĂNG TĂNG HÌNH
Có lẽ sự phát triển hứa hẹn nhất liên quan tới khả năng tàng hình nằm ở một loại vật liệu mới có tên gọi “siêu vật liệu”, vào một ngày nào đó sẽ khiến các vật trở nên vô hình thực sự. Mỉa mai thay, việc chế tạo một loại vật liệu như vậy từng được cho là không thể vì chúng vi phạm các định luật quang học. Nhưng vào năm 2006, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Duke ở Durham, Bắc Carolina và các đồng nghiệp thuộc Cao đẳng Hoàng gia ở London đã thách thức những hiểu biết thông thường khi sử dụng siêu vật liệu để chế tạo một vật có khả năng tàng hình đối với bức xạ vi ba. Dù còn một số trở ngại nhưng đây là lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta có một kế hoạch rõ ràng trong việc biến những vật bình thường thành vô hình. (Cơ quan Chuyên trách Các dự án Nghiên cứu Tân tiến của Lầu Năm Góc cấp vốn cho nghiên cứu này.)
Nathan Myhrvold, cựu giám đốc kỹ thuật của Microsoft, cho rằng siêu vật liệu “sẽ thay đổi triệt để cách tiếp cận của chúng ta trong lĩnh vực quang học và hầu như mọi mặt của ngành điện tử… Một số loại siêu vật liệu có thể mang những tính năng mà vài thập niên trước vẫn được coi là kỳ lạ.”
Vậy siêu vật liệu là gì? Chúng là những vật liệu có các tính chất quang học không tìm thấy trong tự nhiên. Người ta tạo ra siêu vật liệu bằng cách cấy những mẫu nhỏ vào trong một loại vật liệu, khiến sóng điện từ bị bẻ cong bất thường khi truyền tới. Tại Đại học Duke, các nhà khoa học cấy những mạch điện nhỏ li ti vào trong các tấm đồng được sắp xếp thành những vòng tròn đồng tâm trên một mặt phẳng (hơi giống với các vòng dây quấn trong bếp điện). Kết quả thu được là một hỗn hợp tinh vi của gốm, teflon, các hợp chất dạng sợi và kim loại. Những mô cấy li ti này bẻ cong và dẫn bức xạ vi ba đi theo một quỹ đạo đặc biệt. Hãy hình dung cách nước sông chảy qua một tảng đá cuội. Vì nước nhanh chóng vây quanh tảng đá nên hình ảnh tảng đá bị che mờ đi trong dòng nước. Tương tự, siêu vật liệu liên tục thay đổi và bẻ cong liên tục đường đi của vi ba để khi sóng này truyền quanh một hình trụ chẳng hạn, thì mọi thứ bên trong hình trụ trở nên vô hình với loại sóng này. Nếu siêu vật liệu có thể loại bỏ tất cả các tia phản xạ và những bóng mờ, nó có thể khiến một vật trở nên hoàn toàn vô hình đối với dạng bức xạ đó.
Các nhà khoa học đã minh họa thành công nguyên lý này bằng một thiết bị gồm 10 vòng nhẫn làm từ sợi thủy tinh, bao phủ bởi các cấu kiện bằng đồng. Một chiếc nhẫn đồng đặt trong thiết bị này gần như vô hình với vi ba, chỉ để lại một vết mờ nhỏ.
Tính chất quan trọng nhất của siêu vật liệu là khả năng thay đổi chiết suất. Chiết suất cho biết mức độ bẻ cong của tia sáng khi nó truyền trong môi trường trong suốt. Khi nhúng tay vào nước hoặc nhìn qua kính, ta sẽ nhận thấy nước và kính gây nhiễu động và làm cong quỹ đạo thông thường của tia sáng.
Tia sáng trong thủy tinh hay trong nước bị bẻ cong là do tốc độ ánh sáng giảm khi truyền trong môi trường đặc. Tốc độ ánh sáng trong chân không luôn không đổi, nhưng khi truyền trong thủy tinh hay nước, nó phải vượt qua hàng tỷ tỷ nguyên tử và do đó bị chậm lại. (Chiết suất là tỷ lệ giữa tốc độ ánh sáng trong chân không và tốc độ chậm lại của ánh sáng khi truyền trong môi trường chiết quang. Vì ánh sáng chậm đi khi truyền trong thủy tinh nên chiết suất của thủy tinh luôn lớn hơn 1,0.) Ví dụ, chiết suất của chân không là 1,00, của không khí là 1,0003, của thủy tinh là 1,5 và của kim cương là 2,4. Thông thường, môi trường càng đặc bẻ cong tia sáng càng nhiều, do đó có chiết suất càng lớn.
