Văn Hóa Việt Nam với Đông Nam Á

Lượt đọc: 118 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
KHU-VỰC ĐÔNG-NAM-Á VỚI CUỘC GẶP GỠ ĐÔNG TÂY CẬN ĐẠI
Xã hội Nông-nghiệp với Xã hội Công-thương

❊ ❊ ❊

Đông-phương và Tây-phương từ lâu đã từng xúc-tiếp giao-dịch như di-tích khai-quật ở Oc-Eo cửa bể Cửu-Long đã chứng-thực. Nhưng cuộc gặp-gỡ và tiếp-xúc thực trở nên sâu rộng là kể từ sau cuộc cách-mệnh kinh-tế và chính trị ở Âu-Tây thế-kỷ XIX vậy.

Theo sử Tầu thì 166 sau Thiên-Chúa đã có người lái buôn La-Mã qua Trung Hoa, đi ngang đất Việt-Nam bấy giờ là Giao-Châu. Đời Tam-Quốc bên Tầu, khoảng 266 sau Thiên-Chúa cũng có lái buôn La-Mã đến kinh-đô Giao-Châu. Nhưng thực ra thì suốt thời Trung-cổ, Thượng-cổ người Âu-Tây chưa biết rõ Á-Đông lắm. Sau cuộc chiến-tranh Thập-Tự-quân, người Âu mới bắt đầu tiếp-xúc nhiều với người Á, việc buôn-bán trao-đổi hàng hóa mới phồn-thịnh. Và kể từ đấy bọn lái buôn A-Rập đứng trung-gian giữa Ấn-Độ, Trung-Hoa với Âu-Châu, để đem phẩm-vật sang Âu-Châu như hương-liệu, gia-vị, ngọc-ngà, tơ-lụa, đồ gốm, đồ thêu, thảm v.v… Bọn này đi hai con đường, đường bộ từ Hắc-Hải qua Trung-bộ Á-Châu để tiếp-nối vào « con đường lụa » (route de la soie) đến nước Tầu ; đường thủy qua các hải-đảo Đông-Nam-Á, Ấn-Độ-Dương đến Hồng-Hải sang cảng Alexandrie bên Ai-Cập để rồi chuyên-chở sang thành Venise qua Địa-Trung-Hải.

Thế kỷ XIII người Ý-Đại-Lợi (Italie) là Marco-Polo, chu-du sang Trung-Hoa ở lại 17 năm, làm quan với triều nhà Nguyên, có đi ngang qua Việt-Nam để tới Chiêm-Thành. Về nuớc ông có viết bộ Đông-Phương Kiến-Văn-Lục nói đến xứ Bắc-kỳ, khoa-trương sự phồn-thịnh và mỹ-lệ của người Á-Châu khiến cho người Âu-Châu rất chú-ý.

Chừng nào người A-Rập làm chủ Địa-Trung-Hải phía Đông thì việc buôn-bán càng ngày càng trọng-đại và phát-triển không ngừng giữa thiên-hạ Địa-Trung-Hải với Á-Châu hay là như bấy giờ người ta thông-dụng là « đất Ấn » (Les Indes). Nhưng bắt đầu từ thế-kỷ XI, người Thổ-Mông (Turc Mongol) theo sang đạo Hồi (Islam), bắt đầu cướp thế-lực của người A-Rập. Từ những đồng cỏ phía Nam và Đông Nam bể Caspienne (Cat-sờ-biên) nổi lên, dân Thổ-Mông này ngự-trị tất cả xứ Syrie (Si-ri) và Trung-bộ Á-Châu từ thế-kỷ XV. Họ xâm-nhập cả vào Âu-Châu, cướp Constantinople (Công-tăng-ti-nốp) năm 1453. Ai-Cập bấy giờ còn trong tay người A-Rập, nhưng dân Turcs (Thổ-Nhĩ-Kỳ) sửa-soạn xâm-chiếm, và các đoàn giặc bể của họ đe dọa tất cả thuyền buôn giao-dịch giữa Ai-Cập với Venise và Gêne ở Ý-Đại-Lợi (Italie). Do đấy mà việc buôn bán giữa Âu-Châu với các đất Ấn bị đoạn-tuyệt. Việc buôn bán ấy không những làm thiệt-hại giới thương-nghiệp, nó còn trực-tiếp ảnh-hưởng vào đời sống của đại-chúng nhân-dân nữa. Theo Kermack trong The Epansion of Britain (tr. 667) thì :

« Các nông-dân thời Trung-cổ không biết dùng những rễ, củ như củ-cải đỏ để nuôi mục-súc mùa rét. Vì thế mà một phần lớn mục-súc ấy phải làm thịt đi khi các đồng cỏ biến chìm dưới tuyết, và người ta phải muối thịt để ăn suốt mùa rét. Như vậy suốt cả Châu-Âu người ta cần dùng gia-vị rất nhiều, xưa kia vẫn mua ở Á-Đông, để muối thịt và giữ cho thịt muối có hương-vị. Giữ một con đường thông với các Đảo-Gia-Vị (Iles des épices) là một điều tối trọng-yếu bấy giờ vậy ».

