Văn Hóa Việt Nam với Đông Nam Á

Lượt đọc: 128 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ĐÔNG-NAM-Á ĐỨNG TRƯỚC CUỘC CÁCH-MỆNH KỸ-NGHỆ ÂU-TÂY CẬN-ĐẠI

❊ ❊ ❊

Phan-Thanh-Giản khi đi sứ sang Âu-Tây đã tả cảm-tưởng về quang-cảnh xã-hội Âu-Tây như sau :

Bá ban xảo diệu tề Thiên Địa

Duy hữu tử sinh tạo hóa quyền.

Dịch :

Trăm món khéo tay tày thợ Tạo.

Duy còn sống chết chịu thua Trời

Và đến khi về nước cũng đã sớm cảnh-tỉnh.

Từ ngày đi sứ tới Tây-kinh

Thấy việc Âu-Châu phải giật mình

Kêu tỉnh đồng bang mau kịp bước

Hết lời năn-nỉ chẳng ai tin ;

Trải qua lịch-sử xã-hội nhân-loại những khuôn-khổ kinh-tế cũng như chế-độ chính-trị luôn-luôn thay đổi mở rộng. Sức sản-xuất của xã-hội càng phức-tạp, sự giao-dịch trao đổi càng chằng chịt. Tuy-nhiên cho tới khoảng thế-kỷ XVI thì ở Âu-Tây những tiến-bộ cũng chỉ thấy trong vòng chi-tiết so với các khu-vực khác trên thế-giới không có chi cách-biệt khác nhau lắm. Vấn-đề Đông-Tây bấy giờ chưa thành vấn-đề, Giữa kinh-tế cổ-xưa sơ-thủy, kinh-tế phong-kiến nông-nghiệp với kinh-tế thủ-công, nếu có sự khác nhau thì chẳng qua chỉ ở chi-tiết chứ về tính-chất không có chi khác nhau hẳn. Ở các giai-đoạn ấy đời sống kinh-tế còn trong phạm-vi chật-hẹp, sản-xuất và mậu-dịch còn thua kém, thủ-tục còn đè nặng, và thêm vào đấy một qui-chế nghiêm-khắc chuyên-chế cấm đoán những phát minh và sáng-kiến của tư-nhân. Động-cơ kinh-tế thì hẳn là sự cầu thỏa-mãn các nhu-cầu sinh-tồn, song sự dục-cầu ấy chỉ chính-đáng khi nào thích-hợp với luân-thường đạo-lý và quyền-lợi của đoàn-thể do chính-quyền đại-diện nắm giữ.

Hai thế-kỷ sau, vào khoảng thế-kỷ XIX và trước đấy một ít thì ở xã-hội Âu-Tây tất cả lâu-đài cố-hữu đã biến-chuyển. Sự sản-xuất cơ-khí-hóa đã phát-triển. Sự cạnh-tranh trở nên náo-nhiệt và những giao-kèo giữa cá-nhân đã thành thường-lệ. Động-cơ sản xuất giao-dịch từ đây chỉ là vấn-đề quyền-lợi cá-nhân và tiền bạc đã thay thế cho hàng-hóa. Từ đây chủ-nghĩa tư-bản bắt đầu nẩy nở, xã-hội tư-bản kỹ-nghệ bắt đầu phát-triển mau lẹ làm cho tất cả quan-niệm về giá-trị nhân-sinh thay đổi. Bấy giờ sự phân biệt Đông-phương với Tây-phương mới bắt đầu nổi lên trong đầu óc người ta, ở giới chinh-phục cũng như ở giới bị chinh-phục.