Một ví dụ quen thuộc liên quan đến ảnh hưởng của chiết suất là hiện tượng ảo ảnh. Nếu ta lái xe vào một ngày nắng nóng và hướng mắt về phía trời, mặt đường có thể trông lung linh, tạo ra ảo ảnh giống như mặt hồ lấp lánh. Người đi trên hoang mạc cũng có thể đôi lần nhìn thấy hình ảnh các thành phố và núi non ở đằng xa. Hiện tượng này là vì khí nóng bốc lên từ mặt đường hay hoang mạc có khối lượng riêng nhỏ hơn không khí bình thường, do đó nó có chiết suất nhỏ hơn không khí lạnh ở xung quanh, khiến ánh sáng xuất phát từ những vật ở xa bị khúc xạ trên mặt đường và đi vào mắt ta, tạo ra những ảo ảnh mà ta nhìn thấy.
Chiết suất thường là hằng số. Một chùm sáng hẹp bị bẻ gãy khi đi vào thủy tinh và sau đó truyền thẳng. Nhưng giả sử ta có thể thay đổi chiết suất của thủy tinh để nó biến thiên liên tục thì ánh sáng truyền trong vật liệu mới này sẽ bị bẻ cong và liên tục đổi hướng, tạo nên đường truyền quanh co trong vật như một con rắn.
Nếu ta điều chỉnh được chiết suất của một loại siêu vật liệu để ánh sáng truyền quanh vật thì vật đó sẽ trở nên vô hình. Để làm được điều này, loại siêu vật liệu đó phải có chiết suất âm, vốn là tính chất bị các cuốn sách quang học phủ nhận. (Siêu vật liệu được đề xuất lý thuyết lần đầu tiên trong một nghiên cứu của nhà vật lý Liên Xô Victor Veselago vào năm 1967, chúng cho thấy những tính chất quang học kỳ lạ như chiết suất âm và hiệu ứng Doppler ngược. Siêu vật liệu quá kỳ lạ và ngược đời nên trước đây, người ta cho rằng không chế tạo được. Nhưng trong vài năm trở lại đây, các loại siêu vật liệu đã được chế tạo trong phòng thí nghiệm, buộc các nhà vật lý phải miễn cưỡng viết lại các sách quang học.)
Các nhà nghiên cứu về siêu vật liệu liên tục bị các phóng viên quấy rầy do muốn biết khi nào những chiếc áo tàng hình được đưa ra thị trường. Câu trả lời là: còn lâu.
David Smith thuộc Đại học Duke cho biết: “Các ký giả gọi liên tục và chỉ muốn bạn cho họ một con số cụ thể. Bao nhiêu tháng hay bao nhiêu năm nữa. Họ cứ thúc ép và cuối cùng bạn đành nói ờ thì có thể là 15 năm nữa. Vậy là bạn đã đặt ra cho mình một thời hạn, đúng không nào? 15 năm cho chiếc áo choàng của Harry Potter.” Đó là lý do giờ đây ông từ chối đưa ra bất cứ thời gian cụ thể nào. Những người hâm mộ Harry Potter hay Star Trek sẽ phải đợi. Các nhà vật lý đồng ý rằng mặc dù loại áo khoác tàng hlnh thực sự nằm trong tầm với của các định luật vật lý, nhưng vẫn có những trở ngại lớn cần vượt qua trước khi công nghệ này được mở rộng để có thể hoạt động đối với ánh sáng khả kiến chứ không chỉ với bức xạ vi ba.
Nói chung, các cấu trúc được cấy bên trong siêu vật liệu phải có kích cỡ nhỏ hơn bước sóng của bức xạ. Chẳng hạn, nếu vi ba có bước sóng khoảng 3 cm thì để một loại siêu vật liệu có thể bẻ cong đường đi của sóng này, các mô cấy bên trong nó phải nhỏ hơn 3 cm. Nhưng để tạo thành một vật có thể tàng hình đối với ánh sáng xanh, nếu bước sóng ở khoảng 500 nm (nanomét) thì các mô cấy bên trong siêu vật liệu chỉ được dài khoảng 50 nm, trong khi nanomét là kích cỡ ở thang nguyên tử nên cần đến công nghệ nano. (Một nanomét bằng một phần tỉ mét, bằng khoảng kích cỡ của năm nguyên tử xếp lại với nhau.) Đây có lẽ là vấn đề mấu chốt của chúng ta khi chế tạo một chiếc áo tàng hình thực sự. Các nguyên tử đơn lẻ trong siêu vật liệu cần được điều chỉnh mới có thể bẻ cong chùm tia sáng như hình con rắn.
SIÊU VẬT LIỆU DÀNH CHO ÁNH SÁNG KHẢ KIẾN
Cuộc đua đã bắt đầu.