Nhưng có còn con đường nào khác để đi sang đất Ấn không ? Theo thuyết dạy ở trường học bấy giờ của Pomponius Mela (50 sau T.C.) chủ-trương trái đất gồm có nhiều lục-địa chung-quanh là biển, người ta có thể đi đến đất Ấn vòng quanh Phi-Châu. Nhưng thủy-thủ bấy giờ tin rằng, vượt quá giới-hạn ở phía Nam là sẽ gặp tai-họa của thủy-thần nổi giận. Bởi vậy mà cuộc hành-trình không dễ thi-hành. Phải mất ngót một thế-kỷ, thủy-thủ Bồ-Đào-Nha mới hoàn-thành. Trước họ hãy vượt eo-biển Gibraltar để đánh đuổi quân Maures A-Rập ra khỏi lãnh-thổ của họ. Kế đến họ đi xa hơn chút nữa về phương Nam, tìm kiếm những mảnh vàng vụn ven biển Côte-d'Or (bờ biển vàng), sau hết họ đi lùng bắt nô-lệ da đen. « Lùng bắt nô-lệ, điểm thêm vàng, ngà voi và hồ-tiêu, đấy là mục-tiêu của dân Bồ khám phá đất Phi-Châu. » (Spéar : Master Mariners p.65). Đến khi quân Thổ-Mông (Turc) chiếm Constantinople (Công-tăng-ti-nốp) thì dân Bồ chưa vượt khỏi đất Gambie ở Phi-Châu. Ba mươi năm sau họ mới tới Congo. Năm 1486-1487 Diaz mới vượt khỏi Hảo-Vọng-Giác (Cap Bonne Esperance). Cuối thế-kỷ XV (1498), thuyền buôn Bồ-Đào-Nha do Vasco de Gama vòng quanh Hảo-Vọng-Giác, căng buồm chạy thẳng sang quần-đảo Gia-Vị, tức là đất Ấn vậy.

Mặt khác, Espagne (I-pha-nho) khuyến-khích thủy-thủ của mình, theo thuyết của Toscanelli dạy rằng trái đất tròn, người ta có thể tìm đến « quần-đảo Gia-Vị » bằng con đường phía Tây. Năm 1492 Colomb căng buồm dạt tới bờ biển Trung-Mỹ, tưởng đấy là « quần-đảo Gia-Vị » nên đã đặt tên là đất Ấn miền Tây. Cách đấy hai mươi năm sau Magellan dẫn một phái đoàn vòng phía Nam-Mỹ, vượt qua Thái-Bình-Dương mênh-mông để dạt tới bờ biển Á-Châu. Đất Ấn chính-thức là Đông-Ấn mới thực tới nơi, bằng con đường phía Tây. Thế là Thái-Bình-Dương, Đại-Tây-Dương và Ấn-Độ-Dương mới được chinh-phục.

Từ đấy về sau mở ra một kỷ-nguyên mới cho sự tiếp-xúc giữa Đông-phương với Tây-phương, tiếp-xúc bằng đường bể, mà Đông-Nam-Á đứng trung-gian vậy.

Từ khi Vasco de Gama tìm qua Hảo-Vọng-Giác người Bồ-đào-Nha mới thiết-lập Tổng-Đốc-Phủ ở thành Goa bên Ấn-Độ làm nơi căn-cứ cho việc buôn bán. Magellan vâng lệnh Vua Espagne (1519) từ Nam Mỹ-Châu vào Thái-Bình-Dương, tìm tới quần-đảo Phi-Luật-Tân, rồi thì người Âu mới kế-tiếp theo nhau sang phương Đông. Sau khi lấy được Malacca, người Bồ-Đào-Nha sai sứ sang Tiêm-La và nhiều lần đến viếng bờ-biển Việt-Nam.

Vào cuối thế-kỷ XVI người ta thấy có một người Bồ-Đào-Nha và một người Y-Pha-Nho giúp việc tại triều-đình Cao-Mên. Đến thế-kỷ XVII người Âu mới bắt đầu giao-thiệp với Việt-Nam một cách tiếp-tục. Những người đến lúc đầu là vì mối lợi kinh-tế, hoặc vì mạo-hiểm phiêu-lưu, hoặc nữa vì việc truyền-giáo, vì bấy giờ ngoài đạo Gia-Tô, người Âu cho tất cả là vô-thần mê-tín. Tựu-trung sự gặp gỡ giữa Đông-phương và Tây-phương bắt đầu bằng sự buôn bán và truyền-giáo.