Người ta thường lầm tưởng chủ-nghĩa tư-bản phát-tích tự những cuộc phát-minh cơ-khí của thế-kỷ XVIII. Sự thực không hẳn hoàn-toàn như thế. Kỹ-thuật tuy là bước đầu của cách-mệnh kinh-tế ở thế-giới, nó bắt đầu từ những khí-cụ tầm thường hơn là những bộ máy dệt, ấy là bánh lái đàng sau thuyền buồm với kim-chỉ-nam. Với hai khí-cụ này những thủy-thủ Tây-Âu cuối thế-kỷ XV đã đóng được thuyền lớn có thể vượt biển ra khơi và biết phương-hướng trong đêm không sao, trong ngày mưa không mặt trời. Từ đấy trở đi, và vì nhu-cầu thúc-bách, con đường cận-đông thông-thương với Ấn-Độ và Trung-Hoa bị cắt đứt, mới liên-tiếp có những cuộc tìm đất « gia-vị » mới với cuộc thám-hiểm của Bồ-Đào-Nha (Portugal) do nhà vua « Henri le Marin » đã điều-động và tổ-chức. Ấy là Kha-Luân-Bố (Christophe Colomb) đã tìm thấy Tân-thế-giới Mỹ-Châu và Magellan đã đi vòng quanh Phi-Châu sang Ấn-Độ-Dương, Nam-Dương quần-đảo. Từ đấy người ta thấy chân trời lùi lại và công-cuộc khai-hóa thuộc-địa và thương-mại quốc-tế bắt đầu bột-phát. Những tư-bản lúc ấy bèn đem ra vận-dụng, những công-ty thành-lập để buôn-bán với đất « Ấn » phương xa, nghĩa là với Mỹ-châu và Á-châu. Các nhà thương-nghiệp thu lượm được những món lợi đồ-sộ.

Đồng thời sự đánh cướp kho-tàng của Tân-thế-giới và sự khai-thác mỏ vàng bạc Nam-Mỹ đã đem vào cho Âu-Châu một đống « hoàng-kim » và « bạch-kim » liên-tiếp từ Y-Pha-Nho và Bồ-Đào-Nha lan vào Âu-Châu lục-địa. Do đấy mà có sự tập-trung những khối tiền lớn. Người ta thi nhau buôn tiền làm cho giá sinh-hoạt càng ngày càng cao và coi thường những giáo-lý của Nhà-Thờ cấm nghề cho vay lãi. Riêng chỉ có dân Do-Thái ở thời ấy làm nghề buôn tiền. Từ đấy bên cạnh những thương-gia giầu có đã đẻ ra được một lớp tài-chính và ngân-hàng. Họ cũng thu-lượm được những số vốn đồ-sộ và đổi-trác mua bán trong những thị-trường chứng-khoán, như ở tỉnh Lyon bên Pháp được người Ý (Italien) và người Đức (Allemand) giao-dịch sầm-uất, và trong những nhà Băng (Banque) thịnh-vượng lập nên từ đầu thế-kỷ XVIII là nhà Băng Lyon, Amsterdam, Angleterre, Ecosse, đều là những nhà ngân-hàng chính.

Tóm lại giai-đoạn đầu tiên của xã-hội kỹ-nghệ hóa là sự thành-lập tư-bản tài chính theo một hệ-thống qui-chế riêng biệt như các hội buôn tư-bản, thị-trường chứng-khoán và nhà ngân-hàng, tổ-chức giao-dịch và đầu-cơ đại qui-mô. Tư-bản tài-chính mới ấy lại ảnh-hưởng vào kỹ-thuật để làm cho sức sản-xuất tăng lên mau chóng. Tất cả một mớ ý-tưởng về phương-pháp cơ-khí hình như đã phảng phất trong không-trung của thế-kỷ XIX ở Âu-Tây tự-nhiên thấy được thực-hiện : nào cách nấu gang bằng than, áp-dụng máy hơi nước của James Watt. máy dệt thay cho khung cửi v.v… Những kỹ-thuật này được áp-dụng ngay vào những công-xưởng tư-nhân, cạnh-tranh thi-đua chẳng mấy chốc vượt xa các công-xưởng quốc-gia. Sáng-kiến tư-nhân đi đôi với khối tư-bản đã vun nhờ ở hệ-thống hợp-cổ làm nẩy-nở ra những doanh-nghiệp kỹ-nghệ đồ-sộ đầu tiên như là hãng Creusot năm 1787 đã dùng đến 1400 nhân-công.