Kể từ sau tuyên bố về việc siêu vật liệu đã được chế tạo thành công trong phòng thí nghiệm, đã có nhiều hoạt động bùng lên sôi nổi trong lĩnh vực mới này, cùng với đó là sự thay đổi nhận thức và những đột phá gây sửng sốt xuất hiện liên tục. Mục tiêu rất rõ ràng: sử dụng công nghệ nano để tạo thành các loại siêu vật liệu có thể bẻ cong ánh sáng khả kiến chứ không chỉ vi ba. Một vài hướng tiếp cận đầy hứa hẹn đã xuất hiện.
Một trong số đó là sử dụng những công nghệ có sẵn trong ngành công nghiệp bán dẫn để tạo ra các siêu vật liệu mới. Công nghệ “in li-tô” đóng vai trò hạt nhân trong công cuộc thu nhỏ kích cỡ các vi mạch, qua đó dẫn đường cho cuộc cách mạng máy vi tính. Nhờ công nghệ này, các kỹ sư có thể gắn hàng trăm triệu transistor lên bề mặt của một tấm silic không lớn hơn ngón tay cái của chúng ta.
Theo định luật Moore, cứ sau 18 tháng, sức mạnh của máy tính lại tăng gấp đôi nhờ việc sử dụng các tia tử ngoại để “khắc” các chi tiết ngày càng nhỏ lên chip silic. Kỹ thuật này rất giống với cách sử dụng giấy stencil dập màu cho áo phông. (Các kỹ sư máy tính phủ nhẹ lên một tấm bán dẫn mỏng một số lớp vật liệu. Sau đó, họ đặt lên trên tấm bán dẫn một mặt nạ nhựa, đóng vai trò khuôn in. Tấm nhựa này gồm chi chít các dây dẫn, transistor và các vi xử lý tạo thành một sơ đồ mạch điện. Tấm bán dẫn được chiếu tia tử ngoại, là loại tia có bước sóng rất ngắn, để in các hình mẫu trên tấm nhựa lên tấm bán dẫn. Nhờ được xử lý bằng các loại khí và axit đặc biệt, mạch điện phức tạp trên tấm nhựa sẽ được khắc lên tấm bán dẫn ở điểm được chiếu tia tử ngoại. Quá trình này tạo ra một tấm bán dẫn chứa hàng trăm triệu rãnh nhỏ, tạo đường dẫn cho các transistor). Hiện nay, những linh kiện nhỏ nhất tạo ra nhờ kỹ thuật khắc này có kích cỡ khoảng 30 nm (tương đương với bề rộng của khoảng 150 nguyên tử).
Một cột mốc quan trọng trong công cuộc tìm kiếm khả năng tàng hình là khi một nhóm nhà khoa học sử dụng kỹ thuật khắc này để tạo ra siêu vật liệu hoạt động với ánh sáng khả kiến. Theo thông báo vào đầu năm 2007, các nhà khoa học ở Đức và Bộ Năng lượng Mỹ, lần đầu tiên trong lịch sử, đã chế tạo thành công một loại siêu vật liệu có hiệu lực với ánh sáng đỏ. Điều vốn bị cho là “bất khả thi” giờ đã đạt được trong khoảng thời gian ngắn đến vậy!
Nhà vật lý Costas Soukoulis thuộc Phòng Thí nghiệm Ames tại bang Iowa (Mỹ) cùng Stefan Linden, Martin Wegener và Gunnar Dolling thuộc Đại học Karlsruhe ở Đức đã chế tạo thành công một loại siêu vật liệu có chiết suất -0,6 đối với ánh sáng đỏ, có bước sóng 780 nm. (Trước đó, kỷ lục thế giới về siêu vật liệu có khả năng bẻ cong đường đi của bức xạ được ghi nhận với bước sóng 1.400 nm, nằm trong vùng hồng ngoại chứ chưa phải là ánh sáng khả kiến).
Bằng phương pháp kết tủa, các nhà khoa học phủ lớp đồng mỏng lên một tấm thủy tinh, kế tiếp là lớp magiê florua rồi đến một lớp đồng khác để tạo thành một “chiếc bánh kẹp” dày chỉ 100 nm. Sau đó, họ dùng kỹ thuật khắc thông thường để đục nhiều lỗ nhỏ li ti hình vuông lên chiếc bánh kẹp này, tạo thành một hình mẫu giống như tấm lưới đánh cá. (Những lỗ nhỏ này có kích cỡ chỉ 100 nm, nhỏ hơn nhiều so với bước sóng của ánh sáng đỏ.) Khi chiếu chùm sáng đỏ đi qua tấm vật liệu này, các nhà khoa học đo được chiết suất của nó là -0,6.