Trải qua hơn hai thế kỷ, sự có mặt của các người Âu hoạt-động ở các vị-trí ven bể và ở các hải-cảng không ảnh-hưởng gì vào nền-móng kinh-tế của các xã-hội Âu-Châu dựng trên cơ-cấu nông-thôn. Âu-Tây bấy giờ chưa cơ-khí-hoá hãy còn thuần thuộc tính-chất thương-mại, không có gì để bán cho Á-Châu, vì sản-phẩm của họ là sản-phẩm thủ-công, không có thể cạnh tranh được với sản-phẩm cũng thủ-công nhưng khéo-léo hơn của Á-Châu. Trái lại họ đến để mua hơn là để bán. Họ mua các chất gia-vị quí-báu kia, họ chưa có ý muốn chiếm đất-đai, mà đặt quyền kiểm-soát, đường giao thông thương-mại quốc-tế nhờ có một số căn-cứ chiến-lược. Nhưng thiếu người và tài-liệu, nước Bồ-Đào-Nha bấy giờ không thực-hiện nổi nhiệm-vụ ấy và hơn nữa không đủ tư-cách xây-dựng nên một đế-quốc ở Á-Châu, trên ba chân vạc Goa, Malacca và Ma-cao, nghĩa là toàn-thề Đông-Nam-Á. Thế-kỷ XVI, XVII, ngoài việc buôn bán có đem lại thêm một việc mới nữa là cuộc chiến-tranh Thập-Tự chống với Hồi-giáo ở các quần-đảo Đông-Nam-Á mà quân Bồ-Đào-Nha với quân Y-Pha-Nho đã điều-động với sắt lửa.

Việc thất-thủ Vương-quốc Malacca và việc tiêu-trừ dân Hồi-giáo khỏi địa-điểm ấy đã thiên-dịch nền thương-mại của dân Hồi sang phía Bắc đảo Sumatra và một phần Tây Java. Do đấy mà triều-đại Achel và Bantam nổi lên, còn các vua chúa bản-xứ của Malacca xưa rút về Johore, tiếp-tục tranh-đấu chiếm lại kinh-đô cũ của họ. Japara nhiều phen tấn-công vào Malacca, trung-tâm thương-mại của quần-đảo bấy giờ. Đứng trước ba bề bốn bên thù-địch, quân Bồ-Đào-Nha nhờ vào khí-giới tinh-nhuệ, nhất là trọng-pháo và hải-quân đã cầm-cự nổi, nhưng lại thất-bại đối với nền kinh-tế của Hồi-giáo.

Nhưng thực-tế mà nói thì bấy giờ phần lớn thương-mại ở quần-đảo là do tay người Tầu và người Ấn nắm cả, họ đến đấy trao-đổi đồ-gốm, vàng bạc và tiền của Tầu, hàng-sa, vải, san-hô và ngọc-thạch của Ấn-Độ, lấy hồ-tiêu gia-vị, dầu-hồi, thiếc, và gỗ thơm. Muốn có hồ-tiêu và thiếc là hàng-hóa người Tầu đòi-hỏi, vương-quốc Achel và Bantam theo đuổi một chính-sách bành-trướng lãnh-thổ. Khoảng 1607-36, thế-lực Achet bá-chủ bờ bể phía Bắc và Tây-Bắc đảo Sumatra với một phần bán-đảo Mã-lai. Thế lực Bantam bành trướng hai bên eo-biển La Sonde. Tuy-nhiên thương-nghiệp phát-triển như thế mà ở đảo Java nội-địa nông-nghiệp lại phục-hưng lên cơ-hồ lấn-át cả hoạt-động ở ven biển. Kể từ 1582 Mataram đã chinh-phục khắp lãnh-thổ phía Đông và ở Trung-bộ đến mãi Cheribon tại bờ biển. Y bèn chinh-phục nốt các đô-thị phồn-thịnh trên bờ biển mà đô-thị chính là Sourabaya rất phong-phú thời bấy giờ, nhờ buôn bán giao-dịch với các đảo Moluques và Borneo. Các đô-thị thương-nghiệp cạnh-tranh lẫn nhau nên không sao liên-hiệp đặng với nhau để chống nổi thế lực của Mataram, cho nên tất cả các đô-thị thương-nghiệp đều bị thất-thủ.

Song sự phục-hưng một quốc-gia thống-nhất ở trong nội-địa đảo Java trên cơ-sở kinh-tế nông-nghiệp phong-kiến không có gì vững-vàng bền-vững. Nhà vua cố biến các Vương-quốc Chư-hầu thành quí-phái của triều-đình bằng liên-hệ hôn-nhân, nhưng triều-đại Mataram cũng không vì đấy mà tránh khỏi sự suy-vong. Bởi vì sự thống-nhất ấy bị sự cạnh-tranh phá-hoại của các liên-đoàn buôn-bán Hòa-Lan đang phát-triển ở bên ngoài. Người Bồ-Đào-Nha chỉ tập-trung vào eo-biển Malacca, chưa để ý đến eo-biển La Sonde bấy giờ là một con đường thứ hai dẫn đến « đảo Gia-vị ». Chính do con đường này mà các thế lực cạnh-tranh đột-nhập vào khu-vực Đông-Nam-Á. Trước hết là người Anh, sau cuộc thắng trận thủy-quân Y-Pha-Nho Armada, bèn tổ-chức liên-đoàn Đông-Ấn mà đại-biểu đến lập cơ-sở ở tại Bantam ba năm sau.