Đến cuộc cách-mệnh về luật-pháp, về chế-độ chính-trị. Dưới chế-độ cũ sinh-hoạt kinh-tế bị kiềm-chế chặt-chẽ bởi các quy-chế phường-bạn và chính quyền quân-chủ chuyên-chế. Nhưng khí-hậu tài-chính do các cuộc tìm đất mới đã đánh đổ những cấm-đoán nghề cho vay lãi trước đây, thì bây giờ khí-hậu mới cũng làm vỡ tung khuôn khổ quy-chế phường-bạn (corporation) và quân-chủ chuyên-chế phong-kiến. Sau cuộc cải-cách ở Pháp thời Vua Louis XVI do Turgot tuyên-bố (1776) thì cuộc Đại-Cách-Mệnh Pháp đảo lộn cả chế-độ cũ mà lập nên chế-độ tự-do cạnh-tranh kinh-tế.

Bước sang chế-độ kinh-tế mới, tất cả các doanh-nghiệp, kỹ-nghệ hay nông-nghiệp, thương-nghiệp đều được hưởng quyền-lợi bình-đẳng. Song bình-đẳng trước pháp-lý, còn thực-tế thì doanh-nghiệp lớn về vốn luôn-luôn có nhiều thắng-lợi trong sự cạnh tranh với doanh-nghiệp nhỏ ngắn vốn. Đà tiến ấy càng ngày càng mau nhờ có những dự-trữ tiền vốn càng ngày càng lớn, khiến cho các công-ty tư-bản có thể tiêu-diệt đối-phương ít vốn một cách lẹ-làng, kết-cục đi đến độc-quyền của các hãng tư-bản vĩ-đại. Đấy là bắt đầu hiện-tượng tập-trung kinh-tế tự-do cạnh-tranh. Còn tự-do cạnh-tranh chừng nào trên thị-trường còn có nhiều doanh-nghiệp độc-lập. Khi sự tập-trung kinh-tế tư-bản đã đến một mực-độ khá cao thì tình-thế đổi khác. Một số nhỏ doanh-nghiệp còn lại là vì tập-trung hết sức nên trở nên hùng-mạnh tha hồ sản-xuất theo lối canh-tân kỹ-thuật, cơ-khí hóa tối-tân, làm cho thị-trường chẳng bao lâu tràn ngập hàng-hóa, nghĩa là xã-hội kinh-tế đi đến sản-xuất quá độ. Do đấy mà nẩy nở những tổ-hợp tư-bản liên-minh theo kiểu Trust hay Cartel. Bất cứ theo kiểu nào những liên-minh kinh-tế ấy đều đi đến chỗ thay thế chế-độ tự do cạnh-tranh giữa các đơn-vị lẻ-loi, ít vốn, bằng một chế-độ tư-bản độc-quyền của các đại xí-nghiệp.

Tự-do cạnh-tranh không còn ở thực-tế, giao-kèo làm việc giữa tư-nhân cũng mất hiệu-lực, thế quân bình kinh-tế trong xã hội càng ngày càng bị khủng-hoảng vì nguyên-nhân điều-quân tự-động trên thị trường là luật cung-cầu đã mất hiệu-lực. Bởi vậy suốt thế-kỷ XIX ở các xã-hội đại kỹ-nghệ Âu-Tây người ta thấy diễn ra những cuộc khủng-hoảng kinh-tế ấy lan rộng mỗi ngày một lớn. Hiện-tượng khủng-hoảng kinh-tế ấy lan rộng mãi đã trở nên nguyên-nhân làm sai chế-độ tự-do cạnh-tranh. Nó xô-đẩy các nước Tây-Âu vào công-cuộc đế-quốc thực-dân bảo-vệ biên-giới thương-chính, và chiến-tranh giữa các cường-quốc. Khủng-hoảng kinh-tế đã cản-trở các nhà kinh-doanh, họ thúc-đẩy chính-quyền nước họ đi vào công-việc chinh-phục thuộc-địa để lấy nguyên-liệu và thị-trường.