Các nhà vật lý đã nhìn thấy trước nhiều ứng dụng của công nghệ này. Theo tiến sĩ Soukoulis, siêu vật liệu “có thể dẫn tới sự phát triển của một loại siêu thấu kính có bề mặt phẳng dùng cho ánh sáng khả kiến. Một thấu kính như vậy sẽ có độ phân giải cao hơn nhiều lần so với loại thông thường, nhờ đó có thể quan sát những chi tiết rất nhỏ so với bước sóng của ánh sáng.” Ứng dụng trực tiếp của siêu thấu kính này là để chụp ảnh những vật vi mô với độ nét cao như bên trong của một tế bào, hoặc chẩn đoán các dị tật của thai nhi. Lý tưởng hơn nữa, ta có thể thu được những tấm ảnh chụp các thành phần của một nguyên tử ADN mà không cần đến phương pháp chụp ảnh tinh thể sử dụng tia X.
Cho đến nay, các nhà khoa học mới chỉ tạo được vật liệu có chiết suất âm đối với ánh sáng đỏ. Bước tiếp theo là sử dụng công nghệ này để tạo ra loại siêu vật liệu có thể bẻ cong ánh sáng đỏ quanh một vật, làm cho vật đó trở nên vô hình đối với ánh sáng này.
Những phát triển trong tương lai theo hướng này có thể diễn ra trong lĩnh vực “tinh thể quang tử”. Mục tiêu của công nghệ tinh thể quang tử là tạo ra những con chip sử dụng ánh sáng thay cho dòng điện để truyền tải thông tin. Để làm được điều này, người ta dùng công nghệ nano để khắc những chi tiết li ti và có chiết suất khác nhau lên một tấm bán dẫn. Các transistor sử dụng ánh sáng có nhiều điểm tiện lợi hơn so với dùng điện, ví dụ như việc chúng tỏa nhiệt ít hơn đáng kể. (Lượng nhiệt mà những con chip silic xịn tỏa ra đủ để rán chín một quả trứng. Chúng sẽ hỏng nếu không được làm mát liên tục, mà việc này lại rất tốn kém). Chẳng mấy ngạc nhiên khi thấy rằng khoa học về tinh thể quang tử phù hợp lý tưởng đối với siêu vật liệu, vì cả hai đều liên quan tới sự điều chỉnh chiết suất của ánh sáng ở thang nano.
TÀNG HÌNH SỬ DỤNG KỸ THUẬT PLASMON
Không chịu kém cạnh, một nhóm nghiên cứu tuyên bố vào giữa năm 2007 rằng họ đã chế tạo được một loại siêu vật liệu có thể bẻ cong ánh sáng khả kiến, bằng cách sử dụng một công nghệ hoàn toàn khác biệt, là “kỹ thuật plasmon”. Các nhà vật lý Henri Lezec, Jennifer Dionne và Harry Atwater thuộc Viện Công nghệ California (Cal Tech) cho biết họ đã tạo ra loại siêu vật liệu có chiết suất âm đối với miền ánh sáng xanh lục-lam thuộc phổ ánh sáng khả kiến — miền ánh sáng được cho là khó khăn hơn.
Mục đích của kỹ thuật plasmon là “nén” ánh sáng để ta có thể điều khiển các vật ở thang nano, đặc biệt là trên bề mặt kim loại. Sở dĩ kim loại dẫn điện được là do các electron liên kết lỏng lẻo với các nguyên tử, nên chúng có thể chuyển động dọc theo bề mặt tinh thể của kim loại. Dòng điện trong nhà chúng ta là dòng chuyển động liên tục của các electron liên kết yếu trên bề mặt kim loại của dây dẫn. Nhưng trong những điều kiện nhất định, khi một chùm sáng được chiếu tới bề mặt kim loại, các electron có thể dao động đồng bộ với chùm sáng, tạo thành các đợt sóng electron (được gọi là các plasmon) hợp phách với chùm sáng ban đầu. Quan trọng hơn, người ta có thể “nén” các plasmon này để chúng có cùng tần số với chùm sáng tới (nhờ đó các thông tin chúng mang lại là giống nhau) nhưng có bước sóng nhỏ hơn nhiều. Về mặt nguyên tắc, ta có thể đưa các sóng đã được nén lại này vào trong các dây nano. Cũng giống như tinh thể quang tử, mục đích cuối cùng của kỹ thuật plasmon là tạo ra các chip máy tính có thể sử dụng ánh sáng để thực hiện các thuật toán chứ không dùng dòng điện như thông thường.