Năm 1596 người Hòa-Lan cũng xuất-hiện ở tại đấy. Năm 1601, họ thắng một trận thủy-quân quyết-liệt với người Bồ-Đào-Nha ngoài khơi Bantam, và dựng nên một liên-đoàn Đông-Ấn liên-hiệp gọi tắt là V.O.C. nó sẽ diệt hết đối-phương cạnh-tranh. Năm 1605 người Bồ-Đào-Nha bị đuổi ra khỏi đô-thị Amboine và nơi đây trở nên trung-tâm hoạt-động của người Hòa-Lan, ở đảo Moluques. Coen chiếm Jakarta năm 1619 cho xây ở đấy một thành-trì đặt tên là Batavia, Chẳng bao lâu người Anh cũng phải bỏ cơ-sở của mình trên đảo Java cho người Hòa-Lan và sau khi Malacca thất-thủ (1641) thì một mình liên-đoàn Đông-Ấn Liên-Hiệp V.O.C bá-chủ tất cả thị-trường. Tuy vậy mà liên-đoàn cũng không phải thế-lực độc-nhất về đất-đai và kinh-tế. Nó chỉ có một số căn-cứ ở Java, Sumatra, Moluques và trên bán-đảo Mã-Lai, cho phép nó kiểm-soát một phần nào thị-trường gia-vị. Phần thương-mại của nó trên quần-đảo so với hoạt-động của người Á-Châu còn kém xa. Nhưng các yếu-tố mới bắt đầu xuất hiện, chính-sách độc-quyền Gia-vị ở Moluques do liên-đoàn Đông-Ấn thi-hành làm cho sự thịnh-vượng của các đảo ấy suy-sụp, lôi cuốn các vương-quốc vào vòng thế-lực của nó. Năm 1641 bắt đầu sự bành-trướng thế-lực Hòa-Lan trên quần-đảo Nam-Dương và sự diệt-vong các thế-lực vương-quốc bản-xứ vậy. Thế-lực công-ty thương-nghiệp Liên-đoàn Đông-Ấn trước hết độc-quyền các đường giao-thông trên biển Đông-Nam-Á và chinh-phục các đô-thị ở bờ-biển, sớm chầy chi-phối tất cả thế-lực chính-trị nội-địa của các xã-hội kinh-tế nông-nghiệp, vì một bên lưu-động đổi mới tiến-bộ về kỹ-thuật, một bên định-cư bảo-thủ.

Tình-hình ấy cũng diễn ra trên bán-đảo Đông-Dương hay Ấn-độ Chi-na. Kể từ thế kỷ XVI người Âu gọi phần đất Việt-Nam từ sông Linh-giang trở vào Đường trong là Cochinchine, và phần đất từ Linh-giang trở ra Đường-ngoài là Tonkin hay Tonquin. Chữ Cochinchine do chữ Cauchi-china tiếng Y-pha-nho và Caoci-Cina tiếng Ý-Đại-Lợi mà ra, nguyên từ chữ Tàu Kiaotche (Giao-Chỉ) rồi sau thêm vào chữ China (Tàu). Như thế chữ Cochin-China có nghĩa là đất Cochin ở Tàu có phân-biệt với đất Cochin ở Ấn-độ trên bờ biển Malabar thuộc Anh. Còn chữ Tonkin là phiên-âm chữ Đông-kinh tức là Thăng-long hay Hà-nội vậy.

Người Âu-Châu đến đông-đảo ở Việt-Nam vào thời Nam-Bắc phân tranh xẩy ra trong cuộc Nam-tiến của dân-tộc. Hai chúa Nguyễn, Trịnh bấy giờ còn tôn-thờ sự thống-nhất trên danh nghĩa vì dân-tộc qua vua Lê đứng làm hư-vị. Hai Chúa đều muốn cậy vào thế-lực ngoại-quốc để tranh-dành chính-nghĩa thống-nhất dân-tộc, nên đã đối-đãi niềm-nở với người Âu-châu đến buôn bán giao-dịch thời ấy.

Người Bồ-đào-Nha đã đến Đông-dương trước cũng như ở Nam-Dương quần-đảo, và họ thân-cận ngay được với Chúa Nguyễn hơn. Ngoài việc đem bán binh-khí, súng đại-bác, vật-liệu để làm thuốc súng, lại còn có một người Bồ tên là Jean de la Croix tới Đường-trong năm 1615 lập lò đúc súng gần Huế bây giờ.

Thế-kỷ XVIII chúa Nguyễn đã muốn lợi dụng khoa-học của Âu-Tây nên dùng nhiều giáo-sĩ Gia-Tô giúp việc ở triều-đình. Chúa Hiền dùng giáo-sĩ Da Costa làm thầy thuốc, Chúa Minh dùng giáo-sĩ De-Arnedo để dạy toán học và các giáo-sĩ Bồ, Sama, Pirès, de Lina để dạy thiên-văn cùng toán-lý. Chúa Võ dùng giáo-sĩ người Đức về việc thiên-văn toán-lý và ngự-y. Người Bồ-đào-Nha tiếp-súc với Việt-Nam xứ Đường-trong lấy Hội-an (Faifoo) làm căn-cứ giao-dịch. Ở đấy đã có người Tàu, người Nhật buôn bán từ lâu rất là sầm-uất. Hàng năm vào khoảng đầu năm Âm-lịch các tàu bè Trung-Hoa hay Âu-Tây từ Trung-Hoa, Nhật-Bản, Phi-Luật-Tân hay Malacca chở đến đồ sứ, giấy, kim-khí, lưu-huỳnh, diêm-sinh, chè, bạc thoi, binh-khí, dạ nỉ, vải vóc và mua sản-vật bản-xứ đem đi như tơ lụa, gỗ mun, trầm hương, quế, hồ tiêu, thóc gạo. Trao đổi xong sau 6, 7 tháng tàu bè lại kéo neo ra đi.