Đấy là quang-cảnh xã-hội Âu-Tây trong vòng một thế-kỷ sau cuộc cách-mệnh kỹ-nghệ và chính-trị xã-hội. Trong khi ấy thì Á-Châu vẫn còn ở trình-độ phong-kiến và nông-nghiệp thủ-công. Nông-nghiệp vẫn là cơ-sở của xã-hội Á-Đông xưa. Các cường-quốc nhất đều nẩy-nở trong lục-địa ở các Trung-châu phì-nhiêu mà khả-năng dẫn-thủy cùng ruộng đất mầu-mỡ đồng-bằng có thể cầy-cấy đã tạo ra một hoàn-cảnh thuận-tiện cho sinh-hoạt kinh-tế, dân-cư đông-đúc và văn-minh thảo-mộc. Từ bước đầu lịch-sử dân-tộc Đông-Nam-Á người ta đã đặc-biệt chú-trọng vào công-cuộc dẫn-thủy nhập-điền là nhiệm-vụ của các triều-đại. Văn-bia ở Java đã chứng-minh nhà vua Taruma rất chuyên-chú vào nhiệm-vụ ấy. Và ở Việt-Nam qua các triều-đại độc-lập Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn đã thiết-lập tục thờ-phụng Xã-Tắc nông-nghiệp ở các buổi tế đầu xuân là Nam-Giao mà nhà Vua làm chủ-tế.

Công-trình dẫn-thủy không những đóng vai trò kinh-tế mà thôi mà còn có ảnh-hưởng xã-hội và chính-trị nữa. Công cuộc đắp đê, khai ngòi, đào sông cũng như canh-tác là công-việc tập-thể, có khuynh-hướng xóa biên-giới địa-phương và mở-mang ý-thức nhân-dân về sự thống-nhất quốc-gia. Ý-thức quốc-gia dân-tộc ấy càng được củng-cố để chống đối các cuộc xâm-lăng ngoại-lai. Đồng-thời chính-quyền có khuynh-hướng tập-trung, càng tập-trung càng mạnh, vào tay các quân-chủ chuyên-chế, vừa lập-pháp, vừa hành-pháp và tư-pháp, vừa thống-chế quân-đội. Sông, ngòi, kênh, lạch đã nối liền đồng-bằng, liên-kết giao-thông của làng-mạc, làm cho chế-độ quân-chủ chuyên-chế thêm bền vững. Quân-chủ chuyên-chế tập-trung tất cả quyền-hành bằng một hệ-thống tổ-chức quan-liêu, chứ không dùng có Chư-Hầu, Vương-Bá hay Sứ-Quân tương-đối độc-lập. Trong xã-hội chỉ còn hai thế-lực là Vua và Dân, thời-hồ xung đột.

Luật vua thua lệ làng.