Nhóm nghiên cứu của Cal Tech đã chế tạo loại siêu vật liệu từ một lớp bán dẫn silic — nitơ (có dày chỉ 50 nm) kẹp giữa hai tấm đồng, có tác dụng như một ống dẫn sóng dùng để định hướng các sóng plasmon. Tia laser đi vào và ra khỏi thiết bị thông qua hai khe được đục sẵn bên trong siêu vật liệu. Bằng cách đo góc lệch của tia laser khi nó đi qua siêu vật liệu, ta có thể kết luận chiết suất của vật liệu này đối với ánh sáng laser là âm.
TƯƠNG LAI CỦA SIÊU VẬT LIỆU
Siêu vật liệu sẽ phát triển tăng tốc trong thời gian tới vì lý do đơn giản là việc tạo ra các transistor sử dụng ánh sáng thay vì dùng điện đang ngày càng được quan tâm. Nhờ đó, các nghiên cứu về khả năng tàng hình sẽ tác động ngược lại những nghiên cứu hiện thời trong lĩnh vực tinh thể quang tử và kỹ thuật plasmon nhằm tạo ra các thiết bị thay thế cho chip silic. Hàng trăm triệu đô-la đã được đầu tư để tạo ra công nghệ thay thế cho công nghệ silic và các nghiên cứu về siêu vật liệu sẽ được hưởng lợi từ những nỗ lực nghiên cứu này
Với những đột phá xuất hiện cứ vài tháng một lần trong lĩnh vực này thì chẳng hề ngạc nhiên khi một số nhà vật lý cho rằng vỏ bọc tàng hình sẽ sớm rời phòng thí nghiệm để đi vào ứng dụng thực tế trong vòng vài thập niên tới. Các nhà khoa học tin rằng chỉ vài năm nữa họ sẽ tạo ra được loại siêu vật liệu có thể làm cho một vật hoàn toàn vô hình đối với một tần số xác định của ánh sáng khả kiến, ít nhất là trong không gian hai chiều. Điều này đòi hỏi việc cấy những mô nhỏ có kích cỡ nano, tạo nên những hình mẫu phức tạp, ánh sáng liên tục bẻ cong quanh vật.
Kế đến, các nhà khoa học phải tạo ra loại siêu vật liệu có thể bẻ cong ánh sáng trong không gian ba chiều, thay vì chỉ dùng được trong mặt phẳng hai chiều. Kỹ thuật in li-tô phù hợp hoàn hảo trong việc chế tạo các tấm bán dẫn silic phẳng, nhưng để tạo ra siêu vật liệu ba chiều ta cần kết hợp nhiều tấm bán dẫn theo cách phức tạp hơn hẳn.
Sau đó, các nhà khoa học cần chế tạo được loại siêu vật liệu có thể bẻ cong không chỉ một mà nhiều tần số ánh sáng. Đây có lẽ là công đoạn khó nhất, vì các mô cấy li ti được chế tạo để bẻ cong ánh sáng chỉ có một tần số duy nhất. Ta có thể phải tạo ra siêu vật liệu gồm nhiều lớp, mỗi lớp giúp bẻ cong một tần số xác định. Tuy nhiên, cách giải quyết cho vấn đề này chưa thực sự rõ ràng.
Mặc dù vậy, nếu tấm khoác tàng hình rốt cục cũng được chế tạo thành công, nó vẫn có những bất tiện nhất định. Chiếc áo choàng của Harry Potter được làm từ loại vật liệu mềm mỏng, giúp ai khoác nó lên người sẽ trở nên vô hình. Để làm được như vậy, chiết suất bên trong chiếc áo phải thay đổi liên tục theo cách phức tạp khi nó đung đưa, mà điều này lại không mang nhiều tính thực tiễn. Một “chiếc áo choàng” tàng hình có vẻ thực tế hơn phải là một hình trụ rắn được làm từ siêu vật liệu, ít nhất là ở bước đầu. Khi đó, chiết suất bên trong hình trụ được giữ không đổi. (Loại cải tiến hơn có thể kết hợp nhiều siêu vật liệu mểm mại và cuộn lại được, giúp ánh sáng truyền trong chúng theo quỹ đạo mong muốn. Bằng cách này, người khoác áo sẽ di chuyển dễ dàng hơn.)