Sau người Bồ-đào-Nha đến người Hòa-Lan. Ban đầu Chúa Nguyễn đối đãi tử-tế, nhưng về sau thấy họ có ý giúp Chúa Trịnh thì sinh lòng ác-cảm nên người Hòa-lan phải bỏ đi.

Ở Đường-ngoài, Chúa Trịnh không dùng giáo-sĩ mà chỉ mong đợi được võ-lực Âu-Tây giúp trừ diệt đối phương là chúa Nguyễn. Chúa Trịnh cho người Hòa-Lan lập thương-quán ở Hiến-Nam hay là Phố-Hiến tỉnh Hưng-Yên. Ít lâu sau người Hòa-Lan lại được lên Kẻ-Chợ là Hà-nội để buôn bán. Bấy giờ trong hậu-cung vua Lê-Thần-Tôn, người ta thấy một bà Phi người Hòa.

Năm 1637, phái-đoàn Hartsingh của Hòa-Lan đến thông-thương. Chúa Trịnh sai quan đón tiếp lên Kẻ-Chợ (Hà-nội) cho yết-kiến để yêu-cầu giúp đánh Chúa Nguyễn ở Đường-trong.

Vua Lê-thần-Tôn lại viết thư ngoại-giao với công-ty Hòa ở Batavia, đô-thị Ấn-Hòa để yêu-cầu giúp đỡ. Chúa Trịnh-Tráng cũng viết thơ cho chủ-nhân thương-quán Hòa ở Đài-Loan để cầu thân.

Năm 1642 Chúa phái sứ-bộ sang Batavia và chỉ được người Hòa hứa hẹn vì họ e mất lòng với Chúa Nguyễn Đường-trong.

Còn về việc binh-khí thì bấy giờ Chúa Nguyễn Đường-trong nhờ người Bồ-Đào-Nha, Chúa-Trịnh Đường-ngoài nhờ người Hòa-Lan, người Anh.

Tuy biết võ-lực cơ-khí người Âu-Tây bấy giờ đáng kính-sợ và thường trông mong họ giúp đỡ về khoa-học, vua chúa Việt cũng cương-quyết tỏ cho họ biết ý-chí độc-lập tự-chủ của mình. Năm 1641 người Hòa ở Hội-An tự-tiện giết một đứa đầy-tớ Việt bị ngờ ăn-cắp, quan Trấn-Thủ Quảng-Nam bèn đốt cả hàng-hóa và đồ-đạc của thương-quán Hòa ; vàng bạc và cái gì không đốt được thì quăng xuống biển, có bẩy thương-nhân bị giết, hai người được đưa về Batavia để thuật lại cho đồng-bang của họ biết. Công-ty Ấn-Độ Hòa-Lan bèn quyết đem võ-lực để đối phó, phái 5 chiếc tầu, 152 thủy-thủ, 70 lính ; đến nơi, một viên thủ-lĩnh Van Liesvelt lên bộ, bị lính của Chúa đánh giết chết với 10 tên lính. Viên thủ-lĩnh khác là Van Linga sai giết 20 người Việt đã bắt được ở các xóm chài-lưới với 107 người ở các làng duyên-hải rồi xuôi buồm ra Bắc.

Cuối năm 1643 đầu 1644, ba chiếc tầu Hòa-Lan dưới quyền chỉ-huy của Pierre Back từ Sumatra sang Việt-Nam không biết để đánh trả thù Chúa Nguyễn hay để giúp Chúa Trịnh. Khi đến Vịnh Cửa-Hàn, gập mấy chiếc thuyền chiến của Chúa Thượng-Vương do Thế-Tử Dũng-Lễ-Hầu tức Hiền-Vương sau này, bấy giờ Trấn-Thủ Quảng-Nam chỉ-huy vây đánh. Hai bên đánh nhau kịch-liệt, chiếc tầu lớn của người Hòa bị bốn chiếc ghe của người Việt xông vào đập gẫy bánh lái, phá hủy cột-buồm và bám chặt vào mạn tầu. Viên thuyền-trưởng thấy nguy, không còn hy-vọng thoát được phải tự đốt mà chết. Hai chiếc tầu kia chạy trốn, một chiếc bị đuổi theo va nhầm vào đá tan vỡ, bẩy người thoát chết, thi-hài của người tử-trận đều bị cắt mũi. Cuộc thắng trận thủy-chiến với người Hòa này được giáo-sĩ Alexandre de Rhodes khen ngợi rằng :

« Người Hòa được kinh-nghiệm một cách thiệt thòi cho họ rằng, mấy chiếc ghe Việt có thể đánh thắng được những tầu lớn của họ. Với tầu lớn ấy họ đã tưởng làm chủ-nhân ông trên mặt biển rồi ! ! ».