Chế-độ chuyên-chế ấy dần-dần trở nên quá ư chặt-chẽ, càng ngày càng độc-tài nghiêm-khắc với bộ-máy nhà Nước với quan-liêu đè nặng trên đầu tầng-lớp nông-dân, tuy ở đây không bị nô-lệ vào đất-đai và nhờ tổ-chức dân-chủ nguyên-thủy Xã-Thôn hay Làng-Xã bảo-vệ. Chính tầng-lớp nông-dân là sức sản-xuất độc-nhất của xã-hội nông-nghiệp, một mình chịu-đựng sự bóc-lột hà-hiếp của triều-đình quan-lại, cho nên thường có sự xung-đột ngấm-ngầm hay bộc-lộ giữa hai thế-lực chính của xã-hội, thế-lực nhà Vua với thế-lực Dân-Đen. Những cuộc tranh-đấu ấy đã diễn ra suốt lịch-sử Á-Châu, và ở Việt-Nam rất rõ-rệt, chứng-tỏ giai-cấp nông-dân tranh-đấu với thế-lực thống-trị một cách vô tổ-chức vì thiếu hay không có được một ý-thức-hệ nào khác với ý-thức-hệ chuyên-chế phong-kiến kiểu Á-Đông. Bởi vậy mà mục-đích tranh-đấu không nhất-trí, luôn-luôn bị tiêu-diệt. Thảng-hoặc có phen thắng như cuộc cách-mệnh của Hồ-Quý-Ly hay Tây-Sơn, xong rồi cũng lại quay về với ý-thức-hệ và tổ-chức chính-quyền phong-kiến. Bởi vậy mà cơ-cấu xã-hội trải nhiều phen cách-mệnh bạo-động và canh-tân mà rút-cục cũng không có gì thay đổi tại nền-móng cả. Đấy là nguyên-nhân ngưng-trệ của xã-hội nông-nghiệp Á-Châu và Đông-Nam-Á.

Cho đến thế-kỷ XIX tất cả Đông-Nam-Á-Châu chỉ biết một cách-thức sản-xuất nông-nghiệp, đi đôi với chế-độ nô-lệ hay bán nô-lệ cho nên kỹ-thuật chậm tiến. Dân-tộc Chàm, Khmer, Siam, Miến hay Việt tranh cướp nhau nhân-công nô-lệ và đất-đai khai-khẩn. Dân Việt tỏ ra ưu-thắng vì chế-độ nô-lệ được bỏ đi sớm hơn để thay thế cho chế-độ nhân-công tương-đối tự-do, khiến cho năng-suất sản-xuất có phần cao hơn các dân-tộc chung-quanh.

Rồi bắt đầu có sự phân-công ở tất-cả các xứ vì sự phát-triển thương-nghiệp quốc-tế. Các phường-bạn thủ-công-nghệ thành-lập ở các đô-thị. Kể từ thế-kỷ thứ II đô-thị Phù-Nam đã trở nên một đế-quốc thương-nghiệp nhờ vị-trí trên đường giao-thông giữa Trung-hoa, Ấn-độ và Âu-Tây. Kế đến Crivijaya cũng có một thời thịnh vào thế-kỷ thứ VII. Các đế-quốc đô-thị thịnh rồi suy, thăng rồi trầm, liên-tiếp mà chưa có một nước nào, một đô-thị nào có được một giai-cấp tư-sản có thế-lực như giai-cấp tư-sản Âu-Tây cuối thời phong-kiến để đóng vai thế-lực thứ ba giữa nông-dân với quân-chủ.