Tuy nhiên, có một hạn chế của tấm áo choàng tàng hình: người choàng tấm áo sẽ không thể nhìn ra bên ngoài được. Hãy tưởng tượng toàn bộ cơ thể Harry Potter vô hình hết chỉ trừ đôi mắt hiện ra lơ lửng giữa không trung. Người bên ngoài chiếc áo có thể nhìn thấy hết những lỗ khoét trên áo mà người mặc từ đó “ nhòm ra”. Nếu Harry Potter hoàn toàn vô hình, cậu sẽ không nhìn thấy bên ngoài vì bị tấm áo choàng che phủ. (Một giải pháp cho vấn đề này là đặt hai tấm thủy tinh nhỏ ở vị trí lỗ khoét. Nó hoạt động như một thiết bị “tách tia sáng”, cho phép một phần ánh sáng đi đến mắt. Nhờ đó, hầu hết ánh sáng đến tấm áo choàng sẽ truyền quanh nó, giúp người khoác áo trở nên vô hình, nhưng vẫn có một ít ánh sáng đến được mắt họ).
Mặc dù còn nhiều khó khăn như vậy, các nhà khoa học và kỹ sư vẫn lạc quan về khả năng chế tạo được một tấm khoác tàng hình trong vài thập niên tới.
TÀNG HÌNH VÀ CÔNG NGHỆ NANO
Như đã đề cập, chìa khóa của tàng hình là công nghệ nano với khả năng điều khiển các cấu trúc cỡ nguyên tử, có kích thước chỉ khoảng một phần tỷ mét.
Công nghệ nano khởi đầu từ bài giảng nổi tiếng vào năm 1959 của nhà vật lý đạt giải Nobel Richard Feynman ở Hội Vật lý Mỹ với cái tựa đầy hài hước: “Vẫn còn nhiều phòng trống ở tầng trệt”. Trong bài giảng, ông đưa ra dự đoán về những động cơ nhỏ nhất phù hợp với các định luật vật lý đã biết: chúng sẽ được chế tạo ngày càng nhỏ hơn đến khi đạt kích thước nguyên tử, do đó các nguyên tử có thể được sử dụng để tạo ra những động cơ như vậy. Kết luận của ông là cũng giống như ròng rọc, đòn bẩy hay bánh xe, những động cơ nguyên tử hoàn toàn phù hợp với các định luật vật lý mặc dù rất khó chế tạo.
Công nghệ nano đã phải chờ đợi nhiều năm vì việc điều khiển các nguyên tử riêng lẻ vượt quá khả năng của công nghệ thời đó. Nhưng điều này đã trở nên khả thi khi các nhà vật lý phát minh ra kính hiển vi quét xuyên hầm (STM — scanning tunneling microscope), một đột phá vào năm 1981 đã mang về giải Nobel Vật lý cho các nhà khoa học Gerd Binnig và Heinrich Rohrer thuộc phòng thí nghiệm IBM ở Zurich.
Các nhà vật lý bỗng có thể thu được những hình ảnh ấn tượng về các nguyên tử riêng lẻ sắp xếp ngay ngắn như được chép ra từ trong sách, điều mà các chuyên gia lý thuyết nguyên tử từng coi là bất khả thi. Giờ đây người ta có thể chụp những bức ảnh tuyệt đẹp về các nguyên tử trong mạng tinh thể hay trong kim loại. Các công thức hóa học được sử dụng để mô tả một phân tử gồm một chuỗi rối rắm các nguyên tử liên kết với nhau giờ đã có thể nhìn được bằng mắt thường. Hơn nữa, kính hiển vi quét xuyên hầm còn mở ra khả năng điều khiển các nguyên tử đơn lẻ. Thực tế, các nhà khoa học đã dùng chính các nguyên tử đơn để sắp xếp thành các ký tự “IBM”, gây chấn động giới khoa học. Họ không còn phải mò mẫm khi điều khiển các nguyên tử đơn lẻ mà đã thực sự nhìn thấy và “chơi đùa” với chúng.
Thoạt nhìn, kính hiển vi quét xuyên hầm có vẻ đơn giản. Cũng giống như khi mũi đọc của máy loa kèn quét trên đĩa hát, một đầu dò nhọn di chuyển chậm trên bề mặt vật liệu để phân tích thông tin. (Mũi đầu dò nhọn đến mức trong thực tế, nó chỉ gồm một nguyên tử duy nhất). Một lượng điện tích nhỏ được tích sẵn ở đầu dò sẽ tạo ra dòng điện xuyên qua vật liệu để sang mặt bên kia. Khi đầu dò đi qua một nguyên tử đơn lẻ, điện lượng chuyển qua đầu dò thay đổi và các thay đổi này được ghi lại. Dòng điện tăng rồi giảm khi mũi nhọn của đầu dò di qua nguyên tử, nhờ đó ghi lại rõ nét đường viền của nguyên tử. Từ đồ thị những thăng giáng của dòng điện, người ta có thể thu được các hình ảnh đẹp của những nguyên tử cấu thành nên mạng tinh thể của vật liệu.