Trong thời-gian ấy, người Bồ ở Đường-trong cũng như người Hòa, người Anh ở Đường-ngoài có giúp Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh về khí-giới đạn-dược để đổi lấy thổ-sản nông-nghiệp, chứ về quân lính tầu-bè dự vào trận mạc nội-chiến thì không thấy nói đến. Vậy mà các Chúa cũng vẫn nghi-kỵ họ, vì Chúa xứ nào cũng sợ một nước Âu-Châu giúp bên địch của mình. Về sau cả hai bên đều không thấy họ giúp đỡ mình được như ý muốn cho nên các Chúa mới lần-lần lạt tình giao-thiệp. Thái-độ thay đổi ấy rất có ảnh-hưởng đến việc buôn-bán và truyền-giáo của người Âu bấy giờ và sau này.

Các Vua Chúa bấy giờ mở cửa giao-dịch thông-thương rất có lợi, vì triều-đình độc-quyền thương-mại quốc-tế, và ý-thức-hệ Khổng-giáo hay Bà-la-môn giáo đều miệt-thị và cấm-giới việc thương-mại đối với tín-đồ. Bởi vậy mà tư-bản tư-nhân không tiến-triển.

Dưới triều Võ-Vương, luật định rằng : Thuyền buôn Thượng-Hải, Quảng-Đông khi đến nạp thuế 3.000 quan, khi đi nạp 300 quan. Thuyền buôn Phúc-Kiến đến nạp 2.000 quan, đi nạp 300 quan. Tầu Âu-Châu đến nạp 8.000 quan, đi nạp 800 quan ; tàu Macao, Nhật-Bản đến nạp 4.000 quan, khi đi nạp 400 quan. Tầu Tiêm-La, Phi-Tuật-Tân đến nạp 2000, đi nạp 200. Thuyền tầu không có hàng hóa thì không cho cập bến, thuyền-tầu giấu số hàng-hóa sẽ bị tịch-thu cả thuyền lẫn hàng hóa.

Xem thế các Chúa bấy giờ được lợi lớn trong sự giao-dịch với bên ngoài. Và nếu cứ tiếp-tục một cách bình-thường thì sẽ nẩy-nở ở xã-hội nông-nghiệp phong-kiến một giai-cấp tân tư-sản như ở Âu-Tây để biến xã-hội nông-nghiệp sang xã-hội công-kỹ-nghệ một cách dễ-dàng vậy. Các Vua Chúa Đường-trong bấy giờ hình như cũng đã tiến dần-dần đến con đường ấy, cho nên năm 1744 khi người lái Friel đến Huế xin thông-thương, Chúa Võ-Vương có gởi hai thiếu-niên Việt là Hiến và Lương để theo học tiếng Bồ-Đào-Nha là thứ tiếng Âu thông-dụng nhất ở Việt-Nam bấy giờ.

Năm 1778 khi Charles Chapman một nhân-viên công-ty Ấn-Độ của Anh đến yết-kiến Vua Thái-Đức Nguyễn-Văn-Nhạc. Vua ngỏ ý muốn nhờ vị Toàn-quyền Bengale phái sang một người để dạy binh-lược cho dân mình, vì Vua có ý chinh-phục xứ Cao-Mên, bán-đảo Đông-dương cho đến Tiêm-La, xứ Bắc-Việt. Chapman xin để trả lời sau khi trình lên thượng-cấp. Như vậy đủ thấy ở Việt-Nam các Vua Chúa đều đã ý-thức vận-mệnh của nước mình, muốn bảo-tồn độc-lập không những phải mở cửa giao dịch với Âu-Tây mà còn phải canh-tân về kỹ-thuật kinh-tế nữa vậy.

Tuy-nhiên ngoài tài-năng khoa-học mà người Việt hâm-mộ ở người Âu, về phương-diện thuần-phong mỹ-tục thì phần nhiều người Âu đại-diện ở Á-Châu bấy giờ cho văn-hóa Âu-Tây không lấy gì làm xứng đáng. Bọn buôn-bán thì ghen-tị, tranh-dành, mưu-mô hại lẫn nhau vì quyền-lợi kinh-tế. Những việc sô-sát ẩu-đả thường xẩy ra. Giáo-sĩ Alexandre de Rhodes mục-kích những chuyện đánh lộn giữa người Pháp và người Bồ, đấu gươm với nhau chí-tử, có thuật lại rằng, những người bản-xứ trông thấy sự giận-dữ ấy nói với ông rằng họ chưa từng thấy một việc dã-man như thế bao giờ. Rồi Giáo-sĩ có kết-luận với người Âu rằng : « Vậy các ngài nghĩ thử khi thấy người Âu-Châu chúng ta, thì người Việt họ nói thế nào ? »