Nguyên-nhân chính của hiện-tượng này là sự tập-trung tư-bản không đủ, kinh-tế tự-nhiên lấn át kinh-tế tiền-tệ. Sự giao-dịch trong nước về hệ-thống làng-xã tự-trị địa-phương không làm cho tiền-tệ lưu-thông phát-triển, mà sự trao đổi thường còn giữ lối trao đổi chất-liệu. Đối với sự giao-dịch với bên ngoài cũng thế, cho nên tuy có sự tiến-triển về đường sản-xuất thương-mại, nhưng không tăng tiến cho sự lưu-thông tiền-tệ. Các mối buôn-bán với bên ngoài như ở Java thì có Crivijaya và các hải-cảng, hay ở Việt-Nam thì có Phố-Hiến với Hội-An, đều do nhà Vua hay Chư-hầu phong-kiến nắm trong tay thương-thuyền riêng. Họ không trở nên nhà buôn độc-lập để trở nên một giai-cấp trung-lập trong xã-hội. Bởi vậy mà các nước Đông-Nam-Á tuy có mở mang giao-dịch với quốc-tế từ sớm mà vẫn giữ mãi chính-thể phong-kiến quí-tộc truyền-thống của xã-hội nông-nghiệp. Ở trường hợp ấy, tài-sản thu được trong sự buôn-bán giao-dịch quốc-tế không giúp cho sự tăng tư-bản mà lại chỉ để thỏa-mãn cho thích-thú xa-xỉ của các nhà quyền-quí, nào xây-dựng thành-quách, điện-đài vĩ-đại : Angkor, Borobondour, Ayuthya, Pagan hay Rangoon, Lăng-tẩm Huế. Với nền kinh-tế nông-nghiệp, ý-thức-hệ ngự-trị xã-hội đương thời cũng lại cản trở sự phát-triển của giai-cấp tư-sản. Ấn-độ-giáo, Phật-giáo, Nho-giáo không khuyến-khích hoạt-động kinh-tế làm giàu, khinh rẻ sự buôn bán để giữ quyền ưu-tú cho giai-cấp Nho-giáo hay Giáo-sĩ. Bởi thế mà tục-lệ vô kể qui-định cấm đoán hoạt-động tăng-gia sản-xuất, giao-dịch thông-thương, cải-tiến kỹ-thuật đối với thường dân để bảo-vệ độc-quyền cho triều-đình phong-kiến.

Cho tới thế-kỷ XV, Âu-châu về vật-chất cũng như tinh-thần còn lạc-hậu đối với Á-châu. Kịp đến thế-kỷ XVII, XVIII sau cuộc cách-mạng kỹ-nghệ mở-mang giao-thông và khám-phá vàng bạc ở Mỹ-Châu và Ấn-độ, Âu-Châu bột tiến mau-lẹ trên đường kỹ-thuật và tư-bản cùng khoa-học, mà Á-Châu vẫn đứng im-lìm bất-di bất-dịch về kỹ-thuật cũng như tư-tưởng. Với bước tiến sẵn có ấy, Tây-phương đã chinh-phục Đông-phương, đảo lộn cả điều-kiện sinh-hoạt cố-hữu của xã-hội nông-nghiệp, đi đến đâu đổ máu trà đạp lên sinh-mạng và giá-trị cổ-truyền chỉ vì quyền-lợi đội lốt văn-minh.

Trước hết Nam-Dương quần-đảo bị đế-quốc Hòa-Lan chinh-phục thay thế cho thế-lực thương-mại độc quyền của « Liên-đoàn công-ty Đông-Ấn » (V.O.C. : Vercenigde Oostindische Compagnie). Tiếp đến là chính-phủ Hòa-Lan sau 5 năm chinh-chiến, từ 1825 đến 1830 giữa quân-đội Hòa-lan với quân du-kích địa-phương dưới sự chỉ huy của vị quân-vương của Djogjakarta là Dipa Negara.

Kết-cục 15000 quân lính tử trận trong đó có 8000 lính người Âu. Dipa Negara bị bại, cầm tù và bị đầy ở đảo Macassar cho tới 1855 thì chết. Dân bản-xứ kháng-chiến bị chết mất tới 200.000 người. Đấy thực là một kiểu-mẫu điển-hình chiến-tranh của nông-dân và văn-thân phò Chúa chống xâm-lăng thực-dân ở khu-vực Đông-Nam-Á này vậy.

Sau Nam-dương quần-đảo bị chinh-phục thì đến số phận của các nước lục-địa trên bán-đảo Đông-Dương hay Ấn-Độ Chi-Na bị quân-lực Đế-quốc Anh và Pháp chinh-phục. Nếu Đế-quốc Hòa-Lan còn hoạt động trong khuôn-khổ thương-mại hàng-xén, thì đàng này nước Anh và nước Pháp mở mang về kỹ-nghệ hơn, bắt đầu tìm thị-trường tiêu-thụ ở Á-Đông cho hàng hóa của mình. Bởi vậy mà bán-đảo Đông-Dương được hai cường-quốc trên đặc-biệt chú-ý, đặt chân lên trước tiên để mở đường giao-thông vào thị-trường Tầu và khai-trương thế-hệ đế-quốc.