(Kính hiển vi quét xuyên hầm được chế tạo dựa trên một định luật kỳ lạ của vật lý lượng tử. Thông thường, các electron không đủ năng lượng để di chuyển từ đầu dò rồi xuyên qua vật liệu để đến mặt bên kia. Nhưng nhờ vào nguyên lý bất định, electron trong dòng điện vẫn có xác suất dù nhỏ để “xuyên hầm” hoặc vượt qua các rào thế, mặc dù điều này không đúng với lý thuyết của Newton. Như vậy, dòng điện truyền qua đầu dò có thể nhạy với những hiệu ứng lượng tử yếu ớt bên trong vật liệu. Tôi sẽ thảo luận chi tiết về những hiệu ứng của lý thuyết lượng tử trong phần sau).
Đầu dò này cũng đủ nhạy để di chuyển các nguyên tử, tạo nên một kiểu động cơ đơn giản chỉ gồm những nguyên tử đơn lẻ. Hiện nay, tiến bộ công nghệ vượt bậc cho phép ta hiển thị một đám nguyên tử lên màn hình máy tính và chỉ cần di chuyển con trỏ là các nguyên tử sẽ được di chuyển theo cách ta mong muốn. Ta có thể điều khiển hàng chục nguyên tử dễ dàng như chơi xếp hình Lego. Bên cạnh việc sắp xếp những nguyên tử đơn lẻ thành các ký tự, chúng ta còn có thể tạo nên một số món đồ chơi, ví dụ bàn tính nguyên tử. Các nguyên tử được dàn hàng trên một mặt phẳng ngang với các ô trống theo chiều dọc. Ta có thể bỏ vào những ô trống này các quả cầu bucky cacbon (có dạng quả bóng, nhưng được làm từ các nguyên tử cacbon). Chúng có thể di chuyển lên xuống để lấp vào các ô trống, tạo nên một bàn tính nguyên tử.
Người ta cũng có thể dùng chùm tia electron để khắc lên các thiết bị nguyên tử. Chẳng hạn, các nhà khoa học ở Đại học Cornell đã chế tạo cây đàn ghita nhỏ nhất thế giới, chỉ bằng 1/20 kích thước sợi tóc, bằng cách khắc lên tinh thể silic. Cây đàn này có sáu dây, mỗi dây có đường kính 100 nguyên tử và được gảy bằng kính hiển vi lực nguyên tử. (Cây ghita này có thể chơi nhạc, nhưng tần số âm thanh mà nó tạo ra nằm ngoài ngưỡng nghe của tai người).
Ở thời điểm hiện tại, hầu hết các “động cơ” nano chỉ là những món đồ chơi. Người ta chưa chế tạo được các động cơ phức tạp có bánh răng và những ổ bi. Nhưng nhiều kỹ sư tin rằng thời đại mà chúng ta chế tạo được những động cơ nguyên tử thực sự đang đến. (Thực ra, chúng ta có thể tìm thấy những động cơ nguyên tử ngay trong tự nhiên. Các tế bào có thể di chuyển dễ dàng trong nước nhờ vào các chân bơi li ti. Nhưng khi phân tích điểm nối giữa các chân bơi và tế bào, người ta tìm thấy các động cơ nguyên tử cho phép các chân bơi di chuyển theo hướng tùy ý. Vì vậy, chìa khóa để phát triển công nghệ nano là bắt chước tự nhiên, bởi chính tự nhiên đã lĩnh hội được nghệ thuật của các động cơ nguyên tử từ hàng tỷ năm trước).
TOÀN ẢNH VÀ TÀNG HÌNH
Cách khác để làm cho một người trở nên tàng hình một phần là chụp ảnh khung cảnh phía sau người đó rồi chiếu trực tiếp ảnh nền này lên quần áo hoặc lên một màn hình đặt ngay trước người đó. Khi nhìn từ phía trước, người này trông có vẻ trong suốt, như thể ánh sáng đi xuyên qua cơ thể họ.
Naoki Kawakami, nhà nghiên cứu tại Phòng Thí nghiệm Tachi thuộc Đại học Tokyo, đang nỗ lực phát triển công nghệ này, được ông gọi là “ngụy trang quang học”. Ông cho biết: “Nó sẽ được dùng để giúp các phi công nhìn xuyên qua sàn buồng lái xuống đường băng bên dưới, hoặc các tài xế nhìn xuyên qua hàng rào để đậu xe.” “Tấm choàng” của Kawakami được đính phủ những hạt nhỏ có thể phản xạ ánh sáng, có tác dụng như một màn hình hiển thị. Một máy ghi hình sẽ chụp ảnh phía sau tấm choàng. Tiếp theo, những hình ảnh này sẽ được truyền đến một máy chiếu đang bật ngay trước tấm choàng, khiến ánh sáng như đang đi xuyên qua cơ thể người khoác tấm choàng.