Không phải chỉ người khác quốc-tịch hay xung-đột nhau mà người một nước cũng thế. Theo văn-kiện thư-tịch của các thương-quán để lại, người ta sẽ thấy rất nhiều việc như thế. Các giáo-sĩ đối đãi với nhau, cùng mang một sứ-mạng truyền-giáo mà hội Gia-Tô cùng với Hội Ngoại-quốc tranh nhau ráo-riết về khu-vực giảng-dụ tuyên-truyền, giáo-sĩ Bồ hết sức vận-động ngăn-trở công-việc của các vị đại-diện Tòa-Thánh. Việc chia-rẽ ấy bắt đầu giữa người Âu-Châu, rồi lôi-cuốn dần-dần cả người bản-xứ nữa. Cách ăn ở như thế không làm tăng thể-diện cho người Âu-Châu, nhất là đối với người Việt-Nam nói riêng và người Đông-Nam-Á nói chung đều chuộng đạo-đức và luân-lý cao-thượng của các nền văn-hóa tinh-thần. Ngày nay, người Âu-Châu cũng nhận rằng đó là một trong những nguyên-nhân chính-yếu khiến cho việc buôn-bán thông-thương có khi bị gián-đoạn, kém thịnh-vượng và đã gây ra những việc cấm đạo Thiên-Chúa sau này. Một bằng-chứng hiển-nhiên cho tinh-thần hiếu-học và sẵn-sàng đồng-hóa của người Việt bấy giờ đối với văn-hóa Âu-Tây là việc sáng-chế ra chữ quốc-ngữ theo mẫu tự La-Tinh. Các giáo-sĩ đến Việt-Nam phải lo học tiếng bản-xứ để giao-thiệp và truyền-giáo cho con chiên. Thấy cách ghi-chép tiếng ấy là chữ Nôm khó, họ bèn mượn chữ La-Tinh chắp thành vần theo thổ-âm. Công-việc ấy do nhiều giáo-sĩ người Bồ-Đào-Nha, người Y-Pha-Nho, người Ý-Đại-Lợi, người Pháp-Lan-Tây thực-hành rồi thay đi đổi lại nhiều phen mới thành chữ quốc-ngữ ngày-nay, thay-thế được hoàn-toàn chữ Nôm và chữ Hán. Hai người có công lớn nhất trong việc này là Alexandre de Rhodes và Pigneau de Behaime. Các giáo-sĩ chỉ nhằm mục-đích truyền-giáo tiện-lợi, dân Việt thấy một lợi-khí truyền-thống tư-tưởng học-thuật đã không ngần-ngại gì mà thâu-hóa chữ viết cho toàn-quốc.

Người Âu-Châu đến Việt-Nam lúc đầu hầu hết thuộc về hai hạng lái-buôn và giáo-sĩ đã viết sách về những sự mắt thấy tai nghe ở Việt-Nam bấy giờ, cho ta còn thấy hình-ảnh một xã-hội giao-thời giữa cơ-cấu nông-nghiệp với cơ-cấu công-thương trước cuộc tấn-công dồn-dập của cuộc cách-mệnh cơ-khí Âu-Tây sắp-sửa chinh-phục thế giới. Nay chỉ cần đơn-cử ra đây đoạn văn người Âu-Châu đương-thời đã mô-tả đô-thị Saigon, hiện nay tập-trung các mối giao-dịch quốc-tế, cách đây hơn thế-kỷ trước khi bị đế-quốc Âu-Châu đô-hộ. Lời văn trích-dịch của Jean Silvestre trong tác-phẩm (« L’Empire D’Annam » mà tác-giả đã trích-dịch lại của người lái-buôn Anh tên là Finalayson :

« Tuy không còn là kinh-đô nữa (Gia-Long thống-nhất Nam-Bắc xong, thiên đô vào Phú-Xuân Huế làm kinh-đô), nhưng thành phố này vẫn làm cho du-khách phải ngạc-nhiên. Chúng tôi không ngờ ở miền xa-xôi này lại có một thị-tứ to và rộng như vậy. Thành phố ở bên trái sông Saigon (đi từ biển vào). Khi chúng tôi xuống bến, đi hàng mấy hải-lý mà chưa hết nhà cửa. Nhà đều làm sát nhau và theo hàng rất đều. Đường-sá rất rộng. Có rất nhiều lạch, hai bên bờ đều là nhà cả, thuyền bè đi lại như mắc cửi. Cách đặt phố-xá ở đây còn phong-quang thứ-tự hơn nhiều kinh-đô Âu-Châu.

« Thành phố Saigon là trung-tâm thương-mại của cái tỉnh giầu này. Một vài người Trung-Hoa ở nước họ sang đây buôn bán rất lớn, nhưng người « Cochinchinois » nghèo cho nên không sao buôn-bán như người Trung-Hoa được. Những cửa hiệu ở Saigon có đủ mặt hàng : đồ-xứ Ton-quin (Bắc-Việt), quạt, thuốc, pháo, hương, giấy… tóm lại rất nhiều hàng hóa Trung-Hoa.

« Dân cư rất đông-đúc.