Nước Anh nhằm vào Miến-Điện (Birmanie) để vào Vân-Nam và miền Nam và Tây nước Tầu qua con đường Bhamo – Vân-Nam.

Nước Pháp nhằm vào Việt-Nam. Trước hết chiếm lấy Nam-Kỳ (1859-1867), đặt quyền bảo-hộ lên Cao-Mên (Cambodge) (1863) để lợi-dụng con sông Mekong mà ngược lên lục-địa Tầu. Sau khi thấy con sông này không tiện cho một đường thủy dễ dàng, họ bèn ngó lên con sông Nhị-Hà với lái buôn Jean Dupuis muốn dùng con sông này để chuyên-chở khí-giới lên cho Vân-Nam bấy giờ đang có giặc Hồi-Hồi.

Kỹ-nghệ Âu-Châu càng ngày càng tiến-triển thì sự đòi hỏi thị-trường càng bách-thúc, mà sự đòi hỏi về nguyên-liệu lại càng gấp hơn. Tư-bản kỹ-nghệ càng tập-trung thì thế lực sai khiến chính-quyền càng mạnh, do đấy mà các cường-quốc Âu-Tây thi-hành cả một chương-trình khai-hóa thuộc-địa, một thế-kỷ đế-quốc đã hoàn-thành công-trình qua-phân Đông-Nam-Á.

Anh Pháp liên-minh đánh vào lục-địa Trung-Hoa, qua-phân bán-đảo Đông-dương, nước Anh mặt Tây, nước Pháp mặt Đông, ở giữa nước Siam nhờ vị-trí địa-lý bàn-đệm giữa hai thế-lực mà duy-trì được địa-vị bán độc-lập. Phi-Luật-Tân bị đổi chủ, từ thuộc-địa của Espagne (Y-Pha-Nho) sang thuộc-địa của Mỹ-quốc, Nam-Dương quần-đảo là thuộc-địa Hòa-Lan. Đến đầu thế-kỷ XX, cuộc chia phân Đông-Nam Á-Châu đã hoàn-thành, tuy nhân-dân và văn-thân vẫn tiếp-tục kháng-chiến bột-phát hay ngấm-ngầm, khẩu-hiệu tuy đổi khác từ Phan-Đình-Phùng đến Nguyễn-Thái-Học nhưng mục-đích cũng vẫn chỉ có một : giải-phóng dân-tộc.