Một số mẫu thử nghiệm của tấm choàng ngụy trang quang học đã được chế tạo trong phòng thí nghiệm. Nếu nhìn thẳng vào người đang khoác tấm choàng giống như màn ảnh này, ta sẽ thấy như thể người này đã biến mất vì tất cả những gì ta nhìn thấy chỉ là hình ảnh phía sau. Nhưng nếu ta hơi nghiêng đầu, hình ảnh trên tấm choàng không hề thay đổi, cho thấy sự biến mất chỉ là giả tạo. Để ngụy trang quang học giống thực hơn, ta cần đến những ảo ảnh ba chiều tức là cần đến phép toàn ảnh.
Một bức toàn ảnh là hình ảnh ba chiều do các chùm tia laser tạo ra (giống như hình ảnh ba chiều của công chúa Leia trong phim Chiến tranh giữa các vì sao). Một người có thể trở nên vô hình nếu khung cảnh xung quanh họ được một máy ảnh toàn ký đặc biệt chụp lại, rồi được chiếu lên một màn ảnh đặt ngay trước người đó. Một người đứng phía trước quan sát sẽ nhìn thấy màn ảnh toàn ký đang chiếu những hình ảnh ba chiều của khung cảnh xung quanh nhưng người được chụp ảnh toàn ký thì như thể đã biến mất. Tại chỗ anh ta đang đứng là chính hình ảnh ba chiều của khung cảnh xung quanh. Thậm chí, nếu có di chuyển đến góc nhìn khác thì ta cũng không thể phân biệt nổi những gì đang thấy là giả.
Người ta có thể tạo ra ảnh ba chiều do tia laser có “tính kết hợp”, tức là các sóng ánh sáng dao động đồng bộ với nhau. Những bức toàn ảnh được chế tạo bằng cách tách chùm laser kết hợp thành hai phần. Một nửa chiếu lên một tấm phim ảnh, nửa kia rọi lên vật, rồi bật trở lại cùng tấm phim. Khi hai nửa chùm laser gặp nhau trên tấm phim, hình ảnh giao thoa của chúng mang đầy đủ thông tin của chùm laser ban đầu. Khi được rửa ra, tấm phim này không có vẻ gì đặc biệt mà trông như một mạng nhện phức tạp với những vòng xoáy và đường chằng chịt. Nhưng khi chiếu một chùm laser lên tấm phim này, một bản sao ba chiều của vật bất ngờ hiện ra như có phép màu.
Tuy nhiên, việc tàng hình sử dụng phép toàn ảnh còn gặp nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật. Thách thức đầu tiên là phải tạo ra một máy ảnh toàn ký có tốc độ chụp tối thiểu 30 hìnhgiây. Vấn đề kế tiếp là lưu trữ và xử lý toàn bộ thông tin đã chụp được. Và cuối cùng, ta phải chiếu những hình ảnh này lên một màn hình sao cho chúng trông như thật.
TÀNG HÌNH THÔNG QUA CHIỀU THỨ TƯ CỦA KHÔNG GIAN
Chúng ta cũng nên đề cập đến khả năng tàng hình phức tạp hơn từng được nói đến trong tiểu thuyết Người tàng hình của H. G. Wells và liên quan tới việc sử dụng chiều thứ tư của không gian. (Tôi sẽ thảo luận chi tiết khả năng tồn tại các chiều cao hơn của không gian trong phần sau). Liệu chúng ta có thể rời khỏi thế giới ba chiều của mình và bay lượn bên trên nó từ vị trí thuận tiện của một chiều không gian thứ tư hay không? Cũng giống như một con bướm trong không gian ba chiều đang bay lượn phía trên một mặt giấy hai chiều, chúng ta sẽ trở nên vô hình đối với những ai sống trong vũ trụ có số chiều thấp hơn. Ý tưởng này có một trở ngại là ta vẫn chưa chứng minh được sự tồn tại của những chiều bậc cao hơn. Hơn nữa, một chuyến đi giả định vào các chiều bậc cao này sẽ cần lượng năng lượng vượt xa khả năng đáp ứng của công nghệ hiện tại. Xét về khả năng đạt đến sự tàng hình, phương pháp này rõ ràng nằm ngoài tầm hiểu biết và khả năng của chúng ta ở thời điểm hiện tại.
Với những thành tựu to lớn đã đạt được, sự tàng hình rõ ràng đủ điều kiện để được xếp vào nhóm Bất khả thi loại I. Trong vài thập niên tới, hoặc ít nhất là trong thế kỷ này, một dạng tàng hình nào đó có thể sẽ trở thành chuyện bình thường.