« Sự phát-triển của thành-phố này và của một vài thành-phố bên cạnh (Chợ-Lớn) đã tiến một bước khá mạnh với chính-sự thanh-liêm nhưng cực-kì nghiêm-khắc của ông Khâm-Sai Tả-Quân Lê-Văn-Duyệt. »

Lại theo Trịnh-Hoài-Đức trong Gia-Định Thống-Chí thì :

« Đất Gia-Định rộng lớn phì-nhiêu, sản-xuất đủ mọi sản-phẩm, dân-cư phong-phú không bao giờ lâm vào cảnh thiếu ăn, thiếu mặc. Người Gia-Định quen ăn tiêu phung-phí, trong miền Gia-Định rất ít người giầu có, vì cớ không ai chịu dành dụm để làm giầu cả.

« Nhân-dân ở đây khinh rẻ tiền của, nhưng rất mộ công-lý. Nền bà thì yểu-điệu và phần nhiều có nhan-sắc. Từ Bắc chí Nam, họ có tiếng là đẹp hơn cả. Họ phần nhiều thọ hơn nền ông. Những người đã cao tuổi thường vẫn tráng-kiện, chứ không cằn-cỗi khô-khan.

« Khi cõi Gia-Định mới thuộc triều-đình nước Nam, thì nhân-dân miền này gồm có những người Annam miền Trung di-cư vào, người Trung-Hoa, người Mã-Lai thường gọi là Chà-Và. Phong-tục mỗi giống đều khác nhau, người An-Nam thì theo phong tục Giao-Chỉ.

« Học-trò và thường-dân, nền-ông cũng như nền-bà để tóc xõa xuống vai, mặc áo cánh ngắn, không có sẻ ở hai bên, cài khuy ở giữa.

« Ở xứ này người ta không biết đến quần, nền-ông thì dùng một miếng vải quấn ngang lưng và vắt qua mông (khố). Nền-bà thì dùng một miếng vải quấn-quanh sườn (váy). Nhà cửa đều thấp và nhỏ. Nhưng từ năm 1680 (đời Lê-Ai-Tôn) trở đi, người ta ăn-mặc theo kiểu nhà Minh. Các quan văn võ đều ăn-mặc theo Kiểu Minh-triều. Nhà cửa đồ dùng thường-nhật đều giống đời Minh, và những phong-tục miền Bắc đều gác bỏ.

« Người Gia-định rất là thuần-hậu với khách lạ. Khi có người lạ tới nhà, chủ nhà bao giờ cũng mời ăn trầu, uống trà, và sau cùng dùng cơm. Mà bữa cơm đãi khách bao giờ cũng thịnh-soạn, bất-luận là khách thân hay sơ, hay chỉ là một người lạ mặt. Miễn là khách lạ đến chơi nhà là chủ nhân ân-cần tiếp đãi. Vì thế cho nên một người viễn-phương tới đây rất ít khi phải lo ăn. Tuy-nhiên phong-tục thuần-hậu này có một điểm không hay. Bọn vô-lại, bất-lương, vô-gia-cư hầu như được mọi người ủng-hộ khuyến-khích, thành ra chúng càng ngày càng tệ-nhung.

« Các nhà Nho ở Gia-định có tiếng là hay chữ. Họ ưa dùng và thường dùng sách vở, quần áo đồ dùng ở Trung-hoa đưa sang, và họ chỉ học văn-chương xứ đó.

« Hồi xưa chỉ các quan và các nhà giàu mới đi giày. Ngày nay khác hẳn. Phong-tục Tàu càng ngày càng ảnh-hưởng xứ này, cả đến bọn gia-nhân sai bảo trong nhà cũng đi giày.

« Xứ này có rất nhiều sông, lạch. Vì thế cho nên trong 10 người thì có 9 người biết bơi lội. Thủy-quân Gia-định có tiếng là thiện-chiến.

« Nhà ở Gia-định phần lớn là lợp ngói. Ở bến Saigon tàu, thuyền thương-mại ra vào tấp-nập. Không một thương-cảng nào trong nước có thể so-sánh nổi với Gia-định. Dân Gia-định vì thế rất thạo nghề buôn bán.

« Trái hẳn với dân tỉnh Gia-định, người miền Vĩnh-Thanh (Vĩnh-long và An-giang) có tính cần kiệm. Họ cần-cù làm ăn : cấy lúa và trồng hoa quả. Nhân-dân miền này phong-tục cực-kỳ thuần-hậu. Ai-ai cũng có ruộng có vườn. Không ai là nghèo thiếu ăn, thiếu mặc. »

Và lời ca-tụng cuộc sinh-hoạt của nhân-dân nông-nghiệp thuần-phong mỹ-tục của Phan-thanh-Giản khi trọng-trấn Nam-kỳ thời Tự-Đức không hẳn là ngoa-ngôn mỹ-tự vậy :

« Trời Nam vận mở lâu đài.

Ra bình trị đến năm ngoài ba trăm

Đời an trên dưới ca ngâm

Sĩ say dạo vị, nông ham cày bừa. »

tusachtiengviet.com Đánh máy : Thanhbanhuu, doraemin, ThaoPham, Quach trang, Thanhbanhuu, quynhchau, seira.tran, mocklov Kiểm tra chính tả : Mạc Tú Anh, Vũ Thị Diễm Tuyết, Trần Trung Hiếu, Lê Mỹ Hương
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.