Các dân-tộc Á-Châu nói chung và riêng các dân-tộc Đông-Nam-Á hình như không khâm-phục chủ-nghĩa khai-hóa văn-minh của các đế-quốc Âu-Tây. Họ không tin rằng văn-minh chỉ là cơ-khí, văn-hóa chỉ là khoa-học kỹ-nghệ, mà trái lại họ càng ngờ-vực cơ-khí, vì trong tinh-thần truyền-thống của họ từng đã dạy rằng : « Cơ-khí sinh cơ-tâm » được chứng-minh một cách hiển-nhiên trong các cuộc giao-dịch của họ với người Âu-Tây suốt mấy thế-kỷ gần đây. Nhất là cuộc chiến thắng giữa Nhật-Nga ở Port Arthur năm 1904. Nước Nhật tự trước đến bấy giờ là một nước hải-đảo hẻo-lánh phía Bắc Thái-Bình-Dương, chưa từng có vai trò lịch-sử gì trong lịch-sử văn-minh ở cõi Á-Đông, đột-nhiên đứng lên địa-vị đàn anh lãnh-đạo các dân-tộc Á-Châu chống với các thế-lực xâm-lăng hùng mạnh của Âu-Tây. Như thế được, đối với con mắt nhân-dân Á-Châu chỉ nhờ có một thời-gian vẻn-vẹn ba mươi năm cơ-khí hóa, thâu-nhận kỹ-thuật của Tây-phương mà trở nên một cường-quốc văn-minh. Vậy văn-minh chỉ là sức mạnh võ-lực thôi ư ? Do đấy mà các dân-tộc Á-Châu càng không tin-tưởng vào khẩu-hiệu « Dieu blanc hommes jaunes » « Thần da trắng người da vàng » của thực-dân đế-quốc Âu-Tây nữa. Và từ đấy các phong-trào quốc-gia chuyển-hướng sang hướng canh-tân Âu-hóa bằng cách học-hỏi khoa-học kỹ-thuật mới. Đấy là phong trào tân-văn-hóa của Khang-Hữu-Vi, Lương-Khải-Siêu, Tôn-Dật-Tiên bên Tầu và Phan-Bội-Châu, Phan-Chu-Trinh và Nguyễn-Thái-Học bên Việt-nam. Các phong-trào ấy vẫn tiếp-tục đại-diện cho ý-nguyện dân-tộc muốn đánh đổ chế-độ thực-dân và cải-tổ phong-kiến, ngõ hầu hiện-đại hóa xã-hội nông-nghiệp. Nhưng phong-kiến đã bị hoàn-toàn ngu-mê làm tay sai ngoan-ngoãn cho thực-dân, mà đế-quốc thực-dân thì tham-lợi, tham-quyền, ngoan-cố ngu-mê, phải chờ đến biện-pháp võ-lực của quân-nhân « Đại-Nhật-Bản » và của đế-quốc Cộng-sản mà cũng chưa hoàn-toàn tỉnh-ngộ. Trong khu-vực Đông-Nam-Á tất cả có tám nước thì bẩy nước đã trở nên có nhân-cách pháp-lý quốc-tế là những dân-tộc độc-lập : Quốc-gia Thái-Lan, Cộng-hòa Phi-Luật-Tân, Liên-hiệp-Quốc Miến-Điện, Cộng-hòa Anh-đô-nê-di, Liên-bang Mã-lai, Quốc-gia Cambodge, Quốc-gia Lào. Còn Việt-Nam thì chia hai thành hai chế độ : Cộng-sản và Cộng-hòa, chẳng khác gì năm 1858 đứng trước Mỹ-quốc hai chế-độ, chế-độ nô-lệ và chế-độ tự-do, Tổng-Thống Abraham Lincoln phải tuyên-bố :

« A house divided against itself cannot stand. I believe this government cannot endure permanently half slave and half free. I do not expect the Union to be dissolved. I do not expect the house to fall. But I do expect it will cease to be divided. It will become all one thing, or all the other ». (A. Lincoln, « A house divided ».)

« Một ngôi nhà phân-chia trái với tính-chất của nó thì không thể đứng vững. Tôi tin rằng chính-phủ này không thể chịu đựng mãi-mãi tình-trạng một nửa nô-lệ một nửa tự-do. Tôi không mong Liên-Hiệp-Quốc tan rã – Tôi không mong ngôi nhà sụp đổ – nhưng tôi trông mong hết bị phân chia. Liên-Hiệp-Quốc trở nên thống-nhất làm một, hoặc thế này cả hay thế kia cả ».

Việt-Nam ngày nay cũng chỉ muốn là một dân-tộc từ Nam chí Bắc tự-do độc-lập.

tusachtiengviet.com Đánh máy : Thanhbanhuu, doraemin, ThaoPham, Quach trang, Thanhbanhuu, quynhchau, seira.tran, mocklov Kiểm tra chính tả : Mạc Tú Anh, Vũ Thị Diễm Tuyết, Trần Trung Hiếu, Lê Mỹ Hương
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.